Phân Ưu của Hội Đồng Trị Sự Trung Ương về Sự Viên Tịch của Đại Lão Hòa Thượng Thích Giác Lượng

GIÁO  HỘI  PHẬT  GIÁO  HÒA  HẢO

HỘI  ĐỒNG  TRỊ  SỰ  TRUNG  ƯƠNG

PHÂN  ƯU

Nhận được tin buồn:

Ðại Lão Hòa Thượng THÍCH GIÁC LƯỢNG
Pháp Chủ Giáo Hội Phật Giáo Tăng Già Khất Sĩ Thế Giới
vừa viên tịch ngày 30 tháng 11 năm 2020 tại San Jose, California, Hoa Kỳ

Hưởng thọ 85 tuổi, Trụ Thế 86 Năm
Xuất Thế 59 Năm. Hạ Lạp 54 Năm

Thành kính Phân Ưu cùng Giáo Hội Phật Giáo Tăng Già Khất Sĩ,
HT Thích Minh Tuyên –Phó Pháp Chủ, Môn Ðồ, Pháp Quyến,
và Cầu Nguyện cho Giác Linh Ðại Lão
Hòa Thượng Thích Giác Lượng sớm tiêu diêu nơi Cõi Phật

TS Lê Phước Sang – Hội Trưởng, DB Dương Thanh Tồn – Cố Vấn Chính Sách, DB Dương Minh Quang – Đệ Nhất Phó Hội Trưởng, TS Vũ Lâm – Phó Hội Trưởng, Trần Văn Vui – Phó Hội Trưởng,  Huỳnh Văn Hiệp – Phó HT, Nguyễn Tấn Lạc – Phó HT, Nguyễn Ngọc Sỹ – Phó HT, Huyền Tâm – Chánh Thư Ký, Trần Văn Cao – UV Giáo Lý, Quan Kiều – UV Truyền Thông; Đ/T Nguyễn Văn Nam – TBT Dân Xã Đảng; và các nhân sĩ thân hữu: GS Trần Văn Chi, Nhà BKLS Phạm Trần Anh, Thi Sĩ Vũ Lang, LS Đỗ Đức Hậu, BS Đặng Trần Hào, NS Hồ Văn Sinh, HH Lam Châu, HH Huỳnh Anh, HH Kim Bông, ĐH Nhất Kim, ĐH Thiên Thanh

Categories: Sinh Hoạt của HĐTSTƯ, Tin Hải Ngoại, Tin Hoa Kỳ | Leave a comment
 
 

Thư Mời Tham Dự Đại Lễ Kỷ Niệm 75 Năm Khai Sáng Đạo PGHH

 

GIÁO  HỘI  PHẬT  GIÁO  HÒA  HẢO
HỘI  ĐỒNG  TRỊ  SỰ  TRUNG  ƯƠNG

12432 Euclid St., Garden Grove, CA 92840
Tel: 832-397-9813 *
www.tandanhoa.com

pghhlogo

THƯ  MỜI

Trân trọng kính mời

Ô/Bà: __________________________________________________

Hoan hỷ tham dự ĐẠI LỄ KỶ NIỆM 75 NĂM ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ KHAI SÁNG ĐẠO PHẬT GIÁO HÒA HẢO.

Thời gian và dịa điểm như sau:

2:00 chiều ngày 29 tháng 6, năm 2014 tại

TRỤ SỞ HỘI ĐỒNG TRỊ SỰ TRUNG ƯƠNG

Tel: 832-397-9813

12432 Euclid St., Garden Grove, CA 92840

an hoa tu2

Tổ Đình An Hòa Tự

 

CHƯƠNG TRÌNH

I.- Tiếp Đón Quan Khách: 2:00 PM

  • Quan Khách và đồng đạo đến

II.- Nghi Thức Khai Mạc: 3:00 PM

  • Chào Quốc Kỳ, Đạo Kỳ và Mặc Niệm
  • Giới thiệu thành phần tham dự
  • Diễn văn của Ban Tổ Chức

III.- Đại Lễ Kỷ Niệm: 3:30 PM

  • Nghi Thức Hành Lễ
  • Tuyên đọc Sứ Mạng Cứu Đời của
    Đức Huỳnh Giáo Chủ
  • Đọc 8 Điều Răn Cấm

IV.- Phát Biểu của Quan Khách và
Xướng Ngâm Thi Văn Giáo Lý: 4:00 PM

V.- Văn Nghệ Giúp Vui
VI.- Cảm Tạ của Ban Tổ Chức
VII.- Bế Mạc 6:00 PM

*
*     *
“Đạo pháp thường hay dung với hòa
Xét người cho tột xét thân ta
Nếu người rõ phận vui lòng thứ
Ta thứ được người người thứ ta”

Lời của Đức Huỳnh Giáo Chủ

CỐ VẤN BAN TỔ CHỨC ĐẠI LỄ

  • Cụ PHAN NHƯ TOẢN, Chủ Tịch Danh Dự Hội Đồng Giám Sát, Hội Đồng Trị Sư Trung Ương GHPGHH
  • TRẦN SINH CÁT BÌNH, Chủ Tịch Danh Dự Hội Đồng Đồng Cố Vấn Hội Đồng Trị Sự Trung Ương HGPGHH
  • LS. Đinh Thạch Bích
  • GS. Trần Văn Chi
  • Ô. Bà Hoàng Đình Từ
  • Thiền Sư Nguyên Linh
  • Ô. Bùi Văn Truyền
  • Đốc Sự HC Châu Văn Để
  • GS Lê Hữu Quế
  • Nghệ Sĩ Tuyết Nga

LIÊN LẠC:
TS Lê Phước Sang, 832-397-9813;

Lê Văn Tâm, 626-538-3409;
Trần Văn Vui, 619-278-9758;
Nguyễn Tấn Lạc, 714-332-9244;
Huỳnh Long Giang, 714-720-5271;
Đào Bích Ty, 714-726-4002;
Nguyễn Thanh Tân, 714-733-8193;
Ô. Ba Định, 714-837-4857;
Mai Bá Điển, 626-246-5121;
Phạm Diệu Chi, 714-722-8129;
Anh Hiền, 714-310-9369;
Nguyễn Bá Triết, 714-331-0937
Nguyễn Khang, 714-757-1696

Hội Đồng Trị Sự Trung Ương và Ban Tổ Chức Đại Lễ Kỷ Niệm

  • Tu Sĩ Thái Hòa, Hội Trưởng Danh Dự
  • TS Lê Phước Sang, Hội Trưởng
  • DB Dương Minh Quang, Đệ nhất Phó Hội Trưởng
  • DB Dương Thanh Tồn, Cố Vấn Chính Sách
  • Lê Văn Tâm, Phó Ban Tổ Chức
  • Trần Văn Vui, Phó Ban Tổ Chức
  • Nguyễn Cửu Long, Phó Ban Tổ Chức
  • GS Nguyễn Tấn Lạc, Phó Ban Tổ Chức
  • Bà Phạm Diệu Chi, Phó Ban Tổ Chức
  • Huỳnh Long Giang, Tổng Thư Ký
  • Ông Hồ Phi
  • Bà Nguyễn Minh Tâm
  • Ô. Trần Ngọc Châu
  • Soạn Giả Trần Văn Hương
  • Nghệ Sĩ Tuyết Nga
  • Soạn Giả Bùi Minh Đức
  • Nhạc Sĩ Ngọc Nôi
  • Ô. Bà Nghệ Sĩ Hoàng Lợi
  • Nghệ Sĩ Phi Loan
  • Ô.Bà Ba Định
  • Bà Đào Bích Ty
  • Ô. Mai Bá Điển
  • Ô. Nguyễn Thanh Tân
  • Ô. Nguyễn Văn Hiền
  • Bà Phạm Mai
  • Bác Sĩ Lê Phước Hoàng Hà

Trang mạng Tân Dân Hòa www.tandanhoa.com là cơ quan ngôn luận chính thức của Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo nhằm bảo tồn và phát huy truyền thống tín ngưỡng và văn hóa dân tộc, đồng thời cập nhật và phổ biến tin tức đấu tranh cho tự do hành đạo, cho một Việt Nam Dân Chủ Phú Cường không độc tài, không cộng sản.

Trong điều kiện hiện có, Tân Dân Hòa xin phép được góp nhặt những bài vỡ tin tức từ các nơi. Tân Dân Hòa chân thành biết ơn những tác giả những cơ quan truyền thông đã mặc nhiên rộng lượng cho Tân Dân Hòa đăng tải.

Đôi lời cùng Đồng Đạo và Độc Giả:

Xin phép được hướng dẫn quý vị khi vào trang mạng Tân Dân Hòa, hãy nhìn ngay bên trái sẽ thấy các tiết mục có chủ đề như: Lịch Sử PGHH, quý vị bấm vào đó, một loạt bài vở liên quan sẽ hiện ra. Muốn theo dõi tình hình tranh chấp biển đảo, chạy đua võ trang khí tài như tàu chiến phi cơ, hạm đội tàu ngầm của các nước Đông Nam Á Châu hoăc của các cường quốc liên hệ, thì chỉ cần bấm vào mục Biển Đông. Các mục Chính Trị Thời Sự hay Thắng Tích Cảnh Đẹp cũng bấm vào những mục đó.

Thiết tha kêu gọi:

Thay mặt Trung Ương Giáo Hội, Tổng Vụ Giáo Lý, cũng như Khối Tuyên Huấn Dân Xã, ông Hội Trưởng Tiến Sĩ Lê Phước Sang và Chánh Thư Ký Huyền Tâm Huỳnh Long Giang chân thành mong ước sự đóng góp, bài vở, tin tức, hình ảnh, phim, DVD, thi văn, và những tác phẩm nghệ thuật phù hợp tinh thần nhân văn trong sáng, phù hợp tinh thần văn minh văn hóa dân tộc của các nhân sĩ trí thức và của đồng đạo từ bốn phương gởi về.

Đăc biệt là những tư liệu kỹ năng thuyết trình Giáo Lý, những bài Pháp Luận của quý Tu Sĩ, Cư Sĩ PGHH từ Quốc Nội.

Những công tác dự kiến thực hiện:

Đại Lễ 18 tháng 5 kỹ niệm lần thứ 75 ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ Khai Sáng Đạo PGHH sẽ được tổ chức tại khuôn viên Hội Quán đường Euclid, Ngày Thành Lập Đảng Dân Xã – 21 tháng 9 cũng như Ngàỵ 25 tháng 2 là ngày Đức Thầy Thọ Nạn tại Đốc Vàng, ngoại trừ Đại Nhạc Hội Văn Nghệ gây quỷ sẽ ở địa điểm khác.

Hướng tầm nhìn về quê hương đất nước chúng tôi mong ước có một ngày trong các tỉnh Miền Tây nhất là vùng Thánh Địa thân yêu những mầm mống Giáo Lý, những tinh thần xã hội Từ Thiện được đâm chồi nảy lộc những mảnh tình sắc son được vun quén, để Xã Hội Công Bằng Đức Hạnh được lập thành, những tình nghĩa chân thật vững bền, những hương hoa tâm hồn lan tỏa khắp mọi miền quê hương đất nước. Cúi lạy ơn trên Trời Phật, Hồn Thiêng Sông Núi, anh linh của các Anh Hùng Liệt Nữ gia trì hộ độ cho tất cả chúng ta.

Email của Tiến Sĩ Lê Phước Sang: lephuocsang.pghh@gmail.com
Điện thoại: 832-397-9813

Email của Huyền Tâm Huỳnh long Giang: huyentamhh@gmail.com
Điện thoại: 714-720-5271

Categories: Hội Đồng Trị Sư, Hội Đồng Trung Ương, Sinh Hoạt Tôn Giáo | Leave a comment
 
 

Thắng-Tích các Tông-Phái TIỀN-THÂN CỦA ĐẠO PGHH

DENTHO DUC CO QUAN

DINH ĐỨC CỐ-QUẢN

DUC PHAT-TRUM

KHU DI TICH

PHỦ-THỜ

PHỦ-THỜMỘ ĐỨC PHẬT-TRÙM

MỘ ĐỨC PHẬT-TRÙM

 

Categories: THẮNG-TÍCH | Leave a comment
 
 

Những Cảnh Tuyệt Đẹp

Những cảnh Đẹp.
TTKh.


From: Thập Ngv 
Subject: Những Cảnh Tuyệt Đẹp
Những Cảnh Tuyệt Đẹp

 

Categories: Cảnh-Đẹp | Leave a comment
 
 

Chốn Bồng Lai Của Sắc Tím Hồng

Sự đa dạng sắc màu của thiên nhiên không chỉ tạo ra vẻ trẻ trung tươi mát của màu lục, vẻ hiền hòa thanh bình của màu xanh hay vẻ rực rỡ nồng nàn của màu đỏ. Sắc tím đậm chất thơ cũng khắc họa lên những bức tranh thiên nhiên đẹp như trên thiên đường hay trong truyện cổ tích.

Một màu tím ngát trải dài ở một khu vườn Nhật Bản, khung cảnh đẹp như trên thiên đường
Cực quang tím hồng – một trong những hiện tượng thiên nhiên đẹp nhất trên thế giới
Một khoảnh khắc hoàng hôn rực trong sắc tím
Một con đường đan kết bằng hoa tím, nơi tổ chức đám cưới lý tưởng cho những cặp tình nhân
Cánh đồng hoa tím trải dài đến tận chân trời
Sắc tím hồng nhạt của hoa sakura luôn được xem là nét đẹp tình tứ nhất vào mùa xuân
Với sắc tím hồng đậm, sakura vẫn khiến khung cảnh thơ mộng và diễm lệ như thế này
Một góc yên bình và vẫn đầy chất thơ
Chiếc cầu Moss Bridges tại Ireland khi trải lên tấm thảm tím hồng đẹp như chốn bồng lai
Một thác nước trong hang động ở Chattanooga, Tennessee
Thử tưởng tượng một ngày bạn được chèo thuyền thăm đảo Skye ở Scotland, bạn sẽ choáng ngợp trong sắc tím hùng vĩ này
Một góc nên thơ khác ở xứ sở Phù Tang
Con đường trải hoa tím hồng đi vào xứ sở thần tiên
Màu tím hoa Fuji ở Nhật Bản đẹp đến mức làm xao lòng du khách
Màu tím nhẹ phủ lên trên ngôi nhà và chiếc cầu, tạo ra một khung cảnh chỉ có trong cổ tich
Categories: Uncategorized | Leave a comment
 
 

Tâm Thư của Hội Đồng Trị Sự Trung Ương và Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng

GIÁO  HỘI  PHẬT  GIÁO  HÒA  HẢO

Hội Đồng Trị Sự Trung Ương và
Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng

Tâm Thư

Phật Giáo Hòa Hảo đã được khai sáng như một tôn giáo đặc biệt phù hợp với văn hóa dân tộc của người Việt. Cho đến nay Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo ở trong nước cũng như hải ngoại đã trải qua biết bao khổ nạn và thăng trầm theo vận nước. Cùng với Giáo Hội, Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng cũng truân chuyên theo dòng lịch sử đấu tranh đầy oan khiên của dân tộc.

Năm nay, Phật Giáo Hòa Hảo tại hải ngoại qua Hội Đồng Trị Sự Trung Ương và Dân Xã Đảng lại tổ chức Đại Lễ Kỷ Niệm Ngày Khai Sáng Đạo Phật Giáo Hòa Hảo năm thứ 73 như thường lệ nhưng với một nỗi niềm nặng trữu vì tình hình đạo sự trong nước vẫn còn tối tăm và nhân tâm tại hải ngoại thì rối bời ly tán với sự phân hóa vẫn còn trầm trọng giữa những người đồng đạo, đồng chiến tuyến.

Đức Huỳnh Giáo Chủ, khi khai sáng Đạo Phật Giáo Hòa Hảo đã đồng thời lập ra Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng để tạo môi trường cho tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo có thể thực hành nhiệm vụ công dân đền đáp Ân Quốc Gia, một trong Tứ Ân của Phật Giáo Hòa Hảo. Dân Xã Đảng đã đóng một vai trò rất quan trọng trong sinh hoạt chánh trị của quốc gia trong giai đoạn đấu tranh giành độc lập, đấu tranh chống cộng sản và đấu tranh xây dựng hai nền cộng hòa tại miền Nam Việt Nam. Sau năm 1975, hoạt động của Dân Xã Đảng cũng không tránh khỏi những khó khăn và cực kỳ gian nan từ trong nước ra đến hải ngoại.

Ở trong nước, sau 37 năm nắm toàn quyền cai trị đất nước, Cộng Sản Việt Nam vẫn tiếp tục cai trị 90 triệu đồng bào bằng guồng máy độc tài bạo lực, liên tục đàn áp khủng bố nhân dân, tước đoạt quyền sống của mọi người, cố bám víu vào chủ nghiã cộng sản vô thần, cố gắng thực hiện chủ trương “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghiã” què quặt nhằm mục đích đục khoét tài nguyên quốc gia, vơ vét của cải cho bè đảng, làm giàu trên xương máu của nhân dân. Quốc gia Việt Nam ngày càng lâm vào tình trạng suy tàn cạn kiệt, kinh tế khủng hoảng, pháp luật bất công, giáo dục xuống cấp, an sinh xã hội tồi tệ, y tế kém cỏi, cờ bạc đĩ điếm nghiện ngập tràn lan, an ninh quốc phòng suy yếu, văn hóa dân tộc và đạo đức con người băng hoại trầm trọng, xã hội Việt Nam gần như bên bờ vực thẳm.

Tại hải ngoại, tập thể người Việt quốc gia đã phải nỗ lực rất nhiều để xây dựng lại cuộc sống, tồn tại, vươn lên và hội nhập vào xã hội mới nhưng cũng không quên hướng về quê mẹ Việt Nam hậu thuẫn hay tham gia công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền của đồng bào ruột thịt trong nước.  Nhưng suốt 37 năm qua cuộc tranh đấu cho dân chủ, tự do, nhân quyền của tập thể người Việt quốc gia đã chưa thể thành công vì tình trạng ly tán, xa cách, bời rời, tan nát, phân hóa, chia rẽ, chống báng, công kích lẫn nhau vẫn còn qúa trầm trọng khiến cho tiềm lực đấu tranh và sức mạnh lớn lao của tập thể người Việt quốc gia tại hải ngoại đã không thể được vận dụng hữu hiệu vào công cuộc đấu tranh.

Tuy nhiên, vẫn còn có rất nhiều tổ chức đấu tranh, nhiều vị lãnh đạo các đảng phái, của Dân Xã Đảng, của các tôn giáo, của Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo tha thiết với đạo pháp, với tôn giáo, với đồng đạo tại quê nhà và vận mạng chính trị của quốc gia trước sự cai trị bạo tàn của Cộng Sản Việt Nam.

Trong dịp Đại Lễ Kỷ Niệm Ngày Khai Sáng Đạo Phật Giáo Hòa Hảo năm nay, Hội Đồng Trị Sự Trung Ương  Phật Giáo Hòa Hảo và Dân Xã Đảng xin mạo muội gửi bức Tâm Thư này đến tất cả chư liệt vị lãnh đạo các tổ chức đoàn thể đấu tranh, các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, các vị lãnh đạo các tổ chức đoàn thể hội đoàn khác cùng toàn thể quí vị đồng hương đồng bào với Lời Khẩn Cầu đưới đây để tham khảo và kêu gọi sự đồng thuận:

1.- Tập thể người Việt quốc gia chúng ta hãy sáng suốt đặt quyền lợi quốc gia và dân tộc lên trên hết, quyết tâm một lòng một dạ tham gia các sinh hoạt đấu tranh cho dân chủ, tự do, nhân quyền ở Việt Nam.

2.- Mọi người trong tập thể người Việt quốc gia hãy tỉnh giấc, ra khỏi tình trạng tiêu cực thụ động, vận động, khuyến khích lẫn nhau và tham gia tích cực vào các sinh hoạt đấu tranh chánh trị trên.

3.- Nhằm mục đích Xây Dựng Lại Niềm Tin, gầy dựng lại Tinh Thần Hợp Tác Hài Hòa, sự Đồng Tâm Nhất Trí làm nền tảng cho công cuộc xây dựng Khối Đại Đoàn Kết Dân Tộc, chúng ta sẽ cùng nhau phát động Phong Trào Khuyến Khích Các Cuộc Trao Đổi/Đối Thoại giữa các tổ chức đoàn thể để thông cảm, thấu hiểu và chấp nhận sự khác biệt, đồng thời tìm những điểm đồng thuận ngõ hầu tạo điều kiện cho sự Hợp Tác Hài Hòa, Bao Dung, Nhất Trí, Đồng Tâm trong Tinh Thần Đoàn Kết .

4.- Phát động Phong Trào Chấm Dứt hay Tránh Các Hành Vi Tiêu Cực như Lên Án và Chấm Dứt Sự Chống Báng, Công Kích, Chụp Mũ, Bôi Bẩn, Xuyên Tạc, Nói Xấu … giữa mọi thành phần trong tập thể người Việt quốc gia, đã làm cho Đại Khối Người Việt Tị Nạn rơi vào tình trạng chia rẽ, phân hóa, tan nát, rời rạc, chán nản, bi quan bao nhiêu năm qua.

5.- Tại mỗi địa phương tập trung đông đảo người Việt tị nạn, thành lập một Nhóm Làm Việc Nồng Cốt ( Strategy Working Group) có khả năng và thực lực gồm đông đảo các thành viên đại diện cho các tổ chức đoàn thể đấu tranh có cán bộ, các tôn giáo, các hội đoàn nghề nghiệp, các hội ái hữu đồng hương, các tổ chức cộng đồng… Nhóm Làm Việc Nồng Cốt này sẽ thường xuyên họp mỗi tháng ít nhất một lần để vừa có điều kiện thắt chặt mối thân tình vừa bàn thảo và quyết định những vấn đề chung cùng quan tâm tại địa phương, tại tiều bang hay quốc gia cũng như những vấn đề lớn lao hơn của tập thể người Việt quốc gia tại hải ngoại hay những vấn đề của đồng bào trong nước.

Tình hình chính trị quốc tế đang có những dấu hiệu thuận lợi cho công cuộc vận động đấu tranh của tập thể người Việt quốc gia chúng ta. Tình hình chính trị tại Việt Nam và phe Xã Hội Chủ Nghiã còn xót lại đang cho thấy những khó khăn ngày càng chồng chất và nguy cơ xụp đổ. Nhưng chúng ta không thể không chuẩn bị cho thời kỳ hậu cộng sản đang ngày càng rõ nét và xác định cho mình một vị trí thích đáng, một vai trò tích cực khi tình hình đòi hỏi.

Thay mặt Hội Đồng Trị Sự Trung Ương và Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng chúng tôi thiết tha kêu gọi sự đồng thuận ký tên vào Lời Khẩn Cầu này của qúi vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, qúi vị lãnh đạo các tổ chức đoàn thể đấu tranh, toàn thề quí vị thân hào nhân sĩ, củng đông đảo quí vị đồng hương đồng bào. Chúng tôi mong rằng sẽ được sự đáp ứng nồng nhiệt của quí vị và nguyện sẽ sát cánh cùng toàn thể quí vị để chính thức đưa ra Lời Khẩn Cầu sau này và đẩy mạnh công tác vận động và phát động các Phong Trào nói trên.

Chúng tôi cũng rất mong quí vị quang lâm tham dự Đại Lễ Khai Sáng Đạo Phật Giáo Hòa Hảo năm thứ 73, ngày 29 tháng 7, năm 2012 tại Hội Trường Trung Tâm Văn Lang, đường Moran, TP Westminster, Orange County, CA 92683 để chúng tôi được lắng nghe thêm các cao kiến.

Little Sàigòn, ngày 29 tháng 5, năm 2012

Trân trọng

Categories: Hội Đồng Trị Sư, Sinh Hoạt Tôn Giáo, Tin Hải Ngoại | Leave a comment
 
 

Chào Mừng

Thưa Quý Đồng đạo, Thân hữu và Đồng hương,

Nhằm mục đích phát huy Chánh pháp của Đức Phật Thích Ca đã truyền lại và đươc phổ truyền trong Giáo lý Phật Giáo Hòa Hảo do Đức Huỳnh Giáo Chủ đã dày công hoằng pháp từ ngày 18/5 năm Kỷ-Mão (1939), trang nhà Tân Dân Hòa hân hoan ra mắt quý đồng đạo và thân-hữu.

Đây là nơi mà quý đồng đạo, thân hữu, đồng hương có thể tìm thấy các tin tức, tài liêu về triết lý và đạo pháp của Phât Giáo Hòa Hảo, sinh hoạt của các Ban Trị Sự Địa Phương và Hội Đồng Trị Sự Trung Ương của Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo và cũng là nơi để trao đổi những tin tức liên quan đến giáo sự và tạo sự liên lạc dễ dàng khi cần thiết.

Với lập trường Quốc Gia Dân Tộc, chúng tôi luôn nêu cao ngọn cờ Chánh nghĩa: Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền cho đồng bào và nhân loại,  cương quyết chống lại độc tài dưới bất cứ hình thức nào và nhất là không chấp nhận chủ thuyết vô thần, phi nhân, phi đạo đức.

Với tôn chỉ: phụng sự đạo pháp, giáo hội và quốc gia dân tôc, chúng tôi nhứt tâm nghiêm chỉnh tuân hành ý chỉ cao thương của Đức Giáo Chủ để cho Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo ngày càng vững mạnh, xứng đáng là một trong những tôn giáo sáng danh trên thế giới, dẫn dắt chúng sanh tiến đến cõi đại đồng, thoát khỏi bến mê như lời Đức Huỳnh Giáo Chủ mong ước:

                           Ước-mơ thế-giới lân Hòa-Hảo,

                          Nhà Phật con Tiên hé miệng cười.

Rất mong được sự đóng góp tiếp tay của quý đồng đạo và thân hữu để trang nhà Phật Giáo Hòa Hảo luôn là tiếng nói chung của người tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo khắp nơi.

         Trân-trọng cám ơn và kính chào quý vị,

Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Giáo Hội Phât Giáo Hòa Hảo

Categories: Tổng Quát | 1 Comment
 
 

Thân Thế Đức Huynh Giáo Chủ

Đức Huỳnh Giáo Chủ

 

Sanh trưởng:

– Đức Huỳnh Giáo Chủ, tên tộc là Huỳnh Phú Sổ, sanh tại làng Hòa Hảo một thôn nằm trên Bắc ngạn sông Vàm Nao, thuộc Quận Tân Châu, Tỉnh Châu Đốc, ngày 25 tháng 11 năm Kỷ Mùi, tính ra nhằm ngày 15 tháng giêng năm 1919.

Thân sanh của Ngài là Đức Ông Huỳnh Công Bộ, lúc bấy giờ làm Hương Cả làng Hòa Hảo. Thân mẫu của Ngài là Đức Bà Lê Thị Nhậm. Đức Ông có hai đời vợ, đời vợ trước sanh được hai gái, hiện nay người chị thứ hai còn sống góa chồng, còn người em thì đã chết. Khi bà lớn mất, Đức Ông tục huyền với bà Lê Thị Nhậm và sanh được ba người con :

Con đầu là Đức Huỳnh Giáo Chủ. Con thứ là Huỳnh Thị Kim Biên. Con út là Huỳnh Thị Mậu. Cô Huỳnh Thị Kim Biên, nay là Bà Lâm Đồng Thanh, còn cậu Huỳnh Thạnh Mậu thì đã bị V.M giết năm 1945, vì đã tham gia cuộc biểu tình chống độc tài Cộng Sản, do anh em tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo tổ chức tại Cần Thơ ngày mồng 3 tháng 8 năm Ất Dậu, nhằm ngày 8-9-1945.

Ngày 2 tháng 9 năm Ất Dậu chúng đem cậu ra hành quyết, cùng một lúc với :
Trần Văn Hoành con của Trần Văn Soái, Nguyễn Xuân Thiếp tức thi sĩ Việt Châu.
Hiện nay tại sân vận động cũ, anh em tín đồ có xây mộ bốn liệt sĩ Hòa Hảo ( trong đó có một ngôi mộ vô danh) và cất miếu thờ, hằng năm đều có làm lễ kỷ niệm vào ngày mồng 2 tháng 9 âm lịch.

Đức Huỳnh Giáo Chủ thường được gọi là Thầy tư Hòa Hảo hay tôn xưng Đức Huỳnh Giáo Chủ còn tín đồ thì gọi Ngài là Thầy hay Đức Thầy, và nền đạo của Ngài khai sáng được mang danh là Phật Giáo Hòa Hảo, một tông phái đạo Phật thành lập tại làng. Từ trước đến nay, việc lấy địa danh làm tông danh là điều thường thấy trong đạo Phật. Như Phái Thiên Thai Tông bên Trung Hoa sở dĩ thành danh là vì xây dựng già lam trên núi Thiên Thai cũng như phái Trúc Lâm Yên Tử ở nước Việt Nam chúng ta được thành danh cũng do Ngài Điều Ngự Giác Hoàng tức vua Trần Nhân Tông khai sáng một Thiền phái Việt Nam trên núi Yên Tử, Tỉnh Quảng Yên.

Tánh tình: –
Ngay từ khi còn bé, Ngài đã tỏ ra hơn người trong mọi phương diện. Tánh Ngài điềm đạm, ít chịu trửng giỡn cợt đùa, thường tìm nơi thanh vắng ngồi trầm tư mặc tưởng. Ngài không thích đờn ca xướng hát ; vì thế những chỗ hội hè đình đám, những nơi tụ hợp đông người, Ngài luôn luôn xa lánh .

Từ lúc bé bỏng, Ngài đã có tánh hiếu sanh, không chịu bắt bướm, chuồn chuồn hay bắt dế để chọi nhau chơi. Những thú vui như đá cá thia thia, đá gà, những thú vui có ý sát hại, hay làm tổn thương thì Ngài không thích. Có lần Ngài ra ruộng, gặp con cóc, Ngài la lên nhưng đến khi các trẻ khác bu lại kiếm bắt thì Ngài lấy chơn đè lấy con cóc cho mọi người không nhìn thấy. Đến khi chúng bạn tản ra, Ngài mới lấy chơn lên cho con cóc thoát nạn. Lòng hiếu sanh của Ngài đã biểu lộ qua nhiều cử chỉ nhơn từ thương xót các loài vật.

Ngài có tánh cả thẹn đối với phụ nữ. Khi đến tuổi trưởng thành, hễ ai đề cập đến vấn đề hôn nhơn là bị Ngài phản đối ngay. Ngài thường tuyên bố: thích sống độc thân để được tự do hoạt động.

Học lực:
– Từ khi cập sách đến trường, Ngài đã tỏ ra xuất sắc hơn chúng bạn. Ban sơ, Đức Ông cho Ngài học các lớp sơ đẳng tại trường Hòa Hảo lúc bấy giờ tạm lấy nhà Công sở trước đình thần làm trường sở. Năm 1950, Công sở bị dở: nay là thư viện Hòa Hảo. Cứ như được biết niên học năm 1927-1928, Ngài đã học với ông Giáo Phan Văn Khoái.
Sau khi học hết các lớp sơ đẳng ở Hòa Hảo, Đức Ông cho Ngài tiếp tục học tại trường Tiểu học bổ túc Tân Châu với ông giáo Lê Văn Tám dạy lớp nhì, năm thứ nhất ( Cours Moyen I). Trong lúc ấy, Ngài ở trọ nhà ông Huỳnh Văn Sánh, thợ bạc ở Tân Châu. Sau khi đậu bằng Tiểu học (Certificat dEtudes élémentaires), Ngài phải thôi học vì bịnh hoạn, mặc dầu Đức Ông đủ sức cho Ngài tiếp tục học thêm nữa.

Sức Khỏe:
– Thật ra thì lúc nào Ngài cũng đau ốm luôn, không mấy khi được khỏe mạnh. Lâu lâu lại phát lên cơn sốt rét dữ dội, vì vậy mà Ngài xanh xao ẻo lả, có lúc mất ăn mất ngủ nhiều ngày, xem chừng bịnh tình trầm trọng lắm, có thể chết được.

Đức Ông Đức Bà hết sức lo buồn, hằng kiếm thầy chữa trị mà bịnh vẫn không thấy thuyên giảm. Ban đầu còn chạy chữa ở những thầy thuốc Bắc thuốc Nam trong làng mà không hết, trái lại bịnh trạng thì xem khác thường khi mạnh khi yếu khiến mọi người nghi là mắc bịnh tà và nghĩ đến cách chữa trị bằng pháp thuật bùa ngải.

Nghe đồn ở núi Trà Sư có ông Thầy Xom hay Đạo Xom, tục danh là Lê Hồng Nhật một tu sĩ nổi tiếng giỏi pháp thuật, đã từng chữa mạnh nhiều bịnh bằng bùa ngải. Đức Ông bèn cho chở Ngài đến nhưng rốt cuộc cũng không thấy hiệu quả.

Ngoài ra, Đức Ông còn đưa Ngài xuống ông Bảy Còn ở chợ Cà Mau thôn Long Kiến nhờ chữa trị. Ông Bảy là cháu nội của ông ĐạoThắng một cao đệ của Đức Phật Thầy Tây An và đã được truyền nhiều diệu pháp để cứu dân độ thế. Ông Đạo Thắng truyền lại cho thân phụ ông Bảy và ông này truyền trao lại cho ông Bảy tiếp tục nghiệp ông cha.Ông Bảy vốn là người thân thuộc của Đức Ông nên Đức Ông rất tin cậy, đưa Ngài đến nhờ chữa trị. Ban đầu thấy có mòi thuyên giảm nhưng về sau bịnh vẫn không thấy gì thay đổi.

