Monthly Archives: February 2013

Thiền-Định (t t.7)

của Kagye, và Kagyü Ngagdzö. Từ Namtrül Drodül Karkyi Dorje của Tu viện
Gyarong, Rinpoche nhận những quán đảnh và trao truyền văn bản của Rinchen
Terdzö, Kagye Deshek Düpa, Lama Gongdü, sáu quyển của Jatsön, Terchö của
Namchö, Terchö của Nyima Trakpa, chín quyển của Jigme Lingpa. Ngài cũng
nghiên cứu thi ca và Guhyagarbha-tantra với Khenpo Thup-nyen của Tu viện
Dzogchen.
Khi trở về Rinpoche ban quán đảnh Khandro Nyingthig cho Khyentse Chökyi
Lodrö306 và nhiều trao truyền cho các vị Thầy của ngài.
Trong số những vị Thầy mà từ họ ngài đã nhận những giáo huấn uyên áo có
Khenpo Könchok Drönme, Khenpo Kang-nam, Khenpo Chöchok, Tülku Dorchok, và
Khenpo Thup-nyen. Ngài đã nhận những trao truyền theo dòng truyền thừa của
những giáo lý khác nhau của Dzogchen Rinpoche đệ ngũ, Gekong Khenpo,
Khyentse Chökyi Lodrö, Zhechen Kongtul, và Gyarong Namtrül. Ngài đã nhận
những giáo huấn sâu xa và giáo huấn đối với sự chứng ngộ Dzogpa Chenpo từ
Apang Tertön và Yukhok Chatralwa.
Ngài đã ban những quán đảnh và lung của mười ba quyển của bộ Lama
Gongdü, và mười ba bản văn của Kama cho một ngàn tới hai ngàn tu sĩ tại Tu viện
Dodrupchen. Một hôm, trong khi ngài đang phân phát nước được gia hộ từ một cái
bình, nước đã cạn mà không có ai chờ đợi để rót đầy lại bình nước, như thường
được làm. Cáu tiết, ngài lắc cái bình một lát và sau đó tiếp tục phân phát nước gia
hộ cho những người còn lại của hội chúng, mặc dù không ai rót đầy cái bình.
Với khả năng biết trước tình hình chuyển biến, ngài đã xây dựng một ngôi chùa
lớn, đẹp nhưng chắc chắn, bằng gạch với một mái ngói, mà khi ấy là một loại kiến
trúc mới ở Golok và nói rằng: “Nó có thể ích lợi nếu dân chúng phải từ bỏ tu viện
trong một vài năm.”
Rinpoche đã đặt làm những những bản khắc gỗ của Dzödün gồm bảy quyển
của Longchen Rabjam. Chẳng bao lâu hầu như Golok tràn ngập những bản sao
Dzodün. Ngài xây dựng một pho tượng lớn của Guru Rinpoche và những tượng của
các vị Thầy của các dòng truyền thừa Vima Nyingthig, Khandro Nyingthig, và
Longchen Nyingthig. Những pho tượng được làm bằng đồng đỏ mạ vàng. Ngài đã
thâu thập một thư viện lớn, trong đó ngoài nhiều pho Kinh điển và Mật điển còn có
những ấn bản mới của Kanjur, Tenjur, Kama, và Rinchen Terdzö. Rinpoche cũng
chuẩn bị một số tặng vật cho các buổi lễ và việc nghiên cứu cho Dodrupchen và
những tu viện khác.
Theo lời khẩn cầu của những người sùng mộ ngài đã viếng thăm những khu vực
khác nhau của Golok, Serta, Amdo, Rekong, Gyarong, và Minyak, ở đó ngài ban
những lễ nhập môn và những giáo huấn cho hàng chục ngàn người.
Trong mùa hạ của năm Hỏa Thân (1956), ngài ban quán đảnh Rinchen Terdzö
tại Tu viện Dodrupchen. Ngài cũng truyền riêng những giáo huấn về thiền định Đại
Viên mãn cho nhiều người hữu duyên, theo truyền thống Nyongtri.
Chẳng bao lâu, bởi những nguy hiểm của sự chuyển biến tình hình chính trị ở
Tây Tạng, Rinpoche quyết định rời khỏi xứ sở thân yêu của ngài. Nhiều thập kỷ
trước, Dodrupchen đệ tam đã khảo sát những giấc mơ của ngài về những nguy
hiểm chính trị trong tương lai. Một đêm ngài mơ thấy có người mang một thông điệp
được viết trên một viên đá phiến, nói rằng: “Khyentse Wangpo gởi thư cho ngài.”
Trên viên đá ngài thấy những dòng chữ dưới đây: 267
Con sông lớn sẽ chảy từ mạnh mẽ [có nghĩa là miền tây hay màu đỏ] sang yên
bình [có nghĩa là miền đông hay màu trắng].
Hai con côn trùng sẽ di chuyển xuyên qua cả miền trên lẫn miền dưới.
Bởi nhịp điệu phù hợp [của những hòa âm] của sáo,
Xứ sở Lạnh lẽo [Tây Tạng] sẽ bị chìm sâu trong bóng tối.
Vào lúc đó, khi đỉnh cao nhất [Lạt ma]
Nghe nói rằng ngài nên đi về phương bắc trong mười, mười,
Mười sáu, và bốn,
Ngài sẽ trở nên hoảng sợ và sẽ đi tới Xứ Cao quý [Ấn Độ].
Trong một nơi dễ chịu, giữa một rừng rậm,
Trong khi an trụ trong một thiền định an bình, trước mặt ngài,
Nhiều người mặc y phục-không trung307 sẽ tụ hội
[Và] sẽ đi vào con đường Đại thừa.
Con đường tuyệt hảo sâu xa và bao la sẽ chói ngời như ánh nắng ban ngày.308
Rinpoche bí mật tổ chức một nhóm mười ba người ra đi, chia họ thành ba nhóm
nhỏ. Năm người chúng tôi – vị thầy trợ giáo Kyala Khenpo của tôi, mẹ của
Rinpoche, Thupten Jorgye và Rigdzin Phüntsok (hai người cháu của Rinpoche), và
tôi – đi Lhasa trước, như ngài đã khuyên chúng tôi vào ngày mồng một tháng mười
hai năm Hỏa Thân (1957). Lama Sangye, chú của Rinpoche và Sönam, cháu của
ngài, được dự tính ở lại phía sau và đến như nhóm cuối cùng. Nhưng bản thân
Rinpoche, cùng với một thị giả trẻ của Rinpoche tên là Jamyang, hai người cháu
của Rinpoche tên là Dechen Dorje và Künden, và mẹ của những người cháu, dự
tính ra đi trong nhóm thứ hai.
Trong khi Rinpoche đang thăm viếng Tu viện Panchen trong Thung lũng Mar,
cách Tu viện Dodrupchen hai ngày đường theo hướng bắc, một đêm ngài và những
người trong đoàn của ngài bí mật bỏ trốn, cải trang làm những cư sĩ hành hương.
Mang theo rất ít tiền và đeo vật dụng cá nhân trên lưng, họ đi bộ mười ngày cho
tới khi đến thị trấn Kardze. Đây là kinh nghiệm đầu tiên cho Rinpoche và những
người đồng hành của ngài, không chỉ về việc du hành bằng chân mà còn về việc
mang những chiếc túi trên lưng khiến họ kiệt sức và đau nhức. Trong hầu hết cuộc
hành trình, ban ngày họ lẩn trốn trong những hang động, trong rừng hay những
ngọn đồi và vượt qua những ngọn núi cao và thung lũng sâu vào ban đêm. Tại
Katdze, họ thật may mắn bởi có thể bị tống vào một chiếc xe vận tải Trung quốc đi
tới Lhasa.
Theo dự định lúc ban đầu, nhóm chúng tôi có nhiệm vụ chờ Rinpoche ở Drak
Yangdzong, nơi Guru Rinpoche và nhiều hiền giả đã thiền định trong quá khứ, và
cách Lhasa hai ngày đường theo hướng nam. Nhưng Rinpoche đã đi lâu hơn là
chúng tôi nghĩ, và vào ngày mồng hai tháng hai năm Hỏa Dậu (1957), Kyala Khenpo
mất do tuổi già và sự gian khổ của chuyến đi. Lo rằng Rinpoche và đoàn của ngài
không thể trốn thoát, chúng tôi bắt đầu quay lại Lhasa, và thật may mắn, chúng tôi
ngẫu nhiên gặp Rinpoche và những người đồng hành của ngài ở giữa đường, và tất
cả chúng tôi cùng tiến về Lhasa. 268
Ở Lhasa, Rinpoche có nhiều người sùng mộ quý phái và bình thường lâu năm,
nhưng ngài quyết định không tiếp xúc với bất kỳ ai trong số đó. Tuy nhiên, ngài đã
gặp Zhechen Kongtrül Rinpoche (1901-1959?), một trong những vị Thầy của ngài,
và Dilgo Khyentse Rinpoche (1910-1991). Kongtrül Rinpoche khuyên ngài đi
Kongpo bởi đó là một nơi dễ chịu và thuận lợi hơn Lhasa. Rinpoche đáp lại bằng sự
im lặng.
Chính bởi bản tánh của Rinpoche mà ngài hầu như không nói trước những dự
tính của ngài, trừ phi cần thiết. Vì thế khi chúng tôi đi Golok, chúng tôi nghĩ là mình
đang đi Lhasa. Nhưng sau khi thực hiện những lễ cúng dường đơn giản cho các
thánh địa ở Lhasa, ngài nói: “Chúng ta đi Zhigatse,” một thị trấn ở miền Tây Tây
Tạng. Sau khi trải qua vài ngày ở Zhigatse, ngài nói: “Bây giờ chúng ta đi Ấn Độ.”
Nhưng tại biên giới, bởi chúng tôi không có tiền để khẳng định mình là các thương
nhân, chúng tôi không thể xin một giấy thông hành của nhà cầm quyền để đi Ấn Độ.
Cho dù chúng tôi có thể tránh những người lính canh phòng biên giới, Ấn Độ sẽ
không để cho chúng tôi vào bởi vào thời gian đó không có sự thừa nhận tình trạng tị
nạn cho người Tây Tạng. Sau khi chờ đợi nhiều tháng, Rinpoche nhận một lá thư từ
Hoàng tử Palden Thöndrup Namgyal (người về sau trở thành Chögyal) của Sikkim,
chỉ thị những người canh giữ biên giới cho ngài vào Sikkim, một bang ở biên giới Ấn
Độ và Tây Tạng, sau này thuộc về Ấn Độ.
Năm ba mươi mốt tuổi, vào ngày mười chín tháng tám năm Hỏa Dậu (12 tháng
Mười, 1957). Rinpoche tới Gangtok, thủ phủ của Sikkim. Một lần nữa, ngài được tô
điểm bằng những chiếc y của một Lạt ma với sự xác nhận là Dodrupchen. Từ khi đó
trở đi, ngài coi Sikkim, xứ sở được Guru Rinpoche gia hộ là một trong những “xứ sở
ẩn dấu,”309 là trụ xứ thường trực của ngài. Việc ngài đến Sikkim không chỉ là một
việc tình cờ, mà là một sứ mệnh phải được hoàn thành. Apang Tertön Ogyen
Thrinle Lingpa (mất năm 1945), một trong những vị Thầy của Rinpoche, đã tiên tri
điều này nhiều thập niên trước và nói rằng:
Một yogī ẩn dấu từ thung lũng Kongpo310
Sẽ đến Thung lũng Gạo [Sikkim] khi những biến chuyển xảy ra.
Và một hóa thân của [Thái tử] Murum Tsepo và Sangye Lingpa311
Sẽ hiển lộ những hoạt động bí mật của một yogī Mật thừa.
Những người nhìn thấy, nghe, nghĩ tưởng về ngài, hay tiếp xúc với ngài sẽ
được giải thoát khỏi những cõi thấp.312
Năm 1958, tại Sikkim và Darjeeling, Rinpoche cử hành một số buổi lễ tại Sikkim
và Darjeeling cho vị Thầy Khyentse Chökyi Lodrö của ngài đang bị bệnh. Trong buổi
lễ “phụng tống các dākinī,” Khyentse Rinpoche có một linh kiến
313 về các Lạt ma
trong đó có Jigme Lingpa trong một không gian bao la trong trẻo. Trong số các ngài
cũng có một Lạt ma vô danh với khuôn mặt tròn và râu cằm ngắn, có mái tóc dài
phủ quanh đầu.
Năm ba mươi ba tuổi, vào mùa đông năm 1959, Rinpoche đi hành hương những
thánh địa chính yếu ở Ấn Độ và Nepal. Năm 1959 và 1960 là hai năm khó khăn
nhất, không phải chỉ vì ngài là một người tị nạn trong một đất nước có nền văn hóa
và ngôn ngữ dị biệt, mà cũng bởi Khyentse Chökyi Lodrö đệ nhất, một trong những
vị Thầy gốc của Rinpoche, đã thị tịch ở Sikkim vào mùa xuân năm 1959, và sau đó 269
Trülzhik Pawo Dorje của Minyak, một Lạt ma khổ hạnh khác và là bạn thân của
Rinpoche qua đời ở Sikkim năm 1960. Định mệnh của toàn thể xứ Tây Tạng và của
những người Tây Tạng bị kẹt lại trong quê hương đang bốc cháy của họ đã không
được biết tới. Rinpoche viết:
Toàn thể thế giới đang chuyển biến trước mắt chúng ta như một trò ảo thuật.
Những hiện hữu không đáng tin cậy như bong bóng nước.
Những tu viện, người thân yêu, và họ hàng thân thích –
Tất cả chỉ còn là ký ức.
Mặc dù ta không thể nhìn thấy họ, định mệnh của họ thật hiển nhiên.
Nghĩ tới điều đó, ta đau buồn.
Ta sẽ hết sức nỗ lực trong việc tìm kiếm tinh túy của Giáo Pháp.
Những bậc Thầy linh thánh và bạn bè tốt lành
Vừa mới hiện diện ở đây nhưng, giống như sự tụ hội trong một phiên chợ,
Đã biến mất, và ta thấy mình trơ trọi, bị bỏ lại.
Nghĩ tới điều này, ta đau buồn..
Đặt những khái niệm hạnh phúc và đau buồn trong Pháp giới rỗng rang, và
Tung lên không trung những việc vụn vặt của thế gian như long não,
Ta ghì chặt con đường nhanh chóng linh thánh vô song,
Là tâm yếu của các dāka và dākinī, và
Huyết mạch trọng yếu của Pháp thân, là cái không có điểm quy chiếu hay nền
tảng.
Namgyal Institute of Tibetology – Viện Namgyal về khoa Tây Tạng học (sau này
được đặt lại tên là Sikkim Research Institute of Tibetology – Viện Nghiên cứu Sikkim
về khoa Tây Tạng học), một học viện nghiên cứu về Tây Tạng, được mở cửa gần
Gangtok do những nỗ lực chung của chính phủ Ấn Độ và Sikkim. Từ tháng Tư năm
1960, Rinpoche đã giữ chức vụ đại diện phái Nyingma tại học viện này.
Ngài lập gia đình với vị phối ngẫu Khandro Pema Dechen thuộc gia đình Dekyi
Khangsar xứ Drukla trong Thung lũng Kongpo. Từ năm mười sáu tuổi, Khandro đã
thiền định nhiều năm trong các hang động và túp lều tại nhiều ẩn thất và núi non linh
thiêng, thường với rất ít chất bổ dưỡng. Bổ túc cho nhiều thực hành khác, bà đã tích
tập mười ba bộ thực hành ngöndro – mỗi bộ gồm năm trăm ngàn các thực hành
chuẩn bị.
Bởi các hoạt động của chư vị Bồ Tát luôn luôn mở rộng và mang lại lợi lạc cho
chúng sinh và Giáo Pháp, không suy nghĩ về những giới hạn và khó khăn của cuộc
sống của riêng ngài như một người tị nạn mới, Rinpoche vẫn sử dụng mọi sự ngài
có thể sắp xếp để hỗ trợ cho những đề án thuộc về Pháp. Ngài đặt làm những bản
khắc kẽm để in lại Longchen Dzödün, gồm bảy quyển, của Longchen Rabjam. Sau
nhiều năm việc in ấn đã hoàn tất với sự phụng sự tận tụy của Lama Sangye, một
trong những thị giả tận tâm của Rinpoche, mặc dù sức khỏe kém và cái nóng mùa
hè lên tới 100 độ Fahrenheit ở Vārānasī. Rinpoche cũng đặt những bản khắc gỗ
được chạm khắc để in nhiều bản văn nghi lễ của Longchen Nyingthig. Kết quả là
những bản văn này, là những gì được coi là rất hiếm có ở hải ngoại, đã có thể tìm 270
thấy dễ dàng, và điều đó giúp cho những giáo lý đó được truyền bá trong cả Đông
và Tây bán cầu. Từ giữa thập niên 1960 việc in ấn các bản văn Tây Tạng đã dễ
dàng và thậm chí thuận lợi, nhưng vào những năm đầu của thập niên 1960, việc in
ấn gặp những khó khăn và phí tổn to lớn mà không có giá trị thương mại.
Sau khi Dzödün được in ra, ngài đã hiến tặng những bản khắc cho vị vua Bhutan
quá cố, bởi quốc gia này từng là một trong những trụ xứ của ngài Longchen
Rabjam, và cho tới nay đã có một số lượng đáng kể người Bhutan theo truyền thống
Nyingthig. Ngài hy vọng rằng sẽ có thêm những ấn bản được in ra từ các bản khắc
dưới sự bảo trợ của chính phủ hoàng gia Bhutan.
Từ lần xuất bản đầu tiên của Dzödün, ngài đã xuất bản nhiều bản văn nữa, trong
đó có một ấn bản thứ hai của Dzödün gồm bảy cuốn, Ngalso Korsum ba cuốn,
Sungbum của Jigme Lingpa chín cuốn, Sungbum của Dodrupchen đệ Tam năm
cuốn, nhiều bài cầu nguyện và các bản văn là một phần giáo trình của Chöten
Gompa.
Năm 1972, Rinpoche xác nhận Jigme Losal Wangpo, Dzogchen Rinpoche đệ
thất, (sinh năm 1964) là Dzogchen Rinpoche đệ ngũ – Lạt ma đã xác nhận bản thân
Rinpoche. Lễ tôn phong của Dzogchen Rinpoche đệ thất đã được tổ chức tại ngôi
chùa của hoàng gia tại Gangtok ngày 8 tháng Mười, 1972, và Rinpoche hành lễ ở
đó.
Năm bốn mươi bảy tuổi, vào mùa hè năm 1973, Rinpoche viếng thăm bờ biển
miền Tây và Đông Hoa Kỳ. Ngài ban giáo lý và thiết lập một Trung tâm Giáo Pháp
tên là Mahasiddha Nyingma Center (Trung tâm Đại thành tựu giả Nyingma) ở
Massachusetts. Vài năm sau, trung tâm xây dựng một ngôi chùa với một bảo tháp
và vài phòng thiền định trên một mảnh đất nhỏ ở South Hawley ở miền tây
Massachusetts. Trung tâm này vẫn còn nhỏ và đơn sơ. Rinpoche luôn luôn khuyên
các thành viên: “Chúng ta nên hết sức tránh sử dụng Giáo Pháp hay trung tâm Giáo
Pháp để có được những quyền lực tầm thường, những tham vọng đầy xúc cảm,
hay những danh hiệu vô dụng. Mục đích của chúng ta là không phải là làm cho
trung tâm trở thành một tổ chức nổi tiếng, mà làm cho nó trở thành một trụ xứ đơn
sơ, an bình và tự nhiên. Chỉ khi đó trung tâm mới có thể trở thành một nguồn mạch
mang lại lợi ích chân thực cho tâm thức của mọi người, bất kỳ ai được liên kết với
nó.”
Từ năm 1973, hai năm một lần, Rinpoche viếng thăm Mahasiddha Center (Trung
tâm Đại Thành tựu giả) và Buddhayana ở Hoa Kỳ để dạy Pháp, và ngài đã truyền
nhiều giáo lý, trong đó có Nyingthig Yabzhi, Longchen Nyingthig, và những giáo lý
ngöndro, Rigdzin Düpa, Yumka, và Dzopa Chenpo. Ngài cũng viếng thăm một số
nước Âu châu và Nam Á nhiều lần để truyền dạy và ban những quán đảnh.
Theo như tôi biết, Rinpoche đã trao truyền quán đảnh, văn bản, và các giáo lý
chính yếu Longchen Nyingthig bảy lần, quán đảnh và lung của Ninghthig Yabzhi
mười hai lần, quán đảnh và lung của Nyingma Kama ba lần, quán đảnh Lama
Gongdü hai lần, quán đảnh sáu quyển sách của Jatsön ba lần, và quán đảnh
Rinchen Terzdö ba lần. Ngài cũng ban những trao truyền văn bản của Dzodün và
những tác phẩm của Dodrupchen Rinpoche đệ tam nhiều lần.
Rinpoche là một trong những Đạo sư vĩ đại của thiền định Dzopa Chenpo, và
ngài giảng dạy nó cho nhiều đệ tử trong truyền thống Nyongtri, giáo lý phù hợp với
kinh nghiệm của cá nhân các thiền giả. Truyền thống Nyongtri đến với ngài chủ yếu 271
từ vị Thầy Yukhok Chatralwa của ngài, nhưng lúc ban đầu nó xuất phát từ Longchen
Rabjam và Jigme Lingpa qua dòng truyền thừa của Dodrupchen đệ nhất, Paltrül
Rinpoche, và Dodrupchen đệ tam.
Từ năm 1960, Rinpoche thường sống ở Chöten Gompa gần Gangtok tại Sikkim.
Vào ngày 31 tháng Năm, 1979, Rinpoche đã mở một drupdra, một trường thiền
định, tại Chöten Gompa, và đặt tên cho nó là Drubde Pema Öling. Các tu sĩ ở đó
luân phiên thực hiện việc tu tập thiền định ba năm ba tháng trong những ẩn thất
nghiêm nhặt. Chẳng bao lâu ngài bắt đầu thâu nhận nhiều học viên thường trú tại
Chöten Gompa. Hiện nay ngài có khoảng năm trăm tu sĩ và sa di thường trú tại
gompa. Hầu hết họ là những thanh thiếu niên từ Bhutan, Sikkim, và Nepal, hay con
trai của những di dân Tây Tạng. Một mình Rinpoche trông nom việc ăn uống, nơi ăn
ở, việc giáo dục, và chăm sóc y tế cho họ. Nhiều học viên đã hoàn tất sự giáo dục
của họ và được gởi trở về quê hương của họ để truyền bá Giáo Pháp.
Trong nhiều năm, Rinpoche thường xuyên thăm viếng Bhutan để phụng sự Giáo
Pháp và những môn đồ ở nhiều nơi, trong đó có Yongla Gon. Dòng Nyingthig có
một mối liên hệ lâu đời với Bhutan, bởi Longchen Rabjam đã sống và truyền bá
Giáo Pháp ở đó trong một thời gian dài. Longchen Rabjam đã xây dựng Tu viện
Tharpa Ling ở miền Đông Bhutan. Cùng với Kyipa, vị phối ngẫu người Bhutan, ngài
có con trai là Tülku Trakpa Özer. Ngoài ra, một trong những đệ tử chính của Jigme
Lingpa là Jigme Küntröl xứ Bhutan, người đã xây Tu viện Yongla Gon ở miền Đông
Bhutan.
Bắt đầu từ năm 1984, Rinpoche đã nhiều lần viếng thăm Golok, thung lũng quê
hương của ngài, và đã ban những quán đảnh Longchen Nyingthig, Nyingthig
Yabzhi, và nhiều sự trao truyền và giáo lý khác tại Tu viện Dodrupchen đã được xây
dựng lại. Ngài cũng mở lại học viện Kinh điển tại Tu viện Dodrupchen. Mùa hè năm
1994, trong chuyến trở về Tu viện Dodrupchen lần thứ sáu, ngài đã ban những quán
đảnh Rinchen Terdzö. Dân chúng chỉ được thông báo trong vài tuần về các trao
truyền Rinchen Terdzö, nhưng trên bảy ngàn tăng và ni, trong đó có khoảng ba trăm
tülku và các khenpo, từ Golok, Serta, Amdo, Gyarong, Minyak, và những vùng khác
đã tụ họp để nhận sự trao truyền.
Rinpoche luôn luôn tham gia vào những hoạt động trầm lặng có thể là đơn giản
trong bản chất hay có ý nghĩa lớn lao. Ngài luôn luôn dâng hiến đời mình cho một
chu kỳ phụng sự vô tận. Mục đích mọi nỗ lực của ngài là phụng sự người khác, gây
một tác động, làm cho Pháp có thể chấp nhận được, mà không có bất kỳ hy vọng
riêng tư hay quan tâm tới tiếng tăm hay sự vinh quang nào. Ngài nhắc lại: “Tôi đang
làm mọi sự trong khả năng của mình để phụng sự Giáo Pháp và chúng sinh. Tôi xin
lỗi nếu có người nào đó trông chờ tôi làm những điều vì những sự vụn vặt hay mê
hoặc, nhưng tôi không quan tâm tới điều đó.” Tuy nhiên ngài luôn luôn nhận thức về
nhu cầu và những quan tâm của người khác mà không để ý tới địa vị cao hay thấp
của họ, và ngài hỗ trợ họ bằng lòng tốt phù hợp với nhu cầu và ước nguyện của họ
và không bận tâm tới những lợi lạc của riêng ngài.
Ngài không bị phấn khích bởi những thuận cảnh mà cũng không thất vọng bởi
nghịch cảnh, bởi ngài chấp nhận tất cả với sự thanh thản, ngài nói: “Cuộc đời ngắn
ngủi và quý báu đến nỗi không thể lãng phí trong việc lo nghĩ về những chuyện tầm
phào.” Ngài thận trọng không can thiệp vào mọi đầu mối của sự bất hòa, tranh cãi,
và những vấn đề chính trị thế tục hay tôn giáo để bảo vệ sự nguyên vẹn và thuần 272
khiết của truyền thống Giáo Pháp. Mặc dù có nhiều cơ hội để làm thế, ngài không
bao giờ hành động để cải thiện địa vị của riêng ngài mà chỉ làm việc cho sự lợi lạc
của mọi người và phụng sự Giáo Pháp. Ngài duy trì sự liêm chính trong việc không
thỏa mãn những hy vọng và ước muốn của người khác khi chúng không thực sự
mang lại lợi ích cho họ, mà luôn luôn cho họ những gì họ cần, cho dù đó không phải
là điều họ nghĩ là họ cần trong lúc này. Ngài sợ nhất là những người xu nịnh. Ngài
nói: “Tôi cảm thấy vô cùng xấu hổ trước những người đến với tôi và nói những điều
đẹp đẽ nhất trong khi suy nghĩ những điều trái ngược.” Ngài là người khoan dung
nhất, không bao giờ chê trách người khác về những ác hạnh hay sự vô ơn của họ.
Ngài nói: “Mọi sự xảy ra do nghiệp. Ta hay họ có thể làm được điều gì khác ngoại
trừ cố gắng cải thiện nghiệp?” Ngài rất thận trọng trong từng giai đoạn của công việc
nhưng sau đó buông bỏ mọi sự thành công hay thất bại của những đề án của ngài.
Phẩm tính gây ấn tượng sâu sắc nhất của Rinpoche là: điều quan trọng không nằm
ở chỗ trông ngài ra sao, ngài nói những gì, hay thậm chí ngài làm điều gì, mà điều
quan trọng là ngài là gì. Ngài là một người mạnh mẽ và đáng tin cậy mà sự hiện
diện thì vô cùng đơn giản, sâu xa nhất và thật vô hạn. Tuy thế ngài không muốn bất
kỳ ai trở nên dính mắc hay lệ thuộc vào ngài. Và ngài không áp đặt uy quyền của
ngài lên những người khác, bởi ngài rất bình thường và khiêm tốn – một sự phô
diễn tự nhiên của chân tánh.
Trong hai Dodrupchen Rinpoche đệ tứ, Thupten Thrinle Palzang Rinpoche
không bao giờ nói về những nguy hiểm sắp tới. Nhưng ngài biết rõ và thình lình ra
đi và đào thoát tới Ấn Độ. Ngài dâng hiến đời mình không chỉ để bảo tồn truyền
thống mà còn để truyền bá truyền thống siêu việt nhất của Longchen Nyingthig tại
Ấn Độ và ngoại quốc. Từ khoảng năm 1950, Rigdzin Tenpe Gyaltsen Rinpoche đã
luôn luôn cảnh báo chúng tôi: “Sẽ tới ngày chúng ta không được quyền có ngay cả
một tách trà để thưởng thức. Nếu các ông có thể, hãy dâng hiến đời mình cho việc
tu tập Giáo Pháp, và sử dụng của cải của mình cho một nguyên nhân xứng đáng. Ít
nhất hãy vui hưởng cuộc đời và của cải của các ông khi các ông có sự tự do.” Ngài
cũng thường kể cho chúng tôi về những con đường đào thoát xuyên qua xứ-khôngngười ở miền bắc, nhưng bản thân ngài thì không bao giờ muốn ra đi. Số phận của
ngài là vào tù và chết với những người đang sống trong cảnh đau khổ khủng khiếp.
Cả hai vị Rinpoche đều biết rõ hoàn cảnh và có sự chọn lựa của riêng mình; những
mục đích bảo tồn và giúp đỡ người khác của hai ngài thì như nhau, nhưng vai trò
mà các ngài phải phô diễn thì khác biệt. 273
Cây Truyền thừa
Dòng truyền thừa Nyingthig xuất phát từ Đức Phật nguyên thủy và xuống tới Jigme
Lingpa (1730-1798), nhà sáng lập của truyền thống, qua dòng truyền thừa sau đây:
1. Samantabhadra (Phổ Hiền), Pháp thân.
2. Vajrasattva (Kim Cương Tát Đỏa), Báo thân.
3. Prahevajra (Garab Dorje), Hóa Thân, Đạo sư Đại Viên mãn đầu
tiên trong loài người.
4. Manjushrīmitra.
5. Shrīsimha.
6. Jnānasūtra.
7. Vimalamitra nhận những trao truyền Nyingthig từ Shrīsimha và
Jnānasūtra.
8. Guru Rinpoche, Padmasambhava (Liên Hoa Sanh), nhận
những trao truyền Nyingthig từ Shrīsimha và Manjushrīmitra và
đã cất dấu giáo lý Longchen Nyingthig, tinh túy của giáo lý
Nyingthig, như terma. Vua Trisong Detsen (790-858), một trong
những hóa thân đời trước của Jigme Lingpa, nhận giáo lý
Nyingthig từ Vimalamitra và giáo lý Longchen Nyingthig từ Guru
Rinpoche.
9. Künkyen Longchen Rabjam (1308-1363) nhận những trao
truyền Nyingthig từ Guru Rinpoche khi ngài là công chúa
Pemasal. Ngài cũng nhận những trao truyền Nyingthig từ
Rigdzin Kumārādza và Shö Gyalse.
10. Rigdzin Jigme Lingpa (1730-1798) đã khám phá Longchen
Nyingthig như một terma tâm và truyền bá giáo lý này cho các
đệ tử của ngài. Vì thế ngài trở thành nhà sáng lập của dòng
Longchen Nyingthig. Jigme Lingpa là hóa thân của nhà vua đã
nhận những trao truyền Nyingthig từ Guru Rinpoche và
Vimalamitra. Jigme Lingpa cũng là một hóa thân của
Vimalamitra và đã nhận sự trao truyền từ Longchen Rabjam
trong linh kiến thanh tịnh.
Sau Jigme Lingpa, dòng Longchen Nyingthig được truyền bá qua những nhánh
khác nhau của các dòng truyền thừa. Dưới đây là một bảng liệt kê những Đạo sư
chính yếu của những giai đoạn khác nhau của dòng Longchen Nyingthig với tên của
các đệ tử chính, những vị này cũng là các hành giả và/hay những vị hộ trì của dòng
Longchen Nyingthig, từ chính Jigme Lingpa cho tới các vị Thầy hiện tại.
Tại nhiều vị trí trong dòng truyền thừa, quý vị sẽ nhận ra rằng một Đạo sư là
Thầy của người nào đó đồng thời lại là đệ tử của người này. Đó là bởi một Đạo sư
có thể nhận một trao truyền hay gia hộ hiếm có từ những suối nguồn khác nhau, kể
cả từ chính đệ tử của mình. Các Đạo sư cũng có thể trao đổi giáo lý để nhận những
trao truyền qua những dòng truyền thừa khác nhau. Ngoài ra, để tu tập các giáo lý,
các Đạo sư có thể nhận một sự trao truyền nhiều lần từ cũng những Đạo sư ấy hay 274
từ những vị khác. Việc nhận đi nhận lại những trao truyền không chỉ là sự khởi đầu
của một tu tập mà cũng chính là sự thực hành.
GIAI ĐOẠN ĐẦU TIÊN
Rigdzin Jigme Lingpa (cũng được gọi là Khyentse Özer, Khyentse Lha, và Pema
Wangchen, 1730-1798), người phát hiện các giáo lý Longchen Nyingthig như một
terma tâm. Trong số các đệ tử chính của ngài có:314
1. Thekchen Lingpa Drotön Tharchin (1700-1776)*315
2. Trati Ngachang Thrinle Dorje (Kong-nyön, Bepe Naljor)
3. Thangdrokpa Pema Rigdzin Wangpo*
4. Chakzampa Tendzin Yeshe Lhundrup Đệ Thất ở Chuwori*
5. Dodrupchen Đệ Nhất Jigme Thrinle Özer (1745-1821)
6. Chöje Trakphukpa ở Latö*
7. Lopön Jigme Küntröl ở Bhutan
8. Gyalyum Dölkar316 của Dewa Pushü, phối ngẫu của Jigme
Lingpa
9. Thukse ở Lhotrak*
10. Sungtrül ở Lhotrak*
11. Potong Rigdzin Thrinle Lhündrup Đệ Ngũ ở Jortse*317
12. Jigme Gyalwe Nyuku (1765-1843) ở Dzachukha
13. Jigme Ngotsar (Getse Lama, Sönam Tendzin) ở Dzachukha
14. Ratön Ngawang Tendzin Dorje*318
15. Jetsün Jnānatārādīpam (Yeshe Chödron)
16. Lhading Jetsun ở Gyang-ru, Tsang
17. Longchen Rolpa Tsal (Tendzin Sherap, 1768-1817)* ở Nakshö
18. Ngawang Palden Chökyong,* Trichen của Sakya
19. Ngawang Kün-ga Phende,* anh của Sakya Trichen
20. Gomchen, Ngawang Chötrak
21. Getse Gyurme Tsewang Choktrup (1764-?)* ở Tu viện
Kathok319
22. Phüntsok Palbar* và Tashi Tsering Palbar* ở Depa Lha
Gyatri320
23. Depa Pushü
24. Vua Dega Zangpo* (1768-1790) ở Dege
25. Hoàng hậu Tsewang Lhamo ở Dege
26. Drikung Chetsang Tendzin Pema Gyaltsen (1770-1826),* con
trai của Trati Ngakchang321
27. Rabjam Rigdzin Paljor Đệ Tam (1770-1809)* ở Tu viện
Zhechen
28. Nyima Takpa Jigme Tenpede Đệ Tam (1772-1817)*
29. Tsele Götsang Tülku Jigme Tenpe Gyaltsen* ở Kongpo
30. Göntse Tülku* ở Mön Tsona
31. Özer Thaye, cháu của Jigme Lingpa
32. Rigdzin Chenpo* ở Tu viện Dorje Trak 275
33. Chakzampa Khyenrap Thutop Đệ Bát ở Chuwori*
34. Tsogyal Tülku* ở Palri
35. Drikung Chungsang Gyalse Nyinche Özer (Chökyi Gyatsen,
1793-?),* con trai của Jigme Lingpa
GIAI ĐOẠN THỨ HAI
1. Dodrupchen Jigme Thrinle Özer (Changchup Dorje, Künzang Zhenphen,
Sönam Chöden, và Drubwang Dzogchenpa,322 1745-1821), vị “hộ trì Giáo lý
chính yếu” (rTsa Ba’i Ch’os bDag) của Longchen Nyingthig. Trong số các đệ
tử của ngài có:
1. Dola Jigme Kalzang (Kyewu Yeshe Dorje)
2. Arik Geshe Champa Gelek Gyaltsen (1727-1803)* ở Ragya
3. Ponlop Pema Sangak Tendzin Đệ Nhị (1731-1805)* ở Tu viện
Dzogchen
4. Namtul Namkha Tsewang Choktrup Đệ Nhất
323 (Jigme Mikyö
Dorje, 1744-?)* ở Gyarong Gon
5. Dzogchen Ngeton Tendzin Zangpo Đệ Tam324 (1759-1792)*
6. Chögyal Ngawang Dargye (1759-1807),* một vị vua Mông Cổ
trong miền Thanh Hồ
325
7. Sokpo Ngawang Tentar (Tentar Lharampa 1759-?),* một học
giả phái Geluk xứ Alaksha, Mông Cổ
8. Gyaltsap Pema Sang-ngak Tendzin Đệ Nhất (1760-?) ở Tu viện
Zhechen326
9. Getse Gyurme Tsewang Choktrup (1764-?)* ở Tu viện Kathok
10. Situ Chökyi Lodrö Đệ Nhất* ở Tu viện Kathok327
11. Jigme Gyalwe Nyuku (1765-1843) ở Tu viện Dzachukha
12. Palchen Namkha Jigme (1769-1833) ở Changlung (đã sáng lập
Khyunglung Gonpa ở Rekong, nơi đã có lúc có tới 1.900
tantrika)
13. Rabjam Rigdzin Paljor Đệ Tam (1770-1809)* ở Tu viện
Zhechen328
14. Namke Nyingpo ở Lhotrak
15. Chöying Topden Dorje (1786-1848) của Tu viện Rekong, người
sáng lập Tu viện Göde (Kohudeh)
16. Khyunglung Repa Tamtsik Dorje ở Dzomo’i Ne xứ Golok
17. Nhiếp chính-Hoàng hậu Gajeza, Tsewang Lhamo xứ Dege
18. Vua Tsewang Dorje Rigdzin (1786-1847)*xứ Dege
19. Chakla Khenchen Gyalse Pema Thekchok (?-1849)*
20. Vua Tsewang Lhundrup (?-1825)* ở Tsakho
21. Dzogchen Mingyur Namkhe Dorje Đệ Tứ (1793-?)
22. Do Khyentse Yeshe Dorje (1800-1866)
23. Dākinī Losal Dölma (1802-1861), chị của Do Khyentse
24. Gyalse Zhenphen Thaye (1800-?) ở Tu viện Dzogchen 276
25. Pönlop Namkha Chökyi Gyatso Đệ Tam (1806-1821) ở Tu viện
Dzogchen
26. Thukchok Dorje ở Tu viện Kyilung, Golok
27. Tertön Dechen Dorje ở Rekong
28. Drubwang Jigme Namkha Gyaltsen (sáng lập tu viện Gön
Lakha của Rekong, có lúc có tới 1.900 tantrika)
29. Drubwang Thatral Dorje (cũng gọi là Gön Lakha) ở Rekong,
Đạo sư của Pema Gyatso, Đạo sư gốc của Shuksep Jetsun
30. Pema Thutop Dorje ở Rekong
31. Alak Pema Rangtröl
32. Ngadak Yeshe Gyatso329
2. Dza Trama Lama, Jigme Gyalwe Nyuku (1765-1843), một trong những Đạo
sư Longchen Nyingthig vĩ đại nhất. Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Dzogchen Migyur Namkhe Dorje Đệ Tứ (1793-?)
2. Gyalse Zhenphen Thaye (1800-?)
3. Paltrül Ogyen Jigme Chökyi Wangpo (1808-1887)
4. Jamyang Khyentse Wangpo (1820-1892)
5. Khamtrül Chökyi Nyima thuộc dòng Drukpa Kagyü
6. Dodrupchen Đệ Nhị Jigme Phüntsok Jungne (1824-1863/4)
7. Mura Tülku Pema Dechen Zangpo ở Tu viện Dzachukha
8. Khenchen Pema Dorje ở Tu viện Dzogchen
GIAI ĐOẠN THỨ BA
1. Dola Jigme Kalzang (Kyewu Yeshe Dorje và Chökyi Lodrö). Trong số các đệ
tử của ngài có:
1. Dza Trama Lama Jigme Gyalwe Nyuku (1765-1843)
2. Dzogchen Mingyur Namkhe Dorje Đệ Tứ (1793-?)
3. Gyalse Zhenphen Thaye (1800-?) ở Tu viện Dzogchen
4. Paltrül Ogyen Jigme Chökyi Wangpo (1808-1887)
5. Sokpo Chun Wang Tashi Jung-ne (?-1841),* con trai của Vua
Ngawang Dargye
2. Dzogchen Mingyur Namkhe Dorje Đệ Tứ (1793-?). Trong số các đệ tử của
ngài có:
1. Jigme Gyalwe Nyuku (1765-1843)
2. Do Khyentse Yeshe Dorje (1800-1866)
3. Gyalse Zhenphen Thaye (1800-?) ở Tu viện Dzogchen
4. Paltrül Ogyen Jigme Chökyi Wangpo (1808-1887)
5. Khenchen Sengtruk Pema Tashi ở Tu viện Dzogchen
6. Khenchen Pema Dorje ở Tu viện Dzogchen
7. Nyakla Pema Düdül (1816-1872), người đắc thân cầu vồng 277
8. Jamyang Khyentse Wangpo (1820-1892)
9. Nyoshul Lama Lungtok Tenpe Nyima (1829-1901)
10. Adzom Drukpa Drodül Pawo Dorje (1842-1934)
11. Kunzang Dechen Dorje, tülku của Jigme Gyalwe Nyuku
12. Dodrupchen Đệ Tam Jigme Tenpe Nyima (1865-1926)
13. Do Rinpoche Tri-me Trakpa Đệ Nhất, một tülku của Sherap
Mebar (con trai của Do Khyentse)330
3. Do Khyentse Yeshe Dorje (1800-1866), tülku về tâm331 của Jigme Lingpa.
Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Dākinī Losal Dölma (1802-1861), chị của Do Khyentse
2. Paltrül Ogyen Jigme Chökyi Wangpo (1808-1887)
3. Khenchen Pema Dorje ở Tu viện Dzogchen
4. Nyakla Pema Düdül (1816-1872)
5. Vua Tsewang Lhündrup ở Phüntsok Dzong, Gyarong
6. Vua Namkha Lhündrup ở Trokyab, Gyarong
7. Dorje Palzang ở Alo, Trokyab
8. Dodrupchen Đệ Nhị Jigme Phüntsok Jung-ne (1824-1863/4)
9. Sherap Mebar (1829-1842), con trai của Do Khyentse và một
tülku của Dodrupchen
10. Dechen Rikpe Raltri (1830-1874), con trai của Do Khyentse
11. Do Rinpoche Tri-me Trakpa Đệ Nhất, tülku của Sherap Mebar
12. Jinpa Zangpo, Đạo sư của Sönam Namgyal (1874-1953) của
Yilhung, người đắc thân cầu vồng
4. Gyalse Zhenphen Thaye (Rikpe Dorje, 1800-?) ở Tu viện Dzogchen. Trong
số các đệ tử của ngài có:
1. Dzogchen Rinpoche Minguyr Namkhe Dorje Đệ Tứ (1793-?)
2. Paltrül Ogyen Jigme Chökyi Wangpo (1808-1887)
3. Khenpo Pema Dorje ở Tu viện Dzogchen
4. Jamyang Khyentse Wangpo (1820-1892)
5. Lingtrül Thupten Gyaltsen ở Tu viện Dzogchen
5. Paltrül Rinpoche Ogyen Jigme Chökyi Wangpo (1808-1887), tülku về ngữ của
Jigme Lingpa. Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Khenpo Pema Dorje ở Tu viện Dzogchen
2. Nyoshül Lama Lungtok Tenpe Nyima (?-1902?)
3. Gemang Önpo Tendzin Norbu (Tenli/Ten-ga) ở Tu viện
Dzachukha
4. Situ Chökyi Lodrö* Đệ Nhất ở Tu viện Kathok
5. Alak Do-ngak Gyatso (Gyawa Do-ngak)
6. Adzom Drukpa Drodül Dorje (1842-1934)
7. Thupten Gelek Gyatso (1844-1904) của Bamda, Dzika 278
8. Ju Mipham Namgyal (1846-1912)*
9. Künzang Dechen Dorje, tülku của Gyalwe Nyuku
10. Khenpo Könchok Özer ở Tu viện Dzogchen
11. Khenpo Künzang Sönam (Künsö) của Minyak
12. Do Rinpoche Tri-me Trakpa Đệ Nhất, tülku của Sherap Mebar
13. Tertön Lerap Lingpa (Sögyal, 1856-1926)* ở Nyakrong
14. Dodrupchen Đệ Tam Jigme Tenpe Nyima (1865-1926)
15. Lushül Khenpo Könchok Drönme (1859-1936) ở Tu viện
Dodrupchen
16. Dzogchen Thupten Chökyi Dorje Đệ Ngũ (1872-1935)
17. Khenpo Künzang Palden (1872-1943) ở Gekong, Dzachukha
6. Khenpo Pema Dorje (Pema Dorje và Pema Tamchö Özer) ở Tu viện
Dzogchen. Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Jamyang Khyentse Wangpo (1820-1892)
2. Dechen Rikpe Raltri, con trai của Do Khyentse
3. Ju Mipham Namgyal (1846-1912)*
4. Dodrupchen Đệ Tam Jigme Tenpe Nyima (1856-1926)
5. Gyaltsap Gyurme Pema Namgyal Đệ Tam (1871-1926)* ở Tu
viện Zhechen
6. Dzogchen Thupten Chökyi Dorje Đệ Ngũ (1872-1935)
7. Jamyang Khyentse Wangpo (1820-1892), tülku về thân của Jigme Lingpa.
Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Tertön Chogyur Lingpa (1829-1870)* ở Nangchen
2. Adzom Drukpa Drodül Rawo Dorje (1842-1924)
3. Ju Mipham Namgyal (1846-1912)*
4. Tertön Lerap Lingpa (Sögyal, 1856-1926)* ở Nyakrong
5. Jetrung Champa Jungne (1856-1922)* ở Kham Riwoche
332
6. Tertön Rang-rik Dorje* ở Nyak-rong
7. Dodrupchen Đệ Tam Jigme Tenpe Nyima (1865-1926)
8. Amye Khenpo Tamchö Özer ở Tu viện Dodrupchen
9. Gyaltsap Gyurme Pema Namgyal Đệ Tam (1871-1926)* ở
Zhechen
10. Dzogchen Thupten Chökyi Dorje Đệ Ngũ (1872-1935)
11. Khenpo Künzang Palden (1872-1943) ở Gekong
12. Situ Chökyi Gyatso Đệ Nhị (1880-1925)* ở Tu viện Kathok
13. Khenpo Lhagyal (Abu Lhagong, ?-1953) ở Tu viện Dzogchen
14. Gyurme Ngeton Wangpo* ở Dza Phukhung333
GIAI ĐOẠN THỨ TƯ
1. Gemang Önpo Tendzin Norbu (Tanli/Tenga) của Gemang, cháu của Gyalse
Zhenphen Thaye (1800-?). Trong số các đệ tử của ngài có: 279
1. Khenpo Yönten Gyatso (Yon-ga) ở Gemang, cháu của Gyalse
Zhenphen Thaye
2. Khenpo Könchok Drönme (Könme, 1859-1936) ở Tu viện
Dodrupchen
3. Gyakong Khenpo Zhenphen Chökyi Nangwa (1871-1927) ở Tu
viện Dzogchen
4. Khenpo Kunzang Palden (Künpal, 1872-1943) ở Gekong
5. Khenpo Lhagyal (Abu Lhagong, ?-1953?) ở Tu viện Dzogchen
6. Bathul Khenpo, Thupten Chötrak (Thupga) ở ẩn thất Changma,
Dzachukha
2. Nyoshül Lama Lungtok Tenpe Nyima (1829-1901). Trong số các đệ tử của
ngài có:
1. Ju Mipham Namgyal (1846-1912)*
2. Tharse Pönlop Loter Wangpo (1847-1914)* ở Tu viện Ngor
3. Tertön Rang-rik Dorje* ở Nyak-rong
4. Tertön Lerap Lingpa (Sögyal, 1856-1926)* ở Nyakrong
5. Tertön Thutop Lingpa
6. Khenpo Ngawang Palzang (Ngachung, 1879-1941) ở Tu viện
Kathok
7. Khenpo Gyaltsen Özer
3. Adzom Drukpa Drodül Pawo Dorje (Natsok Rangtröl, 1842-1924). Trong số
các đệ tử của ngài có:
1. Togden Shākyashrī (1853-1919)
2. Tertön Lerap Lingpa (Sögyal, 1856-1926)* ở Nyakrong
3. Dzogchen Rinpoche Thupten Chökyi Dorje Đệ Ngũ (1872-1935)
4. Khenpo Kunzang Palden (Künpal, 1872-1943) ở Gekong
5. Yukhok Chatralwa Chöying Rangtröl (1872-1951/2)
6. Khenpo Ngawang Palzang (1879-1941) ở Tu viện Kathok
7. Situ Chökyi Gyatso Đệ Nhị (1880-1925)* ở Tu viện Kathok
8. Zenkar Pema Ngödrup Rölwe Dorje Đệ Nhất (1881-1943)
9. Pema Norbu Künzang Tendzin Đệ Nhị (1887-1932) ở Tu viện
Palyül
10. Do Rinpoche Zilnön Gyepa Dorje Đệ Nhị (1890-1939)
11. Paltrül Kunzang Zhenphen Özer ở Tsö, Amdo334
12. Nyakla Changchup Dorje (?-1978)335
13. Khyentse Chökyi Lodrö (1893-1959) ở Tu viện Dzongsar
14. Gyalse Gyurme Dorje (1895?-1959?), con trai của Adzom
Drukpa
15. Dilgo Khyentse Tashi Paljor (1910-1991) ở Tu viện Zhechen 280
4. Kham-nyön Dharma Senge (Ra-gang Chöpa, Sönam Phüntsok, ?-1890).
Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Pema Gyatso (Chi-me Dorje) ở Amdo336
2. Shuksep Jetsün Lochen Chönyi Zangmo (1865-1953)
3. Trakkar Tülku Lobzang Palden Tenzin Nyentrak (1866-1928)*337 ở
Kamzde, một tu viện của phái Geluk ở Trehor, Kham
GIAI ĐOẠN THỨ NĂM
1. Garwa Khenpo Jigme Ösal (?-1926) của Tu viện Dodrupchen. Trong số các
đệ tử của ngài có:
1. Cha Lama Tingdzin Zangpo* ở Wangda, Golok
2. Chökor Khenpo Kün-ga Lodrö (Kangnam, ?-1957) ở Tu viện
Dodrupchen
3. Dong-nge Khenpo Gyurme Thrinle (Jigkom, ?-1959)* ở Tu viện
Tarthang
4. Shortwak Khenpo Sherap Trakpa (?-1959) ở Tu viện
Dodrupchen
5. Yakgo Önpo Samdrup Dorje* ở Mar Dhida Gön
6. Garwa Lama Nortra ở Thung lũng Dzika
7. Garwa Tülku Dorchok của Tu viện Dodrupchen
2. Amye Khenpo, Tamchö Özer (Champa Özer) của Tu viện Dodrupchen. Trong
số các đệ tử của ngài có:
1. Shukchung Tülku Tsültrim Zangpo (1884-?)* ở Thung lũng Do338
2. Washül Khenpo Tamlo của Tungkar Gön, Thung lũng Ser
3. Lushül Khenpo Könchok Drönme (Könme1859-1936) ở Tu viện Dodrupchen.
Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Detso Khenpo Sönam Palden* ở Tu viện Tarthang339
2. Tri Kalden* của Kharda Gon, Ngawa
3. Yakza Khandro Zangmo ở Shukchung
4. Kyangtrül, Töndrup Dorje (1892-1959) ở Wangda
5. Lodsang Lungtok Gyatso (Drachen, ?-1959) ở Lauthang,
Minyak
6. Pushül Sönam Trakpa ở Wangröl
7. Kyala Kenpo Chechok Thöndrup (1893-1957) ở Tu viện
Dodrupchen
8. Choktrül Thupten Chökyi Dawa (1894-1959)* ở Tu viện
Tarthang340
9. Yakshül Khenpo Lodrö ở Tu viện Dodrupchen
10. Akong Khenpo Lobzang Dorje* ở Tu viện Tarthang 281
11. Shatsang Khenpo Könchok Tsering ở Tu viện Dodrupchen
12. Khenpo Chöyak ở Shukchung
13. Dodrupchen Đệ Tứ Rigdzin Tenpe Gyaltsen (1927-1961)
14. Dodrupchen Đệ Tứ Thupten Thrinle Palzang (sinh năm 1927)
4. Dodrupchen Đệ Tam Jigme Tenpe Nyima (1865-1926). Trong số các đệ tử
của ngài có:
1. Tertön Lerap Lingpa (Sögyal, 1856-1926)* ở Nyakrong
2. Chagmo Tülku Rolpe Dorje* ở Golok
3. Diphuk Duktsa (Chöje) Tenpe Gyaltsen* ở Amdo
4. Sershül Khenpo Ngawang Kün-ga (?-1926) ở Tu viện
Dodrupchen
5. Garwa Khenpo Jigme Ösal (?-1926) ở Tu viện Dodrupchen
6. Amye Khenpo Tamchö Özer ở Tu viện Dodrupchen
7. Lushül Khenpo Könchok Dronme (1859-1936) ở Tu viện
Dodrupchen
8. Gekong Khenpo Künzang Palden (1872-1943) ở Dzachukha
9. Tülku Tri-me (1881-1924),* anh của Dodrupchen Đệ Tam
10. Tülku Pema Dorje, anh của Dodrupchen Đệ Tam
11. Tülku Tsültrim Zangpo (1884-?) ở Shukchung
12. Do Rinpoche Zilnön Gyepa Dorje Đệ Nhị (1890-1939)
13. Chökor Khenpo Kun-ga Lodrö (?-1957) ở Tu viện Dodrupchen
14. Khyentse Chökyi Lodrö (1893-1959) ở Tu viện Dzongsar
15. Kyala Khenpo Chechok Thöndrup (1893-1957) ở Tu viện
Dodrupchen
5. Shuksep Jetsün Lochen Chönyi Zangmo (1865-1953) ở Kang-ri Thökar.
Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Kangshar Rinpoche
2. Ogyen Chödzom
3. Dza Trülzhik Ngawang Chökyi Lodrö (sinh năm 1924)*
4. Jigme Dorje (sinh năm 1929?), tülku của Sem-nyi Rinpoche
6. Gyakong Khenpo Zhenphen Chökyi Nangwa (Zhen-ga, 1871-1927) ở Tu viện
Dzogchen, hóa thân của Gyalse Zhenphen Thaye và tác giả của những chú giải về
“mười ba bản văn uyên bác chính yếu.” Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Khenpo Lhagyal (Abu Lhagong, ?-1953?) ở Tu viện Dzogchen
2. Pathur Khenpo Thupten Chöphel ở ẩn thất Changma
3. Kangkar (Kongka) Karma Chökyi Senge (1903-1956)* ở
Minyak, có nhiều đệ tử người Trung quốc
4. Khenpo Thupten Nyentrak (?-1959) ở Tu viện Dzogchen
5. Chötrak ở Rahor, Tsangtha 282
6. Khenpo Tsewang Rigdzin ở Mewa, ngài hiện lên trên không
trung và tan biến vĩnh viễn trước mắt của nhiều người vào năm
1959
7. Khenpo Lodrö ở Trayap*
8. Chötrak ở Serkha, Minyak
7. Dzogchen Thupten Chökyi Dorje Đệ Ngũ (1872-1935). Trong số các đệ tử
của ngài có:
1. Gyakong Khenpo Zhenphen Chökyi Nangwa (1871-1927) ở Tu
viện Dzogchen
2. Gekong Khenpo Kunzang Palden (1872-1943) ở Dzachukha
3. Khenpo Lhagyal (Abu Lhagong, ?-1953?) ở Tu viện Dzogchen
4. Situ Chökyi Gyatso (1880-1925)* ở Tu viện Kathok
5. Zenkar Pema Ngödrup Rölwe Dorje Đệ Nhất (1881-1943) ở
Kyilung
6. Pema Norbu Künzang Tendzin Đệ Nhị (1887-1932) ở Tu viện
Palyül
7. Namtrül Drodül Karkyi Dorje* ở Gyarong Gön
8. Khandro Dechen Wangmo* ở Gyarong Gön
9. Khyentse Chökyi Lodrö (1893-1959) ở Tu viện Dzongsar
10. Dilgo Khyentse Tashi Paljor (1910-1991) ở Tu viện Zhechen
11. Dodrupchen Đệ Tứ Rigdzin Tenpe Gyaltsen (1927-1961)
12. Dodrupchen Đệ Tứ Thupten Thrinle Palzang (sinh năm 1927)
8. Gekong Khenpo Künzang Palden (Künpal và Thupten Künzang Chötrak,
1872-1943) ở Dzachukha. Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Khenpo Ngawang Palzang (1879-1941) ở Kathok
2. Khyentse Chökyi Lodrö (1893-1959) ở Tu viện Dzongsar
3. Kongtrül Pema Thrime Lodrö (1901-1959)* ở Zhechen341
4. Pathur Khenpo Thupten Chöphel (Thubga) ở Dzachukha
5. Khenpo Nüden ở Tu viện Kathok*
6. Pöpa Tülku Do-ngak Tenpe Nyima (?-1959)
7. Dodrupchen Đệ Tứ Rigdzin Tenpe Gyaltsen (1927-1961)
8. Dodrupchen Đệ Tứ Thupten Thrinle Palzang (sinh năm 1927)
9. Yukhok Chatralwa Chöying Rangtröl (1872-1952). Trong số các đệ tử của
ngài có:
1. Garwa Lama Nortra ở Thung lũng Dzika
2. Dzirong Lama Chogden ở Dzika
3. Pöpa Tülku Do-ngak Tenpe Nyima (?-1959)
4. Khenpo Nüden ở Tu viện Kathok*
5. Tsültrim Dorje ở Ngaze
6. Önpo Pema Rigdzin* ở Jang-gang, Thung lũng Ser 283
7. Dodrupchen Đệ Tứ Thupten Thrinle Palzang (sinh năm 1927)
10. Kathok Lhenpo Ngawang Palzang (Ngachung và Pema Ledreltsal, 1879-
1941). Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Pema Norbu Künzang Tendzin Đệ Nhị (1887-1932) ở Tu viện
Palyül
2. Chaktsa Tülku ở Tralak Gön
3. Khenpo Lekshe Jorden* ở Tu viện Kathok
4. Khenpo Nüden ở Tu viện Kathok*
5. Khyentse Chökyi Lodrö (1893-1959) ở Tu viện Dzongsar
6. Gyurme Dorje (1895?-1959?), con trai của Adzom Drukpa
7. Poda Khenpo Dorje (1897?-1970?)
8. Tülku Arik (?-1988) ở Tromge, Nyak-rong
9. Khenpo Munsel (1916-1994) ở Wangchen Töpa, Golok
10. Chatral Sangye Dorje (sinh năm 1913)
11. Shedrup Tenpe Nyima (1920-?), tülku của Nyoshül Lungtok342
11. Pathur Khenpo Thupten Chöphel (Thubga) ở ẩn thất Changma thuộc Tu
viện Dzachukha. Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Dilgo Khyentse Tashi Paljor (1910-1991) ở Tu viện Zhechen
2. Khenpo Chökyap (mất năm 1997?) ở Horshül, Thung lũng Ser
3. Khenpo Dawe Özer (Dazer) ở Rahor
4. Khenpo Thupten ở Mewa, Amdo
5. Khenpo Jigme Phüntsok (sinh năm 1933)* ở Nizok
6. Khenpo Thupten của Tu viện Rahor
12. Alak Zenkar Pema Ngödrup Rölwe Dorje Đệ Nhất (1881-1943) ở Tu viện
Kyilung, Geshe, Gyarong. Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Sangye Yeshe ở Tak-rang
2. Dorje Tseten ở Tak-rang
13. Dzongsar Khyentse Chökyi Lodrö (1893-1959) của Tu viện Dzongsar, một
tülku của Jamyang Khyentse Wangpo. Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Kongtrül Pema Tri-me Lodrö (1901-1959?) ở Tu viện Zhechen
2. Dilgo Khyentse Tashi Paljor (1910-1991) ở Tu viện Zhechen
3. Rabjam Gyurme Tenpe Nyima Đệ Lục (1911-1959)* ở Tu viện
Zhechen
4. Poda Khenpo Dorje (1897?-1970?)
5. Chatral Sangye Dorje (sinh năm 1913)
6. Tak-rong Gyurme Trakpa (?-1975) của Yilhung
7. Khandro Tsering Chödrön (sinh năm 1925) ở Viện Aduk
8. Kathok Situ Đệ Tam 284
9. Dodrupchen Đệ Tứ Thupten Thrinle Palzang (sinh năm 1927)
10. Chogling Pema Gyurme Đệ Tam (1928-1974)* ở Neten
11. Dungse Thinley Norbu (sinh năm 1931)*
12. Minling Trichen Gyurme Kunzang Wangyal Thứ Mười một (sinh
năm 1931)*
13. Trogawa Samphel Norbu (sinh năm 1931)* của Gyangtse
14. Dzogchen Jigtral Changchup Dorje Đệ Lục (1935-1958)
15. Sögyal Rinpoche (sinh năm 1947) ở Tu viện Dzogchen/Anh
quốc
14. Kyala Khenpo Chechok Thöndrup (1893-1957) thuộc Tu viện Dodrupchen.
Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Tülku Drachen (?-1959) ở Lauthang, Minyak
2. Alak Zhiwatso ở Göde, Rekong
3. Kakor Tülku ở Tergar, Rekong
4. Alo Lama Tsültrim ở Trokyap, Gyarong
5. Gyutse Könchok Mönlam ở Trokho, Amdo
6. Alak Dzong-ngön Lodrö ở Rekong
15. Gyalse Gyurme Dorje (Ah-gyur, 1895?-1959?), con trai của Adzom Drukpa.
Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Khyentse Chökyi Lödro (1893-1959) của Tu viện Dzongsar
2. Pema Künzang Rangtröl
3. Adzom Druktrül Rinpoche (sinh năm 1926)
GIAI ĐOẠN THỨ SÁU
1. Dilgo Khyentse Tashi Paljor (Rabsal Dawa, 1910-1991) ở Tu viện Zhechen,
một tülku của Jammyang Khyentse Wangpo. Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Tülku Urgyen (sinh năm 1919)* ở Nargön
2. Lama Gönpo Tseten (?-1991) ở Labrang, Amdo
3. Trulzhik Ngawang Chökyi Lodrö (sinh năm 1924)* ở Dza
Rongphu
4. Nyoshül Lama Jamyang Dorje (sinh năm 1926) ở Dege
5. Tsetrül Nyinche Zangpo (sinh năm 1927)* ở Taklung Gön,
Yardrok
6. Dakchen Jigtral ở Phüntsok Photrang (sinh năm 1929) ở
Sakya/Hoa Kỳ
7. Khamtrül Tön-gyü Nyima Đệ Bát* (1930-1979)
8. Dungse Thinley Norbu (sinh năm 1931)* ở Pemakö/Hoa Kỳ
9. Chagdud Karkyi Wangchuk (sinh năm 1930)* ở Nyak-rong/Hoa
Kỳ285
10. Pema Norbu Jigme Thupten Shedrup Đệ Tam (sinh năm 1932)
ở Tu viện Palyül343
11. Đức Đạt Lai Lạt Ma Tendzin Gyatso Thứ Mười bốn (sinh năm
1935)*
12. Trungpa Chökyi Gyatso Thứ Mười một (1939-1987)* ở Tu viện
Zurmang344
13. Zenkar Thupten Nyima Đệ Nhị (sinh năm 1943) ở Kyilung
14. Könchok Tenzin* ở Pháp
15. Sögyal Rinpoche (sinh năm 1947) ở Tu viện Dzogchen/Anh
quốc
16. Tsetrül Pema Wangyal (sinh năm 1947)* ở Riwoche/Pháp
17. Dzongsar Khyentse Thupten Chökyi Gyatso Đệ Tam
18. Tarthang Choktrül Jigme Lodrö Senge (sinh năm 1961?)*
19. Sakyong Mipham Jampal Trinley Dradül (sinh năm 1962)* ở
Shambhala Hoa Kỳ/Canada
20. Sangye Nyenpa Đệ Thập (sinh năm 1963)*
21. Dzogchen Jigme Losal Wangpo Đệ Thất (sinh năm 1964)
22. Tülku Khyentse Jigme (sinh năm 1964)* ở Riwoche/Pháp
23. Dzigar Kongtrül*
24. Rabjam Gyurme Chökyi Senge Đệ Thất (sinh năm 1966)* ở
Zhechen
25. Namkhe Nyingpo ở Lhotrak*
26. Karma Kuchen Thupten Tsültrim Norbu Đệ Ngũ (sinh năm
1970)* ở Palyül
27. Chokling Gyurme Dorje Đệ Tứ (sinh năm 1973)* ở Neten
2. Chatral Rinpoche Sangye Dorje (sinh năm 1913). Trong số các đệ tử của
ngài có:
1. Gyaltsap Redring Jampal Yeshe (sinh năm 1911-1947)*
2. Sönam Topgye Kazi (sinh năm 1920) ở Rinak, Sikkim/Hoa Kỳ
3. Cham Nordzin Wangmo ở Rinak, Sikkim
4. Lama Tharchin (sinh năm 1936)* ở Rekong/Hoa Kỳ
5. Chögyal Wangchuk Namgyal (sinh năm 1953)* ở Sikkim
6. Jigme Thupten Namgyal
3. Nyoshül Lama Jamyang Dorje (sinh năm 1926). Trong số các đệ tử của ngài
có:
1. Chagdud Karkyi Wangchuk (sinh năm 1930)* ở Nyak-rong/Hoa
Kỳ
2. Lama Sönam Topgyal* ở Riwoche/Canada
3. Tri-me Zhingkyong * ở Tu viện Kathok
4. Sögyal Rinpoche (sinh năm 1947) ở Tu viện Dzogchen/Anh
quốc
5. Tsetul Pema Wangyal (sinh năm 1947) ở Riwoche/Pháp 286
4. Dodrupchen Đệ Tứ Rigdzin Tenpe Gyaltsen (1927-1961). Trong số các đệ tử
của ngài có:
1. Chökor Khenpo Kang-nam (?-1957) ở Tu viện Dodrupchen
2. Kyala Khenpo Chechok Thöndrup (1893-1957) ở Tu viện
Dodrupchen
3. Lobsang Lungtok Gyatso (Drachen, ?-1959) ở Lauthang
4. Pema Namgyal (?-1957), một hóa thân của Dudjom Lingpa
5. Akong Khenpo Lobzang Dorje* ở Tu viện Tarthang
6. Tülku Jigme Phüntsok (Jiglo, mất năm 1959) ở Dodrupchen
7. Garwa Tulkü Gyalse Padlo ở Golok
8. Yangthang Dechen Ösal Dorje (sinh năm 1929)*
9. Jigme Ösal ở Tu viện Dodrupchen, một tülku của Garwa Khenpo (?-
1926)
10. Gyalse Thrinle Kunkhyab (Achen)* ở Nangchen
11. Terton Tülku Jigme Ösal của Tertön Gar, Rekong
12. Drubwang Tülku Alak Gönpo ở Gön Lakha, Rekong
13. Dzakhen Lama Rigdzin ở Go-me, Rekong
5. Dodrupchen Đệ Tứ Thupten Thrinle Palzang (sinh năm 1927). Trong số các
đệ tử của ngài có:
1. Chökor Khenpo Kang-nam (?-1957) ở Tu viện Dodrupchen
2. Kyala Khenpo Chechök Thöndrup (1893-1957) ở Tu viện
Dodrupchen
3. Lobsang Lungtok Gyatso (Drachen, ?-1959) ở Lauthang
4. Tülku Pema Namgyal (?-1957) ở Tu viện Dodrupchen
5. Tülku Jigme Phüntsok (Jiglo, mất năm 1959) ở Dodrupchen
6. Khandro Pema Dechen ở Kongpo
7. Dodrupchen Tenpe Nyima Đệ Tứ (sinh năm 1929) ở Yarlung
Pemakö
8. Yangthang Dechen Ösal Dorje (sinh năm 1929)* ở Domang
9. Tülku Jigme Ösal ở Tu viện Dodrupchen
10. Dungse Thinley Norbu (sinh năm 1931)* ở Pemakö/Hoa Kỳ
11. Lama Pema Tumpo (Kusum Lingpa, sinh năm 1933) ở Golok
12. Khenpo Dechen Dorje (sinh năm 1936 ở Sikkim)
13. Khandro Tare Lhamo (sinh năm 1937),* con gái của Apang
Tertön
14. Thekchok Pema Gyaltsen (Theklo) (sinh năm 1937), tülku của
Pema Dorje
15. Zenka Thupten Nyima Đệ Nhị (sinh năm 1943)
16. Chögyal Wangchuk Namgyal (sinh năm 1953)* ở Sikkim
17. Lopön Thekchok Yeshe Dorje (sinh năm 1957) ở Bhutan
18. Gönchang Tülku Đệ Thập (sinh năm 1962)* ở
Gompachang/Sikkim 287
19. Dzogchen Jigme Losal Wangpo Đệ Thất (sinh năm 1964)
20. Tülku Chökyi Nyima ở Nup-ri, Nepal
21. Tülku Jigme Gawe Lodrö, một tülku của Khenpo Kangnam
22. Dodrupchen Jigme Long-yang Đệ Ngũ, một tülku của
Dodrupchen Rigdzin Tenpe Gyaltsen
23.
Tác phẩm Trích dẫn
BC Klong Ch’en sNying Thig Gi brGyud ‘Debs Byin rLabs Ch’ar rGyun (tờ 2), do
Jigme Lingpa (1730-1798) khám phá. Quyển OM, Longchen Nyingthig Tsapö.
Jamyang [Dilgo] Khyentse xuất bản, Ấn Độ.
BD Biographical Dictionary of Tibet and Tibetan Buddhism (Tự điển Tiểu sử của Tây
Tạng và Phật giáo Tây Tạng) của Khetsun Zangpo (sinh năm 1921). Quyển 1-14.
Dharmasala: Library of Tibetan Works and Archives.
BDL Biography of Do Khyentse and His Lineage (Tiểu sử Do Khyentse và Dòng Truyền
thừa của ngài) (trang 24) của Ani Dasal, chút gái của Do Khyentse. Được cung cấp
nhờ thiện tâm của Zenkar Rinpoche, Thupten Nyima. Bản thảo.
BG sNga ‘Gyur Bla Med Kyi rGyud Kyi brJod Bya gZhi Lam Gyi dKa’ gNad bKrol Ba Bla
Ma’i dGongs rGyan của Lobzang (Könchok Drönme, 1859-1936) của Tu viện
Dodrupchen. Bản thảo.
BGT rGya Bod Tshig mDzod Ch’en Mo. Quyển 1-3. Mirik Petrunkhang, Trung quốc.
BND Bairo Tsana’i rNam Thar ‘Dra ‘Bag Ch’en Mo, Kham-nyon Dharma Senge (?-1890)
biên tập. In mộc bản ở Lhasa, Tây Tạng.
CD ‘Jam dByangs Bla Ma Ch’os Kyi Blo Gros Kyi gSung Thor Bu’i dKar Ch’ags Ch’os
Tshul Mi Zad ‘Dod dGu’i Bang mDzod (tờ 9) của Tashi Paljor [Dilgo Khyentse, 1910-
1991]. Một bản thảo được cung cấp do thiện tâm của Thượng Tọa Könchok Tenzin,
Pháp.
CG Khams sMyon Dharma Senge’i Nyams mGur Ch’u Zla’i Gar Phreng (tờ 224) của
Dharma Senge. Sonam Kazi sao chép, Ấn Độ, 1970.
CN Rig ‘Dzin ‘Jigs Med Gling Pa’i bKa’ ‘Bum Yongs rDzogs Kyi bZhugs Byang Ch’os Rab
rNam ‘Byed (tờ 13) của Kathokpa Gyurme Tsewang Chokdrup (1764-?). Quyển Cha,
Jigling Kabum. (Dege) Dodrupchen Rinpoche sao chép, Sikkim, Ấn Độ.
CY Chö Yang, the Voice of Tibetan Religion and Culture (Chö Yang, Tiếng Nói của Tôn
giáo và Văn hóa Tây Tạng). Ấn bản Năm Tây Tạng. Hội đồng Tôn giáo và Văn hóa
Sự vụ xuất bản , Dharamsala, Ấn Độ.
DB O rGyan ‘Jigs Med Ch’os Kyi dBang Po’i rNam Thar Pa’i gSos sMan bDud rTsi’i Bum
bChud (tờ 41) của Thupten Künzang Chötrak (1872-1943). Paltrül Sungbum, Quyển
5. Zenkar Rinpoche xuất bản, Trung quốc.
DCS rDo rJe ‘Ch’ang Gis gSung Pa mCh’od Os Rang bZhin Gyi Tshig Dus gNad Nges
Pa (tờ 36, gSer Yig, Ga), Vima Nyingthig Phần I, tuyển tập sNying Thig Ya bZhi, do
Longchen Rabjam (1308-1363) (Adzom) biên soạn. Lama Jigtrak và Tülku Pema
Wangyal sao chép, Darjeeling, Ấn Độ.
DD dPal gSang Ba sNying Po’i rGyud Kyi sPyi Don Nyung Ngu’i Ngag Gis gSal Bar Byed
Pa Rin Po Ch’ei mDzod Kyi sDe Mig của Jigme Tenpe Nyima. Quyển Ka,
Dodrupchen Sungbum. Dodrupchen Rinpoche xuất bản, Sikkim, Ấn Độ.
DGN rDo Grub Ch’en rNam Thar. Một tiểu truyện của Dodrupchen đệ nhất (1745-1821) từ
tuyển tập của Dodrupchen Rinpoche. Bản thảo. Thiếu ba trang, trong đó có trang
tựa đề và trang cuối. 288
DK sKyabs rJe Dam Pa Ch’os dByings Rang Grol Gyi rNam Par Thar Ba Dad Pa’i ‘Khri
Shing (trang 35) của Sönam Nyima. Bản thảo.
DKG sNga ‘Gyur rGyud ‘Bum Rin Po Ch’e’i rTogs Pa brJod Pa ‘Dzam Gling Tha Gru
Khyab Pa’i rGyan (tờ 250) của Jigme Lingpa. Quyển Ga, Jigling Kabum (Dege).
Dodrupchen Rinpoche sao chép, Sikkim, Ấn Độ. 1985
DL mDo Khams rDzogs Ch’en dGon Gyi Lo rGyus (trang 139) của Gyalwang Chökyi
Nyima (sinh năm 1914). Sitrön Mirik Petrünkhang, Trung quốc, 1992.
DN rDo Grub Ch’en Rin Po Ch’e sKu ‘Phreng Rim Byon Gyi rNam Par Thar Pa ‘Dod ‘Jo
Nor Bu’i Phreng Ba của Sönam Nyima ở Serta, Golok. Bản thảo.
DNN Rang bZhin rDzogs Pa Ch’en Po’i Lam Gyi Ch’a Lag sDom gSum rNam Par Nges
Pa (tờ 16) của Padma Wangkyi Gyalpo (1487-1542). Khamtrül Rinpoche, Ấn Độ,
xuất bản. Bản Anh ngữ: Absolute Certainty of the Three Vows (Xác quyết Tuyệt đối
ở Ba Giới nguyện), với Bình giảng của Dudjom Rinpoche. Sangye Khandro dịch.
Snow Lion sắp xuất bản.
DNK Dzogchen Lineage of Nyoshül Khenpo (Dòng Dzogchen của Nyoshül Khenpo) (sinh
năm 1926). Bản thảo.
DO Zhal Ch’en Dri Ma Med Pa’i Od (tờ 132-140) của Longchen Rabjam, Quyển HŪM,
Khandro Nyingthig (Adzom). Lama Jigtrak và Tülku Peama Wangyal sao chép,
Darjeeling, Ấn Độ.
DPM Gangs Chan Bod Ch’en Pi’i rGyal Rabs ‘Dus gSal Du bKod Pa sNgon Med Dvangs
Shel ‘Phrul Gyi Me Long (tờ 283) của Jigtral Yeshe Dorje (1904-1987).
DSC Dakki’i sSang gTam Ch’en Mo (tờ 7), do Jigme Lingpa khám phá như một terma.
Quyển OM, Longchen Nyingthig Tsapö. Jamyang (Dilgo) Khyentse xuất bản, Ấn Độ.
DSC Klong Ch’en sNying Gi Thig Le’i rToga Pa brJod Pa Dakki’i gSang gTam Ch’en Mo
(tờ 7), do Jigme Lingpa khám phá. Quyển OM, Longchen Nyingthig Tsapö. Jamyang
(Dilgo) Khyentse xuất bản.
DT ‘Phags Pa Shes Rab Kyi Pha Rol Tu Phyin Pa sDud Pa Tshigs Su bChad Pa, Quyển
Ka, mục Sher Phyin, Kanjur (Dege).
DTN Deb Ther sNgon Po (Quyển 1 & 2) của Golo Zhönu Pal (1392-1481). Sitrön Mirik
Petrünkhang, Trung quốc, 1984.
DZ Dul Ba gZhi (Vinayavastu). Mục ‘Dul Ba. Quyển 1-4. Kanjur (Dege).
DZT O rGyan ‘Jigs Med Ch’os Kyi dBang Po’i rTogs brJod bDud rTsi’i Zil Thigs (tờ 18)
của Jigme Tenpe Nyima. Quyển Nga, Dodrupchen Sungbum. Dodrupchen Rinpoche
xuất bản, Ấn Độ.
EL Enlightened Living: Teachings of Tibetan Buddhist Masters (Đời sống Giác ngộ:
Những Giáo lý của các Đạo sư Phật giáo Tây Tạng), Tulku Thondup dịch, Harold
Talbott hiệu đính. Boston: Nhà Xuất bản Shambhala, 1990.
GD bKyed rDzogs sGom Phyogs Dris Lan (tờ 98) của Jigme Lingpa. Quyển Ta, Jigling
Kabum (Dege). Dodrupchen Rinpoche sao chép, Sikkim, Ấn Độ.
GDG Ye Shes mTsho rGyal Gyi mDzad Tshul rNam Par Thar Pa Gab Pa mNgon Byung
rGyud Mang Dri Za’i Glu Phreng (trang 254), do Pawo Taksham Dorje (thế kỷ 17)
khám phá. Sitrön Mirik Petrünkhang, Trung quốc.
GK Dam Pa’i Ch’os Rin Po Ch’e ‘Phags Pa’i Yul Du Ji lTar Tar Ba’i Tshul gSal Bar sTon
Pa dGos ‘Dod Kun ‘Byung (trang 340) của Tārānātha (1575-1635). Mirik
Petrünkhang, Trung quốc, 1985
GL ‘Gro mGon Bla Ma rJe’i gSang gSum rNam Thar rGya mTsho Las Thun Mong Phyi’i
mNgon rTogs rGyal Sras Lam bZang. Một tự truyện của Jigme Gyalwe Nyuku, 1765-
1843. Một bản thảo được cung cấp nhờ thiện tâm của Tülku Pema Wangyal
Rinpoche, Pháp. 289
GN rDzogs Pa Ch’en Po sNying Thig Gi Khrid Yig Gu Yangs sNying Gi Thig Le (tờ 136)
của Guyang Lo-de (Chingkarwa Don-yö Dorje). Sherap Gyaltsen Lama, Sikkim, xuất
bản, 1976.
GNP dPal Sa sKyong sDe dGe Ch’os Kyi rGyal Po Rim Byon Gyi rNam Thar Ge Legs Nor
Bu’i Phreng Ba (trang 135) của Champa Kun-ga Tenpe Gyaltsen. Sitrön Mitik
Petrünkhang, Trung quốc, 1990.
GP The Great Perfection (Đại Viên mãn) của Samten Gyaltsen Karmay. New York: E. J.
Brill Leidon, 1988.
GPM rGyud Phyi Ma (của gSang Ba ‘Dus Pa). Mục rGyud. Quyển Cha, Kanjur (Dege).
GR ‘Phags Pa rGya Ch’er Rol Ba Zhes Bya Ba Theg Pa Ch’en Po’i mDo. Mục mDo sDe.
Quyển Kha, Kanjur (Dege).
GRT ‘Jam dByangs Ch’os Kyi Blo Gros Kyi rTogs Pa brJod Pa sGyu Ma’i Rol rTsed (tờ 22)
của Chökyi Lodrö (1893-1959).
GRD Grub mTha’ Rin Po Ch’e’i mDzod (tờ 206) của Tri-me Özer (Longchen Rabjam)
(Adzom). Dodrupchen Rinpoche sao chép, Sikkim, Ấn Độ.
GZ rNying rGyud bKa’ Ma’i Thob Yig brGyud lDan Zhal Lung của Dodrupchen Rinpoche
đệ Tứ (sinh năm 1927). Bản thảo.
HTT Hidden Teachings of Tibet (Những Giáo lý Ẩn dấu của Tây Tạng) của Tulku Thondup
Rinpoche, Harold Talbott biên tập. London: Wisdom, 1986.
JKT Manjushrīdharmamitra’i [Khyentse Wangpo] rTogs Pa brJod Pa ‘Jigs rTen Kun Tu
dGa’ Ba’i gTer (tờ 50) của Jigme Tenpe Nyima. Quyển Nga, Dodrupchen Sungbum.
Dodrupchen Rinpoche xuất bản.
KBZ rDzogs Pa Ch’en Po Nying Thig Gi sNgon ‘Gro’i Khrid Yig Kun bZang Bla Ma’i Zhal
Lung (tờ 306) của Ögyen Jigme Chökyi Wangpo (Paltrül Rinpoche, 1808-1887).
Pönlop Rinpoche, Rumtek, Sikkim, Ấn Độ, xuất bản. Các bản dịch Anh ngữ: (1) Künzang La-May Zhal-lung, quyển 1 & 2, Sonam T.Kazi dịch. Nhà Xuất bản DiamondLotus, 1989. (2) The Words of My Perfect Teacher (Lời Vàng của Thầy tôi), Nhóm
Dịch thuật Padmakara dịch. New York: Harper-Collins, 1994.
KGT Dam Pa’i Ch’os Kyi ‘Khor Lo’i bsGyud Ba rNams Kyi Byung Ba gSal Bar Byed Pa
mKhas Pa’i dGa’ sTon, quyển 1 & 2, của Pawo Tsuklak Trengwa (1454-1566). Mirik
Petrünkhang, Bắc Kinh, Trung quốc.
KKR Klong Ch’en sNying Gi Thig Le’i dBang bsKur Gyi Phreng Ba bKlag Ch’og Tu bKod
Pa sKal bZang Kun dGa’i Rol sTon (tờ 165) của Dilgo Khyentse Rapsal Dawa.
Quyển Nga, Longchen Nyingthig Tsapö. Dilgo Khyentse Rinpoche xuất bản, Ấn Độ.
KNN Rig ‘Dzin ‘Jigs Med Gling Pa’i Khrungs Rabs rNam Thar Nyung bsDus (tờ 3). Quyển
Ta, Jigling Kabum (Dege). Dodrupchen Rinpoche sao chép, Sikkim, Ấn Độ.
KNR sNga ‘Gyur Ch’os Kyi Byung Ba gSal Bar Byed Pa’i Legs bShad mKhas Pa dGa’
Byed Ngo mTshar gTam Gyi Rol mTsho (trang 1058) của Ngawang Lodrö (Guru
Tashi, 1550-1602). Tso-ngön Mirik Petrünkhang, Trung quốc.
KS ‘Jigs Med Gling Pa’i ‘Khrung Rabs gSol ‘Debs (tờ 1) của Khyentse Lha. Nyingthig
Döncha. Dodrupchen Rinpoche xuất bản, Sikkim, Ấn Độ.
KT bKa’ Thang sDe lNga (trang 539), Ögyen Lingpa (1323-?) khám phá. Mirik
Petrünkhang, Trung quốc.
KZ ‘Ja’ Lus rDo rJe’i (Do Khyentse) rNam Thar mKha’ ‘Gro’i Zhal (tờ 99). Một tự truyện
của Do Khyentse, 1800-1866. Dodrupchen Rinpoche sao chép, Gangtok, Ấn Độ,
1974.
KZD Kun mKhyen Zhal Lung bDud rTsi’i Thig Pa (tờ 14) của Jigme Lingpa. Quyển HŪM,
Quyển OM, Longchen Nyingthig Tsapö. Jamyang (Dilgo) Khyentse, Ấn Độ.
KZZ Nying Thig Gi sNgon ‘Gro’i Khrid Yig Kun bZang Bla Ma’i Zhal Lung Gi Zin Bris (tờ
205) của Pema Ledreltsal (1879-1941). Mộc bản. 290
LG Lo rGyus rGyal Ba gYung Gis mDzad Pa của Gyalwa Yung (1284-1365), Phần II (tờ
203-211), Khandro Nyingthig. Tuyển tập Yabzhi (Adzom). Lama Jigtrak và Tülku
Pema Wangyal sao chép, Darjeeling, Ấn Độ.
LK Bla Ma dGongs Pa ‘Dus Pa Las Lung bsTan bKa’ rGya’i sKor (tờ 213), Sangye
Lingpa (1340-1396) khám phá. Quyển 6 (Ch’a), Giáo khóa Lama Gongdü. Lama
Ngödrup và Sherab Drimay xuất bản, Bhutan, 1981.
LNG sNga ‘Gyur rDo rJe Theg Pa’i bsTan Pa Rin Po Ch’e Ji lTar Byung Ba’i Tshul brJod
Pa Lha dBang gYul Las rGyal Ba’i rNga Bo Ch’e’i Gra dByangs (tờ 410) của Jitral
Yeshe Dorje. Düdjom Tülku Rinpoche xuất bản, Kalimpong, Ấn Độ, 1967. Anh ngữ:
NTB.
LRB Karmapa Mi bsKyod rDo rJe’i gNang Ba’i Dris Lan Lung Dang Rigs Pa’i Brug sGra
(tờ 87) của Sokdokpa Lodrö Gyaltsen (1552-1624). Sonam T. Kazi sao chép,
Gangtok, Ấn Độ, 1971.
LRP mKha’ ‘Gro sNying Thig Gi Lo rGyus Rin Po Ch’e’i Phreng Ba của Chatralwa Zöpa.
Khandro Nyingthig, Phần II (tờ 233a-254a/6) (Adzom). Lama Jigtrak và Tülku Pema
Wangyal sao chép, Darjeeling, Ấn Độ.
LS The Life of Shabkar (1781-1851): The Autobiography of a Tibetan Yogin [Cuộc Đời
của Shabkar) (1781-1851): Tự truyện của một Hành giả Tây Tạng] (trang 737).
Matthieu Ricard dịch. Albany: SUNY, 1994, Tibetan: SB.
LST Yon Tan Rin Po Ch’e’i mDzod Kyi dKa’ gNad rDo rJe’i rGya mDud ‘Grol Byed Legs
bShad gSer Gyi Thur Ma của (Sokpo) Tentar Lharampa (1759-?). Jamyang (Dilgo)
Khyentse xuất bản, Ấn Độ.
LY rGya Gar Gyi gNas Ch’en Khag La bGrod Pa’i Lam Yig (trang 351-395) từ Tuyển tập
các Tác phẩm của Gendün Chöphel (1905-1951). Mirik Petrünkhang, Trung quốc.
LYN Rang Byung rDo rJe’i rNam Par Thar Pa Legs Byas Yong ‘Dus sNye Ma (tờ 251),
một tự truyện của Khyentse Özer [Jigme Lingpa]. Quyển Ta, Jigling Kabum. (Dege)
Dodrupchen Rinpoche, Sikkim, Ấn Độ, sao chép.
MC mKhan Rin Po Ch’e Kun dPal La bsTod Pa bKa’ Drin rJes Dran Gyi Me Tog mCh’od
Pa (tờ 4) của Khyentse Chökyi Lodrö.
MD Phags Pa Yongs Su Mya Ngan Las ‘Das Pa Ch’en Po’i mDo. Mục mDo sDe. Quyển
Ta, Kanjur (Dege).
MG gTer sTon Rim Par Byon Pa rNam Gyi gSol ‘Debs rGyas Par bKod Pa Mos Gus rGya
mTsho’i rLabs ‘Phreng của Kongtrül Yönten Gyatso (1813-1899). Quyển Ka, Terdzö.
Jamyang Khyentse xuất bản, Ấn Độ.
MNB Ch’os ‘Byung Me Tog sNying Po sBrang rTsi’i bChud (trang 504) của Nyang Nyima
Özer (1124-1192). Pöjong Mimang Petrünkhang, Tây Tạng, 1988.
NB Gangs Shugs Ma Ni Lo Ch’en Rig ‘Dzin dBang Mo’i rNam Par Thar Pa rNam mKhyen
bDe sTer (tờ 271). Một tự truyện của Lochen Rigdzin Wangmo, 1865-1953. Sonam
Kazi sao chép, Ấn Độ.
NCC gZhi Khregs Ch’od sKabs Kyi Zin Bris bsTan Pa’i Nyi Ma’i Zhal Lung sNyan rGyud
Ch’u Bo’ai bChud ‘Dus (tờ 40) của Pema Ledreltsal (Khenpo Ngachung). Bản thảo.
NCG rDzogs Ch’en Man Ngag sDe’i sNying Thig rNam bZhi’i Thob Yig dNgos Grub Ch’u
rGyun của Dodrupchen Thupten Thrinle Palzangpo. Bản thảo.
ND ‘Jigs Med Phrin Las Od Zer Gyi mNgon rTogs Drang Por sMos Pa (tờ 3) của Jigme
Thrinle Özer. Bản thảo.
NG sNga ‘Gyur sDom rGyun Gyi mKhan brGyud Kyi rNam Thar Nyung gSal sGron Me
(tờ 31) của Dharmashrī (1654-1717). Quyển 3, Writings of Minling Lochen
Dharmashrī (Các Tác phẩm của Minling Lochen Dharmashrī). Khorchen Tülku sao
chép, Ấn Độ. 291
NGR Padma Las ‘Brel rTsal Gyi rTogs brJod Ngo mTshar sGyu Ma’i Rol Gar (tờ 147). Một
tự truyện của Pema Ledreltsal. Sonam Kazi xuất bản, Ấn Độ, 1969.
NLC rDzogs Pa Ch’en Po Nying Thig Gi Lo rGyus Ch’en Mo của Zhangtön Tashi Dorje
(1097-1167). Vima Nyingthig Phần III (Adzom). Lama Jigtrak và Tülku Pema
Wangyal sao chép, Darjeeling, Ấn Độ.
NLS Ch’os sPyod Kyi Rim Pa rNam Par Grol Ba’i Lam Gyi Shing rTa (tờ 204) của Jigtral
Yeshe Dorje. Düdjom Rinpoche xuất bản, Kalimpong, Ấn Độ.
NN Thob Yig Nyi Zla’i rNa Ch’a (tờ 13) của Jigme Lingpa. Quyển Cha, Jigling Kabum
(Dege). Dodrupchen Rinpoche sao chép, Sikkim, Ấn Độ.
NO sNga ‘Gyur Od gSal. Học viện Ngagyur Nyingma xuất bản, Ấn Độ, 1992.
NPG gSang sNgags gSar rNying Gi gDan Rabs mDor bsDus Ngo mTshar Padmo’i dGa’
Tshal (tờ 104) của Khyentse Wangpo (1820-1892). Quyển Tsha, Khyentse Kabum.
Jamyang (Dilgo) Khyentse xuất bản, Ấn Độ.
NS Yon Tan Rin Po Ch’e’i mDzod Las ‘Bras Bu’i Theg Pa’i rGya Ch’er ‘Grel rNam
mKhyen Shing rTa (tờ 440) của Khyentse Lha. Quyển Kha, Jigling Kabum. (Adzom)
Dodrupchen Rinpoche sao chép, Ấn Độ.
NT Nags Tshal Kun Tu dGa’ Ba’i gTam của Longchen Rabjam. Tuyển tập gTam Tshogs
(tờ 66a-72a), Sung Thorbu (Adzom).
NTB The Nyingma School of Tibetan Buddhism: Its Fundamentals and History [Trường
phái Nyingma của Phật giáo Tây Tạng: Những Nền tảng và Lịch sử của nó] (quyển 1
& 2) của Düdjom Rinpoche, Jigtral Yeshe Dorje. Gyurme cùng với Matthew Kapstein
dịch và biên tập. Boston: Wisdom, 1991.
NTG Klong Ch’en sNying Gi Thig Le Las gNad Byang Thugs Kyi sGrom Bu (tờ 5), do
Jigme Lingpa khám phá. Quyển OM, Longchen Nyingthig Tsapö. Jamyang (Dilgo)
Khyentse xuất bản, Ấn Độ.
NTS sNying gTam Sum Chu Pa (tờ 54b-57b) của Longchen Rabjam. Tuyển tập Zhaldam
của Sung Thorbu (Adzom).
NUG ‘Jam dByangs mKhyen brTse’i dBang Po’i rnam Thar mDor bsDus Ngo mTshar
Utpala’i dGa’-Tshal (tờ 118) của Lodrö Thaye. Quyển Ba, Kongtrül Kabum, do
Jamyang (Dilgo) Khyentse xuất bản, Ấn Độ.
NYG ‘Jam dByang Ch’os Kyi Blo Gros Kyi rNam Thar Ngo mTshar Yongs ‘Dus dGa’ Tshal
(tờ 207) của Khyentse Özer (Dilgo Khyentse). Một bản sao được cung cấp do thiện
tâm của Thượng Tọa Könchok Tenzin ở Pháp.
ON rDzogs Pa Ch’en Po’i Nyams Len Gyi gNad mThar Thug Pa’i rTsa ‘Grel Od gsal Gyi
sNang Ch’a (tờ 11) của Paltrül Rinpoche (1808-1887). Quyển 4, Paltrül Sungbum.
Zenkar Rinpoche xuất bản, Chendu (Thành Đô), Trung quốc.
PGG Deb Ther rDzogs lDan gZhon Nu’i dGa’ sTon dPyid Kyi rGyal Mo’i Glu dByangs
(trang 202) của Ngawang Lobzang Gyatso (Đạt Lai Lạt Ma thứ năm, 1617-1682).
Mirik Petrünkhang, Trung quốc.
PJM ‘Jigs Med ‘Phrin Las Od Zer Gyi rTogs bJod dPag bSam lJon Pa’i Me Tog của Jigme
Tenpe Nyima. Töpa Natsok (tờ 6a-10b), Quyển Nga, Dodrupchen Sungbum.
Dodrupchen Rinpoche xuất bản.
PK The Esoteric Biography of Gter-chen Las-rab Gling-pa (Tertön Sogyal) (tờ 363) của
Shila Bhadra (Tsültrim Zangpo, 1884-?) Sangye Dorje xuất bản, New Delhi, 1974.
PKG rTogs brJod ‘Pag bSam ‘Khri Shing Gi’ Grel Ba (trang 437-647) của Jampal Yeshe
Tenpe Gyaltsen. Tso-ngön Mirik Loptra xuất bản, 1988, Trung quốc.
PKD sNga ‘Gyur rDo rJe Theg Pa gTso Bor Gyur Pa’i sGrub brGyud Shing rTa brGyad Kyi
Byung Ba brJod Pa’i Pad Ma dKar Po’i rDzing Bu (tờ 284) của Gyurme Pema
Namgyal (Zhechen Gyaltsap, 1871-1926). S. W. Tashigangpa, Ladakh, Ấn Độ. 292
PM ‘Jigs Med Phrin Las Od Zer La rTogs brJod Dang ‘Brel Bar gSol Ba ‘Debs Pa dPag
bSam lJon Pa’i Me Tog của Jigme Tenpe Nyima. Quyển Nga (tờ 6-10), Dodrupchen
Sungbum. Dodrupchen Rinpoche xuất bản, Ấn Độ.
RB ‘Jam dByangs Ch’os Kyi Blo Gros Kyi rNam Thar Rin ch’en Bang mDzod (tờ 260)
của Do Sippa Ngawang Kün-ga Wangchuk. Bản thảo.
RBP Zab Mo’I gTer Dang gTer sTon Ji lTar Byon Pa’i Lo rGyus bKod Pa Rin Ch’en
Baidurya’i Phreng Ba (tờ 235) của Kongtrül Yönten Gyatso. Quyển Ka, Terdzö.
Jamyang (Dilgo) Khyentse xuất bản, Ấn Độ.
RD Klong Ch’en sNying Gi Thig Le Las, Nang sGrub Rig ‘Dzin ‘Dus Pa’i Zin Bris Rig
‘Dzin Zhal Lung bDe Ch’en dPal sTer (tờ 58) của Chechok Tondrup Tsal (Kyala
Khenpo, 1893-1957). Dodrupchen Rinpoche xuất bản, Ấn Độ.
RT Ch’os ‘Byung Rin Po Ch’e’i gTer mDzod bsTan Pa Rab Tu gSal Bar Byed Pa’i Nyi
Od (trang 502) của Gyalse Thukchok Tsal (Longchen Rabjam?). Böjong
Petrünkhang, Tây Tạng.
SB sKyabs mGon Zhabs dKar rDo rJe ‘Ch’ang Ch’en Po’i rNam Par Thar Pab bSam
‘Phel dBang Gi rGyal Po của Zhapkar Tsoktruk Rangtrol, quyển 1 & 2. In mộc bản
của Tashi Khyil, Amdo, Tibet. Anh ngữ: LS
SCG The History of Chöten Gompa of Dearali (Lịch sử của Choten Gompa ở Dearali),
Gangtok (trang 6) của Dodrupchen Rinpoche đệ Tứ. Bản thảo.
SKK Theg Pa’i sGo Kun Las bTus Pa Shes Bya Kun Khyab (quyển 1, 2 & 3) của Kongtrül
Yönten Gyatso (1813-1899). Mirik Petrünkhang, Trung quốc, 1982.
SLD gSol ‘Debs Leu bDun Ma, do Rigdzin Gödem (1337-1408) khám phá như terma. Bản
thảo.
SM Ma Ongs Lung bsTan gSal Byed Me Long (tờ 9) của Jigme Thrinle Özer. Bản thảo.
SMM The Seven Mountains of Thomas Merton (Bảy Ngọn Núi của Thomas Merton) của
Michael Mott. Boston: Houghton Mifflin, 1986.
SN bChom ldan ‘Das Ma Shes Rab Kyi Pha Rol Tu Phyin Pa’i sNying Po. Mục Sher
Phyin. Quyển Ka, Kanjur (Dege).
SNG mKhyen brTse Heruka’i [Do Khyentse] gSang Ba’i rNam Thar Grub rTags sTon
Tshul ‘Thor bsDus (tờ 78) của Dechen Rikpe Raltri và những người khác. Một bản
thảo được cung cấp do thiện tâm của Zenkar Rinpoche.
TCG gSang Ba Ch’en Po Nyams sNang Gi rTogs brJod Ch’u Zla’i Gar mKhan (tờ 26), do
Jigme Lingpa khám phá. Quyển OM, Longchen Nyingthig Tsapö. Jamyang (Dilgo)
Khyentse xuất bản.
TKT bsTan rTsis Kun Las bsTus Pa của Tseten Zhaptrung (1910-?). Tso-ngon Mirik
Petrünkhang, Trung quốc.
TL Ye Shes mKha’ ‘Gro bDe Ch’en rGyai Mo’i Thugs Dam bsKang Ba’i Rim Pa Tshogs
gNyis Lhun Po (tờ 8) của Chö-nyön Dharma Senge. In mộc bản ở Tây Tạng.
TRL gTer ‘Byung Rin Po Ch’e’i Lo rGyus (tờ 53) của Tri-me Özer (Longchen Rabjam).
Phần I, Khandro Yangtig (Adzom). Lama Jigtrak và Tülku Pema Wangyal sao chép.
TT Kun mKhyen Dri Med Od Zer Gyi rnam Thar mThong Ba Don lDan (tờ 46) của
Chötrak Zangpo. Quyển 4, Vima Nyingthig (Adzom). Lama Jigtrak và Tülku Pema
Wangyal sao chép, Darjeeling, Ấn Độ.
TTR Gangs Chan Gyi Lo Pan rNams Kyi mTshan Tho Rags Rim (tờ 238) của Khyentse
Wangpo. Quyển Dza, Khyentse Kabum. Jamyang Khyentse sao chép, Ấn Độ.
WJ The Wish-Fulfilling Jewel: The Practice of Guru Yoga According to the Longchen
Nyingthig Tradition (Viên Ngọc Như ý: Thực hành Guru Yoga theo truyền thống
Longchen Nyingthig) của Dilgo Khyentse. Boston: Shambhala, 1988. 293
WO Las ‘Phro gTer brGyud Kyi rNam bShad Nyung gSal Ngo mTshar rGya mTsho (tờ
36) của Jigme Tenpe Nyima. Quyển Nga, Dodrupchen Sungbum. Dodrupchen
Rinpoche xuất bản, Sikkim, Ấn Độ. Anh ngữ: HTT.
YKG Klong Ch’en sNying Gi Thig Le Las. rDzogs Pa Ch’en Po Ye Shes Klong Gi rGyud (tờ
12) của Jigme Lingpa. Quyển HŪM, Longchen Nyingthig Tsapö. Jamyang [Dilgo]
Khyentse xuất bản, Ấn Độ.
YM Padma ‘Byung gNas Kyi rNam Par Thar Pa Yid Kyi Mun Sel (tờ 128) của Sokdokpa
Lodrö Gyaltsen. Golok Lama Jigtse sao chép, Sikkim, Ấn Độ.
YS Ye Grol Sor bZhag của Longchen Rabjam. Bản thảo.
ZL ‘Jigs Med bsTan Pa’i Nyi Ma’i gZim Lam sKor (tờ 5) của Tülku Pema Namgyal (mất
năm 1957). Bản thảo.
Chú thích
1. Mặc dù 624-544 Trước Công nguyên là những niên đại thường được truyền thống
Theravāda (Phật giáo nguyên thủy) chấp nhận, nhiều học giả đặt cuộc đời của Đức
Phật ở giữa thế kỷ thứ năm và thứ tư Trước Công nguyên.
2. Bám chấp vào cái “ngã” là khái niệm hiểu sự hiện hữu của một thực thể nơi bản
thân là “tôi” hay nơi chúng sinh và các sự vật là “anh,” “cái này,” hay “cái kia,” “cái
bàn” hay “cái ghế,” và v.v..
3. Mô tả về sự giác ngộ của Đức Phật được dựa trên GR 165a/1, KNR 34/19 và SKK I-
308/22.
4. Lha’i Mig Las Ye Shes mThong Ba’i Rig Pa. Trong một vài nguồn mạch thì đó là sự
nhớ lại mọi sự hiện hữu trong quá khứ, nhìn thấy mọi điều xảy ra trong tương lai, và
nhận thức sự cạn kiệt của mọi sự ô nhiễm.
5. sNgon Gyi gNas rJes Su Dran Pa’i Ye Shes mThong Ba’i Rig Pa.
6. Zag Pa Zad Pa Shes Pa mThong Ba’i Rig Pa.
7. Theo truyền thống, Phật giáo được phân loại thành những truyền thống khác nhau
(SKK I-361/s và DNN), như sau.
(1) Ba lần chuyển Pháp luân: (a) Chuyển Pháp luân lần thứ nhất là các giáo lý về
Đạo Phật thông thường (Hīnayāna, hay Theravāda), là giáo lý chủ yếu đặt nền tảng
trên Tứ Diệu Đế. (b) Chuyển Pháp luân lần thứ hai là giáo lý về Mahāyāna (Đại
thừa), chủ yếu là những Kinh điển Prajnāpāramitā (Bát nhã ba la mật đa) được
giảng dạy trên Đỉnh Linh Thứu. Lần chuyển Pháp luân này xác định rằng bản tánh
tối hậu của mọi hiện tượng thì thoát khỏi những đặc tính của sự tạo tác. Nó nhấn
mạnh vào ý nghĩa sâu xa của tánh Không nhờ “ba phương tiện của sự giải thoát”:
cái thấy về tánh Không (sTong Pa), con đường thoát khỏi những đặc tính (mTshan
Ma Med Pa), và kết quả của việc không ước nguyện (sMon Pa Med Pa). Các môn
đồ của giáo lý này trở thành trường phái Trung Đạo (Madyamaka) của Đại thừa. (c)
Chuyển Pháp luân thứ ba là giáo lý làm sáng tỏ tinh túy (Phật) giác ngộ của Đại
thừa, chủ yếu dựa trên Avatamsaka-sūtra (Kinh Hoa Nghiêm), Lankāvatāra-sūtra
(Kinh Lăng Già), và những Kinh điển khác. Giáo lý này giảng dạy rằng mọi hiện
tượng chỉ đơn thuần là những sự quy gán (Kun bTags) của tâm, tâm và những sự294
kiện trong tâm đang xuất hiện chỉ đơn thuần phụ thuộc (gZhan dBang) vào những
tập quán của nó, và như thị hoàn toàn được củng cố (Yongs Grub).
(2) Ba yāna (thừa): (a) Các giáo lý về Tứ Diệu Đế, v.v.. được ban cho các
shrāvaka (Thanh Văn, đệ tử) của Hīnayāna. (b) Các giáo lý về sự duyên khởi, v.v..
được ban cho các pratyekabuddha (Duyên giác, Độc giác Phật, Bích Chi Phật) của
Hīnayāna. (c) Các giáo lý về mười cấp độ (thập địa) và năm con đường, v.v.. dành
cho các bodhisattva (Bồ Tát, những vị truy cầu tâm giác ngộ) của Mahāyāna. (d)
Cũng có khi giáo lý về các nguyên lý bí mật của Vajrayāna (Kim Cương thừa), tantra
của Mahāyāna, được phân loại như thừa thứ tư.
8. GR 200a/5, DZ I-44b/1.
9. KBZ 6B/3.
10. DP 293/6.
11. DP 253/7.
12. DP 311/2.
13. Sáu ba la mật là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. DT 19b/1.
14. BG 6a/3.
15. DT 16b/2.
16. KBZ 19a/3.
17. SN 145a/5.
18. Tantra là sự tương tục của bản tánh tối thượng, với nền tảng, con đường, và kết
quả của nó. Đức Phật nói trong GPM 150a/1: “Tantra được gọi là sự tương tục.”
19. SKK III-160/3, 210/13, 212/ 23.
20. BG 13a/3.
21. GPM 152b/4, SKK III-159/14.
22. GPM 150a/4, SKK III-211/20.
23. Tuổi nhập Niết bàn được dựa trên MD 317b/2.
24. Niên đại này được dựa trên DPM 18b/5, 69a/3.
25. Niên đại này được dựa trên DPM 79b/4, 155a/3.
26. YKG 1b/1 và những tantra khác. Theo NPG 23a/2 Mahāsandhi là một cách viết sai
lạc của Mahāsamādhi, và nó cũng có nghĩa là mNyam Pa’i Blo Ch’en Po, Tâm Nhất
thể Vĩ đại..
27. KBZ 282a/4: Vajrapāni (Kim Cương Thủ) và KNR 93/8: gSang Ba ‘Dzin Pa
(Vajrapāni).
28. NTB 455/5.
29. KBZ 285b/4.
30. DKG 58b/5, LNG 42a/4.
31. GD 161a/1, NS 24a/2.
32. Mười tám Tantra của Mahāyoga:
Bản văn Gốc của Tất cả các Tantra Mahāyoga: (1) rDo rJe Sems dPa’ sGyu ‘Phrul
Drva Ba rTsa Ba’i rGyud gSang Ba sNying Po.
Năm Tantra Chính: (2) Tantra Thân: Sangs rGyas mNyam sByos. (3) Tantra Ngữ:
Zla gSang Thig Le. (4) Tantra Tâm: gSang Ba ‘Dus Pa. (5) Tantra Phẩm tính: dPal
mCh’og Dang Po. (6) Tantra Hành động: Kar Ma Ma Le.
Năm Tantra Sādhana: (7) Heruka Rol Ba. (8) rTa mCh’og Rol Ba. (9) sNying rJe Rol
Ba. (10) bDud rTsi Rol Ba. (11) Phur Ba bChu gNyis Pa ‘Byung Ba.
Năm Tantra Hoạt động: (12) Ri Bo brTsegs Pa. (13) Ye Shes rNgam Glog. (14) Dam
Tshig bKod Pa. (15) Ting ‘Dzin rTse gChig. (16) Glang Ch’en Rab ‘Bog.
Hai Tantra cho sự Viên mãn: (17) rNam sNang sGyu ‘Phrul Drva Ba. (18) ‘Phags Pa
Thabs Kyi Zhags Pa.
33. LNG 48a/2.
34. DKG 64b/5. 295
35. SKK I-395/7.
36. Dựa trên GZ và cũng dựa trên NLS 17b/5.
37. GD 161b/6, NS 24a/3.
38. Một số trong các tantra Anuyoga là như sau:
Bốn mDo Gốc: (1) Kun ‘Dus Rig Pa’i mDo (sPyi mDo). (2) Sangs rGyas Thams Chad
dGongs Pa ‘Dus Pa. (3) Ye Shes rNgam Glog. (4) sSang Ba Dur Khrod Khu Byug
Rol Ba.
Sáu Tantra Nhánh: (1) Kun Tu bZang Po Ch’e Ba Rang La gNas Pa’i rGyud. (2)
dBang bsKur rGyal Po. (3) Ting ‘Dzin mCh’og. (4) sKabs sByor bDun Pa. (5) br
Tson Pa Don lDan. (6) Dam Tshig bKod Pa.
Mười hai Tantra Hiếm có: (1) Zhi Ba Lha rGyud. (2) Ch’os Nyid Zhi Ba’i Lha rGyud.
(3) Khro Bo’i Lha rGyud Ch’en Mo. (4) Khro Bo’i Lha rGyud rTogs Pa Ch’en Po. (5)
Thugs rJe Ch’en Po’i gTor rGyud. (6) rNal ‘Byor Nang Pa’i Tshogs rGyud Ch’en
Po. (7) dPal ‘Bar Khro Mo. (8) Rakta dMar Gyi rGyud. (9) Me Lha Zhi Bar Kyur Ba
‘Bar Pa’i rGyud. (10) Khro Bo’i sByin Sreg rDo rJe’i Ngur Mo. (11) Hūm mDzad
Ch’en Mo. (12) Zla gSang Ch’en Mo.
39. Dựa trên GZ.
40. GD 166a/2, NS 24a/4.
41. NCC 6b/a, NS 304a/6.
42. Hai mươi mốt tantra chính của Semde là:
Năm Tantra Ban đầu do Vairochana Dịch: (1) Rig Pa’i Khu Byug. (2) rTsal Ch’en
sPrug Pa. (3) Khyung Ch’en lDing Ba. (4) rDo La gSer Zhun. (5) Mi Nub Pa’i rGyal
mTshan Nam mKha’ Ch’e.
Mười ba Tantra Sau do Vimalamitra dịch: (6) rTse Mo Byung rGyal. (7) Nam mKha’i
rGyal Po. (8) bDe Ba ‘Phrul bKod. (9) rDzogs Pa sPyi Ch’ings. (10) Byang Ch’ub
Sems Tig. (11) bDe Ba Rab ‘Byams. (12) Srog Gi ‘Khor Lo. (13) Thig Le Drug Pa.
(14) rDzogs Pa sPyi sPyod. (15) Yid bZhin Nor Bu. (16) Kun Dus Rig Pa. (17) rJe
bTsan Dam Pa. (18) sGom Pa Don Grub.
Ba Tantra Chính Khác: (19) Kun Byed rGyal Po. (20) rMad Byung. (21) Mười ba
Kinh điển (mDo) của Semde.
43. NCC 7a/6.
44. Một số trong những tantra chính của Longde: (1) Klong Ch’en Rab ‘Byams rGyal Po.
(2) Kun Tu bZang Po Nam mKha’ Ch’e. (3) Rin Ch’en gDams Ngag sNa Tshogs
‘Khor lo. (4) rDo rJe Sems dPa’ Nam mKha’i mTha’ Dang mNyam Pa. (5) Ye Shes
gSang Ba’i sGron Ma. (6) Rin Ch’en ‘Khor Lo. (7) rDzogs Pa Ch’en Po Byang Ch’ub
Kyi Semss Kun La ‘Jug Pa.
45. NCC 7b/5, KZZ 8a/6.
46. Các Tantra Chính của Me-Ngagde, NCC 8b/4:
Mười bảy tantra: (1) rDzogs Pa Rang Byung Ch’en Po. (2) Yi Ge Med Pa. (3) Rig Pa
Rang Shar Ch’en Po. (4) Rig Pa Rang Grol Ch’en Po. (5) Rin Ch’en sPungs Ba. (6)
sKu Dung ‘Bar Ba Ch’en Po. (7) sGra Thal ‘Gyur Ch’en Po. (8) bKra Shis mDzes
lDan Ch’en Po. (9) rDo rJe Sems dPa’ sNying Gi Me Long. (10) Kun Tu bZang Po
Thugs Kyi Me Long. (11) Ngo sProd Rin Po Ch’es sPras Pa. (12) Mu Tig Phreng
Ba. (13) Klong Drug Pa’i rGyud. (14) sGron Ma ‘Bar Ba. (15) Nyi Zla Kha sByor.
(16) Seng Ge rTsal rDzogs Ch’en Po. (17) Nor Bu ‘Phra bKod.
Hai Bản văn Bổ túc: (18) Ekajatī Khros Ma’i rGyud. (19) Klong gSal ‘Bar Ma.
47. Đối với truyền thống terma, xin đọc HTT.
48. Dựa trên NLC, DKG 48b/6 & 88a/1, NCG.
49. Dựa trên LRP, DKG 57b/5, NCG.
50. KZD 12b/6.
51. RD6 6b/2. 296
52. KBZ 288b/5.
53. NTG 1b/1, RD 6b/6.
54. PKD 124/5, LNG 310b/2.
55. Xem NCC 9b/1, KZZ 9a/1, NGR 65b/5.
56. Một số trong những bản văn chính hay luận giảng về Longchen Nyingthig do các đệ
tử của Jigme Lingpa và các Đạo sư sau này như sau:
Về Ngöndro, Thực hành Chuẩn bị:
(a) rNam mKhyen Lam bZang, bản văn Ngöndro (tờ 13), của Jigme Thrinle Özer
(b) Kun bZang Bla Ma’i Zhal Lung (tờ 306) của Paltrül Rinpoche.
(c) sNgon ‘Gro’i dMigs Rim bsDus Pa (tờ 11) của Paltrül Rinpoche.
(d) sNgon ‘Gro’i Ngag ‘Don rNam mKhyen Lam bZang gSal Byed (tờ 25) của
Khyentse Wangpo.
(e) sNgon ‘Gro’i dMigs Rim Zab Don bDud rTsi’i Nying Khu (tờ 12) của Khyentse
Wangpo.
(f) sNgon ‘Gro’i Khrid Yig Thar Lam gSal Byed sGron Me (tờ 247) của Adzom
Drukpa, Drudul Pawo Dorje.
(g) Bla rNam La Nye Bar mKho Ba’i Yi Ge Padma Od Du bGrod Pa’i Them sKas (tờ
13) của Dodrupchen, Jigme Tenpe Nyima.
(h) Kun bZang Bla Ma’i Zhal Lung Gi Zin Bris (tờ 205) của Khenpo Ngawang
Palzang ở Tu viện Kathok.
(i) sNgon ‘Gro Kun Las bTus Pa (trang 110) của Yukhok Chatralwa.
(j) sNgon ‘Gro‘i Zin Bris Blo dMan Yid Kyi Mun Sel (tờ 131) của Nubpa Thrinle
Chöphel ở Tsang.
(k) sNgon ‘Gro’i ‘Brul ‘Grel rNam mKhyen Thar Gling bGrod Pa’i Them sKas của
Gonpo Tseten ở Amdo.
(l) sNgon ‘Gro’i rNam bShad mTshungs Med Bla Ma’i Byin rLabs Ch’ar rGyun (104)
của Thekchok Yeshe Dorje ở Bhutan.
(m) lKong Ch’en sNying Thig Gi sNgon ‘Gro’i Ngag ‘Don Gyi ‘Bru ‘Grel Nyung Ngu
Khro Med Bla Ma Ch’ung Ch’ung (tờ 31) của Subhashita (Horlu Lama Legshed) ở
Nyag-rong, Kham.
(n) Klong Ch’en sNying Thig Gi sNgon ‘Gro’i Ngag ‘Don Gyi ‘Bru ‘Grel rNam mKhyen
Lam sGron (tờ 82) của Chokyi Tragpa, Kham.
Về Rigdzin Düpa (Rig ‘Dzin ‘Dus Pa, Hội chúng các Trì minh vương):
(a) Rig ‘Dzin ‘Dus Pa’i Phyag Len mThong gSal Me Long (tờ 5) của Paltrül
Rinpoche.
(b) Rig ‘Dzin ‘Dus Pa’i Zin Bris Rig ‘Dzin Zhal Lung bDe Ch’en dPal sTer (tờ 58) của
Chechok Tontrup Tsal (Kyala Khenpo, Chöchok) ở Tu viện Dodrupchen.
Về Yumka Dechen Gyalmo (Yum Ka bDe Ch’en rGyal Mo, Nữ Hoàng Đại Lạc):
(a) Yum Ka bDe Ch’en rGyal Mo’i sGrub gZhung Gi ‘Grel Ba rGyud Don sNang Ba
(tờ 107) của Raton Ngawang Tendzin Dorje, một đệ tử của Jigme Lingpa.
(b) Yum Ka bDe Ch’en rGyal Mo’i sGrub gZhung Gi Zin Bris bDe Ch’en Lam bZang
gSal Ba’i sGron Me (tờ 22) của Dodrupchen, Jigme Tenpe Nyima.
(c) Yum Ka bDe Ch’en rGyal Mo’i rTsa sNgags Kyi ‘Grel bShad rNam mKhyen
bGrod Pa’i Them sKas (tờ 6) của Jigme Tenpe Nyima.
(d) Yum Ka’i rTsa sGrub Kyi Ch’o Ga’i bsDus ‘Grel (tờ 14) của Lingtul ở Wangda,
Golok, một đệ tử của Alak Do-ngak Gyatso.
(e) Yum Ka’i Zin Bris Kha bsKong Rig ‘Dzin Zhal Lung (tờ 34) của Konchok Donme
(Konme Khenpo) ở Tu viện Dodrupchen.
(f) Yum Ka bDe Ch’en rGyal Mo’i sGrub gZhung Gi Zin Bris rMong Pa’i Mun Sel (tờ
19) của Sangye Özer ở Gyarong, một đệ tử của Kyala Khenpo. 297
(g) Yum Ka bDe Ch’en rGyal Mo’i rTsa Ba’i sGrub Pa bDe Ch’en dPal Phreng Gi
Tshig ‘Grel (tờ 63) của Gonpo Tseten ở Amdo.
Về Palchen Düpa (dPal Ch’en ‘Dus Pa, Hội chúng các Bổn Tôn Vinh quang Vĩ đại):
(a) dPal Ch’en ‘Dus Pa’i Las Byang Gi dGongs Don Chung Zad bShad Pa Zab Don
gSal Byed Rin Ch’en sNang Ba (tờ 103) của Khyentse Özer (Dilgo Khyentse).
(b) dPal Ch’en ‘Dus Pa’i Zin Bris (tờ 4) của Mati (Kyala Khenpo) ở Tu viện
Dodrupchen.
(c) dPal Ch’en Dus Pa’i Ch’o Ga’i dMigs Rim Zhal Lung bDud rTsi’i Thig Pa (tờ 39)
của Garwa Khenpo Özang ở Tu viện Dodrupchen.
(d) dPal ‘Dus sMan sGrub brTags Thabs Mar Me sMon Lam sTong Thun bChas (tờ
6) của Khenpo Pema Badzar ở Tu viện Dzogchen.
(e) sGrub Khog Chung Zad gSal Du Byas Pa Rin Po Ch’ei Za Ma Tog (tờ 14) của
Dodrupchen Jikme Tenpe Nyima.
Về Phurba (Phur Pa, Vajrakila):
(a) Phur Ba bDud dPung Zil gNon Gyi Zin Bris Phur Thogs mGrin Pa’i rGyan (tờ 9)
của Dodrupchen, Jikme Tenpe Gyaltsen [Nyima].
(b) Phur Ba’i Zin Bris bsDus Pa (tờ 4) của Mati (Kyala Khenpo).
Về Thukje Chenpo (Thugs rJe Ch’en Po, Avalokiteshvara):
(a) sDug bsNgal Rang Grol bsNyen Yig Grub gNyis Nor Bu’i Gan mDzod (tờ 15) của
Khenpo Peme Badzar ở Tu viện Dzogchen.
(b) sDug bsNgal Rang Grol bsNyen Yig Rig Pa ‘Dzin Pa’i dGongs rGyan (tờ 12) của
Khenpo Pema Badzar của Tu viện Dzogchen.
(c) sDug bsNgal Rang Grol Gyi sGrub Pa’i Khog dBub Rin Po Che’i Za Ma Tog (tờ
22) Khenpo Ngawang Palzang ở Tu viện Kathok.
Về Takhyung Barwa (rTa Khyung ‘Bar Ba, Guru Rinpoche Phẫn nộ):
(a) rTa Khyung ‘Bar Ba’i bsNyel Tho Rin Ch’en sGon Me (tờ 9) của Dodrupchen,
Jigme Tenpe Nyima.
Về Ladrup Thigle Gyachen (Bla sGrub Thig Le’i rGya Chan, Longchen Rabjam):
(a) Bla sGrub Thig Le’i rGya Chan Gyi bsNyen Yig Grub gNyis Shing rTa (tờ 6) của
Jamyang Khyentse Wangpo.
Về Chod Khadö Ke-gyang (gChod mKha’ ‘Gro’i Gad rGyangs):
(a) mKha’ ‘Gro’i Gad rGyangs Kyi dMigs gNad ‘Dril Ba gSal Byed sNye Ma (tờ 17)
của Dodrupchen, Jigme Thrinle Özer.
(b) gChod Yul mKha’ ‘Gro’i Gad rGyangs Kyi Man Ngag Zab Mo (tờ 9) của Paltrül
Rinpoche.
(c) mKha’ ‘Gro’I Gad rGyang Gi ‘Grel Ba mKa’ ‘Gro’i gSang mDzod bDud rTsi’i Bum
bZang (tờ 31) của Rigdzin Nangdze Dorje, một đệ tử của Zhabkar.
Về Kongshak (sKong bShags, Những Lời Cầu nguyện Tịnh hóa và Đáp ứng):
(a) Skong bShags rDo rJe Thol Glu’i Tshig ‘Grel bDus Pa (tờ 47) của Pema
Kunzang Rangtrol, một đệ tử của Adzom Gyalse Gyurme Dorje.
Về Ngomon (bsNgo sMon, Những Lời Cầu nguyện Hồi hướng và Ước nguyện):
(a) Zangs mDog dPal Ri’i sMon Lam Gyi rNam bShad Phun Tshogs sTong lDan (tờ
28) của Viryadhara.
(b) gZhi Lam ‘Brs Bu’i sMon Lam Gyi ‘Grel Ba (tờ 5) của Khenpo Yönten Gyatso.
Về Thaplam (Thabs Lam), Con Đường Phương tiện Thiện xảo:
(a) Klong Ch’en sNying Gi Thig Le Las Thabs Lam sBas Don Gyi ‘Bru ‘Grel Gab Don
mNgon gSal (tờ 24) của (Trupwang Jigme) Namkha Gyatso.
(b) bDe sTong rLung Gi rDzogs Rim sNyan rGyud Yid bZhin Nor Bu’i Shog Dril (tờ
30) của Namkha Gyatso ?).
(c) Klong Ch’en sNying Gi Thig Le Las Rig ‘Dzin ‘Khrul ‘Khor dPeu Ris (trang 24)
của Namkha Gyatso (?). 298
Về Dzopa Chenpo
(a) Ch’os Kyi rGyal Po Lung rTogs bsTan Pa’i Nyi Ma La sPrul sKu sKu gSum Gling
Pa’i Dris Lan Ka Lhun Zung ‘Jug Gi gDams Pa (tờ 32) của Nyoshul Lungtog.
(b) Ye Shes Bla Ma’i sPyi Don Kun bZang Thugs Kyi Tikka (tờ 271) của Pema
Ledreltsal (Ngawang Palzang) ở Tu viện Kathok.
(c) gNas Lugs rDo rJe’i Tshig rKang Gi ‘Grel Ba (trang 14) của Yukhok Chatralwa.
Các luận giảng về Yon Tan Rinpoche’i mDzod của Jigme Lingpa và những luận
giảng của nó:
(a) rGyal mTsho’i Ch’u Thig (bản ngắn) của Dodrupchen đệ Nhất.
(b) rGyal mTsho’i Ch’u Thig (bản chi tiết) của Dodrupchen đệ Nhất.
(c) gSer Gyi Thur Ma của Tentar Lharampa ở Mông Cổ. LST
(d) Yon Tan Rin Po Ch’e’i mDzod Kyi dKa’ ‘Grel Nyin Byed sNang Ba (tờ 70) (và
những Sa bChad khác nhau) của Paltrül Rinpoche.
(e) Zla Ba’i sGron Me và Nyi Ma’i Od Zer (quyển 1 & 2) của Khenpo Yönten Gyatso
của tu viện Dzogchen.
(f) Yon Tan mDzod Kyi mCh’an ‘Grel của Longchen Rolpa Tsal (Kagyur Rinpoche).
Bản thảo.
Về ‘Don ‘Grigs (các Nghi lễ), dByangs Rol (Âm nhạc) và gTor Ma (Bánh Cúng
dường):
(a) sNying Thig rTsa gSum gSol Kha’i ‘Don ‘Grigs Blo gSar Yid Kyi dGa’ sTon (tờ
53) của Golok Khenpo Tsondrü.
(b) Klong Ch’en sNying Gi Thig Le Las Rig ‘Dzin ‘Jigs Med Gling Pa’i bKa’ gTer Gyi
Ch’o Ga’i rNga Tshig sKal bZang dGa’ bsKyed (tờ 9) của (Dodrupchen) Jigme
Thrinle Özer.
(c) gSang sNgags Kyi Ch’o Ga’i dByangs Rol Dang gTor Ma Sogs Kyi Lo rGyus
Phan Yon mDor bsDus rGyu mTshan Shes Pa’i Gleng gZhi (tờ 5) của Khyentse
Özer [Dilgo Khyentse].
(d) sNying Thig Gi gTor Ma’i bCha’ Yig (tờ 12) của Khyentul [Do Khyentse].
(e) Klong Ch’en sNying Thig Gi gTor Ma’i dPeu Ris (trang 5) của Dilgo Khyentse (?).
Các Bài viết về hay các Bản Dịch của Giáo lý Longchen Nyingthig bằng Anh ngữ:
(a) The Way of Power. A Practical Guide to the Tantric Mysticism of Tibet by John
Blofeld (London: George Allen & Unwin, 1970). Xem chương 2, “The Preliminaries”
(trang 147-168).
(b) English introduction to The Autobiographical Reminiscences of Ngag-dbangdpal-bzang, Late Abbot of Kah-Thog Monastery by Gene Smith (Gangtok: Sonam
T. Kazi, 1969).
(c) The Short Preliminary Practice of Longchen Nyingthig by Kunkhyen Jigme
Lingpa. Restructured by the fourth Dodrupchen Rinpoche (Mahasiddha Nyingmapa
Center).
(d) Tantric Practice in Nyingma by Khetsun Sangpo Rinbochay, tr. and ed. by Jeffrey
Hopkins and Anna Klein (Snow Lion, 1982).
(e) A Wondrous Ocean of Advice for the Practice of Retreatments in Solitude (Ri
Ch’ö Zhal gDams), tr. David Christensen. (London: Rigpa, 1987).
(f) The Wish-Fulfilling Jewel: The Practice of Guru Yoga According to the Longchen
Nyingthig Tradition (p. 108) by Dilgo Khyentse. Tr. By Könchog Tenzin (Boston:
Shambhala Publications, 1988).
(g) The Dzogchen Innermost Essence Preliminary Practice by Jigme Lingpa. Tr. with
commentary by Tulku Thondup (Library of Tibetan Works and Archives, 1989).
(h) Kun-zang La-may Zhal-lung, The Preliminary Practices. Vol. I & II. Tr. By Sonam
T. Kazi. (Diamond-Lotus Publishing, 1989)
(i) EL. See chap. 8, “Entering into the Path (sPyod Yul Lam Khyer).” 299
(j) The Assemblage of Vidyādharas (Rig ‘Dzin ‘Dus Pa) of Longchen Nyingthig, tr.
Tulku Thondup (Dodrupchen Rinpoche, 1991).
(k) The Queen of Great Bliss (Yum-Ka bDe Ch’en rGyal Mo) of Longchen NyingThig, tr. Tulku Thondup (Dodrupchen Rinpoche, 1991).
(l) Tibetan Buddhism: Reason and Revelation, ed. Steven D. Goodman and Ronald
M. Davidson (SUNY, Albany, 1992). See chap. 8, “Rig-‘dzin’Jgs-med gling-pa and
the kLong-Chen sNying-Thig,” pp.133-146.
(m) NTB. See [Life of] Jigme Lingpa, vol. 1, pp. 835-840.
(n) The Words of my Perfect Teacher (Kunzang Lama’i Shelung) by Paltrül
Rinpoche, tr. Padmakara Translation Group (HarperCollins, 1994).
(o) Meeting the Great Bliss Queen by Anne Klein (Boston: Beacon, 1994).
(p) Enlightened Journey: Buddhist Practice as Daily Life by Tulku Thondop, ed.
Harold Talbott (Boston: Shambhala Publications, 1995). See chaps. 10 & 12, “The
Meditation of Ngöndro” and “Receiving the Four Empowerments of Ngöndro
Meditation.”
(q) Dancing moon, Dākinī Talk: The Secret Autobiography of Jigme Lingpa by Janet
Gyatso (forthcoming from Princeton Univ. Press).
(r) Fearless Vision by Stephen D. Goodman (forthcoming from Rangjung Yeshe).
57. KR 126a/1, NGR 35b/3.
58. DP 5b/1.
59. BC 1a/1.
60. Theo LRP 238a/1&243a/3, KKZ 283a/4-285b/3 và những tác phẩm khác,
Manjushrīmitra là Đạo sư Nyingthig chính của Shrīsimha. Nhưng Shrīsimha cũng
nhận Khandro Nyingthig và những giáo lý khác từ Garab Dorje và trực tiếp trao
truyền chúng cho Guru Rinpoche. Vì thế Longchen Nyingthig, là tinh túy của
Nyingthig lúc ban đầu, được Garab Dorje trao truyền cho Shrīsimha cũng như đến
qua dòng truyền thừa của Garab Dorje, Manjushrīmitra, Shrīsimha, và v.v..
61. “Đức Vua” là Vua Trisong Detsen, “các Thần dân” là 24 (hay 25) đệ tử chính của
Guru Rinpoche. “người Hỗ trợ” là Yeshe Tsogyal, phối ngẫu của Guru Rinpoche.
62. sTon ‘Khor dGongs Pa gChig Pa.
63. sTon ‘Khor dGongs Pa dByer Med Tu Gyur Pa.
64. Được tóm tắt từ TDD 235b/4.
65. Tiểu sử này được dựa trên NLC 45a/6 và cũng dựa trên PKD 17a/4, TRL 7a/4, KGT
I 565/20, DKG 4 8b/6, LNG 60a/4.
66. Tôi đã phục hồi các thuật ngữ tiếng Phạn cho nhiều từ Tây Tạng, theo các dịch giả
hiện đại. Tuy nhiên, có thể có một số từ không chính xác, bởi có thể có nhiều thuật
ngữ tiếng Phạn.
67. KBZ 283 a/2: Me Tog gSal (Hoa Chói lọi), có thể là tên của cô trước khi cô xuất gia.
Ngoài ra BND 21a/5 đưa ra Varani (hay Barani), KNR 112/3 Prarani, và SKK I 390/2
Praharani.
68. BND 21a/4, KNR 112/3: Dha he na ta lo, có thể là tên của vua, bởi Uparāja là một
tựa đề. DKG 48b/6: Uparāja hay Dharmāshoka. SKK I 390/2: Dharma Ashoka.
