Thư Mời Tham Dự Đại Lễ Kỷ Niệm 75 Năm Khai Sáng Đạo PGHH

 

GIÁO  HỘI  PHẬT  GIÁO  HÒA  HẢO
HỘI  ĐỒNG  TRỊ  SỰ  TRUNG  ƯƠNG

12432 Euclid St., Garden Grove, CA 92840
Tel: 832-397-9813 *
www.tandanhoa.com

pghhlogo

THƯ  MỜI

Trân trọng kính mời

Ô/Bà: __________________________________________________

Hoan hỷ tham dự ĐẠI LỄ KỶ NIỆM 75 NĂM ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ KHAI SÁNG ĐẠO PHẬT GIÁO HÒA HẢO.

Thời gian và dịa điểm như sau:

2:00 chiều ngày 29 tháng 6, năm 2014 tại

TRỤ SỞ HỘI ĐỒNG TRỊ SỰ TRUNG ƯƠNG

Tel: 832-397-9813

12432 Euclid St., Garden Grove, CA 92840

an hoa tu2

Tổ Đình An Hòa Tự

 

CHƯƠNG TRÌNH

I.- Tiếp Đón Quan Khách: 2:00 PM

  • Quan Khách và đồng đạo đến

II.- Nghi Thức Khai Mạc: 3:00 PM

  • Chào Quốc Kỳ, Đạo Kỳ và Mặc Niệm
  • Giới thiệu thành phần tham dự
  • Diễn văn của Ban Tổ Chức

III.- Đại Lễ Kỷ Niệm: 3:30 PM

  • Nghi Thức Hành Lễ
  • Tuyên đọc Sứ Mạng Cứu Đời của
    Đức Huỳnh Giáo Chủ
  • Đọc 8 Điều Răn Cấm

IV.- Phát Biểu của Quan Khách và
Xướng Ngâm Thi Văn Giáo Lý: 4:00 PM

V.- Văn Nghệ Giúp Vui
VI.- Cảm Tạ của Ban Tổ Chức
VII.- Bế Mạc 6:00 PM

*
*     *
“Đạo pháp thường hay dung với hòa
Xét người cho tột xét thân ta
Nếu người rõ phận vui lòng thứ
Ta thứ được người người thứ ta”

Lời của Đức Huỳnh Giáo Chủ

CỐ VẤN BAN TỔ CHỨC ĐẠI LỄ

  • Cụ PHAN NHƯ TOẢN, Chủ Tịch Danh Dự Hội Đồng Giám Sát, Hội Đồng Trị Sư Trung Ương GHPGHH
  • TRẦN SINH CÁT BÌNH, Chủ Tịch Danh Dự Hội Đồng Đồng Cố Vấn Hội Đồng Trị Sự Trung Ương HGPGHH
  • LS. Đinh Thạch Bích
  • GS. Trần Văn Chi
  • Ô. Bà Hoàng Đình Từ
  • Thiền Sư Nguyên Linh
  • Ô. Bùi Văn Truyền
  • Đốc Sự HC Châu Văn Để
  • GS Lê Hữu Quế
  • Nghệ Sĩ Tuyết Nga

LIÊN LẠC:
TS Lê Phước Sang, 832-397-9813;

Lê Văn Tâm, 626-538-3409;
Trần Văn Vui, 619-278-9758;
Nguyễn Tấn Lạc, 714-332-9244;
Huỳnh Long Giang, 714-720-5271;
Đào Bích Ty, 714-726-4002;
Nguyễn Thanh Tân, 714-733-8193;
Ô. Ba Định, 714-837-4857;
Mai Bá Điển, 626-246-5121;
Phạm Diệu Chi, 714-722-8129;
Anh Hiền, 714-310-9369;
Nguyễn Bá Triết, 714-331-0937
Nguyễn Khang, 714-757-1696

Hội Đồng Trị Sự Trung Ương và Ban Tổ Chức Đại Lễ Kỷ Niệm

  • Tu Sĩ Thái Hòa, Hội Trưởng Danh Dự
  • TS Lê Phước Sang, Hội Trưởng
  • DB Dương Minh Quang, Đệ nhất Phó Hội Trưởng
  • DB Dương Thanh Tồn, Cố Vấn Chính Sách
  • Lê Văn Tâm, Phó Ban Tổ Chức
  • Trần Văn Vui, Phó Ban Tổ Chức
  • Nguyễn Cửu Long, Phó Ban Tổ Chức
  • GS Nguyễn Tấn Lạc, Phó Ban Tổ Chức
  • Bà Phạm Diệu Chi, Phó Ban Tổ Chức
  • Huỳnh Long Giang, Tổng Thư Ký
  • Ông Hồ Phi
  • Bà Nguyễn Minh Tâm
  • Ô. Trần Ngọc Châu
  • Soạn Giả Trần Văn Hương
  • Nghệ Sĩ Tuyết Nga
  • Soạn Giả Bùi Minh Đức
  • Nhạc Sĩ Ngọc Nôi
  • Ô. Bà Nghệ Sĩ Hoàng Lợi
  • Nghệ Sĩ Phi Loan
  • Ô.Bà Ba Định
  • Bà Đào Bích Ty
  • Ô. Mai Bá Điển
  • Ô. Nguyễn Thanh Tân
  • Ô. Nguyễn Văn Hiền
  • Bà Phạm Mai
  • Bác Sĩ Lê Phước Hoàng Hà

Trang mạng Tân Dân Hòa www.tandanhoa.com là cơ quan ngôn luận chính thức của Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo nhằm bảo tồn và phát huy truyền thống tín ngưỡng và văn hóa dân tộc, đồng thời cập nhật và phổ biến tin tức đấu tranh cho tự do hành đạo, cho một Việt Nam Dân Chủ Phú Cường không độc tài, không cộng sản.

Trong điều kiện hiện có, Tân Dân Hòa xin phép được góp nhặt những bài vỡ tin tức từ các nơi. Tân Dân Hòa chân thành biết ơn những tác giả những cơ quan truyền thông đã mặc nhiên rộng lượng cho Tân Dân Hòa đăng tải.

Đôi lời cùng Đồng Đạo và Độc Giả:

Xin phép được hướng dẫn quý vị khi vào trang mạng Tân Dân Hòa, hãy nhìn ngay bên trái sẽ thấy các tiết mục có chủ đề như: Lịch Sử PGHH, quý vị bấm vào đó, một loạt bài vở liên quan sẽ hiện ra. Muốn theo dõi tình hình tranh chấp biển đảo, chạy đua võ trang khí tài như tàu chiến phi cơ, hạm đội tàu ngầm của các nước Đông Nam Á Châu hoăc của các cường quốc liên hệ, thì chỉ cần bấm vào mục Biển Đông. Các mục Chính Trị Thời Sự hay Thắng Tích Cảnh Đẹp cũng bấm vào những mục đó.

Thiết tha kêu gọi:

Thay mặt Trung Ương Giáo Hội, Tổng Vụ Giáo Lý, cũng như Khối Tuyên Huấn Dân Xã, ông Hội Trưởng Tiến Sĩ Lê Phước Sang và Chánh Thư Ký Huyền Tâm Huỳnh Long Giang chân thành mong ước sự đóng góp, bài vở, tin tức, hình ảnh, phim, DVD, thi văn, và những tác phẩm nghệ thuật phù hợp tinh thần nhân văn trong sáng, phù hợp tinh thần văn minh văn hóa dân tộc của các nhân sĩ trí thức và của đồng đạo từ bốn phương gởi về.

Đăc biệt là những tư liệu kỹ năng thuyết trình Giáo Lý, những bài Pháp Luận của quý Tu Sĩ, Cư Sĩ PGHH từ Quốc Nội.

Những công tác dự kiến thực hiện:

Đại Lễ 18 tháng 5 kỹ niệm lần thứ 75 ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ Khai Sáng Đạo PGHH sẽ được tổ chức tại khuôn viên Hội Quán đường Euclid, Ngày Thành Lập Đảng Dân Xã – 21 tháng 9 cũng như Ngàỵ 25 tháng 2 là ngày Đức Thầy Thọ Nạn tại Đốc Vàng, ngoại trừ Đại Nhạc Hội Văn Nghệ gây quỷ sẽ ở địa điểm khác.

Hướng tầm nhìn về quê hương đất nước chúng tôi mong ước có một ngày trong các tỉnh Miền Tây nhất là vùng Thánh Địa thân yêu những mầm mống Giáo Lý, những tinh thần xã hội Từ Thiện được đâm chồi nảy lộc những mảnh tình sắc son được vun quén, để Xã Hội Công Bằng Đức Hạnh được lập thành, những tình nghĩa chân thật vững bền, những hương hoa tâm hồn lan tỏa khắp mọi miền quê hương đất nước. Cúi lạy ơn trên Trời Phật, Hồn Thiêng Sông Núi, anh linh của các Anh Hùng Liệt Nữ gia trì hộ độ cho tất cả chúng ta.

Email của Tiến Sĩ Lê Phước Sang: lephuocsang.pghh@gmail.com
Điện thoại: 832-397-9813

Email của Huyền Tâm Huỳnh long Giang: huyentamhh@gmail.com
Điện thoại: 714-720-5271

Categories: Hội Đồng Trị Sư, Hội Đồng Trung Ương, Sinh Hoạt Tôn Giáo | Leave a comment
 
 

Thắng-Tích các Tông-Phái TIỀN-THÂN CỦA ĐẠO PGHH

DENTHO DUC CO QUAN

DINH ĐỨC CỐ-QUẢN

DUC PHAT-TRUM

KHU DI TICH

PHỦ-THỜ

PHỦ-THỜMỘ ĐỨC PHẬT-TRÙM

MỘ ĐỨC PHẬT-TRÙM

 

Categories: THẮNG-TÍCH | Leave a comment
 
 

Những Cảnh Tuyệt Đẹp

Những cảnh Đẹp.
TTKh.


From: Thập Ngv 
Subject: Những Cảnh Tuyệt Đẹp
Những Cảnh Tuyệt Đẹp

 

Categories: Cảnh-Đẹp | Leave a comment
 
 

Chốn Bồng Lai Của Sắc Tím Hồng

Sự đa dạng sắc màu của thiên nhiên không chỉ tạo ra vẻ trẻ trung tươi mát của màu lục, vẻ hiền hòa thanh bình của màu xanh hay vẻ rực rỡ nồng nàn của màu đỏ. Sắc tím đậm chất thơ cũng khắc họa lên những bức tranh thiên nhiên đẹp như trên thiên đường hay trong truyện cổ tích.

Một màu tím ngát trải dài ở một khu vườn Nhật Bản, khung cảnh đẹp như trên thiên đường
Cực quang tím hồng – một trong những hiện tượng thiên nhiên đẹp nhất trên thế giới
Một khoảnh khắc hoàng hôn rực trong sắc tím
Một con đường đan kết bằng hoa tím, nơi tổ chức đám cưới lý tưởng cho những cặp tình nhân
Cánh đồng hoa tím trải dài đến tận chân trời
Sắc tím hồng nhạt của hoa sakura luôn được xem là nét đẹp tình tứ nhất vào mùa xuân
Với sắc tím hồng đậm, sakura vẫn khiến khung cảnh thơ mộng và diễm lệ như thế này
Một góc yên bình và vẫn đầy chất thơ
Chiếc cầu Moss Bridges tại Ireland khi trải lên tấm thảm tím hồng đẹp như chốn bồng lai
Một thác nước trong hang động ở Chattanooga, Tennessee
Thử tưởng tượng một ngày bạn được chèo thuyền thăm đảo Skye ở Scotland, bạn sẽ choáng ngợp trong sắc tím hùng vĩ này
Một góc nên thơ khác ở xứ sở Phù Tang
Con đường trải hoa tím hồng đi vào xứ sở thần tiên
Màu tím hoa Fuji ở Nhật Bản đẹp đến mức làm xao lòng du khách
Màu tím nhẹ phủ lên trên ngôi nhà và chiếc cầu, tạo ra một khung cảnh chỉ có trong cổ tich
Categories: Uncategorized | Leave a comment
 
 

Tâm Thư của Hội Đồng Trị Sự Trung Ương và Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng

GIÁO  HỘI  PHẬT  GIÁO  HÒA  HẢO

Hội Đồng Trị Sự Trung Ương và
Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng

Tâm Thư

Phật Giáo Hòa Hảo đã được khai sáng như một tôn giáo đặc biệt phù hợp với văn hóa dân tộc của người Việt. Cho đến nay Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo ở trong nước cũng như hải ngoại đã trải qua biết bao khổ nạn và thăng trầm theo vận nước. Cùng với Giáo Hội, Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng cũng truân chuyên theo dòng lịch sử đấu tranh đầy oan khiên của dân tộc.

Năm nay, Phật Giáo Hòa Hảo tại hải ngoại qua Hội Đồng Trị Sự Trung Ương và Dân Xã Đảng lại tổ chức Đại Lễ Kỷ Niệm Ngày Khai Sáng Đạo Phật Giáo Hòa Hảo năm thứ 73 như thường lệ nhưng với một nỗi niềm nặng trữu vì tình hình đạo sự trong nước vẫn còn tối tăm và nhân tâm tại hải ngoại thì rối bời ly tán với sự phân hóa vẫn còn trầm trọng giữa những người đồng đạo, đồng chiến tuyến.

Đức Huỳnh Giáo Chủ, khi khai sáng Đạo Phật Giáo Hòa Hảo đã đồng thời lập ra Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng để tạo môi trường cho tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo có thể thực hành nhiệm vụ công dân đền đáp Ân Quốc Gia, một trong Tứ Ân của Phật Giáo Hòa Hảo. Dân Xã Đảng đã đóng một vai trò rất quan trọng trong sinh hoạt chánh trị của quốc gia trong giai đoạn đấu tranh giành độc lập, đấu tranh chống cộng sản và đấu tranh xây dựng hai nền cộng hòa tại miền Nam Việt Nam. Sau năm 1975, hoạt động của Dân Xã Đảng cũng không tránh khỏi những khó khăn và cực kỳ gian nan từ trong nước ra đến hải ngoại.

Ở trong nước, sau 37 năm nắm toàn quyền cai trị đất nước, Cộng Sản Việt Nam vẫn tiếp tục cai trị 90 triệu đồng bào bằng guồng máy độc tài bạo lực, liên tục đàn áp khủng bố nhân dân, tước đoạt quyền sống của mọi người, cố bám víu vào chủ nghiã cộng sản vô thần, cố gắng thực hiện chủ trương “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghiã” què quặt nhằm mục đích đục khoét tài nguyên quốc gia, vơ vét của cải cho bè đảng, làm giàu trên xương máu của nhân dân. Quốc gia Việt Nam ngày càng lâm vào tình trạng suy tàn cạn kiệt, kinh tế khủng hoảng, pháp luật bất công, giáo dục xuống cấp, an sinh xã hội tồi tệ, y tế kém cỏi, cờ bạc đĩ điếm nghiện ngập tràn lan, an ninh quốc phòng suy yếu, văn hóa dân tộc và đạo đức con người băng hoại trầm trọng, xã hội Việt Nam gần như bên bờ vực thẳm.

Tại hải ngoại, tập thể người Việt quốc gia đã phải nỗ lực rất nhiều để xây dựng lại cuộc sống, tồn tại, vươn lên và hội nhập vào xã hội mới nhưng cũng không quên hướng về quê mẹ Việt Nam hậu thuẫn hay tham gia công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền của đồng bào ruột thịt trong nước.  Nhưng suốt 37 năm qua cuộc tranh đấu cho dân chủ, tự do, nhân quyền của tập thể người Việt quốc gia đã chưa thể thành công vì tình trạng ly tán, xa cách, bời rời, tan nát, phân hóa, chia rẽ, chống báng, công kích lẫn nhau vẫn còn qúa trầm trọng khiến cho tiềm lực đấu tranh và sức mạnh lớn lao của tập thể người Việt quốc gia tại hải ngoại đã không thể được vận dụng hữu hiệu vào công cuộc đấu tranh.

Tuy nhiên, vẫn còn có rất nhiều tổ chức đấu tranh, nhiều vị lãnh đạo các đảng phái, của Dân Xã Đảng, của các tôn giáo, của Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo tha thiết với đạo pháp, với tôn giáo, với đồng đạo tại quê nhà và vận mạng chính trị của quốc gia trước sự cai trị bạo tàn của Cộng Sản Việt Nam.

Trong dịp Đại Lễ Kỷ Niệm Ngày Khai Sáng Đạo Phật Giáo Hòa Hảo năm nay, Hội Đồng Trị Sự Trung Ương  Phật Giáo Hòa Hảo và Dân Xã Đảng xin mạo muội gửi bức Tâm Thư này đến tất cả chư liệt vị lãnh đạo các tổ chức đoàn thể đấu tranh, các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, các vị lãnh đạo các tổ chức đoàn thể hội đoàn khác cùng toàn thể quí vị đồng hương đồng bào với Lời Khẩn Cầu đưới đây để tham khảo và kêu gọi sự đồng thuận:

1.- Tập thể người Việt quốc gia chúng ta hãy sáng suốt đặt quyền lợi quốc gia và dân tộc lên trên hết, quyết tâm một lòng một dạ tham gia các sinh hoạt đấu tranh cho dân chủ, tự do, nhân quyền ở Việt Nam.

2.- Mọi người trong tập thể người Việt quốc gia hãy tỉnh giấc, ra khỏi tình trạng tiêu cực thụ động, vận động, khuyến khích lẫn nhau và tham gia tích cực vào các sinh hoạt đấu tranh chánh trị trên.

3.- Nhằm mục đích Xây Dựng Lại Niềm Tin, gầy dựng lại Tinh Thần Hợp Tác Hài Hòa, sự Đồng Tâm Nhất Trí làm nền tảng cho công cuộc xây dựng Khối Đại Đoàn Kết Dân Tộc, chúng ta sẽ cùng nhau phát động Phong Trào Khuyến Khích Các Cuộc Trao Đổi/Đối Thoại giữa các tổ chức đoàn thể để thông cảm, thấu hiểu và chấp nhận sự khác biệt, đồng thời tìm những điểm đồng thuận ngõ hầu tạo điều kiện cho sự Hợp Tác Hài Hòa, Bao Dung, Nhất Trí, Đồng Tâm trong Tinh Thần Đoàn Kết .

4.- Phát động Phong Trào Chấm Dứt hay Tránh Các Hành Vi Tiêu Cực như Lên Án và Chấm Dứt Sự Chống Báng, Công Kích, Chụp Mũ, Bôi Bẩn, Xuyên Tạc, Nói Xấu … giữa mọi thành phần trong tập thể người Việt quốc gia, đã làm cho Đại Khối Người Việt Tị Nạn rơi vào tình trạng chia rẽ, phân hóa, tan nát, rời rạc, chán nản, bi quan bao nhiêu năm qua.

5.- Tại mỗi địa phương tập trung đông đảo người Việt tị nạn, thành lập một Nhóm Làm Việc Nồng Cốt ( Strategy Working Group) có khả năng và thực lực gồm đông đảo các thành viên đại diện cho các tổ chức đoàn thể đấu tranh có cán bộ, các tôn giáo, các hội đoàn nghề nghiệp, các hội ái hữu đồng hương, các tổ chức cộng đồng… Nhóm Làm Việc Nồng Cốt này sẽ thường xuyên họp mỗi tháng ít nhất một lần để vừa có điều kiện thắt chặt mối thân tình vừa bàn thảo và quyết định những vấn đề chung cùng quan tâm tại địa phương, tại tiều bang hay quốc gia cũng như những vấn đề lớn lao hơn của tập thể người Việt quốc gia tại hải ngoại hay những vấn đề của đồng bào trong nước.

Tình hình chính trị quốc tế đang có những dấu hiệu thuận lợi cho công cuộc vận động đấu tranh của tập thể người Việt quốc gia chúng ta. Tình hình chính trị tại Việt Nam và phe Xã Hội Chủ Nghiã còn xót lại đang cho thấy những khó khăn ngày càng chồng chất và nguy cơ xụp đổ. Nhưng chúng ta không thể không chuẩn bị cho thời kỳ hậu cộng sản đang ngày càng rõ nét và xác định cho mình một vị trí thích đáng, một vai trò tích cực khi tình hình đòi hỏi.

Thay mặt Hội Đồng Trị Sự Trung Ương và Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng chúng tôi thiết tha kêu gọi sự đồng thuận ký tên vào Lời Khẩn Cầu này của qúi vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, qúi vị lãnh đạo các tổ chức đoàn thể đấu tranh, toàn thề quí vị thân hào nhân sĩ, củng đông đảo quí vị đồng hương đồng bào. Chúng tôi mong rằng sẽ được sự đáp ứng nồng nhiệt của quí vị và nguyện sẽ sát cánh cùng toàn thể quí vị để chính thức đưa ra Lời Khẩn Cầu sau này và đẩy mạnh công tác vận động và phát động các Phong Trào nói trên.

Chúng tôi cũng rất mong quí vị quang lâm tham dự Đại Lễ Khai Sáng Đạo Phật Giáo Hòa Hảo năm thứ 73, ngày 29 tháng 7, năm 2012 tại Hội Trường Trung Tâm Văn Lang, đường Moran, TP Westminster, Orange County, CA 92683 để chúng tôi được lắng nghe thêm các cao kiến.

Little Sàigòn, ngày 29 tháng 5, năm 2012

Trân trọng

Categories: Hội Đồng Trị Sư, Sinh Hoạt Tôn Giáo, Tin Hải Ngoại | Leave a comment
 
 

Chào Mừng

Thưa Quý Đồng đạo, Thân hữu và Đồng hương,

Nhằm mục đích phát huy Chánh pháp của Đức Phật Thích Ca đã truyền lại và đươc phổ truyền trong Giáo lý Phật Giáo Hòa Hảo do Đức Huỳnh Giáo Chủ đã dày công hoằng pháp từ ngày 18/5 năm Kỷ-Mão (1939), trang nhà Tân Dân Hòa hân hoan ra mắt quý đồng đạo và thân-hữu.

Đây là nơi mà quý đồng đạo, thân hữu, đồng hương có thể tìm thấy các tin tức, tài liêu về triết lý và đạo pháp của Phât Giáo Hòa Hảo, sinh hoạt của các Ban Trị Sự Địa Phương và Hội Đồng Trị Sự Trung Ương của Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo và cũng là nơi để trao đổi những tin tức liên quan đến giáo sự và tạo sự liên lạc dễ dàng khi cần thiết.

Với lập trường Quốc Gia Dân Tộc, chúng tôi luôn nêu cao ngọn cờ Chánh nghĩa: Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền cho đồng bào và nhân loại,  cương quyết chống lại độc tài dưới bất cứ hình thức nào và nhất là không chấp nhận chủ thuyết vô thần, phi nhân, phi đạo đức.