Nghe đồn ở Mặc Cần Dưng có ông Lục Cả chữa bịnh tà rất hay, Đức Ông cũng lo chở Ngài đến nhờ chữa trị, nhưng bịnh Ngài không khác gì giả ngộ, mới thấy nguy kịch đó, lại liền thấy mạnh khỏe.

Như lần chở Ngài đi, sau bảy ngày bỏ ăn bỏ ngủ, tưởng là nguy kịch lắm, chẳng ngờ lúc đi ghe, Ngài lấy cơm nguội ra ăn hết hai tô lại uống thêm hai tô nước sông. Phàm người bỏ ăn năm bảy ngày, muốn ăn lại phải cho uống nước cháo rồi lần lần cho ăn cháo lỏng, dạ dày mới chịu nổi. Vậy mà Ngài vẫn khỏe như người thường và không thấy sao cả.
Lúc bấy giờ lại có tin đồn bếp Ngoan, tục danh là Lê Minh Chiếu, ở Chợ Vàm một tay lão luyện về bùa Ngải của Miên và Xiêm, từng học với Thầy ngải ở Tà Lơn và chữa lành các bịnh bị thư, bị ngải hay mắc bịnh tà. Trong lúc bức ngặt, Đức Ông cho chở Ngài lên Chợ Vàm, nhưng bếp Ngoan chữa cũng trơ trơ.

Điều đáng lo ngại nhứtt là mấy lúc sau nầy, Ngài lại vướn thêm bịnh huợt tinh khá trầm trọng. Do chứng bịnh nầy mà Ngài trở nên xanh xao vàng vọt, con người tiều tụy, không còn thiết gì đến việc học hành. Về sau Ngài có thổ lộ cho một tín đồ ở Bạc Liêu biết: đó là ơn trên định dọn phần xác tinh khiết, chẳng khác nào sút ve cho sạch trước khi đựng lấy nước trong.

Ra làm bịnh:
– Bắt đầu từ năm Kỷ Mão, năm Ngài được 21 tuổi, sau khi thôi học về nhà, Ngài thường tỏ ra nhiều cử chỉ kỳ lạ, khi thì nằm thim thíp, bỏ ăn bỏ ngủ, lúc thì mạnh mẽ như người không bịnh, đi đứng như thường, nói năng hoạt bát.

Đức Ông cũng như bao nhiêu người khác, đều cho Ngài có tà ma quỉ quái chi dựa vào nên mới có trạng thái khác thường như vậy.

Mặc dầu, Đức Ông lo chữa chạy cho Ngài tận tình, nhưng Ngài thì cứ nói rằng không có bịnh chi cả, vì nể Đức Ông nên mới đi chạy thầy chạy thuốc như vậy.
Một hôm, Ngài đi lên đầu trên xóm dưới truyền rao: nếu ai có mắc bịnh chi, cứ đem lại cho Ngài chữa trị cho.Thấy vậy Đức Ông bĩu môi: Bịnh mình chề ề như vậy mà không lo, còn đòi đi chữa bịnh người ta.

Ban đầu không ai tin Ngài có thể chữa bịnh, nhưng có một vài bịnh ngặt nghèo, kể như hết phương cứu chữa, nghe Ngài nói chữa được nên cũng liều đem đến, may ra có phép Tiên phép Phật gì chăng. Vả lại, Ngài không có làm chi nguy đến tánh mạng con bịnh, hơn nữa phương pháp của Ngài dùng để chữa hay thuốc thang của Ngài cho uống không có gì nguy hiểm. Vì vậy mà người ta đánh liều chở bịnh đến nhờ Ngài cứu chữa. Nhưng lạ lùng thay, bịnh nào Ngài chịu chữa cũng đều được mạnh lành, mặc dầu đã tốn bao nhiêu tiền của và thuốc men.

Do cách chữa trị huyền diệu ấy mà tiếng đồn lan rộng ra. Nhứt là từ ngày Ngài chữa bịnh cho con gái của ông Hương chủ Hùng ở Hưng Nhơn mắc bịnh trùng, thập tử nhứt sanh, đã chạy chữa đủ thầy pháp thầy bùa trong vùng mà không hết. Nghe Ngài chữa bịnh bằng phương pháp huyền diệu nên chở ra nhờ Ngài chữa trị.

Ngài dùng nước rải vào mặt bịnh nhân khiết bất tỉnh, ngất xỉu. Ngài bỏ đó, thân nhân lấy làm lo ngại, nhưng Ngài bảo khiêng vào nhà sau, đợi đến giờ Tý, Ngài sẽ chữa cho. Quả nhiên khi đến giờ, Ngài đem một chén nước lã bảo cạy miệng ra đổ. Trong chốc lát, cô ấy tỉnh lại rồi mạnh luôn và từ đó gia đình của Hương chủ Hùng không còn lo ngại về bịnh trùng nữa.Bắt đầu từ khi chữa dứt bịnh trùng cho gia đình ông Hương chủ Hùng, tiếng tăm của Ngài vang dậy khắp nơi. Chừng đó ngày nào người ta cũng nườm nượp chở bịnh đến, nhứt là các bịnh điên hay bịnh tà, xưa nay có tiếng là hung dữ không ai chữa nổi, nay chở đến chật nhà chật cửa.

Lúc bấy giờ nhà Đức Ông chật nức, nào bịnh nhơn, nào những người hiếu kỳ đến xem chữa bịnh, chen nhau không còn chổ trống.Có nhiều con bịnh hết sức hung tợn, ở nhà la ó hay hành hung không ai dámlại gần, phải dùng thế bắt trói mới đem đi được. Thế mà khi đến Ngài, Ngài bảo lấy dây chuối cột tay dẫn lên, bịnh nhơn riu ríu đi theo không chống cự. Cũng có con bịnh chưa chịu phép, còn la ó hay múa tay múa chơn, Ngài rút chiếc khăn quăng ra và hét: Chư Thần đâu . . . để vậy sau ? hét vừa dứt tiếng thì bịnh nhơn chạy đến chụp lấy chiếc khăn quấn vào tay, càng siết chặt hai tay lại, vừa khóc lóc van lơn xin Ngài tha thứ.

Ngài nói: Nếu biết ăn năn thì hãy xuất ra, người ta có vợ có chồng rồi, đừng có xen vào phá gia cang người ta. Hãy hứa không còn phá nữa, ta mới dung thứ.
Con bịnh khóc lóc hứa từ nay không còn dám phá nữa. Ngài bảo mở trói, con bịnh tự tháo chiếc khăn ra. Ngài dạy lại lễ Phật, cho uống một chén nước lã rồi ra về.

Ngoài bịnh trùng, bịnh điên, Ngài còn chữa nhiều thứ bịnh khác nữa, như dịch tả, phung đơn, nhứt là cai thuốc phiện, bỏ rượu một cách tài tình.
Phương pháp chữa trị của Ngài hết sức giản dị, Ngài cho uống nước lã, hoặc giấy vàng hay giấy nhựt báo xé nhỏ ra. Về phương dược thì các thứ lá cây như: lá xoài, lá ổi, lá mít . . ., các thứ bông như: bông trang, bông thọ. Còn về niệt để đeo thì dùng chỉ trắng se lại, có khi không có chỉ thì dùng dây chuối, dây bố . . .

Chỉ có bấy nhiêu dược liệu, hết sức giản dị, không tốn tiền mà bịnh nào uống vào cũng khỏi. Lạ nhứt là những người ghiền á phiện hay ghiền rượu, chỉ uống nước lã mà bỏ rượu bỏ á phiện cái một, không hành phạt chi chi cả.

Ngoài ra Ngài cũng có cho toa thuốc Bắc, ai có mắc bịnh, cứ theo đó bổ về sắc uống: mười bịnh hết mười, khỏi phải đem đến Ngài chữa trị. Những phương thuốc còn ghi chép trong quyển Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ . Đến ngày nay nhiều người mắc bịnh đã theo toa thuốc ấy hốt về uống vẫn thấy hiệu nghiệm như một thứ thuốc tiên.

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo, Đức Huỳnh Giáo Chủ | Leave a comment
 
 

Giai đoạn hoạt động đấu tranh: Vận Động Độc Lập

Đức Huỳnh Giáo Chủ

_____________________________________________

Ngay khi Nhựt đảo chánh Pháp ngày 9-3-1945 chánh quyền Nhựt lên thay thế chánh quyền Pháp, các đảng phái tự do hoạt động, Đức Huỳnh Giáo Chủ, để ứng phó với tình thế mới, bèn đưa ra một tổ chức đấu tranh lấy tên là Việt Nam Độc Lập Vận Động Hội.

ĐỘC LẬP VẬN ĐỘNG. – Đứng trước việc thay đổi đột ngột tình hình nước nhà, có hai việc khẩn cấp cần phải làm: một là ngăn chận mọi sự trả thù trong dân chúng ; hai là phải tổ chức hàng ngũ đấu tranh.

1. Ngăn chận các cuộc trả thù. – Trong thời kỳ Pháp thuộc, bọn thực dân thi hành một chánh sách hết sức hà khắc đối với nhân dân, nhứt là những phần tử yêu nước. Phụ họa theo bọn tham tàn cướp nước, còn có một đám tay sai, đành cam tâm làm tôi tớ cho ngoại địch vì một chút lợi danh, đem thân làm những việc bỉ ổi, sâu dân mọt nước, giết hại đồng bào. Đó là những hạng cường hào ác bá trong hương thôn và đám chó săn chìm mồi ngoài thành thị.

Ỷ lại thế lực thực dân che chở, chúng đã gây nên bao nhiêu tội lỗi trong nhân dân, kết thành thù oán, nhỏ nhặt thì là thù oán cá nhân, lớn hơn thì là thù oán giữa tộc họ làng nước.

Một khi cơ cấu đàn áp bị phá vở, đương nhiên sức đối kháng sẽ chỗi dậy. Để thỏa mãn thù oán cá nhân, nhiều cuộc giết hại, thanh toán đã xãy ra.

Để ngăn chận mọi hành động trả thù riêng, như đốt phá nhà cửa, hoặc trộm cướp, sát nhân, làm rối trật tự, có hại cho sự kiến thiết “quốc gia”, Đức Huỳnh Giáo Chủ đã tha  thiết kêu gọi lòng “từ bi bác ái, dĩ đức háo sanh khoan hồng đại độ” đối với hạng người lầm đường lạc lối, gây nên lắm tội tình, và đồng thời khuyên tất cả đồng bào muốn tỏ ra xứng đáng là “ Một người dân một nước tự do”  thì hãy quên hết những mối thù hềm ganh ghét, đừng bày ra cái họa nồi da xáo thịt khiến cho ngoại nhân khinh bỉ một dân tộc như dân tộc Việt Nam ta đã cónhiều tấm lòng nhân hậu và những trang lịch sử vẽ vang”.

Lời kêu gọi ấy đã cứu được bao nhiêu giọt máu đổ ra, chẳng những giữa đồng bào với đồng bào mà còn giữa đồng bào với ngoại chủng, chẳng phụ lời kêu gọi tha thiết đầy lòng đạo đức từ bi của Ngài : “Trước kia chúng nó hà khắc ta, chúng đã đành  ; ngày nay ta hà khắc lại, sao đành. Vì lòng chúng nó đầy sự hung tàn, còn lòng ta lại đầy nhân ái”.

2. Đoàn kết và tổ chức. – Hành động thứ hai của Ngài là đồng thời với sự ngăn chận mọi cuộc trả thù còn phải thực hiện cho được sự đoàn kết giữa các giới đồng bào để tranh đấu cho sự độc lập nước nhà.

Để thực hiện cuộc đoàn kết ấy, Ngài cho ra đời một tổ chức mệnh danh là Việt Nam Độc Lập Vận Động Hội, kêu gọi các từng lớp nhân dân thuộc thành phần ; trí thức Việt Nam, các bạn thanh niên, các nhà thương mãi, nông gia, thợ thuyền, các cụ đồ nho, các nhà sư hãy cùng nhau đoàn kết thành một lực lượng vận động cho cuộc độc lập quốc gia.

Trong bảng hiệu triệu, Ngài có viết :

“Gần ngót trăm năm nay đồng bào trải biết bao cay đắng, lớp kẻ thù giày đạp, lớp quan lại tham ô, vì thế nên người dân Việt Nam gánh vác biết bao nhiêu sưu thuế nặng nề. Kẻ thù đã lợi dụng chánh sách ngu dân để nhồi sọ quần chúng, gây mầm chia rẽ Bắc, Nam, Trung, phá rối sự đoàn kết, hầu mong cho cuộc đô hộ được vĩnh viễn trên giải non sông đất nước mà Tổ Tiên ta phải biết bao máu đào mới gầy dựng được.

“Vả lại từ trước cho đến nay các bực anh hùng, các nhà chiến sĩ khắp ba kỳ đã bao phen vùng vẫy chống lại quân thù mong gầy dựng lại nền Độc lập cho quê hương đất Việt”.
“Nhưng than ôi ! chỉ vì thiếu khí giới tối tân, chỉ vì sơ đường luyện tập mà giọt máu anh hùng đành hòa với bao nhiêu giọt lệ, khóc phút sa cơ, để lại cho người đồng thời và cho đoàn hậu thế muôn vàn tiếc thương ân hận”.

Rồi Ngài kêu gọi :

“Hỡi đồng bào Việt Nam !”
“Chúng ta đã bước và đang bước đến một khúc nghiêm trọng trên lịch sử. Giờ đây ta đã có thêm nhiều đặc quyền lo lắng đến cái giang san gấm vóc của Tổ Tiên ta di truyền lại.
“Vận động cuộc Độc Lập !
“Vận động cuộc Độc lập !
“Phải ! Toàn quốc phải liên hiệp vận động cho cuộc Độc lập. Đấy là cái chủ trương duy nhứt của Việt Nam Độc Lập Vận Động Hội”.

Sau ngày đảo chánh 9-3-1945, mọi giới đồng bào, nhứt là các nhà trí thức đều tỏ vẻ lạc quan, tin chắc theo lời hứa hẹn của quân đội Nhựt, nước Việt Nam sẽ tuyên bố hoàn toàn độc lập, hủy bỏ tất cả hòa ước đã ký với Pháp, nhứt là có chánh phủ Trần Trọng Kim là một chánh phủ của một quốc gia độc lập thì còn gì phải vận động nữa, như Đức Huỳnh Giáo Chủ đã chủ trương.

Trong một cuộc lễ mừng ngày độc lập, tổ chức tại vườn Ông Thượng tức vườn Tao Đàn, nhiều chánh khách lấy làm lạ sao Đức Thầy còn đưa ra lời Hiệu triệu kêu gọi đồng bào các giới tham gia Việt Nam Độc Lập Vận Động Hội để cùng nhau “vận động cuộc độc lập” cho quốc gia thì Ngài có cho biết rằng : Việt Nam chúng ta chưa độc lập đâu. Cần phải tích cực vận động mới mong thực hiện được.

Lời nói của Ngài quả thật không sai. Cuộc chiến tranh dai dẳng kéo dài một phần tư thế kỷ, gieo tang tóc cho đất nước, đau khổ cho đồng bào, đủ xác nhận lời nói của Đức Huỳnh Giáo Chủ là lời tiên tri, biết trước thời cuộc.

ĐI KINH LÝ. – Sau cuộc đảo chánh ngày 9-3-1945, tình hình trở nên bất ổn ở các tỉnh do sự thay đổi đột ngột chánh quyền từ tay người Pháp qua tay người Việt. Nhiều nơi dân chúng chống lại viên quan người Việt mới nhậm chức, vì lẽ quan ấy đã gây lắm tội tình trong thời kỳ Pháp thuộc. Có nơi, bộ máy an ninh sụp đổ vì các viên chức Pháp bị bắt cầm tù, nên xảy ra lắm trò cướp bóc, giết người vì thù oán cá nhân.

Nhà binh Nhựt bèn yêu cầu Đức Thầy về các tỉnh miền Tây để trấn an dân chúng cùng xếp đặt việc trị lý cho có qui mô, bởi chúng biết ảnh hưởng của Ngài ở Hậu Giang và chỉ có Ngài mới đủ uy tín dàn xếp.

Ngài nhận thấy cũng là cơ hội cho Ngài thăm anh em tín đồ nhứt là Thánh Địa Hòa Hảo, Đức Ông Đức Bà đã xa cách tính ra gần sáu năm, và cũng là dịp cho Ngài  soát lại cơ cấu  của nền Đạo hầu chấn chỉnh lại cho phù hạp lại với sự đổi mới của đất nước.

Ngài khởi hành hồi 2 giờ rưỡi chiều ngày mồng 9 tháng 2 năm Ất Dậu, nhằm ngày 22-3-1945. Sau đây là lộ trình của cuộc kinh lý :

Ngày 9-2 Ất Dậu rời Sàigòn, ghé Mỹ Tho, Cái Lậy, Vĩnh Long và đến Cần Thơ. Ngài ở đây ba hôm mới đi Long Xuyên.

Ngày 13-2 Ất Dậu (nhằm ngày 26-3-1945) đến Long Xuyên và nghỉ ở đây một đêm.

Sáng ngày 14-2 Ất Dậu (nhằm 27-3-1945) đi Châu Đốc và ở đây một đêm.

Sáng ngày 15-2 Ất Dậu (28-3-1945) về Hòa Hảo thăm thân sinh và ở đây một ngày.

Ngày 16-2 Ất Dậu (29-3-1945) đi Long Xuyên và ở đấy 2 ngày.

Sáng ngày 19-2 Ất Dậu (1-4-1945) đi về Sài Gòn có ghé Sa Đéc.

Sau một cuộc kinh lý Hậu Giang của Đức Thầy người Nhựt thấy uy thế của Ngài rất lớn ở vùng châu thổ sông Cửu Long. Ngài đi đến đâu đều được khối tín đồ hùng hậu nghinh tiếp nhiệt liệt, nên có ý lo sợ lực lượng quần chúng Phật Giáo Hòa Hảo có thể làm trở ngại chương trình Liên – Á của quân Phiệt Nhựt ; vì vậy họ có ý muốn Đức Thầy đứng trên vị trí tôn giáo hoạt động hơn trên địa hạt chánh trị. Có lẽ vì thế mà chương trình của Việt Nam Độc Lập Vận Động Hội không thực hiện.

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo, Đức Huỳnh Giáo Chủ | Leave a comment

Biển Đông: Có nên tin vào lời hứa của Trung Quốc?

Thuy Tien 1.3.210 Facebook Twitter Google+

 Ngày 1/2, Luật Cảnh sát biển của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (gọi tắt là Luật Hải cảnh mới) chính thức có hiệu lực, trong đó quy định thẩm quyền cho phép sử dụng vũ khí đối với lực lượng Hải cảnh Trung Quốc.

.com/
Biển Đông: Có nên tin vào lời hứa của Trung Quốc?

Điều này thu hút sự chú ý của giới truyền thông thế giới.

Nội dung cụ thể quy định trong Điều 22 Luật Hải cảnh mới viết: “Khi chủ quyền quốc gia, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc bị các cá nhân và tổ chức nước ngoài xâm phạm phi pháp hoặc khi đối diện với mối nguy cấp bách bị xâm phạm phi pháp, theo luật này và các luật liên quan khác, lực lượng Hải cảnh có quyền áp dụng tất cả biện pháp cần thiết, bao gồm cả sử dụng vũ khí, để chặn đứng hành vi xâm phạm và loại trừ mối nguy”.

Như vậy, tàu tuần tra của lực lượng Hải cảnh Trung Quốc có thể sử dụng vũ khí nhằm vào các tàu nước ngoài (tàu ngầm của Mỹ hoặc tàu tuần tra của của Lực lượng Bảo vệ bờ biển Nhật Bản).

Điều này dẫn đến lo ngại về khả năng phát sinh xung đột vũ trang trên biển.

Việc lực lượng Hải cảnh Trung Quốc có thể sử dụng vũ khí tại “vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc” có thể xem là tương ứng với tiêu chuẩn sử dụng vũ khí của thế giới.

Tuy nhiên, các điều khoản liên quan của Luật này lại không xác định rõ đâu là khu vực thuộc “quyền tài phán của Trung Quốc”, đây chính là sự vi phạm luật pháp quốc tế.

Dựa trên các tuyên bố của Trung Quốc thì ta có thể thấy rằng Bắc Kinh tuyên bố quyền tài phán đối với 3 triệu km vuông không gian biển, thường được gọi là “lãnh thổ quốc gia xanh” của Trung Quốc.

Khu vực này bao gồm Vịnh Bột Hải; một phần lớn của Hoàng Hải; Biển Hoa Đông đến tận vùng biển phía Đông của Vùng lõm Okinawa, bao gồm các vùng biển xung quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư đang tranh chấp với Nhật Bản; và tất cả các vùng nước trong “Đường 9 đoạn” ở Biển Đông.

Theo tính toán riêng của Bắc Kinh, “hơn một nửa” không gian này đang bị các nước khác tranh chấp.

Dựa trên các điều khoản của luật Hải cảnh mới của Trung Quốc, chúng ta sẽ dự đoán được điều gì?

Ở Biển Đông, bất kỳ tàu đánh cá, khảo sát hoặc nghiên cứu nào của nước ngoài bị phát hiện hoạt động ở bất kỳ đâu trong “Đường 9 đoạn”, cảnh sát biển Trung Quốc sẽ được phép lên tàu và kiểm tra (Điều 18). Nếu từ chối tuân thủ, nhân viên vũ trang sẽ lên tàu để buộc họ phải làm vậy (Điều 47).

Cảnh sát biển Trung Quốc sẽ cử các đơn vị tháo dỡ các công trình trên mọi địa hình đất do Việt Nam, Philippines và Malaysia đang kiểm soát ở Quần đảo Trường Sa (Điều 20).

Ở Biển Hoa Đông, lực lượng cảnh sát biển sẽ đi đến quần đảo Senkaku/Điếu Ngư và “trục xuất” mọi tàu Nhật Bản mà họ bắt gặp (Điều 17).

Ở Hoàng Hải, Biển Hoa Đông và Biển Đông, lực lượng cảnh sát biển sẽ truy đuổi các tàu do thám của Hải quân Mỹ như USNS Impeccable và các tàu khảo sát thủy văn như USNS Bowditch vì tiến hành các hoạt động “bất hợp pháp” trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc (Điều 21) .

Trung Quốc hứa hẹn với Philippines

Nhiều quốc gia đã tỏ ý lo ngại trước động thái này của Trung Quốc. Ngoại trưởng Philippines đã từng tuyên bố “đây là hành động đe doạ chiến tranh” của Bắc Kinh. Thế nhưng, Đại sứ Philippines tại Trung Quốc Jose Santiago L. Sta. Romana mới đây cho biết phía Trung Quốc khẳng định rằng, luật Hải cảnh mới sẽ không áp dụng với Philippines.

Liệu có thể tin được những lời hứa như vậy của Trung Quốc?

Nhiều chuyên gia trên thế giới đã tỏ ý nghi ngờ về những lời hứa hẹn của Trung Quốc đối với thế giới.

Khi Trung Quốc bắt đầu 3 ngày tập trận ở vịnh Bắc Bộ trên Biển Đông hồi tháng 1/2021, một số nhà quan sát dự đoán rằng Bắc Kinh đang “thử” phản ứng của chính quyền Biden.

Cùng với hoạt động tập trận, Bắc Kinh đưa ra những lời lẽ cứng rắn, ví dụ như tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Uông Văn Bân rằng “tập trận là biện pháp cần thiết để kiên quyết bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia”.

Ngay cả trong bối cảnh đó, quan điểm chính thức của Trung Quốc vẫn là “cam kết thực hiện giải pháp hòa bình” trong vấn đề Biển Đông.

Những lời lẽ mà Trung Quốc sử dụng ở những thời điểm khác nhau tạo ra một sự tương phản đáng chú ý.

Ví dụ, tháng 7/2020, Bộ Ngoại giao Trung Quốc khẳng định “Trung Quốc không tìm cách trở thành cường quốc biển” và nước này “đối xử bình đẳng với các nước láng giềng và thực hiện kiềm chế tối đa”.

Vậy nên hiểu những thông điệp hỗn độn này của Bắc Kinh như thế nào? Hầu hết các chuyên gia về Trung Quốc cho rằng những phát ngôn đó thể hiện ý định của Trung Quốc, hoặc ít nhất là mong muốn của nước này. Tuy nhiên, tuyên bố nào thể hiện đúng quan điểm của Trung Quốc?

Các chuyên gia cần đánh giá nội dung và tính đặc thù trong các tuyên bố của Trung Quốc, bên cạnh lập trường của “tác giả” tuyên bố đó hoặc người phát ngôn có liên quan.

Các bài phát biểu của giới chức Trung Quốc về Biển Đông có thể được chia thành “những bài mang tính hợp tác” và “những bài mang tính cạnh tranh” trên Biển Đông. Chủ điểm hợp tác có 2 danh mục: “hợp tác” và “giải pháp chính trị”.

Chủ điểm cạnh tranh có 5 danh mục: chủ quyền, quân sự, tự do, căng thẳng và các nước ngoài khu vực/ Mỹ.

Xem xét tất cả các bài phát biểu công khai của các ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc từ khóa 2013 đến 2018 có thể thấy đặc điểm rõ nét trong thời kỳ này là: Trong các tuyên bố công khai về Biển Đông, các nhà lãnh đạo Trung Quốc sử dụng nhiều diễn ngôn mang tính hợp tác nhiều hơn so với diễn ngôn cạnh tranh.

Đây có thể là tín hiệu tích cực cho ổn định khu vực khi Bắc Kinh có vẻ mong muốn sẵn sàng thỏa hiệp với các bên tranh chấp khác.

Tuy nhiên, một trong những nguyên tắc diễn giải ý từ phát ngôn là không phải tất cả các tuyên bố của lãnh đạo đều có trọng lượng như nhau vì cần phải xem xét quyền lực cá nhân, trách nhiệm giải trình và uy tín về tính trung thực.

Điều này có nghĩa là những tuyên bố của Tập Cận Bình (được xem là có “nhiều quyền lực hơn và có thẩm quyền cá nhân hơn bất kỳ nhà lãnh đạo nào thời hậu Mao”) sẽ đứng hàng đầu.

Tin xấu là trong số những tuyên bố mang tính cạnh tranh, các tuyên bố của Tập Cận Bình chiếm 42,7% dù ông chỉ là một trong 39 nhà lãnh đạo trong giai đoạn này.

Có nhiều lý do không nên xem xét các tuyên bố mang tính hợp tác của Tập Cận Bình bởi ông có tiếng là thiếu trung thực.

Tháng 9/2015, phát biểu tại Nhà Trắng, Tập Cận Bình hứa sẽ không “quân sự hóa” các đảo nhân tạo mà Trung Quốc đã và đang xây dựng ở Biển Đông.

Tập Cận Bình tuyên bố: “Các hoạt động xây dựng liên quan mà Trung Quốc đang thực hiện không nhằm mục tiêu hoặc tác động đến bất kỳ nước nào và Trung Quốc cũng không có ý định theo đuổi quân sự hóa”.

Dù ngôn từ ở thời điểm đó được coi là “mới”, nhưng cam kết vẫn chưa rõ ràng. Sau đó, Tập Cận Bình không hứa sẽ ngừng nạo vét, tôn tạo đảo hoặc các hoạt động trong khu vực và cũng không nói rõ “quân sự hóa” nghĩa là gì.

Tháng 5/2019, Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng Liên quân Mỹ khi đó là Joseph Dunford cho rằng Trung Quốc “rõ ràng… phớt lờ cam kết đó”, minh chứng là “đường băng dài khoảng 3.000 km, cơ sở lưu trữ đạn dược, triển khai thường xuyên các khả năng phòng thủ tên lửa, năng lực hàng không…” trên các đảo.

Sự thật là, Trung Quốc đã quân sự hóa các đảo này để thiết lập quyền kiểm soát các đảo và vùng biển xung quanh.

Ngay cả đối với Philippines, năm 2016 khi Duterte sang thăm Trung Quốc, Tập Cận Bình hứa sẽ đầu tư và cho Philippines vay 24 tỉ USD. Tuy nhiên, thực tế thì số tiền đầu tư và cho Philippines vay rất ít ỏi so với lời hứa ban đầu.

Còn đối với Việt Nam thì sao?

Trung Quốc cũng luôn đưa ra các lời hứa rất tốt đẹp với Việt Nam. Và thực tế, nhiều lần Việt Nam “nếm trái đắng” từ các lời hứa của lãnh đạo Trung Quốc.

Năm 2011, khi mới đắc cử Tổng bí thư, ông Nguyễn Phú Trọng đã có chuyến sang thăm Trung Quốc và hai bên đã ký kết “Thoả thuận về các nguyên tắc cơ bản giải quyết tranh chấp trên biển”. Hai bên còn thiết lập đường dây nóng để giải quyết các bất đồng trên biển.

Thế nhưng, năm 2014, khi Trung Quốc hạ đặt trái phép một giàn khoan khổng lồ vào ngay vùng EEZ của Việt Nam, các nỗ lực tiếp xúc ngoại giao của Việt Nam để giải quyết vấn đề này đều không thành công, đường dây nóng để giải quyết tranh chấp trên biển giữa hai bên bị “ngoài vùng phủ sóng”, còn Thoả thuận về nguyên tắc cơ bản để giải quyết các tranh chấp trên biển chỉ coi như “tờ giấy lộn”.

Mới đây, trong một bài viết đăng trên báo Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Hùng Ba viết rằng: “Trong thời gian tới, hai nước cần phát huy truyền thống hữu nghị tốt đẹp, tăng cường đoàn kết và hợp tác hơn nữa.

Việc không ngừng làm sâu sắc hơn quan hệ hữu nghị Trung Quốc – Việt Nam phù hợp với lợi ích căn bản của hai nước và nhân dân hai nước.

Hai bên cần tăng cường hợp tác cùng có lợi, đoàn kết phát triển, kiên trì theo đuổi chủ nghĩa đa phương và thương mại tự do, đẩy nhanh hợp tác kết nối giữa sáng kiến “Vành đai và Con đường” với chiến lược “Hai hành lang, một vành đai”, thúc đẩy hợp tác thiết thực giai đoạn hậu COVID-19 và trên các lĩnh vực khác như: nông nghiệp công nghệ cao, thương mại điện tử, y tế công cộng….

Hai nước cần kiên trì đối thoại hiệp thương, duy trì ổn định khu vực.

Hòa bình, ổn định là tiền đề cho sự phát triển thịnh vượng. Là hai nước láng giềng, khó tránh khỏi những lúc bất đồng, hai bên cần nghiêm túc thực hiện nhận thức chung quan trọng của lãnh đạo hai Đảng, hai nước, giải quyết ổn thỏa bất đồng thông qua hiệp thương hữu nghị để duy trì đại cục phát triển và hợp tác hai nước.”

Thiết nghĩ, liệu có ai tin vào những lời lẽ của kẻ mà thế giới gọi là “sói đội lốt cừu” này được không?

https://thoibao.

Categories: Uncategorized | Leave a comment

Ngộ Không tu xuất tâm đại nhẫn; Trương Lương vượt khảo nghiệm thành công

San San | DKN 27/02/2021 780 lượt xem

Lời tựa ‘Tây Du Ký’: Tâm đại nhẫn của Ngộ Không và Trương Lương
Ảnh chụp Thanh Thái Hội Toàn Bản Tây Du Ký.

Hồi thứ 7 của “Tây Du Ký” có thơ rằng: “Tội ác chồng chất người bị nhốt, thiện căn chưa dứt khí còn thăng”. Tôn Ngộ Không đã từng đại náo thiên cung tạo nghiệp chồng chất, trở thành yêu tinh khỉ mà tất cả các vị Thần trên thiên giới đều biết. Vậy “thiện căn chưa dứt” là chỉ điều gì?…

Trong truyện ‘Tây Du Ký’ có kể về nhân vật Tôn Ngộ Không, vì đại náo thiên cung, phạm phải tội lớn với Thiên đình nên đã bi Phật tổ nhốt xuống dưới núi Ngũ Hành Sơn suốt 500 năm. Ngũ Hành Sơn có năm ngọn là Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, do phép thần thông từ 5 ngón tay của Phật Như Lai biến thành. Vì để giảm bớt tính ngạo mạn của Ngộ Không, Phật Như Lai chỉ cho phép Ngộ Không được uống đồng khi khát và ăn sắt khi đói. Trải qua 500 năm, hạ qua đông đến, Ngộ Không nhìn thấy hết sự hào nhoáng giả tạo cùng sự tang thương tại nhân gian. Từ đó tính ngạo mạn của Ngộ Không cũng ngày một ít dần, cuối cùng đã phát tâm sám hối, nếu như còn có cơ hội, nhất định sẽ quyết tâm bỏ đường tà, lập chí tu hành.