69. SKK I 390/2.
70. Theo BND 21b/2, KBZ 283a/5, KNR 112/11, SKK I 390/3, sư cô có những giấc mơ
kỳ diệu và đi tới một cái hồ để tắm. Ở đó một hóa thân của Vajrapāni (Kim Cương
Thủ) trong thân tướng của một con ngỗng, cùng với bốn con ngỗng khác, hạ xuống
cạnh sư cô và chạm cái mỏ của nó vào tim của sư cô ba lần, và cô nhìn thấy một
chữ HŪM bằng ánh sáng tan vào cô. Khi Garab Dorje sinh ra giữa những điều
huyền diệu, và hộ trì các tantra Đại Viên mãn trong ký ức của ngài, các vị trời và
người đã đánh dấu sự kiện này bằng lời tán thán và sự hỉ lạc. Những nguồn mạch
này không đề cập tới việc mẹ ngài từ bỏ ngài. 300
71. Theo PKD 18a/1, DKG 49b/1, SKK I 390/9, 394/6, LNG 62a/6 và những tác phẩm
khác, Prahevajra đã nhận những trao truyền từ Vajrasattva, và theo LRP 237a/6,
BND 22a/1, và KBZ 283b/6, ngài đã nhận những giáo lý đó từ Vajrapāni. Có một vị
Bồ Tát tên là Vajrapāni, nhưng đây là Đức Phật Vajrapāni (De bZhin gShegs Pa
Phyag Na rDo rJe), là đấng cũng được gọi là Pháp Vương (Suối nguồn) của Tâm
yếu Bí mật (gSang Ba’i bDag Po).
72. Nói chung, Dur Khrod (mộ địa hay bãi hỏa thiêu) là một nơi linh thiêng, chủ yếu là
nơi hỏa thiêu, chôn cất, hay vứt bỏ. Nhưng đó không phải là lý do khiến những bãi
đất đặc biệt này trở nên quan trọng. Mộ địa thì tràn đầy ý nghĩa. Nó là nơi chấm dứt
bản ngã và kết thúc việc bám luyến và tham muốn đối với thân xác và cuộc đời. Đó
là nơi chuyển hóa cái gọi là các hiện tượng tiêu cực như tự nhiên và là nơi buông bỏ
nỗi sợ hãi và ganh ghét. Nếu quý vị đọc NLC, LRP, TRL, và LG viết về lịch sử của
Nyingthig, quý vị sẽ thấy là những nơi này có sức mạnh và năng lực tự nhiên và tâm
linh. Chúng thật khủng khiếp, đầy những tinh linh lang thang và quỷ ma lùng sục,
những tử thi cũ và mới, những con sông máu, những ngọn thác độc hại, và những
dã thú đe dọa tính mạng của ta. Nhưng chúng cũng là những nơi chốn hỉ lạc của sự
cô tịch yên bình, những rừng cây vui tươi, những đóa hoa nở, cây trái ê hề, những
đàn chim ca hót, những con sư tử và cọp thuần tánh, không gian bao la rộng lớn,
cao rộng như ở giữa mặt trời, mặt trăng, và những vì sao, mà không có những hệ
thống hay tiêu chuẩn để được hình thành, thoát khỏi những phóng dật hay những
hạn chế. Đó là nơi các đại dương dāka và dākinī cử hành những “bữa tiệc” trang
trọng. Tiếng rống của những bài Pháp vang động khắp nơi, và ánh sáng tỏa chiếu từ
niềm vui sâu xa của sự hỉ lạc và khoáng đạt. Như vậy, những mộ địa này là những
địa điểm của năng lực, sức mạnh, và tinh thần, cả tích cực lẫn tiêu cực, là nơi cần
thiết để một hành giả khổ hạnh chuyển hóa thành sức mạnh bí mật và năng lực giải
thoát.
73. LRP 238a/1 & 243a/3, KBZ 285b/3.
74. TRL 9b/3, LRP 238a/1.
75. DCS 16b/1 19b/2.
76. Tiểu sử này được dựa trên NLC 52a/4, và cũng dựa trên LNG 62b/5, KBZ 284a/2,
PKD 12a/2, 18b/1, DKG 49b/2, KGT 567/3 và KNR 113/21.
77. KBZ 284a/2, tên của thân phụ ngài: bDe sKyong và tên của thân mẫu ngài: Kuhana,
và ngài gặp Garab Dorje ở Oddiyāna. PKD 12a/2: Tên của thân phụ ngài:
Sādhushastrī. KNR 113/22: tên của thân phụ ngài: dPal lDan sKyong và tên của
thân mẫu ngài: Kuhana, và ngài gặp Garab Dorje tại Oddiyāna.
78. BND 24a/4, KBZ 285a/3.
79. Thật khó hiểu được loại năm này có nghĩa là gì. Có hai vấn đề: (a) Có một truyền
thống tính mỗi sáu tháng là một năm, được dựa trên một “tiến trình” (bGrod Pa,
Phạn: ayana) của mặt trời. Khi mặt trời di chuyển từ phương nam sang phương bắc,
đó là trên tiến trình phương bắc của nó; khi nó di chuyển từ bắc qua nam, đó là trên
tiến trình phương nam của nó. (b) Ngoài ra, nhiều Đạo sư cổ xưa đã đạt được sự
trường thọ và sống nhiều thế kỷ, nhiều vị ở trong thân ánh sáng và thậm chí một số
vị sống trong thân hữu hoại của mình.
80. DCS 19b/2-23b/6.
81. LNG 65a/6.
82. Tiểu sử này được dựa trên NLC 55b/1, và cũng được dựa trên PKD 19a/5, LNG
65b/1, TRL 9b/1, KBZ 285b/1, và KGT 569-I.
83. KBZ 285b/1 và TRL 9b/2: Hastibhala. LNG 65b/1: tên của thành phố là Sho Khyam
và tên của vị Thầy là Haribhala. KNR 117/15: tên thành phố là Zho Sha; tên thân phụ
là Vua Gru Khyer, và tên thân mẫu là Nan Ka.
84. PKD 19b/1, LNG 65b/5, KNR 117/21, TRL 9b/5: Bhelakīrti. NLC 56/5: Bilekiti. 301
85. LRP 238a/1 & 243a/3, KBZ 285b/3.
86. TRL 9b/3, LRP 238a/1, BND 55a/1-66b/4.
87. DCS 23b/6-47a/4.
88. Tiểu sử này được dựa trên NLC 60a/2, và cũng dựa trên PKD 20a/2, LGN 66b/5,
DKG 51a/2, KGT 568/12 và KNR 118/25.
89. KNR 119/1: Tên của thân phụ là Apardajana, và tên của thân mẫu là rGya mTsho
Ma.
90. Một số người nghĩ rằng Li ở Nepal, nhưng hầu hết các học giả cho rằng nó là
Khotan, hiện nay là Xinjiang ở Trung quốc. Tuy nhiên, KNR 162/24 nói nó là ‘Jang
thuộc tỉnh Yunnan (Vân Nam) của Trung quốc.
91. KGT 570/1: Ba Sing.
92. DCS 27b/4-30a/3. (Cũng xem BM 70/14.)
93. Tiểu sử này được dựa trên NLC 60a/1, 68a/6 và cũng dựa trên LGN 66b/4, 68a/2,
107b/6, DKG 52a/1, KNR 119/8, 200/20, KGT 568/11, 570/2, 572/3, và PKD 20a/2,
96b/3.
94. DKG 52a/4. KGT 570/2: ánh sáng hiện ra.
95. LNG 68a/4: sNang Byed. NLC 63/6: Srod Byed.
96. LNG 68b/4: Bhirya. NLC 70b/5: Bi rGyal.
97. PKD 97a/1: Vimalamitra ban các giáo lý Nyingthig Bí mật Thâm sâu cho năm đệ tử:
Vua Trisong Detsen, Thái tử Mu-ne Tsepo, Nyang Tingdzin Zangpo, Kawa Paltsek,
và Chok-ro Lü’i Gyaltsen.
98. Tiểu sử này được dựa trên LNG 46a/6, 78a/6, YM 19, LRP 238b/1, RBP 6b/4-34b/4,
KNR 22b/10-140b/3, 150-178, GRL 10b/2, LG, KGT I-596/18-60223, và những bản
văn khác.
99. YM 81a/4.
100. Những truyền thống Ấn Độ cổ, kể cả Phật giáo, chấp nhận bốn cách sinh ra: tạng
sanh, thấp sanh, noãn sanh, và sanh tinh khiết (hóa sanh), là một cách sanh ra tức
thì, chẳng hạn như sinh từ một hoa sen.
101. Trong lịch sử Phật giáo Mật thừa có nhiều Vua Indrabhūti. Đó có thể là một cái tên
phổ thông đối với hoàng tộc; hay ngoài ra đó là tên của một dòng vương giả. Tuy
nhiên, theo YM 19a/6, ngài là Indrabhūti đệ nhị của Oddiyāna.
102. TRL 18a/2.
103. Bốn Trì minh vương được dựa trên DD 58a/4.
104. Tuy nhiên, theo NG 9a/1 và LY 375/15, Sahor là nơi nào đó gần thành phố
Bangalpur ở các bang Bengal và Bihar của Ấn Độ.
105. NFH II-36 (488): Đó là hang động Haileshi, gần thị trấn Rumjitar ở Quận
Sagarmatha, Nepal.
106. Về mặt thành công thì “trì minh vương còn dư nghiệp” và “trì minh vương kiểm soát
được đời sống” đều ngang nhau. Không nhất thiết phải đạt được mọi cấp độ cái này
sau cái kia. Nếu quý vị là người hạ căn, quý vị sẽ thành tựu cấp độ đầu tiên, và sau
đó đi tới trì minh vương thứ ba. Nếu quý vị là người có căn cơ khá hơn, quý vị có
thể thành tựu cấp độ thứ hai và tiến tới cấp độ thứ ba. Nhưng hãy nhớ rằng Guru
Rinpoche đang ‘hiển lộ” là một người sùng mộ trên con đường này.
107. YM 24a/1, PKG 602/26. KGT I-87/14: “dBang-Po’i sDe” hay “Grags-Pa.” Xem GK
42/3 đối với Grags Pa’i rGyal mTsan.
108. LG 204b/3, LRP 243a/3.
109. Xem LNG 50b/4, NFH II-37 (n. 494), và GP 203/21.
110. Niên đại được dựa trên DPM 96b/2.
111. KD 232/10.
112. WO (Anh ngữ: HTT).
113. TRL 44b/3. 302
114. RBP 17a/4, LNG 84a/2.
115. Niên đại được dựa trên DPM 163b/1.
116. SLD 52a/4.
117. YM 112a/2.
118. GDG 173/8.
119. Tuy nhiên, một vài tiểu sử của Guru Rinpoche mà tôi đã đọc không đề cập tới thời
gian và địa điểm ngài đã hiển lộ sự thành tựu bốn công việc hộ trì trí tuệ, ngoài việc
nói rằng ngài đang hộ trì trí tuệ của sự thành tựu tự nhiên ở Zangdok Palri (RBP
14b/2). Ngoài ra cũng có ghi chép là Dodrupchen viết (DD trang 60a/1) rằng ta có
thể trực tiếp thâm nhập Phật quả sau trạng thái của trì minh vương thứ ba hay thậm
chí sau các thành tựu lúc ban đầu.
120. RT 356/11.
121. Những tiểu sử này được dựa trên RBP 31b/1.
122. Những tiểu sử này được dựa trên KNR 146/2, 165/19 và RBP 15a/4.
123. Các niên đại được dựa trên DPM 18b/5 và DPM 69a/3.
124. Số lượng, tên, và thâm niên của họ được dựa trên DPM 154b/1, KNR 164/5, và
LNG 84a/2.
125. YM 70a/3, 77a/5, PGG 67/14, DPM và RBP 17a/6.
126. Các tiểu sử này được dựa trên RBP 18a/2, LNG 146a/4 và YM 68a/6.
127. Tiểu sử này được dựa trên RBP 23a/3, DKG 54a/1 và LNG 93b/4.
128. LRB 5a/6.
129. Tiểu sử này được dựa trên TT và cũng dựa trên DKG 95a/6 108a/3, LNG 119b/3
138a/2, và TRL 48b/2.
130. Hay Sangphu Nethok. Đó là trung tâm tu học quan trọng nhất trong thời đại của
Longchen Rabjam. Nó được thành lập bởi Ngok Lekpe Sherap, một đệ tử của Đạo
sư vĩ đại Atīsha xứ Ấn Độ vào năm 1073. Ngok Lo Loden Sherap (1059-1109) và
Chapa Chöseng (1109-1169) đã giảng dạy ở đó. Trung tâm này đã sản sinh nhiều trí
tuệ vĩ đại của Tây Tạng.
131. Theo Truptha Dzö, đó là gSer Yig Chan, gYu Yig Chan, Tung Yig Chan, và Zangs
Yig Chan.
132. NLC 13a/5 và DKG 98b/4.
133. NT 69b/2.
134. NTS 57a/3.
135. YS 4a/6.
136. DO 132b/5.
137. LG 136b/6.
138. Dưới đây là tên và miêu tả ngắn gọn các tác phẩm chính của Longchen Rabjam
được Zhechen Rabjam Gyurme Künzang Namgyal đệ Nhị (1713-1769) đưa ra
trong Ngo mTshar gTam Gyi Gling Bu:
A. Dzödün (Bảy Kho tàng) bao gồm bảy bản văn chính:
1. Yizhin Rinpoche Dzö (Kho tàng Như ý) trong hai mươi hai chương. Đó là
một bản tóm lược của toàn bộ lãnh vực Phật giáo, và giảng dạy cách
nghiên cứu, phân tích, và thiền định về Phật giáo Đại thừa. Đi kèm theo là
Pema Karpo, một bình giảng chi tiết, và Zabdön Dorje Nyingpo, một tác
phẩm giảng về cách thực hành nó.
2. Men-ngak Rinpoche Dzö (Kho tàng các Giáo huấn) là một luận thuyết sử
dụng những chuỗi khác nhau gồm sáu thành phần để tóm tắt toàn bộ Kinh
điển và Mật điển Phật giáo, và để giảng dạy tinh túy của con đường và quả
của Dzopa Chenpo.
3. Chöying Rinpoche Dzö (Kho tàng Pháp giới Tối thượng) trong mười ba
chương với Lungki Terdzö, bình giảng của nó. Đó là một trình bày các giáo 303
lý sâu xa và rộng lớn về nền tảng, con đường, và quả của Semde, Longde,
và Mengagde (hay chủ yếu là Longde) của Đại Viên mãn.
4. Truptha Rinpoche Dzö (Kho tàng các Quan điểm Học thuyết) có tám
chương. Đó là một trình bày các quan điểm triết học khác nhau của tất cả
các yāna (thừa) của kinh điển và bốn tantra (Mật điển) của Phật giáo.
5. Thekchok Rinpoche Dzö (Kho tàng Thừa Siêu việt) có hai mươi lăm
chương. Nó làm sáng tỏ ý nghĩa của mười bảy tantra và một trăm mười
chín luận thuyết giảng huấn thuộc giáo khóa Me-ngagde của Đại Viên mãn.
Nó trình bày một phạm vi rộng lớn của Phật pháp, từ cách thế trong đó vị
Thầy tuyệt đối hiển lộ như ba thân Phật cho tới việc đạt được kết quả cuối
cùng thành tựu tự nhiên của con đường Dzopa Chenpo.
6. Tsikton Rinpoche Dzö (Kho tàng Pháp ngữ và Ý nghĩa) có mười một
chương. Đó là một bản tóm tắt của Thekchok Rinpoche Dzö giảng nghĩa
những điểm trọng yếu của việc thực hành. Nó bắt đầu bằng một sự mô tả
nền tảng và kết thúc bằng kết quả, trạng thái giải thoát tối thượng.
7. Neluk Rinpoche Dzö (Kho tàng Bản tánh Tối thượng) có năm chương. Với
bình giảng của nó, nó giải thích ý nghĩa tối thượng của ba phạm trù Đại
Viên mãn.
B. Ngalso Korsum (Ba Giáo khóa về việc Nghỉ ngơi trong Bản tánh Tối thượng)
gồm có mười lăm luận thuyết: ba bản văn gốc, ba bản tóm tắt được gọi là các
tràng hoa, ba bình giảng được gọi là các thừa, và ba giáo huấn về việc thực
hành:
1. Semnyi Ngalso (Nghỉ ngơi trong Bản tánh Tối thượng của Tâm), bản văn
gốc có mười ba chương, giảng nghĩa mọi phương diện của con đường, lúc
bắt đầu, khoảng giữa, và lúc cuối của các giáo lý Kinh điển và Mật điển.
Kèm theo nó là Ngedön Shingta Chenmo, một bình giảng về bản văn gốc,
gồm hai quyển; Künde Trengwa, một bản tóm tắt (đã thất lạc); Pema Karpö
Trengwa, một bản tóm tắt của ba bình giảng; và Changchup Lamzang, một
luận thuyết hướng dẫn việc thực hành.
2. Gyuma Ngalso (Nghỉ ngơi trong Bản tánh Huyễn hóa), có tám chương, là
một giáo huấn về việc cắt đứt những sự trói buộc của sự tham luyến nhờ
phương pháp của tám ví dụ về những xuất hiện huyễn hóa. Đi kèm theo nó
là Mandare Trengwa, một bản tóm tắt, Shingta Zangpo, bình giảng, và
Yizhin Norbu, luận thuyết hướng dẫn việc thực hành.
3. Samten Ngalso ( Nghỉ ngơi trong Thiền định), có ba chương, giải thích con
đường thiền định sâu xa, trí tuệ tự nhiên tự-hiện hữu. Kèm theo nó là
Pundarīke Trengwa, một bản tóm tắt, Shingta Namdak, một bình giảng, và
Nyingpo Chüdü, luận thuyết hướng dẫn việc thực hành. Ngoài ra còn có
Lekshe Gyatso, một đề cương của Ngalso Korsum, và Pema Tongden, một
danh mục nội dung.
C. Các bản văn Rangtröl Korsum (Ba Giáo khóa về sự Giải thoát Tự nhiên) là
“luận giảng ý nghĩa” về giáo huấn Semde, và mỗi bản văn có ba chương giảng
nghĩa nền tảng, con đường, và quả:
1. Semnyi Rangtröl với Lamrim Nyingpo, giáo huấn ý nghĩa.
2. Chönyi Rangtröl với Yizhin Nyingpo, giáo huấn ý nghĩa.
3. Nyam-nyi Rangtröl với Rinchen Nyingpo, giáo huấn ý nghĩa.
D. Yangtig Namsum (Ba Luận thuyết về Tinh túy Sâu xa) bao gồm những điểm
trọng yếu của giáo lý bí mật Me-ngagde, giáo khóa Nyingthig của Dzopa
Chenpo:
1. Lama Yangtig (hay Yangzap Yizhin Norbu) gồm có ba mươi lăm luận giảng.
Nó cô đọng và giải thích các giáo lý bao la gồm bốn quyển sách 304
(Seryigchen, Yu-yigchen, Tung-yigchen, và Zang-yigchen cùng với
Trayigchen) của Vima Nyingthig và một trăm mười chín luận thuyết của các
giáo huấn.
2. Khandro Yangtig gồm có năm mươi lăm luận thuyết. Những giáo lý này do
Longchen Rabjam tiết lộ như những phần bổ túc và luận giảng về Khandro
Nyingthig, được hóa thân đời trước của ngài khám phá.
3. Zabmo Yangtig là một luận giảng chi tiết về Vima Nyingthig và Khandro
Nyingthig.
139. Tiểu sử này được dựa trên LYN, và cũng dựa trên DSC, TCG, NTG, KNR 635/16,
LNG 310b/2, PKD 124b/5, RD 6b/6, RBP 219a/3, NN, và KKR 40b/2.
140. LK 101a/1.
141. LYN 7a/1 và những giáo lý khác xác nhận Khyentse Wangpo, một hóa thân của
Jigme Lingpa, là vị thứ mười ba.
142. KS. Xem KNN.
143. LYN 9a/3.
144. Xem KNR 582/20 đối với tiểu sử của ngài.
145. KNR 638/15. LNG 311a/4: Thang ‘Brog dBon Padma mCh’og Grub.
146. Sao chép Kinh điển, cúng dường, bố thí, nghe giáo lý, ghi nhớ giáo lý, tụng đọc
Kinh điển, giảng Pháp, đọc lời cầu nguyện, và suy nghĩ về ý nghĩa của Pháp và thiền
định về nó.
147. Làm an bình (tức tai), tạo sự thịnh vượng (tăng ích), hàng phục, và kính ái.
148. LYN 42a/4.
149. LYN 44a/6.
150. LYN 45a/2.
151. LYN 46b/1.
152. NYR 68b/5.
153. NYR 69b/2.
154. KZ38b/1, KNR 724/17: ngài cũng được gọi là Trati Ngakchang.
155. KNR 638/2.
156. LYN 209b/2.
157. LYN 82b/5.
158. Một khal là hai mươi tre và một tre là khoảng hai panh (1 panh= 0,58 lít [Anh] và 0,
47 lít [Mỹ].
159. LYN 118b/4.
160. Đó là DKG.
161. LYN 164a/5.
162. GL 21a/1, LYN 168b/5.
163. Theo GNP 93/4.
164. LYN 191b/2, DGN 70b/5, GL 65b/5.
165. KZ 33a/1 & 39a/2, KNR 641/24, 725/7.
166. Niên đại được dựa trên TKT 273/3.
167. Niên đại được dựa trên SB, TKT, và LS. Về tiểu sử Zhapkar (Shabkar), xin đọc LS.
168. LYN 220a/2.
169. KNR 725/1, KZ 38b/1, NPG 9a/5.
170. LYN 240b/6.
171. DB 6b/4.
172. NGR 57b/1.
173. NTG 3b/6.
174. KKR 42b/1.
175. KNR 724/19, KZ 38b/1, LYN 80b/5.
176. KNR 644/8. 305
177. LYN 203a/6.
178. LYN 204a/3, NTG 4a/5, KGT-I, 350/19. Bà làm Hoàng hậu 1790-1798. Chồng bà là
Vua Sawang Zangpo (hay Kun-‘Grub bDe dGa’ bZang Po), trị vì 1768-1790. Nam tử
của bà là Vua Tsewang Dorje Rigdzin (còn được gọi là Byams Pa Kun dGa’ Sangs
rGyas bsTan Pa’i rGyal mTshan).
179. LYN 105a/6
180. LYN 202a/1.
181. LYN 171b/1. Ba viên xá lợi này được giữ trong mặt giây đeo cổ của Dzogchen
Rinpoche đệ tam.
182. Tiểu sử này được dựa trên DGN. Tôi cũng đã dựa trên KNR 644/14 646/23, KZ,
RBP 223a/6-225b/3, PKD 127a/3-127b/5, PJM, DN, CN, PM, DZT, và DB.
183. LK 125b/2.
184. Tsampa là bột lúa mạch nướng, là thực phẩm chính ở Tây Tạng.
185. Những tư tưởng này không có ở trong tự truyện mà được thuật lại.
186. Theo Kyala Khenpo của Tu viện Dodrupchen.
187. RBP 224a/2.
188. LYN 164a-164b.
189. LYN 165b/5-166a/4.
190. GL 29a/5.
191. NTG 3b/6.
192. DD 7b/5: “dGe rTse bSod Nams bsTan ‘Dzin Nam ‘Jigs Med Ngo mTshar.”
193. LYN 191a/3.
194. PM 8a/2.
195. GD 72a/4.
196. DGN 74a/6.
197. DGN 74b/5.
198. DGN 75b/1, chú thích cuối trang trong KNR 641, RBP 224a/6, PJM 11/14.
199. LYN 204a/4.
200. LYN 204a/2, 205a/2, KNR 644/6, GL 93a/4. Sau này, Getse Lama Sönam (Punya)
Tendzin (còn gọi là Jigme Ngotsar) sống ở đây.
201. LYN 222a/6.
202. SB 28b/6, 455a/3: Zhapkar Tsoktruk Rangtröl đã nhận sự trao truyền Longchen
Nyingthig từ Lakha Drupchen.
203. Xem LST 270a/3.
204. DGN 100b/5.
205. LYN 220b/1.
206. SB 28b/6 và TKT 272/12, 19: Lakha Drupchen và Zhapkar Tsoktruk Rangtröl cùng
được Arik Geshe cho thọ giới xuất gia năm 1801.
207. Theo Khenpo Chöyak của Tu viện Shukchung.
208. DZT 5b/5, DB a/12.
209. Hai vị sau cùng được liệt kê trong PM 9a/4.
210. PJM 14b/4.
211. Hướng dẫn vào NGR 12 của E. Gene Smith và NTB, chú thích 1153, quyển 2.
212. CN 7a/2.
213. Ngày nay Tu viện Yarlung đang được xây dựng lại dưới sự hướng dẫn của
Yarlung Tülku Tenpe Nyima, một hóa thân của Dodrupchen Đệ Tam.
214. Dodrupchen kết thúc tự truyện của ngài năm 1813.
215. TTR 149b/6.
216. GL 124a/1.
217. KZ 90a/5.
218. KZ 93b/1. 306
219. KZ 107a/4. Theo RBP ngài mất lúc nửa đêm vào ngày 13.
220. LST 270a/3.
221. KZ 107a/6.
222. SM 1b/2.
223. DZT 5a/5, DB 12a/1.
224. NGR 13b/2.
225. LK 125b/5.
226. MG 15a.
227. NGR 57a/4.
228. LS 558/3: Lo-de cũng được gọi là Chingkarwa Tön-yö Dorje, một vị Thầy và đệ tử
của Zhabkar. Hóa thân của ngài là Trülzhik Künzang Thongtröl của Do-ngak Ling,
hóa thân đời trước của Trülzhik Rinpoche hiện tại, Ngawang Chökyi Lodrö (sinh năm
1924), hiện an trụ tại Nepal.
229. GN 44b/2.
230. TL 3a/3.
231. Hóa thân của Sherap Mebar (xem DZT 17b/3) là Do Rinpoche Tri-me Trakpa, mà
hóa thân là Do Rinpoche Zilnön Gyepa Dorje (1890-1939), nam tử của Rikpe Raltri,
con trai của Do Khyentse.
232. Tiểu sử này chủ yếu dựa trên GL và cũng dựa trên NGR, DNK và DGN.
233. GL 9a/1, 113b/1, KNR 889/17, 900/2.
234. NGR 61a/3, GL 63b/1. NGR nói rằng sự kiện này xảy ra ở Tsāri, nhưng GL nói nó
xảy ra trong ẩn thất Ogyen Ling.
235. GL 65a/1.
236. NGR 62a/2.
237. ON.
238. Đó là KBZ.
239. Không có tiểu sử viết tay để dựa vào. Hầu hết lịch sử truyền khẩu được dựa trên
những điều nghe được từ Kyala Khenpo, nếu không thì đã được biểu thị.
240. GL 112b/4.
241. GL 138b/1.
242. Tiểu sử này được dựa trên TTR 145a/5-156a/3, DL 98-112, PDK 209b/2-210a/4,
KNR 819, RB 208-213 và những truyền thống khẩu truyền chủ yếu từ Kyala Khenpo.
243. Tiểu sử này được dựa trên KZ, và cũng dựa trên SNG, BDL, DGN, và GL.
244. LNY 176a/5.
245. Tôi đã nghe nói về sự kiện này từ Kyala Khenpo, người đã nhìn thấy các dấu tích.
246. Tôi nghe hai câu chuyện này từ Kyala Khenpo.
247. Tôi thường có một mẩu roi da này.
248. KZ 194b/3, TTR 1167a/4.
249. PKD 127b/4 và một vài truyền thống khẩu truyền.
250. DZT 5a/5, DB 12a/1.
251. Tôi không thể tìm thấy tiểu sử nào của Kenchen Pema Dorje.
252. Tiểu sử này được dựa trên DZT và DB.
253. NGR 15b/1.
254. Tiểu sử này được dựa trên DN và PJM. Bởi không có nhiều tài liệu viết về cuộc đời
của ngài nên để có một vài thông tin, tôi đã chủ yếu dựa trên truyền thống khẩu
truyền.
255. GL 167b/4.
256. KZ 137b/4.
257. Zas là hiện tượng huyền bí nhưng rất phổ thông ở Tây Tạng và cả ở Golok. Hiện
tượng này có vẻ giống hiện tượng “đĩa bay” ở Tây phương. Không có báo cáo về
nguồn gốc của họ, nhưng họ được miêu tả là những chúng sinh huyền bí có ánh 307
sáng chói ngời. Người Tây Tạng tin rằng Zas là một trong vô số loài chúng sinh
trong vũ trụ. Trong số họ có cả những bậc linh thánh lẫn những kẻ có hại..
258. Tiểu sử này được dựa trên NUG, JKT, RBP 185a/4-195a/1, LNG 320b/1-328b/1,
và PKD 248a/2-260b/4.
259. DB 6b/4.
260. WJ 92/22.
261. Theo DNK, ngài mất năm bảy mươi hai tuổi, và theo NRG thì ngài ở trong rừng Ari
vào những năm 1850 và mất vào năm trước năm Dần. Ở thời điểm nào đó sau khi
Lungtok mất, Ngawang Palzang hai mươi chín tuổi vào năm 1907, vì thế niên đại
của Lungtok hẳn phải là 1830-1901.
262. Tiểu sử này được dựa trên NGR 12a/4 và cũng dựa trên DNK.
263. Tiểu sử này được dựa trên DB và cũng dựa trên NGR.
264. Tiểu sử này được dựa trên DNK 4.18-4.22 và NGR 98b/6-99b/4.
265. Tiểu sử này được dựa trên những tài liệu khẩu truyền từ Kyala Khenpo, Khenpo
Chöyak, và những vị khác.
266. Pramānavārttika, Vinayasūtra, Abhidharmakosha, Abhisamayālamkāra, và
Madyamakāvatāra.
267. EL 114/28.
268. Tường thuật này do các học trò của ngài chuẩn bị và cho thấy họ nhớ sự kiện gì.
269. Tiểu sử này được dựa trên những tường thuật khẩu truyền của Kyala Khenpo và
trên DN, DJN 11-18, và ZL.
270. Sarma có nghĩa là Tân Tantra hay những môn đồ của giáo lý Tân Mật thừa.
Nyingma theo Cựu Tantra, và tất cả những trường phái khác của Tây tạng là những
môn đồ của Tân Tantra.
271. PK 242b/2.
272. NYG 152b/6.
273. GRT 9a/4.
274. Janet Gyatso, Trong Tấm Gương Ký ức (Albany: SUNY,1992). Để có một cuộc
thảo luận về một vài vấn đề trong bản văn này, xem trang 173-213.
275. Kindness, Clarity, and Insight (Thiện tâm, Quang minh, và Nội quán) của Đức Đạt
Lai Lạt Ma thứ Mười bốn. (Snow Lion 1984). Để có một luận giảng dựa trên quyển
này và những bản văn khác của Dodrupchen, xem “Union of the Old and New
Translation School” (sự Hợp nhất của Trường phái Cựu và Tân Dịch thuật) trang
200-224.
276. Về bản dịch và bình giảng, xem HTT.
277. Để có một bản dịch, xem EL (trang 117-129); để có các bình giảng, xem
Transforming Problems into Happiness (Chuyển hóa các Vấn đề thành Hạnh phúc)
của Lama Thubten Zöpa Rinpoche (Boston: Wisdom, 1993) và Healing Power of
Mind (Năng lực Chữa lành của Tâm) của Tulku Thondup (sắp xuất bản).
278. Mặc dù niên đại bản văn của ngài dựa trên “ký ức” thì muộn hơn tác phẩm Đề
cương của Guhyagarbha, bản văn dựa trên ký ức được viết sớm hơn.
279. Tiểu sử này được dựa trên NB.
280. Theo BD IV 528-530, bà sinh năm 1841 (Kim Ngưu) và mất năm 1940, và theo CY
130/2, bà sinh năm “Mộc Ngưu, 1852” (nhưng Mộc Ngưu là 1865, không phải 1852,
là năm Thủy Tí). Theo LS 571, niên đại của bà là 1852-1953. Theo Lời Nói đầu cho
NB, bà sinh năm 1853 (Thủy Ngưu) hoặc 1865 (Mộc Ngưu). Tuy nhiên, chính bà kể
lại (NB 11a/4) rằng bà được hoài thai năm Thủy Tí (1852) nhưng sau đó nói rõ (NB
11b/3) rằng bà sinh năm Mộc Ngưu (1865), và theo Cham Wangmola ở Viện
Lukhang, một đệ tử thân thiết của Jestsun, bà mất vào cuối năm Thủy Thìn (1953).
281. NB 38b/2. Khi Pema Gyatso bốn mươi chín tuổi thì Jetsun mười ba tuổi.
282. NB 46b/4 308
283. NB 43a/3.
284. NB 106a/5, vào ngày mười bảy tháng hai năm Kim Dần.
285. Tiểu sử này được dựa trên DL 125-128.
286. Niên đại này được dựa trên MC. Tuy nhiên, theo DB 40b/6, ngài sinh năm 1862, và
theo NTB II-86/48 và LS XXV/40, niên đại của ngài là 1870-1940.
287. Tiểu sử này được dựa trên MC.
288. Tiểu sử này được dựa trên DK 1-35, các truyền thống khẩu truyền, và những bằng
chứng có tính cách cá nhân. Xem BM 140-144.
289. Tiểu sử này được dựa trên NGR.
290. NGR 58a/5.
291. Tiểu sử này được dựa trên những cuộc phỏng vấn các đệ tử của Alak Zenkar đệ
nhất do Zenkar Rinpoche đệ nhị sắp xếp với đầy thiện tâm.
292. Tiểu sử này được dựa trên GRT 9a/3, NYG, CD, và RB 238-257.
293. Mặc dù GRT 9a/3 nói năm Thổ Thân, NYG 51a/5 nói là năm Kim Thân, 28.
294. Mặc dù GRT 10a/3 và NYG 52b/4 nói Thủy Ngưu, NYG 52a/4 cũng đưa ra tuổi ba
mươi ba, vì thế, hẳn phải là năm Mộc Ngưu, bởi nó phù hợp với thời gian.
295. Tiểu sử này được dựa trên BD IV 703-712 và NO 129-141.
296. Theo các nguồn khác, 10 và 14.
297. Tiểu sử này được dựa trên những nguồn khẩu truyền và những sự kiện được tác
giả chứng kiến.
298. SMM 552/7.
299. Tiểu sử này được dựa trên DN, những nguồn khẩu truyền, và những sự kiện được
tác giả chứng kiến.
300. Một số người tin rằng Jamyang Zhepa đệ ngũ là một hóa thân của Dodrupchen.
301. Ngài là một trong hai tülku duy nhất trong toàn bộ miền Golok mà những vị có thẩm
quyền đã xác nhận năm 1993. Người còn lại tülku của Shangza (tülku của thân mẫu
ngài Je Tsongkhapa) tại Arik Ragya Gön, một tu viện Gelukpa.
302. Tiểu sử này được dựa trên DJN 48-64, DN, SCG, những nguồn khẩu truyền, và
những sự kiện do tác giả chứng kiến.
303. Xem chú thích 257.
304. Một con vật lai giống giữa một con bò đực và một con dri (bò yak cái).
305. bDag Ni Byang Ch’ub Mi Phyed Pa…
306. NYG 51b/3.
307. Khó có thể xác quyết được ý nghĩa thực sự của những dòng này là gì, nhưng
chúng có thể được biểu thị: Dòng đầu tiên – nói về việc các lực lượng cách mạng
đến tu viện từ phương nam. Dòng thứ hai – nói về việc xây dựng hai con đường mới
chạy về hướng Lhasa: một dọc theo cao nguyên phía bắc của miền Đông Tây Tạng,
và con đường kia chạy dọc hẻm núi phía nam của nó. Dòng thứ ba – nói về những
giọng điệu thay đổi của sự tuyên truyền chính trị. Mười dòng cuối cùng – nói về việc
Dodrupchen cư trú ở Sikkim, Ấn Độ.
Nói chung, “mặc y phục-không trung” có nghĩa là hoặc mặc y phục màu xanh
dương hoặc trần trụi. Ở đây thuật ngữ có thể ám chỉ Drukpa (người Bhutan). Druk
có nghĩa là “rồng,” trong truyền thống Đông phương là một sinh vật huyền bí sống
giữa những đám mây trong không trung và vì thế “mặc y phục-không trung,” và
Rinpoche có hàng trăm đệ tử người Bhutan tại tu viện của ngài ở Sikkim.
308. ZL 2a/3 và những nguồn khác.
309. Hơn một ngàn năm trước, Guru Rinpoche đã tiên đoán các nguy hiểm mà người
Tây Tạng phải đối mặt trong những thập kỷ gần đây và khuyên họ đào thoát tới
những nơi nào đó, “những xứ sở ẩn dấu.” Sikkim (Dremo Jong, Thung lũng Gạo) là
một trong những địa điểm chính yếu mà ngài nói rõ trong những tiên tri đó. 309
310. Kyabje Düdjom Rinpoche (1903-1987) từ Kongpo tới Sikkim và ban nhiều giáo lý.
Kyabje Trülzhik Pawo ở Minyak đến từ Kongpo, sống nhiều năm và mất tại Sikkim
năm 1960. Vì thế nó có thể ám chỉ một trong hai ngài.
311. Các Dodrupchen là những hóa thân của Thái tử Murum Tsepo và Sangye Lingpa.
312. Từ một bản thảo chép tay của Tak-rong Gyurme Trakpa (?-1975).
313. NYG 181a/3.
314. Tên của những vị Thầy và đệ tử của các ngài trong cây truyền thừa theo một dòng
phù hợp với thời đại của các ngài. Tuy nhiên, đối với nhiều vị tôi chỉ có thể đoán tuổi
của các ngài.
315. Các dấu hoa thị sau các tên biểu thị rằng vị Thầy là một người nhận lãnh và thậm
chí có thể là người trao truyền giáo lý Longchen Nyingthig, nhưng Longchen
Nyingthig có thể không là thực hành hay giáo lý chính của Đạo sư đó.
316. KNR 725/7, KZ 33a/1, 39a/2.
317. LYN 80b/5, 91a/3, KNR 726/18.
318. Ngài đã viết một bình giảng về Yumka Dechen Gyalmo năm 1801.
319. LYN 173b/5, 204a/6.
320. LYN 126b/1, DGN 68a/6, SB 223a/3.
321. KNR 724/19, KZ 38b/1.
322. SB 10b/3, 411a/6.
323. KZ 81b/6.
324. DGN 65b/4, DL 70/6, KNR 801/21.
325. Ngài là vị Thầy gốc của Zhabkar Tsoktruk Rangtröl (1781-1851).
326. PKD 219b/1, KNR 919/18.
327. KZ 34b/3.
328. PKD 214b/2, KZ 34b/3, KNR 921/7.
329. CG 169b/4. Ngài là vị Thầy gốc của Kham-nyön Dharma Senge (Ra-gang Chöpa,
?-1890).
330. DZT 17b/3, DB 37b/5.
331. Theo DB 6b/4.
332. Ngài là một trong những vị Thầy gốc của Kyabje Düdjom Jigdral Yeshe Dorje
(1904-1987) và của Kanjur Rinpoche Longchen Yeshe Dorje (1888-1975).
333. Ngài là một trong những vị Thầy gốc của Kyabje Düdjom Jigdral Yeshe Dorje
(1904-1987).
334. Ngài là vị Thầy gốc của Lạt ma Gönpo Tseten (?-1991) ở Labrang, Amdo.
335. Ngài là vị Thầy gốc của Giáo sư Namkhai Norbu (sinh năm 1938) ở Dege/Italy.
336. Ngài là một đệ tử của Alak Pema Rangtrol và là Thầy gốc của Shuksep Jetsun
(1865-1953).
337. Một trong những trao truyền Kanjur của Kyabje Düdjom Rinpoche đến từ Trakkar
qua Tülku Ngetön Gyatso (?-1959) ở Tungkar, Thung lũng Ser.
338. Ngài là vị Thầy gốc của Tertrül Chi-me Rigdzin (sinh năm 1922) ở Khordong.
339. Ngài là một vị Thầy chính của Tarthang Choktrül Thupten Chökyi Dawa (1894-
1959) và một vị Thầy của Khenpo Ngawang Palzang.
340. Các vị Thầy chính của ngài là Kathok Situ đệ nhị (1880-1925) và Pema Norbu đệ
nhị (1887-1932).
341. Vị Thầy gốc của ngài là Zhechen Gyalsap Gyurme Pema Namgyal đệ tam (1871-
1926).
342. Ngài là vị Thầy gốc của Nyoshül Lama Jamyang Dorje (sinh năm 1926).
343. Vị Thầy gốc của ngài là Choktrül Thupten Chökyi Dawa (1894-1959) của Tu viện
Tarthang.
344. Vị Thầy gốc của ngài là Kongtrül Pema Trime Lodrö (1901-1959?) của Tu viện
Zhechen.

của Kagye, và Kagyü Ngagdzö. Từ Namtrül Drodül Karkyi Dorje của Tu viện
Gyarong, Rinpoche nhận những quán đảnh và trao truyền văn bản của Rinchen
Terdzö, Kagye Deshek Düpa, Lama Gongdü, sáu quyển của Jatsön, Terchö của
Namchö, Terchö của Nyima Trakpa, chín quyển của Jigme Lingpa. Ngài cũng
nghiên cứu thi ca và Guhyagarbha-tantra với Khenpo Thup-nyen của Tu viện
Dzogchen.
Khi trở về Rinpoche ban quán đảnh Khandro Nyingthig cho Khyentse Chökyi
Lodrö306 và nhiều trao truyền cho các vị Thầy của ngài.
Trong số những vị Thầy mà từ họ ngài đã nhận những giáo huấn uyên áo có
Khenpo Könchok Drönme, Khenpo Kang-nam, Khenpo Chöchok, Tülku Dorchok, và
Khenpo Thup-nyen. Ngài đã nhận những trao truyền theo dòng truyền thừa của
những giáo lý khác nhau của Dzogchen Rinpoche đệ ngũ, Gekong Khenpo,
Khyentse Chökyi Lodrö, Zhechen Kongtul, và Gyarong Namtrül. Ngài đã nhận
những giáo huấn sâu xa và giáo huấn đối với sự chứng ngộ Dzogpa Chenpo từ
Apang Tertön và Yukhok Chatralwa.
Ngài đã ban những quán đảnh và lung của mười ba quyển của bộ Lama
Gongdü, và mười ba bản văn của Kama cho một ngàn tới hai ngàn tu sĩ tại Tu viện
Dodrupchen. Một hôm, trong khi ngài đang phân phát nước được gia hộ từ một cái
bình, nước đã cạn mà không có ai chờ đợi để rót đầy lại bình nước, như thường
được làm. Cáu tiết, ngài lắc cái bình một lát và sau đó tiếp tục phân phát nước gia
hộ cho những người còn lại của hội chúng, mặc dù không ai rót đầy cái bình.
Với khả năng biết trước tình hình chuyển biến, ngài đã xây dựng một ngôi chùa
lớn, đẹp nhưng chắc chắn, bằng gạch với một mái ngói, mà khi ấy là một loại kiến
trúc mới ở Golok và nói rằng: “Nó có thể ích lợi nếu dân chúng phải từ bỏ tu viện
trong một vài năm.”
Rinpoche đã đặt làm những những bản khắc gỗ của Dzödün gồm bảy quyển
của Longchen Rabjam. Chẳng bao lâu hầu như Golok tràn ngập những bản sao
Dzodün. Ngài xây dựng một pho tượng lớn của Guru Rinpoche và những tượng của
các vị Thầy của các dòng truyền thừa Vima Nyingthig, Khandro Nyingthig, và
Longchen Nyingthig. Những pho tượng được làm bằng đồng đỏ mạ vàng. Ngài đã
thâu thập một thư viện lớn, trong đó ngoài nhiều pho Kinh điển và Mật điển còn có
những ấn bản mới của Kanjur, Tenjur, Kama, và Rinchen Terdzö. Rinpoche cũng
chuẩn bị một số tặng vật cho các buổi lễ và việc nghiên cứu cho Dodrupchen và
những tu viện khác.
Theo lời khẩn cầu của những người sùng mộ ngài đã viếng thăm những khu vực
khác nhau của Golok, Serta, Amdo, Rekong, Gyarong, và Minyak, ở đó ngài ban
những lễ nhập môn và những giáo huấn cho hàng chục ngàn người.
Trong mùa hạ của năm Hỏa Thân (1956), ngài ban quán đảnh Rinchen Terdzö
tại Tu viện Dodrupchen. Ngài cũng truyền riêng những giáo huấn về thiền định Đại
Viên mãn cho nhiều người hữu duyên, theo truyền thống Nyongtri.
Chẳng bao lâu, bởi những nguy hiểm của sự chuyển biến tình hình chính trị ở
Tây Tạng, Rinpoche quyết định rời khỏi xứ sở thân yêu của ngài. Nhiều thập kỷ
trước, Dodrupchen đệ tam đã khảo sát những giấc mơ của ngài về những nguy
hiểm chính trị trong tương lai. Một đêm ngài mơ thấy có người mang một thông điệp
được viết trên một viên đá phiến, nói rằng: “Khyentse Wangpo gởi thư cho ngài.”
Trên viên đá ngài thấy những dòng chữ dưới đây: 267
Con sông lớn sẽ chảy từ mạnh mẽ [có nghĩa là miền tây hay màu đỏ] sang yên
bình [có nghĩa là miền đông hay màu trắng].
Hai con côn trùng sẽ di chuyển xuyên qua cả miền trên lẫn miền dưới.
Bởi nhịp điệu phù hợp [của những hòa âm] của sáo,
Xứ sở Lạnh lẽo [Tây Tạng] sẽ bị chìm sâu trong bóng tối.
Vào lúc đó, khi đỉnh cao nhất [Lạt ma]
Nghe nói rằng ngài nên đi về phương bắc trong mười, mười,
Mười sáu, và bốn,
Ngài sẽ trở nên hoảng sợ và sẽ đi tới Xứ Cao quý [Ấn Độ].
Trong một nơi dễ chịu, giữa một rừng rậm,
Trong khi an trụ trong một thiền định an bình, trước mặt ngài,
Nhiều người mặc y phục-không trung307 sẽ tụ hội
[Và] sẽ đi vào con đường Đại thừa.
Con đường tuyệt hảo sâu xa và bao la sẽ chói ngời như ánh nắng ban ngày.308
Rinpoche bí mật tổ chức một nhóm mười ba người ra đi, chia họ thành ba nhóm
nhỏ. Năm người chúng tôi – vị thầy trợ giáo Kyala Khenpo của tôi, mẹ của
Rinpoche, Thupten Jorgye và Rigdzin Phüntsok (hai người cháu của Rinpoche), và
tôi – đi Lhasa trước, như ngài đã khuyên chúng tôi vào ngày mồng một tháng mười
hai năm Hỏa Thân (1957). Lama Sangye, chú của Rinpoche và Sönam, cháu của
ngài, được dự tính ở lại phía sau và đến như nhóm cuối cùng. Nhưng bản thân
Rinpoche, cùng với một thị giả trẻ của Rinpoche tên là Jamyang, hai người cháu
của Rinpoche tên là Dechen Dorje và Künden, và mẹ của những người cháu, dự
tính ra đi trong nhóm thứ hai.
Trong khi Rinpoche đang thăm viếng Tu viện Panchen trong Thung lũng Mar,
cách Tu viện Dodrupchen hai ngày đường theo hướng bắc, một đêm ngài và những
người trong đoàn của ngài bí mật bỏ trốn, cải trang làm những cư sĩ hành hương.
Mang theo rất ít tiền và đeo vật dụng cá nhân trên lưng, họ đi bộ mười ngày cho
tới khi đến thị trấn Kardze. Đây là kinh nghiệm đầu tiên cho Rinpoche và những
người đồng hành của ngài, không chỉ về việc du hành bằng chân mà còn về việc
mang những chiếc túi trên lưng khiến họ kiệt sức và đau nhức. Trong hầu hết cuộc
hành trình, ban ngày họ lẩn trốn trong những hang động, trong rừng hay những
ngọn đồi và vượt qua những ngọn núi cao và thung lũng sâu vào ban đêm. Tại
Katdze, họ thật may mắn bởi có thể bị tống vào một chiếc xe vận tải Trung quốc đi
tới Lhasa.
Theo dự định lúc ban đầu, nhóm chúng tôi có nhiệm vụ chờ Rinpoche ở Drak
Yangdzong, nơi Guru Rinpoche và nhiều hiền giả đã thiền định trong quá khứ, và
cách Lhasa hai ngày đường theo hướng nam. Nhưng Rinpoche đã đi lâu hơn là
chúng tôi nghĩ, và vào ngày mồng hai tháng hai năm Hỏa Dậu (1957), Kyala Khenpo
mất do tuổi già và sự gian khổ của chuyến đi. Lo rằng Rinpoche và đoàn của ngài
không thể trốn thoát, chúng tôi bắt đầu quay lại Lhasa, và thật may mắn, chúng tôi
ngẫu nhiên gặp Rinpoche và những người đồng hành của ngài ở giữa đường, và tất
cả chúng tôi cùng tiến về Lhasa. 268
Ở Lhasa, Rinpoche có nhiều người sùng mộ quý phái và bình thường lâu năm,
nhưng ngài quyết định không tiếp xúc với bất kỳ ai trong số đó. Tuy nhiên, ngài đã
gặp Zhechen Kongtrül Rinpoche (1901-1959?), một trong những vị Thầy của ngài,
và Dilgo Khyentse Rinpoche (1910-1991). Kongtrül Rinpoche khuyên ngài đi
Kongpo bởi đó là một nơi dễ chịu và thuận lợi hơn Lhasa. Rinpoche đáp lại bằng sự
im lặng.
Chính bởi bản tánh của Rinpoche mà ngài hầu như không nói trước những dự
tính của ngài, trừ phi cần thiết. Vì thế khi chúng tôi đi Golok, chúng tôi nghĩ là mình
đang đi Lhasa. Nhưng sau khi thực hiện những lễ cúng dường đơn giản cho các
thánh địa ở Lhasa, ngài nói: “Chúng ta đi Zhigatse,” một thị trấn ở miền Tây Tây
Tạng. Sau khi trải qua vài ngày ở Zhigatse, ngài nói: “Bây giờ chúng ta đi Ấn Độ.”
Nhưng tại biên giới, bởi chúng tôi không có tiền để khẳng định mình là các thương
nhân, chúng tôi không thể xin một giấy thông hành của nhà cầm quyền để đi Ấn Độ.
Cho dù chúng tôi có thể tránh những người lính canh phòng biên giới, Ấn Độ sẽ
không để cho chúng tôi vào bởi vào thời gian đó không có sự thừa nhận tình trạng tị
nạn cho người Tây Tạng. Sau khi chờ đợi nhiều tháng, Rinpoche nhận một lá thư từ
Hoàng tử Palden Thöndrup Namgyal (người về sau trở thành Chögyal) của Sikkim,
chỉ thị những người canh giữ biên giới cho ngài vào Sikkim, một bang ở biên giới Ấn
Độ và Tây Tạng, sau này thuộc về Ấn Độ.
Năm ba mươi mốt tuổi, vào ngày mười chín tháng tám năm Hỏa Dậu (12 tháng
Mười, 1957). Rinpoche tới Gangtok, thủ phủ của Sikkim. Một lần nữa, ngài được tô
điểm bằng những chiếc y của một Lạt ma với sự xác nhận là Dodrupchen. Từ khi đó
trở đi, ngài coi Sikkim, xứ sở được Guru Rinpoche gia hộ là một trong những “xứ sở
ẩn dấu,”309 là trụ xứ thường trực của ngài. Việc ngài đến Sikkim không chỉ là một
việc tình cờ, mà là một sứ mệnh phải được hoàn thành. Apang Tertön Ogyen
Thrinle Lingpa (mất năm 1945), một trong những vị Thầy của Rinpoche, đã tiên tri
điều này nhiều thập niên trước và nói rằng:
Một yogī ẩn dấu từ thung lũng Kongpo310
Sẽ đến Thung lũng Gạo [Sikkim] khi những biến chuyển xảy ra.
Và một hóa thân của [Thái tử] Murum Tsepo và Sangye Lingpa311
Sẽ hiển lộ những hoạt động bí mật của một yogī Mật thừa.
Những người nhìn thấy, nghe, nghĩ tưởng về ngài, hay tiếp xúc với ngài sẽ
được giải thoát khỏi những cõi thấp.312
Năm 1958, tại Sikkim và Darjeeling, Rinpoche cử hành một số buổi lễ tại Sikkim
và Darjeeling cho vị Thầy Khyentse Chökyi Lodrö của ngài đang bị bệnh. Trong buổi
lễ “phụng tống các dākinī,” Khyentse Rinpoche có một linh kiến
313 về các Lạt ma
trong đó có Jigme Lingpa trong một không gian bao la trong trẻo. Trong số các ngài
cũng có một Lạt ma vô danh với khuôn mặt tròn và râu cằm ngắn, có mái tóc dài
phủ quanh đầu.
Năm ba mươi ba tuổi, vào mùa đông năm 1959, Rinpoche đi hành hương những
thánh địa chính yếu ở Ấn Độ và Nepal. Năm 1959 và 1960 là hai năm khó khăn
nhất, không phải chỉ vì ngài là một người tị nạn trong một đất nước có nền văn hóa
và ngôn ngữ dị biệt, mà cũng bởi Khyentse Chökyi Lodrö đệ nhất, một trong những
vị Thầy gốc của Rinpoche, đã thị tịch ở Sikkim vào mùa xuân năm 1959, và sau đó 269
Trülzhik Pawo Dorje của Minyak, một Lạt ma khổ hạnh khác và là bạn thân của
Rinpoche qua đời ở Sikkim năm 1960. Định mệnh của toàn thể xứ Tây Tạng và của
những người Tây Tạng bị kẹt lại trong quê hương đang bốc cháy của họ đã không
được biết tới. Rinpoche viết:
Toàn thể thế giới đang chuyển biến trước mắt chúng ta như một trò ảo thuật.
Những hiện hữu không đáng tin cậy như bong bóng nước.
Những tu viện, người thân yêu, và họ hàng thân thích –
Tất cả chỉ còn là ký ức.
Mặc dù ta không thể nhìn thấy họ, định mệnh của họ thật hiển nhiên.
Nghĩ tới điều đó, ta đau buồn.
Ta sẽ hết sức nỗ lực trong việc tìm kiếm tinh túy của Giáo Pháp.
Những bậc Thầy linh thánh và bạn bè tốt lành
Vừa mới hiện diện ở đây nhưng, giống như sự tụ hội trong một phiên chợ,
Đã biến mất, và ta thấy mình trơ trọi, bị bỏ lại.
Nghĩ tới điều này, ta đau buồn..
Đặt những khái niệm hạnh phúc và đau buồn trong Pháp giới rỗng rang, và
Tung lên không trung những việc vụn vặt của thế gian như long não,
Ta ghì chặt con đường nhanh chóng linh thánh vô song,
Là tâm yếu của các dāka và dākinī, và
Huyết mạch trọng yếu của Pháp thân, là cái không có điểm quy chiếu hay nền
tảng.
Namgyal Institute of Tibetology – Viện Namgyal về khoa Tây Tạng học (sau này
được đặt lại tên là Sikkim Research Institute of Tibetology – Viện Nghiên cứu Sikkim
về khoa Tây Tạng học), một học viện nghiên cứu về Tây Tạng, được mở cửa gần
Gangtok do những nỗ lực chung của chính phủ Ấn Độ và Sikkim. Từ tháng Tư năm
1960, Rinpoche đã giữ chức vụ đại diện phái Nyingma tại học viện này.
Ngài lập gia đình với vị phối ngẫu Khandro Pema Dechen thuộc gia đình Dekyi
Khangsar xứ Drukla trong Thung lũng Kongpo. Từ năm mười sáu tuổi, Khandro đã
thiền định nhiều năm trong các hang động và túp lều tại nhiều ẩn thất và núi non linh
thiêng, thường với rất ít chất bổ dưỡng. Bổ túc cho nhiều thực hành khác, bà đã tích
tập mười ba bộ thực hành ngöndro – mỗi bộ gồm năm trăm ngàn các thực hành
chuẩn bị.
Bởi các hoạt động của chư vị Bồ Tát luôn luôn mở rộng và mang lại lợi lạc cho
chúng sinh và Giáo Pháp, không suy nghĩ về những giới hạn và khó khăn của cuộc
sống của riêng ngài như một người tị nạn mới, Rinpoche vẫn sử dụng mọi sự ngài
có thể sắp xếp để hỗ trợ cho những đề án thuộc về Pháp. Ngài đặt làm những bản
khắc kẽm để in lại Longchen Dzödün, gồm bảy quyển, của Longchen Rabjam. Sau
nhiều năm việc in ấn đã hoàn tất với sự phụng sự tận tụy của Lama Sangye, một
trong những thị giả tận tâm của Rinpoche, mặc dù sức khỏe kém và cái nóng mùa
hè lên tới 100 độ Fahrenheit ở Vārānasī. Rinpoche cũng đặt những bản khắc gỗ
được chạm khắc để in nhiều bản văn nghi lễ của Longchen Nyingthig. Kết quả là
những bản văn này, là những gì được coi là rất hiếm có ở hải ngoại, đã có thể tìm 270
thấy dễ dàng, và điều đó giúp cho những giáo lý đó được truyền bá trong cả Đông
và Tây bán cầu. Từ giữa thập niên 1960 việc in ấn các bản văn Tây Tạng đã dễ
dàng và thậm chí thuận lợi, nhưng vào những năm đầu của thập niên 1960, việc in
ấn gặp những khó khăn và phí tổn to lớn mà không có giá trị thương mại.
Sau khi Dzödün được in ra, ngài đã hiến tặng những bản khắc cho vị vua Bhutan
quá cố, bởi quốc gia này từng là một trong những trụ xứ của ngài Longchen
Rabjam, và cho tới nay đã có một số lượng đáng kể người Bhutan theo truyền thống
Nyingthig. Ngài hy vọng rằng sẽ có thêm những ấn bản được in ra từ các bản khắc
dưới sự bảo trợ của chính phủ hoàng gia Bhutan.
Từ lần xuất bản đầu tiên của Dzödün, ngài đã xuất bản nhiều bản văn nữa, trong
đó có một ấn bản thứ hai của Dzödün gồm bảy cuốn, Ngalso Korsum ba cuốn,
Sungbum của Jigme Lingpa chín cuốn, Sungbum của Dodrupchen đệ Tam năm
cuốn, nhiều bài cầu nguyện và các bản văn là một phần giáo trình của Chöten
Gompa.
Năm 1972, Rinpoche xác nhận Jigme Losal Wangpo, Dzogchen Rinpoche đệ
thất, (sinh năm 1964) là Dzogchen Rinpoche đệ ngũ – Lạt ma đã xác nhận bản thân
Rinpoche. Lễ tôn phong của Dzogchen Rinpoche đệ thất đã được tổ chức tại ngôi
chùa của hoàng gia tại Gangtok ngày 8 tháng Mười, 1972, và Rinpoche hành lễ ở
đó.
Năm bốn mươi bảy tuổi, vào mùa hè năm 1973, Rinpoche viếng thăm bờ biển
miền Tây và Đông Hoa Kỳ. Ngài ban giáo lý và thiết lập một Trung tâm Giáo Pháp
tên là Mahasiddha Nyingma Center (Trung tâm Đại thành tựu giả Nyingma) ở
Massachusetts. Vài năm sau, trung tâm xây dựng một ngôi chùa với một bảo tháp
và vài phòng thiền định trên một mảnh đất nhỏ ở South Hawley ở miền tây
Massachusetts. Trung tâm này vẫn còn nhỏ và đơn sơ. Rinpoche luôn luôn khuyên
các thành viên: “Chúng ta nên hết sức tránh sử dụng Giáo Pháp hay trung tâm Giáo
Pháp để có được những quyền lực tầm thường, những tham vọng đầy xúc cảm,
hay những danh hiệu vô dụng. Mục đích của chúng ta là không phải là làm cho
trung tâm trở thành một tổ chức nổi tiếng, mà làm cho nó trở thành một trụ xứ đơn
sơ, an bình và tự nhiên. Chỉ khi đó trung tâm mới có thể trở thành một nguồn mạch
mang lại lợi ích chân thực cho tâm thức của mọi người, bất kỳ ai được liên kết với
nó.”
Từ năm 1973, hai năm một lần, Rinpoche viếng thăm Mahasiddha Center (Trung
tâm Đại Thành tựu giả) và Buddhayana ở Hoa Kỳ để dạy Pháp, và ngài đã truyền
nhiều giáo lý, trong đó có Nyingthig Yabzhi, Longchen Nyingthig, và những giáo lý
ngöndro, Rigdzin Düpa, Yumka, và Dzopa Chenpo. Ngài cũng viếng thăm một số
nước Âu châu và Nam Á nhiều lần để truyền dạy và ban những quán đảnh.
Theo như tôi biết, Rinpoche đã trao truyền quán đảnh, văn bản, và các giáo lý
chính yếu Longchen Nyingthig bảy lần, quán đảnh và lung của Ninghthig Yabzhi
mười hai lần, quán đảnh và lung của Nyingma Kama ba lần, quán đảnh Lama
Gongdü hai lần, quán đảnh sáu quyển sách của Jatsön ba lần, và quán đảnh
Rinchen Terzdö ba lần. Ngài cũng ban những trao truyền văn bản của Dzodün và
những tác phẩm của Dodrupchen Rinpoche đệ tam nhiều lần.
Rinpoche là một trong những Đạo sư vĩ đại của thiền định Dzopa Chenpo, và
ngài giảng dạy nó cho nhiều đệ tử trong truyền thống Nyongtri, giáo lý phù hợp với
kinh nghiệm của cá nhân các thiền giả. Truyền thống Nyongtri đến với ngài chủ yếu 271
từ vị Thầy Yukhok Chatralwa của ngài, nhưng lúc ban đầu nó xuất phát từ Longchen
Rabjam và Jigme Lingpa qua dòng truyền thừa của Dodrupchen đệ nhất, Paltrül
Rinpoche, và Dodrupchen đệ tam.
Từ năm 1960, Rinpoche thường sống ở Chöten Gompa gần Gangtok tại Sikkim.
Vào ngày 31 tháng Năm, 1979, Rinpoche đã mở một drupdra, một trường thiền
định, tại Chöten Gompa, và đặt tên cho nó là Drubde Pema Öling. Các tu sĩ ở đó
luân phiên thực hiện việc tu tập thiền định ba năm ba tháng trong những ẩn thất
nghiêm nhặt. Chẳng bao lâu ngài bắt đầu thâu nhận nhiều học viên thường trú tại
Chöten Gompa. Hiện nay ngài có khoảng năm trăm tu sĩ và sa di thường trú tại
gompa. Hầu hết họ là những thanh thiếu niên từ Bhutan, Sikkim, và Nepal, hay con
trai của những di dân Tây Tạng. Một mình Rinpoche trông nom việc ăn uống, nơi ăn
ở, việc giáo dục, và chăm sóc y tế cho họ. Nhiều học viên đã hoàn tất sự giáo dục
của họ và được gởi trở về quê hương của họ để truyền bá Giáo Pháp.
Trong nhiều năm, Rinpoche thường xuyên thăm viếng Bhutan để phụng sự Giáo
Pháp và những môn đồ ở nhiều nơi, trong đó có Yongla Gon. Dòng Nyingthig có
một mối liên hệ lâu đời với Bhutan, bởi Longchen Rabjam đã sống và truyền bá
Giáo Pháp ở đó trong một thời gian dài. Longchen Rabjam đã xây dựng Tu viện
Tharpa Ling ở miền Đông Bhutan. Cùng với Kyipa, vị phối ngẫu người Bhutan, ngài
có con trai là Tülku Trakpa Özer. Ngoài ra, một trong những đệ tử chính của Jigme
Lingpa là Jigme Küntröl xứ Bhutan, người đã xây Tu viện Yongla Gon ở miền Đông
Bhutan.
Bắt đầu từ năm 1984, Rinpoche đã nhiều lần viếng thăm Golok, thung lũng quê
hương của ngài, và đã ban những quán đảnh Longchen Nyingthig, Nyingthig
Yabzhi, và nhiều sự trao truyền và giáo lý khác tại Tu viện Dodrupchen đã được xây
dựng lại. Ngài cũng mở lại học viện Kinh điển tại Tu viện Dodrupchen. Mùa hè năm
1994, trong chuyến trở về Tu viện Dodrupchen lần thứ sáu, ngài đã ban những quán
đảnh Rinchen Terdzö. Dân chúng chỉ được thông báo trong vài tuần về các trao
truyền Rinchen Terdzö, nhưng trên bảy ngàn tăng và ni, trong đó có khoảng ba trăm
tülku và các khenpo, từ Golok, Serta, Amdo, Gyarong, Minyak, và những vùng khác
đã tụ họp để nhận sự trao truyền.
Rinpoche luôn luôn tham gia vào những hoạt động trầm lặng có thể là đơn giản
trong bản chất hay có ý nghĩa lớn lao. Ngài luôn luôn dâng hiến đời mình cho một
chu kỳ phụng sự vô tận. Mục đích mọi nỗ lực của ngài là phụng sự người khác, gây
một tác động, làm cho Pháp có thể chấp nhận được, mà không có bất kỳ hy vọng
riêng tư hay quan tâm tới tiếng tăm hay sự vinh quang nào. Ngài nhắc lại: “Tôi đang
làm mọi sự trong khả năng của mình để phụng sự Giáo Pháp và chúng sinh. Tôi xin
lỗi nếu có người nào đó trông chờ tôi làm những điều vì những sự vụn vặt hay mê
hoặc, nhưng tôi không quan tâm tới điều đó.” Tuy nhiên ngài luôn luôn nhận thức về
nhu cầu và những quan tâm của người khác mà không để ý tới địa vị cao hay thấp
của họ, và ngài hỗ trợ họ bằng lòng tốt phù hợp với nhu cầu và ước nguyện của họ
và không bận tâm tới những lợi lạc của riêng ngài.
Ngài không bị phấn khích bởi những thuận cảnh mà cũng không thất vọng bởi
nghịch cảnh, bởi ngài chấp nhận tất cả với sự thanh thản, ngài nói: “Cuộc đời ngắn
ngủi và quý báu đến nỗi không thể lãng phí trong việc lo nghĩ về những chuyện tầm
phào.” Ngài thận trọng không can thiệp vào mọi đầu mối của sự bất hòa, tranh cãi,
và những vấn đề chính trị thế tục hay tôn giáo để bảo vệ sự nguyên vẹn và thuần 272
khiết của truyền thống Giáo Pháp. Mặc dù có nhiều cơ hội để làm thế, ngài không
bao giờ hành động để cải thiện địa vị của riêng ngài mà chỉ làm việc cho sự lợi lạc
của mọi người và phụng sự Giáo Pháp. Ngài duy trì sự liêm chính trong việc không
thỏa mãn những hy vọng và ước muốn của người khác khi chúng không thực sự
mang lại lợi ích cho họ, mà luôn luôn cho họ những gì họ cần, cho dù đó không phải
là điều họ nghĩ là họ cần trong lúc này. Ngài sợ nhất là những người xu nịnh. Ngài
nói: “Tôi cảm thấy vô cùng xấu hổ trước những người đến với tôi và nói những điều
đẹp đẽ nhất trong khi suy nghĩ những điều trái ngược.” Ngài là người khoan dung
nhất, không bao giờ chê trách người khác về những ác hạnh hay sự vô ơn của họ.
Ngài nói: “Mọi sự xảy ra do nghiệp. Ta hay họ có thể làm được điều gì khác ngoại
trừ cố gắng cải thiện nghiệp?” Ngài rất thận trọng trong từng giai đoạn của công việc
nhưng sau đó buông bỏ mọi sự thành công hay thất bại của những đề án của ngài.
Phẩm tính gây ấn tượng sâu sắc nhất của Rinpoche là: điều quan trọng không nằm
ở chỗ trông ngài ra sao, ngài nói những gì, hay thậm chí ngài làm điều gì, mà điều
quan trọng là ngài là gì. Ngài là một người mạnh mẽ và đáng tin cậy mà sự hiện
diện thì vô cùng đơn giản, sâu xa nhất và thật vô hạn. Tuy thế ngài không muốn bất
kỳ ai trở nên dính mắc hay lệ thuộc vào ngài. Và ngài không áp đặt uy quyền của
ngài lên những người khác, bởi ngài rất bình thường và khiêm tốn – một sự phô
diễn tự nhiên của chân tánh.
Trong hai Dodrupchen Rinpoche đệ tứ, Thupten Thrinle Palzang Rinpoche
không bao giờ nói về những nguy hiểm sắp tới. Nhưng ngài biết rõ và thình lình ra
đi và đào thoát tới Ấn Độ. Ngài dâng hiến đời mình không chỉ để bảo tồn truyền
thống mà còn để truyền bá truyền thống siêu việt nhất của Longchen Nyingthig tại
Ấn Độ và ngoại quốc. Từ khoảng năm 1950, Rigdzin Tenpe Gyaltsen Rinpoche đã
luôn luôn cảnh báo chúng tôi: “Sẽ tới ngày chúng ta không được quyền có ngay cả
một tách trà để thưởng thức. Nếu các ông có thể, hãy dâng hiến đời mình cho việc
tu tập Giáo Pháp, và sử dụng của cải của mình cho một nguyên nhân xứng đáng. Ít
nhất hãy vui hưởng cuộc đời và của cải của các ông khi các ông có sự tự do.” Ngài
cũng thường kể cho chúng tôi về những con đường đào thoát xuyên qua xứ-khôngngười ở miền bắc, nhưng bản thân ngài thì không bao giờ muốn ra đi. Số phận của
ngài là vào tù và chết với những người đang sống trong cảnh đau khổ khủng khiếp.
Cả hai vị Rinpoche đều biết rõ hoàn cảnh và có sự chọn lựa của riêng mình; những
mục đích bảo tồn và giúp đỡ người khác của hai ngài thì như nhau, nhưng vai trò
mà các ngài phải phô diễn thì khác biệt. 273
Cây Truyền thừa
Dòng truyền thừa Nyingthig xuất phát từ Đức Phật nguyên thủy và xuống tới Jigme
Lingpa (1730-1798), nhà sáng lập của truyền thống, qua dòng truyền thừa sau đây:
1. Samantabhadra (Phổ Hiền), Pháp thân.
2. Vajrasattva (Kim Cương Tát Đỏa), Báo thân.
3. Prahevajra (Garab Dorje), Hóa Thân, Đạo sư Đại Viên mãn đầu
tiên trong loài người.
4. Manjushrīmitra.
5. Shrīsimha.
6. Jnānasūtra.
7. Vimalamitra nhận những trao truyền Nyingthig từ Shrīsimha và
Jnānasūtra.
8. Guru Rinpoche, Padmasambhava (Liên Hoa Sanh), nhận
những trao truyền Nyingthig từ Shrīsimha và Manjushrīmitra và
đã cất dấu giáo lý Longchen Nyingthig, tinh túy của giáo lý
Nyingthig, như terma. Vua Trisong Detsen (790-858), một trong
những hóa thân đời trước của Jigme Lingpa, nhận giáo lý
Nyingthig từ Vimalamitra và giáo lý Longchen Nyingthig từ Guru
Rinpoche.
9. Künkyen Longchen Rabjam (1308-1363) nhận những trao
truyền Nyingthig từ Guru Rinpoche khi ngài là công chúa
Pemasal. Ngài cũng nhận những trao truyền Nyingthig từ
Rigdzin Kumārādza và Shö Gyalse.
10. Rigdzin Jigme Lingpa (1730-1798) đã khám phá Longchen
Nyingthig như một terma tâm và truyền bá giáo lý này cho các
đệ tử của ngài. Vì thế ngài trở thành nhà sáng lập của dòng
Longchen Nyingthig. Jigme Lingpa là hóa thân của nhà vua đã
nhận những trao truyền Nyingthig từ Guru Rinpoche và
Vimalamitra. Jigme Lingpa cũng là một hóa thân của
Vimalamitra và đã nhận sự trao truyền từ Longchen Rabjam
trong linh kiến thanh tịnh.
Sau Jigme Lingpa, dòng Longchen Nyingthig được truyền bá qua những nhánh
khác nhau của các dòng truyền thừa. Dưới đây là một bảng liệt kê những Đạo sư
chính yếu của những giai đoạn khác nhau của dòng Longchen Nyingthig với tên của
các đệ tử chính, những vị này cũng là các hành giả và/hay những vị hộ trì của dòng
Longchen Nyingthig, từ chính Jigme Lingpa cho tới các vị Thầy hiện tại.
Tại nhiều vị trí trong dòng truyền thừa, quý vị sẽ nhận ra rằng một Đạo sư là
Thầy của người nào đó đồng thời lại là đệ tử của người này. Đó là bởi một Đạo sư
có thể nhận một trao truyền hay gia hộ hiếm có từ những suối nguồn khác nhau, kể
cả từ chính đệ tử của mình. Các Đạo sư cũng có thể trao đổi giáo lý để nhận những
trao truyền qua những dòng truyền thừa khác nhau. Ngoài ra, để tu tập các giáo lý,
các Đạo sư có thể nhận một sự trao truyền nhiều lần từ cũng những Đạo sư ấy hay 274
từ những vị khác. Việc nhận đi nhận lại những trao truyền không chỉ là sự khởi đầu
của một tu tập mà cũng chính là sự thực hành.
GIAI ĐOẠN ĐẦU TIÊN
Rigdzin Jigme Lingpa (cũng được gọi là Khyentse Özer, Khyentse Lha, và Pema
Wangchen, 1730-1798), người phát hiện các giáo lý Longchen Nyingthig như một
terma tâm. Trong số các đệ tử chính của ngài có:314
1. Thekchen Lingpa Drotön Tharchin (1700-1776)*315
2. Trati Ngachang Thrinle Dorje (Kong-nyön, Bepe Naljor)
3. Thangdrokpa Pema Rigdzin Wangpo*
4. Chakzampa Tendzin Yeshe Lhundrup Đệ Thất ở Chuwori*
5. Dodrupchen Đệ Nhất Jigme Thrinle Özer (1745-1821)
6. Chöje Trakphukpa ở Latö*
7. Lopön Jigme Küntröl ở Bhutan
8. Gyalyum Dölkar316 của Dewa Pushü, phối ngẫu của Jigme
Lingpa
9. Thukse ở Lhotrak*
10. Sungtrül ở Lhotrak*
11. Potong Rigdzin Thrinle Lhündrup Đệ Ngũ ở Jortse*317
12. Jigme Gyalwe Nyuku (1765-1843) ở Dzachukha
13. Jigme Ngotsar (Getse Lama, Sönam Tendzin) ở Dzachukha
14. Ratön Ngawang Tendzin Dorje*318
15. Jetsün Jnānatārādīpam (Yeshe Chödron)
16. Lhading Jetsun ở Gyang-ru, Tsang
17. Longchen Rolpa Tsal (Tendzin Sherap, 1768-1817)* ở Nakshö
18. Ngawang Palden Chökyong,* Trichen của Sakya
19. Ngawang Kün-ga Phende,* anh của Sakya Trichen
20. Gomchen, Ngawang Chötrak
21. Getse Gyurme Tsewang Choktrup (1764-?)* ở Tu viện
Kathok319
22. Phüntsok Palbar* và Tashi Tsering Palbar* ở Depa Lha
Gyatri320
23. Depa Pushü
24. Vua Dega Zangpo* (1768-1790) ở Dege
25. Hoàng hậu Tsewang Lhamo ở Dege
26. Drikung Chetsang Tendzin Pema Gyaltsen (1770-1826),* con
trai của Trati Ngakchang321
27. Rabjam Rigdzin Paljor Đệ Tam (1770-1809)* ở Tu viện
Zhechen
28. Nyima Takpa Jigme Tenpede Đệ Tam (1772-1817)*
29. Tsele Götsang Tülku Jigme Tenpe Gyaltsen* ở Kongpo
30. Göntse Tülku* ở Mön Tsona
31. Özer Thaye, cháu của Jigme Lingpa
32. Rigdzin Chenpo* ở Tu viện Dorje Trak 275
33. Chakzampa Khyenrap Thutop Đệ Bát ở Chuwori*
34. Tsogyal Tülku* ở Palri
35. Drikung Chungsang Gyalse Nyinche Özer (Chökyi Gyatsen,
1793-?),* con trai của Jigme Lingpa
GIAI ĐOẠN THỨ HAI
1. Dodrupchen Jigme Thrinle Özer (Changchup Dorje, Künzang Zhenphen,
Sönam Chöden, và Drubwang Dzogchenpa,322 1745-1821), vị “hộ trì Giáo lý
chính yếu” (rTsa Ba’i Ch’os bDag) của Longchen Nyingthig. Trong số các đệ
tử của ngài có:
1. Dola Jigme Kalzang (Kyewu Yeshe Dorje)
2. Arik Geshe Champa Gelek Gyaltsen (1727-1803)* ở Ragya
3. Ponlop Pema Sangak Tendzin Đệ Nhị (1731-1805)* ở Tu viện
Dzogchen
4. Namtul Namkha Tsewang Choktrup Đệ Nhất
323 (Jigme Mikyö
Dorje, 1744-?)* ở Gyarong Gon
5. Dzogchen Ngeton Tendzin Zangpo Đệ Tam324 (1759-1792)*
6. Chögyal Ngawang Dargye (1759-1807),* một vị vua Mông Cổ
trong miền Thanh Hồ
325
7. Sokpo Ngawang Tentar (Tentar Lharampa 1759-?),* một học
giả phái Geluk xứ Alaksha, Mông Cổ
8. Gyaltsap Pema Sang-ngak Tendzin Đệ Nhất (1760-?) ở Tu viện
Zhechen326
9. Getse Gyurme Tsewang Choktrup (1764-?)* ở Tu viện Kathok
10. Situ Chökyi Lodrö Đệ Nhất* ở Tu viện Kathok327
11. Jigme Gyalwe Nyuku (1765-1843) ở Tu viện Dzachukha
12. Palchen Namkha Jigme (1769-1833) ở Changlung (đã sáng lập
Khyunglung Gonpa ở Rekong, nơi đã có lúc có tới 1.900
tantrika)
13. Rabjam Rigdzin Paljor Đệ Tam (1770-1809)* ở Tu viện
Zhechen328
14. Namke Nyingpo ở Lhotrak
15. Chöying Topden Dorje (1786-1848) của Tu viện Rekong, người
sáng lập Tu viện Göde (Kohudeh)
16. Khyunglung Repa Tamtsik Dorje ở Dzomo’i Ne xứ Golok
17. Nhiếp chính-Hoàng hậu Gajeza, Tsewang Lhamo xứ Dege
18. Vua Tsewang Dorje Rigdzin (1786-1847)*xứ Dege
19. Chakla Khenchen Gyalse Pema Thekchok (?-1849)*
20. Vua Tsewang Lhundrup (?-1825)* ở Tsakho
21. Dzogchen Mingyur Namkhe Dorje Đệ Tứ (1793-?)
22. Do Khyentse Yeshe Dorje (1800-1866)
23. Dākinī Losal Dölma (1802-1861), chị của Do Khyentse
24. Gyalse Zhenphen Thaye (1800-?) ở Tu viện Dzogchen 276
25. Pönlop Namkha Chökyi Gyatso Đệ Tam (1806-1821) ở Tu viện
Dzogchen
26. Thukchok Dorje ở Tu viện Kyilung, Golok
27. Tertön Dechen Dorje ở Rekong
28. Drubwang Jigme Namkha Gyaltsen (sáng lập tu viện Gön
Lakha của Rekong, có lúc có tới 1.900 tantrika)
29. Drubwang Thatral Dorje (cũng gọi là Gön Lakha) ở Rekong,
Đạo sư của Pema Gyatso, Đạo sư gốc của Shuksep Jetsun
30. Pema Thutop Dorje ở Rekong
31. Alak Pema Rangtröl
32. Ngadak Yeshe Gyatso329
2. Dza Trama Lama, Jigme Gyalwe Nyuku (1765-1843), một trong những Đạo
sư Longchen Nyingthig vĩ đại nhất. Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Dzogchen Migyur Namkhe Dorje Đệ Tứ (1793-?)
2. Gyalse Zhenphen Thaye (1800-?)
3. Paltrül Ogyen Jigme Chökyi Wangpo (1808-1887)
4. Jamyang Khyentse Wangpo (1820-1892)
5. Khamtrül Chökyi Nyima thuộc dòng Drukpa Kagyü
6. Dodrupchen Đệ Nhị Jigme Phüntsok Jungne (1824-1863/4)
7. Mura Tülku Pema Dechen Zangpo ở Tu viện Dzachukha
8. Khenchen Pema Dorje ở Tu viện Dzogchen
GIAI ĐOẠN THỨ BA
1. Dola Jigme Kalzang (Kyewu Yeshe Dorje và Chökyi Lodrö). Trong số các đệ
tử của ngài có:
1. Dza Trama Lama Jigme Gyalwe Nyuku (1765-1843)
2. Dzogchen Mingyur Namkhe Dorje Đệ Tứ (1793-?)
3. Gyalse Zhenphen Thaye (1800-?) ở Tu viện Dzogchen
4. Paltrül Ogyen Jigme Chökyi Wangpo (1808-1887)
5. Sokpo Chun Wang Tashi Jung-ne (?-1841),* con trai của Vua
Ngawang Dargye
2. Dzogchen Mingyur Namkhe Dorje Đệ Tứ (1793-?). Trong số các đệ tử của
ngài có:
1. Jigme Gyalwe Nyuku (1765-1843)
2. Do Khyentse Yeshe Dorje (1800-1866)
3. Gyalse Zhenphen Thaye (1800-?) ở Tu viện Dzogchen
4. Paltrül Ogyen Jigme Chökyi Wangpo (1808-1887)
5. Khenchen Sengtruk Pema Tashi ở Tu viện Dzogchen
6. Khenchen Pema Dorje ở Tu viện Dzogchen
7. Nyakla Pema Düdül (1816-1872), người đắc thân cầu vồng 277
8. Jamyang Khyentse Wangpo (1820-1892)
9. Nyoshul Lama Lungtok Tenpe Nyima (1829-1901)
10. Adzom Drukpa Drodül Pawo Dorje (1842-1934)
11. Kunzang Dechen Dorje, tülku của Jigme Gyalwe Nyuku
12. Dodrupchen Đệ Tam Jigme Tenpe Nyima (1865-1926)
13. Do Rinpoche Tri-me Trakpa Đệ Nhất, một tülku của Sherap
Mebar (con trai của Do Khyentse)330
3. Do Khyentse Yeshe Dorje (1800-1866), tülku về tâm331 của Jigme Lingpa.
Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Dākinī Losal Dölma (1802-1861), chị của Do Khyentse
2. Paltrül Ogyen Jigme Chökyi Wangpo (1808-1887)
3. Khenchen Pema Dorje ở Tu viện Dzogchen
4. Nyakla Pema Düdül (1816-1872)
5. Vua Tsewang Lhündrup ở Phüntsok Dzong, Gyarong
6. Vua Namkha Lhündrup ở Trokyab, Gyarong
7. Dorje Palzang ở Alo, Trokyab
8. Dodrupchen Đệ Nhị Jigme Phüntsok Jung-ne (1824-1863/4)
9. Sherap Mebar (1829-1842), con trai của Do Khyentse và một
tülku của Dodrupchen
10. Dechen Rikpe Raltri (1830-1874), con trai của Do Khyentse
11. Do Rinpoche Tri-me Trakpa Đệ Nhất, tülku của Sherap Mebar
12. Jinpa Zangpo, Đạo sư của Sönam Namgyal (1874-1953) của
Yilhung, người đắc thân cầu vồng
4. Gyalse Zhenphen Thaye (Rikpe Dorje, 1800-?) ở Tu viện Dzogchen. Trong
số các đệ tử của ngài có:
1. Dzogchen Rinpoche Minguyr Namkhe Dorje Đệ Tứ (1793-?)
2. Paltrül Ogyen Jigme Chökyi Wangpo (1808-1887)
3. Khenpo Pema Dorje ở Tu viện Dzogchen
4. Jamyang Khyentse Wangpo (1820-1892)
5. Lingtrül Thupten Gyaltsen ở Tu viện Dzogchen
5. Paltrül Rinpoche Ogyen Jigme Chökyi Wangpo (1808-1887), tülku về ngữ của
Jigme Lingpa. Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Khenpo Pema Dorje ở Tu viện Dzogchen
2. Nyoshül Lama Lungtok Tenpe Nyima (?-1902?)
3. Gemang Önpo Tendzin Norbu (Tenli/Ten-ga) ở Tu viện
Dzachukha
4. Situ Chökyi Lodrö* Đệ Nhất ở Tu viện Kathok
5. Alak Do-ngak Gyatso (Gyawa Do-ngak)
6. Adzom Drukpa Drodül Dorje (1842-1934)
7. Thupten Gelek Gyatso (1844-1904) của Bamda, Dzika 278
8. Ju Mipham Namgyal (1846-1912)*
9. Künzang Dechen Dorje, tülku của Gyalwe Nyuku
10. Khenpo Könchok Özer ở Tu viện Dzogchen
11. Khenpo Künzang Sönam (Künsö) của Minyak
12. Do Rinpoche Tri-me Trakpa Đệ Nhất, tülku của Sherap Mebar
13. Tertön Lerap Lingpa (Sögyal, 1856-1926)* ở Nyakrong
14. Dodrupchen Đệ Tam Jigme Tenpe Nyima (1865-1926)
15. Lushül Khenpo Könchok Drönme (1859-1936) ở Tu viện
Dodrupchen
16. Dzogchen Thupten Chökyi Dorje Đệ Ngũ (1872-1935)
17. Khenpo Künzang Palden (1872-1943) ở Gekong, Dzachukha
6. Khenpo Pema Dorje (Pema Dorje và Pema Tamchö Özer) ở Tu viện
Dzogchen. Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Jamyang Khyentse Wangpo (1820-1892)
2. Dechen Rikpe Raltri, con trai của Do Khyentse
3. Ju Mipham Namgyal (1846-1912)*
4. Dodrupchen Đệ Tam Jigme Tenpe Nyima (1856-1926)
5. Gyaltsap Gyurme Pema Namgyal Đệ Tam (1871-1926)* ở Tu
viện Zhechen
6. Dzogchen Thupten Chökyi Dorje Đệ Ngũ (1872-1935)
7. Jamyang Khyentse Wangpo (1820-1892), tülku về thân của Jigme Lingpa.
Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Tertön Chogyur Lingpa (1829-1870)* ở Nangchen
2. Adzom Drukpa Drodül Rawo Dorje (1842-1924)
3. Ju Mipham Namgyal (1846-1912)*
4. Tertön Lerap Lingpa (Sögyal, 1856-1926)* ở Nyakrong
5. Jetrung Champa Jungne (1856-1922)* ở Kham Riwoche
332
6. Tertön Rang-rik Dorje* ở Nyak-rong
7. Dodrupchen Đệ Tam Jigme Tenpe Nyima (1865-1926)
8. Amye Khenpo Tamchö Özer ở Tu viện Dodrupchen
9. Gyaltsap Gyurme Pema Namgyal Đệ Tam (1871-1926)* ở
Zhechen
10. Dzogchen Thupten Chökyi Dorje Đệ Ngũ (1872-1935)
11. Khenpo Künzang Palden (1872-1943) ở Gekong
12. Situ Chökyi Gyatso Đệ Nhị (1880-1925)* ở Tu viện Kathok
13. Khenpo Lhagyal (Abu Lhagong, ?-1953) ở Tu viện Dzogchen
14. Gyurme Ngeton Wangpo* ở Dza Phukhung333
GIAI ĐOẠN THỨ TƯ
1. Gemang Önpo Tendzin Norbu (Tanli/Tenga) của Gemang, cháu của Gyalse
Zhenphen Thaye (1800-?). Trong số các đệ tử của ngài có: 279
1. Khenpo Yönten Gyatso (Yon-ga) ở Gemang, cháu của Gyalse
Zhenphen Thaye
2. Khenpo Könchok Drönme (Könme, 1859-1936) ở Tu viện
Dodrupchen
3. Gyakong Khenpo Zhenphen Chökyi Nangwa (1871-1927) ở Tu
viện Dzogchen
4. Khenpo Kunzang Palden (Künpal, 1872-1943) ở Gekong
5. Khenpo Lhagyal (Abu Lhagong, ?-1953?) ở Tu viện Dzogchen
6. Bathul Khenpo, Thupten Chötrak (Thupga) ở ẩn thất Changma,
Dzachukha
2. Nyoshül Lama Lungtok Tenpe Nyima (1829-1901). Trong số các đệ tử của
ngài có:
1. Ju Mipham Namgyal (1846-1912)*
2. Tharse Pönlop Loter Wangpo (1847-1914)* ở Tu viện Ngor
3. Tertön Rang-rik Dorje* ở Nyak-rong
4. Tertön Lerap Lingpa (Sögyal, 1856-1926)* ở Nyakrong
5. Tertön Thutop Lingpa
6. Khenpo Ngawang Palzang (Ngachung, 1879-1941) ở Tu viện
Kathok
7. Khenpo Gyaltsen Özer
3. Adzom Drukpa Drodül Pawo Dorje (Natsok Rangtröl, 1842-1924). Trong số
các đệ tử của ngài có:
1. Togden Shākyashrī (1853-1919)
2. Tertön Lerap Lingpa (Sögyal, 1856-1926)* ở Nyakrong
3. Dzogchen Rinpoche Thupten Chökyi Dorje Đệ Ngũ (1872-1935)
4. Khenpo Kunzang Palden (Künpal, 1872-1943) ở Gekong
5. Yukhok Chatralwa Chöying Rangtröl (1872-1951/2)
6. Khenpo Ngawang Palzang (1879-1941) ở Tu viện Kathok
7. Situ Chökyi Gyatso Đệ Nhị (1880-1925)* ở Tu viện Kathok
8. Zenkar Pema Ngödrup Rölwe Dorje Đệ Nhất (1881-1943)
9. Pema Norbu Künzang Tendzin Đệ Nhị (1887-1932) ở Tu viện
Palyül
10. Do Rinpoche Zilnön Gyepa Dorje Đệ Nhị (1890-1939)
11. Paltrül Kunzang Zhenphen Özer ở Tsö, Amdo334
12. Nyakla Changchup Dorje (?-1978)335
13. Khyentse Chökyi Lodrö (1893-1959) ở Tu viện Dzongsar
14. Gyalse Gyurme Dorje (1895?-1959?), con trai của Adzom
Drukpa
15. Dilgo Khyentse Tashi Paljor (1910-1991) ở Tu viện Zhechen 280
4. Kham-nyön Dharma Senge (Ra-gang Chöpa, Sönam Phüntsok, ?-1890).
Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Pema Gyatso (Chi-me Dorje) ở Amdo336
2. Shuksep Jetsün Lochen Chönyi Zangmo (1865-1953)
3. Trakkar Tülku Lobzang Palden Tenzin Nyentrak (1866-1928)*337 ở
Kamzde, một tu viện của phái Geluk ở Trehor, Kham
GIAI ĐOẠN THỨ NĂM
1. Garwa Khenpo Jigme Ösal (?-1926) của Tu viện Dodrupchen. Trong số các
đệ tử của ngài có:
1. Cha Lama Tingdzin Zangpo* ở Wangda, Golok
2. Chökor Khenpo Kün-ga Lodrö (Kangnam, ?-1957) ở Tu viện
Dodrupchen
3. Dong-nge Khenpo Gyurme Thrinle (Jigkom, ?-1959)* ở Tu viện
Tarthang
4. Shortwak Khenpo Sherap Trakpa (?-1959) ở Tu viện
Dodrupchen
5. Yakgo Önpo Samdrup Dorje* ở Mar Dhida Gön
6. Garwa Lama Nortra ở Thung lũng Dzika
7. Garwa Tülku Dorchok của Tu viện Dodrupchen
2. Amye Khenpo, Tamchö Özer (Champa Özer) của Tu viện Dodrupchen. Trong
số các đệ tử của ngài có:
1. Shukchung Tülku Tsültrim Zangpo (1884-?)* ở Thung lũng Do338
2. Washül Khenpo Tamlo của Tungkar Gön, Thung lũng Ser
3. Lushül Khenpo Könchok Drönme (Könme1859-1936) ở Tu viện Dodrupchen.
Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Detso Khenpo Sönam Palden* ở Tu viện Tarthang339
2. Tri Kalden* của Kharda Gon, Ngawa
3. Yakza Khandro Zangmo ở Shukchung
4. Kyangtrül, Töndrup Dorje (1892-1959) ở Wangda
5. Lodsang Lungtok Gyatso (Drachen, ?-1959) ở Lauthang,
Minyak
6. Pushül Sönam Trakpa ở Wangröl
7. Kyala Kenpo Chechok Thöndrup (1893-1957) ở Tu viện
Dodrupchen
8. Choktrül Thupten Chökyi Dawa (1894-1959)* ở Tu viện
Tarthang340
9. Yakshül Khenpo Lodrö ở Tu viện Dodrupchen
10. Akong Khenpo Lobzang Dorje* ở Tu viện Tarthang 281
11. Shatsang Khenpo Könchok Tsering ở Tu viện Dodrupchen
12. Khenpo Chöyak ở Shukchung
13. Dodrupchen Đệ Tứ Rigdzin Tenpe Gyaltsen (1927-1961)
14. Dodrupchen Đệ Tứ Thupten Thrinle Palzang (sinh năm 1927)
4. Dodrupchen Đệ Tam Jigme Tenpe Nyima (1865-1926). Trong số các đệ tử
của ngài có:
1. Tertön Lerap Lingpa (Sögyal, 1856-1926)* ở Nyakrong
2. Chagmo Tülku Rolpe Dorje* ở Golok
3. Diphuk Duktsa (Chöje) Tenpe Gyaltsen* ở Amdo
4. Sershül Khenpo Ngawang Kün-ga (?-1926) ở Tu viện
Dodrupchen
5. Garwa Khenpo Jigme Ösal (?-1926) ở Tu viện Dodrupchen
6. Amye Khenpo Tamchö Özer ở Tu viện Dodrupchen
7. Lushül Khenpo Könchok Dronme (1859-1936) ở Tu viện
Dodrupchen
8. Gekong Khenpo Künzang Palden (1872-1943) ở Dzachukha
9. Tülku Tri-me (1881-1924),* anh của Dodrupchen Đệ Tam
10. Tülku Pema Dorje, anh của Dodrupchen Đệ Tam
11. Tülku Tsültrim Zangpo (1884-?) ở Shukchung
12. Do Rinpoche Zilnön Gyepa Dorje Đệ Nhị (1890-1939)
13. Chökor Khenpo Kun-ga Lodrö (?-1957) ở Tu viện Dodrupchen
14. Khyentse Chökyi Lodrö (1893-1959) ở Tu viện Dzongsar
15. Kyala Khenpo Chechok Thöndrup (1893-1957) ở Tu viện
Dodrupchen
5. Shuksep Jetsün Lochen Chönyi Zangmo (1865-1953) ở Kang-ri Thökar.
Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Kangshar Rinpoche
2. Ogyen Chödzom
3. Dza Trülzhik Ngawang Chökyi Lodrö (sinh năm 1924)*
4. Jigme Dorje (sinh năm 1929?), tülku của Sem-nyi Rinpoche
6. Gyakong Khenpo Zhenphen Chökyi Nangwa (Zhen-ga, 1871-1927) ở Tu viện
Dzogchen, hóa thân của Gyalse Zhenphen Thaye và tác giả của những chú giải về
“mười ba bản văn uyên bác chính yếu.” Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Khenpo Lhagyal (Abu Lhagong, ?-1953?) ở Tu viện Dzogchen
2. Pathur Khenpo Thupten Chöphel ở ẩn thất Changma
3. Kangkar (Kongka) Karma Chökyi Senge (1903-1956)* ở
Minyak, có nhiều đệ tử người Trung quốc
4. Khenpo Thupten Nyentrak (?-1959) ở Tu viện Dzogchen
5. Chötrak ở Rahor, Tsangtha 282
6. Khenpo Tsewang Rigdzin ở Mewa, ngài hiện lên trên không
trung và tan biến vĩnh viễn trước mắt của nhiều người vào năm
1959
7. Khenpo Lodrö ở Trayap*
8. Chötrak ở Serkha, Minyak
7. Dzogchen Thupten Chökyi Dorje Đệ Ngũ (1872-1935). Trong số các đệ tử
của ngài có:
1. Gyakong Khenpo Zhenphen Chökyi Nangwa (1871-1927) ở Tu
viện Dzogchen
2. Gekong Khenpo Kunzang Palden (1872-1943) ở Dzachukha
3. Khenpo Lhagyal (Abu Lhagong, ?-1953?) ở Tu viện Dzogchen
4. Situ Chökyi Gyatso (1880-1925)* ở Tu viện Kathok
5. Zenkar Pema Ngödrup Rölwe Dorje Đệ Nhất (1881-1943) ở
Kyilung
6. Pema Norbu Künzang Tendzin Đệ Nhị (1887-1932) ở Tu viện
Palyül
7. Namtrül Drodül Karkyi Dorje* ở Gyarong Gön
8. Khandro Dechen Wangmo* ở Gyarong Gön
9. Khyentse Chökyi Lodrö (1893-1959) ở Tu viện Dzongsar
10. Dilgo Khyentse Tashi Paljor (1910-1991) ở Tu viện Zhechen
11. Dodrupchen Đệ Tứ Rigdzin Tenpe Gyaltsen (1927-1961)
12. Dodrupchen Đệ Tứ Thupten Thrinle Palzang (sinh năm 1927)
8. Gekong Khenpo Künzang Palden (Künpal và Thupten Künzang Chötrak,
1872-1943) ở Dzachukha. Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Khenpo Ngawang Palzang (1879-1941) ở Kathok
2. Khyentse Chökyi Lodrö (1893-1959) ở Tu viện Dzongsar
3. Kongtrül Pema Thrime Lodrö (1901-1959)* ở Zhechen341
4. Pathur Khenpo Thupten Chöphel (Thubga) ở Dzachukha
5. Khenpo Nüden ở Tu viện Kathok*
6. Pöpa Tülku Do-ngak Tenpe Nyima (?-1959)
7. Dodrupchen Đệ Tứ Rigdzin Tenpe Gyaltsen (1927-1961)
8. Dodrupchen Đệ Tứ Thupten Thrinle Palzang (sinh năm 1927)
9. Yukhok Chatralwa Chöying Rangtröl (1872-1952). Trong số các đệ tử của
ngài có:
1. Garwa Lama Nortra ở Thung lũng Dzika
2. Dzirong Lama Chogden ở Dzika
3. Pöpa Tülku Do-ngak Tenpe Nyima (?-1959)
4. Khenpo Nüden ở Tu viện Kathok*
5. Tsültrim Dorje ở Ngaze
6. Önpo Pema Rigdzin* ở Jang-gang, Thung lũng Ser 283
7. Dodrupchen Đệ Tứ Thupten Thrinle Palzang (sinh năm 1927)
10. Kathok Lhenpo Ngawang Palzang (Ngachung và Pema Ledreltsal, 1879-
1941). Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Pema Norbu Künzang Tendzin Đệ Nhị (1887-1932) ở Tu viện
Palyül
2. Chaktsa Tülku ở Tralak Gön
3. Khenpo Lekshe Jorden* ở Tu viện Kathok
4. Khenpo Nüden ở Tu viện Kathok*
5. Khyentse Chökyi Lodrö (1893-1959) ở Tu viện Dzongsar
6. Gyurme Dorje (1895?-1959?), con trai của Adzom Drukpa
7. Poda Khenpo Dorje (1897?-1970?)
8. Tülku Arik (?-1988) ở Tromge, Nyak-rong
9. Khenpo Munsel (1916-1994) ở Wangchen Töpa, Golok
10. Chatral Sangye Dorje (sinh năm 1913)
11. Shedrup Tenpe Nyima (1920-?), tülku của Nyoshül Lungtok342
11. Pathur Khenpo Thupten Chöphel (Thubga) ở ẩn thất Changma thuộc Tu
viện Dzachukha. Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Dilgo Khyentse Tashi Paljor (1910-1991) ở Tu viện Zhechen
2. Khenpo Chökyap (mất năm 1997?) ở Horshül, Thung lũng Ser
3. Khenpo Dawe Özer (Dazer) ở Rahor
4. Khenpo Thupten ở Mewa, Amdo
5. Khenpo Jigme Phüntsok (sinh năm 1933)* ở Nizok
6. Khenpo Thupten của Tu viện Rahor
12. Alak Zenkar Pema Ngödrup Rölwe Dorje Đệ Nhất (1881-1943) ở Tu viện
Kyilung, Geshe, Gyarong. Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Sangye Yeshe ở Tak-rang
2. Dorje Tseten ở Tak-rang
13. Dzongsar Khyentse Chökyi Lodrö (1893-1959) của Tu viện Dzongsar, một
tülku của Jamyang Khyentse Wangpo. Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Kongtrül Pema Tri-me Lodrö (1901-1959?) ở Tu viện Zhechen
2. Dilgo Khyentse Tashi Paljor (1910-1991) ở Tu viện Zhechen
3. Rabjam Gyurme Tenpe Nyima Đệ Lục (1911-1959)* ở Tu viện
Zhechen
4. Poda Khenpo Dorje (1897?-1970?)
5. Chatral Sangye Dorje (sinh năm 1913)
6. Tak-rong Gyurme Trakpa (?-1975) của Yilhung
7. Khandro Tsering Chödrön (sinh năm 1925) ở Viện Aduk
8. Kathok Situ Đệ Tam 284
9. Dodrupchen Đệ Tứ Thupten Thrinle Palzang (sinh năm 1927)
10. Chogling Pema Gyurme Đệ Tam (1928-1974)* ở Neten
11. Dungse Thinley Norbu (sinh năm 1931)*
12. Minling Trichen Gyurme Kunzang Wangyal Thứ Mười một (sinh
năm 1931)*
13. Trogawa Samphel Norbu (sinh năm 1931)* của Gyangtse
14. Dzogchen Jigtral Changchup Dorje Đệ Lục (1935-1958)
15. Sögyal Rinpoche (sinh năm 1947) ở Tu viện Dzogchen/Anh
quốc
14. Kyala Khenpo Chechok Thöndrup (1893-1957) thuộc Tu viện Dodrupchen.
Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Tülku Drachen (?-1959) ở Lauthang, Minyak
2. Alak Zhiwatso ở Göde, Rekong
3. Kakor Tülku ở Tergar, Rekong
4. Alo Lama Tsültrim ở Trokyap, Gyarong
5. Gyutse Könchok Mönlam ở Trokho, Amdo
6. Alak Dzong-ngön Lodrö ở Rekong
15. Gyalse Gyurme Dorje (Ah-gyur, 1895?-1959?), con trai của Adzom Drukpa.
Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Khyentse Chökyi Lödro (1893-1959) của Tu viện Dzongsar
2. Pema Künzang Rangtröl
3. Adzom Druktrül Rinpoche (sinh năm 1926)
GIAI ĐOẠN THỨ SÁU
1. Dilgo Khyentse Tashi Paljor (Rabsal Dawa, 1910-1991) ở Tu viện Zhechen,
một tülku của Jammyang Khyentse Wangpo. Trong số các đệ tử của ngài có:
1. Tülku Urgyen (sinh năm 1919)* ở Nargön
2. Lama Gönpo Tseten (?-1991) ở Labrang, Amdo
3. Trulzhik Ngawang Chökyi Lodrö (sinh năm 1924)* ở Dza
Rongphu
4. Nyoshül Lama Jamyang Dorje (sinh năm 1926) ở Dege
5. Tsetrül Nyinche Zangpo (sinh năm 1927)* ở Taklung Gön,
Yardrok
6. Dakchen Jigtral ở Phüntsok Photrang (sinh năm 1929) ở
Sakya/Hoa Kỳ
7. Khamtrül Tön-gyü Nyima Đệ Bát* (1930-1979)
8. Dungse Thinley Norbu (sinh năm 1931)* ở Pemakö/Hoa Kỳ
9. Chagdud Karkyi Wangchuk (sinh năm 1930)* ở Nyak-rong/Hoa
Kỳ285
10. Pema Norbu Jigme Thupten Shedrup Đệ Tam (sinh năm 1932)
ở Tu viện Palyül343
11. Đức Đạt Lai Lạt Ma Tendzin Gyatso Thứ Mười bốn (sinh năm
1935)*
12. Trungpa Chökyi Gyatso Thứ Mười một (1939-1987)* ở Tu viện
Zurmang344
13. Zenkar Thupten Nyima Đệ Nhị (sinh năm 1943) ở Kyilung
14. Könchok Tenzin* ở Pháp
15. Sögyal Rinpoche (sinh năm 1947) ở Tu viện Dzogchen/Anh
quốc
16. Tsetrül Pema Wangyal (sinh năm 1947)* ở Riwoche/Pháp
17. Dzongsar Khyentse Thupten Chökyi Gyatso Đệ Tam
18. Tarthang Choktrül Jigme Lodrö Senge (sinh năm 1961?)*
19. Sakyong Mipham Jampal Trinley Dradül (sinh năm 1962)* ở
Shambhala Hoa Kỳ/Canada
20. Sangye Nyenpa Đệ Thập (sinh năm 1963)*
21. Dzogchen Jigme Losal Wangpo Đệ Thất (sinh năm 1964)
22. Tülku Khyentse Jigme (sinh năm 1964)* ở Riwoche/Pháp
23. Dzigar Kongtrül*
24. Rabjam Gyurme Chökyi Senge Đệ Thất (sinh năm 1966)* ở
Zhechen
25. Namkhe Nyingpo ở Lhotrak*
26. Karma Kuchen Thupten Tsültrim Norbu Đệ Ngũ (sinh năm
1970)* ở Palyül
27. Chokling Gyurme Dorje Đệ Tứ (sinh năm 1973)* ở Neten
2. Chatral Rinpoche Sangye Dorje (sinh năm 1913). Trong số các đệ tử của
ngài có:
1. Gyaltsap Redring Jampal Yeshe (sinh năm 1911-1947)*
2. Sönam Topgye Kazi (sinh năm 1920) ở Rinak, Sikkim/Hoa Kỳ
3. Cham Nordzin Wangmo ở Rinak, Sikkim
4. Lama Tharchin (sinh năm 1936)* ở Rekong/Hoa Kỳ
5. Chögyal Wangchuk Namgyal (sinh năm 1953)* ở Sikkim
6. Jigme Thupten Namgyal
3. Nyoshül Lama Jamyang Dorje (sinh năm 1926). Trong số các đệ tử của ngài
có:
1. Chagdud Karkyi Wangchuk (sinh năm 1930)* ở Nyak-rong/Hoa
Kỳ
2. Lama Sönam Topgyal* ở Riwoche/Canada
3. Tri-me Zhingkyong * ở Tu viện Kathok
4. Sögyal Rinpoche (sinh năm 1947) ở Tu viện Dzogchen/Anh
quốc
5. Tsetul Pema Wangyal (sinh năm 1947) ở Riwoche/Pháp 286
4. Dodrupchen Đệ Tứ Rigdzin Tenpe Gyaltsen (1927-1961). Trong số các đệ tử
của ngài có:
1. Chökor Khenpo Kang-nam (?-1957) ở Tu viện Dodrupchen
2. Kyala Khenpo Chechok Thöndrup (1893-1957) ở Tu viện
Dodrupchen
3. Lobsang Lungtok Gyatso (Drachen, ?-1959) ở Lauthang
4. Pema Namgyal (?-1957), một hóa thân của Dudjom Lingpa
5. Akong Khenpo Lobzang Dorje* ở Tu viện Tarthang
6. Tülku Jigme Phüntsok (Jiglo, mất năm 1959) ở Dodrupchen
7. Garwa Tulkü Gyalse Padlo ở Golok
8. Yangthang Dechen Ösal Dorje (sinh năm 1929)*
9. Jigme Ösal ở Tu viện Dodrupchen, một tülku của Garwa Khenpo (?-
1926)
10. Gyalse Thrinle Kunkhyab (Achen)* ở Nangchen
11. Terton Tülku Jigme Ösal của Tertön Gar, Rekong
12. Drubwang Tülku Alak Gönpo ở Gön Lakha, Rekong
13. Dzakhen Lama Rigdzin ở Go-me, Rekong
5. Dodrupchen Đệ Tứ Thupten Thrinle Palzang (sinh năm 1927). Trong số các
đệ tử của ngài có:
1. Chökor Khenpo Kang-nam (?-1957) ở Tu viện Dodrupchen
2. Kyala Khenpo Chechök Thöndrup (1893-1957) ở Tu viện
Dodrupchen
3. Lobsang Lungtok Gyatso (Drachen, ?-1959) ở Lauthang
4. Tülku Pema Namgyal (?-1957) ở Tu viện Dodrupchen
5. Tülku Jigme Phüntsok (Jiglo, mất năm 1959) ở Dodrupchen
6. Khandro Pema Dechen ở Kongpo
7. Dodrupchen Tenpe Nyima Đệ Tứ (sinh năm 1929) ở Yarlung
Pemakö
8. Yangthang Dechen Ösal Dorje (sinh năm 1929)* ở Domang
9. Tülku Jigme Ösal ở Tu viện Dodrupchen
10. Dungse Thinley Norbu (sinh năm 1931)* ở Pemakö/Hoa Kỳ
11. Lama Pema Tumpo (Kusum Lingpa, sinh năm 1933) ở Golok
12. Khenpo Dechen Dorje (sinh năm 1936 ở Sikkim)
13. Khandro Tare Lhamo (sinh năm 1937),* con gái của Apang
Tertön
14. Thekchok Pema Gyaltsen (Theklo) (sinh năm 1937), tülku của
Pema Dorje
15. Zenka Thupten Nyima Đệ Nhị (sinh năm 1943)
16. Chögyal Wangchuk Namgyal (sinh năm 1953)* ở Sikkim
17. Lopön Thekchok Yeshe Dorje (sinh năm 1957) ở Bhutan
18. Gönchang Tülku Đệ Thập (sinh năm 1962)* ở
Gompachang/Sikkim 287
19. Dzogchen Jigme Losal Wangpo Đệ Thất (sinh năm 1964)
20. Tülku Chökyi Nyima ở Nup-ri, Nepal
21. Tülku Jigme Gawe Lodrö, một tülku của Khenpo Kangnam
22. Dodrupchen Jigme Long-yang Đệ Ngũ, một tülku của
Dodrupchen Rigdzin Tenpe Gyaltsen
23.
Tác phẩm Trích dẫn
BC Klong Ch’en sNying Thig Gi brGyud ‘Debs Byin rLabs Ch’ar rGyun (tờ 2), do
Jigme Lingpa (1730-1798) khám phá. Quyển OM, Longchen Nyingthig Tsapö.
Jamyang [Dilgo] Khyentse xuất bản, Ấn Độ.
BD Biographical Dictionary of Tibet and Tibetan Buddhism (Tự điển Tiểu sử của Tây
Tạng và Phật giáo Tây Tạng) của Khetsun Zangpo (sinh năm 1921). Quyển 1-14.
Dharmasala: Library of Tibetan Works and Archives.
BDL Biography of Do Khyentse and His Lineage (Tiểu sử Do Khyentse và Dòng Truyền
thừa của ngài) (trang 24) của Ani Dasal, chút gái của Do Khyentse. Được cung cấp
nhờ thiện tâm của Zenkar Rinpoche, Thupten Nyima. Bản thảo.
BG sNga ‘Gyur Bla Med Kyi rGyud Kyi brJod Bya gZhi Lam Gyi dKa’ gNad bKrol Ba Bla
Ma’i dGongs rGyan của Lobzang (Könchok Drönme, 1859-1936) của Tu viện
Dodrupchen. Bản thảo.
BGT rGya Bod Tshig mDzod Ch’en Mo. Quyển 1-3. Mirik Petrunkhang, Trung quốc.
BND Bairo Tsana’i rNam Thar ‘Dra ‘Bag Ch’en Mo, Kham-nyon Dharma Senge (?-1890)
biên tập. In mộc bản ở Lhasa, Tây Tạng.
CD ‘Jam dByangs Bla Ma Ch’os Kyi Blo Gros Kyi gSung Thor Bu’i dKar Ch’ags Ch’os
Tshul Mi Zad ‘Dod dGu’i Bang mDzod (tờ 9) của Tashi Paljor [Dilgo Khyentse, 1910-
1991]. Một bản thảo được cung cấp do thiện tâm của Thượng Tọa Könchok Tenzin,
Pháp.
CG Khams sMyon Dharma Senge’i Nyams mGur Ch’u Zla’i Gar Phreng (tờ 224) của
Dharma Senge. Sonam Kazi sao chép, Ấn Độ, 1970.
CN Rig ‘Dzin ‘Jigs Med Gling Pa’i bKa’ ‘Bum Yongs rDzogs Kyi bZhugs Byang Ch’os Rab
rNam ‘Byed (tờ 13) của Kathokpa Gyurme Tsewang Chokdrup (1764-?). Quyển Cha,
Jigling Kabum. (Dege) Dodrupchen Rinpoche sao chép, Sikkim, Ấn Độ.
CY Chö Yang, the Voice of Tibetan Religion and Culture (Chö Yang, Tiếng Nói của Tôn
giáo và Văn hóa Tây Tạng). Ấn bản Năm Tây Tạng. Hội đồng Tôn giáo và Văn hóa
Sự vụ xuất bản , Dharamsala, Ấn Độ.
DB O rGyan ‘Jigs Med Ch’os Kyi dBang Po’i rNam Thar Pa’i gSos sMan bDud rTsi’i Bum
bChud (tờ 41) của Thupten Künzang Chötrak (1872-1943). Paltrül Sungbum, Quyển
5. Zenkar Rinpoche xuất bản, Trung quốc.
DCS rDo rJe ‘Ch’ang Gis gSung Pa mCh’od Os Rang bZhin Gyi Tshig Dus gNad Nges
Pa (tờ 36, gSer Yig, Ga), Vima Nyingthig Phần I, tuyển tập sNying Thig Ya bZhi, do
Longchen Rabjam (1308-1363) (Adzom) biên soạn. Lama Jigtrak và Tülku Pema
Wangyal sao chép, Darjeeling, Ấn Độ.
DD dPal gSang Ba sNying Po’i rGyud Kyi sPyi Don Nyung Ngu’i Ngag Gis gSal Bar Byed
Pa Rin Po Ch’ei mDzod Kyi sDe Mig của Jigme Tenpe Nyima. Quyển Ka,
Dodrupchen Sungbum. Dodrupchen Rinpoche xuất bản, Sikkim, Ấn Độ.
DGN rDo Grub Ch’en rNam Thar. Một tiểu truyện của Dodrupchen đệ nhất (1745-1821) từ
tuyển tập của Dodrupchen Rinpoche. Bản thảo. Thiếu ba trang, trong đó có trang
tựa đề và trang cuối. 288
DK sKyabs rJe Dam Pa Ch’os dByings Rang Grol Gyi rNam Par Thar Ba Dad Pa’i ‘Khri
Shing (trang 35) của Sönam Nyima. Bản thảo.
DKG sNga ‘Gyur rGyud ‘Bum Rin Po Ch’e’i rTogs Pa brJod Pa ‘Dzam Gling Tha Gru
Khyab Pa’i rGyan (tờ 250) của Jigme Lingpa. Quyển Ga, Jigling Kabum (Dege).
Dodrupchen Rinpoche sao chép, Sikkim, Ấn Độ. 1985
DL mDo Khams rDzogs Ch’en dGon Gyi Lo rGyus (trang 139) của Gyalwang Chökyi
Nyima (sinh năm 1914). Sitrön Mirik Petrünkhang, Trung quốc, 1992.
DN rDo Grub Ch’en Rin Po Ch’e sKu ‘Phreng Rim Byon Gyi rNam Par Thar Pa ‘Dod ‘Jo
Nor Bu’i Phreng Ba của Sönam Nyima ở Serta, Golok. Bản thảo.
DNN Rang bZhin rDzogs Pa Ch’en Po’i Lam Gyi Ch’a Lag sDom gSum rNam Par Nges
Pa (tờ 16) của Padma Wangkyi Gyalpo (1487-1542). Khamtrül Rinpoche, Ấn Độ,
xuất bản. Bản Anh ngữ: Absolute Certainty of the Three Vows (Xác quyết Tuyệt đối
ở Ba Giới nguyện), với Bình giảng của Dudjom Rinpoche. Sangye Khandro dịch.
Snow Lion sắp xuất bản.
DNK Dzogchen Lineage of Nyoshül Khenpo (Dòng Dzogchen của Nyoshül Khenpo) (sinh
năm 1926). Bản thảo.
DO Zhal Ch’en Dri Ma Med Pa’i Od (tờ 132-140) của Longchen Rabjam, Quyển HŪM,
Khandro Nyingthig (Adzom). Lama Jigtrak và Tülku Peama Wangyal sao chép,
Darjeeling, Ấn Độ.
DPM Gangs Chan Bod Ch’en Pi’i rGyal Rabs ‘Dus gSal Du bKod Pa sNgon Med Dvangs
Shel ‘Phrul Gyi Me Long (tờ 283) của Jigtral Yeshe Dorje (1904-1987).
DSC Dakki’i sSang gTam Ch’en Mo (tờ 7), do Jigme Lingpa khám phá như một terma.
Quyển OM, Longchen Nyingthig Tsapö. Jamyang (Dilgo) Khyentse xuất bản, Ấn Độ.
DSC Klong Ch’en sNying Gi Thig Le’i rToga Pa brJod Pa Dakki’i gSang gTam Ch’en Mo
(tờ 7), do Jigme Lingpa khám phá. Quyển OM, Longchen Nyingthig Tsapö. Jamyang
(Dilgo) Khyentse xuất bản.
DT ‘Phags Pa Shes Rab Kyi Pha Rol Tu Phyin Pa sDud Pa Tshigs Su bChad Pa, Quyển
Ka, mục Sher Phyin, Kanjur (Dege).
DTN Deb Ther sNgon Po (Quyển 1 & 2) của Golo Zhönu Pal (1392-1481). Sitrön Mirik
Petrünkhang, Trung quốc, 1984.
DZ Dul Ba gZhi (Vinayavastu). Mục ‘Dul Ba. Quyển 1-4. Kanjur (Dege).
DZT O rGyan ‘Jigs Med Ch’os Kyi dBang Po’i rTogs brJod bDud rTsi’i Zil Thigs (tờ 18)
của Jigme Tenpe Nyima. Quyển Nga, Dodrupchen Sungbum. Dodrupchen Rinpoche
xuất bản, Ấn Độ.
EL Enlightened Living: Teachings of Tibetan Buddhist Masters (Đời sống Giác ngộ:
Những Giáo lý của các Đạo sư Phật giáo Tây Tạng), Tulku Thondup dịch, Harold
Talbott hiệu đính. Boston: Nhà Xuất bản Shambhala, 1990.
GD bKyed rDzogs sGom Phyogs Dris Lan (tờ 98) của Jigme Lingpa. Quyển Ta, Jigling
Kabum (Dege). Dodrupchen Rinpoche sao chép, Sikkim, Ấn Độ.
GDG Ye Shes mTsho rGyal Gyi mDzad Tshul rNam Par Thar Pa Gab Pa mNgon Byung
rGyud Mang Dri Za’i Glu Phreng (trang 254), do Pawo Taksham Dorje (thế kỷ 17)
khám phá. Sitrön Mirik Petrünkhang, Trung quốc.
GK Dam Pa’i Ch’os Rin Po Ch’e ‘Phags Pa’i Yul Du Ji lTar Tar Ba’i Tshul gSal Bar sTon
Pa dGos ‘Dod Kun ‘Byung (trang 340) của Tārānātha (1575-1635). Mirik
Petrünkhang, Trung quốc, 1985
GL ‘Gro mGon Bla Ma rJe’i gSang gSum rNam Thar rGya mTsho Las Thun Mong Phyi’i
mNgon rTogs rGyal Sras Lam bZang. Một tự truyện của Jigme Gyalwe Nyuku, 1765-
1843. Một bản thảo được cung cấp nhờ thiện tâm của Tülku Pema Wangyal
Rinpoche, Pháp. 289
GN rDzogs Pa Ch’en Po sNying Thig Gi Khrid Yig Gu Yangs sNying Gi Thig Le (tờ 136)
của Guyang Lo-de (Chingkarwa Don-yö Dorje). Sherap Gyaltsen Lama, Sikkim, xuất
bản, 1976.
GNP dPal Sa sKyong sDe dGe Ch’os Kyi rGyal Po Rim Byon Gyi rNam Thar Ge Legs Nor
Bu’i Phreng Ba (trang 135) của Champa Kun-ga Tenpe Gyaltsen. Sitrön Mitik
Petrünkhang, Trung quốc, 1990.
GP The Great Perfection (Đại Viên mãn) của Samten Gyaltsen Karmay. New York: E. J.
Brill Leidon, 1988.
GPM rGyud Phyi Ma (của gSang Ba ‘Dus Pa). Mục rGyud. Quyển Cha, Kanjur (Dege).
GR ‘Phags Pa rGya Ch’er Rol Ba Zhes Bya Ba Theg Pa Ch’en Po’i mDo. Mục mDo sDe.
Quyển Kha, Kanjur (Dege).
GRT ‘Jam dByangs Ch’os Kyi Blo Gros Kyi rTogs Pa brJod Pa sGyu Ma’i Rol rTsed (tờ 22)
của Chökyi Lodrö (1893-1959).
GRD Grub mTha’ Rin Po Ch’e’i mDzod (tờ 206) của Tri-me Özer (Longchen Rabjam)
(Adzom). Dodrupchen Rinpoche sao chép, Sikkim, Ấn Độ.
GZ rNying rGyud bKa’ Ma’i Thob Yig brGyud lDan Zhal Lung của Dodrupchen Rinpoche
đệ Tứ (sinh năm 1927). Bản thảo.
HTT Hidden Teachings of Tibet (Những Giáo lý Ẩn dấu của Tây Tạng) của Tulku Thondup
Rinpoche, Harold Talbott biên tập. London: Wisdom, 1986.
JKT Manjushrīdharmamitra’i [Khyentse Wangpo] rTogs Pa brJod Pa ‘Jigs rTen Kun Tu
dGa’ Ba’i gTer (tờ 50) của Jigme Tenpe Nyima. Quyển Nga, Dodrupchen Sungbum.
Dodrupchen Rinpoche xuất bản.
KBZ rDzogs Pa Ch’en Po Nying Thig Gi sNgon ‘Gro’i Khrid Yig Kun bZang Bla Ma’i Zhal
Lung (tờ 306) của Ögyen Jigme Chökyi Wangpo (Paltrül Rinpoche, 1808-1887).
Pönlop Rinpoche, Rumtek, Sikkim, Ấn Độ, xuất bản. Các bản dịch Anh ngữ: (1) Künzang La-May Zhal-lung, quyển 1 & 2, Sonam T.Kazi dịch. Nhà Xuất bản DiamondLotus, 1989. (2) The Words of My Perfect Teacher (Lời Vàng của Thầy tôi), Nhóm
Dịch thuật Padmakara dịch. New York: Harper-Collins, 1994.
KGT Dam Pa’i Ch’os Kyi ‘Khor Lo’i bsGyud Ba rNams Kyi Byung Ba gSal Bar Byed Pa
mKhas Pa’i dGa’ sTon, quyển 1 & 2, của Pawo Tsuklak Trengwa (1454-1566). Mirik
Petrünkhang, Bắc Kinh, Trung quốc.
KKR Klong Ch’en sNying Gi Thig Le’i dBang bsKur Gyi Phreng Ba bKlag Ch’og Tu bKod
Pa sKal bZang Kun dGa’i Rol sTon (tờ 165) của Dilgo Khyentse Rapsal Dawa.
Quyển Nga, Longchen Nyingthig Tsapö. Dilgo Khyentse Rinpoche xuất bản, Ấn Độ.
KNN Rig ‘Dzin ‘Jigs Med Gling Pa’i Khrungs Rabs rNam Thar Nyung bsDus (tờ 3). Quyển
Ta, Jigling Kabum (Dege). Dodrupchen Rinpoche sao chép, Sikkim, Ấn Độ.
KNR sNga ‘Gyur Ch’os Kyi Byung Ba gSal Bar Byed Pa’i Legs bShad mKhas Pa dGa’
Byed Ngo mTshar gTam Gyi Rol mTsho (trang 1058) của Ngawang Lodrö (Guru
Tashi, 1550-1602). Tso-ngön Mirik Petrünkhang, Trung quốc.
KS ‘Jigs Med Gling Pa’i ‘Khrung Rabs gSol ‘Debs (tờ 1) của Khyentse Lha. Nyingthig
Döncha. Dodrupchen Rinpoche xuất bản, Sikkim, Ấn Độ.
KT bKa’ Thang sDe lNga (trang 539), Ögyen Lingpa (1323-?) khám phá. Mirik
Petrünkhang, Trung quốc.
KZ ‘Ja’ Lus rDo rJe’i (Do Khyentse) rNam Thar mKha’ ‘Gro’i Zhal (tờ 99). Một tự truyện
của Do Khyentse, 1800-1866. Dodrupchen Rinpoche sao chép, Gangtok, Ấn Độ,
1974.
KZD Kun mKhyen Zhal Lung bDud rTsi’i Thig Pa (tờ 14) của Jigme Lingpa. Quyển HŪM,
Quyển OM, Longchen Nyingthig Tsapö. Jamyang (Dilgo) Khyentse, Ấn Độ.
KZZ Nying Thig Gi sNgon ‘Gro’i Khrid Yig Kun bZang Bla Ma’i Zhal Lung Gi Zin Bris (tờ
205) của Pema Ledreltsal (1879-1941). Mộc bản. 290
LG Lo rGyus rGyal Ba gYung Gis mDzad Pa của Gyalwa Yung (1284-1365), Phần II (tờ
203-211), Khandro Nyingthig. Tuyển tập Yabzhi (Adzom). Lama Jigtrak và Tülku
Pema Wangyal sao chép, Darjeeling, Ấn Độ.
LK Bla Ma dGongs Pa ‘Dus Pa Las Lung bsTan bKa’ rGya’i sKor (tờ 213), Sangye
Lingpa (1340-1396) khám phá. Quyển 6 (Ch’a), Giáo khóa Lama Gongdü. Lama
Ngödrup và Sherab Drimay xuất bản, Bhutan, 1981.
LNG sNga ‘Gyur rDo rJe Theg Pa’i bsTan Pa Rin Po Ch’e Ji lTar Byung Ba’i Tshul brJod
Pa Lha dBang gYul Las rGyal Ba’i rNga Bo Ch’e’i Gra dByangs (tờ 410) của Jitral
Yeshe Dorje. Düdjom Tülku Rinpoche xuất bản, Kalimpong, Ấn Độ, 1967. Anh ngữ:
NTB.
LRB Karmapa Mi bsKyod rDo rJe’i gNang Ba’i Dris Lan Lung Dang Rigs Pa’i Brug sGra
(tờ 87) của Sokdokpa Lodrö Gyaltsen (1552-1624). Sonam T. Kazi sao chép,
Gangtok, Ấn Độ, 1971.
LRP mKha’ ‘Gro sNying Thig Gi Lo rGyus Rin Po Ch’e’i Phreng Ba của Chatralwa Zöpa.
Khandro Nyingthig, Phần II (tờ 233a-254a/6) (Adzom). Lama Jigtrak và Tülku Pema
Wangyal sao chép, Darjeeling, Ấn Độ.
LS The Life of Shabkar (1781-1851): The Autobiography of a Tibetan Yogin [Cuộc Đời
của Shabkar) (1781-1851): Tự truyện của một Hành giả Tây Tạng] (trang 737).
Matthieu Ricard dịch. Albany: SUNY, 1994, Tibetan: SB.
LST Yon Tan Rin Po Ch’e’i mDzod Kyi dKa’ gNad rDo rJe’i rGya mDud ‘Grol Byed Legs
bShad gSer Gyi Thur Ma của (Sokpo) Tentar Lharampa (1759-?). Jamyang (Dilgo)
Khyentse xuất bản, Ấn Độ.
LY rGya Gar Gyi gNas Ch’en Khag La bGrod Pa’i Lam Yig (trang 351-395) từ Tuyển tập
các Tác phẩm của Gendün Chöphel (1905-1951). Mirik Petrünkhang, Trung quốc.
LYN Rang Byung rDo rJe’i rNam Par Thar Pa Legs Byas Yong ‘Dus sNye Ma (tờ 251),
một tự truyện của Khyentse Özer [Jigme Lingpa]. Quyển Ta, Jigling Kabum. (Dege)
Dodrupchen Rinpoche, Sikkim, Ấn Độ, sao chép.
MC mKhan Rin Po Ch’e Kun dPal La bsTod Pa bKa’ Drin rJes Dran Gyi Me Tog mCh’od
Pa (tờ 4) của Khyentse Chökyi Lodrö.
MD Phags Pa Yongs Su Mya Ngan Las ‘Das Pa Ch’en Po’i mDo. Mục mDo sDe. Quyển
Ta, Kanjur (Dege).
MG gTer sTon Rim Par Byon Pa rNam Gyi gSol ‘Debs rGyas Par bKod Pa Mos Gus rGya
mTsho’i rLabs ‘Phreng của Kongtrül Yönten Gyatso (1813-1899). Quyển Ka, Terdzö.
Jamyang Khyentse xuất bản, Ấn Độ.
MNB Ch’os ‘Byung Me Tog sNying Po sBrang rTsi’i bChud (trang 504) của Nyang Nyima
Özer (1124-1192). Pöjong Mimang Petrünkhang, Tây Tạng, 1988.
NB Gangs Shugs Ma Ni Lo Ch’en Rig ‘Dzin dBang Mo’i rNam Par Thar Pa rNam mKhyen
bDe sTer (tờ 271). Một tự truyện của Lochen Rigdzin Wangmo, 1865-1953. Sonam
Kazi sao chép, Ấn Độ.
NCC gZhi Khregs Ch’od sKabs Kyi Zin Bris bsTan Pa’i Nyi Ma’i Zhal Lung sNyan rGyud
Ch’u Bo’ai bChud ‘Dus (tờ 40) của Pema Ledreltsal (Khenpo Ngachung). Bản thảo.
NCG rDzogs Ch’en Man Ngag sDe’i sNying Thig rNam bZhi’i Thob Yig dNgos Grub Ch’u
rGyun của Dodrupchen Thupten Thrinle Palzangpo. Bản thảo.
ND ‘Jigs Med Phrin Las Od Zer Gyi mNgon rTogs Drang Por sMos Pa (tờ 3) của Jigme
Thrinle Özer. Bản thảo.
NG sNga ‘Gyur sDom rGyun Gyi mKhan brGyud Kyi rNam Thar Nyung gSal sGron Me
(tờ 31) của Dharmashrī (1654-1717). Quyển 3, Writings of Minling Lochen
Dharmashrī (Các Tác phẩm của Minling Lochen Dharmashrī). Khorchen Tülku sao
chép, Ấn Độ. 291
NGR Padma Las ‘Brel rTsal Gyi rTogs brJod Ngo mTshar sGyu Ma’i Rol Gar (tờ 147). Một
tự truyện của Pema Ledreltsal. Sonam Kazi xuất bản, Ấn Độ, 1969.
NLC rDzogs Pa Ch’en Po Nying Thig Gi Lo rGyus Ch’en Mo của Zhangtön Tashi Dorje
(1097-1167). Vima Nyingthig Phần III (Adzom). Lama Jigtrak và Tülku Pema
Wangyal sao chép, Darjeeling, Ấn Độ.
NLS Ch’os sPyod Kyi Rim Pa rNam Par Grol Ba’i Lam Gyi Shing rTa (tờ 204) của Jigtral
Yeshe Dorje. Düdjom Rinpoche xuất bản, Kalimpong, Ấn Độ.
NN Thob Yig Nyi Zla’i rNa Ch’a (tờ 13) của Jigme Lingpa. Quyển Cha, Jigling Kabum
(Dege). Dodrupchen Rinpoche sao chép, Sikkim, Ấn Độ.
NO sNga ‘Gyur Od gSal. Học viện Ngagyur Nyingma xuất bản, Ấn Độ, 1992.
NPG gSang sNgags gSar rNying Gi gDan Rabs mDor bsDus Ngo mTshar Padmo’i dGa’
Tshal (tờ 104) của Khyentse Wangpo (1820-1892). Quyển Tsha, Khyentse Kabum.
Jamyang (Dilgo) Khyentse xuất bản, Ấn Độ.
NS Yon Tan Rin Po Ch’e’i mDzod Las ‘Bras Bu’i Theg Pa’i rGya Ch’er ‘Grel rNam
mKhyen Shing rTa (tờ 440) của Khyentse Lha. Quyển Kha, Jigling Kabum. (Adzom)
Dodrupchen Rinpoche sao chép, Ấn Độ.
NT Nags Tshal Kun Tu dGa’ Ba’i gTam của Longchen Rabjam. Tuyển tập gTam Tshogs
(tờ 66a-72a), Sung Thorbu (Adzom).