Với tôn chỉ: phụng sự đạo pháp, giáo hội và quốc gia dân tôc, chúng tôi nhứt tâm nghiêm chỉnh tuân hành ý chỉ cao thương của Đức Giáo Chủ để cho Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo ngày càng vững mạnh, xứng đáng là một trong những tôn giáo sáng danh trên thế giới, dẫn dắt chúng sanh tiến đến cõi đại đồng, thoát khỏi bến mê như lời Đức Huỳnh Giáo Chủ mong ước:

                           Ước-mơ thế-giới lân Hòa-Hảo,

                          Nhà Phật con Tiên hé miệng cười.

Rất mong được sự đóng góp tiếp tay của quý đồng đạo và thân hữu để trang nhà Phật Giáo Hòa Hảo luôn là tiếng nói chung của người tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo khắp nơi.

         Trân-trọng cám ơn và kính chào quý vị,

Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Giáo Hội Phât Giáo Hòa Hảo

Categories: Tổng Quát | 1 Comment
 
 

Thân Thế Đức Huynh Giáo Chủ

Đức Huỳnh Giáo Chủ

 

Sanh trưởng:

– Đức Huỳnh Giáo Chủ, tên tộc là Huỳnh Phú Sổ, sanh tại làng Hòa Hảo một thôn nằm trên Bắc ngạn sông Vàm Nao, thuộc Quận Tân Châu, Tỉnh Châu Đốc, ngày 25 tháng 11 năm Kỷ Mùi, tính ra nhằm ngày 15 tháng giêng năm 1919.

Thân sanh của Ngài là Đức Ông Huỳnh Công Bộ, lúc bấy giờ làm Hương Cả làng Hòa Hảo. Thân mẫu của Ngài là Đức Bà Lê Thị Nhậm. Đức Ông có hai đời vợ, đời vợ trước sanh được hai gái, hiện nay người chị thứ hai còn sống góa chồng, còn người em thì đã chết. Khi bà lớn mất, Đức Ông tục huyền với bà Lê Thị Nhậm và sanh được ba người con :

Con đầu là Đức Huỳnh Giáo Chủ. Con thứ là Huỳnh Thị Kim Biên. Con út là Huỳnh Thị Mậu. Cô Huỳnh Thị Kim Biên, nay là Bà Lâm Đồng Thanh, còn cậu Huỳnh Thạnh Mậu thì đã bị V.M giết năm 1945, vì đã tham gia cuộc biểu tình chống độc tài Cộng Sản, do anh em tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo tổ chức tại Cần Thơ ngày mồng 3 tháng 8 năm Ất Dậu, nhằm ngày 8-9-1945.

Ngày 2 tháng 9 năm Ất Dậu chúng đem cậu ra hành quyết, cùng một lúc với :
Trần Văn Hoành con của Trần Văn Soái, Nguyễn Xuân Thiếp tức thi sĩ Việt Châu.
Hiện nay tại sân vận động cũ, anh em tín đồ có xây mộ bốn liệt sĩ Hòa Hảo ( trong đó có một ngôi mộ vô danh) và cất miếu thờ, hằng năm đều có làm lễ kỷ niệm vào ngày mồng 2 tháng 9 âm lịch.

Đức Huỳnh Giáo Chủ thường được gọi là Thầy tư Hòa Hảo hay tôn xưng Đức Huỳnh Giáo Chủ còn tín đồ thì gọi Ngài là Thầy hay Đức Thầy, và nền đạo của Ngài khai sáng được mang danh là Phật Giáo Hòa Hảo, một tông phái đạo Phật thành lập tại làng. Từ trước đến nay, việc lấy địa danh làm tông danh là điều thường thấy trong đạo Phật. Như Phái Thiên Thai Tông bên Trung Hoa sở dĩ thành danh là vì xây dựng già lam trên núi Thiên Thai cũng như phái Trúc Lâm Yên Tử ở nước Việt Nam chúng ta được thành danh cũng do Ngài Điều Ngự Giác Hoàng tức vua Trần Nhân Tông khai sáng một Thiền phái Việt Nam trên núi Yên Tử, Tỉnh Quảng Yên.

Tánh tình: –
Ngay từ khi còn bé, Ngài đã tỏ ra hơn người trong mọi phương diện. Tánh Ngài điềm đạm, ít chịu trửng giỡn cợt đùa, thường tìm nơi thanh vắng ngồi trầm tư mặc tưởng. Ngài không thích đờn ca xướng hát ; vì thế những chỗ hội hè đình đám, những nơi tụ hợp đông người, Ngài luôn luôn xa lánh .

Từ lúc bé bỏng, Ngài đã có tánh hiếu sanh, không chịu bắt bướm, chuồn chuồn hay bắt dế để chọi nhau chơi. Những thú vui như đá cá thia thia, đá gà, những thú vui có ý sát hại, hay làm tổn thương thì Ngài không thích. Có lần Ngài ra ruộng, gặp con cóc, Ngài la lên nhưng đến khi các trẻ khác bu lại kiếm bắt thì Ngài lấy chơn đè lấy con cóc cho mọi người không nhìn thấy. Đến khi chúng bạn tản ra, Ngài mới lấy chơn lên cho con cóc thoát nạn. Lòng hiếu sanh của Ngài đã biểu lộ qua nhiều cử chỉ nhơn từ thương xót các loài vật.

Ngài có tánh cả thẹn đối với phụ nữ. Khi đến tuổi trưởng thành, hễ ai đề cập đến vấn đề hôn nhơn là bị Ngài phản đối ngay. Ngài thường tuyên bố: thích sống độc thân để được tự do hoạt động.

Học lực:
– Từ khi cập sách đến trường, Ngài đã tỏ ra xuất sắc hơn chúng bạn. Ban sơ, Đức Ông cho Ngài học các lớp sơ đẳng tại trường Hòa Hảo lúc bấy giờ tạm lấy nhà Công sở trước đình thần làm trường sở. Năm 1950, Công sở bị dở: nay là thư viện Hòa Hảo. Cứ như được biết niên học năm 1927-1928, Ngài đã học với ông Giáo Phan Văn Khoái.
Sau khi học hết các lớp sơ đẳng ở Hòa Hảo, Đức Ông cho Ngài tiếp tục học tại trường Tiểu học bổ túc Tân Châu với ông giáo Lê Văn Tám dạy lớp nhì, năm thứ nhất ( Cours Moyen I). Trong lúc ấy, Ngài ở trọ nhà ông Huỳnh Văn Sánh, thợ bạc ở Tân Châu. Sau khi đậu bằng Tiểu học (Certificat dEtudes élémentaires), Ngài phải thôi học vì bịnh hoạn, mặc dầu Đức Ông đủ sức cho Ngài tiếp tục học thêm nữa.

Sức Khỏe:
– Thật ra thì lúc nào Ngài cũng đau ốm luôn, không mấy khi được khỏe mạnh. Lâu lâu lại phát lên cơn sốt rét dữ dội, vì vậy mà Ngài xanh xao ẻo lả, có lúc mất ăn mất ngủ nhiều ngày, xem chừng bịnh tình trầm trọng lắm, có thể chết được.

Đức Ông Đức Bà hết sức lo buồn, hằng kiếm thầy chữa trị mà bịnh vẫn không thấy thuyên giảm. Ban đầu còn chạy chữa ở những thầy thuốc Bắc thuốc Nam trong làng mà không hết, trái lại bịnh trạng thì xem khác thường khi mạnh khi yếu khiến mọi người nghi là mắc bịnh tà và nghĩ đến cách chữa trị bằng pháp thuật bùa ngải.

Nghe đồn ở núi Trà Sư có ông Thầy Xom hay Đạo Xom, tục danh là Lê Hồng Nhật một tu sĩ nổi tiếng giỏi pháp thuật, đã từng chữa mạnh nhiều bịnh bằng bùa ngải. Đức Ông bèn cho chở Ngài đến nhưng rốt cuộc cũng không thấy hiệu quả.

Ngoài ra, Đức Ông còn đưa Ngài xuống ông Bảy Còn ở chợ Cà Mau thôn Long Kiến nhờ chữa trị. Ông Bảy là cháu nội của ông ĐạoThắng một cao đệ của Đức Phật Thầy Tây An và đã được truyền nhiều diệu pháp để cứu dân độ thế. Ông Đạo Thắng truyền lại cho thân phụ ông Bảy và ông này truyền trao lại cho ông Bảy tiếp tục nghiệp ông cha.Ông Bảy vốn là người thân thuộc của Đức Ông nên Đức Ông rất tin cậy, đưa Ngài đến nhờ chữa trị. Ban đầu thấy có mòi thuyên giảm nhưng về sau bịnh vẫn không thấy gì thay đổi.

Nghe đồn ở Mặc Cần Dưng có ông Lục Cả chữa bịnh tà rất hay, Đức Ông cũng lo chở Ngài đến nhờ chữa trị, nhưng bịnh Ngài không khác gì giả ngộ, mới thấy nguy kịch đó, lại liền thấy mạnh khỏe.

Như lần chở Ngài đi, sau bảy ngày bỏ ăn bỏ ngủ, tưởng là nguy kịch lắm, chẳng ngờ lúc đi ghe, Ngài lấy cơm nguội ra ăn hết hai tô lại uống thêm hai tô nước sông. Phàm người bỏ ăn năm bảy ngày, muốn ăn lại phải cho uống nước cháo rồi lần lần cho ăn cháo lỏng, dạ dày mới chịu nổi. Vậy mà Ngài vẫn khỏe như người thường và không thấy sao cả.
Lúc bấy giờ lại có tin đồn bếp Ngoan, tục danh là Lê Minh Chiếu, ở Chợ Vàm một tay lão luyện về bùa Ngải của Miên và Xiêm, từng học với Thầy ngải ở Tà Lơn và chữa lành các bịnh bị thư, bị ngải hay mắc bịnh tà. Trong lúc bức ngặt, Đức Ông cho chở Ngài lên Chợ Vàm, nhưng bếp Ngoan chữa cũng trơ trơ.

Điều đáng lo ngại nhứtt là mấy lúc sau nầy, Ngài lại vướn thêm bịnh huợt tinh khá trầm trọng. Do chứng bịnh nầy mà Ngài trở nên xanh xao vàng vọt, con người tiều tụy, không còn thiết gì đến việc học hành. Về sau Ngài có thổ lộ cho một tín đồ ở Bạc Liêu biết: đó là ơn trên định dọn phần xác tinh khiết, chẳng khác nào sút ve cho sạch trước khi đựng lấy nước trong.

Ra làm bịnh:
– Bắt đầu từ năm Kỷ Mão, năm Ngài được 21 tuổi, sau khi thôi học về nhà, Ngài thường tỏ ra nhiều cử chỉ kỳ lạ, khi thì nằm thim thíp, bỏ ăn bỏ ngủ, lúc thì mạnh mẽ như người không bịnh, đi đứng như thường, nói năng hoạt bát.

Đức Ông cũng như bao nhiêu người khác, đều cho Ngài có tà ma quỉ quái chi dựa vào nên mới có trạng thái khác thường như vậy.

Mặc dầu, Đức Ông lo chữa chạy cho Ngài tận tình, nhưng Ngài thì cứ nói rằng không có bịnh chi cả, vì nể Đức Ông nên mới đi chạy thầy chạy thuốc như vậy.
Một hôm, Ngài đi lên đầu trên xóm dưới truyền rao: nếu ai có mắc bịnh chi, cứ đem lại cho Ngài chữa trị cho.Thấy vậy Đức Ông bĩu môi: Bịnh mình chề ề như vậy mà không lo, còn đòi đi chữa bịnh người ta.

Ban đầu không ai tin Ngài có thể chữa bịnh, nhưng có một vài bịnh ngặt nghèo, kể như hết phương cứu chữa, nghe Ngài nói chữa được nên cũng liều đem đến, may ra có phép Tiên phép Phật gì chăng. Vả lại, Ngài không có làm chi nguy đến tánh mạng con bịnh, hơn nữa phương pháp của Ngài dùng để chữa hay thuốc thang của Ngài cho uống không có gì nguy hiểm. Vì vậy mà người ta đánh liều chở bịnh đến nhờ Ngài cứu chữa. Nhưng lạ lùng thay, bịnh nào Ngài chịu chữa cũng đều được mạnh lành, mặc dầu đã tốn bao nhiêu tiền của và thuốc men.

Do cách chữa trị huyền diệu ấy mà tiếng đồn lan rộng ra. Nhứt là từ ngày Ngài chữa bịnh cho con gái của ông Hương chủ Hùng ở Hưng Nhơn mắc bịnh trùng, thập tử nhứt sanh, đã chạy chữa đủ thầy pháp thầy bùa trong vùng mà không hết. Nghe Ngài chữa bịnh bằng phương pháp huyền diệu nên chở ra nhờ Ngài chữa trị.

Ngài dùng nước rải vào mặt bịnh nhân khiết bất tỉnh, ngất xỉu. Ngài bỏ đó, thân nhân lấy làm lo ngại, nhưng Ngài bảo khiêng vào nhà sau, đợi đến giờ Tý, Ngài sẽ chữa cho. Quả nhiên khi đến giờ, Ngài đem một chén nước lã bảo cạy miệng ra đổ. Trong chốc lát, cô ấy tỉnh lại rồi mạnh luôn và từ đó gia đình của Hương chủ Hùng không còn lo ngại về bịnh trùng nữa.Bắt đầu từ khi chữa dứt bịnh trùng cho gia đình ông Hương chủ Hùng, tiếng tăm của Ngài vang dậy khắp nơi. Chừng đó ngày nào người ta cũng nườm nượp chở bịnh đến, nhứt là các bịnh điên hay bịnh tà, xưa nay có tiếng là hung dữ không ai chữa nổi, nay chở đến chật nhà chật cửa.

Lúc bấy giờ nhà Đức Ông chật nức, nào bịnh nhơn, nào những người hiếu kỳ đến xem chữa bịnh, chen nhau không còn chổ trống.Có nhiều con bịnh hết sức hung tợn, ở nhà la ó hay hành hung không ai dámlại gần, phải dùng thế bắt trói mới đem đi được. Thế mà khi đến Ngài, Ngài bảo lấy dây chuối cột tay dẫn lên, bịnh nhơn riu ríu đi theo không chống cự. Cũng có con bịnh chưa chịu phép, còn la ó hay múa tay múa chơn, Ngài rút chiếc khăn quăng ra và hét: Chư Thần đâu . . . để vậy sau ? hét vừa dứt tiếng thì bịnh nhơn chạy đến chụp lấy chiếc khăn quấn vào tay, càng siết chặt hai tay lại, vừa khóc lóc van lơn xin Ngài tha thứ.

Ngài nói: Nếu biết ăn năn thì hãy xuất ra, người ta có vợ có chồng rồi, đừng có xen vào phá gia cang người ta. Hãy hứa không còn phá nữa, ta mới dung thứ.
Con bịnh khóc lóc hứa từ nay không còn dám phá nữa. Ngài bảo mở trói, con bịnh tự tháo chiếc khăn ra. Ngài dạy lại lễ Phật, cho uống một chén nước lã rồi ra về.

Ngoài bịnh trùng, bịnh điên, Ngài còn chữa nhiều thứ bịnh khác nữa, như dịch tả, phung đơn, nhứt là cai thuốc phiện, bỏ rượu một cách tài tình.
Phương pháp chữa trị của Ngài hết sức giản dị, Ngài cho uống nước lã, hoặc giấy vàng hay giấy nhựt báo xé nhỏ ra. Về phương dược thì các thứ lá cây như: lá xoài, lá ổi, lá mít . . ., các thứ bông như: bông trang, bông thọ. Còn về niệt để đeo thì dùng chỉ trắng se lại, có khi không có chỉ thì dùng dây chuối, dây bố . . .

Chỉ có bấy nhiêu dược liệu, hết sức giản dị, không tốn tiền mà bịnh nào uống vào cũng khỏi. Lạ nhứt là những người ghiền á phiện hay ghiền rượu, chỉ uống nước lã mà bỏ rượu bỏ á phiện cái một, không hành phạt chi chi cả.

Ngoài ra Ngài cũng có cho toa thuốc Bắc, ai có mắc bịnh, cứ theo đó bổ về sắc uống: mười bịnh hết mười, khỏi phải đem đến Ngài chữa trị. Những phương thuốc còn ghi chép trong quyển Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ . Đến ngày nay nhiều người mắc bịnh đã theo toa thuốc ấy hốt về uống vẫn thấy hiệu nghiệm như một thứ thuốc tiên.

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo, Đức Huỳnh Giáo Chủ | Leave a comment
 
 

Giai đoạn hoạt động đấu tranh: Vận Động Độc Lập

Đức Huỳnh Giáo Chủ

_____________________________________________

Ngay khi Nhựt đảo chánh Pháp ngày 9-3-1945 chánh quyền Nhựt lên thay thế chánh quyền Pháp, các đảng phái tự do hoạt động, Đức Huỳnh Giáo Chủ, để ứng phó với tình thế mới, bèn đưa ra một tổ chức đấu tranh lấy tên là Việt Nam Độc Lập Vận Động Hội.

ĐỘC LẬP VẬN ĐỘNG. – Đứng trước việc thay đổi đột ngột tình hình nước nhà, có hai việc khẩn cấp cần phải làm: một là ngăn chận mọi sự trả thù trong dân chúng ; hai là phải tổ chức hàng ngũ đấu tranh.

1. Ngăn chận các cuộc trả thù. – Trong thời kỳ Pháp thuộc, bọn thực dân thi hành một chánh sách hết sức hà khắc đối với nhân dân, nhứt là những phần tử yêu nước. Phụ họa theo bọn tham tàn cướp nước, còn có một đám tay sai, đành cam tâm làm tôi tớ cho ngoại địch vì một chút lợi danh, đem thân làm những việc bỉ ổi, sâu dân mọt nước, giết hại đồng bào. Đó là những hạng cường hào ác bá trong hương thôn và đám chó săn chìm mồi ngoài thành thị.

Ỷ lại thế lực thực dân che chở, chúng đã gây nên bao nhiêu tội lỗi trong nhân dân, kết thành thù oán, nhỏ nhặt thì là thù oán cá nhân, lớn hơn thì là thù oán giữa tộc họ làng nước.

Một khi cơ cấu đàn áp bị phá vở, đương nhiên sức đối kháng sẽ chỗi dậy. Để thỏa mãn thù oán cá nhân, nhiều cuộc giết hại, thanh toán đã xãy ra.

Để ngăn chận mọi hành động trả thù riêng, như đốt phá nhà cửa, hoặc trộm cướp, sát nhân, làm rối trật tự, có hại cho sự kiến thiết “quốc gia”, Đức Huỳnh Giáo Chủ đã tha  thiết kêu gọi lòng “từ bi bác ái, dĩ đức háo sanh khoan hồng đại độ” đối với hạng người lầm đường lạc lối, gây nên lắm tội tình, và đồng thời khuyên tất cả đồng bào muốn tỏ ra xứng đáng là “ Một người dân một nước tự do”  thì hãy quên hết những mối thù hềm ganh ghét, đừng bày ra cái họa nồi da xáo thịt khiến cho ngoại nhân khinh bỉ một dân tộc như dân tộc Việt Nam ta đã cónhiều tấm lòng nhân hậu và những trang lịch sử vẽ vang”.

Lời kêu gọi ấy đã cứu được bao nhiêu giọt máu đổ ra, chẳng những giữa đồng bào với đồng bào mà còn giữa đồng bào với ngoại chủng, chẳng phụ lời kêu gọi tha thiết đầy lòng đạo đức từ bi của Ngài : “Trước kia chúng nó hà khắc ta, chúng đã đành  ; ngày nay ta hà khắc lại, sao đành. Vì lòng chúng nó đầy sự hung tàn, còn lòng ta lại đầy nhân ái”.

2. Đoàn kết và tổ chức. – Hành động thứ hai của Ngài là đồng thời với sự ngăn chận mọi cuộc trả thù còn phải thực hiện cho được sự đoàn kết giữa các giới đồng bào để tranh đấu cho sự độc lập nước nhà.

Để thực hiện cuộc đoàn kết ấy, Ngài cho ra đời một tổ chức mệnh danh là Việt Nam Độc Lập Vận Động Hội, kêu gọi các từng lớp nhân dân thuộc thành phần ; trí thức Việt Nam, các bạn thanh niên, các nhà thương mãi, nông gia, thợ thuyền, các cụ đồ nho, các nhà sư hãy cùng nhau đoàn kết thành một lực lượng vận động cho cuộc độc lập quốc gia.

Trong bảng hiệu triệu, Ngài có viết :

“Gần ngót trăm năm nay đồng bào trải biết bao cay đắng, lớp kẻ thù giày đạp, lớp quan lại tham ô, vì thế nên người dân Việt Nam gánh vác biết bao nhiêu sưu thuế nặng nề. Kẻ thù đã lợi dụng chánh sách ngu dân để nhồi sọ quần chúng, gây mầm chia rẽ Bắc, Nam, Trung, phá rối sự đoàn kết, hầu mong cho cuộc đô hộ được vĩnh viễn trên giải non sông đất nước mà Tổ Tiên ta phải biết bao máu đào mới gầy dựng được.

“Vả lại từ trước cho đến nay các bực anh hùng, các nhà chiến sĩ khắp ba kỳ đã bao phen vùng vẫy chống lại quân thù mong gầy dựng lại nền Độc lập cho quê hương đất Việt”.
“Nhưng than ôi ! chỉ vì thiếu khí giới tối tân, chỉ vì sơ đường luyện tập mà giọt máu anh hùng đành hòa với bao nhiêu giọt lệ, khóc phút sa cơ, để lại cho người đồng thời và cho đoàn hậu thế muôn vàn tiếc thương ân hận”.

Rồi Ngài kêu gọi :

“Hỡi đồng bào Việt Nam !”
“Chúng ta đã bước và đang bước đến một khúc nghiêm trọng trên lịch sử. Giờ đây ta đã có thêm nhiều đặc quyền lo lắng đến cái giang san gấm vóc của Tổ Tiên ta di truyền lại.
“Vận động cuộc Độc Lập !
“Vận động cuộc Độc lập !
“Phải ! Toàn quốc phải liên hiệp vận động cho cuộc Độc lập. Đấy là cái chủ trương duy nhứt của Việt Nam Độc Lập Vận Động Hội”.