Trong hồi thứ 7 của “Tây Du Ký” có thơ rằng: “Tội ác chồng chất người bị nhốt, thiện căn chưa dứt khí còn thăng”. Tôn Ngộ Không đã từng đại náo thiên cung tạo nghiệp chồng chất, trở thành yêu tinh khỉ mà tất cả các vị Thần trên thiên giới đều biết. Vậy “thiện căn chưa dứt” là chỉ điều gì? Tại hồi thứ 8 của ‘Tây Du Ký’, Quan Âm Bồ Tát đã theo chỉ lệnh của Phật Như Lai tới Đông Thổ tìm người thỉnh kinh. Trên đường đi, Quan Âm Bồ Tát đã đi qua Ngũ Hành Sơn, sau khi gặp được Bồ Tát, Ngộ Không đã nói lời như thế này: “Ta đã biết hối hận rồi, chỉ mong Bồ Tát đại từ đại bi chỉ đường, tình nguyện tu hành”. Ngay sau những lời này là bài thơ rằng: “Nhân tâm sinh nhất niệm, thiên địa tận giai tri. Thiện ác nhược vô báo, càn khôn tất hữu tư” (Con người sinh một niệm, trời đất biết tỏ tường, thiện ác mà không báo, càn khôn ắt tư tâm). https://googleads.g.doubleclick.net/pagead/ads?client=ca-pub-2791219656443006&output=html&h=250&slotname=2391351179&adk=884465546&adf=696944579&pi=t.ma~as.2391351179&w=300&lmt=1614426807&psa=1&format=300×250&url=https%3A%2F%2Fwww.dkn.tv%2Fvan-hoa%2Fngo-khong-tu-xuat-tam-dai-nhan-truong-luong-vuot-khao-nghiem-thanh-cong.html&flash=0&wgl=1&dt=1614538551035&bpp=62&bdt=7449&idt=2900&shv=r20210224&cbv=r20190131&ptt=9&saldr=aa&abxe=1&cookie=ID%3Da8d8f7104032e267-2222e89237c40057%3AT%3D1603236191%3ART%3D1603236191%3AS%3DALNI_MaoxOs68TqkN3Xt0rrp0UvOvqQ_Dw&correlator=6948614175317&frm=20&pv=2&ga_vid=1465405372.1508563676&ga_sid=1614538554&ga_hid=1145601223&ga_fc=0&u_tz=-480&u_his=4&u_java=0&u_h=768&u_w=1366&u_ah=728&u_aw=1366&u_cd=24&u_nplug=3&u_nmime=4&adx=71&ady=1576&biw=442&bih=213&scr_x=0&scr_y=1033&eid=42530672%2C44736524&oid=3&pvsid=4201551135650586&pem=855&ref=https%3A%2F%2Fwww.dkn.tv%2F&rx=0&eae=0&fc=896&brdim=-14%2C0%2C-14%2C0%2C1366%2C0%2C1366%2C728%2C450%2C213&vis=1&rsz=%7Co%7CoeEbr%7C&abl=NS&pfx=0&fu=8192&bc=31&ifi=1&uci=a!1&btvi=1&fsb=1&xpc=672yOzVpOr&p=https%3A//www.dkn.tv&dtd=3066

Khi nghe những lời này, Bồ Tát cảm thấy thật mừng cho Ngộ Không. Trước kia, Ngộ Không là một con yêu tinh khỉ, không biết phân biệt cao thấp, đại náo thiên cung, phạm phải luật Trời. Hơn nữa, nó còn ngang ngược thốt lên: “Để ta thay phiên làm Ngọc Hoàng, sang năm đến lượt ta”. Lời này chẳng phải là Ngộ Không đang đuổi Ngọc Hoàng ra khỏi Thiên cung sao? Hiện tại, vừa nhìn thấy Bồ Tát, một lời đã tâm sự hết. Ngộ Không biết bản thân đã làm nhiều việc sai trái, giờ đây đã quyết chí tu hành cửa Phật, không làm việc phạm tội nữa. Tâm Đại Thánh sáng rõ, tâm vượn quy chính rồi, giờ đây việc được giải thoát không còn là vấn đề nữa. Bồ Tát đã nói cho Ngộ Không biết, sau này sẽ có một cao tăng Đại Đường tới cứu. Ngộ Không biết bản thân có cơ hội được giải thoát thì vui mừng khôn xiết, ngày đêm chờ đợi. 

Thời gian chậm rãi trôi qua, đến khi Đường Tăng lên đường thỉnh kinh, đi ngang qua Ngũ Hành Sơn, Ngộ Không vô cùng vui mừng vẫy tay gọi lớn: “Sư Phụ! Sao giờ này người mới đến? Cứu ta ra, cứu ta ra, ta sẽ bảo vệ ngài đi Tây Thiên”. Con khỉ tuy ngang bướng nhưng bản tính thuần thiện lúc ban đầu vẫn chưa mất. Ngay cả khi mở lời gọi Đường Tăng cũng trực tiếp nhắm thẳng tới chủ đề tu luyện, không có chút nào biểu hiện của kẻ tinh đời. 

Ban ngày mắt của Ngộ Không có thể nhìn thấy việc lành hay dữ xa ngàn dặm. Nội trong ngàn dặm này, Ngộ Không giống như chuồn chuồn giương cánh, có thể nhìn thấy rõ mọi thứ dù là rất nhỏ. Tâm con khỉ đã quy chính, nó bắt đầu thực hiện việc bảo vệ Đường Tăng đúng như lời hứa. Vì để bảo vệ Đường Tăng, Ngộ Không đã đánh chết một con hổ già và 6 tên đạo tặc. Đường Tăng lớn lên tại cửa Phật, chưa từng nhìn thấy sự việc này nên đã sợ hãi tới mức ngã xuống đất. Sau khi giết chết 6 tên đạo tặc, Ngộ Không đã khiến Đường Tăng vô cùng tức giận. Do đó, Đường Tăng không ngừng trách cứ Ngộ Không trên dọc đường đi. Cả đời, con khỉ không chịu được tính nóng giận của con người, lại càng không chịu được câu nói của Đường Tăng là “Đi không đến được Tây Thiên, làm hòa thượng không được. Quá ác! Quá ác!”. 

Ngộ Không thật tâm muốn tu luyện, thế nhưng bản thân lại bị một người phàm trần là Đường Tăng quy kết là người không thể xuất gia, đi không đến được Tây Thiên, nên trong lòng đầy phiền muộn. Không nhịn nổi lửa giận trong lòng, Ngộ Không đã bỏ đi, không bảo vệ Đường Tăng nữa. Ban đầu Ngộ Không nghĩ, đã 500 năm chưa về Hoa Quả Sơn, trong lòng muốn trở về thăm chốn cũ. Tuy nhiên, mới đi được nửa đường, Ngộ Không liền đổi ý, đi đến Đông Hải Long Cung để gặp Long Vương kể khổ.

Long Vương nghe thấy Ngộ Không cải tà quy chính, lập chí tu hành thì vô cùng vui mừng, nồng nhiệt mời trà tiếp đãi. Đúng lúc này, Ngộ Không ngẩng đầu lên liền nhìn thấy bức tranh ‘Di kiều tam tiến lý’, nhưng không hiểu ý nghĩa của bức họa. Vậy là Long Vương liền giảng giải kỹ càng nội dung bức họa cho Ngộ Không. Nguyên lai, vào triều Hán có vị cao nhân tên là Hoàng Thạch Công, ông nhìn thấy Trương Lương là người có tài năng thiên phú nên đã cố ý thu nhận làm đệ tử. Vì vậy, ông đã thực hiện việc khảo nghiệm Trương Lương, đánh rơi giày xuống dưới cầu và sai Trương Lương đi lấy. Sau khi lấy giày lên, Hoàng Thạch Công lại bảo Trương Lương đeo giày vào chân cho ông. Cứ như vậy, Hoàng Thạch Công đã liên tiếp thử Trương Lương 3 lần, chứng kiến mỗi lần Chương Lương đều rất cung kính, không có chút nào tỏ ra kiêu căng ngạo mạn, vì vậy mà truyền binh pháp cho Trương Lương. Sau khi học thuộc lòng binh pháp, Trương Lương trợ giúp Lưu Bang hoạch định chiến lược, mỗi kế sách mà Trương Lương bày ra đều giúp quân đội của Lưu Bang giành được chiến thắng ngoài sức tưởng tượng. Khi nhà Hán giành được thiên hạ, Trương Lương đã xin từ quan trở về núi ẩn cư, cuối cùng đạt được giác ngộ thành Tiên. https://googleads.g.doubleclick.net/pagead/ads?client=ca-pub-2791219656443006&output=html&h=250&slotname=3868084373&adk=2050115159&adf=3750602988&pi=t.ma~as.3868084373&w=300&lmt=1614426807&psa=1&format=300×250&url=https%3A%2F%2Fwww.dkn.tv%2Fvan-hoa%2Fngo-khong-tu-xuat-tam-dai-nhan-truong-luong-vuot-khao-nghiem-thanh-cong.html&flash=0&wgl=1&dt=1614538551098&bpp=160&bdt=7512&idt=3171&shv=r20210224&cbv=r20190131&ptt=9&saldr=aa&abxe=1&cookie=ID%3Da8d8f7104032e267-2222e89237c40057%3AT%3D1603236191%3ART%3D1603236191%3AS%3DALNI_MaoxOs68TqkN3Xt0rrp0UvOvqQ_Dw&prev_fmts=300×250%2C0x0&nras=1&correlator=6948614175317&frm=20&pv=1&ga_vid=1465405372.1508563676&ga_sid=1614538554&ga_hid=1145601223&ga_fc=0&u_tz=-480&u_his=4&u_java=0&u_h=768&u_w=1366&u_ah=728&u_aw=1366&u_cd=24&u_nplug=3&u_nmime=4&adx=71&ady=3641&biw=442&bih=213&scr_x=0&scr_y=2794&eid=42530672%2C44736524&oid=3&psts=AGkb-H-r8cNx0OVItNyCzpetJK5LsyUC2tqv-mFaqJQqC6gJGw6QY6VLjrPLOE_NECXp4iXCVSNvogZY4IA7&pvsid=4201551135650586&pem=855&ref=https%3A%2F%2Fwww.dkn.tv%2F&rx=0&eae=0&fc=896&brdim=-14%2C0%2C-14%2C0%2C1366%2C0%2C1366%2C728%2C450%2C213&vis=1&rsz=%7Co%7CoeEbr%7C&abl=NS&pfx=0&fu=8192&bc=31&ifi=2&uci=a!2&btvi=2&fsb=1&xpc=vL0ZMgo0uG&p=https%3A//www.dkn.tv&dtd=92946

Trương Lương đeo giày cho Hoàng Thạch Công (ảnh minh họa: Epochtimes).

Long Vương khuyên Ngộ Không: “Đại Thánh, ngươi nếu không bảo vệ Đường Tăng, cúc cung tận tụy, không nghe giáo huấn, cuối cùng cũng chỉ là con yêu quái, đừng mơ tưởng đạt thành chính quả”. 

Ngộ Không nghe Long Vương giảng giải xong, nửa ngày không nói câu nào. Cuối cùng đã đứng dậy, bay ra khỏi Long cung đi bảo vệ Đường Tăng. Từ câu chuyện của Trương Lương, Ngộ Không đã minh bạch được thái độ cần có của một người cầu đạo. “Di kiều tam tiến lý”, Trương Lương đã chịu đựng được những sự việc tưởng không thể nhịn nổi, điều này đã truyền cảm hứng để Ngộ Không đặt nền móng cho những thành tựu sau này. 

Câu chuyện “Di kiều tam tiến lý” trong “Tây Du Ký” có nguồn gốc từ ghi chép của “Sử ký Lưu Hầu thế gia”. “Lưu Hầu” là danh hiệu của Trương Lương vì có công giúp nhà Hán đoạt thiên hạ. Chính sử có ghi lại rằng: Trương Lương vốn là người thuộc dòng dõi quý tộc nước Hàn, ông nội và cha đều là vương công đại thần, bản thân Trương Lương là con của Tể tướng. Tần Thủy Hoàng thống nhất 6 nước đã diệt đi nước Hàn. Trương Lương nghĩ đến gia tộc chịu nhận ân điển của quốc gia, nên không thể thờ ơ, vì vậy Trương Lương đã bán hết tài sản, chiêu mộ binh sĩ để báo thù cho nước Hàn. Ông đã bí mật chế tạo chiếc chùy sắt, trọng lượng nặng tới hơn 120 cân, chuẩn bị ám sát Tần Thủy Hoàng tại bãi cát Bác Lãng. 

Tuy nhiên, cuộc ám sát thất bại. Tần Thủy Hoàng đã lệnh cho đội quân bảo vệ “Đại Tần thiên hạ” truy tìm sát thủ ở mọi ngóc ngách. Thế nhưng dung mạo của Trương Lương anh tuấn, giống như một thiếu nữ đẹp, nên không ai nghĩ ông lại là thích khách. Chính vì vậy mà Trương Lương đã thuận lợi thoát khỏi tầm mắt truy lùng của thị vệ nước Tần. Hầu hết những người vừa thực hiện một việc kinh thiên động địa, đặc biệt là những việc như ám sát, tinh thần thường tỏ ra bất ổn. Thế nhưng Trương Lương thì không, ông tỏ ra bình thản đi đi lại lại trên cầu Hạ Bi, giống như đang dạo chơi ngắm cảnh. Có thể thấy đây là người rất bình tĩnh và vô cùng can đảm. Trong hoàn cảnh đó, Trương Lương đã gặp Hoàng Thạch Công.

Theo “Sử ký” ghi chép, Hoàng Thạch Công đã cố tình đánh rơi giày xuống dưới cầu và gọi Trương Lương đi lấy. Trong lòng Trương Lương đang rất buồn chán, thân là con nhà danh gia vọng tộc, tuổi trẻ tài cao, sức sống tràn trề, muốn đánh cho ông lão một trận để hả cơn giận. Nhưng Trương Lương lại nghĩ, ông lão tuổi đã cao rồi, nên không đành lòng làm vậy, cố nén lửa giận, xuống cầu nhặt giày. Sau khi cầm giày lên đến nơi, ông lão lại ra lệnh: “Đeo vào chân cho ta”. Trương Lương lại trút bỏ hết bực tức trong lòng mà giúp đến cùng, quỳ xuống đeo giày cho ông lão. Hoàng Thạch Công thấy vậy liền nói: “Đứa trẻ này có thể dạy bảo được”. Nói cho đúng thì đức hạnh của Trương Lương quả thật không tệ, nên có thể được truyền thụ binh pháp Thái Công. Được Hoàng Thái Công dạy bảo, sau này Trương Lương đã trợ giúp Lưu Bang bày binh bố trận giành thiên hạ, lập nên nhà Hán. https://googleads.g.doubleclick.net/pagead/ads?client=ca-pub-2791219656443006&output=html&h=250&slotname=5344817570&adk=1359787238&adf=4083209426&pi=t.ma~as.5344817570&w=300&lmt=1614426807&psa=1&format=300×250&url=https%3A%2F%2Fwww.dkn.tv%2Fvan-hoa%2Fngo-khong-tu-xuat-tam-dai-nhan-truong-luong-vuot-khao-nghiem-thanh-cong.html&flash=0&wgl=1&dt=1614538551258&bpp=10&bdt=7672&idt=3300&shv=r20210224&cbv=r20190131&ptt=9&saldr=aa&abxe=1&cookie=ID%3Da8d8f7104032e267-2222e89237c40057%3AT%3D1603236191%3ART%3D1603236191%3AS%3DALNI_MaoxOs68TqkN3Xt0rrp0UvOvqQ_Dw&prev_fmts=300×250%2C0x0%2C300x250&nras=1&correlator=6948614175317&frm=20&pv=1&ga_vid=1465405372.1508563676&ga_sid=1614538554&ga_hid=1145601223&ga_fc=0&u_tz=-480&u_his=4&u_java=0&u_h=768&u_w=1366&u_ah=728&u_aw=1366&u_cd=24&u_nplug=3&u_nmime=4&adx=71&ady=5711&biw=442&bih=213&scr_x=0&scr_y=4930&eid=42530672%2C44736524&oid=3&psts=AGkb-H-r8cNx0OVItNyCzpetJK5LsyUC2tqv-mFaqJQqC6gJGw6QY6VLjrPLOE_NECXp4iXCVSNvogZY4IA7%2CAGkb-H9EE84KskfFbnSaWOWAdNTPLACGGisvs6W3CGMv4NA8wBpfFhmR0DJm4pXUutV4Fy4XTPtLi6U1w12h&pvsid=4201551135650586&pem=855&ref=https%3A%2F%2Fwww.dkn.tv%2F&rx=0&eae=0&fc=896&brdim=-14%2C0%2C-14%2C0%2C1366%2C0%2C1366%2C728%2C450%2C213&vis=1&rsz=%7Co%7CoeEbr%7C&abl=NS&pfx=0&fu=8192&bc=31&ifi=3&uci=a!3&btvi=3&fsb=1&xpc=WKJho0qWft&p=https%3A//www.dkn.tv&dtd=M

Tâm đại nhẫn của Trương Lương trợ giúp Lưu Bang thành tựu nghiệp đế vương. Tâm đại nhẫn của Ngộ Không không chỉ bảo vệ Đường Tăng lấy được chân kinh thành công mà bản thân còn đạt được quả vị Đấu Chiến Thắng Phật. Trương Lương và Ngộ Không vốn dĩ không có cùng điểm xuất phát, mà ở hai thế giới thật và ảo, bởi có thể nhẫn được những cái tưởng không thể chịu đựng được mà khiến hai người họ kết thành cái duyên vượt thời gian và không gian vậy. 

Theo Epoch Times
San San biên dịch

Xem thêm:

Categories: Uncategorized | Leave a comment

Video: Khoảnh khắc bé 3 tuổi rơi từ tầng 12A khiến ai cũng bật khóc

Hiểu Minh | DKN 14 giờ tới 94 lượt xem

Khoảnh khắc bé 3 tuổi trèo qua ban công tầng 12A (ảnh chụp màn hình clip).

Liên quan đến vụ việc cháu bé 3 tuổi rơi từ ban công tầng 12A chung cư ở đường Nguyễn Huy Tưởng (Thanh Xuân – Hà Nội) và may mắn được một người đàn ông cứu sống chiều 28/2. Cư dân mạng đã suýt bật khóc khi xem khoảnh khắc bé 3 tuổi leo ra ban công và rơi tự do mà bất lực.https://video3.dkn.news/static/embed/d4b/b49e2b.html

Clip: Khoảnh khắc bé 3 tuổi rơi từ tầng 12A (nguồn clip Facebook).https://video3.dkn.news/static/embed/75d/d5e4ae.html

Clip: Khoảnh khắc nam thanh niên cứu sống bé 3 tuổi rơi từ tầng 12A (nguồn clip Tintucvietnam).https://googleads.g.doubleclick.net/pagead/ads?client=ca-pub-2791219656443006&output=html&h=250&slotname=2391351179&adk=884465546&adf=696944579&pi=t.ma~as.2391351179&w=300&lmt=1614533837&psa=1&format=300×250&url=https%3A%2F%2Fwww.dkn.tv%2Fthoi-su%2Fvideo-khoanh-khac-be-3-tuoi-roi-tu-tang-12a-khien-ai-cung-bat-khoc.html&flash=0&wgl=1&dt=1614537904164&bpp=60&bdt=10906&idt=3393&shv=r20210224&cbv=r20190131&ptt=9&saldr=aa&abxe=1&cookie=ID%3Da8d8f7104032e267-2222e89237c40057%3AT%3D1603236191%3ART%3D1603236191%3AS%3DALNI_MaoxOs68TqkN3Xt0rrp0UvOvqQ_Dw&prev_fmts=0x0&nras=1&correlator=4865298614954&frm=20&pv=1&ga_vid=1465405372.1508563676&ga_sid=1614537909&ga_hid=416423123&ga_fc=0&u_tz=-480&u_his=3&u_java=0&u_h=768&u_w=1366&u_ah=728&u_aw=1366&u_cd=24&u_nplug=3&u_nmime=4&adx=71&ady=1612&biw=442&bih=213&scr_x=0&scr_y=767&eid=44735932%2C44736524%2C31060031&oid=3&pvsid=2180559561493630&pem=855&ref=https%3A%2F%2Fwww.dkn.tv%2F&rx=0&eae=0&fc=896&brdim=-14%2C0%2C-14%2C0%2C1366%2C0%2C1366%2C728%2C450%2C213&vis=1&rsz=%7Co%7CoeEbr%7C&abl=NS&pfx=0&fu=8192&bc=31&ifi=1&uci=a!1&btvi=1&fsb=1&xpc=DOtRhARU3M&p=https%3A//www.dkn.tv&dtd=22845

Theo như clip, chủ nhân này đã trông thấy bé 3 tuổi trèo qua lan can rồi leo xuống mà gào thét bất lực kêu gọi mọi người cứu lấy cháu bé, tuy nhiên sự việc diễn ra quá nhanh. Em bé đã rơi xuống trong sự kêu cứu bất lực của người phụ nữ quay lại clip trên. Nhưng trong vô vọng tưởng như đã không thể thì cháu bé đã được một người phía dưới cứu sống.

Theo Tuổi trẻ người đỡ cháu bé là anh Nguyễn Ngọc Mạnh (31 tuổi, làm nghề chở hàng, ở xã Vĩnh Ngọc, huyện Đông Anh, Hà Nội).

Kể lại giây phút hãi hùng, anh Mạnh cho biết thời điểm đó anh không suy nghĩ gì ngoài việc phải cứu được bé gái. “Con gái tôi cũng 3 tuổi, bằng bé gái đó. Lúc đó, tôi nghĩ người đang cheo leo trên ban công tầng 12A kia là con gái mình”.

Sau khi đỡ được cháu bé, anh Mạnh bàn giao nạn nhân cho nhân viên bảo vệ của tòa nhà rồi rời đi giải quyết công việc.

“Tôi không để lại số điện thoại và cũng không có ý phải được gia đình bé hậu tạ. Tôi làm việc này vì lương tâm”, anh Mạnh nói.https://googleads.g.doubleclick.net/pagead/ads?client=ca-pub-2791219656443006&output=html&h=250&slotname=3868084373&adk=2050115159&adf=3750602988&pi=t.ma~as.3868084373&w=300&lmt=1614533837&psa=1&format=300×250&url=https%3A%2F%2Fwww.dkn.tv%2Fthoi-su%2Fvideo-khoanh-khac-be-3-tuoi-roi-tu-tang-12a-khien-ai-cung-bat-khoc.html&flash=0&wgl=1&dt=1614537904225&bpp=27&bdt=10967&idt=3468&shv=r20210224&cbv=r20190131&ptt=9&saldr=aa&abxe=1&cookie=ID%3Da8d8f7104032e267-2222e89237c40057%3AT%3D1603236191%3ART%3D1603236191%3AS%3DALNI_MaoxOs68TqkN3Xt0rrp0UvOvqQ_Dw&prev_fmts=0x0%2C300x250&nras=1&correlator=4865298614954&frm=20&pv=1&ga_vid=1465405372.1508563676&ga_sid=1614537909&ga_hid=416423123&ga_fc=0&u_tz=-480&u_his=3&u_java=0&u_h=768&u_w=1366&u_ah=728&u_aw=1366&u_cd=24&u_nplug=3&u_nmime=4&adx=71&ady=2546&biw=442&bih=213&scr_x=0&scr_y=1703&eid=44735932%2C44736524%2C31060031&oid=3&psts=AGkb-H9nRVyQPOhgpAy3Idl1PfLJMEBfHwqmNyDZvuVEN02ZCcJQIAK11tFL00REDdVwqmOLXgY7dJJwfU9s&pvsid=2180559561493630&pem=855&ref=https%3A%2F%2Fwww.dkn.tv%2F&rx=0&eae=0&fc=896&brdim=-14%2C0%2C-14%2C0%2C1366%2C0%2C1366%2C728%2C450%2C213&vis=1&rsz=%7Co%7CoeEbr%7C&abl=NS&pfx=0&fu=8192&bc=31&ifi=2&uci=a!2&btvi=2&fsb=1&xpc=a6CZIcVmms&p=https%3A//www.dkn.tv&dtd=M

Nhưng bằng một cách nào đó, gia đình bé gái đã liên lạc được với người cứu con gái mình. “Lúc tối, gia đình bé gái gọi cho tôi thông báo là bé bị gãy tay, chân, không ảnh hưởng đến tính mạng. Tôi vẫn đang rất run, run vì hạnh phúc bởi cứu được cháu bé. Nhưng trong thâm tâm, tôi vẫn thấy hơi hối tiếc khi đỡ vẫn khiến bé bị thương”, người đàn ông 31 tuổi nói.

Có thể bạn quan tâm:

Bệnh nhân nhiễm Covid-19 hồi phục kỳ diệu nhờ phương pháp dân gian

Quảng Bình: Đã chuẩn bị lo hậu sự, chàng trai bất ngờ khỏi bệnh ung thư máu

Trung Quốc cho ‘thổi bay’ tượng Phật Quan Âm cao nhất thế giới

Categories: Uncategorized | Leave a comment

Bị Hoàn Cầu thời báo chê tàu sân bay, tướng Mỹ nói không ngại tên lửa Trung Quốc

Văn Khoa

1
2
3
4
5

truongvankhoa2001@yahoo.com19:05 – 10/02/2021 0 THANH NIÊN ONLINE

Hai chuẩn đô đốc Mỹ vừa bác bỏ bình luận từ báo chí Trung Quốc về cuộc tập trận chung của hai nhóm tác chiến tàu sân bay Mỹ ở Biển Đông và mô tả tình hình hoạt động quân sự của Trung Quốc ở khu vực.

Hai tàu sân bay Mỹ USS Nimitz và USS Theodore Roosevelt cùng tàu chiến và máy bay diễn tập ở Biển Đông vào ngày 9.2
 /// Hải quân Mỹ

Hai tàu sân bay Mỹ USS Nimitz và USS Theodore Roosevelt cùng tàu chiến và máy bay diễn tập ở Biển Đông vào ngày 9.2HẢI QUÂN MỸHôm 9.2, hai nhóm tác chiến tàu sân bay Mỹ Theodore Roosevelt và Nimitz có cuộc tập trận chung hiếm thấy ở Biển Đông, đánh dấu lần thứ 3 kể từ năm 2012 hai tàu sân bay Mỹ tham gia cuộc huấn luyện chung ở Biển Đông, theo tờ The Financial Times.Hôm nay 10.2, Hoàn Cầu thời báo đăng bài bình luận cho rằng cuộc tập trận trên mang tính biểu tượng và ý nghĩa chính  trị hơn là quân sự nếu cân nhắc “sức mạnh tên lửa diệt hạm của Trung Quốc”. Tờ báo dẫn lời một chuyên gia  vũ khí Trung Quốc cho rằng những tên lửa “diệt tàu sân bay” DF-26 của Bắc Kinh bao phủ toàn bộ Biển Đông và có thể vô hiệu hóa lợi thế của tàu sân bay Mỹ.

Current Time0:00/Duration1:57AutoMỹ và Trung Quốc sẽ “cạnh tranh tột bậc” dưới thời ông Biden

Phát biểu với một nhóm phóng viên qua điện thoại sau đó, chỉ huy tàu sân bay USS Theodore Roosevelt, chuẩn đô đốc Doug Verissimo, khẳng định cuộc tập trận không nhắm vào bất kỳ quốc gia nào, nhưng bác bỏ nhận định trên, khẳng định cuộc tập trận “không mang tính biểu tượng”.https://api.dable.io/widgets/id/G7ZJbw7W/users/33943234.1563008758931?from=https%3A%2F%2Fthanhnien.vn%2Fthe-gioi%2Fbi-hoan-cau-thoi-bao-che-tau-san-bay-tuong-my-noi-khong-ngai-ten-lua-trung-quoc-1341043.html&url=https%3A%2F%2Fthanhnien.vn%2Fthe-gioi%2Fbi-hoan-cau-thoi-bao-che-tau-san-bay-tuong-my-noi-khong-ngai-ten-lua-trung-quoc-1341043.html&ref=https%3A%2F%2Fthanhnien.vn%2Fthe-gioi%2Ftrung-quoc-muu-do-gi-khi-cho-tau-khao-sat-bam-bien-dong-1342198.html&cid=33943234.1563008758931&uid=33943234.1563008758931&site=thanhnien.vn&id=dablewidget_G7ZJbw7W&category1=Th%E1%BA%BF%20gi%E1%BB%9Bi&ad_params=%7B%7D&item_id=1037008&pixel_ratio=1.5&client_width=639&network=non-wifi&lang=en&is_top_win=1&top_win_accessible=1&inarticle_init=1Cũng trong cuộc họp báo qua điện thoại nói trên, Chỉ huy tàu sân bay USS Nimitz, chuẩn đô đốc James Kirk, nhấn mạnh các nhóm tác chiến tàu sân bay Mỹ không quan ngại về tên lửa Trung Quốc và các cuộc tập trận “nhằm nâng cao các mức độ sẵn sàng của chúng tôi ở khu vực”, theo báo STARS AND STRIPES.Cách đây khoảng 2 tuần, tờ Financial Times đưa tin nhiều chiến đấu cơ Trung Quốc vào vùng nhận diện phòng không của Đài Loan và mô phỏng một cuộc tấn công nhắm vào tàu USS Theodore Roosevelt khi tàu này đang ở Biển Đông.Chỉ huy tàu Kirk cho hay Trung Quốc tiến hành cuộc tuần tra trong lúc hải quân Mỹ tiến hành cuộc tập trận chung, nhưng ông từ chối cho biết liệu hải quân Mỹ có xem hành động của Trung Quốc gần Đài Loan là cuộc tấn công mô phỏng hay không.Cả hai phó đô đốc đều khẳng định họ không thấy có bất kỳ hành vi không chuyên nghiệp từ tàu Trung Quốc. Ông Kirk cho biết thêm hải quân Mỹ chứng kiến hoạt động quân sự của Trung Quốc ở Biển Đông gia tăng “đều đặn” trong những tháng gần đây.

Categories: Uncategorized | Leave a comment

Biển Đông: TQ tiếp tục xây dựng tại Đá Vành Khăn

19 tháng 2 2021

Hình ảnh tư liệu từ vệ tinh năm 2015 cho thấy việc nạo vét và xây dựng đang được tiến hành ở Đá Vành Khăn
Chụp lại hình ảnh,Hình ảnh tư liệu từ vệ tinh năm 2015 cho thấy việc nạo vét và xây dựng đang được tiến hành ở Đá Vành Khăn

Các hình ảnh vệ tinh cho thấy Trung Quốc tiếp tục hoạt động xây dựng tại Đá Vành Khăn trên Biển Đông.

Công ty công nghệ Simularity’s South China Sea Rapid Alert Service có trụ sở tại Mỹ hôm 16/2 công bố những hình ảnh về Đá Vành Khăn cho thấy Trung Quốc có những hoạt động mới ở vùng nước này kể từ cuối năm 2020 trong bối cảnh đại dịch COVID-19, theo Inquirer.

Trung Quốc ‘đáp phi cơ quân sự xuống Đá Vành khăn’

Chính sách ngoại giao của Joe Biden: Trung Quốc là ‘cạnh tranh lớn nhất’ADVERTISEMENThttps://85d70ab4120401781bef78ee3680016e.safeframe.googlesyndication.com/safeframe/1-0-37/html/container.html

Tàu chiến Mỹ tiếp cận Đá Vành Khăn

Trung Quốc thông báo sẽ diễn tập quân sự ở phía Đông Vịnh Bắc Bộ

Các hình ảnh vệ tinh cho thấy những thay đổi diễn ra tại bảy địa điểm thuộc Đá Vành Khăn. Ví dụ, hình ảnh chụp một địa điểm được đánh dấu là Khu vực 1 cho thấy nó vẫn còn trống kể từ ngày 7/5/2020.

Nhưng vào ngày 4/2/2021, các hình ảnh cho thấy “việc xây dựng một cấu trúc hình trụ bền vững có đường kính 16 mét” được bắt đầu trong đầu tháng 12/2020. Đây dường như là một cấu trúc gắn ăng-ten.

Hình ảnh cho thấy một khu vực được đánh dấu là Khu vực 2, công trình bảo vệ hệ thống radar rộng lớn cùng các công trình gắn radar cố định đã xuất hiện. Chúng không có ở đó một năm trước.

South China Sea

Các địa điểm được xác định là Khu vực 4 và 7 một năm tước có cấu trúc hình chữ nhật, hiện đã được dọn sạch kể từ ngày 4/2/2021.

Các địa điểm có thể đã có các công trình xây dựng mới đã là Khu vực 5 và 6.

Chuyên gia hàng hải, Tiến sĩ Jay Batongbacal cho biết trên một bài đăng trên Facebook rằng các công trình mới có radar dường như đang trong giai đoạn hoàn thiện, thiết bị xây dựng và doanh trại đang được vận chuyển đến và một số khu vực có thể đang được dọn dẹp cho các tòa nhà mới hơn.

Việt Nam khẳng định Đá Vành Khăn nằm trong số 7 thực thể thuộc quần đảo Trường Sa của mình, đã bị Trung Quốc chiếm đóng phi pháp và bồi đắp trái phép thành đảo nhân tạo.

Bên cạnh Đá Vành Khăn, Trung Quốc cũng đã biến Đá Chữ Thập, Đá Châu Viên, Đá Gaven, Đá Gạc Ma, Đá Subi, và Đá Ken Nan thành các đảo nhân tạo.