NTB The Nyingma School of Tibetan Buddhism: Its Fundamentals and History [Trường
phái Nyingma của Phật giáo Tây Tạng: Những Nền tảng và Lịch sử của nó] (quyển 1
& 2) của Düdjom Rinpoche, Jigtral Yeshe Dorje. Gyurme cùng với Matthew Kapstein
dịch và biên tập. Boston: Wisdom, 1991.
NTG Klong Ch’en sNying Gi Thig Le Las gNad Byang Thugs Kyi sGrom Bu (tờ 5), do
Jigme Lingpa khám phá. Quyển OM, Longchen Nyingthig Tsapö. Jamyang (Dilgo)
Khyentse xuất bản, Ấn Độ.
NTS sNying gTam Sum Chu Pa (tờ 54b-57b) của Longchen Rabjam. Tuyển tập Zhaldam
của Sung Thorbu (Adzom).
NUG ‘Jam dByangs mKhyen brTse’i dBang Po’i rnam Thar mDor bsDus Ngo mTshar
Utpala’i dGa’-Tshal (tờ 118) của Lodrö Thaye. Quyển Ba, Kongtrül Kabum, do
Jamyang (Dilgo) Khyentse xuất bản, Ấn Độ.
NYG ‘Jam dByang Ch’os Kyi Blo Gros Kyi rNam Thar Ngo mTshar Yongs ‘Dus dGa’ Tshal
(tờ 207) của Khyentse Özer (Dilgo Khyentse). Một bản sao được cung cấp do thiện
tâm của Thượng Tọa Könchok Tenzin ở Pháp.
ON rDzogs Pa Ch’en Po’i Nyams Len Gyi gNad mThar Thug Pa’i rTsa ‘Grel Od gsal Gyi
sNang Ch’a (tờ 11) của Paltrül Rinpoche (1808-1887). Quyển 4, Paltrül Sungbum.
Zenkar Rinpoche xuất bản, Chendu (Thành Đô), Trung quốc.
PGG Deb Ther rDzogs lDan gZhon Nu’i dGa’ sTon dPyid Kyi rGyal Mo’i Glu dByangs
(trang 202) của Ngawang Lobzang Gyatso (Đạt Lai Lạt Ma thứ năm, 1617-1682).
Mirik Petrünkhang, Trung quốc.
PJM ‘Jigs Med ‘Phrin Las Od Zer Gyi rTogs bJod dPag bSam lJon Pa’i Me Tog của Jigme
Tenpe Nyima. Töpa Natsok (tờ 6a-10b), Quyển Nga, Dodrupchen Sungbum.
Dodrupchen Rinpoche xuất bản.
PK The Esoteric Biography of Gter-chen Las-rab Gling-pa (Tertön Sogyal) (tờ 363) của
Shila Bhadra (Tsültrim Zangpo, 1884-?) Sangye Dorje xuất bản, New Delhi, 1974.
PKG rTogs brJod ‘Pag bSam ‘Khri Shing Gi’ Grel Ba (trang 437-647) của Jampal Yeshe
Tenpe Gyaltsen. Tso-ngön Mirik Loptra xuất bản, 1988, Trung quốc.
PKD sNga ‘Gyur rDo rJe Theg Pa gTso Bor Gyur Pa’i sGrub brGyud Shing rTa brGyad Kyi
Byung Ba brJod Pa’i Pad Ma dKar Po’i rDzing Bu (tờ 284) của Gyurme Pema
Namgyal (Zhechen Gyaltsap, 1871-1926). S. W. Tashigangpa, Ladakh, Ấn Độ. 292
PM ‘Jigs Med Phrin Las Od Zer La rTogs brJod Dang ‘Brel Bar gSol Ba ‘Debs Pa dPag
bSam lJon Pa’i Me Tog của Jigme Tenpe Nyima. Quyển Nga (tờ 6-10), Dodrupchen
Sungbum. Dodrupchen Rinpoche xuất bản, Ấn Độ.
RB ‘Jam dByangs Ch’os Kyi Blo Gros Kyi rNam Thar Rin ch’en Bang mDzod (tờ 260)
của Do Sippa Ngawang Kün-ga Wangchuk. Bản thảo.
RBP Zab Mo’I gTer Dang gTer sTon Ji lTar Byon Pa’i Lo rGyus bKod Pa Rin Ch’en
Baidurya’i Phreng Ba (tờ 235) của Kongtrül Yönten Gyatso. Quyển Ka, Terdzö.
Jamyang (Dilgo) Khyentse xuất bản, Ấn Độ.
RD Klong Ch’en sNying Gi Thig Le Las, Nang sGrub Rig ‘Dzin ‘Dus Pa’i Zin Bris Rig
‘Dzin Zhal Lung bDe Ch’en dPal sTer (tờ 58) của Chechok Tondrup Tsal (Kyala
Khenpo, 1893-1957). Dodrupchen Rinpoche xuất bản, Ấn Độ.
RT Ch’os ‘Byung Rin Po Ch’e’i gTer mDzod bsTan Pa Rab Tu gSal Bar Byed Pa’i Nyi
Od (trang 502) của Gyalse Thukchok Tsal (Longchen Rabjam?). Böjong
Petrünkhang, Tây Tạng.
SB sKyabs mGon Zhabs dKar rDo rJe ‘Ch’ang Ch’en Po’i rNam Par Thar Pab bSam
‘Phel dBang Gi rGyal Po của Zhapkar Tsoktruk Rangtrol, quyển 1 & 2. In mộc bản
của Tashi Khyil, Amdo, Tibet. Anh ngữ: LS
SCG The History of Chöten Gompa of Dearali (Lịch sử của Choten Gompa ở Dearali),
Gangtok (trang 6) của Dodrupchen Rinpoche đệ Tứ. Bản thảo.
SKK Theg Pa’i sGo Kun Las bTus Pa Shes Bya Kun Khyab (quyển 1, 2 & 3) của Kongtrül
Yönten Gyatso (1813-1899). Mirik Petrünkhang, Trung quốc, 1982.
SLD gSol ‘Debs Leu bDun Ma, do Rigdzin Gödem (1337-1408) khám phá như terma. Bản
thảo.
SM Ma Ongs Lung bsTan gSal Byed Me Long (tờ 9) của Jigme Thrinle Özer. Bản thảo.
SMM The Seven Mountains of Thomas Merton (Bảy Ngọn Núi của Thomas Merton) của
Michael Mott. Boston: Houghton Mifflin, 1986.
SN bChom ldan ‘Das Ma Shes Rab Kyi Pha Rol Tu Phyin Pa’i sNying Po. Mục Sher
Phyin. Quyển Ka, Kanjur (Dege).
SNG mKhyen brTse Heruka’i [Do Khyentse] gSang Ba’i rNam Thar Grub rTags sTon
Tshul ‘Thor bsDus (tờ 78) của Dechen Rikpe Raltri và những người khác. Một bản
thảo được cung cấp do thiện tâm của Zenkar Rinpoche.
TCG gSang Ba Ch’en Po Nyams sNang Gi rTogs brJod Ch’u Zla’i Gar mKhan (tờ 26), do
Jigme Lingpa khám phá. Quyển OM, Longchen Nyingthig Tsapö. Jamyang (Dilgo)
Khyentse xuất bản.
TKT bsTan rTsis Kun Las bsTus Pa của Tseten Zhaptrung (1910-?). Tso-ngon Mirik
Petrünkhang, Trung quốc.
TL Ye Shes mKha’ ‘Gro bDe Ch’en rGyai Mo’i Thugs Dam bsKang Ba’i Rim Pa Tshogs
gNyis Lhun Po (tờ 8) của Chö-nyön Dharma Senge. In mộc bản ở Tây Tạng.
TRL gTer ‘Byung Rin Po Ch’e’i Lo rGyus (tờ 53) của Tri-me Özer (Longchen Rabjam).
Phần I, Khandro Yangtig (Adzom). Lama Jigtrak và Tülku Pema Wangyal sao chép.
TT Kun mKhyen Dri Med Od Zer Gyi rnam Thar mThong Ba Don lDan (tờ 46) của
Chötrak Zangpo. Quyển 4, Vima Nyingthig (Adzom). Lama Jigtrak và Tülku Pema
Wangyal sao chép, Darjeeling, Ấn Độ.
TTR Gangs Chan Gyi Lo Pan rNams Kyi mTshan Tho Rags Rim (tờ 238) của Khyentse
Wangpo. Quyển Dza, Khyentse Kabum. Jamyang Khyentse sao chép, Ấn Độ.
WJ The Wish-Fulfilling Jewel: The Practice of Guru Yoga According to the Longchen
Nyingthig Tradition (Viên Ngọc Như ý: Thực hành Guru Yoga theo truyền thống
Longchen Nyingthig) của Dilgo Khyentse. Boston: Shambhala, 1988. 293
WO Las ‘Phro gTer brGyud Kyi rNam bShad Nyung gSal Ngo mTshar rGya mTsho (tờ
36) của Jigme Tenpe Nyima. Quyển Nga, Dodrupchen Sungbum. Dodrupchen
Rinpoche xuất bản, Sikkim, Ấn Độ. Anh ngữ: HTT.
YKG Klong Ch’en sNying Gi Thig Le Las. rDzogs Pa Ch’en Po Ye Shes Klong Gi rGyud (tờ
12) của Jigme Lingpa. Quyển HŪM, Longchen Nyingthig Tsapö. Jamyang [Dilgo]
Khyentse xuất bản, Ấn Độ.
YM Padma ‘Byung gNas Kyi rNam Par Thar Pa Yid Kyi Mun Sel (tờ 128) của Sokdokpa
Lodrö Gyaltsen. Golok Lama Jigtse sao chép, Sikkim, Ấn Độ.
YS Ye Grol Sor bZhag của Longchen Rabjam. Bản thảo.
ZL ‘Jigs Med bsTan Pa’i Nyi Ma’i gZim Lam sKor (tờ 5) của Tülku Pema Namgyal (mất
năm 1957). Bản thảo.
Chú thích
1. Mặc dù 624-544 Trước Công nguyên là những niên đại thường được truyền thống
Theravāda (Phật giáo nguyên thủy) chấp nhận, nhiều học giả đặt cuộc đời của Đức
Phật ở giữa thế kỷ thứ năm và thứ tư Trước Công nguyên.
2. Bám chấp vào cái “ngã” là khái niệm hiểu sự hiện hữu của một thực thể nơi bản
thân là “tôi” hay nơi chúng sinh và các sự vật là “anh,” “cái này,” hay “cái kia,” “cái
bàn” hay “cái ghế,” và v.v..
3. Mô tả về sự giác ngộ của Đức Phật được dựa trên GR 165a/1, KNR 34/19 và SKK I-
308/22.
4. Lha’i Mig Las Ye Shes mThong Ba’i Rig Pa. Trong một vài nguồn mạch thì đó là sự
nhớ lại mọi sự hiện hữu trong quá khứ, nhìn thấy mọi điều xảy ra trong tương lai, và
nhận thức sự cạn kiệt của mọi sự ô nhiễm.
5. sNgon Gyi gNas rJes Su Dran Pa’i Ye Shes mThong Ba’i Rig Pa.
6. Zag Pa Zad Pa Shes Pa mThong Ba’i Rig Pa.
7. Theo truyền thống, Phật giáo được phân loại thành những truyền thống khác nhau
(SKK I-361/s và DNN), như sau.
(1) Ba lần chuyển Pháp luân: (a) Chuyển Pháp luân lần thứ nhất là các giáo lý về
Đạo Phật thông thường (Hīnayāna, hay Theravāda), là giáo lý chủ yếu đặt nền tảng
trên Tứ Diệu Đế. (b) Chuyển Pháp luân lần thứ hai là giáo lý về Mahāyāna (Đại
thừa), chủ yếu là những Kinh điển Prajnāpāramitā (Bát nhã ba la mật đa) được
giảng dạy trên Đỉnh Linh Thứu. Lần chuyển Pháp luân này xác định rằng bản tánh
tối hậu của mọi hiện tượng thì thoát khỏi những đặc tính của sự tạo tác. Nó nhấn
mạnh vào ý nghĩa sâu xa của tánh Không nhờ “ba phương tiện của sự giải thoát”:
cái thấy về tánh Không (sTong Pa), con đường thoát khỏi những đặc tính (mTshan
Ma Med Pa), và kết quả của việc không ước nguyện (sMon Pa Med Pa). Các môn
đồ của giáo lý này trở thành trường phái Trung Đạo (Madyamaka) của Đại thừa. (c)
Chuyển Pháp luân thứ ba là giáo lý làm sáng tỏ tinh túy (Phật) giác ngộ của Đại
thừa, chủ yếu dựa trên Avatamsaka-sūtra (Kinh Hoa Nghiêm), Lankāvatāra-sūtra
(Kinh Lăng Già), và những Kinh điển khác. Giáo lý này giảng dạy rằng mọi hiện
tượng chỉ đơn thuần là những sự quy gán (Kun bTags) của tâm, tâm và những sự294
kiện trong tâm đang xuất hiện chỉ đơn thuần phụ thuộc (gZhan dBang) vào những
tập quán của nó, và như thị hoàn toàn được củng cố (Yongs Grub).
(2) Ba yāna (thừa): (a) Các giáo lý về Tứ Diệu Đế, v.v.. được ban cho các
shrāvaka (Thanh Văn, đệ tử) của Hīnayāna. (b) Các giáo lý về sự duyên khởi, v.v..
được ban cho các pratyekabuddha (Duyên giác, Độc giác Phật, Bích Chi Phật) của
Hīnayāna. (c) Các giáo lý về mười cấp độ (thập địa) và năm con đường, v.v.. dành
cho các bodhisattva (Bồ Tát, những vị truy cầu tâm giác ngộ) của Mahāyāna. (d)
Cũng có khi giáo lý về các nguyên lý bí mật của Vajrayāna (Kim Cương thừa), tantra
của Mahāyāna, được phân loại như thừa thứ tư.
8. GR 200a/5, DZ I-44b/1.
9. KBZ 6B/3.
10. DP 293/6.
11. DP 253/7.
12. DP 311/2.
13. Sáu ba la mật là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. DT 19b/1.
14. BG 6a/3.
15. DT 16b/2.
16. KBZ 19a/3.
17. SN 145a/5.
18. Tantra là sự tương tục của bản tánh tối thượng, với nền tảng, con đường, và kết
quả của nó. Đức Phật nói trong GPM 150a/1: “Tantra được gọi là sự tương tục.”
19. SKK III-160/3, 210/13, 212/ 23.
20. BG 13a/3.
21. GPM 152b/4, SKK III-159/14.
22. GPM 150a/4, SKK III-211/20.
23. Tuổi nhập Niết bàn được dựa trên MD 317b/2.
24. Niên đại này được dựa trên DPM 18b/5, 69a/3.
25. Niên đại này được dựa trên DPM 79b/4, 155a/3.
26. YKG 1b/1 và những tantra khác. Theo NPG 23a/2 Mahāsandhi là một cách viết sai
lạc của Mahāsamādhi, và nó cũng có nghĩa là mNyam Pa’i Blo Ch’en Po, Tâm Nhất
thể Vĩ đại..
27. KBZ 282a/4: Vajrapāni (Kim Cương Thủ) và KNR 93/8: gSang Ba ‘Dzin Pa
(Vajrapāni).
28. NTB 455/5.
29. KBZ 285b/4.
30. DKG 58b/5, LNG 42a/4.
31. GD 161a/1, NS 24a/2.
32. Mười tám Tantra của Mahāyoga:
Bản văn Gốc của Tất cả các Tantra Mahāyoga: (1) rDo rJe Sems dPa’ sGyu ‘Phrul
Drva Ba rTsa Ba’i rGyud gSang Ba sNying Po.
Năm Tantra Chính: (2) Tantra Thân: Sangs rGyas mNyam sByos. (3) Tantra Ngữ:
Zla gSang Thig Le. (4) Tantra Tâm: gSang Ba ‘Dus Pa. (5) Tantra Phẩm tính: dPal
mCh’og Dang Po. (6) Tantra Hành động: Kar Ma Ma Le.
Năm Tantra Sādhana: (7) Heruka Rol Ba. (8) rTa mCh’og Rol Ba. (9) sNying rJe Rol
Ba. (10) bDud rTsi Rol Ba. (11) Phur Ba bChu gNyis Pa ‘Byung Ba.
Năm Tantra Hoạt động: (12) Ri Bo brTsegs Pa. (13) Ye Shes rNgam Glog. (14) Dam
Tshig bKod Pa. (15) Ting ‘Dzin rTse gChig. (16) Glang Ch’en Rab ‘Bog.
Hai Tantra cho sự Viên mãn: (17) rNam sNang sGyu ‘Phrul Drva Ba. (18) ‘Phags Pa
Thabs Kyi Zhags Pa.
33. LNG 48a/2.
34. DKG 64b/5. 295
35. SKK I-395/7.
36. Dựa trên GZ và cũng dựa trên NLS 17b/5.
37. GD 161b/6, NS 24a/3.
38. Một số trong các tantra Anuyoga là như sau:
Bốn mDo Gốc: (1) Kun ‘Dus Rig Pa’i mDo (sPyi mDo). (2) Sangs rGyas Thams Chad
dGongs Pa ‘Dus Pa. (3) Ye Shes rNgam Glog. (4) sSang Ba Dur Khrod Khu Byug
Rol Ba.
Sáu Tantra Nhánh: (1) Kun Tu bZang Po Ch’e Ba Rang La gNas Pa’i rGyud. (2)
dBang bsKur rGyal Po. (3) Ting ‘Dzin mCh’og. (4) sKabs sByor bDun Pa. (5) br
Tson Pa Don lDan. (6) Dam Tshig bKod Pa.
Mười hai Tantra Hiếm có: (1) Zhi Ba Lha rGyud. (2) Ch’os Nyid Zhi Ba’i Lha rGyud.
(3) Khro Bo’i Lha rGyud Ch’en Mo. (4) Khro Bo’i Lha rGyud rTogs Pa Ch’en Po. (5)
Thugs rJe Ch’en Po’i gTor rGyud. (6) rNal ‘Byor Nang Pa’i Tshogs rGyud Ch’en
Po. (7) dPal ‘Bar Khro Mo. (8) Rakta dMar Gyi rGyud. (9) Me Lha Zhi Bar Kyur Ba
‘Bar Pa’i rGyud. (10) Khro Bo’i sByin Sreg rDo rJe’i Ngur Mo. (11) Hūm mDzad
Ch’en Mo. (12) Zla gSang Ch’en Mo.
39. Dựa trên GZ.
40. GD 166a/2, NS 24a/4.
41. NCC 6b/a, NS 304a/6.
42. Hai mươi mốt tantra chính của Semde là:
Năm Tantra Ban đầu do Vairochana Dịch: (1) Rig Pa’i Khu Byug. (2) rTsal Ch’en
sPrug Pa. (3) Khyung Ch’en lDing Ba. (4) rDo La gSer Zhun. (5) Mi Nub Pa’i rGyal
mTshan Nam mKha’ Ch’e.
Mười ba Tantra Sau do Vimalamitra dịch: (6) rTse Mo Byung rGyal. (7) Nam mKha’i
rGyal Po. (8) bDe Ba ‘Phrul bKod. (9) rDzogs Pa sPyi Ch’ings. (10) Byang Ch’ub
Sems Tig. (11) bDe Ba Rab ‘Byams. (12) Srog Gi ‘Khor Lo. (13) Thig Le Drug Pa.
(14) rDzogs Pa sPyi sPyod. (15) Yid bZhin Nor Bu. (16) Kun Dus Rig Pa. (17) rJe
bTsan Dam Pa. (18) sGom Pa Don Grub.
Ba Tantra Chính Khác: (19) Kun Byed rGyal Po. (20) rMad Byung. (21) Mười ba
Kinh điển (mDo) của Semde.
43. NCC 7a/6.
44. Một số trong những tantra chính của Longde: (1) Klong Ch’en Rab ‘Byams rGyal Po.
(2) Kun Tu bZang Po Nam mKha’ Ch’e. (3) Rin Ch’en gDams Ngag sNa Tshogs
‘Khor lo. (4) rDo rJe Sems dPa’ Nam mKha’i mTha’ Dang mNyam Pa. (5) Ye Shes
gSang Ba’i sGron Ma. (6) Rin Ch’en ‘Khor Lo. (7) rDzogs Pa Ch’en Po Byang Ch’ub
Kyi Semss Kun La ‘Jug Pa.
45. NCC 7b/5, KZZ 8a/6.
46. Các Tantra Chính của Me-Ngagde, NCC 8b/4:
Mười bảy tantra: (1) rDzogs Pa Rang Byung Ch’en Po. (2) Yi Ge Med Pa. (3) Rig Pa
Rang Shar Ch’en Po. (4) Rig Pa Rang Grol Ch’en Po. (5) Rin Ch’en sPungs Ba. (6)
sKu Dung ‘Bar Ba Ch’en Po. (7) sGra Thal ‘Gyur Ch’en Po. (8) bKra Shis mDzes
lDan Ch’en Po. (9) rDo rJe Sems dPa’ sNying Gi Me Long. (10) Kun Tu bZang Po
Thugs Kyi Me Long. (11) Ngo sProd Rin Po Ch’es sPras Pa. (12) Mu Tig Phreng
Ba. (13) Klong Drug Pa’i rGyud. (14) sGron Ma ‘Bar Ba. (15) Nyi Zla Kha sByor.
(16) Seng Ge rTsal rDzogs Ch’en Po. (17) Nor Bu ‘Phra bKod.
Hai Bản văn Bổ túc: (18) Ekajatī Khros Ma’i rGyud. (19) Klong gSal ‘Bar Ma.
47. Đối với truyền thống terma, xin đọc HTT.
48. Dựa trên NLC, DKG 48b/6 & 88a/1, NCG.
49. Dựa trên LRP, DKG 57b/5, NCG.
50. KZD 12b/6.
51. RD6 6b/2. 296
52. KBZ 288b/5.
53. NTG 1b/1, RD 6b/6.
54. PKD 124/5, LNG 310b/2.
55. Xem NCC 9b/1, KZZ 9a/1, NGR 65b/5.
56. Một số trong những bản văn chính hay luận giảng về Longchen Nyingthig do các đệ
tử của Jigme Lingpa và các Đạo sư sau này như sau:
Về Ngöndro, Thực hành Chuẩn bị:
(a) rNam mKhyen Lam bZang, bản văn Ngöndro (tờ 13), của Jigme Thrinle Özer
(b) Kun bZang Bla Ma’i Zhal Lung (tờ 306) của Paltrül Rinpoche.
(c) sNgon ‘Gro’i dMigs Rim bsDus Pa (tờ 11) của Paltrül Rinpoche.
(d) sNgon ‘Gro’i Ngag ‘Don rNam mKhyen Lam bZang gSal Byed (tờ 25) của
Khyentse Wangpo.
(e) sNgon ‘Gro’i dMigs Rim Zab Don bDud rTsi’i Nying Khu (tờ 12) của Khyentse
Wangpo.
(f) sNgon ‘Gro’i Khrid Yig Thar Lam gSal Byed sGron Me (tờ 247) của Adzom
Drukpa, Drudul Pawo Dorje.
(g) Bla rNam La Nye Bar mKho Ba’i Yi Ge Padma Od Du bGrod Pa’i Them sKas (tờ
13) của Dodrupchen, Jigme Tenpe Nyima.
(h) Kun bZang Bla Ma’i Zhal Lung Gi Zin Bris (tờ 205) của Khenpo Ngawang
Palzang ở Tu viện Kathok.
(i) sNgon ‘Gro Kun Las bTus Pa (trang 110) của Yukhok Chatralwa.
(j) sNgon ‘Gro‘i Zin Bris Blo dMan Yid Kyi Mun Sel (tờ 131) của Nubpa Thrinle
Chöphel ở Tsang.
(k) sNgon ‘Gro’i ‘Brul ‘Grel rNam mKhyen Thar Gling bGrod Pa’i Them sKas của
Gonpo Tseten ở Amdo.
(l) sNgon ‘Gro’i rNam bShad mTshungs Med Bla Ma’i Byin rLabs Ch’ar rGyun (104)
của Thekchok Yeshe Dorje ở Bhutan.
(m) lKong Ch’en sNying Thig Gi sNgon ‘Gro’i Ngag ‘Don Gyi ‘Bru ‘Grel Nyung Ngu
Khro Med Bla Ma Ch’ung Ch’ung (tờ 31) của Subhashita (Horlu Lama Legshed) ở
Nyag-rong, Kham.
(n) Klong Ch’en sNying Thig Gi sNgon ‘Gro’i Ngag ‘Don Gyi ‘Bru ‘Grel rNam mKhyen
Lam sGron (tờ 82) của Chokyi Tragpa, Kham.
Về Rigdzin Düpa (Rig ‘Dzin ‘Dus Pa, Hội chúng các Trì minh vương):
(a) Rig ‘Dzin ‘Dus Pa’i Phyag Len mThong gSal Me Long (tờ 5) của Paltrül
Rinpoche.
(b) Rig ‘Dzin ‘Dus Pa’i Zin Bris Rig ‘Dzin Zhal Lung bDe Ch’en dPal sTer (tờ 58) của
Chechok Tontrup Tsal (Kyala Khenpo, Chöchok) ở Tu viện Dodrupchen.
Về Yumka Dechen Gyalmo (Yum Ka bDe Ch’en rGyal Mo, Nữ Hoàng Đại Lạc):
(a) Yum Ka bDe Ch’en rGyal Mo’i sGrub gZhung Gi ‘Grel Ba rGyud Don sNang Ba
(tờ 107) của Raton Ngawang Tendzin Dorje, một đệ tử của Jigme Lingpa.
(b) Yum Ka bDe Ch’en rGyal Mo’i sGrub gZhung Gi Zin Bris bDe Ch’en Lam bZang
gSal Ba’i sGron Me (tờ 22) của Dodrupchen, Jigme Tenpe Nyima.
(c) Yum Ka bDe Ch’en rGyal Mo’i rTsa sNgags Kyi ‘Grel bShad rNam mKhyen
bGrod Pa’i Them sKas (tờ 6) của Jigme Tenpe Nyima.
(d) Yum Ka’i rTsa sGrub Kyi Ch’o Ga’i bsDus ‘Grel (tờ 14) của Lingtul ở Wangda,
Golok, một đệ tử của Alak Do-ngak Gyatso.
(e) Yum Ka’i Zin Bris Kha bsKong Rig ‘Dzin Zhal Lung (tờ 34) của Konchok Donme
(Konme Khenpo) ở Tu viện Dodrupchen.
(f) Yum Ka bDe Ch’en rGyal Mo’i sGrub gZhung Gi Zin Bris rMong Pa’i Mun Sel (tờ
19) của Sangye Özer ở Gyarong, một đệ tử của Kyala Khenpo. 297
(g) Yum Ka bDe Ch’en rGyal Mo’i rTsa Ba’i sGrub Pa bDe Ch’en dPal Phreng Gi
Tshig ‘Grel (tờ 63) của Gonpo Tseten ở Amdo.
Về Palchen Düpa (dPal Ch’en ‘Dus Pa, Hội chúng các Bổn Tôn Vinh quang Vĩ đại):
(a) dPal Ch’en ‘Dus Pa’i Las Byang Gi dGongs Don Chung Zad bShad Pa Zab Don
gSal Byed Rin Ch’en sNang Ba (tờ 103) của Khyentse Özer (Dilgo Khyentse).
(b) dPal Ch’en ‘Dus Pa’i Zin Bris (tờ 4) của Mati (Kyala Khenpo) ở Tu viện
Dodrupchen.
(c) dPal Ch’en Dus Pa’i Ch’o Ga’i dMigs Rim Zhal Lung bDud rTsi’i Thig Pa (tờ 39)
của Garwa Khenpo Özang ở Tu viện Dodrupchen.
(d) dPal ‘Dus sMan sGrub brTags Thabs Mar Me sMon Lam sTong Thun bChas (tờ
6) của Khenpo Pema Badzar ở Tu viện Dzogchen.
(e) sGrub Khog Chung Zad gSal Du Byas Pa Rin Po Ch’ei Za Ma Tog (tờ 14) của
Dodrupchen Jikme Tenpe Nyima.
Về Phurba (Phur Pa, Vajrakila):
(a) Phur Ba bDud dPung Zil gNon Gyi Zin Bris Phur Thogs mGrin Pa’i rGyan (tờ 9)
của Dodrupchen, Jikme Tenpe Gyaltsen [Nyima].
(b) Phur Ba’i Zin Bris bsDus Pa (tờ 4) của Mati (Kyala Khenpo).
Về Thukje Chenpo (Thugs rJe Ch’en Po, Avalokiteshvara):
(a) sDug bsNgal Rang Grol bsNyen Yig Grub gNyis Nor Bu’i Gan mDzod (tờ 15) của
Khenpo Peme Badzar ở Tu viện Dzogchen.
(b) sDug bsNgal Rang Grol bsNyen Yig Rig Pa ‘Dzin Pa’i dGongs rGyan (tờ 12) của
Khenpo Pema Badzar của Tu viện Dzogchen.
(c) sDug bsNgal Rang Grol Gyi sGrub Pa’i Khog dBub Rin Po Che’i Za Ma Tog (tờ
22) Khenpo Ngawang Palzang ở Tu viện Kathok.
Về Takhyung Barwa (rTa Khyung ‘Bar Ba, Guru Rinpoche Phẫn nộ):
(a) rTa Khyung ‘Bar Ba’i bsNyel Tho Rin Ch’en sGon Me (tờ 9) của Dodrupchen,
Jigme Tenpe Nyima.
Về Ladrup Thigle Gyachen (Bla sGrub Thig Le’i rGya Chan, Longchen Rabjam):
(a) Bla sGrub Thig Le’i rGya Chan Gyi bsNyen Yig Grub gNyis Shing rTa (tờ 6) của
Jamyang Khyentse Wangpo.
Về Chod Khadö Ke-gyang (gChod mKha’ ‘Gro’i Gad rGyangs):
(a) mKha’ ‘Gro’i Gad rGyangs Kyi dMigs gNad ‘Dril Ba gSal Byed sNye Ma (tờ 17)
của Dodrupchen, Jigme Thrinle Özer.
(b) gChod Yul mKha’ ‘Gro’i Gad rGyangs Kyi Man Ngag Zab Mo (tờ 9) của Paltrül
Rinpoche.
(c) mKha’ ‘Gro’I Gad rGyang Gi ‘Grel Ba mKa’ ‘Gro’i gSang mDzod bDud rTsi’i Bum
bZang (tờ 31) của Rigdzin Nangdze Dorje, một đệ tử của Zhabkar.
Về Kongshak (sKong bShags, Những Lời Cầu nguyện Tịnh hóa và Đáp ứng):
(a) Skong bShags rDo rJe Thol Glu’i Tshig ‘Grel bDus Pa (tờ 47) của Pema
Kunzang Rangtrol, một đệ tử của Adzom Gyalse Gyurme Dorje.
Về Ngomon (bsNgo sMon, Những Lời Cầu nguyện Hồi hướng và Ước nguyện):
(a) Zangs mDog dPal Ri’i sMon Lam Gyi rNam bShad Phun Tshogs sTong lDan (tờ
28) của Viryadhara.
(b) gZhi Lam ‘Brs Bu’i sMon Lam Gyi ‘Grel Ba (tờ 5) của Khenpo Yönten Gyatso.
Về Thaplam (Thabs Lam), Con Đường Phương tiện Thiện xảo:
(a) Klong Ch’en sNying Gi Thig Le Las Thabs Lam sBas Don Gyi ‘Bru ‘Grel Gab Don
mNgon gSal (tờ 24) của (Trupwang Jigme) Namkha Gyatso.
(b) bDe sTong rLung Gi rDzogs Rim sNyan rGyud Yid bZhin Nor Bu’i Shog Dril (tờ
30) của Namkha Gyatso ?).
(c) Klong Ch’en sNying Gi Thig Le Las Rig ‘Dzin ‘Khrul ‘Khor dPeu Ris (trang 24)
của Namkha Gyatso (?). 298
Về Dzopa Chenpo
(a) Ch’os Kyi rGyal Po Lung rTogs bsTan Pa’i Nyi Ma La sPrul sKu sKu gSum Gling
Pa’i Dris Lan Ka Lhun Zung ‘Jug Gi gDams Pa (tờ 32) của Nyoshul Lungtog.
(b) Ye Shes Bla Ma’i sPyi Don Kun bZang Thugs Kyi Tikka (tờ 271) của Pema
Ledreltsal (Ngawang Palzang) ở Tu viện Kathok.
(c) gNas Lugs rDo rJe’i Tshig rKang Gi ‘Grel Ba (trang 14) của Yukhok Chatralwa.
Các luận giảng về Yon Tan Rinpoche’i mDzod của Jigme Lingpa và những luận
giảng của nó:
(a) rGyal mTsho’i Ch’u Thig (bản ngắn) của Dodrupchen đệ Nhất.
(b) rGyal mTsho’i Ch’u Thig (bản chi tiết) của Dodrupchen đệ Nhất.
(c) gSer Gyi Thur Ma của Tentar Lharampa ở Mông Cổ. LST
(d) Yon Tan Rin Po Ch’e’i mDzod Kyi dKa’ ‘Grel Nyin Byed sNang Ba (tờ 70) (và
những Sa bChad khác nhau) của Paltrül Rinpoche.
(e) Zla Ba’i sGron Me và Nyi Ma’i Od Zer (quyển 1 & 2) của Khenpo Yönten Gyatso
của tu viện Dzogchen.
(f) Yon Tan mDzod Kyi mCh’an ‘Grel của Longchen Rolpa Tsal (Kagyur Rinpoche).
Bản thảo.
Về ‘Don ‘Grigs (các Nghi lễ), dByangs Rol (Âm nhạc) và gTor Ma (Bánh Cúng
dường):
(a) sNying Thig rTsa gSum gSol Kha’i ‘Don ‘Grigs Blo gSar Yid Kyi dGa’ sTon (tờ
53) của Golok Khenpo Tsondrü.
(b) Klong Ch’en sNying Gi Thig Le Las Rig ‘Dzin ‘Jigs Med Gling Pa’i bKa’ gTer Gyi
Ch’o Ga’i rNga Tshig sKal bZang dGa’ bsKyed (tờ 9) của (Dodrupchen) Jigme
Thrinle Özer.
(c) gSang sNgags Kyi Ch’o Ga’i dByangs Rol Dang gTor Ma Sogs Kyi Lo rGyus
Phan Yon mDor bsDus rGyu mTshan Shes Pa’i Gleng gZhi (tờ 5) của Khyentse
Özer [Dilgo Khyentse].
(d) sNying Thig Gi gTor Ma’i bCha’ Yig (tờ 12) của Khyentul [Do Khyentse].
(e) Klong Ch’en sNying Thig Gi gTor Ma’i dPeu Ris (trang 5) của Dilgo Khyentse (?).
Các Bài viết về hay các Bản Dịch của Giáo lý Longchen Nyingthig bằng Anh ngữ:
(a) The Way of Power. A Practical Guide to the Tantric Mysticism of Tibet by John
Blofeld (London: George Allen & Unwin, 1970). Xem chương 2, “The Preliminaries”
(trang 147-168).
(b) English introduction to The Autobiographical Reminiscences of Ngag-dbangdpal-bzang, Late Abbot of Kah-Thog Monastery by Gene Smith (Gangtok: Sonam
T. Kazi, 1969).
(c) The Short Preliminary Practice of Longchen Nyingthig by Kunkhyen Jigme
Lingpa. Restructured by the fourth Dodrupchen Rinpoche (Mahasiddha Nyingmapa
Center).
(d) Tantric Practice in Nyingma by Khetsun Sangpo Rinbochay, tr. and ed. by Jeffrey
Hopkins and Anna Klein (Snow Lion, 1982).
(e) A Wondrous Ocean of Advice for the Practice of Retreatments in Solitude (Ri
Ch’ö Zhal gDams), tr. David Christensen. (London: Rigpa, 1987).
(f) The Wish-Fulfilling Jewel: The Practice of Guru Yoga According to the Longchen
Nyingthig Tradition (p. 108) by Dilgo Khyentse. Tr. By Könchog Tenzin (Boston:
Shambhala Publications, 1988).
(g) The Dzogchen Innermost Essence Preliminary Practice by Jigme Lingpa. Tr. with
commentary by Tulku Thondup (Library of Tibetan Works and Archives, 1989).
(h) Kun-zang La-may Zhal-lung, The Preliminary Practices. Vol. I & II. Tr. By Sonam
T. Kazi. (Diamond-Lotus Publishing, 1989)
(i) EL. See chap. 8, “Entering into the Path (sPyod Yul Lam Khyer).” 299
(j) The Assemblage of Vidyādharas (Rig ‘Dzin ‘Dus Pa) of Longchen Nyingthig, tr.
Tulku Thondup (Dodrupchen Rinpoche, 1991).
(k) The Queen of Great Bliss (Yum-Ka bDe Ch’en rGyal Mo) of Longchen NyingThig, tr. Tulku Thondup (Dodrupchen Rinpoche, 1991).
(l) Tibetan Buddhism: Reason and Revelation, ed. Steven D. Goodman and Ronald
M. Davidson (SUNY, Albany, 1992). See chap. 8, “Rig-‘dzin’Jgs-med gling-pa and
the kLong-Chen sNying-Thig,” pp.133-146.
(m) NTB. See [Life of] Jigme Lingpa, vol. 1, pp. 835-840.
(n) The Words of my Perfect Teacher (Kunzang Lama’i Shelung) by Paltrül
Rinpoche, tr. Padmakara Translation Group (HarperCollins, 1994).
(o) Meeting the Great Bliss Queen by Anne Klein (Boston: Beacon, 1994).
(p) Enlightened Journey: Buddhist Practice as Daily Life by Tulku Thondop, ed.
Harold Talbott (Boston: Shambhala Publications, 1995). See chaps. 10 & 12, “The
Meditation of Ngöndro” and “Receiving the Four Empowerments of Ngöndro
Meditation.”
(q) Dancing moon, Dākinī Talk: The Secret Autobiography of Jigme Lingpa by Janet
Gyatso (forthcoming from Princeton Univ. Press).
(r) Fearless Vision by Stephen D. Goodman (forthcoming from Rangjung Yeshe).
57. KR 126a/1, NGR 35b/3.
58. DP 5b/1.
59. BC 1a/1.
60. Theo LRP 238a/1&243a/3, KKZ 283a/4-285b/3 và những tác phẩm khác,
Manjushrīmitra là Đạo sư Nyingthig chính của Shrīsimha. Nhưng Shrīsimha cũng
nhận Khandro Nyingthig và những giáo lý khác từ Garab Dorje và trực tiếp trao
truyền chúng cho Guru Rinpoche. Vì thế Longchen Nyingthig, là tinh túy của
Nyingthig lúc ban đầu, được Garab Dorje trao truyền cho Shrīsimha cũng như đến
qua dòng truyền thừa của Garab Dorje, Manjushrīmitra, Shrīsimha, và v.v..
61. “Đức Vua” là Vua Trisong Detsen, “các Thần dân” là 24 (hay 25) đệ tử chính của
Guru Rinpoche. “người Hỗ trợ” là Yeshe Tsogyal, phối ngẫu của Guru Rinpoche.
62. sTon ‘Khor dGongs Pa gChig Pa.
63. sTon ‘Khor dGongs Pa dByer Med Tu Gyur Pa.
64. Được tóm tắt từ TDD 235b/4.
65. Tiểu sử này được dựa trên NLC 45a/6 và cũng dựa trên PKD 17a/4, TRL 7a/4, KGT
I 565/20, DKG 4 8b/6, LNG 60a/4.
66. Tôi đã phục hồi các thuật ngữ tiếng Phạn cho nhiều từ Tây Tạng, theo các dịch giả
hiện đại. Tuy nhiên, có thể có một số từ không chính xác, bởi có thể có nhiều thuật
ngữ tiếng Phạn.
67. KBZ 283 a/2: Me Tog gSal (Hoa Chói lọi), có thể là tên của cô trước khi cô xuất gia.
Ngoài ra BND 21a/5 đưa ra Varani (hay Barani), KNR 112/3 Prarani, và SKK I 390/2
Praharani.
68. BND 21a/4, KNR 112/3: Dha he na ta lo, có thể là tên của vua, bởi Uparāja là một
tựa đề. DKG 48b/6: Uparāja hay Dharmāshoka. SKK I 390/2: Dharma Ashoka.
69. SKK I 390/2.
70. Theo BND 21b/2, KBZ 283a/5, KNR 112/11, SKK I 390/3, sư cô có những giấc mơ
kỳ diệu và đi tới một cái hồ để tắm. Ở đó một hóa thân của Vajrapāni (Kim Cương
Thủ) trong thân tướng của một con ngỗng, cùng với bốn con ngỗng khác, hạ xuống
cạnh sư cô và chạm cái mỏ của nó vào tim của sư cô ba lần, và cô nhìn thấy một
chữ HŪM bằng ánh sáng tan vào cô. Khi Garab Dorje sinh ra giữa những điều
huyền diệu, và hộ trì các tantra Đại Viên mãn trong ký ức của ngài, các vị trời và
người đã đánh dấu sự kiện này bằng lời tán thán và sự hỉ lạc. Những nguồn mạch
này không đề cập tới việc mẹ ngài từ bỏ ngài. 300
71. Theo PKD 18a/1, DKG 49b/1, SKK I 390/9, 394/6, LNG 62a/6 và những tác phẩm
khác, Prahevajra đã nhận những trao truyền từ Vajrasattva, và theo LRP 237a/6,
BND 22a/1, và KBZ 283b/6, ngài đã nhận những giáo lý đó từ Vajrapāni. Có một vị
Bồ Tát tên là Vajrapāni, nhưng đây là Đức Phật Vajrapāni (De bZhin gShegs Pa
Phyag Na rDo rJe), là đấng cũng được gọi là Pháp Vương (Suối nguồn) của Tâm
yếu Bí mật (gSang Ba’i bDag Po).
72. Nói chung, Dur Khrod (mộ địa hay bãi hỏa thiêu) là một nơi linh thiêng, chủ yếu là
nơi hỏa thiêu, chôn cất, hay vứt bỏ. Nhưng đó không phải là lý do khiến những bãi
đất đặc biệt này trở nên quan trọng. Mộ địa thì tràn đầy ý nghĩa. Nó là nơi chấm dứt
bản ngã và kết thúc việc bám luyến và tham muốn đối với thân xác và cuộc đời. Đó
là nơi chuyển hóa cái gọi là các hiện tượng tiêu cực như tự nhiên và là nơi buông bỏ
nỗi sợ hãi và ganh ghét. Nếu quý vị đọc NLC, LRP, TRL, và LG viết về lịch sử của
Nyingthig, quý vị sẽ thấy là những nơi này có sức mạnh và năng lực tự nhiên và tâm
linh. Chúng thật khủng khiếp, đầy những tinh linh lang thang và quỷ ma lùng sục,
những tử thi cũ và mới, những con sông máu, những ngọn thác độc hại, và những
dã thú đe dọa tính mạng của ta. Nhưng chúng cũng là những nơi chốn hỉ lạc của sự
cô tịch yên bình, những rừng cây vui tươi, những đóa hoa nở, cây trái ê hề, những
đàn chim ca hót, những con sư tử và cọp thuần tánh, không gian bao la rộng lớn,
cao rộng như ở giữa mặt trời, mặt trăng, và những vì sao, mà không có những hệ
thống hay tiêu chuẩn để được hình thành, thoát khỏi những phóng dật hay những
hạn chế. Đó là nơi các đại dương dāka và dākinī cử hành những “bữa tiệc” trang
trọng. Tiếng rống của những bài Pháp vang động khắp nơi, và ánh sáng tỏa chiếu từ
niềm vui sâu xa của sự hỉ lạc và khoáng đạt. Như vậy, những mộ địa này là những
địa điểm của năng lực, sức mạnh, và tinh thần, cả tích cực lẫn tiêu cực, là nơi cần
thiết để một hành giả khổ hạnh chuyển hóa thành sức mạnh bí mật và năng lực giải
thoát.
73. LRP 238a/1 & 243a/3, KBZ 285b/3.
74. TRL 9b/3, LRP 238a/1.
75. DCS 16b/1 19b/2.
76. Tiểu sử này được dựa trên NLC 52a/4, và cũng dựa trên LNG 62b/5, KBZ 284a/2,
PKD 12a/2, 18b/1, DKG 49b/2, KGT 567/3 và KNR 113/21.
77. KBZ 284a/2, tên của thân phụ ngài: bDe sKyong và tên của thân mẫu ngài: Kuhana,
và ngài gặp Garab Dorje ở Oddiyāna. PKD 12a/2: Tên của thân phụ ngài:
Sādhushastrī. KNR 113/22: tên của thân phụ ngài: dPal lDan sKyong và tên của
thân mẫu ngài: Kuhana, và ngài gặp Garab Dorje tại Oddiyāna.
78. BND 24a/4, KBZ 285a/3.
79. Thật khó hiểu được loại năm này có nghĩa là gì. Có hai vấn đề: (a) Có một truyền
thống tính mỗi sáu tháng là một năm, được dựa trên một “tiến trình” (bGrod Pa,
Phạn: ayana) của mặt trời. Khi mặt trời di chuyển từ phương nam sang phương bắc,
đó là trên tiến trình phương bắc của nó; khi nó di chuyển từ bắc qua nam, đó là trên
tiến trình phương nam của nó. (b) Ngoài ra, nhiều Đạo sư cổ xưa đã đạt được sự
trường thọ và sống nhiều thế kỷ, nhiều vị ở trong thân ánh sáng và thậm chí một số
vị sống trong thân hữu hoại của mình.
80. DCS 19b/2-23b/6.
81. LNG 65a/6.
82. Tiểu sử này được dựa trên NLC 55b/1, và cũng được dựa trên PKD 19a/5, LNG
65b/1, TRL 9b/1, KBZ 285b/1, và KGT 569-I.
83. KBZ 285b/1 và TRL 9b/2: Hastibhala. LNG 65b/1: tên của thành phố là Sho Khyam
và tên của vị Thầy là Haribhala. KNR 117/15: tên thành phố là Zho Sha; tên thân phụ
là Vua Gru Khyer, và tên thân mẫu là Nan Ka.
84. PKD 19b/1, LNG 65b/5, KNR 117/21, TRL 9b/5: Bhelakīrti. NLC 56/5: Bilekiti. 301
85. LRP 238a/1 & 243a/3, KBZ 285b/3.
86. TRL 9b/3, LRP 238a/1, BND 55a/1-66b/4.
87. DCS 23b/6-47a/4.
88. Tiểu sử này được dựa trên NLC 60a/2, và cũng dựa trên PKD 20a/2, LGN 66b/5,
DKG 51a/2, KGT 568/12 và KNR 118/25.
89. KNR 119/1: Tên của thân phụ là Apardajana, và tên của thân mẫu là rGya mTsho
Ma.
90. Một số người nghĩ rằng Li ở Nepal, nhưng hầu hết các học giả cho rằng nó là
Khotan, hiện nay là Xinjiang ở Trung quốc. Tuy nhiên, KNR 162/24 nói nó là ‘Jang
thuộc tỉnh Yunnan (Vân Nam) của Trung quốc.
91. KGT 570/1: Ba Sing.
92. DCS 27b/4-30a/3. (Cũng xem BM 70/14.)
93. Tiểu sử này được dựa trên NLC 60a/1, 68a/6 và cũng dựa trên LGN 66b/4, 68a/2,
107b/6, DKG 52a/1, KNR 119/8, 200/20, KGT 568/11, 570/2, 572/3, và PKD 20a/2,
96b/3.
94. DKG 52a/4. KGT 570/2: ánh sáng hiện ra.
95. LNG 68a/4: sNang Byed. NLC 63/6: Srod Byed.
96. LNG 68b/4: Bhirya. NLC 70b/5: Bi rGyal.
97. PKD 97a/1: Vimalamitra ban các giáo lý Nyingthig Bí mật Thâm sâu cho năm đệ tử:
Vua Trisong Detsen, Thái tử Mu-ne Tsepo, Nyang Tingdzin Zangpo, Kawa Paltsek,
và Chok-ro Lü’i Gyaltsen.
98. Tiểu sử này được dựa trên LNG 46a/6, 78a/6, YM 19, LRP 238b/1, RBP 6b/4-34b/4,
KNR 22b/10-140b/3, 150-178, GRL 10b/2, LG, KGT I-596/18-60223, và những bản
văn khác.
99. YM 81a/4.
100. Những truyền thống Ấn Độ cổ, kể cả Phật giáo, chấp nhận bốn cách sinh ra: tạng
sanh, thấp sanh, noãn sanh, và sanh tinh khiết (hóa sanh), là một cách sanh ra tức
thì, chẳng hạn như sinh từ một hoa sen.
101. Trong lịch sử Phật giáo Mật thừa có nhiều Vua Indrabhūti. Đó có thể là một cái tên
phổ thông đối với hoàng tộc; hay ngoài ra đó là tên của một dòng vương giả. Tuy
nhiên, theo YM 19a/6, ngài là Indrabhūti đệ nhị của Oddiyāna.
102. TRL 18a/2.
103. Bốn Trì minh vương được dựa trên DD 58a/4.
104. Tuy nhiên, theo NG 9a/1 và LY 375/15, Sahor là nơi nào đó gần thành phố
Bangalpur ở các bang Bengal và Bihar của Ấn Độ.
105. NFH II-36 (488): Đó là hang động Haileshi, gần thị trấn Rumjitar ở Quận
Sagarmatha, Nepal.
106. Về mặt thành công thì “trì minh vương còn dư nghiệp” và “trì minh vương kiểm soát
được đời sống” đều ngang nhau. Không nhất thiết phải đạt được mọi cấp độ cái này
sau cái kia. Nếu quý vị là người hạ căn, quý vị sẽ thành tựu cấp độ đầu tiên, và sau
đó đi tới trì minh vương thứ ba. Nếu quý vị là người có căn cơ khá hơn, quý vị có
thể thành tựu cấp độ thứ hai và tiến tới cấp độ thứ ba. Nhưng hãy nhớ rằng Guru
Rinpoche đang ‘hiển lộ” là một người sùng mộ trên con đường này.
107. YM 24a/1, PKG 602/26. KGT I-87/14: “dBang-Po’i sDe” hay “Grags-Pa.” Xem GK
42/3 đối với Grags Pa’i rGyal mTsan.
108. LG 204b/3, LRP 243a/3.
109. Xem LNG 50b/4, NFH II-37 (n. 494), và GP 203/21.
110. Niên đại được dựa trên DPM 96b/2.
111. KD 232/10.
112. WO (Anh ngữ: HTT).
113. TRL 44b/3. 302
114. RBP 17a/4, LNG 84a/2.
115. Niên đại được dựa trên DPM 163b/1.
116. SLD 52a/4.
117. YM 112a/2.
118. GDG 173/8.
119. Tuy nhiên, một vài tiểu sử của Guru Rinpoche mà tôi đã đọc không đề cập tới thời
gian và địa điểm ngài đã hiển lộ sự thành tựu bốn công việc hộ trì trí tuệ, ngoài việc
nói rằng ngài đang hộ trì trí tuệ của sự thành tựu tự nhiên ở Zangdok Palri (RBP
14b/2). Ngoài ra cũng có ghi chép là Dodrupchen viết (DD trang 60a/1) rằng ta có
thể trực tiếp thâm nhập Phật quả sau trạng thái của trì minh vương thứ ba hay thậm
chí sau các thành tựu lúc ban đầu.
120. RT 356/11.
121. Những tiểu sử này được dựa trên RBP 31b/1.
122. Những tiểu sử này được dựa trên KNR 146/2, 165/19 và RBP 15a/4.
123. Các niên đại được dựa trên DPM 18b/5 và DPM 69a/3.
124. Số lượng, tên, và thâm niên của họ được dựa trên DPM 154b/1, KNR 164/5, và
LNG 84a/2.
125. YM 70a/3, 77a/5, PGG 67/14, DPM và RBP 17a/6.
126. Các tiểu sử này được dựa trên RBP 18a/2, LNG 146a/4 và YM 68a/6.
127. Tiểu sử này được dựa trên RBP 23a/3, DKG 54a/1 và LNG 93b/4.
128. LRB 5a/6.
129. Tiểu sử này được dựa trên TT và cũng dựa trên DKG 95a/6 108a/3, LNG 119b/3
138a/2, và TRL 48b/2.
130. Hay Sangphu Nethok. Đó là trung tâm tu học quan trọng nhất trong thời đại của
Longchen Rabjam. Nó được thành lập bởi Ngok Lekpe Sherap, một đệ tử của Đạo
sư vĩ đại Atīsha xứ Ấn Độ vào năm 1073. Ngok Lo Loden Sherap (1059-1109) và
Chapa Chöseng (1109-1169) đã giảng dạy ở đó. Trung tâm này đã sản sinh nhiều trí
tuệ vĩ đại của Tây Tạng.
131. Theo Truptha Dzö, đó là gSer Yig Chan, gYu Yig Chan, Tung Yig Chan, và Zangs
Yig Chan.
132. NLC 13a/5 và DKG 98b/4.
133. NT 69b/2.
134. NTS 57a/3.
135. YS 4a/6.
136. DO 132b/5.
137. LG 136b/6.
138. Dưới đây là tên và miêu tả ngắn gọn các tác phẩm chính của Longchen Rabjam
được Zhechen Rabjam Gyurme Künzang Namgyal đệ Nhị (1713-1769) đưa ra
trong Ngo mTshar gTam Gyi Gling Bu:
A. Dzödün (Bảy Kho tàng) bao gồm bảy bản văn chính:
1. Yizhin Rinpoche Dzö (Kho tàng Như ý) trong hai mươi hai chương. Đó là
một bản tóm lược của toàn bộ lãnh vực Phật giáo, và giảng dạy cách
nghiên cứu, phân tích, và thiền định về Phật giáo Đại thừa. Đi kèm theo là
Pema Karpo, một bình giảng chi tiết, và Zabdön Dorje Nyingpo, một tác
phẩm giảng về cách thực hành nó.
2. Men-ngak Rinpoche Dzö (Kho tàng các Giáo huấn) là một luận thuyết sử
dụng những chuỗi khác nhau gồm sáu thành phần để tóm tắt toàn bộ Kinh
điển và Mật điển Phật giáo, và để giảng dạy tinh túy của con đường và quả
của Dzopa Chenpo.
3. Chöying Rinpoche Dzö (Kho tàng Pháp giới Tối thượng) trong mười ba
chương với Lungki Terdzö, bình giảng của nó. Đó là một trình bày các giáo 303
lý sâu xa và rộng lớn về nền tảng, con đường, và quả của Semde, Longde,
và Mengagde (hay chủ yếu là Longde) của Đại Viên mãn.
4. Truptha Rinpoche Dzö (Kho tàng các Quan điểm Học thuyết) có tám
chương. Đó là một trình bày các quan điểm triết học khác nhau của tất cả
các yāna (thừa) của kinh điển và bốn tantra (Mật điển) của Phật giáo.
5. Thekchok Rinpoche Dzö (Kho tàng Thừa Siêu việt) có hai mươi lăm
chương. Nó làm sáng tỏ ý nghĩa của mười bảy tantra và một trăm mười
chín luận thuyết giảng huấn thuộc giáo khóa Me-ngagde của Đại Viên mãn.
Nó trình bày một phạm vi rộng lớn của Phật pháp, từ cách thế trong đó vị
Thầy tuyệt đối hiển lộ như ba thân Phật cho tới việc đạt được kết quả cuối
cùng thành tựu tự nhiên của con đường Dzopa Chenpo.
6. Tsikton Rinpoche Dzö (Kho tàng Pháp ngữ và Ý nghĩa) có mười một
chương. Đó là một bản tóm tắt của Thekchok Rinpoche Dzö giảng nghĩa
những điểm trọng yếu của việc thực hành. Nó bắt đầu bằng một sự mô tả
nền tảng và kết thúc bằng kết quả, trạng thái giải thoát tối thượng.
7. Neluk Rinpoche Dzö (Kho tàng Bản tánh Tối thượng) có năm chương. Với
bình giảng của nó, nó giải thích ý nghĩa tối thượng của ba phạm trù Đại
Viên mãn.
B. Ngalso Korsum (Ba Giáo khóa về việc Nghỉ ngơi trong Bản tánh Tối thượng)
gồm có mười lăm luận thuyết: ba bản văn gốc, ba bản tóm tắt được gọi là các
tràng hoa, ba bình giảng được gọi là các thừa, và ba giáo huấn về việc thực
hành:
1. Semnyi Ngalso (Nghỉ ngơi trong Bản tánh Tối thượng của Tâm), bản văn
gốc có mười ba chương, giảng nghĩa mọi phương diện của con đường, lúc
bắt đầu, khoảng giữa, và lúc cuối của các giáo lý Kinh điển và Mật điển.
Kèm theo nó là Ngedön Shingta Chenmo, một bình giảng về bản văn gốc,
gồm hai quyển; Künde Trengwa, một bản tóm tắt (đã thất lạc); Pema Karpö
Trengwa, một bản tóm tắt của ba bình giảng; và Changchup Lamzang, một
luận thuyết hướng dẫn việc thực hành.
2. Gyuma Ngalso (Nghỉ ngơi trong Bản tánh Huyễn hóa), có tám chương, là
một giáo huấn về việc cắt đứt những sự trói buộc của sự tham luyến nhờ
phương pháp của tám ví dụ về những xuất hiện huyễn hóa. Đi kèm theo nó
là Mandare Trengwa, một bản tóm tắt, Shingta Zangpo, bình giảng, và
Yizhin Norbu, luận thuyết hướng dẫn việc thực hành.
3. Samten Ngalso ( Nghỉ ngơi trong Thiền định), có ba chương, giải thích con
đường thiền định sâu xa, trí tuệ tự nhiên tự-hiện hữu. Kèm theo nó là
Pundarīke Trengwa, một bản tóm tắt, Shingta Namdak, một bình giảng, và
Nyingpo Chüdü, luận thuyết hướng dẫn việc thực hành. Ngoài ra còn có
Lekshe Gyatso, một đề cương của Ngalso Korsum, và Pema Tongden, một
danh mục nội dung.
C. Các bản văn Rangtröl Korsum (Ba Giáo khóa về sự Giải thoát Tự nhiên) là
“luận giảng ý nghĩa” về giáo huấn Semde, và mỗi bản văn có ba chương giảng
nghĩa nền tảng, con đường, và quả:
1. Semnyi Rangtröl với Lamrim Nyingpo, giáo huấn ý nghĩa.
2. Chönyi Rangtröl với Yizhin Nyingpo, giáo huấn ý nghĩa.
3. Nyam-nyi Rangtröl với Rinchen Nyingpo, giáo huấn ý nghĩa.
D. Yangtig Namsum (Ba Luận thuyết về Tinh túy Sâu xa) bao gồm những điểm
trọng yếu của giáo lý bí mật Me-ngagde, giáo khóa Nyingthig của Dzopa
Chenpo:
1. Lama Yangtig (hay Yangzap Yizhin Norbu) gồm có ba mươi lăm luận giảng.
Nó cô đọng và giải thích các giáo lý bao la gồm bốn quyển sách 304
(Seryigchen, Yu-yigchen, Tung-yigchen, và Zang-yigchen cùng với
Trayigchen) của Vima Nyingthig và một trăm mười chín luận thuyết của các
giáo huấn.
2. Khandro Yangtig gồm có năm mươi lăm luận thuyết. Những giáo lý này do
Longchen Rabjam tiết lộ như những phần bổ túc và luận giảng về Khandro
Nyingthig, được hóa thân đời trước của ngài khám phá.
3. Zabmo Yangtig là một luận giảng chi tiết về Vima Nyingthig và Khandro
Nyingthig.
139. Tiểu sử này được dựa trên LYN, và cũng dựa trên DSC, TCG, NTG, KNR 635/16,
LNG 310b/2, PKD 124b/5, RD 6b/6, RBP 219a/3, NN, và KKR 40b/2.
140. LK 101a/1.
141. LYN 7a/1 và những giáo lý khác xác nhận Khyentse Wangpo, một hóa thân của
Jigme Lingpa, là vị thứ mười ba.
142. KS. Xem KNN.
143. LYN 9a/3.
144. Xem KNR 582/20 đối với tiểu sử của ngài.
145. KNR 638/15. LNG 311a/4: Thang ‘Brog dBon Padma mCh’og Grub.
146. Sao chép Kinh điển, cúng dường, bố thí, nghe giáo lý, ghi nhớ giáo lý, tụng đọc
Kinh điển, giảng Pháp, đọc lời cầu nguyện, và suy nghĩ về ý nghĩa của Pháp và thiền
định về nó.
147. Làm an bình (tức tai), tạo sự thịnh vượng (tăng ích), hàng phục, và kính ái.
148. LYN 42a/4.
149. LYN 44a/6.
150. LYN 45a/2.
151. LYN 46b/1.
152. NYR 68b/5.
153. NYR 69b/2.
154. KZ38b/1, KNR 724/17: ngài cũng được gọi là Trati Ngakchang.
155. KNR 638/2.
156. LYN 209b/2.
157. LYN 82b/5.
158. Một khal là hai mươi tre và một tre là khoảng hai panh (1 panh= 0,58 lít [Anh] và 0,
47 lít [Mỹ].
159. LYN 118b/4.
160. Đó là DKG.
161. LYN 164a/5.
162. GL 21a/1, LYN 168b/5.
163. Theo GNP 93/4.
164. LYN 191b/2, DGN 70b/5, GL 65b/5.
165. KZ 33a/1 & 39a/2, KNR 641/24, 725/7.
166. Niên đại được dựa trên TKT 273/3.
167. Niên đại được dựa trên SB, TKT, và LS. Về tiểu sử Zhapkar (Shabkar), xin đọc LS.
168. LYN 220a/2.
169. KNR 725/1, KZ 38b/1, NPG 9a/5.
170. LYN 240b/6.
171. DB 6b/4.
172. NGR 57b/1.
173. NTG 3b/6.
174. KKR 42b/1.
175. KNR 724/19, KZ 38b/1, LYN 80b/5.
176. KNR 644/8. 305
177. LYN 203a/6.
178. LYN 204a/3, NTG 4a/5, KGT-I, 350/19. Bà làm Hoàng hậu 1790-1798. Chồng bà là
Vua Sawang Zangpo (hay Kun-‘Grub bDe dGa’ bZang Po), trị vì 1768-1790. Nam tử
của bà là Vua Tsewang Dorje Rigdzin (còn được gọi là Byams Pa Kun dGa’ Sangs
rGyas bsTan Pa’i rGyal mTshan).
179. LYN 105a/6
180. LYN 202a/1.
181. LYN 171b/1. Ba viên xá lợi này được giữ trong mặt giây đeo cổ của Dzogchen
Rinpoche đệ tam.
182. Tiểu sử này được dựa trên DGN. Tôi cũng đã dựa trên KNR 644/14 646/23, KZ,
RBP 223a/6-225b/3, PKD 127a/3-127b/5, PJM, DN, CN, PM, DZT, và DB.
183. LK 125b/2.
184. Tsampa là bột lúa mạch nướng, là thực phẩm chính ở Tây Tạng.
185. Những tư tưởng này không có ở trong tự truyện mà được thuật lại.
186. Theo Kyala Khenpo của Tu viện Dodrupchen.
187. RBP 224a/2.
188. LYN 164a-164b.
189. LYN 165b/5-166a/4.
190. GL 29a/5.
191. NTG 3b/6.
192. DD 7b/5: “dGe rTse bSod Nams bsTan ‘Dzin Nam ‘Jigs Med Ngo mTshar.”
193. LYN 191a/3.
194. PM 8a/2.
195. GD 72a/4.
196. DGN 74a/6.
197. DGN 74b/5.
198. DGN 75b/1, chú thích cuối trang trong KNR 641, RBP 224a/6, PJM 11/14.
199. LYN 204a/4.
200. LYN 204a/2, 205a/2, KNR 644/6, GL 93a/4. Sau này, Getse Lama Sönam (Punya)
Tendzin (còn gọi là Jigme Ngotsar) sống ở đây.
201. LYN 222a/6.
202. SB 28b/6, 455a/3: Zhapkar Tsoktruk Rangtröl đã nhận sự trao truyền Longchen
Nyingthig từ Lakha Drupchen.
203. Xem LST 270a/3.
204. DGN 100b/5.
205. LYN 220b/1.
206. SB 28b/6 và TKT 272/12, 19: Lakha Drupchen và Zhapkar Tsoktruk Rangtröl cùng
được Arik Geshe cho thọ giới xuất gia năm 1801.
207. Theo Khenpo Chöyak của Tu viện Shukchung.
208. DZT 5b/5, DB a/12.
209. Hai vị sau cùng được liệt kê trong PM 9a/4.
210. PJM 14b/4.
211. Hướng dẫn vào NGR 12 của E. Gene Smith và NTB, chú thích 1153, quyển 2.
212. CN 7a/2.
213. Ngày nay Tu viện Yarlung đang được xây dựng lại dưới sự hướng dẫn của
Yarlung Tülku Tenpe Nyima, một hóa thân của Dodrupchen Đệ Tam.
214. Dodrupchen kết thúc tự truyện của ngài năm 1813.
215. TTR 149b/6.
216. GL 124a/1.
217. KZ 90a/5.
218. KZ 93b/1. 306
219. KZ 107a/4. Theo RBP ngài mất lúc nửa đêm vào ngày 13.
220. LST 270a/3.
221. KZ 107a/6.
222. SM 1b/2.
223. DZT 5a/5, DB 12a/1.
224. NGR 13b/2.
225. LK 125b/5.
226. MG 15a.
227. NGR 57a/4.
228. LS 558/3: Lo-de cũng được gọi là Chingkarwa Tön-yö Dorje, một vị Thầy và đệ tử
của Zhabkar. Hóa thân của ngài là Trülzhik Künzang Thongtröl của Do-ngak Ling,
hóa thân đời trước của Trülzhik Rinpoche hiện tại, Ngawang Chökyi Lodrö (sinh năm
1924), hiện an trụ tại Nepal.
229. GN 44b/2.
230. TL 3a/3.
231. Hóa thân của Sherap Mebar (xem DZT 17b/3) là Do Rinpoche Tri-me Trakpa, mà
hóa thân là Do Rinpoche Zilnön Gyepa Dorje (1890-1939), nam tử của Rikpe Raltri,
con trai của Do Khyentse.
232. Tiểu sử này chủ yếu dựa trên GL và cũng dựa trên NGR, DNK và DGN.
233. GL 9a/1, 113b/1, KNR 889/17, 900/2.
234. NGR 61a/3, GL 63b/1. NGR nói rằng sự kiện này xảy ra ở Tsāri, nhưng GL nói nó
xảy ra trong ẩn thất Ogyen Ling.
235. GL 65a/1.
236. NGR 62a/2.
237. ON.
238. Đó là KBZ.
239. Không có tiểu sử viết tay để dựa vào. Hầu hết lịch sử truyền khẩu được dựa trên
những điều nghe được từ Kyala Khenpo, nếu không thì đã được biểu thị.
240. GL 112b/4.
241. GL 138b/1.
242. Tiểu sử này được dựa trên TTR 145a/5-156a/3, DL 98-112, PDK 209b/2-210a/4,
KNR 819, RB 208-213 và những truyền thống khẩu truyền chủ yếu từ Kyala Khenpo.
243. Tiểu sử này được dựa trên KZ, và cũng dựa trên SNG, BDL, DGN, và GL.
244. LNY 176a/5.
245. Tôi đã nghe nói về sự kiện này từ Kyala Khenpo, người đã nhìn thấy các dấu tích.
246. Tôi nghe hai câu chuyện này từ Kyala Khenpo.
247. Tôi thường có một mẩu roi da này.
248. KZ 194b/3, TTR 1167a/4.
249. PKD 127b/4 và một vài truyền thống khẩu truyền.
250. DZT 5a/5, DB 12a/1.
251. Tôi không thể tìm thấy tiểu sử nào của Kenchen Pema Dorje.
252. Tiểu sử này được dựa trên DZT và DB.
253. NGR 15b/1.
254. Tiểu sử này được dựa trên DN và PJM. Bởi không có nhiều tài liệu viết về cuộc đời
của ngài nên để có một vài thông tin, tôi đã chủ yếu dựa trên truyền thống khẩu
truyền.
255. GL 167b/4.
256. KZ 137b/4.
257. Zas là hiện tượng huyền bí nhưng rất phổ thông ở Tây Tạng và cả ở Golok. Hiện
tượng này có vẻ giống hiện tượng “đĩa bay” ở Tây phương. Không có báo cáo về
nguồn gốc của họ, nhưng họ được miêu tả là những chúng sinh huyền bí có ánh 307
sáng chói ngời. Người Tây Tạng tin rằng Zas là một trong vô số loài chúng sinh
trong vũ trụ. Trong số họ có cả những bậc linh thánh lẫn những kẻ có hại..
258. Tiểu sử này được dựa trên NUG, JKT, RBP 185a/4-195a/1, LNG 320b/1-328b/1,
và PKD 248a/2-260b/4.
259. DB 6b/4.
260. WJ 92/22.
261. Theo DNK, ngài mất năm bảy mươi hai tuổi, và theo NRG thì ngài ở trong rừng Ari
vào những năm 1850 và mất vào năm trước năm Dần. Ở thời điểm nào đó sau khi
Lungtok mất, Ngawang Palzang hai mươi chín tuổi vào năm 1907, vì thế niên đại
của Lungtok hẳn phải là 1830-1901.
262. Tiểu sử này được dựa trên NGR 12a/4 và cũng dựa trên DNK.
263. Tiểu sử này được dựa trên DB và cũng dựa trên NGR.
264. Tiểu sử này được dựa trên DNK 4.18-4.22 và NGR 98b/6-99b/4.
265. Tiểu sử này được dựa trên những tài liệu khẩu truyền từ Kyala Khenpo, Khenpo
Chöyak, và những vị khác.
266. Pramānavārttika, Vinayasūtra, Abhidharmakosha, Abhisamayālamkāra, và
Madyamakāvatāra.
267. EL 114/28.
268. Tường thuật này do các học trò của ngài chuẩn bị và cho thấy họ nhớ sự kiện gì.
269. Tiểu sử này được dựa trên những tường thuật khẩu truyền của Kyala Khenpo và
trên DN, DJN 11-18, và ZL.
270. Sarma có nghĩa là Tân Tantra hay những môn đồ của giáo lý Tân Mật thừa.
Nyingma theo Cựu Tantra, và tất cả những trường phái khác của Tây tạng là những
môn đồ của Tân Tantra.
271. PK 242b/2.
272. NYG 152b/6.
273. GRT 9a/4.
274. Janet Gyatso, Trong Tấm Gương Ký ức (Albany: SUNY,1992). Để có một cuộc
thảo luận về một vài vấn đề trong bản văn này, xem trang 173-213.
275. Kindness, Clarity, and Insight (Thiện tâm, Quang minh, và Nội quán) của Đức Đạt
Lai Lạt Ma thứ Mười bốn. (Snow Lion 1984). Để có một luận giảng dựa trên quyển
này và những bản văn khác của Dodrupchen, xem “Union of the Old and New
Translation School” (sự Hợp nhất của Trường phái Cựu và Tân Dịch thuật) trang
200-224.
276. Về bản dịch và bình giảng, xem HTT.
277. Để có một bản dịch, xem EL (trang 117-129); để có các bình giảng, xem
Transforming Problems into Happiness (Chuyển hóa các Vấn đề thành Hạnh phúc)
của Lama Thubten Zöpa Rinpoche (Boston: Wisdom, 1993) và Healing Power of
Mind (Năng lực Chữa lành của Tâm) của Tulku Thondup (sắp xuất bản).
278. Mặc dù niên đại bản văn của ngài dựa trên “ký ức” thì muộn hơn tác phẩm Đề
cương của Guhyagarbha, bản văn dựa trên ký ức được viết sớm hơn.
279. Tiểu sử này được dựa trên NB.
280. Theo BD IV 528-530, bà sinh năm 1841 (Kim Ngưu) và mất năm 1940, và theo CY
130/2, bà sinh năm “Mộc Ngưu, 1852” (nhưng Mộc Ngưu là 1865, không phải 1852,
là năm Thủy Tí). Theo LS 571, niên đại của bà là 1852-1953. Theo Lời Nói đầu cho
NB, bà sinh năm 1853 (Thủy Ngưu) hoặc 1865 (Mộc Ngưu). Tuy nhiên, chính bà kể
lại (NB 11a/4) rằng bà được hoài thai năm Thủy Tí (1852) nhưng sau đó nói rõ (NB
11b/3) rằng bà sinh năm Mộc Ngưu (1865), và theo Cham Wangmola ở Viện
Lukhang, một đệ tử thân thiết của Jestsun, bà mất vào cuối năm Thủy Thìn (1953).
281. NB 38b/2. Khi Pema Gyatso bốn mươi chín tuổi thì Jetsun mười ba tuổi.
282. NB 46b/4 308
283. NB 43a/3.
284. NB 106a/5, vào ngày mười bảy tháng hai năm Kim Dần.
285. Tiểu sử này được dựa trên DL 125-128.
286. Niên đại này được dựa trên MC. Tuy nhiên, theo DB 40b/6, ngài sinh năm 1862, và
theo NTB II-86/48 và LS XXV/40, niên đại của ngài là 1870-1940.
287. Tiểu sử này được dựa trên MC.
288. Tiểu sử này được dựa trên DK 1-35, các truyền thống khẩu truyền, và những bằng
chứng có tính cách cá nhân. Xem BM 140-144.
289. Tiểu sử này được dựa trên NGR.
290. NGR 58a/5.
291. Tiểu sử này được dựa trên những cuộc phỏng vấn các đệ tử của Alak Zenkar đệ
nhất do Zenkar Rinpoche đệ nhị sắp xếp với đầy thiện tâm.
292. Tiểu sử này được dựa trên GRT 9a/3, NYG, CD, và RB 238-257.
293. Mặc dù GRT 9a/3 nói năm Thổ Thân, NYG 51a/5 nói là năm Kim Thân, 28.
294. Mặc dù GRT 10a/3 và NYG 52b/4 nói Thủy Ngưu, NYG 52a/4 cũng đưa ra tuổi ba
mươi ba, vì thế, hẳn phải là năm Mộc Ngưu, bởi nó phù hợp với thời gian.
295. Tiểu sử này được dựa trên BD IV 703-712 và NO 129-141.
296. Theo các nguồn khác, 10 và 14.
297. Tiểu sử này được dựa trên những nguồn khẩu truyền và những sự kiện được tác
giả chứng kiến.
298. SMM 552/7.
299. Tiểu sử này được dựa trên DN, những nguồn khẩu truyền, và những sự kiện được
tác giả chứng kiến.
300. Một số người tin rằng Jamyang Zhepa đệ ngũ là một hóa thân của Dodrupchen.
301. Ngài là một trong hai tülku duy nhất trong toàn bộ miền Golok mà những vị có thẩm
quyền đã xác nhận năm 1993. Người còn lại tülku của Shangza (tülku của thân mẫu
ngài Je Tsongkhapa) tại Arik Ragya Gön, một tu viện Gelukpa.
302. Tiểu sử này được dựa trên DJN 48-64, DN, SCG, những nguồn khẩu truyền, và
những sự kiện do tác giả chứng kiến.
303. Xem chú thích 257.
304. Một con vật lai giống giữa một con bò đực và một con dri (bò yak cái).
305. bDag Ni Byang Ch’ub Mi Phyed Pa…
306. NYG 51b/3.
307. Khó có thể xác quyết được ý nghĩa thực sự của những dòng này là gì, nhưng
chúng có thể được biểu thị: Dòng đầu tiên – nói về việc các lực lượng cách mạng
đến tu viện từ phương nam. Dòng thứ hai – nói về việc xây dựng hai con đường mới
chạy về hướng Lhasa: một dọc theo cao nguyên phía bắc của miền Đông Tây Tạng,
và con đường kia chạy dọc hẻm núi phía nam của nó. Dòng thứ ba – nói về những
giọng điệu thay đổi của sự tuyên truyền chính trị. Mười dòng cuối cùng – nói về việc
Dodrupchen cư trú ở Sikkim, Ấn Độ.
Nói chung, “mặc y phục-không trung” có nghĩa là hoặc mặc y phục màu xanh
dương hoặc trần trụi. Ở đây thuật ngữ có thể ám chỉ Drukpa (người Bhutan). Druk
có nghĩa là “rồng,” trong truyền thống Đông phương là một sinh vật huyền bí sống
giữa những đám mây trong không trung và vì thế “mặc y phục-không trung,” và
Rinpoche có hàng trăm đệ tử người Bhutan tại tu viện của ngài ở Sikkim.
308. ZL 2a/3 và những nguồn khác.
309. Hơn một ngàn năm trước, Guru Rinpoche đã tiên đoán các nguy hiểm mà người
Tây Tạng phải đối mặt trong những thập kỷ gần đây và khuyên họ đào thoát tới
những nơi nào đó, “những xứ sở ẩn dấu.” Sikkim (Dremo Jong, Thung lũng Gạo) là
một trong những địa điểm chính yếu mà ngài nói rõ trong những tiên tri đó. 309
310. Kyabje Düdjom Rinpoche (1903-1987) từ Kongpo tới Sikkim và ban nhiều giáo lý.
Kyabje Trülzhik Pawo ở Minyak đến từ Kongpo, sống nhiều năm và mất tại Sikkim
năm 1960. Vì thế nó có thể ám chỉ một trong hai ngài.
311. Các Dodrupchen là những hóa thân của Thái tử Murum Tsepo và Sangye Lingpa.
312. Từ một bản thảo chép tay của Tak-rong Gyurme Trakpa (?-1975).
313. NYG 181a/3.
314. Tên của những vị Thầy và đệ tử của các ngài trong cây truyền thừa theo một dòng
phù hợp với thời đại của các ngài. Tuy nhiên, đối với nhiều vị tôi chỉ có thể đoán tuổi
của các ngài.
315. Các dấu hoa thị sau các tên biểu thị rằng vị Thầy là một người nhận lãnh và thậm
chí có thể là người trao truyền giáo lý Longchen Nyingthig, nhưng Longchen
Nyingthig có thể không là thực hành hay giáo lý chính của Đạo sư đó.
316. KNR 725/7, KZ 33a/1, 39a/2.
317. LYN 80b/5, 91a/3, KNR 726/18.
318. Ngài đã viết một bình giảng về Yumka Dechen Gyalmo năm 1801.
319. LYN 173b/5, 204a/6.
320. LYN 126b/1, DGN 68a/6, SB 223a/3.
321. KNR 724/19, KZ 38b/1.
322. SB 10b/3, 411a/6.
323. KZ 81b/6.
324. DGN 65b/4, DL 70/6, KNR 801/21.
325. Ngài là vị Thầy gốc của Zhabkar Tsoktruk Rangtröl (1781-1851).
326. PKD 219b/1, KNR 919/18.
327. KZ 34b/3.
328. PKD 214b/2, KZ 34b/3, KNR 921/7.
329. CG 169b/4. Ngài là vị Thầy gốc của Kham-nyön Dharma Senge (Ra-gang Chöpa,
?-1890).
330. DZT 17b/3, DB 37b/5.
331. Theo DB 6b/4.
332. Ngài là một trong những vị Thầy gốc của Kyabje Düdjom Jigdral Yeshe Dorje
(1904-1987) và của Kanjur Rinpoche Longchen Yeshe Dorje (1888-1975).
333. Ngài là một trong những vị Thầy gốc của Kyabje Düdjom Jigdral Yeshe Dorje
(1904-1987).
334. Ngài là vị Thầy gốc của Lạt ma Gönpo Tseten (?-1991) ở Labrang, Amdo.
335. Ngài là vị Thầy gốc của Giáo sư Namkhai Norbu (sinh năm 1938) ở Dege/Italy.
336. Ngài là một đệ tử của Alak Pema Rangtrol và là Thầy gốc của Shuksep Jetsun
(1865-1953).
337. Một trong những trao truyền Kanjur của Kyabje Düdjom Rinpoche đến từ Trakkar
qua Tülku Ngetön Gyatso (?-1959) ở Tungkar, Thung lũng Ser.
338. Ngài là vị Thầy gốc của Tertrül Chi-me Rigdzin (sinh năm 1922) ở Khordong.
339. Ngài là một vị Thầy chính của Tarthang Choktrül Thupten Chökyi Dawa (1894-
1959) và một vị Thầy của Khenpo Ngawang Palzang.
340. Các vị Thầy chính của ngài là Kathok Situ đệ nhị (1880-1925) và Pema Norbu đệ
nhị (1887-1932).
341. Vị Thầy gốc của ngài là Zhechen Gyalsap Gyurme Pema Namgyal đệ tam (1871-
1926).
342. Ngài là vị Thầy gốc của Nyoshül Lama Jamyang Dorje (sinh năm 1926).
343. Vị Thầy gốc của ngài là Choktrül Thupten Chökyi Dawa (1894-1959) của Tu viện
Tarthang.
344. Vị Thầy gốc của ngài là Kongtrül Pema Trime Lodrö (1901-1959?) của Tu viện
Zhechen.

Advertisements
Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Thiền-Định (t t.6)

SHUKSEP LOCHEN CHÖNYI ZANGMO
1865 – 1953
JETSÜN Lochen Chönyi Zangmo279 của ni viện Shuksep là một trong những nữ
Đạo sư lỗi lạc nhất trong những thế kỷ vừa qua của Phật giáo Tây Tạng.
Bà sinh ngày mười lăm tháng giêng năm Mộc Sửu thuộc Rabjung thứ mười bốn
(1865)280 gần Rewalsar, Himachal Pradesh, Ấn Độ. Khi bà sinh ra trái đất rung động
nhẹ nhàng, một trận mưa hoa đổ xuống và âm thanh OM MA NI PADME HŪM vang
lên từ không trung. Cũng trong giờ đó, người hầu của gia đình sinh một bé gái và
con cừu của gia đình cũng sinh con. Thân phụ của bà là Töndrup Namgyal, tức là
Thonglek Tashi, người Tây Tạng, và thân mẫu là Pema Dölma, người Bhutan. Cha
mẹ ngài gặp nhau trên đường đi hành hương và ở lại Ấn Độ. Mặc dù cha mẹ bà
xuất thân từ những gia đình khá giả, nhưng họ đi Ấn Độ sống cuộc đời đạm bạc của
những khách hành hương và khất thực để nuôi sống mình. Cha mẹ bà chia tay
không lâu sau khi bà ra đời, và bà lớn lên với mẹ giữa sự nghèo nàn vật chất
nhưng giàu có tâm linh. Từ thời thơ ấu Jetsün rất tôn kính mẹ và những người lớn
tuổi, hòa đồng với bạn bè, sùng mộ Pháp, tử tế đối với tất cả chúng sinh, có những
điều huyền nhiệm và trí tuệ thiên phú.
Ở Tây Tạng có một số người đã chết, trải qua những kinh nghiệm bardo, nhìn
thấy những thế giới khác nhau của chúng sinh hay những cõi tịnh độ của chư Phật,
và nhiều ngày sau đó trở về lại thân thể họ. Về sau họ sống khỏe mạnh và kể lại
những câu chuyện về kinh nghiệm của họ trong nhiều năm. Họ được gọi là Delok,
những người trở về từ cái chết. Jetsün đọc những câu chuyện Delok của Karma
Wangdzin và Nangza Öbum. Nhờ đọc những câu chuyện đó vài lần, bà học thuộc
lòng từng từ và ý nghĩa của nó.
Một đêm trong giấc mơ, Jetsün nhìn thấy một người đàn bà Delok hát tụng OM
MANI PADME HŪM bằng những giai điệu quyến rũ. Jetsün hát cùng với bà và
chứng tỏ là hát cũng hay như người đàn bà đó. Sau khi thức dậy Jetsün vẫn nhớ và
hát những giai điệu ấy trước sự kinh ngạc của bạn bè. 209
Cùng với mẹ, Jetsün du hành tới những nơi tụ hội đông đảo chẳng hạn như các
chợ búa và phiên chợ, ở đó thiếu nữ đầy tài năng phô bày những bức tranh của cô
về những câu chuyện của các Delok, thuật lại những câu chuyện của họ, và hát OM
MANI PADME HŪM bằng giọng hát mê hồn trong những giai điệu khác nhau suốt từ
sáng đến tối. Mỗi nơi Jetsün đi qua, cô thu hút những đám đông, và những người
nghe cô được gây truyền niềm tin ở nghiệp quả và lòng sùng mộ đối với Phật pháp.
Nhiều người khóc khi nhớ lại những ác hạnh của họ, nhiều người thề không làm
những hành vi xấu ác nữa, nhiều người cam kết sống cuộc đời tu tập Giáo Pháp, và
cũng có nhiều người thực hiện những lễ cúng dường trọng thể.
Năm mười ba tuổi, theo lời khuyên của một sư cô ở Amdo tên là Lobzang
Dölma, Jetsün và mẹ đi tới Ökar Trak gần Kyirong để gặp chú của sư cô là ngài
Pema Gyatso (còn gọi là Chi-me Dorje, 1829-1890?),281 một Đạo sư xứ Amdo.
Pema Gyatso trở thành một trong những Đạo sư định mệnh của Jetsün. Ngài là một
đệ tử của Zhapkar Tsoktruk Rangtröl và Thatral Dorje.282 Thatral Dorje là một đệ tử
trực tiếp của Dodrupchen đệ nhất. Từ Pema Gyatso Jetsün nhận các giáo lý về
Künzang Lame Zhalung (Lời Vàng của Thầy tôi) và những quán đảnh Longchen
Nyingthig. Lạt ma ban cho Jetsün tất cả các giáo lý nhưng đối xử với bà thật khắt
khe, như Marpa đã đối xử với Milarepa. Jetsün cũng nhận các giáo lý từ Jinpa
Norbu và Nangdze Dorje, các đệ tử của Zhapkar.
Tại ẩn thất Heri trong vùng Nupri, Jetsün thực hiện một cuộc nhập thất ba năm
trong những hang động và hoàn tất tu tập ngöndro và những trì tụng của giáo khóa
Longchen Nyingthig viên mãn. Trong khóa nhập thất này Jetsün đã chứng ngộ chân
tánh và hát cho vị Thầy nghe bài ca chứng ngộ của bà:
Ý nghĩa siêu vượt sự hiểu biết của tâm.
Sự quang minh của năng lực chói sáng tự nhiên không ngừng dứt.
Nó âm vang, nhưng siêu vượt những tỏ bày của ngôn từ.
Nó trong sáng, nhưng vượt lên sự mô tả bằng lời nói.
Bởi sự thanh thản trong tâm con, con có được sự xác tín ở nó.
Những kinh nghiệm đại lạc, quang minh, và việc thoát khỏi những ý niệm thì hỉ
lạc.
Mọi sự tạo tác của việc thỉnh mời [những kinh nghiệm trong tương lai] hay đuổi
theo [những kinh nghiệm trong quá khứ] đã tan biến.
Không chỉ một lần, nhưng con đang liên tục kinh nghiệm nó.
Con bật cười khi nó xuất hiện tự nhiên trong con.
Con xác tín rằng không có gì để tìm kiếm ở một nơi nào khác.283
Với Pema Gyatso bà tới Lhasa, và họ cùng nhận các giáo lý từ Dharma Senge.
Năm 1890,284 Pema Gyatso mất, và một tháng sau Dharma Senge cũng qua đời.
Dharma Senge bảo các đệ tử đưa cho Jetsün cái trống tay, chuông, và kèn trum pét
để dùng cho các nghi lễ cho của ngài, nhưng bà chỉ nhận được kèn trum pét.
Jetsün cũng nhận các giáo lý từ Trülzhik Kunzang Thongtrol của Dongak Ling,
Tertön Rang-rik Dorje (một đệ tử của Nyoshül Lungtok) của Nyakrong, Dzogchen
Rinpoche đệ ngũ và Lama Sangye Tendzin, một đệ tử của Paltrül Rinpoche. Jetsün
nhận Longchen Nyingthig và những trao truyền khác từ Matrül Thekchok Jigme
Pawo, một đệ tử của Khyentse Wangpo, và Rinchen Terdzö từ Zhechen Rabjam. 210
Mỗi ngày, không có ngoại lệ, Jetsün không ngừng thiền định về Giáo Pháp và làm
những Phật sự.
Tại Zangri Kharmar bà nhận sự trao truyền Taphak Yizhin Norbu từ Thekchok
Tenpe Gyaltsen, tülku của Zhapkar, và được ban danh hiệu Rigdzin Chönyi
Zangmo. Taphak Yizhin Norbu là giáo lý và thực hành chính yếu của Chögyal Ngaki
Wangpo và Zhapkar Tsoktruk Rangtröl. Bà đã thiền định về giáo lý này trong ẩn thất
và kinh nghiệm nhiều điều. Những sự việc đó gồm có những vật rắn đặc trở nên
nhẹ tênh, những chất nhẹ trở thành rắn chắc, và mọi loại hình tướng và hình ảnh
xuất hiện trước bà. Hơn nữa, khi Jetsün tập trung đi bất kỳ nơi đâu, bà có thể đi tới
đó; bà có thể nói bằng những ngôn ngữ của những cõi giới khác nhau; bà nhìn thấy
những việc xảy ra trong thế giới như thể bà đang nhìn những đường chỉ tay; thân
bà đầy nhiệt; tâm bà tràn đầy hỉ lạc; hầu như bà không thể ngừng ca hát hay nhảy
múa; tâm bà không bao giờ tách lìa sự thiền định; và giác tánh nội tại của bà ở
trong sự nhất như, nơi không có sự phân biệt trung tâm hay các thái cực.
Một hôm Jetsün ước muốn được nhìn thấy Karmapa [thứ mười lăm] Khakhyap
Dorje (1871-1922) ở Tsurphu, và bà lập tức thấy mình đang ở trước mặt ngài và
nhận các gia hộ. Không có thị giả nào của Đức Karmapa mà cũng không có bạn bè
nào của bà biết được việc bà viếng thăm trụ xứ của Karmapa hay vắng mặt ở lều
nhập thất của bà.
Sau đó tại Zang-ri Kharmar, bản thân Jetsün kinh nghiệm Delok, việc trở lại từ
cái chết. Một hôm bà ngã trên mặt đất, thân bà lạnh đi, và bà ngừng thở. Lúc đầu
mẹ của Jetsün và các bạn hữu nghĩ rằng bà đã chết, nhưng sau đó mẹ bà nhận
thấy mặt bà là mặt của một người sống, không phải của người chết (bởi quả thực
đã từng có những điều huyền diệu trong suốt cuộc đời bà). Họ kiểm tra tim của bà,
và trái tim có hơi ấm, như hơi ấm trong thân một con chim. Điều đó xác nhận niềm
tin của mẹ bà. Trong thời gian bà kinh nghiệm cái chết – kinh nghiệm này kéo dài ba
tuần lễ – bà đi tới Zangdol Palri, cõi tịnh độ của Guru Rinpoche, và nhận những gia
hộ và tiên tri từ Guru Rinpoche. Jetsün cũng kinh nghiệm sự du hành gian khổ qua
tiến trình bardo, đối mặt Thần Chết, và nhìn thấy những đau khổ của chúng sinh
trong những cõi giới khác nhau.
Từ Semnyi Deyang Rinpoche bà nhận toàn bộ quán đảnh và những trao truyền
văn bản của Longchen Nyingthig hai lần và cũng nhận các giáo lý về Yonten
Rinpoche Dzö. Jetsün đã thực hành những giáo lý trong các khóa nhập thất, kể cả
khóa nhập thất trì tụng ba năm về Longchen Nyingthig.
Phù hợp với những tiên tri của Taklung Ma Rinpoche, Jetsün và mẹ của bà cư
trú thường xuyên ở Shuksep, là nơi vị Thầy Semnyi Rinpoche của họ cũng đang
sống.
Sau đó mẹ của Jetsün, người đã chín mươi chín tuổi và đã tụng OM AMIDEVA
[TABHA] HRĪH, thần chú của Đức Phật Amitābha (A Di Đà), hàng tỉ lần, bà nhìn về
phương tây, phương của cõi tịnh độ của Đức Phật A Di Đà và nói:
Trong đời này, trong đời sau, và trong đời trung gian,
Trong tâm con, cầu mong phát sinh sự nhàm chán sinh tử, thái độ phi thường
của lòng thương yêu đối với tất cả chúng sinh, và tri giác thanh tịnh;
Cầu mong con hoàn thiện sự thành tựu ba điều thiêng liêng;
Và cầu mong con trở thành một với Guru Amitābha. 211
Và bà thị tịch.
Sau này Jetsün sống tại ni viện Shuksep gần Kangri Thökar, ẩn thất chính của
Longchen Rabjam. Bà giảng dạy vô số người và đặc biệt là các sư cô và nữ cư sĩ
trong giới quý tộc của miền Trung Tây Tạng cũng như những người bình thường
trong nhiều năm.
Bà cũng nhận những trao truyền từ Kathok Situ Chökyi Gyatso, Gyarong
Namtrül Drodul Karkyi Dorje, Khyungtrül Rinpoche, Dzogchen Khenpo Chösö, và
Lingtsang Gyalpo.
Khuyên nhủ đệ tử của bà là Nordzin Wangmo, Jetsün viết:
Sự tự chứng ngộ bản tánh tâm của riêng ta được gọi là giác tánh nội tại.
Bằng cách tịnh hóa vô minh lầm lạc thành sự thuần tịnh nguyên sơ,
Thành tựu tự nhiên ba thân Phật tự sinh,
Và hoàn thiện mọi đức hạnh, con sẽ đạt được sự giải tan hiện tượng trong bản
tánh tối thượng.
Ý nghĩa siêu vượt những ý niệm trong tâm là cái thấy (kiến).
Sự an trụ trong cái thấy không xao lãng bởi hoàn cảnh là thiền định.
Giải thoát tất cả, mọi sự con làm là Phật sự.
Làm thuần thục kết quả của hành động là quả…
Bằng cách bắt đầu việc thiền định của con với thái độ thanh tịnh vào lúc đầu,
Duy trì giác tánh nội tại là thực hành chính yếu ở lúc giữa, và
Hồi hướng chúng bằng trí tuệ thoát khỏi những ý niệm vào lúc cuối,
Cầu mong con hoàn thiện ba phương diện thiêng liêng của thiền định và đạt
được giải thoát.
Tự truyện của bà chấm dứt vào năm Thổ Sửu (1949/50). Vào tuổi tám mươi
chín, cuối năm Thủy Thìn thuộc Rabjung thứ mười sáu (1953), bà thị tịch tại Kangri
Thökar.
Jetsün Pemala (sinh năm 1955?), con gái của Ông và Bà Sönam Kazi ở Sikkim,
Ấn Độ, và Dorje Rapten (sinh năm 1954), con trai của gia đình Traring ở Lhasa đã
được xác nhận là các tülku của Jetsün Lochen. 212
28
DZOGCHEN THUPTEN CHÖKYI DORJE ĐỆ NGŨ
1872-1935
Dzogchen Rinpoche Thupten Chökyi Dorje đệ ngũ
285 sinh năm Thủy Thân (1872)
gần Chabdo ở Kham. Ngài được Khyentse Wangpo và những Lạt ma khác xác
nhận là tülku của Dzogchen Rinpoche đệ tứ và được tôn phong tại Tu viện
Dzogchen năm 1875.
Rinpoche nhận những giáo lý và các trao truyền bí mật từ Paltrül Rinpoche,
Khyentse Wangpo, Kongtrül Lodrö Thaye, Khenpo Pema Dorje và nhiều Đạo sư
khác.
Với sự hỗ trợ của Gyakong Khenpo, Zhenpen Chökyi Nangwa, và những đại
học giả khác, ngài đã biến Shrīsimha, Học viện Kinh điển của Tu viện Dzogchen,
thành một trong những tổ chức nổi tiếng của việc nghiên cứu. Gyakong Khenpo là
hóa thân của Gyalse Zhenphen Thaye và tác giả của những chú giải về “mười ba
sách giáo khoa uyên áo chính yếu.”
Ngài dâng hiến đời mình cho việc phát triển tu viện của ngài và vô số những tu
viện phụ, du hành và giảng dạy không ngừng nghỉ. Hoạt động tích cực của ngài tràn
đầy những điều huyền diệu và thấu thị. Nhờ năng lực tiên tri của ngài, ngài xác
nhận hầu hết các tülku quan trọng của phái Nyingma ở miền Đông Tây Tạng, là
những vị sinh trong ba thập niên sau cùng của đời ngài. Những người đã biết ngài
đều tin rằng ngài là một vị Phật bằng xương bằng thịt.
Trong phần sau của đời ngài, Rinpoche sống với khoảng hai mươi hay ba mươi
tülku trẻ. Như một người cha, ngài giáo dục họ và tự tay nuôi dưỡng và chăm sóc
việc ăn mặc của họ – là một việc hoàn toàn khác thường đối với một Lạt ma cao
cấp. Về sau, những tülku trẻ này trở thành những người phụng sự vĩ đại cho các tu
viện và nhiều người.
Một hôm, ngài cho người đi mời Nera Geshe của Dege và yêu cầu vị này đi vào
rừng và xem có đủ gỗ để xây một tu viên hay không. Nera Geshe vào rừng bởi
Rinpoche đã yêu cầu, nhưng ông chỉ nhìn quanh, nghĩ rằng tìm kiếm gỗ chẳng ích
lợi gì bởi ông ta thấy chẳng có lý do gì để xây một tu viện. Nhưng ông đã báo cáo 213
cho Rinpoche là trong rừng có đủ gỗ để xây tu viện. Sau đó một thời gian ngắn, ở
tuổi sáu mươi tư (1935), thình lình Rinpoche qua đời. Năm sau, toàn bộ Tu viện
Dzogchen bị thiêu rụi trong một trận hỏa hoạn khổng lồ. Khi đó Nera Geshe mới
hiểu tại sao Rinpoche phái ông vào rừng, và ông đã hiến dâng phần còn lại của đời
mình để xây dựng lại tu viện.
Tülku của ngài, Dzogchen Rinpoche đệ lục, Jitral Changchup Dorje (1935-
1958/1959), mất khi còn trẻ trong cuộc biến động chính trị của Tây Tạng. Dzogchen
Rinpoche đệ thất Jigme Losal Wangpo (sinh năm 1964) sống trong Tu viện
Dzogchen mới của ngài ở hải ngoại tại miền Nam Ấn Độ. 214
29
GEKONG KHENPO KÜNZANG PALDEN
1872-1943286
KHENPO Kunzang Palden287 sinh tại Thung lũng Dzachukha ở Kham vào năm
Thủy Thân thuộc Rabjung thứ mười lăm (1872). Ngài cũng được gọi là Thupten
Künzang Trakpa và Gekong Khenpo Künpal.
Từ thời thơ ấu ngài đã nhận những giáo lý của Kinh điển lẫn Mật điển và của
dòng Nyingthig, đặc biệt là từ Paltrül Rinpoche, người đã chăm sóc ngài như đứa
con ruột. Khenpo sống gần Paltrül cho tới khi Paltrül Rinpoche mất. Khenpo thường
đọc Kinh điển lớn tiếng trong khi Paltrül lắng nghe. Khenpo được Khenpo Yönten
Gyatso (Yon-ga) của Tu viện Dzogchen cho thọ giới xuất gia và trở thành một trong
những nhà truyền bá vĩ đại nhất của giới luật tu viện. Ngài nghiên cứu hầu hết các
bản văn uyên áo với Önpo Tendzin Norbu, cháu của Gyalse Zhenphen Thaye, và
cũng học với Ju Mipham Namgyal. Ngài trở thành một trong những học giả vĩ đại.
Ngài nhận nhiều sự trao truyền, đặc biệt là Longchen Nyingthig từ Khyentse
Wangpo, Dzogchen Rinpoche đệ ngũ, Dodrupchen đệ tam, và Dechen Dorje. Bằng
cách đó, ngài trở thành một trong những vị hộ trì dòng truyền thừa vĩ đại của dòng
Longchen Nyingthig. Ngài cũng nhận những giáo lý và trao truyền từ Adzom
Drukpa, Kongtrül Yönten Gyatso, và Kathok Situ Chökyi Gyatso. Tại Thung lũng
Ser, từ Düdjom Lingpa (1835-1903) ngài nhận những trao truyền các giáo lý terma
mới do Düdjom Lingpa khám phá.
Ngài đã lập Tu viện Gekong ở Dzachukha làm trụ xứ chính của ngài. Ngài là vị
Thầy đầu tiên giảng dạy tại Học viện Kinh điển mới của Tu viện Khathok, cùng với
Khenpo Ngawang Palzang là người trợ giảng của ngài.
Năm 1937, cả hai vị Dodrupchen đệ tứ tới Dzachukha để nhận những trao
truyền giáo lý Nyingthig từ Khenpo. Bởi thị lực của ngài trở nên kém sút, với rất
nhiều gian khổ, ngài đã ban những trao truyền Nyingthig Yabzhi và Longchen
Nyingthig cho hai vị Dodrupchen. Biểu lộ niềm vui của ngài, ngài nói: “Những trao 215
truyền Nyingthig của ta thì độc nhất vô nhị về tính chất xác thực và chặt chẽ của
chúng. Bây giờ ta đã có thể giao phó di sản của cha cho các con!”
Ngài sáng tác nhiều tác phẩm quan trọng, trong đó có những bình giảng về
Ngeshe Dronme, Bodhicharyavatara (Nhập Bồ Tát Hạnh), và Những Câu chuyện về
Luật. Năm bảy mươi hai tuổi, vào năm Thủy Mùi (1943), với nhiều dấu hiệu kỳ diệu,
ngài thị tịch và để lại nhiều xá lợi như đối tượng của lòng sùng mộ cho các đệ tử. 216
3O
YUKHOK CHATRALWA CHÖYING RANGTROL
1872 – 1952
CHATRALWA Chöying Rangtröl288 là Vimalamitra đích thực trong thân tướng con
người. Ngài sinh năm Thủy Thân thuộc Rabjung thứ mười lăm (1872) trong Thung
lũng Yukhok. Thân phụ ngài là Khyishül Tratse, và thân mẫu là Adzi Zawalo.
Tên ngài là Chöying Rangtröl (sự Giải thoát Tự nhiên trong Pháp giới Tối
thượng) và ngài được gọi là Yukhok Chatralwa, Ẩn sĩ ở Thung lũng Yukhok. Ngài
được coi là một tülku (tái sinh) của Dola Jigme Kalzang.
Năm mười một tuổi, ngài được nhận vào Tu viện Lhatse thuộc dòng Palyül trong
Thung lũng Ser Hạ. Nhờ sự thông tuệ thiên phú, việc học tập của ngài tiến bộ
nhanh chóng. Ngài nhận nhiều sự trao truyền từ Lhatse Kyabgön.
Hôm hôm, khi đang du hành trên một con đường nguy hiểm trong Thung lũng
Do Hạ để thu thập lương thực cho việc học tập và thiền định sau này, ngài bị một
con báo mẹ và hai con của nó tấn công và chỉ nhờ năng lực của lời cầu nguyện của
ngài mà ngài sống sót không bị chúng ăn ngấu nghiến. Trong một thời gian dài sau
đó ngài có những ác mộng về những con báo. Một đêm trong một giấc mộng một
người đàn bà mang những con báo lại cho ngài và nói: “Những con báo này là
những xuất hiện của ta, nhưng người đã không nhận ra điều đó.” Sau đó những con
báo tan biến vào người đàn bà, và bà cũng tan biến vào một chữ và biến mất. Sau
này Kyabgön bảo ngài: “Kinh nghiệm của ông về những con báo là sự giũ sạch
[sLong Tshad] những ý niệm và cảm xúc ẩn dấu của ông, nhưng nó kéo dài cho tới
bây giờ để ông nhận ra nó. Bây giờ ông đã có thể chiến thắng chúng.” Chatralwa
đọc tiểu sử của Milarepa và trong năm ngày ngài kinh nghiệm không có những điểm
quy chiếu trong tâm ngài, và từ đó tâm ngài ngơi nghỉ trong sự thanh thản.
Có lần Thầy Lhatse Kyabgön của ngài bị bệnh nặng, và ngài mời một Đạo sư
terma đầy năng lực là Rolwe Dorje mà đại chúng gọi là Chagmo Tülku. Nhờ những
gia hộ của Chagmo Tülku, vị Thầy của ngài đã khỏi bệnh. 217
Chatralwa nhận ra rằng Chagmo Tülku sở hữu những giáo lý Đại Viên mãn độc
nhất vô nhị. Ngài khẩn cầu Chagmo Tülku ban giáo huấn cho ngài. Thay vào đó,
Chagmo Tülku khuyên Chatralwa đi tới vị Thầy của riêng mình là Dodrupchen đệ
tam để thỉnh cầu giáo huấn. Nhưng Lhatse Kyabgön không cho phép Chatralwa đi.
Cuối cùng Chagmo Tülku ban cho ngài những giáo huấn về Đại Viên mãn, kể cả
những giáo lý về Yeshe Lama, nói rằng: “Đây là tinh túy những giáo huấn của
Dodrupchen.” Với sự tinh tấn lớn lao, Chatralwa đã thiền định về những gì ngài
được dạy. Sau một tuần, ngài cảm nhận nhiều kinh nghiệm. Khí nghiệp (hay năng
lực) do sự bám chấp chủ thể-đối tượng tan biến vào Pháp giới tối thượng, và ngài
an trụ trong sự vắng bặt của các tư tưởng. Đó không phải là một sự vô thức hay
trạng thái trung tính của tâm. Giống như ánh sáng của một ngọn đèn trong một cái
bình, chư Phật và các cõi tịnh độ thường trụ cũng như những âm thanh tối thượng
hiện diện tự nhiên như sự chói lọi của giác tánh nội tại (chân tánh của tâm), trí tuệ
nguyên sơ.
Nhiều năm sau này, sau khi Lhatse Kyabgön mất, Chatralwa đi thăm Düdjom
Lingpa (1835-1903) và nhận Nangjang và những giáo lý khác trong nhiều tháng.
Theo tiên tri của Düdjom Lingpa, ngài đi thăm Adzom Drukpa (1842-1924), vị Thầy
định mệnh của ngài, và nhận những giáo lý bắt đầu từ ngöndro cho tới thiền định
Trekchö của sự thuần tịnh nguyên thủy và thiền định Thögal của sự quang minh
chói lọi, là những giáo lý được Khyentse Wangpo phó chúc cho Adzom Drukpa.
Ngài cũng được ban các trao truyền của Nyingthig Yabzhi, Longchen Nyingthig,
Chetsün Nyingthig, Gongpa Zangthal, và nhiều giáo lý khác.
Phù hợp với tiên tri của Adzom Drukpa, ngài tới Thung lũng Ser Hạ để truyền bá
các giáo lý. Trên đỉnh của một ngọn núi cao, dốc, giống như ốc xà cừ, ngài xây
dựng ẩn thất của ngài, là nơi được gọi là Yage Gar, Trại Tuyệt hảo. Nó cách làng
Tsi vài dặm, nơi sinh của Dodrupchen Rinpoche đệ tứ. Chatralwa ở đó trong phần
còn lại của đời ngài, chủ yếu giảng dạy thiền định Đại Viên mãn.
Sau một thời gian, Tertön Sögyal (1856-1926) từ Tu viện Dodrupchen di chuyển
tới Thung lũng Ser Thượng, và Chatralwa trải qua một thời gian dài với ngài. Tertön
Sögyal dạy ngài Dzökyi Demik, một bình giảng về Guhyagarbha-tantra của
Dodrupchen đệ tam vào ban ngày và Ösal Nyingpo, một bình giảng về
Guhyagarbha-tantra của Mipham Namgyal vào ban đêm. Ngài cũng dạy Chatralwa
nhiều bình giảng khác về Guhyagarbha, và những giáo huấn về Đại Viên mãn.
Mỗi khi Tertön Sögyal trở về từ những cuộc viếng thăm Dodrupchen đệ tam,
tertön trao truyền những giáo lý quan trọng mà ngài nhận được hay những sự thảo
luận ngài có với Dodrupchen cho Chatralwa. Khi Chatralwa thuật lại cho chúng tôi
điều này, tôi nhớ lại lời ngài: “A-we! Ta không quên chúng. Làm sao ta có thể quên
những giáo lý vàng như thế? Ta không phải là kẻ điên.” Lòng sùng mộ của ngài đối
với Dodrupchen thật to lớn, nhưng ngài không bao giờ có cơ hội gặp Dodrupchen.”
Năm tôi mười hai tuổi (1951), tôi tới gặp Chatralwa cùng với Thầy Kyala Khenpo
của tôi và vài người khác. Tại ẩn thất của ngài có khoảng hai trăm tu sĩ. Phần lớn
họ sống trong những túp lều và hang động nhỏ xíu có một chiếc giường vừa làm
ghế ngồi, trên đó họ có thể ngủ, ngồi, thiền định, và nghiên cứu. Cạnh giường có
chiếc lò nhỏ dùng để nấu trà trong khi ngồi trên giường. Cạnh chiếc gối có một bàn
thờ nhỏ với vài quyển sách. Nhiều người hầu như không thể đứng dậy trong phòng
nhỏ của họ. Nhiều đệ tử đang thực hành thiền định Đại Viên mãn, và đích thân 218
Chatralwa hướng dẫn họ. Nhưng đa số các đệ tử đang thực hành các bản văn Kinh
điển và Mật điển dưới sự hướng dẫn của những đệ tử thâm niên của ngài.
Lần đầu tiên tôi nhìn thấy Chatralwa, ấn tượng mạnh mẽ nhất về ngài mà tôi có
là vẻ cổ xưa, không có dấu vết thời gian và tuổi tác của ngài. Một tư tưởng xuất
hiện trong tôi: “Ồ! Rigdzin Jigme Lingpa hẳn cũng như thế này.” Ngài đang ngồi trên
ghế được bọc vải. Ngài có mái tóc xám, thưa, mọc dài và được bện lại chút ít. Tôi
nhớ lại câu nói của ngài: “Thầy Adzom Drukpa của ta nói với ta rằng ta nên sống
cuộc đời của một hành giả Mật thừa, và ngài đã tiên đoán rằng ta sẽ trở thành một
tertön. Nhưng ta không muốn lập gia đình, bởi điều đó có thể khiến ta phải sống
một cuộc đời tranh đấu, mà cũng không muốn khám phá bất kỳ giáo lý terma mới
nào, bởi đã có quá nhiều giáo lý terma đích thực quý như vàng có thể dùng được.
Vì thế, như một tượng trưng cho việc tuân thủ lời dạy của Thầy ta, ta giữ mái tóc
dài này như y phục hành giả Mật thừa.” Mặc dù ngài không bao giờ gặp
Dodrupchen đệ tam, một nửa những giáo lý của ngài là những trích dẫn từ những
tác phẩm của Dodrupchen mà ngài đã nhận qua Chagmo Tülku và Tertön Sögyal.
Chatralwa có một ngôi nhà khá lớn, tiện nghi, với rất nhiều ánh nắng, tràn ngập
các pháp khí và sách tôn giáo. Một hôm một Lạt ma nổi tiếng tên là Rinchen Dargye
tới thăm ngài. Sau khi đi vào phòng của Chatralwa, Lạt ma cứ nhìn quanh thay vì
ngồi xuống. Chatralwa hỏi ông ta bằng giọng gay gắt: “A-we! Ông mất cái gì thế?”
Lạt ma trả lời: “Tôi nghe nói ngài là Chatralwa, một ẩn sĩ. Nhưng trên thực tế thì
ngài đã thâu thập đủ để được gọi là một người giàu có.” Chatralwa trả lời:
“Chatralwa có nghĩa là một người đã giũ sạch những tham luyến cảm xúc đối với
vật chất thế tục hay với cuộc đời. Nó không có nghĩa là nghèo khổ và khao khát vật
chất như nhiều người làm.”
Nếu quý vị cúng dường ngài một tặng phẩm, hầu như chắc chắn là ngài sẽ biểu
lộ cơn thịnh nộ, và thậm chí ngài có thể ném quý vị ra ngoài. Nhưng nếu quý vị sửa
soạn một cái đĩa tuyệt đẹp và đem nó tới cho ngài, ngài luôn luôn thưởng thức nó
với câu nói nổi tiếng: “A-we! Nó đáng giá hàng trăm con ngựa và hàng ngàn con bò
[mDzo].”
Trong những năm đầu của đời ngài, ngài dạy những bản văn Kinh điển và Mật
điển uyên áo cho các đệ tử. Nhưng những năm về sau ngài không dạy bản văn nào
nữa. Ngài chỉ ban những lời giảng để làm sáng tỏ những vấn đề khác nhau mà các
đệ tử đưa lại cho ngài và đặc biệt là những giáo huấn về thiền định Đại Viên mãn.
Lối giảng dạy thiền định Đại Viên mãn của ngài được gọi là Nyamtri, những giáo
huấn phù hợp với kinh nghiệm của hành giả. Ngài sẽ chỉ dẫn riêng từng đệ tử về
cách bắt đầu thiền định. Sau đó, ngài ban những giáo lý hay những giảng nghĩa làm
sáng tỏ chỉ phù hợp với những kinh nghiệm, vấn đề, hay sự tiến bộ mà các đệ tử
đang có. Vì thế ngài ban những gia hộ, bí quyết, và những hỗ trợ, nhưng ngài để
cho các đệ tử tự mình thức tỉnh, khai mở, hay tự nhận ra bổn tâm của họ.
Hầu hết các đệ tử của ngài sống trong cảnh đạm bạc, nhưng họ vui vẻ, hài lòng,
an tĩnh, và bi mẫn. Nếu quý vị chứng kiến niềm vui trên khuôn mặt, sự yên bình
trong giọng nói, vẻ điềm tĩnh trong những hoạt động, và thiện tâm cũng như sự ích
lợi cho người khác của họ, quý vị sẽ có cảm tưởng rằng cái được gọi là sự thịnh
vượng của cải vật chất không liên quan gì tới niềm vui chân thật của cuộc đời.
Khoảng năm 1940, Chatralwa bị bệnh ho đàm trầm trọng. Không báo trước,
Dodrupchen Thupten Thrinle Palzang tới, và sau khoảng một giờ, Chatralwa bắt 219
đầu ăn và sau đó hồi phục, không còn những triệu chứng của căn bệnh hay cần
phải dùng thuốc nữa. Chatralwa nài nỉ được rót trà cho Rinpoche và nói: “Tôi buồn
vì là một đệ tử cũ của Dodrupchen, vì thế tôi phải phụng sự ngài.” Chatralwa không
bao giờ được chính thức thừa nhận hay tôn phong là tülku, nhưng ngài được coi là
tülku của Jigme Kalzang. Những lời ngài nói về việc ngài là một đệ tử cũ của
Dodrupchen được coi là một thừa nhận ngài là hóa thân của Jigme Kalzang.
Trong những lần gặp gỡ sau này, Chatralwa ban tinh túy của tất cả giáo lý và
trao truyền của ngài cho Dodrupchen Rinpoche, như thể rót nước từ cái bình này
sang bình khác.
Năm tám mươi mốt tuổi, sức khỏe của Chatralwa suy sụp, và ngài bảo các đệ tử
mời Dodrupchen Rinpoche đến, khi đó vị Thầy này đang ở Tu viện Dzogchen. Ngài
nói rằng không cần cử hành buổi lễ nào cho tới khi Dodrupchen tới, và khi
Dodrupchen tới, họ nên để vị Thầy này làm bất kỳ những gì ngài thích. Như thế, vào
ngày hai mươi hai tháng giêng năm Thủy Thìn (1952), Chatralwa Chöying Rangtröl
thị tịch vào Pháp giới tối thượng. Vài ngày sau khi ngài mất, Dodrupchen từ Tu viện
Dzogchen tới và cử hành tất cả những buổi lễ truyền thống. Nhiều đệ tử của
Chatralwa trở về ẩn thất hay tu viện của họ, và một số tới Tu viện Dodrupchen. Ẩn
thất Yage Gar hầu như bị giải tán. Tất cả những ngày trọng đại đã trôi qua chỉ trong
thời gian ít tháng. Để đánh dấu sự chứng ngộ của ngài, Chatralwa đã viết:
Không thể tách lìa bản tánh của Pháp vương xứ Oddiyāna [Guru Rinpoche],
Ôi cha ơi, Lạt ma thành tựu, xin an trụ trên đỉnh đầu con.
Các đối tượng có tính chất hiện tượng xuất hiện như năng lực [của trí tuệ],
thuần tịnh xa rời những ô nhiễm đột ngột, và,
Bản tánh trùm khắp của tâm là sự hợp nhất của sự thuần tịnh nguyên thủy và
sự viên mãn tự nhiên.
Với những hồi ức như thế, mặc dù không có vẻ đẹp của thi ca,
Ta thích hát bài ca chứng ngộ về nền tảng, là sự giải thoát từ lúc ban đầu.
Nhờ chứng ngộ giác tánh nội tại sâu xa, là sự khoáng đạt, và vô ngã,
Những xuất hiện bên ngoài được giải thoát như sự tự do không có điểm quy
chiếu.
Sau khi tịnh hóa giác tánh nội tại và những đối tượng xuất hiện như sự hợp
nhất trong nhất thể tánh,
Việc hành giả đạt được thành lũy trong nền tảng tự do tự nguyên thủy sẽ được
bảo đảm.
Khi đã vượt lên mọi hy vọng và sợ hãi phân biệt của “là” và “không là,”
Ngủ yên thanh thản, không bận tâm tới mọi hoạt động đạo đức, thì thật hỉ lạc!
Những toan tính về các con đường và giai đoạn, và những phân biệt về những
cái thấy và thiền định –
Những vật che phủ như vỏ trứng của tâm hoài nghi bị vỡ nát.
Phẩm tính phi thường của con đường là không dụng công và thành tựu tự
nhiên.
Giác tánh nội tại không bị tạo tác của bản tánh là trí tuệ nguyên sơ thành tựu
tự nhiên.
Tính bình đẳng của sinh tử và niết bàn trong sự thuần tịnh của quả của chúng
là sự thoát khỏi những phân biệt. 220
Như thế ta đã chứng ngộ bản tánh của Phật nguyên thủy tại nền tảng, và
Giờ đây không cần phải nỗ lực để đạt được Phật quả.
Xin thiền định về Đại Viên mãn. Đó là những đức hạnh phi thường để đạt tới.
Tại núi Sangdzong, gã hành khất tên là Chöying Rangtröl
Đã biểu lộ tự nhiên bài ca hỉ lạc này. 221
31
KATHOK KHENPO NGAWANG PALZANG
1879 – 1941
KHENPO Ngawang Palzang289 ở Tu viện Kathok là một trong những nhà biên soạn,
Đạo sư, và người truyền bá dòng Longchen Nyingthig vĩ đại nhất trong thế kỷ này.
Ngài được coi như một tülku (tái sinh) của Vimalamitra, và sẽ không cường điệu khi
gọi ngài là Longchen Rabjam thứ hai.
Ngài thường được biết với danh hiệu Khenpo Ngachung (Ngak Con), và trong
nhiều tác phẩm ngài tự ký là Ösal Rinchen Nyingpo Pema Ledreltsal hay Pema
Ledreltsal.
Ở đây tôi xin đưa ra một bản tóm tắt tự thuật của Khenpo, Ngotsar Gyume
Rölgar (Một Trò Nô đùa Kỳ diệu đáng Kinh ngạc). Nếu các bạn thích thú khi đọc tiểu
sử của một Lạt ma về những thành tựu học thuật và tâm linh thì các bạn nên chọn
bản tự thuật này. Trong một văn phong đẹp và cổ điển nhất thật hiếm thấy, bản tiểu
sử này giới thiệu một cuộc đời tráng lệ.
Khenpo sinh ngày mồng mười tháng mười năm Thổ Mão thuộc Rabjung thứ
mười lăm (1879) giữa những dấu hiệu kỳ diệu của ánh sáng cầu vồng và âm nhạc
từ trên không. Cha ngài là Namgyal của nhóm bộ lạc Nyoshül, và mẹ ngài là
Pematso thuộc nhóm bộ lạc Juwa.
Cả ngày lẫn đêm của ngài tràn ngập ánh sáng, những chứng nghiệm, linh
kiến, âm thanh lạ lùng, và những giao tiếp với các bậc linh thánh. Khi được ba ngày
tuổi, ngài tụng đọc thần chú Vajrakīla khi ngồi trong tư thế thiền định. Suốt trong
mùa đông thứ nhất, trong thời tiết băng giá, em bé ngủ với mẹ. Nhưng bà mẹ không
thể ngủ với ngài vì ngài phát ra quá nhiều nhiệt qua năng lực tâm linh. Bà mẹ nói:
“Con là ai, là con của ma quỷ à?” Ngài hát:
Con đến từ hướng Latrang phía đông,
Con tự kiểm soát năng lực và nhiệt. 222
Con từng thành tựu pháp Guhyasamaja.
Nếu mẹ nhận ra con, con là Alak Rigdra.
Trước sự việc như thế bà mẹ nói: “Ai mà biết được? Hãy im lặng.” Cha mẹ
và thân quyến của ngài lo lắng về đứa con khác thường của họ và cố giữ bí mật
việc ngài hiển lộ những điều thần diệu.
Năm lên hai tuổi, cha ngài đưa ngài tới gặp ngài Nyoshül Lungtok tại Ẩn thất
Gyaduk. Nhìn thấy ngài, Lungtok biểu lộ niềm vui cực độ và ban sự gia hộ cùng quà
tặng cho ngài.
Khi ngài lên năm, gia đình ngài vô cùng khó khăn do một trận lụt, và một
hôm ngài uốn một nhánh cây thành hình dáng một phurbu (lưỡi dao linh thiêng), và
nói:
Con, như Vimalamitra ở Ấn Độ,
Đã đảo ngược giòng Sông Hằng.
Xá gì con lạch trong hẻm núi.
Mẹ ơi, nhìn xem điều tuyệt vời này !
Sau đó, chỉ cây phurbu vào con sông, ngài tụng thần chú Vajrakīla, và con
sông đổi dòng chẩy như thể bị một trận bão xô đẩy.
Năm lên bảy, ngài được người chú dạy đọc những bài nguyện. Khi chú dạy
một chữ thì ngài đọc chữ kế tiếp thay vì lập lại theo ông. Người chú trở nên khó
chịu và nói: “Tại sao cháu cứ nhào lên trước thế ? Cháu không nhận diện được các
chữ.” Khi đó ngài học chậm lại và mất khoảng hai mươi ngày để học trang đầu của
bài nguyện, và điều này làm người chú hài lòng. Vào một buổi tối, trong khi thiu thiu
ngủ, ngài đọc toàn bộ Zangpo Chöpa, và chú của ngài nhận ra rằng ông đang đối
xử với một người phi thường. Chú ngài đem đến cho ngài một số bản văn mới, và
Khenpo đọc tất cả không chút khó khăn. Chú ngài thôi đưa các bài đọc cho ngài.
Từ năm lên tám, ngài bắt đầu nhận những giáo lý và quán đảnh từ nhiều vị
thầy. Năm mười lăm tuổi, Khenchen Gyaltsen Özer cho ngài thọ giới Sa di, và
Nyoshül Lungtok dạy ngài về tầm quan trọng của việc trì giữ các giới nguyện.
Cùng với Nyoshül Lungtok, ngài đi tới ẩn thất tên là Pema Ritho. Ở đó, từ
Nyoshül Lungtok ngài nhận những giáo huấn chi tiết về thực hành ngöndro và hoàn
tất những tích tập ngöndro. Trong thực hành mạn đà la thuộc ngöndro, ngài thấy
Longchen Rabjam trong một giấc mộng. Đức Longchenpa đặt một trái cầu pha lê
lên đầu ngài và nói:
Ah ! Bản tánh của tâm là tâm giác ngộ. Ah !
Ah ! tánh Không vĩ đại là phạm vi của Samantabhadra
(Phổ Hiền). Ah !
Ah ! Giác Tánh nội tại mở trống là Dharmakaya (Pháp Thân). Ah !
Ah ! Từ năm ánh sáng chói lọi phát sinh mọi sự. Ah !
Ah ! Bản tánh của Giác Tánh nội tại siêu vượt cái thấy
và thiền định. Ah !
Ah ! Giờ đây cầu mong chúng được an lập trong tim con. Ah ! 223
Bởi sức mạnh của lòng sùng mộ, Khenpo ngất đi một lát. Từ pho tượng của
Longchen Rabjam trên bàn thờ của ngài hoá ra xá lợi. Nyoshül Lungtok nói với
những người khác rằng Khenpo có thể là tái sanh của Vimalamitra trong thế kỷ này,
vì Vimalamitra đã hứa gởi một hóa thân chính tới Tây Tạng trong mỗi thế kỷ để
truyền bá giáo lý Nyingthig.
Trước pháp guru yoga của thực hành ngöndro, ngài nhận quán đảnh của giáo
khoá Longchen Nyingthig gồm hai pho sách từ Lạt ma Atop, một trong những đệ tử
chính cua Nyoshül Lungtok. Nyoshül Lungtok chỉ ban một ít lễ quán đảnh trong suốt
cuộc đời giống như vị Thầy Paltrül của ngài. Lungtok ban cho Khenpo những giáo
huấn về Longchen Nyingthig nói chung và đặc biệt là pháp guru yoga.
Khenpo trì tụng thần chú siddhi (thành tựu) ba mươi triệu lần và thực hiện một
trăm ngàn lạy dài cùng những hành vi tôn kính. Từ khi Khenpo bắt đầu nhận các
giáo lý từ Nyoshül Lungtok, ngài không bao giờ nghĩ tưởng dù chỉ trong một giây
rằng bậc thầy của ngài là một chúng sinh bình thường, mà luôn luôn nhìn Thầy như
một vị Phật toàn giác. Ngài cũng không thể nhớ được có bao giờ nói năng không
đúng đắn với các bạn Pháp (Pháp lữ) của ngài.
Suốt trong thời gian tu tập ngöndro, ngài duy trì kinh nghiệm rằng tâm ngài tan
hòa vào một trạng thái vô niệm và sau đó mọi sự xuất hiện khách quan đều tan
biến. Vị thầy của ngài làm giảm bớt vẻ quan trọng của những kinh nghiệm đó và
nói: “Đó là nền tảng phổ quát,” một trạng thái trung tính, nhưng không phải là bản
tánh giác ngộ.
290
Sau thực hành guru yoga, Lungtok ban những giáo lý chi tiết về tantra bao
gồm ba cội gốc và nhiều bản văn khác. Khenpo thực hiện một cuộc nhập thất trì
tụng nghiêm nhặt trong bốn mươi chín ngày về Rigdzin Düpa. Ngài đạt được sự
quang minh to lớn trong giai đoạn phát triển, trì tụng thần chú siddhi mười triệu lần
và thần chú Rigdzin Chitril một trăm triệu lần. Sau đó ngài thực hiện một cuộc nhập
thất một tháng về Yumka Dechen Gyalmo và thực hành ngày lẫn đêm. Ngài có thể
nghe năng lực âm thanh của thần chú mà không cần nỗ lực. Ngài có một chứng
ngộ phi thường rằng những thị kiến về các hình tướng linh thánh hay bình phàm chỉ
đơn thuần là những sự xuất hiện và định danh do tâm thức tạo tác.
Năm hai mươi tuổi, bởi được Lungtok tận tình khuyên bảo, Khenpo thọ cụ túc
giới từ ngài Atop. Về sau, ngài trì giữ mỗi một trong 253 giới của một nhà sư và
không giữ ngoại vật nào cho riêng mình. Khi phải giữ các ngoại vật để phụng sự
Giáo Pháp hay cho người khác, ngài chỉ giữ chúng sau khi trì tụng tütren (Dus
Dran), một cách thức để tự nhắc nhở về “chánh niệm về mục đích”, do ngài
Panchen Lobzang Chögyen biên soạn.
Vị thầy của ngài ban cho ngài các giáo lý chi tiết về cuộc đời và sự trường thọ.
Sau đó Khenpo thực hiện một cuộc nhập thất một trăm ngày về thực hành trường
thọ của Longchen Nyingthig. Sau nhiều ngày trì tụng, ngài thấy ánh sáng phát ra từ
những viên thuốc trường thọ trên bàn thờ, và sau đó chúng tan thành ánh sáng. Do
chú tâm tu tập về năng lực (khí), ngài đã chứng nghiệm các thành tựu về sự thâm
nhập, an trụ, và toàn thiện của những năng lực của ngài trong kinh mạch trung
ương. Bằng pháp yoga nội nhiệt, ngài chứng nghiệm đại lạc và nhiệt trong thân và
sư hợp nhất của lạc và tánh Không trong tâm ngài. Sự tiếp xúc với cái lạnh hoặc
nóng bên ngoài khiến ngài phát sinh nhiệt và lạc. Nhờ tu tập về tinh chất vi tế,
chẳng bao lâu tâm và các niệm tưởng của ngài đã ngừng dứt. Ngài an trụ trong một 224
trạng thái vô niệm sâu dày, như đang ngủ, nhưng trước tiên với sự khoáng đạt rồi
đó tâm thức đó cũng tan hòa trong trạng thái hợp nhất của tánh Không và quang
minh. Ngài có thể an trụ trong trạng thái như thế trong suốt một khoá thiền định.
Khi Khenpo hai mươi mốt tuổi, mỗi ngày Nyoshül Lungtok ban cho ngài ít dòng
giáo lý Nyingthig thâm sâu. Sau mỗi giáo lý, Khenpo thiền định về ý nghĩa của giáo
huấn trong nhiều ngày, và sau đó là các cuộc thảo luận và minh giải.
Thầy Lungtok giảng rằng ngài đã nhận sự truyền dạy Nyingthig từ Dzogchen
Rinpoche đệ tứ xuất phát từ Jigme Lingpa qua dòng truyền thừa của Dodrupchen.
Ngài cũng nhận sự truyền dạy từ Paltrül Rinpoche lẫn Khyentse Wangpo đến từ
Jigme Lingpa qua dòng truyền thừa của Gyalwe Nyuku.
Trong những tu tập này, Khenpo phát triển một sự xác tín không thể nghi ngờ
rằng điều mà ngài đã chứng nghiệm suốt trong các tu tập ngöndro của ngài – đó là
kinh nghiệm về trạng thái vô niệm, sau kinh nghiệm đó mọi sự xuất hiện khách quan
đã tan biến – thì không đơn thuần là sự vắng mặt của các tư tưởng mà là sự hợp
nhất trần trụi của giác tánh nội tại và tánh Không.
Ngài trình bày xác quyết của mình cho vị thầy. Vị thầy cười và nói: “Trong thời
gian các tu tập tâm thức chuẩn bị [Blo sByong] của thực hành ngöndro, ông đã nói
về một sự thiền định [về trạng thái vô niệm] và sự tan biến của các sự xuất hiện
khách quan. Đó là cái nó là. Có hai loại tư tưởng, các tư tưởng chủ quan và các tư
tưởng khách quan. Trong thiền định của các bậc chứng ngộ, trước tiên bám nắm
chủ quan của họ tan biến. Vào lúc ấy, khi tư tưởng khách quan chưa bị tan biến, sẽ
là những tư tưởng về các sự xuất hiện (các hình tướng). Sau đó những gì các tư
tưởng đã bám níu một cách khách quan sẽ tan biến, và rồi ngay cả những sự xuất
hiện đơn thuần cũng sẽ không có mặt trước tâm thiền định.”
Khenpo là một người tài ba nhất, đã có kinh nghiệm về chân tánh trong các tu
tập thiền định lúc ban đầu của ngài. Tuy nhiên, vị thầy của ngài không nói với ngài
rằng đây là một chứng ngộ quan trọng. Nếu vị thầy nói điều này quá sớm, trong tâm
Khenpo có thể phát sinh một sự bám níu ý niệm vi tế, một sự dính mắc vào cái
được gọi là “sự chứng ngộ quan trọng,” và thay vì Khenpo được khuyến khích bởi
việc đạt được chứng ngộ vững chắc, ngài có thể bị xao lãng khỏi hành trình tu tập.
Đó chính là lý do tại sao Paltrül Rinpoche nói: “Đừng vội gọi nó là Pháp Thân !”
Sau đó Nyoshül Lungtok ban một trong những quán đảnh hiếm hoi nhất của
ngài, một Yeshe La-me Tsalwang, lễ quán đảnh năng lực giác tánh nội tại (hay sự
nhập môn bản tánh của tâm) như được ban cho trong Yeshe Lama. Tiếp theo là
các giáo lý về giáo huấn thâm sâu Đại Viên mãn, bao gồm Chöying Rinpoche Dzo.
Kế đó vị thầy của ngài bảo Khenpo rằng giờ đây ngài nên đến Tu viện
Dzogchen để nghiên cứu các bản văn uyên áo. Ngài nghe nói rằng Mipham
Namgyal cũng đang đến dạy tại tu viện. Khenpo không muốn đi nhưng phải tuân lời
thầy. Với một món quà gồm mười ba cái bánh đường nâu và một khăn choàng dài,
vị thầy tạm biệt đệ tử của mình bằng những lời cầu nguyện rồi nói thêm: “Ta đang
thôi thúc con, trao quyền cho con, và chứng nhận con là người hộ trì bậc thứ mười
ba, trạng thái của Vajradhara (Kim Cương Trì).” Với trái tim nặng trĩu, Khenpo cầu
nguyện và cuối cùng từ giã vị thầy.