Sau ngày đảo chánh 9-3-1945, mọi giới đồng bào, nhứt là các nhà trí thức đều tỏ vẻ lạc quan, tin chắc theo lời hứa hẹn của quân đội Nhựt, nước Việt Nam sẽ tuyên bố hoàn toàn độc lập, hủy bỏ tất cả hòa ước đã ký với Pháp, nhứt là có chánh phủ Trần Trọng Kim là một chánh phủ của một quốc gia độc lập thì còn gì phải vận động nữa, như Đức Huỳnh Giáo Chủ đã chủ trương.

Trong một cuộc lễ mừng ngày độc lập, tổ chức tại vườn Ông Thượng tức vườn Tao Đàn, nhiều chánh khách lấy làm lạ sao Đức Thầy còn đưa ra lời Hiệu triệu kêu gọi đồng bào các giới tham gia Việt Nam Độc Lập Vận Động Hội để cùng nhau “vận động cuộc độc lập” cho quốc gia thì Ngài có cho biết rằng : Việt Nam chúng ta chưa độc lập đâu. Cần phải tích cực vận động mới mong thực hiện được.

Lời nói của Ngài quả thật không sai. Cuộc chiến tranh dai dẳng kéo dài một phần tư thế kỷ, gieo tang tóc cho đất nước, đau khổ cho đồng bào, đủ xác nhận lời nói của Đức Huỳnh Giáo Chủ là lời tiên tri, biết trước thời cuộc.

ĐI KINH LÝ. – Sau cuộc đảo chánh ngày 9-3-1945, tình hình trở nên bất ổn ở các tỉnh do sự thay đổi đột ngột chánh quyền từ tay người Pháp qua tay người Việt. Nhiều nơi dân chúng chống lại viên quan người Việt mới nhậm chức, vì lẽ quan ấy đã gây lắm tội tình trong thời kỳ Pháp thuộc. Có nơi, bộ máy an ninh sụp đổ vì các viên chức Pháp bị bắt cầm tù, nên xảy ra lắm trò cướp bóc, giết người vì thù oán cá nhân.

Nhà binh Nhựt bèn yêu cầu Đức Thầy về các tỉnh miền Tây để trấn an dân chúng cùng xếp đặt việc trị lý cho có qui mô, bởi chúng biết ảnh hưởng của Ngài ở Hậu Giang và chỉ có Ngài mới đủ uy tín dàn xếp.

Ngài nhận thấy cũng là cơ hội cho Ngài thăm anh em tín đồ nhứt là Thánh Địa Hòa Hảo, Đức Ông Đức Bà đã xa cách tính ra gần sáu năm, và cũng là dịp cho Ngài  soát lại cơ cấu  của nền Đạo hầu chấn chỉnh lại cho phù hạp lại với sự đổi mới của đất nước.

Ngài khởi hành hồi 2 giờ rưỡi chiều ngày mồng 9 tháng 2 năm Ất Dậu, nhằm ngày 22-3-1945. Sau đây là lộ trình của cuộc kinh lý :

Ngày 9-2 Ất Dậu rời Sàigòn, ghé Mỹ Tho, Cái Lậy, Vĩnh Long và đến Cần Thơ. Ngài ở đây ba hôm mới đi Long Xuyên.

Ngày 13-2 Ất Dậu (nhằm ngày 26-3-1945) đến Long Xuyên và nghỉ ở đây một đêm.

Sáng ngày 14-2 Ất Dậu (nhằm 27-3-1945) đi Châu Đốc và ở đây một đêm.

Sáng ngày 15-2 Ất Dậu (28-3-1945) về Hòa Hảo thăm thân sinh và ở đây một ngày.

Ngày 16-2 Ất Dậu (29-3-1945) đi Long Xuyên và ở đấy 2 ngày.

Sáng ngày 19-2 Ất Dậu (1-4-1945) đi về Sài Gòn có ghé Sa Đéc.

Sau một cuộc kinh lý Hậu Giang của Đức Thầy người Nhựt thấy uy thế của Ngài rất lớn ở vùng châu thổ sông Cửu Long. Ngài đi đến đâu đều được khối tín đồ hùng hậu nghinh tiếp nhiệt liệt, nên có ý lo sợ lực lượng quần chúng Phật Giáo Hòa Hảo có thể làm trở ngại chương trình Liên – Á của quân Phiệt Nhựt ; vì vậy họ có ý muốn Đức Thầy đứng trên vị trí tôn giáo hoạt động hơn trên địa hạt chánh trị. Có lẽ vì thế mà chương trình của Việt Nam Độc Lập Vận Động Hội không thực hiện.

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo, Đức Huỳnh Giáo Chủ | Leave a comment

Pháp: Hội thảo về UNCLOS 1982 và Phán quyết PCA La Haye

Pháp: Hội thảo về UNCLOS 1982 và Phán quyết PCA La Haye

06 Tháng Ba 20207:44 SA(Xem: 78)

VĂN HÓA ONLINE – ĐÔNG HẢI LIỆT QUỐC – THỨ SÁU 06 MAR 2020

Ý kiến-Bài vở vui lòng gởi về:  vaamacali@gmail.com (VănHóa Online-California)

Pháp: Hội thảo về UNCLOS 1982 và Phán quyết PCA La Haye

VĂN HÓA ONLINE – HOÀNG SA TRƯỜNG SA – THỨ BA 03 MAR 2020

03 Tháng Ba 20208:07 SA(Xem: 33)

TGVN. Ngày 27/2/2020, Hội thảo quốc tế về Biển Đông đã diễn ra với sự bảo trợ của Chủ tịch Nhóm nghị sỹ hữu nghị Pháp – Việt tại trụ sở Quốc hội và Thượng viện Pháp. Lần đầu tiên, một Hội thảo quốc tế được tổ chức cùng ngày tại 2 trụ sở này

image041

Các đại biểu tham dự Hội thảo quốc tế về Quốc tế Đông Nam Á.

Hội thảo được tổ chức nhằm góp phần tăng cường hơn nữa quan hệ Đối tác chiến lược Việt – Pháp. Hội thảo thu hút sự tham gia của gần 200 đại biểu, là các nghị sĩ, nhà báo, các nhà nghiên cứu luật pháp quốc tế, lịch sử, văn hoá của các học viện và cơ quan nhà nước Pháp. Đại sứ Việt Nam tại Pháp Nguyễn Thiệp là khách mời danh dự và đồng khai mạc Hội thảo.

Sáng 27/2/2020, tại trụ sở Quốc hội, các đại biểu đã lắng nghe tham luận của nhà luật pháp quốc tế GS. Monique Chemilier Gendreau và ông Nguyễn Hồng Thao, Phó Chủ tịch Uỷ ban luật quốc tế của Liên hợp quốc.

Hai tham  luận viên trình bày về quy định của luật quốc tế, đặc biệt Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) để xác định chủ quyền quốc gia đối với vùng biển, đảo, phân định biên giới trên biển giữa các quốc gia cũng như ranh giới các vùng lãnh hải, đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, trong đó có phán quyết của Toà án Trọng tài Quốc tế La Haye 2016.

GS. Gendreau cho rằng, đây là những điều kiện tiên quyết không thể bỏ qua khi giải quyết tranh chấp ở Biển Đông.

image044

GS. J.M Crouzatier cho rằng, nguồn tài liệu lịch sử phong phú tại châu Âu có thể đóng góp hiệu quả vào việc giải quyết tranh chấp Biển Đông.

Còn GS. J.M Crouzatier đã đề cập nguồn tài liệu lịch sử phong phú tại châu Âu, có thể đóng góp hiệu quả vào việc giải quyết tranh chấp Biển Đông, bao gồm các văn thư ngoại giao, hành chính, thư từ, bản đồ, nhật ký các chuyến đi hàng hải và truyền giáo của các nước này tới châu Á, hiện vẫn còn lưu trữ tại Pháp, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Toà thánh Vatican.

Đáng chú ý, theo GS. Crouzatier, nhiều tư liệu quan trọng như các văn thư của nhà Nguyễn (Việt Nam) dù bị phá hủy trong chiến tranh vẫn có thể tìm thấy trong kho lưu trữ của chính quyền thuộc địa Pháp nhờ các bản sao lưu trữ ở Pháp.

Các đại biểu cũng quan tâm đến các phân tích toàn diện của nhà nghiên cứu Benoit Treglode, GS. Pierre Journoud về tác động trong lĩnh vực luật pháp, chính trị và địa chính trị đối với khu vực Đông Nam Á cũng như thế giới do nguyên trạng Biển Đông đã bị thay đổi đáng kể trong 3-4 năm gần đây, khiến cho nhiều nước khu vực và có lợi ích ở khu vực lo ngại về hoà bình ổn định ở Đông Nam Á, nhất là quyền tự do đi lại ở Biển Đông.

image046

Theo GS. Pierre Journoud, nguyên trạng Biển Đông đã bị thay đổi đáng kể trong 3-4 năm gần đây, khiến cho nhiều nước khu vực và có lợi ích ở khu vực lo ngại về hoà bình ổn định ở Đông Nam Á.

Các nghiên cứu, phân tích đều cho thấy, do vị trí đặc biệt quan trọng về nhiều mặt của Biển Đông khiến cho nó trở thành nơi biểu hiện rõ rệt của sự cạnh tranh ngày càng tăng giữa các cường quốc ở khu vực, thể hiện sự thay đổi phức tạp, khó lường của tình hình quốc tế. Điều này đòi hỏi sự tăng cường đối thoại, trao đổi, hợp tác, ủng hộ lẫn nhau giữa các nước khu vực với các nước có lợi ích gắn bó với khu vực như EU trong đó có Pháp.

Theo TS. Nguyễn Hùng Sơn, Viện trưởng Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao, tình hình Biển Đông không chỉ liên quan đến tranh chấp chủ quyền lãnh thổ mà còn có tác động, là phép thử đối với việc bảo vệ các nguyên tắc và quy định của luật pháp quốc tế, vốn đã được thiết lập vững chắc và làm cơ sở cho quan hệ giữa các quốc gia từ sau Thế chiến II.

Các đại biểu thabày tỏ đồng tình với lời kêu gọi Pháp cũng như các nước EU lên tiếng ủng hộ việc bảo vệ các nguyên tắc và luật lệ của luật pháp quốc tế, cơ sở cho việc giải quyết hoà bình và thông qua đối thoại tình hình tranh chấp ở Biển Đông.

image048

Hội thảo quốc tế về Biển Đông của sự tham gia của gần 200 đại biểu.

Chiều 27/2/2020, tại Thượng viện, Hội thảo tập trung vào các khía cạnh văn hoá, lịch sử và môi trường của cuộc tranh chấp ở Biển Đông.

Các tham luận của GS P.Journoud, nhà khoa học Marie Hermann, Francois Nicolas, M.A Tang dựa trên kết quả các nghiên cứu khoa học đã phân tích các tác động đối với môi trường biển, đời sống kinh tế quốc gia, kể cả của ngư dân… của các hoạt động khai thác tài nguyên biển, nhất là các công trình nhân tạo ở Biển Đông đối với môi trường sinh thái biển và đề xuất các hướng hợp tác mới giữa Pháp, các nước EU với Việt Nam trong lĩnh vực này.

Các đại biểu đã kiến nghị tập hợp và xuất bản các kỷ yếu tham luận thành sách để làm cơ sở cho các dự án sau này về Biển Đông tại Pháp cũng như tại Việt Nam.

Trước đó, tháng 4/2019, Ủy ban Đối ngoại Quốc hội đã tổ chức một phiên thảo luận về “Báo cáo thông tin về những vấn đề chiến lược tại Biển Đông” mà Quốc hội Pháp đã giao cho hai nghị sĩ xây dựng trong suốt nửa đầu 2019.

Tháng 7/2019, Bộ Quốc phòng Pháp đã ban hành “Chiến lược quốc phòng của Pháp tại Ấn Độ-Thái Bình Dương”; tháng 8/2019, Bộ Ngoại giao Pháp công bố tài liệu “Chiến lược của Pháp trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương vì một không gian bao trùm Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương”.

Trong các tài liệu trên, Pháp khẳng định sự gắn bó với khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương với tư cách là một nước có lãnh thổ và vùng đặc quyền kinh tế quan trọng ở khu vực, cam kết gắn bó với hoà bình ổn định, đảm bảo quyền tự do hàng hải, hàng không trong khu vực, ủng hộ việc tôn trọng luật pháp quốc tế, tăng cường chủ nghĩa đa phương và ngày càng tăng cường sự hiện diện ở đây.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Hạm trưởng Mẫu hạm USS Roosevelt “ú ớ China virus”: Cách chức

Hạm trưởng Mẫu hạm USS Roosevelt “ú ớ China virus”: Cách chức

04 Tháng Tư 20208:57 SA(Xem: 25)

VĂN HÓA ONLINE – ĐIỂM NÓNG A – THỨ BẨY 04 APRIL 2020

Ý kiến-Bài vở vui lòng gởi về:  vaamacali@gmail.com (VănHóa Online-California)

Hạm trưởng Mẫu hạm USS Roosevelt “ú ớ China virus”: Cách chức (*)

image001

Hạm trưởng Crozier của Mẫu hạm USS Theodore Roosevelt đã bị cách chức . Reuters

Báo động Covid-19, chỉ huy tầu sân bay Theodore Roosevelt bị mất chức

03/04/2020

image002

Hạm trưởng Brett Crozier, chỉ huy tàu USS Theodore Roosevelt, nói chuyện với thủy thủ đoàn trong chuyến đi tới vùng tây Thái Bình Dương, ngày 19/12/2019 via REUTERS – US NAVY

Thu Hằng

Sau lời cảnh báo về tình trạng lây nhiễm virus corona trên tầu sân bay USS Theodore Roosevelt, gần 3.000 thủy thủ sẽ rời tầu vào ngày 03/04/2020. Tuy nhiên, chỉ huy tầu đã bị đình chỉ chức vụ.

Trong buổi họp báo ngày 02/04, đại diện Hải Quân Mỹ Thomas Modly giải thích quyết định đình chỉ công tác là do chỉ huy Brett Crozier « đã thể hiện đánh giá kém trong giai đoạn khủng hoảng », dù ông « không nghi ngờ rằng chỉ huy Crozier đã làm điều mà ông cho là cần thiết đối với thủy thủ đoàn ».

Tuy nhiên, đại diện Hải Quân Mỹ « yêu cầu các vị chỉ huy chứng tỏ khả năng đánh giá, lãnh đạo và bình tĩnh trước áp lực » vì « có thể chúng ta không trong thời chiến theo đúng nghĩa, nhưng chúng ta cũng không hoàn toàn yên bình ».

HKMH  USS Theodore Roosevelt hiện neo đậu ở Guam, cùng với gần 5.000 thủy thủ và nhân viên, trong đó có 114 người nhiễm virus corona, tính đến ngày 02/04.

Những thủy thủ nhiễm virus corona sẽ được cách ly trong một khu căn cứ hải quân lớn ở Guam, nơi có vài nghìn thủy thủ và gia đình sinh sống. Còn những người không bị nhiễm sẽ được bố trí ở trong các khách sạn trên đảo để số thủy thủ ở lại trên tầu có thêm không gian, giữ khoảng cách theo quy định.

Categories: Tin Hoa Kỳ | Leave a comment

Bs Ngô Thế Vinh: ĐBSCL 2020 CÁNH ĐỒNG CHẾT VÀ 45 NĂM ẢO VỌNG TRÍ THỨC

Bs Ngô Thế Vinh: ĐBSCL 2020 CÁNH ĐỒNG CHẾT VÀ 45 NĂM ẢO VỌNG TRÍ THỨC

01 Tháng Tư 202010:10 SA(Xem: 138)

VĂN HÓA ONLINE – TÀI LIỆU – THỨ BẨY 04 APRIL 2020

Ý kiến-Bài vở vui lòng gởi về:  vaamacali@gmail.com (VănHóa Online-California)

ĐBSCL 2020 CÁNH ĐỒNG CHẾT VÀ 45 NĂM ẢO VỌNG TRÍ THỨC

01 Tháng Tư 202010:10 SA(Xem: 106)

VĂN HÓA ONLINE – NHẬT KÝ BIỂN ĐÔNG – THỨ TƯ 01 APRIL 2020
Ý kiến-Bài vở vui lòng gởi về:  vaamacali@gmail.com (VănHóa Online-California)

image016

Bác sĩ Ngô Thế Vinh, hình chụp tháng 5 năm 1999 trên chuyến phà qua Sông Tiền,  phía xa là cây cầu Mỹ Thuận. Hình tác giả cung cấp.

image017

Bìa sách “Mekong – Dòng sông nghẽn mạch” của Ngô Thế Vinh. Tủ sách Văn Hóa.

ĐBSCL 2020 CÁNH ĐỒNG CHẾT

VÀ 45 NĂM ẢO VỌNG TRÍ THỨC

image018image019

Tưởng nhớ GS Nguyễn Duy Xuân, GS Phạm Hoàng Hộ,

Hai tượng đài trí tuệ kiệt xuất, bất khuất của Miền Nam

image020

NGÔ THẾ VINH

Lời Dẫn Nhập: Giáo sư Phạm Hoàng Hộ sau khi hoàn tất bộ sách đồ sộ “Cây Cỏ Việt Nam” mà Giáo sư gọi là “công trình của đời tôi” và vào mấy năm cuối đời, như một Di Chúc, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã đề tặng toàn sự nghiệp ấy cho:

 “Những ai còn sống hay đã chết trong tù vì tháng Tư năm 1975 đã quyết định ở lại để tiếp tục dâng góp cho đất nước.

Tặng giáo sư Nguyễn Duy Xuân nguyên viện trưởng Đại Học Cần Thơ, mất ngày 10/XI/1986 tại trại Cải Tạo Hà-Nam-Ninh.

Tặng hương hồn những ai trên biển Đông đã chết nghẹn ngào”.

Thế hệ sinh sau 30 tháng 4, 1975 nay cũng đã 45 tuổi rồi, cũng là 45 năm của một chính sách ngu dân lãng phí / huỷ diệt nguồn chất xám, và lăng nhục cả một thế hệ trí thức Miền Nam. Và nghĩ xa hơn, một Đồng Bằng Sông Cửu Long sẽ không chết như ngày nay nếu có một nhà nước biết trân trọng sử dụng nguồn chất xám ấy, mà biểu tượng là hai trí tuệ kiệt xuất của Miền Nam như Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, Giáo sư Nguyễn Duy Xuân, là hai thành viên sáng lập Viện Đại học Cần Thơ năm 1966, và sau 1975 cả hai có cùng một ý nguyện chọn ở lại để xây dựng đất nước sau chiến tranh và thống nhất. Để rồi, GS Nguyễn Duy Xuân thì chết thảm sau 11 năm bị đầy đọa trong trại tù cải tạo Hà-Nam-Ninh ở Miền Bắc, và GS Phạm Hoàng Hộ thì trải qua một chặng đường vô cùng đau khổ qua “một thời kỳ sống trong ảo vọng là sẽ thấy đất nước đi lên, giai đoạn đi xe đạp, ăn gạo hẩm, tưởng hoa sẽ nở trên đường quê hương” để rồi kết thúc là một cái chết buồn bã xa nửa vòng trái đất bên ngoài quê hương, một quê hương mà ông suốt đời gắn bó và chẳng bao giờ muốn xa rời. Hình ảnh một Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, một Giáo sư Nguyễn Duy Xuân những năm sau 1975, là tấm gương và cũng là một trải nghiệm đau đớn cho cả một thế hệ trí thức Miền Nam. Trang sử ảm đạm ấy là một bài học đắng cay cho cả một dân tộc sẽ không thể và không bao giờ quên. Với các thế hệ trẻ sau 1975 ở khắp năm châu, cùng với bản tiếng Việt, nay có thêm bản tiếng Anh để các bạn dễ dàng tiếp cận hơn với bài học lịch sử ấy.

NHỮNG NĂM ẢO VỌNG

GIÁO SƯ PHẠM HOÀNG HỘ

VÀ BỘ SÁCH CÂY CỎ VIỆT NAM

image021

Hình 1: chân dung Giáo Sư Phạm Hoàng Hộ

[nguồn: album gia đình Gs Phạm Hoàng Hộ]

Peter Shaw Ashton, Giáo Sư Charles Bullard

Ngành Lâm Học, Đại Học Harvard

“Với những ghi chú bằng tiếng Anh, cùng với những nét minh hoạ tinh vi của hơn 10,500 chủng loại, bộ sách Hoạ Hình Cây Cỏ Việt Nam / Illustrated Flora of Vietnam của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã cung cấp cho giới độc giả tiếng Anh lần đầu tiên và cập nhật một tài liệu tham khảo thấu đáo mà chúng tôi ít biết đến. Công trình này sẽ đứng như một tượng đài của sự quyết tâm, cống hiến, và uyên bác với lòng can đảm của tác giả. Giáo sư Phạm Hoàng Hộ hầu như đơn độc hình thành một công trình sinh học thực vật có tầm vóc hàn lâm/ academic tại Đại Học Sài Gòn giữa những năm tháng khó khăn. Trong hoàn cảnh cực kỳ thử thách ấy, giáo sư Hộ đã sưu tập được những chất liệu cho bộ sách đặc sắc này và cả những chuyến du khảo nhằm thu thập những mẫu vật để minh hoạ. Và nay công trình được xuất bản, đó sẽ là nguồn khích lệ cho các nhà sinh học trẻ ở Việt Nam và cả ở hải ngoại.

“Cây cỏ Việt Nam có thể lên tới 12,000 chủng loại. Bởi vì xứ sở này nằm sát bờ Thái Bình Dương Á Châu nhiệt đới, đó là hành lang cho những chuyển dịch theo chu kỳ bắc-nam / periodic north-south migration của thảm thực vật vô cùng phong phú từ phía nam Trung Hoa và phong phú hơn nữa là thảm thực vật xích đạo Mã Lai / equatorial flora of Malaysia. Trên các rặng núi vẫn còn lưu lại những chủng loại tùng bách / conifer và thực vật có hoa / angiosperm taxa có tầm quan trọng vô song, trong khi các vùng bình nguyên mang dấu ấn của quá khứ có liên hệ tới các vùng hải đảo Phi Luật Tân và Borneo Nam Dương. Đến nay sự phong phú này hầu như tiêu vong. Những nỗ lực của chính phủ Việt Nam trong chiến lược trồng cây tái sinh và bảo tồn sẽ được hỗ trợ bởi công trình của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ như một hồ sơ theo dõi các thảm thực vật đến nay còn tồn tại.” 