Đại dịch COVID-19, bắt đầu ở thành phố Vũ Hán của Trung Quốc, đã không ngăn cản các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông vào năm 2020, theo Inquirer.

Bên cạnh việc triển khai các tàu tuần duyên, Trung Quốc đã tăng cường lợi thế bằng cách tạo ra hai đặc khu hành chính mới, đặt tên Trung Quốc cho tất cả các thực thể địa lý tại đây để biểu thị quyền sở hữu, khai trương hai cơ sở nghiên cứu mới, cùng các động thái khác nhằm thực thi các yêu sách vô căn cứ của mình, vẫn theo Inquirer.

Các hoạt động này đã khiến Philippines và Việt Nam phản đối.

Categories: Uncategorized | Leave a comment

Đại sứ Myanmar tại LHQ bị sa thải sau phát biểu chống đảo chính

28 tháng 2 2021

Myanmar's ambassador to the United Nations Kyaw Moe Tun holds up three fingers
Chụp lại hình ảnh,Đại sứ Myanmar tại LHQ kêu gọi quốc tế sử dụng “bất kỳ biện pháp nào cần thiết” để chấm dứt cuộc đảo chính

Nhà cầm quyền quân sự Myanmar cho biết họ đã sa thải đại sứ của nước này tại Liên Hiệp Quốc, một ngày sau khi ông kêu gọi quốc tế giúp chấm dứt cuộc đảo chính quân sự tại đây.

Trong một bài phát biểu đầy xúc động, Kyaw Moe Tun nói không ai nên hợp tác với quân đội Myanmar cho đến khi họ trao lại quyền lực cho chính phủ được dân bầu ra.

Trong khi đó, lực lượng an ninh mạnh tay hơn trong việc đàn áp người biểu tình chống đảo chính hôm thứ Bảy.

Truyền thông địa phương cho biết hàng chục người đã bị bắt, và một phụ nữ bị bắn ở thành phố Monwya. Chưa rõ tình trạng của cô hiện giờ ra sao.ADVERTISEMENThttps://ded5655da12fb358a9a5e6594a5abe1a.safeframe.googlesyndication.com/safeframe/1-0-37/html/container.html

Đất nước Myanmar đã rung chuyển bởi các cuộc biểu tình kể từ khi các nhà lãnh đạo hàng đầu của chính phủ, gồm bà Aung San Suu Kyi, bị lật đổ và bắt giam sau khi quân đội lên nắm quyền vào ngày 1/2.

Đại sứ Liên Hiệp Quốc nói gì?

Phát biểu tại Đại hội đồng LHQ hôm thứ Sáu, Kyaw Moe Tun kêu gọi cộng đồng quốc tế sử dụng “bất kỳ biện pháp nào cần thiết” với quân đội Myanmar để giúp “khôi phục nền dân chủ”, nói rằng ông đại diện cho chính phủ bị lật đổ của bà Suu Kyi.

“Cộng đồng quốc tế cần có những hành động mạnh mẽ hơn nữa để chấm dứt ngay lập tức cuộc đảo chính quân sự, ngăn chặn việc đàn áp người dân vô tội, trả lại quyền cho dân và khôi phục nền dân chủ,” ông nói.

Bài phát biểu đã nhận được tràng pháo tay và bà Linda Thomas-Greenfield, đặc phái viên mới của Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc, là một trong số những người ca ngợi lời kêu gọi của ông là “can đảm”.

Facebook và Instagram chặn tài khoản của quân đội Myanmar

Dân Myanmar biểu tình lớn bất chấp cảnh báo của quân đội

Để tỏ sự bất khuất hơn nữa, Kyaw Moe Tun giơ ba ngón tay lên, một cử chỉ chống lại chế độ độc tài được người biểu tình chống đảo chính trong nước áp dụng.

Đài truyền hình nhà nước Myanmar thông báo tin ông bị cách chức hôm thứ Bảy, nói rằng ông đã “phản bội đất nước và lên tiếng cho một tổ chức không chính thức không đại diện cho đất nước và lạm dụng quyền lực và trách nhiệm của một đại sứ”.

Tình hình Myanmar hiện giờ ra sao?

Các cuộc biểu tình vẫn được tổ chức ở một số thành phố, trong khi vòi rồng được cho là đã được cảnh sát triển khai và hàng chục nhà báo bị giam giữ.

Tại thành phố chính của Yangon, đám đông người biểu tình đã bị cảnh sát tấn công bằng hơi cay.

Nhân chứng nói chuyện với hãng tin Reuters cho biết nhiều người biểu tình bị cảnh sát bắt và đánh đập, cảnh sát cũng được cho là đã bắn chỉ thiên. Những cuộc đụng độ tương tự cũng được tường trình tại thành phố lớn thứ hai là Mandalay.

People react as riot police fire tear gas during a protest against the military coup in Yangon, Myanmar
Chụp lại hình ảnh,Đụng độ giữa người biểu tình và cảnh sát sử dụng hơi cay và đạn cao su xảy ra hôm thứ Bảy
Demonstrators move rubbish bins and tires to build barricades during a protest
Chụp lại hình ảnh,Một số người biểu tình dựng các rào chắn tạm thời để tự bảo vệ trước cảnh sát

Tin một phụ nữ bị bắn trong một cuộc biểu tình ở thành phố trung tâm Monwya, gần Mandalay, được một số hãng truyền thông địa phương đăng tải. Hình ảnh và danh tính của cô được cho là đã lan truyền trên mạng xã hội nhưng chưa được chứng thực.

Một quan chức dịch vụ xe cứu thương sau đó nói với hãng tin Reuters rằng phụ nữ này đang ở bệnh viện, trái ngược với các báo cáo khác rằng cô đã chết.

Một nhân viên y tế trong thị trấn nói với hãng tin AFP rằng ông cũng nhìn thấy một người đàn ông “bị thương nặng” ở chân cùng với ít nhất 10 người khác được điều trị với nhiều vết thương nhẹ hơn. Truyền thông địa phương ở đó cáo buộc là những người này bị cảnh sát mặc thường phục đánh đập.

Ngoại trưởng Anh: Quân đội Myanmar phải trả tự do cho Suu Kyi LHQ cảnh báo chính quyền Myanmar về ‘hậu quả nghiêm trọng’

Người biểu tình ở một số nơi, gồm cả Yangon, được nhìn thấy đã dựng các rào chắn tạm bợ để tìm cách chống đỡ sự đàn áp.

Tướng Min Aung Hlaing bào chữa cho cuộc đảo chính do ông lãnh đạo, nhưng ít nhất ba người biểu tình và một cảnh sát đã chết vì chống lại sự việc này.

Theo nhóm giám sát của Hiệp hội Hỗ trợ Tù nhân Chính trị, hơn 770 người đã bị bắt và kết án kể từ khi cuộc đảo chính bắt đầu.

Ít nhất ba nhà báo đã bị bắt giữ hôm thứ Bảy, trong đó có một nhiếp ảnh gia của AP, theo tin của hãng thông tấn AFP.

Tại sao lại có biểu tình?

Các nhà lãnh đạo quân sự biện minh cho việc chiếm đoạt quyền lực, bằng cáo buộc rằng có gian lận diện rộng trong cuộc bầu cử tháng 11, mà đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) của bà Suu Kyi đã chiến thắng vẻ vang.

Bà Suu Kyi bị quản thúc tại gia và bị buộc tội sở hữu bộ đàm bất hợp pháp và vi phạm Luật Thiên tai. Nhưng ngày càng có nhiều nghi vấn về nơi bà bị giam giữ, trước bối cảnh một trang mạng tin độc lập hôm thứ Sáu đưa tin là bà đã được chuyển đến một địa điểm không được tiết lộ.

Một luật sư của nhà lãnh đạo bị lật đổ 75 tuổi nói với Reuters rằng ông cũng nghe tin bà bị chuyển đi, và không được tiếp xúc với bà trước phiên điều trần kế tiếp.

Quân đội đã ra lệnh cắt điện internet và cũng cấm các nền tảng truyền thông xã hội nhưng các cuộc biểu tình vẫn tiếp diễn hàng ngày. Bên ngoài Myanmar, cuộc đảo chính đã bị thế giới lên án, dẫn đến các lệnh trừng phạt chống lại nhà cầm quyền quân đội và các động thái trừng phạt khác.

2px presentational grey line

Sơ lược về Myanmar

  • Myanmar, còn được gọi là Miến Điện, độc lập khỏi Anh quốc vào năm 1948. Trong phần lớn lịch sử hiện đại của Myanmar, nước này nằm dưới sự cai trị của quân đội
  • Các hạn chế bắt đầu được nới lỏng từ năm 2010, dẫn đến bầu cử tự do vào năm 2015 và việc thành lập chính phủ do nhà lãnh đạo đối lập kỳ cựu Aung San Suu Kyi khởi xướng vào năm sau
  • Năm 2017, quân lính thuộc nhóm dân tộc Rohingya đã tấn công các đồn cảnh sát, và quân đội Myanmar cùng các nhóm phật tử địa phương đã đáp trả bằng một cuộc đàn áp chết người, được cho là đã giết chết hàng nghìn người Rohingya. Hơn nửa triệu người Rohingya chạy trốn qua biên giới sang Bangladesh, và Liên Hiệp Quốc sau đó gọi đây là “thí dụ kinh điển về thanh lọc sắc tộc”
Map with Mandalay
Categories: Uncategorized | Leave a comment

Ông Trump tái xuất và phát biểu tại hội nghị CPAC của đảng Cộng hòa

một giờ trước

Getty Images

Ông Donald Trump trong ngày Chủ Nhật có bài phát biểu đầu tiên kể từ khi rời khỏi chức tổng thống Hoa Kỳ, tại hội nghị hàng năm của phe bảo thủ trong đảng Cộng hòa, Conservative Political Action Conference (CPAC).

Hội nghị diễn ra chỉ vài tuần sau khi ông Trump được tuyên trắng án trong phiên luận tội, là sự kiện mà một số thành viên trong chính đảng Cộng hòa đã bỏ phiếu chống lại ông.

Donald Trump được lệnh phải giao hồ sơ thuế cho các công tố viên

Trump từng mời Kim Jong-un đáp cùng chuyến Không lực Một

Trump ‘bỏ mặc cho mọi người chết ở Điện Capitol’

Ông Trump được trông đợi sẽ công kích người kế nhiệm, Tổng thống Joe Biden, trong bài phát biểu tại Florida, truyền thông Mỹ tường thuật.

Sự xuất hiện tại CPAC cho thấy ông tiếp tục có ảnh hưởng đối với các thành viên Cộng hòa.

Tâm lý chung tại hội nghị lần này là ủng hộ mạnh mẽ ông Trump.

Những người trung thành với ông, trong đó có Thượng nghị sĩ Texas và con trai ông là Donald Trump Jr. nằm trong số những người phát biểu tại hội nghị.

Bài phát biểu của ông Trump đang được các ủng hộ viên của ông cuồng nhiệt đón chờ, dẫu ông đã vắng mặt khỏi vũ đài chính trị kể từ khi rời nhiệm sở.

Vị cựu tổng thống vẫn bị cấm trên các mạng xã hội như Facebook và Twitter, quanh phản ứng của ông đối với vụ bạo loạn người chết người hồi tháng Giêng tại Điện Capitol, Mỹ.

Ông đã sống tại khu nghỉ dưỡng, sân golf của mình, Mar-a-Lago ở Florida, kể từ khi rời Nhà Trắng.

Donald Trump được trông đợi sẽ phát biểu những gì?

Dự kiến trong bài phát biểu, ông Trump sẽ công kích các hành động của Tổng thống Joe Biden, đặc biệt là vấn đề nhập cư và chính sách ngoại giao.

Bài phát biểu của ông cũng được cho là sẽ tập trung vào tương lai của đảng Cộng hòa, giữa lúc đang có những chia rẽ quanh hướng đi của đảng.

Tuy nhiên, ông Trump không được trông đợi là sẽ xác nhận việc ra tranh cử tổng thống lần nữa vào năm 2024, theo một cố vấn cao cấp được hãng tin CBS CS dẫn lời.

Con trai ông, Donald Jr., trong bài phát biểu hôm thứ Sáu đã giới thiệu qua về sự xuất hiện tới đây của cha mình như sau:

“Tôi hình dung ra rằng đó sẽ không phải là một bài phát biểu thiếu năng lượng, và tôi đảm bảo với quý vị rằng nó sẽ đúc kết Donald Trump cùng toàn bộ cảm xúc của quý vị về phong trào “Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại” thành tương lai của đảng Cộng hòa,” ông nói với những người có mặt.

NGUỒN HÌNH ẢNH,REUTERSChụp lại hình ảnh,

Con trai cả của ông Trump công kích Hạ nghị sĩ Cộng hòa Liz Cheney về việc đã bỏ phiếu luận tội cha ông

NGUỒN HÌNH ẢNH,GETTY IMAGESChụp lại hình ảnh,

Cố vấn chính trị Roger Stone, người được ông Trump ân xá, cũng xuất hiện tại hội nghị

Các thành viên của đảng đa phần vẫn trung thành với ông Trump trong thời gian ông tại nhiệm, nhưng có 10 người bỏ phiếu đồng ý luận tội ông tại Hạ Viện hồi tháng trước, và bảy người bỏ phiếu buộc tội ông trong phiên xử tại Thượng Viện sau đó.

Tính tổng số, có 57-43 người bỏ phiếu nói rằng ông phạm tội, nhưng chưa đạt được mức 2/3 cần thiết để buộc tội ông.

Hội nghị CPAC, vốn được tổ chức hàng năm kể từ năm 1974, được coi là sự kiện tập hợp gây ảnh hưởng nhất cùa phe Bảo thủ Mỹ, và là hàn thử biểu xác định hướng đi chính trị của đảng Cộng hòa.

Tuy ông Trump thua trong kỳ tranh cử tổng thống hồi tháng 11 và bị chỉ trích mạnh mẽ về cuộc bạo loạn hồi tháng Giêng do một số ủng hộ viên của ông gây ra, nhưng các tường thuật nói rằng ông Trump vẫn rất được lòng cử tri tại các cứ địa của mình.

Hồi tuần trước, một cuộc thăm dò dư luận tại Hoa Kỳ cho thấy 46% các cử tri từng bỏ phiếu cho ông Trump nói họ sẽ tiếp tục bỏ phiếu cho ông nếu ông ra tranh cử với tư cách ứng viên của một đảng thứ ba, thay vì bầu cho một ứng viên khác của đảng Cộng hòa.

Đã có những đồn đoán về những kế hoạch chính trị trong tương lai của gương mặt 74 tuổi này sau khi ông thất cử.

Hội nghị CPAC đã bắt đầu từ hôm thứ Năm tại Hyatt Regency Hotel ở Orlando.

Categories: Uncategorized | Leave a comment

Lịch Sử PG Hòa Hảo

← OLDER POSTS

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔvà Phật Giáo Thời Ðại

Posted on November 6, 2020 by Giang Huynh

Posted on November 4, 2020 by Giang HuynhEdit

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Ðức Huỳnh Giáo Chủ

Posted on August 26, 2020 by huyentamhh

Ðức Huỳnh Giáo Chủ
Vương KimÐức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.Giáo truyền đạo Thích dìu sanh chúng,Chủ ý chọn người vẹn Tứ ân.(Hình Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)Phần I:HÀNH TRẠNG Thiên thứ nhứtGiai đoạn ra đời mở đạo Chương I: Bối cảnh xã hộiChương II:Thân thếChương III: Ra Tế độChương IV: Đăng SơnChương V: Sứ MạngChương VI: Lưu CưChương VII: Vận Ðộng Ðộc LậpChương VIII: Tổ Chức Hàng NgũChương IX: Chuẩn Bị Ðấu Tranh Thiên thứ haiGiai đoạn hoạt động đấu tranh Chương X: Dấn Thân Thiên thứ baGiai Ðoạn Vắng Mặt Chương XI: Lý Do Thọ NạnChương XII: Còn Hay Mất Phần II:SỰ NGHIỆP Thiên thứ tưSự Nghiệp Về Mặt ÐạoTôn Phái Phật Giáo Hòa Hảo Chương XIII: Học PhậtChương XIV: Tu Nhân Thiên thứ nămSự Nghiệp Về Mặt Ðời:Công nghiệp cách mạng Chương XV: Quân Sự.Bộ Ðội Nguyễn Trung Trực Chương XVI: Chánh TrịViệt Nam Dân Chủ Xã Hội đảng Cùng một tác giả:Long Hoa xuất bản–         Tận Thế và Hội Long Hoa (1952)–         Đức Phật Thầy Tây An (1953) (hiệp với Đào Hưng)–         Để Hiểu Phật Giáo Hòa Hảo (1954) (hiệp với Thanh Sĩ)–         Ðời Hạ Ngươn (1960)–         Đời người dướI ánh sáng Đạo Phật (1960)–         Bửu Sơn Kỳ Hương (1966)–         Hành sử Đạo Nhân (1970)–         Tu Hiền (1972)–         Đời Thượng Ngươn (1973)–         Pháp Môn Tịnh Độ (1973)–         Tại Sao Ta Phải Tu (1974)Dân Xã Tùng Thư–         Chánh trị thường thức (1956)–         Tinh thần cán bộ (1971)–         Lập trường Dân Xã Đảng (1971) MUC LUC CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7 | | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | | CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 || CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|  

about:blankREPORT THIS ADCategories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Ðức Huỳnh Giáo Chủ

Posted on July 29, 2020 by huyentamhh

Ðức Huỳnh Giáo Chủ
Vương Kim

Ðức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.Giáo truyền đạo Thích dìu sanh chúng,Chủ ý chọn người vẹn Tứ ân.(Hình Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)Phần I:HÀNH TRẠNG Thiên thứ nhứtGiai đoạn ra đời mở đạo Chương I: Bối cảnh xã hộiChương II:Thân thếChương III: Ra Tế độChương IV: Đăng SơnChương V: Sứ MạngChương VI: Lưu CưChương VII: Vận Ðộng Ðộc LậpChương VIII: Tổ Chức Hàng NgũChương IX: Chuẩn Bị Ðấu Tranh Thiên thứ haiGiai đoạn hoạt động đấu tranh Chương X: Dấn Thân Thiên thứ baGiai Ðoạn Vắng Mặt Chương XI: Lý Do Thọ NạnChương XII: Còn Hay Mất Phần II:SỰ NGHIỆP Thiên thứ tưSự Nghiệp Về Mặt ÐạoTôn Phái Phật Giáo Hòa Hảo Chương XIII: Học PhậtChương XIV: Tu Nhân Thiên thứ nămSự Nghiệp Về Mặt Ðời:Công nghiệp cách mạng Chương XV: Quân Sự.Bộ Ðội Nguyễn Trung Trực Chương XVI: Chánh TrịViệt Nam Dân Chủ Xã Hội đảng

about:blankREPORT THIS AD

Cùng một tác giả:Long Hoa xuất bản–         Tận Thế và Hội Long Hoa (1952)–         Đức Phật Thầy Tây An (1953) (hiệp với Đào Hưng)–         Để Hiểu Phật Giáo Hòa Hảo (1954) (hiệp với Thanh Sĩ)–         Ðời Hạ Ngươn (1960)–         Đời người dướI ánh sáng Đạo Phật (1960)–         Bửu Sơn Kỳ Hương (1966)–         Hành sử Đạo Nhân (1970)–         Tu Hiền (1972)–         Đời Thượng Ngươn (1973)–         Pháp Môn Tịnh Độ (1973)–         Tại Sao Ta Phải Tu (1974)Dân Xã Tùng Thư–         Chánh trị thường thức (1956)–         Tinh thần cán bộ (1971)–         Lập trường Dân Xã Đảng (1971)

about:blankREPORT THIS AD

MUC LUC CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7 | | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | | CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 |

CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

.  .  . Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ và Phật Giáo Thời Ðại

Posted on July 29, 2020 by huyentamhh

…… …. .. . .Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔvà Phật Giáo Thời ÐạiLê Hiếu Liêm Viện Tư Tưởng Việt Phật Hoa Kỳ 1995tái bản lần thứ hai 2001 Kính tặng những người mang tâm hạnh Bồ Tát tùy thuận phụng sự chúng sanh đã hy sinh tự do và thân mạngcho lý tưởng cứu khổ cứu nạn con dân và đất nước Việt Nam thân yêu. Viện Tư Tưởng Việt PhậtChuyển luân chánh pháp vào thời đại,chính sách quốc gia & đời sống quốc dân.Mục LụcChương Một: Việt Nam và Phật Giáo đầu Thế Kỷ 20.Chương Hai: Tư  Tưởng Phật Học Của Thiền Sư Thích Thiện Chiếu.A/ Cuộc đời và hành trạng của thiền sư Thích Thiện Chiếu.B/ Tư tưởng Phật học của thiền sư Thích Thiện Chiếu và các bạn cùng lý tưởng.a/ Bác bỏ Thượng Đế.b/ Bác bỏ thuyết linh hồn bất tử.c/ Bác bỏ quan niệm thiên đàng, niết bàn.d/ Thuyết vô ngã.1/ Mâu thuẩn của niết bàn.2/ Mâu thuẩn nhân quả. Chương Ba: Cuộc đời của Huỳnh Phú Sổ.A/ Cuộc đời thanh thiếu niên.B/ Cuộc đời hành đạo.C/ Những năm tháng bị quản thúc, lưu đày.D/ Thời gian sống ở Sài Gòn và đi khuyến nông tại miền Tây.E/ Quê hương bừng dậy trong cách mạng và kháng chiến.F/ Dấn thân hoạt động cách mạng kháng chiến cứu quốc.G/ Những ngày cuối cùng của Huỳnh Phú Sổ.H/ Các tác phẩm của Huỳnh Phú Sổ. Chương Bốn: Nguồn Gốc Lịch Sử, Bối Cảnh Chính Trị Và Truyền Thống Tâm Linh.A/ Công cuộc Nam tiến.B/ Cuộc kháng chiến chống Pháp.C/ Truyền thống Đạo Pháp và Dân Tộc. Chương Năm: Tinh Hoa Tư Tưởng Phật Học Và Phương Thức Chấn Hưng Phật Giáo Của Huỳnh Phú Sổ.1/ Phương pháp luận của Huỳnh Phú Sổ.2/ Hình thức giảng đạo.3/ Đối tượng hoằng pháp.4/ Phương thức cứu độ.5/ Tinh yếu tư tưởng Huỳnh Phú Sổ. Chương Sáu: Cuộc Cách Mạng Tôn Giáo Của Huỳnh Phú Sổ.1/ Khuyến khích tu hành theo đạo Phật.2/ Bài trừ mê tín dị đoan.3/ Việt hóa nghi thức thờ phượng.4/ Đề cao vai trò của người Phật tử tại gia.5/ Áp dụng thuyết tứ ân, đưa đạo Phật vào đời.6/ Đưa đạo Phật vào thời đại.7/ Hình thành một tôn giáo dân tộc. Chương Bảy: Con Đường Hành Động Phật Giáo Qua Hành Trạng Của Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ.A/ Tranh đấu cho độc lập, thống nhất, hòa giải và đoàn kết dân tộc.B/ Nổ lực đoàn kết, thống nhất Phật giáo. Chương Tám: Nội Dung Phật Pháp Của Phật Giáo Hòa Hảo.– Đường trung đạo.– Chư Phật có bốn đại đức.– Tam nghiệp và thập ác.1/ Sát sanh.2/ Đạo tặc.3/ Tà dâm.4/ Lưỡng thiệt.5/ Ỷ ngôn.6/ Ác khẩu.7/ Vọng ngữ.8/ Tham lam.9/ Sân nộ.10/ Mê si. – Sơ giải về tứ diệu đế.– Luận về bát chánh.1/ Chánh kiến.2/ Chánh tư duy.3/ Chánh nghiệp.4/ Chánh tinh tấn.5/ Chánh mạng.6/ Chánh ngữ.7/ Chánh niệm.8/ Chánh định. – Cư sĩ Huỳnh Phú Sổ và danh tăng Narada Maha Thera.– Thập nhị nhơn duyên.– Môn hoàn diệt.– Đức Phật đối với chúng sanh.– Lời khuyên bổn đạo.– Trong việc tu thân xử kỷ. Chương chín: Hình Thức Tín Ngưỡng Của Phật Giáo Hòa Hảo.A/ PGHH là một tông phái Phật giáo tu hành tại gia.B/ Hình thức thờ phượng, lễ bái, cầu nguyện.– Thờ phượng.– Hành lễ.– Tang lễ.– Hôn nhân.– Những điều cấm làm.– Đối với các tôn giáo và nhân sanh.– Điều kiện vo đạo.– Sự cúng lay của người cư sĩ tại gia. C/ Tám điều răn cấm.– Lời khuyên bổn đạo. Chương Mười: Thi Kệ Của Huỳnh Phú Sổ.– Thi kệ của Huỳnh Phú Sổ và thi kệ của Nhất Hạnh.– Huỳnh Phú Sổ là một phần mầu nhiệm của chúng ta. Phụ Lục.– Nhận định Tình Hình Tôn Giáo Tại Việt Nam của tác giả.– Đức Huỳnh Giáo Chủ Như Là Một Triết Gia Việt Nam của Học Giả Phạm Công Thiện.– Huỳnh Phú Sổ Và Chúng Ta của Tiến Sĩ Lý Khôi Việt.  Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ Và Phật Giáo Thời Đại là một tác phẩm sử học và Phật học nên tác giả đã không thể viết khác hơn về một số sự thật lịch sử và một số nhận định, phê bình. Lịch sử là lịch sử. Và tự do tư tưởng là quyền tự do căn bản nhất, thiêng liêng nhất của mọi con người trong thế giới văn minh ngày nay.Tác giả hoan nghênh và sẵn sàng thảo luận với bất cứ ai về bất cứ vấn đề gì được nêu lên trong tác phẩm nầy.* Các hình của Huỳnh Phú Sổ được chụp lại từ trong cuốn Phật Giáo Hòa Hảo Trong Dòng Lịch Sử Dân Tộc của Nguyễn Long Thành Nam.Viện Tư Tưởng Việt PhậtP.O Box 915Danville, CA 94526. USA  Tác Giả & Tác Phẩm * Tác giả Lê Hiếu Liêm sinh năm 1952 tại Huế, tốt nghiệp Cử nhân Luật Khoa đại Học Sài Gòn năm 1974 và Tiến Sĩ Luật Khoa, chuyên ngành về Luật Các Tổ Chức Quốc Tế Và Bang Giao Kinh Tế Quốc Tế, đại Học Sorbonne năm 1978, sáng lập Tạp Chí Khai Phóng (1981), báo Thanh Niên Hành động (1984), báo The Berkeley Times (1986), Viện Tư Tưởng Việt Phật (1990), Tạp Chí Bông Sen (1991) và Trường Phật Học Lý Trần (1991).Trong hơn hai thập niên qua, tác giả đã hoàn thành các tác phẩm sau đây:– Ý Thức Hệ Của Các Quốc Gia Đang Phát Triển (1970),– Chiến Tranh Việt Nam Và Luật Quốc Tế (1973),– Hợp Tác Và Hội Nhập Tại Đông Nam Á (1976),– Việt Nam Và Hoa Kỳ Trong Thời đại Mới 1976-2000 (1976),– Bản Điều Trần Nguyễn Trường Tộ Mới (1977),– Khía Cạnh Pháp Lý Và Thực Tế Của Sự Giao Thương Nga-Mỹ (luận án tiến sĩ, 1978),– Việt Nam Tranh Đấu Sử Luận (1980),– Hai Ngàn Năm Việt Nam Và Phật Giáo (1981). Tác giả đã viết trên 200 bài nghiên cứu, tham luận, bình luận, phóng sự, bút ký… dưới các bút hiệu khác nhau, về các vấn đề Phật Giáo, Phật Học và Đất Nước, được đăng tải trên các tạp chí Phật Giáo Việt Nam, Khai Phóng, Giao Điểm, Hoa Sen, Bông Sen, Bông Sen Âu Châu… và được trích đăng lại trong nhiều tờ báo khác.Tác giả Lê Hiếu Liêm là chủ biên của bộ Phật Học Lý Trần, Khóa Căn Bản (Năm thứ nhất Cao Đẳng Phật học), Khóa Trung Cấp (Năm thứ hai Cao Đẳng Phật học) và Khóa Cao Cấp (năm thứ ba Cử Nhân Phật học) tổng cộng 6.000 trang.Ngay từ tác phẩm đầu tiên “Ý Thức Hệ Của Các Quốc Gia đang Phát Triển”, được viết khi 18 tuổi, tác giả đã đề nghị lấy Phật Giáo để dung hòa, hóa giải các nguồn ý thức hệ đang tàn phá Việt Nam và làm chủ đạo văn hóa-chính trị mới cho Việt Nam.Lời kêu gọi này tiếp tục được đưa ra trong Bản Điều Trần gởi các nhà lãnh đạo Việt Nam, được viết khi 24 tuổi, và được tác giả mang đến trao cho phái đoàn Thủ Tướng Phạm Văn Đồng đang công du tại Pháp trong năm 1977.Thông điệp giải cứu và quang hưng đất nước trong tinh thần khoan dung, khai phóng, từ bi và trí tuệ của đạo Phật, đồng thời cũng là của truyền thống văn hóa dân tộc và của thời đại, được tác giả tiếp tục khẳng định trong hầu hết các tác phẩm được viết từ suốt 20 năm qua. * Tác phẩm Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ Và Phật Giáo Thời Đại được viết từ cuối năm 1994 và hoàn thành, quyển một, vào tháng tư năm 1995. Đây là quyển đầu tiên của bộ sách ba cuốn viết về Huỳnh Phú Sổ. Quyển một giới thiệu cuộc đời – tư tưởng Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ và nội dung giáo lý – hình thức tín ngưỡng của Phật Giáo Hòa Hảo, như một tông phái Phật giáo được Việt hóa và hiện đại hóa. Quyển hai so sánh Huỳnh Phú Sổ và các vị giáo chủ khác, cùng đối chiếu Phật Giáo với các tôn giáo khác, đây là một bản tổng kết và đánh giá di sản tôn giáo của dân tộc và nhân loại. Quyển ba trình bày những tiên đoán về tương lai của các tôn giáo và của Phật Giáo Việt Nam, và đưa ra những đề nghị để xây dựng một nền Phật Giáo Thời đại trong Thời đại Phật Giáo, là thế kỷ 21 sắp đến. “Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ đã đưa lịch sử vượt qua tương lại, đã nối liền Đạo Pháp với Dân Tộc, và đã đến hiện đại từ truyền thống. Ý thức  mới trong văn hóa, tôn giáo và chính trị của Ông vẫn còn rực sáng để đánh thức chúng ta, dẫn đường cho thời đại, cho sinh mệnh Việt Nam và tương lai Phật Giáo Việt Nam. Tất cả chúng ta, những ai vẫn còn mang trong trái tim truyền thống văn hóa và tâm linh của dân tộc, chính là hóa thân của Huỳnh Phú Sổ, của Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung, của Khuông Việt, Vạn Hạnh, Lý Công Uẩn.Huỳnh Phú Sổ bất tử.Vì sự nghiệp của ông chính là sự nghiệp Phật Giáo.Vì sự nghiệp của ông chính là sự nghiệp Việt Nam.Vì Huỳnh Phú Sổ đã trở thành một phần mầu nhiệm của Việt Nam, của Phật Giáo, của mỗi chúng ta…” |Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10|TK|[BHH430] [PGHH] [THƯ VIỆN PGHH]

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Ðức Huỳnh Giáo Chủ

Posted on July 18, 2020 by huyentamhh

Ðức Huỳnh Giáo Chủ
Vương KimÐức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.Giáo truyền đạo Thích dìu sanh chúng,Chủ ý chọn người vẹn Tứ ân.(Hình Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)Phần I:HÀNH TRẠNG Thiên thứ nhứtGiai đoạn ra đời mở đạo Chương I: Bối cảnh xã hộiChương II:Thân thếChương III: Ra Tế độChương IV: Đăng SơnChương V: Sứ MạngChương VI: Lưu CưChương VII: Vận Ðộng Ðộc LậpChương VIII: Tổ Chức Hàng NgũChương IX: Chuẩn Bị Ðấu Tranh Thiên thứ haiGiai đoạn hoạt động đấu tranh Chương X: Dấn Thân Thiên thứ baGiai Ðoạn Vắng Mặt Chương XI: Lý Do Thọ NạnChương XII: Còn Hay Mất Phần II:SỰ NGHIỆP Thiên thứ tưSự Nghiệp Về Mặt ÐạoTôn Phái Phật Giáo Hòa Hảo Chương XIII: Học PhậtChương XIV: Tu Nhân Thiên thứ nămSự Nghiệp Về Mặt Ðời:Công nghiệp cách mạng Chương XV: Quân Sự.Bộ Ðội Nguyễn Trung Trực Chương XVI: Chánh TrịViệt Nam Dân Chủ Xã Hội đảng Cùng một tác giả:Long Hoa xuất bản–         Tận Thế và Hội Long Hoa (1952)–         Đức Phật Thầy Tây An (1953) (hiệp với Đào Hưng)–         Để Hiểu Phật Giáo Hòa Hảo (1954) (hiệp với Thanh Sĩ)–         Ðời Hạ Ngươn (1960)–         Đời người dướI ánh sáng Đạo Phật (1960)–         Bửu Sơn Kỳ Hương (1966)–         Hành sử Đạo Nhân (1970)–         Tu Hiền (1972)–         Đời Thượng Ngươn (1973)–         Pháp Môn Tịnh Độ (1973)–         Tại Sao Ta Phải Tu (1974)Dân Xã Tùng Thư–         Chánh trị thường thức (1956)–         Tinh thần cán bộ (1971)–         Lập trường Dân Xã Đảng (1971) MUC LUC CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7 | | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | | CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 || CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ và Phật Giáo Thời Ðại