Cuối năm hai mươi hai tuổi, Khenpo tới Tu viện Dzogchen. Cùng ngài Minyak
Lama Rigdzin Dorje và những người khác, ngài nghiên cứu Madhyamakālamkāra225
của Shantarakshita, Tsema Rikter của Sakya Pandita, Don Namnge, Kagye
Namshe, và Ösal Nyingpo về Guhyagarbha của Mipham.
Với Khenpo Losal ngài nghiên cứu Domtik Paksam Nye của Dharmashrī,
Mahayana-sutralamkara (Đại thừa Trang nghiêm Kinh luận), Madhayanta-vibhanga,
và Dharmadharmatavibhanga với các bình giảng của Rongtön, Uttaratantra (Đại
Thừa Tối Thượng Mật điển) với bình giảng của Dölpo, Guhyagarbha với các bình
giảng của Longchen Rabjam, Rongzom, và Yungtön, Thekchen Tsüljuk và Nangwa
Lhadrup của Rongzom, Yönten Dzö với các bình giảng của Dodrupchen và Tentar
Lharampa, và Semnyi Ngalso và Gyuma Ngalso.
Với Khenpo Sönam Chöphel ngài nghiên cứu Abhisamayālamkāra (Hiện Quán
Trang nghiêm) với các bình giảng của Je Tsongkhapa và Paltrül, Bodhicharyāvatāra
(Nhập Bồ Tát Hạnh) với các bình giảng của Ngülchu Thogme và Künzang Sönam,
và Norbu Ketara của Mipham, Prajnānāma-mūla-madhyamaka, Chatuhshatakashāstra, Dültik Rinchen Trengwa, Dülwa Tsotik, Longchen Nyingtig Tsalung,
Sangdak Gonggyen, và những tác phẩm khác.
Từ Mura Tülku Pema Dechen ngài nhận nhiều lễ quán đảnh và giáo lý về
Yeshe Lama và những kinh điển khác. Từ Khenpo Konchok Norbu ngài nhận các
giáo huấn duy nhất của Paltrül về Bodhicharyāvatāra (Nhập Bồ Tát Hạnh).
Với Apal ngài nghiên cứu Abhidharmakosha (A tỳ đạt ma Câu xá luận) với
bình giảng và các bình giảng của Gyalpö Se, Chimchen, và Chimchung. Khenpo có
một quãng thời gian cam khổ để thấu suốt lối giảng dạy tỉ mỉ của Apal. Ngài đi tới
tảng đá ở Shrīsimha, nơi có lần ngài Paltrül giảng Abhidharmakosha và ước nguyện
có thể hiểu được những gì ngài Vasubandhu linh thị trong bản văn của ngài. Ngài
rơi vào giấc ngủ và trong một giấc mơ được Vasubandhu (Thế Thân) gia hộ, và
Khenpo nhớ lại ngài đã từng là Sthiramati, đệ tử chính của Vasubandhu. Sau lần
đó, ngài có thể thấu hiểu các giáo lý.
Sau đó Mipham Namgyal tới và ở ẩn thất Nakchung của Tu viện Dzogchen để
biên soạn tác phẩm Khepala Jukpa. Một hôm Khenpo tới thăm ngài, và chính trong
ngày ấy Mipham hoàn thành Khepala Jukpa, Mipham trao bản văn cho Khenpo và
thôi thúc ngài giảng dạy nó. Khenpo cũng nhận lễ quán đảnh Jampal Gyüluk.
Ngài cũng nhận các quán đảnh Könchok Chidu từ Dzogchen Rinpoche thứ
năm, Gongpa Düpa và Khandro Nyingthig từ Drukpa Kuchen của Tu viện
Dzogchen.
Cuối năm hai mươi bốn tuổi (1902), ngài trở về ẩn thất của vị thầy và đau
buồn khi biết tin ngài đã mất vào ngày hai mươi lăm tháng năm năm ngoái. Ngài
làm một cuộc nhập thất trì tụng ba tháng về Vajrakīla Düpung Zilnön của Longchen
Nyingthig. Ngài cũng thực hiện các tiệc cúng dường và ban giáo lý cho mọi người.
Rồi ngài đi tới ẩn thất Kading và làm những cuộc nhập thất về Sādhana Māyājāla
Hòa bình và Phẫn nộ và Jampal Gyüluk và ban các giáo lý. Ngài thiền định về
Thögal và nhìn thấy ánh sáng và hình ảnh của chư Phật tràn đầy không gian, và
sau đó năng lực của giác tánh nội tại trong hình tướng của giây xích kim cương, trí
huệ vi tế nhất, tan biến thành pháp giới nội tại tối hậu. Bằng cách thực hành như
thế, ngài đạt tới bản tánh tối hậu của trí huệ nguyên sơ, sự hợp nhất trần trụi của
giác tánh nội tại và tánh Không. Mọi cấu trúc của kinh nghiệm đã tiêu tan. Mọi sự
bám níu chủ quan và khách quan đã bị phá huỷ. Trong trọn nửa ngày, ngài an trụ
trong sự quang minh chói ngời thoát khỏi các niệm tưởng. Như một dấu hiệu của 226
việc ngài nhận ra rằng các hình tướng không thật như chúng được cho là thế, cái
chuông của ngài rơi trên một tảng đá, và thay vì cái chuông bị vỡ như bình thường,
có một dấu vết của cái chuông trên tảng đá và cũng có một dấu vết của tảng đá trên
cái chuông.
Trong khi thiền định về Khandro Yangtig, trong một linh kiến ngài đi tới cõi tịnh
độ vô song trong hình tướng của Lhacham Pemasal và nhận các quán đảnh từ vị
thủ lãnh của các dākinī và được ban pháp danh Ösal Rinchen Nyingpo Pema
Ledreltsal. Cũng như Longchen Rabjam, ngài nhận sự truyền dạy từ Rigdzin
Kumārādza.
Năm ngài hai mươi chín tuổi, mẹ ngài mất giữa những biểu hiện ánh sáng và
động đất. Từ Terchen Ngawang Tendzin ngài nhận các sự truyền dạy nguyên bản
của Nyingma Gyübum.
Sau đó, ngài đi tới Tu viện Dzogchen một lần nữa. Với Khenpo Lhagyal của
Dzogchen ngài nghiên cứu Pramānavārttika, và với Khenpo Zhen-ga ngài nghiên
cứu các bình giảng về Madhyamakāvatāra (Nhập Trung Luận) và nhiều kinh điển
khác.
Sau đó Dzogchen Rinpoche muốn bổ nhiệm ngài làm một khenpo, một tu viện
trưởng của Tu viện Dzogchen, nhưng ngài từ chối, vì ngài được ngài Lungtok chỉ thị
không dạy tại Tu viện Dzogchen mà tại dạy tại Tu viện Kathok.
Ngài trở về Jönpa Lung, trụ xứ của vị thầy của ngài, và bắt đầu ban thêm các
giáo lý. Suốt trong lễ quán đảnh Yumka Dechen Gyalmo, chất cam lồ sôi lên trên
bàn thờ mát mẻ, và các chữ chủng tự được viết trên một tấm gương có màu sắc
nổi bật lên (‘Bur Dod). Trong thời gian truyền dạy bản văn Dzödun, một người đàn
bà vô danh với nhiều món trang sức quý giá có mặt một lúc rồi biến mất. Khi
Khenpo đang ban giáo lý Semnyi Ngalso, toàn thể thung lũng tràn ngập ánh sáng
cầu vồng.
Từ ngài Adzom Drukpa, ngài nhận quán đảnh Gongpa Zangthal, Khandro
Yangtig, và Lama Yangtig và các giáo lý ngöndro cùng các thực hành thực sự Dorje
Nyingpo.
Năm ba mươi tuổi, do lời mời của Kathok Situ Chökyi Gyatso (1880-1925),
ngài đi tới Tu viện Kathok. Ở đó ngài được chỉ định là một trợ giáo (sKyor dPon)
trong shedra hay học viện kinh điển mới mở. Khenpo Kunpal giảng dạy Domsum
Rabye, Pramanavarttika, Tsema Rikter, Yizhin Dzo, Men-ngak Dzo, và Choying
Dzo, và Khenpo Ngachung duyệt lại giáo lý cho các học viên.
Năm ngài ba mươi mốt tuổi, Khenpo Künpal phải trở về Dzachukha. Khenpo
Ngachung kế tục ngài làm khenpo của shedra (Học viện Kinh điển) và giảng dạy
nhiều bản văn trong mười ba năm. Mỗi ngày ngài ban ít nhất ba bài giảng và đôi khi
bảy bài. Ngài cũng ban các quán đảnh, bao gồm Nyingthig Yabzhi và Longchen
Nyingthig hai mươi bảy lần, Dorje Nyingpo ba lần, và sự truyền dạy bản văn
Dzödun mười ba lần. Ngài cho hơn bốn ngàn vị sư thọ cụ túc giới.
Trong khi giảng dạy, ngài thọ nhận Rinchen Terdzö, Düdül, và nhiều sự truyền
dạy khác từ Kathok Situ, Jewön Rinpoche, và Khenpo Gyaltsen Özer. Từ Detso
Khenpo Sönam Palden xứ Golok, ngài nhận giáo lý Lamrim Chenmo và nhiều giáo
lý Geluk khác. Từ Pema Norbu thứ hai (1887-1932), ngài nhận Namchö, Ratna
Lingpa, Chagter, Minling Terchö, Jatsön, và Trölthik.227
Một lần nữa, ngài trở lại Jonpa Lung và thiết lập một tu viện theo lời dạy của
Kathok Situ.
Sau đó ngài đi tới Tu viện Palyül để bắt đầu một shedra. Ngài ban nhiều giáo lý
ngắn, kể cả Bodhicharyāvatāra (Nhập Bồ Tát Hạnh). Rồi ngài tới Tu viện Tralak
Shedrup Ling trong Thung lũng Da theo lời mời của Chaktsa Tülku và ban quán
đảnh Rinchen Terdzö, cùng với nhiều giáo lý và truyền dạy khác.
Tại Namoche trong Thung lũng Nyi Thượng ngài ban các quán đảnh Nyingthig
Yabzhi và Longchen Nyingthig trong một trại và ban các giáo lý ngöndro và Yeshe
Lama.
Năm ngài bốn mươi bảy tuổi (1925), theo chỉ thị của Kathok Situ, một cuộc tụ
hội của một ngàn tu sĩ là đệ tử của truyền thống Katok được thỉnh mời tại Tu viện
Kathok. Khenpo và nhiều người khác tụ hội, nhưng Kathok Situ bị bệnh nặng và
nhanh chóng qua đời. Khenpo ban các quán đảnh Rinchen Terdzö.
Năm bốn mươi chín tuổi, ngài thiền định về nhiều sādhana chính yếu của
Nyingma trong ẩn thất và chứng nghiệm nhiều thành tựu và linh kiến. Đặc biệt là
trong thời gian thiền định về Ladrup Thigle Gyachen, ngài có một linh kiến về
Longchen Rabjam và được truyền cảm hứng để viết các bản văn về Nyingthig. Kết
quả là ngài đã biên soạn các tác phẩm nổi tiếng nhất của ngài, Künzang Thukkyi
Tikka về Yeshe Lama, Nyen-gyü Chuwö Chüdü về Trekchö, Khandro Thukkyi Tilaka
về Thögal, và Nyime Nangwa về Trekchö lẫn Thögal.
Năm năm mươi mốt tuổi, ngài viếng thăm Markham và ban các quán đảnh
Nyingthig Yabzhi, Longchen Nyingthig, Rinchen Terdzö và các giáo lý Ngalso
Korsum và Yeshe Lama. Sau đó tại Tu viện Gyalse ngài ban nhiều quán đảnh và
giáo lý, công nhận và tấn phong tülku của Gyalse. Ngài cũng viếng thăm trại Nyakla
Changchup Dorje và làm lễ thọ giới cho sáu mươi tư người dự tuyển làm sa di hay
tu sĩ.
Năm năm mươi tư tuổi (1932), ngài tới Tu viện Tralak ở Thung lũng Da để thiết
lập một shedra. Ngay sau đó ngài cảm thấy Pema Norbu thứ hai đang hấp hối, và
Khenpo đã viếng thăm vị Thầy này trong thân thiền định của ngài và nói về tương
lai. Pema Norbu bảo ngài rằng bởi thân ngài bị hư hỏng do bệnh tật và ngài sẽ chết.
Khenpo gợi ý ngài về cõi Tịnh độ của Đức Phật A Di Đà, nhưng Pema Norbu muốn
tới tới Pema Ö, cõi tịnh độ của Guru Rinpoche, và trở lại để truyền bá giáo lý
Nyingthig. Chẳng bao lâu Khenpo nhận được tin tình trạng của Pema Norbu rất
trầm trọng, và Khenpo cấp bách lên đường để đến chỗ ngài. Bởi chuyến đi kéo dài
nhiều ngày nên khi ngài tới nơi thì Pema Norbu đã mất trước đó năm ngày.
Theo khẩn cầu của Khyentse Chökyi Lodrö, Khenpo tới Kathok để điều khiển lễ
tấn phong tülku của Kathok Situ.
Năm năm mươi lăm tuổi (1933) ngài thực hiện một cuộc nhập thất trì tụng về
Vajrakīla Yangsang La-me được Ratna Lingpa khám phá, ngài có một linh kiến về
Yeshe Tsogyal, và nhận các thành tựu Vajrakīla. Tự thuật của ngài chấm dứt năm
ngài năm mươi lăm tuổi.
Năm sáu mươi hai tuổi (1941), ngài thị tịch với các dấu hiệu kỳ diệu. Những
căn lều ánh sáng uốn cong trên địa điểm, người ta nghe được âm nhạc và cảm thấy
mặt đất rung chuyển. Shedrup Tenpe Nyima, tülku của Nyoshül Lungtok, và
Gyurme Dorje, nam tử của Adzom Drukpa, chủ tọa lễ hỏa thiêu. 228
32
ALAK ZENKAR PEMA NGÖDRUP RÖLWE DORJE
1881-1943
Alak Zenkar Pema Ngödrup Rölwe Dorje đệ nhất,291 hóa thân của Do Khyentse,
sinh ở Rekong, Amdo. Hơn sáu thập niên trước khi ngài sinh ra, Dodrupchen đệ
nhất đã tiên tri việc ngài ra đời, nói rằng:
Từ miền Ah sẽ xuất hiện một người tên là Pema Ngödrup,
Hóa thân của Khyentse, trong hình tướng của một nhà tu khổ hạnh.
Bất kỳ ai có mối liên hệ với ngài sẽ đạt được giải thoát khỏi sáu cõi.
Alak Zenkar nhận những trao truyền từ Gurung Tülku Rinpoche, đệ tử của
Mipham (1846-1912). Sau này, vị Thầy của ngài gởi ngài tới Dege, nói rằng: “Vị
Thầy định mệnh của con là Mipham Rinpoche. Con không thể gặp ngài, nhưng con
phải cố gắng!” Ngài nói thêm: “Khi đó, trong một tu viện ở bên dưới một tảng đá
màu hơi đỏ, con sẽ nhận những trao truyền giáo lý terma của Do Khyentse. Đó cũng
sẽ là nơi con nên an trụ.”
Khi ngài đã đến gần Tu viện Zhechen, ngài có một linh kiến như giấc mơ trong
đó ngài nhìn thấy một chöten (bảo tháp) bằng pha lê. Một Lạt ma trong bộ y phục
học giả đang ngồi trong cửa sổ của cái bình chöten. Ngài nghe những giáo huấn cốt
tủy về thiền định của Lạt ma. Sau đó Lạt ma và chöten tan thành ánh sáng trong
hình dạng những chữ viết tượng trưng. Cuối cùng những chữ viết tượng trưng bằng
ánh sáng tan vào ngài. Ngay lúc đó, ngài kinh nghiệm toàn bộ con người ngài tan
thành bản tánh tỉnh giác nội tại cố hữu của riêng ngài, và toàn bộ các hiện tượng
xuất hiện như thân, ngữ và tâm của Đức Phật, hoàn toàn bất khả phân với trí tuệ
chứng ngộ của riêng ngài. Đó là sự trao truyền tối thượng ngài nhận từ Mipham.
Sau đó ngài đi tới Tu viện Zechen và tỏ lòng tôn kính với di cốt của Mipham quá cố. 229
Sau đó ngài tới Tu viện Dzogchen và nhận những trao truyền từ Dzogchen
Rinpoche đệ ngũ và nghiên cứu Guhyagarbha-tantra với Gyakong Khenpo. Ngài
cũng nhận giáo lý từ Kathok Situ Chökyi Gyatso và Dzom-Drukpa.
Khi nhớ lại tiên tri của Gurung về nơi ngài nên an trụ, ngài đi tới miền Geshe xứ
Gyarong. Khi ngài tới Mirha (Maha) và nhìn thấy Tu viện Kyilung (sKyid Lung), một
trong những trụ xứ chính của Do Khyentse ở dưới một tảng đá có màu hơi đỏ, ngài
đoan chắc rằng đây là chỗ đến của ngài.
Do Khyentse đã khuyên các đệ tử của ngài lúc ngài mất: “Đừng cố gắng tìm
tülku của ta trong một cách thế phô trương. Bản thân ta sẽ xuất hiện như một nhà tu
khổ hạnh từ nơi nào đó để chăm sóc tu viện.” Tuy thế, trong một thời gian dài,
không ai biết rằng Alak Zenkar chính là nhà khổ hạnh đó. Khi đó Alak Zenkar ở độ
tuổi ba mươi hay lớn hơn, ngồi ở cuối hàng trong các tu sĩ của tu viện. Từ Khenpo
Rikten, ngài đã nhận những trao truyền các giáo lý terma của Do Khyentse. Mọi
người gọi ngài là Alak Zenkar, Đạo sư với Khăn choàng Trắng, bởi ngài đang khoác
một chiếc khăn trắng. Chẳng bao lâu người ta nhận ra sự uyên bác và chứng ngộ
sâu xa của ngài. Ngài nhớ lại nhiều hành vi trong quá khứ của Do Khyentse ở tu
viện, là điều mà chỉ có một ít đệ tử già còn sống là nhớ được. Ngài cũng có danh
hiệu mà Dodrupchen đã tiên tri. Tất cả những dấu hiệu này thuyết phục mọi người
rằng ngài là tülku của Do Khyentse mà họ đã chờ đợi nhiều thập niên.
Ngài giảng dạy và trông nom Tu viện Kyilung và mười ba tu viện phụ của nó.
Sau đó ngài xây một ẩn thất tên là Ogyen Khachödo và ngài thường sống ở đây.
Sau này trong đời ngài, ngài mở rộng cửa đối với tất cả mọi người, tăng, ni, cư sĩ
nam, cư sĩ nữ đều tương tự như nhau. Ngài dạy họ và cử hành những lễ tsok cùng
với họ, nhảy múa với những bài ca du già, dùng chung những chiếc tách và đĩa khi
chia sẻ thực phẩm và thức uống, là điều hiếm có đối với văn hóa Tây Tạng. Một
trong nhiều bài ca du già phổ thông của ngài bắt đầu bằng:
Trong Pháp giới tối thượng của sự thuần tịnh nguyên thủy
Những màu sắc [tự-xuất hiện] không hiện hữu như thực có.
Khi đã hoàn thiện năng lực xuất hiện tự nhiên của giác tánh nội tại,
Việc thành tựu thoát khỏi sự bám chấp vào cái “ta” là Pháp thân.
Ngài không bao giờ đi ngựa mà luôn luôn đi bộ. Tuy nhiên trong nhiều dịp ngài
xuất hiện bằng năng lực kỳ diệu của ngài trong một thời gian ngắn, từ một nơi cách
xa nhiều ngày đường, và không thể nào khẳng định là làm thế nào ngài tới đó được.
Năm sáu mươi ba tuổi (1943), trong một buổi tụ hội khác thường, khi uống bằng
một cái tách, ngài nói: “Chiếc tách này dành riêng cho ta. Tự ta phải uống nó.” Sau
khi uống, ngài nói: “Thức uống này có tẩm thuốc độc. Ta được cúng dường thuốc
độc này lần thứ ba bởi cùng một người. Lần này ta dùng nó bởi thời điểm cái chết
của ta cũng đã tới.” Sau đó ngài buộc mọi người có mặt phải hứa sẽ không làm hại
người đó bằng mọi cách và viết một di chúc nói rõ yêu cầu đó. Và ngài thị tịch với
những dấu hiệu kỳ diệu.
Tülku (tái sinh) của ngài, Alak Zenkar Thupten Nyima Rinpoche (sinh năm 1943),
đã trở thành một trong những ánh sáng lỗi lạc nhất trong việc hồi sinh của Phật giáo
và văn học Tây Tạng ở Kham trong những thập kỷ gần đây. 230
33
DZONGSAR KHYENTSE CHÖKYI LODRÖ
1893-1959
KYABJE Khyentse Chökyi Lodrö 292 của Tu viện Dzongsar là Đạo sư vĩ đại nhất của
nhiều dòng truyền thừa của thế kỷ này (thế kỷ 20).
Ngài sinh năm Thủy Tị thuộc Rabjung thứ mười lăm (1893) tại Rekhe Ajam gần
Tu viện Kathok. Thân phụ ngài là một Đạo sư Mật thừa tên là Gyurme Tsewang
Gyatso, cháu của Tertön Düdül Rölpatsal ở Thung lũng Ser tại Amdo, và thân mẫu
ngài là Tsültrim Tso ở Thung lũng Ser tại Amdo. Thân phụ ngài đặt tên cho ngài là
Jamyang Chökyi Lodrö. Năm lên sáu tuổi, Khyentse học đọc các bản văn với chú
của ngài thật dễ dàng.
Khi ngài lên bảy tuổi, Kathok Situ Chökyi Gyatso, cháu của Khyentse Wangpo,
đưa ngài về Tu viện Kathok và tôn phong ngài là hiển lộ-hành động của Khyentse
Wangpo, như được Kongtrül Yönten Gyatso tiên tri. Situ đã cử hành lễ xuống tóc và
đặt tên cho ngài là Jamyang Lodrö Gyatso.
Situ chỉ định thầy trợ giáo riêng của ngài là Khenpo Thuten Rigdzin dạy dỗ
Khyentse, và dưới sự chỉ dạy của vị Thầy, Khyentse đã học những bài cầu nguyện,
văn phạm, thuật chiêm tinh, Phạn ngữ, và nhiều Kinh điển khác. Từ Kathok Situ
ngài nhận sự trao truyền Nyingthig Yabzhi, các giáo khóa Longsal, và nhiều Kinh
điển khác, và Situ trở thành người quan trọng nhất cho con đường tâm linh và cuộc
đời thế tục của ngài.
Từ Adzom Drukpa ở Thung lũng Trom ngài nhận những trao truyền Longchen
Nyingthig, Gongpa Zangthal, Lama Yangtig, và sự khai tâm vào thiền định Trechö.
Khi Khyentse mười ba tuổi, thầy trợ giáo của ngài, người đã chăm sóc ngài như
một người cha, mất sau khi lâm trọng bệnh trong ba năm. Trong những năm cuối
cùng này, đích thân Khyentse chăm sóc Thầy, nấu nướng, rửa ráy, cho Thầy uống
nước và v.v.. Khyentse tin rằng sự hầu hạ của ngài không chỉ làm vui lòng Thầy trợ231
giáo mà còn tịnh hóa những phẩm tính trong bản thân ngài. Sau khi Thầy trợ giáo
mất, Khyentse học Domsum, Yönten Dzö, Yibzhi Dzö, Khenjuk, và những bản văn
của Asanga (Vô Trước) với Kathok Situ, Khenpo Kunpal, và nhiều vị Thầy khác.
Khi ngài mười lăm tuổi, bởi Khyentse Tulku trẻ tuổi ở Tu viện Dzongsar mất,
Chökyi Lodrö dời trụ xứ chính của ngài tới Dzongsar, trụ xứ của Khyentse
Wangpo. Với một người trẻ tuổi như thế thì việc tiếp nhận trụ xứ chính quả là
một thách thức khó khăn khi ngài phải đặt mình trong một hoàn cảnh mới mẻ,
đương đầu với rất nhiều sự chống đối. Nhưng dần dần ngài làm yên dịu mọi sự
bằng năng lực của sự thiện xảo, vô úy, khoan dung, và bi mẫn của ngài. Cùng
với Khenpo Champa Wangchuk ngài nghiên cứu Abhidharma (A tỳ đàm, A tỳ đạt
ma), Abhisamayālamkāra (Hiện Quán Trang nghiêm), và Madhyamakāvatāra
(Nhập Trung Luận). Chẳng bao lâu bản thân ngài bắt đầu giảng dạy nhiều bản
văn cho các học viên được tuyển chọn tại Dzongsar.
Năm mười bảy tuổi, ngài nhận từ Thartse Pönlop Loter Wangpo những trao
truyền Lamde Lopshe của phái Sakya, tantra Hevajra, và những kinh điển khác.
Năm mười tám tuổi, từ thân phụ, ngài nhận những trao truyền Rinchen Terdzö và
những giáo lý terma của Chogling. Năm mười chín tuổi, từ Khenpo Samten Lodrö
ngài nhận Drupthap Küntü và những trao truyền khác. Trong năm đó thân phụ ngài,
Đạo sư của các Mật điển, qua đời. Năm hai mươi tuổi, ngài nhận nhiều trao truyền
từ Thartse Zhaptrung Champa Künzang Tenpe Nyima, nhưng sau đó Lạt ma mất.
Năm hai mươi sáu, ngài đi tới Tu viện Dzogchen và thọ giới xuất gia từ Khenpo
Jigme Pema Losal. Ngoài ra, từ Zhechen Gyaltsap ngài nhận những trao truyền
Changter, terma Minling, và nhiều giáo lý khác. Cũng trong năm này, ngài thiết lập
một shedra (Học viện Kinh điển) được gọi là Khamche tại Tu viện Dzongsar. Ngài
mời Zhenphen Chökyi Nangwa (còn gọi là Zhen-ga, 1871-1927) của Tu viện
Dzogchen là khenpo đầu tiên để dạy tại shedra mới này. Sau này nó trở thành một
tổ chức nổi tiếng từ đó xuất hiện nhiều học giả vĩ đại.
Năm hai mươi tám tuổi,293 ngài đi Golok nhiều tháng để thăm Dodrupchen đệ
tam, Jigme Tenpe Nyima. Ngài nhận những quán đảnh Rigdzin Düpa và Ladrup
Thigle Gyachen. Ngài cũng nhận những giáo lý về Yeshe Lama, Longchen
Nyingthig, và Đề cương của Guhyagarbha-māyājāla-tantra. Từ Könme Khenpo của
Tu viện Dodrupchen ngài nhận sự trao truyền giáo khóa Damchö Dechen Lamchok
do Dodrupchen đệ nhất khám phá như một terma. Từ Tertön Sögyal ngài nhận
những trao truyền Vajrakīla và Trölthik.
Năm ba mươi hai tuổi, tại tu viện Zhechen, một lần nữa ngài nhận nhiều sự trao
truyền, trong đó có Dam-ngak Dzö và Changter từ Zhechen Gyaltsap Pema
Namgyal, người trở thành một trong những vị Thầy quan trọng của ngài.
Năm ba mươi ba tuổi,294 ngài đi hành hương tới miền Trung Tây tạng. Tại Tu
viện Mindroling ngài thọ giới tu sĩ lần thứ hai từ Khenpo Ngawang Thupten Norbu,
bởi vị tiền nhiệm của ngài đã được thọ giới tại tu viện này trong dòng Vianaya (Luật)
thấp hơn.
Ngay trước khi ngài từ miền Trung Tây Tạng trở về, Kathok Situ mất. Sau đó,
trong khoảng mười lăm năm Khyentse cũng trông coi việc hành chánh của Tu viện
Kathok. Ngài xây dựng nhiều đài kỷ niệm tôn giáo, củng cố thêm Học viện Kinh
điển, và tôn phong tulku mới của Kathok Situ, khi được Dzogchen Rinpoche đệ ngũ
xác nhận. 232
Ngài nhận nhiều quán đảnh Mật thừa của phái Geluk từ Jampal Rolwe Lodrö,
thường được gọi là Amdo Geshe, sống tại Golok. Ngài nhận Lamdre Lopshe,
Vajrabhairava, và những giáo khóa Mahākala từ Gaton Ngawang Lekpa. Từ Kathok
Khenpo Ngawang Palzang ngài nhận những trao truyền của Khandro Yangtig,
Longsal, và các giáo khóa Düdül. Tổng cộng, ngài đã học với khoảng tám mươi vị
Thầy từ mọi truyền thống khác nhau của Phật Giáo Tây Tạng.
Ngài đã thành tựu nhiều thiền định và trì tụng vô số sādhana của các truyền
thống Cổ và Tân của tantra, trong đó có tích tập năm lần một trăm ngàn của pháp
ngöndro (đối với việc lễ lạy thì ngài chỉ thực hiện bốn mươi ngàn tích tập) và việc trì
tụng các sādhana của Takhyung Barwa, Sengdongma, Ladrup Thigle Gyachen,
Vajrakīla, Tārā và Palchen Düpa của Longchen Nyingthig, và Ladrup của Khandro
Yangtig.
Ngài có nhiều linh kiến, đã đạt được nhiều thành tựu, và hiển lộ nhiều năng lực
tâm linh, nhưng bởi tánh khiêm tốn nên ngài chỉ biểu thị một số ít những điều đó
trong tự truyện của ngài:
Nếu tôi được học luận lý,
Tôi có thể có sự hiểu biết sâu xa về cách lập luận,
Nhưng nó sẽ mang lại lợi lạc không đáng kể.
Bởi tôi có thể học thuộc lòng
Các Sādhana Ba Gốc, Magön, và những lời cầu nguyện khác của Longchen
Nyingthig, và
Một vài bài cầu nguyện tập hội của truyền thống Ngor,
Tôi có những thói quen tốt [hay những ký ức] về những đời trước..
Tôi nhớ lại Tu viện Sakya vinh quang,
Rõ ràng trong tâm tôi, liên tục, và
Tái sinh trong gia đình Khön,
Trong những đời quá khứ.
Tôi nhớ lại đã là Ngari Panchen, Lhatsun vĩ đại,
Ngawang Lobzang Gyatso,
Tsang-yang Gyatso, Palkhyen, và những vị khác..
Thangtong Gyalpo khai mở cho tôi
Bản tánh của giác tánh nội tại với sự hỗ trợ của một miếng pha lê.
Trong những giấc mơ tôi nhìn thấy Āryasthavira Angaja,
Vimalamitra, và Longchenpa.
Tôi đã nhận quán đảnh trường thọ từ Khyentse Wangpo.
Từ đại Bồ Tát Paltrül
Tôi nhận giáo huấn về ngöndro của Longchen Nyingthig.
Từ Nupchen Sangye Yeshe tôi nhận những trao truyền nhiều tantra.
Tôi đã kinh nghiệm hay mơ thấy được nhận các gia hộ
Từ một vài Lạt ma của Lamdre, Milarepa, và Tsongkhapa.
Tôi được chỉ dạy những giới luật Mật thừa
Bởi Lhatsün Namkha Jigme.
Có nhiều sự việc trong việc ngài phô diễn các năng lực. Có lần ngài gia hộ cho
một pho tượng mới, và nó trở nên nóng khi chạm tay vào. Khi ngài gia hộ pho tượng 233
Mahākala trong chùa Dzang Mahākala, pho tượng di chuyển như thể nó đang sống.
Khi ngài chuẩn bị chất cam lồ, những tia sáng uốn cong quanh ngôi chùa. Vào thời
gian có một lễ quán đảnh Vaishravana, bụi vàng đổ xuống từ không trung. Có nhiều
lần, việc phân phối một số lượng nhỏ những viên thuốc gia hộ hay cam lồ đã trở
thành một nguồn cung cấp phi thường cho tập hội khổng lồ những người sùng mộ.
Năm năm mươi sáu tuổi, ngài lập gia đình với Khandro Tsering Chödrön (sinh
năm 1925) của gia đình Aduk Lakar như vị phối ngẫu tâm linh của ngài. Phù hợp với
những tiên tri của riêng ngài và của Khyentse Wangpo và Kongtrül Yönten Gyatso,
sự kết hợp này là để xua tan những chướng ngại và đẩy mạnh những hoạt động
giác ngộ của ngài.
Ngài ban vô số những trao truyền các giáo lý Nyingma, Sakya, và Kagyü cho các
đệ tử của những truyền thống Phật Giáo khác nhau của Tây Tạng, trong đó có ba
lần ngài ban quán đảnh Yabzhi, nhiều lần ban quán đảnh Longchen Nyingthig và
ban giáo lý về Yönten Dzö ba lần.
Năm ngài sáu mươi ba tuổi, khi du hành xuyên qua Lhasa, ngài tới Ấn Độ và
tránh được những biến động chính trị của Tây Tạng. Ngài đi hành hương tất cả
những thánh địa Phật Giáo ở Ấn Độ và Nepal. Sau đó ngài dùng Nhà nguyện Cung
điện của vua xứ Sikkim làm trụ xứ chính tạm thời của ngài và tiếp tục không ngừng
ban những giáo lý và trao truyền vô tận cho những người sùng mộ thuộc mọi tầng
lớp trong xã hội.
Năm sáu mươi bảy tuổi, vào ngày mồng sáu tháng năm năm Thổ Hợi thuộc
Rabjung thứ mười sáu (1959), ngài thị tịch giữa những dấu hiệu ánh sáng, động đất
và âm thanh. Hiện nay hầu hết di cốt của ngài được lưu giữ trong một bảo tháp nhỏ
bằng vàng tại Nhà Nguyện Hoàng gia Sikkim. Khandro Tsering Chödrön chăm sóc
bảo tháp này trong khi dâng hiến đời mình cho việc thiền định và cầu nguyện.
Tülku của ngài là Thupten Chökyi Gyatso (Khyentse Norbu, sinh năm 1961?),
nam tử của Dungse Thinley Norbu Rinpoche và Jamyang La quá cố, và cháu của
Kyabje Dudjom Rinpoche và Lopön Sönam Zangpo xứ Bhutan. 234
34
KYALA KHENPO CHECHOK THÖNDRUP
1893 – 1957
KYABJE Kyala Khenpo Chechok Thöndrup (Chöchok), Đạo sư và thầy trợ giáo của
tôi, là một Bồ Tát bằng xương bằng thịt và Đạo sư của Giáo pháp.
Ngài cũng được gọi là Lobzang Champa và Mati. Như một người tu học bình
thường ngài đã dâng hiến trọn vẹn trong nhiều năm cho việc nghiên cứu và tu tập
và trở thành một khenpo thành tựu cao cấp.
Khenpo sinh năm Thủy Tị thuộc Rabjung thứ mười lăm (1893) trong Thung lũng
Mar ở Golok. Thân mẫu ngài là Sötso. Thân phụ ngài là Yumko thuộc bộ tộc Kyala.
Từ nhiều đời trước, tổ tiên ngài đã di cư từ làng Kyala trong Thung lũng Dzika.
Ngài trưởng thành tại Trang Nyi Ha (“giữa hai đường núi”) ở Thung lũng Mar
Thượng xứ Golok. Từ thời thơ ấu ngài đã là một cậu bé khác thường, có tình
thương và niềm tin trong trái tim. Khi còn trẻ, ngài trải qua hầu hết ngày tháng như
một người chăn cừu, trông coi đàn trâu yak và cừu giữa những rặng núi, đó là tiêu
chuẩn dành cho các cậu con trai trong những trại du cư. Ngài sống hầu hết đời
mình với thú vật, hát những lời ngọt ngào hay đọc những lời cầu nguyện vào tai
chúng, không đánh đập chúng bằng những viên đá như những người chăn nuôi
khác thường làm. Trong khi chăm sóc thú vật, đôi khi ngài dùng nhiều giờ để đưa
những con cá con từ những ao nhỏ hình thành sau những trận mưa sang những cái
ao lớn hơn, bởi những cái ao đang khô cạn và cá sắp chết.
Ngài có một ông chú (1865-?) là một Đạo sư thành tựu. Khi chú ngài bảy tuổi,
ông đã đi với Dodrupchen đệ tam như bạn đồng hành trẻ con của vị Thầy này để
nhận giáo lý từ Paltrül Rinpoche. Từ người chú này, trong khi chăm sóc những thú
vật, Khenpo vẫn nhận các bài học trong việc đọc các bản văn và học ý nghĩa của
Pháp và cuộc đời của các Đạo sư.
Từ khoảng mười lăm tuổi, mỗi năm ngài đã có thể trải qua vài tháng tại ẩn thất
của Garwa Long-yang, một tertön nổi tiếng, nhận giáo lý và sự dạy dỗ. 235
Năm mười chín tuổi, sau khi Garwa Long-yang mất, Khenpo nói với thân phụ về
việc ngài quyết định đi tới Tu viện Dodrupchen ở thung lũng kế bên, cách khoảng
hai ngày đi ngựa. Thân phụ ngài không nói một lời nào về vấn đề này trong nhiều
ngày, đó là một cử chỉ không tán thành. Sự truyền thông không bằng lời nói tiếp tục
trong một thời gian, nhưng cuối cùng thân phụ ngài từ bỏ việc chống đối.
Tại Tu viện Dodrupchen, Khenpo bắt đầu học tập với Garwa Khenpo và sau đó
với Khenpo Könme, người trở thành vị Thầy chính của ngài.
Năm hai mươi tuổi ngài thọ giới tu sĩ. Chẳng bao lâu ngài từ chối không nhận
mọi sự giúp đỡ vật chất của cha mẹ ngài. Nếu một người bắt đầu tu tập nghiêm
chỉnh trong việc tu hành duy trì mối liên hệ mật thiết với gia đình hay bạn hữu,
người ấy không thể hiến trọn tâm mình cho việc tu hành tâm linh, bởi người ấy sẽ bị
vướng kẹt do những ràng buộc cảm xúc và bổn phận. Kết quả của quyết định này là
ngài phải đương đầu với vấn đề sinh kế. Tuy nhiên, ngài không bao giờ tiết lộ
những khó khăn của ngài cho bất kỳ ai, bởi ngài sợ rằng người nào đó có thể đến
giúp đỡ ngài và một sự trói buộc mới sẽ được tạo ra. Mỗi mùa thu, khi những người
du cư đã thu thập bơ và phó mát và những nông dân đang thu hoạch, như tục lệ
của nhiều tu sĩ, Khenpo đi khất thực ở một vài trại du cư lân cận hay các làng của
những nông dân, và đôi khi tới cả hai vùng đó. Thực phẩm quyên góp được trong
vài tuần khất thực đủ để ngài dùng trong cả năm.
Với Khenpo Könme, ngài học những tác phẩm của Dharmakīrti (Pháp Xứng) và
Dignāna (Trần Na) về luận lý, sáu bản văn của Nāgārjuna (Long Thọ), năm bản văn
của Asanga (Vô Trước), Madhyamakāvatāra (Nhập Trung Luận) của Chandrakīrti
(Nguyệt Xứng), và Madhyamākalamkāra của Shāntarakshita về triết học Đại thừa,
và Gunaprabha và Pema Wangyal về những giới luật. Ngài đã học các bản văn
Lamrim Chenmo và ngöndro về những tu tập tổng quát, Gyhyasamaja,
Guhyagarbha, và Ba Gốc của Longchen Nyingthig về tantra, và Yönten Dzö, Yeshe
Lama, Dzödün, và Ngalso Korsum về Đại Viên mãn.
Trong quãng ngày tu học của ngài, ban ngày ngài dự các lớp học, tham gia
những cuộc thảo luận, và dành nhiều giờ để học thuộc lòng những bản văn. Vào
ban đêm ngài theo đuổi những nghiên cứu riêng và học thuộc lòng những bản văn
trong phòng riêng. Những đêm có trăng, ngài đi ra ngoài đọc sách. Đôi khi, khi ánh
trăng di chuyển lên sườn núi, ngài đi theo sau ánh trăng và đọc khi đi lên dốc. Đến
sáng ngài phải xuống núi. Ngài đọc bằng ánh trăng bởi ngài không thể tạo ra nhiên
liệu để đốt đèn. Khenpo luôn luôn bận rộn nghiên cứu những tác phẩm tôn giáo và
triết học sâu xa, tụng đọc các bài nguyện, và thực hành thiền định và các sādhana
của ngài. Ngài không bao giờ nghỉ ngơi, ngoại trừ khi ngủ khoảng bốn tiếng vào ban
đêm.
Ngài đã nhận những giáo lý và trao truyền từ những khenpo khác và Tülku Pema
Dorje của Tu viện Dodrupchen. Ngài cũng nhận những trao truyền từ Kathok Situ
Chökyi Gyatso, Dzogchen Rinpoche đệ ngũ, Tertön Sögyal, và Rigdzin Chenmo ở
Dorje Trak, khi các ngài viếng thăm Tu viện Dodrupchen.
Năm ngài khoảng ba mươi lăm tuổi, ngài bắt đầu tập trung vào những tu tập Mật
điển và thiền định Đại Viên mãn. Nói chung ngài trải qua chín năm trong những
khóa nhập thất dài hạn ở nơi hoàn toàn hẻo lánh. Trong một vài khóa nhập thất ngài
được nghỉ vài ngày mỗi năm để nhận những quán đảnh từ Dodrupchen Rinpoche
đệ tam và một vài giáo huấn từ Khenpo Könme, nhưng trong một vài khóa nhập thất 236
ngài không có chút gián đoạn nào. Suốt đời ngài, ngài đã thực hiện những khóa
nhập thất ngắn hay ít nghiêm nhặt kéo dài một trăm ngày hay một tháng. Ngài cũng
thực hiện một vài khóa nhập thất trong một hay hai tháng về việc thụ hưởng tinh
chất (bChud Len, rasāyana), tự duy trì sự sống chỉ bằng thuốc được rút ra từ tinh
chất của hoa và một loại đá trắng được gọi là Chongzhi.
Công việc hàng ngày của ngài trong những khóa nhập thất dài hạn và nghiêm
nhặt gồm có khoảng hai mươi phút cho bữa điểm tâm nhẹ, khoảng nửa giờ cho bữa
trưa, và khoảng mười lăm phút cho bữa trà vào buổi tối. Vào ban đêm ngài ngủ
khoảng bốn tiếng. Trong tất cả phần còn lại của ngày và đêm ngài nhất tâm trong
thiền định.
Căn nhà mà ngài dùng để thực hiện hầu hết các khóa nhập thất ở ngay bên trên
trụ xứ của Khenpo Könme trên một tảng đá, ẩn mình sau những tàng cây. Đó là một
căn nhà nhỏ, gồm một phòng nhỏ, một cái bếp bé tí, một hàng hiên nhỏ xíu, và một
nhà vệ sinh. Lúc bắt đầu một khóa nhập thất dài hạn, ngài đóng cửa căn nhà cho tới
khi đầy đủ những tháng hay năm của khóa nhập thật. Ngài không thể nhìn thấy bất
kỳ ai ở bên ngoài, cũng không ai nhìn thấy ngài. Ngài không thể nói chuyện với ai.
Dĩ nhiên là cho tới khi kết thúc khóa nhập thất, không ai có thể vào nhà. Có một
khoảng không gian trống trải ở trên mái cung cấp sánh sáng, qua đó ngài có thể
nhìn thấy bầu trời, các đỉnh núi và cây cối. Những con chim nhỏ tới viếng thăm ngài
qua cái mái mở ngỏ để thụ hưởng những món cúng dường của ngài. Đôi khi, một
vài tiếng người nói hay những âm thanh của lễ nhạc được cử lên trong tu viện bay
đến tai ngài. Có một cái lỗ nhỏ bên hông nhà qua đó một tu sĩ đưa thực phẩm và
nước cho ngài trong những khoảng thời gian đều đặn.
Mọi người ngạc nhiên khi nhìn thấy ngài khỏe mạnh khi xuất hiện từ những khóa
nhập thất dài hạn. Về sau ngài nói: “Trong thời gian đó tôi không bao giờ kinh
nghiệm sự bực dọc nào. Và sau những tháng đầu tiên trong ẩn thất, tôi cảm thấy là
mình sẽ không bao giờ ra khỏi đó, bởi trong sự cô tịch tôi đạt được sự an bình và hỉ
lạc như thế. Cho dù tôi không thực hiện bất kỳ thiền định nào ở đó, ít nhất tôi đã
được giải trừ khỏi những tư tưởng tiêu cực.”
Năm 1926, Khenpo ở trong ẩn thất. Ngài không biết là Dodrupchen đệ tam đã
mất. Một buổi sáng trong bữa điểm tâm ngài nghe có người gọi người khác: “Lại
đây và tham gia lau chùi quanh chùa. Từ ẩn thất nhục thân của Rinpoche sẽ được
đưa vào trong.” Điều khác thường là cuộc chuyện trò nghe rất rõ và lớn. Ngài cảm
thấy như bị sét đánh. Đối với ngài toàn thể thế giới trở nên trống rỗng và tăm tối.
Ngài chỉ muốn đi thật xa, bởi không có lý do gì để sống quanh vùng đó nữa. Ngài
chỉ còn biết nương tựa vào sự thiền định để sống còn, và ngài thiền định thêm nữa,
điều đó mang lại sự tiến bộ và sức mạnh hơn nữa trong thiền định của ngài. Từ cái
ngày ngài nghe nói Dodrupchen đã thị tịch, trong ba mươi năm còn lại của đời ngài,
trừ phi ngài đang đi bộ hay đi ngựa, ngài luôn luôn an trụ trong tư thế tọa thiền mà
không bao giờ nằm xuống. Ban đêm, ngài ngủ ngồi trong tư thế thiền định. Ngài nói:
“Bằng cách ngồi, tôi ngủ bốn tiếng, nhưng nếu nằm xuống tôi sẽ ngủ lâu hơn, và
như thế thời gian sẽ bị phí phạm thay vì được dùng để thiền định.”
Năm 1935, Khenpo thực hiện một khóa nhập thất nhẹ nhàng thay vì khóa nhập
thất nghiêm nhặt, bởi Khenpo Könme đang bệnh. Trước khi ngài vào thất, ngài nói
với Khenpo Könme: “Khi Dodrupchen mất, con cảm thấy không thể sống quanh đây
được nữa. Nếu không có mặt ở đây để thiền định thì con đã bỏ đi rồi. Vì thế, khi 237
ngài mất, con sẽ không thể sống ở đây. Ngài thực sự là người duy nhất mà con
nương tựa.” Buổi sáng ngày hai mươi chín tháng mười hai (1936), có người gõ cửa
phòng ngài và nói: “Khenpo [Könme] đã thay đổi cõi tịnh độ của ngài [đã mất] đêm
qua.” Sau khi cử hành những nghi lễ kết thúc khóa nhập thất, ngày hôm sau ngài ra
ngoài và tham dự tang lễ. Lần này ngài không kinh nghiệm nỗi đau buồn nhiều như
khi Dodrupchen mất, và ngài tin rằng hẳn là Khenpo Könme đã cầu nguyện cho
ngài.
Năm bốn mươi hai tuổi, sau cái chết của vị Thầy, ngài miễn cưỡng chấp nhận
việc chỉ định ngài là một trong bốn khenpo chính yếu tại Tu viện Dodrupchen. Ngài
bắt đầu ban giáo lý tại Dodrupchen và tại những tu viện khác cho các học viên trong
đó có hai vị Dodrupchen Rinpoche trẻ tuổi.
Khi tôi được bốn tuổi (năm 1943), tôi được xác nhận và tôn phong là tülku của
Khenpo Könme, tôi vô cùng may mắn khi Kyala Khenpo được chỉ định làm thầy trợ
giáo của tôi. Từ năm 1944, tôi có cơ hội được học tập dưới chân ngài ngót mười
bốn năm. Ngài không chỉ là một vị Thầy dạy Pháp của tôi mà còn là cha của tôi mà
tôi thực sự biết rõ. Khi tôi còn nhỏ, tôi thường ngủ trong phòng ngài. Bất kỳ khi nào
tôi thức dậy, tôi luôn luôn nhìn thấy khuôn mặt vui tươi của ngài, và ngài đang ngồi
trong hộp thiền định, đang thiền định hay cầu nguyện, trong ánh sáng lờ mờ của
những chiếc đèn bơ lung linh. Một năng lực vô biên của sự an bình, ấm áp, và kỳ
diệu luôn luôn tràn ngập tâm thức đơn sơ của tôi và mang lại cảm xúc hoàn toàn an
ổn, như nhiều người có thể nhớ lại những cảm xúc kỳ diệu như một đứa trẻ được
bảo bọc bởi hơi ấm của cha mẹ thân yêu.
Trong khi tôi ở gần ngài, thời khóa biểu hàng ngày của Khenpo cũng giống như
công việc thường nhật của Khenpo Könme thường là như sau. Hầu như ngài thức
dậy khoảng ba giờ sáng và bắt đầu thiền định. Khoảng sáu giờ ngài dùng điểm tâm,
nửa giờ sau tiếp tục thiền định. Khoảng mười một giờ tất cả chúng tôi tập họp lại, và
sau khi cùng nhau cúng dường và cầu nguyện, chúng tôi dùng bữa trưa. Sau bữa
trưa Khenpo bắt đầu việc giảng dạy, tổ chức từ một tới ba lớp mỗi ngày. Ngài giảng
những bản văn sâu xa và khó hiểu nhất bằng những lời đơn giản nhất cùng những
giải thích chi tiết. Giống như bất kỳ khenpo nào của Tu viện Dodrupchen, ngài
không bao giờ nhận tiền thù lao của học viên. Trái lại, ngài thường tặng thực phẩm
và cho những học viên nghèo mượn sách. Ngài vui thích dạy dỗ tới nỗi ngài không
bận tâm tới việc cho họ thời gian của ngài, là điều ngài luôn luôn cảm thấy hết sức
quý báu đối với ngài để thiền định. Vào buổi tối chúng tôi tụ họp lại vào khoảng sáu
giờ để thắp đèn trên bàn thờ và cùng nhau dâng những lời cầu nguyện, sau đó
chúng tôi dùng trà và đàm luận về những chủ đề khác nhau. Sau đó ngài tiếp tục
thiền định tới khoảng mười giờ đêm. Kế đó ngài đi ngủ khoảng bốn tiếng.
Khenpoche thích kể những câu chuyện trong quá khứ, nhưng sau đó ngài
thường cảm thấy thật tệ bởi đã phí phạm thời giờ quý báu của ngài trong việc kể
chuyện mà ngài cho là vô ích.
Các thầy trợ giáo Tây Tạng thường nghiêm khắc trong việc rèn luyện học trò,
nhưng Khenpo thì dịu dàng lạ thường, có lẽ quá dịu dàng. Khi tôi khoảng sáu tuổi,
tôi kéo một trang giấy ra khỏi một quyển sách, và trang giấy mỏng manh tới nỗi bị
rách làm hai mảnh. Tôi biết là mình đã làm một điều sai lầm và muốn che dấu điều
đó, vì thế tôi vo trang giấy thành một trái banh nhỏ và ném nó vào một cái lỗ. Sau
ngày hôm đó, Khenpo đến chỗ tôi, hết sức khó chịu và hỏi: “Con ném nó vào nhà vệ238
sinh phải không?” Tôi không nói một lời. Ngài nhấc tôi lên, giữ tôi thật nhặt, và sau
đó đặt tôi xuống sàn nhà và nói: “Ta sắp lấy một chiếc gậy đánh con.” Tôi hoảng sợ
tới nỗi không nghĩ ngợi, những lời lẽ tuôn ra khỏi miệng tôi: “Con là tülku (tái sinh)
của Lạt ma của thầy. Nếu thầy đánh con, điều đó sẽ tạo ra cho thầy một nghiệp
khủng khiếp!” Dầu sao đi nữa, ngài đã không đánh tôi, tôi không biết tại sao. Nhiều
năm sau, tôi nhận ra rằng mẩu giấy đó là một trang trong Gomchok Trilen của Jigme
Lingpa, một trong những bản văn quan trọng nhất về thiền định, và nơi tôi ném nó là
một nhà vệ sinh ở ngoài trời. Như thế tôi đã ném bản văn tôn kính nhất vào nơi tồi
tệ nhất.
Bề ngoài ngài hết sức đơn giản, khiêm tốn, và dễ tính nhưng sự hiểu biết của
ngài rất rộng lớn, trí tuệ của ngài sắc bén và sâu xa, tâm ngài dịu dàng và tốt lành.
Ngài rất ít kiến thức về y học nhưng vẫn tặng thuốc cho mọi người mà không đòi hỏi
bất kỳ thù lao nào cho bản thân ngài hay chi phí thuốc men, bởi việc phân phối
thuốc này được bắt đầu bởi Khenpo Könme là một thầy thuốc. Khi những người
bệnh đưa ra các chẩn đoán của y sĩ, ngài cho phép các học viên phát thuốc cho họ.
Ngoài Tu viện Dzogchen, ngài đã giảng dạy ở nhiều nơi. Ngài đã dạy ở Yarlung
Pemakö trong Thung lũng Ser; Wang-röl Gompa trong Thung lũng Do; Kyala
Gompa trong Thung lũng Dzika; Joro Gön, Dogar Gön, và Alo Gompa xứ Gyarong;
Tertön Gar, Göde Gon, và Gon Lakha xứ Rekong; và Kongser Khado Gompa trong
miền Trokho. Ngài đã thiết lập những drupdra (trường thiền định) ở Tertön Gar tại
Rekong và Joro Gön ở Gyarong.
Khi giảng ý nghĩa của Ba Lời Trọng yếu của Prahevajra (Garab Dorje, Kim
Cương Hỷ), Khenpo viết cho Thupten Thrinle Palzang Rinpoche:
Trí tuệ chói lọi sinh ra một cách tự nhiên, thuần tịnh từ nguyên thủy và không bị
tạo tác,
An trụ như bản tánh cố hữu của những chu trình lầm lạc khác nhau, người
bám chấp và những tư tưởng [nhị nguyên] bám chấp,
Trong hình thức của sự quang minh, tánh Không, thoát khỏi sự bám chấp và
mở trống, các phương diện của Pháp Thân.
Xin nhận ra trạng thái tự nhiên tự thân, [sự hợp nhất] của tánh Không và giác
tánh nội tại trần trụi [của tâm ngài].
Khi đã lập tức cắt đứt mọi hiểu biết của tâm thức khái niệm,
Trong trạng thái của sự tươi mới và giác tánh nội tại khoáng đạt, không có
điểm quy chiếu,
Nhờ sự an trụ không có những chỉnh sửa và tạo tác,
Ngài sẽ nhận ra khuôn mặt của Pháp Thân tự-tỉnh giác, cho dù không tìm kiếm
nó.
Hạnh phúc và đau khổ của sinh tử và Niết bàn, những họa tiết của tâm,
Dù xuất hiện trong cách thức nào, bản tánh của chúng là không có lúc bắt đầu.
Sau khi [mọi niệm tưởng] tan biến tự nhiên như pháp giới toàn khắp, thoát khỏi
sự bám chấp,
Nghỉ ngơi trong tâm thư thản và an bình thì đầy hỉ lạc. 239
Nếu giác tánh nội tại cố hữu, là trí tuệ khoáng đạt và không bị chỉnh sửa,
Xuất hiện trần trụi như [sự hợp nhất] của đại lạc và tánh Không, không bị tạo
tác,
Khi ấy hôn trầm và trạo cử [cao hay thấp], những kẻ thù của thiền định, sẽ
được tịnh hóa một cách tự nhiên, và
Sẽ không cần nương tựa vào bất kỳ phương tiện nào khác để xua tan những
chướng ngại hay phát triển các kinh nghiệm.
Mọi hình tướng xuất hiện đều là ánh sáng rực rỡ của Pháp thân bất sinh, [sự
hợp nhất] của tánh Không và giác tánh.
Mọi âm thanh vang vọng đều là âm nhạc của tiếng gầm bất hoại [nāda].
Mọi niệm tưởng xuất hiện là bản tánh phổ quát [trùm khắp], thoát khỏi sự bám
chấp.
Xin an trụ trong vương quyền của Pháp thân, [trạng thái] bất biến của giác tánh
và tánh Không.
Một hôm vào năm 1957, Khenpo nói với tôi: “Ta không quan tâm tới sự an toàn
của riêng ta, bởi ta có một cuộc đời ngắn ngủi, giống như độ dài của đuôi một con
dê. Nhưng ta muốn cứu đời con. Ta đã khẩn cầu Rinpoche [Dodrupche đệ tứ
Thupten Thrinle Palzang] cho chúng ta đi cùng với ngài, và ngài đã đồng ý. Vì thế
chúng ta sẽ ra đi, nhưng chúng ta sẽ không nói cho ai biết ngoại trừ Loli.” – Lodi là
anh của ngài. Nếu mọi người biết Rinpoche ra đi, có thể họ sẽ không để cho ngài đi,
hay nhiều người khác muốn đi và nhà cầm quyền sẽ dễ dàng ngăn chặn chúng tôi.
Rinpoche bảo chúng tôi là mười ba người sẽ đi cùng với ngài và họ được chia
thành ba nhóm. Khenpo và tôi đi trong nhóm đầu tiên. Rinpoche đi trong nhóm thứ
hai.
Đối với những người trong vòng thân thiết của chúng tôi, ngoại trừ Loli, Khenpo
và tôi phải nói: “Theo một tiên tri, Khenpo và tôi nên đi tới Núi Dongri, một thánh địa,
để thực hiện một khóa nhập thất một tháng mà không để cho người khác biết. Vì thế
Loli sẽ che đậy cho chúng tôi, giả bộ là chúng tôi đang ở trong thất, và chúng tôi sẽ
đi với một vài người bạn như chúng tôi đã sắp xếp.” Họ không hỏi chúng tôi, bởi
những sắp xếp như thế là bình thường trong một vài trường hợp, và họ chuẩn bị vài
con ngựa và trợ giúp chúng tôi để giữ cho cuộc hành trình được cho là tới Núi
Dongri được kín đáo.
Một buổi tối, hai ngày trước khi chúng tôi ra đi, Khenpo tới gặp Do Drupchen đệ
tứ Rigdzin Tenpe Gyaltsen, người đang sống trong một ngôi chùa. Khi Khenpo bắt
đầu rời Rinpoche, Rinpoche yêu cầu mọi người khác đang có mặt ở lại phía sau và
ngài ra khỏi nhà trong bóng tối để từ giã Khenpo. Rồi Khenpo bước đi, nhưng
Rinpoche lại đi theo ngài và từ giã một lần nữa. Khenpo lại đi và Rinpoche đi theo
để nói lời chia tay với Khenpo lần thứ ba. Và sau đó Rinpoche quay trở về chùa.
Sau này Khenpo nói với tôi: “Ta không tạo ra ngay cả một vết tích của việc ra đi.
Nhưng chắc chắn là Rinpoche cảm thấy chúng ta đang nhìn nhau lần cuối. Ngài có
vẻ rất xúc cảm và khó lòng chia tay. Điều đó có thể có nghĩa là có lẽ ta không trở lại
trong đời này.”
Vào nửa đêm ngày mười ba tháng mười một năm Hỏa Thân (1957), khi mọi
người đang ngủ và toàn bộ cộng đồng chìm ngập trong bóng tối, chúng tôi lặng lẽ240
rời tu viện. Tại đèo Chungnyak, từ nơi chúng tôi có thể nhìn thấy tu viện một lần
cuối cùng, trong bóng tối Khenpo và chúng tôi lễ lạy tu viện, trụ xứ của các Lạt ma vĩ
đại, và Rigdzin Tenpe Gyaltsen, người có thể đang ở trong giấc ngủ quang minh
chói lọi hay đang dõi nhìn chúng tôi với đôi mắt trí tuệ toàn tri của ngài. Loli ở lại
phía sau và che dấu việc trốn thoát của chúng tôi bằng cách đánh trống như thể
Khenpo và tôi đang thực hiện một cuộc nhập thất tại nhà chúng tôi.
Một thời gian trước đó, Lạt ma Zhingkyong, một đệ tử của Kyala Khenpo, đã viết
cho tôi một tiên tri mà không biết rằng chúng tôi sẽ ra đi. Trong một giòng có nói:
“Khi quả trứng-lửa vỡ, ông sẽ tới miền Trung Tây Tạng.” Phù hợp với lời tiên tri, vào
ngày mồng sáu tháng giêng năm Hỏa Dậu (1957), chúng tôi đến Lhasa. Khenpo đã
ngã bệnh do chuyến đi và vì những vết thương ở chân gặp phải trên đường. Chúng
tôi trải qua ít ngày tại Lhasa và nhờ một y sĩ Tây Tạng tên là Lhokha Amchi chữa trị
cho Khenpo. Chúng tôi đến thăm pho tượng Jowo linh thiêng nhất ở Tây Tạng, và
thực hiện một vài lễ cúng dường. Đối với Khenpo thì đây là lần thứ hai ngài đến
Lhasa, lần đầu là một chuyến hành hương mà ngài thực hiện với cha mẹ ngài năm
ngài bảy tuổi.
Sau vài ngày ở Lhasa, theo chương trình mà chúng tôi đã vạch ra với Rinpoche,
chúng tôi đi Drak Yangdzong, một địa điểm hành hương nổi tiếng, để chờ Rinpoche.
Sức khỏe của Khenpo bắt đầu xấu hơn, và ngài nói: “Từ khi ta còn trẻ, ta luôn luôn
ước muốn được sống và thiền định tại một nơi được Guru Rinpoche gia hộ. Bây giờ
ta không còn thời gian để thiền định, tuy nhiên ta sung sướng vì có thể sử dụng
những ngày cuối cùng của ta ở nơi này.”
Chạng vạng tối ngày mồng hai tháng hai năm Hỏa dậu (1957), sau khi đọc ba
chương đầu của Chöying Rinpoche Dzö, ngài thình lình tan hòa vào sự an bình tối
thượng của cái chết. Ngày hôm sau ngài vẫn ở trong thiền định, và một Lạt ma địa
phương chất phác đến và cử hành lễ đánh thức ngài khỏi đại định.
Trong số những tác phẩm của ngài có Bình giảng về Rigdzin Düpa, Một Chú Giải
Tóm tắt về Palchen Düpa, Một Chú giải Tóm tắt về Vajrakīla, Một Giáo huấn Tóm tắt
về Ba Tác phẩm Đánh vào Trái tim, và Bình giảng về Dagni Changchup Miche (đã
thất lạc). 241
35
DILGO KHYENTSE TASHI PALJOR
1910 – 1991
Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche Tashi Paljor,295 là một trong vài vị hộ trì dòng
truyền thừa, nhà biên soạn, Đạo sư, và người trao truyền vĩ đại của những giáo lý
và năng lực của các Mật điển Nyingma nói chung và Longchen Nyingthig nói riêng
đã đến được với nhiều đệ tử ở Tây Tạng, Ấn Độ, Nepal, Bhutan và Tây phương.
Ngài cũng được gọi là Gyurme Thekchok Tenpe Gyaltsen, Jigme Khyentse
Özer, và Rapsal Dawa.
Ngài sinh ngày mười ba tháng tư năm Hỏa Tuất thuộc Rabjung thứ mười lăm
(1910) trong gia đình Dilgo, một thượng thư (nyerchen) của vua xứ Dege trong bộ
tộc Nyö ở Thung lũng Dan. Thân phụ ngài là Tashi Tsering. Đúng vào ngày ấy Đạo
sư vĩ đại Mipham Namgyal và các đệ tử của ngài đang cử hành lễ tiệc khi hoàn tất
khóa giảng kéo dài một tháng rưỡi về Bình giảng Kalachakra của ngài tại Dilgo.
Mipham lập tức ban những viên thuốc Sarasvatī, vị Phật nữ trí tuệ, với những chữ
DHIH và HRĪH thiêng liêng cho đứa bé ăn thậm chí trước khi nó bú sữa mẹ. Khoảng
một tháng sau khi sinh, Mipham ban các quán đảnh tịnh hóa và trường thọ và đặt
tên cho đứa bé là Tashi Paljor. Từ đó cho tới khi Mipham mất vào đầu năm 1912,
Khyentse liên tục được ban các phẩm vật gia hộ.
Khi ngài chỉ mới bốn tháng tuổi, Ngor Ponlöp Loter Wangpo xác nhận ngài là
Tulku của Khyentse Wangpo. Vào lúc Mipham mất, Zhechen Gyaltsap Pema
Namgyal (1871-1926) nhìn thấy Khyentse và bảo gia đình tặng ngài cho Zhechen.
Năm lên sáu tuổi,296 tình cờ ngài bị phỏng nặng và bị bệnh trầm trọng trong
khoảng sáu tháng, sự việc đó khiến cho ngài thọ giới xuất gia làm một sa di.
Khi ngài mười lăm tuổi, Gyaltsap xác nhận ngài là một tulku của Khyentse
Wangpo, tôn phong ngài tại Tu viện Zhechen, và đặt tên cho ngài là Gyurme
Thekchok Tenpe Gyaltsen. Vị Thầy này cũng ban cho ngài nhiều sự trao truyền,
trong đó có những trao truyền Dam-ngak Dzö và Nyingthig Yabzhi. Từ Khenpo 242
Pema Losal của Tu viện Dzogchen ngài nhận sự trao truyền Longchen Nyingthig.
Từ Adzom Drukpa, ngài thọ nhận giáo lý Ngöndro Longchen Nyingthig.
Với Khenpo Zhenphen Chökyi Nangwa (Zhen-ga) ở Tu viện Dzogchen, Khenpo
Thupten Chöphel (Thupga) ở ẩn thất Changma, Dza Mura Dechen Zangpo, và
những Đạo sư khác, ngài đã nghiên cứu những bản văn của Nāgārjuna, Asanga,
Abhidharma, Yönten Dzö, những bình giảng về Guhyagarbha-māyājāla-tantra: Mật
điển Bí Mật Tập Hội, và nhiều bản văn khác. Khenpo Thupga xác nhận ngài là tülku
của Önpo Tendzin Norbu (Tenli).
Sau đó từ Khyentse Chökyi Lodrö ngài nhận những trao truyền các giáo lý của
phái Sakya, Kagyü, Geluk và Nyingma, kể cả Rinchen Terdzö, Nyingthig Yabzhi,
Longchen Nyingthig, và Lama Gongdü. Từ Khenpo Tendzin Dargye của Tu viện
Zhechen, ngài được trao truyền chín pho sách của Jigme Lingpa. Từ Zhechen
Kongtrül (1901-1959?), ngài nhận những trao truyền mười ba pho sách của giáo
khóa Minling. Ngài nhận giáo lý của mọi truyền thống Phật giáo Tây Tạng từ hơn
bảy mươi vị Thầy. Trong số đó, Zhechen Gyaltsap và Khyentse Chökyi Lodrö là
những vị Thầy chính yếu của ngài.
Bắt đầu từ năm mười tám tuổi, trong mười hai năm ngài sống ở những nơi cô
tịch và thực hành những giáo lý khác nhau, trong đó có Các Sādhana Ba Gốc của
Minling Terchen và Longchen Nyingthig.
Suốt đời ngài, ngài hiến mình cho việc giảng dạy và truyền Pháp cho tất cả
những ai tới nhận giáo lý. Ngài viết rằng vào năm sáu mươi bốn tuổi, ngài đã ban
các quán đảnh Nyingthig Yabzhi và Longchen Nyingthig hơn mười lần. Từ năm bốn
mươi cho tới tám mươi hai ngài đã thuyết giảng về Chokchu Münsel, luận giảng về
Guhyagarbha của Longchen Rabjam ít nhất mỗi năm một lần, và bình giảng rộng
lớn về Yönten Dzö của Jigme Lingpa. Trong vô số những giáo lý khác, ngài đã năm
lần ban những trao truyền Rinchen Terdzö, bốn lần ban những giáo lý của Nyingma
Kama, ba lần các giáo lý của Dam-ngak Dzö, và hai lần các giáo lý Kanjur.
Rinpoche và vị phối ngẫu của ngài, Khandro Lhamo, có hai con gái. Nam tử của
Chi-me La – con gái của ngài – là Zhechen Rabjam đệ thất.
Theo lời mời của hoàng gia xứ Bhutan, ngài sống nhiều năm ở Bhutan để giảig
dạy và trao truyền giáo lý.
Từ đầu thập niên 1960, ngài đơn thương độc mã duy trì và truyền bá truyền
thống bất bộ phái độc nhất vô nhị của các vị Khyentse, và với sự nhất quán liên tục
không mệt mỏi, ngài không ngừng truyền bá giáo lý bằng cách du hành, giảng dạy,
thực hành, và xây dựng những đài kỷ niệm vì lợi ích của Giáo Pháp và mọi người.
Năm 1980, ngài xây Tu viện Zhechen Tennyi Dargye Ling (lấy tên của tu viện cũ
của ngài ở Tây Tạng) tại Baudhanath ở Nepal, một quần thể phức tạp với hơn hai
trăm học viên tu sĩ. Năm 1988, ngài đã thiết lập một shedra (học viện Kinh điển) tại
tu viện mới, ở đó các tu sĩ nghiên cứu những bản văn uyên áo.
Bắt đầu từ năm 1975, ngài đã nhiều lần viếng thăm nhiều quốc gia ở Tây
phương và giảng dạy những cấp độ giáo lý và trao truyền khác nhau. Ngài cũng đã
thiết lập Thekchok Ösal Chöling, một trung tâm Giáo Pháp tại Pháp. Từ hải ngoại,
ngài đã viếng thăm Tây Tạng hai lần để giảng dạy và trợ giúp việc xây dựng lại các
tu viện và niềm tin ở quê hương ngài. 243
Ngài đã ban cho Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười bốn nhiều quán đảnh và giáo lý
về các luận giảng Guhyagarbha và Yönten Dzö và những giáo lý khẩu truyền Đại
Viên mãn được kết hợp với các giáo lý Yeshe Lama.
Ngài đã khám phá nhiều giáo lý và sādhana là terma và biên soạn nhiều bản văn
uyên áo và những luận giảng về những chủ đề khác nhau, tổng cộng hai mươi
quyển sách. Trong số các tác phẩm của ngài về Longchen Nyingthig có một luận
giảng về Palchen Düpa và Wangki Chokdrik.
Năm tám mươi mốt tuổi, lúc ba giờ sáng ngày hai mươi tháng tám năm Hỏa Mùi
(28 tháng Chín năm 1991), tâm giác ngộ của ngài tan hòa vào sự khoáng đạt tối
thượng tại một bệnh viện ở Thimbu, thủ phủ của Bhutan. Từ lúc ấy, vị trụ trì tu viện
mới của ngài ở Nepal là Rabjam Rinpoche, Gyurme Chökyi Senge, là người kế thừa
tâm linh và cháu ngoại của ngài.
Ngài là một trong những Đạo sư uyên bác và thành tựu vĩ đại nhất của Tây Tạng
trong thời đại của chúng ta. Vóc người ngài cao lớn và khổng lồ. Khi ngài ở giữa
những Đạo sư khác, ngài đứng sừng sững như một ngọn núi giữa những quả đồi
hay chiếu sáng như mặt trăng giữa những vì sao, không phải vì thân thể ngài nổi
bật mà bởi sự uyên bác và thánh thiện sâu rộng của ngài. Khi ngài ban giáo lý, lời
dạy của ngài như một con sông trôi chảy, hầu như không ngừng nghỉ. Nếu những
người ngoại quốc nghe bài giảng của ngài, lúc ban đầu họ có thể có ấn tượng là
ngài đang đọc một bản văn tuyệt đẹp từ ký ức, bởi mỗi lời của bài giảng của ngài là
thi ca, ngữ pháp của ngài toàn bích và ý nghĩa thật sâu xa.
Trí nhớ của ngài là một đặc điểm vô cùng kỳ lạ. Ngài không chỉ nhớ được những
bản văn nghi lễ uyên áo và những chi tiết về các vị Thầy và bằng hữu của ngài, mà
còn nhớ cả những người mà ngài chỉ nhìn thấy một lần nhiều năm trước.
Lòng tốt của ngài thật vô biên, và có thể dung chứa tất cả mọi người. Mỗi khi tôi
được yết kiến ngài, ngài cho tôi cảm tưởng là tôi dành được một chỗ trong tâm thức
bao la của ngài. Nếu quý vị nhìn kỹ, quý vị sẽ có cảm tưởng là ngài luôn luôn ở
trong trí tuệ thiền định hay chứng ngộ của sự khoáng đạt và đi tới mọi người bằng
năng lực của lòng từ bi và sự thẳng thắn, không chút thay đổi.
Hầu như ngài nắm giữ những sự trao truyền tất cả giáo lý đạo Phật ở Tây Tạng,
nhưng ngài luôn luôn tìm kiếm những trao truyền bổ túc, bất luận chúng nhỏ bé ra
sao. Ngài có cả một thư viện khổng lồ nhưng không bao giờ ngừng tìm kiếm ngay
cả một trang của một tác phẩm hiếm có. Ngài cũng hết sức trung thực.
Trong chuyến đi cuối cùng từ Bhutan tới Kalimpong của ngài, thay vì đi máy bay,
ngài đã nài nỉ thực hiện một hành trình gian khổ bằng xe hơi để thăm một đệ tử cũ
của ngài trên đường đi. Trong khi nỗ lực đó có thể vắt kiệt sức mạnh thể chất của
ngài, nó đã là niềm vui và sự hoàn thành của ngài, một hành động của lòng bi mẫn.
Urgyen Tendzin Jigme Lhundrup (sinh năm 1993), cháu của Tulku Ugyen
Rinpoche (1919-1996) và là con trai của Kela Chokling Rinpoche và Dechen
Paldron xứ Terdhe, đã được tôn phong là hóa thân của Dilgo Khyentse Rinpoche. 244
36
CHATRAL SANGYE DORJE
sinh năm 1913
KYABJE Chatral Sangye Dorje Rinpoche297 là một trong số rất ít những Đạo sư vĩ
đại của dòng Longchen Nyingthig còn trụ thế.
Rinpoche sinh trong nhóm bộ tộc Abse ở Nyak-rong thuộc Tỉnh Kham và không
bao lâu di cư tới Amdo cùng với nhóm bộ tộc của ngài.
Ngài nhận những trao truyền các giáo khóa terma của Düdjom Lingpa (1835-
1903), Sera Khandro, và những giáo lý khác từ chính Đạo sư vĩ đại Sera Khandro
Dewe Dorje (1899-1952?) và Tülku Dorje Dradül (1891-1959?), con trai út của
Düdjom Lingpa.
Năm mười lăm tuổi, ngài từ bỏ những ràng buộc với gia đình và đi tới nhiều Đạo
sư để học tập và thực hành. Ngài bỏ việc cưỡi ngựa và đi bằng chân. Ngài từ chối
vào nhà hay lều của những gia chủ, chỉ ở trong những ẩn thất, hang động, hay túp
lều nhỏ của riêng ngài.
Từ Kathok Khenpo Ngawang Palzang (1879-1941) ngài nhận những trao truyền
và giáo lý Longchen Nyingthig và nhiều giáo lý khác. Khenpo trở thành Đạo sư gốc
quan trọng nhất của ngài. Ngài cũng nhận nhiều trao truyền từ Khyentse Chökyi
Lodrö và những Đạo sư khác của Dege. Ở miền Trung Tây Tạng, ngài trở thành
một trong những đệ tử chính của Kyabje Düdjom Rinpoche, tülku của Dudjom
Lingpa.
Rinpoche đã trao truyền những giáo lý hiếm có cho Shuksep Lochen, Khyentse
Chökyi Lodrö, Düdjom Jitral Yeshe Dorje, và nhiều Đạo sư quan trọng khác.
Gyaltsap Redring (mất ngày 8 tháng Năm, 1947), khi đó là nhiếp chính của Tây
Tạng, đã mời Rinpoche tới Lhasa và nhận từ ngài nhiều trao truyền và giáo huấn
thiền định Đại Viên mãn. Kết quả là một số đông người thuộc mọi tầng lớp xã hội,
giới quý tộc và bình dân, với những món cúng dường đã lũ lượt tìm đến Rinpoche
để nhận các giáo lý. Ngài nhận ra điều này như một sự xao lãng con đường của
ngài, và ngài thình lình bỏ lại mọi sự, trốn vào hang động trong những núi non đã 245
được Guru Rinpoche và những Đạo sư khác trong quá khứ gia hộ. Sau đó ngài
sống như một ẩn sĩ trong nhiều thập niên và được gọi là Chatral, một ẩn sĩ, hay một
người đã từ bỏ những hoạt động thế tục.
Cuối thập niên 1950, ngài di chuyển tới Bhutan và sau đó tới Ấn Độ. Ngài đã xây
dựng lại một ngôi chùa đơn sơ ở phía trên làng Jor Bungalow gần Darjeeling và bắt
đầu một drupdra ba năm, ở đó những thiền giả tu tập thực hành Longchen
Nyingthig. Một drupdra là một trường nhập thất thiền định, ở đó một nhóm người ẩn
cư trong một năm, ba năm hay hơn nữa. Hiện nay có nhiều drupdra khắp thế giới
do các Lạt ma Tây Tạng thiết lập, nhưng khi Rinpoche xây dựng drupdra này thì đó
là drupdra duy nhất do một Lạt ma tị nạn Tây Tạng lập nên.
Rinpoche cũng xây dựng nhiều ngôi chùa, bảo tháp, và một số drupdra khác ở
Nepal và Ấn Độ. Hiện nay, ngài sống chủ yếu ở Pharping, một địa điểm hành hương
quan trọng ở Nepal được Guru Rinpoche gia hộ.
Rinpoche chống lại mọi sự dính mắc vào những cấu trúc tu viện hay bộ máy
quan liêu và duy trì một truyền thống ẩn sĩ. Ngài có vô số đệ tử người Tây Tạng,
Bhutan, và Nepal cũng như một số đệ tử từ Tây phương. Rinpoche và vị phỗi ngẫu
Kamala của ngài, con gái của Tertön Tulzhuk Lingpa, có hai con gái là Tārādevi và
Saraswatī, một tülku của Sera Khandro.
Vào ngày 16 tháng Mười Một năm 1968, Cha Thomas Merton đã gặp Rinpoche
và tả lại buổi gặp gỡ như sau: “Thông điệp không được nói ra hay được nói ra nửa
chừng của cuộc trò chuyện là chúng tôi hoàn toàn thấu hiểu về nhau như những
người bằng cách này hay cách khác đang ở bờ mé của sự đại chứng ngộ, hiểu nó
và đang nỗ lực (chẳng biết làm sao) đi ra và lạc lối trong đó – và đó là một ân huệ
để chúng tôi gặp gỡ nhau.”298
Harold Talbott, người có mặt trong buổi gặp gỡ, nhớ lại Merton đã biểu lộ với
ông sau cuộc gặp gỡ: “Đó là một người vĩ đại mà tôi từng gặp. Ngài là vị Thầy của
tôi.” 246
37
DODRUPCHEN ĐỆ TỨ RIGDZIN TENPE GYALTSEN
(1927-1961)
KYABJE Rigdzin Tenpe Gyaltsen, Dodrupchen Rinpoche đệ tứ,
299 là hiện thân của
trí tuệ vĩ đại và năng lực huyền diệu. Trong số nhiều danh hiệu của ngài có Rigdzin
Jalü Dorje, Natsok Rangtröl, Düdül Pawo Dorje, và Jigtral Düdül Namkhe Dorje.
Rinpoche sinh năm Hỏa Mẹo thuộc Rabjung thứ mười sáu (1927) trong Thung
lũng Mar Thượng ở miền Đông Tây Tạng. Thân phụ của ngài là Gyurme Dorje thuộc
Wangda, một trong tám nhóm bộ tộc của Pema Bum, là một trong ba phân khu của
bộ tộc Golok. Thân mẫu ngài là Melo thuộc nhóm bộ tộc Ling. Ngài có các dấu hiệu
là những chữ HA RI NI và SA nơi trái tim, là một dấu hiệu từ một terma tiên tri, trong
đó nói:
Hiển lộ của Đức Liên Hoa Sanh tên là Pawo
Sẽ điều phục chúng sinh với giới luật bí truyền của ngài.
Nơi trái tim ngài, HA RI NI và SA xuất hiện thật rõ ràng.
Bất kỳ ai được nối kết với ngài sẽ thoát khỏi những tái sinh thấp kém.
Năm lên bốn tuổi ngài được xác nhận là tülku của Dodrupchen đệ tam bởi nhiều
Lạt ma trong đó có Amdo Geshe Jampal Rölpe Lodrö, một Đạo sư vĩ đại phái Geluk,
và Tülku Dorje Dradül (1891-1959?). Tülku Dorje Dradül là một đại tertön, con út của
Düdjom Lingpa và em út của Dodrupchen đệ tam. Tuy nhiên về sau này chính
Rinpoche xác nhận rằng ngài là tülku của Do Khyentse, và ngài cũng phô diễn năng
lực huyền bí giống như Do Khyentse.
Khi Rinpoche bốn tuổi, với buổi lễ vĩ đại, ngài được tôn phong tại Tu viện
Dodrupchen đồng thời với Thupten Thrinle Palzang Rinpoche, tülku khác của 247
Dodrupchen đệ tam. Sau đó, hai vị Rinpoche cùng có những bài tập đọc, và các
ngài sống với nhau cho tới cuối tuổi thiếu niên.
Năm lên bảy, hai vị Rinpoche học các bản Kinh điển với Lushül Khenpo Könchok
Drönme (Könme) cho tới khi Khenpo mất năm 1936. Sau đó các ngài học với
Chökor Khenpo Kang-nam, Kyala Khenpo Chöchok, và những học giả khác của Tu
viện Dodrupchen trong nhiều năm.
Năm mười một tuổi, trong nhiều tháng hai vị Rinpoche đi tới Thung lũng
Dzachukha để nhận những trao truyền Nyingthig Yabzhi và Longchen Nyingthig từ
Gekong Khenpo Künzang Palden (Künpal) vĩ đại.
Trong thời thơ ấu, Rinpoche không phô diễn bất kỳ điều thần diệu nào, nhưng
khi ngài lớn lên và Thupten Thrinle Palzang Rinpoche đã ngừng phô diễn các điều
huyền diệu thì ngài bắt đầu hiển lộ năng lực của riêng ngài.
Năm mười chín tuổi, cả hai Rinpoche đi tới miền Trung Tây Tạng trong một
chuyến hành hương kéo dài hàng năm. Rinpoche thực hiện một khóa nhập thất
ngắn hạn tại Kang-ri Thökar, nơi Longchen Rabjam đã sống. Ở nhiều nơi ngài có
những linh kiến và nhìn thấy những terma được khám phá, nhưng ngài quyết định
phớt lờ đi bởi ngài bị những tu sĩ nghiêm chỉnh vây quanh.
Sera Yangtrül (1926-1989/90), một tertön nổi tiếng của Thung lũng Ser, thành
viên của đoàn lữ hành trong nhóm hành hương của Dodrupchen, nói:
Trên đường từ miền Trung Tây Tạng trở về, một hôm Rinpoche và tôi đi tới bờ
một con sông. Rinpoche bảo tôi: “Hãy đào cát lên. Ta sẽ tìm thấy cái gì đó.”
Sau khi đào được một ít, tôi phát hiện một bánh xe cầu nguyện. Rinpoche nói:
“Đào nữa; sẽ có cái gì khác nữa.” Tôi đào nữa và khám phá một pho tượng mạ
vàng. Rinpoche nói: “Ta cần pho tượng này. Ông lấy bánh xe cầu nguyện.”
Nghĩ rằng: “Ta muốn có pho tượng, nhưng ngài không đưa nó cho ta. Ta làm
gì với bánh xe cầu nguyện này?” tôi nói: “Con không cần bánh xe cầu nguyện.”
Rinpoche nói: “Vậy thì vất nó đi.” Tôi ném nó, và trước khi rơi xuống mặt đất,
nó hoàn toàn biến mất. Khi nhắc tới bánh xe cầu nguyện và pho tượng mạ
vàng, tôi hỏi: “Rinpoche, những cái đó là gì?” Ngài nói: “Ồ hẳn là một vài du
khách đã bỏ quên chúng ở đây.” Đó là lỗi lầm của việc tôi còn quá trẻ. Đó là
một cuộc khám phá terma, nhưng khi đó tôi không nhận ra điều ấy.
Yangtrül kể một câu chuyện khác.
Một lần nữa trên đường về, Rinpoche và tôi đi dạo trong một hẻm núi. Trước
tiên ngài muốn chúng tôi làm những cái móc bằng những nhánh con của một
bụi gai. Sau khi làm xong, khi nhìn vào một ngọn đồi đá cao, dốc, và phẳng
mặt, ngài nói: “Trong tảng đá đó có terma. Chúng ta sẽ tới xem chứ?” Khi
chúng tôi đến đó, ngài đặt những cái móc vào tảng đá như thể ở trong bùn và
khi sử dụng chúng, ngài leo lên, và tôi đi theo ngài. Rồi chúng tôi tới một cái
hang khổng lồ. Ở trong hang chúng tôi tụng Lời Cầu nguyện Bảy Dòng và Lời
Cầu nguyện Thành tựu Tự nhiên những Ước nguyện của Guru Rinpoche. Vào
lúc đó, một mảnh tường của cái hang mở ra như một cửa sổ. Trong một cái lỗ
như cửa sổ chúng tôi nhìn thấy nhiều pho tượng và những “hộp nhỏ.” Cũng có
một hòn đá có hình dạng một cánh tay. Rinpoche nói: “Hãy kéo hòn đá đó. 248
Phần terma của ông ở đó.” Khi tôi cố gắng kéo hòn đá, nó mở ra như một cái
nắp, trong đó có nhiều pho tượng và những chiếc hộp nhỏ có những con rắn
bao quanh. Rinpoche nói: “Nhặt chúng lên, đừng nghi ngờ gì hết.” Tôi thò tay
vào và lấy ra một pho tượng và ba cái hộp. Sau khi nhìn chúng, ngài nói: “Bây
giờ để chúng trở lại.” Tôi nói: “Con sẽ lấy một bức tượng.” Rinpoche cảnh báo:
“Không! Chưa tới lúc để lấy ra, và những vị bảo hộ sẽ không để chúng ta lấy.”
Khi tôi đưa những terma vào, cánh cửa trong tảng đá đóng lại một cách tự
nhiên và niêm kín lại như trước. Nó hoàn toàn như một trò ảo thuật. Sau đó tôi
leo xuống trước, và ngài xuống sau, gỡ những chiếc móc ra khỏi tảng đá. Tôi
bảo ngài: “Rinpoche, cứ để những cái móc ở đó, chúng ta sẽ cần tới khi quay
trở lại.” Ngài nói: “Không! Nếu người ta nhìn thấy chúng, họ sẽ cười chúng ta
và nói: ‘Hai tên khùng đã ở đây.’” Khi ngài gỡ xong những cái móc, ngay cả
một dấu vết của việc ngài đã ghim những cái móc vào tảng đá cũng không còn.
Giờ đây tôi hiểu rằng đó là một sự phô diễn đáng kinh ngạc.
Vào một thời điểm nào đó sau khi trở về từ miền Trung Tây Tạng, Rinpoche lập
trụ xứ chính của ngài tại Gephel Ritrö, Ẩn thất Gieo trồng Đức hạnh, nơi
Dodrupchen đệ tam đã ở hầu hết nửa sau của đời ngài. Ẩn thất này ở phía dưới
đỉnh của một ngọn núi chọc trời trong một cánh đồng như tấm gương phủ cỏ xanh
tô điểm những bông hoa dại. Cánh đồng được bao quanh bởi những cây thông và
bách xù xanh tươi cao lớn như những bức tường. Phía trên bức tường cây, quý vị
có thể nhìn thấy ở xa, những rặng núi vươn cao như những con sóng ở bờ bên kia
của Thung lũng Do. Một vài ngọn núi được khoác lên bộ y phục là những tàng cây,
một vài ngọn được bao phủ bởi những tảng đá xám, hơi đỏ, hoặc hơi có màu xanh
lục, và những ngọn khác đôi khi đội những chiếc mũ tuyết. Những ngọn núi tạo cho
ta ảo giác là chúng tạo thành một bức tường đằng sau những bức tường làm bằng
những tàng cây cao hay đúng hơn, chúng đang bảo vệ quý vị cả ngày lẫn đêm.
Rinpoche đã nghiên cứu nhiều bản văn, nhưng phạm vi nghiên cứu của ngài
không rộng. Tuy nhiên, cũng như Jigme Lingpa, ngài là một học giả tự bản chất.
Ngài cao và mảnh khảnh nếu so với những Lạt ma khác ở Golok, với đôi mắt mở
lớn, sáng, đầy năng lực. Ngài là một diễn giả phi thường về Giáo Pháp và luận đàm
có tính chất xã hội. Ngài là một họa sĩ tài ba, một đạo sư về việc hát tụng, và thiện
xảo trong việc làm torma và các mạn đà la. Mặc dù sống đơn giản, ngài rất có phẩm
cách, và ngay cả khi ngài nói chuyện phiếm thì nó cũng là giáo lý. Ngay cả khi ngài
hành động không thể đoán trước được, ngài luôn luôn là một người đáng tin cậy
nhất, và thậm chí khi ngài sống và chết trong nhà tù, nhờ sự hiện diện của ngài,
ngài đã mang ánh sáng của Giáo Pháp đến cho cuộc đời của nhiều người đồng
cảnh ngộ.
Từ năm ngài khoảng hai mươi tuổi, ngoại trừ lúc ngài ban những quán đảnh hay
giáo lý, hay đang du hành ngoài tu viện, ngài không ngồi trên ngai tòa hay chủ tọa
những buổi lễ như Đạo sư kim cương. Ngài thích ngồi trên một tấm nệm và làm một
Thầy phụ trách việc hát tụng hay Thầy cử hành nghi lễ, hoặc đôi khi chơi sáo lễ, là
những chức vụ thấp.
Trong rừng tại ẩn thất có một Pháp tòa cao bằng đá mà có lần Dodrupchen đệ
tam đã từng giảng dạy. Trong một thời gian dài, từ Pháp tòa này Rinpoche cũng
giảng dạy Dzopa Chenpo (Đại Viên mãn) cho Tülku Jigme Phüntsok (Jiklo) và 249
khoảng hai mươi đệ tử được tuyển chọn. Trong khoảng thời gian này ngài khám
phá những giáo lý Dzopa Chenpo và thực hành pháp Chö như terma.
Chẳng bao lâu Rinpoche lâm trọng bệnh. Ngài được cho là bị ảnh hưởng bởi
việc bị ngộ độc trong chuyến đi miền Trung Tây Tạng vài năm trước đó. Gương
mặt, lưỡi và nước tiểu của ngài sậm màu hay hơi xanh. Nhiều chiếc răng của ngài
bị gãy, kể cả hai răng cửa. Nhiều Lạt ma, trong đó có Khenpo Kang-nam và Kyala
Khenpo, đã tụ họp tại ẩn thất và trong nhiều ngày đã chuẩn bị rinchen rilbu, một
cách chữa trị đặc biệt hay thuốc tịnh hóa. Vào ngày mà người ta cho là ngài dùng
thuốc, thuốc đã biến mất và cái tách trống không. Người ta hiểu điều này như một
điềm xấu và bắt đầu tiêu tan hy vọng. Nhưng bởi ta luôn luôn không thể đoán trước
được điều gì về Rinpoche, tất cả những dấu hiệu bệnh tật của ngài từ từ biến mất
mà không có cách giải thích hợp lý nào. Sau này, trong một chuyến du hành tới
Amdo, ngài có những cái răng vàng thay cho hai răng cửa. Đối với nhiều thanh niên
thì răng vàng là thời trang, nhưng đối với ngài thì nó để giữ gìn những chiếc răng
gãy của ngài.
Một hôm ngài bảo đệ tử chuẩn bị đất sét để làm tượng của Longchen Rabjam và
Jigme Lingpa. Khi đất sét đã sẵn sàng, ngài bảo họ: “Các ông làm tượng của
Longchen Rabjam. Ta sẽ làm tượng của Jigme Lingpa” Ngày hôm sau ngài xây một
Pháp tòa và phần dưới pho tượng của Jigme Lingpa, cao khoảng 0,6m. Khi ngài
làm tới phần eo, ngài ngừng làm tượng nhiều ngày. Các đệ tử cứ khẩn cầu ngài
hoàn tất pho tượng bởi nếu không đất sét sẽ khô đi và ngài không thể làm việc trên
đó. Ngài vẫn nói: “Khi nào các ông làm xong tượng của Longchen Rabjam thì ta sẽ
hoàn tất pho tượng của ta.” Khi các đệ tử thông báo họ đã hoàn thành pho tượng,
ngài bảo họ: “Hãy chuẩn bị lễ hiến cúng vào ngày mai. Khi đó ta sẽ hoàn thành pho
tượng của ta.” Ngày hôm sau họ nhìn thấy phần trên của pho tượng Jigme Lingpa
đã tự hoàn thành và rất đẹp. Khó mà biết được nó làm bằng đất sét hay bằng đá. Ở
trái tim của pho tượng, họ có thể nhìn thấy rõ ràng một hình nhỏ của những vị phối
ngẫu Samantabhadra (Phổ Hiền) trong một chiếc nhẫn năm màu. Khenpo Kangnam nhìn thấy những hình ảnh giống như tám mươi bốn đại thành tựu giả trên
những bộ phận khác nhau của thân pho tượng. Những người khác nhìn thấy những
hình ảnh khác nhau: một số người nhìn thấy Guru Rinpoche với các phối ngẫu,
trong khi những người khác thấy tám vidyadhara (Trì minh vương), và v.v.. Sau này,
pho tượng này được tặng cho Tülku Jigme Phüntsok, và trong những ngày lễ ngài
đã chứng kiến nhiều điều huyền diệu và nghe thấy âm nhạc ở nơi pho tượng này
được giữ gìn. Bản thân tôi đã nhìn thấy pho tượng với một hình ảnh rõ ràng của các
phối ngẫu Phổ Hiền và những nhân vật không thể nhận ra trên đó.
Rinpoche không hài lòng về vị trí của cái bếp trong tu viện, bởi khói từ nhà bếp
ảnh hưởng tới gian thờ và thư viện. Một hôm ngài đi tới cái bếp, xoay một vòng
bằng bàn chân trên chiếc lò khổng lồ làm bằng đá và nói: “Cái bếp không ở đây
trong thời của Dodrupchen đệ tam!” và ngài đi nơi khác. Sáng hôm sau, khi người
nấu bếp vào bếp, mọi hòn đá của chiếc lò đã biến mất. Nghi rằng có người nào đó
đã di chuyển chúng, mọi người nhìn vào rừng chung quanh ẩn thất trong nhiều giờ
nhưng không có dấu hiệu gì là có người ở đó, và họ kết luận là Rinpoche đã phô
diễn một trong những biểu hiện của ngài. Bản thân tôi đã nhìn thấy nơi chiếc lò bị
biến mất chỉ vài ngày sau khi nó thực sự ra đi. 250
Trong thời gian ngài ở lại ẩn thất, Rinpoche bảo trợ một buổi lễ một trăm ngàn
cúng dường tsok (Tshogs ‘Bum) hàng năm, kéo dài mười ngày với khoảng ba mươi
hay bốn mươi tu sĩ được tuyển chọn. Trong những buổi lễ này, từ những chiếc bánh
cúng tsok, một dòng cam lồ trong hình dạng của một chất lỏng trắng ngon lành chảy
nhỏ giọt và làm đầy một cái bình nhỏ. Tôi đã tham dự một trong những buổi lễ này
khi tôi bảy hay tám tuổi.
Nếu Rinpoche muốn, bất kỳ ngài tập trung vào đâu, chẳng hạn như một cái bình,
một bức tranh, hay một cái bàn, vật đó sẽ được một vị Hộ Pháp nhập vào và sẽ di
chuyển. Thường thì ngài dùng một chiếc bàn vuông có bốn chân. Trên bàn có một
cái hộp vuông đựng đầy những biểu đồ huyền bí, những viên đá hay kim loại quý
giá hay khá quý, và những hạt khô. Những chiếc khăn lụa nhiều màu sắc khác nhau
phủ quanh cái bàn và buông chùng xuống. Trên đỉnh có một nửa chày kim cương
như cái chóp trang trí. Khi tới lúc, hai người đứng đối mặt nhau đọc một lời cầu
nguyện đặc biệt, nắm chặt chân bàn và nhấc lên. Chiếc bàn lắc lư qua phải rồi sang
trái, kéo hai người đó mạnh tới nỗi chỉ sau vài phút, ngay cả những thanh niên cũng
mệt đứt hơi. Họ thực hiện điều này để biểu lộ sự hiện diện của các vị Hộ Pháp, để
tiên tri những gì nên được thực hiện bằng cách để cho chiếc bàn đụng vào những
câu hỏi được viết ra trên những mẩu giấy, để nhận ra một tên trộm, và v.v.. Khi lời
cầu nguyện khác được tụng, chiếc bàn sẽ quay trở lại bàn thờ. Tôi được kể rằng
trong khi chiếc bàn ở trên không trung, quý vị không thể buông nó được bởi quý vị
không thể mở bàn tay ra. Tôi không bao giờ cố nắm lấy chiếc bàn bởi tôi quá sợ
sức mạnh của nó.
Tại Rekong, có một truyền thống làm cho một Hộ Pháp đi vào một cái bàn và
nhận những biểu thị tiên tri. Việc chuẩn bị cái bàn mất nhiều ngày thiền định và cầu
nguyện. Nhưng Rinpoche làm điều đó xảy ra chỉ bằng một cử chỉ hay bằng sự tập
trung. Cũng thế, đối với những người khác thì có thể gây ra sự hiện diện của một
tinh linh xấu, nhưng chúng tôi tin rằng đối với Rinpoche thì những vị đó là các Hộ
Pháp, những môn đồ và người dẫn dắt của Pháp.
Với rất ít thị giả, Rinpoche đi tới Amdo. Ngài ban các giáo lý và những trao
truyền tại nhiều tu viện, biểu lộ một số điều huyền diệu, và ban nhiều tiên tri. Tại Tu
viện Köde ở Rekong, trong một lễ trường thọ, Rinpoche yêu cầu Alak Zhiwatso, một
tülku (hóa thân) con trai của Chöying Topben Dorje, cầm đuôi của một mũi tên làm
bằng tre khô, và ngài kéo mũi tên. Mũi tên được kéo dài ra khoảng khoảng 60cm.
Một hôm ngài viếng thăm một ẩn sĩ già trong một hang động, vị này là đệ tử của
Dodrupchen đời trước. Vị ẩn sĩ nói: “Rinpoche, hôm nay ngài phải phô diễn một điều
huyền diệu. Cho tới khi ngài làm điều đó, tôi sẽ không để cho ngài đi.” Ông ta ngồi
trên cửa hang, chặn lối ra ngoài. Rinpoche bảo vị ẩn sĩ: “Nếu ông để tôi đi, tôi hứa là
sẽ phô diễn một điều huyền diệu.” Theo lời bảo đảm đó, vị ẩn sĩ để cho ngài đi. Khi
Rinpoche ra ngoài hang, ngài nói: “Tôi lừa được ông rồi,” và phóng ngựa đi. Vị ẩn sĩ
thất vọng không chỉ vì Rinpoche không phô diễn điều huyền diệu nào, nhưng bởi
ngài đã thất hứa. Sau đó ông nhìn thấy một dấu vết bàn chân của Rinpoche thật rõ
ràng trên tảng đá ở cửa hang. Hết sức vui mừng, vị ẩn sĩ đi theo nhóm của
Rinpoche và khẩn cầu Rinpoche cho ông chiếc giày đã in dấu vết. Cả tảng đá và
chiếc giày đều được cất giữ thật trân trọng trong một ngôi chùa tại Rekong. Ở
Thung lũng Me (rMe) Rinpoche làm một cái nút bằng một chiếc que sắt. Ngài đè bẹp
một quả cầu bằng pha lê như thể nó làm bằng bột nhão và để lại dấu vết bàn tay trái 251
của ngài lên đó. Ngài chữa lành cho những người bị bệnh hay được cho là bị những
tinh linh ám nhập.
Tại tu viện Tarthang ở Golok, khi ngài gặp Choktrül Rinpoche, ngài không mang
theo một chiếc khăn để trao đổi theo hình thức chào hỏi thông thường. Nhưng trước
mắt nhiều người, ngài làm một cử chỉ nắm một vật gì đó trong không trung và đưa
ra một chiếc khăn lụa trắng để dâng cúng.
Khi Rinpoche du hành tới những nơi xa xôi, ngài biểu lộ những điều huyền diệu
đáng kinh ngạc. Nhưng sau đó ngài buộc các thị giả phải hứa không thuật lại câu
chuyện khi họ trở về tu viện, vì các khenpo và Lạt ma lớn tuổi khó chịu. Có hai lý do
vì sao các khenpo giữ vững lập trường kỳ lạ này, đúng có và sai cũng có. Trước
hết, có một niềm tin là nếu một Lạt ma công khai hiển lộ năng lực huyền bí của
mình, nhiều người chứng kiến có thể không chấp nhận một sự phô diễn như thế, và
vì thế họ có thể có một phản ứng tiêu cực. Như vậy, điều đó sẽ mang lại những hậu
quả tiêu cực còn mạnh mẽ hơn những nguyên nhân khác, bởi nó được nối kết với
năng lực huyền bí. Phản ứng tiêu cực bao gồm việc thu ngắn thọ mạng của Lạt ma.
Kế đó, bởi các khenpo là những vị hướng dẫn giới luật tu viện, họ nghĩ rằng nếu
một Lạt ma quan trọng của tu viện phô diễn năng lực siêu nhiên, các học viên trẻ
tuổi sẽ bị ảnh hưởng bởi những tính cách dữ dội và xao lãng việc học tập nghiêm
túc và những giới nguyện tu viện khiêm tốn, là cách thức thích hợp đối với những
người bình thường. Mặc dù một người giác ngộ sẽ hiểu biết nhiều hơn một tâm trí
thông tuệ nhưng đó là một trong những thái độ có tính cách truyền thống.
Rinpoche đã viếng thăm những tu viện phụ của Dodrupchen trong Thung lũng
Dzika. Tại Tu viện Sanglung, trong khi ban quán đảnh trường thọ cho Lama Lhünpo,
ngài kéo một mũi tên trường thọ làm bằng một nhánh cây khô và kéo nó dài ra
khoảng 45 cm. Trong nhiều năm mũi tên vẫn phát triển cho tới khi nó bị hủy hoại.
Sau đó ngài viếng thăm các tu viện nhánh của Dodrupchen tại Gyarong. Ở ngôi
chùa của Do Khyentse tại địa điểm hành hương Kaulong trong lãnh địa Trokyap,
Rinpoche lắc một thức uống trước hình tượng của Do Khyentse, và bức hình đã
hấp thu thức uống đó. Rinpoche viếng thăm ngôi chùa có ảnh tượng
Avalokiteshvara (Quán Thế Âm) tự-xuất hiện ở Trokyap. Không lâu sau khi
Rinpoche rời đi, Tri Kongthang, một Lạt ma quan trọng phái Geluk, người vẫn sống
ở Tu viện Labtrang ở Amdo, viếng thăm ngôi chùa. Tri Kongthang nói với hình
tượng như một lời cầu nguyện: “Ngài là Avalokiteshvara. Dodrupchen là Vajrapāni
(Kim Cương Thủ). Tôi được cho là Manjusjrī (Văn Thù). Ba Loại Phật/Bồ Tát đã tụ
hội ở nơi đây. Xin phô diễn một dấu hiệu huyền diệu.” Vào lúc đó, trước mắt của
những người có mặt ở đó, từ miệng của hình tượng một dòng cam lồ có màu hơi
xanh lục chảy xuống. Tôi đã nhìn thấy chất nước hơi xanh lục này trong một cái chai
tại ngôi chùa, chỉ vài tháng sau khi sự kiện xảy ra.
Rinpoche trở về tu viện. Buổi lễ một trăm ngàn cúng dường tsok hàng năm tại ẩn
thất biến thành một tsechu hàng năm, hay buổi lễ ngày mồng mười tổ chức công
khai, tại tu viện chính. Hàng trăm tu sĩ đã cử hành buổi đại lễ này trong một tuần.
Cuối tuần các tu sĩ trẻ cử hành những giai đoạn khác nhau của các nghi lễ và thiền
định trong hình thức của một vũ điệu huyền bí trong bốn ngày. Hiện nay đối với
những người Tây phương một cuộc biểu diễn như thế được gọi một cách đơn giản
là một vũ điệu Lama. Rinpoche đã chuẩn bị những y phục bằng gấm thêu và bằng
lụa tuyệt đẹp và những mặt nạ khéo làm cho những người trình diễn. Lúc đầu người 252
ta nghĩ rằng khi làm cho buổi lễ đơn giản và riêng tư tại ẩn thất trở thành một buổi lễ
lớn hơn và công khai tại tu viện, họ sẽ mất đi những điều huyền diệu, chẳng hạn
những dòng cam lồ. Nhưng chẳng bao lâu người ta chứng kiến những loại huyền
diệu khác. Có một lần, bánh pút-đinh làm bằng gạo được nấu cho vài trăm tu sĩ
không vơi cạn đi, ngay cả sau khi được dọn cho hàng trăm cư sĩ tới xem những
cuộc biểu diễn. Một cánh đồng nhỏ đủ để chứa một trăm diễn viên trình diễn ở trong
đó và cho khoảng mười ngàn người tới thực hành và xem biểu diễn. Trong đám
rước Hộ Pháp, khoảng hai mươi chiếc bàn và nhiều cây thương với những lá cờ Hộ
Pháp bị ám nhập và di chuyển lung tung đây đó.
Sau đó, cùng với một bữa tiệc tổ chức công phu, Rinpoche du hành tới Mewa,
Kubum, Sining, Rekong, Lanchow, và cuối cùng tới Tu viện Labtrang ở Amdo. Tại
Labtrang, ngài được tu viện cho phép để cho các thị giả của ngài tập trình diễn vở
kịch Vua Songtsen Gampo. Tu viện không bao giờ dạy những người khác, nhưng
lúc Jamyang Zhepa đệ ngũ (1916-1946)300 mất, ngài bảo các thị giả: “Một ngày nào
đó sẽ có người từ phương nam tới và nói: ‘Tôi là người truyền bá những cuộc trình
diễn kịch.’ Khi người ấy tới, các ông phải dạy ông ta.” Vì thế, các thị giả của vị Thầy
này đã nhớ lại những lời của Jamyang Zhepa quá cố, tổ chức mọi việc tập luyện
cho các đệ tử của Rinpoche. Rinpoche trở về tu viện với những bộ quần áo lộng lẫy,
đồ hóa trang, và những nhạc cụ dành cho vở kịch. Bản thân Rinpoche đã biên soạn
hai cuộc biểu diễn bổ túc, cuộc đời của Trime Künden và của Drowa Zangmo. Nhờ
những bộ quần áo đẹp đẽ và việc tập luyện hoàn hảo, những buổi trình diễn là một
điều kỳ diệu trong miền Golok, nơi mà trước đó mọi người chưa bao giờ được
chứng kiến những sự kiện như thế. Tất cả các diễn viên đều là các tu sĩ, đóng
những vai trò của cả người nam lẫn người nữ có hóa trang. (Ngày nay, truyền thống
diễn kịch của Rinpoche được hồi sinh ở nhiều nơi trong các thung lũng Do, Mar, và
Ser.)
Các khenpo có những phản đối, cho rằng những cuộc trình diễn kịch là một sự
xao lãng việc học tập, thiền định và giới luật nghiêm túc, nhưng bản thân các ngài
thích thú những cuộc trình diễn này đến nỗi vị khenpo thâm niên nhất, Khenpo
Kang-nam, thậm chí đã yêu cầu một cuộc trình diễn đặc biệt cho bản thân ngài.
Năm ngài hai mươi lăm tuổi (1951), cùng với nhiều tu sĩ, Rinpoche du hành tới
Tarsedo (Kanding). Trên đường đi, một đêm họ cắm trại trong thung lũng bên cạnh
thung lũng nơi có ẩn thất của Yukhok Chatralwa. Khi Chatralwa nghe điều này, ngài
chỉ thị cho mười đệ tử trẻ của ngài: “Một đoàn hành hương lớn đang cắm trại trong
thung lũng kế bên. Ngày mai các con phải chặn họ lại không cho họ tới đây.”
Ngày hôm sau, các đệ tử của Chatralwa bị du vào một tình thế khó xử. Làm thế
nào họ có thể ngăn cản Dodrupchen tới đây? Nhưng cũng làm thế nào họ có thể
không ngăn cản Rinpoche bởi đó là yêu cầu của Lạt ma? Vì thế họ đi và chờ bên
đường núi, lo lắng không biết phải làm gì.
Sáng sớm ngày hôm sau, Rinpoche bảo các thị giả của ngài: “Hôm nay ta sẽ
dẫn đường.” Thay vì đi thẳng theo đường núi, họ đi ngược lên thung lũng và quay
trở xuống thung lũng có ẩn thất và thình lình thâm nhập vào ẩn thất. Các tu sĩ của
ẩn thất không còn chọn lựa nào khác và đành phải đón tiếp ngài. Nhưng Chatralwa
bảo các đệ tử: “Ở đây chúng ta không có của cải vật chất để cúng dường ngài, là
những gì ngài có thể đến để lấy, bởi chúng ta là một nhóm hành khất. Ta không có
giáo lý để tặng ngài, và dẫu sao thì ngài có thể không cần tới chúng, bởi bản thân ta 253
chẳng biết gì hết. Tốt hơn là ngài nên lập tức rời khỏi cái chốn xơ xác này vì sự lợi
ích của những con ngựa, lừa và các thị giả của ngài.” Mắt đẫm lệ, Rinpoche đã yêu
cầu các đệ tử của Lạt ma thay mặt ngài nói với Lạt ma: “Bởi thiếu duyên nghiệp,
bây giờ tôi không thể nhìn thấy ngài trong đời này. Nhưng tôi cầu nguyện rằng trong
đời sau tôi sẽ có thể gặp ngài và nhận những giáo lý như cam lồ của ngài.”
Khi Lạt ma nghe thông điệp, ngài mỉm cười và nói: “Ta lo rằng ta không thể nhìn
thấy tülku của Dodrupchen trong đời này, bởi ta đã quá già. Ta đang đùa bởi quá
phấn khích.” Rinpoche đi vào, và việc đầu tiên ngài làm là ban một quán đảnh
trường thọ cho Lạt ma, bởi Lạt ma đang bệnh. Sau đó trong vài ngày các ngài trao
đổi cho nhau những vấn đề quan trọng của tantra và giáo lý Dzopa Chenpo. Sau
này Rinpoche viết một bài thơ năm trang tán thán sự chứng ngộ của Chatralwa.
Kế đó Rinpoche viếng thăm Minyak Garthar, Rashel Gön, Trakhar Gön và nhiều
nơi khác và ban những quán đảnh và giáo lý. Ở một nơi ngài dâng một tách đầy
nước cho một hình tượng, và hình tượng đã hấp thu chất nước đó. Tại các buổi lễ,
những phẩm vật nghi lễ bay vào không gian.
Một buổi tối khi tới giờ cắm trại thì trời mưa lớn. Cho tới khi các thị giả của ngài
có thể dựng xong những chiếc lều, Rinpoche tìm chỗ trú mưa dưới một tảng đá, ở
đó thậm chí ngài không thể ngồi thẳng lưng. Khi Tsamzang và những người khác
đến tìm Rinpoche, ngài ngồi dậy. Không biết rõ sự thật, Tsamzang hỏi: “Rinpoche,
ngài tìm được một cái động lớn hơn?” Ngài nói: “Không, nhưng sau một lát ta mệt
tới nỗi phải ngồi gập đầu lại.” Rồi họ nhận thấy là toàn bộ thân trên của Rinpoche đã
ăn sâu vào tảng đá, như thể ở trong bùn. Họ có thể nhìn thấy vết tích của bộ y, cái
đầu, và ngay cả từng sợi tóc của ngài trong tảng đá. Theo Sönam Nyima, vết tích
này vẫn còn ở đó.
Ở Tartsedo, Rinpoche ở lại Dorje Trak và các trụ xứ của Do Khyentse và ban
những trao truyền và giáo lý cho vua xứ Chakla và hàng ngàn người khác. Người ta
nói rằng ngài đã khám phá một số terma đất, nhưng tôi không có thêm thông tin. Khi
ngài viếng thăm Rikhuk Kushok, một trong những Lạt ma quan trọng của Tartsedo,
Rinpoche đè lên một miếng kính và để lại dấu vết bàn tay ngài. Tondrup, cháu của
Rikhuk Kushok, nói với tôi rằng ông ta nhìn thấy điều đó tại trụ xứ của chú ông. Từ
Tartsedo, Rinpoche viếng thăm Chengdu và Chongqing, và ngài trở về Tu viện
Dodrupchen năm 1952.
Chẳng bao lâu, ngài thành lập Rigne Lobdra, Học viện Khoa học. Rinpoche đã
bảo trợ năm mươi học viên để nghiên cứu văn phạm, chữ viết, thi ca, nghi lễ, kịch,
bài hát, các mạn đà la, torma, hội họa, y học, và thuật chiêm tinh. Ngài đưa nhiều
thầy thuốc và nhà chiêm tinh nổi tiếng từ những nơi khác tới để dạy các học viên.
Ngài mở một dưỡng đường từ thiện và phát thuốc miễn phí.
Rinpoche bắt đầu sống ở mọi nơi, không duy trì trụ xứ cố định nào cho bản thân
ngài. Đôi khi người ta tìm thấy ngài sống trong một góc của một điện thờ với một
tấm nệm và một ít pháp khí, với những tấm màn bao quanh. Ngài không bao giờ tự
giam mình trong chỗ ẩn náu riêng của một gian phòng. Ngài luôn luôn có mặt,
không có ngay cả một cánh cửa để khóa, để mọi người đi vào gặp ngài, nghe ngài
nói, và để ban tặng mọi sự giúp đỡ mà ngài có thể cung cấp. Ngài dâng hiến đời
mình cho việc chăm sóc tất cả mọi người, đặc biệt là người nghèo và những tu sĩ
trẻ nhiệt tâm. Trong nhiều năm cho tới khi tôi rời tu viện vào năm 1957, ngày này
sang ngày khác, trước khi bình minh cho tới khi tối mịt, đích thân ngài hướng dẫn 254
mọi người, hầu hết là những người nghèo, trong những việc cầu nguyện, nghi lễ,
thiền định và học tập. Ngài chia sẻ với họ gian phòng, thực phẩm và quần áo của
riêng ngài. Ngài tiếp đãi họ bằng cách kể những câu chuyện kỳ lạ, dạy dỗ họ bằng
những thiện xảo khác nhau, và khai sáng họ bằng cách ban những Giáo Pháp. Ngài
nhận mọi vật quý báu hay của cải mà người ta cúng dường cho ngài nhưng đôi khi
dường như ngài quá hăm hở rũ sạch chúng. Vài lần trong một năm, chính tay ngài
phân phát không chỉ những vật bình thường mà cả châu ngọc, lụa, bạc, và quần áo
cho những người nghèo túng. Đã nhiều lần ngài dốc hết tất cả ngân quỹ của ngài
cho các dự án về Pháp hay ban tặng nó cho mọi người, và ngài không giữ bất kỳ
điều gì ngay cả một bữa ăn riêng.
Các tu sĩ lớn tuổi đề nghị là ngài nên theo truyền thống hơn nữa. Ngài nên sống
ở một nơi trang trọng thích hợp với một vị Dodrupchen, ngài nên chọn các tu sĩ lớn
tuổi làm thị giả, ngài nên tiết kiệm ngân quỹ và những vật quý giá cho tương lai vô
hạn của tu viện. Rinpoche trấn an họ bằng cách nói: “Nếu tôi có thể giúp đỡ đời
sống của mọi người, đặc biệt là những người thực sự khó khăn bằng mọi cách thức
có thể làm được thì điều đó sẽ là niềm vui to lớn nhất trong đời tôi. Chúng ta nên
sung sướng nếu ta có thể sử dụng mọi điều chúng ta được hiến tặng để làm lợi lạc
mọi người. Chẳng bao lâu nữa sẽ tới ngày mà ta sẽ không có ‘quyền’ thưởng thức
ngay cả một tách trà.” Bản thân tôi đã nhiều lần nghe Rinpoche nói những lời này.
Rinpoche đi gặp Tülku Künzang Nyima (mất năm 1858/1959), một người cháu
và tülku về ngữ của Düdjom Lingpa (1835-1903). Theo sự thúc giục của Rinpoche,
Tülku Künzang Nyima đã khám phá một loạt các giáo lý terma Khandro Gongpa
Düpa, và các ngài đã cùng cử hành các buổi lễ.
Năm 1957, vài tháng sau khi chúng tôi đi Lhasa, Rinpoche du hành tới Amdo.
Ngài ban các giáo lý và trao truyền ở nhiều nơi. Ngài viếng thăm Tu viện Labtrang
và thực hiện những lễ cúng dường phức tạp. Sau đó ngài viếng thăm Sining (Tây
Ninh). Tại bảo tháp bằng vàng của Je Tsongkhapa tại Tu viện Kubum, nơi Đức
Tsongkhapa ra đời, ngài đã cử hành một lễ cúng dường kéo dài bảy ngày, thỉnh mời
hai mươi lăm vị geshe tham dự. Mỗi ngày ngài thực hiện những lời cầu nguyện thiết
tha cho sự phát triển của Pháp, sự an bình, và hạnh phúc của tất cả những bà mẹ
chúng sinh.
Theo Khenpo Ngawang Sherap quá cố và những người khác, Rinpoche nói với
các thị giả của ngài: “Nếu có ai muốn đào thoát thì đây là cơ hội cuối cùng để đi
Lhasa.” Vào lúc này các thị giả của ngài thúc dục ngài ra đi, và có lúc ngài đã
nhượng bộ áp lực của họ. Thậm chí các thị giả đã sắp xếp để đoàn của ngài đi
Lhasa. Sau đó tại một trong những ngày cầu nguyện tại Kubum, với nỗi đau buồn vô
hạn, Rinpoche nói với Tsültrim Gyatso, một trong những thị giả chính của ngài: “Ta
nhìn thấy một ngôi chùa vàng có ba tầng, và nó hoàn toàn biến mất sau một ngọn
núi. Giờ đây mạng mạch của Giáo Pháp và hạnh phúc và sự an bình của mọi người
đã chấm dứt. Ta sẽ không đi. Ta không thể bỏ các tu sĩ và dân chúng của ta. Ta sẽ
trở về tu viện và cố gắng ban những sự trao truyền và giáo lý thanh tịnh của
Nyingthig Yabzhi và Longchen Nyingthig một lần nữa, một lần cuối cùng.” Sau đó,
viếng thăm nhiều tu viện Nyingma và ban các giáo lý trên đường, ngài trở về tu viện.
Năm 1958, nhiều Lạt ma quan trọng ở những nơi khác nhau tụ hội một cách tự
nhiên tại Tu viện Dodrupchen mà không có chút sắp xếp nào. Trước tiên Rinpoche
ban những giáo lý về ngöndro. Sau đó, với sự sắp xếp kỹ lưỡng, ngài và hàng trăm 255
tu sĩ cử hành một buổi lễ Ngensong Jongwa kéo dài bảy ngày về những Bổn Tôn
hòa bình và phẫn nộ. Tiếp theo là những quán đảnh Longchen Nyingthig, mỗi quán
đảnh có kèm theo những giảng giải chi tiết. Sau đó ngài ban các giáo lý về Yeshe
Lama cũng như Khandrö Kegyang. Sau đó ngài bắt đầu ban những quán đảnh
Nyingthig Yabzhi. Đối với mỗi quán đảnh (ngoại trừ những quán đảnh tịnh bình),
ngài phân chia người thọ nhận thành từng nhóm, mỗi nhóm không quá năm người,
y theo truyền thống. Mỗi quán đảnh có kèm theo những giáo huấn và sau đó thiền
định về những giáo huấn đó trong nhiều ngày, để có đủ tư cách tham dự quán đảnh
kế tiếp. Trong khi các quán đảnh đang tiếp diễn, ngài nói với các thị giả: “Cuối
những trao truyền này, chúng ta sẽ cử hành một lễ cúng dường tsok trọng thể. Mọi
vật chất mà ta sở hữu nên được dùng cho việc đó.” Khi lễ quán đảnh kết thúc, mọi
người cùng cử hành một lễ tsog thật công phu. Chẳng bao lâu sau đó, quân đội
thình lình tấn công tu viện. Bởi mọi người khẩn cầu ngài, Rinpoche cùng nhiều Lạt
ma trốn thoát vào rừng để ẩn náu. Toàn bộ Tu viện bị lục soát. Một vài tu sĩ bị giết
và những tu sĩ khác bị bắt.
Sau khi trải qua nhiều tuần ở trong rừng, Rinpoche đã đầu hàng nhà cầm quyền
ở Namda trong Thung lũng Dzika. Mặc dù qua những sứ thần, ngài được nhà cầm
quyền bảo đảm là sẽ không bị bắt, nhưng ngài đã bị bắt giữ lập tức. Sau đó, như
một tù nhân, ngài được đưa tới sở chỉ huy của Quận Padma (Baima) và bị giữ ở đó
một thời gian.
Năm 1959, ngài bị đưa tới một trong những trại tù đồ sộ ô nhục nhất trong vùng
đất khô cằn nhất của Qinghai (Thanh Hải), cách xa quê hương của ngài khoảng
năm trăm dặm, để thụ án tù chung thân. Trong nhiều năm, họ hàng và các đệ tử của
ngài không biết ngài ở đâu. Ngài là một trong những tù nhân phải lao động nặng
nhọc. Do bởi hệ thống ngục tù và cũng bởi nạn đói dữ dội, các tù nhân thường phải
sống bằng cháo loãng trong năm 1960 và 1961. Tuy nhiên, đó là một nhà tù của
trung ương, và nếu quý vị không nói hay làm điều gì chống lại luật lệ và làm công
việc nặng nhọc của quý vị thì đó là một nơi để chết từ từ bởi sự đói khát và lao động
nặng nhọc, nhưng không có quá nhiều người chết vì bị tra tấn đánh đập như trong
các nhà tù địa phương. Trong nhà tù này ngài là người duy nhất của Tu viện
Dodrupchen, nhưng có một số đệ tử của ngài ở những miền khác, vì thế sau này tôi
được nghe kể về cuộc đời của ngài qua vài người sống sót và được thả ra.
Tôi nghe kể rằng trong nhà tù của quận lẫn nhà tù quốc gia, cho dù ngài bị
ngược đãi, bệnh tật, và đói khát, không hiểu vì sao dường như ngài có vẻ sạch sẽ
và vui vẻ hơn những người khác và luôn luôn đắm chìm trong sự thiền định. Dường
như chẳng bao giờ ngài quan tâm tới bản thân, nhưng đau buồn vì những gì người
khác phải trải qua. Trong nhà tù quốc gia, đôi khi ngài bí mật chia sẻ lượng thực
phẩm ít ỏi của ngài cho những người yếu sức hơn ngài. Sau khi ngài bị bệnh, ngài
không phải đi làm việc, và phần cháo của ngài được mang tới giường ngài. Với sự
hoan hỉ lớn lao, ngài sử dụng nó như một lễ cúng dường tsok và sau đó thụ hưởng
món cháo.
Năm 1961, ngài phải chịu một ca mổ, và trong ca mổ người ta đã dùng máu của
một đồ tể theo đạo Hồi. Sau này, khi nghe nói về việc truyền máu, ngài không muốn
sống nữa. Ngài không nghe những tiếng thì thầm van xin và những giọt nước mắt
che dấu của các đệ tử. Với Dzakhen Lama, một trong những đệ tử đau buồn, ngài
nói: “Ta không bị ép buộc phải sống trong nhà tù này vì nghiệp quá khứ của ta. [Ta 256
ở đây vì một mục đích.] Ta không khó khăn gì khi đi tới bất kỳ cõi tịnh độ nào, nếu ta
chọn lựa. Đừng lo lắng cho ta!” Ngay khi ngài mất, nhục thân của ngài được chôn
cất. Drubwang Rinpoche, một đệ tử của ngài, đã nhìn thấy nơi người ta chôn cất
ngài. Năm 1979, Tu viện Dodrupchen đã tìm lại được nhục thân của ngài với sự trợ
giúp của Drubwang Rinpoche và một người Trung quốc đã làm công việc chôn cất.
Thỉnh thoảng, Rinpoche có cơ hội thì thầm những giáo lý, những linh kiến, và
các sự kiện trong những đời trước của ngài cho các đệ tử là Gyalse Padlo
Rinpoche, Drubwang Rinpoche, Dzakhen Lama Rigdzin, và những người khác. Ngài
cũng biên soạn giáo lý trong hình thức những bài thơ nhỏ như món quà tạm biệt khi
một đệ tử được phóng thích.
Trong lần phóng thích Tülku Thrinle Künkhyab (cũng được gọi là Nangchen
Gyalse Achen, ?-1990), Rinpoche viết lời chỉ dạy sau đây và đưa nó cho Tülku để bí
mật mang ra khỏi nhà tù:
Tại luân xa đại lạc trên đỉnh đầu con,
Ôi Lạt ma, hiện thân của Đức Phật trong ba thời,
Con khẩn cầu lòng bi mẫn của ngài, còn nhanh hơn tia chớp
Ngài không cách xa, mà ở trong tim con.
Giác tánh chói lọi của tâm sùng mộ
Thoát khỏi những điểm quy chiếu là sự hiện diện của Lạt ma.
Sự hiện diện của giác tánh nơi bản thân thì thật kỳ diệu!
[Đối tượng:] Giờ đây, trong phạm vi của không gian bao la mở trống,
Với phẩm tính không bám chấp, xin an trụ tốt lành.
[Chủ thể:] Bất kỳ điều kiện nào của những tư tưởng tranh đấu phát sinh,
Giống như những bông tuyết trên một tảng đá được đun nóng,
Hãy để chúng tan biến vào Pháp giới của sự mở trống vĩ đại của nền tảng.
Khi ấy những [tư tưởng] như thế sẽ không có [năng lực] để làm hại hay chữa
lành. Thật là vui thú!
[Hành động:] Trong việc phân biệt các sự việc là tốt và xấu, đức hạnh và vô
hạnh,
Giống như vẽ những đường vạch trong không gian,
Hãy nhận ra sự tự-thuần tịnh của chúng, bằng cách nhìn thấy chúng chuyển
động nhưng trong mờ,
Vì tự nguyên thủy chúng không bị trói buộc bởi những tính chất hy vọng và sợ
hãi.
[Kết quả:] “Giác tánh hồi tưởng” là sự tự-giải thoát khi tiếp xúc [hay sự chứng
ngộ].
Ba cõi là giác tánh siêu việt, sự giải thoát-tại-nền tảng.
Mọi sự xuất hiện là sự phô diễn của năng lực Pháp thân.
Cả sinh tử lẫn Niết bàn chỉ là giác tánh nội tại. 257
Jigtral Düdül Namkhe Dorje biên soạn bài kệ này theo lời khẩn cầu của Tülku
Rinpoche Thrinle Kunkhyab, khi Tülku được phóng thích khỏi nhà tù.
Ngay sau khi Rinpoche mất, lúc bình minh ngày mồng mười tháng bảy năm Kim
Sửu (1961), đệ tử của ngài là Dzakhen Rigdzin than khóc với lòng sùng mộ và
thương tiếc. Vào lúc đó, Rinpoche xuất hiện trước ông (trên không trung) trong y
phục heruka. Liếc nhìn bầu trời, Rinpoche ban cho ông di chúc:
Ồ Nam tử, hãy lắng tai nghe ta.
Ta là đấng vô úy của hàng trăm bậc lão thông,
Ta là tổ tiên, nền tảng phổ quát của sinh tử và Niết bàn.
Hôm nay, sự chia tay của chúng ta là lỗi lầm của những hiện tượng duyên hợp.
Con khóc than về việc đó có lợi ích gì?
Cái chết chỉ là một giới hạn quy ước, như âm thanh của ngọn gió.
Xin đừng cảm thấy buồn đau mà hãy vui sướng.
Khi tứ đại của thân ta tan rã,
Nhận thức phóng chiếu bên ngoài của ta trở về bên trong,
Thành sự rộng lớn của nền tảng, “thân tịnh bình với sáu phẩm tính siêu việt.”
Nhận thức không bị ngăn che [hay trong trẻo] của ta, những sự xuất hiện của
nền tảng,
Tan hòa vào trí tuệ vi tế bẩm sinh không lầm lẫn,
Pháp giới tối thượng của tâm của đấng thủ hộ Guhyapati,
Giống như mặt trăng trong bầu trời có trăng thượng tuần,
Ở đó những đức hạnh không thể diễn tả,
Chẳng hạn như mạng lưới viên mãn tự nhiên của các cõi Phật,
Thực phẩm của sự thiền định và những vật trang sức tự-xuất hiện, đã hiện
diện.
Mặc dù Lạt ma bên ngoài, thân tướng vật lý của ta,
Sự hiển lộ về thân được tan hòa vào pháp giới của sự quang minh chói lọi,
Lạt ma bên trong, ý nghĩa tuyệt đối của ta,
Ồ nam tử, sẽ an trụ trong nền tảng phổ quát của tâm con.
Ta, cha của con, vị hộ trì trí tuệ Jalü Dorje,
Không bao giờ xa lìa con ngay cả trong chốc lát.
Tâm con thoát khỏi những điểm quy chiếu, [sự hợp nhất] của quang minh và
tánh Không, là ta.
Nếu con duy trì khuôn mặt của sự tự thân này, những thành tựu sẽ xuất hiện:
Những yếu tố (đại) vật lý ngoài và trong của con sẽ trở nên thuần tịnh.
Các mạn đà la của ba vị trí sẽ được viên mãn trong thân thể của riêng con.
Những hình tướng (thân), ngữ [và tư tưởng] của con sẽ trở thành thân, ngữ, và
tâm của Lạt ma.
Đây là bậc thủ hộ hành động của mọi Bổn Tôn phẫn nộ vinh quang,
Bổn Tôn Vajrakīla vinh quang vĩ đại nhất: 258
Phurba của sự giác ngộ được viên mãn trong thai tạng của vị phối ngẫu,
Phurba của ba hiện hữu giải thoát sinh tử.
Phurba của bản tánh tối thượng được thành tựu tự nhiên.
Với đường rãnh của phurba trí tuệ vi tế
Những chuyển động của khí/năng lực/ và tâm [được giải thoát] thành avadhūti
(kinh mạch trung ương),
Và những kinh mạch trái tim của việc được nhận thức và người nhận thức bị
tiệt trừ.
Phurba của việc thoát khỏi những tạo tác được hoàn thiện ở nền tảng.
Sự thành tựu phurba này là tâm yếu của một ngàn đấng vinh quang [chư
Phật].
Mạng lưới sinh tử và Niết bàn được hoàn thiện trong thân ngài.
Những điều này được xuất hiện tự thân và hợp nhất thành chính chúng.
Từ mỗi lỗ chân lông của thân ta
Ta biểu thị hàng trăm triệu hiển lộ.
Đặc biệt là sự hiển lộ về tâm của ta sẽ xuất hiện ở Ga-ge.
Sự hiển lộ về thân sẽ xuất hiện ở Puwo.
Chẳng bao lâu [một từ bị quên mất ở đây] xuất hiện trong thung lũng quê
hương ta.
Những hiển lộ của ta và những truyền thống Mật thừa
Sẽ xuất hiện như ánh trăng so với ánh sáng mặt trời.
Con sẽ có may mắn được phục vụ họ.
Cuộn giấy vàng vinh quang này, từ chiếc hộp quý báu,
Phần giáo lý của con, được cất dấu trong tâm con.
Trong tương lai, hãy giải mã nó và mang lợi lạc đến cho chúng sinh.
Đừng quên những di chúc ta đã ban cho con trong quá khứ.
Giờ đây, trong chốc lát, ta sẽ đi tới Cõi Tịnh độ Vô Song.
Trong khi thực hiện một sadhāna Hayagrīva, từ ba mạn đà la thiêng liêng [trán,
miệng, và tim], ngài đã ban bốn quán đảnh [trong hình thức những tia sáng] cho
Dzakhen Rigdzin, và sau đó, nhảy múa, ngài lơ lửng trên không trung.
Rinpoche là một người đặc biệt đã dâng hiến mọi sự cho việc chăm sóc người
khác, và đặc biệt là người nghèo khổ. Bản thân ngài cố gắng sống như một người
bình thường, Hầu như ngài không quan tâm tới nhu cầu của riêng ngài.