TIỂU SỬ:

GS Phạm Hoàng Hộ, trên giấy tờ ngày sinh là 3 tháng 8 năm 1931 tại An Bình, Cần Thơ. Nhưng theo cáo phó mới đây của gia đình GS Hộ sinh năm Kỷ Tỵ 1929, mất ngày 29 tháng Giêng năm 2017 tại Montréal, Canada hưởng thọ 89 tuổi. Anh Phạm Hoàng Dũng, con trai GS Phạm Hoàng Hộ xác nhận là “Ba tôi sinh năm Kỷ Tỵ 1929, nhưng theo lệ ngày xưa thì lâu sau đó mới khai sinh, là năm 1931”.

Văn Bằng:

— 1953: Cử nhân khoa học, thủ khoa Thực Vật học, Paris

— 1955: Cao học Vạn Vật học, Paris

— 1956: Thạc sĩ / Agrégé Vạn vật học

— 1962: Tiến sĩ Khoa học / Vạn vật học, Paris

Chức Vụ:

— 1957-1984: Trưởng phòng Thực vật Đại học Khoa học Sài Gòn

— 1965-1984: Giáo sư Thực vật học Đại học Khoa học Sài Gòn

— 1962-1966: Giám đốc Hải học viện Nha Trang

— 1963-1963: Khoa trưởng Đại học Sư phạm Sài Gòn

— 1963: Tổng trưởng Quốc gia Giáo dục

— 1966-1970: Viện trưởng sáng lập Viện Đại học Cần Thơ

— 1978-1984: Chủ bút tuần báo Khoa học Phổ thông Sài Gòn

— 1984-1989: Giáo sư Khảo cứu tại Viện bảo tàng Thiên nhiên Quốc gia Paris

Hội viên Khoa học:

— 1956: Hội viên Hội Thực vật học Pháp

— 1963: Hội viện Hội Tảo học Quốc tế (International Phycological Society)

— 1964: Hội viên Sáng lập Hội Sinh học Việt Nam

— 1965: Phó Chủ tịch Uỷ ban Danh từ Việt Nam

— 1967: Hội viện Hội Viện trưởng Đại học Quốc tế (APU)

— 1969: Sáng lập viên Niên san Đại học Cần Thơ

— 1971: Hội viên Uỷ ban Thẩm định hậu quả chất Da cam tại Nam Việt Nam, Viên Hàn lâm Khoa học Quốc gia, Hoa kỳ.

— 1973: Cố vấn Môi sinh Uỷ ban Quốc Tế Sông Mekong (MRC)

Ấn phẩm:

— 1960: Cây Cỏ Miền Nam Việt Nam (Flore Illustrée du Sud Vietnam)

Bộ Giáo dục Việt Nam: 1 vol., 803 pp., 275 pls.

— 1964: Sinh học Thực vật

Bộ Giáo dục Việt Nam: 1 vol., 861 pp., nhiều hình

— 1968: Hiển hoa Bí tử

Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo dục Việt Nam: 506 pp., 264 pls.

— 1969: Rong Biển Việt Nam

Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo dục Việt Nam: 558 pp., 493 figs.

— 1970: Cây Cỏ Miền Nam Việt Nam, in kỳ 2, quyển I

Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo dục Việt Nam: 1115 pp., figs. 2787

— 1972:  Cây Cỏ Miền Nam Việt Nam, in kỳ 2, quyển II

Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo dục Việt Nam: 1139 pp., figs. 5272

Cây cỏ Việt Nam: An illustrated Flora of VietNam

— 1991, Tập 1 Quyển I: Khuyết Thực Vật. Loã Tử. Hoa-cánh-rời đến Tiliaceae

— 1992, Tập 1 Quyển II Hoa-cánh-rời từ Eleagnaceae đến Apiaceae

— 1993, Tập 1 Quyển III Từ Smilacaceae…Cyperaceae… Poaceae… đến Orchidaceae

— 1991, Tập 2 Quyển I Hoa-cánh-rời từ Sterculiaceae đến Fabaceae

— 1993, Tập 2 Quyển II Từ Daphniphyllaceae … Fagaceae…  Apocynaceae  đến Scrofulariaceae

— 1993, Tập 2 Quyển III Từ Smilacaceae… Cyperaceae… Poaceae … đến Orchidaceae

— 1998: Cây cỏ có vị thuốc ở Việt Nam

Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh: 860 pp.,

Mô tả 2149 loài có vị thuốc gặp ở Việt Nam

Vẫn trong bản Tóm lược sự nghiệp Khoa học, GS Phạm Hoàng Hộ tâm sự: “Có lẽ vì lúc còn rất nhỏ tôi đã sống ở nơi vườn tược, ruộng đồng xanh um vùng châu thổ sông Cửu Long, nên từ nhỏ tôi đã thích cây cỏ. Tôi không bao giờ quên được hình ảnh của bông Súng ở ruộng hay ao, lộng lẫy dưới ánh mặt trời ban mai, hay hình ảnh của bông Nhãn lồng phơi mình dựa bờ ruộng. Nên Thực vật học và Sinh học Nhiệt đới đã hấp dẫn tôi lúc đi du học. Và lúc học ở Đại học Khoa học Paris, tôi đã bắt đầu tìm hiểu Cây cỏ Đông Dương. Tiếp xúc đầu tiên một cách khoa học với Cây cỏ ấy, tôi thực hiện ở Viện Bảo tàng Thiên nhiên Quốc gia Paris. Lúc mới học Vạn vật, tôi đã vào nhà kiếng của Viện này để tìm coi có loại nào ở nước nhà hay không. Và một số loài đã được vẽ từ lúc ấy! Tôi nhớ một số Lan đã được vẽ từ năm 1950, trong nhà kiếng ấy. Đó là những hình “xưa” nhất của bộ Cây cỏ của tôi. Sau này khi làm luận án Cao học, cũng ở Viện ấy, tôi mới có dịp vào Thảo Tập, và nhiều hình, nhất là của giống Ficus, khó, vì chưa nhiều loài đã được vẽ vì ngại sự khó khăn ấy về sau khi về bên nhà mà tài liệu thật là khó kiếm. Thật ra lúc ấy tham vọng của tôi vô cùng khiêm tốn, là sau này được biết các loại Ficus Việt Nam mà thôi! Cũng đã quá sung sướng rồi.

Sau khi thi đậu Thạc sĩ / Agrégation hạng sáu, trên 300 thí sinh, và chỉ có 30 đậu, năm 1956 tôi về nước.

[* Ghi chú của người viết: cần phân biệt với bằng Thạc sĩ hiện nay ở Việt Nam tương đương với cao học/ master, trong khi Thạc sĩ / Agrégé ở Pháp là học vị về sư phạm, trải qua kỳ thi tuyển khó khăn, nếu thi đậu sẽ trở thành giáo sư thực thụ / professeur titulaire từ bậc trung học / lycée tới các trường cao đẳng / enseignement supérieur thuộc các ngành Khoa học, Y dược, Luật khoa]

Giáo sư Hộ viết tiếp: “Lúc ấy tham vọng của tôi chỉ là về dạy học ở một trường Trung học, và lúc rảnh rang sẽ tìm hiểu cây cỏ của vùng Lục tỉnh mà thôi, nhưng Viện Đại học Sài Gòn và Hải học viện Nha Trang “kéo” tôi về giảng dạy và trông nom Hải học viện. Khi làm việc ở Nha Trang tôi khảo cứu Rong biển, như là một phận sự. Và sau vài năm khảo cứu dưới sự hướng dẫn của Giáo sư J. Felmann, tôi hoàn thành luận án Tiến sĩ mà tôi trình ở Đại học Paris, năm 1961. Công trình này được đăng trong Niên san Khoa học Đại học đường Sài Gòn, và trong quyển Rong biển Việt Nam, cũng như một số ấn phẩm trong vài tạp chí khoa học.

Ở Sài Gòn, phận sự chính của tôi là giảng dạy Thực vật và Sinh học Thực vật (thay thế Giáo sư Pháp Roger, một nhà chuyên môn về nấm gây bệnh cây) cho sinh viên dự bị và chuyên khoa. Chính vì muốn giảng dạy tốt, thích nghi vào điều kiện nhiệt đới Việt Nam, các môn ấy mà tôi lục lạo và sau đó cho ra đời công trình mà sau này sẽ là công trình của đời tôi là Cây cỏ Việt Nam. [trích dẫn tư liệu gia đình GS. Phạm Hoàng Hộ: Văn Bằng, Sự Nghiệp Khoa Học của Phạm Hoàng Hộ, Giáo sư Thực vật học].

1959-1960, tôi / người viết bài này mới chỉ là sinh viên lớp dự bị Y khoa PCB / Physique Chimie Biologie tại Đại học Khoa học Sài Gòn và được học Thầy Hộ mới tốt nghiệp Thạc sĩ ở Pháp về, dạy môn Sinh Học Thực vật. Tuy chỉ được học Thầy một năm, nhưng Thầy đã để lại cho đám sinh viên và riêng tôi một niềm cảm hứng với những dấu ấn rất khó phai mờ. Vào trường Y khoa rồi, không còn được học Thầy Hộ nhưng tôi vẫn mang lòng ngưỡng mộ và cả theo dõi những bước đi và sưu tập những bộ sách công trình nghiên cứu khoa học của Thầy.

image022image023

Hình 2: Bộ sách Cây Cỏ Miền Nam Việt Nam gồm 2 quyển, do Trung tâm Học Liệu, Bộ Giáo Dục VNCH xuất bản 1970 [nguồn: Sách Xưa]

Vào đầu thập niên 1990, giới khoa học trong nước và hải ngoại rất đỗi vui mừng khi bộ sách Cây Cỏ Việt Nam của GS. Phạm Hoàng Hộ được lần lượt xuất bản. Theo GS Thái Công Tụng, hiện định cư tại Montréal thì các sách của GS. Phạm Hoàng Hộ hiện có đầy đủ ở Bibliothèque Jardin botanique Montréal, Canada, và dĩ nhiên là có trong nhiều thư viện lớn trên thế giới.

Trọn bộ Cây cỏ Việt Nam gồm hai Tập, mỗi Tập 3 Quyển, tổng cộng khoảng 3,600 trang, chưa kể Phần Từ Vựng tên Việt Nam và Từ Vựng tên Khoa học các Giống (Chi) bao gồm thêm cả công trình của những năm tháng giáo sư rời quê hương Việt Nam sang Pháp, vẫn tiếp tục cặm cụi làm việc.

Riêng tôi / người viết đã sớm có được trọn bộ 6 Quyển Cây Cỏ Việt Nam xuất bản ở hải ngoại do bác sĩ Phạm Văn Hoàng nguyên Giám đốc Trung Tâm Phục Hồi Cần Thơ, một đàn anh trong Y khoa gửi tặng, anh Phạm Văn Hoàng chính là bào đệ của GS Phạm Hoàng Hộ.

Tưởng cũng nên ghi lại ở đây, là trước 1975, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã từng là Cố vấn Môi sinh Uỷ ban Sông Mekong/ Mekong River Committee và khoảng năm 1974 hai Giáo sư Phạm Hoàng Hộ và Thái Công Tụng đã có một nghiên cứu chung về Môi sinh Đồng Bằng Sông Cửu Long: The Mekong Delta, Its environment, Its Problems; [do Bộ Canh Nông VNCH xuất bản, Sài Gòn 1974]; khi tìm kiếm tới tài liệu có tính cách lịch sử ấy, tôi được anh GS Thái Công Tụng bùi ngùi cho biết: là đã mất hết sau cơn binh lửa…

Để tìm hiểu thêm tại sao, các tác phẩm khoa học của Giáo Sư Phạm Hoàng Hộ lại được ưu tiên xuất bản bằng tiếng Việt cho dù ngôn ngữ chính thông thạo của GS. Hộ trong suốt quá trình đào tạo và giảng dạy là tiếng Pháp.

Trong lời mở đầu quyển Rong Biển Việt Nam xuất bản năm 1969, GS. Phạm Hoàng Hộ viết: “Lúc đầu, quyển sách này được thảo bằng ngoại ngữ, khi làm việc ở Hải học viện Nha Trang và ở Museum, và tôi có hoài bão được xuất bản trong ngoại ngữ ấy để công bố công trình khảo cứu của mình ra bốn phương, như lời hứa ngầm lúc trình luận án.

Song nay tôi đã đổi ý và cho xuất bản bằng tiếng Việt Nam. Đó là để chứng minh rằng ngôn ngữ nào, miễn được chăm sóc, đều có thể diễn tả kiến thức ở mọi trình độ. Tôi biết rằng có nhiều người cho rằng không ấn hành trong một ngôn ngữ quốc tế là phí công, giới khảo cứu làm sao biết đến. Nhưng tôi thấy chẳng cần đến việc ấy. Được mấy mươi triệu người Việt Nam biết và dùng, có giá trị hơn là được vài ngàn học giả chuyên môn thưởng thức. Tôi đã bỏ cái tự hào sai là tranh đua cùng người ngoài để tự tạo lấy thanh danh, “làm thơm lây dân Việt”. Tôi tin rằng cái tự hào ấy không thực tế, vì một người Việt Nam hay, không bằng nhiều người Việt Nam khá: cầm đuốc soi thành phố người có vẻ không thức thời trong khi nước nhà còn u ám. Cái tự hào trên thật ra chỉ để che đậy sự trốn trách nhiệm, sự bỏ phận sự trước con cháu chúng ta một cách không tha thứ được. 

Tạo ra cho chúng ta một nền văn chương khoa học là một công trình rất bao la. Vì thấy nó qúa to tát nên nhiều học giả chấp nhận giải pháp dễ nhất: học ngay trong văn chương khoa học ngoại ngữ vô cùng phong phú, dồi dào. Cái học như vậy sẽ cho ta những người giỏi, nhưng ta không quên rằng nền văn minh bây giờ là văn minh của đại chúng chứ không phải của vài người được nữa. Ta đừng để cho sự phong phú của văn hoá nước ngoài đè bẹp ta. Người Nhật, cách đây một thế kỷ, há đã không hoảng sợ trước sự hùng mạnh của khoa học nước ngoài sao? Mà nay họ đã tự tạo được một một nền văn chương khoa học riêng biệt đã đến lúc gần hay hơn cả những nước ấy!

Hơn lúc nào hết, câu của Nguyễn Văn Vĩnh vẫn còn vẳng bên tai: “Nước Việt Nam ta sau này hay hay dở là ở chữ quốc ngữ”. Trong thế giới tương lai, sự lệ thuộc về văn hoá, nhất là về văn hoá khoa học sẽ là sự lệ thuộc chánh”. [Lời Mở Đầu của quyển Rong Biển Việt Nam; Trung Tâm Học Liệu, Bộ, Giáo Dục xuất bản 1969].

image024 

Hình 3: mấy dòng tiểu sử của GS. Phạm Hoàng Hộ cùng với Lời Tựa của Peter Shaw Ashton, nhà sinh học gốc Anh, Tiến sĩ Đại Học Cambridge, Giáo Sư Charles Bullard ngành Lâm Học, Đại Học Harvard nơi bìa sau của bộ sách Cây Cỏ Việt Nam [Quyển II, Tập 2] xuất bản tại Montréal 1993.

image025

Hình 4: Một số hình bìa bộ sách đồ sộ Cây Cỏ Việt Nam gồm 6 Quyển 2 Tập của Giáo Sư Phạm Hoàng Hộ xuất bản tại hải ngoại [nguồn: Ngô Thế Vinh]

CHẶNG ĐƯỜNG ĐAU KHỔ

Hình ảnh một Giáo sư Phạm Hoàng Hộ những năm sau 1975, là một tấm gương và cũng là một trải nghiệm đau đớn cho cả một thế hệ trí thức Miền Nam mà Giáo sư Phạm Hoàng Hộ là một biểu tượng.

Theo Giáo sư Phạm Hoàng Hộ thì bộ sách Cây cỏ Việt Nam đã được thực hiện qua 4 giai đoạn:

— Nghiên cứu giai đoạn một: hợp tác với GS Nguyễn Văn Dương về phần dược tính, Cây cỏ Miền Nam Việt Nam, do bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1960 mô tả 1,650 loài thông thường của Miền Nam, “Đó là giai đoạn còn mò mẫm, học hỏi một thực-vật-chúng chưa quen thuộc đối với một sinh viên vừa tốt nghiệp từ vùng xa lạ mới về.

— Nghiên cứu giai đoạn hai: kỳ tái bản lần hai 1970 bộ Cây cỏ Miền Nam Việt Nam, số loài lên được 5,328 [Hình 2]. “Đó là giai đoạn mà tôi xem như vàng son của một nhà thực vật học Việt Nam chúng ta. So với bây giờ, lúc ấy tôi yên ổn làm việc, có nhiều phương tiện cá nhân cũng như của non nước và nhất là được sự khuyến khích của mọi giới, bạn bè cũng như chính quyền.

— Nghiên cứu giai đoạn ba: tiếp tục công việc nghiên cứu sau 1975, đưa thêm được vào bộ sách Cây cỏ Miền Nam Việt Nam 2,500 loài và bộ được nới rộng cho toàn cõi Việt Nam.

Sau biến cố 1975, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ cũng như người bạn đồng hành trí tuệ của ông là Giáo sư Nguyễn Duy Xuân đã cùng chọn ở lại để xây dựng đất nước sau chiến tranh và thống nhất, nhưng với cái giá rất đắt mà sau này được GS Hộ ghi lại là: “thời kỳ sống trong ảo vọng là sẽ thấy đất nước đi lên. Giai đoạn đi xe đạp, ăn gạo hẩm, tưởng hoa sẽ nở trên đường Quê hương.”

Tuy Giáo sư Phạm Hoàng Hộ vẫn còn chức danh là Hiệu phó [phó Khoa trưởng] Đại học Khoa học, nhưng chính quyền  mới chỉ sử dụng trí thức cũ như ông chủ yếu là “làm kiểng”, không có vai trò tương xứng trong giáo dục. Vì không là đảng viên, nên khi có vấn  ề gì thì Đảng bộ họp riêng và quyết định, có việc ông không bao giờ được biết. Năm 1977 sau  trải nghiệm  những ngày học chính trị, một lớp học kéo dài mười tám tháng về “Chủ nghĩa xã hội khoa học” dành riêng cho các trí thức Miền  Nam tổ chức tại TP Hồ Chí Minh; từ rất sớm, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã phản đối cách đào tạo đưa thời gian học chính trị quá nhiều vào chương trình. Ông cảnh báo: “Nếu chính trị can dự quá mạnh, các nhà khoa học sẽ mất căn bản”. [Huy Đức, Bên Thắng Cuộc]

Rồi phải chứng kiến một thiểu số trí thức cũ xu thời, mau chóng hợp tác toàn diện với chế độ mới, bất chấp sự liêm khiết, sẵn sàng cống hiến những công trình mệnh danh khoa học theo phong trào để mừng các ngày lễ hội 3-2 hay 19-5 như các bài báo chứng minh “ăn mấy ký khoai mì bổ bằng một ký thịt bò” hoặc là “ăn bo bo nhiều dinh dưỡng hơn cả gạo”… những công trình “giả khoa học / pseudo-science ” ấy đã mau chóng trở thành giai thoại đầy mỉa mai được lan truyền trong các trại tù Cải tạo, nơi mà đám tù nhân Miền Nam đang bị thiếu ăn suy dinh dưỡng với thực phẩm cung cấp chủ yếu là gạo hẩm “đại mễ” của Trung Cộng cùng với bo bo và khoai mì / ngoài bắc gọi là sắn.

Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, cũng như số trí thức cũ khẳng khái của Miền Nam còn ở lại, thấy không thể tiếp tục sống trong một xã hội giả dối và suy đồi đến như thế, việc ông đi tới quyết định phải chấm dứt những năm “ảo vọng” và lãng phí ấy, là điều không thể tránh. Và rồi dịp ấy đã tới, năm 1984 khi được chính phủ Pháp mời sang làm giáo sư thỉnh giảng, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã quyết định chọn cuộc sống lưu vong và ở lại Pháp.

— Nghiên cứu giai đoạn bốn: một giai đoạn mà giáo sư Phạm Hoàng Hộ gọi là “vừa hiếm có vừa đau khổ nhất”. Giáo sư Hộ viết tiếp: “Đau khổ vì rời quê hương mà không hy vọng trở lại. Đau khổ vì xa gia đình thân yêu, vĩnh biệt mẹ hiền đã trọn đời hy sinh cho các con. Đau khổ vì thấy đất nước thân yêu đang ở trong một nỗi khổ khôn lường, một sự nghèo khôn tả, một sự tuyệt vọng thương tâm.”

Nhưng rồi với hùng tâm, ông cũng vượt lên trên sự khổ đau khôn lường ấy. Giáo sư Hộ đã kiên nhẫn đằm mình trong Viện Bảo Tàng Thiên nhiên Quốc gia Paris, cật lực làm việc ròng rã suốt sáu năm. Viện Bảo Tàng Thiên nhiên Quốc gia ở Paris / Muséum National d’Histoire Naturelle (MNHN) thuộc hệ thống Đại học Sorbonne, bên tả ngạn Sông Seine, được thành lập từ thế kỷ XVIII thời kỳ Cách Mạng Pháp.

Giáo sư Phạm Hoàng Hộ cho rằng: “Hiếm có một nhà Thực vật học, nhất là người Việt Nam, đã lục lạo cây cỏ ở nước nhà, lại được ở lại nghiên cứu tại Viện Bảo Tàng Thiên nhiên Quốc gia Pháp, chứa một thảo tập phong phú vào bậc nhất thế giới, với 8 tới 10 triệu mẫu vật cây cỏ. Ít nhất cho Việt Nam, nó là kho tàng duy nhất, vì chứa hơn 10 ngàn loài thu được ở nước ta. Trong sáu năm làm việc ở Viện ấy, không một ngày nào mà khi chiều ra về, dù trời đông âm u lạnh lẽo, hay chiều hè vắng vẻ nóng khô, mà tôi không thốt ra câu “Thật là một ngày tuyệt” vì đã biết thêm cho Việt Nam ít nhất là một loài hiếm, lạ hay mới!” Trong giai đoạn chót này, ông bổ túc thêm cho bộ Cây Cỏ được trên 3000 loài. Số loài mô tả khoảng 10,500.