Posted on July 18, 2020 by huyentamhh

…… …. .. . .Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔvà Phật Giáo Thời ÐạiLê Hiếu Liêm Chương một: Dẫn nhập Việt Nam và Phật Giáo đầu thế kỷ hai mươi. Đầu thế kỷ 20, tư tưởng Nho Giáo, thống trị độc tôn đất nước từ Thời Hồ Quý Ly, nhà Lê và nhà Nguyễn suốt 400 năm, hoàn toàn sụp đổ. Tư tưởng Phật Giáo, ngự trị vinh quang trong thời đại Lý Trần từ thế kỷ thứ 11 đến cuối thế kỷ 14, suy đồi tận gốc. Tư tưởng Tây Phương và tôn giáo của nó, Thiên Chúa Giáo La Mã, bị đại đa số trí thức và nhân dân coi như sản phẩm và công cụ của chế độ Thuộc Địa và thực dân Pháp nên vẫn không được chấp nhận. Ý thức hệ Cộng Sản cũng như các tư tưởng mới khác chưa ra đời. Cả một khoảng trống tư tưởng, cũng có nghĩa là một khoảng trống tôn giáo và chính trị, to lớn bao trùm trên một nước Việt Nam bị nô lệ, bóc lột, áp bức, lạc hậu và nghèo đói. Nhưng đây cũng là môi trường lý tưởng cho sự ra đời của những tư tưởng mới, những tôn giáo mới, những chính đảng mới và những phong trào mới: Phong trào Đông Du và Việt Nam Duy Tân Hội của Phan Bội Châu từ năm 1904, Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can và các nhà Nho tiến bộ năm 1907, tư tưởng dân quyền và dân chủ của Phan Chu Trinh suốt hai mươi năm (1905-1925), phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội cùng năm, Việt Nam Quang Phục Hội năm 1912, cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ và ở Huế năm 1916 của Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, vua Duy Tân…, phong trào Hội Kín ở miền Nam năm 1913-1916 lan rộng khắp Lục Tỉnh và cuộc tấn công Sài Gòn năm 1916. Các hoạt động này đã liên tục diễn ra từ đầu thế kỷ 20 đến cuối đệ nhất thế chiến.Tuy nhiên mãi đến đầu thập njiên 20 Việt Nam mới thật sự thức dậy với sự ra đời Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng Chí Hội và Tân Việt Cách Mạng Đảng năm 1925, Đạo Cao Đài năm 1926, Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927, Cuộc khởi nghĩa Yên Bái và sự ra đời của Đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930 và phong trào Sô Viết Nghệ Tỉnh 1930-1931. Trong thời gian sôi động này, từ 1925 trở đi, Phật Giáo cũng đã thức dậy. Từ năm 1923, thiền sư Khánh Hòa và thiền sư Thiện Chiếu đã thành lập, tại chùa Long Hòa ở Trà Vinh, Hội Lục Hòa Liên Hiệp với mục đích vận động thành lập một Hội Phật Giáo Việt Nam toàn quốc để chấn hưng Phật Giáo. Thiền sư Thiện Chiếu, khác hẳn tất cả tăng sĩ Phật Giáo đương thời, là một tăng sĩ có tân học. Ông đã đi ra Trung và Bắc vận động thống nhất Phật Giáo năm 1927 nhưng bất thành.Năm 1928 thiền sư Khánh Hòa xây dựng Thích Học Đường và Phật Học Thư Xã tại Chùa Linh Sơn, Sài Gòn và năm 1929 Ông cho ấn hành tạp chí Viên Âm, tập san Phật Học đầu tiên bằng quốc ngữ tại Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Xoài Hột, Mỹ Tho. Cùng thời, thiền sư Thiện Chiếu xuất bản một tạp chí Phật Học nhắm vào giới thanh niên trí thức lấy tên là Phật Hòa Tân Thanh Niên, đặt tòa soạn tại chùa Chúc Thọ ở Gia Định. Năm 1931 thiền sư Khánh Hòa cùng nhiều tăng sĩ và cư sĩ thành lập Hội Phật Học đầu tiên tại Việt Nam, lấy tên là Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học và thiền sư Từ Phong được mời làm Chánh Hội Trưởng. Hội ra tờ Từ Bi Âm năm 1932. Thiền sư Khánh Hòa, cùng người cộng sự thân tín là thiền sư Thiện Chiếu đã đóng vai trò tiền phong khai mở phong trào chấn hưng Phật Giáo và hiện đại hóa Phật Giáo, chuyển động sâu rộng lịch sử Phật Giáo và lịch sử Việt Nam trong suốt 65 năm qua.Tại miền Trung, thiền sư Giác Tiên mở Phật Học Đường  tại chùa Trúc Lâm năm 1929 và ủy thác cho đệ tử là bác sĩ Lê Đình Thám thành lập Hội An Nam Phật Học năm 1932. Hội quy tụ đông đảo những danh tăng và cư sĩ trí thức tại miền Trung. Cư sĩ Lê Đình Thám được bầu làm Hội Trưởng và vua Bảo Đại được mời làm Hội Trưởng Danh Dự. Hội ra tạp chí Phật Học Viên Âm năm 1933. Năm 1934, thiền sư Giác Tiên, cư sĩ Lê Đình Thám… đã thành lập Trường An Nam Phật Học, trong đó có mở cấp Đại Học Phật Giáo. Đặc biệt hơn nữa là Hội đã phát động phong trào “Chỉnh Lý Tăng Già” rất quyết liệt để loại trừ ra khỏi tăng già những thành phần phạm giới, bất xứng. Chính nhờ những nổ lực cấp tiến này mà Phật Giáo miền Trung đã đóng được một vai trò quan trọng trong những thập niên sau đó.Năm 1934 các thiền sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo cùng với giới cư sĩ trí thức tên tuổi tại Hà Nội như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Dương Bá Trạc, Trần Văn Giáp, Nguyễn Năng Quốc, Nguyễn Hữu Kha, Bùi Kỷ, Lê Dư… thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội, bầu cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm hội trưởng và suy tôn thiền sư Thanh Hanh làm Thiền Gia Pháp Chủ. Đặc biệt là trong buổi lễ suy tôn Pháp Chủ này, cư sĩ Trần Trọng Kim đã thuyết pháp về đề tài; “Thập Nhị Nhân Duyên”. Hội ra tạp chí Đuốc Tuệ năm 1935 và phát triển mạnh mẽ khắp miền Bắc (Nguyễn Lang, Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, q 3, t 51-173).Đặc tính của cả ba Hội Phật Học tại ba miền là vai trò nổi bật của giới trí thức cư sĩ, là thuần túy Phật học và sinh hoạt Phật sự. Thời điểm 1925-1945 là thời điểm chuẩn bị trong kiên nhẫn và thầm lặng. Các hội Phật Học đã làm đúng chức năng và vai trò lịch của mình, một cách khiêm tốn, từ đống gạch vụn đổ nát của nền Phật học và Phật Giáo Việt nam trong thời Thực Dân Pháp thống trị.Trong thời kỳ này xuất hiện những con người đặc biệt, xuất sắc và những tư tưởng mạnh mẽ, quyết liệt, trong Phật Giáo cũng như ngoài Phật Giáo. Từ đầu thập niên 30, tư tưởng Phật Hộc của Thích Thiện Chiếu đã là những quả bom chấn động. Và năm 1939 Huỳnh Phú Sổ xuất hiện làm một cuộc cách mạng tôn giáo, cải cách toàn bộ và triệt để Phật Giáo chưa từng có trong hai ngàn năm lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Miền Nam, một vùng đất lạ lùng và kỳ diệu… An Hòa TựPhan Chu Trinh từ Pháp trở về Sài Gòn năm 1925, đất nước bùng lên những làn sóng tư tưởng dân quyền và dân chủ. Ông khẳng định phải tìm nguyên nhân mất nước trong sự mất đạo đức, mất luân lý, trong bài diễn thuyết Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây, và ông cũng khẳng định chế độ quân chủ chuyên chế là nguyên nhân chính làm mất nước trong bài thuyết giảng Quân Trị Chủ Nghĩa và Dân Trị Chủ Nghĩa tại Sài Gòn năm 1925. Ông mất năm sau đó và đám tang ông cùng với cuộc vận động ân xá nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã khơi bùng phong trào yêu nước và yêu tự do dân chủ trên toàn quốc, đặc biệt là trong giới thanh niên.Nhưng dữ dội, bốc lửa và sấm sét trong tư tưởng yêu nước chống thực dân cũng như tư tưởng tự do dân chủ, trong thời này, chỉ có Nguyễn An Ninh là đi xa nhất, quyết liệt nhất. Là một thanh niên miền Nam, Ông đi du học ở Pháp và trở về nước với bằng cử nhân Luật. Lợi dụng quy chế thuộc địa của Nam Kỳ, nơi mà báo chí bằng tiếng Pháp được tự do, không bị kiểm duyệt, Ông ra tờ La Cloche fèlèe (Tiếng Chuông Rè) từ năm 1923 đến năm 1926. Ông tự xưng tờ báo của Ông là “cơ quan tuyên truyền tư tưởng Pháp”, lấy tư tưởng của kẻ xâm lăng để đập những nhát búa tạ vào chế độ Thực Dân, đồng thời tờ báo cũng tự nhận là “cơ quan chuẩn bị cho tương lai dân tộc”. Thật là độc đáo và tuyệt vời.Ngoài việc phê bình kịch liệt, thẳng tay chính sách và chế độ thực dân, Ông cổ võ cho việc đào tạo một tầng lớp thanh niên Việt Nam tân học, có văn hóa, có lý tưởng, có chí khí, có năng lực và có tổ chức và Ông tuyệt đối tin vào sức mạnh và vào tương lai của nhân dân Việt Nam. Ông chủ trương một nước Việt Nam thống nhất từ Nam chí Bắc và trở về lịch sử dân tộc để tìm niềm tin và sức mạnh. Ông hô hào, khi chỉ mới ngoài 20 tuổi, “Chẳng những phải duy trì những giấc mộng vĩ đại, mà còn phải tổ chức thành một nhóm quan trọng để chuẩn bị cho tương lai”. Không những tư tưởng táo bạo, độc đáo, mới lạ, kiến thức của Ông cũng rất uyên bác. Khi Thống Đốc Nam Kỳ tuyên bố: “Xứ này không cần trí thức”. Ông đã viết bài trả lời bốc lửa: “… Những thảm khổ của chúng ta ngày nay, còn gì nữa, đúng là do tổ tiên của chúng ta đã sờ mó vào cây kiến thức. Hạng trí thức đã làm đảo lộn thế giới, làm hư hỏng hạnh phúc của thế giới. Hãy nguyền rủa tên tuổi của Prométhé, kẻ đã lấy trộm chút lửa của Trời. Hãy nguyền rủa con người đã bày ra cái ná cao su cho trẻ con bắn đá vào trán ông khổng lồ… Trí Tuệ, đó là cái tai hại. Trí tuệ, đó là con rắn cuốn quanh thân cây đã làm cho chúng ta vĩnh viễn mất cõi thiên đường… Nói đến vai trò giáo dục, vai trò văn minh của các ông chủ xứ Đông Dương này, thưa các ông, điều ấy làm ta mỉm cười… Người ta đã quỳ lụy bái phục những vị “đem ánh sáng tới”, những vị “làm điều kỳ diệu ở Ấu Châu”… Cái gì kỳ diệu? Thực ra cái kỳ diệu đó là, chỉ trong một thời gian ngắn thôi, người ta đã có thể làm cho trình độ trí thức của người Nam đã thấp đi lại càng rơi vào chỗ cực kỳ dốt nát. Cái kỳ diệu đó là người ta đã có thể, trong một thời gian ngắn như thế, xô đẩy một dân tộc có tư tưởng dân chủ, ngã nhào vào tình trạng nô lệ hoàn toàn“. (Trần Văn Giàu, Sự Phát Triển Của Tư Tưởng ở Việt Nam Từ Thế Kỷ 19 đến Cách Mạng Tháng Tám, q2, t 311).Nguyễn An Ninh cũng là một trong những nhà trí thức tân học đầu tiên nghiên cứu Phật Học và hoàn thành một tác phẩm Phật Học quan trọng, cuốn “Phê Bình Phật Giáo”. Sau thời kỳ hoạt động sôi nổi từ 1923 đến 1926, Nguyễn An Ninh bị ở tù trong thời gian 1926-1927, sau đó Ông về nghiên cứu Phật Giáo. Trên bàn làm việc của Ông, có một cái chuông, một cái mõ, Ông cạo trọc đầu và đi chân không. Ông nghiên cứu Phật Giáo qua tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và các hoạt động Phật Giáo trong nước. Cuốn Phê Bình Phật Giáo xuất bản năm 1937 là kết quả của sự nghiên cứu này. Tựa đề của cuốn sách, 70 năm sau cũng không có ai dám viết một cuốn sách Phật Học có tựa đề thách thức và can đảm như vậy. Mục đích và phương pháp luận còn mới lạ, táo bạo hơn, đó là “so sánh Phật Giáo với thời đại của nó để chỉ chỗ hay, chỗ đúng hơn của nó đối với các thuyết khác và so sánh Phật Giáo với thời đại này để chỉ sai lầm của Phật Giáo“. Tác phẩm này được giới trí thức, giới chính trị cũng như giới Phật Giáo chú ý đặc biệt.Nhưng không gây sóng gió và tranh luận suốt nhiều năm trời như những tác phẩm của Thích Thiện Chiếu. Đối với Tăng, Ni, Phật Tử thập niên 30, những tư tưởng Phật Học của Thích Thiện Chiếu là những tiếng sét ngang tai. Ngày nay đọc lại, chắc chắn quý vị tăng sĩ, cư sĩ và Phật Tử cũng không khỏi giựt mình, chấn động và suy nghĩ. Những tư tưởng này, được viết từ thập niên 30, ngày nay, cuối thập niên 90, vẫn còn mới, còn táo bạo, còn chứa đầy sức nặng của đá tảng và sức nổ của sấm sét. Thích Thiện Chiếu là tinh hoa sáng chói của Phật Giáo trong thập niên 20, 30. Ông đã đi tiền phong trong mọi lãnh vực chấn hưng và hiện đại hóa Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ 20 này.Ta phải đứng trên một đỉnh núi cao, mới hy vọng nhìn thấy những cái gì chưa ai nhìn thấy, những cái gì nằm khuất sau dãy núi cao. đó có thể là những dãy núi cao hơn, hay là một đại dương mênh mông hay là một bình nguyên rực rỡ. Thích Thiện Chiếu là một ngọn núi cao của Phật học và Phật Giáo Việt Nam trước đệ nhị thế chiến. Ta hãy đứng trên đỉnh núi cao ngất, hùng tráng này để nhìn rõ một đỉnh núi cao ngất, hùng vĩ khác, là Cư sĩ, Bồ Tát, Giáo Chủ Huỳnh Phù Sổ. |Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10|TK|

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Phật giáo Hòa Hảo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Posted on May 31, 2020 by huyentamhh

Tính năng Tạo tài khoản · Hướng dẫn người mới · Quy định · Viết bài mới · Chỗ thử · Câu thường hỏi · Sách hướng dẫn · Dịch bài · Thêm chú thích · Thảo luận · Liên hệ quản lý
Tiêu chuẩn bài viết Đủ độ nổi bậtvăn phong trung lập và có nguồn đáng tin cậy · Không spam quảng cáo · Không vi phạm bản quyền · Cẩm nang biên soạn

Phật giáo Hòa Hảo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Buớc tưới chuyển hướngBước tới tìm kiếm

Biểu tượng Phật giáo Hòa Hảo

Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ

Phật giáo Hòa Hảo, là một tông phái Phật giáo do Huỳnh Phú Sổ khai lập năm Kỷ Mão 1939, lấy pháp môn “Học Phật – Tu Nhân” làm căn bản và chủ trương tu hành tại gia (Tại gia cư sĩ). Tôn giáo này lấy nền tảng là Đạo Phật, kết hợp với những bài sấm kệ do chính Huỳnh Phú Sổ biên soạn.

Theo thống kê năm 2009 có khoảng 1.433.252 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo khiến tôn giáo này trở thành tôn giáo có số tín đồ đông thứ 4 tại Việt Nam.[1]

Mục lục

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ra đời[sửa | sửa mã nguồn]

Phật giáo Hòa Hảo ra đời tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang) vào năm 1939 do Huỳnh Phú Sổ sáng lập.

Huỳnh Phú Sổ, còn được gọi là “Thầy Tư Hoà Hảo”, “Đức Huỳnh Giáo chủ”, khi đó chưa đầy 18 tuổi, tuyên bố mình là bậc “Sinh nhi tri”, biết được quá khứ nhìn thấu tương lai, được thọ mệnh cùng với Phật A-di-đà và Phật Thích-ca Mâu-ni, xuống hạ giới có nhiệm vụ truyền bá cho dân chúng tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương để Chấn hưng Phật giáo, cứu độ chúng sinh khỏi sông mê, biển khổ và “đưa nhân loại đi vào vòng hạnh phúc”. Ông chữa bệnh cho người dân bằng các bài thuốc nam do ông kê toa hoặc nước lã, giấy vàng, lá xoài, lá ổi, bông trang, bông thọ, đồng thời qua đó ông truyền dạy giáo lý bằng những bài sám giảng (còn gọi là sấm giảng) do ông soạn thảo. Vì vậy chỉ trong vòng 2 năm từ 1937 đến 1939 số người tin theo ông đã khá đông và ông trở nên nổi tiếng khắp vùng.

Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (tức 4 tháng 7 năm 1939), Huỳnh Phú Sổ bắt đầu khai đạo, khi ông chưa tròn 20 tuổi. Nơi tổ chức lễ khai đạo chính là gia đình ông. Ông đã lấy tên ngôi làng Hòa Hảo nơi mình sinh ra để đặt tên cho tôn giáo mới của mình: Phật giáo Hòa Hảo. Sau đó, ông được các tín đồ suy tôn làm thầy tổ, và gọi ông bằng cái tên tôn kính là Đức Tôn Sư, Đức Thầy.

Kể từ đó, ông lần lượt làm nhiều bài thơ ca, sau được tập hợp lại thành quyển Sấm giảng thi văn giáo lý, nội dung cốt lõi là giáo lý của Đức Phật Thích Ca, và có phần gần gũi với tư tưởng thần bí và tín ngưỡng dân gian ở Nam Bộ lúc bấy giờ.

Tổ đình Phật giáo Hòa Hảo, xưa thuộc làng Hòa Hảo, nay thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Thời kỳ 1941 – 1944[sửa | sửa mã nguồn]

Sang năm 1941, đạo Hòa Hảo tiếp tục gia tăng số lượng tín đồ của mình một cách nhanh chóng. Khi Nhật vào Đông DươngPháp lo ngại Nhật tranh thủ giáo phái Hòa Hảo nên đã câu thúc Huỳnh Phú Sổ ở Châu ĐốcBạc LiêuCần Thơ. Năm 1942, Nhật vận động được ông về Sài Gòn. Tại đây, ông đã vận động được nhiều nhân vật hoạt động chính trị thân Nhật vào đạo Hòa Hảo để gây thanh thế, đồng thời thời gian này nhiều thanh niên theo đạo Hòa Hảo cũng tham gia các tổ chức của Nhật. Năm 1944, Phật giáo Hòa Hảo thành lập lực lượng vũ trang dưới tên gọi Đội Bảo An.[2]

Thời kỳ 1945 – 1955[sửa | sửa mã nguồn]

Xung đột với Việt Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Nam Bộ là nơi phát tích của giáo phái Hòa Hảo, với đa số tín đồ là những người dân hiền hòa, yêu nước. Nhằm thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân, Ủy ban nhân dân Nam Bộ mới thành lập sau Cách mạng tháng Tám đã mời người sáng lập giáo phái là Huỳnh Phú Sổ giữ chức ủy viên đặc biệt của Ủy ban. Tuy nhiên, Việt Minh cho rằng một số lãnh đạo Hòa Hảo có nhiều tham vọng về quyền hành đã lợi dụng danh nghĩa của giáo phái Hòa Hỏa đòi giao những tỉnh có đông tín đồ (như Cần Thơ, Long Xuyên, Châu Đốc) cho họ quản lý. Khi yêu sách này không được đáp ứng, họ 2 lần tổ chức biểu tình tuần hành, kéo vào thị xã Long Xuyên (cuối tháng 8-1945) và thị xã Châu Đốc (đầu tháng 9-1945) định gây bạo loạn cướp chính quyền. Lực lượng vũ trang cách mạng được huy động đến kịp thời giải tán.[3] Theo Archimedes L.A Patti, Hòa Hảo chống lại chủ trương của Việt Minh muốn đàm phán với Đồng Minh nên tổ chức biểu tình đòi vũ trang quần chúng chống lại việc quân Anh, Pháp đổ bộ vào Nam Kỳ[4].

Ngày 8/9/1945, những người đứng đầu Phật giáo Hòa Hảo lại tổ chức tuần hành ở thị xã Cần Thơ với khẩu hiệu chống thực dân Pháp và chống độc tài. Việt Minh cho rằng Hòa Hảo muốn cướp chính quyền.[5] Chính quyền tỉnh Cần Thơ giải tán cuộc biểu tình này, bắt những người cầm đầu, đưa ra tòa xét xử và kết án tử hình 3 người đứng đầu. Đối với tín đồ, chính quyền giải thích ý đồ của lãnh đạo Hòa Hảo, khuyên họ trở về nhà tiếp tục làm ăn, không để bị lợi dụng.[3] Huỳnh Phú Sổ giải thích với lãnh đạo Việt Minh Trần Văn Giàu đây là cuộc biểu tình của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo để biểu thị quan điểm đấu tranh chống thực dân Pháp và chống độc tài[6]. Ngày 9 tháng 9 năm 1945, Việt Minh cho Quốc gia Tự vệ Cuộc bao vây trụ sở Phật giáo Hòa Hảo ở số 8 đường Sohier, Sài Gòn để bắt Huỳnh Phú Sổ nhưng ông trốn thoát.[7] Sau cuộc biểu tình tại Cần Thơ, Hòa Hảo bị Việt Minh bắt bớ, đàn áp[5]. Hòa Hảo cho rằng trong năm 1945 khoảng 10.000 tín đồ và cán bộ của họ bị Việt Minh sát hại[8].

Với chủ trương đại đoàn kết toàn dân, ngày 6 tháng 2 năm 1946, tại Chợ Mới (Long Xuyên), Nguyễn Hữu Xuyến, Trung đoàn trưởng Khu 8 của Việt Minh, đã ký với Trần Văn Soái (Năm Lửa), thủ lĩnh một nhóm Hòa Hảo Dân Xã, một thỏa ước nhằm gác bỏ mọi hiềm khích và hiểu lầm cũ, cùng nhau đoàn kết chống thực dân Pháp[3]. Thỏa ước này gồm 3 điều khoản:

  1. Hai bên cam kết không chống lại nhau.
  2. Khi một bên bị Pháp tấn công thì bên kia ứng cứu.
  3. Hai bên phối hợp tổ chức đánh Pháp.

Tháng 6 năm 1946 Hòa Hảo tổ chức lại lực lượng vũ trang lấy tên Nghĩa quân Cách mạng Vệ quốc Liên đội Nguyễn Trung Trực[9]. Ngày 21/9/1946, Hòa Hảo thành lập Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng.

Ngày 14/11/1946, Huỳnh Phú Sổ tham gia Ủy ban Hành chánh Kháng chiến Nam bộ với chức vụ ủy viên đặc biệt. Lực lượng vũ trang Hòa Hảo tham gia vào Vệ quốc đoàn do Nguyễn Bình chỉ huy nhưng không chấp nhận các chính trị viên do cấp trên gửi xuống. Tuy nhận lời tham gia Ủy ban Hành chánh Kháng chiến, Huỳnh Phú Sổ vẫn ngầm hoạt động chống lại chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 20/4/1946, Hòa Hảo cùng một số tổ chức khác tại miền Nam thành lập Mặt trận Quốc gia liên hiệp để tự tổ chức chống Pháp tại miền Nam Việt Nam. Mặt trận bầu Huỳnh Phú Sổ (dùng bí danh) làm Chủ tịch. Mặt trận này có lập trường chống lại chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa[10][11] Mặt trận quyết định ủng hộ chính phủ Cộng hòa tự trị Nam Kỳ để từ đó tiến tới thành lập một chính quyền thống nhất Việt Nam. Nguyễn Hòa Hiệp, Tư lệnh Đệ tam sư đoàn ra thông cáo kêu gọi lực lượng kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ hãy ngưng chiến: “Chính phủ Pháp đã bằng lòng để cho chúng ta có quân đội và chính phủ riêng. Hai dân tộc Pháp và Nam Kỳ sẽ sống bình đẳng. Vậy các chiến sĩ đang chiến đấu, hãy ngừng chiến ngay“.

Ngày 17 tháng 2 năm 1947, đại diện của Huỳnh Phú Sổ là Nguyễn Bảo Toàn cùng với lãnh đạo các đảng quốc gia khác như: Nguyễn Hải Thần (Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội), Nguyễn Tường Tam (Việt Nam Quốc dân đảng) thành lập Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp với mục đích hậu thuẫn Bảo Đại đàm phán với Pháp thành lập Quốc gia Việt Nam. Theo kế hoạch của các đảng phái quốc gia tại miền Nam Việt Nam, Hòa Hảo cùng các đảng phái, tôn giáo khác sẽ dùng lực lượng vũ trang của mình từ Đông Nam Bộ (khu 7) về Tây Nam Bộ (khu 8, khu 9) lấy Đồng Tháp Mười làm căn cứ địa, nắm lấy các nguồn tiếp liệu lương thực và kiểm soát các đường giao thông giữa chiến khu 7 (nơi Ủy ban Hành chánh Kháng chiến Nam Bộ đặt căn cứ), và hai chiến khu 8, 9 để cô lập Nguyễn Bình ở chiến khu 7, vô hiệu hóa lực lượng bộ đội Việt Minh trong hai chiến khu 8 và 9, làm bàn đạp tiến tới vị thế chủ lực lãnh đạo ở vùng Nam Bộ. Về mặt chính trị, dưới danh nghĩa của Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp sẽ tạo thế liên kết với các đảng phái quốc gia ở miền Bắc đã lưu vong sang Trung Hoa, tuyên bố không chấp nhận quyền lãnh đạo Việt Nam của Hồ Chí Minh và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa[12]. Đầu tháng 4/1947, các đơn vị vũ trang của Cao Đài, Hòa Hảo, Đại Việt, Bình Xuyên di chuyển về Đồng Tháp Mười lập căn cứ. Trên đường hành quân, các đơn vị quân sự này bị chi đội 18 và chi đội 12 Vệ quốc đoàn phục kích ngăn chặn. Họ còn bị phi cơ Pháp bắn phá. Chỉ có một số đơn vị Hòa Hảo và Đại Việt đến nơi nhờ thông thuộc địa bàn. Các đơn vị Cao Đài và Bình Xuyên bị kẹt lại khu 7.[12]

Sau một thời gian tạm hòa hoãn với Việt Minh, từ tháng 3-1947, nhóm Trần Văn Soái không tham gia kháng chiến do Việt Minh lãnh đạo nữa, mà cùng một tiểu đoàn lê dương Pháp mở cuộc càn quét lớn vào 5 làng ở vùng Tân Châu (Châu Đốc). Đại đội 65 Vệ quốc đoàn cùng dân quân du kích địa phương đã đánh trả quyết liệt, buộc lực lượng của Năm Lửa và quân Pháp phải rút lui.[3] Cuối tháng 3 đầu tháng 4-1947 ở Tịnh Biên, Tri Tôn (Châu Đốc), lực lượng vũ trang Hòa Hảo và Cao Đài Tây Ninh liên tục đánh phá vùng Việt Minh kiểm soát, tàn sát thường dân, đốt phá xóm làng, truy lùng cán bộ Việt Minh và quần chúng cốt cán của Việt Minh.[3] Ngược lại, các đơn vị Vệ quốc đoàn do Việt Minh chỉ huy tại miền Tây Nam Bộ đã càn quét các vùng do Hòa Hảo kiểm soát, đốt phá nhà cửa, lương thực, giết hại thường dân theo đạo Hòa Hảo.[13]

Đầu tháng 4/1947, các đơn vị vũ trang của Cao Đài, Hòa Hảo, Đại Việt, Bình Xuyên di chuyển về Đồng Tháp Mười lập căn cứ. Trên đường hành quân, các đơn vị quân sự này bị chi đội 18 và chi đội 12 Vệ quốc đoàn phục kích ngăn chặn. Họ còn bị phi cơ Pháp bắn phá. Chỉ có một số đơn vị Hòa Hảo và Đại Việt đến nơi nhờ thông thuộc địa bàn. Các đơn vị Cao Đài và Bình Xuyên bị kẹt lại khu 7.[12] Theo Việt Minh, những người cầm đầu Dân xã Hòa Hảo phát động một cuộc thanh trừng ở Tây Nam Bộ vào ngày 6/4/1947. Những người dân không ủng hộ Dân xã Hòa Hảo đều bị xem là kẻ thù, bị giết, buộc đá vào cổ, thả trôi sông. Dân chúng vô cùng phẫn uất trước hành động dã man của Dân xã Hòa Hảo.[3] Ngoài việc giết hại dân thường, quân Dân xã Hòa Hảo còn tổ chức các hành động càn quét chống Việt Minh ở các tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Cần Thơ.[3]

Ngày 16 tháng 4 năm 1947 Huỳnh Phú Sổ đột ngột mất tích khi đến Tân Phú, Đồng Tháp Mười để hòa giải xung đột giữa Việt Minh và Phật giáo Hòa Hảo. Ông dự Hội Nghị với Việt Minh do Bửu Vinh mời, họp tại làng Tạ Phú, Đốc Vàng, tỉnh Long Xuyên. Trong phiên họp, đèn tắt và có tiếng súng nổ, cận vệ của ông chạy thoát về báo lại. Ngay đêm đó, có thủ bút của ông viết, gửi cho các Tư lệnh Lực lượng Phật giáo Hòa Hảo:

Ông Trần Văn Soái và Ông Nguyễn Giác Ngộ;

Tôi vừa hội hiệp với ông Bửu Vinh, bỗng có sự biến cố xảy ra, tôi và ông Vinh xuýt chết, chưa rõ nguyên nhân, còn điều tra, trong mấy anh em phòng vệ không biết chết hay chạy đi, nếu có ai về báo cáo rằng tôi bị bắt hay mưu sát thì các ông đừng náo động.

Cấm chỉ đồn đãi, cấm chỉ kéo quân đi tiếp cứu, hãy đóng quân y tại chỗ.

Sáng ngày, tôi sẽ cùng ông Bửu Vinh điều tra kỹ lưỡng rồi sẽ về sau.

Phải triệt để tuân lịnh.

Ngày 16-4-1947 : 9 giờ 15 đêm

Ký tên: S

Từ đó người ta không có tin tức về ông. Hòa Hảo tin rằng Việt Minh đã hãm hại ông sau khi đã viết lá thư đêm đó. Khi mất tích ông 27 tuổi. Các tài liệu của phương Tây, Việt Nam Cộng hòa cho rằng Việt Minh thủ tiêu ông[14][15][16]. Tài liệu của công an Việt Nam thừa nhận Huỳnh Phú Sổ đã bị Việt Minh bắt và xử tử ngày 22 tháng 12 năm 1947 tại Long Xuyên[17].