Rinpoche biên soạn nhiều giáo lý về Dzopa Chenpo, nhiều bài thơ và những lời
chỉ dạy, nhưng hầu hết đã bị thất lạc. Ngài đã khám phá một giáo khóa viên mãn về
việc tu tập thực hành Chö như giáo lý terma. Hiện vẫn còn sót lại vài phần của giáo
lý này.
Ở Golok và Amdo có khoảng sáu Lạt ma trẻ đã phô diễn những năng lực huyền
diệu và không chính thức được xác nhận là những tülku của ngài. Tuy nhiên, Tülku
Jigme Long-yang,301 sinh trong nhóm bộ tộc Puchung Risarma trong Thung lũng Do
đã được Tu viện Dodrupchen thừa nhận là tülku của Rinpoche và đang sống tại tu
viện. 259
38
DODRUPCHEN ĐỆ TỨ
THUPTEN THRINLE PALZANG
Sinh năm 1927
KYABJE Thupten Thrinle Palzang, Dodrupchen Rinpoche đệ tứ,
302 là một Đạo sư vĩ
đại của Dzopa Chenpo (Đại Viên mãn), vị hộ trì dòng truyền thừa và người truyền
bá chính yếu của giáo lý Longchen Nyingthig.
Rinpoche sinh năm Hỏa Mẹo thuộc Rabjung thứ mười sáu (1927) tại làng Tsi
trong Thung lũng Ser (Serta) ở Golok, miền Đông Tây Tạng. Tsi là một ngôi làng
nhỏ, bao quanh là những cánh đồng lúa mì, lúa mạch, và đậu Hòa Lan xanh tươi và
trù phú. Ngọn núi xanh phủ cỏ ở phía sau lấm chấm cây cối và những tảng đá. Con
sông Ser dịu dàng chảy chậm rãi từ phải sang trái. Thân phụ của Rinpoche là Drala
thuộc bộ tộc Jekar, và thân mẫu là Kali Kyi thuộc bộ tộc Kazhi.
Trong khoảng thời gian từ lúc thân mẫu mang thai ngài cho tới khi ngài sáu tuổi,
Rinpoche đã phô diễn nhiều dấu hiệu kỳ diệu. Lushül Khenpo và Lauthang Tülku đã
ghi lại những dấu hiệu này cho tới khi ngài bốn tuổi. Trong thời thơ ấu của tôi, hết
sức tò mò, tôi đã đọc về những sự kiện này nhiều lần và dưới đây là một số điều tôi
còn nhớ.
Trong khoảng thời gian ngài được hoài thai, thân phụ ngài có một giấc mơ trong
đó ông múa một thanh kiếm pha lê, nó dài đến nỗi không thể nhìn thấy đầu ngọn
kiếm trên bầu trời. Năm đó hầu như cầu vồng xuất hiện mỗi ngày trên làng Tsi, và
các tu sĩ của tu viện đi qua sông thường nói đùa: “Năm nay tất cả những người dân
làng Tsi sẽ đạt được thân cầu vồng.”
Khi Rinpoche ở trong bụng mẹ, nhiều lúc mẹ ngài đi vào một chỗ tối tăm nhưng
bà có thể nhìn thấy nhờ ánh sáng xuất hiện, đôi khi điều đó làm bà hoảng sợ. Một
hôm một con rắn ngậm một vật sáng ngời trong miệng đi vào nhà và sau đó biến
mất vào trong tường trước mặt vài người.
Hầu như mỗi đêm một za303 xuất hiện trên mái nhà. Ở ngôi làng xa xôi này nhiều
lần người ta nhìn thấy một con quạ không có phần trên của cái mỏ sống ở Tu viện 260
Dzogchen. Không có hạt giống nào được gieo nhưng một loài hoa vô danh trong
vùng đất đó của xứ sở đã phủ đầy mái nhà.
Khi ngài sinh ra trước bình minh, mặc dù trời vẫn còn tối, nhưng nhờ một ánh
sáng nên có thể nhìn thấy mọi vật thật rõ ràng. Đứa trẻ được tìm thấy nhiều lần trên
mái nhà mặc dù nó không đi được. Cho rằng hẳn là cậu bé đã leo lên cầu thang,
cha mẹ cậu chặn cầu thang lại nhưng họ vẫn tìm thấy cậu bé ở tầng trên nhiều lần.
Có lần một tảng đá mani lớn – tảng đá có khắc những lời cầu nguyện – rơi lên
người Rinpoche. Dường như ngài gãy nhiều miếng xương, nhưng sau vài giờ mọi
dấu vết của tổn hại này đã biến mất. Nhiều người nghe ngài tụng thần chú siddhi,
thần chú cầu nguyện của Guru Rinpoche, nhiều lần.
Một hôm, một đệ tử của Dodrupchen đệ tam được đặt tên là Guru tới thăm ngài.
Khi Rinpoche nhìn thấy ông, ngài lập tức nói: “Guru! Guru!” và gia hộ cho ông bằng
cách đặt bàn tay lên đầu ông và tụng, OM AH HŪM, VAJRA GURU PADMA SIDDHI
HŪM.
Dzogchen Rinpoche Thupten Chökyi Dorje đệ tam (1872-1935) ban tiên tri sau
đây cho Tu viện Dodrupchen để chỉ ra nơi tülku của Dodrupchen đệ tam sẽ được
tìm thấy:
Suối nguồn chính yếu của sự hiển lộ của Đạo sư kim cương,
Thủ hộ của những dòng truyền thừa của Đức Phật, là Núi Huy hoàng của Lục
địa Ngayab.
Ở trung tâm, là cõi tịnh độ vĩ đại của Báo thân,
Có bốn hiện thân của thân, ngữ, tâm, và đức hạnh của ngài.
Hiển lộ hành động của ngài
Đã tái sinh ở miền nam của tu viện,
Tại một nơi giữa những ngọn núi với những tảng đá và cây cối,
Trong gia đình của một phương tiện thiện xảo [cha] và một trí tuệ [mẹ] được
gọi tên là Ka và Da
Như một đứa trẻ tốt lành của năm Thổ Mẹo.
Có những dấu hiệu cho thấy ngài sẽ làm lợi lạc Giáo Pháp và chúng sinh.
Theo khẩn cầu của những người sùng mộ,
Ta, Dzogchen Tülku Dharmavajra đệ ngũ,
Viết tất cả những gì được nhớ lại trong tâm thức mê lầm của ta.
Cầu mong bình minh của những đức hạnh và điều tốt lành tràn ngập trái đất.
Yogī Dzogchen Yukhok Chatralwa vĩ đại cũng nói: “Trong một giấc mơ ta nhìn
thấy hai cái bình thiêng trên một mạn đà la, vì thế sẽ có hai hóa thân. Nếu thực hiện
lễ cúng dường cho các vị bảo trợ, quý vị sẽ tìm thấy các tülku rất sớm.”
Sau đó Dzogchen Rinpoche chỉ thị cho họ hướng dẫn cuộc tìm kiếm ở miền nam
của tu viện cho tới các thung lũng xứ Li và Tsang. Khi nhóm tìm kiếm từ Tu viện
Dodrupchen viếng thăm làng Tsi, trước khi cha mẹ ngài biết tin phái đoàn đến nơi,
Rinpoche nói với họ: “Hôm nay có khách tới,” và ngài hát thật vui vẻ. Khi đoàn
người đến để khảo sát ngài, bày ra trước mặt ngài những quyển sách, chuỗi hạt, và
những vật sở hữu khác của Dodrupchen đời trước được để lẫn với pháp khí của
những người khác, ngài đã cầm lên những vật của vị tiền nhiệm không chút sai lầm
và nói: “Cái này của tôi.” 261
Sau đó một danh sách các tên người được trình cho Dzogchen Rinpoche để
ngài quyết định lần cuối cùng. Ngài đã lựa ra tên của Dodrupchen Rinpoche hiện tại
và sáng tác một bài nguyện trường thọ cho đứa trẻ, và ban cho cậu tên Thupten
Thrinle Palzangpo. Nhiều đại Lạt ma khác cũng chứng thực việc xác nhận về điều
mà họ nhất trí.
Khi cậu bé được bốn tuổi, một phái đoàn từ Tu viện Dodrupchen trong làng Tsi
đến như buổi đón rước đầu tiên, dẫn đầu là Tülku Pemang Namgyal (mất năm
1957), một tülku của Düdjom Lingpa. Trên đường đi tới tu viện, nhóm người cắm trại
vào ban đêm và sáng hôm sau một vài con ngựa bị mất. Mọi người tìm kiếm khắp
nơi chung quanh nhưng không thể tìm ra chúng. Họ hỏi Rinpoche là có thể tìm thấy
chúng ở đâu. Ngài chỉ ngón tay nhỏ xíu của ngài về hướng một ngọn núi, và họ đã
tìm thấy những con ngựa ở đó.
Buổi lễ tiếp đón cuối cùng do Khenpo Könme (1859-1935) hướng dẫn, được tổ
chức ở một nơi cách tu viện hai dặm. Vị khenpo già cưỡi một con dzo,304 đi tới, có
khoảng một trăm tu sĩ học viên đi cùng. Các học viên đi bộ thành một hàng sau vị
khenpo. Họ đắp y tu sĩ màu cam và cầm những quyển sách trong sholaki (những cái
hộp) như một biểu tượng của việc họ là những người nghiên cứu Kinh điển.
Ngoài ra tại nơi này Rinpoche gặp Rigdzin Tenpe Gyaltsen (1927-1961), người
cũng được xác nhận là Dodrupchen đệ tứ và được đưa tới tu viện để được tôn
phong đồng thời với ngài.
Các Phật tử tin rằng nếu quý vị là một bậc chứng ngộ cao cấp, quý vị có thể
đồng thời hiển lộ chính mình trong thân tướng của nhiều người như những hóa thân
để phụng sự chúng sinh. Vì thế có nhiều hóa thân của Dodrupchen, là những vị do
Dodrupchen đệ nhất hóa hiện từ lúc đầu.
Hai Rinpoche được các nhóm tu sĩ và cư sĩ đưa tới Tu viện Dodrupchen và vào
đại sảnh của ngôi chùa chính. Nhiều người đã khóc vì sung sướng và tràn ngập
niềm tin. Ở đó cả hai Rinpoche cùng được tôn phong, và buổi lễ được cử hành
trong bầu không khí vô cùng hoan hỉ.
Tại Tu viện Dodrupchen, ngay sau khi các lễ tôn phong đã hoàn tất, Rinpoche
đứng trên Pháp tòa, cười và tụng Bài Cầu nguyện Bảy Dòng và vài câu kệ từ Zheng
Shik Pema, trước sự kinh ngạc của mọi người.
Sau đó ngài viếng thăm chùa của các vị Hộ Pháp, và từ quyển sách khổng lồ
gồm những bài cầu nguyện các Hộ Pháp, ngài rút ra một bài cầu nguyện ngắn các
vị Hộ Pháp do Do Dodrupchen đệ nhất biên soạn và đưa nó cho thân phụ của ngài.
Ngài không thể nhận ra các chữ nhưng tụng thuộc lòng bài nguyện, quên mất một
dòng. Mặc dù có một dòng bị quên nhưng ý nghĩa vẫn đầy đủ.
Theo đề nghị của Khenpo Könme, các thị giả của ngài thường cho ngài kẹo và
đặt những câu hỏi, và để đáp lại ngài thuật lại cho họ về những linh kiến và hồi ức
của ngài trong những đời trước. Ví dụ như:
Hỏi: Ngài từ đâu tới?
Đáp: Từ Zangdok Palri (Núi Huy hoàng Màu Đồng Đỏ).
Hỏi: Zangdok Palri ra sao?
Đáp: [Chắp đôi bàn tay nhỏ xíu của ngài trong hình dạng một trái tim/ngọn
núi] Nó giống thế này.
Hỏi: Ai sống ở đó? 262
Đáp: Guru Rinpoche.
Hỏi: Còn ai khác ở đó”
Đáp: Chenrezik (Đức Quán Thế Âm) ở đó.
Hỏi: Ngài biết Sin-gyal Raksha Thötreng không?
Đáp: Biết.
Hỏi: Trông ông ta ra sao?
Đáp: Nhiều miệng, nhiều mắt, nhiều màu sắc. [Ngài cười.]
Một lần khác những câu hỏi và câu trả lời diễn ra như sau: “Trụ xứ của ngài ở
đâu?” Ngài chỉ về phía rừng trong đó có ẩn thất trong đời trước của ngài và nói: “Ở
đó.” Cố đùa bỡn ngài, họ nói: “Ngoài cây cối ra chẳng có gì ở đó.” Ngài trả lời:
“Không! Không! Nhà tôi ở đó!”
Thỉnh thoảng Rinpoche làm những torma bằng tsampa trong những cái tô của họ
và khi ném chúng đi, họ nói: “Cầu mong các chướng ngại bị tống xuất.” Người ta có
thể nhìn thấy những tia sáng xuất hiện từ các torma.
Một đêm ngài sắp đi ngủ nhưng bắt đầu tụng những bài kệ vô danh bắt đầu
bằng: “Con không bao giờ xa lìa sự giác ngộ.”305 Thị giả của ngài cố gắng ghi lại
một số trong những điều ngài nhớ lại. Đó là một bài kệ bảy dòng với ý nghĩa triết
học và thiền định sâu xa. Sau này, Kyala Khenpo soạn một bình giảng về những
câu kệ đó, giải thích chúng theo ba cách, theo Mahāyoga, Anuyoga, và Atiyoga.
Hiện nay chúng ta đã thất lạc cả những câu kệ lẫn bình giảng của Khenpo.
Khenpo Könme đã phát biểu: “Từ bằng chứng của những dấu hiệu được phô
diễn trong thời thơ ấu, Rinpoche có thể hiển lộ như một bậc lão thông đầy năng lực
với những điều huyền diệu có thể so sánh được với Do Khyentse.” Tuy nhiên, sau
khi ngài lớn lên, ngoại trừ một vài trường hợp, ngài không phô diễn dấu hiệu nào về
sự thành tựu thần diệu. Thêm vào đó, khi những Lạt ma khác, trong đó có vị
Dodrupchen Rinpoche đệ tứ kia (Dodrupchen Rigdzin Tenpe Gyaltsen đệ Tứ), phô
diễn các điều huyền diệu hay ban các tiên tri, ngài nhắc đi nhắc lại với họ rằng:
“Trong thời đại này việc phô diễn điều huyền diệu không thích hợp. Nó có thể làm
hại tới cuộc đời, những hoạt động, hay Phật Pháp của ta. Nó có thể khiến cho
những ẩn mật của tantra (Mật điển) bị phân tán.”
Từ năm lên bốn, khi các ngài cùng được tôn phong, cho tới năm hai mươi tuổi,
hai vị Hóa thân của Dodrupchen đệ tam sống với nhau và cùng được dạy dỗ. Từ khi
lên năm, các ngài bắt đầu đọc các bản văn với các thầy trợ giáo Puchung Rang-rik
và Chökor Lotsül. Các tu sĩ nói chung, và đặc biệt là các tülku, được dạy dỗ đã tụng
đọc những bản văn thật nhanh, cho tới khi họ có thể tụng ngay khi vừa nhìn thấy
một bản văn không được chuẩn bị trước và nhanh như đã thuộc lòng. Các
Rinpoche đã hoàn tất việc tập tụng đọc của mình chưa đầy một năm, là một thành
tựu tuyệt vời.
Từ năm lên bảy (1933), các ngài bắt đầu nghiên cứu các bản văn Kinh điển. Vị
Thầy đầu tiên của các ngài là Lushül Khenpo, Könchok Drönme (Könme, 1859-
1936). Các ngài học Manjushrīstotra, Lá Thư cho một người Bạn của Nāgārjuna,
Bodhicharyāvatāra (Nhập Bồ Tát Hạnh), và sau đó Yönten Dzö, một bản văn về sự
trình bày đầy đủ Kinh điển và Mật điển của Jigme Lingpa. Nhưng khi các ngài đang
học Yönten Dzö nửa chừng thì Könme Khenpo mất sau một cơn bệnh ngắn ở tuổi
bảy mươi bảy, phô diễn nhiều dấu hiệu của sự thành tựu tâm linh cao cấp. 263
Năm mười một tuổi (1937), hai vị Rinpoche đi tới Tu viện Gekong ở Dzachukha,
ở đó các ngài nhận quán đảnh và sự phó chúc Nyingthig Yabzhi và Longchen
Nyingthig từ Khenpo Künzang Chötrak (Khenpo Künpal, 1872-1943), một đệ tử của
Paltrül Rinpoche và Dodrupchen đệ tam. Giao phó cho các ngài dòng truyền thừa,
Khenpo nói với các ngài: “Dòng truyền thừa của ta xác thực, ngắn, mạnh mẽ, và
được gia hộ; nó phi thường hơn những dòng truyền thừa khác. Nay ta đã trao
truyền tài sản của một người cha vào tay con trai.” Khenpo rất vui sướng và liên tục
khẩn cầu các Rinpoche truyền bá và giữ vững dòng truyền thừa vàng ròng
Longchen Nyingthig, không pha trộn nó với những dòng khác. Trong mùa đông năm
đó các Rinpoche trở về Tu viện Dodrupchen.
Năm mười bốn tuổi (1940), Rinpoche bị bệnh nặng. Ngài đi gặp Apang Tertön,
Ogyen Thrinle Lingpa (mất năm 1945), người đang ở tại Núi Drong-ri thiêng liêng.
Một hôm Apang Tertön ban cho ngài một tô chang, bia lên men, để uống. Nhưng
Rinpoche ngập ngừng. Bởi mặc dù không phải là một tu sĩ thọ giới, ngài không có
thói quen uống rượu, để trì giữ giới luật của truyền thống tu viện của ngài. Nhưng
sau đó ngài nghĩ: “Hẳn đây là một sự gia hộ của Lạt ma,” và ngài uống cạn tô chang
mà không lưỡng lự nữa. Kết quả là một sự tỉnh giác kỳ diệu xuất hiện, là điều không
thể diễn tả bằng lời hay nhận thức bằng tư tưởng. Ngài có thể trả lời tự nhiên bất kỳ
câu hỏi nào của Lạt ma, nhưng ngài không cần nỗ lực khi nói những điều siêu vượt
câu trả lời mà câu hỏi gợi ra. Sau này, khi ngài ra khỏi căn nhà và cảm nhận sự va
chạm của gió, điều đó mang lại một sự xác tín bẩm sinh rằng mọi sự xuất hiện hay
hiện hữu đều không thật như một giấc mơ, và một nỗi chán ngán sinh tử phát khởi
tự nhiên trong tâm ngài. Với sự xuất hiện của những cảm xúc không thể diễn tả
được này về sự an bình và chán ngán, một chứng ngộ tự nhiên về giác tánh bẩm
sinh đã phát khởi trong ngài.
Ngày hôm sau ngài tới gặp Lạt ma để trình bày những kinh nghiệm thiền định
của ngài. Nhiều năm sau này Rinpoche nói về cuộc gặp gỡ: “Ta cảm thấy rằng ta
đang nói chuyện với Lạt ma như một đứa trẻ sơ sinh.” Lạt ma xác nhận sự chứng
ngộ của ngài và ban cho ngài một tiên tri chi tiết về những sự kiện của đời ngài cho
tới năm ngài hai mươi lăm tuổi. Và Lạt ma cũng nhận ra Dodrupchen Rinpoche là
một trong những vị hộ trì giáo lý của các giáo lý terma do chính Lạt ma khám phá.
Lạt ma khuyên Rinpoche nhận giáo lý từ Yukhok Chatralwa, bởi Chatralwa là vị
Thầy định mệnh của Rinpoche.
Môt hôm trong khi Rinpoche đang nhập thất tại So-thok Gyalwe Wenne, thình
lình ngài nói với thị giả của ngài rằng ngài phải tới gặp Yukhok Chatralwa. Với một
thị giả và một con ngựa, ngài đi tới ẩn thất của Lạt ma, cách khoảng hai ngày
đường. Trên đường đi ngài gặp chị của ngài, nhưng bà không nhận ra ngài bởi bà
không nghĩ rằng ngài du hành đơn giản như thế. Khi ngài tới ẩn thất, Lạt ma đang bị
bệnh nặng. Lạt ma không dùng thực phẩm trong nhiều ngày và hầu như không thể
di chuyển. Rinpoche đã có một cuộc đàm luận bình thường với Lạt ma trong vài giờ,
vào lúc đó Lạt ma yêu cầu thị giả mang cho Lạt ma một ít thực phẩm. Trước sự
ngạc nhiên của họ Yukhok Chatralwa đã dùng thực phẩm và từ từ hoàn toàn bình
phục mà không có dấu vết nào của sự bệnh tật. Do bởi tuổi già, Chatralwa không
thể đứng dậy. Nhưng Lạt ma nói: “Người ta nói rằng ta là một đệ tử cũ của
Dodrupchen, vì thế đích thân ta phải dọn trà cho Rinpoche,” ngài cầm bình trà và rót
vào tách của Rinpoche. Mọi người cho rằng đây là dấu hiệu cho thấy Yukhok 264
Chatralwa chấp nhận niềm tin của đại chúng nơi nhân thân của ngài là tülku của
Dola Jigme Kalzang, một đệ tử chính yếu của Dodrupchen đệ nhất.
Mùa xuân năm Dodrupchen mười lăm tuổi (1941), Rinpoche ban toàn bộ quán
đảnh và Lung của Longchen Nyingthig cho khoảng một ngàn tăng và ni tại Tu viện
Dodrupchen.
Từ năm lên mười cho tới mười tám tuổi, Rinpoche thực hiện hầu hết những việc
nghiên cứu thông tuệ của ngài tại Tu viện Dodrupchen. Các vị Thầy của ngài gồm
có Chökor Khenpo Kün-ga Lodrö, Kyala Khenpo Chöchok, Shorwak Khenpo Sherap
Trakpa, Kephan Khenpo Thuksung, và Garwa Tülku Dorchok. Việc học tập của ngài
bao gồm các bản văn Kinh điển về việc tu tập chuẩn bị tâm thức (Blo sByong),
Madhyamaka (Trung Đạo), Abhidharma (A tỳ đàm), và Vinaya (Luật); và các bản
văn Mật điển chẳng hạn như Guhyagarbha-tantra, các Sādhana của Ba Gốc và
Vajrakīla của Longchen Nyingthig, một vài quyển trong Bảy Kho tàng của Longchen
Rabjam, và Yeshe Lama.
Ngài được dạy hát tụng, âm nhạc, và những cử chỉ huyền bí (mudrā, ấn), chuẩn
bị các mạn đà la và torma, và v.v.. – mọi trách nhiệm của một vajra acharya (Đại
Đạo sư). Ngoài thực hành ngöndro, ngài đã hoàn tất việc tu tập nhập thất trì tụng
Rigdzin Düpa, Yumka Dechen Gyalmo, Palchen Düpa, Vajrakīla, và Guhyagarbhatantra.
Trong mùa xuân năm ngài mười chín tuổi (1945), phù hợp với tiên tri của Apang
Tertön, hai vị Dodrupchen Rinpoche đi hành hương miền Trung Tây Tạng với một
đoàn hàng trăm người. Ngoài ra, theo chỉ dẫn của Apang Tertön, họ giữ bí mật nhân
thân, ngoại trừ tại Tu viện Mindroling và Ni viện Tsering Jong. Ở mọi nơi khác,
người ta nói rằng thủ quỹ của Dodrupchen đang du hành tới những thánh địa để
cúng dường nhân danh hai vị Rinpoche. Họ đã viếng thăm nhiều địa điểm hành
hương và tu viện, trong đó có Radreng, Lhasa; ba đại tu viện Drepung, Sera, và
Ganden; Kangri Thökar; Drak Yangdzong; Dorje Trak; Mindroling; Samye; Tsering
Jong; và thánh địa Yarlung.
Rinpoche đã thực hiện một khóa nhập thất thực hành sādhana của Yumka
Dechen Gyalmo (Nữ Hoàng Đại Lạc) trong phòng của Jigme Lingpa tại Ni viện
Tsering Jong. Trong khóa nhập thất đó ngài đã liên tục kinh nghiệm trong những
thời gian dài sự tận diệt của mọi tư tưởng tầm thường và sự rộng khắp của một
trạng thái chói ngời tối thượng (Don Gyi Od gSal) thoát khỏi sự khái niệm hóa. Tại
Kodrzö Ling, chùa của các vị Hộ Pháp của Tu viện Samye, vị vấn linh đi vào trạng
thái xuất thần một cách tự nhiên và bị Hộ Pháp Tsiu Marpo nhập vào. Ông ta chạy
tới Rinpoche và tỏ lòng tôn kính, cúng dường ngài cái “móc” trong tay ông ta, là
pháp khí dùng trong nghi lễ. Cuối cùng, mùa thu năm ngài hai mươi tuổi, vào ngày
hai mươi lăm tháng chín năm Hỏa Tuất (1946), các ngài trở về Dodrupchen.
Chẳng bao lâu sau khi ngài đi hành hương về, Tülku Jigme Phuntsok, vị lãnh
đạo việc hành chánh của Tu viện Dodrupchen, được hỗ trợ bởi hầu hết các tu sĩ và
cư sĩ, đã khẩn cầu Rinpoche đảm nhận việc hành chánh của tu viện cùng những tu
viện nhánh và các khu vực thuộc tu viện (Lha sDe), mặc dù nhiều người, chẳng hạn
như vị Thầy của tôi là Kyala Khenpo hết sức e dè và nói: “Rinpoche không nên gánh
vác các trách nhiệm thuộc về hành chánh, như vị tiền nhiệm của ngài đã không bao
giờ làm, bởi công việc đó làm ngài xao lãng việc tu học và giải quyết những nhu cầu
tâm linh của mọi người.” Trong khi Dodrupchen đệ tam còn hiện diện, Tu viện 265
Dodrupchen đã trở thành một trong những tổ chức tu học phát triển nhất ở miền
Đông Tây Tạng, nhưng sau khi Könme Khenpo mất, tu viện nhanh chóng suy tàn và
xuống đến tận cùng trong lịch sử của nó khi Rinpoche được thúc giục kế tục công
việc đó. Rinpoche đã nhận lãnh trách nhiệm. Từ lúc đó cho tới năm ba mươi tuổi,
khi ngài bị bắt buộc phải trốn thoát, Rinpoche đã hoàn thành cả hai trách nhiệm lãnh
đạo tâm linh và hành chánh của tu viện.
Khoảng năm Rinpoche hai mươi hai tuổi, ngài viếng thăm Tu viện Joro, trong
lãnh địa Trokyab thuộc Tỉnh Gyarong. Các tu sĩ của tu viện đã làm một cây giáo có
treo bức tranh của Hộ Pháp Tsiu Marpo. Họ khẩn cầu Rinpoche gia hộ và đưa ra
cho mọi người thấy một dấu hiệu là lá cờ bị Hộ Pháp thâm nhập. Rinpoche từ chối
yêu cầu của họ. Nhưng dân chúng ở Gyarong nổi tiếng về sự kiên trì, và khi buổi lễ
của vị bảo trợ đang diễn ra, một nhà sư mang lá cờ vào và đứng trước mặt
Rinpoche ở giữa khoảng năm mươi tu sĩ. Rinpoche, rõ ràng là bị bực mình bởi sự
kiên trì của họ, đã ném vào lá cờ một nắm hạt, và rồi thì cây giáo rung lắc dữ dội.
Kéo người cầm cờ đi và nhiễu quanh ngôi chùa một lần, lá cờ rút lên gác và đi vào
phòng thờ của các vị bảo trợ.
Năm hai mươi bốn tuổi, ngài đi tới gặp Yukhok Chatralwa, người được tin là một
hiển lộ của Vimalamitra, để nhận giáo lý. Vị Lạt ma dạy ngài toàn bộ thực hành
Trekchö và Thögal của Dzopa Chenpo, “giống như rót đầy một cái bình từ một bình
khác.” Lạt ma là một học giả vĩ đại, nhưng ngài đã ngừng ban giáo lý hay những
giảng dạy bản văn cho đại chúng. Ngài chỉ truyền riêng các giáo huấn cho các đệ
tử, phù hợp với căn cơ, nhu cầu, và kinh nghiệm của mỗi người. Loại giảng dạy này
được gọi là Nyamtri hay Nyongtri, những giáo huấn tùy theo kinh nghiệm tiến bộ của
thiền giả. Yukhok Chatralwa có khả năng thấu suốt tâm của người khác. Khi mọi
người đến thăm ngài, họ sợ tâm họ xuất hiện những tư tưởng xấu.
Rinpoche xây dựng một quần thể shedra (Học viện Kinh điển) với một ngôi chùa
và một chỗ ở cho các khenpo, bao bọc chung quanh là phòng cho các đệ tử. Khi tôi
đang tu học trong shedra, có hai mươi lăm học viên thường xuyên và khoảng số đó
các học viên dự thính. Tất cả những học viên thường xuyên được học bổng của các
quỹ tu viện do Rinpoche cung cấp. Các khóa học chính tại shedra là Pramana (luận
lý), Prajnāpāramitā (Bát nhã ba la mật, trí tuệ siêu việt), Madhyamaka (triết học
Trung đạo), Abhidharma (Triết học và siêu hình học Phật giáo), và Vinaya (các giới
luật tu sĩ và cư sĩ) của kinh điển và Yizhin Dzö, Yonten Dzö, và Guhyagarbha-tantra
của Mật điển. Tuy nhiên, các giáo lý về các sādhana ba gốc, và v.v.. và giáo lý
Dzopa Chenpo không được ban một cách dễ dàng, mà trong một môi trường hẻo
lánh cho những học viên cao cấp được tuyển chọn.
Mùa xuân năm ngài hai mươi lăm tuổi (1951), Rinpoche đi tới Tỉnh Dege để
nhận những trao truyền theo dòng truyền thừa. Từ Khyentse Chökyi Lodrö (1893-
1959) của Tu viện Dzongsar, Rinpoche nhận những quán đảnh (dBang) và những
trao truyền văn bản (Lung) của Semde Adön Chogye, Longde Dorje Zampa, Mengagde, mười ba phần của Kama, Düpa Do, Gongpa Zangthal, Trölthik, Longchen
Nyingthig, và Sungbum của Khyentse Wangpo cũng như những quán đảnh
Kālachakra, Guhyasamāja, Chakrasamvara, Hevajra, và Vajrabhairava. Từ Kongtrül
Pema Tri-me Lodrö (1901-1959?) của Tu viện Zhechen, Rinpoche nhận những quán
đảnh và trao truyền văn bản của giáo khóa Changter (Kho tàng phương Bắc) của
Rigdzin Gödem, mười ba quyển sách của giáo khóa Minling, ba truyền thống chính

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Thiền-Định (t t.5)

Trong số nhiều hóa thân của Dodrupchen có Jigme Phüntsok Jungne,
Dodrupchen Đệ Nhị (1824-1863), và Se Sherap Mebar (1829-1843),231 một nam tử
của Do Khyentse. 136
13
JIGME GYALWE NYUKU
1765-1843
JIGME Gyalwe Nyuku232 là một thiền giả, Bồ Tát, và bậc lão thông vĩ đại. Ngài là
một trong hai Đạo sư lãnh trách nhiệm truyền bá Longchen Nyingthig trên khắp xứ
Tây Tạng, đặc biệt là miền Đông Tây Tạng. Khi còn trẻ ngài được gọi là Pema
Kunzang và sau này được gọi là Jigme Gyalwe Nyuku, Nam tử Vô Úy của Đấng
Chiến Thắng (Phật).
Gyalwe Nyuku sinh năm Mộc Dậu thuộc Rabjung thứ mười ba (1765) trong
nhóm du cư Getse trong Thung lũng Dzachukha. Thân phụ ngài là Ogyen Tashi
thuộc bộ tộc Mange của dòng Dong, và thân mẫu là Tashi Kyi thuộc bộ tộc Awö.
Dzachukha là thung lũng gần nguồn của Sông Dza (Nyak Ch’u/Yalung). Gyalwe
Nyuku là con thứ hai trong chín người con. Từ thời thơ ấu ngài đã không bao giờ
quan tâm tới những vui thú thế tục. Vào mùa xuân, mỗi khi ngài nhìn thấy những
đám mây mưa lơ lửng trên bầu trời và nghe tiếng sấm nhẹ nhàng, ngài kinh nghiệm
một sự thôi thúc mãnh liệt giục giã ngài đi tới một nơi cô tịch trên đỉnh một ngọn núi
cao và hiến mình cho việc thiền định Phật Pháp. Mọi người trong gia đình ngài đều
muốn ngài trở thành một gia trưởng tài giỏi, ngoại trừ mẹ ngài, người rất mộ đạo và
cố gắng giúp đỡ ngài thực hiện những ước nguyện về Pháp.
Năm mười hai tuổi, ngài có cơ hội tập đọc. Năm mười bốn tuổi ngài đi hành
hương tới Lhasa, Samye, và nhiều nơi khác và trở về bình an.
Năm mười lăm tuổi ngài nhận những giáo huấn Đại Viên mãn và Tsasum
Sangwa Nyingthig từ Getse Lama Rigdzin Gyatso (?-1816?).233 Lạt ma bảo ngài:
“Để hoàn thiện việc thiền định của ông về bản tánh của tâm điều duy nhất ông cần
làm chỉ là duy trì những gì ông đã chứng ngộ.” Ngài có những linh kiến phi thường
và có thể tiên tri nhiều việc sẽ xảy ra sau này.
Năm mười sáu tuổi ngài bị bắt buộc phải đi theo anh của ngài trong những
chuyến đi buôn. Trong những cuộc du hành này ngài bị tràn ngập bởi một nỗi khiếp
sợ mãnh liệt vì việc nói dối và chửi rủa của những người thế tục. 137
Năm mười bảy tuổi ngài đưa thân mẫu đi hành hương Lhasa với vài người bạn.
Trong khi họ ở miền Trung Tây Tạng, ngài và một người bạn cố chạy trốn để thực
hành Pháp, nhưng những người bạn đã bắt họ lại và đưa họ về Kham.
Năm mười tám tuổi, ngài thực hiện một khóa nhập thất thiền định một trăm
ngày. Năm mười chín tuổi, anh ngài mất. Hơn hẳn bất kỳ sự kiện đơn độc nào
khác, điều này đã chuyển hóa tâm ngài hướng về Pháp một cách kiên định, nhưng
Lobsang Chökyong, thủ lãnh của nhóm bộ tộc Getse, và những người thân của ngài
bắt đầu thúc ép ngài kết hôn và chăm sóc gia đình. Tuy nhiên ngài không nhượng
bộ chút nào khi quyết định từ bỏ cuộc đời của một gia chủ.
Bởi nếu ở lại Kham ngài không thể nào hiến mình cho một cuộc đời tu tập Pháp
nên cùng một người bạn tên là Rigdzin, một thiền giả tu tập Pháp thuộc nhóm bộ
tộc Barchung, ngài đã chạy trốn tới miền Trung Tây Tạng. Ngài đã chuẩn bị mang
theo một nén bạc để chi dụng. Du hành qua Chabdo, Drikung, Gaden, Yamalung,
và Samye, họ tới Lhasa. Gyalwe Nyuku không chỉ được phú bẩm trí tuệ tâm linh mà
còn rất thông tuệ và thực tiễn. Anh bạn Rigdzin của ngài rất đáng tin cậy và tâm linh
nhưng không thực tế và không có nhiều khả năng ngay cả việc kiếm củi để làm
nhiên liệu trong núi non. Ở Lhasa một tên trộm trong y phục tu sĩ biết rằng họ muốn
đổi nén bạc để lấy tiền. Một hôm khi Gyalwe Nyuku đi khỏi, tên trộm lại gặp Rigdzin
và tỏ ý muốn đổi nén bạc thành đồng xu theo giá mà họ muốn. Rigdzin đưa nén bạc
và tên trộm biến mất. Như thế, ngoại trừ một vài vật được tặng, họ không còn gì để
sống. Thay vì quở trách bạn, Gyalwe Nyuku an ủi anh ta và nói: “Chúng ta mất nén
bạc bởi ta không có công đức để sở hữu và sử dụng nó.”
Sau khi đi qua Drak Yangdzong, họ tới Samye. Ở đó họ gặp Dodrupchen đệ
nhất, là người mà Rigdzin đã biết ở Kham. Dodrupchen khuyên họ:
Các con là những thanh niên thuộc những gia đình giàu có.. Các con nên thiền
định tại Chimphu cùng với ta, bởi ta sắp đi tới đó, nhưng trước khi thiền định
các con phải nhận những giáo huấn đúng đắn. Có một Lạt ma thấu suốt mọi
sự mà không có chút chướng ngại nào, và ngài cũng ban giáo lý phù hợp với
nhu cầu của đệ tử mà không lệ thuộc vào việc họ có những vật cúng dường
hay không. Ngài là Khyentse Rinpoche [Jigme Lingpa], Đạo sư của ta. Ta sẽ
gởi các con tới ngài với một lá thư. Hãy vui vẻ.
Theo lời khuyên của Dodrupchen, họ tới Tsering Jong và gặp Jigme Lingpa.
Gyalwe Nyuku viết rằng khi họ nhìn thấy Jigme Lingpa, trong một lát mọi cảm nhận
về cuộc đời này tan biến và ngài kinh nghiệm sự hỉ lạc như thể ngài đã đạt được
con đường của sự nội quán. Sau đó trong mười lăm ngày họ nhận quán dảnh
Rigdzin Düpa, khẩu truyền Yönten Dzö, và những giáo huấn chi tiết về thiền định
Đại Viên mãn phù hợp với sự thuần thục của tâm họ (sMin Khrid).
Sau đó họ trở lại gặp Dodrupchen ở Samye. Sau một chuyến hành hương ngắn,
họ tới Tsang để thăm Gomchen Kuzhap, Rigdzin Pema She-nyen lừng danh. Trên
đường, mặc dù không biết bơi, họ đặt Rigdzin ở giữa Dodrupchen và Gyalwe
Nyuku và vượt Sông Kyichu. Sau này Gyalwe Nyuku nghĩ rằng họ thành công chỉ
nhờ sự gia hộ của Tam Bảo. Ở Tsang họ nhận nhiều sự trao truyền Changter
(những Kho tàng Phương Bắc) từ Pema She-nyen và những trao truyền Chö từ
Drupchen Thupten Tendzin. 138
Sau đó Dodrupchen dự tính đi Lhasa một mình để gặp bạn của ngài và trở về
Kham. Gyalwe Nyuku nài nỉ xin được đi cùng ngài đến tận Lhasa. Trên đường đi
Dodrupchen ngã bệnh trầm trọng, nhưng ngài chấp nhận bệnh tật của ngài với sự
hoan hỉ lớn lao, và điều này khiến Gyalwe vô cùng cảm kích.
Từ Lhasa, Gyalwe Nyuku tới Tu viện Dorje Trak để gặp Pema She-nyen khi đó
đang ban những trao truyền Rigdzin Chenmo. Sau đó họ trở về Tsang. Sau khi
hoàn tất một khóa nhập thất hai năm chín tháng, Gyalwe và Rigdzin trở về Lhasa.
Tại Trak Yerpa, Gyalwe Nyuku gặp một Lạt ma với bộ quần áo rách rưới, đắp
vá. Chỉ nhìn thấy Lạt ma không thôi đã đủ phát sinh trong lòng ngài một niềm tin
mãnh liệt, như thể ngài nhìn thấy Guru Rinpoche bằng xương bằng thịt. Lạt ma ban
cho ngài những giải thích làm sáng tỏ việc thiền định của ngài và tiên tri rằng trong
giai đoạn đầu đời Gyalwe Nyuku không an trụ ở một nơi nhưng về sau ngài sẽ
không muốn rời một thung lũng nhìn về hướng đông nam, và ở đó ngài sẽ thành
tựu những mục đích đối với bản thân ngài và những người khác.
Gyalwe Nyuku tới Tsering Jong và nhận nhiều sự trao truyền và giáo huấn từ
Jigme Lingpa. Theo lời khuyên của Jigme Lingpa, sau khi nhận quán đảnh Yumka
ngài thực hiện hành trình gian khổ tới ngọn núi thiêng Tsāri. Trên đường đi ngài
thiền định tại nhiều thánh địa trong một tuần hay hơn. Bởi ngài đã tặng đôi giày cho
một người hành khất trước đó đã lâu, khi gần tới Tsāri ngài phải đi chân trần, ngay
cả trong tuyết. Bàn chân ngài trở nên tê cứng và biến dạng, đến nỗi khi một vài
đứa trẻ nhìn thấy vết chân của ngài trên đường họ trở về, đã sợ rằng đó là dấu
chân của một con quái vật. Trong những hoàn cảnh gian khổ như thế, ngài mất
nhiều ngày để đi nhiễu quanh Núi Tsāri. Ở một nơi, hy sinh sự an toàn của riêng
mình, ngài cứu mạng một số người bị chôn dưới tuyết trên đường họ đi nhiễu. Thay
vì hết sức đau đớn hay lo buồn, ngài liên tục kinh nghiệm mọi sự xuất hiện như Báo
Thân, những thân tướng Phật bằng ánh sáng và tia sáng, sự xuất hiện tự nhiên
không có những ý niệm nhị nguyên.
Trong chín tháng ngài ẩn cư nghiêm nhặt để thiền định tại Tsāri. Vào lúc bắt đầu
ngài dùng một ít tsampa ba lần mỗi ngày với một loại súp làm bằng vỏ một loại cây.
Sau một thời gian, ngài dùng tsampa mỗi ngày một lần. Sau đó tsampa đã cạn kiệt,
và ngài đun sôi những torma cũ, bánh cúng khô mà ngài đã dâng cúng trước đó và
uống chất súp của nó mỗi ngày một lần. Khi những món đó cũng hết, ngài không
còn gì để ăn. Sau một thời gian, thậm chí ngài có thể nhìn thấy ánh nắng qua
những khớp xương của ngài. Ngài đun sôi một ít cây tầm ma và uống chất nước,
nhưng nó làm cổ họng ngài bị tổn thương. Sau đó ngài tìm thấy một cái xương
hông cũ của một con cừu. Ngài nấu sôi nó và uống súp, điều đó mang lại một chút
êm dịu cho cơ thể ngài.
Sau khi hoàn tất khóa nhập thất chín tháng, ngài sẵn sàng ra đi. Nương tựa vào
sự hỗ trợ của một chiếc gậy chống bằng cách nắm chặt nó bằng cả hai bàn tay,
ngài bắt đầu rời hang. Ngài cảm nhận trong mỗi bước đi là ngài sắp mất ý thức và
ngã xuống. Ngài không thể đứng thẳng thân mình, bởi ngài cảm thấy ruột của ngài
dính chặt vào xương sống. Cổ ngài rất dài, và những khớp xương ở cổ và xương
sống của ngài dễ đếm. Việc uống một ly nước sẽ giúp ngài đi thêm vài bước nhưng
sau đó nước khiến cho ngài vô cùng phiền hà khi đi tiểu. Sau khi đi theo cách này
trong bốn ngày, cuối cùng ngài gặp vài người cho ngài thực phẩm, và từ từ ngài bắt
đầu phục hồi sức khỏe mà không có biến chứng nào. 139
Sau khi du hành nhiều ngày, ngài tới được chỗ ở của Jigme Lingpa và nhận một
gia hộ ngắn gọn. Sau đó ngài đi tới ẩn thất Ogyen Ling để nhập thất trong sáu
tháng, trong thời gian đó ngài có nhiều kinh nghiệm và linh kiến. Một hôm ngài ra
ngoài nắng, nhìn lên bầu trời về phía vị Thầy của ngài ở, và một nỗi nhớ vô hạn về
bổn sư Jigme Lingpa và những vị Thầy khác phát khởi trong tâm ngài. Ngài cầu
nguyên các Thầy với lòng sùng mộ mãnh liệt. Ngài kinh nghiệm một sự nhàm chán
sinh tử mạnh mẽ hơn cảm xúc mà ngài từng có trước đây. Ngài khóc trong nhiều
thời khóa thực hành. Sau đó, nghĩ rằng kinh nghiệm này có lẽ là một chướng ngại,
ngài đã suy niệm về bản tánh tối thượng. Trong một lát, ngài như thể mất ý thức.
Khi ngài tỉnh dậy, ngài nhận ra rằng không có gì để thấy hay thiền định, bởi tất cả
những nhận thức về việc thực hành thiền định đã biến mất. Trước đó ngài đã có
một điểm quy chiếu vi tế về cái thấy (kiến) và thiền định, nhưng bây giờ mọi sự đã
trôi qua.234
Sau đó Gyalwe Nyuku nhận một thông điệp từ Dodrupchen yêu cầu ngài tới gặp
Dodrupchen ở Tsering Jong, nơi vị Thầy này vừa trở lại. Gyalwe vội vã đi Tsering
Jong và gặp Jigme Lingpa lẫn Dodrupchen. Ngài dâng một bản mô tả chi tiết về
kinh nghiệm thiền định của ngài, trong đó ngài có cảm tưởng là không có thiền giả
thấu suốt việc thiền định. Jigme Lingpa hài lòng và nói:
Điều đó đúng! Sự chứng ngộ [bản tánh tối thượng] phải đến bằng một trong
bốn cách khác nhau. Một vài thiền giả sùng mộ, tinh tấn, bi mẫn, và khôn
ngoan chứng ngộ nó khi họ nhận “sự ban tặng trí tuệ” trong một lễ quán đảnh.
Một số chứng ngộ nó khi họ nhận “sự đạt được những thành tựu,” khi họ đã
hoàn tất việc thiền định và trì tụng một sādhana của Bổn Tôn. Một số chứng
ngộ nó nhờ sự trao truyền chứng ngộ của Lạt ma cho họ bằng cách phát triển
một niềm tin mãnh liệt nơi Lạt ma, bằng cách nhìn Lạt ma như một vị Phật
thực sự. Một số chứng ngộ nó khi họ thành công trong việc làm an dịu những
náo động quấy nhiễu phát khởi do ảnh hưởng của những thế lực tiêu cực ở
những nơi linh thiêng hay bị ma ám chẳng hạn như các nghĩa địa. Bây giờ con
đã chứng ngộ bản tánh tối thượng nhờ sự gia hộ của Lạt ma lẫn sự thành tựu
Bổn Tôn. Vì thế từ nay trở đi, như Đức Tampa [Sangye] Rinpoche nói:
Khi ta ngủ một mình trong sự ẩn nấp,
Ta an trụ trong giác tánh nội tại trần trụi.
Khi ta ở giữa nhiều người,
Ta nhìn [gương mặt] của mọi sự xuất hiện.235
Hãy để Niết bàn được đạt tới trong trạng thái nguyên sơ, không đánh bẫy
giác tánh nguyên sơ chứng ngộ, là sự hợp nhất của sự khoáng đạt và quang
minh xuất hiện từ trạng thái nguyên sơ của nó, trong mạng lưới của sự tạo tác
những đặc tính.
Vào lúc đó, Jigme Lingpa đang trải qua một vấn đề về mắt, và Gyalwe Nyuku
được phái đi tìm một thầy thuốc. Vị Thầy thuốc tiến hành thành công một ca mổ mắt
cho Jigme Lingpa.
Trước sự nài nỉ của Dodrupchen, Gyalwe Nyuku đồng ý trở về Kham với ngài.
Thân mẫu của Gyalwe Nyuku đau yếu nhưng biểu lộ sự hạnh phúc về việc Gyalwe 140
Nyuku hiến mình cho Pháp. Bà nói: “Nếu con có thể thành công trong việc thực
hành Pháp thì không cần phải lo lắng về ta.” Sau khi được Dodrupchen cho phép,
Gyalwe Nyuku thực hiện một khóa nhập thất trì tụng tại Barchung Latrang. Đó là
năm 1793.
Kế đó Gyalwe Nyuku đi tới trại của Dodrupchen tại Mamö Do ở Dzachukha,
nhưng Dodrupchen đã đi tới Cung điện Dege. Ngài thực hiện một khóa nhập thất
một trăm ngày trong một hang động gần trại và có nhiều kinh nghiệm tâm linh và
linh kiến. Sau khóa nhập thất, khi ngài gặp Dodrupchen từ Cung điện Dege trở về,
Dodrupchen nói: “Trong một giấc mơ ta thấy mình trên một ngọn núi cao dẫn theo
một bày thú nhỏ, và kế đó ta thấy ông ở dưới thấp, đang đưa lên nhiều con thú. Vì
thế ông sẽ làm lợi lạc nhiều chúng sinh hơn ta.”
Gyalwe Nyuku phụng sự Dodrupchen một thời gian khi vị Thầy này đang giảng
dạy ở gần Dzachukha. Sau đó Dodrupchen đi Amdo và Mông Cổ để đi Ngũ Đài
Sơn, và ngài phái Gyalwe và người cháu là Jigme Changchup tới Tu viện
Dzogchen.
Gyalwe Nyuku nhập thất ở Tsering Phuk, gần Tu viện Dzogchen, nơi có lần
Dodrupchen đã thực hiện khóa nhập thất của riêng ngài. Chẳng bao lâu sau khóa
nhập thất, ngài du hành tới miền Trung Tây Tạng để gặp Jigme Lingpa một lần nữa.
Tại Tsering Jong, ngài kinh nghiệm sự hoan hỉ lớn lao khi một lần nữa gặp Đức
toàn trí Jigme Lingpa, lúc đó vị Thầy này không còn những bệnh về mắt nữa. Ngài
cũng gặp Gyalse, con nhỏ của Jigme Lingpa. Ngài nhận những giáo lý sâu xa trong
hai tháng rưỡi. Jigme Lingpa nói với ngài: “Trước đây, ta không biết là ông rất thông
tuệ.. Nếu ông ở lại với ta trong ba năm, ta sẽ làm cho ông trở thành một người đặc
biệt.” Gyalwe Nyuku thẳng thắn trình bày rằng ngài phải trở về quê hương vì những
bổn phận với các bạn hữu của ngài. Jigme Lingpa trả lời:
Điều đó tốt. Sự đáng tin cậy là phẩm tính của một bằng hữu siêu việt. Thực ra,
để thực hành Pháp chân thực, không cần biết quá nhiều thứ. Thông tin không
nhất thiết mang lại lợi lạc cho tâm. Một thái độ tốt lành làm lợi ích tâm. Tuy
nhiên, ông có đủ trí tuệ trong việc học tập, phân tích, và thiền định để độc lập.
Không cần phải lệ thuộc vào những cấu trúc tu viện. Ông phải nỗ lực thiền
định trong những hang động hay những túp lều, nơi sẽ không xuất hiện những
hoàn cảnh tiêu cực. Nếu người ta đến gặp ông để xin giáo lý, hãy chỉ dạy họ
với sự xác quyết. Bởi thái độ của ông tuyệt vời như vàng ròng, ông sẽ giúp ích
cho chúng sinh.
Sau đó Gyalwe Nyuku trở về Kham. Ngài thực hiện một khóa nhập thất nhiều
năm gần Tu viện Dzogchen và một khóa nhập thất ba năm tại Getse ở Dzachukha.
Năm 1799, ngài đi tới Shukchen Tago để giúp Dodrupchen xây gompa mới của
ngài. Cùng với Dodrupchen ngài tới thăm Vua Tsewang Lhündrup (?-1825) xứ
Tsakho tại Cung điện Phüntsok, tới vua xứ Choktse, và tới nhiều nơi khác trong
Thung lũng Dzika để giúp Dodrupchen giảng dạy và gây quỹ xây dựng gompa.
Sau này Gyalwe Nyuku đích thân viếng thăm Cung điện Phüntsok. Nhà vua
thỉnh cầu ngài ở lại làm vị trụ trì Chupho Gompa hay Namgyal Teng Gompa nhưng
ngài từ chối. 141
Gaylwe Nyuku muốn đi Nakshö Sinmo Dzong để ở lại đó, nhưng trước sự nài nỉ
của Dodrupchen, ngài đã hứa không đi tới những nơi xa quá năm hay sáu ngày
đường.
Tại Lhalung Khuk ngài tham dự lễ tôn phong của Do Khyentse và nhìn thấy
Dodrupchen. Được cảm hứng bởi Gyalwe Nyuku, nhiếp chính hoàng hậu xứ Dege
muốn ngài an trụ ở Cung điện Dege, nhưng nhờ sự can thiệp khéo léo của
Dodrupchen ngài có thể tránh được mệnh lệnh này.
Năm 1804, ở tuổi bốn mươi, Gyalwe Nyuku định cư tại Trama Lung, Thung lũng
Những Cành Khô, ở Dzachukha. Sau một thời gian, ngài nhận một thông điệp từ
Dodrupchen rằng nhiếp chính hoàng hậu xứ Dege muốn ngài tới Cung điện Dege.
Ngài viết thư cầu cứu Dodrupchen, Dodrupchen thành công trong việc xin nhiếp
chính hoàng hậu miễn cho Gyalwe Nyuku thi hành lệnh này. Là một đối tượng của
nhiếp chính hoàng hậu, Gyalwe Nyuku phải khéo léo.
Tại Trama Lung, cùng vài ẩn sĩ, Gyalwe Nyuku sống trong sự thiền định và
giảng dạy hơn hai mươi năm,236 và ngài được gọi là Dza Trama Lama, theo tên của
địa phương. Trong thời gian đó, ngài không hoàn toàn ẩn dật như nhiều người nhập
thất thường làm, mà giảng dạy và ban các quán đảnh tại Trama Lung và những nơi
lân cận cho các thiền giả, tu sĩ, và cư sĩ.
Năm 1812 ngài có nhiều kinh nghiệm, chẳng hạn như chuyển hóa toàn bộ các
hiện tượng thành một quả cầu ánh sáng xanh dương và sau đó tan hòa nó vào bản
thân ngài, khi đó thân ngài tan thành một hiện tượng xuất hiện nhưng không thể
nhận thức được, và sau đó cùng trở lại là thân ngài. Ngài nhận những quán đảnh từ
Đại Thành tựu giả Kathok Getse khi vị Thầy này viếng thăm ẩn thất của ngài.
Năm 1814 tại Norbu Ri Gompa ngài ban các giáo lý cho Do Khyentse, hóa thân
của vị Thầy của ngài, và nhiều người khác. Do Khyentse nguyện tụng thần chú của
Đức Avalokiteshvara một trăm triệu lần.
Năm 1815 Do Khyentse đang đi qua Dzachukha trong chuyến viếng thăm miền
Trung Tây Tạng lần thứ hai và là lần cuối cùng của ngài, và Gyalwe Nyuku đi tiễn
ngài. Sau đó Gyalwe Nyuku đi tới Tu viện Gyarong để nhận một quán đảnh trường
thọ từ Đạo sư Namkha Tsewang Chokdrup (1744-?). Ngài cũng được Jigme
Kalzang, nhiếp chính của Dodrupchen, viếng thăm và nhận các quán đảnh từ ngài.
Vào khoảng thời gian này, một trong hai vị Thầy của ngài ở Kham là Getse Lama
Rigdzin Gyatso qua đời.
Năm 1816, Gyalwe Nyuku đi đón Do Khyentse trở về sau cuộc viếng thăm miền
Trung Tây Tạng. Ngài gặp Do Khyentse và Dzogchen Rinpoche và nhận các quán
đảnh từ hai vị Thầy này.
Năm 1817/18, sau khi nhận một thông điệp từ Dodrupchen mời ngài tới gặp,
ngài và khoảng mười tu sĩ đi tới Yarlung Pemakö trong Thung lũng Ser. Cha và con
(hay các huynh đệ) trong Pháp đã có một cuộc sum họp vui vẻ. Gyalwe và những
người đồng hành của ngài nhận tất cả những giáo lý và quán đảnh mà họ mong
ước. Đáp lại khẩn cầu của Gyalwe Nyuku, Do Khyentse đưa ra một tiên tri với mô tả
chi tiết về một địa điểm mà Gyalwe Nyuku nên đặt trụ xứ chính của ngài. Tiên tri
nói:
Ở phía Tây của Dagyal [Dzagyal] Lhünpo năm ngọn, một địa điểm cô tịch,
Có một nơi giống như một đóa hoa nở. 142
Ngọn núi phía sau như một đại thiền giả đang suy niệm.
Ngọn núi trước mặt giống như một cái bình được đưa lên.
Ngọn núi bên phải như một cuộn vải mở ra trong không trung..
Nước đổ xuống ca hát những nguyên âm và phụ âm.
Xứ sở nhiều màu sắc với cây cối và hoa lá.
Hãy sắp xếp để sống ở nơi chốn tuyệt vời đó.
Ngay khi Gyalwe Nyuku trở về Dzachukha, ngài di chuyển tới Gyagö Photrang,
địa điểm được phú tặng những tính chất được Dodrupchen tiên tri. Ngài ở đó hơn
mười năm.
Một đêm, Gyalwe Nyuku có một giấc mơ về những Bổn Tôn an bình và phẫn nộ
trong không trung, và một dākinī nói với ngài rằng đây là lúc ngài ra đi. Sau đó bốn
dākinī trang điểm tuyệt đẹp bằng bốn màu khác nhau nâng ngài và dākinī thứ nhất
lên không trung trên một cuộn lụa mở ra. Nhưng vào lúc đó ngài nhìn thấy
Dodrupchen từ bầu trời đi xuống, bảo các dākinī đưa ngài trở lại, bởi bây giờ không
phải là lúc ngài ra đi, vì thế họ đưa ngài trở về. Sau đó chư Phật tan biến vào ngài,
và ngài thức dậy khỏi giấc ngủ. Ngay cả khi ngài thức giấc vào ban ngày, ngài vẫn
có những kinh nghiệm khác nhau. Chẳng hạn như ngài nhìn thấy mọi hình tướng
biến thành những Bổn Tôn hòa bình và phẫn nộ; họ tan biến vào ngài; thân ngài nổ
tung thành một hiện tượng xuất hiện nhưng không thể nhận thức được; hay đôi khi
mọi sự trở nên hoàn toàn trống không.
Một đêm, trong một giấc mơ, ngài được một dākinī dẫn tới một nơi thật lạ lùng.
Trong đó ngài ngồi giữa Jigme Lingpa và Dodrupchen. Ngài sung sướng tới nỗi
ngài khẩn cầu các ngài cho ngài ở lại, nhưng các ngài nói: “Không, ông chỉ là một
người khách. Bây giờ không phải lúc ông tới. Chớ ngã lòng bởi con người của thời
đại tăm tối, hãy duy trì hai giới nguyện Bồ đề tâm của ông. Hãy làm tràn đầy cuộc
đời của ông bằng những hoạt động của bánh xe Pháp (Pháp luân). Không có gì
ngăn cách giữa chúng ta và ông.”
Năm 1820, tại Tu viện Dzogchen, ngài nhận nhiều quán đảnh từ Dzogchen đệ
tứ. Ngài cũng ban giáo lý cho Dzogchen Rinpoche và những người khác.
Vào ngày mười bảy tháng tám năm Kim Tỵ (1821), Do Khyentse, khi đó đang
viếng thăm một khu khác của Dzachukha, bảo với các môn đồ của ngài rằng ngài
đã nhận được một tiên tri nói rằng ngài sẽ lìa bỏ thấn xác vào ngày hai mươi lăm
cũng trong tháng đó. Chỉ có một người thuộc về gia đình Hoa sen (Liên hoa bộ) và
được gọi là Pema, có thể ngăn cản điều đó. Do Khyentse nói rằng người đó là
Gyalwe Nyuku. Chẳng bao lâu Gyalwe Nyuku nghe được những lời đó, ngài đi cả
đêm để gặp Do Khyentse đang khỏe mạnh. Với khoảng năm mươi tu sĩ, ngài bắt
đầu tổ chức một buổi lễ. Vào ngày hai mươi bốn, Do Khyentse thình lình ngã bệnh.
Gyalwe Nyuku cử hành lễ Sündok của Yumka Dechen Gyalmo suốt đêm. Do
Khyentse đang hấp hối và mọi người kêu khóc. Với lòng sùng mộ mãnh liệt, thiền
định sâu xa, và những lời cầu nguyện dũng cảm nhất Gyalwe Nyuku đã làm hết khả
năng của ngài, và cuối cùng những dấu hiệu của việc quét sạch các chướng ngại
đã xuất hiện trong các nghi lễ, và ngay lập tức Do Khyentse biểu lộ những dấu hiệu
của sự hồi sinh. 143
Năm 1821 Gyalwe Nyuku tham dự tang lễ của Pönlop đệ tam (1806-1821?) tại
Dzogchen và tẩy trừ những chướng ngại cho cuộc đời của Dzogchen Rinpoche đệ
tứ và ban cho vị Thầy này các giáo lý.
Năm 1830, ngài dời trụ xứ của ngài từ Gyagö Photrang tới Dzagyal Dünlung.
Gyagö Photrang là một nơi rất tốt cho ngài, một địa điểm kiết tường mà ngài và các
đệ tử của ngài đã đạt được những thành tựu vĩ đại, nhưng hiện nay, do một sự thay
đổi khí hậu, mặt đất trở nên ẩm ướt và không tốt cho sức khỏe nếu sống ở đó lâu
dài.
Năm 1833 Gyalse Zhenphen Thaye tới nhận thêm giáo lý từ ngài. Năm 1834
Gyalwe Nyuku ban những trao truyền Longchen Nyingthig cho Dodrupchen đệ nhị
(1824-1863/64) và gia lực cho vị Thầy này là vajracharya (Kim cương sư) siêu việt.
Ngài kết thúc tự truyện của ngài năm bảy mươi tư tuổi (1838).
Năm bảy mươi chín tuổi, vào ngày hai mươi lăm tháng giêng năm Thủy Mão,
ngài thị tịch. Trong một linh kiến, Dzogchen Rinpoche đệ tứ đã nhận được di chúc
của Gyalwe Nyuku.237 Di cốt của ngài được giữ gìn tại Tu viện Dzagya ở
Dzachukha.
Theo lời khuyên của Jigme Lingpa, Gyalwe Nyuku đã hiến dâng toàn bộ phần
cuối đời ngài cho việc giảng dạy bất kỳ ai tới nghe ngài nói, ban những quán đảnh
hay những giáo huấn thiền định cho tất cả những ai sùng mộ và chân thành trong
việc thiền định. Chẳng hạn như, Paltrül Rinpoche đã nhận những giáo lý về
Ngöndro Longchen Nyingthig hai mươi lăm lần từ ngài. Paltrül đã ghi lại những lời
dạy của Gyalwe Nyuku về Ngöndro trong tác phẩm Künzang La-me Zhalung238 (Lời
Vàng của Thầy tôi).
Tülku (tái sinh) của ngài là Künzang Dechen Dorje, người đã được Dzogchen
Rinpoche đệ tứ xác nhận. 144
14
DOLA JIGME KALZANG
THẾ KỶ MƯỜI CHÍN
DOLA Jigme Kalzang239 là một thiền giả, học giả, và Bồ Tát vĩ đại. Ngài đã truyền
bá truyền thống Longchen Nyingthig tại Kham và Amdo. Ngài cũng được gọi là
Chökyi Lodrö và Zhönu Yeshe Dorje.
Có một lần, trong một hang động gần Sông Ma (Hoàng Hà), ngài bắt đầu một
khóa nhập thất ba năm ở nơi hoàn toàn hẻo lánh để chuẩn bị thực hành sādhana
Vajrakīla. Ngay đêm đầu tiên của khóa nhập thất, một khách hành hương trú ẩn ở
cửa hang của Jigme Kalzang. Sử dụng một cái trống tay và một cái chuông, khách
hành hương hát tụng Khandrö Kegyang, một nghi lễ Chö. Trong hang động, Jigme
Kalzang nghe bài hát và cảm động bởi ý nghĩa sâu xa và kết cấu tuyệt đẹp của nó
đến nỗi ngài không thể cưỡng lại được việc ra ngoài ẩn thất vào buổi sáng để gặp
người khách hành hương. Ngài hỏi ai là người đã sáng tác nghi lễ Chö và biết được
rằng Jigme Lingpa đã khám phá nghi lễ đó như một terma nhưng Jigme Lingpa đã
mất. Jigme Kalzang hỏi có đệ tử chính yếu nào của Jigme Lingpa còn sống không.
Khách hành hương trả lời rằng đệ tử lớn nhất của Jigme Lingpa là Dodrupchen
Rinpoche hiện sống và giảng dạy tại Golok. Bởi Dodrupchen là tên của vị Thầy định
mệnh của ngài nên vừa nghe đến tên Dodrupchen, Jigme Thrinle Özer, Jigme
Kalzang phát khởi lòng sùng mộ bất biến và lập tức ra đi để gặp Thầy.
Từ Dodrupchen ngài nhận những giáo lý nói chung và đặc biệt là những trao
truyền Longchen Nyingthig. Ngài trở thành một trong những vị hộ trì dòng truyền
thừa chính yếu của Longchen Nyingthig.
Jigme Kalzang đã xác nhận Paltrül Rinpoche là tülku của Palge Lama của Tu
viện Dzogchen, và sau này Dodrupchen đệ nhất phê chuẩn điều đó. Trong những
năm cuối đời của Dodrupchen, ngài ban những trao truyền quán đảnh và giáo huấn,
và Jigme Kalzang ban sự trì tụng Kinh điển (Lung) nhân danh Dodrupchen. Ngoài
ra, khi Dodrupchen không rời ẩn thất, Jigme Kalzang là Lạt ma thay mặt 145
Dodrupchen đi truyền bá Longchen Nyingthig và nhiều sự trao truyền Nyingma khác
của dòng Dodrupchen ở Dege và Amdo.
Jigme Kalzang đã truyền các tantra (Mật điển) Nyingma và giáo lý Nyingthig cho
nhiều Lạt ma quan trọng của các tu viện Kathok, Dzogchen, và Zhechen, và trong
phần cuối đời ngài, ngài đã truyền bá giáo lý ở Amdo và trong những người Mông
Cổ ở miền Thanh Hồ.
Jigme Gyalwe Nyuku viết rằng năm 1815/16, “Đức Lạt ma Jigme Kalzang, nhiếp
chính tối thượng của Đức Dodrupchen cha và Đạo sư của việc nghiên cứu và thành
tựu, đã tới Dzachukha để phụng sự Pháp. Tôi đã mời ngài tới ẩn thất của tôi và
nhận những quán đảnh.”240 Một lần nữa, ngài viết rằng năm 1820, “với nhiều vật
cúng dường tôi đi đón Jigme Kalzang, Đạo sư của sự nghiên cứu và thành tựu, bởi
ngài đã đến [Dzachukha] trong chuyến viếng thăm Trung quốc của ngài.”241
Vào lúc cuối đời, khi ngài đang đi bộ một mình trên một con đường trong một thị
trấn ở Trung quốc, ngài nhìn thấy một tên cướp sắp bị tử hình bằng cách thiêu sống
trên một con ngựa bằng đồng đỏ được đốt nóng bằng lửa ở bên trong. Tên cướp
gào thét cầu cứu. Cảm thấy vô cùng bi mẫn, Dola Jigme Kalzang bảo những người
cầm quyền rằng tù nhân không có tội và chính ngài mới thực sự là tên cướp. Khi
các đệ tử tìm thấy ngài thì đã quá muộn. Ngài đã bị tử hình thay cho tên cướp. Như
thế ngài đã chấm dứt cuộc đời mình khi phô diễn thực hành đích thực của một Bồ
Tát bằng cách hiến tặng đời mình để chuộc lấy cuộc đời của một người vô danh
đau khổ trong một con phố xa lạ.
Trong số những hóa thân của ngài có Yukhok Chatralwa Chöying Rangtröl trong
Thung lũng Ser và Kalzang Dorje của Tu viện Sanglung trong Thung lũng Dzika. 146
15
DZOGCHEN MINGYUR NAMKHE DORJE ĐỆ TỨ
(1793 – ?)
Dzogchen Rinpoche đệ tứ Mingyur Namkhe Dorje242 (Jigme Khyentse Wangchuk) là
một trong những bậc lão thông phi thường và kỳ dị, bậc đã sở hữu sự thấu thị và
không có sự phân biệt giữa cái tốt và cái xấu.
Ngài sinh năm 1793 trong Thung lũng Dan. Thân phụ ngài là Sönam Rapten,
một thủ lãnh xứ Rakho, và thân mẫu là Namkhadzin Wangmo. Trong những câu kệ
tiên tri Jigme Lingpa đã xác định nơi Dzogchen Rinpoche đệ tứ sẽ được tìm ra, và
chính Dzogchen Rinpoche đệ tam cũng chỉ ra nơi ngài sẽ sinh ra. Từ thời thơ ấu,
trong khi đánh một cái trống ngài đã đọc thần chú Guru Rinpoche và lập lại từ
Dzogchen.
Năm lên bảy tuổi, ngài biểu lộ những hồi ức về đời quá khứ của ngài trước
nhiều đại Lạt ma, và giữa niềm hân hoan to lớn ngài được các tu sĩ của Tu viện
Dzogchen và Cung điện Dege trang trọng đưa về và tôn phong tại Tu viện
Dzogchen. Namkha Tsewang Choktrup ở Tu viện Gyarong cử hành lễ thế phát (cắt
tóc) và ban cho ngài Pháp danh Jigme Khyentse Wangchuk. Ngài nhận nhiều sự
trao truyền từ Nyima Trakpa Mingyur Phende đệ tam. Đặc biệt là ngài nhận những
trao truyền Khandro Nyingthig, Sangwa Nyingthig, và Dorsem Nyingthig từ Namkha
Tsewang Choktrup, và ngài đã thành tựu những tu tập khác nhau.
Từ năm mười hai tuổi, trong bảy năm, mỗi năm ngài nhập thất nghiêm nhặt ít
nhất sáu tháng. Ngài đã nhận những giáo lý và trao truyền từ Namkha Tsewang
Choktrup, Dodrupchen đệ nhất, Cheyö Rigdzin Chenmo, Zhechen Rabjam đệ tam,
Zhechen Gyaltsap đệ nhất, Khenchen Rigdzin Zangpo, Gyalwe Nyuku, Jigme
Ngotsar, và Gyalse Zhenphen Thaye.
Năm hai mươi tuổi, Dzogchen Rinpoche tới gặp Dodrupchen một lần nữa tại
Yarlung Pemakö. Với Do Khyentse, Dzogchen Pönlop, và khoảng sáu mươi người 147
khác, ngài đã nhận nhiều sự trao truyền, trong đó có Nyinthig Yabzhi, Gyü Chudun,
Damchö Dechen Lamchok, và Nyen-gyü Dorje Zampa.
Một hôm Dodrupchen ban một tách sọ người đầy bia chang cho Dzogchen
Rinpoche. Là một tu sĩ, trước đó ngài không bao giờ nếm rượu, nhưng ngài đã
uống tách bia bởi đó là một gia hộ của Lạt ma. Nhờ uống nó, sự chứng ngộ của
Dodrupchen được di chuyển sang Dzogchen Rinpoche một cách tự nhiên, và ngài
đã đạt được trạng thái Chönyi Zepa, sự tan hòa những tri giác về các hiện tượng
tương đối thành bản tánh tuyệt đối. Về sau Dzogchen Rinpoche trở thành một bậc
lão thông nổi tiếng nhất, bậc thấu suốt mọi sự và không có sự phân biệt. Ngài
không trông chờ điều tốt hay sợ hãi điều xấu. Có một câu tục ngữ nói rằng: “Ảnh
hưởng bởi rượu của những người khác qua đi, nhưng ảnh hưởng do rượu của
Dodrupchen thì không bao giờ mất.”
Vào lúc bắt đầu, những người nắm giữ trọng trách của Tu viện Dzogchen khó
chịu với Dodrupchen trong việc biến đổi Dzogchen Rinpoche thành một người mất
mọi thiện xảo về ngoại giao và hành chánh, là những điều được coi là các phẩm
tính quan trọng cho việc lãnh đạo một đại tu viện với nhiều nhánh phụ. Nhưng về
sau này, khi nhận ra tính chất vĩ đại của trí tuệ và năng lực tâm linh của Dzogchen
Rinpoche, tất cả các ngài trở nên hết sức biết ơn.
Năm hai mươi hai tuổi, ngài đi hành hương tới miền Trung Tây Tạng. Ngài gặp
Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ chín, là anh em họ với ngài. Ngài đi tới tất cả những thánh
địa quan trọng, thực hiện những lễ cúng dường và thiền định. Ngài nhận những
giáo lý và trao truyền từ Longchen Rölpatsal, Terchen Dawe Özer, Khardo Chökyi
Dorje, Chakla Thukse của tu viện Dorje Trak, Trichen Pema Wangyal của tu viện
Mindroling, và Chakzam Choktul. Ngài được Nhiếp chính Temo Lobzang Thupten
Gyaltsen ban giới cụ túc.
Ngài luôn luôn ban giáo lý và những trao truyền cho bất kỳ ai tới khẩn cầu ngài.
Đôi khi ngài giảng những bản văn khó hiểu nhất thật rõ ràng chi tiết. Nhưng vào
những lúc khác ngài giảng ngay cả những bản văn dễ hiểu theo cách không dính
dáng gì tới thật nghĩa. Đôi khi trong các buổi lễ, sau khi ngài bắt đầu đánh trống tay,
người nào đó phải nắm tay ngài và lấy cái trống tay đi, nếu không ngài sẽ không
ngừng lại, bởi ngài đã vượt lên sự phân biệt tầm thường.
Một hôm ngài được mời tới một buổi lễ lớn trong một thung lũng khác. Ngài
đang ngồi trên một ngai tòa cao, và những loại thực phẩm tuyệt hảo được dọn ra.
Thình lình ngài nói: “Ta không ăn.” Thị giả của ngài van nài và nói: “Xin ngài dùng
món gì đó, nếu không hội chúng của chúng ta không vui.” Sau bữa ăn, ngài nói:
“Bây giờ ta sắp chết.” Mọi người kinh hoảng và hỏi: “Tại sao?’ Ngài nói: “Thức ăn bị
tẩm thuốc độc, ta không ăn, nhưng ông yêu cầu ta ăn. Bây giờ ta sắp chết.” Mọi
người khẩn cầu ngài làm việc gì đó để tránh điều này, bởi ngài có năng lực. Khi đó
ngài nói: “Ta sẽ trục nó ra nhé?” Mọi người van xin: “Vâng, xin ngài!” Rồi ngay trên
ngai tòa ngài trục thực phẩm ra, và ngài qua khỏi mà thậm chí không bị bệnh.
Cứ ba năm một lần trong nhiều năm, ngài đi tới Cung điện Dege để giảng dạy và
chủ tọa một buổi lễ quan trọng. Sau đó năm năm mươi tuổi (1842), khi rời tu viện để
đi Dege, ngài bị trượt chân ở ngưỡng cửa và ngài thốt ra một thành ngữ địa
phương điển hình biểu lộ sự cáu giận: “Cầu mong ta không bao giờ đặt chân lên mi
nữa.” Và sau đó ngài nói thêm: “Ồ, phải, dù sao chăng nữa ta sẽ không cần phải
làm như vậy!” Rồi tại Dege, đêm trước ngày bắt đầu buổi lễ kéo dài bảy ngày, ngài 148
vẫn nói trong giấc ngủ, nhưng mọi người chỉ nghe được một câu: “Gönla [người cử
hành lễ Hộ Pháp] đã bay đi.” Qua ngày hôm sau ngài nói: “Ta phải trở về. Sự hiện
diện của ta có lợi cho Dege và Tu viện Dzogchen cần ta.” Ngài không nói gì thêm,
và thị giả của ngài khẩn cầu ngài ở lại; bởi đây là một buổi lễ quan trọng đối với
Cung điện Dege và vương quốc. Sau đó ít ngày họ được tin là Tu viện Dzogchen
hầu như hoàn toàn bị tiêu hủy bởi một trận động đất trong đó có nhiều người chết.
Gönla, người mà ngài đã nói đến, bị ném một quãng xa và sống sót với một cái
chân gãy.
Sau đó với sự trợ giúp rộng rãi của Dege và những nhà bảo trợ khác, và đặc
biệt là dưới sự hướng dẫn của Gyalse Zhenphen Thaye và những Lạt ma khác,
ngài xây dựng lại tu viện, làm cho nó còn rộng lớn hơn trước.
Kế đó dưới sự hướng dẫn của Dzogchen Rinpoche và sự giám sát của
Zhenphen Thaye, Shrīsimha, một tu học viện Kinh điển, được thiết lập. Sau này nó
trở thành tổ chức kiểu mẫu cho việc nghiên cứu và tu tập trong phái Nyingma.
Khi Gönpo Namgyal (?-1865), thủ lãnh độc ác của Nyak-rong, chiếm giữ Tu viện
Dzogchen, Ponlop chỉ thị Dzogchen Rinpoche nói rằng vị thủ lãnh vĩ đại biết bao, Tu
viện Dzogchen nghèo khổ như thế nào, và v.v.. Khi vị thủ lãnh tới gặp Dzogchen
Rinpoche, ngài lập lại mọi điều như ngài được truyền đạt. Sau đó ngài nói thêm:
“Đó là những gì ngài Pönlop chỉ thị cho tôi nói với ông,” và sau đó ngài nói cho ông
ta những chi tiết thật sự của Tu viện Dzogchen. Vị thủ lãnh hỏi: “Tôi sẽ tái sinh ở
đâu?” Ngài nói: “Trong địa ngục.” Thay vì bị xúc phạm hay sung công tài sản của tu
viện, vị thủ lãnh ra đi với một vật cúng dường là thỏi bạc cho Dzogchen Rinpoche
với lời khẩn cầu: “Xin chăm sóc tôi khi tôi chết.”
Tuy nhiên, khi không đúng lúc để tiết lộ các sự việc, ngài có thể che dấu chúng.
Một buổi sáng ngài nói: “Đêm qua có người lấy trộm chóp vàng của ngọn phướn
trong sảnh đường.” Mọi người đổ xô đi kiểm tra và thấy đúng là như vậy. Họ khẩn
cầu ngài cho biết ai đã làm điều đó. Ngài nói: “Ta biết hắn. Trong khi tên trộm leo
xuống với cái chóp vàng, anh ta gần như ngã xuống, và cầu nguyện ta: ‘Ôi Mingyur
Namkhye Dorje.’ Ta đã cứu anh ta. Tuy nhiên ta không nói cho các ông, bởi nếu ta
nói, các ông sẽ phạt anh ta.”
Tôi không có nguồn thông tin nào về thời gian ngài mất và mất ra sao. 149
16
DO KHYENTSE YESHE DORJE
1800 – 1866
DO KHYENTSE Yeshe Dorje243 là hóa thân về tâm của Jigme Lingpa. Ngài đã biểu
lộ năng lực tâm giác ngộ của ngài trong hình thức thần diệu phi thường, và về mặt
này ngài là Đạo sư vĩ đại nhất của truyền thống Phật giáo Mật thừa Tây Tạng trong
nhiều thế kỷ qua.
Mẹ ngài mang thai ngài với một người cha không sống trong cõi người. Ngài
sinh ra với những dấu hiệu kỳ diệu. Ngay từ thời thơ ấu, ngài đã bắt đầu nói và biểu
lộ năng lực, nhận những gia hộ và giáo lý từ chư Phật và các Đạo sư trong những
linh kiến thanh tịnh, khám phá nhiều đồ vật và giáo lý ẩn dấu như terma, đánh thức
sự chứng ngộ trong nhiều đệ tử, truyền bá Giáo Pháp bí truyền không hề mệt mỏi,
và dẫn dắt nhiều chúng sinh trong cõi người và phi-nhân đến với Giáo Pháp. Ngài
được bảo vệ và trông nom bởi sự hiện diện của các phi-nhân, thân ngài biến mất
trong nhiều ngày để viếng thăm các cõi Tịnh độ, tâm ngài du hành tới các cõi Tịnh
độ, làm hồi sinh nhiều người chết hay bị giết, và để lại những dấu vết của thân ngài
trên nhiều tảng đá như thể ở trên bùn.
Do (mDo) Khyentse cũng được gọi là Yeshe Dorje, Rigdzin Jalü Dorje, và
Trakthung Lekyi Pawo. Ngài được sinh ra trong (và thuộc về) một bộ tộc Golok,
nhưng ngài đã sống hầu hết phần cuối cuộc đời ở gần Tartsedo (Dar rTse mDo,
ngày nay gọi là Kanding), vì thế ngài được gọi là Khyentse xứ Do (mDo). Khyentse
có nghĩa là “Bậc có Trí tuệ và lòng Bi mẫn, là một trong những danh hiệu của Jigme
Lingpa, hóa thân trước đây của Do Khyentse.
Trong một chuyến du hành, khi cha mẹ ngài ở Lhasa, tại lăng mộ Machik Pallha, hai người đàn bà dẫn mẹ ngài đi qua một bức tường mà bà nhận thức như một
cái cửa, và bà đi vào một cung điện lộng lẫy và tuyệt đẹp. Sau khi kinh nghiệm một
sự thân mật với một người trẻ trung quý phái ở cung điện, bà được hai người đàn 150
bà đó đưa trở ra và thấy mình ở cùng lăng mộ đó. Chồng bà và những người khác
đã tìm kiếm bà trong ba ngày. Người thanh niên đó tên là Nyenchen Thanglha (sự
hiện diện thiêng liêng tại rặng núi Thanglha của Tây Tạng), một trong những vị bảo
hộ đất đai quan trọng nhất của Tây Tạng.
Chẳng mấy chốc, mẹ của Do Khyentse trở thành một người trung gian, và tất cả
những người trong gia đình không ngừng chứng kiến những hiện tượng ánh sáng,
linh kiến, tiếng nói, và các thông điệp. Cha mẹ và bạn hữu của Do Khyentse vui
thích nhưng hoảng sợ và bối rối. Họ trông chờ sự gia hộ của một hóa thân Phật và
sợ bị ám chướng bởi một thế lực quỷ ma ác hại.
Do Khyentse ra đời vào ngày mười lăm tháng mười năm Kim Thân thuộc
Rabjung thứ mười ba (1800) tại Kongser Khado trong Thung lũng Ma, một cánh
đồng rộng lớn và đẹp là nơi Sông Machu (Sông Hwang hay Hoàng Hà) chảy qua.
Cha nuôi của ngài là Sönam Phen của nhóm bộ tộc Chökor thuộc bộ tộc Golok
Akyong, và mẹ ngài là Tsewang Men thuộc bộ tộc Dawa.
Ngay sau khi ngài sinh ra vào buổi sáng một ngày trăng tròn, Do Khyentse ngồi
trong tư thế thiền định và chạm tay vào những tia nắng mặt trời đi vào lều, ngài hát
những mẫu tự chữ Phạn.
Ba ngày sau khi sinh, ngài biến mất khỏi lòng mẹ, nhưng vào ngày thứ ba ngài
xuất hiện trở lại ngồi trên đầu gối mẹ. Trong thời gian đó, như ngài viết sau này, một
người đàn bà có màu đỏ mang ngài tới một cõi tịnh độ. Trong một cung điện như
pha lê, nhiều Lạt ma và dākinī tẩy tịnh cho ngài bằng nước tinh khiết lấy từ một cái
bình pha lê. Họ ban cho ngài những gia hộ và lời tiên tri. Sau đó, ngài luôn luôn
nhìn thấy ở quanh ngài những tia sáng và những vòng ánh sáng với hình ảnh của
chư Phật trong đó. Ngài luôn luôn có cảm tưởng rằng có hai đứa trẻ cùng nô đùa
với ngài.
Một hôm, nhờ bàn tay trợ giúp của những đứa trẻ vô hình, ngài đứng dậy nhìn
lên bầu trời và nhìn thấy Zangdok Palri, cõi tịnh độ của Guru Rinpoche. Trong cõi
tịnh độ Guru Rinpoche và tập hội các Trì minh vương và dākinī đang thọ dụng một
lễ cúng dường tiệc (Tshogs). Nhìn thấy cảnh tượng này, tâm ngài tràn đầy lòng
sùng mộ và mắt ngài đẫm lệ. Vào lúc đó mẹ ngài nhìn thấy ngài và kêu to: “Em bé
đứng!” Âm thanh đó làm ngài thức dậy khỏi kinh nghiệm và ngã xuống đất. Sau lần
đó ngài giống một đứa trẻ bình thường hơn một chút.
Mỗi khi cha mẹ du mục của ngài đi đây đó tới những địa điểm cắm trại, ngài nhìn
thấy hình tướng kỳ lạ của những chúng sinh tiễn ngài đi với vẻ buồn rầu và những
người khác đón chào ngài tới những địa điểm mới của họ với vẻ hết sức vui mừng
và hoan hỉ. Ngài luôn luôn được các Hộ Pháp bảo vệ, họ lau rửa, cho ngài ăn và gia
hộ cho ngài.
Một hôm ngài nhìn thấy một yogī (hành giả) Mật thừa nói ông ta là Nyang Nyima
Özer (1124-1192) và bảo ngài đi tìm Lạt ma Sönam Chöden, là Sangye Lingpa
(1340–1396) trở lại thế giới con người. Sau đó, ngài bắt đầu yêu cầu cha mẹ ngài
đưa tới Lạt ma Sönam Chöden, nói rằng nếu không thì ngài sẽ chết, nhưng không
ai biết vị Lạt ma đó.
Dodrupchen đệ nhất đang viếng thăm một nơi gần đó, và thân phụ của Do
Khyentse thuật lại những câu chuyện của đứa con trai của ông cho vị Thầy này
nghe và hỏi: “Ngài có biết Lạt ma Sönam Chöden là ai không?” Dodrupchen nhìn
chăm chú lên bầu trời một lát rồi chắp tay nơi tim trong cử chỉ sùng mộ, ngài nói: 151
“Có, ta biết ngài rất rõ. Ngài là một Pháp lữ (bạn đạo) của ta. Dù thế nào chăng
nữa, ta sẽ tới thăm con trai ông.”
Khi tới nơi, Dodrupchen hỏi đứa trẻ: “Con biết ta không?” Do Khyentse, chỉ mới
hơn một tuổi, cậu nói: “Biết, ngài là Sönam Chöden. Con biết ngài. Ngài đã rời bỏ
con?” Dodrupchen bế đứa bé lên và mắt đẫm lệ, ngài nói: “Đúng, con nói đúng. Ta
có thể hiểu được vì sao con lại cảm nhận theo cách đó. Nhưng trước đây ta không
tìm ra con. Bây giờ ta sẽ chăm sóc con.” Sau này Do Khyentse viết rằng ngài đã
nhìn thấy Dodrupchen trong thân tướng của Đức Guru Rinpoche. Dodrupchen tụng
những lời cầu nguyện cần thiết và gia hộ cho đứa trẻ, và nói với cha mẹ cậu bé:
“Sönam Chöden là tên của ta, nhưng ngoại trừ một Lạt ma, không ai biết tên đó.
Bây giờ tất cả quý vị nên đến chỗ của ta; nếu không con trai quý vị có thể không
sống được.”
Theo tiểu sử của Jigme Lingpa,244 vào lúc Dodrupchen từ trụ xứ của Jigme
Lingpa ra đi, Dodrupchen khẩn cầu Jigme Lingpa tái sinh trong xứ của Dodrupchen
để họ có thể tụ hội với nhau. Vì thế đó là một bắt buộc mà Dodrupchen phải hoàn
thành; vả lại, Do Khyentse là tái sinh của vị Thầy của Dodrupchen.
Vì thế cha mẹ của Do Khyentse, đi ngược lại với những lý lẽ của thân quyến vô
thần, đã mang ngài tới Shukchen Tago Gompa của Dodrupchen. Do Khyentse cứ
nhìn thấy Dodrupchen trong những hình tướng khác nhau giữa những loại hiện thể
và những điều huyền nhiệm, và chỉ sau này ngài mới nhận ra rằng đây không phải
là những tri giác bình thường. Về sau, Do Khyentse, chị ngài, và cha mẹ ngài đi
theo Dodrupchen khi vị Thầy này du hành tới Tu viện Dzogchen và Cung điện
Dege.
Chị ngài, Dākinī Losal Dölma (1802-1861), là Đức Tārā trong thân tướng con
người, một Đạo sư vĩ đại và một bậc lão thông. Từ thời thơ ấu cho tới khi chết, bà
đã hiến dâng đời mình cho Do Khyentse như đệ tử, bằng hữu và người dẫn dắt
thân thiết của ngài.
Trong khi ngài đang ở gần Tu viện Dzogchen, một người bạn nói với ngài: “Đó là
con đường đi tới Lhasa.” Câu nói đó đánh thức trong ngài một cảm xúc vô cùng
buồn bã, và sau đó những hồi ức về Tsering Jong và Chimphu lóe lên trong tâm
ngài. Vào ban đêm, ngài mơ thấy vị bảo trợ của Samye Chimphu, một người đàn
ông mặc y phục trắng cưỡi một con ngựa trắng, ông ta khẩn cầu ngài trở về ẩn thất
của ngài cùng với vợ, con trai và các đệ tử của ngài ở miền Trung Tây Tạng.
Từ Dodrupchen, cùng với Zhechen Rabjam đệ tam, Kathok Situ đệ nhất, và
khoảng một trăm người, ngài nhận những trao truyền văn bản và các quán đảnh
Nyingthig Yabzhi, Dzödün, Longchen Nyingthig, và những tác phẩm của Jigme
Lingpa.
Mặc dù Dodrupchen đã xác nhận ngài là hóa thân của Jigme Lingpa nhưng điều
này được giữ bí mật, bởi phải có sự phê chuẩn chính thức của miền Trung Tây
Tạng, từ trụ xứ và gia đình của Jigme Lingpa thì mới đúng cách.
Sau đó tin tức về việc Sakya Kongma Wangdüd Nyingpo và các tülku Drikung
phê chuẩn xác nhận Do Khyentse là tülku (tái sinh) của Jigme Lingpa đến với
những người đã đưa ngài tới Drikung. Sakya Kongma là một đệ tử của Jigme
Lingpa, và hai vị lãnh đạo của Drikung là các con trai của Jigme Lingpa và Kongnyön, đệ tử chính yếu của ngài. Sau đó, trước sự hiện diện của Dodrupchen, nhiếp
chính hoàng hậu, và thái tử xứ Dege, với những người đại diện của các tu viện 152
Kathok, Dzogchen, Zhechen, và Drikung, Do Khyentse vượt qua những kiểm tra
chính thức nhờ nhận ra được các pháp khí thuộc về Jigme Lingpa. Mọi người tràn
ngập niềm vui và lòng kính ngưỡng. Sau đó ở Lhalung Khuk ở Dege, một lễ tôn
phong trang nghiêm được cử hành dưới sự bảo trợ của Cung điện Dege và các tu
viện.
Cung điện Dege thực hiện mọi chuẩn bị cần thiết cho chuyến du hành dài tới
miền Trung Tây Tạng của ngài. Vào lúc khởi hành, Do Khyentse buồn vì phải rời
Dodrupchen đến nỗi trái tim ngài như thể bị chẻ ra, và hai bàn tay nhỏ bé của ngài
cứ níu chặt lấy Dodrupchen. Jigme Changchup, một người cháu của Dodrupchen,
phải dùng sức mạnh để gỡ ngài ra.
Do Khyentse, cha mẹ và chị ngài tới nơi cùng với một tiệc liên hoan lớn tại
Yang-ri Gar ở Drikung sau một chuyến du hành kéo dài nhiều tháng. Ngài được đón
tiếp bởi hai vị lãnh đạo của dòng Drikung là Zhaptrung Tendzin Pema Gyaltsen
(1770-1826), nam tử của Kong-nyön, và Gyalse Nyinche Özer (hay Chökyi
Gyaltsen, 1793-?), nam tử của Jigme Lingpa. Ở đó ngài được tôn phong trong một
buổi lễ trang trọng. Sau đó ngài lập Photrang Dzongsar ở Drikung làm trụ xứ chính
của ngài. Từ Tsering Jong, Gyalyum Drolkar và Özer Thaye, vị phối ngẫu và cháu
của Jigme Lingpa, đến thăm ngài. Sau một thời gian, cha mẹ và chị ngài đi Golok.
Trong khi ngài tập đọc, ngài có thể nhớ được một trang mỗi ngày, đó là điều tốt
đẹp. Nhưng ngài có thể lập lại tất cả những giáo lý khẩu truyền do một học giả ban
cho, điều này thật hiếm có. Vị học giả nói: “Do Khyentse sẽ trở thành một người
uyên bác về ý nghĩa hơn là trong ngôn từ.” Trước hết, Changchup, một người cháu
của Dodrupchen, lưu lại làm Thầy trợ giáo của ngài và sau đó Dodrupchen gởi
Nyima Gyaltsen tới giúp Changchup.
Ngài nhận nhiều truyền dạy từ Zhaptrung, Gyalse, và Gyaltsap của tu viện
Tsurphu và kinh nghiệm nhiều linh kiến.
Năm 1810, khi ghé qua Samye, Chimphu, Densathil, Zang-ri Kharmar, và
Yarlung, ngài viếng thăm Tsering Jong, và ngài trở về Drikung Dzongsar qua Palri,
Sheltrak, và Yama Lung. Ngài viết: “Trong động Sheltrak, từ trái tim của pho tượng
“Trông Giống Ta” của Guru Rinpoche, một tia sáng xuất hiện và chạm vào trái tim
tôi. Tôi cảm thấy kinh nghiệm kéo dài một lát trong giác tánh nội tại thuần tịnh
nguyên sơ, vượt khỏi những biểu lộ. Nhưng vào lúc ấy tôi không ý thức được thực
sự điều đó là gì.” Tại Yamalung ngài nhìn thấy Longchen Rölpatsal, một trong
những đệ tử chính của Jigme Lingpa và nhận quán đảnh trường thọ.
Năm 1811, cha của Do Khyentse và những người khác từ Golok trở về với một
lá thư của Dodrupchen yêu cầu Do Khyentse viếng thăm ngài. Do Khyentse đi
Lhasa và được chính phủ cho phép trở lại Kham. Ngài được ban tặng mũ và quần
áo của một khenpo và được Temo Thupten Jigme (mất năm 1819), tân nhiếp chính
của Tây Tạng, xác nhận.
Năm 1812, ngài được sum họp với mẹ và chị ngài trên đường đi tới Yarlung
Pemakö, sau đó ngài quay trở về.
Năm 1813, cùng với Dzogchen Rinpoche đệ tứ, Pönlop đệ tam, và khoảng sáu
mươi đệ tử, ngài nhận Nyingthig Yabzhi, Gyü Chudün, Damchö Dechen Lamchok,
và nhiều trao truyền khác từ Dodrupchen. Cùng với Shichen Lama Ogyen Norbu,
Repa Tamtsik Dorje, và những người khác, ngài nhận Gewa Sumkyi Donkhri,
Machik Nyen-gyü, và những giáo lý khác. Cùng với Changlung Palchen Namkha 153
Jigme (còn được gọi là Trupwang) của tu viện Rekong, ngài nhận Münpe Naljor
Yangti Nagpo Serkyi Druchik, Dzogchen Ati Zabdön, và những trao truyền khác từ
Dodrupchen.
Năm 1814, ngài viếng thăm Cung điện Dege và ban quán đảnh Longchen
Nyingthig. Tại Dzachukha ngài gặp Gyalwe Nyuku và Gilung Lama Jigme Ngotsar,
cả hai đều là những đệ tử chính của Jigme Lingpa. Trên đường trở về Yarlung, ngài
nhận giáo lý về Yönten Dzö, Takpö Thargyen, và Yeshe Lama từ Dodrupchen.
Năm 1815, khi mười sáu tuổi, ngài được Dodrupchen gởi tới miền Trung Tây
Tạng cùng với khoảng một trăm người để cúng dường cho các Lạt ma và tu viện.
Khi chỉ thị cho ngài trở về trong một năm, Dodrupchen ban cho ngài năm mục tiêu
chính cần hoàn thành trong cuộc hành trình này: (1) Nhận các quán đảnh Hayagrīva
và Trường Thọ từ Ra-nyak Gyalse, (2) thực hiện một trăm ngàn cúng dường mạn
đà la tại Samye, (3) thực hiện nhập thất bảy ngày tại Chimphu về lời cầu nguyện
của Guru Rinpoche, (4) tiệt trừ những chướng ngại khuấy động tại Kordzö Ling ở
Samye bằng mọi giá, và (5) thiếp lập một mối liên hệ tâm linh với thánh địa
Chakpori.
Trên đường đi, Do Khyentse tới gặp Ra-nyak Gyalse, bậc đang phô diễn hành vi
ngông cuồng. Khi đó Do Khyentse là một sa di và thoạt tiên không thể nhận thức
sâu sắc những gì ngài nhìn thấy, nhưng bởi Thầy của ngài chỉ thị là phải tới gặp
Ra-nyak Gyalse, Do Khyentse khẩn cầu vị Thầy này ban quán đảnh Hayagrīva.
Thay vào đó, Gyalse chĩa một khẩu súng vào tim ngài và bắn. Viên đạn không làm
ngài bị thương nhưng biến thành một hình ảnh Hayagrīva. Khi Do Khyentse khẩn
cầu một quán đảnh Trường Thọ, ngài được ban cho một ít tro từ tẩu thuốc của
Gyalse trộn với nước bọt trong một cái tách, chúng lập tức biến thành cam lồ thanh
tịnh.
Trên đường tới Lhasa, một hôm Do Khyentse dẫn Riktsal và Ödzer tới một trại
du cư khét tiếng ở miền Gegye để mua thịt. Một con chó trắng và một con chó đen
thoát ra và tấn công các ngài, và Do Khyentse chặt chúng ra làm hai bằng lưỡi kiếm
của ngài. Khi những người du cư tới phản đối các ngài vì đã giết chó của họ, Do
Khyentse ráp thân trên của con chó trắng với thân dưới của con chó đen, và thân
trên của con chó đen với thân dưới của con chó trắng, và hai con vật đứng dậy rồi
bỏ chạy. Những người du cư hết sức kinh ngạc, họ lập tức xin lỗi và hứa sẽ luôn
luôn thực hiện những hành vi đúng đắn. Sau này khi những con chó chết, để tưởng
nhớ sự kiện huyền diệu này, người ta lưu giữ da của chúng tại một tu viện tên là
Gegye Dzogchen.
Tại Drikung, Do Khyentse sung sướng được tụ hội với Zhaptrung và Gyalse và
nhận các quán đảnh từ các ngài. Tại Lhasa, Nhiếp chính Temo rất hữu ích, và Do
Khyentse nhận những trao truyền từ Longchen Rölpatsal một lần nữa. Ngài đi hành
hương tới nhiều thánh địa và thực hiện những lễ cúng dường.
Tại Samye, trước tượng Jowo, ngài tích tập một trăm ngàn lễ cúng dường mạn
đà la cát. Ở Parkhang Yuzhal Barwa trong chùa chính tại Samye, ngài nhất tâm cầu
nguyện trong khóa nhập thất một tuần lễ. Một đêm, một yogī trông khủng khiếp
thình lình tới nhảy múa và ban cho ngài các tiên tri. Một tối khác, một người đàn bà
đưa ngài lên lầu và ngài nhìn thấy bốn hình ảnh Vairochana ngồi đâu lưng lại nhau.
Họ cùng nói: 154
Bởi sự phô diễn huyền nhiệm của sự hiểu biết và không hiểu biết [thực tại],
Sinh tử và Niết bàn được phân chia riêng rẽ.
Từ những mê lầm do các niệm tưởng lộn xộn tạo ra
Cái gọi là thế giới của sáu cõi được thiết lập.
Trong sự hiển lộ thanh tịnh của bốn thân Phật,
Không có gì ngoài những cõi tịnh độ của ba Phật thân..
Bốn hình ảnh ban cho ngài các giáo lý, quán đảnh, và tiên tri. Ngài trở lại giường
với sự đại lạc trong thân và sự chứng ngộ phi thường trong tâm thức.
Tại động Tragmar Keutsang ngài thực hiện một trăm cúng dường tsog trước
tượng “Trông Giống Ta” của Guru Rinpoche. Sau khi có những linh kiến trong giấc
mơ, ngài thức dậy và nhìn thấy hình ảnh của Guru Rinpoche trong thân ánh sáng
phát ra những tia sáng chói lọi tràn ngập toàn thể điện thờ. Những tia sáng trắng,
đỏ, và xanh dương chạm vào ngài. Ngài nghe âm thanh của nhiều giọng hát tụng
Lời Cầu nguyện Bảy Dòng trong những quãng âm cao, và những người đang ngủ
gần đó nghĩ rằng Do Khyentse đang hát tụng vào lúc nửa đêm.
Sau đó ngài di chuyển tới động Sangphuk hạ ở Chimphu. Ngài kinh nghiệm
mãnh liệt về sự vô thường của cuộc đời, và không tìm được giải pháp nào khác,
ngài tập trung cầu nguyện Guru Rinpoche với lòng sùng mộ nhất tâm. Một đêm, ba
dākinī khủng khiếp xuất hiện và nói: “Trong thế giới loài người, ngài bị ô nhiễm bởi
tử cung con người. Bởi bám chấp vào “bản ngã” của những hình tướng hão huyền,
sự vô minh của việc bám chấp và bị bám chấp đã hiển lộ. Không có cách nào khác
ngoài việc phải tách lìa ngài khỏi thân thể xấu xa của ngài.” Họ cắt thân ngài thành
nhiều mảnh và ăn hết, kể cả tâm thức của ngài; vì thế ngài rơi vào sự vô ý thức. Khi
ngài nhận thức trở lại, ngài nhìn thấy những phối ngẫu Vajrasattva trước mặt ngài.
Nhờ ánh sáng phát ra từ các vị phối ngẫu Vajrasattva chạm vào ngài, ngài cảm thấy
mình có một thân ánh sáng. Các Lạt ma và dākinī ban cho ngài những gia hộ và
tiên tri về việc ngài sẽ khám phá terma tâm.
Kế đó ngài trải qua bảy đêm tại Kordzö Ling, chùa Hộ Pháp tại Samye, thực
hành pháp chö để tiệt trừ tận gốc sự xao động của những cảm xúc và ý niệm tiêu
cực. Ngày hôm sau, vị vấn linh của Samye, trong khi được Hộ Pháp nhập vào, đã
tới và nhốt ngài trong hầm chứa. Ở đó hoàn toàn tối tăm. Ngài đã thực hiện một
thực hành chö và thiền định tốt nhất trong khả năng của ngài. Ngài nhìn thấy những
hình tướng khác nhau và nghe những âm thanh đe dọa và gọi tên ngài, và điều đó
thật khủng khiếp. Ngài nghĩ: “Đây là điều Pháp vương Dodrupchen đã chỉ thị cho ta
làm. Vì thế để làm thực hành này, cho dù phải mất mạng, ta cũng chẳng sợ hãi hay
hối tiếc. Nếu ta không sợ chết thì cho dù toàn thể thế giới xuất hiện như kẻ thù của
ta, điều đó không làm phiền ta chút nào.” Sau đó mọi khuấy động (Slong Tshad)
được làm an dịu. Chẳng bao lâu, vị vấn linh – được Hộ Pháp nhập vào – mở cửa,
đưa ngài ra ngoài, và tỏ lòng tôn kính ngài.
Tại Tsering Jong, ngài thực hiện những lễ cúng dường trước di cốt của Jigme
Lingpa. Ngài muốn ở lại một lát, nhưng việc đó không thực hiện được. Sau đó tại
Tu viện Palri, từ Tülku Tsogyal, ngài nhận các trao truyền Trölthik và những giáo lý
khác.
Sau khi viếng thăm các tu viện Mindroling và Dorje Trak, ngài tới Chagzam
Chuwo Ri và cúng dường tsok trong hang động linh thiêng. Trong một giấc mơ ngài 155
nhìn thấy Thangtong Gyalpo, nhận những gia hộ khiến ngài tràn ngập những kinh
nghiệm đại lạc, sự quang minh và tánh Không. Ở đó, Do Khyentse đã khám phá
một hình ảnh Guru Rinpoche Kutsap như một terma, và vị bảo trợ terma yêu cầu
ngài không cho mọi người thấy nó cho tới khi ngài gặp Dodrupchen.
Ngài cúng dường cho lễ cầu nguyện Mönlam tại Lhasa. Nhiếp chính Temo tỏ ra
hết sức tôn kính và biết ơn ngài.
Bởi Dodrupchen đã già và Do Khyentse rất cần phải nhận toàn bộ giáo lý từ vị
Thầy này, các tülku Drikung rất buồn khi phải đồng ý để Do Khyentse trở về Kham
trong lúc này. Khi ngài và nhóm của ngài đến miền tây tỉnh Kham, một sứ giả của
Dodrupchen đến gặp và nói rằng xin đến mau mau. Để những đại diện của Drikung
và Dege ở lại với nhóm chính, Do Khyentse và mười người phi ngựa thật nhanh,
không nghỉ, ngoại trừ một ngày nghỉ ngơi tại ẩn thất của Gyalwe Nyuku ở
Dzachukha.
Sau vài ngày, vào ngày mồng mười tháng bảy năm Dậu Hỏa (1816), Do
Khyentse có mặt ở Yarlung Pemakö trước sự hiện diện của Dodrupchen.
Dodrupchen nói: “Ta có nhiều giấc mơ tiên tri, và sức khỏe của ta cũng không tốt.
Nhưng mọi chướng ngại cho sinh mạng của ta đã bị tiêu diệt trong một thời gian
nhờ năng lực của Döpa Khamkyi Wangchugma, ngoại trừ những linh kiến của ta bị
che chướng.” Ngài nói thêm: “Trong mùa đông ông nên đi tới Tu viện Kathok để
nhận một vài giáo lý cần thiết từ Mahāpandita (đại thành tựu giả) Getse và từ Tülku
Zhingkyong nữa. Ta muốn thấy ông hoàn tất những nghiên cứu cần thiết trước khi
ta chết.” Do Khyentse nhận thêm những minh giảng và giáo huấn về các giáo lý
tsalung và Guhyagarbha-tantra.
Tại Kathok, Do Khyentse nhận nhiều quán đảnh, giáo lý và những tu tập từ Đại
Thành tựu giả Getse. Chúng gồm có những quán đảnh phức tạp Düpa Do trong
mười lăm ngày và những trao truyền kama và terma khác. Getse nói: “Như đã được
vị Khyentse tiền nhiệm [Jigme Lingpa] tiên tri, Tu viện Kathok là một vị hộ trì giáo lý
Longchen Nyingthig. Vì thế trong tương lai ông nên phụng sự Giáo pháp bằng cách
kết hợp hai truyền thống [Kathok và Longchen Nyingthig] lại với nhau.” Do Khyentse
cũng nhận giáo lý từ các tülku Zhingkyong và Moktsa của Tu viện Kathok, và
Namkha Tsewang Choktrup của Tu viện Gyarong.
Ngài đã nhận lung (truyền khẩu) Nyingma Gyübum từ Jigme Ngotsar của Tu
viện Kilung, một đệ tử của Jigme Lingpa. Trong sự trao truyền đó, trong một giấc
mơ ngài nhận những giáo lý và sự giao phó Guhyagarbha-tantra từ Vimalamitra, và
trong một tháng ngài cảm thấy mình đã nhớ lại tất cả những chữ và nghĩa của
tantra.
Năm 1818, khi đang ở Dzachukha, ngài có một kinh nghiệm: một người đàn bà
với một đoàn tùy tùng đông đảo dẫn ngài tới một cung điện pha lê, ở đó ngài nhìn
thấy Guru Rinpoche hợp nhất với vị phối ngẫu. Do Khyentse nhận bốn quán đảnh
từ các phối ngẫu của Guru Rinpoche, và sau đó họ tan hòa vào Do Khyentse. Trong
một lát, Do Khyentse đắm chìm trong bản tánh tối thượng thoát khỏi những sự diễn
bày. Khi ngài rời cung điện pha lê, ngài được gặp những vị bảo trợ xứ Ling, họ cũng
ban cho ngài các gia hộ. Sau đó, cưỡi một con ngựa trắng, ngài trở về trụ xứ của
ngài và tỉnh dậy. Gyalwe Nyuku và Lobzang Norbu đang chờ đợi với sự lo lắng và
nói: “Ngài rơi vào giấc ngủ và không thức dậy trong ba ngày. Dzogchen Rinpoche
đã tới cầu nguyện và nói: ‘Chẳng có gì phải lo.’” Gyalwe nói xen vào: “Mọi linh kiến 156
mà ngài có được, khi chưa tới lúc, xin đừng thuật lại cho bất kỳ ai, kể cả Dzogchen
Rinpoche. Nếu ngài không giữ bí mật các linh kiến, có thể có nhiều trở ngại. Nếu
ngài giữ bí mật, những thành tựu sẽ đến thật nhanh chóng.” Mặc dù Do Khyentse
không thuật lại điều gì, Gyalwe Nyuku đã biết những linh kiến đó là gì nhờ sự thấu
thị của ngài. Do Khyentse đã khám phá Giáo khóa về Pema Gyalpo như một terma.
Do Khyentse sống thêm một thời gian ở cung điện của Tsewang Dorje Rigdzin,
vua xứ Dege, mà lẽ ra không cần thiết phải như thế. Lý do là vì các thị giả của ngài
thích ở đó hơn nơi ẩn tu của Dodrupchen, do bởi sự thịnh vượng, cao quý và năng
lực ở đó. Một hôm Do Khyentse chỉ dẫn cho chị của ngài và một thị giả: “Có một bà
lão hành khất trong thung lũng kia; hãy biếu bà ấy tsampa, thịt, và bia chang này
dùm tôi.” Khi họ tới đó, bà lão giận dữ ném tsampa đi nhưng thưởng thức thịt và bia
chang. Chị ngài nhìn thấy bà lão trong thân ánh sáng và ngửi thấy một mùi hương
ngọt ngào từ nước tiểu của bà. Trong khi la mắng người chị dữ dội, bà lão đưa cho
người chị thức gì đó để uống và gởi một ít dütsi (một chất thuốc được gia hộ) cho
Do Khyentse với thông điệp: “Con trai yêu quý, đừng ở xứ này quá lâu. Ở đây
những nguyên nhân tốt lành đã trở nên u ám.” Hôm sau, họ trở lại nơi đã tìm thấy
bà lão ngày hôm trước với một ít thực phẩm nữa, nhưng không có chút vết tích gì
chứng tỏ là từng có người sống ở đó.
Vua xứ Dege và các thị giả của Do Khyentse trở nên bối rối, sợ rằng Do
Khyentse có thể trở thành một ẩn sĩ hay yogī cuồng ngông. Người ta đã không hết
sức tôn kính sự chứng ngộ và năng lực của ngài. Họ cho rằng để trở thành một Lạt
ma vĩ đại, ngài nên sống như một tu sĩ giữ gìn giới luật nghiêm minh và một học giả
uyên bác.
Do Khyentse nói thẳng với triều đình Dege rằng ngài sẽ không là một Lạt ma
quan trọng, vì thế hoặc là họ phải để ngài trở thành một ẩn sĩ hoặc họ bỏ tù ngài.
Nhà vua nói: “Ngài Sakya Kongma ở miền Trung Tây Tạng và Dodrupchen
Rinpoche ở Kham và nhiều vị có uy quyền thiêng liêng quan trọng khác của Tây
Tạng đồng ý rằng ngài là tülku của Bậc Toàn trí Khyentse Özer [Jigme Lingpa]. Từ
thời của người mẹ quá cố của tôi, ngài đã được xác nhận là thầy giáo của triều đình
Dege và Pháp bảo của truyền thống Nyingma. Vì thế làm sao ngài có thể ra đi làm
một ẩn sĩ – và làm thế nào tôi có thể truy tố ngài vì việc đặc biệt yêu quý Giáo Pháp?
Bây giờ bản thân tôi và các tu viện Dzogchen và Kathok sẽ cử đại diện tới xin ý kiến
của ngài Dodrupchen. Chúng tôi không thể vi phạm bất kỳ mệnh lệnh nào Lạt ma đã
ban cho chúng tôi, cả ngài cũng không thể.” Do Khyentse đồng ý. Ngài và đại diện
của các tu viện Dege, Dzogchen, Kathok và Drikung đi tới Yarlung để trình bày cho
Dodrupchen về trường hợp của họ.
Dodrupchen không nói một lời nào trong ba ngày. Sau đó ngài nói với Do
Khyentse: “Mọi người muốn thấy ông như một tu sĩ hộ trì truyền thống tu viện.
Nhưng từ những hoạt động trong quá khứ của ông và những tiên tri, ta có thể nói
rằng điều đó sẽ không xảy ra. Trong một thời gian ông nên trở thành một ẩn sĩ và
về sau là một Vajradhara (Kim Cương Trì), một Đạo sư của giới luật bí truyền… Một
vài người cũng muốn tôi bảo ông ở lại làm nhiếp chính của tôi. Điều đó sẽ trở thành
một chướng ngại cho ông, và sẽ đi nghịch lại ước muốn của ông… Cuối năm Thìn
[1821] ta cũng sẽ đi tới chỗ của riêng ta [chết]. Vì thế hãy ở lại đây trong mùa đông
và mùa xuân để nhận thêm những minh giải về các giáo huấn. Cuối mùa hè tới, hãy
làm những gì ông thích. [Nói cách khác, hãy ra đi trước khi ta chết.] Nếu không, 157
[nếu ông không đi trước khi ta chết,] mọi người có thể trách ông không tuân theo
những ước nguyện của ta.” Do Khyentse chỉ có thể nói vâng, bởi ngài bàng hoàng
khi nghe nói chẳng bao lâu nữa Dodrupchen sẽ chết. Sau đó Dodrupchen truyền
đạt quyết định tương tự cho những người đại diện.
Ngay hôm sau, vào ngày mồng mười tháng bảy năm Thổ Mẹo (1820), sau lễ
cúng dường tsok, Do Khyentse cúng dường Dodrupchen mọi vật sở hữu ngài mang
theo người. Dodrupchen ban gia trì cho tóc của Do Khyentse, khiến từ đó trở đi ngài
có thể để tóc dài, và vị Thầy cũng gia trì một bộ y trắng mới và ban nó cho ngài, nói
rằng: “Trong hai năm rưỡi, hãy mặc bộ quần áo này; sau đó ông sẽ khám phá một
điều mới lạ.” Ngay lập tức, Do Khyentse tự thay đổi thành một hành giả bạch y Mật
thừa.
Sau đó, cùng những người đại diện, Do Khyentse đi tới Dege để truyền đạt
quyết định cho nhà vua. Vua nói: “Khi Đấng Bảo trợ Dodrupchen ban một lệnh như
thế, tôi không dám nói ngài điều gì ngoại trừ ‘Xin làm tất cả những gì ngài muốn.’”
Do Khyentse gởi một nửa của cải ngài sở hữu cho Drikung, và nửa kia ngài phó
thác cho Dege.
Bây giờ cùng với hai bạn đồng hành, Do Khyentse trở về trụ xứ của Dodrupchen
như một nhà tu khổ hạnh khiêm tốn. Dodrupchen rất vui khi nhìn thấy ngài trong
hình tướng này, và vị Thầy nói: “Bây giờ ông là một ẩn sĩ. Hãy giữ một địa vị thấp
kém không có bất kỳ tham muốn quyền lực hay danh tiếng nào. Hãy mặc những áo
choàng vá cũ kỹ. Hãy thực hành như câu nói: ‘Hiến tặng mọi lợi lạc và vinh quang
cho người khác. Nhận vào mình mọi thiệt thòi và thất bại.’” Trong ngày đó Do
Khyentse nhận từ Dodrupchen những quán đảnh Khandro Yangtig và những giáo lý
chi tiết Yeshe Lama. Vào ban đêm, trong giấc mơ chói ngời, ngài nhận lãnh từ
Longchen Rabjam những giáo huấn chi tiết về ý nghĩa của Khandro Yangtig.
Dodrupchen có vẻ vui và khỏe mạnh. Đôi khi ngài bất thần hát những bài ca du
già. Ngài thường mô tả các linh kiến của ngài. Do Khyentse và những người khác
vẫn nhìn thấy thân ngài trong những hình tướng khác nhau, và đôi khi không có
thân mà chỉ là bộ quần áo của ngài trên ghế ngồi. Giữa những điều kỳ diệu bất tận
này, nếu có ai nhớ lại bất kỳ vấn đề nào về các giáo lý, ngài sẽ trả lời một cách tự
nhiên mà không cần được hỏi.
Vào ngày mồng mười tháng sáu năm Kim Thìn (1821), Đạo sư và đệ tử từ biệt
nhau trong đời này với nỗi đau buồn vô hạn. Trên đèo Garlung, Do Khyentse và
Palge lễ lạy Dodrupchen một trăm lần với những lời cầu nguyện. Do Khyentse đổi
tên thành Repa Yongtrak và với một ít người, ngài đi tới Thugje Chenpo thuộc Tỉnh
Trokyap và sau đó tới nhiều nơi ở Amdo, trong đó có Amchok, Latrang, và Tso
Ngönpo và Rekong. Sau đó ngài cho tất cả những người đồng hành với ngài về nhà
ngoại trừ Lhaksam Rapkar.
Tại Rekong, ngài tới một nghĩa địa để thực hành trong ba đêm và biểu lộ những
dấu hiệu thành công trong việc khuấy động những cảm xúc và ý niệm và làm an dịu
chúng, nhưng sau đó sức khỏe của ngài sa sút vì bệnh đậu mùa. Dường như ngài
đi vào một trạng thái vô thức trong hơn hai tuần lễ. Trong thời gian đó, ngài nhìn
thấy những cảnh giới khác nhau trong thế giới. Ngài kinh nghiệm thân thể ngài bị
những Bổn Tôn phẫn nộ ăn nuốt để tịnh hóa những bất tịnh của thân thể vật lý của
ngài. Trong cõi tịnh độ Zangdok Palri ngài đã tham dự một lễ cúng dường tsok trong
bảy ngày với Guru Rinpoche và nhiều Đạo sư vĩ đại trong quá khứ. Khi kết thúc lễ158
tsok, Guru Rinpoche giao cho ngài bảy hộp terma với những trao truyền phó chúc
và tiên tri. Guru Rinpoche nói:
Con trai của ta, sau khi chứng ngộ tính chất hư huyễn của các tri giác,
Sẽ có chút lợi lạc khi sống trong sự cô tịch.
Khi những sai lầm của hình tướng hiện tượng sụp đổ vào nơi chốn của riêng
chúng,
Và bản tánh cố hữu không bị áp chế của các hiện tượng được nhận ra,
Đừng rơi vào sự phân biệt những hình thức vi tế của việc bám chấp và bị bám
chấp
Và đừng dính mắc vào những thiện hạnh bị ô nhiễm,
Xin mạnh mẽ hộ trì sự thuần tịnh nguyên sơ bao la rộng lớn.
Sau đó ngài trải nghiệm việc đi gặp Dodrupchen. Rất vui khi gặp lại ngài,
Dodrupchen nói: “Tháng giêng sang năm ta sẽ ra đi. Ta sẽ nhờ chị con nhắn lại cho
con lời chỉ dạy của ta.. Bây giờ những chướng ngại của đời con đã bị đẩy lui.” Do
Khyentse nhìn thấy một chữ ĀH trắng nơi tim Dodrupchen. Bằng cách tập trung sự
tỉnh giác vào nơi đó, tâm ngài tan hòa vào một trạng thái không thể diễn tả. Sau đó,
khi cảm thấy rằng ngài đang chạm vào thân của chính mình, ngài trở về với ý thức
vật lý. Bệnh tật của ngài biến mất, nhưng ngài mất một tháng để hoàn toàn phục hồi
sức khỏe.
Vào ngày mười ba tháng giêng năm Kim Tị (1821), Do Khyentse nhìn thấy
Dodrupchen trên không trung trong một thân ánh sáng chói ngời kỳ diệu, được bao
phủ trong ánh sáng. Dodrupchen đang ngồi trên một cái chăn giống như gấm thêu
được bốn dākinī nâng đỡ, và ngài ban di chúc bằng một giọng nói quyến rũ. (Xin
đọc những giòng di chúc trong chương 12.) Những tia sáng năm màu phát ra từ
chữ ĀH trắng nơi tim Dodrupchen và tan hòa vào Do Khyentse. Sau đó từ chữ ĀH
một chữ ĀH thứ hai xuất hiện và tan vào tim Do Khyentse. Trong một lát, Do
Khyentse mất ý thức và tan hòa vào kinh nghiệm về những con sóng kim cương.
Khi ngài phục hồi ý thức, Lạt ma đã biến mất. Trong ba ngày, ngài ở nguyên trong
trạng thái trong đó mọi tư tưởng thô và tế tan biến đi và giác tánh nội tại tỉnh thức
một cách tự nhiên. Sau lúc đó ngài cảm thấy đau buồn ghê gớm khi nhận ra là
Dodrupchen đã thị tịch.
Ngài gặp Pema Rangtröl, Kyanglung Gönpo Gyal, và Chöying Tobden Dorje, các
đệ tử của Dodrupchen, và ban giáo lý cho họ. Nhiều tháng sau chị ngài và những
người khác từ Yarlung Pemakö đến với tin tức về cái chết của Dodrupchen, và chị
ngài nhắc lại những lời chỉ dạy mà Lạt ma dặn bà nói lại cho Do Khyentse. Ngài đi
tới Yarlung để tỏ lòng tôn kính di cốt của Dodrupchen, nhưng từ chối ở lại làm nhiếp
chính của Dodrupchen.
Vào khoảng thời gian này ngài đã thay đổi từ bộ y trắng của hành giả mật thừa
thành y phục của một cư sĩ. Ngài viếng thăm Dege trong một thời gian ngắn, mọi
người ở đó bị choáng váng và khó xử bởi bề ngoài mới lạ của ngài. Ở đó ngài gặp
Gyalwe Nyuku, vị Thầy này yêu cầu ngài mặc một bộ y phục của tertön (hay y Mật
thừa). Do Khyentse trả lời: “Con không là một tertön mà cũng chẳng phải là một
người tuân giữ các giới nguyện tu sĩ, vì thế điều thích hợp cho con là y phục cư sĩ.”
Mặc dù điều này, Dzogchen Rinpoche tán thán ngài, và Pönlop hiến dâng phần còn 159
lại của đời mình để kéo dài thọ mạng của Do Khyentse. Do Khyentse lang thang
trong xứ Golok không người như một thợ săn và làm hồi sinh nhiều người và thú
vật bị giết hay đã chết.
Năm 1823, phối ngẫu của ngài, là con gái của Akyong Lhachen, hạ sinh một bé
gái tên là Khaying Dölma giữa những dấu hiệu kỳ diệu. Khaying Dölma kết hôn với
vua xứ Trokyap năm 1841 nhưng đã mất năm 1855 mà không có con.
Do Khyentse bắt đầu ban những trao truyền và giáo lý Longchen Nyingthig cho
chị ngài và những người khác. Đôi khi ngài ở Dordzong (rDo rDzong) ở Golok. Sau
này ngài thiết lập một gompa của truyền thống Longchen Nyingthig, nó thuộc về
nhóm bộ tộc Muk-yang. Kế đó ngài giảng dạy ở nhiều nơi ở Gyalmorong, Dzika, và
Thung lũng Ser.
Bây giờ tiếng tăm là một Đạo sư của ngài đã bay đến Dege, và do sự nài nỉ của
nhà vua, ngài viếng thăm xứ Dege một lần nữa trong một thời gian ngắn. Nhưng Do
Khyentse từ chối ở lại làm thầy giáo bởi ngài đã bị nghi ngờ trong thời gian qua, khi
ngài xuất hiện như một cư sĩ, và điều đó đã làm tổn hại những hoàn cảnh tốt lành.
Thay vào đó, ngài tỏ ý muốn ở lại như một dünhor (hội viên hội đồng), là điều
những Lạt ma khác thất vọng, bởi nó không phải là một chức vụ thích hợp đối với
một đại Lạt ma.
Do Khyentse đi tới Dzachukha và thình lình bị bệnh nặng, như đã được tiên tri
trước đây. Nhờ lời cầu nguyện mãnh liệt của Gyalwe Nyuku, ngài đã hồi phục.
Năm 1825, cùng với chị ngài và những người khác, ngài đi tới Thung lũng Ma và
khám phá những kho tàng xứ Ling. Sau đó ngài đi Phuntsok Dzong, cung điện của
Vua Tsewang Lhündrup (chết năm 1827) xứ Gyarong, và ban các giáo lý. Sau đó
ngài đi tới địa điểm hành hương Kaulong Senge Yongdzong và ban giáo lý cho Vua
Namkha Lhündrup xứ Trokyap ở Gyarong. Các ngài có một mối liên hệ Đạo sư-đệ
tử và đã xây dựng một ngôi chùa, mà về sau được gọi là Gomsar (Gompa Mới).
Một hôm, ở Núi Murdo xứ Gyarong, Do Khyentse đưa con trai ngài tới một hang
động trong một ngọn núi dốc đứng và yêu cầu cậu chờ ngài. Do Khyentse trở về trại
của họ trong khi Raltri chờ trong hang. Khi trời tối mà cha cậu vẫn không trở lại,
Raltri hầu như không thể di chuyển được vì sợ chết. Thình lình cậu nghe tiếng cha
cậu gọi cậu đến và nhìn thấy một tấm thảm ánh sáng phía trước cậu. Không chút
do dự hay nghi ngờ, cậu ngồi lên đó và lập tức thấy mình ở trong trại.
Có một lần Do Khyentse đang du hành trên một con đường núi rất hẹp ở
Trakwar tại Dzigak xứ Gyarong. Ngài bảo Riktsal Thogme: “Nếu ông can đảm, hãy
xô tôi và con ngựa của tôi xuống!” Riktsak xô họ xuống Sông Gyalmo Ngülchu (tên
Trung quốc là Dadu), ở sâu bên dưới hàng trăm phút (1 phút = 0,30m). Riktsal nghĩ:
“Đạo sư của ta chết rồi,” và ông nhảy xuống theo họ. Những dấu tích của Do
Khyentse, con ngựa, thanh kiếm của ngài và Riktsal in hằn trên tảng đá như thể ở
trên bùn, và ta vẫn có thể nhìn thấy những dấu tích ấy vào mùa đông, khi mực
nước sông xuống thấp. Sau đó Do Khyentse yêu cầu Riktsal ngồi lên yên ngựa phía
sau ngài, và họ leo lên núi đá dốc đứng, in những dấu tích trên mỗi bước đi. Từ đó
trở đi, người ta nói rằng cái chết do bị rơi xuống vực sâu đã thôi xảy ra trên con
đường nguy hiểm đó.245
Như chính Dodrupchen đã tiên tri, năm 1829, Sherap Mebar, con trai của Do
Khyentse, là tülku của Dodrupchen, ra đời với những dấu hiệu kỳ diệu. Từ thời thơ
ấu cậu đã không ăn thịt. Thật không may, cậu chết năm 1842, ở tuổi mười bốn. 160
Rikpe Raltri (1830-1874), con trai thứ hai của Do Khyentse, là tülku của Gyalse
Nyinche (1793-?), con trai của Jigme Lingpa, và là thân phụ của Zilnon Gyepa
Dorje, Do Rinpoche thứ hai (1890-1953).
Năm 1831 Do Khyentse được vua xứ Chakla mời tới Tartsedo và những nơi
khác trong miền. Từ lúc đó, chủ yếu Do Khyentse sống ở miền Tartsedo, và vua xứ
Chakla trở thành một trong những người bảo trợ chính của ngài.
Năm 1832, trong một linh kiến trong giấc mộng, ngài nhận các giáo lý và tiên tri
từ Machik Lapdrön cùng với năm dākinī. Về sau, những chướng ngại xuất phát từ
tham vọng tiêu cực được làm yên dịu, và ngài bắt đầu thực hiện vai trò Thủ hộ của
các Yogī.
Có một lần khi đang cắm trại trong Núi Zhak-ra, vua xứ Chakla tới thăm ngài.
Một hôm, cưỡi ngựa và cầm đèn bơ trong tay, Do Khyentse, nhà vua, và Tongza
Özer phi ngựa vào một cái hồ. Khi nước lên tới bờm ngựa, nhà vua sợ hãi và quay
trở lại. Do Khyentse và Özer biến mất. Sau một lát họ cùng nổi lên an toàn. Theo
Özer, họ đã đi xuống nước mà không ướt quần áo hay bị tắt đèn. Rồi họ tới một
ngôi nhà nhiều tầng có ba bức tường bao quanh với đủ loại thú vật ở quanh nhà.
Özer ở bên ngoài ngôi nhà trong khi Do Khyentse được những người mặc y phục
trắng dẫn vào trong nhà, và sau đó họ lại đưa ngài ra ngoài. Không ai biết Do
Khyentse mang cái gì ra ngoài với ngài.
Một hôm ở miền Datha, hai cậu bé chăn cừu nhìn thấy Do Khyentse và đoàn
của ngài đi qua. Chúng muốn thử xem thực sự Do Khyentse có tài thấu thị hay
không. Một trong hai cậu bé chăn cừu giả bộ chết, và cậu bé kia chạy tới đoàn của
Lạt ma để xin cầu nguyện cho người chết. Do Khyentse đi tới xác chết và hút ba tẩu
thuốc, để tro lên đầu cậu bé chăn cừu. Sau đó ngài bỏ đi mà không nói một lời cầu
nguyện nào. Sau khi đoàn đã lên đường, cậu bé nhận thấy bạn mình đã chết thật.
Cậu chạy theo sau đoàn người, thú nhận sự thật và khẩn cầu Lạt ma làm cho bạn
cậu sống lại. Do Khyentse quay trở lại và nói: “Dza,” ngài làm một cử chỉ triệu thỉnh
và lại bỏ đi. Chẳng bao lâu cậu bé phục hồi ý thức và biểu lộ sự đau buồn về việc bị
đưa trở về, bởi cậu đã được gởi tới một cõi tịnh độ đầy hỉ lạc. Ngay lập tức, cậu đi
theo Do Khyentse và về sau trở thành một thiền giả thành tựu.
Một lần vào đầu mùa hè, Do Khyentse đang cắm trại qua đêm tại Dora Karmo ở
Minyak trên đường ngài tới Tartsedo. Ngài bắn một mạc-mốt và bảo Özer chôn cái
xác, là thứ mà ngài sẽ cần tới trên đường trở về. Vào mùa thu, khi họ trở về nơi đó,
ngài yêu cầu Özer mang cái xác lại mà không để sót ngay cả một sợi lông. Cái xác
hầu như biến mất, nhưng Özer đã thâu thập và ráp tất cả các mảnh lại với nhau
trước mặt ngài. Do Khyentse chạm tay vào xác mạc-mốt, nó bỏ chạy và kêu lên the
thé. Özer nhận xét là ông đã từng nhìn thấy nhiều trường hợp người chết được làm
cho sống lại, nhưng đây là trường hợp một thú vật đã chết quá lâu.
Một hôm vua Chakla khẩn cầu một quán đảnh. Khi Özer đã chấm dứt những
việc chuẩn bị, họ nhận ra là họ không mang theo bản văn đã được tụng đọc ở ẩn
thất của họ, rất xa nơi đây. Do Khyentse nói: “Không thành vấn đề.” Ngày hôm sau,
ngay trước lúc bình minh, những người ở giữa đường tới ẩn thất nhìn thấy ngài đi
qua, và vào lúc bình minh người ta thấy ngài ở ẩn thất. Vào giờ điểm tâm, những
người hầu của cung điện báo cáo cho nhà vua là Do Khyentse vừa đi vào cung điện
bằng chân trần, nhưng nhà vua nói: “Không, ngài đang dùng điểm tâm.” Nhưng vì
nghi ngờ, và vua và các người hầu vội vã chạy tới phòng của Do Khyentse, và họ161
thấy ngài đẫm mồ hôi, và bản văn đang ở trên bàn. Do Khyentse nói: “Ta mệt, ta đã
đi lấy bản văn!”
Sau này, Do Khyentse thiết lập Kyilung Gompa trong miền Geshe xứ Gyarong,
ban quán đảnh Longchen Nyingthig, và dạy ngöndro, tsalung, và Yeshe Lama cho
khoảng một trăm đệ tử. Về sau, Kyilung Gompa trở thành trụ xứ của Zenkar
Rinpoche đệ nhất và là một trong các trụ xứ chính của Zenkar Rinpoche hiện tại,
Thupten Nyima (sinh năm 1943), là những hóa thân của Do Khyentse.
Do Khyentse đi gặp Gönpo Namgyal (mất năm 1865), thủ lãnh độc ác xứ
Nyarong, kẻ gây ra nhiều đau khổ cho nhiều vùng của tỉnh Kham. Một hôm vị thủ
lãnh nói với Do Khyentse: “Ngài mang một khẩu súng – hãy bắn con quạ đó.” Do
Khyentse làm như thế. Sau đó viên thủ lãnh nói: “Ngài cho mình là một Phật tử đầy
lòng bi mẫn, nhưng ngài đang giết thú vật. Làm sao có thể như thế được?” Do
Khyentse búng ngón tay, và con quạ bay đi. Viên thủ lãnh nhận xét: “Khẩu súng
tuyệt vời – không thể giết ngay cả một con quạ.” Một ngày khác, họ đang cùng nhau
cưỡi ngựa trên tuyết. Con ngựa của Do Khyentse đang cưỡi không để lại dấu vết
nào. Viên thủ lãnh nói: “Ồ, ngài có một con ngựa hay. Chúng ta hãy đổi ngựa.” Khi
họ đã đổi ngựa, một lần nữa, con ngựa mà Do Khyentse cưỡi cũng không để lại
dấu vết, và viên thủ lãnh bình luận: “Ngài là một kỵ mã hảo hạng.”246 Sau khi tạo
được sự ngưỡng mộ và bình an trong tâm của viên thủ lãnh, Do Khyentse góp phần
vào việc phóng thích nhiều tù nhân.