Tại Pháp khi gặp lại người học trò cũ, nay đã là thành viên trong ban giảng huấn Đại học Khoa học Sài Gòn, cũng đang làm việc tại Viện Bảo Tàng Thiên nhiên Quốc gia Pháp nghiên cứu về Cá / Laboratoire d’Ichthyology, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã tâm sự:

Tôi ráng làm càng nhiều càng tốt. Bộ sưu tập của Pháp rất dồi dào, đúng phương pháp khoa học. Do được sưu tập từ mấy mươi năm trước, các mẫu vật đã cũ, mình không làm gấp e sẽ hư hỏng thì uổng quá… Nhiều người Trung Quốc từ đại lục và cả từ Đài Loan, Singapore đã đến tìm học các bộ sưu tập thực vật Đông Dương của Pháp. Tôi không biết họ có chủ trương gì đó không. Tài nguyên nước mình, mình phải biết. Mình không biết mà người ta biết thì người ta xài hết của dân mình. Lãnh vực nào cũng vậy riết rồi người ta áp chế mình, ăn trên ngồi trước còn mình cắm đầu dưới đất, tiếng là có độc lập mà còn thua hồi thuộc Pháp!” [4]

image026image027

Hình 5: Viện Bảo Tàng Thiên nhiên Quốc gia Pháp, Paris nơi Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đơn độc làm việc ròng rã suốt sáu năm để hoàn tất bộ sách Cây Cỏ Việt Nam. [nguồn: internet]

Sau khi hoàn tất bộ sách Cây Cỏ Việt Nam, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã bày tỏ lòng tri ân sâu xa đối với Viện Bảo Tàng Thiên nhiên Quốc gia Paris và các bạn đồng sự Pháp, ông đã rất chân thành tâm sự: “thực hiện những điều mà lúc nhỏ dù điên rồ tới đâu tôi cũng không dám mơ ước: nô lệ của một thuộc địa, học ở một trường thường, ở một tỉnh nhỏ, bao giờ dám nghĩ đến tạo một quyển sách dù nhỏ bé, mê cây cỏ xung quanh nhưng bao giờ nghĩ đến biết cây cỏ cả nước!”

Người “trí thức đau khổ” Phạm Hoàng Hộ đã vươn lên và hoàn tất được “giấc mơ điên rồ” tưởng như không thể được ấy và trở thành cây “đại thụ” trong Khoa học Thực vật của Việt Nam và cả thế giới.

CHÚT GIAI THOẠI VĂN HỌC

Trong cuốn Bông Hồng Tạ Ơn, khi viết về bộ sách của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, nhà văn Nguyễn Đình Toàn nhớ lại: “Các năm trước 1975, bộ sách của giáo sư Phạm Hoàng Hộ còn mang tên là Cây Cỏ Miền Nam. Cuộc chia cắt đất nước đã giới hạn tầm mức của cuốn sách. Thế nhưng công trình của giáo sư Phạm Hoàng Hộ không phải chỉ được coi là quý đối với các nhà chuyên môn về thực vật học, mà theo nhà văn Võ Phiến có kể lại trong bộ sách Văn Học Miền Nam soạn thảo tại hải ngoại sau 75, thì đã có nhiều nhà văn, [trong số đó có Nguyễn Đình Toàn] đã tìm đọc cuốn Cây Cỏ Miền Nam để biết thêm về một vài loại cây cỏ quanh mình, để khi cần, có thể đưa vào tác phẩm”. Giai thoại văn học này có lẽ, chính Giáo sư Phạm Hoàng Hộ không hề biết tới.

SÁNG LẬP VIỆN ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Khoảng thập niên 1960, do sự vận động của các nhân sĩ trí thức Cần Thơ, với hai tên tuổi hàng đầu là Giáo sư Phạm Hoàng Hộ và bác sĩ Lê Văn Thuấn, Viện Đại học Cần Thơ được phép thành lập vào ngày 31.03.1966 và cũng là Đại học đầu tiên của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Giáo sư Phạm Hoàng Hộ là Viện trưởng đầu tiên của Đại học Cần Thơ từ 1966 tới 1970.

Với uy tín lớn về thành tích khoa học và cả về nhân cách, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã quy tụ được rất nhiều “chất xám” tinh hoa của Miền Nam thời bấy giờ; chỉ riêng trong lãnh vực Nông Nghiệp có thể kể tới sự hợp tác của những tên tuổi như GS Tôn Thất Trình, GS Thái Công Tụng, TS Nguyễn Viết Trương, TS Trần Đăng Hồng với công lao bước đầu đưa giống Lúa Thần Nông/ HYV / High Yield Variety vào ĐBSCL.

Rồi phải kể tới một đội ngũ giảng huấn đầy khả năng khiến Đại Học Cần Thơ mau chóng trở thành một trung tâm giáo dục và khoa học có tầm cỡ, đáp ứng nhu cầu trí tuệ của của một vùng châu thổ rộng lớn rất giàu nguồn tài nguyên thiên nhiên nhưng chưa được khai thác. Để có thể thấy được thành quả bước đầu của Viện Đại học Cần Thơ, đó là các lớp sinh viên đầu tiên trưởng thành và tốt nghiệp 4 năm sau đó.

Giáo sư Đỗ Bá Khê [là thầy dậy tôi môn Vật lý năm PCB], trong “think tank”  của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, cũng đến từ Đại học Khoa học Sài Gòn, cách đây 50 năm, trong bài diễn văn “xuất trường” của Viện Đại Học Cần Thơ, đã có một tầm nhìn rất xa về vai trò của Viện Đại Học này đối với tương lai vùng Đồng Bằng Châu Thổ:

 “Ngày nay (19/12/1970) trong Thời Đại Khoa Học Kỹ Thuật, các tỉnh ĐBSCL đang trông chờ nơi ánh sáng soi đường của Viện Đại Học Cần Thơ và ước mơ một chân trời mới, tô điểm bằng những cành lúa vàng nặng trĩu, những mảnh vườn hoa quả oằn cây, dân cư thơ thới, một cộng đồng trù phú trong một xã hội công bằng.”

Giáo sư Đỗ Bá Khê cũng là người khai sinh ra hệ thống Đại học Cộng đồng [ĐHCĐ] tại Miền Nam trước 1975, theo mô hình Community College Concept của Mỹ, với điển hình là Đại học Cộng đồng Tiền Giang thành lập năm 1971 tại Mỹ Tho, tiếp theo là ĐHCĐ Duyên hải tại Nha Trang… nhưng rồi sau 1975, cùng chung số phận của cả một hệ thống giáo dục tốt đẹp Miền Nam bị sụp đổ, mô hình Đại học Cộng đồng cũng đã hoàn toàn bị chế độ mới làm cho biến thể, và mất hết ý nghĩa tâm nguyện ban đầu của người khai sinh sáng lập.       

image028

Hình 6: Những năm về sau này, cho dù đã phải sống xa quê nhà, nhưng tấm lòng GS Đỗ Bá Khê vẫn cứ luôn đau đáu hướng về “tương lai ĐBSCL và vai trò của Đại Học Cần Thơ trong việc bảo vệ và phát triển vùng này.” [tư liệu Ngô Thế Vinh: thư tay của GS Đỗ Bá Khê viết từ Thành phố Concord, California ngày 29.05.2002]

GIÁO SƯ NGUYỄN DUY XUÂN

NGỌN HẢI ĐĂNG TRÍ TUỆ MIỀN TÂY       

NGƯỜI BẠN ĐỒNG HÀNH

Đến năm 1970, bước đầu xây dựng được một Đại học Cần Thơ vững vàng, để có thể trở về Sài Gòn tiếp tục các công trình nghiên cứu khoa học và giảng dạy, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ chính thức mời Giáo sư Nguyễn Duy Xuân về thay ông, làm Viện trưởng thứ hai của Viện Đại Học Cần Thơ.

Giáo sư Nguyễn Duy Xuân cũng là người Cần Thơ, sinh năm 1925 hơn Giáo sư Phạm Hoàng Hộ 4 tuổi, tốt nghiệp Tiến sĩ Kinh tế tại Đại học Vanderbilt Hoa Kỳ, trở về Việt Nam 1963, giáo sư Luật. Nhận chức Viện trưởng từ Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, Giáo sư Nguyễn Duy Xuân đã nỗ lực phát triển Viện Đại học Cần Thơ trên mọi lãnh vực từ chương trình giảng dạy, đào tạo ban giảng huấn, xây cất thêm giảng đường, phòng thí nghiệm, thiết lập ký túc xá như hệ thống campus cho sinh viên đến từ các tỉnh xa Miền Tây. Ông là người tiên phong thực hiện giáo dục đại học theo tín chỉ / credits (thay vì chứng chỉ, certificate như trước đây); giống như mô hình hệ thống Đại học Hoa Kỳ. Ông còn gửi cả một đội ngũ giảng viên trẻ đi du học, điển hình như anh Trần Phước Đường đi Mỹ tốt nghiệp tiến sĩ tại Đại học Michigan, sau đó họ trở về trường phục vụ ngành Sinh học, Giáo sư Trần Phước Đường sau này trở thành Viện trưởng Đại học Cần Thơ từ 1989 tới 1997.

Năm 1972, ông cũng đích thân mời nhà nông học trẻ Võ Tòng Xuân khi ấy đang công tác ở Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế Los Banos Philippines về trường giảng dạy. Sau này anh Võ Tòng Xuân kể lại, khi nhận được thư của GS Nguyễn Duy Xuân: “Anh Nguyễn Duy Xuân nói ĐBSCL là cái vựa của lúa gạo nên rất cần những nhà khoa học về nông nghiệp. Chiến tranh rồi có ngày hòa bình, đất nước sẽ cần những người như tôi. Đó là một trong những lý do tôi về công tác ở Đại học Cần Thơ.” TS Võ Tòng Xuân sau này trở thành một Giáo sư Nông học danh tiếng, “Doctor Rice” tên tuổi anh VTX gắn liền với sự tiếp nối phát triển cây Lúa Thần Nông và sau đó anh là Viện trưởng Đại học An Giang là Đại học lớn thứ hai của ĐBSCL sau Viện Đại học Cần Thơ.

Chỉ trong vòng 9 năm [1966 – 1975] với công lao xây dựng của hai Viện trưởng tiền nhiệm: GS Phạm Hoàng Hộ, GS Nguyễn Duy Xuân, Viện Đại Học Cần Thơ như một Ngọn Hải đăng Miền Tây, trở thành một trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học, đặc biệt bước đầu ưu tiên phát triển hai lãnh vực Sư phạm và Nông nghiệp, vững vàng sánh bước với các Viện Đại học lâu đời khác của Miền Nam, đóng góp cho sự thăng tiến của vùng ĐBSCL.

TỪ ẢO VỌNG TỚI THẢM KỊCH

Chỉ mấy ngày trước biến cố 30 tháng 4, 1975, cũng như GS Phạm Hoàng Hộ, GS Nguyễn Duy Xuân như một trí thức dấn thân, quyết định ở lại và giữa cảnh dầu sôi lửa bỏng, ông vẫn can đảm nhận chức Tổng trưởng Bộ Văn hóa Giáo dục cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa. Giữ chức vụ đó chưa đầy một tuần lễ thì chính quyền Miền Nam sụp đổ, TT Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng.

GS Nguyễn Duy Xuân bị đưa vào trại tù cải tạo, sau đó bị đưa ra Bắc, giam trong trại tù Hà-Nam-Ninh, hầu như không có ngày về. Vẫn theo anh Võ Tòng Xuân (VTX), năm 1983, trong một lần ra Hà Nội dự họp, anh VTX đã vô trại Ba Sao để thăm lại vị Viện trưởng của mình khi còn ở Viện Đại học Cần Thơ. Gặp lại đồng nghiệp, GS Nguyễn Duy Xuân rất mừng, và dù đang trong nghịch cảnh tù đầy, ông vẫn đau đáu quan tâm hỏi han tới hiện trạng của Đại học Cần Thơ, nơi mà ông và GS Phạm Hoàng Hộ đã dầy công xây dựng.

Tôi, người viết bài này không thể không tự hỏi nếu không có 11 năm giam hãm đầy đoạ độc ác và vô ích của những người Cộng sản thắng cuộc, nếu GS Nguyễn Duy Xuân, một Tiến sĩ Kinh tế tài ba và giàu lòng yêu nước như ông vẫn tiếp tục ở lại xây dựng Viện Đại học Cần Thơ với nhịp độ 1966-1975, không biết Viện Đại học Cần Thơ và ĐBSCL sẽ phát triển và tiến xa tới đâu.

Năm 1983 là lần gặp gỡ đầu tiên của hai Giáo sư cùng tên Xuân sau 1975 ở trại Ba Sao và cũng là lần cuối cùng GS VTX được gặp lại GS Nguyễn Duy Xuân. Tiếp tục bị đầy ải thêm 3 năm nữa tổng cộng 11 năm, GS Nguyễn Duy Xuân đã chết trong tù cải tạo Hà- Nam-Ninh ngày 10 tháng 11 năm 1986 trong đói khát và bệnh tật không thuốc men. Xác của ông được vùi nông trong nghĩa địa tù cải tạo trên triền núi phía sau trại tù Ba Sao.

Phải mãi đến tháng 4 năm 2015, gần 30 năm sau, di cốt của GS Nguyễn Duy Xuân, mới được người con gái là bà Nguyễn Thị Nguyệt Nga từ Pháp về bốc mộ đưa từ nghĩa địa trại tù Ba Sao Hà-Nam-Ninh về Chùa Thiên Hưng, Quận Bình Thạnh Sài Gòn để lưu giữ tại đây. Trong buổi lễ cầu siêu, ngoài các thành viên của gia đình cố Viện trưởng Nguyễn Duy Xuân, còn có một số cựu giảng huấn và các cựu sinh viên tốt nghiệp Đại học Cần Thơ trước 1975 như GS Võ Tòng Xuân, TS Nguyễn Tăng Tôn (cựu SV), TS Nguyễn Văn Mận (Cựu SV), KS Minh (Cựu SV) Ông Hòa (nhân viên hành chánh), đến tham dự buổi lễ.

image029

Hình 7: Trại tù Ba Sao Hà-Nam-Ninh, Miền Bắc Việt Nam, nơi triền núi phía sau trại tù là nghĩa địa chôn vùi xác rất nhiều tù nhân cải tạo có gốc từ Miền Nam sau 1975, thân xác Giáo sư Nguyễn Duy Xuân được vùi nông trong nghĩa địa trại tù Ba Sao này. Mãi 30 năm sau, con gái ông là bà Nguyễn Thị Nguyệt Nga từ Pháp về bốc mộ cha đưa từ nghĩa địa trại tù Ba Sao về Chùa Thiên Hưng, Quận Bình Thạnh Sài Gòn.

image030

Hình 8: từ trái, GS Võ Tòng Xuân, bà Nguyễn Thị Nguyệt Nga con gái GS Nguyễn Duy Xuân, ôm bình tro cốt của cha, bạn trai Alan và một thân hữu  [nguồn: Võ Tòng Xuân] 

VIỆN ĐẠI HỌC CẦN THƠ SAU 1975

Thay thế Giáo sư Viện trưởng Nguyễn Duy Xuân là ông Phạm Sơn Khai, gốc Miền Nam Tập kết là đảng viên Cộng sản, với học vị “Chuyên Ngành Lịch Sử Đảng”, ông Khai được đề cử giữ chức Viện trưởng và lãnh đạo Đại học Cần Thơ trong suốt 13 năm từ 1976 tới 1989.

Kể từ sau 1975, chính quyền mới với chủ trương một nền giáo dục “hồng hơn chuyên” nên học trình của Đại học Cần Thơ, cũng như toàn hệ thống các Đại học Miền Nam đã có thêm môn học chính trị cưỡng bách “Chủ nghĩa Mác Lê và Tư Tưởng Hồ Chí Minh”. Một môn học mà “thầy không muốn dạy, trò không muốn học” nhưng vẫn cứ được duy trì cho đến ngày hôm nay. Ngót nửa thế kỷ, 45 năm sau ngày thống nhất đất nước, trên toàn cõi Việt Nam vẫn chưa có được một nền “tự trị đại học”. Quá sớm để nói tới dân chủ hoá đất nước, khi mà các Đại Học như những “Think Tank” vẫn còn bị chi phối lãnh đạo bởi những Chi bộ Đảng Cộng Sản.

image031

Hình 9: Những Hiệu trưởng Viện Đại học Cần Thơ từ ngày thành lập tới nay; từ trái, 1. GS Phạm Hoàng Hộ, 1966-1970; 2. GS Nguyễn Duy Xuân, 1970-1975; 3. Ông Phạm Sơn Khai, 1976-1989; 4. GS Trần Phước Đường, 1989-1997; 5. TS Trần Thượng Tuấn, 1997-2002; 6. TS Lê Quang Minh, 2002-2006; 7. GS Nguyễn Anh Tuấn, 2007-2012; 8. TS Hà Thanh Toàn, 2013 đến nay. [nguồn: tư liệu Lê Anh Tuấn]

image032

Hình 10: GS Võ Tòng Xuân mời GS Phạm Hoàng Hộ tham gia chuyến khảo sát Đồng Tháp Mười của Đại học Cần Thơ, tháng 3, 1981. Từ trái, TS Trần Thượng Tuấn, TS Nguyễn Thị Thu Cúc (bị che), ThS Đỗ Thanh Ren, GS Võ-Tòng Xuân, GS Trần Phước Đường, một cán bộ Phân Viện Qui Hoạch, GS Phạm Hoàng Hộ, một cán bộ tỉnh Đồng Tháp. [nguồn: tư liệu Võ Tòng Xuân]

Qua một eMail, anh Võ Tòng Xuân kể lại: “Tôi nhớ mãi GS Hộ trong chuyến đi đó, ông rất kỹ về vấn đề ăn uống, đem theo đồ ăn và bình ton đựng nước uống riêng”.

GS PHẠM HOÀNG HỘ SINH NHẬT 80

Tháng 7 năm 2009, một số môn sinh đã tổ chức tại Montréal một lễ mừng sinh nhật 80 tuổi của GS Phạm Hoàng Hộ, cùng với một bức tượng được đem tới tặng Thầy với phát biểu đầy xúc động của một môn sinh: “Bức tượng không phải chỉ là hình ảnh của một giáo sư Thực Vật đáng kính mà còn là biểu tượng của người trí thức Miền Nam, đã hiến trọn đời mình cho khoa học, hết sức khiêm tốn so với tài năng của mình và nhất là hết lòng yêu quê hương đất nước.”

Cũng rất ý nghĩa, trong buổi họp sinh nhật ấy, bác sĩ Tăng Quang Kiệt đã đọc lời chúc của Giáo sư Phùng Trung Ngân, định cư tại California, người sáng lập ra Bộ Môn Sinh Môi Học / Ecology Department cũng là Khoa trưởng Đại Học Khoa Học Saigon từ 1973-1975, là bạn đồng môn và cùng tuổi với GS Phạm Hoàng Hộ:

“Anh Hộ thân mến, Tôi thành thật cám ơn Anh Chị và gia đình đã cho phép tôi gởi bài phát biểu trong buổi lễ long trọng này. Với 80 tuổi đời, Anh đã đóng góp một công trình đồ sộ về Cây Cỏ Việt Nam đồng thời với việc hướng dẫn sinh viên yêu Thực vật và Thiên nhiên Việt Nam. Là người cộng tác gần gũi với Anh trong công tác giáo dục sinh vật cho lớp trẻ VN tôi đã thấy sự tận tụy với nghề nghiệp của Anh và lòng hăng say nghiên cứu của Anh. Kết quả là công trình nghiên cứu vĩ đại về Cây Cỏ Nam Việt Nam và nhứt là công trình bổ sung đầy đủ Cây cỏ toàn bộ VN với các mẫu cây quý báu đang bị bỏ quên trong Viện Thảo Tập ở Paris. Trước năm 1975 Anh và tôi thường dẫn sinh viên đi thực tập ở Lâm Đồng-Đà Lạt, cho các em leo lên đỉnh Lâm Viên, một trong những ngọn núi cao khoảng 2000m ở miền Nam, chúng ta thường ước mong khi hòa bình trở lại sẽ cùng nhau ra miền Bắc khảo sát Cây cỏ Đỉnh Fan Xi Pan cao hơn 3000m ở Hoàng Liên Sơn. Rất tiếc đến ngày hôm nay ước mong của chúng ta chắc không bao giờ thực hiện được. Tuy nhiên Anh đã tự mình tiếp xúc với đỉnh Fan Xi Pan qua các mẫu cây còn lưu trữ tại Viện thảo Tập Paris và cũng từ đó hình thành bộ công trình Cây Cỏ Việt Nam cho Khoa học. Tôi rất may mắn là cộng tác viên thân cận của Anh trong nhiều năm nên đã học được tính chu đáo trong nghiên cứu, sự tận tụy trong giảng dạy và lòng say mê nghiên cứu Thiên nhiên Việt Nam.” [3]

image033

Hình 11: GS Phạm Hoàng Hộ bên bức tượng bán thân do một điêu khắc gia người Canada là bác sĩ Megerditch Tarakdjian thực hiện nhân dịp sinh nhật thứ 80 do một số môn sinh tổ chức tại Montréal, Canada. (3)

DI CHÚC GIỮ XANH ĐẤT MẸ

Trong Quyển cuối cùng của bộ sách Cây Cỏ Việt Nam [Quyển III, Tập 2] xuất bản tại Montréal 1993, chỉ với hai trang Thay Lời Tựa, GS Phạm Hoàng Hộ đã để lại một Thông điệp; cũng có thể coi như một Di Chúc cho Việt Nam.

“Thực-vật-chúng Việt Nam có lẽ gồm vào 12,000 loài. Đó là chỉ kể các cây có mạch, nghĩa là không kể các Rong, Rêu, Nấm.

Đó là một trong những thực-vật-chúng phong phú nhất thế giới.  Sự phong phú ấy là một diễm phúc cho dân tộc Việt Nam. Vì như tôi đã viết từ 1968, Hiển hoa là ân nhân vô giá của loài người. Hiển hoa cho ta nguồn thức ăn căn bản hàng ngày; Hiển hoa cung cấp cho ta, nhất là người Việt Nam, nơi sinh sống an khang. Biết bao cuộc tình duyên êm đẹp khởi đầu bằng một miếng Trầu, một miếng Cau. Bao nhiêu chúng ta đã không chào đời bằng một mảnh Tre để cắt rún, rời nhao? Lúc đầy nguồn sống lúc nhàn rỗi, chính Hiển hoa cung cấp cho loài Người thức uống ngon lành để say sưa cùng vũ trụ. Lúc ốm đau, cũng chính Cây cỏ giúp cho ta dược thảo hiệu linh.

Các điều ấy rất đúng hơn với chúng ta, người Việt Nam mà ở rất nhiều nơi còn sống với một nền văn minh dựa trên thực vật.