Ủng hộ Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Huỳnh Phú Sổ mất tích, quan hệ Hòa Hảo – Việt Minh hoàn toàn đổ vỡ. Chi đội 2 Lưu động Vệ quốc đoàn do Trần Văn Soái chỉ huy ly khai khỏi Vệ quốc đoàn[18]. Những người chống Việt Minh trong đạo Hòa Hảo hợp tác với Pháp và được Pháp hỗ trợ trang bị và cung cấp tiền bạc[3]. Phật giáo Hòa Hảo lập ra nhiều đơn vị vũ trang mới ngoài những đơn vị vũ trang khác thành lập từ năm 1944, chiếm cứ một số vùng ở Tây Nam Bộ.[3] Lực lượng vũ trang Hòa Hảo chia thành 4 nhóm kiểm soát các khu vực khác nhau tại miền Tây Nam Bộ. Các nhóm này gồm:

  1. Nhóm Trần Văn Soái (Năm Lửa), đóng tại Cái Vồn (Vĩnh Long).
  2. Nhóm Lâm Thành Nguyên (Hai Ngoán), đóng tại Cái Dầu (Châu Đốc).
  3. Nhóm Lê Quang Vinh (Ba Cụt), đóng tại Thốt Nốt (Long Xuyên).
  4. Nhóm Nguyễn Giác Ngộ, đóng tại Chợ Mới (Long Xuyên).[3]

Năm 1947, các lực lượng Việt Minh vừa tổ chức tuyên truyền vũ trang, vừa mở một trận đánh lớn tại Kinh 13. Chỉ huy quân sự của Dân xã Hòa Hảo tuyên truyền: “Súng Việt Minh bắn không nổ!“, xua tín đồ tràn vào trận địa của Việt Minh. Lực lượng vũ trang của Việt Minh một mặt giải thích cho các tín đồ hiểu, mặt khác đánh quân của Dân xã Hòa Hảo, diệt nhiều lính, thu nhiều súng, có 1 Bazoka. Ở khu vực giữa Phú An – Phú Lâm (Tân Châu), Đại đội 65 đánh bật lực lượng của Dân xã ra khỏi vùng này. Việt Minh mở rộng công tác vũ trang tuyên truyền về hướng Thoại Sơn, tiếp tục tiến công ở Ba Thê, đánh lính lê dương đi tàu sắt đổ bộ lên Mốp Văn và Núi Sập, diệt trên 200 lính.[3]

Ngày 18/5/1947, Trần Văn Soái và Đại tá Cluzet, tư lệnh quân đội Pháp tại miền Tây Nam Bộ ký kết Hiệp ước liên quân tại Cần Thơ. Phật giáo Hòa Hảo và lực lượng quân sự của họ được Pháp và Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ công nhận. Pháp cho phép Hòa Hảo kiểm soát một vùng rộng lớn ở Miền Tây (Hậu Giang), đặt Tổng hành dinh tại Cái Vồn, Cần thơ.[19] Hòa Hảo được sử dụng quân đội riêng do sĩ quan Hòa Hảo chỉ huy để bảo vệ tín đồ, được cử đại diện trong các hội đồng hành chính, được phát triển lực lượng võ trang và mang phù hiệu riêng của Phật giáo Hòa Hảo. Quân lực Hòa Hảo hoạt động một mình, nhưng có thể yêu cầu quân đội Pháp yểm trợ khi cần thiết. Ngược lại Phật giáo Hòa Hảo cam kết tôn trọng luật pháp của Pháp, từ chối mọi cộng tác với Việt Minh, và trục xuất mọi cơ quan, nhân sự, hoạt động của Việt Minh ra khỏi các khu vực Hòa Hảo, phối hợp hành quân với quân đội Pháp chống lại Việt Minh, hợp tác với bộ tư lệnh Pháp và Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ. Trần Văn Soái được Bộ tư lệnh Pháp phong thiếu tướng, các sĩ quan Hòa Hảo khác cũng được phong cấp.[18]

Tháng 6/1947, nhằm thu hút tín đồ Hòa Hảo tạo thành khối đoàn kết các lực lượng chống Pháp, Việt Minh thành lập Ban Hòa Hảo vận tại Chợ Mới – Nhà Bàn, tập trung hoạt động vùng Long Xuyên, Châu Đốc, tuyên truyền chính sách đại đoàn kết dân tộc, vận động tín đồ Hòa Hảo cùng toàn dân kháng chiến chống xâm lược Pháp.[3]

Do Phật giáo Hòa Hảo có tín đồ rất đông ở miền Tây, nhất là các tỉnh: Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên, Cần Thơ… Đạo này có tổ chức chính trị là Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng làm nòng cốt, nên có nhiều diễn biến phức tạp ngay cả trong nội bộ của đạo. Các lực lượng vũ trang Hòa Hảo hợp tác với Pháp chống lại Việt Minh, khủng bố quần chúng ủng hộ Việt Minh, gây ra nhiều tội ác.[3] Dù vậy, một bộ phận tín đồ là nông dân, khi Việt Minh tích cực vận động thì lần lượt họ giác ngộ và tham gia cuộc kháng chiến do Việt Minh lãnh đạo. Sư thúc Hòa Hảo Huỳnh Văn Trí là người chỉ huy một đơn vị vũ trang trong kháng chiến đã có công lớn trong công cuộc vận động tín đồ Hòa Hảo tham gia kháng chiến. Trong những năm 1949 – 1950, nhiều đồn bót đã án binh bất động, “trung lập hóa”, tránh không đụng độ với lực lượng Việt Minh.[3]

Thời kỳ 1955-1975[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ Việt Nam Cộng hòa sau khi thành lập năm 1956 thì đã mở những cuộc hành quân như “Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng” rồi “Chiến dịch Nguyễn Huệ” để bình định các giáo phái hầu thống nhất quân lực. Các lãnh tụ Hòa Hảo như tướng Trần Văn Soái (biệt danh Năm Lửa) rút về cố thủ Đồng Tháp; tướng Lê Quang Vinh (Ba Cụt) thì đem quân về chống giữ ở Châu ĐốcLong XuyênRạch Giá. Bị truy nã Trần Văn Soái ra hàng còn Lê Quang Vinh thì bị bắt, sau đem xử tử.[20]

Năm 1964, sau khi Nền Đệ Nhất Cộng hòa bị lật đổ, trung tướng Nguyển Giác Ngộ là Ủy viên đặc trách tôn giáo trong Hội Đồng tướng lãnh, từ đó Phật giáo Hòa Hảo có cơ hội phục hồi tổ chức, xây dựng mở mang các cơ sở tôn giáovăn hóaxã hội. Hệ thống Ban trị sự được kiện toàn từ trung ương đến cơ sở (hình thành cơ cấu tổ chức 4 cấp trung ương, tỉnhhuyện). Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng cũng được củng cố để hỗ trợ cho đạo. Ngày 18-11-1964, Hội Đồng Trị Sự trung ương Giáo Hội Phật giáo Hòa Hảo được thành lập, đồng thời cơ quan lãnh đạo Hòa Hảo có sự phân đôi thành 2 ban trị sự trung ương: phái cũ do Lương Trọng Tường, phái mới do Huỳnh Văn Nhiệm đứng đầu. Theo kiểm kê năm 1965, Phật giáo Hòa Hảo chỉ có một ít chùa, có 390 Độc giảng đường, tín đồ chừng 4 triệu ở khắp các tỉnh Nam Phần, đặc biệt các tỉnh có đông đảo tín đồ là Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, Rạch Gía, Cần Thơ, Vĩnh Long.

Năm 1972, Lê Quang Liêm tách ra khỏi phái cũ của Lương Trọng Tường thành lập ban trị sự trung ương mới. Lúc này đạo Hòa Hảo có tới 3 ban trị sự trung ương cùng tồn tại cho đến thống nhất đất nước. Dù phân hóa, Phật giáo Hòa Hảo tiếp tục phát triển vào thời Đệ Nhị Cộng hòa trong đó một sự kiện lớn là việc thành lập Viện Đại học Hòa Hảo năm 1972 ở Long Xuyên. Tính đến thời điểm Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, các nhóm Hòa Hảo điều hành tổng cộng sáu trường trung học phổ thông, một viện đại học và hai bệnh viện. Tất cả những cơ sở này sau đó đều bị chính quyền mới trưng dụng quốc hữu hóa.[21]

Thời kỳ 1976-1998[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ 1999-nay[sửa | sửa mã nguồn]

Phật giáo Hoà Hảo được hoạt động trở lại. Thành lập Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo, xây dựng đường hướng Vì Đạo Pháp – Vì Dân tộc, thông qua hiến chương và chương trình đạo sự, hướng dẫn thống nhất toàn đạo tu đúng giáo lý, giáo luật, tôn chỉ hành đạo thuần tuý chơn truyền của Phật giáo Hòa Hảo.[22]

Từ năm 1999, tín đồ Phật giáo Hoà Hảo được phép tổ chức Lễ Khai sáng Đạo Phật giáo Hoà Hảo (18/5 ÂL) và Lễ Đản Sinh Đức Huỳnh Giáo chủ (25/11 ÂL) hằng năm.[23]

Đến nay, Phật giáo Hòa Hảo phát triển chú yếu trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có 397 Ban Trị sự cơ sở ở 17 tỉnh, thành với số lượng tính đồ trên 7 triệu người.

Theo đài RFA thì mỗi lần có các ngày lễ lớn của Phật giáo Hòa Hảo, chỉ có tín đồ thuộc các chi phái nằm trong giáo hội Phật giáo Hòa hảo chính thức do nhà nước quy định mới được làm lễ tại chùa Quang Minh Tự, các nhóm tín đồ không có giấy phép thì không được vào làm lễ[24][25]

Giáo lý Hòa Hảo[sửa | sửa mã nguồn]

Sấm giảng Thi văn Giáo lý Phật giáo Hòa Hảo.

Giáo lý Hòa Hảo được thể hiện trong những bài sấm kệ do Huỳnh Phú Sổ biên soạn, bao gồm 2 phần: Sấm Giảng giáo lý và Thi Văn giáo lý.

Phần thứ nhất: Sấm Giảng Thi văn Giáo lý. Phần này gồm 6 quyển giảng:

1. Quyển thứ nhất: Sấm giảng khuyên người đời tu niệm. Viết theo lối văn lục bát, dài 912 câu.

2. Quyển thứ nhì: Kệ dân của người khùng. Viết theo lối văn thất ngôn trường thiên, dài 476 câu.

3. Quyển thứ ba: Sám Giảng. Viết theo lối văn lục bát, dài 612 câu.

4. Quyển thứ tư: Giác mê tâm kệ. Viết theo thể văn thất ngôn trường thiên, dài 846 câu.

5. Quyển thứ năm: Khuyến thiện. Quyển này dài 776 câu, đoạn đầu và đoạn cuối viết theo thể thơ lục bát, đoạn giữa theo lối thơ thất ngôn trường thiên.

6. Quyển thứ sáu: Những điều sơ lược cần biết của kẻ tu hiền. Quyển này viết theo lối văn xuôi (tản văn), trình bày toàn bộ tôn chỉ, giới luật của Đạo.

Phần thứ hai: Thi Văn Giáo Lý. Phần này bao gồm hơn 200 bài thi thơ do Huỳnh Phú Sổ viết từ năm Kỷ Mão (1939) đến năm Đinh Hợi (1947).

Có thể coi giáo lý Hòa Hảo là sự tiếp thu và nâng cao tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương của Đoàn Minh Huyên, gồm phần “Học Phật” và phần “Tu nhân”:

  • Phần “Học Phật”: chủ yếu dựa vào giáo lý đạo Phật song được giản lược nhiều và có thêm bớt đôi chút. Tinh thần chính là khuyên tín đồ ăn ngay ở hiền.
  • Phần “Tu nhân”: theo giáo lý Hòa Hảo tu nhân có nghĩa là tu “tứ ân hiếu nghĩa”- đó là 4 điều Đoàn Minh Huyên, đã chỉ ra, bao gồm Ân tổ tiên cha mẹ, Ân đất nước, Ân đồng bào nhân loại, Ân tam bảo (Phật, Pháp, Tăng).

Đạo Hòa Hảo khuyên tín đồ vừa học Phật vừa tu nhân để tạo nên công đức. Có công đức để trở thành bậc hiền nhân. Song, họ đặc biệt yêu cầu tín đạo phải tu nhân, cho rằng việc tu hành phải dựa trên đạo đức, trước hết đạo làm người: Thiên kinh vạn điển, hiếu nghĩa vi tiên (Không có tu nhân thì không thể học Phật, hoặc học Phật mà chẳng tu nhân thì cũng vô nghĩa); Dục tu Tiên Đạo, tiên tu Nhơn Đạo. Nhơn Đạo bất tu, Tiên Đạo viễn hỹ (Muốn tu thành Tiên Phật trước hết phải tu đạo làm người, đạo người mà không tu thì Tiên Phật còn xa vời).

Nghi lễ và tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Thờ phượng[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo lý Phật giáo Hoà Hảo chủ trương thờ phượng đơn giản, không cầu kỳ phức tạp, trở về với nội tâm hơn là hình tướng bên ngoài, đúng với tinh thần vô vi mà Đức Phật Thích Ca đã đề xướng.

Người tín đồ Phật giáo Hoà Hảo thờ cúng ba ngôi hương án tại nhà, bao gồm:

– Thứ nhất là Ngôi thờ Cửu Huyền Thất Tổ: thờ cúng tổ tiên, theo đạo lý uống nước nhớ nguồn.

– Thứ hai là Ngôi thờ Tam Bảo: thờ Thập phương Phật, Pháp, Tăng. Ngôi thờ này có đặt một tấm vải màu nâu (gọi là Trần Dà) tượng trưng cho sự thoát tục và sự đoàn kết. Chúng ta hãy xem qua lời dạy của Đức Huỳnh Giáo chủ:

“Nhưng riêng về cư-sĩ ở nhà không nên tạo thêm nữa; nên thờ đơn-giản cho lòng tin-tưởng trở lại tâm hồn hơn ở vào các sự hào nhoáng bề ngoài. Từ trước chúng ta thờ trần điều là di tích của Đức Phật Thầy Tây-An để lại. Nhưng gần đây có nhiều kẻ thờ trần điều tự xưng cùng tông-phái với chúng ta, làm sái phép, sái với tôn-chỉ của Đức Phật, nên toàn-thể người trong Đạo đổi lại màu dà. Lại nữa, từ trước đến giờ các sư dùng màu dà để biểu-hiện cho sự thoát tục của mình, và màu ấy là sự kết hợp của tất cả các màu sắc khác, nên có thể tượng trưng cho sự hòa-hiệp của nhân-loại không phân biệt chủng tộc và cá-nhân. Vì vậy chúng ta dùng nó trong chỗ thờ-phượng để tiêu-biểu cho tinh-thần vô thượng của nhà Phật”.

-Thứ ba là Ngôi Thông Thiên: đặt ngoài trời.

Về cách cúng Phật, chỉ nên cúng nước lạnh, bông hoa và nhang thôi. Nước lạnh tiêu-biểu cho sự trong sạch, bông hoa tiêu-biểu cho sự tinh khiết, còn nhang, dùng đặng bán mùi uế-trược. Ngoài ra chẳng nên cúng một món gì khác cả. Bàn thờ ông bà cúng món chi cũng đặng“. (lời Đức Huỳnh Giáo chủ).

Như trên thì, ngôi thờ Tam Bảo và ngôi Thông Thiên chỉ đặt lư hương, bình hoa, ly nước sạch, ngoài ra không cúng gì khác nữa. Bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ thì ngoài ba thứ trên có thể dâng cúng thêm thực phẩm: bánh trái, thức ăn nhưng nên cúng chay.

Hành lễ[sửa | sửa mã nguồn]

Huỳnh Phú Sổ dạy:

Chỉ thờ lạy Đức Phật, Tổ-tiên, ông bà, cha mẹ lúc còn sống và các vị anh-hùng cứu quốc. Với những kẻ khác, nên bỏ hẳn sự lạy lục người sống, cho đến Thầy mình cũng vậy, chỉ xá thôi.

Người tín đồ Phật giáo Hoà Hảo hành lễ mỗi ngày hai thời vào buổi sáng và buổi chiều theo nghi thức đã được chỉ dạy trong quyển thứ sáu.

Các ngày lễ tết[sửa | sửa mã nguồn]

Các ngày Lễ kỷ niệm trong Đạo đều tổ chức vào ngày âm lịch. Trong một năm, theo âm lịch đạo Hòa Hảo có các ngày lễ, Tết chính:

  • Ngày 1 tháng GiêngTết Nguyên Đán
  • Ngày Rằm tháng Giêng: Lễ Thượng Ngươn
  • Ngày 25 tháng 2: ngày Đức Huỳnh Giáo chủ vắng mặt
  • Ngày 8 tháng 4: Lễ Phật đản
  • Ngày 18 tháng 5: Lễ Khai sáng Đạo Phật giáo Hoà Hảo
  • Ngày Rằm tháng 7: Lễ Trung Ngươn, Vu Lan Báo Hiếu
  • Ngày 12 tháng 8: Vía Phật Thầy Tây An
  • Ngày Rằm tháng 10: Lễ Hạ Ngươn
  • Ngày 17 tháng 11: Lễ Phật A-di-đà
  • Ngày 25 tháng 11: Lễ Đản Sinh Đức Huỳnh Giáo chủ.
  • Ngày 8 tháng Chạp: Lễ Phật thành đạo

Ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bửu Sơn Tự tại Thị xã Sông Cầu (Phú Yên). Hiện nay, đây là ngôi thờ của đạo xa nhất ở Việt Nam, tính từ nơi khai sáng đạo là huyện Phú Tân.
  • Một buổi thuyết giảng.
  • Một phòng thuốc Nam miễn phí.
  • Phát hàng cứu trợ cho đồng bào nghèo bị thiên tai.

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Phật giáo Hòa Hảo

Posted on May 15, 2020 by huyentamhh

Biểu quyết Chọn lọc Bài viết chọn lọcKetsuban (Pokémon)Cleopatra VIIGiuse Trần Văn ToảnChiếc bè của chiến thuyền MéduseVụ phát tán video Senkaku năm 2010Avengers: Cuộc chiến vô cực.  · Rút saoKinh Thi‎  · Giáng saoA.C. MilanDoraemonImmanuel Kant.
Biểu quyết Bài viết tốt Bài viết tốtSiêu đại chiếnNgười đẹp tóc mâyAntiochos XI EpiphanesGiuse Trần Văn ThiệnGioan Đỗ Văn NgânThần kinh hạ thiệtXúp cà rốtVùng đất câm lặngHằng số AvogadroVáy thịt của Lady GagaSakura Momoko.

Phật giáo Hòa Hảo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Buớc tưới chuyển hướngBước tới tìm kiếm

Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ

Phật giáo Hòa Hảo, là một tông phái Phật giáo do Huỳnh Phú Sổ khai lập năm Kỷ Mão 1939, lấy pháp môn “Học Phật – Tu Nhân” làm căn bản và chủ trương tu hành tại gia (Tại gia cư sĩ). Tôn giáo này lấy nền tảng là Đạo Phật, kết hợp với những bài sấm kệ do chính Huỳnh Phú Sổ biên soạn.

Theo thống kê năm 2009 có khoảng 1.433.252 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo khiến tôn giáo này trở thành tôn giáo có số tín đồ đông thứ 4 tại Việt Nam.[1]

Mục lục

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ra đời[sửa | sửa mã nguồn]

Phật giáo Hòa Hảo ra đời tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang) vào năm 1939 do Huỳnh Phú Sổ sáng lập.

Huỳnh Phú Sổ, còn được gọi là “Thầy Tư Hoà Hảo”, “Đức Huỳnh Giáo chủ”, khi đó chưa đầy 18 tuổi, tuyên bố mình là bậc “Sinh nhi tri”, biết được quá khứ nhìn thấu tương lai, được thọ mệnh cùng với Phật A-di-đà và Phật Thích-ca Mâu-ni, xuống hạ giới có nhiệm vụ truyền bá cho dân chúng tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương để Chấn hưng Phật giáo, cứu độ chúng sinh khỏi sông mê, biển khổ và “đưa nhân loại đi vào vòng hạnh phúc”. Ông chữa bệnh cho người dân bằng các bài thuốc nam do ông kê toa hoặc nước lã, giấy vàng, lá xoài, lá ổi, bông trang, bông thọ, đồng thời qua đó ông truyền dạy giáo lý bằng những bài sám giảng (còn gọi là sấm giảng) do ông soạn thảo. Vì vậy chỉ trong vòng 2 năm từ 1937 đến 1939 số người tin theo ông đã khá đông và ông trở nên nổi tiếng khắp vùng.

Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (tức 4 tháng 7 năm 1939), Huỳnh Phú Sổ bắt đầu khai đạo, khi ông chưa tròn 20 tuổi. Nơi tổ chức lễ khai đạo chính là gia đình ông. Ông đã lấy tên ngôi làng Hòa Hảo nơi mình sinh ra để đặt tên cho tôn giáo mới của mình: Phật giáo Hòa Hảo. Sau đó, ông được các tín đồ suy tôn làm thầy tổ, và gọi ông bằng cái tên tôn kính là Đức Tôn Sư, Đức Thầy.

Kể từ đó, ông lần lượt làm nhiều bài thơ ca, sau được tập hợp lại thành quyển Sấm giảng thi văn giáo lý, nội dung cốt lõi là giáo lý của Đức Phật Thích Ca, và có phần gần gũi với tư tưởng thần bí và tín ngưỡng dân gian ở Nam Bộ lúc bấy giờ.

Tổ đình Phật giáo Hòa Hảo, xưa thuộc làng Hòa Hảo, nay thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Thời kỳ 1941 – 1944[sửa | sửa mã nguồn]

Sang năm 1941, đạo Hòa Hảo tiếp tục gia tăng số lượng tín đồ của mình một cách nhanh chóng. Khi Nhật vào Đông DươngPháp lo ngại Nhật tranh thủ giáo phái Hòa Hảo nên đã câu thúc Huỳnh Phú Sổ ở Châu ĐốcBạc LiêuCần Thơ. Năm 1942, Nhật vận động được ông về Sài Gòn. Tại đây, ông đã vận động được nhiều nhân vật hoạt động chính trị thân Nhật vào đạo Hòa Hảo để gây thanh thế, đồng thời thời gian này nhiều thanh niên theo đạo Hòa Hảo cũng tham gia các tổ chức của Nhật. Năm 1944, Phật giáo Hòa Hảo thành lập lực lượng vũ trang dưới tên gọi Đội Bảo An.[2]

Thời kỳ 1945 – 1955[sửa | sửa mã nguồn]

Xung đột với Việt Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Nam Bộ là nơi phát tích của giáo phái Hòa Hảo, với đa số tín đồ là những người dân hiền hòa, yêu nước. Nhằm thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân, Ủy ban nhân dân Nam Bộ mới thành lập sau Cách mạng tháng Tám đã mời người sáng lập giáo phái là Huỳnh Phú Sổ giữ chức ủy viên đặc biệt của Ủy ban. Tuy nhiên, Việt Minh cho rằng một số lãnh đạo Hòa Hảo có nhiều tham vọng về quyền hành đã lợi dụng danh nghĩa của giáo phái Hòa Hỏa đòi giao những tỉnh có đông tín đồ (như Cần Thơ, Long Xuyên, Châu Đốc) cho họ quản lý. Khi yêu sách này không được đáp ứng, họ 2 lần tổ chức biểu tình tuần hành, kéo vào thị xã Long Xuyên (cuối tháng 8-1945) và thị xã Châu Đốc (đầu tháng 9-1945) định gây bạo loạn cướp chính quyền. Lực lượng vũ trang cách mạng được huy động đến kịp thời giải tán.[3] Theo Archimedes L.A Patti, Hòa Hảo chống lại chủ trương của Việt Minh muốn đàm phán với Đồng Minh nên tổ chức biểu tình đòi vũ trang quần chúng chống lại việc quân Anh, Pháp đổ bộ vào Nam Kỳ[4].

Ngày 8/9/1945, những người đứng đầu Phật giáo Hòa Hảo lại tổ chức tuần hành ở thị xã Cần Thơ với khẩu hiệu chống thực dân Pháp và chống độc tài. Việt Minh cho rằng Hòa Hảo muốn cướp chính quyền.[5] Chính quyền tỉnh Cần Thơ giải tán cuộc biểu tình này, bắt những người cầm đầu, đưa ra tòa xét xử và kết án tử hình 3 người đứng đầu. Đối với tín đồ, chính quyền giải thích ý đồ của lãnh đạo Hòa Hảo, khuyên họ trở về nhà tiếp tục làm ăn, không để bị lợi dụng.[3] Huỳnh Phú Sổ giải thích với lãnh đạo Việt Minh Trần Văn Giàu đây là cuộc biểu tình của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo để biểu thị quan điểm đấu tranh chống thực dân Pháp và chống độc tài[6]. Ngày 9 tháng 9 năm 1945, Việt Minh cho Quốc gia Tự vệ Cuộc bao vây trụ sở Phật giáo Hòa Hảo ở số 8 đường Sohier, Sài Gòn để bắt Huỳnh Phú Sổ nhưng ông trốn thoát.[7] Sau cuộc biểu tình tại Cần Thơ, Hòa Hảo bị Việt Minh bắt bớ, đàn áp[5]. Hòa Hảo cho rằng trong năm 1945 khoảng 10.000 tín đồ và cán bộ của họ bị Việt Minh sát hại[8].

Với chủ trương đại đoàn kết toàn dân, ngày 6 tháng 2 năm 1946, tại Chợ Mới (Long Xuyên), Nguyễn Hữu Xuyến, Trung đoàn trưởng Khu 8 của Việt Minh, đã ký với Trần Văn Soái (Năm Lửa), thủ lĩnh một nhóm Hòa Hảo Dân Xã, một thỏa ước nhằm gác bỏ mọi hiềm khích và hiểu lầm cũ, cùng nhau đoàn kết chống thực dân Pháp[3]. Thỏa ước này gồm 3 điều khoản:

  1. Hai bên cam kết không chống lại nhau.
  2. Khi một bên bị Pháp tấn công thì bên kia ứng cứu.
  3. Hai bên phối hợp tổ chức đánh Pháp.

Tháng 6 năm 1946 Hòa Hảo tổ chức lại lực lượng vũ trang lấy tên Nghĩa quân Cách mạng Vệ quốc Liên đội Nguyễn Trung Trực[9]. Ngày 21/9/1946, Hòa Hảo thành lập Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng.

Ngày 14/11/1946, Huỳnh Phú Sổ tham gia Ủy ban Hành chánh Kháng chiến Nam bộ với chức vụ ủy viên đặc biệt. Lực lượng vũ trang Hòa Hảo tham gia vào Vệ quốc đoàn do Nguyễn Bình chỉ huy nhưng không chấp nhận các chính trị viên do cấp trên gửi xuống. Tuy nhận lời tham gia Ủy ban Hành chánh Kháng chiến, Huỳnh Phú Sổ vẫn ngầm hoạt động chống lại chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 20/4/1946, Hòa Hảo cùng một số tổ chức khác tại miền Nam thành lập Mặt trận Quốc gia liên hiệp để tự tổ chức chống Pháp tại miền Nam Việt Nam. Mặt trận bầu Huỳnh Phú Sổ (dùng bí danh) làm Chủ tịch. Mặt trận này có lập trường chống lại chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa[10][11] Mặt trận quyết định ủng hộ chính phủ Cộng hòa tự trị Nam Kỳ để từ đó tiến tới thành lập một chính quyền thống nhất Việt Nam. Nguyễn Hòa Hiệp, Tư lệnh Đệ tam sư đoàn ra thông cáo kêu gọi lực lượng kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ hãy ngưng chiến: “Chính phủ Pháp đã bằng lòng để cho chúng ta có quân đội và chính phủ riêng. Hai dân tộc Pháp và Nam Kỳ sẽ sống bình đẳng. Vậy các chiến sĩ đang chiến đấu, hãy ngừng chiến ngay“.

Ngày 17 tháng 2 năm 1947, đại diện của Huỳnh Phú Sổ là Nguyễn Bảo Toàn cùng với lãnh đạo các đảng quốc gia khác như: Nguyễn Hải Thần (Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội), Nguyễn Tường Tam (Việt Nam Quốc dân đảng) thành lập Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp với mục đích hậu thuẫn Bảo Đại đàm phán với Pháp thành lập Quốc gia Việt Nam. Theo kế hoạch của các đảng phái quốc gia tại miền Nam Việt Nam, Hòa Hảo cùng các đảng phái, tôn giáo khác sẽ dùng lực lượng vũ trang của mình từ Đông Nam Bộ (khu 7) về Tây Nam Bộ (khu 8, khu 9) lấy Đồng Tháp Mười làm căn cứ địa, nắm lấy các nguồn tiếp liệu lương thực và kiểm soát các đường giao thông giữa chiến khu 7 (nơi Ủy ban Hành chánh Kháng chiến Nam Bộ đặt căn cứ), và hai chiến khu 8, 9 để cô lập Nguyễn Bình ở chiến khu 7, vô hiệu hóa lực lượng bộ đội Việt Minh trong hai chiến khu 8 và 9, làm bàn đạp tiến tới vị thế chủ lực lãnh đạo ở vùng Nam Bộ. Về mặt chính trị, dưới danh nghĩa của Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp sẽ tạo thế liên kết với các đảng phái quốc gia ở miền Bắc đã lưu vong sang Trung Hoa, tuyên bố không chấp nhận quyền lãnh đạo Việt Nam của Hồ Chí Minh và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa[12]. Đầu tháng 4/1947, các đơn vị vũ trang của Cao Đài, Hòa Hảo, Đại Việt, Bình Xuyên di chuyển về Đồng Tháp Mười lập căn cứ. Trên đường hành quân, các đơn vị quân sự này bị chi đội 18 và chi đội 12 Vệ quốc đoàn phục kích ngăn chặn. Họ còn bị phi cơ Pháp bắn phá. Chỉ có một số đơn vị Hòa Hảo và Đại Việt đến nơi nhờ thông thuộc địa bàn. Các đơn vị Cao Đài và Bình Xuyên bị kẹt lại khu 7.[12]

Sau một thời gian tạm hòa hoãn với Việt Minh, từ tháng 3-1947, nhóm Trần Văn Soái không tham gia kháng chiến do Việt Minh lãnh đạo nữa, mà cùng một tiểu đoàn lê dương Pháp mở cuộc càn quét lớn vào 5 làng ở vùng Tân Châu (Châu Đốc). Đại đội 65 Vệ quốc đoàn cùng dân quân du kích địa phương đã đánh trả quyết liệt, buộc lực lượng của Năm Lửa và quân Pháp phải rút lui.[3] Cuối tháng 3 đầu tháng 4-1947 ở Tịnh Biên, Tri Tôn (Châu Đốc), lực lượng vũ trang Hòa Hảo và Cao Đài Tây Ninh liên tục đánh phá vùng Việt Minh kiểm soát, tàn sát thường dân, đốt phá xóm làng, truy lùng cán bộ Việt Minh và quần chúng cốt cán của Việt Minh.[3] Ngược lại, các đơn vị Vệ quốc đoàn do Việt Minh chỉ huy tại miền Tây Nam Bộ đã càn quét các vùng do Hòa Hảo kiểm soát, đốt phá nhà cửa, lương thực, giết hại thường dân theo đạo Hòa Hảo.[13]

Đầu tháng 4/1947, các đơn vị vũ trang của Cao Đài, Hòa Hảo, Đại Việt, Bình Xuyên di chuyển về Đồng Tháp Mười lập căn cứ. Trên đường hành quân, các đơn vị quân sự này bị chi đội 18 và chi đội 12 Vệ quốc đoàn phục kích ngăn chặn. Họ còn bị phi cơ Pháp bắn phá. Chỉ có một số đơn vị Hòa Hảo và Đại Việt đến nơi nhờ thông thuộc địa bàn. Các đơn vị Cao Đài và Bình Xuyên bị kẹt lại khu 7.[12] Theo Việt Minh, những người cầm đầu Dân xã Hòa Hảo phát động một cuộc thanh trừng ở Tây Nam Bộ vào ngày 6/4/1947. Những người dân không ủng hộ Dân xã Hòa Hảo đều bị xem là kẻ thù, bị giết, buộc đá vào cổ, thả trôi sông. Dân chúng vô cùng phẫn uất trước hành động dã man của Dân xã Hòa Hảo.[3] Ngoài việc giết hại dân thường, quân Dân xã Hòa Hảo còn tổ chức các hành động càn quét chống Việt Minh ở các tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Cần Thơ.[3]

Ngày 16 tháng 4 năm 1947 Huỳnh Phú Sổ đột ngột mất tích khi đến Tân Phú, Đồng Tháp Mười để hòa giải xung đột giữa Việt Minh và Phật giáo Hòa Hảo. Ông dự Hội Nghị với Việt Minh do Bửu Vinh mời, họp tại làng Tạ Phú, Đốc Vàng, tỉnh Long Xuyên. Trong phiên họp, đèn tắt và có tiếng súng nổ, cận vệ của ông chạy thoát về báo lại. Ngay đêm đó, có thủ bút của ông viết, gửi cho các Tư lệnh Lực lượng Phật giáo Hòa Hảo:

Ông Trần Văn Soái và Ông Nguyễn Giác Ngộ;

Tôi vừa hội hiệp với ông Bửu Vinh, bỗng có sự biến cố xảy ra, tôi và ông Vinh xuýt chết, chưa rõ nguyên nhân, còn điều tra, trong mấy anh em phòng vệ không biết chết hay chạy đi, nếu có ai về báo cáo rằng tôi bị bắt hay mưu sát thì các ông đừng náo động.

Cấm chỉ đồn đãi, cấm chỉ kéo quân đi tiếp cứu, hãy đóng quân y tại chỗ.

Sáng ngày, tôi sẽ cùng ông Bửu Vinh điều tra kỹ lưỡng rồi sẽ về sau.

Phải triệt để tuân lịnh.

Ngày 16-4-1947 : 9 giờ 15 đêm

Ký tên: S

Từ đó người ta không có tin tức về ông. Hòa Hảo tin rằng Việt Minh đã hãm hại ông sau khi đã viết lá thư đêm đó. Khi mất tích ông 27 tuổi. Các tài liệu của phương Tây, Việt Nam Cộng hòa cho rằng Việt Minh thủ tiêu ông[14][15][16]. Tài liệu của công an Việt Nam thừa nhận Huỳnh Phú Sổ đã bị Việt Minh bắt và xử tử ngày 22 tháng 12 năm 1947 tại Long Xuyên[17].