Một hôm họ đang ở trong Núi Zhak-ra Lhatse xứ Minyak, một người đàn ông
ngông cuồng (Mi rGod, yeti?) đem Do Khyentse đi. Ngài bị bỏ mặc trong một cái
hang giữa một ngọn đồi đá dốc đứng. Ở đó ngài đắm mình trong thiền định, trong
đó ngài có một linh kiến về một dākinī ban cho ngài các giáo lý, tiên tri, và cam lồ.
Khi ra khỏi thiền định, chị ngài và những người khác được một người lạ hướng dẫn
đi tới chân đồi và gọi lớn tên ngài. Họ không leo lên được mà ngài cũng không thể
tụt xuống. Với sự nhất tâm các môn đồ của ngài cầu nguyện chư Phật và Lạt ma,
và lập tức ngài xuất hiện dưới chân ngọn đồi đá. Sau đó ngài ban những trao truyền
Longchen Nyingthig và Khandro Yangtig với những dấu hiệu và linh kiến kỳ diệu.
Năm 1836, ngài đi tới Lauthang và ban các trao truyền Longchen Nyingthig.
Lauthang đã trở thành một trong những trụ xứ của Do Khyentse. Trong thời gian
vừa qua, Lauthang Gompa là trụ xứ của Lauthang Tülku Drachen (mất năm 1959),
một tülku của Dodrupchen.
Trong khi họ ở Lauthang, Do Khyentse dẫn Raltri, con trai ngài, vào một ngôi
nhà kỳ lạ. Nhiều dākinī dọn ra cho họ nhiều loại thực phẩm và cho họ xem một
trưng bày các kho tàng thật lạ lùng. Do Khyentse ban một phurbu (lưỡi dao) cho
Raltri, và sau đó họ ra khỏi nhà. Khi Raltri nhìn trở lại, ngôi nhà không còn nữa,
nhưng phurba vẫn còn ở bên cậu.
Năm 1844 Khyentse viếng thăm Yarlung Pemakö và ban các trao truyền
Longchen Nyingthig cho Jigme Phuntsok Jungne, Dodrupchen đệ nhị. Sau đó ngài
tiết lộ các giáo lý terma của riêng ngài cho đại chúng. Những giáo lý đó gồm có
Yangsang Khadrö Thukthik và Chö Dzinpa Rangtröl.
Năm 1847 tại Lauthang, ngài tôn phong Tri-me Trakpa xứ Yuthang là tülku của
con trai quá cố Sherap Mebar của ngài, một tülku của Dodrupchen. Tri-me Trakpa,
người cũng từ chối ăn thịt từ thời thơ ấu, sau này được nhiều người biết đến với cái
tên Do (mDo) Rinpoche. 162
Năm 1856/57, trong khi đang viếng thăm Núi Yutse ở Golok, Paltrül Rinpoche
đến nhận quán đảnh Yumka Dechen Gyalmo. Sau đó, cùng với Dodrupchen đệ nhị,
ba vị thực hiện những lễ cúng dường sang (đốt hương).
Mặc dù có mọi bằng chứng, một số người hoài nghi về năng lực giác ngộ của
Do Khyentse. Một người chú của ngài không tin cách thức trì giữ giới luật của ngài.
Một hôm khi Do Khyentse bắn một mạc-mốt, chú ngài quở trách và nói: “Làm sao
một tülku có thể giết thú vật như một tên tội phạm?” Khi đó Do Khyentse dùng roi
da247 đánh vào cái xác, và mạc-mốt bỏ chạy. Trước cảnh tượng đó người chú trách
ngài: “Bây giờ thì ngài học cả mánh lới ảo thuật nữa!”
Trong Núi Yutse, ban ngày Do Khyentse chơi cờ và thiền định vào ban đêm.
Người ta tin rằng ngài đã đưa nhiều người và vô số phi nhân tới con đường an bình
của Giáo Pháp. Theo lời mời của Vua Samang xứ Gyarong, ngài ban giáo lý cho
vua và thần dân của nhà vua. Giờ đây ngài trở thành thầy giáo của tất cả mười tám
lãnh địa xứ Gyarong.
Năm 1858, ngài bắt đầu viết tiểu sử của ngài tại Kaukong Senge Yongdzong ở
Trokyap, và năm 1860 ngài kết thúc tiểu sử khi ban những giáo huấn Đại Viên mãn
cho vua xứ Trokyap và những người khác. Tất cả đều kinh nghiệm những chứng
ngộ cao cấp và chứng kiến những dấu hiệu phi thường.
Trong khi ngài ở Kaukong, vào sáng sớm ngày mồng tám tháng giêng năm Thổ
Mùi (1860), ngài nhìn thấy Dodrupchen trong thân tướng Milarepa và nghe những
lời sau:
Những cái thấy của Madhyamaka (Trung Đạo), Mahāmudrā (Đại Ấn), và
Dzopa Chenpo (Đại Viên mãn)
Là bản tánh của nền tảng, con đường, và quả.
Thoát khỏi những tạo tác của bốn cực đoan
Được gọi là Madhyamaka thô bên ngoài.
Cái thấy đó với sự hiểu biết sắc bén, không có những lỗi lầm,
Trí tuệ với tinh túy cốt tủy,
Là Phật tánh, nền tảng tương tục.
Là Madhyamaka vi tế bên trong.
Có cái thấy đó, nhờ nương tựa phương tiện thiện xảo mang lại sự chứng ngộ,

Qua sự tu tập bốn yoga,
Hoàn thiện kết quả không-thiền định
Là phương cách tiến triển theo con đường Mahāmudrā (Đại Ấn),
Ý nghĩa [hay sự hợp nhất] tánh Không và sự quang minh, không bám chấp,
của tâm..
Trong Đại Viên mãn tự nhiên,
Trưc tiếp nhận ra giác tánh nội tại
Tháo gỡ mọi trói buộc của sự bám chấp và người bám chấp.
Sau đó, nhờ nhận ra những hình ảnh và vòng [ánh sáng],
Năng lực hiển lộ của giác tánh nội tại sẽ được viên mãn như Báo Thân.
Khi sự quang minh của bốn linh kiến được viên mãn,
Các hiện tượng tan vào sự bao la vĩ đại của bản tánh tối thượng, 163
Và sự giải thoát vào pháp giới tối thượng của “thân trẻ trung trong một tịnh
bình” sẽ được thành tựu..248
Sau đó các ánh sáng và hơi nóng xuất phát từ Đạo sư và đi vào đầu Do
Khyentse, tràn ngập thân ngài và tịnh hóa ngay cả những ô nhiễm vi tế nhất của
ngài, và làm ngài tràn ngập trí tuệ của đại lạc.
Năm 1866 ngài trở về Tarsedo và ban giáo lý cho mọi người ở khắp nơi, ngay
cả trên những con đường trong thị trấn. Sau đó, vào ngày hai mươi tháng hai, an
tọa trong tư thế Pháp Thân, ngài tan hòa tülku (hóa thân) vật lý của ngài vào bản
tánh tối thượng. Ngay tức thì, người ta nghe thấy những âm thanh khác nhau, mặt
đất rung chuyển, và những ánh sáng cầu vồng trong hình dạng những đường sọc,
vòng tròn, và những chiếc cột tràn ngập bầu trời trong nhiều ngày. Trong lễ trà tỳ
của ngài, các đệ tử tìm thấy trong tro tàn nhiều xá lợi, trong đó có một xá lợi ngũ
sắc lớn bằng một quả trứng.
Trong những tülku của ngài có Pema Ngödrup Rolwe Dorje (1881-1943), Alak
Zenkar đệ nhất của Tu viện Kyilung xứ Gyarong, và Khyentrül Dzamling Wangyal
(?-1907), một nam tử của Düdjom Lingpa. 164
17
GYALSE ZHENPHEN THAYE
1800-?
GYALSE Zhenphen Thaye249 là một trong những Đạo sư quan trọng nhất của phái
Nyingma. Ngài sinh năm Kim Thân thuộc Rabjung thứ mười ba (1800) trong nhóm
bộ tộc Gemang ở Dzachukha. Ngài cũng được gọi là Gyalse Rikpe Dorje. Ngài
được nhiều người thừa nhận là một tülku của Minling Terchen. Ngài nhận những
giáo lý từ nhiều vị Thầy, trong đó có Dodrupchen đệ nhất, Jigme Gyalwe Nyuku,
Dola Jigme Kalzang, Dzogchen Rinpoche đệ tứ, và Shengtruk Pema Tashi và nhiều
Đạo sư khác của Tu viện Mindroling.
Ngài đã tu học ở các tu viện Dzogchen và Mindroling và trở thành một học giả
nổi tiếng. Ngài cũng thiền định tại nhiều thánh địa, từ Núi Kailasha ở miền Tây Tây
Tạng cho tới Núi Ome (gLang Ch’en) ở Trung quốc, và trở thành một bậc lão thông
thành tựu.
Gyalse Zhenphen Thaye đi tới Yarlung Pemakö để nhận các giáo lý từ
Dodrupchen một lần nữa. Ngài nhìn thấy địa điểm đó như một Cõi Tịnh Độ Vô song
của Pháp thân. Sau khi Dodrupchen mất, Gyalse trở về để phụng sự nhiếp chính
của Dodrupchen trong một thời gian. Gyalse bắt đầu một khóa giảng dạy và thực
hành Guhyagarbha-māyājāla-tantra (Mật điển Bí mật tập hội) hàng năm kéo dài bốn
mươi lăm ngày tại Yarlung Pemakö, trụ xứ chính của Dodrupchen. Paltrül Rinpoche
làm vị trợ giảng cho Gyalse trong năm đầu tiên, và sau đó chính Paltrül chịu trách
nhiệm khóa giảng dạy này thêm hai năm nữa.250
Gyalse tiếp tục trách nhiệm xây dựng lại Tu viện Dzogchen sau khi nó hầu như
bị phá hủy hoàn toàn bởi một trận động đất năm 1842. Tuy nhiên ý nghĩa chính yếu
của đời ngài là ba đóng góp chính mà ngài thực hiện cho phái Nyingma.
Ngài xây Shedra (học viện Kinh điển) Shrīsimha nổi tiếng của Tu viện Dzogchen,
và ở đó ngài và các đệ tử của ngài giảng dạy Kinh điển và Mật điển. Shedra này trở
thành một tổ chức để nghiên cứu và một mô hình cho những học viện Kinh điển tại
nhiều tu viện Nyingma khác. 165
Ngài làm cho Vinaya, hay giới luật tu viện, thành thực hành hàng ngày và thiết
lập những khóa nhập thất mùa mưa hàng năm cho các tu sĩ tại Tu viện Dzogchen,
một tục lệ mà các tu viện Nyingma khác cũng tuân theo.
Theo khẩn cầu của Sangye Künga, vị hộ trì Pháp tòa thứ bảy của Tu viện
Mindroling, và Paltrül Pema Wangyal, ngài tập hợp các giáo lý kama của truyền
thống Nyingma trong một tuyển tập. Sau đó ngài đề xướng các thực hành của mười
ba sādhana kama trong hội chúng tu sĩ trong Tu viện Dzogchen, từ đó các thực
hành này lan rộng tới nhiều tu viện Nyingma khác ở miền Đông Tây Tạng.
Thật không may, tôi không nghĩ là đã có sự thừa nhận thích đáng đối với những
công việc vĩ đại mà ngài đã làm cho phần cốt lõi của truyền thống Nyingma. Trong
số những đại đệ tử của ngài có Khenchen Pema Dorje, Paltrül Rinpoche, và Do
Khyentse.
Ngài mất tương đối trẻ, nhưng tôi không có thông tin về thời gian và ngài mất ra
sao. Tülku của ngài là Gyakong Khenpo Chökyi Nangwa (Zhenga, 1871-1927) của
Tu viện Dzogchen. 166
18
DZOGCHEN KHENPO PEMA DORJE
THẾ KỶ MƯỜI CHÍN
KHENCHEN Pema Dorje251 là một Đạo sư vĩ đại của Kinh điển lẫn Mật điển. Ngài
cũng được gọi là Pema Vajra, Pema Badzar, và Pema Tamchö Özer. Ngài là một
trong những khenpo, hay học giả nghiên cứu nổi tiếng nhất của Tu viện Dzogchen.
Ngài đã tu học dưới chân của Gyalse Zhenphen Thaye, Dzogchen Rinpoche đệ tứ,
Khenchen Sengtruk Pema Tashi, Paltrül Rinpoche, và nhiều Đạo sư khác. Ngài là
một học giả của cả Kinh điển lẫn Mật điển. Ngài nhận các trao truyền Longchen
Nyingthig từ Jigme Gyalwe Nyuku, Dzogchen Rinpoche đệ tứ, Khyentse Yeshe
Dorje, và Gyalse Zhenphen Thaye.
Trong số những tác phẩm của ngài có Nyingme Gal-len Rikpe Kyareng, một
phản bác những công kích vào những quan điểm Nyingma, và Một Dẫn nhập vào
việc Trì tụng Avalokiteshvara của Longchen Nyingthig.
Tülku của ngài là Choktrül Dega Rinpoche của Tu viện Dzogchen. Tülku của
Choktrül Dega là Tülku Kalzang, người tiên phong trong việc xây dựng lại Tu viện
Dzogchen trong những năm qua. 167
19
PALTRÜL JIGME CHÖKYI WANGPO
(1808 – 1887)
PALTRÜL Rinpoche Ogyen Jigme Lingpa Chökyi Wangpo252 là hóa thân về ngữ
của Đức Jigme Lingpa. Ngài là một trong những Đạo sư và tác giả Nyingma vĩ đại,
cuộc đời và các tác phẩm của ngài được ngay cả những học giả của những trường
phái khác trích dẫn. Mặc dù là một trong những học giả và bậc lão thông vĩ đại nhất
của phái Nyingma, ngài đã sống như một ẩn sĩ khiêm tốn và giản dị nhất. Ngài nói
năng thẳng thắn và lớn tiếng, nhưng mỗi lời ngài nói ra là ngôn từ của chân lý, trí
tuệ, và sự quan tâm.
Ngài sinh trong bộ tộc Getse Kongma thuộc dòng Mukpo Dong ở Karchung Ko-ö
trong Thung lũng Dzachukha vào năm Thìn Thổ thuộc Rabjung thứ mười bốn
(1808). Thân phụ ngài là Lhawang thuộc nhóm Gyalthok, và thân mẫu là Dolma
thuộc nhóm Tromza. Sau khi sinh ra không bao lâu, ngài cố gắng nói OM.., nhưng
không rõ ràng. Nhưng vào ngày thứ năm, ngài nói OM MANI PADME HŪM thật rõ.
Các chữ của thần chú OM MANI PADME HŪM cũng được nhìn thấy nơi cổ, và một
chữ HRīH hiện trên lưỡi ngài.
Mặc dù là một tülku (tái sinh) của Jigme Lingpa, ngài được Dola Jigme Kalzang
xác nhận là tülku của Palge Samten Phüntsok. Khi chứng thực (phê chuẩn) sự xác
nhận này, Dodrupchen đệ nhất nói với Jigme Kalzang: “Ta phó chúc cho cậu bé và
trao truyền giáo lý Longchen Nyingthig viên mãn với pháp danh Ogyen Jigme
Chökyi Wangpo.” Chẳng bao lâu, Palge Könchok, một người cháu của Palge cuối
cùng, đem Paltrül tới Palge Latrang, trú xứ của Palge cuối cùng.
Paltrül đã học tập các giáo lý Kinh điển và tantra (Mật điển) với nhiều Đạo sư,
trong đó có Dola Jigme Kalzang, Jigme Ngotsar, Gyalse Zhenphen Thaye, Sönam 168
Palge, và Zhechen Thutop Namgyal. Ngài Sengtruk Pema Tashi ở Tu viện
Dzogchen đã cho ngài thọ giới xuất gia.
Tuy nhiên, các vị Thầy gốc của ngài là Jigme Gyalwe Nyuku và Do Khyentse.
Với Jigme Gyalwe Nyuku, ngài đã học tập từ ngöndro, tu tập chuẩn bị, cho tới
những giáo lý tsalung và Dzogpa Chenpo (Đại Viên mãn). Từ Gyalwe Nyuku, ngài
thọ nhận các giáo lý ngöndro Longchen Nyingthig hai mươi lăm lần, và đã thực hiện
nhiều tu tập về các giáo lý này. Sau này ngài biên soạn những lời dạy của vị Thầy
của ngài về ngöndro là bản văn nổi tiếng Künzang Lame Zhalung (Những Lời Dạy
từ Kim khẩu của Lạt ma Phổ Hiền – Lời Vàng của Thầy tôi).
Một hôm Do Khyentse, vị Thầy lang thang trong khi thực hiện những bài tập bí
truyền, thình lình xuất hiện trước lều của Paltrül. Do Khyentse la lên: “Ồ Palge! Nếu
mi can đảm thì bước ra đây!” Khi Paltrül bước ra một cách cung kính, Do Khyentse
túm lấy tóc ngài, ném ngài trên mặt đất, và lôi ngài xềnh xệch. Lúc đó, Paltrül ngửi
thấy mùi rượu trong hơi thở của Do Khyentse và nghĩ: “Đức Phật đã giảng dạy về
những nguy hiểm của rượu, vậy mà ngay cả một bậc lão thông như ngài cũng có
thể say rượu như thế này.” Ngay lúc đó, Do Khyentse buông Paltrül ra và la lớn:
“Chao ôi! Người thông tuệ như ông mà cũng có thể có những tư tưởng xấu xa như
thế! Đồ Chó Già!” Do Khyentse đánh vào mặt ngài, giơ ngón tay út ra (một cử chỉ
nhục mạ), và ra đi. Paltrül nhận ra rằng: “Ồ ta sai lầm rồi. Ngài đang thực hiện một
bài tập bí truyền để giới thiệu cho ta bản tánh giác ngộ của ta.” Paltrül bị giằng xé
bởi hai cảm xúc mâu thuẫn: đau buồn về những tư tưởng tiêu cực của chính mình
và sửng sốt trước sự thấu thị của Do Khyentse. Ngồi bật dậy, ngài lập tức thiền
định về bản tánh giác ngộ của tâm ngài, và một sự tỉnh giác nội tại, trong trẻo, mở
trống như bầu trời đã thức giấc trong ngài. Do đó, sự chứng ngộ trong trẻo và toàn
triệt như mặt trời mọc đã thức dậy trong ngài, siêu vượt sự chứng ngộ như bình
minh mà ngài đã nhận được nhờ Gyalwe Nyuku khai mở. Kể từ lúc đó, ngài giữ
danh hiệu “Chó Già” với vẻ đùa bỡn như cái tên bí truyền hay thiêng liêng của ngài.
Khi Paltrül khoảng hai mươi tuổi, vị tổng quản lý của Palge Latrang là Palge
Konchok qua đời. Paltrül đóng cửa trụ xứ Palge và bắt đầu sống như một ẩn sĩ lang
thang.
Tại Tu viện Dzogchen, ngài nhận những trao truyền Nyingthig Yabzhi và
Longchen Nyingthig từ Dzogchen Rinpoche đệ tứ và Gyalse Zhenphen Thaye. Sau
đó ngài nhập thất dài hạn tại động Shinje (động Yamantaka hay Tử Thần) và động
Tsering gần Tu viện Dzogchen, nơi có lần Dodrupchen đã thực hiện một cuộc nhập
thất dài hạn.
Khoảng năm 1851, từ đại học giả Gyawa Do-ngak Gyatso, một đệ tử của Paltrül
và Zhapkar Tsoktruk Rangtröl (1781-1851), Paltrül được nghe những chi tiết về
cuộc đời đầy cảm hứng của Zhapkar. Khi ngài tới Golok trên đường đi gặp Zhapkar,
ngài nghe hung tín rằng Zhapkar vừa mất. Ngài quay trở lại và đến Yarlung
Pemako, trụ xứ của Dodrupchen. Tại Yarlung, ngài kết giao với Gyalse Zhenphen
Thaye (1800-?), vị Thầy này đang sống ở đó như nhiếp chính của Dodrupchen quá 169
cố và đang bắt đầu một khóa giảng và thực hành hàng năm kéo dài bốn mươi lăm
ngày về Guhyagarbha-māyājāla-tantra (Mật điển Bí mật tập hội). Paltrül nhận giáo lý
Guhyagarbha-tantra từ Gyalse và làm trợ giảng cho vị Thầy này trong năm đầu tiên.
Sau đó bản thân ngài đảm nhiệm những khóa giảng hàng năm trong hai năm nữa.
Ngài đi khắp các thung lũng Ser, Do, Mar, và Dzika và nhiều lần ban các giáo lý
về Bodhicharyāvatāra (Nhập Bồ Tát Hạnh) và truyền cảm hứng cho toàn bộ dân
chúng trì tụng OM MANI PADME HŪM. Trong những vùng đó, ngài rất thành công
trong việc bãi bỏ hệ thống phục vụ thịt cho các Lạt ma khi họ tới cử hành các buổi
lễ. Ngài tuyên bố các luật lệ chống lại việc trộm cắp và săn bắn. Ngài đã mang Phật
giáo đến với cuộc sống của mọi người và tới mọi nhà, khiến cho Phật Pháp không
bị giới hạn trong giới tu sĩ hay các tu viện và gompa (tu viện hay ẩn thất).
Ngài thăm viếng Tu viện Shukchung, và sau đó trong một thời gian dài ngài ở
Shukchen Tago, trụ xứ chính thức của Dodrupchen đệ nhất. Mặc dù Dodrupchen đã
bỏ trụ xứ này khoảng nửa thế kỷ trước nhưng nó vẫn được dùng như một ẩn thất.
Tại đây ngài tụng Kanjur ba lần và học thuộc lòng nhiều bộ Kinh.
Sau đó ngài sống dưới một gốc cây tại Ari Nak (còn được gọi là Dhichung Phuk)
một thời gian dài. Đó là một bãi đất cao và trống giữa một cánh rừng rậm. Chưa
từng có ai tới đó, và những người duy nhất mà thỉnh thoảng người ta có thể nhìn
thấy là những lữ khách ở bên kia Thung lũng Do, cách bên kia Sông Do khoảng
nửa dặm. Rừng Ari trên bờ Sông Do ở nửa đường giữa Shukchen Tago và Tu viện
Dodrupchen hiện tại.
Trước tiên, Paltrül và Nyoshül Lungtok, người sống gần Paltrül và học với ngài
trong hai mươi tám năm, sống đơn độc tại Rừng Ari trong sáu tháng. Một túi tsampa
nhỏ làm lương thực, y phục khoác trên người, và đôi ba quyển sách là những vật
sở hữu duy nhất của các ngài. Vào giữa trưa họ họp lại và dùng một ít tsampa. Sau
đó họ buộc miệng túi tsampa vào một gốc cây và để nó ở đó cho tới ngày hôm sau.
Sau đó, Paltrül giảng cho Lungtok đôi câu kệ trong Bodhicharyāvatāra (Nhập Bồ Tát
Hạnh). Rồi khoác mảnh vải trắng rách rưới là y phục duy nhất của ngài, với một
chiếc gậy trong tay, Paltrül biến mất vào rừng, nói to, Ha! Ha! Ha! như một bài tập
thiền định. Buổi trưa hôm sau họ lại cùng nhau tụ họp và làm những việc tương tự.
Chẳng bao lâu, nhiều đệ tử đến Rừng Ari, và Paltrül bắt đầu giảng dạy Semnyi
Ngalso, Yönten Dzö và những giáo lý khác.253 Paltrül Rinpoche ban giáo lý và sau
đó các đệ tử thiền định về các giáo lý ấy ở trong rừng. Bởi không chú tâm nhiều vào
việc tổ chức cuộc sống nên họ có rất ít thực phẩm để dùng. Mặc dù ở trong rừng
rậm nhưng cũng không có rau trái có thể ăn được. Loại trà họ uống rất đặc và ngon
khi pha lần đầu với lá trà tươi; nhưng sau đó họ cứ đổ thêm nước vào trà cũ khiến
trà càng lúc càng lạt đi và mất màu. Họ đùa bỡn về độ đậm lạt khác nhau của trà,
gọi đó là trà “ba thân.” Trà đặc là trà của Hóa thân phức tạp, trà lạt là trà của Báo
thân mộc mạc, và trà vô vị là trà của Pháp thân không tánh rỗng rang. Paltrül nhận
ra rằng tài sản và những thuận duyên, chẳng hạn thực phẩm ê hề, y phục hảo 170
hạng, chỗ ở tiện nghi, những lời tán tụng và tiếng tăm là những chướng ngại hơn là
sự hỗ trợ cho tiến bộ tâm linh. Ngài viết:
Đau khổ thì tốt và hạnh phúc thì không tốt.
Hạnh phúc làm năm độc của dục vọng thêm lẫy lừng.
Đau khổ khiến ác nghiệp tích tập trong quá khứ bị cạn kiệt.
Đau khổ là ân phước của Lạt ma.
Chỉ trích thì tốt và tán tụng thì không tốt.
Nếu tôi được tán tụng, tôi sẽ phình lớn sự kiêu mạn.
Nếu tôi bị chỉ trích, lỗi lầm của tôi sẽ được phơi bày..
Nghèo khó thì tốt và thịnh vượng thì không tốt.
Thịnh vượng tạo thêm những thống khổ ghê gớm của việc mưu sinh và duy trì
nó.
Nghèo khó mang lại sự cống hiến và thành tựu Thánh Pháp.
Sau đó Paltrül đi tới tu viện Dzamthang, một trung tâm vĩ đại của học phái
Jonang. Ở đó ngài thuyết giảng về Uttaratantra (Đại Thừa Tối Thượng Mật điển)
dựa trên những giải thích của Künkhyen Dolpo. Tại Minyak ngài gặp Dra Geshe
Tsültrim Namgyal, một học giả vĩ đại phái Geluk, người rất kinh ngạc trước sự uyên
bác của Paltrül. Tại Tu viện Gyaphak, ngài ban các quán đảnh và giáo lý Longchen
Nyingthig viên mãn, là giáo lý ngài hiếm khi truyền dạy. Tại Golok, ngài điều phục
những kẻ trộm cướp phóng túng và thợ săn hung ác bằng năng lực của sự hiện
diện và ngôn từ phù hợp lẽ phải của ngài. Tại Marung ngài dạy dân chúng nhắc lại
ngôn từ của lòng bi mẫn OM MANI PADME HŪM, bởi thậm chí họ không biết đọc
thần chú đó ra sao. Sau đó ngài trở về Rừng Ati trong Thung lũng Do và ở đó một
thời gian.
Năm 1856/57 Paltrül nghe nói là từ Tarsedo, Do Khyentse đã đến Núi Yutse ở
Golok. Paltrül tới đó sau nhiều ngày du hành để gặp Do Khyentse. Paltrül khẩn cầu
Do Khyentse ban cho ngài quán đảnh Yumka Dechen Gyalmo của Longchen
Nyingthig. Do Khyentse nói: “Ta đã giữ nó bí mật trong nhiều năm, nhưng bây giờ ta
sẽ ban nó cho con,” và hết sức hoan hỉ, Do Khyentse truyền quán đảnh cho ngài.
Trong số nhiều tiên tri mà Do Khyentse đã ban, có một tiên tri nói rằng Paltrül sẽ
sống đến tám mươi tuổi. Sau đó Do Khyentse, Dodrupchen đệ nhị và Paltrül cùng
cử hành một lễ cúng dường khói (sang ceremony), nó trở thành một dấu hiệu cho
thấy các ngài sẽ tái sinh làm anh em ruột. Paltrül trở về Thung lũng Do và ban giáo
lý về Bodhicharyāvatāra ở nhiều nơi.
Sau khi sống khoảng mười năm quanh các thung lũng Do và Ser, quanh các trụ
xứ của Dodrupchen, Paltrül trở về Tu viện Dzogchen. Tại các ẩn thất Padme Thang,
Nakchung, và học viện Shrīsimha của Tu viện Dzogchen, ngài giảng dạy
Bodhicharyāvatāra, Abhisamayālamkāra (Hiện Quán Trang nghiêm),
Madhyamakāvatāra (Nhập Trung Luận), Mahāyānasūtrālamkāra (Đại thừa Trang
nghiêm Kinh luận), Abhidharmakosha (A tỳ đạt ma Câu xá luận), Guhyagarbhamāyājāla (Bí Mật Tập Hội), Yönten Dzö (Kho tàng của những Phẩm tính Cao quý),
Domsum Namnge (Sự Xác quyết của Ba Thừa), và nhiều bản văn khác trong nhiều 171
năm. Ngài hành hương đến Kathok và giảng Bodhicharyāvatāra. Ngài tiếp đón
Tertön Chogyur Lingpa ở Tu viện Dzogchen và nhận những trao truyền.
Cuối cùng, ngài trở về Dzachukha, quê hương của ngài. Ngài viếng thăm hầu
hết tu viện và ẩn thất trong Thung lũng Dzachukha, đặc biệt là các ẩn thất Gekong
và Changma, và giảng Bodhicharyāvatāra và những bản văn khác của triết học Đại
thừa. Nhưng trong hầu hết phần đời còn lại của ngài, ngài sống quanh Dzagya Gön,
trụ xứ của bổn sư Gyalwe Nyuku của ngài, nơi di cốt của Gyalwe Nyuku được giữ
gìn trong một bảo tháp. Tại Dzagya, ngài thiết lập một khóa giảng và thực hành
Bodhicharyāvatāra hàng năm kéo dài ba tháng, và một khóa giảng và thực hành về
Cõi Tịnh Độ của Đức Phật Vô lượng Quang A Di Đà trong một tuần lễ. Mỗi lần ngài
đi vào điện thờ di cốt của vị Thầy của ngài, ngài luôn luôn tụng lớn tiếng những lời
ước nguyện sau:
Trong mọi cuộc đời của chúng con, cầu mong không bao giờ chúng con bị ảnh
hưởng bởi mọi ác hữu. Trong mọi cuộc đời của chúng con, cầu mong không
bao giờ chúng con xâm phạm ngay cả một sợi tóc của người khác. Trong mọi
cuộc đời của chúng con, cầu mong không bao giờ chúng con xa rời ánh sáng
của Thánh Pháp. [Tiếp theo là một bài kệ lấy từ Kinh điển:]
Bất kỳ ai nhận giáo lý từ ta, và
Thậm chí nhìn thấy ta, lắng nghe ta, nghĩ tới ta, hay có quan hệ với ta
qua việc trò chuyện,
Cầu mong cánh cửa tái sinh của họ trong những cõi thấp được đóng kín,
Và cầu mong họ tái sinh trong Cõi Cực Lạc Potala (Phổ Đà).
Ở Mamö Do tại Dhachukha ngài dâng hiến nỗ lực trong nhiều năm cho việc phát
triển một Dobum nổi tiếng, một quần thể những bức tường đá đồ sộ thật đáng kinh
ngạc, và trên mỗi hòn đá có khắc nhiều thần chú OM MANI PADME HŪM. Bức
tường này được bắt đầu từ vị tiền nhiệm của Paltrül. Trong lần đầu tiên ngài bắt
đầu chấp nhận mọi vật cúng dường và dùng từng mẩu bơ như tiền trả lương cho
những người được thuê khắc những lời cầu nguyện. Khi bức tường đá được hoàn
tất, ngài gởi một sứ giả đến thỉnh cầu ngài Khyentse Wangpo tới làm lễ hiến cúng.
Vào ngày đặc biệt này, những hạt gia trì của lễ hiến cúng mà ngài Khyentse
Wangpo ném từ một nơi cách xa tám ngày đường trên lưng ngựa, rơi xuống bức
tường đá trước mắt mọi người.
Ở Tramatung, ngài giảng dạy và hướng dẫn thực hành về các tu tập chuẩn bị
duy nhất, Trekchö và Thögal. Sau này, Tendzin Norbu (Tenli), đệ tử chính của ngài,
nhận xét: “Tôi đã có một ít hiểu biết về Đại Viên mãn trước đó, nhưng ở Tramatung,
tôi hoàn toàn thấu suốt và chứng ngộ những điều này.”
Khoảng năm 1872, Dodrupchen đệ tam, lúc đó tám tuổi, đến Dzagya Gön để
nhận các giáo lý và trao truyền từ Paltrül. Sau khóa giảng, theo khẩn cầu của chính
Paltrül, Dodrupchen ban giáo lý về Bodhicharyāvatāra cho đại chúng, kể cả bản
thân Paltrül. Sau đó Paltrül gởi tin lành đến cho Khyentse Wangpo, nói rằng: “Về172
việc học Pháp, Dodrupchen đã ban giáo lý về Bodhicharyāvatāra năm lên tám tuổi.
Đối với việc chứng ngộ Pháp, Nyakla Pema Düdül [1816-1872] vừa đạt được thân
cầu vồng. Vì thế giáo pháp của Đức Phật không bị suy giảm.”
Vào lúc đó, thỉnh thoảng Dodrupchen nghe giọng nói của Paltrül lọt qua tường,
nói rằng: “Đức Liên Hoa Sanh vĩ đại, xin đoái tưởng tới con. Con không có người
nào khác để tin cậy…” – những lời khẩn cầu Guru Rinpoche trong bản văn ngöndro
Longchen Nyingthig. Điều này cho thấy chắc hẳn ngöndro là một trong những thực
hành chính của ngài.
Từ năm bảy mươi mốt tuổi, ngài bắt đầu tiết kiệm lương thực, chỉ đủ để dùng
khoảng một tuần, là việc mà trước đây ngài chưa bao giờ làm. Ngoài ra, ngài không
nhận bất kỳ vật cúng dường nào, hoặc nếu có nhận thì ngài lập tức gởi nó cho quỹ
xây tường đá mani. Thỉnh thoảng ngài để lại thực phẩm ở nơi nó được cúng dường
cho ngài, khiến những người nghèo thường đi theo ngài để thâu thập những vật
cúng dường mà ngài để lại.
Năm bảy mươi sáu tuổi, tại cánh đồng Dza Mamö, ngài ban giáo lý về Lời
Nguyện Khát khao Cõi Tịnh độ và Mani Kabum cho khoảng một ngàn người. Sau
đó ngài không ban giáo lý cho đại chúng nữa. Bất kỳ ai đến gặp ngài, ngài gởi tới
Thầy Tenzin Norbu để học Pháp. Nếu ai cố nài nỉ thì ngài la rầy, nhưng ngài càng la
rầy thì họ càng sùng mộ ngài. Đó là bởi trái tim bi mẫn và lời lẽ khiêm tốn của ngài.
Năm bảy mươi bảy tuổi, ngài đi tới Dzagya Gön và mời Dzogchen Rinpoche đệ
ngũ, khi đó đang viếng thăm Dzachukha, và các ngài đã kỷ niệm ngày mồng mười
tháng Thân năm Mùi, là sinh nhật của Guru Rinpoche.
Năm bảy mươi tám tuổi, Paltrül trở về Ko-ö, sinh quán của ngài. Năm tám mươi
tuổi, vào ngày mười ba tháng tư năm Hỏa Hợi (1887), ngài bắt đầu có vấn đề về
sức khỏe. Vào ngày mười tám tháng đó ngài dùng trà sáng như thường lệ. Sau đó,
trước giờ trưa, ngài ngồi dậy trần trụi trong tư thế Phật và đặt bàn tay trên đầu gối.
Khenpo Künpal có mặt ở đó, và Khenpo cố mặc quần áo lại cho ngài, nhưng ngài
không phản ứng lại. Sau một lát, với đôi mắt mở trong vẻ thiền định, ngài búng
ngón tay một lần và để tay trong tư thế thiền định, và tâm ngài tan hòa vào sự thuần
tịnh nguyên thủy. Vào ngày hai mươi trong tháng, Tsamtrül Rinpoche cử hành lễ
đánh thức tâm thức ngài ra khỏi thiền định.
Khi mất, ngài không để lại vật gì đáng giá. Có một bộ y tu sỹ, một bình bát khất
thực, một khăn choàng vàng, một hạ y, thực phẩm đủ dùng khoảng mười ngày, một
bộ gồm năm bản văn của Asanga (Vô Trước), và một bản chép Madhyamakāvatāra
(Nhập Trung Luận). Có năm đồng bạc và một ít khăn choàng mà ngài chưa gởi cho
quỹ xây tường đá. Đó là tất cả những gì ngài có.
Dodrupchen đệ tam mô tả giáo lý của Paltrül như sau: 173
Dù ban giáo lý nào, ngài không bao giờ trình bày với vẻ phô trương sự uyên
bác của mình nhưng với mục đích làm những giáo lý ấy thích hợp với sự hiểu
biết của người nghe. Nếu phân tích những lời dạy của ngài, ta sẽ thấy chúng
hợp luận lý và đầy ý nghĩa. Thậm chí một người đần độn nghe những giáo lý
ấy cũng có thể hiểu được dễ dàng. Bởi những giáo lý đó rất cô đọng nên
người nghe dễ dàng nắm bắt. Lời giảng dạy có độ dài tương xứng, liên quan
tới chủ đề và thật duyên dáng khiến cho người nghe say mê.
Mô tả nhân cách của Paltrül, Dodrupchen đệ tam viết:
Paltrül sử dụng ngôn từ cứng rắn có vẻ khủng khiếp và áp đảo, nhưng không
có chút sân hận hay tham luyến trong những lời nói đó. Nếu quý vị biết cách
lắng nghe thì chúng chỉ là những giáo lý trực tiếp hay gián tiếp. Mọi điều ngài
nói ra thì rắn chắc như vàng – rất chân thật. Ngài đối xử với mọi người một
cách bình đẳng, không tâng bốc khi họ có mặt mà cũng không nói xấu họ sau
lưng. Ngài không bao giờ giả bộ là điều gì đó hay người nào đó. Vì thế mọi
người, dù ở địa vị cao hay thấp, tất cả đều tôn kính ngài như một vị Thầy đích
thực. Ngài không thiên vị đối với người có chức quyền cao mà cũng không coi
nhẹ những người bình thường. Bất kỳ ai dính dáng tới những hoạt động phi
đạo đức, trừ phi họ không thể thay đổi được, ngài lập tức nêu ra những lỗi lầm
của họ và phơi bày chúng. Ngài tán thán và thôi thúc những người đang theo
đuổi một đời sống tâm linh. Ngài có vẻ khó khăn trong việc đối xử nhưng nếu
thân cận với ngài, quý vị không bao giờ thấy ngài biểu lộ sự thiếu trung thực,
thiếu tin cậy, thiếu kiên định, hay đạo đức giả. Ngài không thay đổi trong tình
bằng hữu, dễ dàng và thoải mái khi tiếp cận. Ngài kiên nhẫn trước những điều
tốt và xấu. Khó có thể xa rời ngài. Mặc dù suốt đời ngài vẫn là một hành giả ẩn
dật, mọi quan điểm của ngài đều lành mạnh, bởi ngài không bao giờ lạc hướng
đối với các hoạt động của Bồ Tát. Như một tục ngữ có nói: “Cho dù vàng vẫn
còn nằm dưới mặt đất, ánh sáng của nó chiếu rọi tận trời cao.” Nếu quý vị
khảo sát ngài ở một mức độ nào đó quý vị sẽ thấy ngài trong sạch và thanh
tịnh. Nếu quý vị nghĩ về ngài ở mức độ nào đó, niềm tin nơi ngài của quý vị sẽ
tăng trưởng.
Mô tả về hình tướng vật lý của Paltrül, Dodrupchen đệ tam viết:
Đầu ngài lớn như một cái dù. Mặt ngài giống như một đóa sen nở, và những
năng lực tri giác của ngài thì trong trẻo tinh khiết. Thường thì ngài rất ít bệnh
tật. Từ thời thơ ấu ngài đã có trí tuệ và lòng bi mẫn vĩ đại, và là một diễn giả
sáng chói.
Khenpo Künpal, người sống với Paltrül nhiều năm trong phần cuối cuộc đời của
ngài, viết rằng một trong những lời cầu nguyện chính của ngài là
Manjushrīnamasamgitī (Hát tụng những Danh hiệu của Đức Văn Thù). Không chỉ
không có của cải thế gian, ngài cũng không có nhiều Kinh sách, là thứ mà đối với
một Đạo sư-học giả thường được cho là quan trọng nhất. Đôi khi ngài có một bản
sao của Bodhicharyāvatāra và một bản Manjushrīnamasamgitī, là những bài nguyện 174
hàng ngày của ngài. Nhưng đôi khi ngay cả những bản đó ngài cũng cho đi, bởi
ngài đã thuộc lòng những bản văn đó. Ngài không có giấy hay một cây bút tre. Vì
thế bất kỳ ngài ở đâu, khi đứng dậy, ngài sẵn sàng rời bỏ tức thì một nơi chốn.
Patrül đã ban những giảng dạy về những bản văn triết học thuộc Kinh điển, Mật
điển, Đại Viên mãn và đã đánh thức hay trao truyền sự chứng ngộ tối thượng cho
tâm thức của nhiều đệ tử hữu duyên. Tuy nhiên, dường như rất ít khi ngài ban quán
đảnh hay cử hành những buổi lễ phức tạp.
Ngài có một quan điểm không bộ phái trong việc giảng dạy, cách viết và thực
hành. Ngài đã nghiên cứu, thực hành và giảng dạy đầy đủ các truyền thống Phật
Giáo của Tây Tạng. Ngài coi Đạo sư của những trường phái khác nhau ngang bằng
với Đức Phật Trí tuệ:
Đức Sakya Pandita, đấng mang lại bình minh của ngũ minh,
Đức Tsongkhapa, suối nguồn của những giáo lý Kinh điển và Mật điển, và,
Đức Longchen Rabjam, Đạo sư của những giáo lý viên mãn của Đức Phật,
Là những Đức Văn Thù đích thực của Xứ Tuyết Tây Tạng.
Là một người vô cùng khiêm tốn và đơn giản, tuy thế ngài có thể giúp đỡ nhiều
học giả cao quý, giàu có, đầy năng lực và nổi tiếng như các đệ tử của ngài. Nhiều
đệ tử trong bộ quần áo gấm thêu có đoàn tùy tùng vây quanh đã đến quỳ dưới chân
vị ẩn sĩ trong manh áo vải cũ kỹ, rách rưới, đắp vá này, là người khó có đủ tsampa
để ăn hay đủ nhiên liệu để nấu trà. Thậm chí cũng có lúc vẻ khiêm tốn của ngài làm
xấu hổ những người khoác áo thêu, đi ngựa và phô bày sự yếu đuối của họ.
Có lần Paltrül du hành tới một trại của người du cư, và ngài đi bộ như thường lệ.
Ngài dừng chân tại một gia đình có một chiếc lều khổng lồ và xin họ cho ngài ở lại
vài ngày bởi ngài đã kiệt sức. Gia đình đó nói: “Ông có đọc lời cầu nguyện được
không?” Ngài trả lời: “Chút ít.” Sau đó họ bằng lòng cho ngài vào và để ngài ở một
góc thấp nhất của chiếc lều. Nhiều người đang bận rộn làm các vật nghi lễ, dựng
lều, làm ghế cao, và nấu thức ăn ngon cho một đại Lạt ma và đoàn của ngài sắp
đến để cử hành một buổi lễ quan trọng. Sau vài ngày, họ nghe đồn là vị đại Lạt ma
đang đến, và mọi người xô nhau ra đón Lạt ma. Paltrül không đi ra ngoài. Mọi người
quát tháo ngài và hầu như lôi ngài ra để trình diện trước Lạt ma. Vị Lạt ma trong bộ
quần áo thêu, đi tới với toàn bộ vẻ phô trương của khoảng bốn mươi kỵ binh hầu
cận, cầm những lá phướn trong tay, như thể trong một vở tuồng. Paltrül không còn
chọn lựa nào khác là phải tới trước vị Lạt ma, vì thế ngài đã làm như thế. Khi vị đại
Lạt ma nhìn thấy Paltrül, ông ta nhảy xuống ngựa và sụp xuống chân Đạo sư, xấu
hổ vì sự phô bày khoa trương vô nghĩa trước sự hiện diện khiêm tốn và đầy ý nghĩa
của Paltrül vĩ đại. Vị Lạt ma là Minyak Kunzang Sönam, một đệ tử của Paltrül,
người đã viết một bình giảng nổi danh về Bodhicharyāvatāra. Từ ngày đó trở đi, vị
Lạt ma từ bỏ lối sống khoa trương của mình, trở thành một ẩn sĩ, không bao giờ
cưỡi ngựa nữa mà đi bộ cho dù du hành nơi đâu. Người ta tin rằng Paltrül đã biết
trước kết quả của cuộc gặp gỡ này nhờ tài thấu thị của ngài, một khả năng mà ngài
đã biểu lộ nhiều lần. 175
Các tác phẩm của ngài được thu thập trong sáu quyển sách, về Đại Viên mãn,
Mật điển, Kinh điển, lời chỉ dạy, thi ca, và kịch. Các tác phẩm lừng danh của ngài là
những giáo huấn công phu về thực hành chuẩn bị của Longchen Nyingthig, có tựa
đề là Những Lời Dạy từ Kim khẩu của Lạt ma Phổ Hiền (Lời Vàng của Thầy tôi);
một giáo huấn ngắn gọn nhưng kỳ diệu về thiền định Đại Viên mãn, có tựa đề là Ba
Lời Đánh vào những Điểm Trọng yếu, và một bình giảng về Abhisamayālamkāra
(Hiện Quán Trang nghiêm).
Ở miền Đông Tây Tạng, có lẽ Paltrül là người có công lao to lớn nhất trong việc
làm cho Bodhicharyāvatāra (Nhập Bồ Tát Hạnh) thành một cẩm nang cho nhiều tu
sĩ; Lời Nguyện Khát khao được Tái sinh trong Cõi Tịnh Độ Cực Lạc của Đức Phật A
Di Đà, một lời nguyện hàng ngày cho nhiều cư sĩ; Guhyagarbha-māyājāla-tantra
(Mật điển Bí mật tập hội), nền tảng của truyền thống Mật thừa Nyingma; các giáo lý
Đại Viên mãn không chỉ là một truyền thống dựa trên văn tự mà là một chứng ngộ
thiền định; và trên tất cả, OM MANI PADME HŪM như hơi thở bất tận của nhiều
người.
Trong số những hóa thân của ngài có Jigme Wangpo xứ Dzagya Gön và
Namkha Jigme xứ Dzachukha, một nam tử của Düdjom Lingpa. 176
20
DODRUPCHEN ĐỆ NHỊ JIGME PHÜNTSOK JUNGNE
1824-1863
Dodrupchen Rinpoche đệ nhị, Jigme Phüntsok Jungne,254 sinh trong bộ tộc
Puchung thuộc dòng Mukpo Dong tại Dilsham Kathok ở đèo Thangyak trong Thung
lũng Do. Thân phụ ngài là Puchung Chöphen, và thân mẫu là Apangza Tsomo.
Một hôm, khi ngài ở trong bụng mẹ, mẹ ngài lọt xuống Sông Thangyak và có
nguy cơ bị chết đuối. Vào lúc đó bà nghe em bé của bà nói: “Đừng sợ, Mẹ.” Lúc
ngài sinh ra có một trận mưa hoa, các cầu vồng uốn cong trên căn lều, và người ta
nghe thấy âm nhạc trong không trung. Là một đứa trẻ, trong khi nô đùa ngài thường
gài những cành con vào trong đá như thể vào trong bùn.
Dodrupchen đệ nhất đã tiên tri việc ngài sinh ra như hóa thân của chính ngài
trong những dòng kệ sau:
Sau đời này bằng năng lực của ba thiền định
[Ta sẽ sinh là] Phüntsok Jungne,
Một sứ giả sẽ biểu lộ những hoạt động giác ngộ của ba thân Phật, và
Một người sáng tạo những điều huyền diệu như suối nguồn của những lợi lạc.
Việc xác nhận ngài là Dodrupchen được Sakya Kongma chứng thực và ngài
được tôn phong tại Yarlung Pemakö. Thông minh khác thường, ngài tinh thông
những việc nghiên cứu thông thường và phi thường không chút khó khăn. Ngài rất
thiện xảo trong việc sáng tác và thi ca và viết chữ rất đẹp. Ngài được cho là đẹp trai
tới nỗi người ta khó có thể tìm được sự bất toàn nào trong thân tướng của ngài.
Năm 1834 ngài tới Dzachukha và nhận những giáo lý Ngöndro, Rigdzin Düpa,
và các giáo lý Dzopa Chenpo từ Jigme Gyalwe Nyuku.255 Jigme Gyalwe Nyuku, với
nhiều món cúng dường, đã gia lực cho ngài là Vajrāchārya (Đạo sư Kim cương)
Siêu việt. Năm 1844, Do Khyentse tới Yarlung Pemakö256 và trao truyền cho ngài tất
cả những quán đảnh, Kinh điển, và những giáo huấn của Longchen Nyingthig. Ngài 177
cũng nhận những giáo lý và trao truyền từ Dzogchen Rinpoche đệ tứ và Paltrül
Rinpoche.
Từ thời thơ ấu ngài đã phô diễn vô số năng lực, khiến cho những điều kỳ diệu
trở thành các hiện tượng thông thường đối với những người quanh ngài. Ngài đã
nhiều lần làm hồi sinh cho những xác chết của các thú vật. Mỗi khi ngài cử hành
pháp phowa (chuyển di tâm thức) cho người chết, những dấu hiệu được tin là
những biểu thị của việc chuyển di tâm thức tới những cõi thuần tịnh luôn luôn xảy
ra. Ngài có khả năng biết được quá khứ, tương lai và đọc được tâm của người
khác. Trong phần sau của đời ngài, ngài ăn mặc như một cư sĩ. Mặc dù ngài cử
hành những buổi lễ có tính chất tượng trưng và phô diễn những năng lực kỳ diệu,
ngài từ chối ban bất kỳ giáo lý hay trao truyền chính thức nào.
Có lần, khi ngài đang du hành với một nhóm đông người trong một xứ–không–
người, thình lình họ bị một nhóm cướp đông đảo vây kín. Dodrupchen khẩn cầu các
Hộ Pháp, ngài nói: “Nếu ngài nổi giận, xin đổ Zas [gZa]257 và những hành tinh xuống
mặt đất.” Thình lình, từ trên không trung hàng trăm Zas đổ xuống quanh đám cướp.
Những tên cướp xin lỗi ngài và cúng dường nhiều con ngựa.
Một hôm, Do Khyentse giết một con cừu cái và mời Dodrupchen đệ nhị và
Paltrül dùng bữa trưa. Các thị giả của Paltrül sợ rằng ngài sẽ cảm thấy rất khó chịu,
bởi ngài phản đối kịch liệt việc ăn thịt và đặc biệt là giết bất kỳ sinh loài nào, ngay cả
những con vật nhỏ nhất. Nhưng cả ba vị cùng ngồi trên một chiếc ghế và vui vẻ
thưởng thức món thịt, trước sự ngạc nhiên của các đệ tử của Paltrül. Sau này,
Paltrül nói với các đệ tử của ngài: “Làm thế nào một con cừu cái có thể được lợi lạc
như thế từ xác thân của nó? Bởi những vị hộ trì trí tuệ này thưởng thức thân thể
của nó, nó sẽ không còn bị những tái sinh thấp kém nữa.”
Trong rặng núi Yutse, Do Khyentse thực hiện một lễ cúng dường đốt hương trên
một cái bệ. Sau đó Dodrupchen cử hành buổi lễ tương tự cũng trên chiếc bệ đó.
Cuối cùng, Paltrül Rinpoche cũng thực hiện tương tự. Sau đó Paltrül nói: “Ta ước
mong có thể chết trước các vị hộ trì trí tuệ, nhưng điềm này cho ta thấy Do
Khyentse sẽ mất trước nhất, kế đó là Dodrupchen, và ta sẽ là người cuối cùng.
Ngoài ra, bởi chúng ta đã cử hành những lễ cúng dường trên cùng một cái bệ,
chúng ta sẽ được tái sinh làm những đứa con cùng cha mẹ.” Kết quả là
Dodrupchen mất sớm nhất bởi những tình huống bất ngờ, nhưng tất cả các ngài
đều tái sinh làm các con trai của Düdjom Lingpa.
Khi Gönpo Namgyal (?-1865), viên thủ lãnh độc ác của Tỉnh Nyak-rong, đang
chuẩn bị tấn công Thung lũng Ser, ông ta viết thư cho Dodrupchen nói rằng ông sắp
phá hủy Thung lũng Ser nhưng ông ta sẽ không làm hại Yarlung Pemakö, là nơi đội
quân sẽ đi qua. Dodrupchen đệ nhị trả lời rằng dân chúng trong Thung lũng Ser là
những người sống phụ thuộc (Lha sDe) vào ngài và nếu họ bị hại thì điều đó cũng
làm hại tu viện của ngài. Viên thủ lãnh viết thư trả lời rằng khi quân đội của ông ta
tới Thung lũng Ser, trước tiên ông ta sẽ hủy diệt Yarlung. Khi nghe tin này, tất cả
những người sống tại Yarlung Pemakö chạy trốn, để lại nó trống không.
Do sự van nài của các môn đồ, Dodrupchen không có lựa chọn nào khác ngoài
việc từ bỏ Yarlung. Như vậy phù hợp với những tiên tri của các dākini, ngài di
chuyển tới đồng bằng Tsangchen trong Thung lũng Do thượng. (Người ta cũng tin
rằng Dodrupchen đệ nhất cũng xây dựng một địa điểm nhập thất ở cánh đồng
Tsangchen trong quá khứ.) Trên cánh đồng Tsangchen có một ngọn đồi đá linh 178
thiêng tên là Jikche Barma, Ngọn Lửa Khủng khiếp, người ta tin rằng nó là nơi trú
ngụ của một nữ bảo trợ đầy năng lực. Cầm một phurbu trong tay, Dodrupchen thình
lình bay vào ngọn đồi không chút chướng ngại. Bên trong ngọn đồi, ngài thuật lại,
có một thị trấn đáng sợ. Trong một cung điện ở trong thị trấn, ngài được yêu cầu
chia sẻ ngai tòa của vị thủ lãnh, một người đàn bà có hình tướng phẫn nộ. Theo lời
khẩn cầu của ngài, bà cho phép ngài xây một gompa.
Năm 1862, ngài đặt nền móng của gompa mà nhiều thập kỷ sau này trở thành
Tu viện Dodrupchen nổi tiếng. Chẳng bao lâu ngài lập Gyaza (hay Tsaza) Tamtsik
là người phối ngẫu, và điều này đã chọc tức Chökor Kalzang Gelek, một vị lãnh đạo
địa phương đầy năng lực, người đang hy vọng là cháu gái của mình sẽ trở thành
phối ngẫu của Dodrupchen. Bởi việc này, Dodrupchen nhanh chóng khởi hành đi
Tartsedo (hiện nay gọi là Kanding), để lại việc xây dựng gompa cho các đệ tử.
Ngài lưu lại và sống quanh Tartsedo như một trong những thầy giáo của vua xứ
Chakla. Năm 1863, nhiều người ở Tartsedo chết trong một trận dịch đậu mùa.
Dodrupchen hết sức đau buồn bởi nỗi khổ mà người dân đang phải gánh chịu trong
thị trấn. Để chấm dứt đau khổ, ngài nhận bệnh dịch vào mình. Ngay khi ngài mắc
bệnh, bệnh dịch chấm dứt trong thị trấn. Ngài nói: “Trong đời này, ta có rất nhiều
vấn đề do các phụ nữ. Đời sau, ta sẽ tái sinh làm một người thậm chí không nhìn
thấy mặt một người đàn bà.” (Tülku của ngài là Jigme Tenpe Nyima, một tu sĩ rất
nghiêm ngặt.) Sau đó ngài nói: “Một yogī (hành giả) nên chết như một con chó đi
lạc,” và nằm trên một đường phố ở Tartsedo, hướng đầu dốc xuống, ngài thị tịch.
Chẳng bao lâu Do Khyentse đến với con trai là Rikpe Raltri. Do Khyentse hét to
trước nhục thân của Dodrupchen: “Vì sao ngài chết như một con chó đi lạc?” và
ngài đá vào tử thi. Tử thi của Dodrupchen ngồi dậy trong tư thế thiền định như thể
ngài còn sống và an trụ trong thiền định trong một tuần. Khi cậu bé ba tuổi Rikpe
Raltri nhìn thấy xác của Dodrupchen ngồi dậy, cậu cảm thấy choáng váng, và sự
choáng váng đó đã đánh thức sự chứng ngộ bản tánh tối thượng trong cậu. Từ đó
trở đi, Rikpe Raltri luôn luôn nói: “Lạt ma siêu việt của ta là Dodrupchen Jigme
Phüntsok Jungne.” Nhục thân của Dodrupchen được hỏa thiêu, và di cốt được
mang trở về Dodrupchen Gompa và được giữ gìn trong một bảo tháp bằng vàng
cho tới cuộc biến động chính trị năm 1959.
Trong số các hóa thân của Dodrupchen đệ nhị có Jigme Tenpe Nyima,
Dodrupchen đệ tam, Pema Norbu Künzang Tendzin đệ nhị (1887-1932) của Tu viện
Palyül, Tülku Drachen (mất năm 1959?) của Tu viện Lauthang, và Tsangpe Se
Tülku của Tu viện Dzika. Cũng có một câu chuyện kể rằng Jamyang Zhepa đệ ngũ
(1916-1946) của Tu viện Labrang là một hóa thân của Dodrupchen.179
21
JAMYANG KHYENTSE WANGPO
1820-1892
Theo truyền thống Nyingma, Jamyang Khyentse Wangpo258 là hóa thân về thân của
Jigme Lingpa.259 Ngài trở thành một trong những Đạo sư vĩ đại nhất, ở nơi ngài mọi
dòng truyền thừa của Phật Giáo Tây Tạng tìm thấy chỗ tụ hội. Ngài trở thành một
nhà truyền bá lỗi lạc của Nyingma, Sakya, Kagyü, và những dòng giáo lý khác. Ngài
được những người theo phái Nyingma xác nhận là tái sinh của Jigme Lingpa (1730-
1798) và những người theo phái Sakya xác nhận là tái sinh của Nesar Khyentse
(1524-?) và Thartse Champa Namkha Chi-me. Là Jigme Lingpa, ngài cũng là hiển
lộ của Vua Trisong Detsen, Vimalamitra, và nhiều Đạo sư khác. Ngài là Đạo sư của
mười ba dòng truyền thừa và được coi là một trong năm vị vua trong một trăm
terton chính yếu của truyền thống Nyingma.
Ngài cũng được gọi là Dorje Ziji, Pema Do-ngak Lingpa, Jigpa Mepe De, Tsokye
Lama Gyepe Bang, Kunkhyen Lama Gyepe Bang, Jigme Khyentse Dökar,
Manjughosha, và Künga Tenpe Gyaltsen.
Ngài sinh ở gần Khyungchen Trak trong một gia đình thuộc bộ tộc Nyö thuộc
làng Dilgo trong Thung lũng Terlung xứ Dege giữa những dấu hiệu kỳ diệu vào
ngày mồng năm tháng sáu năm Kim Thìn thuộc Rabjung thứ mười bốn (1820).
Thân phụ ngài là Rinchen Wangyal, một nhà hành chánh của Cung điện Dege, và
thân mẫu là Sönamtso có gốc gác Mông Cổ.
Có lần thân phụ ngài hỏi Dodrupchen đệ nhất là ông có nên trở thành một tu sĩ
không. Dodrupchen trả lời: “Đừng trở thành một tu sĩ. Nếu ông không trở thành một
tu sĩ và lập gia đình, một tülku vĩ đại sẽ sinh làm con của ông. Tülku đó sẽ trở thành
một nguồn mạch vĩ đại mang lại lợi lạc cho Giáo Pháp và chúng sinh.”
Từ thời thơ ấu, ngài đã có thể nhớ lại những đời trước của ngài, và người ta có
thể nhìn thấy Ekajatī và Mahākala trong hình tướng và trong những năng lực quanh
ngài để bảo vệ ngài.
Năm lên tám ngài bắt đầu học tiếng Tây Tạng, thuật chiêm tinh, y học, và những
môn học khác với thân phụ ngài và Lamen Chötrak Gyatso. Ngài rất thông tuệ, và 180
ngài đã hoàn thiện việc học thuộc lòng và học viết không chút khó khăn. Ngài cũng
thấu hiểu ý nghĩa của những bản văn sâu xa chỉ bằng cách đọc chúng.
Một hôm khi ngài bị bệnh nặng, trong một linh kiến ngài được Guru Rinpoche và
Yeshe Tsogyal ban quán đảnh Vajrakīla, và những điều chướng ngại cho đời ngài
được lắng dịu.
Năm ngài khoảng mười một tuổi, ngài đi tới Tu viện Kathok, và chú ngài tên là
Moktön đặt tên cho ngài là Jigme Khyentse Dökar, điều đó cho thấy ngài là tülku
của Jigme Lingpa.
Năm mười hai tuổi, Thartse Khenpo Kün-ga Tenzin (1776-?) xác nhận ngài là
tülku của vị Thầy và chú ngài, Ngor Thartse Khenchen Champa Namkha Chi-me,
một đại Khenpo của Tu viện Ngor ở miền Trung Tây Tạng và là người sau này đã
giảng dạy và mất tại Lhundrup Teng ở Dege. Kün-ga Tenzin đặt tên cho ngài là
Jamyang Khyentse Wangpo Künga Tenpe Gyaltsen.
Năm mười lăm tuổi, trong một linh kiến thanh tịnh, ngài đi tới Bodhgayā (Bồ Đề
Đạo tràng) và được phó chúc những kho tàng giáo lý Prajnāpāramitā (Bát Nhã Ba
La Mật) và Anuttaratantra của Manjushrīmitra. Trước chùa Bodhgayā, ngài đã tịnh
hóa những ô nhiễm của thân thô nặng bằng cách thiêu đốt và chuyển hóa nó thành
một thân thanh tịnh giống như thân của Vimalamitra.
Năm mười sáu tuổi, trong một linh kiến, ngài đi tới Zangdok Palri, và từ Guru
Rinpoche, cùng hội chúng dākinī, ngài nhận sự giới thiệu vào ba thân Phật và tiên
tri rằng ngài sẽ trở thành “người nhận bảy dòng” (bKa’ Babs bDun). Sau đó Guru
Rinpoche và các dākinī tan biến vào Khyentse và nói rằng:
Duy trì giác tánh nội tại rỗng rang trần trụi,
Không bị hoen ố bởi những đối tượng bám chấp
Hoặc không bị ô nhiễm bởi những tư tưởng bám chấp
Là thị kiến của chư Phật.
Năm mười tám tuổi ngài đi tới ẩn thất của Tu viện Zhechen, học Phạn ngữ, thi
ca và những chủ đề khác với Gyurme Thutop của Tu viện Zhechen.
Năm mười chín tuổi, từ Jigme Gyalwe Nyuku ngài nhận những trao truyền giáo
khóa Longchen Nyingthig với những dấu hiệu kỳ diệu. Sau đó Lạt ma Norbu, một đệ
tử của Dodrupchen đệ nhất, giới thiệu cho ngài bản tánh của tâm trong khi trao
truyền những giáo lý của Đức Phật A Di Đà do Dodrupchen khám phá. Thậm chí
trong phần sau của đời ngài, Khyentse Wangpo cũng nói: “Trong việc chứng ngộ
bản tánh của tâm thì không có gì tiến bộ hơn điều ngài đã chứng ngộ khi đó.”
Năm hai mươi tuổi, theo khẩn cầu của Thartse Khenpo, ngài đi tới Tu viện Ngor
ở miền Trung Tây Tạng. Ở đó ngài khám phá nhiều giáo lý và những vật như terma
đất. Chúng gồm có Thugje Chenpo Semnyi Ngalso, được khám phá tại Tragmar
Drinzang; Lama Kuzhi Drupthap tại Damshö Nyingtrung; Tsasum Gyutrül Trawa tại
Singu Yutso; và Tsasum Chidü tại Yarlung Sheltrak.
Năm hai mươi mốt tuổi, ngài thọ giới cụ túc từ Khenpo Rigdzin Wangpo tại tu
viện Mindroling ở miền Trung Tây Tạng. Ngài nhận những giới nguyện Bồ đề tâm từ
Sangye Kün-ga, vị hộ trì Pháp tòa thứ bảy của Mindroling.
Trước hai pho tượng Jowo tại Điện Jokhang ở Lhasa, những hạt gạo ngài ném
khi cúng dường lập tức biến thành những bông hoa trắng, và một trăm ngọn đèn bơ181
cháy bùng lên mà không cần thắp. Trong khi ngài đọc những lời cầu nguyện cho sự
lợi lạc của những người khác thì một số người xin ngài ước nguyện cho bản thân
ngài. Ngài nói:
Không có người lãnh đạo nào ở đây [trong ta] hay người phục vụ nào ở đó,
Không có kẻ thù nào để khuất phục hay bạn hữu nào để bảo vệ,
Ở một nơi cô tịch, bằng cách điều phục tâm của riêng ta,
Cầu mong ta thành tựu những công hạnh bao la của chư vị Bồ Tát.
Năm hai mươi bốn tuổi, tại Oyuk, ký ức của ngài về việc ngài từng là Chetsün
Senge Wangchuk và sự thành tựu thân ánh sáng xảy ra sau đó của sự đại chuyển
hóa được đánh thức, và ngài khám phá giáo lý Chetsün Nyingthig sâu xa. Ngài thực
hiện một chuyến hành hương xa rộng như một ẩn sĩ ở Tsang, Ngari, và miền Trung
Tây Tạng. Tại nhiều nơi ngài tri giác những hình tượng như những vị Phật hay Đạo
sư đích thực, và ngài nhìn thấy những linh kiến thanh tịnh và có những chứng ngộ.
Cuối năm hai mươi bốn tuổi, ngài trở về Kham và nghiên cứu các giáo lý của truyền
thống Ngor tại Tu viện Dzongsar Tashi Lhatse.
Năm hai mươi chín tuổi, ngài đi tới miền Trung Tây Tạng một lần nữa trong ba
năm. Tại Gegye ở Changdrok, khi ngài đang nhận gia hộ từ Guru Rinpoche trong
một linh kiến thanh tịnh, ngài khám phá Sangdrup Tsokye Nyingthig như terma tâm.
Tại Samye, ngài nhìn thấy tượng Tsokye Dorje tự biến thành Guru Rinpoche thực
sự và tan biến vào ngài. Kết quả là ngài khám phá Tsokye Nyingthig. Năm ba mươi
mốt tuổi, trong khi ngài đang thiền định về Đức Tārā Trắng, ngài có linh kiến về
Tārā. Kết quả là ngài đã khám phá Phagme Nyingthig.
Năm bốn mươi tuổi, là kết quả của một linh kiến thanh tịnh, ngài nhận những gia
hộ từ Guru Rinpoche, điều đó khiến ngài nhìn thấy tất cả những tertön và mọi giáo
lý terma đã xuất hiện trong quá khứ, đang xuất hiện, hay sẽ xuất hiện trong tương
lai ở Tây Tạng. Từ đó ngài trở thành Đạo sư của tất cả những terma.
Từ Khenpo Pema Dorje ngài nhận nhiều sự trao truyền trong đó có Longchen
Nyingthig, Gyutrül Zhitro, Düpa Do, và mười bảy tantra. Ngoài ra, từ Dzogchen
Rinpoche đệ tứ ngài nhận những giáo lý ngöndro thông thường và phi thường của
Longchen Nyingthig. Ngài cũng nhận các trao truyền Longchen Nyingthig từ Jigme
Gyalwe Nyuku và Jetsün Sönam Chokden.
Sau đó ngài nhận những giáo lý của tất cả những dòng truyền thừa hiện hữu ở
Tây Tạng từ khoảng một trăm năm mươi Lạt ma trong hơn mười ba năm. Ngài đã
nghiên cứu hay nhận những sự trao truyền của hơn bảy trăm quyển sách. Chúng
bao gồm các truyền thống Nyingma, Kadam, Sakya, Drikung, Taklung, Kamtsang,
Drukpa, và những truyền thống khác.
Các vị Thầy chính của ngài là Trichen Tashi Rinchen của Sakya, Thartse Kün-ga
Tendzin (1776-?), Champa Naljor, và Ngawang Lektrup của Ngor trong Tỉnh Tsang
ở miền tây, Trichen Gyurme Sangye và Jetsün Thrinle Chödron của Tu viện
Mindroling, và Lhatsun Rinpoche của Tu viện Drepung ở Tỉnh Ü, và Zhechen
Gyurme Thutop, Jigme Gyalwe Nyuku, Migyur Namkhe Dorje, Khenpo Pema Dorje,
và Kongtrül Lodrö Thaye của Tỉnh Kham ở miền đông. 182
Ngài đã thành tựu mọi điều ngài nghiên cứu. Tuy nhiên, theo Kyabje Dilgo
Khyentse, thực hành chính của Khyentse Wangpo là pháp guru yoga của Longchen
Nyingthig.”260
Ngài lập Tu viện Dzongsar Tashi Lhatse thuộc truyền thống Sakya ở Dege làm
trụ xứ chính của ngài và xây dựng lại nó sau khi bị lực lượng Nyakrong phá hủy.
Theo truyền thống Nyingma, ngài nhận những trao truyền hay trở thành người
nhận lãnh bảy dòng (bKa’ Babs bDun) giáo lý:
1. Ngài đã nhận sự trao truyền của các Tantra (Mật điển) Cũ và Mật điển
Mới.
2. Ngài đã khám phá nhiều kho tàng đất (Sa gTer).
3. Ngài đã khám phá lại nhiều kho tàng đất đã được các tertön trước đó
khám phá.
4. Ngài đã khám phá nhiều kho tàng tâm (dGongs gTer).
5. Ngài đã khám phá lại hay đã đánh thức nhiều kho tàng tâm đã được
những tertön trước đó khám phá.
6. Ngài đã khám phá nhiều giáo lý Linh kiến Thanh tịnh (Dag sNang).
7. Ngài đã nhận những giáo lý khẩu truyền (sNyan brGyud) trong linh
kiến thanh tịnh từ nhiều bậc linh thánh.
Dodrupchen đệ tam, người đã học với ngài, mô tả những kinh nghiệm riêng của
mình về Khyentse Wangpo:
Dù ngài sống ở đâu, một mùi thơm thật đậm đà và ngọt ngào tràn ngập những
vùng lân cận, người ta tin rằng đó là dấu hiệu của việc ngài trì giữ nghiêm nhặt
giới luật. Ngay cả một cử động của những ngón tay của ngài cũng gây truyền
cảm hứng và đầy ý nghĩa, và mọi người trở nên bất lực không thể hiểu nổi mọi
cử chỉ ngài làm. Dù ngài sống ở đâu, quý vị luôn luôn cảm thấy một hơi nóng
dễ chịu, như thể từ một ngọn lửa trong cơn giá lạnh. Nhiều người nhìn thấy
ngài trong những thân tướng khác nhau của chư Phật hay các Đạo sư trước
đây. Dù đang ở mùa nào, khi có sự hiện diện của ngài, người ta luôn luôn có
cảm tưởng đang sống trong sự vui vẻ và thịnh vượng của mùa hạ. Ngài đặc
biệt chăm sóc những người nghèo và trò chuyện với họ thật dịu dàng. Những
người kiêu ngạo và dữ tợn nổi danh là gan dạ tránh xa ngài mà không dám
nhìn lại, như những người vượt ngục, hay quy phục như thể đầu họ bị rơi
xuống đất. Đứng trước ngài, mọi Đạo sư vĩ đại hay những người quyền thế trở
nên vô nghĩa và khiêm tốn. Ngài khiêm tốn, trung thực, và tốt lành. Ngài thiện
xảo về những giá trị đạo đức thế tục lẫn Giáo Pháp. Trước ngài, không ai dám
biểu lộ những lời nịnh nọt hay dối trá. Ngài giảng dạy tất cả những loại hội
chúng với sự xác quyết lớn lao, như một con sư tử giữa những con thú khác.
Giữa tập hội các đệ tử, ngài giản dị và hòa đồng với tất cả, và ngài nói đúng
lúc và trong một khoảng thời gian thích đáng. Lý lẽ của ngài nhanh như một
con sông đổ xuống một ngọn núi dốc. Giọng nói của ngài đầy ngập không gian
như thể những con sóng của đại dương. Đôi khi ngài giảng dạy mà không
quan tâm tới việc dùng bữa. Bởi sự vội vã của các đệ tử và gánh nặng của
việc giảng dạy, đôi khi những người khách phải chờ đợi hàng tuần hay thậm 183
chí hàng tháng để gặp ngài, nhưng mọi người đều cảm thấy hoan hỉ trong khi
chờ đợi ngài.
Khyentse Wangpo đã xây dựng nhiều ngôi chùa và thư viện, và truyền cảm
hứng cho hàng ngàn người thực hiện những hoạt động vì lợi lạc của Pháp. Ngài đặt
làm khoảng hai ngàn pho tượng, sao chép khoảng hai ngàn quyển sách Kinh điển,
khắc bản gỗ cho khoảng bốn mươi quyển sách, làm hơn một trăm tượng bằng đồng
đỏ mạ vàng, và sửa chữa nhiều đền đài và tu viện có tính chất lịch sử.
Trong nhiều thập niên ngài ban các giáo lý và những trao truyền cho các đệ tử
của những truyền thống khác nhau. Ví dụ như ngài ban những quán đảnh
Vajrasattva do Minling Terchen khám phá khoảng năm mươi lần và những quán
đảnh và giáo huấn của Longchen Nyingthig khoảng hai mươi lần.
Năm bảy mươi ba tuổi, vào đầu tháng giêng năm Thủy Thìn (1892), ngài nói
ngài cứ nhìn thấy Đức Phật A Di Đà ở giữa một đại dương các đệ tử. Sau khi hoàn
tất một buổi lễ trang nghiêm vào ngày hai mươi lăm tháng giêng, ngài nói với vị thầy
cúng dường (mCh’od dPon) của ngài: “Từ nay trở đi ông không phải làm gì nữa.”
Ngày hôm sau ngài bắt đầu biểu lộ vẻ đau yếu. Các đệ tử của ngài hỏi: “Chúng con
nên tụng những bài cầu nguyện nào để ngài được trường thọ?” Ngài trả lời:
“Không. Khoảng ngày hai mươi tháng tới ta sẽ hồi phục.” Khi họ nài nỉ, ngài nói;
“Nếu các ông tụng càng nhiều càng tốt thần chú một trăm âm của Đức Vajrasattva
thì thật tuyệt vời.”
Sau đó vào sáng ngày hai mươi mốt tháng hai, ngài rửa tay và nói: “Bây giờ hãy
lấy đi mọi thứ trên bàn của ta. Mọi việc của ta đã hoàn tất.” Rồi đọc rất nhiều những
lời cầu nguyện kiết tường, ngài ném những hạt hoa, là một dấu hiệu của sự hoàn
tất. Sau ngày hôm đó, ngài rút vào sự rộng lớn của tâm giác ngộ của Vimalamitra.
Ở vùng lân cận có những trận động đất nhẹ nhàng. Ngay cả sau khi ngài mất,
gương mặt ngài trông sáng ngời như vầng trăng. Thân ngài trở nên nhẹ như thể
làm bằng bông.
Các đệ tử Nyingma chính yếu của ngài được liệt kê trong cây truyền thừa (ở
cuối sách). Trong số những người theo dòng Sakya có Sakya Dakchen, ba
Jetsünma của Sakya, Kün-ga Tenzin của Ngor, Thartse Zhaptrung, Zhalu Losal
Tenkyong, và Ngor Thartse Pönlop Loter Wangpo (1847-1914). Trong số các người
theo phái Kagyü có Karmapa thứ mười bốn và mười lăm, Taklung Ma Rinpoche,
Situ Pema Nyinche (1774-1853), Dazang Tülku, Dokhampa, Pandita Karma
Ngedön, Kongtrül Yönten Gyatso (1813-1899), và Samding Dorje Phagmo. Trong
số những người theo phái Geluk có Könchog Tenpa Rabgye của Tashi Khyil,
Lhatsün Töndrup Gyaltsen, Hor Khangsar Kyabgön, và Lithang Champa Phüntsok.
Khyentse Wangpo đã đồng thời hiển lộ nhiều hóa thân. Đó là Chökyi Wangpo
(1894-1909) của Tu viện Dzongsar, Chökyi Lodrö (1893-1959) của Tu viện Kathok,
Karma Khyentse Özer (1896-1945) của Tu viện Palpung (Beri), Guru Tsewang
(1897-?) của Tu viện Dzogchen, Künzang Drodül Dechen Dorje (1897-1946) của Tu
viện Dza Palme, và Dilgo Khyentse Tashi Paljor (1910-1991) của Tu viện Zhechen.
Trong số các ngài, Kathok Khyentse Chökyi Lodrö là vị Thầy kiệt xuất nhất. Sau khi
Dzongsar Khyentse mất, Kathok Khyentse di chuyển về Tu viện Dzongsar, trụ xứ
của Khyentse Wangpo trước đó, và từ đó Kathok Khyentse được gọi là Dzongsar
Khyentse. Từ đầu thập niên 1960, Dilgo Khyentse Rinpoche, đã một thân một mình 184
duy trì truyền thống độc nhất vô nhị của các hóa thân Khyentse, truyền bá Giáo
Pháp không mệt mỏi ở Ấn Độ, Bhutan, Nepal, Tây Tạng, và Tây phương. 185
22
NYOSHÜL LUNGTOK TENPE NYIMA
1829 – 1901/2 261
NYOSHÜL Lungtok Tenpe Nyima262 là một trong những Đạo sư thiền định vĩ đại
nhất của Dzogpa Chenpo (Đại Viên mãn) trong dòng Longchen Nyingthig. Ngài là
đệ tử chứng ngộ vĩ đại nhất của Paltrül Rinpoche. Có một câu tục ngữ: “Nếu không
có Lungtok, Paltrül không có con.”
Ngài được coi là tülku (tái sinh) của Shāntarakshita, Kong-nyon Bepe Naljor, và
Jewön Küntröl Namgyal. Ngài sinh ra trong bộ lạc Nyoshül thuộc dòng Mukpo Dong,
là con trai của Chösung Tadrin.
Ngài tu học với Gyalse Zhenphen Thaye, Khenchen Pema Dorje, Dzogchen
Rinpoche đệ tứ, và về sau học với Khyentse Wangpo. Ngài được ngài Gyalse
Zhenphen Thaye cho thọ giới xuất gia và ban pháp danh là Lungtok Tenpe Nyima.
Vị Thầy gốc (bổn sư) của Lungtok là ngài Paltrül Rinpoche. Khi sống với Paltrül
hai mươi năm không chút ngăn cách, ngài nhận lãnh sự truyền dạy những giáo lý
khác nhau và đặc biệt là giáo lý Nyingthig của Longchen Rabjam và Jigme Lingpa.
Ngài đã nhận những giáo huấn về giáo lý Trekchö và được giới thiệu sự thuần tịnh
nguyên thủy hiện diện như bản tánh tối hậu của mọi hiện hữu hiện tượng. Ngài thọ
nhận các giáo huấn về giáo lý Thögal, giới thiệu cho ngài những sự xuất hiện chói
ngời là ba thân Phật. Cùng với Paltrül Rinpoche, ngài sống khoảng mười năm
quanh các trụ xứ của Dodrupchen ở các thung lũng Ser và Do.
Tại rừng Ari trong Thung lũng Do cách Tu viện Dodrupchen hiện tại vài dặm,
Lungtok và thầy Paltrül sống đơn độc với nhau trong sáu tháng. Một bao nhỏ đầy
tsampa làm thực phẩm, bộ quần áo đang mặc, và đôi quyển sách là những vật sở
hữu duy nhất của các ngài. Vào buổi trưa, các ngài tụ lại và dùng một ít tsampa. Rồi
các ngài cột bao tsampa vào một gốc cây và để mặc nó cho tới ngày hôm sau. Sau
đó ngài Paltrül giảng cho Lungtok một hai câu kệ trong Bodhicharyāvatāra (Nhập Bồ
Tát Hạnh). Không lâu sau đó, nhiều đệ tử tới Rừng Ari, và Paltrül bắt đầu giảng
Ngalso Korsum và Yönten Dzö và những giáo lý khác. Ngài Paltrül ban một giáo lý, 186
sau đó đệ tử thiền định về nó trong rừng trong nhiều ngày. Ban đầu họ có một ít
tsampa để dùng mỗi ngày, nhưng chẳng bao lâu tsampa cạn kiệt. Sau đó họ thu
lượm thức ăn dành cho chó của dân du cư hay thực phẩm được bỏ lại, và nhờ đó
họ sống thêm một thời gian nữa. Họ không muốn đi quanh lều trại của người du cư
để khất thực, nhưng rất vui thích được sống bằng những gì họ vứt bỏ.
Trong Rừng Ari, một ngày kia ngài Paltrül hỏi Lungtok: “Ông có nhớ mẹ ông
không?” Lungtok nói: “Không nhiều lắm, thưa thầy.” Ngài Paltrül nói: “Đó là bởi ông
không thiền định về lòng bi. Bây giờ hãy đi tới những cây liễu kia và thiền định về
‘nhận ra tình mẫu tử’ và ‘tưởng nhớ lòng tốt của bà mẹ’ trong bảy ngày.” Lungtok đã
thiền định như ngài Paltrül chỉ dạy, và Bồ Đề tâm của lòng từ và bi phát triển tự
nhiên trong ngài mà không cần nỗ lực nào nữa.
Trong Rừng Ari, sau các giáo lý của Paltrül, Lungtok thiền định về ý nghĩa của
Ngơi nghỉ trong Bản tánh Huyễn hóa (Gyuma Ngalso) của Longchen Rabjam.
Những ý niệm của ngài về sự bám chấp những thực thể thực sự hiện hữu bị sụp
đổ, và mọi hiện hữu hiện tượng xuất hiện như cái gì không thực như những ảo
tưởng. Sau này Khenpo Ngachung hỏi ngài: “Đó có phải là một sự chứng ngộ
không? “Ngài trả lời: “Không, nhưng là một kinh nghiệm hay” (Nyams).
Cùng với Paltrül, Lungtok rời Golok đi tới Tu viện Dzogchen. Lungtok thực hiện
một cuộc nhập thất ba năm tại Kangtrö gần Tu viện Dzogchen để cầu nguyện cho
sự trường thọ của Dzogchen Rinpoche đệ tứ. Ngài không có nhiều thực phẩm để
dùng, cũng không có y phục ngoại trừ những chiếc y. Ngài dùng một hòn đá phẳng
làm gối để ngồi trong kỳ nhập thất ba năm.
Sau đó Lungtok ở với ngài Paltrül tại ẩn thất Nakchung gần Tu viện Dzogchen.
Mỗi ngày lúc chạng vạng tối, Paltrül thực hiện một thời khóa thiền định về sự tu tập
của Namkha Sumtruk, nằm duỗi ngửa trên một tấm thảm len mới trên một khoảnh
cỏ bằng kích thước của ngài. Một buổi tối, trong khi Paltrül đang nằm ở đó như
thường lệ, ngài hỏi Lungtok: “Lungche [Lung thân mến]! Ông nói rằng ông không
hiểu được chân tánh của tâm à?” Lungtok trả lời: “Vâng, thưa ngài, con không
hiểu.” Paltrül nói: “Ồ, có gì mà không hiểu. Lại đây.” Thế là Lungtok đi tới chỗ vị
thầy. Paltrül nói: “Nằm xuống như ta và nhìn bầu trời.” Khi Lungtok nằm xuống,
cuộc đối thoại tiếp tục như sau:
“Ông có thấy những ngôi sao trên trời?”
“Dạ có”
“Ông có nghe tiếng chó sủa trong Tu viện Dzogchen [ở một quãng xa]?”
“Dạ có”
“Tốt, đó là thiền định.”
Ngay lúc đó, Lungtok đạt được xác tín trong sự tự chứng. Ngài được giải thoát
khỏi những gông cùm ý niệm của “nó là” hay “nó không là.” Ngài đã chứng ngộ trí
tuệ nguyên sơ, sự hợp nhất trần trụi của tánh Không và giác tánh nội tại, Tâm Phật.
Lungtok và những Pháp hữu quý mến của ngài, Tendzin Norbu, Khenpo
Könchok Özer, Minyak Kunzang Sönam, và Naktha Tülku khẩn cầu ngài Paltrül cho
phép họ được tiếp tục làm những ẩn sĩ lang thang trong phần đời còn lại của họ.
Nhưng ngài Paltrül bổ nhiệm Könchok Özer làm một khenpo của Tu viện Dzogchen;
ngài bảo Tendzin Norbu giảng dạy tại Tu viện Gemang, còn ba người kia trở về quê
hương và duy trì những ẩn thất. Vì thế Lungtok trở về quê hương và trụ trong nhiều
ẩn thất, nhưng chính yếu là tại một ẩn thất có tên là Jönpa Lung. 187
Tại ẩn thất Shuku Shar, Lungtok thiền định về Bodhicharyāvatāra trong mười
năm và về Ngalso Korsum trong ba năm. Về sau, ngài nói với vẻ diễu cợt: “Suốt
mười ba năm phóng chiếu và thu thúc tư tưởng, tôi cố gắng gò ép tư tưởng của
mình khiến chúng không thể tăng trưởng. Nếu tôi thiền định về Dzogpa Chenpo
ngay từ đầu thì bây giờ tôi đã có thể chứng ngộ một cái thấy và thiền định tốt đẹp.”
Năm 1883, khi ngài ở ẩn thất Gyaduk, một bé trai năm tuổi được người cha đưa
tới gặp ngài. Bé trai ấy sau này là Khenpo Ngawang Palzang (1879-1941), người hộ
trì dòng truyền thừa chính của ngài.
Khoảng năm 1895, Lungtok di chuyển tới Pema Ritho và thiết lập một khu trại
của những ẩn sĩ, và Ngawang Palzang chính thức trở thành đệ tử của ngài bằng sự
tu tập ngöndro và những giáo lý khác cùng nhiều người khác.
Ngài Lungtok nói: “Tôi chưa từng làm điều gì nghịch lại lời chỉ dạy của Paltrül
Rinpoche, trừ một điều là ngài đã bảo tôi đừng dạy Dzogpa Chenpo trước năm
mươi tuổi. Sau đó, nếu có thể, tôi nên dạy nó. Nhưng trước năm mươi tuổi, tôi đã
dạy chút ít cho Önpo Tenzin Norbu khi ông ta nài nỉ. Vì thế samaya của tôi với vị
thầy của tôi là một dây xích vàng không đứt đoạn.”
Sau này, ngài bảo các đệ tử: “Nếu các ông thiền định đúng đắn, những thiền giả
xuất sắc nhất sẽ tiến bộ mỗi ngày, các thiền giả trung bình sẽ tiến bộ mỗi tháng, và
các thiền giả kém hơn sẽ tiến bộ mỗi năm. Đối với việc thiền định, điều quan trọng
là phải hiểu rõ những thiện xảo cốt yếu [gNad] của sự thiền định. Cho dù các ông
thiền định, nếu không có tiến bộ thì đó là dấu hiệu cho thấy các ông thiếu sự hiểu
biết về những thiện xảo cốt yếu của sự thiền định.”
Trong suốt đời ngài, ngài đã chia sẻ những giáo lý của Paltrül với tất cả những
ai đến với ngài, và đặc biệt là sau tuổi năm mươi, ngài đã ban giáo lý Dzogpa
Chenpo. Tuy nhiên, giống như Paltrül Rinpoche, ngài khó khăn khi ban bất kỳ sự
trao truyền lễ quán đảnh nào ngoại trừ ban cho Sershül Khenpo Ngawang và Anye
Khenpo Tamchö của Tu viện Dodrupchen, Lạt ma Ngawang Tendzin, Lạt ma Dorli,
Khenpo Ngawang Palzang, và một quán đảnh kama tại Khangtsik Gar.
Ngài đã viết một giáo huấn chi tiết về thiền định Trekchö cho Nyakla Rangrik, khi
ấy ông ta đang ở Trung Tây Tạng, và ngài yêu cầu ông đốt nó đi sau khi đọc.
Nyakla Rangrik đốt giáo huấn này theo lời dạy của vị thầy, nhưng sứ giả đã nhìn
thấy nó ở dọc đường và sao chép trước khi nó tới tay Nyakla Rangrik. Nhiều tác
phẩm gây kinh ngạc của Khenpo Ngawang Palzang cũng chính là những lời giảng
của Nyoshül Lungtok, có nguồn gốc từ Paltrül Rinpoche.
Ngài Nyoshül Lungtok thị tịch ngày hai mươi lăm tháng năm, năm Mộc Ngưu
thuộc Rabjung thứ mười lăm (1925) ở tuổi bảy mươi hai. Khi ấy, ánh sáng cầu vồng
uốn cong trên đầu, một trận mưa hoa nhẹ nhàng rơi, và người ta nghe được tiếng
âm nhạc du dương. Sau lễ hỏa thiêu, xá lợi xuất hiện từ tro tàn như những dấu hiệu
của sự thành tựu và là đối tượng kính ngưỡng cho các đệ tử của ngài.
Hóa thân của ngài là Shedrup Tenpe Nyima (1920-?). 188
23
ÖNPO TENDZIN NORBU
THẾ KỶ MƯỜI CHÍN
ÖNPO Tendzin Norbu263 là một trong những học giả vĩ đại nhất trong những đệ tử
thân thiết nhất của Paltrül Rinpoche. Ngài cũng được gọi là Önpo Tenli hay Tenga.
Ngài là một önpo (cháu trai) của Gyalse Zhenphen Thaye (1800-?).
Ngài đã nghiên cứu Madhyamakakarika (Trung Quán Luận Tụng), Domsum,
Bodhicharyāvatāra (Nhập Bồ Tát Hạnh), Semnyi Ngalso, Yönten Dzö,
Guhyagarbha-tantra, Ösal Nyingpo Gyü, và nhiều bản văn khác với Thầy Paltrül.
Đặc biệt là tại Tramalung ở Dzachukha, Paltrül đã dạy ngài và một vài đệ tử giáo lý
Đại Viên mãn, bắt đầu từ những tu tập chuẩn bị duy nhất và những tu tập chính yếu
Trekchö và Thögal, từng bước một và phù hợp với những kinh nghiệm tu tập của
các đệ tử. Paltrül không chỉ dạy đệ tử mà bản thân ngài còn tham dự việc tu tập.
Sau này, Tendzin Norbu nói với Dodrupchen đệ tam: “Trước đây, tôi nỗ lực thiền
định về Đại Viên mãn và dạy nó cho người khác, nhưng đây chỉ là những ý niệm
tổng quát. Nhưng từ khi chúng ta được đào tạo ở Tramalung, tôi nghĩ rằng tôi có
một hiểu biết toàn hảo và sự chứng ngộ Đại Viên mãn.”
Ngài muốn trở thành một ẩn sĩ lang thang, nhưng Paltrül Rinpoche khuyên ngài
giảng dạy tại Tu viện Gemang ở Dzachukha, và ngài đã làm như thế trong phần đời
còn lại của ngài.
Ngài nói với các đệ tử: “Tại sao chúng ta không thể thực hành Pháp? Đó là bởi
ta không tin vào nghiệp. Nếu chúng ta tin tưởng ở nghiệp, chúng ta sẽ trở nên giống
như Abu nhân từ của tôi [sư huynh, Paltrül].”
Từ năm 1883, Paltrül Rinpoche không giảng dạy cho đại chúng nữa. Bất kỳ ai
tới gặp ngài, ngài gởi họ tới Tendzin Norbu để học Pháp.
Sau khi Paltrül thị tịch, Önpo Tendzin Norbu lo việc tổ chức tang lễ. Ngài cũng
thâu thập những tác phẩm của Paltrül và sắp xếp thành sáu quyển. 189
24
ADZOM DRUKPA DRODÜL PAWO DORJE
1842 – 1924
ADZOM Drukpa Drodul Pawo Dorje264 là một trong những vị hộ trì dòng truyền thừa
và nhà truyền bá vĩ đại nhất của giáo lý Longchen Nyingthig. Ngài cũng được gọi là
Natsok Rangtröl.
Ngài sinh ngày mười lăm tháng sáu năm Thủy Dần thuộc Rabjung thứ mười bốn
(1842). Thân phụ ngài là Atra có gốc gác Mông Cổ. Ngài được Tri-me Zhingkyong
Chökyi Dorje xác nhận là tülku của Adzom Sangye Tashi, và cũng được Gyalwa
Changchup ở Trom xác nhận là một tülku của Pema Karpo (1526-1592), Đạo sư nổi
tiếng của phái Drukpa Kagyü. Vì thế ngài được gọi là Adzom Drukpa.
Ngài được Öntrul Thutop Namgyal ở Zhechen ban giới nguyện quy y. Khi ngài
mười ba tuổi, tại Tu viện Kathok, Kathok Situ Chökyi Lodrö đệ nhất dạy ngài
ngöndro Dorje Nyingpo. Nhờ thực hành pháp này, ngài đã phát triển một kinh
nghiệm mạnh mẽ về sự vô thường của cuộc đời, và ngài chú trọng việc thiền định
về sự tịnh hóa trong một số năm. Sau đó từ Kathok Situ, ngài nhận các giáo lý
tsalung và Đại Viên mãn. Năm hai mươi mốt tuổi, ngài chứng ngộ chân tánh của
tâm, giác tánh nội tại. Từ đó cho tới năm ba mươi bốn tuổi, ngài tập trung vào việc
thiền định về việc an trụ trong bản tánh chứng ngộ của giác tánh nội tại và đạt được
giai đoạn thành tựu tối thượng.
Situ Chökyi Lodrö cũng ban cho ngài quán đảnh Do Gongpa Düpa, Giáo khóa
Khakhyap Rangtröl và nhiều quán đảnh khác. Ngài phụng sự Pema Düdül (1816-
1872) xứ Nyak-rong, người mà cuối cùng đã đạt được thân cầu vồng, và ngài nhận
những giáo lý của giáo khóa Khakhyap Rangtröl và nhiều giáo lý khác. Từ lúc đó,
phù hợp với lời khuyên dạy mạnh mẽ của Pema Düdül, Adzom Drukpa giữ mái tóc
dài và mặc y phục Mật thừa.
Từ Gyatrül Do-ngag Tendzin ngài nhận những trao truyền của giáo khóa
Namchö và Zhitro Gongpa Rangtröl. Từ Alak Chushö Tsang, ngài nhận các giáo lý 190
Changchup Lamrim của truyền thống Geluk và nghiên cứu nhiều tác phẩm của Je
Tsongkhapa, các giáo lý này làm sáng sủa nhiều vấn đề của ngài.
Từ Khyentse Wangpo ngài nhận Nyingthig Yabzhi, Longchen Nyingthig,
Khandro Sangwa Kündü, Gongpa Zangthal, và nhiều trao truyền khác. Từ Kongtrül
Yonten Gyatso ngài nhận Rinchen Terdzö và Kagyü Ngakdzö. Từ Khenpo Pema
Badzar ngài nhận các giáo lý về Lama Yangtig. Từ Paltrül Rinpoche ngài nhận các
giáo lý về Kunzang Lame Zhalung (Lời Vàng của Thầy tôi), Yeshe Lama, và nhiều
giáo lý khác. Từ Nyoshül Lungtok ngài nhận giáo lý về Ngalso Korsum. Từ Ju
Mipham, ngài nhận những giải thích về Deshek Nyingpö Tongthün, Ngeshe
Drönme, và những giáo lý khác.
Suốt trong phần cuối cuộc đời ngài, ngài giảng dạy những Lạt ma vĩ đại của các
tu viện Kathok, Dzogchen, Zhechen, và Palyül. Ngài đã biên tập và xuất bản nhiều
bản văn Nyingma quan trọng, trong đó có toàn bộ tác phẩm và giáo lý terma của
Longchen Rabjam và Jigme Lingpa. Ngài đã khám phá nhiều giáo lý như terma
dưới tên Ösal Dorje Sangdzö (Kho tàng Chói lọi Kim cương). Ngài đã thiết lập trụ
xứ chính của ngài tại Tashi Dungkar Khyil, Vỏ Ốc Xà cừ Xoắn ốc Tốt lành, mà
thường được gọi là Adzom Chögar, Trại Pháp của Adzom.
Năm tám mươi ba tuổi (1924), với những dấu hiệu kỳ diệu gồm các vòng ánh
sáng, những tia sáng, và những âm thanh khác nhau, ngài tan biến vào nền tảng tối
thượng.
Ngài có hai con trai, Gyurme Dorje (cũng được gọi là Agyur Rinpoche, 1895?-
1959?), một Đạo sư Đại Viên mãn vĩ đại, và Pema Wangyal, và một con gái là
Semo Chi-med. Tülku của ngài, Druktrül Rinpoche (sinh năm 1926), vẫn còn sống
tại Adzom Chögar ở Kham. 191
25
LUSHÜL KHENPO KÖNCHOK DRÖNME
1859 – 1936
KHENPO Könchok Drönme265 (Könme) là một trong bốn đại khenpo nổi danh của
Tu viện Dodrupchen. Ngài là một Đạo sư uyên bác và bậc lão thông thành tựu.
Khenpo cũng được gọi là Lushül Khenpo, Dowa Khenpo, Könme Khenpo, và
Lobzang Künkhyap. Ngài được coi là tülku của Tri Kongthang Tenpe Drönme
(1762-1823) của Tu viện Labrang.
Khenpo sinh năm Thổ Mùi thuộc Rabjung thứ mười bốn (1859) trong nhóm bộ
tộc Lushül ở Dzachukha trong một gia đình đã di cư từ Thung lũng Do ở Golok. Từ
thời thơ ấu, ngài đã có khả năng thiên phú là chỉ cần nghe một lần với một cái liếc
mắt là có thể thấu suốt các bản văn.
Từ Paltrül Rinpoche ngài nhận nhiều giáo lý, trong đó có Bodhicharyāvatāra
(Nhập Bồ Tát hạnh). Một hôm ngài đi gặp Paltrül Rinpoche, người đang ở trong một
cái lều nhỏ gần một gia đình có chiếc lều lớn. Vào lúc đó Paltrül không tiếp mọi
người, và gia đình có nhiều chó dữ không để cho ai lại gần. Nhưng dù thế nào đi
nữa thì Khenpo cũng không dừng lại. Ngài lén đi dọc theo một cái rãnh hẹp và chạy
tới lều của Paltrül mà không bị người và chó phát hiện. Paltrül dũng cảm và thẳng
thắn, nhưng Khenpo thì không sợ hãi. Paltrül nói: “Ông là một tên trộm hay đại loại
như thế?” Khenpo nói: “Vâng, Abu Tsang [Bậc Trưởng lão]! Con muốn ăn trộm một
ít giáo huấn vàng ròng của ngài.” Paltrül thích những người nói năng thẳng thắn và
dũng cảm hơn là những lời lẽ có tính cách ngoại giao, lễ phép, hay xu nịnh, vì thế
Khenpo đã nhận được câu trả lời cho những câu hỏi của ngài. Trong khi Khenpo ở
với Paltrül, Paltrül cũng hoàn thành bức tường cầu nguyện khổng lồ bằng đá nổi
tiếng của ngài và những hạt gia trì của Khyentse Wangpo trong lễ hiến cúng đã rơi
xuống bức tường đá. Với Önpo Tendzin Norbu, Khenpo đã nghiên cứu bình giảng
hai quyển sách Yönten Rinpoche Dzö.
Chẳng bao lâu cùng với gia đình, khi đi theo Dodrupchen đệ tam, Khenpo trở về
Thung lũng Do, quê hương của tổ tiên ngài. Với Gyawa Dongak Gyatso, một đệ tử
chính của Zhapkar Tsoktruk Rangtröl và Paltrül Rinpoche, ngài nghiên cứu hầu hết 192
những bản văn Đại thừa của Asanga (Vô Trước), Nāgārjuna (Long Thọ),
Chandrakīrti (Nguyệt Xứng), Dharmakīrti (Pháp Xứng), và Dignāga (Trần Na) và
nhiều bản văn Mật thừa khác. Sau này ngài cũng nhận nhiều sự trao truyền sâu xa
và những giáo huấn từ Dodrupchen đệ tam.
Khenpo trở thành một đại học giả về những bản văn Kinh thừa và Mật thừa của
cả hai truyền thống Nyingma và Geluk. Ngài cũng biết về y học và bận rộn chẩn
đoán và tặng thuốc miễn phí cho dân chúng địa phương. Ngài uyên bác về khoa
chiêm tinh cũng như thiên văn học.
Bổn Tôn bảo hộ chính yếu của ngài là Chakrasamvara của truyền thống Đại
Thành tựu giả Luyipa. Ngài đã trì tụng hơn ba trăm triệu thần chú của
Chakrasamvara. Ngài nổi danh về việc đạt được huyễn thân (sGyu Lus) nhờ thực
hành Chakrasamvara. Một bậc thành tựu huyễn thân có thể chuyển hóa tâm ngài
thành thân thiêng liêng của Bổn Tôn và du hành tới những cõi tịnh độ khác nhau và
sau đó quay trở lại thân bình thường của ngài. Tuy nhiên, Khenpo không công khai
thừa nhận thành tựu như thế và chỉ nói: “Bởi lòng sùng mộ mãnh liệt của tôi, bất kỳ
khi nào tôi nhớ tới Bổn Tôn bảo hộ của tôi, tôi lập tức cảm thấy một sự hỉ lạc làm
dựng tóc gáy. Tôi vô cùng hài lòng với một thành tựu như thế.” Ngài có nhiều linh
kiến thanh tịnh về chư Phật và Bổn Tôn và nhận những gia hộ và thành tựu.
Ngài có thể nhìn thấy chúng sinh trong những hình tướng khác nhau mà chúng
ta không thể nhìn thấy. Chẳng hạn như, khi còn trẻ ngài có một linh kiến trước sau
như một về một người đàn bà trông già nua, xấu xí, và giận dữ, nhưng là một thiền
giả, Khenpo đã nhìn bà như một hình ảnh thiêng liêng. Những năm sau này, bà
biến thành hình ảnh thanh tịnh của Ekajatī, suối nguồn và người bảo quản các
tantra (Mật điển).
Ngài cũng có nhiều lần chạm trán với Nyima, một thế lực tinh linh hãm hại luôn
luôn quấy nhiễu ngài. Người ta nói rằng thế lực này đã gây nên bệnh tật cho
Düdjom Lingpa và Dodrupchen đệ tam. Một hôm, thế lực tinh linh lại tới gặp ngài.
Với lòng đại bi trong tâm, Khenpo lập lại ba lần: “Ta sẽ không bao giờ từ bỏ ông với
lòng bi mẫn của ta cho tới khi ông trở nên giác ngộ!” Sau đó, không chỉ Khenpo mà
ngay cả những đệ tử của ngài cũng được tinh linh để yên.
Một hôm, một đệ tử đang cố gắng thắp một ngọn đèn bơ trong một thời gian dài
nhưng không thành công. Khi ấy Khenpo cười, và tim đèn lập tức bắt lửa. Đệ tử hỏi
Khenpo: “Điều gì xảy ra?” Khenpo nói: “Với ý nghĩ ngọn đèn là một thân của nước,
ta tan hòa vào thiền định.”
Trong phần cuối của đời ngài, Khenpo chủ yếu sống tại Tu viện Dodrupchen
như một trong bốn Khenpo chính và đặc biệt tập trung vào việc giảng dạy và thiền
định. Ngài không chỉ là một học giả vĩ đại mà còn là một người đọc được tâm của
các đệ tử một cách nhanh chóng. Các bài nói chuyện của ngài thật sống động, dễ
hiểu, giảng giải chi tiết, và có ý nghĩa sâu xa.
Ngài cao và lớn xương, với xương sọ lớn và xương gò má cao như xương của
một con sư tử. Trong nhiều thập niên ở cuối đời ngài, ngài trở nên thật nặng nề và
không thể ra khỏi nhà của ngài ở trên đồi nếu không có hai người mạnh mẽ giúp đỡ
với toàn thể sức mạnh của họ.
Khenpo sống trong một ngôi nhà hai tầng với sách và những pháp khí. Nhà của
ngài ở giữa những tảng đá và cây bách xù, giữa đồi và phía sau Tu viện
Dodrupchen, nhìn xuống toàn bộ tu viện và cánh đồng Tsangchen. Ngài sống một 193
mình trong nhà. Trước lúc bình minh ngài đã bắt đầu cho các thực hành thiền định
và trì tụng. Sau đó ngài dùng điểm tâm gồm sữa chua và bánh (zhun). Chẳng bao
lâu ngài lại tiếp tục khóa thiền định kéo dài cho đến khi một số đệ tử của ngài tới
vào khoảng mười một giờ. Các đệ tử rửa sạch và rót đầy nước vào sáu trăm chén
cúng dường, một số người thực hiện lễ cúng dường hàng ngày của ngài gồm một
trăm đèn bơ, và một người làm bữa trưa (hay chỉ là trà) cho ngài. Khi các đệ tử đã
chuẩn bị việc cúng dường xong, ngài chấm dứt bữa trưa, và họ cùng nhau đọc bài
nguyện cúng dường. Sau đó ngài bắt đầu giảng dạy.
Khi thầy tôi, Kyala Khenpo, đang học với ngài, Khenpo Könchok Drönme dạy hai
hay ba lớp, hay thỉnh thoảng thậm chí tới bảy lớp mỗi ngày. Ngài dùng hầu hết thời
gian để dạy khoảng bảy mươi đệ tử. Ngài không có khóa giảng dạy đặc biệt mà dạy
theo ước muốn và nhu cầu của các đệ tử. Ngài có thể dạy các tantra cho những đệ
tử tiến bộ nhất; Madhyamaka (Trung quán), Prajnāpāramitā (Bát nhã ba la mật), hay
Abhidharma (Vi diệu pháp, A tỳ đàm) cho những đệ tử cao cấp, luận lý cho người
mới bắt đầu, và những bản văn đơn giản cho các đệ tử bình thường trong cùng một
ngày. Ngôn từ và ý nghĩa của những bản văn gốc của Nāgārjuna (Long Thọ),
Asanga (Vô Trước), Dharmakīrti (Pháp Xứng), Chandrakīrti (Nguyệt Xứng), và
những người khác thì ở trong trí nhớ của ngài. Ngài cũng nhớ ý nghĩa của nhiều
bình giảng của các vị Thầy đó. Thường thì ngài không chấm dứt những bài giảng
trước khi trời tối. Sau đó một số đệ tử sẽ thắp những ngọn đèn bơ và cùng nhau
tụng bài cầu nguyện. Kế đó Khenpo dùng trà. Khi những ngọn đèn bơ đã được đốt
hết, các đệ tử lau chùi đèn và để Khenpo ở lại một mình cho tới trưa hôm sau. Về
cấu trúc của các khóa học của ngài, Lauthang Tülku Drachen viết:
Trước tiên ngài dạy các bản văn Tuyển tập các Vấn đề Cơ bản (bsDus Gra),
Khoa học về Trí tuệ (Blo Rigs), Khoa học về Lý luận (rTags Rigs), và Năm
Bản văn (bKa’ Bod lNga),
266
Kế đó là bình giảng về chương giới luật của bodhisattvabhumi (Bồ Tát địa),
Và sau đó Năm mươi Bài Kệ về việc Có một vị Thầy và những bản văn về các
giới luật Mật thừa.
Bình giảng về Năm Giai đoạn của Guhyasamaja về những quán đảnh và giai
đoạn phát triển, và
Sau đó các tantra của Vajrabhairava, Chakrasamvara, và Kālachakra.
Tiếp theo là Guhyagarbha-māyājāla-tantra (Mật điển Bí mật tập hội).
Ngài kết thúc những giáo lý này bằng dẫn nhập thiêng liêng của Đại Viên mãn.
Đây là truyền thống giảng dạy của Lạt ma Cao quý Toàn tri.267
Bởi cách tiếp cận không bộ phái của Khenpo đối với sự uyên bác và việc các
giáo lý của ngài gồm các bản văn Nyingma và Geluk nên một số học giả Nyingma
cảm thấy không thoải mái. Có một tin đồn là khi Kathok Situ Chökyi Gyatso (1880-
1925) viếng thăm Khenpo, các thị giả của Situ đã chứng kiến các tác phẩm của
Tsongkhapa được bọc trong lụa và gấm thêu và những tác phẩm của Longchen
Rabjam thì phủ đầy bụi. Điều đó hoàn toàn không đúng. Các tác phẩm của
Longchen Rabjam được gói trong hai lớp bao, lụa hay gấm thêu và vải, như những
tác phẩm của Tsongkhapa. 194
Khi viếng thăm nhiều tu viện và địa điểm ở Golok, Khenpo giảng dạy những bản
văn uyên thâm và ban những trao truyền Mật thừa. Ngài đã làm lễ thọ giới cho hàng
trăm tăng và ni và đã thiết lập những truyền thống nhập nhất trong mùa mưa hàng
năm ở nhiều tu viện.
Trong sáu tháng tại Tu viện Tarthang ở Golok ngài đã ban toàn bộ giáo lý về
Abhisamayālamkāra (Hiện Quán Trang nghiêm) và những bản văn chính yếu khác
cho Choktrul Rinpoche, Thupten Chökyi Dawa (1894-1959), và những đệ tử được
tuyển chọn khác, và Akong Khenpo làm vị trợ giảng (sKyor dPon) cho ngài. Đối với
các tülku và tu sĩ trẻ của Tarthang, ngài ban các giáo lý về Bodhicharyāvatāra
(Nhập Bồ Tát hạnh). Tại Tu viện Göde Dzogchen Namgyal Ling, trụ xứ của Chöying
Tobden Dorje tại Rekong, ngài giảng dạy và thiết lập khóa nhập thất mùa mưa hàng
năm.
Sau khi ba đại khenpo khác đã mất và sau đó ngài Dodrupchen qua đời năm
1926, toàn bộ trách nhiệm duy trì mức độ uyên bác độc nhất vô nhị của Tu viện
Dodrupchen được đặt lên vai Khenpo. Trong hơn một thập kỷ ngài đã giảng dạy
không ngừng và không để cho tu viện bị ảnh hưởng bởi những mất mát to lớn. Quả
thực mọi người hầu như không cảm thấy việc tu viện đề cao sự học tập phải chịu
bất kỳ tác động nào. Vào thời đó, hầu như không học giả nào ở những vùng Golok
hay Ser mà không là đệ tử của Tu viện Dodrupchen và của bản thân Khenpo. Sau
khi Khenpo mất, mặc dù có những đại khenpo ở Tu viện Dodrupchen, những đệ tử
giỏi đến từ những tu viện và miền khác đã trở về quê hương của họ, và Tu viện
Dodrupchen trải qua một sự suy tàn ghê gớm trong ngót hai thập kỷ. Khi hồi tưởng
lại, tôi có thể thấy là tu viện đã sa sút ra sao vào thời điểm tôi đến đó.
Khenpo không sống như một ẩn sĩ, như Amye Khenpo và Garwa Khenpo của Tu
viện Dodrupchen đã làm. Ngài nổi danh về việc có những tiện nghi của một căn nhà
đẹp, thực phẩm ê hề, và quần áo tuyệt đẹp, ngoài ra còn có thư viện riêng khổng lồ
và bộ sưu tập tuyệt vời những pháp khí cũ và mới. Tuy nhiên, ngài đã sử dụng tất
cả những vật chất khác mà người ta cúng dường cho ngài để bảo trợ cho việc phát
thuốc miễn phí, cho những lễ cúng dường đèn bơ hàng ngày của ngài, và để chi trả
cho việc in ấn và kéo những lá cờ thần chú Trường Thọ đầy ngập ngọn đồi quanh
nhà ngài. Tu viện Dodrupchen nằm trong một miền nghèo khổ, nhưng sau này tiêu
chuẩn sống của vùng này đã được cải thiện. Nhiều người tin rằng đó là nhờ những
công đức được khơi dậy bởi những vật cúng dường rộng rãi quanh năm của
Khenpo. Ngoài ra, trong nhiều năm, Tu viện Dodrupchen phải chịu những bệnh
dịch. Phù hợp với những điềm trong giấc mơ của ngài, Dodrupchen đệ tam đã
khuyên Khenpo bao quanh tu viện bằng những lá cờ thần chú Trường Thọ. Khenpo
đã thực hiện điều này và duy trì nó năm này sang năm khác, và từ đó trở đi dân
chúng không bị bệnh dịch nữa.
Bản thân Khenpo thừa nhận rằng ngài thành công trong việc phụng sự Giáo
Pháp. Kyala Khenpo nhắc tới ngài khi nói: “Tôi có cảm tưởng rằng không có điều gì
mà chúng ta không làm để truyền bá Pháp, cả Kinh điển lẫn Mật điển, tại Do-me
[miền Đông Tây Tạng], với Rinpoche như thân cây và chúng ta, các khenpo, như
những cành cây.”
Trong số những tác phẩm chính yếu của ngài có Đề cương của
Abhisamayālamkāra (Hiện Quán Trang nghiêm) và một Bình giảng về Luận lý,
nhưng cả hai đã biến mất trong những chuyển biến chính trị. Hôm nay, những gì 195
chúng ta có trong những tác phẩm chính của ngài là La-me Gonggyen (Pháp bảo
của những Linh kiến của Lạt ma), một bản văn làm sáng tỏ những vấn đề quan
trọng của nền tảng, con đường, và quả của Đại thừa và đặc biệt là của các tantra
nội; Một Chú giải về Đề cương của Guhyagarbha-tantra; và Một Chú giải về Yumka
Dechen Gyalmo.
Năm 1934, Khenpo bắt đầu ban những bài học cho hai vị Dodrupchen Rinpoche.
Sau khi chấm dứt các lớp học về các bản văn cơ bản, ngài giảng cho các vị Thầy
này Yönten Rinpoche Dzö với những bình giảng. Ngài đã chấm dứt phần Kinh điển
của bản văn và đang bắt đầu phần Mật điển. Bất thình lình, vào tuổi bảy mươi bảy,
Khenpo suy sụp bởi một loại bệnh hàn hay cúm. Có vẻ không nghiêm trọng, nhưng
ngài ngừng dạy một thời gian. Ngài di chuyển tới chùa Guhyagarbha-tantra để gần
hội chúng các tu sĩ, những người đang cử hành lễ cầu trường thọ trong nhiều ngày
cho ngài. Rồi lúc đầu buổi tối ngày hai mươi tám tháng mười hai năm Mộc Hợi
(1936) ngài bảo các đệ tử của ngài, Khenpo Jamtön, Kutruk của Gunang, và Kulo
của Rekong, những người đang có mặt với ngài vào lúc đó:
“Ta có một giấc mơ [mặc dù các đệ tử của ngài đang nhìn ngài đoan chắc rằng
ngài không ngủ]. Một người đàn bà bảo ta: ‘Sokhe Chomo nói: “Sự thiền định
chói lọi hiện tại là sự chứng ngộ tánh Không. Đó là bởi, nếu đây không phải là
tánh Không, bản tánh của sự hiểu biết nguyên sơ, thì trí tuệ nguyên sơ của
Pháp giới tối thượng của Phật quả cuối cùng sẽ không thể được thiết lập bởi
không thể phân biệt được. [Sự thiền định chói lọi hiện tại] này là đức hạnh
tráng lệ quý báu [Yon Tan Rin Ch’en rGyal Po]. Đó là bởi, nếu mọi đức hạnh
của kết quả không hiện diện tự nhiên [trong đó] mà không cần phải tìm kiếm
thì trí tuệ nguyên sơ của chư Phật và sự thiền định chói lọi hiện tại sẽ không
thể được thiết lập bởi không thể phân biệt được.”’
“Ta nói với người đàn bà: ‘Phải, đó là một sự hiểu biết viên mãn. Trong mọi
trường hợp, nếu ta mở rộng điều đó thêm nữa bằng cách thiền định về nó
bằng con đường của sự suy niệm tự nhiên không chỉnh sửa [Ma bChos Chog
bZhag], và nếu ta chứng ngộ sự viên mãn tuyệt đối của giác tánh nội tại, thì
[sự thiền định chói lọi] này sẽ trở thành năm trí tuệ nguyên sơ. Sự quang minh
và vô niệm không xuất hiện như hai che chướng là trí tuệ nguyên sơ như
gương (Đại viên cảnh trí). Sự thoát khỏi việc rơi vào những thiên kiến và giới
hạn là trí tuệ nguyên sơ của nhất thể tánh (Bình đẳng tánh trí). Sự thấu suốt
mọi sự hiện hữu có tính chất hiện tượng mà không lầm lạc là trí tuệ phân biệt
nguyên sơ (Diệu quan sát trí).
Sau đó Khenpo uống một hớp nước nghệ tây, và an tọa trong tư thế “thư
thản trong trạng thái tự nhiên của tâm” và nói: “Các ông nghĩ gì?”268
Với những lời đó, ngài tan hòa vào thiền định chói lọi của bản tánh tối thượng,
về điều mà ngài đang nói. Ngài an trụ trong thiền định chói lọi trong vài ngày, là điều
thông thường đối với nhiều thiền giả vĩ đại. Trong thời gian đó, mặc dù tim ngài đã
ngừng đập và mạch không nhảy, ngài vẫn ngẩng đầu, giữ thân thẳng thắn, và duy
trì một ít hơi ấm trong tim, là dấu hiệu cho thấy ngài vẫn ở trong thiền định chói lọi,
hay ngài có một kinh nghiệm tốt đẹp về thiền định chói lọi. Một thiền giả chứng ngộ
và duy trì thiền định chói lọi của tâm họ có thể hợp nhất nó với thiền định chói lọi 196
phổ quát hay bên ngoài khiến mọi sự hình tướng xuất hiện tự nhiên như năng lực
hiển nhiên của chính tâm của họ. Đó là sự thành tựu Phật quả hay Pháp thân, chân
lý tối thượng.
Theo truyền thống, sau một vài ngày, bằng những buổi lễ và những lời cầu
nguyện, nhục thân của Khenpo được hỏa thiêu trong một bảo tháp là một kiến trúc
tạm thời mà sau đó được đóng kín lại. Sau vài ngày, khi các đệ tử mở bảo tháp để
thâu thập tro cốt của ngài, họ tìm thấy hàng trăm xá lợi có màu trắng, đỏ, vàng, và
xanh dương, xuất hiện và đang xuất hiện từ xương bị đốt cháy. Xá lợi nhiều màu
thật hiếm có và là một dấu hiệu của thành tựu vĩ đại nhờ thiền định Đại Viên mãn.
Sau này, các đệ tử xây một bảo tháp bằng vàng và đặt hầu hết xá lợi ở trong đó.
Trong mề đay của tôi có một bộ bốn viên xá lợi bốn màu, nhưng cũng vào khoảng
thời gian bảo tháp bằng vàng ở Tu viện Dodrupchen bị phá hủy thì tôi mất chiếc mề
đay ở Ấn Độ. Có vẻ là khi tới lúc, mọi sự được cho là tiến triển theo cách này hay
cách khác.
Tại tu viện Dodrupchen, Kyala Khenpo được chỉ định là một khenpo, để thay thế
cho vị Đạo sư quá cố của ngài. Ta-re Lhamo (Namkhe Pumo, sinh năm 1937), con
gái của Apang Tertön Ogyen Thrinle Lingpa (?-1945); và tác giả quyển sách này,
Tülku Thondup (sinh năm 1939), được xác nhận là các tülku của Lushül Khenpo. 197
26
DODRUPCHEN ĐỆ TAM JIGME TENPE NYIMA
(1865-1926)
Dodrupchen Rinpoche đệ tam, Jigme Tenpe Nyima269 ra đời tối thứ Ba, ngày mười
tám tháng hai năm Mộc Sửu thuộc Rabjung thứ mười bốn (1865) trong bộ tộc
Chakong, thị tộc Nup, thuộc dòng Achak Dru. Ngài sinh tại Chkri Öbar, một ngọn đồi
thiêng trong Thung lũng Mar thượng xứ Golok, nơi thân mẫu của ngài, bà
Sönamtso, đã sống. Thân phụ ngài là Dudjom Lingpa (1835-1903), một bậc lão
thông lừng danh và một đại tertön, khi đó đang sống tại Dröphuk, một ẩn thất trong
một hẻm núi nhỏ cách Chakri khoảng một dặm. Thân phụ ngài đặt tên cho ngài là
Sönam Tendzin.
Dodrupchen có bảy người em trai, tất cả đều là những tülku nổi tiếng. Khyentse
Tülku Dzamling Wangyal (1868-1907), một tülku của Do Khyentse, được tôn phong
tại các tu viện Dodrupchen và Nizok nhưng vẫn ở với cha của ngài. Tülku Tri-me
Özer (còn gọi là Pema Drodül Sang-ngak Lingpa, 1881-1924) trở thành một đại học
giả và tertön, phối ngẫu của ngài là nữ Đạo sư nổi tiếng Dewe Dorje ở Lhasa,
thường được gọi là Sera Khandro. Tülku của Cheyö Rigdzin Chenmo mất sớm.
Tülku Pema Dorje, một tülku của Satsa Lama, mất tại Tu viện Dodrupchen và chăm
sóc Dodrupchen và tu viện. Tülku Lhatop (1885-?) là một tülku của Tu viện Shichen
(gShi Ch’en). Tülku Namkha Jigme (1888-?) được xác nhận là một tülku của Paltrül
Rinpoche và sống ở Dzachukha. Tülku Dorje Dradül (1892-1959?) ở tại Dartsang
Ritrö trong hẻm núi Li của Thung lũng Do, trụ xứ của Düdjom Lingpa trong phần
cuối của đời ngài.
Dodrupchen được Dzogchen Rinpoche đệ tứ Mingyur Namkhe Dorje (1793-?)
xác nhận. Trong tiên tri của vị Thầy này có một dòng chữ nhận dạng Dodrupchen
đệ tam là “sự tô điểm của hộp sắt tuyệt hảo,” một ám chỉ Chakong, hay bộ tộc “hộp
sắt”.
Năm 1810 ngài được tôn phong tại Tu viện Yarlung Pemakö trong Thung lũng
Ser. Trong nhiều năm ngài trải qua những mùa hè tại Yarlung Pemakö và mùa đông
tại Tu viện Dodrupchen, nơi cũng được gọi là Tsangchen Gön, hay tu viện ở cánh 198
đồng Tsangchen. Sau này, Tu viện Dodrupchen trở thành trụ xứ chính của ngài.
Lúc ban đầu, Tülku Tri-me, một người em nhỏ hơn ngài sáu tuổi, đến ở với ngài.
Sau vài năm Tülku Tri-me không muốn sống trong một cấu trúc tu viện nữa và trở
về nhà. Sau đó một người em khác, Tülku Pema Dorje, đến ở với Dodrupchen. Sau
này, Tülku Pema Dorje trở thành nhà quản lý của tu viện và người sùng mộ chăm
sóc những chương trình của Dodrupchen cho tới khi ông mất. Tülku Pema Dorje
nói: “[Dodrupchen] Rinpoche hầu như không trực tiếp nói gì về những điều phải
làm, nhưng nghe ngài gợi ý, tôi sẽ cố gắng đáp ứng những nguyện ước của ngài.”
Dodrupchen đi tới Tu viện Dzogchen và học với Khenpo Pema Dorje. Vào lúc
đầu ngài khó có thể hiểu được ý nghĩa của những bản văn triết học. Ngài thường
khóc cho tới khi ngủ thiếp đi, và vào buổi sáng ngài nhận thấy đầu ngài bị dính vào
gối do nước mắt của ngài. Một buổi sáng ngài nói với Thầy phụ đạo: “Đêm qua
trong một giấc mơ con thấy ba vị Lạt ma trong y phục ẩn sĩ trong một ngôi chùa.
Người đứng giữa cầm một quyển sách trong tay. Con hỏi ông ta: ‘Ngài là ai? Sách
gì vậy?’ Lạt ma trả lời: ‘Ta là Do Khyentse Yeshe Dorje. Quyển sách này là để giúp
cho những người không học được bài của họ.’ Con yêu cầu ngài ban cho con
quyển sách. Ngài cho sách, và con cảm thấy hết sức sung sướng. Vì thế con tin
rằng nếu con học ngày hôm nay, con sẽ học được.” Về sau, sự hiểu biết sâu rộng
của ngài bỗng nhiên bộc phát, và ngài thấu suốt ý nghĩa của các bản văn không
chút khó khăn,
Năm sau, ngài đi tới Đạo sư vĩ đại Paltrül Rinpoche (1808-1887) trong Thung
lũng Dzachukha. Ngài nhận nhiều giáo lý từ Paltrül. Ngay lần đầu tiên nghe các bản
văn, ngài có thể nắm bắt được ý nghĩa của chúng mà không cần một Thầy phụ đạo
(sKyor dPon) để xem lại bài học với ngài. Dodrupchen mới lên tám khi Paltrül
Rinpoche gởi các sứ giả khắp Thung lũng Dzachukha mời mọi người tới nghe ngài
ban giáo lý hàng năm về Bodhicharyāvatāra. Trước một hội chúng đông đảo các tu
sĩ và cư sĩ tại tu viện Dzagya, đích thân Paltrül dâng mạn đà la nghi lễ và khẩn cầu
giáo lý. Dodrupchen trình bày những bài thuyết trình, và mọi người ngạc nhiên vì sự
hiểu biết và xác tín của ngài. Lúc đầu, giọng nói nhỏ của Dodrupchen không tới
được những người ngồi quá xa, nhưng từ từ giọng ngài trở nên mạnh hơn và tất cả
mọi người đều có thể nghe thấy. Paltrül diễn tả niềm vui của ngài trong một lá thư
gởi cho Khyentse Wangpo, thư nói:
“Liên quan tới Giáo Pháp của sự uyên bác, tülku của Dodrupchen đã ban
những giảng dạy về Bodhicharyāvatāra năm lên tám tuổi. Đối với Pháp của sự
chứng ngộ, Nyakla Pema Düdül [1816-1872] vừa đạt được thân cầu vồng. Vì
thế Giáo pháp của Đức Phật không bị suy tàn.”
Paltrül rất tử tế và tôn kính Dodrupchen, và Paltrül để ngài ngồi trên gối của
mình trong khi giảng dạy. Một buổi sáng sớm Paltrül nghe nói rằng Dodrupchen
đang khóc. Sau đó ngài được thuật lại là Dodrupchen đã ngủ gà ngủ gật trong buổi
cầu nguyện vào lúc bình minh và vị Thầy phụ đạo đã phát vào mông ngài một cái.
Paltrül khó chịu về điều vị Thầy phụ đạo làm đến nỗi ngài nói với Dodrupchen: “Khi
ngài mất, đừng đi tới Zangdol Palri, vì nếu ngài tới đó, Guru Rinpoche sẽ lại gởi
ngài trở về, bởi Guru Rinpoche luôn luôn lo lắng về người Tây Tạng. Ngài đi tới
Dewachen [cõi tịnh độ của Đức Phật A Di Đà], và đừng trở về với những người 199
này.” Paltrül không thích vị Thầy phụ đạo, bởi ông quá khắc nghiệt với Dodrupchen
bé nhỏ. Khi Dodrupchen tới viếng thăm Paltrül lần sau, ngài có Thầy phụ đạo Akhu
Lodrö, một tu sĩ có mái tóc xám, dịu dàng và tôn kính. Paltrül rất vui với vị Thầy này,
ngài nói: “Ồ, ông ta giống như một Thầy phụ đạo của một Lạt ma quan trọng.” Bất
kỳ khi nào Akhu Lodrö phải kỷ luật Dodrupchen, trước tiên ông lễ lạy ngài ba lần. Vì
thế, ngay cả nhiều năm sau này, khi Akhu Lodrö lễ lạy để nhận các giáo lý từ ngài,
Dodrupchen nói: “Ta vẫn lo lắng khi nhìn Akhu Lodrö lễ lạy ta.”
Từ nhiều vị Thầy, chủ yếu là Khenpo Pema Dorje, Paltrül Rinpoche, Khyentse
Wangpo (1820-1892), Dzogchen Rinpoche đệ tứ (1793-?), Mura Tülku Pema
Dechen Zangpo, Zhechen Thutop Namgyal (1787-?), Gyarong Namtrül Kunzang
Thekchok Dorje, Ju Mipham Namgyal (1846-1912), Gyawa Do-ngak Gyatso,
Kongtrül Yonten Gyatso (1813-1899), và Tertön Sögyal (1856-1926), Dodrupchen
nhận các giáo lý về Vinaya (Luật), Madhyamaka (Trung Đạo), Nyāya (Phái Chính
lý), Prajnāpāramitā (Bát Nhã Ba La Mật), Abhidharma (A tỳ đàm, A tỳ đạt ma), và
những Mật điển Cổ và Tân. Ngài nhận những trao truyền toàn bộ giáo lý Nyingma,
với sự đặc biệt nhấn mạnh về Yabzhi và Longchen Nyingthig từ Khyentse Wangpo,
Khenpo Pema Dorje, và Dzogchen Rinpoche đệ tứ. Ngài trở thành một Đạo sư vĩ
đại và vị hộ trì nhiều sự trao truyền trực tiếp.
Ngài nhận những linh kiến của nhiều Đạo sư và những bậc linh thánh và đạt
được nhiều thành tựu. Nhưng ít ai biết được những chứng ngộ sâu xa của ngài bởi
hầu như ngài không phơi bày điều gì. Khi ngài đề cập tới bất kỳ linh kiến nào, ngài
luôn luôn mô tả chúng như những giấc mơ. Điều đó có thể đúng bởi đối với một bậc
chứng ngộ, những giấc mơ là sự quang minh huyễn hóa và chói lọi của tâm trí tuệ
của riêng ta, và cũng thế, mọi linh kiến thanh tịnh là những hiển lộ của sự quang
minh huyễn hóa và chói lọi đó.
Khi ngài mười lăm tuổi, bởi những nguy hiểm chính trị bắt mọi người phải sống
trong sự bất an và vô cùng sợ hãi. Rokza Lama Palge yêu cầu Dodrupchen kiểm tra
những dấu hiệu của giấc mơ của ngài. Ngài làm như thế trong ba đêm. Vào đêm
đầu tiên, ngài nhìn thấy một con chim khủng khiếp trong một cái lồng. Những con
chim khác đang nỗ lực chống lại con chim bị giam giữ, nhưng tất cả chúng đều suy
sụp khi chúng đến trước nó. Sau đó có người nói với Dodrupchen: “Nếu nhiều con
thiên nga vàng vây quanh nó và nhảy qua nó, nó sẽ ngất đi và ngã xuống.” Vào
đêm thứ hai ngài ở trong một khu rừng rậm. Có người nói: “Ở bìa rừng, một con
cọp nguy hiểm đang sẵn sàng nhảy lên và ăn thịt tất cả. Nhưng hiện tại chỉ có cái
đầu của nó ngước lên để nhìn quanh, trong khi thân nó vẫn còn nằm trên mặt đất.
Nếu những tāntrika (hành giả Mật thừa) mạnh mẽ ném các torma, nó sẽ chúi đầu
xuống mặt đất.” Vào đêm thứ ba, ngài được Khyentse Wangpo ban cho một thông
điệp giảng nghĩa mối nguy hiểm tột bực cho Phật giáo và sự an bình của Tây Tạng.
Thông điệp này sẽ được đưa ra sau này, trong cuộc đời của Dodrupchen đệ tứ
Thubten Thrinle Palzang. Ngài nói: “Những giấc mơ cho thấy hiện nay nếu tất cả
những người sùng đạo cùng chung sức cử hành các nghi lễ ngăn chặn các thế lực
tiêu cực thì sẽ tránh được những hiểm nguy. Nếu không, chẳng bao lâu nữa, sự an
bình và trí tuệ của Phật giáo sẽ bị suy giảm.” Sau đó ngài nhấn mạnh rằng điều tối
quan trọng là mỗi một và mọi người – tăng, ni hay các cư sĩ – trong các nhóm hay
cá nhân, phải đọc OM MANI PADME HŪM, thần chú của Đức Phật của lòng Bi mẫn
và Guru Rinpoche, càng nhiều càng tốt trong khả năng của họ, với lòng bi mẫn và 200
sùng mộ. Đó sẽ là phương cách tốt nhất để ngăn ngừa những nguy hiểm như thế.
Một số đại Lạt ma của miền đó đã nỗ lực tuân theo lời khuyên của ngài, nhưng
nhiều người nói: “Rinpoche bảo chúng ta đọc OM MANI PADME HŪM. Điều đó có
nghĩa là chúng ta không làm gì khác ngoài việc tụng thần chú và chuẩn bị cho cái
chết,” và họ không thực hành nhiều. Trong số những người thất học hay ít học có
những người thường nghĩ rằng thiền định về lòng bi mẫn và tụng các thần chú an
bình là những chuẩn bị cho cái chết hay để đạt được giác ngộ, trong khi để ngăn
chặn những hiểm nguy to lớn thì phải sử dụng bùa chú. Nhưng sự thực là bất kỳ
hình thức thực hành Phật giáo nào cũng phải được dựa trên lòng bi mẫn và phụng
sự tất cả.