Nhưng ân nhân của chúng ta ấy đang bị hiểm hoạ biến mất, vì rừng nước ta đã lùi dưới mức độ an toàn, đất màu mỡ bị soi mòn mất ở một diện tích lớn, và cảnh sa mạc đang bành trướng mau lẹ. Đã đến lúc theo nhạc của một bài ca, ta có thể hát: “Thần dân nghe chăng? Sơn hà nguy biến. Rừng dày nào còn, Xoi mòn đang tiến… Đâu còn muôn cây làm êm ấm núi sông.” [Ghi chú của người viết: bài ca Hội nghị Diên Hồng, nhạc của Lưu Hữu Phước, lời: Huỳnh Văn Tiễng – Mai Văn Bộ – Lưu Hữu Phước].

Kho tàng thực vật ấy chúng ta có phận sự bảo tồn. Sự bảo tồn và phục hồi thiên nhiên ở nước ta rất là cấp bách. Nó có thể thực hiện, vì mỗi người của chúng ta, dù lớn dù nhỏ đều có thể góp phần vào sự bảo tồn ấy. Bằng những cử chỉ nhỏ nhặt hàng ngày, sự đóng góp của chúng ta quan trọng không kém.

Không quăng bậy một tia lửa, một tàn thuốc, là ta góp phần tránh nạn cháy rừng. Không đốn bậy một cây, là ta bảo vệ Thiên nhiên của ta. Trồng cây là phận sự của chính quyền hay của các Công ty gầy rừng. Nhưng quanh nhà chúng ta, chúng ta có thể tìm trồng một cây lạ, đặc biệt, hiếm của vùng hay chỉ có ở Việt Nam. Dân ta yêu cây hoa-kiểng, nhưng các nhà nhàn rỗi có thể trồng cây lạ, đặc biệt, cũng là một thú không kém hay đẹp. Các thị xã nên có một công viên hay vườn bách thảo, không lớn thì nhỏ để khoe các cây hay của vùng, không bắt buộc là cây hữu ích hay đẹp. Cây Dó đâu có gì lạ? Nhưng nó là niềm tự hào cho dân tộc vì từ Hồng Bàng, dân ta đã biết lấy trầm từ nó. Cả ngàn loài cây khác chỉ có ở Việt Nam mà thôi! Các cây này có thể trồng như cây che bóng mát dựa lộ. Các làng, các quận, các tỉnh nên tạo phong trào trồng nhiều loài lý thú như vậy. Ta không cần đợi các lâm viện, khu dự trữ để bảo vệ tài nguyên quý báu cho thế hệ sau, mà ta cũng có thể chính mình góp phần vào sự bảo vệ ấy. Trồng các cây lạ, đặc biệt ấy còn là một yếu tố quến [chữ GS Phạm Hoàng Hộ theo cái nghĩa quyến rũ] du khách quan trọng: Lan Thuỷ tiên hường Dendrobium amabile của ta, chỉ có ở một Vườn Bách thảo ngoại quốc trồng được và họ tự hào đến đỗi đã ghi trong “Sách ghi quán quân thế giới 1988.”

Hàng năm ta có thể tuyên dương nhà nào đã trồng cây hay, lạ. Tất nhiên là công với nước nhà mới trông không bằng những ai đã đem Rhizobium vào để tăng năng xuất đậu nành, đã trồng được cây Dó tạo trầm, đã du nhập lúa Thần nông hay Nho. Nhưng nếu cả ngàn người, cả triệu người đóng góp cho non nước những “nhỏ-nhen” [chữ GS Phạm Hoàng Hộ theo cái nghĩa nhỏ nhặt], cả triệu cái nhỏ-nhen chắc chắn trở nên một khối đồ sộ.

Đóng góp lớn, tôi vẫn cho là việc khó. Tôi quý các đóng góp nhỏ, hằng ngày mà ai cũng làm được. Nó hay hơn. Kẻ sĩ, theo tôi không phải chỉ là những kẻ đã làm được những chuyện lớn. Đóng góp những chuyện nhỏ hàng ngày cũng là hành động của một kẻ sĩ, kẻ sĩ vô danh. Kẻ sĩ vô danh cao quý không kém. Với những đóng góp nhỏ ấy, chắc chắn bạn không làm buồn lòng cho Tổ Quốc và không thẹn với Non Sông. [lược dẫn Thay Lời Tựa, bộ sách Cây Cỏ Việt Nam; Quyển III, Tập 2].

Qua “Di Chúc” ấy của GS Phạm Hoàng Hộ, từ nay môn Sinh học Thực Vật không còn là lý thuyết mà đã đi vào đời sống; Giữ Xanh Đất Mẹ phải là kim chỉ Nam cho mọi trình độ giáo dục từ Tiểu học tới Đại học, cả trong công dân giáo dục, là giá trị phổ quát và xuyên suốt cho mọi thể chế chính trị và cả trên tầm vóc toàn cầu là Giữ Xanh Trái Đất này / Keep this Planet Green.

THAY CHO MỘT KẾT TỪ

Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã xem bộ sách “Cây Cỏ Việt Nam là công trình của đời tôi” và Giáo sư đã đề tặng toàn sự nghiệp ấy cho:

 “Những ai còn sống hay đã chết trong tù vì tháng Tư năm 1975 đã quyết định ở lại để tiếp tục dâng góp cho đất nước.

 Tặng giáo sư Nguyễn Duy Xuân nguyên viện trưởng Đại Học Cần Thơ, mất ngày 10/XI/1986 tại trại Cải Tạo Hà-Nam-Ninh.

Tặng hương hồn những ai trên biển Đông đã chết nghẹn ngào”.

 Bài viết này như lời cầu nguyện gửi tới hương linh các Giáo sư Nguyễn Duy Xuân, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, Giáo sư Đỗ Bá Khê – những nhà khoa học với nhân cách lớn, những kẻ sĩ khí phách biểu tượng của giới trí thức Miền Nam, đã đi hết chặng đường đau khổ với trọn đời cống hiến trong một giai đoạn vô cùng đen tối của đất nước. Viết trong nỗi xúc động, cùng với nén nhang tưởng nhớ, nghĩ tới câu thơ của thi hào Nguyễn Du: Thác là thể phách còn là tinh anh. Tấm gương của các Thầy vẫn cứ mãi là Ngọn Hải Đăng soi sáng và dẫn đường cho Đồng Bằng Sông Cửu Long đang như một con tàu lạc hướng sắp đắm, sẽ vượt qua mọi sóng gió, vào được bến đỗ an toàn. Và cũng ước mong một ngày nào đó “hoa sẽ nở trên đường quê hương”, và rồi ra trên một đất nước có tự do dân chủ, sẽ có một tượng đài của GS Phạm Hoàng Hộ trên đỉnh Fan Xi Pan cao hơn 3000 mét ở Hoàng Liên Sơn để các thế hệ môn sinh tiếp tục được Thầy Hộ hướng dẫn tới đó khảo sát Cây Cỏ và hoàn tất Giấc Mơ Việt Nam của Thầy.

NGÔ THẾ VINH

Sài Gòn 30 tháng 4, 1975 – ĐBSCL 30.tháng 4, 2020

[Chân Dung VHNT & VH, Việt Ecology Press 2017]

Tham Khảo:

1/ GS. Phạm Hoàng Hộ & GS. Nguyễn Duy Xuân đối với việc hình thành và phát triển Viện Đại học Cần Thơ (1966 – 1975); Phạm Đức Thuận; Tập San Xưa và Nay Số 439 Tháng 11 Năm 2013; http://www.cantholib.org.vn/Database/Content/1188.pdf

2/ Vị Tổng Trưởng quyết không rời Quê hương. Trung Hiếu; Báo Thanh Niên 28.04.2015; http://thanhnien.vn/thoi-su/giu-huyet-mach-cho-hon-ngoc-vien-dong-ky-6-vi-tong-truong-quyet-khong-roi-que-huong-556577.html

3/ Anh Chị Thuỷ – Thu Vân thăm Thầy Phạm Hoàng Hộ, http://truongxuabancu.fpb.yuku.com/topic/118/Anh-Ch-ThuThu-Vn-thm-Thy-Phm-Hong-H#.WJNVUxTcdwg

4/ Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, một người thầy của tôi. Lê Học Lãnh Vân; Một Thế Giới.VN 02.02.2017; http://motthegioi.vn/giao-duc-c-69/cau-chuyen-giao-duc-c-108/giao-su-pham-hoang-ho-mot-nguoi-thay-cua-toi-55462.html

5/ Đại học cộng đồng được thành lập trước 1975. GS Đỗ Bá Khê; Đặc san Tiền Giang, July 1998. 

http://daihoc.tripod.com/199807-tiengiang.html

+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Prescription for the Rescue of the Mekong: Gray Matter with a Voice / Vũ khí giải cứu Mekong: “Chất xám và Tiếng nói”

image034image035

BS. Ngô Thế Vinh: Tốt nghiệp Y khoa Sài Gòn, làm báo sinh viên Tình thương, y sĩ liên đoàn 81 Biệt cách dù, bác sĩ nội trú các trường đại học New York, hiện là bác sĩ điều trị tại một bệnh viện Nam California, Mỹ. Cửu Long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng là một dữ kiện tiểu thuyết liên quan tới môi sinh và phát triển lưu vực sông Mekong và ĐBSCL. Nối tiếp sau đó là ký sự Mekong dòng sông nghẽn mạch ra đời; bên cạnh bản tiếng Việt, ký sự này được dịch sang tiếng Anh, thu hút khá nhiều quan tâm của giới khoa học, nhà báo, nhà hoạt động môi trường thế giới…

Lê Quỳnh

VĂN HÓA Online

image036image037image038image039image040image041image042image043image044image045image046

Phỏng vấn Bác sĩ Ngô Thế Vinh – người đi dọc 4.800 km sông Mekong

LTS. Gần 20 năm tâm huyết với các vấn đề trên dòng Mekong cũng như đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), bác sĩ Ngô Thế Vinh không chỉ là một nhà văn với hai tác phẩm Cửu Long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng và Mekong – dòng sông nghẽn mạch, ông còn là một nhà hoạt động môi trường bền bỉ. Ông đã có những chuyến đi dọc dòng Mekong dài 4.800km, từ Tây Tạng đổ xuống Biển Đông. Người Đô Thị có cuộc phỏng vấn ông Ngô Thế Vinh về các vấn đề nóng bỏng hiện nay trên dòng Mekong và ĐBSCL.

Thưa, dù đã 17 năm trôi qua, từ những chuyến đi dọc dòng sông Mekong dài 4.800km, bức tranh sống động mà ông “phác họa” về những tác hại khủng khiếp do các con đập thủy điện gây ra cho đời sống người dân lưu vực sông Mekong đến nay vẫn nóng hổi tính thời sự. Từ những dự cảm rất sớm về những hậu quả do các đập thủy điện gây ra trên dòng Mekong và cho ĐBSCL nói riêng, ông nhận định gì về thực trạng hiện nay?

image034

Băng qua Biển Hồ đến khu Bảo tồn sinh thái Tonle Sap (nguồn: tư liệu Ngô Thế Vinh)

Năm 2000, khi nói “Cửu Long cạn dòng”, nhiều người xem đó là phát biểu “nghịch lý” bởi đó là năm có lụt lớn ở miền Tây. Một vị tu sĩ đang tất bật lo việc cứu trợ, mới nghe tên cuốn sách đã phát biểu: “Đang lũ lụt ngập trời với nhà trôi người chết mà lại nói “Cửu Long cạn dòng” là thế nào?” Nhưng cần hiểu rằng lũ và hạn tương ứng với mùa mưa và mùa khô là chu kỳ tự nhiên đã có hàng ngàn năm trên dòng Mekong và các vùng châu thổ, và đến nay thì mức độ càng trầm trọng và gay gắt. Chúng ta không thể đổ lỗi hết cho “thiên tai”, mà cần can đảm gọi cho đúng tên những yếu tố “nhân tai” bởi do chính con người gây ra qua suốt quá trình phát triển không bền vững và có tính tự hủy từ nhiều thập niên qua, đã làm gãy đổ sự cân bằng của cả một hệ sinh thái vốn phức tạp nhưng cũng hết sức mong manh của dòng Mekong.

Một chuỗi những tai ương do chính con người gây ra đó là: (1) Phá hủy tự sát những khu rừng mưa trong toàn lưu vực. Những khu rừng mưa này có tác dụng như những tấm bọt biển khổng lồ giữ nước trong mùa mưa, xả nước trong mùa khô với chức năng điều hoà lưu lượng nước của dòng sông trong suốt hai mùa khô lũ, thì nay không còn nữa. (2) Xây các con đập thủy điện không chỉ trên dòng chính mà ngay trên khắp các phụ lưu sông Mekong từ thượng nguồn xuống tới hạ lưu, và đáng kể nhất là chuỗi những con đập bậc thềm (Mekong Cascades) Vân Nam của Trung Quốc. Hồ chứa các con đập ấy không những chỉ giữ nước mà còn ngăn chặn phù sa như một dưỡng chất xuống vùng châu thổ ĐBSCL. Nguồn thủy điện cũng đưa tới kỹ nghệ hóa, đô thị hóa với trút đổ các chất phế thải xuống sông gây ô nhiễm nguồn nước sông Mekong. (3) Còn phải kể tới kế hoạch Trung Quốc cho nổ mìn phá các ghềnh thác khai thông lòng sông Mekong để mở thủy lộ từ Vân Nam xuống xa tới Vạn Tượng, Trung Quốc đã làm biến dạng toàn dòng chảy, gây xói lở trầm trọng các khu ven sông. (4) Cộng thêm những sai lầm về các kế hoạch thủy lợi tự phát ngay nơi ĐBSCL như be bờ ngăn đập rồi tới nạn “cát tặc” ngày đêm nạo vét lòng sông…

Tình trạng này gây thảm họa nhãn tiền: nếu lụt thì sẽ rất lớn ngay mùa mưa, hạn hán sẽ gay gắt hơn trong mùa khô và nạn ngập mặn ngày càng lấn sâu vào trong đất liền. Như vậy chủ yếu là do các nguyên nhân nhân tai, nay cộng thêm với biến đổi khí hậu, El Nino… là phần thiên tai cộng thêm vào. Không gọi đúng tên, đổ hết cho thiên tai là một thái độ chối bỏ nguy hiểm của giới chức Việt Nam hiện nay.

image047

Trên dòng chính Mekong, Trung Quốc đã và vẫn tiếp tục xây đập thủy điện trên thượng nguồn, Lào xây đập dưới hạ nguồn, còn Thái Lan dẫn nước từ dòng Mekong vào ngay cả mùa khô… Trong tình hình ấy, điều ông lo ngại nhất là gì?

Bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, sau khi Trung Quốc hoàn tất hai con đập lớn nhất: Nọa Trác Độ (Nuozhadu) 5.850MW và Tiểu Loan (Xiaowan) 4.200MW, về tổng thể Bắc Kinh hầu như đã hoàn thành kế hoạch thủy điện của họ trên suốt nửa chiều dài con sông Lan Thương (Lancang – tên Trung Quốc của sông Mekong). Theo Fred Pearce, Đại học Yale, con sông Mekong nay đã trở thành tháp nước và là nhà máy điện của Trung Quốc. Philip Hirsch, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu sông Mekong thuộc Đại học Sydney nhận định: “Hai con đập khổng lồ Nọa Trác Độ và Tiểu Loan sẽ ảnh hưởng trên suốt dòng chảy của con sông Mekong xuống tới tận ĐBSCL của Việt Nam”. Chỉ với sáu con đập dòng chính hoàn tất, Trung Quốc đã đạt được công suất 15.150MW – nghĩa là hơn một nửa toàn công suất tiềm năng thủy điện của con sông Lan Thương. Với 8 dự án đập còn lại, và có thể sẽ còn thêm nhiều dự án mới nữa, Trung Quốc sẽ dễ dàng dứt điểm sớm trong vòng mấy thập niên đầu thế kỷ XXI.

Chúng ta không thể chỉ dựa vào một con số 16% lượng nước sông Mekong đổ xuống từ Trung Quốc, để bảo rằng ảnh hưởng chuỗi đập Vân Nam là không đáng kể. Xây chuỗi đập Vân Nam, Trung Quốc đã khởi đầu phá hủy sự cân bằng bền vững của toàn hệ sinh thái lưu vực sông Mekong. Dung lượng các hồ chứa Vân Nam ngoài khả năng giữ hơn 30 tỉ mét khối nước còn chặn lại một trữ lượng rất lớn phù sa không cho xuống tới ĐBSCL. Thiếu nước, thiếu phù sa lại thêm ngập mặn với nước biển dâng, cả một vùng đất phì nhiêu ĐBSCL, cái nôi của một nền văn minh miệt vườn, có tương lai trở thành một vùng đất chết do sa mạc hóa.

Điều gì đáng lo ngại nhất hiện nay? Rõ ràng Việt Nam đã mất cảnh giác và thiếu chuẩn bị trong cuộc chiến môi sinh “không tuyên chiến” của Trung Quốc. Lời kêu gọi Trung Quốc xả nước từ hồ chứa Vân Nam để cứu hạn cho ĐBSCL đã nói lên tình thế bị động của Việt Nam. Lẽ ra giới lãnh đạo phải tiên liệu nguy cơ này từ nhiều năm trước. Nay lại thêm 9 dự án đập dòng chính hạ lưu của Lào và 2 của Campuchia sẽ khiến bài toán cứu nguy ĐBSCL khó khăn và phức tạp hơn nhiều, mà Việt Nam thì chưa có một chiến lược đối phó.

Hiệp định Mekong 1995 được xem là một cơ sở kiểm soát bảo vệ dòng Mekong, tuy nhiên Trung Quốc từ chối tham gia. Tương tự, Công ước Liên Hiệp Quốc 1997 về sử dụng các nguồn nước liên quốc gia, Việt Nam thuận ký năm 2014, được biên soạn đặc biệt nhằm bổ sung và hạn chế những bất cập trong các hiệp định lưu vực hiện có như Hiệp định Mekong 1995, cũng thiếu tên Trung Quốc. Trong diễn tiến đó, Trung Quốc nay lại khởi xướng một diễn đàn mới: Hợp tác Lancang – Mekong ra mắt tháng 11.2015. Ông nhận định như thế nào về cơ chế này? Cơ hội của Việt Nam cũng như các nước trên lưu vực tham gia có thể là gì? Theo ông, liệu Trung Quốc có động cơ gì đằng sau đó không?

Uỷ ban Sông Mekong (MR Committee) được Liên Hiệp Quốc thành lập từ 1957, nhưng mọi dự án phát triển hầu như bị tê liệt do cuộc chiến tranh Việt Nam. Sau 1975, bước vào thời bình, con sông Mekong trở lại là mục tiêu khai thác của các quốc gia trong lưu vực. Nhu cầu phục hồi một tổ chức điều hợp liên quốc gia tương tự Ủy ban Sông Mekong trước đây là cần thiết. Ngày 5.4.1995, bốn nước hội viên gốc thuộc lưu vực hạ lưu Mekong đã họp tại Chiang Rai – Bắc Thái, để cùng ký kết Hiệp ước Hợp tác phát triển bền vững hạ lưu sông Mekong và đổi sang một tên mới là Ủy hội Sông Mekong (MR Commission).

Đại diện Việt Nam đặt bút ký vào Hiệp định Mekong 1995 là Ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm với chấp nhận một thay đổi cơ bản trong hiệp ước mới: thay vì như trước, mỗi hội viên trong Ủy ban sông Mekong (1957) có quyền phủ quyết bất cứ một dự án nào bị coi là có ảnh hưởng tác hại tới dòng chính sông Mekong, nay theo nội quy mới (1995), không một quốc gia nào có quyền phủ quyết. Phát biểu trong Hội nghị Mekong 1999 tại Nam California (Mỹ), chúng tôi nhận định đây là khởi điểm một bước sai lầm chiến lược của Việt Nam, vì là quốc gia ở cuối nguồn.

Sáu nước lưu vực sông Mekong đang đứng trước nhiều vấn đề bức thiết liên quan đến kinh tế, xã hội cũng như bảo tồn môi trường sinh thái. Tuy nhiên, những khác biệt về yếu tố địa chính trị lại là rào cản không nhỏ trong tiến trình hợp tác, và đặt ra bài toán phải giải quyết hài hòa lợi ích của mỗi quốc gia. Theo ông, diễn biến chính trị ảnh hưởng như thế nào trong vấn đề hợp tác vùng và phát triển vùng trên dòng Mekong? Viễn cảnh phát triển Mekong sẽ là như thế nào trong bối cảnh biến đổi khí hậu?

Nhắc tới sự kiện Trung Quốc mới đây cho thành lập khối Hợp tác Lancang – Mekong, một cơ chế bao gồm 6 nước cùng sử dụng sông Mekong, nhiều người vội lạc quan cho rằng đó có thể là một phương tiện tốt để buộc Trung Quốc quan tâm nhiều hơn đến lợi ích của các nước hạ nguồn. Mối lạc quan đó có thể đúng có thể không. Nhưng cần nhận thức rõ một điều: từ 1995, Trung Quốc chọn đứng ngoài Ủy hội Sông Mekong chỉ gồm 4 nước hạ lưu: Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam. Tới nay với 6 con đập dòng chính, về tổng thể, Trung Quốc đã hoàn tất kế hoạch thủy điện trên khúc sông Mekong 2.200km của họ.

Nay nếu có mở ra thêm khối Hợp tác Lancang – Mekong thì đó cũng chỉ là một bước chiến lược của Trung Quốc, tạo cho mình một hình ảnh hữu nghị nhưng thực tế là nhằm tăng cường ảnh hưởng đưa tới khống chế toàn bộ lưu vực sông Mekong. Trung Quốc sẵn có khả năng kỹ thuật, có nguồn tài chính hầu như vô hạn, Bắc Kinh thừa sức để gạt ảnh hưởng của Hoa Kỳ và Nhật Bản ra khỏi lưu vực sông Mekong, cũng như họ đã đánh sập thế thượng phong của Đệ thất hạm đội Hoa Kỳ trên Biển Đông bằng các đảo chiếm của Việt Nam rồi mở rộng xây dựng căn cứ quân sự trên đó.

Tương lai khối Hợp tác Lancang – Mekong ra sao, vẫn tùy thuộc thiện chí rất đáng ngờ của Trung Quốc. Những ai từng theo dõi cách hành xử của Trung Quốc trong bao năm nay, cũng nhận thấy là Bắc Kinh chưa hề có Hồ sơ theo dõi tốt (Good track records).