Ủng hộ Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Huỳnh Phú Sổ mất tích, quan hệ Hòa Hảo – Việt Minh hoàn toàn đổ vỡ. Chi đội 2 Lưu động Vệ quốc đoàn do Trần Văn Soái chỉ huy ly khai khỏi Vệ quốc đoàn[18]. Những người chống Việt Minh trong đạo Hòa Hảo hợp tác với Pháp và được Pháp hỗ trợ trang bị và cung cấp tiền bạc[3]. Phật giáo Hòa Hảo lập ra nhiều đơn vị vũ trang mới ngoài những đơn vị vũ trang khác thành lập từ năm 1944, chiếm cứ một số vùng ở Tây Nam Bộ.[3] Lực lượng vũ trang Hòa Hảo chia thành 4 nhóm kiểm soát các khu vực khác nhau tại miền Tây Nam Bộ. Các nhóm này gồm:

  1. Nhóm Trần Văn Soái (Năm Lửa), đóng tại Cái Vồn (Vĩnh Long).
  2. Nhóm Lâm Thành Nguyên (Hai Ngoán), đóng tại Cái Dầu (Châu Đốc).
  3. Nhóm Lê Quang Vinh (Ba Cụt), đóng tại Thốt Nốt (Long Xuyên).
  4. Nhóm Nguyễn Giác Ngộ, đóng tại Chợ Mới (Long Xuyên).[3]

Năm 1947, các lực lượng Việt Minh vừa tổ chức tuyên truyền vũ trang, vừa mở một trận đánh lớn tại Kinh 13. Chỉ huy quân sự của Dân xã Hòa Hảo tuyên truyền: “Súng Việt Minh bắn không nổ!“, xua tín đồ tràn vào trận địa của Việt Minh. Lực lượng vũ trang của Việt Minh một mặt giải thích cho các tín đồ hiểu, mặt khác đánh quân của Dân xã Hòa Hảo, diệt nhiều lính, thu nhiều súng, có 1 Bazoka. Ở khu vực giữa Phú An – Phú Lâm (Tân Châu), Đại đội 65 đánh bật lực lượng của Dân xã ra khỏi vùng này. Việt Minh mở rộng công tác vũ trang tuyên truyền về hướng Thoại Sơn, tiếp tục tiến công ở Ba Thê, đánh lính lê dương đi tàu sắt đổ bộ lên Mốp Văn và Núi Sập, diệt trên 200 lính.[3]

Ngày 18/5/1947, Trần Văn Soái và Đại tá Cluzet, tư lệnh quân đội Pháp tại miền Tây Nam Bộ ký kết Hiệp ước liên quân tại Cần Thơ. Phật giáo Hòa Hảo và lực lượng quân sự của họ được Pháp và Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ công nhận. Pháp cho phép Hòa Hảo kiểm soát một vùng rộng lớn ở Miền Tây (Hậu Giang), đặt Tổng hành dinh tại Cái Vồn, Cần thơ.[19] Hòa Hảo được sử dụng quân đội riêng do sĩ quan Hòa Hảo chỉ huy để bảo vệ tín đồ, được cử đại diện trong các hội đồng hành chính, được phát triển lực lượng võ trang và mang phù hiệu riêng của Phật giáo Hòa Hảo. Quân lực Hòa Hảo hoạt động một mình, nhưng có thể yêu cầu quân đội Pháp yểm trợ khi cần thiết. Ngược lại Phật giáo Hòa Hảo cam kết tôn trọng luật pháp của Pháp, từ chối mọi cộng tác với Việt Minh, và trục xuất mọi cơ quan, nhân sự, hoạt động của Việt Minh ra khỏi các khu vực Hòa Hảo, phối hợp hành quân với quân đội Pháp chống lại Việt Minh, hợp tác với bộ tư lệnh Pháp và Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ. Trần Văn Soái được Bộ tư lệnh Pháp phong thiếu tướng, các sĩ quan Hòa Hảo khác cũng được phong cấp.[18]

Tháng 6/1947, nhằm thu hút tín đồ Hòa Hảo tạo thành khối đoàn kết các lực lượng chống Pháp, Việt Minh thành lập Ban Hòa Hảo vận tại Chợ Mới – Nhà Bàn, tập trung hoạt động vùng Long Xuyên, Châu Đốc, tuyên truyền chính sách đại đoàn kết dân tộc, vận động tín đồ Hòa Hảo cùng toàn dân kháng chiến chống xâm lược Pháp.[3]

Do Phật giáo Hòa Hảo có tín đồ rất đông ở miền Tây, nhất là các tỉnh: Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên, Cần Thơ… Đạo này có tổ chức chính trị là Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng làm nòng cốt, nên có nhiều diễn biến phức tạp ngay cả trong nội bộ của đạo. Các lực lượng vũ trang Hòa Hảo hợp tác với Pháp chống lại Việt Minh, khủng bố quần chúng ủng hộ Việt Minh, gây ra nhiều tội ác.[3] Dù vậy, một bộ phận tín đồ là nông dân, khi Việt Minh tích cực vận động thì lần lượt họ giác ngộ và tham gia cuộc kháng chiến do Việt Minh lãnh đạo. Sư thúc Hòa Hảo Huỳnh Văn Trí là người chỉ huy một đơn vị vũ trang trong kháng chiến đã có công lớn trong công cuộc vận động tín đồ Hòa Hảo tham gia kháng chiến. Trong những năm 1949 – 1950, nhiều đồn bót đã án binh bất động, “trung lập hóa”, tránh không đụng độ với lực lượng Việt Minh.[3]

Thời kỳ 1955-1975[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ Việt Nam Cộng hòa sau khi thành lập năm 1956 thì đã mở những cuộc hành quân như “Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng” rồi “Chiến dịch Nguyễn Huệ” để bình định các giáo phái hầu thống nhất quân lực. Các lãnh tụ Hòa Hảo như tướng Trần Văn Soái (biệt danh Năm Lửa) rút về cố thủ Đồng Tháp; tướng Lê Quang Vinh (Ba Cụt) thì đem quân về chống giữ ở Châu ĐốcLong XuyênRạch Giá. Bị truy nã Trần Văn Soái ra hàng còn Lê Quang Vinh thì bị bắt, sau đem xử tử.[20]

Năm 1964, sau khi Nền Đệ Nhất Cộng hòa bị lật đổ, trung tướng Nguyển Giác Ngộ là Ủy viên đặc trách tôn giáo trong Hội Đồng tướng lãnh, từ đó Phật giáo Hòa Hảo có cơ hội phục hồi tổ chức, xây dựng mở mang các cơ sở tôn giáovăn hóaxã hội. Hệ thống Ban trị sự được kiện toàn từ trung ương đến cơ sở (hình thành cơ cấu tổ chức 4 cấp trung ương, tỉnhhuyện). Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng cũng được củng cố để hỗ trợ cho đạo. Ngày 18-11-1964, Hội Đồng Trị Sự trung ương Giáo Hội Phật giáo Hòa Hảo được thành lập, đồng thời cơ quan lãnh đạo Hòa Hảo có sự phân đôi thành 2 ban trị sự trung ương: phái cũ do Lương Trọng Tường, phái mới do Huỳnh Văn Nhiệm đứng đầu. Theo kiểm kê năm 1965, Phật giáo Hòa Hảo chỉ có một ít chùa, có 390 Độc giảng đường, tín đồ chừng 4 triệu ở khắp các tỉnh Nam Phần, đặc biệt các tỉnh có đông đảo tín đồ là Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, Rạch Gía, Cần Thơ, Vĩnh Long.

Năm 1972, Lê Quang Liêm tách ra khỏi phái cũ của Lương Trọng Tường thành lập ban trị sự trung ương mới. Lúc này đạo Hòa Hảo có tới 3 ban trị sự trung ương cùng tồn tại cho đến thống nhất đất nước. Dù phân hóa, Phật giáo Hòa Hảo tiếp tục phát triển vào thời Đệ Nhị Cộng hòa trong đó một sự kiện lớn là việc thành lập Viện Đại học Hòa Hảo năm 1972 ở Long Xuyên. Tính đến thời điểm Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, các nhóm Hòa Hảo điều hành tổng cộng sáu trường trung học phổ thông, một viện đại học và hai bệnh viện. Tất cả những cơ sở này sau đó đều bị chính quyền mới trưng dụng quốc hữu hóa.[21]

Thời kỳ 1976-1998[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ 1999-nay[sửa | sửa mã nguồn]

Phật giáo Hoà Hảo được hoạt động trở lại. Thành lập Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo, xây dựng đường hướng Vì Đạo Pháp – Vì Dân tộc, thông qua hiến chương và chương trình đạo sự, hướng dẫn thống nhất toàn đạo tu đúng giáo lý, giáo luật, tôn chỉ hành đạo thuần tuý chơn truyền của Phật giáo Hòa Hảo.[22]

Từ năm 1999, tín đồ Phật giáo Hoà Hảo được phép tổ chức Lễ Khai sáng Đạo Phật giáo Hoà Hảo (18/5 ÂL) và Lễ Đản Sinh Đức Huỳnh Giáo chủ (25/11 ÂL) hằng năm.[23]

Đến nay, Phật giáo Hòa Hảo phát triển chú yếu trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có 397 Ban Trị sự cơ sở ở 17 tỉnh, thành với số lượng tính đồ trên 7 triệu người.

Theo đài RFA thì mỗi lần có các ngày lễ lớn của Phật giáo Hòa Hảo, chỉ có tín đồ thuộc các chi phái nằm trong giáo hội Phật giáo Hòa hảo chính thức do nhà nước quy định mới được làm lễ tại chùa Quang Minh Tự, các nhóm tín đồ không có giấy phép thì không được vào làm lễ[24][25]

Giáo lý Hòa Hảo[sửa | sửa mã nguồn]

Sấm giảng Thi văn Giáo lý Phật giáo Hòa Hảo.

Giáo lý Hòa Hảo được thể hiện trong những bài sấm kệ do Huỳnh Phú Sổ biên soạn, bao gồm 2 phần: Sấm Giảng giáo lý và Thi Văn giáo lý.

Phần thứ nhất: Sấm Giảng Thi văn Giáo lý. Phần này gồm 6 quyển giảng:

1. Quyển thứ nhất: Sấm giảng khuyên người đời tu niệm. Viết theo lối văn lục bát, dài 912 câu.

2. Quyển thứ nhì: Kệ dân của người khùng. Viết theo lối văn thất ngôn trường thiên, dài 476 câu.

3. Quyển thứ ba: Sám Giảng. Viết theo lối văn lục bát, dài 612 câu.

4. Quyển thứ tư: Giác mê tâm kệ. Viết theo thể văn thất ngôn trường thiên, dài 846 câu.

5. Quyển thứ năm: Khuyến thiện. Quyển này dài 776 câu, đoạn đầu và đoạn cuối viết theo thể thơ lục bát, đoạn giữa theo lối thơ thất ngôn trường thiên.

6. Quyển thứ sáu: Những điều sơ lược cần biết của kẻ tu hiền. Quyển này viết theo lối văn xuôi (tản văn), trình bày toàn bộ tôn chỉ, giới luật của Đạo.

Phần thứ hai: Thi Văn Giáo Lý. Phần này bao gồm hơn 200 bài thi thơ do Huỳnh Phú Sổ viết từ năm Kỷ Mão (1939) đến năm Đinh Hợi (1947).

Có thể coi giáo lý Hòa Hảo là sự tiếp thu và nâng cao tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương của Đoàn Minh Huyên, gồm phần “Học Phật” và phần “Tu nhân”:

  • Phần “Học Phật”: chủ yếu dựa vào giáo lý đạo Phật song được giản lược nhiều và có thêm bớt đôi chút. Tinh thần chính là khuyên tín đồ ăn ngay ở hiền.
  • Phần “Tu nhân”: theo giáo lý Hòa Hảo tu nhân có nghĩa là tu “tứ ân hiếu nghĩa”- đó là 4 điều Đoàn Minh Huyên, đã chỉ ra, bao gồm Ân tổ tiên cha mẹ, Ân đất nước, Ân đồng bào nhân loại, Ân tam bảo (Phật, Pháp, Tăng).

Đạo Hòa Hảo khuyên tín đồ vừa học Phật vừa tu nhân để tạo nên công đức. Có công đức để trở thành bậc hiền nhân. Song, họ đặc biệt yêu cầu tín đạo phải tu nhân, cho rằng việc tu hành phải dựa trên đạo đức, trước hết đạo làm người: Thiên kinh vạn điển, hiếu nghĩa vi tiên (Không có tu nhân thì không thể học Phật, hoặc học Phật mà chẳng tu nhân thì cũng vô nghĩa); Dục tu Tiên Đạo, tiên tu Nhơn Đạo. Nhơn Đạo bất tu, Tiên Đạo viễn hỹ (Muốn tu thành Tiên Phật trước hết phải tu đạo làm người, đạo người mà không tu thì Tiên Phật còn xa vời).

Nghi lễ và tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Thờ phượng[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo lý Phật giáo Hoà Hảo chủ trương thờ phượng đơn giản, không cầu kỳ phức tạp, trở về với nội tâm hơn là hình tướng bên ngoài, đúng với tinh thần vô vi mà Đức Phật Thích Ca đã đề xướng.

Người tín đồ Phật giáo Hoà Hảo thờ cúng ba ngôi hương án tại nhà, bao gồm:

– Thứ nhất là Ngôi thờ Cửu Huyền Thất Tổ: thờ cúng tổ tiên, theo đạo lý uống nước nhớ nguồn.

– Thứ hai là Ngôi thờ Tam Bảo: thờ Thập phương Phật, Pháp, Tăng. Ngôi thờ này có đặt một tấm vải màu nâu (gọi là Trần Dà) tượng trưng cho sự thoát tục và sự đoàn kết. Chúng ta hãy xem qua lời dạy của Đức Huỳnh Giáo chủ:

“Nhưng riêng về cư-sĩ ở nhà không nên tạo thêm nữa; nên thờ đơn-giản cho lòng tin-tưởng trở lại tâm hồn hơn ở vào các sự hào nhoáng bề ngoài. Từ trước chúng ta thờ trần điều là di tích của Đức Phật Thầy Tây-An để lại. Nhưng gần đây có nhiều kẻ thờ trần điều tự xưng cùng tông-phái với chúng ta, làm sái phép, sái với tôn-chỉ của Đức Phật, nên toàn-thể người trong Đạo đổi lại màu dà. Lại nữa, từ trước đến giờ các sư dùng màu dà để biểu-hiện cho sự thoát tục của mình, và màu ấy là sự kết hợp của tất cả các màu sắc khác, nên có thể tượng trưng cho sự hòa-hiệp của nhân-loại không phân biệt chủng tộc và cá-nhân. Vì vậy chúng ta dùng nó trong chỗ thờ-phượng để tiêu-biểu cho tinh-thần vô thượng của nhà Phật”.

-Thứ ba là Ngôi Thông Thiên: đặt ngoài trời.

Về cách cúng Phật, chỉ nên cúng nước lạnh, bông hoa và nhang thôi. Nước lạnh tiêu-biểu cho sự trong sạch, bông hoa tiêu-biểu cho sự tinh khiết, còn nhang, dùng đặng bán mùi uế-trược. Ngoài ra chẳng nên cúng một món gì khác cả. Bàn thờ ông bà cúng món chi cũng đặng“. (lời Đức Huỳnh Giáo chủ).

Như trên thì, ngôi thờ Tam Bảo và ngôi Thông Thiên chỉ đặt lư hương, bình hoa, ly nước sạch, ngoài ra không cúng gì khác nữa. Bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ thì ngoài ba thứ trên có thể dâng cúng thêm thực phẩm: bánh trái, thức ăn nhưng nên cúng chay.

Hành lễ[sửa | sửa mã nguồn]

Huỳnh Phú Sổ dạy:

Chỉ thờ lạy Đức Phật, Tổ-tiên, ông bà, cha mẹ lúc còn sống và các vị anh-hùng cứu quốc. Với những kẻ khác, nên bỏ hẳn sự lạy lục người sống, cho đến Thầy mình cũng vậy, chỉ xá thôi.

Người tín đồ Phật giáo Hoà Hảo hành lễ mỗi ngày hai thời vào buổi sáng và buổi chiều theo nghi thức đã được chỉ dạy trong quyển thứ sáu.

Các ngày lễ tết[sửa | sửa mã nguồn]

Các ngày Lễ kỷ niệm trong Đạo đều tổ chức vào ngày âm lịch. Trong một năm, theo âm lịch đạo Hòa Hảo có các ngày lễ, Tết chính:

  • Ngày 1 tháng GiêngTết Nguyên Đán
  • Ngày Rằm tháng Giêng: Lễ Thượng Ngươn
  • Ngày 25 tháng 2: ngày Đức Huỳnh Giáo chủ vắng mặt
  • Ngày 8 tháng 4: Lễ Phật đản
  • Ngày 18 tháng 5: Lễ Khai sáng Đạo Phật giáo Hoà Hảo
  • Ngày Rằm tháng 7: Lễ Trung Ngươn, Vu Lan Báo Hiếu
  • Ngày 12 tháng 8: Vía Phật Thầy Tây An
  • Ngày Rằm tháng 10: Lễ Hạ Ngươn
  • Ngày 17 tháng 11: Lễ Phật A-di-đà
  • Ngày 25 tháng 11: Lễ Đản Sinh Đức Huỳnh Giáo chủ.
  • Ngày 8 tháng Chạp: Lễ Phật thành đạo

Ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bửu Sơn Tự tại Thị xã Sông Cầu (Phú Yên). Hiện nay, đây là ngôi thờ của đạo xa nhất ở Việt Nam, tính từ nơi khai sáng đạo là huyện Phú Tân.
  • Một buổi thuyết giảng.
  • Một phòng thuốc Nam miễn phí.
  • Phát hàng cứu trợ cho đồng bào nghèo bị thiên tai.

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Phật Giáo Hòa Hảo Hải Ngoại

Posted on April 4, 2020 by huyentamhh

Phật Giáo Hòa Hảo Hải Ngoại

  1. Lời Giới Thiệu
    1. Mục-Đích Diễn-ĐànThảo luận:5Bài viết:6Mới nhất: Những điều căn bản cần biết của người tín đồ PGHHThuma, 3/2/12RSS
    2. Tiểu-Sử và Sứ-Mạng của Đức Huỳnh Giáo ChủThảo luận:9Bài viết:10Mới nhất: Những Toa Thuốc mà Đức Thầy Trị Bệnh cho Đồng Bào Trong Thời Gian Hoằng Khai Nền ĐạoBuile, 18/1/12RSS
    3. Sấm Giảng – Thi Văn – Giáo Lý PGHHThảo luận:9Bài viết:13Mới nhất: Những bài Thi Đức Giáo Chủ PGHH Viết và Đáp hoạ trong các năm 1940, 1941, 1942, 1943,Hhuynh, 10/2/17RSS
  2. Thư Viện
    1. Sách KinhThảo luận:45Bài viết:158Mới nhất: Pháp tu tập trong phật giáo hòa hảoTTT, 7/2/18RSS
    2. Pháp-LuậnThảo luận:63Bài viết:70Mới nhất: : “Bửu kiến trừng tâm…”của đồng đạo Gió ĐồngNgoctruc, 4/12/19RSS
    3. Trao-Đổi Đạo VịThảo luận:111Bài viết:120Mới nhất: Hình Ảnh và Ý Nghĩa Chuỗi Tràng Niệm PhậtHhuynh, 2/2/20RSS
    4. Vườn Thơ – Nhạc – Ý ĐạoThảo luận:4Bài viết:7Mới nhất: Tập Thơ (4)PhuVan, 12/7/16RSS
  3. Hình Ảnh – Video
    1. Diễn-Ngâm Sấm Giảng Thi Văn Giáo-Lý PGHH (audio)Thảo luận:7Bài viết:16Mới nhất: ‘băng gia bảo’ do nhóm nghệ sĩ diễn ngâm giáolý pghhHhuynh, 18/11/14RSS
    2. Hình-ẢnhThảo luận:21Bài viết:35Mới nhất: Sự Hiện Diện Những Mái Đạo Tràng Trong Thôn Làng Hẻo Lánh Sau Năm 1975Hhuynh, 6/2/20RSS
    3. Âm-ThanhThảo luận:8Bài viết:39Mới nhất: Hiển Đạo – Thanh Sĩ. (từ quyển 8 đến 16) (Phần kế tiếp)Hhuynh, 28/12/19RSS
    4. Videos / ClipsThảo luận:51Bài viết:267Mới nhất: Chương Trình Phổ Truyền Giáo Lý PGHHadmin, 27/12/19RSS
  4. Tin Tức – Thảo luận
    1. Tin-TứcThảo luận:50Bài viết:54Mới nhất: Kỷ niệm ngày ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ vắng mặt năm thứ 73Hhuynh, 18/3/20RSS
    2. Thảo-LuậnThảo luận:115Bài viết:117Mới nhất: Người phụ nữ gốc Việt.. hành khất trong ga xe điện ngầm ở ParisBuile, 26/9/19RSS
    3. Văn-TuyểnThảo luận:49Bài viết:53Mới nhất: Quà hồi môn của mẹTTT, 20/10/17RSS
    4. Lưu-TrữThảo luận:197Bài viết:226Mới nhất: Phản cảm của tín đồ PGHH khi BTS/TƯ- GH/PGHH (quốc danh) thay toàn bộ mái ngói Ngôi THhuynh, 12/10/19RSS
  5. Trang Chọn lọc
    1. Tài-LiệuThảo luận:45Bài viết:58Mới nhất: MIỀN NAM TRONG KHÓI LỬA (Trần Nguơn Phiêu)Buile, 17/3/19RSS
    2. Phản ảnh của tín đồ PGHHThảo luận:113Bài viết:134Mới nhất: THƯ NGÕ của đồng đaọ PGHH quốc nộiTTT, 21/7/19RSS
    3. Giải-TríThảo luận:25Bài viết:31Mới nhất: Mikyoui00 một Nghệ nhân người Nhật BảnTTT, 22/3/19RSS
    4. Liên-Lạc – Góp-ý

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Phật giáo Hòa Hảo

Posted on March 18, 2020 by huyentamhh

Biểu quyết Chọn lọc Chủ điểm chọn lọcCLB vô địch cúp châu Âu  · Danh sách chọn lọcDs đĩa đơn quán quân Hot 100 thập niên 2000 (Mỹ)Ds đĩa đơn quán quân Hot 100 năm 2005 (Mỹ)Giải Toán học Ruth Lyttle SatterDs đĩa đơn quán quân Hot 100 năm 2007 (Mỹ)
Biểu quyết Bài viết tốt Bài viết tốtPhaolô Nguyễn Thanh HoanLỗ gaiTổng thống Hoa KỳQuan hệ tình dụcVệ tinh GalileoTomoyo After ~It’s a Wonderful Life~Sirimavo Bandaranaike

Phật giáo Hòa Hảo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Buớc tưới chuyển hướngBước tới tìm kiếm

Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ

Phật giáo Hòa Hảo, là một tông phái Phật giáo do Huỳnh Phú Sổ khai lập năm Kỷ Mão 1939, lấy pháp môn “Học Phật – Tu Nhân” làm căn bản và chủ trương tu hành tại gia (Tại gia cư sĩ). Tôn giáo này lấy nền tảng là Đạo Phật, kết hợp với những bài sấm kệ do chính Huỳnh Phú Sổ biên soạn.

Theo thống kê năm 2009 có khoảng 1.433.252 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo khiến tôn giáo này trở thành tôn giáo có số tín đồ đông thứ 4 tại Việt Nam.[1]

Mục lục

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ra đời[sửa | sửa mã nguồn]

Phật giáo Hòa Hảo ra đời tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang) vào năm 1939 do Huỳnh Phú Sổ sáng lập.

Huỳnh Phú Sổ, còn được gọi là “Thầy Tư Hoà Hảo”, “Đức Huỳnh Giáo chủ”, khi đó chưa đầy 18 tuổi, tuyên bố mình là bậc “Sinh nhi tri”, biết được quá khứ nhìn thấu tương lai, được thọ mệnh cùng với Phật A-di-đà và Phật Thích-ca Mâu-ni, xuống hạ giới có nhiệm vụ truyền bá cho dân chúng tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương để Chấn hưng Phật giáo, cứu độ chúng sinh khỏi sông mê, biển khổ và “đưa nhân loại đi vào vòng hạnh phúc”. Ông chữa bệnh cho người dân bằng các bài thuốc nam do ông kê toa hoặc nước lã, giấy vàng, lá xoài, lá ổi, bông trang, bông thọ, đồng thời qua đó ông truyền dạy giáo lý bằng những bài sám giảng (còn gọi là sấm giảng) do ông soạn thảo. Vì vậy chỉ trong vòng 2 năm từ 1937 đến 1939 số người tin theo ông đã khá đông và ông trở nên nổi tiếng khắp vùng.

Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (tức 4 tháng 7 năm 1939), Huỳnh Phú Sổ bắt đầu khai đạo, khi ông chưa tròn 20 tuổi. Nơi tổ chức lễ khai đạo chính là gia đình ông. Ông đã lấy tên ngôi làng Hòa Hảo nơi mình sinh ra để đặt tên cho tôn giáo mới của mình: Phật giáo Hòa Hảo. Sau đó, ông được các tín đồ suy tôn làm thầy tổ, và gọi ông bằng cái tên tôn kính là Đức Tôn Sư, Đức Thầy.

Kể từ đó, ông lần lượt làm nhiều bài thơ ca, sau được tập hợp lại thành quyển Sấm giảng thi văn giáo lý, nội dung cốt lõi là giáo lý của Đức Phật Thích Ca, và có phần gần gũi với tư tưởng thần bí và tín ngưỡng dân gian ở Nam Bộ lúc bấy giờ.

Tổ đình Phật giáo Hòa Hảo, xưa thuộc làng Hòa Hảo, nay thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Thời kỳ 1941 – 1944[sửa | sửa mã nguồn]

Sang năm 1941, đạo Hòa Hảo tiếp tục gia tăng số lượng tín đồ của mình một cách nhanh chóng. Khi Nhật vào Đông DươngPháp lo ngại Nhật tranh thủ giáo phái Hòa Hảo nên đã câu thúc Huỳnh Phú Sổ ở Châu ĐốcBạc LiêuCần Thơ. Năm 1942, Nhật vận động được ông về Sài Gòn. Tại đây, ông đã vận động được nhiều nhân vật hoạt động chính trị thân Nhật vào đạo Hòa Hảo để gây thanh thế, đồng thời thời gian này nhiều thanh niên theo đạo Hòa Hảo cũng tham gia các tổ chức của Nhật. Năm 1944, Phật giáo Hòa Hảo thành lập lực lượng vũ trang dưới tên gọi Đội Bảo An.[2]

Thời kỳ 1945 – 1955[sửa | sửa mã nguồn]

Xung đột với Việt Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Nam Bộ là nơi phát tích của giáo phái Hòa Hảo, với đa số tín đồ là những người dân hiền hòa, yêu nước. Nhằm thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân, Ủy ban nhân dân Nam Bộ mới thành lập sau Cách mạng tháng Tám đã mời người sáng lập giáo phái là Huỳnh Phú Sổ giữ chức ủy viên đặc biệt của Ủy ban. Tuy nhiên, Việt Minh cho rằng một số lãnh đạo Hòa Hảo có nhiều tham vọng về quyền hành đã lợi dụng danh nghĩa của giáo phái Hòa Hỏa đòi giao những tỉnh có đông tín đồ (như Cần Thơ, Long Xuyên, Châu Đốc) cho họ quản lý. Khi yêu sách này không được đáp ứng, họ 2 lần tổ chức biểu tình tuần hành, kéo vào thị xã Long Xuyên (cuối tháng 8-1945) và thị xã Châu Đốc (đầu tháng 9-1945) định gây bạo loạn cướp chính quyền. Lực lượng vũ trang cách mạng được huy động đến kịp thời giải tán.[3] Theo Archimedes L.A Patti, Hòa Hảo chống lại chủ trương của Việt Minh muốn đàm phán với Đồng Minh nên tổ chức biểu tình đòi vũ trang quần chúng chống lại việc quân Anh, Pháp đổ bộ vào Nam Kỳ[4].

Ngày 8/9/1945, những người đứng đầu Phật giáo Hòa Hảo lại tổ chức tuần hành ở thị xã Cần Thơ với khẩu hiệu chống thực dân Pháp và chống độc tài. Việt Minh cho rằng Hòa Hảo muốn cướp chính quyền.[5] Chính quyền tỉnh Cần Thơ giải tán cuộc biểu tình này, bắt những người cầm đầu, đưa ra tòa xét xử và kết án tử hình 3 người đứng đầu. Đối với tín đồ, chính quyền giải thích ý đồ của lãnh đạo Hòa Hảo, khuyên họ trở về nhà tiếp tục làm ăn, không để bị lợi dụng.[3] Huỳnh Phú Sổ giải thích với lãnh đạo Việt Minh Trần Văn Giàu đây là cuộc biểu tình của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo để biểu thị quan điểm đấu tranh chống thực dân Pháp và chống độc tài[6]. Ngày 9 tháng 9 năm 1945, Việt Minh cho Quốc gia Tự vệ Cuộc bao vây trụ sở Phật giáo Hòa Hảo ở số 8 đường Sohier, Sài Gòn để bắt Huỳnh Phú Sổ nhưng ông trốn thoát.[7] Sau cuộc biểu tình tại Cần Thơ, Hòa Hảo bị Việt Minh bắt bớ, đàn áp[5]. Hòa Hảo cho rằng trong năm 1945 khoảng 10.000 tín đồ và cán bộ của họ bị Việt Minh sát hại[8].

Với chủ trương đại đoàn kết toàn dân, ngày 6 tháng 2 năm 1946, tại Chợ Mới (Long Xuyên), Nguyễn Hữu Xuyến, Trung đoàn trưởng Khu 8 của Việt Minh, đã ký với Trần Văn Soái (Năm Lửa), thủ lĩnh một nhóm Hòa Hảo Dân Xã, một thỏa ước nhằm gác bỏ mọi hiềm khích và hiểu lầm cũ, cùng nhau đoàn kết chống thực dân Pháp[3]. Thỏa ước này gồm 3 điều khoản:

  1. Hai bên cam kết không chống lại nhau.
  2. Khi một bên bị Pháp tấn công thì bên kia ứng cứu.
  3. Hai bên phối hợp tổ chức đánh Pháp.

Tháng 6 năm 1946 Hòa Hảo tổ chức lại lực lượng vũ trang lấy tên Nghĩa quân Cách mạng Vệ quốc Liên đội Nguyễn Trung Trực[9]. Ngày 21/9/1946, Hòa Hảo thành lập Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng.

Ngày 14/11/1946, Huỳnh Phú Sổ tham gia Ủy ban Hành chánh Kháng chiến Nam bộ với chức vụ ủy viên đặc biệt. Lực lượng vũ trang Hòa Hảo tham gia vào Vệ quốc đoàn do Nguyễn Bình chỉ huy nhưng không chấp nhận các chính trị viên do cấp trên gửi xuống. Tuy nhận lời tham gia Ủy ban Hành chánh Kháng chiến, Huỳnh Phú Sổ vẫn ngầm hoạt động chống lại chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 20/4/1946, Hòa Hảo cùng một số tổ chức khác tại miền Nam thành lập Mặt trận Quốc gia liên hiệp để tự tổ chức chống Pháp tại miền Nam Việt Nam. Mặt trận bầu Huỳnh Phú Sổ (dùng bí danh) làm Chủ tịch. Mặt trận này có lập trường chống lại chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa[10][11] Mặt trận quyết định ủng hộ chính phủ Cộng hòa tự trị Nam Kỳ để từ đó tiến tới thành lập một chính quyền thống nhất Việt Nam. Nguyễn Hòa Hiệp, Tư lệnh Đệ tam sư đoàn ra thông cáo kêu gọi lực lượng kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ hãy ngưng chiến: “Chính phủ Pháp đã bằng lòng để cho chúng ta có quân đội và chính phủ riêng. Hai dân tộc Pháp và Nam Kỳ sẽ sống bình đẳng. Vậy các chiến sĩ đang chiến đấu, hãy ngừng chiến ngay“.