Năm hai mươi mốt tuổi (1875), Dodrupchen biên soạn tác phẩm uyên áo đầu
tiên của ngài, Lekshe Gaton, một bình giảng về Guhyagarbha-māyājāla-tantra (Mật
điển Bí mật tập hội), một Kinh văn Mật thừa quan trọng nhất của phái Nyingma. Các
học giả kinh ngạc bởi sự uyên bác ở độ tuổi còn trẻ như thế của ngài. Tuy nhiên,
nhiều năm sau, ngài khám phá ra rằng bình giảng của ngài bị ảnh hưởng bởi quan
điểm của truyền thống Sarma270 của Tây Tạng, và ngài viết một bình giảng thứ hai
về cùng vấn đề.
Khi ngài ba mươi tuổi, Thầy phụ đạo Akhu Lodrö của ngài hỏi là bản thân Thầy
sẽ sống bao lâu. Đêm hôm đó trong một giấc mơ, Dodrupchen mở một quyển sách
và có hai dòng chữ: “Thầy giáo yogī của ngài sẽ sống trong năm năm. Thầy sẽ
không sống lâu hơn thời gian đó. Điều đó sẽ không thay đổi.” Năm năm sau, vị thầy
già dễ thương của ngài mất.
Năm hai mươi hai tuổi, Dodrupchen ở với Ju Mipham Mamgyal trong một thời
gian dài tại Tu viện Dzongsar, nơi Khyentse Wangpo đã sống. Trước khi
Dodrupchen khởi hành đi Tu viện Dodrupchen và Mipham đi Karmo Taktsang,
Dodrupchen tới gặp Mipham để từ giã. Mipham đi tới cửa phòng để tiễn
Dodrupchen và tặng ngài một cuộn giấy. Sau này Dodrupchen tìm thấy trong cuộn
giấy một giáo huấn gồm ba mươi bảy câu kệ (Me Ri) về những vấn đề triết học
trọng yếu. Cuối những câu kệ, Mipham nói: “Xin đừng cho người khác xem.” Vì thế
ngài không thể làm như thế. Trong cuộn giấy đó có hai dòng tiên tri cho
Dodrupchen:
Nếu ngọn lửa không bị gió thổi tắt,
Năm ba mươi lăm tuổi, những chướng ngại sẽ được dọn sạch và ông sẽ giữ
vững truyền thống dòng truyền của riêng ông.
Về điều này, Dodrupchen nghĩ: Ta đang cố gắng duy trì truyền thống Nyingma
của riêng ta và đặc biệt là dòng Nyingthig, và như thế điều gì mới mẻ có thể xảy ra?
Nhưng vào năm ba mươi lăm tuổi, chẳng có lý do đặc biệt nào, Dodrupchen muốn
đọc Kagye Deshe Düchen. Khi đọc quyển sách đó, không hiểu sao ngài nhận ra
rằng sự hiểu biết trước đây của ngài về những quan điểm Nyingma (như ngài đã
trình bày nó trong bình giảng đầu tiên của ngài về Guhyagarbha-māyājāla-tantra) bị
ảnh hưởng bởi những quan điểm Sarma, và một sự hiểu biết mới về những quan
điểm Nyingma và một sự xác tín mạnh mẽ ở những quan điểm đó đã thức giấc
trong ngài. Sau đó trong năm năm ngài nghiên cứu rất nhiều tác phẩm Nyingma, và
từ năm bốn mươi tuổi sự xác tín của ngài nơi quan điểm tối thượng hoàn toàn được 201
khẳng định trong phạm vi của những quan điểm độc nhất vô nhị của Nyingma như
được giải thích bởi Longchen Rabjam và Jigme Lingpa. Đó là những gì Ju Mipham
muốn nói qua hai dòng tiên tri của ngài.
Tuktsa Tülku của Dephu, một tu viện Sakya ở Amdo, nói với Ju Mipham rằng
ông muốn học các giáo lý Nyingma nhưng không chắc có học với Dodrupchen hay
không, bởi quan điểm của Dodrupchen có thể bị ảnh hưởng bởi quan điểm Sarma.
Mipham cam đoan với Tuktsa: “Lúc đầu quan điểm Nyingma của Dodrupchen chịu
ảnh hưởng của quan điển Sarma, nhưng hiện nay quan điểm Nyingma của ngài
chắc chắn là quan điểm Nyingma thuần túy. Ông nên đi và học với ngài.” Và Tuktsa
đã làm như thế.
Tại Tu viện Dodrupchen, Dodrupchen xây dựng lại ngôi chùa chính và một bảo
tháp khổng lồ. Với sự hỗ trợ của các đại khenpo khác, ngài ban những giáo lý trong
một số năm mà không ngừng nghỉ, kể cả việc đích thân thuyết giảng về
Bodhicharyāvatāra (Nhập Bồ Tát Hạnh) một trăm lần, như ngài đã hứa với Paltrül.
Sau này, ngài chỉ vào một ngai tòa bằng gỗ nhỏ nhưng tuyệt đẹp (mà tôi đã thấy) và
nói với mọi người: “Từ chiếc ghế gỗ này ta đã ban những giáo lý về Guhyagarbhatantra hơn bốn mươi lần.” Kết quả là Tu viện Dodrupchen trở thành một trung tâm
nổi tiếng về việc nghiên cứu và thực hành toàn bộ hiển giáo và Mật giáo của đạo
Phật.
Một hôm trong khi ngài đang ban những giáo lý, một trận bão mạnh bất thần
quét qua khu vực. Khi cơn bão chạm vào Dodrupchen, ngài cảm thấy không được
khỏe, và sau đó ngài ngã bệnh và không đi được. Kết quả của việc đó là ngài di
chuyển tới ẩn thất của ngài và sống ẩn cư trong phần còn lại của đời ngài. Ẩn thất
được gọi là Gephel Ritrö, Ẩn thất Nuôi dưỡng Đức hạnh, mà trong những tác phẩm
của ngài, thỉnh thoảng ngài nói tới là Khu Rừng của Nhiều Con Chim. Ẩn thất này ở
phía dưới đỉnh của một ngọn núi chọc trời cách Tu viện Dodrupchen khoảng hai
dặm, ở giữa một bãi cỏ được bao bọc bằng những cây thông và cây bách xù cao
lớn. Ngài sống trong một tòa nhà ba tầng to lớn chứa đầy pháp khí và nhiều quyển
sách quý hiếm, khiến cho toàn thể căn nhà giống như một thư viện, ngôi chùa, viện
bảo tàng và nhà ở hợp lại. Ngài miêu tả ẩn thất:
Nó vươn lên như đỉnh một ngọn núi cao,
Đầy những người trẻ trung, cây cối,
Trong lòng nó là phụ nữ, những con chim dễ thương,
Đang hát những điệu du dương của chúng.
Trong đó có một ngôi chùa, nơi trái quả đức hạnh được hoàn thành.
Những bức tường mịn màng có màu của vầng trăng.
Cây cỏ thanh xuân của khu rừng đang viếng thăm để tô điểm ẩn thất,
Như thể chúng khẽ cúi mình tôn kính.
Có một vài học giả-tu sĩ ở đó trông nom ngài và ẩn thất. Mặc dù ngài đau yếu,
ngài không bao giờ nghỉ ngơi ngoại trừ những giờ ngủ, và ngài thường xuyên tham
gia vào việc sáng tác, nghiên cứu hay thiền định.
Năm 1904, ngài được khẩn cầu có những giấc mơ về việc em ngài là Tülku
Pema Dorje có nên gánh vác việc hành chánh của tu viện Dodrupchen hay không.
Đêm hôm đó ngài mơ thấy một dòng chữ trong một quyển sách nói rằng: “Cho tới 202
khi chết ông ta sẽ cổ vũ cho Giáo Pháp.” Em ngài đã trông coi việc hành chánh cho
tới khi ông ta mất.
Khi ngài bốn mươi mốt tuổi (1905), một nửa nhóm bộ tộc Lagya, là những
thường dân hay cư sĩ của Tu viện Dodrupchen, bị vị thủ lãnh Washül Kadö trục xuất
khỏi Thung lũng Ser. Tu viện Dodrupchen bị buộc phải tính đến việc di chuyển tới
một vùng khác. Nhưng sau đó Pema Bum, một trong ba khu vực bộ tộc chính yếu
của Golok, đã cúng dường Thung lũng Tri cho Dodrupchen để làm nơi trú ẩn cho
các cư sĩ của ngài. Cuối cùng bộ tộc Lagya định cư ở Tri, và Tu viện Dodrupchen
vẫn ở chỗ cũ.
Khi Dodrupchen sống ẩn cư trong ẩn thất, ngoài các thị giả của ngài, bốn vị đại
khenpo, và một vài tülku của Tu viện Dodrupchen, rất ít người được diện kiến ngài.
Trong số ít ỏi vị khách được nhận các giáo lý có Tertön Sögyal, Rigdzin Chenpo của
tu viện Dorje Trak, Kathok Situ, Khyentse Chökyi Lodrö, Garwa Tertön Long-yang
(mất năm 1910), Tarthang Choktrül, Tülku Tsultrim Zangpo, và Sera Rintreng.
Tertön Sögyal (Lerab Lingpa, 1856-1926) là một vị khách thường xuyên, ngài và
Dodrupchen đã trao đổi các giáo lý. Năm 1916, khi Dodrupchen biên soạn bình
giảng thứ hai của ngài về Guhyagarbha-māyājāla-tantra (Mật điển Bí mật tập hội),
được gọi là Dzokyi Demik, Tertön Sögyal chép lại những gì Dodrupchen đã đọc cho
ngài. Terkyi Namshe của Dodrupchen, luận văn về việc khám phá terma, là một tác
phẩm ban đầu khác của ngài, được đặt nền vững chắc trên những giảng nghĩa
sáng tỏ mà ngài nhận từ Tertön Sögyal.
Tertön Sögyal mang lại bốn chữ biểu tượng [brDa Yig] mà ngài đã khám phá
nhưng cho tới nay không thể giải mã được. Ngài và Dodrupchen cùng giải mã
chúng. Theo những nguyên lý terma, nếu một giáo lý được Guru Rinpoche giao phó
và cất giấu trong nhiều đệ tử, thì không chỉ tertön được chỉ định mà cả những người
khác cũng được cho phép giải mã những chữ biểu tượng.
Năm năm mươi chín tuổi (1914),271 Tertön Sögyal di chuyển tới Golok và ở gần
Dodrupchen trong phần còn lại của đời ngài. Trước hết ngài bắt đầu xây một gompa
trong cánh đồng Khemar trong Thung lũng Do thượng giữa nhóm bộ tộc Wang-röl,
nhưng trước khi hoàn thành ngài để lại nó cho những người khác hoàn tất. Sau đó
ngài và gia đình ngài được đặc biệt cho phép sống trong Tu viện Dodrupchen.
Nhưng sau một thời gian, ngài quyết định di chuyển tới Dzongdün trong Thung lũng
Ser, cách Tu viện Dodrupchen khoảng một ngày đi ngựa, và ngài ở lại đó trong
phần cuối đời ngài.
Có lần khi Tertön Sögyal bị bệnh nặng tại Dzongdün, ngài bảo các thị giả đưa
ngài tới Dodrupchen. Trên đường đi, khi đoàn của ngài tới Dilsham Kathok trong
Thung lũng Thang-yag, ngài bảo các thị giả lễ lạy một cái cây trong cánh đồng, là
nơi Dodrupchen đệ nhị sinh ra. Khi họ tới Sông Do, thật là kỳ diệu, ngài đã có thể
cưỡi ngựa, và sau khi nhìn thấy Dodrupchen thì mọi bệnh tật của Tertön Sögyal
biến mất.
Năm Mộc ngưu (1925), Tertön Sögyal tới gặp Dodrupchen. Lúc kết thúc buổi
gặp gỡ, các ngài trao đổi khăn, là điều các ngài chưa bao giờ làm khi họ chia tay
trong những lần trước. Sau đó các ngài nói với nhau: “Tôi sẽ gặp ngài trong Cõi tịnh
độ.” Qua năm sau, trong năm Hỏa Dần (1926), cả hai vị đều mất.
Rigdzin Chenmo, vị lãnh đạo Tu viện Dorje Trak, xin được gặp Dodrupchen.
Theo truyền thống, bởi Rigdzin Chenmo là một trong hai Lạt ma quan trọng nhất 203
của phái Nyingma, Dodrupchen vui lòng gặp ngài. Khi tới nơi, Rigdzin Chenmo
thậm chí không ngồi trên tấm nệm mà ngồi trên sàn nhà trên một tấm thảm nhỏ
trước mặt Dodrupchen. Sau đó các ngài cùng dùng bữa trưa với một buổi gồm
những câu hỏi-và-trả lời dài trong sự bí mật. Sau này Rigdzin Chenmo đánh giá đó
là một buổi gặp gỡ lợi lạc nhất với một Lạt ma.
Kathok Situ Chökyi Gyatso (1880-1925) tới gặp Dodrupchen với nhiều câu hỏi
về triết học và thiền định. Kathok Situ cũng đưa ra cho Dodrupchen một lời tuyên bố
nổi tiếng: “Hiện nay tại Tu viện Dzogchen, Gyakong Khenpo [Zhenphen Chökyi
Nangwa] giảng dạy những bản văn [gZhung] theo những bình giảng của Ấn Độ, nói
rằng: ‘Chỉ có những bình giảng của Ấn Độ là xác thực.’ Tại Tu viện Dodrupchen của
ngài, các khenpo đang giảng Kinh điển theo những bình giảng của phái Geluk và
các Mật điển theo truyền thống Nyingma. Vì thế Tu viện Kathok là tổ chức duy nhất
giảng dạy những truyền thống Nyingma thuần túy.” Dodrupchen hỏi: “Đối với
Abhisamayālamkāra (Hiện Quán Trang nghiêm), ông đang dùng bình giảng nào tại
Kathok?” Kathok Situ trả lời: “Bình giảng của Gorampa” (là một Đạo sư nổi tiếng
phái Sakya).
Năm 1920, Khyentse Chökyi Lodrö của Tu viện Dzongsar (1893-1959) tới ẩn
thất của Dodrupchen trong một chuyến thăm viếng vài tháng để nhận những giáo lý
và sự trao truyền. Một hôm, như thường lệ, Khyentse đi một mình tới phòng thờ của
Dodrupchen để nhận quán đảnh Rigdzin Düpa. Dodrupchen đang ngồi trên một
chiếc ghế cao. Khyentse được yêu cầu ngồi trên một tấm nệm cạnh cửa sổ. Một tu
sĩ là người phụ lễ (chöpön) đặt tất cả những phẩm vật quán đảnh lên bàn thờ và ra
khỏi phòng. Dodrupchen vẫn tụng các thần chú. Chẳng bao lâu cái bình trên bàn
thờ phát ra những tia sáng trắng, tràn ngập toàn thể gian phòng. Sau đó ánh sáng
đỏ trùm lên toàn thể căn phòng, và điều đó làm cho Khyentse khó nhìn thấy
Dodrupchen. Khi ánh sáng mờ dần, ngài nhìn thấy một người đàn bà tuyệt đẹp với
những đồ trang sức ở đó, làm “đạo sư hành động” với những cử chỉ nhảy múa.
Khyentse, khi đó là một tu sĩ, nghĩ rằng: “Ở một thời điểm quan trọng như thế này,
có một tu sĩ thực hiện vai trò của đạo sư hành động thì tốt hơn.” Khi lễ quán đảnh
kết thúc, người đàn bà biến mất. Dodrupchen bảo Khyentse: “Tülku Tsang! Ta có
một thành tựu siêu việt để trao cho ông, nhưng do bởi những ý niệm của ông nên
điều đó không thể xảy ra hôm nay. Nhưng ông sẽ nhận được nó sau này. Người
đàn bà là Dorje Yudrönma [một trong những nữ Hộ Pháp chính yếu của dòng
Longchen Nyingthig’.” Trong lễ quán đảnh Rigdzin Düpa, Dodrupchen ban cho ngài
tên Pema Yeshe Dorje, là tên mà các học giả cho rằng là một biểu thị cho thấy
Chökyi Lodrö cũng là tülku của Do Khyentse Yeshe Dorje. Vào lúc trao truyền
Ladrup Thigle Gyachen, Khyentse thấy Rinpoche là Longchen Rabjam.272 Khyentse
Chökyi Lodrö viết về việc ngài viếng thăm Dodrupchen bằng những vần thơ.
Tôi tới trại của Dodrupchen ở phương Bắc và
Gặp Tenpe Nyima toàn trí.
Tôi nhận những quán đảnh Rigdzin Düpa và Ladrup Thigle Gyachen,
Các giáo lý về Longchen Nyingthig và
Đề cương của Guhyagarbha.
Ngài thường xuyên ban cho tôi những giáo huấn và lời chỉ dạy.
Ngài cho phép tôi truyền bá 204
Những tác phẩm của ngài mà không cần sự khẩu truyền [Lung].
Với thiện tâm to lớn, ngài ban cho tôi mọi sự chăm sóc.273
Tarthang Choktrül Chökyi Dawa (1894-1959) là một đệ tử của Khenpo Könchok
Drönme, và do Khenpo nhiều lần yêu cầu, ngài đã sắp xếp để được diện kiến
Dodrupchen. Tarthang Choktrül tới gặp Rinpoche và ngồi trên tấm nệm; các ngài
cùng dùng bữa trưa, và ngài ra đi mà không đặt một câu hỏi nào về những vấn đề
Giáo pháp quan trọng. Sau này, những người khác hỏi Tarthang Choktrül: “Vì sao
ngài không hỏi Rinpoche về những vấn đề thiền định hay trí thức quan trọng?” Ngài
trả lời: “Tôi chỉ tới gặp Rinpoche và nhận một gia hộ – không phải để đặt những câu
hỏi!”
Tülku Tsültrim Zangpo của Tu viện Shukchung, một đại học giả và bậc lão
thông, là một vị hộ trì giáo lý các giáo lý terma của Tertön Sögyal, như bản thân
Dodrupchen. Ngoài ra, ngài đã sao chép nhiều bản văn cho Dodrupchen. Nhờ
những bản văn mà ngài có thể gặp Dodrupchen nhiều lần.
Sera Rintreng, một học giả sáng chói, là một trong những người được gặp
Dodrupchen bằng cách trở thành thị giả của ngài. Ngài trải qua ba năm làm người
nấu bếp cho Dodrupchen. Một hôm, ban cho ngài một xâu chuỗi hột màu vàng,
Dodrupchen bảo ngài: “Do bởi sức khỏe của ta, ta không thể ban cho ông bất kỳ
giáo lý văn bản nào. Ông phải đi về phương đông. Ông sẽ trở thành một đại học giả
của Giáo Pháp.” Phù hợp với điều được dạy, Rintreng đi tới ẩn thất Ditsa ở Amdo
và tu học với Alak Zhamar và trở thành một đại học giả.
Nhiều người tìm cách khác để gặp Dodrupchen. Mỗi năm Dodrupchen ban
những quán đảnh và một giải thích vắn tắt Sādhana Ba Gốc của Longchen
Nyingthig cho các tu sĩ gia nhập trường thiền định một năm của tu viện. Những
trường chỉ nhận tám tu sĩ, và hầu hết các tu sĩ đó học lại cũng chương trình đó
trong nhiều năm để gặp Dodrupchen. Nhưng đôi khi, nếu một tu sĩ đã hứa tự mình
thực hiện một khóa nhập thất một năm nghiêm nhặt, người ấy có thể được nhận lễ
quán đảnh do Dodrupchen ban. Trong số những tu sĩ đó là vị Thầy Chöchok của tôi
thuộc gia đình Kyala, là người sau này được gọi là Kyala Khenpo của Tu viện
Dodrupchen, và Lobzang Dorje (còn gọi là Lo-de) thuộc gia đình Akong, người về
sau trở nên nổi tiếng là Akong Khenpo của Tu viện Tarthang.
Kyala Khenpo (chúng ta sẽ nói về ngài trong chương 34) nhận những quán đảnh
trong ba năm liên tiếp, hóa ra đó là những quán đảnh của ba năm cuối cùng của
Dodrupchen.
Từ thời thơ ấu Akong Khenpo có một thôi thúc to lớn được gặp Dodrupchen. Có
lần khi ngài đang lớn, ngài tới Tu viện Dodrupchen để tìm cách gặp Dodrupchen.
Khenpo là người sao chép bản thảo tài giỏi, vì thế trước tiên ngài sao chép tám
quyển sách cho Dodrupchen bằng cách gởi những bản thảo đi tới đi lui qua các thị
giả. Ngài từ chối không nhận tiền thù lao trong việc sao chép, nhưng để đổi lại, ngài
khẩn cầu được phép thực hiện chương trình nhập thất một năm để có thể gặp
Dodrupchen. Đây là điều ngài được phép làm. Cuối cùng, khi Khenpo nhìn thấy
Dodrupchen, ngài không bao giờ cảm nhận ngay cả trong một giây rằng
Dodrupchen là một con người, mà là một vị Phật. Với sự nhất tâm và sùng mộ tuyệt
đối, ngài đã nhận những quán đảnh dài cùng với nhiều giáo lý khác. Nhưng sau một
lát, khoảng một phần nhỏ của một giây, tâm ngài bị xao lãng bởi điều gì khác và 205
thình lình Dodrupchen hét to PHAT! một chữ bí mật. Khenpo cảm thấy mình hầu
như chết ngất. Bị choáng váng, Khenpo ngước nhìn Dodrupchen, vị Thầy này đang
chăm chú nhìn ngài với đôi mắt mở lớn. Vào cuối buổi lễ, Dodrupchen nói: “Trong lễ
quán đảnh, nếu một Đạo sư chứng ngộ và một đệ tử sùng mộ gặp nhau, đệ tử có
thể được đưa vào sự chứng ngộ. Tu sĩ trẻ Akong, con đã nhận một sự khai tâm
như thế. Bây giờ con phải thiền định về nó với sự tinh tấn.” Sau này Khenpo nói
rằng đó là cách ngài nhận ra chân tánh không qua việc học tập.
Nhiều người thường xuyên thăm viếng ẩn thất để tìm kiếm những lời giải đáp
cho các câu hỏi của họ về các vấn đề triết học hay tu tập thiền định, thường tìm
cách đưa ra câu hỏi thông qua những người trung gian. Một trong những người đến
gặp Dodrupchen với những câu hỏi là Tülku Tri-me, là người em lão thông và học
giả của Dodrupchen. Dodrupchen từ chối không tiếp ngài, nói rằng: “Thật không hay
nếu tiếp em tôi mà không tiếp những người khác.” Tuy nhiên, Tülku Tri-me hài lòng
bởi những minh giải cần thiết mà ngài lãnh hội qua Rayop Rang-rik, thị giả sáng
chói của Dodrupchen.
Trong Tu viện Dodrupchen có rất nhiều đại học giả, trong số họ có bốn đại
khenpo mà hình tướng của họ đã được tiên tri trong Tiên tri Bí mật của Lama
Gongdü. Tên của các ngài là Sershul Khenpo Ngawang Künga, Garwa Khenpo
Jigme Ösal (?-1926), Amye Khenpo Tamchö Özer (?-1927), và Lushül Khenpo
Könchok Drönme (1859-1936). Hầu hết tất cả những học giả vào thời đó ở các tỉnh
Golok và Serta của Tây Tạng và ngoài ra ở nhiều tu viện Nyingma khác của Kham,
Gyarong, và Amdo là các đệ tử của Tu viện Dodrupchen.
Mặc dù Dodrupchen trở thành một học giả nổi tiếng và một nơi nương tựa bất
diệt cho rất nhiều người, tu viện của ngài vẫn đơn sơ và nhỏ bé, bởi ngài không
thúc đẩy để tu viện thịnh vượng về mặt vật chất, là điều có thể làm con người xao
lãng Pháp chân thực. Ngài là một ẩn sĩ ẩn mật, vì thế rất khó hiểu được bề sâu của
những chứng ngộ hay cái thấy sâu xa của ngài. Giống như một đứa trẻ, ngài không
kiêu ngạo và rất dễ gần, nhưng tâm ngài sâu xa và ngài nói sự thật. Bởi cách sống
của ngài đơn giản, dồi dào phẩm hạnh, sự uyên thâm thâm trầm, và giới luật mà
ngài trì giữ trong suốt cuộc đời, bất kỳ khi nào những người trí thức và có quyền
hành tới trước ngài, họ hoàn toàn trở nên khiêm tốn, yên lặng, và được điều phục
trong sự hiện diện của ngài.
Vào lúc hoàn thành việc xây dựng một đại bảo tháp tại Gogen Thang trong
Thung lũng Ser, ngài cử hành lễ hiến cúng trong ẩn thất. Những hạt mà ngài ném
trong nghi lễ tức thì rơi trên bảo tháp ở cách xa ẩn thất của ngài một ngày rưỡi
đường du hành bằng ngựa.
Mặc dù Dodrupchen không bao giờ thọ cụ túc giới và vẫn giữ giới luật của một
sa di (shramanera), ngài trì giữ những giới luật sa di hết sức nghiêm cẩn, chẳng
hạn như không ăn sau buổi trưa. Ngài đã chỉ thị cho bốn vị khenpo, các tu viện
trưởng của Tu viện Dodrupchen, hướng dẫn tu viện trong những giới luật tu viện
nghiêm cẩn nhất, và nó đã trở thành một tổ chức tu viện mẫu mực trong miền Golok
và xa hơn nữa.
Dodrupchen cũng giữ gìn ẩn thất của ngài như một trụ xứ tu viện. Có lần Tertön
Sögyal hỏi ngài: “Phối ngẫu của tôi rất ao ước được diện kiến ngài. Bà ấy có thể tới
gặp ngài được không?” Dodrupchen suy nghĩ một lát và nói: “Ta đồng ý nếu có
người đỡ ta tới ngưỡng cửa để gặp bà ấy. Bởi cho tới nay chưa từng có người đàn 206
bà nào vượt qua ngưỡng cửa của ta.” Vì thế, một hôm, người ta giúp Dodrupchen
xuống gác đi tới cửa, và ngài ban giáo lý cho phối ngẫu của Tertön Sögyal. Người
ta tin rằng một trong những lý do vì sao ngài quá nghiệm nhặt về giới luật tu viện
của ngài là vì nguyện ước mà Dodrupchen đệ nhị đã lập ra vào lúc mất, như đã đề
cập ở trên.
Mặc dù Dodrupchen không khỏe mạnh, ngài vẫn kiên trì đọc sách và nghiên
cứu. Có lần anh ngài, Tülku Pema Dorje, hỏi ngài với vẻ lo âu: “Rinpoche, khi nào
ngài chấm dứt những việc nghiên cứu?” Ngài tạm ngừng và nói: “Khi tôi đạt được
Phật quả.” Pema Dorje phàn nàn: “Ồ, điều đó thì quá xa!”
Dodrupchen biên soạn năm quyển sách gồm những luận văn uyên áo về hiển
giáo (Kinh điển) và mật giáo (Mật điển). Trong số những tác phẩm này, bản văn
Changchup Sempe Zung (Những Ký ức của chư vị Bồ Tát)274 được các học giả hết
sức tán thán là một tác phẩm độc đáo chưa từng có. Bản văn này được viết rất
sớm, nhưng ngài kết thúc vào năm Thủy Tuất (1922). Tác phẩm Dzökyi Demik (Một
Đề cương của Guhyagarbha-māyājāla-tantra)275 trở thành một trong những bản văn
quan trọng nhất của phái Nyingma về những nghiên cứu Guhyagarbha-tantra, là
bản văn gốc của Mahāyoga và cũng của các Mật điển Nyingma nói chung. Ngoài ra,
trong số những tác phẩm quan trọng khác của ngài có Terkyi Namshe, một mô tả
chi tiết về việc khám phá những giáo lý huyền bí ẩn dấu,276 và Kyiduk Lamkhyer,
277
một bài pháp ngắn nhưng sâu xa về việc chuyển hóa hạnh phúc và đau khổ thành
việc tu tập Phật giáo.
Khi Jampal Rölpe Lodrö, thường được gọi là Amdo Geshe, một đại học giả phái
Geluk và cũng là một vị Thầy của Khyentse Chökyi Lodrö, đọc bản văn Những Ký
ức của chư vị Bồ Tát của Dodrupchen, ngài nói: “Bản văn này không do một tâm trí
con người viết ra. Nó chỉ có thể được viết bởi một bậc đã nhận được những gia hộ
của Đức Văn Thù, Bổn Tôn Trí tuệ.” Amdo Geshe dâng một bản sao của bản văn
này cho Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười ba, ngài nói: “Ngày nay, một tác giả của thể
loại này thật hiếm có trong xứ này.” Amdo Geshe ở lại với Khenpo Tamchö tại tu
viện Dodrupchen suốt một mùa đông, nhưng không gặp được Dodrupchen. Tuy
nhiên khi Amdo Geshe đọc bình giảng về Guhyagarbha-māyājāla-tantra của
Dodrupchen, ngài đã phản đối những quan điểm độc nhất vô nhị của phái Nyingma
được đưa ra trong đó, và ngài muốn được tranh luận với Dodrupchen. Nghe câu
chuyện này, Sera Ringtreng, một học giả của những bản văn Nyingma và Geluk, đã
nói: “Tôi biết Amdo Geshe. Ngài là một đại học giả và một Lạt ma kỳ diệu. Nhưng
xét cho cùng, ngài là một con người. Tôi biết Rinpoche. Chúng ta không biết một vị
Phật ra sao, ngoại trừ việc nói: ‘Một vị Phật là một đấng hết sức đặc biệt.’ Rinpoche
không phải là một con người. Ngài là một bậc hết sức đặc biệt. Tự tôi chứng kiến
điều đó.” Rồi ngài nói thêm: “Nếu Amdo Geshe muốn, tôi sẽ thảo luận với ngài. Ngài
đang tự mâu thuẫn. Ngài đã tán thán tác phẩm đầu tiên của Rinpoche là một tác
phẩm của một người nhận được những gia hộ của Đức Văn Thù. Nếu đúng như
thế, hẳn phải có những gia hộ của Đức Văn Thù cho tác phẩm kế tiếp của
Rinpoche!”278 Tuy nhiên, các ngài không bao giờ có cơ hội để tranh luận.
Trong những cuộc phỏng vấn riêng và những bài diễn văn công khai, Đức Đạt
Lai Lạt Ma thứ mười bốn hiện tại cũng tán thán những tác phẩm của Dodrupchen
đệ tam là những tác phẩm uyên áo vĩ đại nhất về quan điểm Nyingma, và ngài
khuyên nên đọc chúng để học tập những quan điểm độc nhất vô nhị của Nyingma. 207
Ngài đã nói rằng dòng truyền của sự hiểu biết của riêng ngài (hay chứng ngộ) về
Dzopa Chenpo và Nyingma đến với ngài trước tiên từ Dodrupchen đệ tam nhờ đọc
các tác phẩm của Dodrupchen.
Trong bốn khenpo của Tu viện Dodrupchen, Garwa Khenpo là người gần gũi với
ngài nhất. Một hôm sau một chuyến viếng thăm ẩn thất, Khenpo trở về tu viện muộn
một cách khác thường. Một đệ tử của ngài hỏi lý do vì sao ngài về muộn, và ngài trả
lời: “Chúng ta nói về một số điều vui và một số điều buồn.” Đệ tử hỏi: “Chúng ra
sao?” Khenpo nói; “Rinpoche muốn chết trước, và ta thuyết phục ngài để ta chết
trước.” Khi hỏi: “Ngài quyết định ra sao?” ngài trả lời: “Ta muốn chết sớm hơn một
chút.” Sau đó khoảng một năm Khenpo mất, và sau ít tháng thì Dodrupchen cũng
mất.
Vài tháng trước khi Dodrupchen mất, ngài ban những quán đảnh hàng năm cuối
cùng cho những người nhập thất. Theo Kyala Khenpo, là một trong những người
nhận quán đảnh, sức khỏe của Rinpoche có vẻ không thay đổi. Tuy nhiên, trong hai
năm trước đó, vào cuối lễ quán đảnh, không nói những lời nguyện ước hay cầu
nguyện kiết tường nào, ngài luôn luôn làm một cử chỉ cho thấy buổi lễ đã chấm dứt,
và sau đó mọi người ra về. Nhưng lần này, lúc kết thúc lễ quán đảnh, Garwa
Khenpo từ cánh cửa kế cận bước vào khi ngài đang chờ ở đó để kết thúc buổi lễ,
mặc dù các đệ tử không biết điều đó. Khi đó Dodrupchen nói: “Có câu nói ‘Đừng
khiêm tốn trong việc lập nguyện,’ vì thế chúng ta nên nói một lời ước nguyện trang
trọng.” Được Khenpo hướng dẫn, Dodrupchen và các đệ tử cùng nói nhiều lời ước
nguyện dài, kế đó là một bài cầu nguyện kiết tường dài của chính Dodrupchen.
Kyala Khenpo nói với tôi là ngài đã nghĩ: “Ồ! Đây là một dấu hiệu cho thấy Rinpoche
sẽ không còn ban quán đảnh nữa,” và chắc chắn đó là sự trao truyền quán đảnh
cuối cùng của ngài. Garwa Khenpo và Dodrupchen đã hoạch định trước tất cả
những điều này.
Rồi một hôm, trong khi Dodrupchen đang biên soạn một bình giảng về Me-ngak
Tatreng (Tràng Hoa những Giáo huấn về Cái Thấy) của Guru Rinpoche, ngài bảo
thị giả bọc bản thảo lại và trả nó lại kệ sách, và nói: “Giờ đây là lúc kết thúc tác
phẩm của ta. Trong tương lai một người nói ông ta là tülku của ta sẽ tới và hoàn tất
bản văn này.” (Tuy nhiên, cho tới nay không có ai biên soạn một bình giảng mới.)
Sau đó ngài bắt đầu có vẻ đau yếu, và một buổi tối, ngài đột ngột qua đời ở tuổi sáu
mươi hai, vào năm Hỏa Dần (1926). Có những dấu hiệu thông thường khi những
Đạo sư vĩ đại thị tịch, trong đó có hiện tượng mặt đất chấn động, những tia sáng
cầu vồng, và khí hậu ấm áp. Sau bốn mươi chín ngày nhục thân của ngài được hỏa
thiêu, và di cốt được lưu giữ trong bảo tháp vàng hai tầng tại Tu viện Dodrupchen.

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Thiền-Định (t t.4)

Thọ mạng của Vua cha quá ngắn ngủi.
Thiện tâm của Guru thì quá giới hạn.
Công đức của ta quá mỏng manh.
Giờ đây giới luật của những thể chế Giáo Pháp đã suy giảm.
Niềm vui của những thần dân Tây Tạng bị cạn kiệt.
Trong khi Guru và Vua cha còn hiện diện,
Tại sao ta không chết đi!116
An ủi nhà vua và các thần dân của ông, Guru Rinpoche nói:
Trong khi ngài còn trẻ, hãy nỗ lực thực hành Pháp,
Bởi khó lĩnh hội được Pháp khi đã già.
Ồ Đức vua và các thần dân, cuộc đời thì thoáng qua.
Khi ngài có một tư tưởng thô thiển, hãy nhìn vào chủ thể [tâm],
Hãy thư thản tự nhiên không có những phân biệt.
Ồ Đức vua và các thần dân, điều chính yếu là xác định cái thấy (kiến)..
Nếu không có lòng bi mẫn, cội gốc việc tu tập Pháp của ngài bị mục nát.
Hãy suy nghĩ không ngừng về tính chất đau khổ của sinh tử.
Ồ Đức vua và các thần dân, đừng trì hoãn việc hiến dâng cho Pháp.
Những người sùng mộ tự thân thành tựu mục đích của mình.
Không có lý do nào biện minh cho việc bỏ mặc sự thực hành Pháp cho người
khác..
Hãy đạt được kinh nghiệm về Pháp trước khi ngài mất.
Là quá trễ khi ngài trông cậy vào những buổi lễ sau cái chết..
Đối với những người sùng mộ, Padmasambhava không đi bất kỳ nơi đâu.
Đối với những người cầu nguyện ta, ta [luôn luôn] ở cửa nhà họ..
Giờ đây Padmasambhava sẽ không ở Tây Tạng mà sẽ đi tới xứ của các la sát,
Như những con chim bay đi từ những ngọn cây.117
Từ không trung giữa những đám mây nhiều màu sắc một con ngựa thiêng với
những vật trang sức xuất hiện. Cưỡi trên lưng ngựa, Guru Rinpoche nổi lên và
hướng lên bầu trời, ngài bay về hướng tây cùng với Yeshe Tsogyal và một đại
dương những bậc linh thánh giữa âm thanh ngọt ngào của âm nhạc và những bài
tán ca. Hình ảnh của Guru Rinpoche và đoàn của ngài mỗi lúc một nhỏ hơn khi họ
bay đi, và tiếng nhạc từ từ biến mất. Rồi không còn gì khác ngoài bầu trời yên tĩnh,
trong trẻo và trống trải của xứ Tây Tạng trên đầu nhà vua và hội chúng thần dân
của ngài. Tuy nhiên, người ta có những tri giác khác nhau về việc lên đường của
ngài. Một số người nhìn thấy ngài ra đi bằng cách cưỡi trên một con sư tử và
những người khác thì thấy ngài cưỡi trên những tia sáng mặt trời.
Sau đó Guru Rinpoche và Yeshe Tsogyal đáp xuống hang động Tsawa Rong.
Sau khi ban thêm giáo lý và tiên tri, ngài xuất hiện trên không trung với những ánh
sáng. Từ giã vị phối ngẫu, với lòng thương yêu và thiện tâm Guru Rinpoche đã nói
những lời sau đây với bà rồi bay đi:
Kyema, Yeshe Tsogyal, xin hãy lắng nghe!
Padmasambhava đi tới xứ sở của đại lạc. 78
Ta an trụ trong Pháp thân, sự thiêng liêng bất tử.
Không giống sự chia lìa thân và tâm [vào lúc chết] của những người bình
thường..
Hãy thiền định về Guru Yoga, là tinh yếu của việc tu tập.
Trên đỉnh đầu con 0,6 m, trên hoa sen và mặt trăng, giữa những ánh sáng,
Hãy quán tưởng Padmasambhava, Lạt ma của chúng sinh..
Khi việc quán tưởng trở nên rõ ràng, hãy nhận các quán đảnh và suy niệm về
nó..
Hãy tụng thần chú Guru siddhi, tâm yếu của những lời cầu nguyện.
Cuối cùng, hãy hợp nhất ba cửa (thân, ngữ và tâm) của con với ba cửa của ta,
không thể chia lìa.
Hãy hồi hướng và nguyện ước đạt được chứng ngộ tâm của Guru.
Hãy suy niệm về tinh túy của Dzogchen (Đại Viên mãn) mà không cần dụng
công.
Không có giáo lý nào siêu việt hơn giáo lý này.
Lòng từ của Padmasambhava không xuất hiện hay biến mất mà luôn luôn hiện
diện.
Sự nối kết ánh sáng lòng đại bi của ta đối với Tây Tạng sẽ không bao giờ bị
cắt đứt [ngay cả sau khi ta đã rời đi].
Đối với các con ta, những người cầu nguyện ta, ta luôn luôn ở trước mặt họ.
Đối với những người có lòng tin, không có sự chia cách với ta.118
Người ta tin rằng Guru Rinpoche vẫn hiện diện như bậc hộ trì trí tuệ (Trì minh
vương) của sự thành tựu tự nhiên (Lhun Grug Rig ‘Dzin)119 ở Zangdok Palri, một cõi
tịnh độ hiển lộ (sPrul Ba’i Zhing), mà chúng sinh bình thường không thể nhìn thấy.
Vị hộ trì trí tuệ của sự thành tựu tự nhiên là cấp độ thứ tư và năm của sự thành tựu,
trước khi lập tức trở thành một vị Phật toàn giác. Những chứng ngộ và hoạt động
của quả vị này thì giống như những chứng ngộ và hoạt động của một vị Phật, và
những thân tướng của quả vị này thì tương tự những thân tướng của thân hỉ lạc.
Thành tựu này tương đương với cấp độ thứ mười và con đường thiền định, con
đường thứ tư của Phật giáo thông thường. Ngoài ra, trong các thành tựu thứ ba và
thứ tư, hành giả từ bỏ những che chướng tri thức (sở tri chướng) cùng những dấu
vết của nó. Vì thế Guru Rinpoche là một vị Phật trong tâm nhưng xuất hiện như một
bậc lão thông đang ở những cấp độ cuối cùng của sự thành tựu, không tan biến vào
Pháp thân, bằng cách mang hình thức của thân ánh sáng của sự đại chuyển hóa.
Guru Rinpoche sẽ an trụ trong cõi tịnh độ hiển lộ của ngài chừng nào điều đó
còn làm lợi lạc nhiều chúng sinh, vì thế ngài đã hiển lộ là một bậc lão thông, bậc đã
đạt được những thành tựu thân kim cương bất tử và sự đại chuyển hóa.
Trong nhiều đệ tử của Guru Rinpoche ở Tây Tạng, những bậc vĩ đại nhất là đức
vua và hai mươi lăm thần dân, tám mươi bậc lão thông, là những vị đã đạt được
thân cầu vồng ở Yerpa, một trăm lẻ tám đại thiền giả của Núi Chuwo, ba mươi
tāntrika vĩ đại của Yangdzong trong Thung lũng Drak, năm mươi lăm bậc chứng
ngộ tại Sheltrak trong Thung lũng Yarlung, hai mươi lăm dākinī, và bảy yoginī.
Ngài có nhiều nữ đệ tử chứng ngộ cao cấp ở Tây Tạng.120 Tisam thuộc gia đình
Dro bay trong không trung nhờ năng lực tâm linh của bà. Rinchentso thuộc gia đình
Mago treo những chiếc y của bà trên những tia sáng mặt trời. Kargyalpak thuộc gia 79
đình Oche nhìn thấy những linh kiến về các Bổn Tôn. Changchup thuộc gia đình
Chok-ro phô diễn đồng thời cả hai sự đối lập là lửa và nước trong thân bà. Khandro
Yeshe Tsogyal thuộc gia đình Kharchen đã hiển lộ sự hiện diện của chư Phật trong
những bộ phận khác nhau của thân bà. Lhakarma thuộc gia đình Dzin bay trong
không trung và đi vào lòng đất không gặp chướng ngại. Sherap Phagma thuộc gia
đình Shuk giữ những tuyển tập lớn giáo lý của Đức Phật trong ký ức của bà.
Lhamoyang thuộc gia đình Ba đã hoàn thành những ước nguyện của con người
nhờ năng lực của việc hoàn thiện thiền định của bà. Dorjetso thuộc gia đình Shelkar
đứng trên một cây tre vượt Sông Tsangpo (Brahmaputra).
NĂM PHỐI NGẪU CHÍNH CỦA GURU RINPOCHE121
YESHE TSOGYAL XỨ TÂY TẠNG
Yeshe Tsogyal là Đức Phật Vajravārāhī trong thân tướng con người và cũng là
một hóa thân của Đức Tārā và Buddhalochanā. Bà ra đời giữa những dấu hiệu kỳ
diệu tại Dragda, trong bộ tộc Kharchen. Thân phụ bà là Namkha Yeshe, vua của
Kharchen, một lãnh địa quan trọng ở miền trung Tây Tạng, và thân mẫu là Gewa
Bum. Lúc bà sinh ra, một cái hồ lớn thình lình hình thành bên cạnh nhà. Nó được
gọi là Tsogyal Latso, hay hồ linh của Tsogyal. Thậm chí hiện nay cũng có một cái
ao, là những gì còn lại của cái hồ. Khi là một đứa trẻ, bà đã in dấu vết của bàn chân
trên một tảng đá gần nhà, và cho tới gần đây người ta vẫn có thể nhìn thấy dấu vết
đó.
Lúc đầu bà trở thành một trong những phối ngẫu của Vua Trisong Detsen, vua
Tây Tạng. Về sau vua dâng bà cho Guru Rinpoche như việc cúng dường mạn đà la
trước khi nhận lễ quán đảnh, và bà trở thành phối ngẫu của Guru Rinpoche. Khi bà
nhận quán đảnh từ Guru Rinpoche, hoa của bà đáp xuống mạn đà la Vajrakīla. Nhờ
thực hành sādhana của Vajrakīla, bà nhìn thấy linh kiến thanh tịnh về Vajrakīla và
đạt được những thành tụu.
Bà làm hồi sinh nhiều người đã bị giết chết trong khi chiến đấu. Tại Nepal, bà
làm một cậu bé đã chết sống lại, và sau đó với vàng mà bà được cúng dường với
lòng biết ơn, bà trả tiền chuộc Āchāraya Sa-le, người được tiên tri là người hỗ trợ
cho việc tu tập bí mật của bà.
Bà nhận hầu hết những giáo lý mà Guru Rinpoche ban ở Tây Tạng, và nhờ thực
hành những giáo lý ấy bà đã đạt được chứng ngộ tối thượng. Cùng với Guru
Rinpoche bà du hành khắp Tây Tạng bằng năng lực huyền diệu của các ngài, đã
thiền định ở hàng trăm địa điểm, và gia hộ cho những nơi đó như những địa điểm
năng lực. Bởi đã thành tựu trí nhớ không quên (Mi brJed Pa’i gZungs), nhờ năng
lực của trí nhớ, bà đã thâu thập những giáo lý bao la không thể nghĩ bàn mà Guru
Rinpoche đã ban truyền ở Tây Tạng. Theo lệnh của Guru Rinpoche, bà đã cất dấu
các giáo lý ở những địa điểm khác nhau như terma, những kho tàng ẩn dấu vì lợi
lạc của các môn đồ tương lai. Đặc biệt là tại Tidro xứ Zhotö trong Thung lũng
Drikung, bà nhận lãnh Khandro Nyingthig, các giáo lý bí mật thâm sâu của Đại Viên
mãn, và sau này đã chôn dấu các giáo lý ấy như terma. 80
Yeshe Tsogyal ở Tây Tạng nhiều năm sau khi Guru Rinpoche rời xứ này, chôn
dấu lại các terma ở những địa điểm khác nhau. Cuối cùng, từ Shang Zabulung bà
và Kālasiddhi và Tashi Chidren, thay vì để lại thân xác, đã bay qua không trung tới
Zangdok Palri, cõi tịnh độ hiển lộ của Guru Rinpoche.
Các môn đồ của Guru Rinpoche coi Yeshe Tsogyal như một người có sự duyên
dáng và thiện tâm vô song của một bà mẹ đối với họ và với người dân Tây Tạng.
CÔNG CHÚA MANDĀRAVĀ XỨ SAHOR
Mandāravā, một hóa thân của Dhātvīshvarī, ra đời giữa những dấu hiệu kỳ diệu
tại Cung điện Ratnapurī xứ Sahor. Hầu hết các học giả đồng ý rằng Sahor là địa
điểm mà ngày nay được gọi là Mandi ở Himachal Pradesh, miền bắc Ấn Độ. Thân
phụ bà là Vua Ārshadhara và thân mẫu là Hauki.
Tiếng tăm và sắc đẹp của bà khiến cho nhiều vị thượng thư đến triều đình khẩn
cầu và đe dọa để bà làm phối ngẫu cho vua của họ. Bà rất phiền lòng vì những điều
này. Bà cảm thấy vô cùng nhàm chán đời sống thế gian. Vì thế không ai có thể
ngăn cản bà từ bỏ đời sống của một gia chủ và trở thành một nữ tu sĩ.
Nhờ năng lực của sự tiên tri, Guru Rinpoche nhận thấy đã tới lúc để gặp
Mandāravā. Ngài đi tới tu viện nơi bà và năm trăm thị nữ của bà đang sống như các
sư cô, và ngài ban cho họ các giáo lý. Ở đây, những báo cáo hiểm độc được trình
cho nhà vua. Vua ra lệnh thiêu sống Guru Rinpoche trên giàn hỏa khổng lồ và
Mandāravā bị ném vào một cái hầm đầy gai. Nhờ năng lực giác ngộ, Guru
Rinpoche biến lửa thành một cái hồ. Ở giữa ngọn lửa, người ta thấy Guru Rinpoche
đang an tọa trên một hoa sen. Cái hồ được cho là Hồ Rewalsar ở Quận Mandi và
hiện nay vẫn là một địa điểm hành hương nổi tiếng. Sau đó, với sự thống hối và
niềm tin mới được trải nghiệm, nhà vua và các thượng thư van xin Guru Rinpoche
tha thứ những hành động xấu xa của họ và dâng cho ngài vương quốc cùng với
Công chúa Mandāravā.
Tại vương quốc Sahor, Guru Rinpoche ban những giáo lý Mật thừa và nhiều
người, trong đó có nhà vua, công chúa, và các thượng thư, đã đạt được trạng thái
của những vị hộ trì trí tuệ (Trì minh vương). Mandāravā trở thành phối ngẫu tâm linh
của Guru Rinpoche. Guru Rinpoche và Mandāravā đi tới Động Māratika, hiện nay
được cho là hang động Haileshi ở Sagarmatha ở Nepal, và thiền định về Đức
Amitāyus, Đức Phật Vô Lượng Thọ. Các ngài trông thấy linh kiến về Đức Phật Vô
Lượng Thọ và thành tựu vị hộ trì trí tuệ với việc làm chủ sinh mạng.
Mandāravā đã hiến mình cho sự lợi lạc của chúng sinh tại Ấn Độ, và Guru
Rinpoche đi tới Tây Tạng. Mandāravā cũng có hai lần viếng thăm Tây Tạng bằng
năng lực huyền diệu của bà và sống trong thân ánh sáng-kim cương.
CÔNG CHÚA SHĀKYADEVĪ XỨ NEPAL
Shākyadevī là một hóa thân của Māmakī. Thân phụ bà là một vị vua tên là
Punyadhara ở Nepal, nhưng sau khi thân mẫu mất khi bà còn thơ ấu, bà bị bỏ trong
một mộ địa cùng với tử thi của mẹ bà. Bà được bí mật đưa lên dưới sự chăm sóc
của những con khỉ và có mọi dấu hiệu tốt lành của một dākinī. 81
Về sau bà gặp Guru Rinpoche và nhận những giáo lý từ ngài. Bà trở thành
người hỗ trợ tâm linh cho Guru Rinpoche để thiền định về Chín Bổn Tôn Yangdak
(Shrīheruka) tại Yangle Shö, hiện nay được gọi là Pharping, trong Thung lũng
Kathmandu. Guru Rinpoche đã đạt được sự chứng ngộ mahāmudrā (Đại Ấn), và
Shākyadevī đạt được những thành tựu của Māmakī. Lúc cuối đời bà đạt được thân
ánh sáng kim cương.
Vời sự hỗ trợ của Shākyadevī, Guru Rinpoche hiển lộ trong nhiều thân tướng để
đáp ứng ước nguyện của những người sùng mộ, và ngài được gọi bằng hai mươi
danh hiệu biểu thị những năng lực huyền diệu khác nhau của ngài. Chính bà là
người đầu tiên đã truyền cảm hứng cho Guru Rinpoche trong truyền thống chôn
dấu những giáo lý như terma, vì thế chúng ta, những môn đồ của Guru Rinpoche,
đặc biết biết ơn bà.
KĀLASIDDHI XỨ ẤN ĐỘ
Kālasiddhi, một hóa thân của Pāndaravāsinī, sinh làm con gái của những người
dệt vải trong tỉnh Ngathupchen ở Ấn Độ với mọi dáu hiệu của một dākinī. Thân mẫu
bà mất khi bà còn nhỏ, và bà bị bỏ lại trong mộ địa cùng với tử thi của mẹ bà. Khi ấy
Công chúa Mandāravā đang thực hành trong rừng, tự biến thành một con cọp cái,
tìm ra đứa bé bị bỏ lại và đưa em bé lên.
Khi Kālasiddhi trưởng thành, Guru Rinpoche nhận thấy bà có thể trở thành đệ tử
của ngài. Guru Rinpoche hiển lộ là một vị Thầy tên là Saukhyadeva (Phan bDe’i
Lha) và ban cho bà các quán đảnh và giáo lý. Sau đó, tại rừng Trawachen, các ngài
cùng nhau thực hành những phương tiện thiện xảo.
Sau này, Kālasiddhi gia hộ cho một đứa con trai của một nông dân xứ
Ngathupchen và trở thành Đạo sư Hūmkara, một trong những Đạo sư Mật thừa nổi
danh nhất của Phật giáo Ấn Độ. Vào cuối đời bà đạt được thân hợp nhất của đại lạc
và tánh Không và đi tới Zangdok Palri mà không để lại thân xác.
TASHI KHYIDREN XỨ MÖN
Tashi Khyidren (hay Tashi Chidren), một hóa thân của Samayatārā, sinh tại Tsaok ở Mön. Mön là tên gọi của vùng núi Hy mã lạp sơn miền nam Tây Tạng, tiếp giáp
Ấn Độ, kể cả Sikkim và Bhutan. Niềm tin ở Pháp của bà được đánh thức trong thời
thơ ấu. Sau đó, được cảm hứng bởi tiên tri của một dākinī xuất hiện với bà trong
một giấc mơ, bà đi tới Lhotrak ở miền nam Tây Tạng. Bà gặp Yeshe Tsogyal ở đó
và nhận các quán đảnh và giáo lý từ nữ Đạo sư này. Về sau bà gặp Guru Rinpoche
và được ngài ban cho tinh túy của những giáo huấn sâu xa. Nhờ thực hành, bà đã
đạt được những thành tựu bí mật, và bà trở thành phối ngẫu-hành động của Guru
Rinpoche.
Tại Patro Taktsang ở Bhutan, Guru Rinpoche thực hành sādhana Vajrakīla với
bà. Khi ngài hiển lộ là Dorje Trolö, bà tự biến mình thành một con cọp cái và trở
thành ngựa cưỡi của ngài. Các ngài cùng kết buộc mọi tinh linh phi-nhân hùng
mạnh của Tây Tạng bằng lời nguyện. Bà giúp ngài chôn dấu nhiều terma. Ngoài
Yeshe Tsogyal ra, Tashi Khyidren là dākinī khả ái nhất đối với xứ Tây Tạng. Sau
này bà đi tới cõi tịnh độ Zangdok Palri mà không để lại thân xác. 82
NHỮNG ĐỆ TỬ CHÍNH CỦA GURU RINPOCHE Ở TÂY TẠNG122
Có hai truyền thống về cách tính hai mươi lăm đệ tử chính của Guru Rinpoche ở
Tây Tạng, được gọi là “vua và hai mươi lăm thần dân” (rJe ‘Bangs Nyer lNga). Theo
một truyền thống, các ngài là vua và hai mươi bốn thần dân, gồm cả Yudra Nyingpo
hay Kharchen Palkyi Wangchuk. Truyền thống khác về cách tính là vua cộng thêm
với hai mươi lăm thần dân, trong đó gồm cả Yudra Nyingpo và Kharchen Palkyi
Wangchuk. Ở đây chúng tôi theo truyền thống thứ hai.
VUA TRISONG DETSEN
Vua Trisong Detsen (790-858 sau Công nguyên)123 là bậc trị vì thứ ba mươi bảy
của Tây Tạng trong triều đại Chögyal (Pháp Vương), là triều đại được bắt đầu với
Vua Nyatri Tsenpo. Nyatri được tin là một hoàng tử xứ Ấn Độ, người trở thành vị
vua đầu tiên của Tây Tạng vào năm 127 trước Công nguyên. Vua Trisong là nam tử
của Vua Me Aktsomchen và Công chúa Chin Ch’eng Kun Chu, con gái của Vua Li
Lung Chi của Trung quốc. Năm mười ba tuổi, ngài được tôn phong là vua thứ ba
mươi bảy của Tây Tạng. Ngài là một nhà cai trị khôn ngoan và đầy năng lực đã mở
rộng vương quốc của ngài vượt xa các biên giới trước đó của Tây Tạng.
Ngài viếng thăm Shāntarakshita, học giả Đại thừa nổi tiếng xứ Ấn Độ, để thiết
lập Phật Pháp ở Tây Tạng và xây dựng Tu viện Samye. Nhưng những trở ngại xuất
hiện trong hình thức những tinh linh tiêu cực và những thượng thư chống lại Phật
giáo ở Tây Tạng, và các ngài không thể thực hiện được kế hoạch. Sau đó
Shāntarakshita làm một tiên tri, theo đó nhà vua đã thỉnh mời Guru
Padmasambhava, bậc vĩ đại nhất trong các tāntrika (hành giả Mật thừa) của Phật
giáo Ấn Độ vào thời đó, đến Tây Tạng. Guru đến Tây Tạng, điều phục mọi chướng
ngại do con người và phi-nhân gây ra bằng năng lực giác ngộ của ngài, và buộc tất
cả những tinh linh ở Tây Tạng phải phụng sự Pháp.
Từ đó xứ Tây Tạng gọi Guru Padmasambhava là Guru Rinpoche, Đạo sư Tôn
quý. Sau đó, đại Tu viện Samye đã hoàn thành trong năm năm. Một trăm lẻ tám học
giả Ấn Độ, trong đó có Guru Rinpoche, Shāntarakshita, và Vimalamitra, và những
học giả-dịch giả Tây Tạng kể cả Vairochana, Kawa Paltsek, Chok-ro Lu’i Gyaltsen,
và Zang Yeshe De, đã dịch vô số Kinh điển của Tiểu thừa, Đại thừa, và Kim cương
thừa từ các ngôn ngữ Ấn Độ, chủ yếu là từ Phạn ngữ. Ở nhiều nơi, những tổ chức
được xây dựng để nghiên cứu và tu tập các giáo lý Kinh điển và Mật điển.
Tại Samye Chimphu, Guru Rinpoche đã ban những quán đảnh của các sādhana
vĩ đại của tám mạn đà la (sGrub P Ch’en Po bKa’ brGyad) của Mahāyoga cho các
đệ tử chính của ngài, vua và hai mươi lăm thần dân. Nhờ thực hành các sādhana
của các Bổn Tôn bảo hộ khác nhau, tất cả các ngài đã đạt được những thành tựu.
Trong lễ quán đảnh, hoa cúng dường của nhà vua rơi trên mạn đà la Chechok
Deshek Düpa, một trong tám mạn đà la. Việc ném một bông hoa lên một nhóm mạn
đà la giúp cho đệ tử xác định Bổn Tôn bảo hộ thích hợp để thực hành. Nhờ thực
hành sādhana của Chechok (Mahottaraheruka/Vajramahāheruka), vua đã thành tựu
thiền định kiên cố. 83
Những tác phẩm văn học của ngài gồm có Ka Yangtakpe Tsema và Bumtik.
Bằng năng lực, ngài đã đưa xá lợi của Đức Phật từ Magadha (Ma kiệt đà) ở miền
trung Ấn Độ và xây dựng nhiều ngôi chùa và bảo tháp để lưu giữ xá lợi.
Nhà vua mất ở tuổi năm mươi lăm (hay năm mươi chín). Sau khi mất, ngài tái
sinh làm nhiều đại học giả, thánh nhân, và tertön, để giữ gìn và truyền bá Giáo
Pháp cho những môn đồ trong tương lai. Trong số những tái sinh của ngài có
Sangye Lama (1000-1080?), Nyang Nyima Özer (1124-1192), Guru Chöwang
(1212-1270), Ogyen Lingpa (1329-1360/7), Pema Wangyal (1487-1542), Tashi
Tobgyal (1550-1602), và Đạt Lai Lạt Ma thứ năm (1617-1682). Jigme Lingpa (1730-
1798) và Khyentse Wangpo (1820-1892) là những hóa thân của nhà vua và
Vimalamitra.
Vua có ba con trai và hai con gái.124 Tất cả các con ngài đều là những đại đệ tử
của Guru Rinpoche và những nhân vật quan trọng trong dòng truyền thừa của Giáo
Pháp. Tuy nhiên, trong lịch sử có những khác biệt về con số, tên, và mức độ thâm
niên của các con trai của ngài. Một vài học giả đồng ý rằng ngài có ba con trai và
người lớn tuổi nhất là Mu-ne Tsepo, con trai giữa là Murup (hay Murum) Tsepo, và
con trai nhỏ nhất là Mutik (hay Mutri) Tsepo.
Khi Vua Trisong Detsen hai mươi tuổi, Hoàng hậu Tsepongza hạ sinh thái tử
Mu-ne Tsepo. Mu-ne nhận các giáo lý và quán đảnh từ Guru Rinpoche và thực
hành chúng. Năm bốn mươi bảy tuổi, thái tử trở thành bậc trị vì thứ ba mươi tám
của Tây Tạng, nhưng ngài mất sau khi trị vì chưa tới hai năm. Trong triều đại ngắn
ngủi của ngài, ngoài việc thiết lập nhiều tổ chức Phật Giáo, ngài đặc biệt được biết
tới là, ngài đã ba lần cố gắng phân phát của cải đồng đều cho người giàu và người
nghèo. Điều đáng chú ý là Rahula Sankritayana (1893-1903), một đại học giả Phật
Giáo người Ấn Độ, thậm chí đã đề tặng một trong những quyển sách của ông cho
Thái tử Mu-ne Tsepo, nói rằng thái tử là người đầu tiên theo chủ nghĩa xã hội, một
vị vua theo chủ nghĩa xã hội, trong thế giới. Trong số những hóa thân của Mu-ne
Tsepo có Tülku Zangpo Trakpa (thế kỷ 14), Drikung Rinchen Phüntsok (1509-1557),
và Yonge Mingyur Dorje (1628-?).
Khi vua Trisong Detsen hai mươi hai tuổi, Hoàng hậu Tsepongza125 hạ sanh
Hoàng tử Murup (hay Murum) Tsepo, tức là Lha-se Tamdzin Yeshe Rölpatsal.
Hoàng tử nhận những giáo lý và quán đảnh từ Guru Rinpoche và những vị Thầy
khác. Ngài trở thành một đại học giả của các tantra, và nhờ thực hành sādhana
Vajrakīla, ngài trở thành một bậc đại lão thông. Ngài cũng được Guru Rinpoche
giao phó giáo khóa Lama Gongdü. Bởi rủi ro, ngài làm chết con trai của một thượng
thư và bị đày tới phía bắc biên giới Tây Tạng và Trung quốc làm một nhà chỉ huy
quân đội trong chín năm. Sau này ngài sống ở Kongpo. Dưới sự chỉ huy của ngài,
người Tây Tạng đã đánh bại các lực lượng Trung quốc và Thổ nhĩ kỳ. Vào cuối đời,
ngài biến thành thân ánh sáng. Trong số những hóa thân của ngài có Sangye
Lingpa (1340-1396), người khám phá Lama Gongdü, Zhikpo Lingpa (1464-1523),
Pema Norbu (1679-1757), Dodrupchen Jigme Thrinle Özer (1745-1821), và
Chogyur Dechen Lingpa (1829-1870).
Hoàng hậu Tsepongza hạ sinh công chúa Nujin Sa-le sinh làm con của. Tôi
không tìm được bài viết nào về cuộc đời của bà.
Công chúa Pemasal sinh làm con Hoàng hậu Dromza Changchup. Tuy nhiên, cô
mất năm lên tám tuổi. Guru Rinpoche viết một chữ NRI màu đỏ nơi tim tử thi của 84
bà, và nhờ năng lực giác ngộ của ngài, ngài đã triệu hồi tâm thức bà trở về thân
xác. Khi bà sống lại và có thể nói được, Guru ban cho bà quán đảnh Khandro
Nyingthig và ban cho danh hiệu bí mật là Pema Ledreltsal. Ngài đặt chiếc hộp đựng
giáo lý Khandro Nyingthig lên đầu bà và nói lời nguyện ước sau đây: “Trong tương
lai cầu mong con tìm ra giáo lý này, và cầu mong nó làm lợi lạc cho nhiều chúng
sinh.” Sau đó ngài ghi lại những sự kiện này và yêu cầu Khandro Yeshe Tsogyal cất
dấu giáo lý Khandro Nyingthig cho những môn đồ tương lai. Sau đó các bản văn
được cất dấu ở hai địa điểm khác nhau. Các giáo lý phức tạp được cất dấu tại tảng
đá giống-sư tử ở Bumthang hạ và những giáo lý cô đọng sâu xa của các tantra
Nyingthig dành cho những người khất thực được cất dấu tại Tanglung Tramo Trak
trong Thung lũng Takpo. Sau đó các giáo lý đó được giao phó cho các dākinī Đạo
sư-kho tàng và các vị bảo hộ Za và Mamo, những vị được Guru Rinpoche chỉ thị
truyền những giáo lý này cho vị tertön thích hợp trong tương lai.
Trong số các hóa thân của bà có Pema Ledreltsal (1291-1319?), người khám
phá giáo lý Khandro Nyingthig từ Tanglung Tramo Trak, Longchen Rabjam (1308-
1368), bậc đã truyền bá giáo lý bằng cách sáng tác và giảng dạy; Pema Lingpa
(1450-1521); và Lhatsün Namkha Jigme (1597-?)
Khi nhà vua năm mươi chín tuổi, Hoàng hậu Droza Changchup hạ sanh Hoàng
tử Mutik (hay Mutri) Tsepo, tức là Senalek Jing-yön. Hoàng tử trở thành vua thứ ba
mươi chín của Tây Tạng. Ngài nhận những giáo lý và trao truyền từ Guru Rinpoche
và đạt được những thành tựu cao cấp. Ngài là cha của năm con trai: Tsangma,
Gyalse Lhaje (còn được gọi là Choktrup Gyalpo), Lhündrup, Tri Ralpachen, vua thứ
bốn mươi, và Lang Darma, vua thứ bốn mươi mốt và cuối cùng của triều đại
Chögyal. Như đã đề cập ở trên, Mutri là vua Tây Tạng khi Guru Rinpoche từ giã xứ
này.
Trong số những hóa thân của ngài có Guru Jotse, Karma Chagme (1613-1678),
Zhechen Rabjam Tenpe Gyaltsen (1650-1704), và Apang Terton (?-1945).
HAI MƯƠI LĂM THẦN DÂN (ĐỆ TỬ) CỦA GURU RINPOCHE Ở TÂY TẠNG126
1. Nupchen Sangye Yeshe sinh tại Thung lũng Drak trong bộ tộc Nup. Từ năm
lên bảy ngài đã học với Otren Palkyi Zhönu và trở thành một Đạo sư của các tantra.
Khi ngài nhận quán đảnh sādhana vĩ đại của tám mạn đà la từ Guru Rinpoche, hoa
của ngài rơi trên mạn đà la Yamāntaka, Đức Văn Thù Phẫn nộ, là mạn đà la thân
của tất cả chư Phật. Sau khi thực hành trong hai mươi mốt ngày, ngài nhìn thấy linh
kiến thanh tịnh của Bổn Tôn. Bằng năng lực huyền diệu của ngài, ngài đã hủy diệt
ba mươi bảy ngôi làng trong Thung lũng Drak và thiêu cháy lực lượng của họ bằng
lửa thần diệu của ngài. Trong hang động Drak Yangdzong cùng với phurbu (dao
nghi lễ thần diệu, kīla) bằng gỗ, ngài đâm vào tảng đá như thể đâm vào bùn. Năm
1956, khi tôi đến viếng thăm địa điểm đó thì phurbu vẫn còn ở trong tảng đá.
Nupchen đã viếng thăm Ấn Độ, Nepal, và Trusha (ở Trung Á) bảy lần và đã
nhận các giáo lý từ Shrīsimha, Vimalamitra, Shāntigarbha, Dhanashīla, Vasudhara,
và Chetsen Kye. Ở Tây Tạng ngài nhận những giáo lý khác nhau từ Nyak
Jnānakumāra, Sokpo Palkyi Yeshe, và Zhang Gyalwe Yönten. Những trao truyền
Mật thừa của Mahāyoga, Anuyoga, và Semde (giáo khóa về tâm) của Atiyoga được
hội tụ trong ngài. 85
Khi Vua ác Lang Darma bắt đầu hủy diệt Giáo Pháp ở Tây Tạng, vua mời
Nupchen và các đệ từ của ngài tới và hỏi ngài: “Ông có loại năng lực nào?”
Nupchen nói: “Xin tuân theo năng lực của tôi có được nhờ việc trì tụng một thần
chú,” và ngài đưa bàn tay lên trên đầu ngài trong một cử chỉ giục giã. Nhà vua nhìn
thấy trên đầu của Nupchen chín con bọ cạp lớn bằng những con bò yak. Nhà vua
sợ hãi kêu lên: “Nupchen, tôi sẽ không làm hại các tāntrika cao quý.” Nupchen nói:
“Xin cũng nhìn điều này,” và trong một cử chỉ thúc dục ngài chỉ tay vào một tảng đá,
và sét đánh xuống, chẻ tảng đá thành nhiều mảnh. Nhà vua sợ hãi nói: ‘Tôi sẽ
không làm hại ngài và các môn đồ của ngài,” và ông ta thả họ ra. Nhờ Nupchen,
Vua Lang Darma đã không hủy diệt giáo lý Mật thừa và những môn đồ bạch y, tóc
dài.
Nupchen là người thứ hai trong ba người vĩ đại nhất thọ nhận (Babs Sa) của
tantra, là những người đã trao truyền và truyền bá các giáo lý Mahāyoga, Anuyoga,
và Semde của Atiyoga thuộc truyền thống Niyngma của Tây Tạng. Người đầu tiên
là Nyak Jnānakumāra, một trong những đệ tử chính của Guru Rinpoche. Ba Đạo sư
của bộ tộc Zur cùng được tính là người thứ ba. Đó là Zurchen Shākya Jungne, cháu
của ngài là Zurchung Sherap Trakpa, và Zur Shākya Senge, con trai của Zurchung.
Nupchen có nhiều đệ tử gồm có Khulung Yönten Gyatso, và ngài đã biên soạn
nhiều bản văn quan trọng. Ngài sống tới 130 tuổi, mặc dù có những bản văn khác
nói rằng ngài mất ở tuổi 111 hay 113. Ngài sống trong thời đại của Ngadak
Palkhortsen, cháu của Vua Lang Darma, và chính ngài đã viết trong một tác phẩm
của ngài:
Ta, Sangye, vị Thầy trẻ tuổi xứ Nup,
Đã sống đến tuổi một trăm ba mươi.
Trong số những hóa thân của ngài có Dumgya Zhingtrom, Tri-me Künga (cuối
thế kỷ 14), Tsasum Lingpa (đầu thế kỷ 15), và Sangdak Thrinle Lhündrup (1611-
1662).
2. Gyalwa Chok-yang sinh tại Phen-yul trong bộ tộc Ngen-lam. Ngài thọ giới cụ
túc với Shāntarakshita trong nhóm bảy người Tây Tạng đầu tiên thọ giới xuất gia.
Ngài nổi danh vì đời sống giới luật. Khi ngài nhận quán đảnh sādhana vĩ đại của
tám mạn đà la từ Guru Rinpoche, hoa của ngài rơi xuống mạn đà la Hayagrīva.
Hayagrīva là hiện thân của ngữ của chư Phật. Ngài đã thực hành sādhana của
Hayagrīva tại Wentsa, và ngài tự biến thành Bổn Tôn Hayagrīva, và nghe tiếng hí
của con ngựa trên đỉnh đầu ngài. Ngài cũng đạt được năng lực làm chủ đời sống.
Khi Ngadak Palkhortsen, cháu của Vua Lang Darma bị bệnh, Gyalwa Chok-yang cử
hành Gyalpo Tsedö, và Ngadak đã hồi phục.
Trong số các hóa thân của ngài có Guru Tseten (thế kỷ 13), Gyatön Pema
Wangchuk (thế kỷ 13), và Thekchen Lingpa (1700-1775/6). Karma Pakshi (1206-
1283), Karmapa đệ nhị, đã thừa nhận mình là một hóa thân của vị lão thông này.
3. Namkhe Nyingpo sinh tại Lhotrak trong bộ tộc Nup. Ngài cũng được
Shāntarakshita ban giới nguyện tu sĩ. Trong khi nhận quán đảnh sādhana vĩ đại tám
mạn đà la, hoa của ngài rơi trên mạn đà la Yangdak (Shrīheruka). Bổn Tôn này là
hiện thân của tâm chư Phật. Nhờ thực hành sādhana, ngài di chuyển đây đó bằng
cách cưỡi trên những tia sáng của mặt trời. Ngài học Phạn ngữ và đi Ấn Độ, ở đó 86
ngài nhận giáo lý từ Đại Thành tựu giả Hūmkara và những vị Thầy khác. Khi ngài
trở về Tây Tạng, những thượng thư ủng hộ đạo Bön phỉ báng ngài thật hiểm độc,
và ngài bị dồn vào thế phải sống lưu vong ở Lhotrak Kharchu ở miền nam Tây
Tạng. Khi ngài sống ở đó trong một hang động tên là Tragmar gần làng quê của
ngài, anh ngài, một nông dân nghèo, đến hỏi xin ngài một ít hạt giống để trồng trọt.
Ngài nói với người anh: “Anh là nông dân, và nếu anh không có hạt giống thì một
yogi như tôi tìm ra nó ở đâu trong một cái hang?” Sau đó ngài đưa cho ông ta một
vài viên sỏi và nói: “Thật là xấu hỏ trước mặt người khác nếu anh không có gì để
trồng trọt; vì thế hãy ném những viên sỏi này trong cánh đồng của anh và giả bộ là
anh đang gieo trồng.” Anh ngài làm như ngài nói, và mùa hè năm sau ông ta có một
vụ mùa bội thu trong thung lũng.
Có lần khi Namkhe Nyingpo đang bay qua bầu trời, xâu chuỗi của ngài rơi xuống
một thung lũng. Khi ngày bay xuống và nhặt xâu chuỗi, ngài tạo ra những dấu vết to
lớn của năm ngón tay ngài đầy những bông hoa, và sau đó, các dākinī đã xây năm
bảo tháp ở đó. Có lần ngài cho vài người sùng mộ những viên sỏi. Họ ném chúng đi
nhưng có một người vẫn giữ lại. Về sau những viên sỏi trở thành những viên lam
ngọc lộng lẫy.
Ngài thực hành chủ yếu ở Lhotrak Kharchu và nhìn thấy những linh kiến thanh
tịnh của bậc linh thánh bảo hộ. Ngài đi tới cõi tịnh độ thiêng liêng mà không để lại
thân xác thô nặng.
Trong số các hóa thân của ngài có Changchup Lingpa (thế kỷ 14), Trati
Ngakchang (thế kỷ 18), và Rigdzin Tsewang Norbu (1698-1755).
4. Jnānakumāra sinh tại Yarlung Cho ở miền nam Tây Tạng trong bộ tộc Nyak.
Trên cổ họng ngài có những nốt ruồi trong hình dạng những chiếc chày kim cang
đôi. Ngài cũng được gọi là Gyalwe Lodrö và thọ giới xuất gia với Shāntarakshita.
Ngài trở thành một đại học giả và đã dịch nhiều Kinh điển và Mật điển. Ngài nhận
giáo lý từ Guru Rinpoche, Vimalamitra, Vairochana, và Yudra Nyingpo và trở thành
người đầu tiên trong những người thọ nhận vĩ đại Mahāyoga, Anuyoga, và Semde
của Atiyoga ở Tây Tạng. Khi Guru Rinpoche ban quán đảnh sādhana vĩ đại tám
mạn đà la, hoa của ngài, giống như hoa của nhà vua, hạ xuống mạn đà la Chechok.
Ngài đã thực hành Dütsi Chechok, và nhờ đó tại Yarlung Sheltrak, ngài tạo ra một
dòng suối từ một tảng đá khô bằng cách dùng ngón tay chọc thủng tảng đá.
Ngài đối mặt với nhiều nguy hiểm, trong đó có ba lần nguy hiểm cho mạng sống
của ngài. Ngài thực hành sādhana Vajrakīla và nhờ năng lực thành tựu ngài đã tiệt
trừ mọi thế lực tiêu cực. Ngài có thể tự biến mình thành những thân tướng khác
nhau. Ngài dịch nhiều bản văn Phật giáo sang tiếng Tây Tạng.
Trong nhiều đệ tử của ngài, ngài có tám đệ tử chính, trong đó có Sokpo Palkyi
Yeshe và Otren Palkyi Zhönu. Trong số những hóa thân của ngài có Ramo
Shelmen (thế kỷ 12), Nyi Ösal (thế kỷ 13), Khedrup Lodrö Gyaltsen, và Kathok
Gyurme Tsewang Choktrup (thế kỷ 15).
5. Khandro Yeshe Tsogyal. Một ghi chép tóm tắt về cuộc đời của Khandro
Yeshe Tsogyal đã được đưa ra ở trên trong mục năm phối ngẫu của Guru
Rinpoche. Trong nhiều hóa thân của bà có Chomo Menmo, Pema Tsokyi (1248-
1283?), Khandroma Künga Bum (thế kỷ 14), và Rigdzin Thrinle Namgyal.
6. Palkyi Yeshe sinh tại Yadrok trong bộ tộc Drogmi. Ngài trở thành một dịch giả
uyên bác của nhiều tantra, đáng kể nhất là các tantra của các Bổn Tôn Mamo 87
Mātarah Bötong. Trong quán đảnh sādhana vĩ đại tám mạn đà la, hoa của ngài đáp
xuống mạn đà la La-me Heruka của Mamo Bötong và ngài trở thành một bậc lão
thông của mạn đà la này. Ngài đã điều phục những tinh linh thế tục, đặc biệt là các
mamo, và buộc họ là những người phục vụ.
Trong số những hóa thân của ngài có Rashak Chöbar và Kharak Dechen
Lingpa.
7. Palkyi Senge sinh trong bộ tộc Lang. Ngài đi Ấn Độ và Oddiyāna và trở thành
một dịch giả. Trong quán đảnh sādhana vĩ đại tám mạn đà la, hoa của ngài đáp
xuống mạn đà la Jikten Chötö (Lokastotrapūja). Ngài đã đạt được năng lực bí mật vĩ
đại và có thể làm cho các tinh linh thế tục phải phục tùng. Tại Patro Taktsang ở
Bhutan, nơi ngài làm các thực hành sādhana, ngài nhận linh kiến của Đức Phật
Phẫn nộ Trakpa Kündü của mạn đà la Jikten Chötö. Ngài đã đạt được những thành
tựu thông thường và siêu việt.
Trong số những hóa thân của ngài có Ratön Tobden Dorje và Dzogchen Pema
Rigdzin (1625-1697).
8. Vairochana127 là dịch giả lỗi lạc của Kinh điển Phật giáo trong lịch sử Tây
Tạng. Ngài gánh vác trách nhiệm đưa Giáo Pháp vào Tây Tạng và dịch nhiều Kinh
điển và Mật điển, đặc biệt là hai trong số ba phạm phù của giáo lý Dzopa Chenpo,
đó là Semde và Longde.
Ngài sinh tại Nyemo Chekhar trong Tỉnh Tsang, là con trai của Dorje Gyalpo
thuộc bộ tộc Pakor. Trong thời thơ ấu, ngài đã phô diễn nhiều năng lực thần diệu
chẳng hạn như bay trong không trung, tạo những dấu vết trên những tảng đá, và
tiên đoán những sự kiện trong tương lai. Ngài có sự thông tuệ đặc biệt.
Phù hợp với lời tiên tri của Guru Rinpoche, Vua Trisong Detsen đưa ngài tới
Samye và đào tạo cho ngài thành một dịch giả. Ngài trở thành một trong bảy người
Tây Tạng đầu tiên thọ giới tu sĩ từ Shāntarakshita và được ban Pháp danh là
Vairochanarakshita. Trong quán đảnh sādhana vĩ đại tám mạn đà la, hoa của ngài
đáp xuống mạn đà la Möpa Tra-ngak (Vajramentrabhīru). Theo lời khuyên của nhà
vua, Vairochana và tu sĩ Lektrup ở Tỉnh Tsang đi Ấn Độ để tìm cầu Giáo Pháp, như
hai người trong số những nhà truyền giáo đầu tiên. Trên đường đi các ngài gặp
nhiều gian khổ khiến ngài suýt chết năm mươi bảy lần, nhưng ngài không đếm xỉa
tới những trở ngại và tới được Ấn Độ. Các ngài bí mật gặp Shrīsimha trong rừng
Tsenden Silche tại Dhanakosha. Một đêm các ngài nhận các giáo lý Semde trong
sự bí mật tuyệt đối. Vairochana đã ghi lại mười tám tantra của Semde trên vải trắng
bằng sữa của một con bò trắng để người ta không thể đọc các bản văn. Khi ngài
muốn có bản thảo để đọc, Ngài hơ nó trên khói và đọc được bản văn. Tu sĩ Lektrup
hài lòng với những gì họ đã thành tựu và khởi hành đi Tây Tạng. Trên đường trở về
Lektrup bị những người gác đường giết chết.
Vairochana khẩn cầu Shrīsimha ban thêm giáo lý, và ngài đã nhận các giáo lý và
giáo huấn của toàn bộ sáu mươi tantra của Semde. Ngài cũng được dạy ba phạm
trù của Longde. Vairochana cũng nhận các giáo lý của sáu triệu bốn trăm ngàn
tantra (hay các bài kệ) của Đại Viên mãn từ Prahevajra trong linh kiến thanh tịnh và
nhận những gia hộ từ Đạo sư Manjushrīmitra trong thân-trí tuệ-huyễn hóa của ngài.
Vairochana tới Tây Tạng bằng thần túc thông, và ở đó ngài ban cho nhà vua
những giáo lý thông thường vào ban ngày và Dzopa Chenpo vào ban đêm. Trong 88
số những tác phẩm khác, ngài đã dịch năm tantra đầu trong số mười tám tantra của
Semde. Tuyển tập này được gọi là Năm Bản dịch Ban đầu của Semde.
Vào lúc đó một vài người Ấn Độ ghen tị đã phái các sứ giả đi rêu rao lời phỉ
báng, nói rằng giáo lý mà Vairochana mang từ Ấn Độ về không phải là Phật giáo.
Do bởi những nguyện ước sai lầm và thế lực của Hoàng hậu Tsepongza và một vài
thượng thư độc ác, thật đáng tiếc, nhà vua bị bắt buộc phải trục xuất Vairochana tới
Gyalmo Tsawe Rong (còn gọi là Gyarong), một miền ở biên giới Tây Tạng và Trung
quốc. Ở nơi lưu đày Vairochana đã khiến nhà vua, các thượng thư và dân chúng
của Gyarong cải đạo sang Phật giáo. Hoàng tử Yudra Nyingpo, tái sinh của Lekrup
xứ Tsang, đã trở thành một trong những đệ tử chính của ngài và một học giả và vị
hộ trì dòng truyền thừa nổi tiếng. Yudra Nyingpo tới Samye và gặp Vimalamitra.
Theo lời khẩn cầu của Vimalamitra, nhà vua mời Vairochana trở về Tây Tạng. Trên
đường tới Tây Tạng, Vairochana gặp một người đàn ông tám mươi lăm tuổi tên là
Mipham Gönpo, và ngài ban cho ông ta giáo lý Đại Viên mãn. Mipham Gönpo không
thể ngồi trong tư thế thiền định vì đã cao tuổi, vì thế ông phải nương cậy vào một
sợi giây thiền định và gậy đỡ để ngồi thẳng và không cử động. Ông lão đã đạt được
thân cầu vồng.
Ngoài Yudra Nyingpo và Mipham Gönpo, các đệ tử chính của Vairochana là
Nyak Jnānakumāra và Sherap Dölma xứ Li. Sau này Sherap Dölma thỉnh mời Đạo
sư của ông tới xứ Li. Từ nơi đó Vairochana đi tới rừng Bhashing ở Nepal, ở đó ngài
tan biến thành thân cầu vồng.
Vairochana là dịch giả siêu phàm của Phật giáo Tây Tạng. Ngài đã dịch nhiều
bản văn thuộc Kinh điển và Mật điển, sự uyên bác và thiện xảo của ngài với tư cách
là một dịch giả thì thật vượt trội nếu so với tất cả những dịch giả khác trong lịch sử
Phật giáo Tây Tạng. Ngok Loden Sherap (1059-1109), một trong những dịch giả vĩ
đại nhất trong giai đoan tân dịch thuật, nói:
Vairochana giống như bầu trời trong.
Kawa Palsek và Chokro Lu‘i Gyaltsen giống như mặt trời và mặt trăng.
Rinchen Zangpo [958-1051, dịch giả vĩ đại nhất của giai đoạn tân dịch thuật]
giống như vì sao lúc bình minh.
Và chúng ta chỉ là những con đom đóm.128
Trong số nhiều hóa thân của ngài có Trapa Ngönshechen (1012-1090?), Dorje
Lingpa (1346-1405), Künkyong Lingpa (1396-1477?), Chöden Do-ngak Lingpa (thế
kỷ 15), Trengpo Sherap Özer (1518-1572), Minling Terchen (1646-1714), Rongtön
Dechen Lingpa (1663-?). Gyalse Zhenphen Thaye (1800-?) và Kongtrül Yönten
Gyatso (1813-1899).
9. Yudra Nyingpo là một hoàng tử của Gyalmo Tsawe Rong (còn gọi là Gyarong)
ở miền Đông Tây Tạng. Khi Vairochana bị đày tới Gyalmo Tsawe Rong, ngài nhận
những giáo lý từ Vairochana và trở thành một đại học giả và dịch giả. Yudra tới
miền Trung Tây Tạng và nhận những giáo lý từ Guru Rinpoche, và trong số nhiều
tác phẩm, ngài đã dịch mười ba bản văn cuối cùng trong số mười tám bản văn của
Semde. Là kết quả của những thành tựu của ngài, ngài có thể mang những thân
tướng khác nhau chẳng hạn như một chày kim cương bằng vàng. Ngài nổi danh 89
nhờ sự chứng ngộ tuyệt hảo về Đại Viên mãn. Ngài trở thành một trong những Đạo
sư vĩ đại nhất của giáo lý Semde và Longde của Đại Viên mãn ở Tây Tạng.
Trong số những hóa thân của ngài có Minling Lochen Dharmashrī (1654-1717),
Tertön Dorje Thogme, và Minling Khenchen Ogyen Tendzin (thế kỷ 15).
10. Dorje Düdjom sinh tại Tsang-rong trong bộ tộc Nanam. Khi còn trẻ ngài đã
trở thành một thượng thư của Vua Trisong Detsen, và với tư cách là phái viên của
nhà vua, ngài đi Nepal để thỉnh mời Guru Rinpoche tới Tây Tạng. Ngài trở thành
một đệ tử của Guru Rinpoche và đạt được những thành tựu nhờ thực hành
sādhana Vajrakīla. Nhờ làm chủ được tâm và không khí, ngài du hành qua không
gian với tốc độ của gió và ở gần Samye, ngài đi qua một ngọn núi mà không bị
ngăn trở.
Trong số những hóa thân của ngài có Palpo Ahung (thế kỷ 13), Rigdzin Gödem
(1337-1408), và Rigdzin Legdenje (thế kỷ 15).
11. Yeshe Yang là một tu sĩ và một trong tám người viết chữ đẹp chính yếu của
các bản văn terma. Ngài đã nhận những giáo lý từ Guru Rinpoche và có thể đi tới
những cõi tịnh độ của chư Phật và nhận giáo lý từ các ngài.
12. Sokpo Lhapal là một thợ rèn. Nyak Jnānakumāra thấy rõ ở nơi ngài có
những dấu hiệu thích hợp để trở thành một bậc lão thông của sādhana Vajrakīla và
nhận ngài làm đệ tử. Nyak và Guru Rinpoche đã ban các giáo lý và quán đảnh cho
Lhapal. Ngài đã thành tựu năng lực bí mật nhờ thực hành sādhana Vajrakīla. Nhờ
đó, bằng một cử chỉ ngài có thể bắt một con gấu nguy hiểm; và trong ba dịp với
năng lực huyền diệu ngài làm an dịu những kẻ thù của Nyak, vị Thầy của ngài.
13. Nanam Yeshe được cho là Zhang Yeshe De, một trong ba dịch giả ngang
hàng với Vairochna về sự uyên bác và thiện xảo. Hai vị kia là Kawa Paltsek và
Chok-ro Lü’i Gyaltsen. Ngài đã thành tựu năng lực bí mật nhờ sādhana Vajrakīla và
trở thành một Đạo sư vĩ đại của giáo lý Vajrakīla. Kết quả của việc thành tựu là ngài
có thể bay như chim.
14. Palkyi Wangchuk của bộ tộc Kharchen là anh của Yeshe Tsogyal. Ngài là
một cư sĩ Mật thừa đã đồng hành với Guru Rinpoche khi ngài đi tới những khu vực
khác nhau của Tây Tạng. Ngài đạt được năng lực bí mật nhờ thực hành Vajrakīla,
kết quả của điều này là bằng cách chỉ phurbu (lưỡi dao) vào họ, ngài có thể dẹp yên
những kẻ thù của Giáo Pháp.
15. Denma Tsemang sinh trong Thung lũng Den thuộc Tỉnh Kham. Ngài là một
trong những người viết chữ đẹp nổi danh nhất, và ngài đã sao chép nhiều bản văn
terma và trở thành một đại dịch giả. Ngài nhận nhiều giáo lý Mật thừa từ Guru
Rinpoche và có năng lực “trí nhớ không quên.”
16. Kawa Paltsek sinh tại Kawa trong Thung lũng Phenpo. Ngài là một trong ba
dịch giả vĩ đại nhất của Tây Tạng, và vai trò của ngài được Guru Rinpoche tán thán.
Ngài ở trong số bảy tu sĩ người Tây Tạng đầu tiên được thọ giới ở Tây Tạng. Nhờ
thực hành ngài đã thành tựu năng lực thấu suốt được tư tưởng của người khác.
Ngài đã dịch nhiều Kinh điển và Mật điển và cũng là một trong những người viết
chữ đẹp nổi danh và là tác giả của nhiều bản văn.
Trong số những hóa thân của ngài có Trawa Ngönshe (1012-1090?), người đã
khám phá bốn quyển Gyüzhi của y học Tây Tạng như một terma. Cho tới nay,
những bản văn này là nguồn mạch chính của y học Tây Tạng. Một số người nói
rằng Trawa Ngönshe là một hóa thân của Vairochana và Shüpu Palkyi Senge. 90
17. Shüpu Palkyi Senge sinh trong cùng bộ tộc với nhà vua. Khi còn trẻ ngài là
một thượng thư trong triều đình của nhà vua, và là một trong những sứ thần đi
Nepal để thỉnh mời Guru Rinpoche tới Tây Tạng. Ngài đã dịch nhiều bản văn
Mamo, Yamāntaka, và Vajrakīla, và ngài là một trong tám bậc kiệt xuất nhất của
Tây Tạng trong thời đại của ngài. Ngài đã thành tựu năng lực bí mật nhờ các
sādhana Mamo và Vajrakīla. Ngài đã biểu lộ năng lực bí mật bằng cách làm đảo
ngược dòng sông Ngamshö, khiến dòng Chimphu đi ngược lên, và bằng cách chỉ
phurbu của ngài vào một tảng đá, ngài làm tảng đá vỡ tan thành nhiều mảnh. Trong
lễ hiến cúng Tu viện Samye, ngài đã phân phát bơ được tinh lọc qua những ống
dẫn như một dấu hiệu của sự thịnh vượng và hiến dâng của ngài.
Trong số những hóa thân của ngài có Namchö Mingyur Dorje (1645-1667).
18. Dre Gyalwe Lodrö khi còn trẻ là một thành viên của giới bí mật trong triều
đình của nhà vua. Sau này ngài xuất gia và trở thành một trong những đệ tử chính
của Guru Rinpoche và là một dịch giả. Ngài viếng thăm Ấn Độ và nhận những giáo
lý Yangdak từ Đạo sư Hūmkara. Nhờ năng lực bí mật, ngài đã giải thoát mẹ ngài
khỏi một tái sinh thấp kém, và ngài cũng biến một tử thi thành vàng. Ngài thành tựu
pháp trường thọ và còn sống trong thời đại của Rongzom Chözang (thế kỷ 11).
19. Khyechung Lotsā thuộc bộ tộc Drogmi. Khi còn rất trẻ ngài đã trở thành một
dịch giả, kể từ đó ngài nhận danh hiệu của ngài, có nghĩa là “cậu bé dịch giả.” Ngài
nhận những giáo lý từ Guru Rinpoche và sống như một tāntrika (hành giả Mật thừa)
gia chủ. Nhờ thành tựu năng lực bí mật, bằng một cử chỉ của những ngón tay, ngài
có thể triệu hồi chim đang bay trong không trung.
Trong số những hóa thân của ngài có Terchen Düdül Dorje (1615-1672),
Zhechen Rabjam Tenpe Gyaltsen (1650-1704), Khordong Nüden Dorje (thế kỷ 18-
19), Düdjom Lingpa (1835-1904) và Kyabje Dudjom Rinpoche (1904-1987).
20. Trenpa Namkha là một Đạo sư vĩ đại của đạo Bön và cũng được gọi là
Kyerpön Chenpo. Ngài được các môn đồ đạo Bön tôn kính như một hóa thân của
người sáng lập đạo Bön, vị này cũng có tên là Trenpa Namkha. Ngài trở thành một
đệ tử của Guru Rinpoche và một dịch giả những bản văn Phật giáo. Nhờ năng lực
bí mật ngài có thể triệu hồi những con trâu yak hoang ở những cánh đồng phía bắc
Tây Tạng chỉ bằng một cử chỉ.
Trong số những hóa thân của ngài có Bönpo Traktsal (thế kỷ 11) và Rigdzin
Lhündrup (1611-1662), vị này là hóa thân của cả Nupchen lẫn Trenpa Namkha.
21. Otren Palkyi Wangchuk sinh tại Oyugda. Ngài sống như một tāntrika gia chủ
và trở thành một đệ tử tâm yếu của Guru Rinpoche và một đại học giả của tantra.
Ngài thành tựu năng lực bí mật nhờ thực hành sādhana Guru trong Thân tướng
phẫn nộ. Nhờ năng lực huyền diệu của ngài, ngài có thể vượt qua con sông lớn
như một con cá, mặc dù ngài không biết bơi.
22. Ma Rinchen Chok sinh tại Thung lũng Phenpo. Ngài là một trong chín người
thông tuệ nhất ở Tây Tạng trong thời đại của ngài. Ngài ở trong số bảy người Tây
Tạng đầu tiên thọ giới tu sĩ từ Shāntarakshita. Ngài là môn đồ của triết học
Nāgārjuna (Long Thọ) và một học giả của Guhyagarbha-māyājāla-tantra (Mật điển
Bí mật tập hội). Ngài đứng sau Kamalashīla trong những môn đồ của dòng truyền
thừa của Shāntarakshita, trong cuộc tranh luận Samye nổi tiếng trong đó các ngài
đánh bại địch thủ là vị Thầy Đại thừa Hvashang người Trung quốc. Ngài đã dịch
nhiều bản văn Phật giáo và nhận nhiều giáo lý từ Guru Rinpoche. Nhờ thực hành 91
những giáo lý đó ngài đã đạt được chứng ngộ. Ngài đã biểu lộ năng lực bí mật bằng
cách chặt tảng đá thành nhiều mảnh như thể nó là bột nhão và ăn nó như thực
phẩm. Ngài đã viếng thăm Kham, nơi Tsuk-ru Rinchen Zhönu trở thành một trong
nhiều đệ tử của ngài.
23. Lhalung Palkyi Dorje sinh tại Kungmo Che. Khi còn trẻ ngài đóng quân ở
biên giới Trung quốc và Tây Tạng, ở đó ngài đánh bại lực lượng quân Trung quốc
đông đảo. Cùng với hai người anh ngài thọ giới tu sĩ với Vimalamitra. Ngài nhận Bồ
Tát giới và những quán đảnh Mật thừa từ Guru Rinpoche, và nhờ sự thành tựu,
ngài có thể đi xuyên qua núi mà không bị trở ngại. Khi Vua Lang Darma hủy diệt
những tổ chức Phật giáo và giết hại các Phật tử, Lhalung Palkyi Dorje giết vua bằng
một mũi tên và trốn thoát tới Kham. Khi ngài mất, thân ngài biến thành thân cầu
vồng.
Trong số những hóa thân của ngài có Palyül Pema Norbu (1679-1757) và
Rigdzin Nyima Trakpa (1647-1710).
24. Langtro Könchok Jungne sinh tại Chang Tanak ở Tsang và trở thành một
thượng thư tại triều đình của nhà vua. Về sau ngài trở thành một tu sĩ và một dịch
giả, và đã nhận những giáo lý Mật thừa từ Guru Rinpoche. Nhờ thực hành ngài trở
thành một bậc lão thông Mật thừa vĩ đại và có thể phóng ra những tia sét giống như
những mũi tên bắn tới bất kỳ nơi nào ngài muốn.
Trong số những hóa thân của ngài có Ratna Lingpa (1403-1471/8), Rigdzin
Longsal Nyingpo (1625-1692), và Dzogchen Pema Rigdzin (1625-1697).
25. Lasum Gyalwa Changchup là một trong nhóm bảy người Tây Tạng đầu tiên
được thọ giới làm tu sĩ và là một trong chín người thông tuệ nhất trong thời đại của
ngài. Ngài nhận những giáo lý và quán đảnh từ Guru Rinpoche, viếng thăm Ấn Độ
nhiều lần, và dịch nhiều bản văn. Nhờ thực hành, ngài có thể ở lơ lửng trên không
trung trong tư thế thiền định.
Trong số các hóa thân của ngài có Rigdzin Künzang Sherap (1636-1699). 92
10
KÜNKHYEN LONGCHEN RABJAM
1308-1363
KÜNKHYEN Longchen Rabjam129 sinh tại Tötrong trong Thung lũng Tra miền nam
của trung tâm Tây Tạng, vào ngày mồng mười tháng hai năm Thổ Thân thuộc
Rabjung thứ năm (1308). Thân phụ ngài là Tenpa Sung, một hành giả Mật thừa
thuộc bộ tôc Rok. Thân mẫu ngài là Sönam Gyen thuộc bộ tộc Drom. Lúc mang thai
ngài, mẹ ngài mơ thấy một mặt trời đặt trên đầu một con sư tử chiếu sáng toàn thể
thế giới. Lúc ngài ra đời, nữ Hộ Pháp Namdru Remati xuất hiện trong hình tướng
của một người đàn bà màu đen. Ôm đứa bé trong tay, bà nói: “Ta sẽ bảo vệ cậu
bé,” và bà trao đứa bé lại cho mẹ nó rồi biến mất.
Longchen Rabjam là một hóa thân, hay tülku, của Công chúa Pemasal, con gái
của Vua Trisong Detsen, là người mà Guru Rinpoche đã giao phó việc trao truyền
Khandro Nyingthig. Trong chuỗi các cuộc đời của bà, hóa thân ngay trước
Longchen Rabjam là Pema Ledreltsal, người đã khám phá các giáo lý Khandro
Nyingthig như một terma.
Từ thời thơ ấu Longchen Rabjam đã có niềm tin, lòng bi mẫn, và trí tuệ, những
phẩm tính cao quý của một Bồ Tát. Khi ngài lên năm, ngài học đọc và viết thật dễ
dàng. Năm lên bảy, thân phụ ngài ban cho ngài những quán đảnh, giáo huấn, và tu
tập thực hành Những Phương diện An bình và Phẫn nộ của Guru và Kagye Deshek
Düpa. Thân phụ cũng dạy ngài y học và thuật chiêm tinh.
Năm mười hai tuổi, Longchen Rabjam thọ giới sa di từ Khenpo Samdrup
Rinchen tại Tu viện Samye và được ban cho Pháp danh Tsültrim Lodrö. Ngài tinh
thông Vinaya (Luật), những bản văn về giới luật đạo đức của tu sĩ, và có thể giảng
dạy những bản văn đó từ năm mười bốn tuổi.
Năm mười sáu tuổi, cùng với Đạo sư Tashi Rinchen và những vị khác, ngài bắt
đầu học nhiều tantra thuộc về dòng Tân Mật điển, chẳng hạn như hai truyền thống
của quả và con đường (Lam ‘Bras), hai truyền thống sáu yoga (Ch’os Drug),
Kālachakra (Thời Luân), cắt đứt [bản ngã] (gChod), và các truyền thống ba cách
làm an dịu (Zhi Byed). 93
Năm mười chín tuổi, ngài đi tới Tu viện Sangphu Neuthang130 nổi tiếng, và
nghiên cứu Kinh điển Phật giáo về triết học, luận lý, và thiền định trong sáu năm. Từ
các Đạo sư Lopön Tsen-gönpa và Chöpal Gyaltsen ngài đã nghiên cứu năm bản
văn Đại thừa của Maitreya (Di Lặc), các luận thuyết về luận lý của Dignāga (Trần
Na) và Dhamakīrti (Pháp Xứng), và nhiều bản văn về triết học Madyamaka (Trung
Đạo) và Prajnāpāramitā (Bát Nhã Ba La Mật). Ngoài ra, cùng với dịch giả Lodrö
Tenpa xứ Pang ngài đã nghiên cứu Phạn ngữ, thi ca, tiểu luận, kịch, và nhiều Kinh
điển và các bản văn Bát Nhã Ba La Mật. Sau đó từ Đạo sư Zhönu Töndrup, ngài
nhận những nhập môn và giáo huấn về những tantra quan trọng của phái Nyingma,
Do (Kinh điển) của Anuyoga, Māyājāla-tantra của Mahāyoga, và Semde (giáo khóa
về tâm) của Atiyoga (Đại Viên mãn).
Với khoảng hai mươi vị Thầy, trong đó có Đạo sư Zhönu Gyalpo, Zhönu Dorje,
Lama Tampa Sönam Gyaltsen (1312-1375) của phái Sakya, và Karmapa Rangjung
Dorje (1284-1339) của phái Kagyü, ngài đã nghiên cứu các giáo lý và nhận những
trao truyền Kinh điển và Mật điển.
Trong khi nghiên cứu, ngài cũng luôn luôn dấn mình vào việc tu tập thiền định
trong các ẩn thất, và ngài nhìn thấy những linh kiến thanh tịnh của Đức Manjushrī
(Văn Thù), Sarasvatī, Achala, Vajravārāhī, và Tārā, và đã chứng ngộ những thành
tựu tâm linh. Việc tu tập nghiên cứu và thiền định của ngài đã mở ra cánh cửa kho
tàng ngôn ngữ. Những người hiểu rõ ngài thừa nhận ngài bằng danh hiệu Đạo sư
của sự Chứng ngộ Bao la (Longchen Rabjam) và Đạo sư Kinh điển từ Samye
(bSam Yas Lung Mang ba).
Năm hai mươi bảy tuổi, như được tiên tri bởi Đức Tārā, vị Phật trong thân tướng
nữ nhân, ngài đi gặp Đạo sư Rigdzin Kumārādza (1266-1343), vị hộ trì các giáo lý
Vima Nyingthig, trong một trại ẩn thất, nơi khoảng bảy mươi đệ tử đang sống trong
những nơi trú ẩn tạm thời trong các cao nguyên thuộc Thung lũng Yartö Kyam. Đạo
sư vô cùng hoan hỉ tiếp đón Longchen Rabjam và ban tiên tri rằng ngài sẽ là vị hộ
trì-trao truyền của các giáo lý Vima Nyingthig.
Ngài đã học với Rigdzin Kumārādza trong hai năm, nhận những giáo huấn về tất
cả ba phạm trù của Dzopa Chenpo: Semde, giáo khóa về tâm; Longde, giáo khóa
về Pháp giới tối thượng; và Me-ngagde, giáo khóa về những giáo huấn tối thượng.
Nhưng điểm quan trọng chính yếu của việc nghiên cứu của ngài là các bản văn về
bốn phần của Me-ngagde, đó là những giáo lý Ngoại, Nội, Bí mật và Bí mật Thâm
sâu. Những bản văn này là mười bảy tantra và nhánh hay những giáo lý giáo huấn,
có nghĩa là: bốn quyển sách131 với một trăm mười chín luận thuyết về những giáo
huấn xa rộng.
Rigdzin Kumārādza ban tất cả những giáo lý Nyingthig cho Longchen Rabjam và
tuyên bố Longchen Rabjam là vị kế tục dòng truyền thừa của ngài. Trong khi học
với Rigdzin Kumārādza, Longchen Rabjam đã sống trong cảnh cực kỳ túng thiếu.
Để chiến đấu với sự bám luyến của ngài vào vật chất, thực hành của Rigdzin
Kumārādza buộc phải liên tục di chuyển từ nơi này sang nơi khác thay vì định cư ở
một nơi và dính mắc vào đó. Trong chín tháng Rigdzin Kumārādza và các đệ tử
chuyển trại chín lần, khiến cho Longchen Rabjam và những người khác phải chịu
những gian khổ ghê gớm. Ngay khi Longchen Rabjam bắt đầu sống cuộc đời đơn
giản của mình ở một chỗ trú ẩn tạm thời, thường là một hang động che chở ngài
không bị mưa và lạnh, thì lại đến lúc phải di chuyển. Ngài có rất ít thực phẩm và chỉ94
có một cái bao rách vừa làm tấm nệm vừa làm chiếc mền để che chở ngài trước cái
lạnh khủng khiếp của mùa đông. Chính trong những hoàn cảnh này mà Longchen
Rabjam đã có được những giáo lý hiếm có và quý báu nhất của các tantra và giáo
huấn về ba giáo khóa của Đại Viên mãn. Cuối cùng, Đạo sư gia lực cho ngài là vị
hộ trì dòng truyền thừa của sự trao truyền Nyingthig.
Sau đó trong bảy (hay sáu) năm ngài tiến hành nhập thất thiền định, chủ yếu là
ở Chimphu. Ngoài thiền định Đại Viên mãn, ngài cũng thực hành những hình thức
và nghi lễ của những bậc linh thánh khác nhau, và ngài nhìn thấy những linh kiến
thanh tịnh về các thân tướng an bình và phẫn nộ của Guru Rinpoche, Vajrasattva,
và những Bổn Tôn an bình và phẫn nộ.
Năm ba mươi hai tuổi,132 trong khi vẫn còn nhập thất, lần đầu tiên Longchen
Rabjam ban quán đảnh và những giáo huấn của Vima Nyinghthig cho các đệ tử của
ngài tại Nyiphu Shuksep, gần Kang-ri Thökar. Trong một thời gian, tất cả những
vùng xung quanh biến thành ánh sáng thanh tịnh, những âm thanh huyền bí, và
những linh kiến thiêng liêng.
Chẳng bao lâu đệ tử hành giả của ngài là Özer Kocha tìm thấy bản văn Khandro
Nyingthig, do Pema Ledreltsal (1291-?), hóa thân đời trước của Longchen Rabjam
khám phá như một terma, và Özer Kocha cúng dường nó cho Longchen Rabjam.
Nữ Hộ Pháp Shenpa Sogdrubma cũng tặng ngài một bản sao của bản văn đó. Mặc
dù ngài là hóa thân của người khám phá các giáo lý, nhưng để biểu thị tầm quan
trọng của việc bảo tồn sự trao truyền cho những môn đồ trong tương lai, ngài đi tới
gặp Shö Gyalse, một đệ tử của Pema Ledreltsal, và nhận sự trao truyền Khandro
Nyingthig.
Năm ba mươi ba tuổi, ngài ban giáo lý Khandro Nyingthig cho tám đệ tử nam và
nữ trong đó có yogī (hành giả) Özer Kocha tại Samye Chimphu. Trong thời gian ban
các lễ quán đảnh, Nữ Hộ Pháp của Tantra (sNgags Srung Ma) nhập vào một trong
những yoginī (nữ hành giả) và ban những tiên tri và giáo huấn. Một vài đệ tử nhìn
thấy Longchen Rabjam biến thành hình thức Báo thân. Một trận mưa hoa đổ xuống
và những vòng cung, tia sáng, và những vòng ánh sáng có những màu sắc khác
nhau được chứng kiến khắp ngọn núi. Tất cả những người tụ hội ca hát và nhảy
múa với năng lực trí tuệ tràn trề. Longchen Rabjam có linh kiến về Guru Rinpoche
và vị phối ngẫu ban các quán đảnh và giao phó việc trao truyền Khandro Nyingthig
cho ngài. Các vị ban cho ngài các danh hiệu Ogyen Tri-me Özer và Dorje Ziji. Các vị
Hộ Pháp xuất hiện trong thân tướng vật lý và nhận các món cúng dường. Trong một
thời gian dài, có lẽ một tháng, tâm của các đệ tử hành giả tan hòa vào một sự
quang minh chói lọi sâu xa, là trạng thái siêu việt sự thức hay ngủ. Longchen
Rabjam hát ca năng lực du già của ngài trong những vần kệ:
Ồ các yogī, ta rất sung sướng và hoan hỉ.
Đêm nay chúng ta ở trong Cõi Tịnh Độ Vô song.
Trong thân chúng ta, cung điện của Các Bổn Tôn An bình và Phẫn nộ,
Nở rộ hội chúng của Đức Phật, sự hợp nhất của quang minh và tánh Không.
Phật quả không ở đâu khác mà ở trong chúng ta.
Ồ các thiền giả, những người nhất tâm hộ trì tâm của mình,
Đừng ôm giữ tâm quý vị ở một nơi, mà để nó thoải mái. 95
Tâm rỗng rang [hay mở trống], dù nó vận hành hay yên vị.
Bất kỳ điều gì xuất hiện trong tâm chỉ là sự phô diễn của trí tuệ.
Theo khẩn cầu của nữ Hộ Pháp Yudrönma, ngài di chuyển trụ xứ tới Ogyen
Dzong Özer Trinkyi Kyemö Tsal (Pháp đài Oddiyāna trong Vườn Hỉ lạc của Những
Đám Mây Ánh sáng) tại Kang-ri Thökar, nơi ngài biên soạn vài tác phẩm nổi tiếng
và trải qua một phần lớn đời mình. Tại nơi này sự chứng ngộ thiền định của ngài đã
đạt tới trạng thái viên mãn của giác tánh (Rig Pa Tshad Phebs) nhờ việc tu tập sự
tiếp cận trực tiếp (Thod rGal) của Nyingthig.
Trong một linh kiến thanh tịnh Vimalamitra dạy ngài và giao phó cho ngài các
giáo lý Vima Nyingthig. Được cảm hứng bởi Vimalamitra, ngài viết Yangtig Yizhin
Norbu (còn gọi là Lama Yangtig), một tuyển tập gồm ba mươi lăm luận văn về Vima
Nyingthig.
Longchen Rabjam rút vàng được cất dấu trong một terma ra và với số vàng đó
ngài tài trợ cho việc sửa chữa chùa Uru Dza ở Drikung, được xây dựng bởi Nyang
Tingdzin Zangpo, một trong những đại đệ tử của Guru Rinpoche và Vimalamitra.
Trong khi việc sửa chữa đang được tiến hành thì những người thợ tình cờ đào
được nhiều vật đã được chôn dấu dưới ngôi chùa để điều phục năng lực của
những thế lực tiêu cực, và chúng bay lượn trên không trung. Longchen Rabjam tự
biến thành tướng phẫn nộ của Guru Rinpoche và chôn cất lại các đồ vật đó với cử
chỉ năng lực huyền bí.
Khi rất có nguy cơ xảy ra một trận nội chiến ở miền trung Tây Tạng do mưu đồ
của Kün-rik, một vị lãnh đạo kiêu ngạo của Drikung, Longchen Rabjam đã thực hiện
một tiên tri liên quan tới một hóa thân của Đức Văn Thù bằng cách làm Kün-rik đổi
hướng từ con đường chiến tranh sai lầm sang con đường của Giáo Pháp và mang
lại sự an bình. Thoạt đầu Tai Situ Phagmo Trupa (1302-1364), kế đó tới vua Tây
Tạng, nghi ngờ Longchen Rabjam và gởi lực lượng tới giết ngài, bởi ngài là vị Thầy
của Drikung, kẻ thù không đội trời chung của ông ta. Nhờ năng lực thần diệu của
ngài, Longchen Rabjam trở nên vô hình khi lực lượng tới nơi. Nhưng hoàn cảnh đã
bắt buộc Longchen Rabjam phải di chuyển tới Bhutan. Ở đó ngài ban những giáo lý
và đôi khi tập họp khoảng một trăm ngàn đệ tử. Tại Bumthang ngài đã thiết lập Tu
viện Tharpa Ling. Ở Bhutan ngài và vị phối ngẫu Kyipa xứ Bhutan có một con trai
tên là Tülku Trakpa Özer (1356-1409?), và con trai của ngài trở thành một vị hộ trì
dòng truyền thừa. Sau này, Tai Situ hiểu được thái độ vô phân biệt của Longchen
Rabjam và trở thành một đệ tử, và Longchen Rabjam trở về Tây Tạng.
Longchen Rabjam là một trong những học giả vĩ đại nhất và những hiền giả
chứng ngộ của Tây Tạng, nhưng ngài đã hiến dâng toàn bộ đời mình cho kỷ luật
tâm linh cực kỳ vi tế và nghiêm ngặt trong việc học tập, giảng dạy, biên soạn, và
thiền định để hoàn thành mục đích của sự hiển lộ giác ngộ của ngài. Điều đó phải là
một khuôn mẫu cho một người tu tập và một vị Thầy giảng dạy Giáo Pháp. Tâm
ngài và cuộc đời ngài giản dị và khoáng đạt, tự nhiên, thuần tịnh, và sâu xa. Dù ngài
sống ở đâu hay đang làm gì, ngài luôn luôn ở trong trạng thái thiền định một cách tự
nhiên.
Ngài thường xuyên viếng thăm Đạo sư Rigdzin Kumārādza của ngài để hoàn
thiện sự hiểu biết và chứng ngộ. Ngài đã năm lần dâng toàn bộ những sở hữu ít ỏi
của ngài cho Đạo sư để tẩy sạch sự bám chấp của ngài vào những đối tượng vật 96
chất. Nhờ danh tiếng của sự uyên bác và chứng ngộ của ngài, ngài có thể dễ dàng
xây dựng những tu viện khổng lồ hay những ngôi nhà, nhưng ngài đã tránh những
công việc như thế bởi ngài không quan tâm tới việc thiết lập bất kỳ tổ chức nào. Tất
cả những gì được cúng dường cho ngài với lòng tin, ngài hoàn toàn sử dụng để
phụng sự Pháp và không bao giờ dùng cho những mục đích khác, mà cũng không
bao giờ dùng nó cho bản thân ngài. Ngài không bao giờ biểu lộ sự tôn kính đối với
một người thế tục, dù là người có địa vị cao trong xã hội. Ngài nói: “Sự tôn kính nên
được dành cho Tam Bảo chứ không dành cho những người thế tục. Đảo lộn vai trò
của Lạt ma và người bảo trợ là không đúng.” Dù những vật cúng dường cho ngài có
to lớn tới đâu, ngài không bao giờ biểu lộ sự biết ơn, ngài nói: “Hãy để những nhà
bảo trợ có cơ hội tích tập công đức thay vì đền đáp việc cúng dường bằng cách
biểu lộ lòng biết ơn.” Thiện tâm của ngài đối với những người nghèo khó và đau
khổ thật bao la, và ngài rất hoan hỉ khi thưởng thức những thực phẩm đơn sơ mà
những người nghèo khó cúng dường cho ngài, và sau đó đọc những lời ước
nguyện cho họ.
Trong hầu hết cuộc đời ngài, Longchen Rabjam sống trong cô tịch, ở các hang
động trong núi non, trước hết là ở Chimphu gần Samye và sau đó phần lớn là ở
Kangri Thökar. Môi trường thiên nhiên thanh bình và trong trẻo tạo nên sự an bình
và quang minh trong tâm những người tu tập; khi đó toàn thể tan hòa thành một, sự
hợp nhất của an bình và quang minh. Longchen Rabjam tóm tắt những công đức
của sự cô tịch:133
Xa những thị trấn đầy thú tiêu khiển,
Sống trong những khu rừng phát triển tự nhiên sự thiền định an bình,
Hòa hợp cuộc sống trong Pháp, điều phục tâm,
Và khiến ta đạt được hỉ lạc tối thượng.
Ngài ban giáo lý trong mọi lãnh vực của Phât giáo, nhưng chủ yếu nhấn mạnh
tới Đại Viên mãn. Khi tóm tắt thiền định Đại Viên mãn, ngài khuyên nhủ bằng những
lời giản dị:
Điều quan trọng là phải nhìn thẳng vào bản tánh của những tư tưởng khi
chúng phát khởi.
Điều quan trọng là phải an trụ trong bản tánh khi quý vị chắc chắn về việc nhận
ra nó.
Điều quan trọng là phải có sự thiền định không thiền định như thiền định của
quý vị.
Không dao động, hãy duy trì nó. Đây là lời khuyên của ta.134
Và:
Tâm hiện tại, là cái gì không bị ngăn trở –
Không bám vào “cái này” hay “cái kia”, không có bất kỳ chỉnh sửa hay sự pha
tạp nào, và
Không bị ô nhiễm bởi sự nhị nguyên của đối tượng bị bám chấp và người bám
chấp – 97
Là bản tánh của chân lý tối thượng. Hãy duy trì trạng thái này.135
Tại Lhasa, Longchen Rabjam được đón tiếp bằng kèn đại lễ, và ngài trải qua
khoảng hai tuần ở đó. Giữa Jokhang và Ramoche ở Lhasa, an tọa trên Pháp tòa,
ngài ban giới nguyện Bồ đề tâm và nhiều giáo lý cho một hội chúng khổng lồ thuộc
mọi tầng lớp xã hội. Nhờ sự uyên bác và chứng ngộ của ngài, Longchen Rabjam đã
điều phục những tâm thức kiêu ngạo của nhiều học giả và gây truyền hứng khởi
cho họ để đạt được tâm thanh tịnh của Pháp. Ngài đã gieo trồng hạt giống khát
khao Giáo Pháp thuần tịnh trong trái tim của nhiều người. Ngài được gọi là
Künkhyen Chöje, Bậc Toàn trí của Pháp. Sau đó ngài đi Nyiphu Shuksep và ban
giáo lý Dzogchen cho khoảng một ngàn đệ tử. Kế đó tại những ngọn đồi đá gần
Trok Ogyen, ngài ban các quán đảnh và giáo lý Dzopa Chenpo cho khoảng ba ngàn
người, trong đó có bốn mươi người được coi là các Đạo sư của Giáo Pháp.
Năm năm mươi sáu tuổi, vào năm Thủy Mẹo (1363) thuộc Rabjung thứ sáu,
ngài thình lình tuyên bố di chúc tâm linh, có tựa đề là Trima Mepe Ö (Sự Chói lọi
Tinh khiết), gồm những dòng sau:
Bởi đã lâu lắm rồi, ta chứng ngộ bản tánh của samsara (sinh tử),
Không có bản chất trong những hiện hữu thế gian.
Giờ đây, khi ta đang rời khỏi tấm thân huyễn hóa vô thường này,
Ta sẽ chỉ cho các con những điều lợi lạc; xin lắng nghe ta.
Các con đang coi cuộc đời của mình là có thực, nhưng nó sẽ lừa dối các con.
Bản tánh của nó là biến đổi và không có sự xác thực.
Bằng cách thấu hiểu đặc tính không đáng tin cậy của nó,
Xin thực hành Pháp ngay ngày hôm nay.
Thay đổi là bản tánh của bằng hữu, giống như một cuộc hội họp của những
người khách.
Tụ hội trong một lát nhưng nhanh chóng xa lìa vĩnh viễn.
Bằng cách tự giải thoát mình khỏi những bám luyến vào bằng hữu,
Xin thực hành Pháp làm lợi lạc các con mãi mãi.
Của cải như mật ngọt trôi đi ngay cả khi các con tích lũy nó.
Mặc dù các con kiếm được, người khác sẽ thụ hưởng nó.
Giờ đây, trong khi các con có năng lực, hãy đầu tư nó để làm hành trang cho
những đời sau,
Bằng cách tạo công đức nhờ việc cho đi vì lòng nhân ái..
Con người thì vô thường như những nhóm khách đến trước và sau.
Người lớn tuổi đi sớm. Người nhỏ tuổi sẽ đi sau.
Những người đang sống, sẽ chẳng ai sống một trăm năm.
Xin nhận ra điều đó [bản tánh của sự vô thường] ngay lúc này đây.
Những hình tướng của đời này xảy ra như những sự kiện của ngày hôm nay.
Những hình tướng của bardo sẽ xảy ra như những giấc mộng trong đêm. 98
Những hình tướng của đời sau sẽ xuất hiện nhanh như ngày mai.
Xin thực hành Pháp ngay lúc này..
Trong tất cả các pháp, cốt tủy tối hậu của sự quang minh chói lọi
Là Nyingthig, ý nghĩa thiêng liêng.
Đây là con đường siêu việt dẫn các con tới Phật quả trong một đời duy nhất.
Bằng con đường này xin thành tựu sự siêu phàm phổ quát hỉ lạc vĩ đại..
Bản tánh của tâm là Pháp giới tối thượng, giống như không gian.
Bản tánh của Pháp giới là bản tánh của tâm, bản tánh cố hữu,
Trong ý nghĩa chúng không phân cách. Chúng là sự nhất thể, Đại Viên mãn.
Xin nhận ra bản tánh ngay giây phút này.
Những hiện tượng khác nhau giống như những phản chiếu trong một tấm
gương.
Chúng trống không trong khi đang xuất hiện, và tự thân sự xuất hiện là tánh
Không.
Chúng là [những hiện tượng] hỉ lạc, thoát khỏi những định danh là một hay
nhiều.
Xin nhận ra bản tánh ngay giây phút này…
Sự vui sướng của ta trước cái chết còn to lớn hơn
Niềm vui của những thương nhân phát đạt nơi biển cả,
Các vua trời tuyên bố chiến thắng trong chiến tranh,
Hay những hiền giả đang an trụ trong thiền định.
Giờ đây Pema Ledreltsal [Longchen Rabjam] sẽ không còn ở đây lâu nữa.
Ta sẽ đi bảo vệ bản tánh đại lạc và vô sanh.136
Sau đó, khi ngài tới Chimphu và khi đang du hành qua Samye, ngài nói ngài sắp
chết ở đó, và thân thể ngài bắt đầu biểu lộ vẻ bệnh tật. Nhưng ngài vẫn giảng dạy
một hội chúng đông đảo đang đi theo ngài hay tụ hội để nhận những giáo lý từ ngài.
Vào ngày mười sáu tháng mười hai, cùng những người khác, ngài cử hành một lễ
cúng dường trọng thể. Sau đó ngài ban cho các đệ tử giáo lý sau cùng của ngài về
lẽ vô thường và truyền cảm hứng cho họ thực hành Trekchö và Thögal với lời
khuyên:
Nếu các con có bất kỳ khó khăn nào trong việc thấu suốt các giáo lý của ta,
hãy đọc Yantig Yizhin Norbu [còn gọi là Lama Yangtig]; nó sẽ giống như một
viên ngọc như ý. Các con sẽ chứng ngộ trạng thái của sự tan hòa mọi hiện
tượng vào dharmatā (Pháp tánh), bản tánh tối thượng.
Vào ngày mười tám, an tọa trong tư thế Pháp thân, tâm ngài tan hòa vào Pháp
tánh tuyệt đối. Những người có mặt cảm thấy mặt đất rung động và nghe những
tiếng ầm ầm. Trong khi nhục thân của ngài được giữ gìn trong hai mươi lăm ngày,
một chiếc lều ánh sáng liên tục uốn cong qua bầu trời. Thậm chí trong những tháng
lạnh nhất ở Tây Tạng, trái đất trở nên ấm áp, băng tan, và hoa hồng nở rộ. Lúc hỏa 99
thiêu, trái đất rung động ba lần và mọi người nghe thấy một âm thanh lớn vang lên
bảy lần. Nhiều ringsel (xá lợi) và năm loại dungchen (xá lợi lớn) xuất hiện từ những
miếng xương như một biểu thị về việc ngài đã thành tựu năm thân và năm trí tuệ
của Phật quả.
137
Longchen Rabjam đã nhận các giáo lý và những trao truyền của tất cả những
dòng truyền thừa của Phật giáo đang hiện diện ở Tây Tạng. Đặc biệt là mọi dòng
của những truyền dạy Đại Viên mãn hội tụ trong ngài. Trong số những giáo lý
Nyingthig của Đại Viên mãn mà ngài được thừa hưởng có Vima Nyingthig và
Khandro Nyingthig.
Longchen Rabjam đã biên soạn hơn hai trăm năm mươi luận thuyết về lịch sử,
các giáo huấn đạo đức, những giáo lý về Kinh điển và Mật điển, và đặc biệt là về
Đại Viên mãn nói chung và đặc biệt là Nyingthig.138 Ngài đã trình bày tất cả giáo lý
của ngài trong hình thức tác phẩm văn chương. Nhưng nhiều học giả khẳng định
rằng hầu hết những tác phẩm của ngài về các tantra và Đại Viên mãn thực sự là
gongter, các kho tàng tâm, được khám phá bằng năng lực giác ngộ của ngài. 100
11
RIGDZIN JIGME LINGPA
1730–1798
RIGDZIN Jigme Lingpa139 là tülku (hóa thân) của Vua Trisong Detsen (790-858) và
Vimalamitra. Ngài cũng được gọi là Khyentse Özer, Những Tia sáng Trí Tuệ và Đại
Bi. Ngài đã khám phá giáo khóa rộng lớn và sâu xa Longchen Nyingthig như terma
tâm.
Trong Tiên tri Bí mật của Lạt ma Gongdü,
140 do Sangye Lingpa (1340-1396)
khám phá, Guru Rinpoche tiên đoán sự xuất hiện của Jigme Lingpa bảy trăm năm
sau:
Ở miền nam Tây Tạng sẽ xuất hiện một tülku tên là Özer.
Ngài sẽ giải thoát chúng sinh bằng giáo lý sâu xa Nyingthig,
và sẽ dẫn dắt tất cả những ai được nối kếi với ngài tới cõi tịnh độ của các
vidhyādhara (Trì Minh Vương).
Jigme Lingpa sinh vào sáng sớm ngày mười tám tháng mười hai năm Thổ Dậu
thuộc Rabjung thứ mười hai (1730) tại một ngôi làng trong Thung lũng Chongye
miền Nam Tây Tạng, không quá xa lăng mộ các vị vua của triều đại Chögyal, được
gọi là “các lăng mộ đỏ.” Mặc dù cha mẹ của ngài xuất thân từ những gia đình quyền
quý trong quá khứ, nhưng của cải của họ thật khiêm tốn và Jigme Lingpa hiểu rằng
đó là một sự gia hộ cho phép ngài đảm đương đời sống tu hành của mình, không bị
thúc ép phải tham gia các nghĩa vụ xã hội hay vẻ hào nhoáng quý tộc.
Từ thời thơ ấu, ngài đã nhớ lại các hóa thân đời trước của mình, chẳng hạn
như là đại Tertön Sangye Lama (1000-1080?). Một trong những chiếc răng của ngài
được đánh dấu với chữ ĀH – ngữ của Phật, được coi là dấu hiệu của việc ngài là
hóa thân của Vimalamitra. Cũng thế, như được biểu thị trong một tác phẩm tiên tri,
ngài có ba mươi nốt ruồi nhỏ hơi đỏ trong hình dạng một chày kim cương nơi tim,
khoảng ba mươi nốt ruồi nhỏ hơi đỏ tại rốn trong hình dạng một cái chuông nghi lễ,
và trên ngón cái phải của ngài có những đường vạch trong hình dạng một chữ HYA 101
hay HRĪH, chủng tự của Bổn Tôn Hayagrīva. Từ thời thơ ấu tâm ngài không dính
mắc những vui thú thế gian, và ngài có lòng bi mẫn, thông tuệ, và can đảm phi
thường.
Ngài được xác nhận là hóa thân thứ mười ba của Gyalse Lhaje,141 người thọ
nhận giáo lý Kadü Chökyi Gyatso từ Guru Rinpoche, tất cả các ngài đều là những
tertön. Cũng thế, trong bài cầu nguyện dòng truyền thừa tối yếu viết cho các đệ tử,
Jigme Lingpa đề cập tới nhiều đời quá khứ và một đời trong tương lai của ngài như
thể ngài nhìn thấy rõ ràng điều đó:
1- Samantabhadra (Phổ Hiền), đấng trùm khắp sinh tử và Niết bàn, sự tương
tục của nền tảng, tinh túy rốt ráo của Phật tánh,
2- Sau đó [sự hợp nhất của] lòng đại bi và tánh Không xuất hiện như Đức
Avalokiteshvara (Quán Thế Âm), và
3- Prahevajra, con khẩn nguyện các ngài.
4- Sau đó hiển lộ là trưởng tử của Vua Krikrī trong sự hiện diện của Đức Phật
Kāshyapa (Ca Diếp),
5- Nanda, bào đệ của Đức Phật,
6- Ākarmati, một hiển lộ của Vua Songtsen Gampo, và
7- Vua Trison Detsen, con khẩn nguyện các ngài.
8- Đại thành tựu giả Virvapa của Ấn Độ, [9] Công chúa Pemasal,
10- Gyalse Lhaje, Pháp vương trong thân người,
11- Tri-me Künden (của Ấn Độ), 12- Yarje Ogyen Lingpa (1323-?),
13- Daö Zhönu (1079-1153) phái Kagyü và 14- Trakpa Gyaltsen (1147-1216)
phái Sakya, con khẩn nguyện các ngài.
15- Sau đó Longchen Rabjam (1308-1363), sự hiển lộ của chính Đại thành tựu
giả Vimalamitra,
16- Ngari Penchen (1487-1542), 17- Chögyal Phüntsok (thế kỷ thứ 16, nam tử
của Drikung Rinchen Phüntsok),
18- Changdak Tashi Tobgyal (1550-1602?), 19- Dzamling Dorje (xứ Kongpo)

20- Jigme Lingpa (1730-1798), con khẩn nguyện các ngài.
21- Sau vị Thầy này, hiển lộ qua hóa thân của Yeshe Dorje [1800-66].142
Năm lên sáu, như một sa di bình thường, ngài gia nhập Tu viện Palri
(Shrīparvata) trong Thung lũng Chongye, trụ xứ của Trangpo Terchen Sherap Özer
(1517-1584). Tsogyal Tülku Ngawang Lobzang Pema ban cho ngài pháp danh
Pema Khyentse Özer.
Như ngài nói, từ sáu tới mười ba tuổi, ngài dùng nhiều thời giờ để “nghịch đất”
với các sa di cùng trang lứa hơn là để học. Ngài sống cuộc đời của một sa di nghèo
ít thuận lợi trong việc học tập, và năm này qua năm khác phải đương đầu với
những thầy trợ giáo hết sức nghiêm khắc. Tuy nhiên, nhiệt tâm mãnh liệt của ngài
dành cho Pháp, lòng sùng mộ tự nhiên đối với Guru Rinpoche, và lòng bi mẫn bẩm
sinh của ngài đối với tất cả chúng sinh, đặc biệt là với thú vật, đã trợ lực cho ngài và
khiến cho tuổi thơ của ngài tràn đầy niềm vui và ý nghĩa. Mặc dù có vẻ là một sa di
tầm thường, đời sống nội tâm của ngài thật phong phú. Ban ngày của ngài ngập
đầy những thành tựu thiền định và cảm hứng những thị kiến thanh tịnh. Vào ban 102
đêm, ngài hòa nhập trong những giấc mộng là những kinh nghiệm và thị kiến tâm
linh.
Trong những hoàn cảnh như thế, ngài đã tinh thông văn phạm, luận lý, chiêm
tinh, thi ca, lịch sử, y khoa, và nhiều Kinh điển và Tantra (Mật điển). Ngoài việc nhận
lãnh những trao truyền quán đảnh bí truyền, ngài không cảm thấy cần phải có một
Đạo sư hay học tập chi tiết bất kỳ chủ đề trí thức nào như những người học đạo
nghiêm túc khác đã làm. Ngài học hỏi các chủ đề khác nhau chỉ bằng cách nghe
trộm những đoạn giáo lý của các lớp học của những đệ tử khác hay liếc nhìn các
bản văn.