Nhưng rồi cũng phải kể tới tiềm năng “chất xám” mỗi quốc gia thành viên khi tham dự khối Hợp tác Lancang – Mekong, và quan trọng hơn hết là liệu có được một mẫu số chung đoàn kết của các nước nhỏ hay không. Thiếu một “tinh thần sông Mekong” nơi các quốc gia hạ lưu như hiện nay (vẫn cái cảnh “đồng sàng dị mộng”), lại thêm ác ý như từ bao giờ (Trung Quốc luôn luôn chia để trị), thì khối Hợp tác Lancang – Mekong chỉ là chiếc dù tạo thêm ảnh hưởng quyền lực của Trung Quốc trên mỗi quốc gia hạ nguồn.

Nếu Trung Quốc có thực tâm, phải đòi hỏi Bắc Kinh đi đến một Hiệp ước Lancang – Mekong theo đó mỗi quốc gia thành viên phải được tôn trọng và đối xử bình đẳng, có thể xem đây như một Ủy hội Sông Mekong mở rộng bao gồm thêm Trung Quốc và Myanmar.

Điểm qua tình hình hiện nay: Thủ tướng Campuchia Hunsen gần như hậu thuẫn vô điều kiện chính sách của Trung Quốc; Lào thì bất chấp mọi khuyến cáo vẫn từng bước thực hiện xây 9 con đập dòng chính Mekong (đang xây hai đập Xayaburi và Don Sahong); Thái Lan không ngừng lấy nước từ sông Mekong cung cấp cho các vùng khô hạn của họ; Myanmar thì không phải là yếu tố quan trọng khi chỉ tiếp cận một khúc sông Mekong vùng Tam giác vàng; riêng Việt Nam gần như bị động và chưa có “một chiến lược trên bàn cờ Mekong” khi quyết định tham dự khối Hợp tác Lancang – Mekong.

Điều cần làm ngay, là cấp thiết di chuyển Ủy ban Mekong Việt Nam từ Hà Nội về ĐBSCL để cùng bắt tay hình thành một phân khoa Mekong nơi Đại học Cần Thơ, giúp phái đoàn Việt Nam có một hồ sơ Mekong mang tính chiến lược, có cơ sở pháp lý khi họ tới dự những hội nghị thượng đỉnh Mekong. Mekong Delta SOS phải là ưu tiên số một trong nghị trình của Hội đồng Chính phủ, của Quốc hội và cả của Bộ Chính trị. Thảm hoạ đại hạn nơi ĐBSCL nếu cần phải đưa ra trước Diễn đàn Liên Hiệp Quốc.

Ông đánh giá thế nào về vai trò của tiếng nói cộng đồng, các tổ chức phi chính phủ (NGO) trong bối cảnh các quốc gia lưu vực sông Mekong còn nhiều quan điểm khác biệt? Ở Việt Nam, theo ông, vai trò tiếng nói này hiện nay thế nào, và cần như thế nào?

Khi nhìn chung vào lưu vực 5 nước sông Mekong hạ nguồn (thêm Myanmar), một ký giả ngoại quốc nhận xét: tiếng nói của các cộng đồng dân sự, các mạng xã hội Việt Nam về vấn đề sông Mekong được kể là “khá hiếm” so với những tiếng nói của cư dân Bắc Thái Lan, người dân Lào và ngay cả dân Campuchia. Điều này hầu như lại càng rất hiếm thấy nơi cộng đồng 20 triệu cư dân ĐBSCL. Cũng dễ hiểu, đa số nông dân bị thiếu học với một nền giáo dục thấp hơn cả Tây nguyên, lại thêm bị bưng bít thông tin thì làm sao bảo họ có tiếng nói ngoài thái độ cam chịu. Tiếng nói của những “tổ chức được gọi là NGO” thì luôn luôn luôn bị kiểm soát và định hướng bởi Nhà nước, và những định hướng thiển cận như hiện nay đã triệt tiêu mọi sáng kiến từ các nguồn trí tuệ. Nhưng dẫu sao, quan sát từ bên ngoài, đã thấy ánh sáng cuối đường hầm, đang có những nỗ lực tích cực từ trong nước để hình thành những cộng đồng dân sự xã hội thực sự có tiếng nói, nhưng dĩ nhiên có một cái giá phải trả cho những bước tiên phong ấy. Đó là một tiến trình không thể đảo nghịch và cũng đã đến lúc Nhà nước ý thức được rằng họ không thể tạo nút chặn cho cả một xu thế thời đại.

Cảm nhận của ông như thế nào về vai trò của các nhà khoa học Việt Nam hiện nay trong “bài toán” sông Mekong nói chung và ĐBSCL nói riêng? Họ cần có “cơ chế” gì để tiếng nói thực sự đạt hiệu quả?

Tuy chưa có dịp được gặp hết, chúng tôi vẫn theo dõi sinh hoạt của các nhà khoa học Việt Nam từ những năm qua. Họ đã và đang phải làm việc trong những điều kiện vô cùng khó khăn, nhưng nỗ lực của các anh chị ấy để cất tiếng nói bảo vệ một hệ sinh thái lành mạnh cho Việt Nam, tuy thầm lặng, đã được nhiều người biết đến. Từ bên ngoài, chúng tôi luôn quan niệm “bài toán” sông Mekong và cứu nguy ĐBSCL phải từ các nhà khoa học và giới trẻ trong nước. Việt Nam không hề thiếu chất xám nhưng giới khoa học ấy không có phương tiện, không có tự do hoạt động ngay cả trong môi trường đại học. Có thể đi tới một kết luận: “dân chủ và môi sinh” phải là bộ đôi không thể tách rời.

Tôi cũng cho rằng, cứu vãn được nhịp đập của “trái tim Biển Hồ” là giải pháp khả thi cứu nguy cho các vùng châu thổ Tonle Sap của Campuchia và ĐBSCL của Việt Nam, dĩ nhiên với cái giá rất cao mà Việt Nam không thể không hợp tác với Campuchia đầu tư vào.

Ngô Thế Vinh: Ông có một kho dữ liệu quý về văn hóa, lịch sử, môi trường… liên quan đến 4.800km dòng Mekong, từ Tây Tạng đổ xuống Biển Đông, nơi hơn 65 triệu cư dân sinh sống. Đó là những tư liệu chuyên ngành chẳng liên quan gì đến nghề bác sĩ của ông cả. Nên nếu được tự nói về mình, ông nhận mình là một bác sĩ, nhà văn, nhà báo, hay là một nhà khoa học?

LÊ QUỲNH thực hiện

25/4/2016

Người Đô Thị, tháng 4.2016

http://nguoidothi.net.vn/phong-van-ngo-the-vinh-nguoi-di-doc-4-800km-song-mekong-3533.html

http://nguoidothi.net.vn/don-doc-nguoi-do-thi-phat-hanh-ngay-29-4-3227.html

(*) Tên bài trên bản báo giấy: “Vũ khí giải cứu Mekong: chất xám và tiếng nói”

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Nhật Bản cung cấp thuốc Avigan miễn phí cho các quốc gia chống lại coronavirus

Nhật Bản cung cấp thuốc Avigan miễn phí cho các quốc gia chống lại coronavirus

< A >
CTV Danlambao lược dịch – Chính phủ Nhật Bản tuyên bố hôm thứ Sáu rằng thuốc cúm Avigan sẽ được cung cấp miễn phí cho các quốc gia yêu cầu Nhật hỗ trợ thuốc này để điều trị coronavirus.
Chánh văn phòng nội các ông Yoshihidei Suga đã nói trong một cuộc họp báo rằng khoảng 30 quốc gia đã yêu cầu Nhật hỗ trợ Avigan thông qua các kênh ngoại giao. “Chúng tôi đang sắp xếp để cung cấp thuốc miễn phí,” ông nói.
Ông Suga nói rằng làm như vậy sẽ giúp mở rộng nghiên cứu cho thuốc. Hiện Nhật chỉ có 2.617 trường hợp bị nhiễm, tương đối ít trong số hơn 1 triệu ca nhiễm bệnh trên toàn thế giới. Điều này khiến các thử nghiệm hiệu quả của thuốc trên diện rộng trở nên khó khăn.
Indonesia đã đặt hàng 2 triệu liều Avigan vào ngày 20 tháng 3 và có kế hoạch bắt đầu thử nghiệm khi nhận được thuốc. Số người bị nhiễm tại Indonesia đã tăng lên 1.986 sau nhiều tuần đầu của dịch đã không có xác nhận số ca bị nhiễm vi khuẩn. Indonesia hiện có 181 người chết, cao hơn Hàn Quốc và chỉ đứng sau Trung Quốc ở châu Á.
Các nguồn tin ngoại giao cho Nikkei Asian Review biết rằng Nhật Bản cũng đã nhận được yêu cầu từ Thổ Nhĩ Kỳ. Bộ trưởng Y tế Thổ Nhĩ Kỳ Fahrettin Koca đã gặp Akio Miyajima, đại sứ Nhật Bản tại Ankara, vào tháng trước và hỏi về việc mua lại Avigan.
Ông Koca đã tuyên bố trong một cuộc họp báo vào ngày 23 tháng 3 rằng Thổ Nhĩ Kỳ đã bắt đầu sử dụng một loại thuốc từ Trung Quốc để điều trị cho bệnh nhân COVID-19. Mặc dù ông không nêu tên thuốc, truyền thông và bác sĩ Thổ Nhĩ Kỳ sau đó đã tiết lộ phương pháp điều trị được sử dụng là favipiravir, tên chung của Avigan. Ông Koca cho biết thêm rằng thuốc có hiệu quả hơn trong điều trị bệnh nhân ở giai đoạn đầu của bệnh. Thổ Nhĩ Kỳ đã có 20.921 người bị nhiễm Covid-19 và 425 người chết vì nhiễm dịch.
Báo Politico dựa vào các báo cáo, trích dẫn các nhân viên chính phủ và tài liệu nội bộ cũng cho biết chính quyền Trump cũng đã bắt đầu thảo luận về việc này và Toà Bạch Ốc khuyến khích các cơ quan quản lý cho phép thuốc được sử dụng như một phương pháp điều trị coronavirus.
Politico cho biết bất chấp những lo ngại từ lâu của các nhà nghiên cứu ở Hoa Kỳ về những rủi ro của thuốc như dị tật bẩm sinh, sự phấn khởi về Avigan đã tăng lên sau khi Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe giải thích về dược phẩm này cho Tổng thống Donald Trump. Toà Bạch Ốc đã không trả lời về những câu hỏi liên quan đến vấn đề này.
Theo dữ liệu của Đại học Johns Hopkins, Hoa Kỳ hiện có gần một phần tư tổng số các trường hợp được xác nhận nhiễm covid-19 trên toàn thế giới.
Truyền thông Đức, Frankfurter Allgemeine Zeitung đưa tin hôm thứ Năm rằng Berlin đang tìm mua một lượng lớn Avigan, với hy vọng dự trữ hàng triệu gói. Thuốc sẽ được phân phối thông qua các bệnh viện đại học và các tổ chức khác với sự giúp đỡ của quân đội.
Avigan, được chế tạo bởi một công ty con của Fujifilm Holdings của Nhật Bản, đã được tìm thấy trong thử nghiệm tại Trung Quốc có hiệu quả chống lại COVID-19. Thủ tướng Abe đã công bố kế hoạch bắt đầu quá trình thử nghiệm dùng Avigan điều trị coronavirus để chính thức được phê duyệt.
“Chúng tôi sẽ đẩy nhanh việc phát triển các phương pháp điều trị và vắc-xin hiệu quả để giảm bớt những lo ngại của công chúng trong thời gian nhanh nhất có thể”, Thủ tướng Abe đã nói với các nhà lập pháp hôm thứ Sáu.
Fujifilm tuyên bố trong tuần này họ đã đưa ra các thử nghiệm để kiểm tra hiệu quả của Avigan chống lại virus và đang chuẩn bị đẩy mạnh sản xuất. Chính phủ Nhật Bản có dự trữ chiến lược là 2 triệu liều thuốc.
Thủ tướng Abe cho biết hôm thứ Sáu rằng Nhật Bản, Hoa Kỳ và các quốc gia khác đã bắt đầu thử nghiệm chung về remdesivir, một loại thuốc được phát triển để chống lại Ebola cũng cho thấy nhiều triển vọng trong việc điều trị virus coronavirus. Đồng thời, theo ông Abe thì các thử nghiệm thực hiện trong khu vực tư nhân đã được thiết lập để bắt đầu trong tháng này.
Nguồn:
Lược dịch:
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

TQ “Vừa ăn cắp vừa la làng”

TQ “Vừa ăn cắp vừa la làng”

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc trắng trợn đổi trắng thay đen sự vụ tàu hải cảnh Trung Quốc đâm chìm tàu cá Việt Nam trong tuyên bố mới đây.

rong cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao Trung Quốc hôm 3/4, khi phóng viên đặt câu hỏi liên quan tới việc tàu cá Việt Nam bị chìm sau va chạm với tàu hải cảnh Trung Quốc, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh cho biết:

“Vào sáng 2/4, một tàu hải cảnh Trung Quốc trong cuộc tuần tra định kỳ phát hiện tàu cá Việt Nam đánh bắt cá bất hợp pháp ở ngoài khơi quần đảo Tây Sa (thực chất là quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam – PV) và ngay lập tức kêu gọi con tàu rời đi.

Tàu cá Việt Nam từ chối rời đi và bất ngờ chuyển hướng về phía tàu Trung Quốc. Mặc dù tàu hải cảnh của Trung Quốc đã cố hết sức để tránh, nhưng vẫn bị tàu cá Việt Nam đâm vào mũi tàu. Tàu cá Việt Nam sau đó bị ngập nước và chìm.

Tàu hải cảnh Trung Quốc đã ngay lập tức thực hiện chiến dịch giải cứu và cả 8 ngư dân Việt Nam đã được giải cứu mà không có bất cứ thương tích nào. Tàu hải cảnh Trung Quốc sau đó đã để ngư dân Việt Nam rời đi sau khi hoàn thành thủ tục điều tra và thu thập bằng chứng cần thiết”.

Phát ngôn của bà Hoa là sự bịa đặt trắng trợn, vốn song hành các tuyên bố ngang ngược của Trung Quốc về Biển Đông trước đây.

Trên thực tế, vào khoảng 3h ngày 2/4, tàu cá Quảng Ngãi mang số hiệu QNg 90617 TS đang hoạt động tại vùng biển Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, đã bị tàu Trung Quốc đâm chìm. Trên tàu khi đó có 8 thuyền viên.

Sau khi đâm chìm tàu cá Việt Nam, tàu Trung Quốc vớt 8 ngư dân của tàu QNg 90617 TS đưa về đảo Phú Lâm.

Sáng cùng ngày, nhận được tin báo, các tàu cá QNg 90929 TS của ông Nguyễn Thanh Linh, QNg 90045 TS của ông Đăng Tâm và tàu QNg 90399 TS của ông Đặng Dũng cùng chạy đến cứu nạn, cứu hộ.

Lúc này, các tàu cá tiếp tục bị tàu Trung Quốc truy đuổi, 2 tàu cá QNg 90929 TS và QNg 90045 TS sau đó cũng bị bắt, lai dắt vào đảo Phú Lâm.

Đến khoảng 18h ngày 2/4, Trung Quốc giao 8 ngư dân của tàu QNg 90617 TS cho 2 tàu cá QNg 90929 TS, QNg 90045 TS và thả 2 tàu cá này cùng 8 ngư dân của tàu chìm về.

Đây thực chất mới là diễn biến của vụ việc chứ không phải “sự thật”, mà do bà Hoa thêu dệt trong phát ngôn của mình.

Không chỉ dừng lại ở đó, trong tuyên bố sau đó, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn lớn tiếng cáo buộc “tàu đánh cá Việt Nam có thời điểm thường xuyên xâm phạm vùng lãnh hải và nội thủy của ‘quần đảo Tây Sa’ của Trung Quốc để đánh bắt cá”.

Cái mà Trung Quốc gọi là “quần đảo Tây Sa” thực chất là quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Trung Quốc nhiều lần tuyên bố chủ quyền với quần đảo này để biện minh cho các hành động phi pháp của mình tại đây nhưng chưa từng đưa ra bất cứ bằng chứng thuyết phục nào cho các tuyên bố đó.

Bà Hoa còn ngang nhiên khẳng định “tàu cá Việt Nam phớt lờ và thậm chí có hành động nguy hiểm để chống lại việc thực thi pháp luật của Trung Quốc”.

“Phía Trung Quốc bày tỏ quan ngại sâu sắc với Việt Nam về vấn đề này, yêu cầu Việt Nam thông báo với ngư dân của mình và điều chỉnh hoạt động đánh cá của họ để đảm bảo không tái phạm việc xâm phạm vùng biển liên quan tới quần đảo Tây Sa của Trung Quốc hoặc thực hiện các hành động nguy hiểm chống lại lực lượng thực thi pháp luật Trung Quốc”, bà Hoa nói.

Đây là sự dối trá không thể chấp nhận bởi các ngư dân Việt Nam hoàn toàn đánh bắt cá hợp pháp tại quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, và cũng không hề có hành động nguy hiểm đối đầu với Trung Quốc như bà Hoa vu cáo.Đáp trả hành động vô lối của Trung Quốc, đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam hôm 3/4 đã giao thiệp với đại diện Đại sứ quán Trung Quốc và trao công hàm phản đối, yêu cầu phía Trung Quốc điều tra làm rõ, xử lý nghiêm đối với nhân viên công vụ và tàu hải cảnh Trung Quốc nêu trên, không để tái diễn những hành động tương tự, đồng thời bồi thường thỏa đáng các thiệt hại cho ngư dân Việt Nam.

Người phát ngôn BNG Trung Quốc trắng trợn bịa đặt: Tàu cá VN đâm tàu hải cảnh TQ - 2

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng.

Trong tuyên bố đưa ra hôm 3/4, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nhấn mạnh:

“Như đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa phù hợp với luật pháp quốc tế.

Hành động trên của tàu công vụ Trung Quốc đã xâm phạm chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, gây thiệt hại về tài sản, đe dọa an toàn tính mạng và lợi ích hợp pháp của ngư dân Việt Nam, đi ngược lại nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao hai nước về việc đối xử nhân đạo với ngư dân và Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc, trái với tinh thần Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), gây phức tạp tình hình và không có lợi cho quan hệ hai nước cũng như việc duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác ở Biển Đông”.

Categories: Tin Trong Nước | Leave a comment

Sau khi bị sa thải, Hạm trưởng Brett Crozier bị dính Covid-19

Sau khi bị sa thải, Hạm trưởng Brett Crozier bị dính Covid-19

Ngọc Thu

5-4-2020

Hạm trưởng Brett Crozier. Photo Courtesy

Hạm trưởng Crozier được nhiều người ca ngợi là một chỉ huy đã đặt sinh mạng của hàng ngàn người lính lên trên sự nghiệp chính trị của ông. Sau khi bị sa thải hôm 2/4/2020, Captain Crozier của hàng không mẫu hạm USS Theodore Roosevelt đã bị dính virus corona.

Cũng xin nhắc lại, ngày 5/3/2002, hàng không mẫu hạm USS Theodore Roosevelt có chuyến viếng thăm Việt Nam trong năm ngày. Con tàu sân bay này đã cập cảng Đà Nẵng, giao lưu với Hải quân Việt Nam, đến ngày 9/3 thì rời khỏi cảng Việt Nam.

Đến ngày 24/3/2020, tức 15 ngày sau khi rời Đà Nẵng, có ba thủy thủ trên tàu có kết quả xét nghiệp dương tính với virus corona. Chỉ vài ngày sau đó, số người bị nhiễm virus trên tàu lên đến hàng chục người. Ngày 27/3, USS Theodore Roosevelt đã cập cảng ở đảo Guam.

Có tin cho biết, hạm trưởng Crozier đã cầu cứu với cấp chỉ huy trực tiếp để sơ tán các thủy thủ, nhưng không nhận được sự giúp đỡ. Ông rất lo ngại khi nhìn thấy số thủy thủ bị nhiễm Covid-19 ngày càng gia tăng, khi có hơn 100 thủy thủ trên tàu bị nhiễm virus vào những ngày cuối tháng 3.

Lo sợ cho tính mạng của những người lính, ngày 31/3/2020, ông Crozier đã viết thư gửi cho quyền Bộ trưởng Hải quân Thomas B. Modly. Trong thư, ông Crozier viết: “Điều này đòi hỏi một giải pháp chính trị nhưng đó là điều đúng, phải làm. Chúng ta không có chiến tranh. Thủy thủ không cần phải chết. Nhưng nếu chúng ta không hành động ngay bây giờ, chúng ta sẽ thất bại trong việc chăm sóc đúng các tài sản quý nhất của chúng ta – Đó là các Thủy thủ của chúng ta“.

Bức thư đã bị lộ, báo chí đưa tin nội dung thư. Kết quả là, ngày 2/4/2020, Captain Crozier đã bị Bộ trưởng Hải quân sa thải. Có lẽ ông Crozier cũng biết sự nghiệp của mình sẽ kết thúc ngay khi ông gửi thư đi, nhưng vì lo lắng cho sự an toàn của hơn 4.000 thủy thủ đoàn, nên ông sẵn sàng chấp nhận.

Hạm trưởng Crozier không có sự lựa chọn nào khác: Nếu ông không gióng chuông cảnh báo, sự việc kéo dài, nhiều thủy thủ bị nhiễm, trường hợp có người lính nào chết, ông cũng sẽ bị sa thải. Còn hành động như đã làm thì ông cũng bị sa thải. Ông đã chọn sự ra đi bằng cách bảo vệ những người lính, ông đã để lại trong lòng họ sự thán phục. Hàng trăm thủy thủ cổ vũ Crozier, tạm biệt ông lúc ông rời tàu USS Theodore Roosevelt sau khi bị sa thải.

Hàng trăm thủy thủ chào tạm biệt Hạm trưởng Brett Crozier. Ảnh cắt từ clip

***

Việc sa thải Captain Crozier đã gây ra sự phẫn nộ từ các nhà lập pháp và các cựu sĩ quan từng phục vụ trong quân ngũ, những người xem việc sa thải này như một sự trả thù. Trong lực lượng Hải quân, việc sa thải này khiến Hải quân, Thủy quân lục chiến và các cựu lãnh đạo cấp cao khó hiểu hơn.

Bị rời khỏi chức vụ một cách đột ngột của ông Brett Crozier đã đặt ra nhiều câu hỏi hơn là các câu trả lời về lý do tại sao Hạm trưởng Crozier buộc phải thoát ra khỏi chuỗi chỉ huy, cầu cứu vượt cấp, để gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình hình trên tàu Roosevelt.

Những người thắc mắc nói rằng, tại sao chưa đầy một ngày, sau khi những người có thẩm quyền tuyên bố rằng, họ sẽ “không bắn vào người đưa tin”, thì Hải quân lại sa thải Captain Crozier.