Ngày 17 tháng 2 năm 1947, đại diện của Huỳnh Phú Sổ là Nguyễn Bảo Toàn cùng với lãnh đạo các đảng quốc gia khác như: Nguyễn Hải Thần (Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội), Nguyễn Tường Tam (Việt Nam Quốc dân đảng) thành lập Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp với mục đích hậu thuẫn Bảo Đại đàm phán với Pháp thành lập Quốc gia Việt Nam. Theo kế hoạch của các đảng phái quốc gia tại miền Nam Việt Nam, Hòa Hảo cùng các đảng phái, tôn giáo khác sẽ dùng lực lượng vũ trang của mình từ Đông Nam Bộ (khu 7) về Tây Nam Bộ (khu 8, khu 9) lấy Đồng Tháp Mười làm căn cứ địa, nắm lấy các nguồn tiếp liệu lương thực và kiểm soát các đường giao thông giữa chiến khu 7 (nơi Ủy ban Hành chánh Kháng chiến Nam Bộ đặt căn cứ), và hai chiến khu 8, 9 để cô lập Nguyễn Bình ở chiến khu 7, vô hiệu hóa lực lượng bộ đội Việt Minh trong hai chiến khu 8 và 9, làm bàn đạp tiến tới vị thế chủ lực lãnh đạo ở vùng Nam Bộ. Về mặt chính trị, dưới danh nghĩa của Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp sẽ tạo thế liên kết với các đảng phái quốc gia ở miền Bắc đã lưu vong sang Trung Hoa, tuyên bố không chấp nhận quyền lãnh đạo Việt Nam của Hồ Chí Minh và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa[12]. Đầu tháng 4/1947, các đơn vị vũ trang của Cao Đài, Hòa Hảo, Đại Việt, Bình Xuyên di chuyển về Đồng Tháp Mười lập căn cứ. Trên đường hành quân, các đơn vị quân sự này bị chi đội 18 và chi đội 12 Vệ quốc đoàn phục kích ngăn chặn. Họ còn bị phi cơ Pháp bắn phá. Chỉ có một số đơn vị Hòa Hảo và Đại Việt đến nơi nhờ thông thuộc địa bàn. Các đơn vị Cao Đài và Bình Xuyên bị kẹt lại khu 7.[12]

Sau một thời gian tạm hòa hoãn với Việt Minh, từ tháng 3-1947, nhóm Trần Văn Soái không tham gia kháng chiến do Việt Minh lãnh đạo nữa, mà cùng một tiểu đoàn lê dương Pháp mở cuộc càn quét lớn vào 5 làng ở vùng Tân Châu (Châu Đốc). Đại đội 65 Vệ quốc đoàn cùng dân quân du kích địa phương đã đánh trả quyết liệt, buộc lực lượng của Năm Lửa và quân Pháp phải rút lui.[3] Cuối tháng 3 đầu tháng 4-1947 ở Tịnh Biên, Tri Tôn (Châu Đốc), lực lượng vũ trang Hòa Hảo và Cao Đài Tây Ninh liên tục đánh phá vùng Việt Minh kiểm soát, tàn sát thường dân, đốt phá xóm làng, truy lùng cán bộ Việt Minh và quần chúng cốt cán của Việt Minh.[3] Ngược lại, các đơn vị Vệ quốc đoàn do Việt Minh chỉ huy tại miền Tây Nam Bộ đã càn quét các vùng do Hòa Hảo kiểm soát, đốt phá nhà cửa, lương thực, giết hại thường dân theo đạo Hòa Hảo.[13]

Đầu tháng 4/1947, các đơn vị vũ trang của Cao Đài, Hòa Hảo, Đại Việt, Bình Xuyên di chuyển về Đồng Tháp Mười lập căn cứ. Trên đường hành quân, các đơn vị quân sự này bị chi đội 18 và chi đội 12 Vệ quốc đoàn phục kích ngăn chặn. Họ còn bị phi cơ Pháp bắn phá. Chỉ có một số đơn vị Hòa Hảo và Đại Việt đến nơi nhờ thông thuộc địa bàn. Các đơn vị Cao Đài và Bình Xuyên bị kẹt lại khu 7.[12] Theo Việt Minh, những người cầm đầu Dân xã Hòa Hảo phát động một cuộc thanh trừng ở Tây Nam Bộ vào ngày 6/4/1947. Những người dân không ủng hộ Dân xã Hòa Hảo đều bị xem là kẻ thù, bị giết, buộc đá vào cổ, thả trôi sông. Dân chúng vô cùng phẫn uất trước hành động dã man của Dân xã Hòa Hảo.[3] Ngoài việc giết hại dân thường, quân Dân xã Hòa Hảo còn tổ chức các hành động càn quét chống Việt Minh ở các tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Cần Thơ.[3]

Ngày 16 tháng 4 năm 1947 Huỳnh Phú Sổ đột ngột mất tích khi đến Tân Phú, Đồng Tháp Mười để hòa giải xung đột giữa Việt Minh và Phật giáo Hòa Hảo. Ông dự Hội Nghị với Việt Minh do Bửu Vinh mời, họp tại làng Tạ Phú, Đốc Vàng, tỉnh Long Xuyên. Trong phiên họp, đèn tắt và có tiếng súng nổ, cận vệ của ông chạy thoát về báo lại. Ngay đêm đó, có thủ bút của ông viết, gửi cho các Tư lệnh Lực lượng Phật giáo Hòa Hảo:

Ông Trần Văn Soái và Ông Nguyễn Giác Ngộ;

Tôi vừa hội hiệp với ông Bửu Vinh, bỗng có sự biến cố xảy ra, tôi và ông Vinh xuýt chết, chưa rõ nguyên nhân, còn điều tra, trong mấy anh em phòng vệ không biết chết hay chạy đi, nếu có ai về báo cáo rằng tôi bị bắt hay mưu sát thì các ông đừng náo động.

Cấm chỉ đồn đãi, cấm chỉ kéo quân đi tiếp cứu, hãy đóng quân y tại chỗ.

Sáng ngày, tôi sẽ cùng ông Bửu Vinh điều tra kỹ lưỡng rồi sẽ về sau.

Phải triệt để tuân lịnh.

Ngày 16-4-1947 : 9 giờ 15 đêm

Ký tên: S

Từ đó người ta không có tin tức về ông. Hòa Hảo tin rằng Việt Minh đã hãm hại ông sau khi đã viết lá thư đêm đó. Khi mất tích ông 27 tuổi. Các tài liệu của phương Tây, Việt Nam Cộng hòa cho rằng Việt Minh thủ tiêu ông[14][15][16]. Tài liệu của công an Việt Nam thừa nhận Huỳnh Phú Sổ đã bị Việt Minh bắt và xử tử ngày 22 tháng 12 năm 1947 tại Long Xuyên[17].

Ủng hộ Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Huỳnh Phú Sổ mất tích, quan hệ Hòa Hảo – Việt Minh hoàn toàn đổ vỡ. Chi đội 2 Lưu động Vệ quốc đoàn do Trần Văn Soái chỉ huy ly khai khỏi Vệ quốc đoàn[18]. Những người chống Việt Minh trong đạo Hòa Hảo hợp tác với Pháp và được Pháp hỗ trợ trang bị và cung cấp tiền bạc[3]. Phật giáo Hòa Hảo lập ra nhiều đơn vị vũ trang mới ngoài những đơn vị vũ trang khác thành lập từ năm 1944, chiếm cứ một số vùng ở Tây Nam Bộ.[3] Lực lượng vũ trang Hòa Hảo chia thành 4 nhóm kiểm soát các khu vực khác nhau tại miền Tây Nam Bộ. Các nhóm này gồm:

  1. Nhóm Trần Văn Soái (Năm Lửa), đóng tại Cái Vồn (Vĩnh Long).
  2. Nhóm Lâm Thành Nguyên (Hai Ngoán), đóng tại Cái Dầu (Châu Đốc).
  3. Nhóm Lê Quang Vinh (Ba Cụt), đóng tại Thốt Nốt (Long Xuyên).
  4. Nhóm Nguyễn Giác Ngộ, đóng tại Chợ Mới (Long Xuyên).[3]

Năm 1947, các lực lượng Việt Minh vừa tổ chức tuyên truyền vũ trang, vừa mở một trận đánh lớn tại Kinh 13. Chỉ huy quân sự của Dân xã Hòa Hảo tuyên truyền: “Súng Việt Minh bắn không nổ!“, xua tín đồ tràn vào trận địa của Việt Minh. Lực lượng vũ trang của Việt Minh một mặt giải thích cho các tín đồ hiểu, mặt khác đánh quân của Dân xã Hòa Hảo, diệt nhiều lính, thu nhiều súng, có 1 Bazoka. Ở khu vực giữa Phú An – Phú Lâm (Tân Châu), Đại đội 65 đánh bật lực lượng của Dân xã ra khỏi vùng này. Việt Minh mở rộng công tác vũ trang tuyên truyền về hướng Thoại Sơn, tiếp tục tiến công ở Ba Thê, đánh lính lê dương đi tàu sắt đổ bộ lên Mốp Văn và Núi Sập, diệt trên 200 lính.[3]

Ngày 18/5/1947, Trần Văn Soái và Đại tá Cluzet, tư lệnh quân đội Pháp tại miền Tây Nam Bộ ký kết Hiệp ước liên quân tại Cần Thơ. Phật giáo Hòa Hảo và lực lượng quân sự của họ được Pháp và Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ công nhận. Pháp cho phép Hòa Hảo kiểm soát một vùng rộng lớn ở Miền Tây (Hậu Giang), đặt Tổng hành dinh tại Cái Vồn, Cần thơ.[19] Hòa Hảo được sử dụng quân đội riêng do sĩ quan Hòa Hảo chỉ huy để bảo vệ tín đồ, được cử đại diện trong các hội đồng hành chính, được phát triển lực lượng võ trang và mang phù hiệu riêng của Phật giáo Hòa Hảo. Quân lực Hòa Hảo hoạt động một mình, nhưng có thể yêu cầu quân đội Pháp yểm trợ khi cần thiết. Ngược lại Phật giáo Hòa Hảo cam kết tôn trọng luật pháp của Pháp, từ chối mọi cộng tác với Việt Minh, và trục xuất mọi cơ quan, nhân sự, hoạt động của Việt Minh ra khỏi các khu vực Hòa Hảo, phối hợp hành quân với quân đội Pháp chống lại Việt Minh, hợp tác với bộ tư lệnh Pháp và Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ. Trần Văn Soái được Bộ tư lệnh Pháp phong thiếu tướng, các sĩ quan Hòa Hảo khác cũng được phong cấp.[18]

Tháng 6/1947, nhằm thu hút tín đồ Hòa Hảo tạo thành khối đoàn kết các lực lượng chống Pháp, Việt Minh thành lập Ban Hòa Hảo vận tại Chợ Mới – Nhà Bàn, tập trung hoạt động vùng Long Xuyên, Châu Đốc, tuyên truyền chính sách đại đoàn kết dân tộc, vận động tín đồ Hòa Hảo cùng toàn dân kháng chiến chống xâm lược Pháp.[3]

Do Phật giáo Hòa Hảo có tín đồ rất đông ở miền Tây, nhất là các tỉnh: Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên, Cần Thơ… Đạo này có tổ chức chính trị là Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng làm nòng cốt, nên có nhiều diễn biến phức tạp ngay cả trong nội bộ của đạo. Các lực lượng vũ trang Hòa Hảo hợp tác với Pháp chống lại Việt Minh, khủng bố quần chúng ủng hộ Việt Minh, gây ra nhiều tội ác.[3] Dù vậy, một bộ phận tín đồ là nông dân, khi Việt Minh tích cực vận động thì lần lượt họ giác ngộ và tham gia cuộc kháng chiến do Việt Minh lãnh đạo. Sư thúc Hòa Hảo Huỳnh Văn Trí là người chỉ huy một đơn vị vũ trang trong kháng chiến đã có công lớn trong công cuộc vận động tín đồ Hòa Hảo tham gia kháng chiến. Trong những năm 1949 – 1950, nhiều đồn bót đã án binh bất động, “trung lập hóa”, tránh không đụng độ với lực lượng Việt Minh.[3]

Thời kỳ 1955-1975[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ Việt Nam Cộng hòa sau khi thành lập năm 1956 thì đã mở những cuộc hành quân như “Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng” rồi “Chiến dịch Nguyễn Huệ” để bình định các giáo phái hầu thống nhất quân lực. Các lãnh tụ Hòa Hảo như tướng Trần Văn Soái (biệt danh Năm Lửa) rút về cố thủ Đồng Tháp; tướng Lê Quang Vinh (Ba Cụt) thì đem quân về chống giữ ở Châu ĐốcLong XuyênRạch Giá. Bị truy nã Trần Văn Soái ra hàng còn Lê Quang Vinh thì bị bắt, sau đem xử tử.[20]

Năm 1964, sau khi Nền Đệ Nhất Cộng hòa bị lật đổ, trung tướng Nguyển Giác Ngộ là Ủy viên đặc trách tôn giáo trong Hội Đồng tướng lãnh, từ đó Phật giáo Hòa Hảo có cơ hội phục hồi tổ chức, xây dựng mở mang các cơ sở tôn giáovăn hóaxã hội. Hệ thống Ban trị sự được kiện toàn từ trung ương đến cơ sở (hình thành cơ cấu tổ chức 4 cấp trung ương, tỉnhhuyện). Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng cũng được củng cố để hỗ trợ cho đạo. Ngày 18-11-1964, Hội Đồng Trị Sự trung ương Giáo Hội Phật giáo Hòa Hảo được thành lập, đồng thời cơ quan lãnh đạo Hòa Hảo có sự phân đôi thành 2 ban trị sự trung ương: phái cũ do Lương Trọng Tường, phái mới do Huỳnh Văn Nhiệm đứng đầu. Theo kiểm kê năm 1965, Phật giáo Hòa Hảo chỉ có một ít chùa, có 390 Độc giảng đường, tín đồ chừng 4 triệu ở khắp các tỉnh Nam Phần, đặc biệt các tỉnh có đông đảo tín đồ là Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, Rạch Gía, Cần Thơ, Vĩnh Long.

Năm 1972, Lê Quang Liêm tách ra khỏi phái cũ của Lương Trọng Tường thành lập ban trị sự trung ương mới. Lúc này đạo Hòa Hảo có tới 3 ban trị sự trung ương cùng tồn tại cho đến thống nhất đất nước. Dù phân hóa, Phật giáo Hòa Hảo tiếp tục phát triển vào thời Đệ Nhị Cộng hòa trong đó một sự kiện lớn là việc thành lập Viện Đại học Hòa Hảo năm 1972 ở Long Xuyên. Tính đến thời điểm Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, các nhóm Hòa Hảo điều hành tổng cộng sáu trường trung học phổ thông, một viện đại học và hai bệnh viện. Tất cả những cơ sở này sau đó đều bị chính quyền mới trưng dụng quốc hữu hóa.[21]

Thời kỳ 1976-1998[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ 1999-nay[sửa | sửa mã nguồn]

Phật giáo Hoà Hảo được hoạt động trở lại. Thành lập Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo, xây dựng đường hướng Vì Đạo Pháp – Vì Dân tộc, thông qua hiến chương và chương trình đạo sự, hướng dẫn thống nhất toàn đạo tu đúng giáo lý, giáo luật, tôn chỉ hành đạo thuần tuý chơn truyền của Phật giáo Hòa Hảo.[22]

Từ năm 1999, tín đồ Phật giáo Hoà Hảo được phép tổ chức Lễ Khai sáng Đạo Phật giáo Hoà Hảo (18/5 ÂL) và Lễ Đản Sinh Đức Huỳnh Giáo chủ (25/11 ÂL) hằng năm.[23]

Đến nay, Phật giáo Hòa Hảo phát triển chú yếu trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có 397 Ban Trị sự cơ sở ở 17 tỉnh, thành với số lượng tính đồ trên 7 triệu người.

Theo đài RFA thì mỗi lần có các ngày lễ lớn của Phật giáo Hòa Hảo, chỉ có tín đồ thuộc các chi phái nằm trong giáo hội Phật giáo Hòa hảo chính thức do nhà nước quy định mới được làm lễ tại chùa Quang Minh Tự, các nhóm tín đồ không có giấy phép thì không được vào làm lễ[24][25]

Giáo lý Hòa Hảo[sửa | sửa mã nguồn]

Sấm giảng Thi văn Giáo lý Phật giáo Hòa Hảo.

Giáo lý Hòa Hảo được thể hiện trong những bài sấm kệ do Huỳnh Phú Sổ biên soạn, bao gồm 2 phần: Sấm Giảng giáo lý và Thi Văn giáo lý.

Phần thứ nhất: Sấm Giảng Thi văn Giáo lý. Phần này gồm 6 quyển giảng:

1. Quyển thứ nhất: Sấm giảng khuyên người đời tu niệm. Viết theo lối văn lục bát, dài 912 câu.

2. Quyển thứ nhì: Kệ dân của người khùng. Viết theo lối văn thất ngôn trường thiên, dài 476 câu.

3. Quyển thứ ba: Sám Giảng. Viết theo lối văn lục bát, dài 612 câu.

4. Quyển thứ tư: Giác mê tâm kệ. Viết theo thể văn thất ngôn trường thiên, dài 846 câu.

5. Quyển thứ năm: Khuyến thiện. Quyển này dài 776 câu, đoạn đầu và đoạn cuối viết theo thể thơ lục bát, đoạn giữa theo lối thơ thất ngôn trường thiên.

6. Quyển thứ sáu: Những điều sơ lược cần biết của kẻ tu hiền. Quyển này viết theo lối văn xuôi (tản văn), trình bày toàn bộ tôn chỉ, giới luật của Đạo.

Phần thứ hai: Thi Văn Giáo Lý. Phần này bao gồm hơn 200 bài thi thơ do Huỳnh Phú Sổ viết từ năm Kỷ Mão (1939) đến năm Đinh Hợi (1947).

Có thể coi giáo lý Hòa Hảo là sự tiếp thu và nâng cao tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương của Đoàn Minh Huyên, gồm phần “Học Phật” và phần “Tu nhân”:

  • Phần “Học Phật”: chủ yếu dựa vào giáo lý đạo Phật song được giản lược nhiều và có thêm bớt đôi chút. Tinh thần chính là khuyên tín đồ ăn ngay ở hiền.
  • Phần “Tu nhân”: theo giáo lý Hòa Hảo tu nhân có nghĩa là tu “tứ ân hiếu nghĩa”- đó là 4 điều Đoàn Minh Huyên, đã chỉ ra, bao gồm Ân tổ tiên cha mẹ, Ân đất nước, Ân đồng bào nhân loại, Ân tam bảo (Phật, Pháp, Tăng).

Đạo Hòa Hảo khuyên tín đồ vừa học Phật vừa tu nhân để tạo nên công đức. Có công đức để trở thành bậc hiền nhân. Song, họ đặc biệt yêu cầu tín đạo phải tu nhân, cho rằng việc tu hành phải dựa trên đạo đức, trước hết đạo làm người: Thiên kinh vạn điển, hiếu nghĩa vi tiên (Không có tu nhân thì không thể học Phật, hoặc học Phật mà chẳng tu nhân thì cũng vô nghĩa); Dục tu Tiên Đạo, tiên tu Nhơn Đạo. Nhơn Đạo bất tu, Tiên Đạo viễn hỹ (Muốn tu thành Tiên Phật trước hết phải tu đạo làm người, đạo người mà không tu thì Tiên Phật còn xa vời).

Nghi lễ và tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Thờ phượng[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo lý Phật giáo Hoà Hảo chủ trương thờ phượng đơn giản, không cầu kỳ phức tạp, trở về với nội tâm hơn là hình tướng bên ngoài, đúng với tinh thần vô vi mà Đức Phật Thích Ca đã đề xướng.

Người tín đồ Phật giáo Hoà Hảo thờ cúng ba ngôi hương án tại nhà, bao gồm:

– Thứ nhất là Ngôi thờ Cửu Huyền Thất Tổ: thờ cúng tổ tiên, theo đạo lý uống nước nhớ nguồn.

– Thứ hai là Ngôi thờ Tam Bảo: thờ Thập phương Phật, Pháp, Tăng. Ngôi thờ này có đặt một tấm vải màu nâu (gọi là Trần Dà) tượng trưng cho sự thoát tục và sự đoàn kết. Chúng ta hãy xem qua lời dạy của Đức Huỳnh Giáo chủ:

“Nhưng riêng về cư-sĩ ở nhà không nên tạo thêm nữa; nên thờ đơn-giản cho lòng tin-tưởng trở lại tâm hồn hơn ở vào các sự hào nhoáng bề ngoài. Từ trước chúng ta thờ trần điều là di tích của Đức Phật Thầy Tây-An để lại. Nhưng gần đây có nhiều kẻ thờ trần điều tự xưng cùng tông-phái với chúng ta, làm sái phép, sái với tôn-chỉ của Đức Phật, nên toàn-thể người trong Đạo đổi lại màu dà. Lại nữa, từ trước đến giờ các sư dùng màu dà để biểu-hiện cho sự thoát tục của mình, và màu ấy là sự kết hợp của tất cả các màu sắc khác, nên có thể tượng trưng cho sự hòa-hiệp của nhân-loại không phân biệt chủng tộc và cá-nhân. Vì vậy chúng ta dùng nó trong chỗ thờ-phượng để tiêu-biểu cho tinh-thần vô thượng của nhà Phật”.

-Thứ ba là Ngôi Thông Thiên: đặt ngoài trời.

Về cách cúng Phật, chỉ nên cúng nước lạnh, bông hoa và nhang thôi. Nước lạnh tiêu-biểu cho sự trong sạch, bông hoa tiêu-biểu cho sự tinh khiết, còn nhang, dùng đặng bán mùi uế-trược. Ngoài ra chẳng nên cúng một món gì khác cả. Bàn thờ ông bà cúng món chi cũng đặng“. (lời Đức Huỳnh Giáo chủ).

Như trên thì, ngôi thờ Tam Bảo và ngôi Thông Thiên chỉ đặt lư hương, bình hoa, ly nước sạch, ngoài ra không cúng gì khác nữa. Bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ thì ngoài ba thứ trên có thể dâng cúng thêm thực phẩm: bánh trái, thức ăn nhưng nên cúng chay.

Hành lễ[sửa | sửa mã nguồn]

Huỳnh Phú Sổ dạy:

Chỉ thờ lạy Đức Phật, Tổ-tiên, ông bà, cha mẹ lúc còn sống và các vị anh-hùng cứu quốc. Với những kẻ khác, nên bỏ hẳn sự lạy lục người sống, cho đến Thầy mình cũng vậy, chỉ xá thôi.

Người tín đồ Phật giáo Hoà Hảo hành lễ mỗi ngày hai thời vào buổi sáng và buổi chiều theo nghi thức đã được chỉ dạy trong quyển thứ sáu.

Các ngày lễ tết[sửa | sửa mã nguồn]

Các ngày Lễ kỷ niệm trong Đạo đều tổ chức vào ngày âm lịch. Trong một năm, theo âm lịch đạo Hòa Hảo có các ngày lễ, Tết chính:

  • Ngày 1 tháng GiêngTết Nguyên Đán
  • Ngày Rằm tháng Giêng: Lễ Thượng Ngươn
  • Ngày 25 tháng 2: ngày Đức Huỳnh Giáo chủ vắng mặt
  • Ngày 8 tháng 4: Lễ Phật đản
  • Ngày 18 tháng 5: Lễ Khai sáng Đạo Phật giáo Hoà Hảo
  • Ngày Rằm tháng 7: Lễ Trung Ngươn, Vu Lan Báo Hiếu
  • Ngày 12 tháng 8: Vía Phật Thầy Tây An
  • Ngày Rằm tháng 10: Lễ Hạ Ngươn
  • Ngày 17 tháng 11: Lễ Phật A-di-đà
  • Ngày 25 tháng 11: Lễ Đản Sinh Đức Huỳnh Giáo chủ.
  • Ngày 8 tháng Chạp: Lễ Phật thành đạo

Ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bửu Sơn Tự tại Sông Cầu (Phú Yên). Hiện nay, đây là ngôi thờ của đạo xa nhất ở Việt Nam, tính từ nơi khai sáng đạo là huyện Phú Tân.
  • Một buổi thuyết giảng.
  • Một phòng thuốc Nam miễn phí.
  • Phát hàng cứu trợ cho đồng bào nghèo bị thiên tai.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ [1]
  2. ^ Nguyễn Long Thành Nam,Phật giáo Hòa Hảo trong lòng lịch sử dân tộc, Phần 4: Phật giáo Hòa Hảo và cách mạng, Chương 9: Phong trào Bảo An chuẩn bị đấu tranh, Phần 3: Đội Bảo An, Tập san Đuốc Từ Bi, năm 1991
  3. a ă â b c d đ e ê g h i k l Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến, Tập 1 (1945-1954), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2010
  4. ^ Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 459, 460, 461, 490
  5. a ă Nguyễn Long Thành Nam, Phật giáo Hòa Hảo trong dòng lịch sử dân tộc, Phần IV: Phật giáo Hòa Hảo và cách mạng, Chương 10: Sơ lược diễn tiến đấu tranh tại miền Nam Việt Nam, Mục 10: Cuộc Biểu Tình Cần Thơ 8-9-1945 Để Làm Gì, Tập san Đuốc Từ Bi, 1991
  6. ^ Nguyễn Long Thành Nam, Phật giáo Hòa Hảo trong dòng lịch sử dân tộc, Phần IV: Phật giáo Hòa Hảo và cách mạng, Chương 10: Sơ lược diễn tiến đấu tranh tại miền Nam Việt Nam, Mục 10: Cuộc Biểu Tình Cần Thơ 8-9-1945 Để Làm Gì, Tập san Đuốc Từ Bi, 1991
  7. ^ Nguyễn Long Thành Nam,Phật giáo Hòa Hảo trong lòng lịch sử dân tộc, Phần 4: Phật giáo Hòa Hảo và cách mạng, Chương 10: Sơ lược diễn tiến đấu tranh tại miền Nam Việt Nam, Phần 5: Cuộc Biểu Tình Cần Thơ 8 – 9 – 1945 Để Làm Gì, Tập san Đuốc Từ Bi, năm 1991
  8. ^ Nguyễn Long Thành Nam, Phật giáo Hòa Hảo trong dòng lịch sử dân tộc, Phần IV: Phật giáo Hòa Hảo và cách mạng, Chương 10: Sơ lược diễn tiến đấu tranh tại miền Nam Việt Nam, Mục 9: Phong trào truy lùng và xử án Việt gian, Tập san Đuốc Từ Bi, 1991
  9. ^ Savani, A. M. Visage et Images du Sud Viet-Nam, trang 89, Saigon: Impremerie Française d’Outre-mer, 1955
  10. ^ Nguyễn Bình Và Mặt Trận Quốc gia Liên Hiệp, hoahao, 29.11.2005
  11. ^ Hồi ký 1925 – 1964, tập 2, trang 344-345, Nguyễn Kỳ Nam, Nhật báo Dân Chủ Mới, 1964
  12. a ă â Nguyễn Long Thành Nam, Phật giáo Hòa Hảo trong dòng lịch sử dân tộc, Phần IV: Phật giáo Hòa Hảo và cách mạng, Chương 10: Sơ lược diễn tiến đấu tranh tại miền Nam Việt Nam, Mục 16: Thế kẹt lịch sử và chiến thuật gỡ kẹt, Tập san Đuốc Từ Bi, 1991
  13. ^ Nguyễn Long Thành Nam, Phật giáo Hòa Hảo trong dòng lịch sử dân tộc, Phần V: Sau khi đức Huỳnh giáo chủ ra đi, Chương 11: Giai đoạn quân sự hóa 1947-1955, Mục 4: Thế kẹt không có giải pháp vẹn toàn, Tập san Đuốc Từ Bi, 1991
  14. ^ Savani, A. M. Visage et Images du Sud Viet-Nam. Saigon: Impremerie Française d’Outre-mer, trang 90, 1955
  15. ^ Arthur J. Dommen, The Indochinese Experience of the French and the Americans: Nationalism and Communism in Cambodia, Laos, and Vietnam, page 186, Indiana University Press, 2001
  16. ^ Minh Võ, Hồ Chí Minh, nhân định tổng hợp, trang 282, Falls Church, VA: Tiếng Quê hương, 2003.
  17. ^ Từ điển nghiệp vụ phổ thông, trang 574, Viện nghiên cứu Khoa học Công an, Bộ Nội vụ, 1977, Hà Nội
  18. a ă Nguyễn Long Thành Nam, Phật giáo Hòa Hảo trong dòng lịch sử dân tộc, Phần V: Sau khi đức Huỳnh giáo chủ ra đi, Chương 11: Giai đoạn quân sự hóa 1947-1955, Mục 5: Hiệp định liên quân Pháp-Hòa Hảo ra đời, Tập san Đuốc Từ Bi, 1991
  19. ^ Cái Vồn trước năm 1975 là Trung tâm Hành chính của Quận Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Sau năm 1975 là Thị trấn Huyện lỵ Huyện Bình Minh. Nay là Trung tâm Thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
  20. ^ Chuyện Năm Lửa và Ba Cụt
  21. ^ Tình Hình Pg Hòa Hảo Sôi Động Báo Việt Báo tường thuật
  22. ^ “Đôi nét về Đức Huỳnh Giáo chủ”.
  23. ^ “Kỷ niệm 78 năm Ngày khai sáng đạo Phật giáo Hòa Hảo”.
  24. ^ Lễ Đản Sanh Đức Huỳnh Giáo chủ bị ngăn cản, RFA, 15.1.2015
  25. ^ Tín đồ PGHH lại bị ngăn cản tổ chức lễ, RFA, 3.7.2015

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Savani, A. M. Visage et images du Sud Viet-Nam. Saigon: Imprimerie française d’Outre-mer, 1955.
  • Huỳnh Phú Sổ, Sấm Giảng Thi Văn Giáo Lý Toàn Bộ

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

ẩnxtsTôn giáo và tín ngưỡng tại Việt Nam
Các nhánh Phật giáoPhật giáo (Đại thừaTiểu thừa)b • Phật giáo Hòa Hảoa • Bửu Sơn Kỳ Hươnga • Tứ Ân Hiếu Nghĩaa • Tịnh độ cư sĩ Phật hộia • Minh Sư Đạoa
Các nhánh Kitô giáoCông giáoa • Tin Lànhb • Chính Thống giáo
Các tôn giáo khácĐạo Cao Đàia • Minh Lý Đạoa • Nho giáo • Đạo giáo • Bà-la-môn giáoa • Hồi giáo (IslamBani)a • Đạo Dừa • Bahá’ía
Tín ngưỡng dân gianThờ cúng tổ tiên • Thờ Mẫu • Thờ Thành hoàng làng  • Thờ tổ nghề
Categories: Uncategorized | Leave a comment

THIỀN, CON ĐƯỜNG NGHỊCH LÝ

THIỀN, CON ĐƯỜNG NGHỊCH LÝVolume 2MỤC LỤC
 CHƯƠNG 1.NÀY BẠN! HÃY HƯỢM… CHƯƠNG 2.BÊN SÔNG BÁN NƯỚC CHƯƠNG 3.VÀ BẦU TRỜI VẪN THẾ CHƯƠNG 4.NHẬP VÀO DÒNG THÁNH CHƯƠNG 5.NGỌN LỬA TRẮNG TINH TUYỀN CỦA SỰ SỐNG CHƯƠNG 6.VÀO VÙNG HOANG DàCHƯƠNG 7.NỔ BÙNG TUỆ GIÁC CHƯƠNG 8.CUỐN SÁCH KHÔNG TRANG CUỐI CHƯƠNG 9.GẢI NGỨA NGOÀI GIÀY CHƯƠNG 10.CẦU KHÔNG NƯỚC CHẢY  [MUCLUC] [CH1] [CH2] [CH3] [CH4] [CH5] [CH6] [CH7] [CH8CH9] [CH10] [SACH[HOME]
Categories: Uncategorized | Leave a comment

Ðức Huỳnh Giáo Chủ

Ðức Huỳnh Giáo Chủ
Vương KimÐức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.Giáo truyền đạo Thích dìu sanh chúng,Chủ ý chọn người vẹn Tứ ân.(Hình Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)Phần I:HÀNH TRẠNG Thiên thứ nhứtGiai đoạn ra đời mở đạo Chương I: Bối cảnh xã hộiChương II:Thân thếChương III: Ra Tế độChương IV: Đăng SơnChương V: Sứ MạngChương VI: Lưu CưChương VII: Vận Ðộng Ðộc LậpChương VIII: Tổ Chức Hàng NgũChương IX: Chuẩn Bị Ðấu Tranh Thiên thứ haiGiai đoạn hoạt động đấu tranh Chương X: Dấn Thân Thiên thứ baGiai Ðoạn Vắng Mặt Chương XI: Lý Do Thọ NạnChương XII: Còn Hay Mất Phần II:SỰ NGHIỆP Thiên thứ tưSự Nghiệp Về Mặt ÐạoTôn Phái Phật Giáo Hòa Hảo Chương XIII: Học PhậtChương XIV: Tu Nhân Thiên thứ nămSự Nghiệp Về Mặt Ðời:Công nghiệp cách mạng Chương XV: Quân Sự.Bộ Ðội Nguyễn Trung Trực Chương XVI: Chánh TrịViệt Nam Dân Chủ Xã Hội đảngCùng một tác giả: Long Hoa xuất bản-         Tận Thế và Hội Long Hoa (1952)-         Đức Phật Thầy Tây An (1953) (hiệp với Đào Hưng)-         Để Hiểu Phật Giáo Hòa Hảo (1954) (hiệp với Thanh Sĩ)-         Ðời Hạ Ngươn (1960)-         Đời người dướI ánh sáng Đạo Phật (1960)-         Bửu Sơn Kỳ Hương (1966)-         Hành sử Đạo Nhân (1970)-         Tu Hiền (1972)-         Đời Thượng Ngươn (1973)-         Pháp Môn Tịnh Độ (1973)-         Tại Sao Ta Phải Tu (1974)Dân Xã Tùng Thư-         Chánh trị thường thức (1956)-         Tinh thần cán bộ (1971)-         Lập trường Dân Xã Đảng (1971)MUC LUC CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7 | | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | | CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 || CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|[TV. PGHH]
Categories: Uncategorized | Leave a comment

Blog at WordPress.com.