Một cựu quan chức cao cấp trong lực lượng Hải quân đặt câu hỏi: “Tại sao không thực hiện một cuộc điều tra trước khi sa thải ông Crozier? Bởi vì rõ ràng là, bất kỳ người nào ở trong vị trí của ông – một người chỉ huy hàng không mẫu hạm đang bị một viên đạn nhắm tới – tại sao ông ta phải làm điều này, nếu không bị vướng mắc ở đâu đó trong chuỗi lệnh chỉ huy?

Cựu quan chức Hải quân này, cũng như các quan chức và cựu quan chức cao cấp khác, nói rằng, những người như ông Crozier luôn nhận thức rất rõ, rằng hành động đó sẽ khiến ông phải trả giá cho sự nghiệp của mình.

***

Trên các trang mạng, người ta so sánh Hạm trưởng Crozier với bác sĩ Lý Văn Lượng bên Trung Quốc. Có thể thấy, có sự khác nhau ở chỗ: BS Lý Văn Lượng dường như không nghĩ rằng những dòng chat của ông với các đồng nghiệp có thể gây rắc rối cho ông, để ông phải bị cảnh sát câu lưu, mời lên làm việc, viết cam kết…

Nhưng là một chỉ huy hàng không mẫu hạm USS Theodore Roosevelt như Hạm trưởng Crozier, chắc chắn ông biết trước rằng, việc làm của ông phải trả giá bằng sự nghiệp chính trị của mình. Với trách nhiệm của một người chỉ huy, đặt tín mạng của những người lính lên trên sự nghiệp chính trị, ông phải lên tiếng như ông đã viết trong bức thư.

Sự giống nhau giữa BS Lý Văn Lượng và Captain Crozier ở chỗ, cả hai đều lên tiếng, đều phải trả giá và cả hai đều bị nhiễm virus corona. BS Lý Văn Lượng đã bị virus giết chết, cầu mong Hạm trưởng Crozier giữ được mạng sống của mình.

***

Hạm trưởng Crozier năm nay 50 tuổi. Ông trở thành phi công hải quân năm 24 tuổi. Ông đã từng tham gia trên các chiến hạm USS Crommelin và USS Fletcher, hỗ trợ các hoạt động ở Thái Bình Dương và Chiến dịch Southern Watch ở Vịnh Ba Tư.

Trong sự nghiệp hải quân của mình, ông Crozier đã nhận được hàng chục huân chương cao quý, trong đó có Huân chương Bắc đẩu Bội tinh về Chỉ huy (Legion of Merit) với một ngôi sao bằng vàng, và quân chương Defense Meritorious Service Medal bằng bạc.

Hiện đã có khoảng 160 thủy thủ trên hàng không mẫu hạm USS Theodore Roosevelt bị nhiễm virus và 1.500 người rời khỏi con tàu.

____

Tham khảo:

https://www.defenseone.com/politics/2020/04/it-doesnt-add-me-current-and-former-navy-officials-question-captains-abrupt-dismissal/164363/

https://www.sfchronicle.com/bayarea/article/Exclusive-Captain-of-aircraft-carrier-with-15167883.php

https://www.nytimes.com/2020/04/05/magazine/navy-captain-crozier-positive-coronavirus.html

https://www.ccn.com/u-s-cant-judge-china-after-ruthlessly-firing-navy-captain-crozier/

https://twitter.com/huxijin_gt/status/1245924526640119809

Categories: Tin Hoa Kỳ | Leave a comment

Các thi thể chồng chất, New York xem xét yêu cầu nới lỏng cho các nhà tang lễ

Các thi thể chồng chất, New York xem xét yêu cầu nới lỏng cho các nhà tang lễ

Ngọc Thu, tổng hợp

4-4-2020

Số người do virus corona giết chết ở New York hiện đã vượt quá số người chết trong sự kiện khủng bố ngày 11/9/2001. Đã có 3.218 người ở tiểu bang New York bị Covid-19 giết chết.

Để làm giảm bớt các thi thể từ nhà xác đến nghĩa trang, Thống đốc Andrew Cuomo đang xem xét cho phép các giám đốc nhà tang lễ ngoài tiểu bang được phép làm việc ở New York, với giấy phép hiện có của họ.

Các nhà tang lễ ở New York đã quá tải, không đủ không gian để xử lý các thi thể, buộc phải bỏ qua hoặc làm ngắn gọn các nghi thức tang lễ, một ý tưởng dường như không ai muốn.

Hai ngày trước, hiệp hội tang lễ đã đưa ra “lời kêu gọi hành động” gửi tới các giám đốc nhà tang lễ quanh vùng, yêu cầu họ đến thành phố New York để giúp xử lý người chết, ông Mike Lanotte, Giám đốc điều hành của Hiệp hội các Giám đốc Nhà tang lễ ở bang New York cho biết.

Hành động của ông Lanotte vừa là lời kêu gọi, vừa là hồi chuông báo tử, vì số tử vong do virus corona ở New York hôm nay đã vượt qua con số tử vong của tiểu bang này vào ngày 11/9/2001. Ông Lanotte nói: “Tôi nói chuyện với các giám đốc nhà tang lễ, những người đã hành nghề 30-40 năm, họ nói rằng, họ chưa bao giờ thấy bất cứ cảnh tượng nào như thế này trong đời của họ“.

Ở TP New York, hiện có bốn nhà hỏa thiêu có thể làm việc 24 giờ mỗi ngày. Thành phố đã thành lập ít nhất 45 nhà xác di động để lưu trữ các xác chết hiện tại. Bộ Quốc phòng Mỹ cũng đang gửi hàng chục sĩ quan nhà xác tới để giúp TP New York điều hành các nhà xác mới.

Hiện bốn nhà hỏa thiêu của thành phố New York đang làm việc quá công sức. Ông David Fleming, giám đốc các vấn đề lập pháp tại Hiệp hội Nghĩa trang bang New York, đề nghị các giám đốc nhà tang lễ có thể giúp tăng công sức thiêu bằng cách bọc các thi thể trong các thùng hỏa táng bằng bìa cứng, thay vì các hòm gỗ nặng.

Ông Fleming nói: “Rõ ràng ngọn lửa phải thiêu cả quan tài, lẫn xác chết. Nó làm chậm lại đáng kể khi các giám đốc nhà tang lễ bán những chiếc quan tài trang trí công phu cho mọi người trong đại dịch như thế này“.

***

Về chuyện chôn cất, trước đây, số lượng chôn cất ở TP Hart Island đã tăng từ 30 người hoặc ít hơn một tuần, lên 100 người mỗi tuần, Bộ Cải huấn xác nhận. Mặc dù đã tăng lượng chôn cất nhưng vẫn không thể nào chôn hết các tử thi bị virus corona giết chết.

Ông Cassieri nói: “Nếu tất cả mọi người ngưng chết trong vòng hai tháng, chúng tôi sẽ vẫn phải làm việc như vậy trong sáu đến tám tháng mới xong“. Số lượng công nhân làm việc tại các nghĩa trang bị thiếu hụt trầm trọng, một số nghỉ do bị nhiễm bệnh.

Bình thường, khi cần hỏa táng một thi thể, người ta chỉ cần gọi điện thoại rồi đưa tới. Còn bây giờ, phải gọi phone, lấy hẹn, chờ cả tuần. Ông Cassieri nghĩ rằng, chính quyền nên cấp phép cho các giám đốc nhà tang lễ thiết lập các nhà hỏa thiêu di động, chẳng hạn như đặt ngoài bãi đậu xe hoặc trong nhà để xe.

Vấn đề là, tại các nhà quàn có quá nhiều xác chết mà không có chỗ cất giữ các thi thể… Đài ABC chiếu clip, nói về nhà quàn của ông Pat Marmo ở Brooklyn, New York, không đủ để chứa các xác chết. Ông đã phải đưa khoảng 20-30 xác chết xuống tầng hầm.

Ảnh: Ông Pat Marmo ở Brooklyn, New York, bên những xác chết dưới tầng hầm trong nhà tang lễ của ông, do không đủ để chứa ở tầng trên. Nguồn: ABC

Ông đi lại bên các xác chết dưới tầng hầm và nói: “Mỗi người ở đây không phải là một cái xác. Họ là một người cha, họ là một người mẹ, họ là một người bà. Họ không phải là cái xác. Họ là con người“.

Tổng hợp từ Politico và ABC

Categories: Tin Hoa Kỳ | Leave a comment

Điểm tin thế giới chiều 5/4: Anh bỏ ngỏ khả năng Covid-19 rò rỉ từ phòng thí nghiệm Trung Quốc

Điểm tin thế giới chiều 5/4: Anh bỏ ngỏ khả năng Covid-19 rò rỉ từ phòng thí nghiệm Trung Quốc

Điểm tin thế giới chiều 5/4: Anh bỏ ngỏ khả năng Covid-19 rò rỉ từ phòng thí nghiệm Trung Quốc
(Ảnh chụp màn hình Youtube/NTD)
Mục Điểm tin thế giới chiều Chủ nhật (5/4) của Đại Kỷ Nguyên xin gửi tới bạn đọc những tin sau:

Anh bỏ ngỏ khả năng Covid-19 rò rỉ từ phòng thí nghiệm Trung Quốc

Các bộ trưởng Anh lo ngại đại dịch covid-19 có thể là kết quả của sự rò rỉ loại virus này từ một phòng thí nghiệm sinh học ở Trung Quốc, tờ The Mail on Sunday của Anh tiết lộ.

ADVERTISING

Các nguồn tin chính phủ cấp cao cho biết, trong bối cảnh vẫn có khả năng loại virus chết người này được lây truyền lần đầu tiên sang người từ một chợ hải sản sống ở Vũ Hán, tuy nhiên giả thuyết loại virus này rò rỉ từ một phòng thí nghiệm ở Vũ Hán hiện ‘không còn bị loại trừ’.

Các thành viên tham gia họp tại Trung tâm đối phó khủng hoảng ngầm Cobra tại thủ đô London, đã nhận được các báo cáo ngắn chi tiết tuyệt mật từ cơ quan tình báo nước này, cho biết: ‘Có một quan điểm khác đáng tin cậy [bên cạnh giả thuyết về nguồn gốc động vật sống] dựa trên bản chất của con virus này. Có lẽ không phải ngẫu nhiên khi có một phòng thí nghiệm ở Vũ Hán [cách chợ hải sản được nhắc đến không xa]. Giả thuyết này hiện không còn được loại trừ’.

Vũ Hán là nơi đặt Viện Virus học Vũ Hán, phòng thí nghiệm tiên tiến nhất và là phòng thí nghiệm cấp độ 4 duy nhất tại Trung Quốc. Phòng thí nghiệm này trị giá 30 triệu euro, nằm cách chợ hải sản được cho là nơi bắt nguồn Covid-19 khoảng 15 km. Nó được cho là cơ sở thí nghiệm virus bảo mật nổi tiếng trên thế giới.

Hy vọng với biện pháp điều trị Covid-19 mới

Một loại thuốc làm loãng máu hiện được sử dụng cho các bệnh nhân đau tim và đột quỵ có khả năng làm giảm số ca tử vong do virus Vũ Hán và nhu cầu sử dụng máy thở, theo news.com.au.

Số liệu mới xuất hiện từ các quốc gia có bệnh nhân Covid-19 phát hiện các triệu chứng rối loạn đông máu cấp tính gây ra suy hô hấp ngay cả khi dùng thở máy. Loại thuốc được đề cập được cho là có thể phá vỡ cục máu đông trên bệnh nhân COVID-19 đang bị suy hô hấp cấp tính, và đây là cơ sở cho các thử nghiệm lâm sàng ở bước tiếp theo.

Tác giả chính của nghiên cứu, bác sĩ Michael Yaffe, nhận định “nếu loại thuốc này hiệu quả, và tôi hy vọng vậy, nó sẽ có tiềm năng nhân rộng lên rất nhanh, bởi vì mọi bệnh viện đã có sẵn loại thuốc này trong tủ thuốc của họ”.

Chủ tịch Ủy ban Châu Âu EU đề xuất kế hoạch phục hồi kinh tế Châu Âu

Chủ tịch Ủy ban Châu Âu Ursula von der Leyen kêu gọi các quốc gia EU đầu tư hàng tỷ đô la vào ngân sách của khối để ngăn chặn các hậu quả kinh tế thảm khốc từ cuộc khủng hoảng viêm phổi Vũ Hán hiện nay, theo DW.

“Chúng tôi cần một Kế hoạch Marshall cho châu Âu”, bà viết trong một bài viết cho tờ Welt am Sonntag, khi đề cập đến chương trình phục hồi kinh tế do Mỹ đề xuất trong giai đoạn 1948-1952 để giúp vực dậy các nền kinh tế Tây Âu sau Thế chiến II.

Thủ tướng Tây Ban Nha Pedro Sánchez cũng ủng hộ thiết lập một “nền kinh tế thời chiến” theo sau chương trình phục hồi.

Trung Quốc vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc thu hút sự chỉ trích nặng nề

Chính quyền Trung Quốc đã được bổ nhiệm vào một ủy ban trong Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc (U.N.), có nhiệm vụ lựa chọn các nhà điều tra nhân quyền của ủy ban này, bất chấp nước này có một bản hồ sơ dài các hành vi vi phạm nhân quyền nghiêm trọng đối với các nhóm tôn giáo, nhà bất đồng chính kiến ​​và dân tộc thiểu số qua các năm, theo The Epoch Times.

Jiang Duan, người đứng đầu phái đoàn Trung Quốc tại UN ở Geneva, đã được bổ nhiệm vào ngày 1/4 là đại diện khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong nhóm tư vấn gồm 5 thành viên Hội đồng. Sự bổ nhiệm này đã hứng chịu chỉ trích từ U.N. Watch, một nhóm vận động nhân quyền có trụ sở tại Geneva, khi cho đây là hành vi “phi lý và vô đạo đức”.

“Việc cho phép một chính quyền Trung Quốc tàn bạo và phi nhân tính có quyền lựa chọn các nhà điều tra thế giới về quyền tự do ngôn luận, tình trạng giam giữ tùy tiện và cưỡng bức mất tích thì cũng chẳng khác gì việc đưa một người mắc chứng cuồng phóng hỏa vào vị trí trưởng nhóm cứu hỏa quận”, ông Hill Neuer, giám đốc điều hành UN Watch, nhận định trong một thông cáo báo chí ngày 2/4.

Trung Quốc thả luật sư nhân quyền Vương Toàn Chương

Chính quyền Trung Quốc đã thả luật sư nhân quyền nổi tiếng Vương Toàn Chương vào hôm nay. Anh Vương đã phải thụ án bốn năm rưỡi tù vì tội “lật đổ quyền lực nhà nước”, bôi nhọ chính phủ và kích động đối lập qua phương tiện truyền thông mạng xã hội khi bảo vệ các nhà hoạt động hợp pháp khác và những người tập Pháp Luân Công, môn khí công có mặt tại nhiều quốc gia nhưng bị đàn áp đẫm máu tại Trung Quốc theo lệnh của cựu Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Giang Trạch Dân từ năm 1999 đến nay, theo DW.

Li Wenzu, vợ anh Vương, đã chia sẻ trên Twitter cá nhân rằng cô đã nhận được xác nhận từ chồng trong cuộc gọi điện thoại trước đó trong ngày. Trên Twitter, cô cũng đăng kèm hình ảnh của cô, anh Vương và con của họ.

李文足(王全璋妻子)

@709liwenzu

全璋上午9点多给我打了电话,全璋出狱了。
他早上5点多从监狱离开,现在在济南自己的房子里。
济南的房子本来是租出去了,警察把租户赶走了,然后把全璋送到了济南的房子里。
全璋用社区工作人员的手机打的,所以只说了这几句话。他说下买了手机再跟我联系。

View image on Twitter
1,657 people are talking about this

Anh Vương cho biết tuy rằng anh đã được thả, nhà chức trách đã chuyển anh đến nơi ở cũ ở thành phố Tế Nam trong hai tuần để cách ly trong bối cảnh đại dịch virus Vũ Hán, theo vợ anh.

“Tôi nghĩ rằng (chính quyền) đã từng bước một nói dối chúng tôi”, cô Li trao đổi với hãng tin AFP. “Họ đã lấy bối cảnh dịch bệnh như một cái cớ để cách ly anh trong 14 ngày khi đáng lẽ ra anh phải được trở về nhà ở Bắc Kinh theo các hướng dẫn pháp lý liên quan”.

Quý Khải dịch & biên tập

(Nguồn ảnh thumb: ảnh chụp màn hình Youtube/NTD)

Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

Thủ tướng Anh phải nhập viện vì nhiễm virus Vũ Hán kéo dài

Thủ tướng Anh phải nhập viện vì nhiễm virus Vũ Hán kéo dài

Ông Boris Johnson, Thủ tướng Anh (ảnh: Andrew Parsons / Flickr).
Vào ngày 5/4, Thủ tướng Anh, ông Boris Johnson đã được đưa vào bệnh viện để kiểm tra sau khi ông có các triệu chứng nhiễm Covid-19 dai dẳng kéo dài đến 10 ngày kể từ khi cho kết quả dương tính với virus Vũ Hán.

“Theo lời khuyên của bác sĩ, Thủ tướng tối nay đã được đưa vào bệnh viện để kiểm tra”, văn phòng Thủ tướng Anh cho biết.

ADVERTISING

“Đây là một bước phòng ngừa, vì Thủ tướng tiếp tục có các triệu chứng nhiễm virus corona kéo dài 10 ngày sau khi xét nghiệm dương tính với virus”, văn phòng Thủ tướng cho biết.

Ông Johnson, 55 tuổi, vào ngày 27/3 đã trở thành nhà lãnh đạo đầu tiên của vương quốc Anh nhiễm virus Vũ Hán. Ông đã bị cách ly tại một căn hộ ở phố Downing và mới đây, hôm 3/4, ông tiếp tục bị cách ly do vẫn bị sốt. Tuy nhiên, văn phòng Thủ tướng cho biết, ông Johnson vẫn phụ trách chính phủ.

“Thủ tướng cảm ơn các nhân viên Dịch vụ y tế Quốc gia (NHS) vì tất cả những công việc khó khăn đáng kinh ngạc của họ và kêu gọi công chúng tiếp tục làm theo lời khuyên của chính phủ về việc ở nhà, để phòng ngừa như yêu cầu của NHS nhằm bảo vệ tính mạng”, văn phòng Thủ tướng cho biết.

Trước đó, vào ngày 4/4, cô Carrie Symonds, 32 tuổi, hôn thê đang mang thai của Thủ tướng Anh cho biết cô đã trải qua một tuần với các triệu chứng nhiễm virus Vũ Hán nhưng sau 7 ngày nghỉ ngơi đã cảm thấy khỏe hơn và hiện cô đang hồi phục.

Theo Reuters
Băng Thanh dịch và biên tập

Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

Khoảng 430.000 người đã bay từ Trung Quốc sang Mỹ sau khi Bắc Kinh công bố dịch virus Vũ Hán

Khoảng 430.000 người đã bay từ Trung Quốc sang Mỹ sau khi Bắc Kinh công bố dịch virus Vũ Hán

Ảnh minh họa (ảnh: Gary Lopater / Unsplash).
Một báo cáo mới được công bố vào ngày 4/4 cho biết, khoảng 430.000 người đã bay từ Trung Quốc đến Hoa Kỳ kể từ khi các quan chức Trung Quốc lần đầu tiên công bố thông tin về sự bùng phát của dịch viêm phổi Vũ Hán vào ngày cuối cùng của tháng 12.

Theo tờ New York Times, hầu hết các du khách này đã bay đến các sân bay ở Los Angeles, San Francisco, New York, Chicago, Seattle, Newark và Detroit vào tháng 1, trong đó có hàng ngàn người bay từ thành phố Vũ Hán thuộc tỉnh Hồ Bắc của Trung Quốc, nơi bắt nguồn dịch Covid-19.

ADVERTISING

Báo cáo không nêu số lượng du khách bay quá cảnh tại Trung Quốc để đến Hoa Kỳ.

Số lượng hành khách bay từ Trung Quốc đến Hoa Kỳ đã giảm đáng kể sau khi Tổng thống Trump ban hành lệnh cấm du lịch vào ngày 31/1, một ngày sau khi Tổ chức Y tế Thế giới tuyên bố tình trạng khẩn cấp về sức khỏe toàn cầu, đồng thời công dân nước ngoài cũng bị cấm vào Hoa Kỳ nếu họ đã đến thăm Trung Quốc trong vòng 2 tuần.

Tuy nhiên, theo phân tích của tờ New York Times dựa trên dữ liệu thu thập ở cả hai nước, ngay cả sau khi lệnh cấm có hiệu lực vào ngày 2/2, khoảng 40.000 người, đi trên 279 chuyến bay, đã đến Hoa Kỳ từ Trung Quốc. Những cá nhân này thuộc diện được miễn trừ trước lệnh cấm vì họ là công dân Mỹ, hoặc có hộ chiếu Hoa Kỳ hoặc có thẻ xanh. Ngoài ra, thân nhân của những cá nhân thuộc diện này nhưng không phải là công dân Hoa Kỳ cũng được phép vào Mỹ, một sự miễn trừ của Tổng thống để các gia đình không phải chia ly.

“Tôi nghĩ rằng chúng tôi đã hành động rất sớm, tôi cũng nghĩ rằng chúng tôi rất thông minh, vì chúng tôi đã ngăn chặn Trung Quốc. Đó có lẽ là quyết định lớn nhất mà chúng tôi đưa ra cho đến nay”, Tổng thống Trump nói trong một cuộc họp ngắn vào tuần trước về lệnh cấm du lịch đối với người đến từ Trung Quốc.

Theo Fox News
Băng Thanh dịch và biên tập

Bắc Kinh bị lên án là đã khiến thế giới chậm 2 tháng trong việc phòng chống virus Vũ Hán

Chính quyền Trung Quốc đã biết đến ca nhiễm COVID-19 đầu tiên ở Vũ Hán từ ngày 17/11/2019. Thay vì thực hiện các biện pháp ngăn chặn kịp thời, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã bưng bít thông tin và trừng phạt những người tiết lộ sự thật ra công chúng.

Ngày 31/12/2019, Bắc Kinh mới chính thức công bố sự bùng phát của virus corona chủng mới và đến ngày 23/1/2020 mới bắt đầu phong tỏa thành phố Vũ Hán. Trước khi có lệnh phong tỏa, khoảng 5 triệu người đã rời khỏi Vũ Hán, khiến dịch bệnh lây lan khắp Trung Quốc và ra toàn thế giới.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Blog at WordPress.com.