Nhiều Đạo sư trở nên thông thái nhờ việc nghiên cứu và sau đó chứng ngộ nhờ
thiền định. Jigme Lingpa thông thái tự bẩm sinh, là kết quả của sự tỉnh giác chứng
ngộ trí tuệ trong bản thân ngài. Tuy nhiên, hiển lộ bên ngoài là sự bùng nổ cuối
cùng và viên mãn của trí tuệ bao la của ngài thì mãi sau này mới xảy ra, khi ngài có
các thị kiến về Longchen Rabjam vào năm ba mươi mốt tuổi. Ngài viết:
Một cách tự nhiên, tôi cảm thấy thật sung sướng khi có thể nghiên cứu bất kỳ
chủ đề nào, chẳng hạn như ngôn ngữ, những tác phẩm cổ điển, Kinh điển
cùng các bình giảng của chúng, hay giáo lý Kim Cương thừa về bản tánh tối
hậu. Tôi nghiên cứu tất cả những điều đó cả ngày lẫn đêm với sự tôn kính lớn
lao. Nhưng tôi khó có cơ hội để phát triển sự hiểu biết bằng cách học tập với
một Đạo sư, ngay cả chỉ trong một ngày. Tuy nhiên, tại Tu viện Samye
Chimphu vinh quang, nhờ ba lần nhìn thấy thân trí tuệ của Longchenpa, và
nhờ nhận lãnh các sự gia hộ qua những dấu hiệu khác nhau, nghiệp của tôi về
“trí tuệ-hiểu biết” được đánh thức từ sự sâu thẳm của Đại Viên mãn.143
Từ Neten Kunzang Özer, lần đầu tiên ngài nhận sự truyền dạy chính yếu của
mình, sự trao truyền giáo lý Trölthik Gongpa Rangtröl do Trengpo Terchen Sherap
Özer (còn được gọi là Drodül Lingpa) khám phá, giáo khóa Lama Gongdü do
Sangye Lingpa (1340-1396) khám phá, và Bảy Kho tàng và Ba Cỗ Xe của
Longchen Rabjam (1308-1363).
Năm mười ba tuổi, Jigme Lingpa gặp tertön vĩ đại Rigzin Thukchok Dorje144 và
lập tức trải nghiệm một lòng sùng mộ mãnh liệt đánh thức tâm trí tuệ của ngài. Từ vị
tertön ngài nhận các truyền dạy và giáo huấn về Mahāmudrā (Đại Ấn) và những
giáo lý khác. Thukchok Dorje trở thành vị Thầy gốc của ngài, và ngài nhận các sự
gia hộ từ vị Thầy này trong các linh kiến ngay cả sau khi Đạo sư đã thị tịch. Jigme
Lingpa cũng nhận các truyền dạy từ nhiều vị Thầy khác, kể cả Thekchen Lingpa
Drotön Tharchin (còn gọi là Trime Lingpa, 1700-1776), chú của ngài là Dharmakīrti,
Chakzampa Tendzin Yeshe Lhündrup thứ bảy, Thangdrok Tülku Pema Rigdzin
Wangpo xứ Kongpo,145 Trati Ngakchang Rigpe Dorje (còn gọi là Kong-nyön) xứ
Kongpo, và Mön Dzakar Lama Dargye.
Đầu năm hai mươi tám tuổi, ngài bắt đầu một cuộc nhập thất ba năm nghiêm
nhặt tại Tu viện Palri và trì giữ bảy lời nguyện trong cả thảy bảy năm. Những giới
nguyện này cho ta thấy tầm quan trọng của việc hoàn thiện chính mình trước khi đi
ra giúp đỡ người khác để hoàn thành mục đích của cuộc đời. Bảy lời nguyện của
ngài như sau: 103
1- Ngài không vào nhà của bất kỳ cư sĩ nào, cũng không hưởng thụ bất kỳ trò
giải trí nào. 2- Cho dù đang sống trong một cộng đồng, ngài hạn chế tiếp xúc với
nhiều người (trong phòng của ngài) hay điều khiển bất kỳ sự tụ hội nào nuôi dưỡng
lòng sân hận hay tham đắm. 3- Ngài không liên lạc thư từ với bất kỳ ai, không nhận
cũng như không gởi bất kỳ ngôn từ nào. 4- Ngài duy trì một cuộc đời khổ hạnh và
tự chế không đổi Giáo Pháp để lấy lợi lộc vật chất. 5- Ngài tự chế mọi hoạt động
xao lãng, chỉ hiến dâng mọi nỗ lực của mình cho mười hoạt động liên quan tới việc
tu tập Pháp.146 6- Ngài sống bằng phương tiện đơn giản và thận trọng không hưởng
thụ mọi vật chất được cúng dường do đức tin. 7- Ngài không thực hiện bất kỳ điều
nào trong bốn hành động147 và hồi hướng mọi hoạt động cho sự giải thoát khỏi sinh
tử.
Ngài tập trung việc thiền định vào giai đoạn phát triển và toàn thiện, được đặt
nền trên Trolthik Gongpa Rangtröl. Sự tỉnh giác chánh niệm của ngài khiến ngài bảo
vệ được tâm thức thoát khỏi các phóng tâm trong thiền định, dù chỉ lâu bằng thời
gian của tiếng bật ngón tay. Khi ngài đọc Bảy Kho Tàng của Longchen Rabjam, bộ
sách này đã giải đáp mọi vấn đề ngài có về các kinh nghiệm thiền định nội tâm của
mình.
Khi tiến bộ qua các giai đoạn chứng ngộ, ngài đã kinh nghiệm nhiều dấu hiệu
thành tựu trong tâm và thân. Ngài kinh nghiệm các linh kiến của nhiều Lạt ma và
những bậc linh thánh, kể cả Guru Rinpoche, Yeshe Tsogyal, Manjushrīmitra, và
Hūmkara, các linh kiến này đánh thức những giai đoạn khác nhau của trí tuệ sâu xa
của ngài. Thình lình ngài nhận ra rằng điểm quy chiếu của mọi kinh nghiệm trong
tâm ngài đã bị nhổ bật gốc. Ngài đã nắm được quyền thống lãnh tiến trình của
những nghiệp lực của ngài. Mọi hang ổ của những hình tướng dối gạt (nghĩa là
những đối tượng, trên đó tâm thức nương tựa để rèn đúc luân hồi sinh tử nhị
nguyên) hoàn toàn bị sụp đổ. Nhờ sức mạnh của sự chứng ngộ tỉnh giác, ngài đã
có thể nhớ lại thật rõ ràng nhiều đời trong quá khứ. Trong tâm chứng ngộ của ngài,
tất cả những kinh nghiệm và linh kiến đó có bản tánh nhất như.
Nhờ những tu tập du già, ngài đã thành tựu việc kiểm soát các kinh mạch, năng
lực, và tinh chất của thân kim cương của ngài. Kết quả là cổ họng của ngài mở rộng
như “giáo khóa tài bảo” của giáo lý. Những kinh mạch trong thân ngài chuyển hóa
thành “những đám mây chữ.” Mọi hình tướng hiện tượng biến thành những “dấu
hiệu/cử chỉ của Pháp.” Lời nói (ngữ) của ngài trở thành những chứng đạo ca sâu
xa. Các tác phẩm của ngài trở thành những luận thuyết tràn đầy năng lực trí tuệ vĩ
đại và sự uyên bác. Một đại dương vô tận các hiện tượng có tính chất giáo lý tiếp
tục nổ bùng ra bởi ngài và từ nơi ngài.
Sau đó ngài biên soạn tác phẩm quan trọng đầu tiên là Khyentse Melong Özer
Gyawa, một luận giảng về giáo khoá Lama Gongdü.
Xuất hiện trong một linh kiến, Guru Rinpoche ban cho ngài pháp danh Pema
Wangchen. Trong một linh kiến, Manjushrīmitra gia hộ cho ngài, nhờ đó ngài chứng
ngộ ý nghĩa của trí tuệ tượng trưng (mTshon Byed dPe’i Ye Shes). Về sau, ngài
thay đổi những chiếc y màu nâu sẫm thành y phục đơn giản của một nhà tu khổ
hạnh, những áo choàng trắng giản dị và để tóc dài không cắt.
Năm hai mươi tám tuổi, ngài khám phá sự hiển lộ phi thường của giáo khóa
Longchen Nyingthig, các giáo lý của Pháp Thân và Guru Rinpoche, như terma tâm.
Tối ngày hai mươi lăm tháng mười năm Hỏa Ngưu thuộc chu kỳ Rabjung thứ mười 104
ba (1757), ngài đi ngủ với một lòng sùng mộ vô bờ đối với Guru Rinpoche trong tim
ngài. Vì không được nhìn thấy Guru Rinpoche, ngài ràn rụa nước mắt và không
ngớt cầu nguyện theo hơi thở của ngài.
Ngài an trụ trong kinh nghiệm thiền định sâu xa về sự quang minh chói lọi đó
(‘Od gSal Gyi sNang Ba) trong một thời gian dài. Khi đắm chìm trong sự quang
minh đó, ngài chứng nghiệm mình cưỡi trên một con sư tử trắng bay một quãng
trên không trung. Cuối cùng ngài tới một con đường vòng mà ngài nghĩ là con
đường để đi nhiễu của Charung Khashor, ngày nay được gọi là Bảo Tháp
Bodhnath, một đài kỷ niệm Phật Giáo quan trọng thuộc kiến trúc vĩ đại ở Nepal.
Trong sân phía tây của tháp, ngài thấy Pháp Thân xuất hiện trong thân tướng
của một dākinī trí tuệ. Bà giao cho ngài một cái tráp bằng gỗ tuyệt đẹp và nói:
Đối với các đệ tử có tâm thức thanh tịnh,
Ngài là Trisong Detsen.
Đối với các đệ tử có tâm thức bất tịnh,
Ngài là Senge Repa.
Đây là kho tàng tâm của Samantabhadra (Phổ Hiền),
Những chữ viết tượng trưng của Rigdzin Padmasambhava, và
Những kho tàng bí mật vĩ đại của các dākinī. Các dấu hiệu đã kết
thúc !
Vị dākinī biến mất. Với một kinh nghiệm vô cùng hỉ lạc, ngài mở cái tráp. Trong
đó ngài tìm thấy năm ống giấy cuộn màu vàng với bảy hột pha lê. Trước tiên, chữ
viết khó đọc, nhưng sau đó nó biến thành chữ Tây Tạng. Một trong những cuộn này
là Dug-ngal Rangtröl, Sādhana của Đức Avalokiteshvara, và cuộn khác là Nechang
Thukkyi Drombu, cẩm nang tiên tri của Longchen Nyingthig. Rāhula, một trong
những vị Hộ Pháp, hiện ra trước ngài tỏ lòng tôn kính. Khi ngài được dākinī khác
khuyến khích, Jigme Lingpa nuốt tất cả các cuộn giấy vàng và những hột pha lê.
Ngay lập tức, ngài có kinh nghiệm đáng kinh ngạc rằng toàn thể các chữ trong giáo
khoá Longchen Nyingthig cùng các ý nghĩa của nó được đánh thức trong tâm ngài
như thể chúng được in lên đó. Ngay cả khi đã dứt kinh nghiệm thiền định đó, ngài
vẫn an trụ trong sự chứng ngộ giác tánh nội tại, sự hợp nhất vĩ đại của đại lạc và
tánh Không.
Như vậy, giáo lý Longchen Nyingthig và sự chứng ngộ, là những gì được Guru
Rinpoche trao phó và cất giấu trong ngài nhiều thế kỷ trước, đã được đánh thức, và
ngài đã trở thành một tertön, người khám phá giáo khóa Longchen Nyingthig. Ngài
lần lượt chép lại giáo lý Longchen Nyingthig, bắt đầu bằng Nechang Thukkyi
Drombu.
Ngài giữ bí mật mọi giáo lý ngài đã khám phá trong bảy năm vì chưa đến lúc
giảng dạy cho người khác. Đối với một tertön, đó cũng là điều cốt yếu vì trước tiên
bản thân ngài phải thực hành giáo lý.
Mặc dù đang duy trì cuộc sống của một yogī ẩn mật nhưng bởi ngài đã toàn
thiện năng lực của bốn hoạt động mà không cần phải dụng công, những người
sống quanh ngài đã phát triển lòng tôn kính và tin tưởng một cách tự nhiên đối với
ngài, và ngài trở thành một suối nguồn lợi lạc cho nhiều người. 105
Năm ba mươi mốt tuổi, ngài bắt đầu thực hiện cuộc nhập thất ba năm lần thứ
hai tại Chimphu gần Samye. Trước tiên ngài bắt đầu nhập thất trong một hang động
được gọi là động Nyang Thượng. Sau đó ngài khám phá hang động khác và nhận
ra nó chính là động Sangchen Metok hay động Nyang Hạ, nơi Vua Trisong Detsen
đã nhận giáo lý Nyingthig từ Nyang và đã thiền định về các giáo lý đó. Trong thời
gian còn lại của cuộc nhập thất, ngài sống tại động Sangchen.
Trong cuộc nhập thất tại Chimphu, sự chứng ngộ tối cao về Đại Viên mãn thức
tỉnh trong Jigme Lingpa, và thức giác đó có được là nhờ ba linh kiến thanh tịnh về
thân trí tuệ của Longchen Rabjam (1308-1363), Pháp Thân trong sự hiển lộ thuần
tịnh. Trong động Nyang Thượng ngài có linh kiến đầu tiên, trong đó ngài nhận sự
gia hộ của thân kim cương của Longchen Rabjam. Jigme Lingpa nhận được sự
truyền dạy về ngôn từ lẫn ý nghĩa của giáo lý của Longchen Rabjam. Sau khi di
chuyển tới Sangchen Phuk (Động Đại Linh Thánh), ngài có linh kiến thứ hai và thứ
ba. Trong linh kiến thứ hai ngài nhận sự gia hộ về ngữ của Longchen Rabjam, nhờ
đó ngài xiển dương và truyền bá giáo lý sâu xa của Longchen Rabjam như người
đại diện của vị Thầy này. Trong linh kiến thứ ba Jigme Lingpa nhận sự gia hộ của
tâm trí tuệ của Longchen Rabjam, nó đánh thức hoặc trao truyền cho ngài năng lực
không thể diễn bày của sự tỉnh thức giác ngộ nội tại của Longchen Rabjam.
Vì không có mục tiêu (điểm quy chiếu) khách quan nào nên giờ đây đối với
Jigme Lingpa mọi sự xuất hiện bên ngoài trở nên vô cùng rộng lớn. Không có sự
thiền định hay trạng thái thiền định riêng biệt nào để theo đuổi. Bởi không có mục
tiêu chủ quan nào trong thâm tâm ngài nên tất cả trở nên giải thoát một cách tự
nhiên và hoàn toàn mở trống trong sự nhất như. Ngài biên soạn Künkhyen Zhallung
và một vài tác phẩm khác là chân nghĩa của Bảy Kho Tàng của Longchen Rabjam,
chúng thức giấc trong tâm trí tuệ của ngài. Ngài đã biểu lộ năng lực trí tuệ trong các
bài ca kim cương cho những người bạn ẩn sĩ sùng tín của ngài, liên quan tới những
tình huống khác nhau:
Bản tánh của tâm giống như không gian rộng lớn,
Nhưng nó siêu việt, bởi nó sở hữu trí tuệ.
Quang minh chói ngời như mặt trời và mặt trăng,
Nhưng nó siêu việt, bởi không có chất thể.
Giác tánh nội tại như một quả cầu pha lê,
Nhưng nó siêu việt, bởi không có những chướng ngại hay ngăn che.148
Và:
Nam tử, tâm đang ngắm nhìn tâm
Không phải là sự tỉnh giác của bản tánh bẩm sinh.
Vì thế, trong tâm hiện tại, không có những chỉnh sửa và
Những lay động, hãy chỉ an trụ tự nhiên.
Nam tử, sự hiểu biết (bất kỳ điều gì) với những hồi ức của con
Không có những thiện xảo cốt yếu của sự thiền định.
Vì thế, trong trạng thái tự nhiên và tươi mới của sự tỉnh giác nội tại,
Hãy an trụ không chút bám níu. 106
Nam tử, người ta nghĩ rằng sự an trụ (nhất tâm) (của tâm) là thiền định,
Nhưng nó thiếu sự hợp nhất của sự an định và nội quán.
Vì thế, không lấy và bỏ những an trụ hay những phóng chiếu của tâm,
Hãy để sự tỉnh giác nội tại an trụ tự do không có bất kỳ điểm quy chiếu nào.149
Và:
Nam tử, sự quán tưởng thô cứng, rõ ràng và vững chắc
Không phải là Mahāyoga toàn hảo.
Tan hòa tâm bám níu nơi mặt và tay của các Bổn Tôn, hãy an trụ trong cái bao
la rộng lớn,
Đại Viên Mãn của tính chất nhất thể của giác tánh nội tại và tánh Không.
Nam tử, sự bám níu vào những kinh nghiệm của bốn hỷ lạc
Không phải là Anuyoga toàn hảo.
Khi tâm và năng lực đã nhập vào kinh mạch trung ương,
Hãy an trụ trong (sự hợp nhất của) đại lạc và tánh Không, sự đại giải thoát
khỏi các niệm tưởng..
Nam tử, chỉ hiểu biết về sự thành tựu tự nhiên của ba thân,
Thì không phải là Atiyoga tối hậu.
Trong bản tánh của nội quán chuỗi-kim cương,
Hãy để lầm lạc của sự phân tích trong tâm sụp đổ.
150
Và:
Bệnh tật là những cây chổi quét sạch những ác hạnh của con,
Coi bệnh tật như những vị Thầy, hãy khẩn cầu chúng..
Bệnh tật đang đến với con nhờ thiện tâm của các vị Thầy và Tam Bảo.
Bệnh tật là những thành tựu của con, vì thế hãy tôn thờ chúng như các Bổn
Tôn.
Bệnh tật là những dấu hiệu cho thấy nghiệp xấu của con đang bị cạn kiệt.
Đừng nhìn vào mặt bệnh tật của con, nhưng nhìn vào kẻ (tâm) đang bệnh.
Đừng đặt bệnh tật trên tâm con, nhưng hãy đặt giác tánh nội tại trần trụi của
con trên bệnh tật.
Đây là giáo huấn về bệnh tật xuất hiện như Pháp Thân.
Thân xác thì vô tri và tâm là tánh Không.
Cái gì có thể khiến một vật vô tri đau đớn hay làm hại tánh Không?
Hãy tìm xem bệnh tật từ đâu tới, chúng đi đâu, và chúng an trụ ở đâu.
Bệnh tật chỉ là những phóng chiếu bất ngờ của những niệm tưởng của con.
Khi những niệm tưởng ấy tan biến, bệnh tật cũng biến mất..
Để đốt cháy các nghiệp xấu thì không có nhiên liệu nào tốt hơn bệnh tật.
Đừng dính mắc vào một tâm thức buồn bã hay những quan điểm tiêu cực về
bệnh tật, 107
Mà hãy nhìn chúng như những dấu hiệu cảnh báo cho các nghiệp xấu của
con, và hãy hoan hỉ vì chúng.151
Sau đó ngài nhận những truyền dạy Mười bảy Tantra Nyingthig, Vima Nyingthig,
Lama Yangtig, và một vài sự truyền dạy và giáo lý Nyingma khác từ Drubwang
Ogyen Palgön (Shrīnatha) của Tu viện Mindroling, cũng là người có họ xa với Jigme
Lingpa. Lúc đầu ngài cũng nhận những truyền dạy các giáo lý Nyingthig và các tác
phẩm của Longchen Rabjam từ Thangdrokpa và Neten Künzang. Tuy nhiên, dòng
truyền dạy ngắn và tuyệt đối của các giáo lý Nyingma tối hậu đến với ngài trực tiếp
từ Longchen Rabjam trong ba linh kiến thanh tịnh.
Khi ngài ra khỏi thất, ngài nhận ra rằng thân thể ngài hoàn toàn suy kiệt do thiếu
thực phẩm và y phục thích hợp trong những năm sống trong hang động. Ngài viết:
Bởi thực phẩm ít ỏi và phải sống trong một môi trường khắc nghiệt, tất cả
những gì còn sót lại của những ác nghiệp và các món nợ nghiệp trong những
đời trước của tôi bắt đầu thuần thục trên thân thể tôi. Bởi những chất dịch của
khí (rlung), lưng tôi đau đớn như thể bị đánh bằng một hòn đá. Là một hậu quả
của việc khí huyết dấy động, ngực tôi đau đớn như thể bị đóng đinh vào
người. Thân tôi rất nặng nề, chân bị sưng tấy lên bởi bệnh phù chân voi. Như
một ông già trăm tuổi, năng lực thể xác của tôi hoàn toàn suy kiệt. Tôi không
thấy thèm ăn.. Chỉ đi ba bước là thân tôi đã bắt đầu nghiêng ngả. Nhưng tôi
nghĩ: “Nếu tôi chết, tôi sẽ hoàn thành lời khuyên dạy của những bậc Thầy lúc
ban đầu, các ngài nói: ‘Hãy giao phó tâm con cho Pháp. Hãy giao phó việc
thực hành Pháp của con cho cuộc đời của một kẻ hành khất.’” Vì tôi đã đạt
được xác quyết trong sự chứng ngộ Đại Viên mãn, ngay cả một niệm lo lắng
cũng không hiện diện trong tâm tôi, nhưng trong tôi khơi dậy một lòng bi mẫn
lớn lao đối với những người đang đau khổ bởi tuổi già và bệnh tật.152
Sau đó ngài có một linh kiến thanh tịnh về Thangtong Gyalpo, một hiền giả của
sự trường thọ, và đối với Jigme Lingpa mọi sự việc tan hòa vào sự hợp nhất của
đại lạc và tánh Không. Do đó, ngài ngợi ca năng lực chứng ngộ của ngài trong
những lời sau:
Con cúi lạy đấng Hiền giả Vĩ đại Thangtong Gyalpo!
Tôi đã chứng ngộ tuyệt đỉnh của những cái thấy (kiến), Dzogpa Chenpo
Ở đó không có gì để thiền định, vì mọi sự được giải thoát như cái thấy.
Tôi đã phất lá cờ thiền định, vua của các hoạt động (hành).
Giờ đây, tôi, kẻ hành khất, không có gì phải ăn năn, cho dù tôi phải chết..
Tôi, kẻ hành khất, kẻ biết “cách chuyển hóa bệnh tật thành con đường,”
Khi quán tưởng Đạo sư, suối nguồn của các đức hạnh,
Tại luân xa hỉ lạc trên đầu tôi,
Tôi thiền định về con đường sâu xa Guru Yoga.
Bởi bệnh tật và khổ đau là những cây chổi quét sạch các ác nghiệp,
Bởi nhận thức rằng bệnh tật là sự gia hộ của Đạo sư,
Tôi thiền định về bệnh tật như Lạt ma và thọ nhận bốn quán đảnh từ chúng.
Sau cùng, bởi nhận thức Lạt ma như bổn tâm tôi, 108
Tôi giải thoát mọi sự vào chân tánh của tâm, nó thanh tịnh tự nguyên thủy và
thoát khỏi bất kỳ nơi y cứ (điểm quy chiếu) nào.153
Ngài đã chứng ngộ khuôn mặt của Đức Phổ Hiền tối thượng, Pháp Thân, và mọi
bệnh tật tan biến vào pháp giới tối hậu. Thật nhanh chóng, thân ngài cũng tràn đầy
năng lực, không còn đau đớn hay gặp chướng ngại nào nữa.
Rồi đã tới lúc hiển lộ các giáo lý Longchen Nyingthig cho các đệ tử sau bảy năm
giữ ẩn mật. Mặc dù chẳng ai có chút manh mối nào về việc khám phá Longchen
Nyingthig, Đạo sư-đệ tử Kongnyön Bepe Naljor154 của ngài, nhờ sự thấu thị, đã
khẩn cầu Jigme Lingpa truyền dạy giáo lý terma tâm của ngài. Như một điềm lành,
ngài cũng chấp nhận những khẩn cầu để tiết lộ các giáo lý với những sự cúng
dường của ba tülku quan trọng ở Nam Tây Tạng.
Vào ngày mồng mười tháng sáu năm Thân Mộc (1765), lần đầu tiên Jigme
Lingpa ban các quán đảnh và giảng dạy giáo khóa Longchen Nyingthig cho mười
lăm đệ tử. Dần dần nhưng nhanh chóng, các giáo lý Longchen Nyingthig đi tới mọi
ngóc ngách của thế giới Nyingma và cho tới ngày nay đã trở thành tâm yếu của các
giáo huấn thiền định cho nhiều thiền giả chứng ngộ và những nghi lễ.
Năm ba mươi bốn tuổi, từ Chimphu, Jigme Lingpa đi tới Tsering Jong, Xứ
Trường Thọ trong Thung lũng Tönkhar miền Nam Tây Tạng. Ở đó, với sự bảo trợ
của dòng họ Depa Pushü,155 ngài xây một ẩn thất với một học viện thiền định và đặt
tên nó là Tharpa Chenpö Trongkhyer Pema O Ling, Hoa viên Nguyệt Quang của
Kinh thành Đại Giải thoát. Ngài không muốn có một kiến trúc đồ sộ bị ràng buộc vào
thể chế và thường xuyên trích dẫn Ba mươi Lời Khuyên Trọng yếu của Longchen
Rabjam, như cẩm nang của ngài:156
Tập hợp nhiều người đồng sự bằng những phương tiện khác nhau,
Sở hữu một tu viện với những tiện nghi thoải mái-
Nếu các con cố gắng, điều ấy sẽ xảy tới trong một thời gian, nhưng nó làm xao
lãng tâm.
Vì thế lời khuyên tâm huyết của ta là hãy ở một mình.
Tsering Jong trở thành trụ xứ của Jigme Lingpa trong phần còn lại của đời ngài.
Một dòng các đệ tử vĩ đại đi tới ẩn thất vô cùng đơn sơ này để nhận những giáo lý
và truyền dạy sâu xa như cam lồ từ Rigdzin Jigme Lingpa, Đạo sư vĩ đại nhất của
Đại Viên mãn, nhưng sau đó các đệ tử trở về bản xứ của họ để chia sẻ giáo lý cho
những người khác. Vì thế Tsering Jong vẫn là một ẩn thất đơn sơ và Jigme Lingpa
vẫn là một ẩn sĩ khiêm tốn.
Ngài không quan tâm tới của cải hay quyền hành và sử dụng mọi vật cúng
dường cho ngài vào các mục đích tôn giáo. Suối đời ngài, ngài cũng tích cực chuộc
lại mạng sống của thú vật từ tay những thợ săn và đồ tể. Ngài nói:157
Ta không quan tâm tới bất kỳ hoạt động nghề nghiệp hay thu hoạch nào.
Ta không lang thang cử hành các nghi lễ trong những phố thị (để có những
tặng vật).
Ta không giữ bên mình hơn mười khal158 lúa mạch (như phương tiện sinh
sống). 109
Chừng nào ta còn sống, ta nguyện tiếp tục cuộc đời khổ hạnh này.
Đã có một thời sau thời đại của Jigme Lingpa, ẩn thất Tsering Jong trở thành một
nữ tu viện, và nó vẫn tồn tại như thế cho tới khoảng năm 1959, khi mọi sự bị biến
hoại trong cuộc biến động chính trị. Từ đầu thập niên 1980, một lần nữa Tsering
Jong được tái lập thành một nữ tu viện.
Tánh khí của Jigme Lingpa sâu sắc, mạnh mẽ, và thẳng thắn, nhưng ngài cũng mẫn
cảm, đơn giản và dễ gần gũi. Ngài viết:
Tri giác của tôi trở nên tương tự như tri giác của một đứa trẻ. Thậm chí tôi vui
thích khi chơi đùa với trẻ con. Khi gặp những người có khiếm khuyết nặng nề,
tôi ném vào mặt họ những lỗi lầm riêng tư của họ, cho dù họ là những nhà
lãnh đạo tâm linh khả kính hay nhà bảo trợ Giáo Pháp hào phóng..Trong mọi
việc như ngồi, đi, ngủ, hay ăn uống, tôi giữ gìn tâm tôi không bao giờ tách lìa
sự chói ngời của bản tánh tối hậu. Nếu đó là việc phụng sự Giáo Pháp, tôi hiến
mình cho sự toàn thiện của Pháp, cho dù điều đó được coi là bất khả.
159
Năm bốn mươi ba tuổi, ngài thâu thập và ủy thác việc sao chép các Tantra
Nyingma trong hai mươi lăm pho sách, và sáng tác Lịch sử các Tantra Nyingma.160
Sau này, theo lời khuyên của Jigme Lingpa và Dodrupchen, nhà vua và hoàng hậu
nhiếp chính xứ Dege đã đặt làm những bản khắc gỗ tuyển tập Tantra Nyingma của
ngài, và hiện nay những bản khắc này vẫn còn được dùng để in ấn.
Năm năm mươi bảy tuổi, theo lời mời của Sakya Trichen là Ngawang Palden
Chökyong, ngài tới Sakya và ban các giáo lý cùng sự truyền dạy cho Trichen, anh
của vị Thầy này, và Ānanda Shrībhava, vị khenchen (đại tu viện trưởng, đại học giả)
an trụ ở Sakya, và nhiều người khác.
Khi ngài từ Sakya trở về, Lạt ma Sönam Chöden mà sau này được gọi là
Dodrupchen (1745–1821) từ xứ Kham đến nhận giáo lý nơi ngài.161 Dodrupchen coi
ngài như Thangtong Gyalpo, ngược lại Jigme Lingpa xác nhận Dodrupchen là tülku
của Lhase Murum Tsepo và ban cho vị này pháp danh Jigme Thrinle Özer. Qua
Dodrupchen, Dzogchen Rinpoche đệ tam và vua xứ Dege gửi sứ giả mời ngài tới
Kham, nhưng ngài từ chối vì lý do tuổi tác và sức khỏe, cũng như bởi ngài quan tâm
tới nỗi nhọc nhằn của những con ngựa trong cuộc hành trình gian khổ.
Barchung Gomchen Rigdzin và Mange Pema Künzang từ Kham tới nhận giáo lý
và sự truyền dạy. Về sau Pema Kunzang trở thành Jigme Gyalwe Nyuku (1765–
1843), một đệ tử nổi tiếng của Jigme Lingpa. Trong khi Rigdzin và Pema Künzang ở
Lhasa, trước khi các ngài tới Tsering Jong, có kẻ lấy cắp một miếng bạc là vật duy
nhất mà các ngài có để sinh sống và chi dụng trong cuộc du hành. Jigme Lingpa
viết một bài thơ để an ủi các ngài:
Nếu các ông biết cách đem đau khổ vào con đường của vị bình đẳng,
Mọi hoàn cảnh bất hạnh sẽ xuất hiện như sự hỗ trợ cho các đức hạnh.
Vì thế hãy tự chế việc nuôi dưỡng những quan điểm đối nghịch.
Nếu các ông thực hành như ta giảng dạy,
Tâm các ông và tâm ta sẽ hợp nhất làm một.
sự chứng ngộ siêu vượt mọi khái niệm sẽ sinh khởi, và 110
Các ông sẽ an trú trong bản tánh bao la của Pháp Thân, trong đó không có sự
nhị nguyên.
Cầu mong ước nguyện của các ông được hoàn thành.162
Năm 1788, khi ngài sáu mươi tuổi,163 Jigme Lingpa ban các giáo lý và sự truyền
dạy cho vua và hoàng hậu xứ Dege tại Samye. Họ trở thành những người sùng mộ
của ngài và hoàng hậu trở thành một trong những nhà bảo trợ chính.
Năm sáu mươi hai tuổi, theo khẩn cầu của Göntse Tülku, ngài viếng thăm
Göntse Gönpa xứ Tsona ở Mön và ban giáo lý cùng các sự truyền dạy.
Vào lúc này, Jigme Lingpa có một bệnh về mắt.164 Dodrupchen phải nhân danh
ngài trao truyền bản văn (lung) cho các đệ tử kể cả Götsang Tülku Jigme Tenpe
Gyaltsen. Họ phái Jigme Gyalwe Nyuku đi mời một thầy thuốc, vị này đã thực hiện
thành công một cuộc giải phẫu.
Năm ngài sáu mươi ba tuổi (1791), quân đội Nepal tấn công miền Tây Tây Tạng
và nhiều người phải chịu đau khổ. Jigme Lingpa cử hành nhiều buổi lễ và gởi phẩm
vật cúng dường tới nhiều ngôi chùa để cầu xin hòa bình và sự bảo hộ.
Năm sáu mươi lăm tuổi, Ngài và vị phối ngẫu là Gyalyum Drölkar ở trụ xứ của
Depa Pushü,165 có một con trai tên là Gyalse Nyinche Özer (1793-?).
Jigme Lingpa không thể nhận nhiều lời mời thỉnh. Tuy nhiên, nhờ Gyantse ngài
đi tới Tu viện Thekchok Chöling ở Tsang và ban các giáo lý cùng các sự truyền dạy
cho nhiều đệ tử mà đứng đầu là Khenpo Ogyen Palgön, và ở nhiều địa điểm trên
đường đi. Tu viện này đã tu tập theo dòng Longchen Nyingthig. Ở Tu viện Dorje
Trak, Ngài ban một loạt giáo lý và truyền dạy cho Rigdzin Chenmo và những vị
khác.
Ngài nhận những thư khẩn cầu và vật cúng dường từ vua Mông Cổ Chögyal
Ngawang Dargye (1759–1807),166 một đệ tử của Dodrupchen và Đạo sư của
Zhapkar Tsoktruk Rangtröl (1781–1851).167
Trong khi đó, dựa trên sự giao thiệp giữa vị Dzogchen Rinpoche cuối cùng và
Jigme Lingpa, các Lạt ma của Tu viện Dzogchen thiết tha hỏi xem con trai của ngài
có thể là tülku (tái sinh) của Dzogchen Rinpoche thứ ba hay không, nhưng Jigme
Lingpa không biểu lộ bất kỳ dấu hiệu nào là việc này có thể xảy ra. Chính Gyalse đã
nhớ lại đời quá khứ của mình và cứ nói: “Tôi thuộc về Drikung,” từ khi còn nhỏ.
168
Sau đó Sakya Trichen xác nhận cậu bé là tái sinh của Chökyi Nyima (1755–1792),
vị Chungtsang thứ tư,
169 một trong hai vị lãnh đạo của truyền thống Drikung Kagyü.
Năm sáu mươi chín tuổi, với nghi lễ long trọng, tráng lệ do các tín đồ Drikung tổ
chức, Jigme Lingpa cùng con trai du hành tới Drikung để dự lễ tôn phong cho người
con. Đó là một cơ hội hi hữu để mọi người ở những nơi khác nhau dọc theo con
đường được nhìn thấy và nghe ngài, bậc Đạo sư vĩ đại. Nhưng vì phải du hành dài
ngày và liên tục thực hiện các Phật sự, Đạo sư già yếu đã suy kiệt thể xác. Chẳng
bao lâu, do thay đổi nước và môi trường, ngài ngã bệnh trầm trọng, và có lúc mọi
người đã không còn hy vọng ngài có thể hồi phục. Rồi thật bất ngờ, từ thánh địa
Yama Lung một đệ tử của ngài đem về một viên thuốc Tây Tạng được gọi là karpo
chikthup, và sau khi uống thuốc Ngài hồi phục một cách kỳ diệu và thậm chí còn
tươi trẻ hơn trước, giống như một người mới.
Năm bảy mươi tuổi, từ Drikung ngài trở về Tsering Jong, dừng lại ở rất nhiều
thánh địa trên đường và cử hành các buổi lễ, cúng dường, và ban các giáo lý. Sức 111
khỏe có vẻ khả quan nhưng ngài ít quan tâm tới việc ăn và ngủ. Ngày lẫn đêm, ngài
vẫn an tọa trong tư thế Tỳ Lô Giá Na hay tư thế hiền giả. Đôi mắt ngài không chớp.
Ngài nói rằng ngài còn sống là nhờ làm chủ được sinh lực của mình. Nhiều lần,
ngài nói bóng gió rằng chẳng bao lâu nữa ngài sẽ mất. Nhưng khi các đệ tử trở nên
bấn loạn lo buồn thì ngài thay đổi đề tài hoặc đôi khi còn nói: “Ồ, sẽ không có gì
nguy hiểm cho tánh mạng của ta đâu.” Ngài nói riêng với một đệ tử thân tín rằng
ngài sắp chết và sẽ tái sinh, nhưng không cần phải tìm kiếm hóa thân mới của ngài.
Ngài bảo họ nên tổ chức một tang lễ đơn giản và bằng cách giảng những cách thức
thực hiện, ngài gợi ý rằng họ nên bảo quản thi hài. Khi các đệ tử tỏ ý muốn mời một
y sĩ, Ngài nói: “Ừ! Nếu muốn thì các con có thể mời; nhưng ta không có bệnh thì y
sĩ chữa trị cái gì? Dầu sao chăng nữa cũng đừng mời y sĩ ở phương xa tới, điều đó
chỉ gây thêm nhọc mệt cho người và thú.”
Thật điềm tĩnh, ngài vẫn chăm sóc mọi người và ban gia hộ cùng các giáo lý khi
được yêu cầu. Trong nhiều ngày, mưa hoa rơi xuống quanh trụ xứ của ngài và liên
tiếp xảy ra các trận động đất nhẹ. Một hôm ngài di chuyển tới Namtröl Tse, ẩn thất
mới ở trên cao, và tỏ ra hết sức vui thích được ở đó. Ngài tiếp vài người khách và
ban giáo lý.
Ngay ngày hôm sau, ngày mồng ba tháng chín năm Thổ Ngọ (1798), ngài ban
một giáo lý về thiền định Tārā Trắng. Từ sáng sớm, một mùi hương đậm đà và ngọt
ngào tràn ngập toàn bộ ẩn thất. Bầu trời thật trong trẻo và không một chút gió
nhưng từ bầu trời xanh, một trận mưa dịu lắc rắc liên tục. Mọi người kinh ngạc
nhưng lo âu. Sau đó, khi màn đêm buông xuống, ngài yêu cầu sắp các món cúng
dường mới lên bàn thờ. Khi ngài an tọa trong tư thế hiền giả, mọi hiển lộ của ngài
tan hòa trong bản tánh nguyên sơ.
Các đệ tử của ngài khám phá hai di chúc khác nhau được cất dấu ở hai nơi
riêng biệt. Chúng bao gồm các giáo lý thiền định cho các đệ tử và những chỉ dẫn về
tang lễ và hóa thân của ngài. Một trong hai di chúc có những dòng sau:
Ta luôn luôn ở trong trạng thái tối hậu;
Đối với ta không có đi hay ở.
Cuộc phô diễn của sinh và tử chỉ là tương đối.
Ta giác ngộ trong sự giải thoát nguyên sơ vĩ đại!170
Vài tháng sau tang lễ, tại Tsering Jong và nhiều tu viện và đền thờ ở miền Trung
và miền Đông Tây Tạng và Bhutan, di hài của ngài được đặt trong một stüpa (tháp)
nhỏ bằng vàng ở ẩn thất Tsering Jong, và nó được giữ gìn ở đó cho tới khi ni viện
Tsering Jong bị phá hủy hai thập niên trước.
Sau khi ngài thị tịch, các hóa thân nổi tiếng của ngài gồm: Do Khyentse Yeshe
Dorje (1800–1866), được coi là hóa thân về thân của ngài, Paltrül Rinpoche (1808–
1887), hóa thân về ngữ; và Jamyang Khyentse Wangpo (1820–1892), hóa thân về
tâm.171
Jigme Lingpa viết năm pho sách gồm các luận thuyết sáng tác và các bản văn
terma được khám phá. Các tác phẩm nổi tiếng trong số đó là Longchen Nyingthig,
một tuyển tập các giáo huấn thiền định và bản văn nghi lễ trong hai (hay ba) quyển,
chúng được khám phá như các giáo lý terma; Phurba Gyüluk, một quyển sách về
nghi lễ Vajrakīla, được coi là terma và Kinh điển; Yönten Rinpoche Dzö với tự thuật 112
gồm hai quyển, tác phẩm uyên áo nổi tiếng nhất của ngài; và Yeshe Lama, tác
phẩm trở thành cẩm nang bao quát nhất về thiền định Dzogpa Chenpo trong truyền
thống Nyingma.
Longchen Nyingthig vẫn tồn tại như một truyền thống terma quan trọng, và với
các tác phẩm uyên áo của ngài, dòng truyền thừa của Jigme Lingpa trở thành một
trong những phụ phái phổ biến nhất của truyền thống Nyingma cho tới ngày nay.
Trong dòng Longchen Nyingthig, tất cả các đệ tử và đại đệ tử đều là những đại
hành giả lão luyện, như chính Jigme Lingpa đã tiên đoán:
Trong dòng truyền thừa Nyingthig Quang minh Chói lọi của ta, sẽ xuất hiện
những đứa con (đệ tử) vĩ đại hơn cha và những đứa cháu vĩ đại hơn ông của
họ.
172
Trong số những đại đệ tử của ngài, những người chính yếu đã được Guru
Rinpoche tiên đoán trong Nechang Thukkyi Drombu, cẩm nang tiên tri của
Longchen Nyingthig:
Nhờ những hóa thân của Namkhe Nyingpo, Nyang, Chok-yang,
Và Hoàng tử Linh thánh, cánh cửa của các giáo lý sẽ được mở ra.173
Các đệ tử
174 là Nyangtön Trati Ngakchang Rikpe Dorje (còn gọi là Kong-nyön
Bepe Naljor),175 hóa thân của Namkhe Nyingpo; Lopön Jigme Küntröl xứ Bhutan,
hóa thân của Nyang Tingdzin Zangpo; Thekchen Lingpa Drotön Tharchin (Dri Med
Gling Pa, 1700-1776), hóa thân của Ngenlam Gyalwa Chok-yang; và Dodrupchen
Jigme Thrinle Özer, hóa thân của Hoàng tử Murum Tsepo. Thekchen Lingpa,
Thangdrokpa, và Trati Ngakchang vừa là Thầy vừa là đệ tử của Jigme Lingpa.
Trong số các đệ tử của ngài, những Đạo sư có ảnh hưởng nhất trong việc
truyền bá giáo lý Longchen Nyingthig là: Jigme Thrinle Özer (1745-1821) –
Dodrupchen đệ nhất – là vị Hộ trì Giáo lý chính yếu (rTsa Ba’i Ch’os bDag) của
Longchen Nyingthig. Dodrupchen đã xây dựng ba tu viện:176 Drodön Künkhyap Ling
tại Shukchen Tago ở Thung lũng Do, và Yarlung Pemakö trong Thung lũng Ser.
Jigme Gyalwe Nyuku ở Kham Dzachukha vẫn ở tại ẩn thất Tramalung trong nhiều
năm và về sau di chuyển tới nơi ẩn tu Dzagya. Jigme Küntröl xứ Bhutan xây dựng
Tu viện Dungsam Yonglha Tengye Riwo Palbar Ling177 ở miền Đông Bhutan. Ngày
nay nó được gọi là Yongla Gön ở phía dưới Quận Pema Gatsal, miền Đông Bhutan.
Danh hiệu của những đệ tử chính yếu khác của Jigme Lingpa được liệt kê trong cây
truyền thừa (ở cuối sách).
Trong số những nhà bảo trợ chính của ngài có Depa Pushü đã bảo trợ việc xây
dựng ẩn thất của ngài tại Tsering Jong, nhà vua và đặc biệt là Hoàng hậu Tsewang
Lhamo xứ Dege, là người được tiên tri là hóa thân của Phokyongza Gyalmotsün,
Hoàng hậu của Vua Trisong Detsen,178 đã đặt làm những bản khắc gỗ của các
Tantra Cổ (rNying Ma rGyud ‘Bum), nhiều pho sách của Longchen Rabjam, và chín
quyển sách của Jigme Lingpa. Ngoài ra còn có Tatsak Tenpe Gönpo (mất năm
1810), nhiếp chính của Tây Tạng, và Karmapa thứ mười ba Düdül Dorje (1733-
1797), vị này rất tôn kính ngài khi tham vấn qua thư từ. 113
Mặc dù các đệ tử là thành phần lỗi lạc của xã hội Tây Tạng đã quây quần chung
quanh Jigme Lingpa, ngài chỉ quan tâm tới việc tìm những vị hộ trì dòng truyền thừa
thực sự, là những người hầu như xuất thân từ tầng lớp xã hội bình thường. Nhắc
tới những Đạo sư trong quá khứ, ngài biểu lộ quan điểm:
Có một kẻ hành khất duy nhất có thể hộ trì dòng truyền thừa thì tốt hơn là có
một ngàn người lỗi lạc như các đệ tử của ông.179
Cuộc đời của Jigme Lingpa có vô số những điều huyền diệu, nhưng ngài dấu kín
năng lực huyền bí của mình và sống một cuộc đời hết sức đơn giản. Ngài là một
học giả bẩm sinh không tu hành những giới luật truyền thống, nhưng mọi sự biểu lộ
của ngài được chuyển hóa thành các giáo lý và mọi hoạt động là để phục vụ cho
người khác. Ngài sống ẩn dật như một ẩn sĩ ở một nơi hiu quạnh tại Tsering Jong,
nhưng ánh sáng trí tuệ của ngài đã vươn tới tận mọi ngóc ngách của thế giới Phật
giáo của phái Nyingma, và nó vẫn còn sáng ngời trong nhiều trái tim rộng mở khắp
thế giới. Ngài ra đời với những dấu hiệu tốt lành trên thân, một chữ ĀH trên răng,
một chữ HYA nơi ngón tay cái, một hình dạng vajra (chày kim cương) nơi tim, và
hình một chuông nghi lễ tại rốn. Ngài có những linh kiến về các vị Phật, Bổn Tôn,
những Đạo sư dòng truyền thừa, và đã nhận những giáo lý và gia hộ do sự trao
truyền. Răng180 và tóc181 của ngài biến thành xá lợi như dấu hiệu của việc ngài đã
đạt được những thành tựu Đại Viên mãn cao cấp. Ảnh hưởng quan trọng nhất mà
ngài để lại cho chúng ta là những ngôn từ của Pháp Thân, chân lý tối hậu trong
hình thức những tác phẩm và những giáo lý được khám phá (terma) của ngài. 114
12
DODRUPCHEN ĐỆ NHẤT JIGME THRINLE ÖZER
(1745 – 1821)
DODRUPCHEN Rinpoche Jigme Thrinle Özer 182 là vị hộ trì giáo lý chính yếu (rTsa
Ba’i Ch’os bDag) của giáo khóa Longchen Nyingthig.
Ngài được gọi bằng nhiều tên, trong đó có Künzang Zhenphen, Sönam Chöden,
Changchup Dorje, và Drubwang Dzogchenpa.
Ngài sinh tại Thung lũng Do thượng của Tỉnh Golok ở miền Đông Tây Tạng vào
năm Mộc Ngưu thuộc Rabjung thứ mười hai (1745). Thung lũng Do ở trong Tỉnh
Golok trên biên giới của các miền Amdo và Kham. Zönkho, thân phụ của
Dodrupchen, xuất thân từ một bộ tộc chiến sĩ tên là Puchung trong dòng Mukpo
Dong. Thân mẫu của ngài là Sönamtso, xuất thân từ bộ tộc Nizok (Nubzur).
Việc ngài ra đời đã được Guru Rinpoche tiên tri:
Ở miền đông xuất hiện một người tên là Özer,
Có lòng sùng mộ mãnh liệt, hành vi phi thường, tâm thức mạnh mẽ, và tràn
đầy trí tuệ.
Ngài sẽ hộ trì những giáo lý kho tàng tâm.
Và truyền bá các giáo lý này với sự hỗ trợ của nhiều người hữu duyên.183
Khoảng ba tuổi, Dodrupchen bắt đầu tiết lộ những hồi ức về các đời trước của
ngài. Cha mẹ ngài không muốn ngài nhắc lại những điều đó, bởi họ sợ ngài bị một
thế lực quỷ ma ám nhập. Khoảng bốn hay năm tuổi, thỉnh thoảng ngài chứng kiến
những ánh sáng diệu kỳ của các thị kiến Tögal, và ngài đắm chìm trong đó với một
cảm xúc cả vui lẫn buồn.
Năm sáu hay bảy tuổi, ngài nhận ra và sau đó nhớ lại những nỗi khổ của con
người do sự nghèo khó, bệnh tật, già nua, và cái chết. Bởi thế, một nỗi buồn vô
biên xâm chiếm trái tim nhỏ xíu của ngài, và khuôn mặt nhỏ bé của ngài luôn luôn
đẫm lệ. 115
Năm lên bảy, cha mẹ ngài gởi ngài tới người chú, là một Lạt ma, để học tiếng
Tây Tạng và Kinh điển. Ngài có thể đọc được những lời cầu nguyện sau khi chú
ngài dạy một lần, trong khi những người khác thì phải lập lại nhiều lần mới học
được. Mặc dù Dodrupchen sinh ra như những Đạo sư vĩ đại trong những đời quá
khứ của ngài, lúc còn nhỏ ngài không được thừa nhận là một tülku. Vì thế ngài
được ban cho sự may mắn và những thách thức khi trải qua việc học tập và tu hành
như một hành giả bình thường phải làm ở Tây Tạng.
Năm lên mười, ngài khám phá những giáo lý terma nhưng chúng không tồn tại
bởi không ai nghĩ là chúng quan trọng. Ngài có vô số những thị kiến và những giấc
mơ trong đó các Đạo sư giao phó các giáo lý và gia hộ cho ngài và cũng cảnh báo
ngài về mối nguy hiểm nào đó đang tới. Thêm nữa, bởi tâm ngài luôn luôn tràn
ngập lòng bi mẫn, khi cha mẹ ngài không để ý, ngài khóc nức nở trước những nỗi
khổ mà mọi người đang trải nghiệm và cố gắng giúp đỡ họ, ít nhất là cầu nguyện
cho họ. Ngài không bao giờ có ý xấu đối với bất kỳ ai, ngay cả với những người cố
gắng làm hại ngài. Ngài luôn luôn thẳng thắn, dũng cảm, và mạnh mẽ trong việc
biểu lộ những tư tưởng của ngài. Ngài rộng lượng và đầy nghị lực trong những sự
phục vụ để cải thiện cuộc sống của người khác.
Năm mười bốn tuổi, ngài vào Tu viện Gochen thuộc dòng Palyül và nhận giáo lý
từ Sherap Rinchen cho tới khi vị Thầy đó mất. Sherap Rinchen là một đệ tử của
Pema Lhündrup Gyatso (1660-1727), đã tu học với Künzang Sherap (1636-1699),
người sáng lập dòng Palyül. Sherap Rinchen ban cho ngài Pháp danh Sönam
Chöden. Ngài đã học tập và thiền định về nhiều giáo lý, chủ yếu là Dzopa Chenpo
và Tsalung, và đã đáp ứng yêu cầu của những việc trì tụng và tu tập. Tuy nhiên,
ngài không có nhiều tiến bộ trong kinh nghiệm tâm linh ngoại trừ những kinh
nghiệm ngài đã có.
Năm hai mươi mốt tuổi, Dodrupchen đi miền Trung Tây Tạng xuyên qua Dege
cùng với sáu tu sĩ khác. Trên đường đi ngài nhận giáo lý từ Situ Chökyi Jungne
(1700-1774) tại Tu viện Palpung ở Dege.
Cuối cùng họ tới Taklha Gampo, trụ xứ tu viện của Gampopa (1079-1153), đệ tử
chính của Milarepa (1040-1123). Ở Taklha Gampo, Gampopa Jampal Thrinle
Wangpo đệ Ngũ (Mipham Wangpo, 1757-?) đặt tên cho Dodrupchen là Sönam
Chöden. Với Đạo sư Tamchö Wangchuk, một đệ tử của Gampopa Zangpo Dorje đệ
Tam, Dodrupchen học Ngöndro, Chakchen Chödruk, và Phowa của các truyền
thống Takpo và Zatsön và nhiều giáo lý khác. Sau đó ngài đi hành hương tới Tsāri,
một trong những thánh địa ở Tây Tạng, với nhiều gian khổ về mặt thân xác. Ở đó,
trong một linh kiến, ngài nhận những gia hộ của Đức Vajravārāhī, một vị Phật trong
thân tướng nữ. Chẳng bao lâu mọi tiếng nói, nỗi sợ hãi, và gian khổ mà ngài đang
kinh nghiệm trong chuyến hành hương biến thành một kinh nghiệm đại lạc, và ngài
cảm thấy rất hoan hỉ và mãn nguyện.
Trên đường từ Tsāri trở về Taklha Gampo, Tamchö Wangchuk gởi ngài tới một
nghĩa địa để thực hành pháp Chö vào ban đêm và nói: “Bất kỳ điều gì xảy ra, đừng
bỏ cuộc!” Vì thế Dodrupchen đi tới nghĩa địa và thực hành Chö vào buổi tối. Lúc
nửa đêm, khi ngài thức dậy, ngài nhìn thấy tảng đá phía sau ngài biến thành một
con quái vật khổng lồ và khủng khiếp với mái tóc dài và những chiếc răng sắc nhọn.
Dodrupchen hoảng sợ, và thân thể ngài run lên. Ngài không thể ngủ lại, nhưng nhớ
lại lời dạy của Lạt ma, sau khi thực hiện thực hành Chö khác, ngài vẫn nằm ở đó, 116
lưng ngài dựa vào con quái vật. Trước lúc bình minh ngài thực hiện thực hành Chö
thứ ba và cuối cùng. Chẳng bao lâu trời sáng và không có gì ngoài tảng đá. Ngài
cảm thấy rất hạnh phúc, như thể ngài đã được ban cho một cơ hội khác để sống.
Từ chỗ đó, ngài đi thẳng tới trụ xứ của Lạt ma. Nhờ sự thấu thị vị Lạt ma biết những
gì đã xảy ra và đang chờ ngài. Với một nụ cười rộng mở, Lạt ma hỏi: “Thiền định tốt
đẹp của con vẫn còn đó chứ?” Dodrupchen trả lời: “Không, nó biến mất rồi!” Lạt ma
nói: “Con đã thực hành rất tốt! Con bị vướng mắc vào cái gọi là những kinh nghiệm
thiền định tốt đẹp của con, nó sẽ gây nên những tái sinh trong những cõi giới cao
trong sinh tử. Ta gởi con tới nghĩa địa để làm tan biến những vướng mắc đó. Vì thế
đừng cảm thấy hối tiếc là con đã mất những kinh nghiệm. Con đã thực hành tốt bởi
không rời bỏ nghĩa địa.” Sau đó, sử dụng sự việc này như phương tiện để giới thiệu
bản tánh tối thượng, Lạt ma hỏi: “Có thực thể nào thực sự hiện hữu trong những nỗi
sợ đó không? Chúng không xuất hiện và tan biến trong bản tánh rộng mở của riêng
chúng [thoát khỏi mọi giới hạn] sao?” Sau đó ở Ösal Phuk, Hang động Quang minh,
Dodrupchen thực hiện một cuộc nhập thất dài hạn với rất ít thực phẩm.
Với những bạn đồng hành, Dodrupchen hành hương tới Samye, Lhasa, và
những thánh địa khác ở miền Trung Tây Tạng. Sau đó họ trở về quê hương. Trên
đường, tại Dege, Dodrupchen nhận các giáo lý từ Künzang Namgyal (1713-1769),
Rabjam đệ Nhị của Tu viện Zhechen. Vị Thầy này ban cho ngài danh hiệu Künzang
Zhenphen. Ngài cũng nhận giáo lý từ Küntröl Namgyal (1706-1773), Jewön đệ Nhất
của Tu viện Dzogchen, và Karma Tashi (1728-1790), Karma Kuchen đệ Nhất của
Tu viện Palyül.
Từ năm hai mươi lăm tới ba mươi tuổi, ngài ở gần thung lũng ở quê nhà vì một
người chú già nhân danh Giáo Pháp đã nài nỉ ngài đừng bỏ đi cho tới khi ông chết.
Bởi Dodrupchen thuộc về một nhóm bộ tộc hùng mạnh, những bổn phận truyền
thống bắt buộc ngài chú ý tới những trách nhiệm của bộ tộc. Ngài là một diễn giả
đầy sức thuyết phục với một trái tim vô úy và một nhân cách mạnh mẽ, điều đó làm
ngài trở thành một nhân vật được ngưỡng mộ nhất của bộ tộc. Một hôm, ngài đang
du hành trong thung lũng để thâu thập một ít công nợ và cưỡi một trong những con
ngựa nổi tiếng nhất trong cộng đồng bộ tộc. Thình lình một sự hối tiếc mãnh liệt về
sinh tử tràn ngập tâm hồn ngài. Điều này lập tức làm cho tất cả những hình tướng ở
trước ngài biến thành Cõi Tịnh độ của Đức Phật A Di Đà. Đó là một bầu không khí
tuyệt đẹp mà tâm thức không thể tưởng tượng nổi. Mọi sự bám chấp và tham muốn
trong tâm ngài đã tan biến. Rồi với một giọng nói thật hấp dẫn, Đức Phật A Di Đà
đại lạc nói: “Nam tử của gia đình tốt lành, đừng ở đây. Hãy đi bất kỳ nơi đâu con
thích. Những mục đích của con sẽ được hoàn thành.” Sau đó Dodrupchen xuất định
từ cõi giới linh kiến tâm linh và trải nghiệm cuộc đời bình thường, như thể ngài
được đánh thức từ một giấc ngủ sâu. Dodrupchen viết: “Kinh nghiệm này có thể chỉ
kéo dài trong thời gian dùng để uống hai tách trà,” có lẽ khoảng hai mươi phút. “Từ
lúc đó, cảm nhận của tôi đối với ngay cả những loại thịnh vượng, quyền lực, và lợi
lạc thế gian tuyệt vời nhất trở thành như thể thực phẩm ê hề ở trước mặt một người
bệnh không cảm thấy thèm ăn chút nào.” Rồi ngài nói tiếp: “Mặc dù kinh nghiệm này
có thể chẳng có ý nghĩa gì to tát, nhưng đó là phần tốt lành nhất trong câu chuyện
của đời tôi.” 117
Dodrupchen đi tới Tu viện Dzogchen, ở đó ngài nhận những trao truyền Khandro
Nyinthig và các giáo lý từ Pema Sang-ngak Tendzin (1731-1805), Pönlop thứ hai,
và ngài thiền định về những giáo lý này.
Sau đó cùng với bốn tu sĩ khác ngài bắt đầu một chuyến du hành thứ hai tới
miền Trung Tây Tạng. Trên đường đi ngài bị bệnh rất nặng, các thầy thuốc và bằng
hữu của ngài rất ít hy vọng ngài hồi phục, nhưng ngài từ chối ngay cả việc dùng
thuốc. Tuy nhiên, sau một thời gian ngài bình phục, chỉ nhờ năng lực của chuyến
hành hương và sức mạnh thiền định thâm sâu của ngài.
Cuối cùng, họ tới Taklha Gampo một lần nữa và nhận giáo lý từ Gampopa
Jumpal Thrinle Wangpo đệ Ngũ (Tsültrim Palbar). Sau đó họ đi hành hương tới
Yarlung, Samye, Tashi Lhünpo, Sakya, Tsurphu, Lhasa, và Drikung. Ngài cũng
nhận giáo lý từ Karmapa thứ Mười ba Düdül Dorje (1733-1797), vị này ban cho ngài
Pháp danh Karma Wangtrak.
Sau đó ngài trở về Tu viện Dzogchen. Bởi ngài cảm thấy thiền định không thoải
mái trong tu viện có quá nhiều phóng dật, ngài đi Kangtrö Ogma, Núi Tuyết Hạ,
không quá xa Tu viện Dzogchen.
Năm ba mươi lăm tuổi ngài bắt đầu một cuộc nhập thất ba năm trong một hang
động trong vùng núi cô tịch Kangtrö Ogma, thực hành Könchok Chidü và nhiều giáo
lý khác, và đặc biệt là Tögal trong mùa hè và Tsalung vào mùa đông. Ngài thụ
hưởng sự an bình tuyệt diệu của bầu không khí ở đó, nhưng ngài đã thệ nguyện
hiến mình cho việc tu tập mà không để bản thân mình bị xao lãng ngay cả một giây
trong việc thưởng thức ngoại cảnh. Tuy nhiên sau khoảng một tháng, một sự xáo
trộn to lớn (Lhong Ch’a) phát khởi trong ngài. Ngài khó có thể làm dừng lại những
con sóng náo động của tư tưởng, cảm xúc và những ảo ảnh. Bây giờ sinh lực (Srog
rLung) của ngài bắt đầu có những rối loạn, những triệu chứng đưa ngài tới bờ vực
của sự điên loạn. Mọi hình tướng xuất hiện như những kẻ thù. Thậm chí ngài nhìn
thấy những con thú đáng sợ trong ấm trà. Ngài cảm thấy mình bị liên lụy trong cuộc
chiến đấu bằng vũ khí. Một đêm trong giấc mơ ngài nghe một tiếng hét khủng khiếp,
và ngài cảm thấy hầu như trái tim ngài bị chẻ ra. Ngay cả sau khi thức dậy, ngài vẫn
nghe tiếng kêu tương tự và sau đó nhìn thấy ánh sáng tối tăm giống như một cây
cột nối kết bầu trời và mặt đất. Thân ngài run lên dữ dội. Ngài cảm thấy một nỗi
khiếp hãi không thể chịu đựng nổi và sợ rằng bầu trời và mặt đất lộn ngược lại.
Nhưng sau một lát, mọi hình tướng rối loạn tan biến vào bản thân ngài, cái “tôi,” là
cái đơn thuần phóng chiếu và kinh nghiệm mọi hình tướng đó. Sau đó ý niệm “tôi”
cũng siêu vượt mọi tạo tác. Tâm thức sợ hãi và những đối tượng của sự sợ hãi tan
hòa thành nhất vị của bản tánh tối thượng, sự hoàn toàn mở trống. Những nỗi sợ
hãi về các giấc mơ và kinh nghiệm của ngài đã tan biến không còn để lại ngay cả
một dấu vết. Vào lúc này, ngài viết: “Tôi kinh nghiệm một sự chứng ngộ trong đó
không có sự định danh cái thấy nào để chứng ngộ hay sự thiền định nào để tuân
theo. Nhờ ở trong trạng thái chứng ngộ, nỗi sợ của tôi về những kinh nghiệm tiêu
cực cũng như niềm vui đối với những kinh nghiệm hỉ lạc không còn nữa.”
Ngay trước khi đạt tới một chứng ngộ cao, thường thì các thiền giả kinh nghiệm
những cuộc chiến đấu quen thuộc, đầy cảm xúc, có tính chất quyết định trong tâm
thức trong những hình thức khác nhau hay những cấp độ cám dỗ, những ảo tưởng
đáng sợ, những âm thanh đe dọa, hay những cảm xúc đau khổ. Nhiều Đạo sư vĩ
đại đã có những loại kinh nghiệm tương tự trước khi các ngài đi vào những trạng 118
thái chứng ngộ cao cấp. Nếu quý vị không chịu thua những loại rối loạn vào giây
phút cuối này do những tập khí vi tế ẩn dấu tạo ra và vượt lên tất cả những cuộc
chạm trán này bằng cách an trụ trong trạng thái chứng ngộ, giống như rũ tấm thảm
cho sạch bụi, quý vị sẽ đạt được sự tự do toàn triệt thoát khỏi những sở tri chướng
và phiền não chướng với mọi dấu vết của chúng. Một người có một kinh nghiệm
được gọi là kinh nghiệm thiền định êm ả có thể nghĩ: “Tôi đang thực hành tốt đến
nỗi tôi không có những kinh nghiệm xáo trộn,” nhưng sự thực có thể là người ấy
chưa tiêu diệt được tận gốc những sở tri chướng và phiền não chướng và những
tập khí của họ.
Sau một thời gian, thực phẩm của Dodrupchen bị cạn kiệt và trong một thời gian
dài, ngoại trừ một ít trà, ngài không có nhiều thực phẩm để dùng. Thân ngài trở nên
yếu ớt, giống như một người ở trên giường bệnh. Hầu như ngài không thể di
chuyển, hơi thở trở nên nặng nề và ngực của ngài bị nghẹt. Một hôm, khi bình nước
đã cạn, ngài đi ra ngoài để lấy một ít nước từ một cái ao ở ngoài hang. Trên đường
trở về, khi leo lên hang, bởi sức nặng của cái bình nên ngài ngã xuống và ngất đi.
Sau một lát ngài lấy lại ý thức và cố gắng đứng dậy nhưng không thể được. Những
tư tưởng xuất hiện trong tâm ngài: “Bây giờ thì không có cách nào thoát khỏi cái
chết. Ta phải làm gì?” Rồi một tư tưởng khác phát sinh: “Thật buồn nếu ta chết
trong khi đang làm những hành vi phi đạo đức, nhưng ta đang chết trong khi thực
hành Pháp, vì thế ta nên hoan hỉ.” Tư tưởng này mang lại một cảm xúc hỉ lạc trong
ngài, và niềm vui mang lại cho ngài sức mạnh để đứng dậy. Ngài trở về hang, tự
chữa bệnh bằng khói từ việc đốt một ít tsampa184 mà ngài đã để dành để dùng vào
mục đích làm an dịu những dịch khí mãnh liệt của ngài. Sau đó ngài dùng một cái
bình nhỏ hơn và lấy một ít nước. Ngài pha và uống trà, nhưng ngài không có thực
phẩm đặc trong một thời gian dài, trà làm cho thân thể ngài rung lắc dữ dội và ngài
gặp nhiều khó khăn trong việc làm an dịu nó.
Sau đó ngài nghĩ: “Ta đi tới Tu viện Dzogchen và lấy một ít thực phẩm thì tốt
hơn. Nếu không, ta sẽ chết, và điều đó sẽ là một chướng ngại cho việc thực hành.”
Ngài rời hang động và theo một con đường nhỏ xuống đồi, nhưng ngài yếu đến nỗi
lại ngã xuống. Khi đứng dậy, ngài nghĩ: “Ta mới điên làm sao. Các Lạt ma của ta chỉ
thị ta thực hành. Tuân theo những giáo huấn của các Lạt ma là thực hành chính
của ta. Đi tìm thực phẩm là sai lầm. Cho dù chết, ta sẽ không rời khỏi phòng thiền
định cho tới khi chấm dứt khóa nhập thất.”185 Ngài trở về hang và lại tiếp tục thiền
định như thường lệ. Sau một lát ngài nghe có tiếng gõ cửa, nhưng bởi đang thực
hành nên ngài không để ý tới. Vào lúc nghỉ thực hành, ngài tìm thấy ở cửa một hũ
sữa chua, ngài mang vào trong và ăn. Sữa chua được cho là có những phẩm tính
chữa bệnh đặc biệt, không những giúp ngài phục hồi sức khỏe mà còn trợ giúp cho
việc thiền định của ngài. Ta được biết là những nữ Hộ pháp Tseringma, các Chị em
Trường Thọ, đã cúng dường sữa chua cho ngài. Từ lúc đó, những vùng xung
quanh hang thiền định được gọi là Tsering Phuk, Động của Tseringma. Ít ngày sau
các Pháp lữ (bạn Pháp) của ngài cung cấp thực phẩm cho ngài. Cái bình đựng sữa
chua do Tseringma để lại, làm bằng đồng đỏ mạ vàng, được bảo quản mãi đến cuối
thập niên 1950 trong một bảo tháp ở Tu viện Dzogchen.
Năm ba mươi tám tuổi Dodrupchen di chuyển tới Động Shinje (Động Tử Thần)
gần Tu viện Dzogchen, và ở đó ngài thực hiện khóa nhập thất bốn năm khác, ngoại
trừ một gián đoạn ngắn khi ngài phải đi tới tu viện. Ngài đã thực hành năm Bổn tôn 119
Chakrasamvara của dòng Takpo, Mekhyil Guru Phẫn nộ và Vajrakīla Yangsang Lame, tất cả đều do Ratna Lingpa khám phá. Sau đó ngài thiền định về Shinje
(Yamarāja, Tử Thần) và một hôm ngài dùng ngón tay viết thần chú trên đá như thể
trong bùn. Từ lúc đó, hang động này được gọi là Động Shinje, và tôi được nghe nói
rằng vẫn còn có thể nhìn thấy thần chú trên đá.
Sau đó ngài nhận sự trao truyền Tsasum Sangwa Nyingthig từ Dzogchen
Rinpoche đệ tam (1759-1792), và ngài thực hiện một khóa nhập thất ngắn về giáo lý
này với nhiều kinh nghiệm và linh kiến. Trong thời gian nhập thất đó, Dzogchen
Rinpoche đệ tam gởi cho ngài một bản sao Yönten Rinpoche Dzö. Việc đọc bản văn
này khiến ngài phát khởi “lòng sùng mộ tự nhiên” đối với tác giả của nó là Jigme
Lingpa.
Dodrupchen đi gặp Dzogchen Rinpoche, người đã khuyến khích ngài tới gặp
Jigme Lingpa và nói: “Việc tới thăm Jigme Lingpa sẽ làm lợi lạc cho ông hơn là ở
trong ẩn thất.” Dzogchen Rinpoche cũng thúc giục Dodrupchen nhân danh ngài
thỉnh mời Jigme Lingpa tới Kham hay ít nhất là mang lại sự trao truyền Longchen
Nyingthig cho ngài và những người khác. Từ Dzogchen Rinpoche ngài nhận những
trao truyền và giáo lý Nyingthig Yabzhi và nhiều giáo lý khác.
Tại một nơi nào đó ở Dege, Dodrupchen tới một con sông lớn nhưng không tìm
được phương tiện để qua sông. Ngài an trụ trong thiền định nhìn con sông như mặt
đất và băng qua con sông như thể trên đất khô ráo. Khi hầu như đã ở bên kia bờ,
ngài nghĩ: “Ồ, việc thiền định của ta thật tuyệt,” và ngay lúc đó ngài chìm xuống
sông và suýt chết đuối. Vì thế về sau ngài vẫn nói: “Tư tưởng thật là nguy hiểm.”186
Năm bốn mươi mốt tuổi
187 Dodrupchen đi miền Trung Tây Tạng lần thứ ba. Lần
đầu tiên Ngài gặp Jigme Lingpa, guru theo nghiệp (vị Thầy định mệnh) của ngài tại
nhà của Depa Pushü gần ẩn thất Tsering Jong trong Thung lũng Yarlung, miền Nam
Tây Tạng. Đó là một thời điểm hết sức hoan hỉ, giống như sự sum họp của cha và
con đã lạc nhau lâu ngày.188 Jigme Lingpa nói: “Đêm qua ta mơ thấy cuộc gặp gỡ
với một Bồ Tát, và Bồ Tát đó hẳn là ông.” Dodrupchen nhìn Jigme Lingpa như
Thangtong Gyalpo và kinh nghiệm nhiều linh kiến và những phát hiện.
Dodrupchen nhận Bồ Tát giới với Jigme Lingpa. Đêm hôm đó, trong giấc mơ
189
chói ngời, Dodrupchen nhìn thấy những bát xá lợi và di cốt của Đức Phật Ca Diếp
được rút ra từ một bảo tháp màu trắng. Đó là dấu hiệu cho thấy Dodrupchen đang
hồi phục giới nguyện mà ngài đã thọ trước Đức Phật Ca Diếp khi ngài là nam tử
của của Vua Krikrī vào thời Đức Phật Ca Diếp.
Trong khi nhận quán đảnh Lama Gongdü, Dodrupchen nhớ lại thật rõ ràng
không chút nghi ngờ trong tâm ngài rằng Jigme Lingpa là Nyang Nyima Özer (1124-
1192) và bản thân ngài là Sangye Lingpa (1340-1396).
Jigme Lingpa ban cho Dodrupchen toàn bộ những trao truyền về các giáo lý
kama và terma, kể cả Longchen Nyingthig, Yönten Dzö, cùng bình giảng của nó,
Dzödün, Shingta Namsum, Trölthik, và Nying Gyü. Jigme Lingpa ban cho ngài danh
hiệu Jigme Thrinle Özer, Những Tia sáng của Hành động Giác ngộ Vô úy.
Khi Dodrupchen ở Samye, Barchung Gomchen Rigdzin và Mange Pema
Künzang từ Kham tới trong một chuyến hành hương. Với một lá thư, Dodrupchen
gởi họ tới Jigme Lingpa để cầu xin giáo lý. Sau này Pema Künzang trở thành Jigme
Gyalwe Nyuku, đệ tử lừng danh của Jigme Lingpa. Sau khi nhận giáo lý trong hai
tuần, Rigdzin và Gyalwe Nyuku trở về Dodrupchen ở Samye. Tất cả các ngài cùng 120
đi hành hương ở miền Trung Tây Tạng. Sau đó các ngài tới thăm đại thiền giả
Rigdzin Pema She-nyen ở Tsang và nhận nhiều sự trao truyền Changter (Kho tàng
phương Bắc).
Sau đó Dodrupchen từ Tsang trở về Lhasa cùng với Gyalwe Nyuku, người đang
trên đường đi Kham. Trong khi các ngài đang vượt qua một xứ không người ở miền
Yadrok Trung Tây Tạng, Dodrupchen bị bệnh nặng, nhưng tâm ngài vẫn rất phấn
khởi. Gyalwe Nyuku viết:
Khi chúng tôi, Đạo sư và đệ tử, đang đi xuống trong Thung lũng Yadrok, Đức
Lạt ma [Dodrupchen] bị bệnh khí và thấp khớp rất nặng. Ngài thường xuyên
rất đau đớn và yếu tới nỗi hầu như ngài sắp chết. Chúng tôi không có nhiều
thực phẩm ngoại trừ một mẩu mỡ thú vật thối rữa và một hũ dầu. Chúng tôi
không có ngay cả một muỗng tsampa. Chúng tôi uống trà đen. Sau khi ngài
ngồi xuống để nghỉ ngơi, để cho ngài đứng dậy, tôi phải giúp bằng cách kéo
ngài lên với toàn bộ sức mạnh của hai bàn tay tôi. Mặc dù thể xác của ngài
đang trong tình trạng nguy kịch, thay vì tuyệt vọng, ngài nói: “Ồ, hôm tay ta
may mắn được theo đuổi một chút khổ hạnh trong việc thực hành Pháp bằng
cách đặt một ít gánh nặng trên tử thi của ta và bằng cách điều phục tâm tham
muốn của ta. Ta đang thành tựu mục đích đối với đời người quý báu của ta…
Chắc chắn là những kinh nghiệm về nỗi gian khổ ta đang trải qua là những kết
quả may mắn được tạo ra bởi việc tích tập những công đức và tịnh hóa các
che chướng trong vô số cuộc đời của ta trong quá khứ.” Tâm ngài vô cùng
hoan hỉ. Tôi cũng rất vui, nói rằng: “Thật kỳ diệu khi Đức Lạt ma này đang đưa
vào thực hành [những gì Đức Phật đã dạy:]”
Hãy bảo tồn Pháp [sự chứng ngộ] vĩnh viễn,
Ngay cả phải trả giá bằng việc vượt qua một đống lửa hay một cánh đồng
dao sắc.
Hơn nữa, thỉnh thoảng khi Lạt ma không nhìn, tôi kêu khóc rất nhiều và nghĩ
rằng:
Con người thánh thiện này đang chết ở nơi đây mà thậm chí không ai biết
tới.190
Từ Lhasa, Gyalwe Nyuku trở lại Tsang, miền Tây Tây Tạng, và Dodrupchen đi
Kham, miền Đông Tây Tạng. Nhưng sau một cuộc hành trình vài ngày, Dodrupchen
không thể chịu đựng nổi việc rời xa vị Thầy mà không nhìn thấy ngài một lần nữa.
Vì thế ngài trở về miền nam và đi thăm Jigme Lingpa, trước sự vô cùng ngạc nhiên
và vui thích của vị Thầy. Dodrupchen nhận thêm các trao truyền và giáo lý. Jigme
Lingpa xác nhận Dodrupchen là hóa thân của Thái tử Murum Tsenpo, nam tử của
Vua Trisong Detsen, và trao quyền (gia lực) cho ngài là vị hộ trì chính yếu của giáo
lý Longchen Nyingthig, như được tiên tri trong Nechang Thukkyi Drombu:
Một hóa thân của Lhase [Thái tử Siêu phàm]
sẽ mở ra cánh cửa của giáo lý [Longchen Nyingthig].191121
Trên đường về Thung lũng Do, theo khẩn cầu của Akyongza Paldzom, nữ thủ
lãnh của Thung lũng Do Thượng, Dodrupchen đặt nền móng của một gompa tại
Shukchen Tago, ở vị trí Tu viện Dodrupchen hiện nay đi xuống khoảng mười dặm.
Nhưng không lâu sau đó ngài đi Dege và việc xây dựng bị ngưng lại.
Tại Tu viện Dzogchen, ngài trao truyền các văn bản của Longchen Nyingthig cho
Dzogchen Rinpoche Đệ Tam (1759-1792) và Pönlop Đệ Nhị (1731-1805) của Tu
viện Dzogchen. Một lần nữa với sự phê chuẩn của Dzogchen Rinpoche,
Dodrupchen đi tới miền Trung Tây Tạng lần thứ tư và là lần cuối cùng, với những
vật cúng dường khổng lồ. Đi cùng với ngài là Getse Lama Sönam Tendzin (Jigme
Ngotsar)192 và một vài người khác. Lần này ngài nhìn thấy Jigme Lingpa tại nhà của
Depa Lha Gyatri (Gyari).
Sau đó cùng với Jigme Lingpa ngài du hành tới Samye.193 Trong ngôi chùa
chính ở Samye, Dodrupchen bảo trợ và tổ chức một lễ cúng dường tsok khổng lồ
do Jigme Lingpa chủ tọa. Ngài nhận giới nguyện Bồ Tát một lần nữa từ Jigme
Lingpa, và các ngài cùng nhau tụng nhiều Zangpo Chöpe Mönlam. Ngài bảo trợ một
mendrup, sự chuẩn bị “thuốc gia hộ,” trong bảy ngày dưới sự chủ tọa của Jigme
Lingpa. Xin nhớ rằng ngôi chùa chính của Samye là nơi Guru Rinpoche giao phó
giáo lý Longchen Nyingthig cho Vua Trisong Detsen, một hóa thân đời trước của
Jigme Lingpa, và đã trao truyền giáo lý cho Thái tử Murum Tsepo, hóa thân đời
trước của Dodrupchen, trong một số thế kỷ trước.
Sau đó các ngài cùng du hành tới Tsering Jong. Jigme Lingpa ban nhiều quán
đảnh, nhưng bởi ngài có vấn đề về thị lực nên Dodrupchen đã ban những trao
truyền văn bản (Lung) của Nyingma Gyübum và những giáo lý khác cho tülku của
Tsele Götsang Tülku, Jigme Tenpe Gyaltsen của Thangdrok, và nhiều người khác
nhân danh Đạo sư của mình.
Năm 1791, khi Dodrupchen ở Samye, lực lượng Gurkha của Nepal cướp bóc
nhiều nơi ở miền Tây Tây Tạng, kể cả thị trấn Shigatse và Tu viện Tashi Lhünpo.
Dân chúng ở miền Trung Tây Tạng lo sợ một ngày nào đó lực lượng Gurkha sẽ tràn
qua, và nhiều người đã trốn khỏi thị trấn và tu viện của họ.
Do khẩn cầu của những người sợ hãi, sau khi hoàn tất những lễ cầu nguyện ở
chùa chính của Samye, Dodrupchen đi tới Đồi Hepori và thực hiện một lễ cúng
dường Sang (cúng dường khói). Ngài cầu khẩn các vị Hộ Pháp và nhắc họ về việc
họ đã thệ nguyện bảo vệ Tây Tạng ngay trước mặt Guru Rinpoche. Khói của lễ
Sang làm thành hình dạng một chim garuda (kim xí điểu, loài chim huyền bí giống
như đại bàng) trong không trung và được cuốn về phía những kẻ xâm lăng. Lúc mặt
trời lặn, ngài ném một torma (bánh cúng) về hướng Tây. Vào lúc đó, một đám mây
u ám và một cơn bão mạnh đang xuất hiện từ hướng Tây, nhưng ngay khi ngài ném
torma thì thật là kỳ diệu, đám mây quay ngược lại về hướng Tây.
Sau đó, trong một bài kệ, Dodrupchen ban một tiên tri nói rằng không có lý do gì
phải sợ lực lượng Nepal nữa, và ngài gởi tiên tri này cho chính phủ ở Lhasa. Bởi sự
bảo đảm của ngài, dân chúng ở Samye không chạy trốn nữa. Ngài muốn đi thăm
Jigme Lingpa nhưng không thể, vì không có sẵn thuyền để vượt Sông Tsangpo.
Sau đó ngài đi tới Kordzö Ling, ngôi chùa của các Hộ Pháp tại Samye. Trước hết
ngài tụng những bài cầu nguyện và cử hành các buổi lễ. Nhưng thình lình dáng
điệu của ngài hoàn toàn thay đổi. Ngài la hét trước hình ảnh của Pehar, Hộ Pháp 122
chính của Tây Tạng, đánh vị này bằng khăn, kéo khăn phủ hình ảnh xuống, và
thách thức việc Hộ Pháp hứa nguyện bảo vệ Tây Tạng trước mặt Guru Rinpoche.
Cuối cùng, ngài cảm thấy bình an và an trụ trong sự thiền định trong sự an bình đó
một thời gian dài. (Tôi đã nghe những câu chuyện nói rằng người ta thấy hình ảnh
run rẩy, và sương mù như khói xuất hiện từ miệng và mũi của bức hình và bốc lên
không trung, tạo thành những trận mưa đá và bệnh dịch trong lực lượng xâm lăng.)
Kalön Dzasak Lama Kalzang Namgyal, một trong những viên chức cao cấp của
chính phủ Tây Tạng, đã phái một sứ thần đặc biệt tới gặp Dodrupchen để nhận tiên
tri của ngài về mối nguy hiểm của xứ Nepal. Dodrupchen viết lời tiên tri trong một
bài kệ bao hàm những dòng sau đây và gởi cho Lạt ma Kalön:
Trong [tâm tôi, là] sự thuần tịnh nguyên thủy như-pha lê,
Xuất hiện những lời và những biểu lộ sau đây:
Khi các ông thanh thản, Ôi những người ngạo mạn
Phình to với sự kiêu căng,
Đừng nghe những lời không căn cứ.
Đừng bỏ chạy sang xứ sở vô danh..
Khi bốn tỉnh của miền Trung Tây Tạng đang bị đe dọa bởi nạn hạn hán trầm
trọng, Dodrupchen cử hành một lễ cúng dường lửa (homa), và điều đó tạo nên trận
mưa lớn, làm giảm bớt rất nhiều nguy cơ bị đói kém của nhiều người.194
Từ Samye, Dodrupchen đi tới Tsering Jong. Vào lúc đó, Jigme Lingpa không
đọc được nhiều do bị bệnh về mắt, có thể là bệnh đục nhân mắt. Jigme Gyalwe
Nyuku cho người mời một thầy thuốc nhãn khoa, vị này thực hiện một ca mổ thành
công. Trước khi cáo từ một lần cuối, Dodrupchen cúng dường mọi sự ngài có, kể cả
chiếc mũ cũ mà ngài yêu thích, cho Jigme Lingpa. Ngài kinh nghiệm một niềm vui
và an bình to lớn như kết quả của hành động này.
Khi tán thán Dodrupchen, Jigme Lingpa ban lời chỉ dạy bằng văn bản, gồm có
những giòng sau đây:
Một người có thể chữa lành những rối loạn của các yếu tố (đại) [thuộc vật lý và
môi trường],
Người có thể điều phục những hoàn cảnh tiêu cực, và
Người có thể thành tựu bất kỳ điều gì vị Thầy ra lệnh –
Người ấy không được gọi là đệ tử may mắn hay sao?
Do bởi những liên hệ nghiệp trong quá khứ của chúng ta,
Là những gì đã bắt đầu từ nhiều đời trước,
Jigme Thrinle Özer,
Ông từ nơi xa đến đây,
Từ một nơi khó nhìn thấy hay nghe nói về nó.
Mang những kho tàng giáo lý bao la và sâu xa như những món quà quý báu,
Là những thứ khó tìm,
Ông đang trở về quê hương.
Ông giống như một thương nhân thành đạt vượt đại dương trở về.
Nếu không có những mối liên hệ nghiệp,
Cho dù ông sống ở cùng một nơi trong xứ, 123
Làm sao ông có thể nhìn thấy ta
Như một Bồ Tát, ai chăm sóc những người khác?..
Như được tiên tri trong Nechang Thukkyi Drombu,
Trong khi xây dựng chùa Samye,
Chúng ta có quan hệ như cha [nhà vua] và con [thái tử].
Những linh kiến thanh tịnh về sự việc đó mà ông đã tự nhìn thấy.
Từ thời thơ ấu,
Trong khi an trụ ở những nơi cô tịch,
Như ta đã làm trong đời ta,
Ông đã nhận những tiên tri về [việc khám phá] các terma.
Giờ đây kho tàng giáo lý kama và terma
Ta giao phó cho ông, và
Ta tiên tri rằng ông sẽ truyền bá giáo lý đó trong những xứ sở man dã.
Chừng nào [việc chứng ngộ] chân tánh không bị mất hút trong những mê lầm,
Thì không cần phải trải đời mình trong các ẩn thất..
Giữa ông và ta không có sự ngăn cách.
Bởi chân lý của sự hợp nhất tâm ta và tâm ông,
Bởi những gia hộ đầy bi mẫn của Tam Bảo,
Bởi năng lực của ba gốc, và
Bởi những hành động của các Hộ Pháp,
Cầu mong không có những hoàn cảnh tiêu cực trong các Phật sự của ông, và
Cầu mong không có ngay cả một dấu vết của sự chướng ngại.195
Jigme Lingpa nói: “Tối nay ông ở lại nhà ta. Ta có một vài lời chỉ dạy cho ông.”
Vì thế Dodrupchen trải qua đêm cuối cùng trong sự hiện diện của Jigme Lingpa.
Jigme Lingpa nói:
Mọi giáo huấn mà ta nhận về các giáo lý Kinh điển lẫn terma là di sản của cả
ông và ta. Khi ta được Dākinī trong Pháp giới Tối thượng giao phó cuộn giấy
vàng [của Longchen Nyingthig], bà bảo ta rằng đây là di sản Giáo Pháp của
nhà vua và nam tử của vua. Cũng thế, trong Nechang (Thukkyi Drombu) có
nói: “Hóa thân của Thái tử Siêu phàm sẽ mở cánh cửa của các giáo lý.” Vì thế,
không còn nghi ngờ gì nữa, ông là hóa thân [của Thái tử Siêu phàm.] Việc
truyền bá giáo lý vì sự lợi lạc của truyền thống và chúng sinh là sứ mệnh chính
yếu của ông. Chúng ta không thể ngăn cách. Trong tương lai sẽ có lúc những
hoạt động giác ngộ của ông hết sức thành công, nhưng cũng sẽ có nhiều
chướng ngại từ các lực lượng tiêu cực. Hãy cầu nguyện ta, và những chướng
ngại của ông sẽ được an dịu. Khi trong ông phát khởi một lòng tin đối với ta,
nếu một cơ hội mới xuất hiện, chúng ta, cha và con, sẽ lại gặp nhau.196
Ý nghĩa của câu cuối cùng là Jigme Lingpa sẽ tái sinh là Do Khyentse và sẽ gặp
Dodrupchen một lần nữa như vị Thầy của ngài.
Dodrupchen biểu lộ ước muốn được an trụ như một ẩn sĩ. Jigme Lingpa bác bỏ
ước nguyện đó, ngài khuyên: 124
Ta đã ban cho ông giới nguyện của Bồ Tát, lời thề nguyện nhận lên vai trách
nhiệm mang lại hạnh phúc cho tất cả chúng sinh. Nếu ông chỉ vui hưởng sự an
bình và hỉ lạc của một hang động, ông có thể từ bỏ các giới nguyện của ông.
Đừng bao giờ nao núng việc truyền bá các giáo lý. Ta không nghi ngờ rằng đối
với ông, ngay cả những tình huống phi đạo đức cũng sẽ trở thành đức
hạnh.197
Ngày hôm sau, Dodrupchen chạm đỉnh đầu ngài vào đôi bàn chân trần ấm áp
của Jigme Lingpa. Một dòng nước mắt long lanh trên mặt ngài, Dodrupchen nói:
“Trong mọi cuộc đời con, cầu mong con không bao giờ ngăn cách ngài, đấng bảo
trợ của con. Cầu mong mọi hành động và tư tưởng của thân, ngữ, và tâm con trở
thành một suối nguồn mạnh mẽ làm lợi lạc cho Giáo Pháp và chúng sinh.” Với lòng
thương mến dạt dào, Jigme Lingpa chạm trán vào trán Dodrupchen và nói: “Đó là
một lời hứa; chúng ta không ngăn cách nhau. Hãy đi vui vẻ.” Dodrupchen có cảm
tưởng trái tim ngài nhảy ra khỏi lồng ngực, ngài bước lùi và rời khỏi căn phòng và
ẩn thất.
Vì Dodrupchen đã nổi danh là một Lạt ma quan trọng, ngài phải cử hành những
lễ gia hộ tại Samye, Depa Lha Gyatri, và nhiều nơi khác.
Tại Döjo Palkhyim (Döpal) ở Lhasa, theo yêu cầu của chính phủ, dưới sự giám
sát riêng của Changtrung Khenpo (còn gọi là Kudün Khenpo), Dodrupchen cử hành
những buổi lễ
198 trong nhiều ngày để cầu nguyện cho sự an lành của chính phủ và
quốc gia và sau đó cho bản thân Kudün Khenpo. Trong khi thực hiện một lễ dö
(mDos) của Magön, chỉ bằng cánh tay phải, thật là kỳ diệu, Dodrupchen đã nâng
một dö cao hai tầng và sau đó ném nó đi. Chính phủ Tây Tạng hết sức tôn kính và
biết ơn ngài vì sự bảo hộ và tiên tri của ngài cho xứ sở. Từ lúc đó, Dodrupchen nổi
danh với tên Dodrupchen, bậc Lão thông Vĩ đại (Thành tựu giả) của Thung lũng Do.
Dân chúng ở Lhasa nói: “Có nhiều bậc lão thông (Grub Thob), nhưng chỉ có một
bậc Lão thông Vĩ đại (Grub Ch’en, Drupchen).”
Dodrupchen cũng đưa Gyalwe Nyuku trở về Kham cùng với ngài. Trên đường
các ngài gặp nhiều nguy hiểm, nhưng ngài đã chiến thắng tất cả nhờ lòng cam đảm
anh hùng của ngài hoặc bằng những năng lực tâm linh. Tất cả những điều đó chỉ
làm cho sự chứng ngộ sâu xa của ngài thêm vững chắc. Chẳng hạn như, một hôm
các ngài lạc đường trong tuyết lạnh và Dodrupchen trải nghiệm một cảm xúc buồn
bã. Từ nỗi buồn đó xuất hiện một thị kiến phi thường về Milarepa. Đức Milarepa hát,
ban cho ngài sādhana Ngetön Nyingpo của Milarepa và tan hòa bản thân ngài vào
Dodrupchen.
Năm 1793, lần đầu tiên Dodrupchen được Cung điện Dege thỉnh mời. Ngài đã
cử hành những buổi lễ và ban giáo lý cùng nhiều dấu hiệu huyền bí. Từ lúc đó
Dodrupchen trở thành một trong những thầy giáo chính của Nhiếp chính Hoàng hậu
Tsewang Lhamo và nam tử của bà là Thái tử Tsewang Dorje Rigdzin (1786-1847?)
xứ Dege. Cung điện Dega khẩn cầu ngài ở lại làm thầy giáo của họ, nhưng
Dodrupchen lập tức từ chối, bởi việc đi Ngũ Đài Sơn ở Trung quốc để sống phần
đời còn lại ở đó là mục đích chính yếu của ngài (mặc dù điều đó không bao giờ
thực hiện được).
Bây giờ Dodrupchen đang hiến dâng đời ngài cho mục tiêu duy nhất là truyền bá
Phật Pháp, để giáo lý có thể đến được trái tim của những chúng sinh có thể giáo 125
hóa được. Trong tự truyện của mình, Jigme Lingpa đã biểu lộ niềm vui khi nhận
được tin tức về thành công của Dodrupchen trong việc truyền bá Giáo Pháp:
Dola [vị Lạt ma xứ Do, tức là Dodrupchen] đã giảng dạy giáo lý Nyingthig [ở
Dege] ba lần. Lần thứ nhất, hai ngàn đệ tử nhận giáo lý; lần thứ hai là ba ngàn
người; và lần thứ ba là năm ngàn người. Nhiều cư sĩ thọ giới nguyện không
săn bắn, nhờ đó nhiều thú vật được ban “tặng vật của sự vô úy.” Tôi cảm thấy
sung sướng vì đã tạo nên kết quả nhỏ bé này bằng cách ở lại một nơi hẻo lánh
và phát triển Bồ đề tâm. Đây là sự đáp ứng của tiên tri nói rằng:
Những hóa thân của Nam-nying, Nyang-ben, Chok-ying,
và Thái tử Siêu phàm sẽ mở ra cánh cửa của giáo lý [Longchen
Nyingthig].199
Cùng năm đó, bởi được nhiếp chính hoàng hâu xứ Dege khẩn cầu và bảo trợ,
Dodrupchen đặt nền móng cho Tu viện Ogmin Rigdzin Phelgye Ling200 tại Getse Tö
trong Thung lũng Dzachukha. Nhưng sau khi đặt nền móng, ngài đi Amdo bởi ngài
đã có nguyện ước lâu đời là sẽ đi Ngũ Đài Sơn. Ngài thực hiện một cuộc nhập thất
lâu dài tại Trakkar Treldzong, một thánh địa ở Amdo.
Trong tu viện của Chöje Rinpoche ở Tỉnh Go-me, Dodrupchen trao truyền
Longchen Nyingthig và những giáo lý khác cho Chöje Rinpoche, một học giả nổi
tiếng phái Geluk, người đã nghiên cứu các giáo lý Nyingma và trở thành một trong
những đệ tử của Dodrupchen. Dodrupchen cũng nhận lãnh một vài trao truyền từ
Go-me Chöje.
Dodrupchen đã ban các giáo lý và phụng sự nhiều cộng đồng người Tây Tạng
và Mông Cổ trong vùng đó. Ngài phô diễn nhiều điều huyền diệu, chẳng hạn như
làm một giòng suối chảy ra từ đất khô cho một cộng đồng không có nước. Đối với
người Mông Cổ ở vùng Thanh Hồ, ngài được gọi là Harhan Dalai Lama.
Bởi tiếng tăm về năng lực giác ngộ của Dodrupchen, Chönang Dzasak già yếu,
một thủ lãnh Mông Cổ đầy quyền lực, đã mời ngài tới lãnh địa của ông, mặc dù
thực hành Nyingma đã bị cấm ở đó trong hai năm trước đó. Vị thủ lãnh có nhiều
con, nhưng không có người con nào còn sống, dù ông nhận sự bảo hộ tâm linh của
các Lạt ma ở Tu viện Kubum. Dodrupchen gia hộ cho ông và tiên tri rằng vị thủ lãnh
sẽ có đứa con khác. Khi một đứa con được sinh ra, đứa bé ốm yếu tới nỗi người ta
không hy vọng nó sống được nhưng nhờ sự bảo hộ tâm linh của Dodrupchen nên
đứa trẻ đã sống sót. Trước hết ngài đặt tên cho nó là Yamathar, và sau này tên của
nó được đổi là Garwap Gyalchok và Yizhin Wangyal. Năng lực tâm linh của
Dodrupchen đã tạo nên một thái độ mới về lòng khoan dung trong tâm của dân
chúng đối với những dòng truyền thừa khác của Phật giáo trong vùng đó.201
Dodrupchen cũng được Vua Mông cổ Ching Wang Ngawang Dargye (1759-
1807), cũng được gọi là Chogyal Ngaki Wangpo, mời thỉnh. Ngawang Dargye là vị
thủ lãnh quan trọng nhất trong miền Thanh Hồ trong thời đó. Ngoài vua và hoàng
hậu, Dodrupchen ban những trao truyền và giáo huấn Longchen Nyingthig, Khandro
Yangtig, và những bình giảng về Yönten Dzö cho khoảng từ bốn mươi cho tới một
trăm nhân vật quan trọng. 126
Dodrupchen ban trao truyền Longchen Nyingthig cho Drupchen Tülku Jigme
Namkha Gyaltsen của Gön Lakha,202 là người trở thành một vị hộ trì dòng
Longchen Nyingthig. Trước năm 1959, người ta được biết là Gön Lakha có hơn một
ngàn chín trăm hành giả Mật thừa. Dodrupchen cũng dạy cho Ngawang Tendar
Lharampa (1759-?) ở xứ Alaksha, Mông Cổ.
203
Sau đó một vấn đề phát sinh cho Dodrupchen liên quan tới Amban, vị đại diện
của Hoàng đế Trung quốc tại Sining (Tây Ninh), thủ phủ của bang Thanh Hồ
(Quinghai, Thanh Hải). Dodrupchen được mời tới trại của Amban và bị buộc tội có
liên quan tới một nhóm người Khampa trốn khỏi quê hương của họ. Dodrupchen đã
giúp đỡ họ, nhưng ngài không có quan hệ với nhóm người đặc biệt đó. Lời buộc tội
khác là Dodrupchen đã từng ở trong vùng Thanh Hồ trong vài năm mà không khai
báo cho Amban, điều đó là đúng. Hơn nữa, người ta nói rằng ngài đang đội mũ của
một Khenpo, một tu viện trưởng, mà không được chính thức thừa nhận, điều đó chỉ
đúng một phần bởi ngài không nhận được sự thừa nhận như thế từ phái Geluk, là
thể chế tôn giáo chính thức của đặc khu đó. Nhờ hai người thông dịch, Amban tra
vấn Dodrupchen suốt một ngày giữa một hội chúng đông đảo gồm những người
Tây Tạng và Mông Cổ có chức quyền của vùng Thanh Hồ, trong đó có Vua
Ngawang Dargye và Jonang Dzasak. Tất cả hội chúng, như Dodrupchen mô tả,
“ngồi như thể đang nhận lãnh một bài giảng đạo.” Vào cuối ngày, không những
Dodrupchen được phóng thích mà Amban còn cảm kích đến nỗi thậm chí ông còn
khẩn cầu ngài cầu nguyện cho một người bạn bị bệnh của ông ta. Như thế vấn đề
đã được giải quyết một cách kỳ diệu trước sự ngạc nhiên của mọi người. Nếu
không, điều đó có thể là một mối nguy hiểm cho tính mạng của Dodrupchen và cho
địa vị của nhiều hoàng tử Mông Cổ, là những nhà bảo trợ của ngài.
Nhiều tháng sau, Amban cử một sứ giả khác thỉnh mời Dodrupchen tới Sining.
Tại Sining, Amban nói với Dodrupchen với vẻ hết sức tôn kính: “Thường thì khi
người ta nhận được thư của Hoàng đế, họ phải đứng quay mặt về hướng đông để
nghe đọc thư. Tuy nhiên ngài vẫn có thể ngồi, nhưng lắng nghe một cách nghiêm
cẩn và hướng về phía đông.” Thật trang trọng, ngài mở lá thư của Hoàng đế Chia
Ch’ing (trị vì 1756-1820), trong đó có những dòng sau đây:
Nếu Lạt ma làm lợi lạc cho mọi người thì việc ngài là một Lạt ma của phái Mũ
Đỏ [Hồng Mạo, Nyingma] không thành vấn đề. Ngài [Dodrupchen] phải ở miền
Thanh Hồ. Ngài không được đi Ngũ Đài Sơn, Lhasa hay về quê hương của
ngài. Nếu ngài đi, ngài phải hỏi ý kiến Hoàng đế trước tiên. Các thủ lãnh [của
vùng Thanh Hồ] phải tôn kính và phục vụ cho Lạt ma.204
Mọi người trong miền đó thấy rằng việc Hoàng đế thừa nhận Dodrupchen là một
Lạt ma của mười hai khu vực (mDa’Tshan) của Mông Cổ là một vinh dự to lớn. Họ
vui mừng bởi việc họ cầu nguyện ngài ở lại với họ đã được chấp nhận. Nhưng giấc
mộng đến Ngũ Đài Sơn của Dodrupchen đã bị tan vỡ. (Có những câu chuyện kể
rằng các vị thủ lãnh-đệ tử của Dodrupchen đã tác động tới sắc lệnh của Hoàng đế
khiến ngài phải ở lại miền đó.)
Nhận thấy bây giờ ngài không thể đi ngược lại sắc lệnh của Hoàng đế mà du
hành tới Ngũ Đài Sơn, thay vào đó Dodrupchen muốn đi miền Trung Tây Tạng để
gặp Jigme Lingpa một lần nữa. Nhưng các đệ tử của ngài khăng khăng phản đối dự127
định này bằng cách viện dẫn mệnh lệnh của Hoàng đế. Vì thế Dodrupchen phái
Jigme Chödrak thay mặt ngài tới miền Trung Tây Tạng với những phẩm vật cúng
dường khổng lồ, mọi thứ mà ngài sở hữu. Những người du hành cũng mang quà
tặng của Vua Ngawang Dargye cho Jigme Lingpa.205
Thủ lãnh Chonang khẩn cầu Dodrupchen xây một gompa (tu viện) và hứa sẽ hỗ
trợ mọi điều cần thiết về mặt tài chánh và chính trị. Nhưng Dodrupchen từ chối
không nhận các món cúng dường, tự nhắc mình một câu tục ngữ cổ xưa: “Đừng ở
quá gần những nhà bảo trợ của bạn.”
Arik Geshe Chenmo Champa Gelek Gyaltsen (1726-1803)206 của Tu viện
Ragya, một học giả lỗi lạc phái Geluk, hết sức tán thán Dodrupchen và cúng dường
ngài thật trọng thể. Ông cũng nhận các sự trao truyền từ Dodrupchen.
Một trận dịch ở Arik Ragya Gompa, một tu viện lớn phái Geluk ở Amdo, đã giết
chết khoảng một nửa trong số bốn ngàn tu sĩ ở đó. Tất cả những người sống sót
chạy trốn sang một thung lũng gần đó, ngoại trừ một tu sĩ, ông không chọn lựa việc
ra đi, bởi điều đó phá vỡ việc ông tụng đọc lời nguyện Manjushrī-nama-samgitī (Hát
tụng những Danh hiệu của Đức Văn Thù). Một hôm, ông ta nghe âm thanh của
những cái chuông và nhìn thấy một vài người với một con thú khác thường trông
giống con hổ tiến vào tu viện bị bỏ hoang. Khi một người trong số đó đi vào nhà của
ông, trước khi ông có thể cảnh báo cho người ấy về bệnh dịch, người đó nói:
“Dodrupchen ở đây. Ngài muốn gởi thông điệp cho các tu sĩ rằng không còn nguy
hiểm nữa và họ có thể trở về. Chúng tôi đang giải quyết những tử thi bị bỏ lại.” Sau
này, Dodrupchen cử hành một lễ cúng dường lửa (homa) và làm ngưng bệnh dịch,
khiến cho Tu viện hồi sinh. Thật kỳ diệu, ngài cũng đưa một suối nước từ tảng đá ở
Amye Khyung-gön, ngọn đồi phía sau tu viện, hiện nay vẫn là một dòng suối để
chữa bệnh.
Từ Thung lũng Do ở Golok, một người chú của Dodrupchen và những người
khác đến thuyết phục ngài trở về quê hương. Viện dẫn lệnh của Hoàng đế, các thủ
lãnh và dân chúng của vùng Thanh Hồ, là những đệ tử của ngài, đã phản đối việc
ngài ra đi. Nhưng người chú của Dodrupchen thình lình bị bệnh và từ chối dùng
thuốc hay đến bất kỳ tu viện nào để cầu nguyện trừ phi Dodrupchen trở về quê
hương với ông. Vì thế các thủ lãnh bị bắt buộc phải để cho Dodrupchen trở về nhà.
Ngài để lại Lạt ma Pema Tamchö như người đại diện của ngài để cho thấy ngài
không từ bỏ miền này.
Năm 1799, từ Thanh Hồ, Dodrupchen trở về Thung lũng Do. Ở đó ngài tiếp tục
xây dựng Drotön Lhüntrup Gompa của ngài tại Shukchen Tago trong Thung lũng
Do.
Jigme Gyalwe Nyuku cũng đến Thung lũng Do để giúp Dodrupchen xây tu viện.
Cùng với Gyalwe Nyuku và những người khác, Dodrupchen viếng thăm Vua
Tsewang Lhündrup (mất năm 1825) xứ Dzigak tại Phüntsok Dzong, Vua xứ Chötse,
và nhiều nơi trong Thung lũng Dzika để trao truyền giáo lý, cử hành các buổi lễ, và
gây quỹ cho tu viện.
Nüden Dorje, một người cháu trẻ tuổi của Dodrupchen, người mà về sau trở
thành Khangdong (hay Khordong) Terchen nổi tiếng, đến thăm chú.207 Dodrupchen
ban cho cậu một chày kim cương và một phurbu và yêu cầu cậu đứng lên. Cầm
những pháp khí này trong tay, Terchen quay lại và nói HŪM HŪM HŪM. Vào lúc đó,
những hồi ức của Terchen về việc cậu từng là Düdül Dorje (1615-1672) trong quá 128
khứ được đánh thức. Sau đó Dodrupchen ban cho cậu quán đảnh Yumka Dechen
Gyalmo, và Terchen nghe âm thanh của thần chú OM PADMOYOGINĪ
JNĀNAVĀRĀHI HŪM đến từ tất cả những cây cối, hoa lá mà cậu có thể nhìn thấy
xung quanh cậu.
Năm 1801, trong một lần viếng thăm Thung lũng Mar, Dodrupchen gặp Do
Khyentse (1800-1866), khi đó khoảng một tuổi. Cậu bé đang nài nỉ cha mẹ cậu đưa
cậu tới gặp một người tên là Sönam Chöden, nói thêm rằng nếu không cậu sẽ về
nhà, có nghĩa là cậu sẽ chết. Sönam Chöden là một trong những danh hiệu trước
đây của Dodrupchen, nhưng trừ ngài ra hầu như không ai biết danh hiệu đó. Khi
Dodrupchen gặp cậu bé, mắt ngài đẫm lệ, ngài ôm lấy cậu bé và quả quyết: “Ta sẽ
chăm sóc con.” Nhiều năm sau Khyentse viết rằng khi ngài gặp Dodrupchen, ngài
không nhìn thấy vị Thầy này trong thân tướng của một người bình thường mà là
Guru Rinpoche.
Theo lời khuyên của Dodrupchen, Do Khyentse được đưa tới Shukchen Tago và
bắt đầu nhận những gia hộ và giáo lý. Do Khyentse vẫn nhìn thấy Dodrupchen trong
những thân tướng khác nhau và được những người nam và nữ vây quanh trong
những hình tướng huyền bí. Sau khi lớn lên, cậu nhận ra rằng những hình tướng đó
là những thân tướng không bình thường của Lạt ma hay môi trường xung quanh
của ngài.
Sau khi kéo dài được vài năm, sự kiện vị thủ lãnh miền Thung lũng Do thượng
liên can đến việc che chở một tên cướp đã bị khám phá. Sự bất ngờ này làm
Dodrupchen vô cùng thất vọng, bởi ngài không chỉ là một Lạt ma vĩ đại, mà còn là
một vị thủ lãnh bộ tộc sáng suốt, đạo đức, và đáng kính. Chẳng bao lâu, ngài từ
chối việc ở lại Shukchen Tago, mặc dù nó vẫn là một ẩn thất trong nhiều năm.
Paltrül Rinpoche (1808-1887) đọc Kanjur ở đó một thời gian dài và học thuộc lòng
nhiều Kinh điển.208 Tuy nhiên, khi còn nhỏ, tôi thường đi qua nơi đó, tôi chỉ nhìn
thấy những tàn tích của Shukchen Tago.
Dodrupchen vẫn nhận những lời mời khẩn cấp của vua xứ Dege và Tu viện
Dodrupchen. Ngài tới Tu viện Gyarong, Tu viện Dzogchen, và những nơi trong
Thung lũng Dzachukha. Ở mỗi nơi, ngài được đón tiếp bằng những lễ rước trọng
thể. Tại Tu viện Dzogchen ngài ban những quán đảnh cho Dzogchen Rinpoche đệ
Tứ trẻ tuổi. Khi ngài nghe nói nhiếp chính Hoàng thái hậu xứ Dege bị bệnh nặng,
ngài vội vã đi tới Cung điện Dege. Hoàng thái hậu vừa mới khỏi bệnh. Dodrupchen
ban cho bà các giáo lý Yeshe Lama và những giáo lý khác. Ngài ban cho nhà vua
các quán đảnh Hyagrīva và Vajrakīla của Gyüluk. Về sau ngài cũng trao truyền cho
vua những giáo lý terma do chính Dodrupchen khám phá.
Dodrupchen đã trao truyền nhiều giáo lý, trong đó có Yabzhi, Longchen
Nyingthig, Nyingma Gyübum, và Dzödün cho nhiều đệ tử, kể cả những Lạt ma cao
cấp của các tu viện Nyingma ở Kham, chẳng hạn như Dzogchen, Kathok, và
Zhechen. Trong số những người thọ nhận có Dzogchen Rinpoche đệ Tứ, Do
Khyentse, Zhechen Rabjam đệ Tam, Kathok Situ, các Gotsa Tülku, Gomchen
Ngawang Chöjor, và Thartse Khenchen Namkha Chi-me xứ Ngor.209
Tới lúc đó, Do Khyentse đang được Dodrupchen chăm sóc và được chính
Dodrupchen thừa nhận là tülku không chính thức của Jigme Lingpa. Sau đó văn
bản phê chuẩn cho việc thừa nhận của Sakya Kongma và các tülku Drikung, là
những đệ tử thân thiết của Jigme Lingpa, được các vị đại diện mang đến từ129
Drikung. Những vị này tới để đưa vị tülku tới miền Trung Tây Tạng. Khi đó, với sự
tổ chức công phu của Cung điện Dege, Do Khyentse được gởi tới Drikung, ở đó
nam tử của Jigme Lingpa là một trong hai vị lãnh đạo của dòng Drikung.
Năm 1806, khi một người chú của Dodrupchen mất, từ Dege, ngài vội vã trở về
Golok. Nhưng cho tới năm 1809, ngài đi tới đi lui vài lần giữa Dege, Dzogchen, và
Golok, cử hành các buổi lễ và chủ yếu là ban các trao truyền và giáo lý tại nhiều tu
viện và những nơi khác.
Cùng với Jigme Gyalwe Nyuku, Dodrupchen xây dựng Tu viện Dzagya210 trong
Thung lũng Dzachukha, là nơi sau này trở thành trụ xứ chính của Jigme Gyalwe
Nyuku và của Paltrül Rinpoche, đệ tử nổi tiếng của vị Thầy này.
Ở đây, tôi muốn chú thích là trong cung điện Dege có một sự đối kháng có tính
chất bộ phái chống lại ảnh hưởng của các Lạt ma phái Nyingma mà người lãnh đạo
là Dodrupchen. Tuy nhiên, không có gì là nền tảng để khẳng định rằng Dodrupchen
bị tống giam và sau đó bị trục xuất khỏi Dege trong cuộc nổi dậy ở Dege năm
1798211 như các nhà biên soạn Tây phương đưa ra. Thực ra, Dodrupchen không ở
Dege trong thời gian này. Từ năm 1793 tới 1799, ngài vẫn ở vùng Thanh Hồ, ban
giáo lý cho những người Tây Tạng và Mông Cổ. Ngài chỉ từ Amdo trở về Golok năm
1799 và xây dựng Shukchen Tago Gompa. Chỉ từ khoảng năm 1802 tới 1809 ngài
mới thường xuyên thăm viếng Dege, ban giáo lý cho nhiếp chính Hoàng thái hậu và
thái tử, người sẽ trở thành nhà vua năm 1806. Dodrupchen thực hiện nhiều cuộc
thăm viếng và trải qua rất nhiều thời gian ở Dege sau khi ngài từ Amdo trở về, so
với lần viếng thăm duy nhất trong nhiều tháng vào năm 1793. Theo nhiều tài liệu,
không chỉ nhiếp chính Hoàng thái hậu mà cả con trai của bà, Vua Tsewang Dorje
Rigdzin (1786-1847?, trị vì 1806-1847?), vẫn là những người mộ đạo nhiệt tình của
Dodrupchen.
Dodrupchen đã thúc đẩy cung điện Dege212 đặt làm những bản khắc gỗ sáu
quyển sách của Jigme Lingpa, và cũng in hai mươi lăm quyển Nyingma Gyübum và
hơn mười quyển sách của Longchen Rabjam.
Cuối cùng vào năm 1809 Dodrupchen trở về Golok. Một tiên tri của Rongtön
Dechen Lingpa (thế kỷ 17) nói:
Một hóa thân của Thái tử Siêu phàm, Bồ Tát anh hùng,
Sẽ xuất hiện, với những Đạo sư và thiền giả của Dzogchen Ati (Đại Viên mãn).
Ngài sẽ xây dựng khoảng ba tu viện ở Thung lũng Ser thượng, trung và hạ.
Năm 1810, vào năm sáu mươi sáu tuổi, ngài thiết lập một trung tâm thiền định
tại Yarlung ở đèo Trakchen trong Thung lũng Ser. Ngài đặt tên cho nó là Pemakö
Tsasum Khandrö Ling. Sau này, nó được thường được gọi là Tu viện Yarlung
Pemakö.213
Sau khi xây dựng Yarlung Pemakö, Dodrupchen thề không bao giờ rời nơi này,
vì thế ngài không đi đâu hết mà ở đó trong hơn mười năm kế tiếp của đời ngài.
Trong khi Dodrupchen sống ở đó, hầu như vào mỗi ngày mồng mười và hai mươi
lăm âm lịch, người ta có thể nghe thấy âm nhạc trổi lên ở Yarlung Pemakö nhưng
không rõ xuất xứ. Mọi người tin rằng hội chúng các dāka và dākinī đã chơi nhạc.
Vào những ngày này, khi nghe nhạc, mọi người được nhắc nhở rằng hôm nay là
một trong những ngày lễ trong tháng. 130
Tại Yarlung Pemakö, Dodrupchen giảng dạy và ban những trao truyền cho rất
nhiều đệ tử, nhiều người trong số đó đã trở thành những Đạo sư nổi tiếng. Thông
thường, khi Dodrupchen ban quán đảnh và giáo huấn thì Jigme Kalzang truyền văn
bản (Lung) nhân danh ngài.
Năm 1812, Do Khyentse từ miền trung Tây Tạng trở về để thăm Dodrupchen già
yếu. Vua xứ Dege không ngừng hối thúc Dodrupchen và Do Khyentse tới Dege,
nhưng Dodrupchen không đi được, bởi ngài đã thề không bao giờ rời khỏi tu viện
của ngài.214
Năm hai mươi tuổi,215 Dzogchen Rinpoche Đệ Tứ (1793-?) viếng thăm Yarlung
Pemakö để nhận thêm giáo lý từ Dodrupchen. Dodrupchen ban cho Dzogchen
Rinpoche quán đảnh, những bản văn, và giáo huấn thuộc về Longchen Rabjam và
Jigme Lingpa, cũng như Vima Nyingthig và Nyen-gyü Dorje Zampa.
Dodrupchen gia hộ cho Dzogchen Rinpoche bằng cách ban cho ngài một tách
sọ người đựng đầy chang (bia). Với thức uống này, sự chứng ngộ của vị Thầy
được chuyển sang Dzogchen Rinpoche một cách tự nhiên, và ngài đạt được trạng
thái giải tan các hiện tượng tương đối vào bản tánh tuyệt đối (Ch’os Nyid Zad Pa).
Về sau Dzogchen Rinpoche trở thành một bậc lão thông lừng danh, bậc không tạo
ra những phân biệt và không hy vọng hay sợ hãi điều tốt hay xấu. Có nhiều câu
chuyện kỳ lạ về cuộc đời và trí tuệ của ngài.
Khi lần đầu tiên Gyalse Zhenphen Thaye (1800-?) nhìn thấy Tu viện Yarlung
Pemakö từ xa, ngài bước xuống ngựa. Thực hiện nhiều lễ lạy, ngài khóc như một
đứa trẻ. Ngài nói: “Nơi chốn này của Thầy ta không là gì ngoài Cõi Tịnh độ Vô song
chân thực của Pháp Thân.” Khi ngài tới gặp Dodrupchen, Lạt ma đang gia hộ cho
mọi người bằng cách dùng một lá phướn nhỏ làm bằng những dải ruy băng lụa năm
màu chạm vào người họ, và Gyalwe nhìn thấy Đức Vajrapāni (Kim Cương Thủ)
trong một thân ánh sáng tô điểm lá phướn.
Năm 1815, Dodrupchen phái Do Khyentse tới miền Trung Tây Tạng với những
món cúng dường khổng lồ. Ngài trở về năm 1816.
Năm 1817/18, Jigme Gyalwe Nyuku tới Yarlung Pemakö để thăm Dodrupchen216
già yếu lần cuối cùng. Đó là thời điểm hết sức vui mừng và buồn bã cho cha và con
hay các huynh đệ trong Pháp. Dodrupchen kết luận cuộc sum họp bằng cách nói:
“Đó là buổi gặp gỡ [hiếm hoi và đầy hỉ lạc] của một người chết và một người sống.”
Dodrupchen ban giáo lý Ngöndro và nhiều giáo lý khác cho Gyalwe Nyuku và
những người khác. Ngài cũng tiên tri nơi Gyalwe Nyuku sẽ thiết lập trụ xứ chính của
mình, với những mô tả chi tiết về một nơi mà ngài chưa bao giờ nhìn thấy.
Tại Yarlung Pemakö, nhiều Đạo sư vĩ đại tới nhận các trao truyền từ
Dodrupchen. Trong số đó có Gyalwe Nyuku, Dzogchen Rinpoche Đệ Tứ, Do
Khyentse, Thành tựu giả Kathok Getse, Dola Jigme Kalzang, Repa Tamtsik Dorje,
Chöying Tobden Dorje, Zhichen Sönam Palden, Sönam Gyaltsen, Changlung
Namkha Jigme Dorje, và Gyalse Zhenphen Thaye.
Năm 1819, Dodrupchen khuyên217 các đại diện của Cung điện Dege, Tu viện
Dzogchen, Tu viện Kathok, và Drikung cho phép Do Khyentse trở thành một ẩn sĩ
tāntrika (hành giả Mật thừa), như ngài ước nguyện để hoàn thành những hoạt động
giác ngộ của ngài. Vì thế họ đã cho phép Do Khyentse đảm đương cuộc đời của
một yogī lang thang. Do Khyentse nhớ lại đời sống của Dodrupchen già yếu trong
những ngày đó: 131
Sức khỏe của Đấng Pháp Vương Tôn quý tốt hơn trước. Thỉnh thoảng ngài bất
thần hát những bài ca du già, nhưng chúng tôi không có cơ hội để ghi lại
những bài hát đó. Đôi khi ngài miêu tả những linh kiến của ngài về các cõi tịnh
độ Báo Thân, và những lúc khác, ngài mô tả những hoàn cảnh khác nhau của
chúng sinh trong sáu cõi. Ngài cũng ban những tiên tri về tương lai của việc
truyền bá Giáo Pháp và của những cá nhân. Một vài người trong chúng tôi vẫn
nhìn thấy thân ngài trong những hình tướng khác nhau, và đôi khi chúng tôi
không nhìn thấy thân người mà chỉ thấy y phục của ngài trên ngai tòa. Có vô
số điều kỳ diệu. Mỗi khi chúng tôi nhớ lại những câu hỏi mà chúng tôi có về
những vấn đề quan trọng của các giáo lý, ngài trả lời một cách tự nhiên mà
không cần chúng tôi phải hỏi.218
Năm Bảy mươi bảy tuổi, vào sáng sớm
219 ngày mười ba tháng giêng năm Kim
Tị (1821), ngài biến thành y phục Báo Thân. Ngài ban các giáo huấn riêng cho một
vài đệ tử. Sau đó, không bệnh tật, ngài tan hòa vào sự an bình tối thượng, trong khi
mô tả kinh nghiệm của ngài về những giai đoạn của việc thu hồi năng lực của các
yếu tố (các đại) trong thân thể. Những tia và vòng ánh sáng cầu vồng và một trận
mưa hoa tràn ngập không gian. Khi thân ngài được hỏa thiêu, nhiều xá lợi xuất hiện
như dấu hiệu của sự thành tựu cao cấp. Các môn đồ của ngài xây một bảo tháp
bằng vàng trong đó họ giữ gìn di cốt của ngài tại tu viện Dodrupchen cho tới năm
1959. Ngawang Tendar Lharampa, một nhà biên soạn nổi tiếng phái Geluk và là
một đệ tử của Dodrupchen ở Alaksha, Mông Cổ, viết:
Có những Đạo sư có thể đạt được sự chứng ngộ.. tan hòa [thân thể họ thành
thân ánh sáng cầu vồng] nhưng thay vào đó đã chọn thành tựu trạng thái của
một vị hộ trì trí tuệ (Trì minh vương) với thánh tích để lại. Lý do là bởi một số vị
không chấm dứt nghiệp lực của mình để hiến mình cho việc chuyển Pháp luân
các hoạt động nhằm phụng sự Giáo Pháp và chúng sinh. Những vị khác để lại
di cốt trong hình thức của dung (phân) và các xá lợi, để những vật này ít nhất
cũng tồn tại như suối nguồn của những gia hộ cho các đệ tử. Một điển hình là
[cách chết của] đấng quy y (nương tựa) tôn quý của chúng tôi, Đức Jigme
Thrinle Özer vinh quang, sự hiển lộ huyễn hóa của Đức Phổ Hiền, Đức Phật
nguyên thủy xuất hiện trong những tri giác của chúng sinh có thể giáo hóa như
bậc thủ hộ của các hiền nhân và hiện thân của một trăm bộ Phật.220
Ngay đêm Dodrupchen mất, Do Khyentse, đệ tử chính yếu của ngài, khi ấy đang
ở một nơi cách xa nhiều tuần lễ du hành đã nhận được di chúc tâm linh của ngài.
Cuối đêm mười ba tháng giêng năm Kim Tị, Dodrupchen xuất hiện trên không trung
trong một thân ánh sáng chói lọi và một bộ y phục bằng ánh sáng. Ngài lơ lửng trên
một tấm thảm ánh sáng được bốn dākinī nâng đỡ. Bằng một giọng hết sức quyến
rũ ngài hát những bài kệ trong di chúc của ngài, trong đó có những giòng sau đây,
và sau đó tan hòa vào Do Khyentse.
Ta đang đi vào sự rộng lớn của Trí tuệ của Pháp giới Tối thượng (Pháp giới
thể tánh trí), 132
Là trạng thái siêu vượt tư tưởng và những biểu lộ.
Ta đang đi vào trạng thái của Trí tuệ như Gương (Đại viên cảnh trí),
Là ánh sáng rực rỡ quang minh bất tận, tươi mới và khoáng đạt.
Ta đang đi vào sự rộng lớn của Trí tuệ của những Bình đẳng (Bình đẳng tánh
trí),
Trong đó mọi tư tưởng về sự bám chấp và người bám chấp tan biến vào Pháp
giới tối thượng.
Ta đang đi vào Trí tuệ Giác tánh Phân biệt (Diệu quan sát trí),
Là sự quang minh, sự ló dạng của sáu loại thấu thị.
Ta đang đi vào trạng thái của Trí tuệ Thành tựu (Thành sở tác trí),
Là cái hóa hiện những hiển lộ khác nhau phù hợp với nhu cầu của chúng sinh
có thể giáo hóa.
Ta đang đi tới Zangdok Palri, cõi tịnh độ của những vị hộ trì trí tuệ (Trì minh
vương).
Bởi tâm ta trở nên đồng nhất với tâm Heruka,
Ta sẽ hiển lộ ba hóa thân như bạn đồng hành của con.
Di chúc này, cho tới khi xuất hiện rõ ràng
Như nét vẽ bí mật của các biểu tượng dākinī,
Hãy niêm kín lại như miệng của một tử thi.
Cầu mong những biểu tượng này không bao giờ biến mất. TISTHA-LHEN!
Nam tử, hãy ở lại an khang.
Bây giờ con đã chiến thắng những chướng ngại của đời con.
Cho tới khi mọi hiện hữu hiện tượng được giải thoát như những dấu hiệu và
giáo lý [của Giáo Pháp],
Con nên coi sinh tử và Niết bàn là những giấc mộng và sự huyễn hóa.
Hãy hiến mình cho việc thiền định là nơi không có điểm quy chiếu.
Đây là quán đảnh phó chúc và nguyện ước tuyệt đối.
Đây là quán đảnh siêu việt của những quán đảnh.221
Dodrupchen đã khám phá nhiều giáo lý như kho tàng tâm, dưới tiêu đề Tamchö
Dechen Lamchok, Con Đường Tối hảo của Cực Lạc, những Thánh Pháp. Nó bao
gồm các sādhana Ngoại, Nội, và Bí mật của Đức Phật A Di Đà, một sādhana thiêng
liêng nhất của Hayagrīva, và các sādhana của mười hai Đạo sư Dzogchen,
Milarepa, Machik Labdrön, và Mahādeva (Đại Thiên). Ngài cũng khám phá một nghi
lễ Chö nổi tiếng, có tựa đề là Chuwo Chigdre. Trong các tác phẩm của ngài có
Gyatsö Chuthik (Một Giọt từ Đại dương), một bản dịch dài và ngắn của những bình
giảng ngắn về Yönten Rinpoche Dzö, một bình giảng ngắn về Chö Khandrö
Kegyang, một sādhana về sự tịnh hóa samaya, và những biên soạn về nghi lễ
Mahākala và về sādhana Vajrakīla do Sangye Lingpa khám phá.
Dodrupchen biên soạn nhiều tiên tri. Ta được biết rằng Tu viện Labrang ở Amdo
có một tuyển tập về các tiên tri của ngài. Chính tôi đã nhìn thấy tuyển tập vài trăm
trang, nhưng hiện nay chỉ còn sót lại một tiết đoạn gồm một ít trang.
Dodrupchen nổi tiếng là có những tiên tri rõ ràng và chính xác. Thường thì các
Lạt ma viết những tiên tri khi họ được nghe nói về các sự việc của một dākinī, một
Lạt ma, hay một vị Phật trong một linh kiến. Nhưng sự độc đáo nơi các tác phẩm
tiên tri của Dodrupchen nằm ở chỗ ngài báo trước các sự việc như một linh kiến tự133
nhiên hay tự xuất hiện trong trạng thái trí tuệ chứng ngộ tự thân của ngài. Chẳng
hạn như:
Trong tấm gương của Pháp giới Tối thượng [của tâm trí tuệ của tôi], là cái gì
thoát khỏi các niệm tưởng,
Xuất hiện những tình huống của thế giới nói chung, và
Của miền Đông Tây Tạng (mDo sMad) nói riêng,
Trong hình thức của những duyên sinh không có sự lầm lạc nào…222
Ngài báo trước nhiều sự kiện liên quan tới việc truyền bá Giáo Pháp, những
tỉnh, và những cá nhân. Chẳng hạn như, ngài đã tiên tri việc ra đời của Khyentse
Wangpo (1820-1892), Zhapkar Tsoktruk Rangtröl (1781-1851), Pema Siddhi (mất
năm 1957), và hàng trăm Lạt ma vĩ đại khác. Ngài đã báo trước là Trung quốc sẽ
“đỏ,” mặc dù trong thời đại của ngài “đỏ” không có ý nghĩa như bây giờ. Ngài cũng
tiên tri những gì có thể xảy ra cho một nhiếp chính của Tây Tạng ở Tu viện Redring
(mất năm 1947) và những hậu quả của sự kiện đó.
Không lâu sau khi Dodrupchen mất, Dodrupchen trở về Yarlung Pemakö để kính
lễ di cốt, tro, và xá lợi của Dodrupchen được giữ trong một cái bình. Các đệ tử của
Dodrupchen hối thúc Do Khyentse ở lại như người kế vị (gDan Tshabs) của
Dodrupchen, nhưng ngài từ chối.
Sau này, Gyalse Zenphen Thaye (1800-?) của Tu viện Dzogchen, một học giả
nổi tiếng và là một trong những đệ tử chính của Dodrupchen, đã đến để trụ lại như
người kế vị của Dodrupchen trong một thời gian. Gyalse bắt đầu một khóa giảng
dạy và thực hành hàng năm trong bốn mươi lăm ngày về Guhyagarbha-māyājālatantra (Mật điển Bí mật tập hội) tại Yarlung Pemakö. Paltrül làm trợ giảng cho
Gyalse trong năm đầu tiên, và sau đó bản thân ngài điều khiển giảng khóa này
trong hai năm nữa.223 Paltrül Rinpoche và Nyoshül Lungtok (mất năm 1902?) sống
quanh Thung lũng Ser và Do, các trụ xứ của Dodrupchen, trong khoảng chín hay
mười năm.224
Trong số các đệ tử ngài có những Đạo sư hộ trì dòng truyền thừa, những vị đã
được tiên tri trong Tiên tri Bí mật của Lạt ma Gondü.
225 Đó là bốn vị hộ trì dòng
truyền thừa được đặt tên là Dorje (rDo rJe’i gDung bZhi), mười ba vị được đặt tên
Dorje (rDo rJe’i Ming Chan bChu gSum), và sáu vị được đặt tên Sangye (Phật
mCh’ed Drug).
Có những giải thích khác nhau để định rõ bốn vị hộ trì dòng truyền thừa được
gọi tên là Dorje. Một cách là: (1) Dola Jigme Kalzang Dorje (Chökyi Lodrö) ở miền
đông, giống như âm thanh của một con ốc xà cừ trắng đầy danh tiếng tâm linh, (2)
Repa Tamtsik Dorje của Khyunglung (người nổi tiếng về việc có đệ tử gồm một
ngàn yogī và một ngàn yoginī) ở miền nam, với nhiều đệ tử Mật thừa như một tụ
gạo trắng, (3) Gyalse Rikpe Dorje (Zhenphen Thaye) ở miền tây, với nhiều đệ tử là
thiền giả tu sĩ như một vườn hoa sen đỏ, và (4) Chöying Tobden Dorje (một nhà
biên soạn và truyền bá vĩ đại của giáo lý Nyingthig ở Amdo, đặc biệt là ở Rekong) ở
miền bắc, giống như một phurbu sắt với nhiều đệ tử mật thừa đầy năng lực.
Cách giải thích khác là: (1) Do Khyentse, (2) Dzogchen Rinpoche đệ Tứ, (3)
Gyalse Rigpe Dorje, và (4) Kyebu Yeshe Dorje (Dola Jigme Kalzang). 134
Cách thứ ba là: (1) Do Khyentse, (2) Dzogchen Rinpoche, (3) Repa Tamtsik
Dorje, và (4) Chöying Tobden Dorje.
Kongtrül Yonten Gyatso (1813-1899) viết:
Trước ngài, bậc được gọi là Ánh sáng chói lọi (Özer) của phương Đông, Hóa
Thân,
Với bốn [đệ tử] yogī, như được Guru Rinpoche tiên tri,
Bậc hành động vì sự lợi lạc của chúng sinh, hóa thân trí tuệ của Murum
(Tsepo),
Changchup Dorje [Dodrupchen], Thủ hộ của các Hiền giả, con xin cầu nguyện
ngài.226
Mười ba vị được gọi là Dorje được liệt kê khác nhau, nhưng một cách liệt kê là:
(1) Mingyur Namkhe Dorje, (2) Do Khyentse Yeshe Dorje, (3) Jigme Mikyö Dorje
(Namkha Tsewang Choktrup, 1744-?) ở Gyarong Gön, (4) Repa Tamtsik Dorje, (5)
Chöying Tobden Dorje, (6) Jigme Palkyi Dorje, (7) Rigdzin Jampal Dorje ở Zhechen,
(8) Kyilung Thukchok Dorje ở Golok, (9) Jigme Pawo Dorje, (10) Zhönu Yeshe Dorje
(còn được gọi là Dola Jigme Kalzang, (11) Wangda Dorje Palzang ở Golok, (12)
Rigdzin Palkyi Dorje ở Troshül, và (13) Rolwe Dorje ở Barchung.
Nyoshül Lungtok đề nghị cách khác để phân loại những đệ tử chính của
Dodrupchen:
Thủ lãnh của tất cả những đệ tử Khampa của vị hộ trì trí tuệ vĩ đại [Jigme
Lingpa] là Dodrupchen Jigme Thrinle Özer. Trong những đệ tử chính yếu của
Dodrupchen có bốn vị hộ trì dòng truyền thừa được gọi là Dorje, sáu người
được gọi là Buddha (Phật), mười ba người được gọi là Namkha, và một trăm
vị hộ trì mạn đà la. Vị thủ lãnh trong mười ba người được gọi là Namkha là
Mingyur Namkhe Dorje.227
Jigme Gyalwe Nyuku và Jigme Ngotsar là bạn đồng môn và đệ tử của
Dodrupchen. Ngoài ra, khi Paltrül Rinpoche còn nhỏ, Dodrupchen xác nhận cậu bé
là tülku của Palge Lama, và bằng sự tiên tri, ngài nói với Dola Jigme Kalzang: “Ta
phó chúc và trao truyền toàn bộ giáo lý Longchen Nyingthig cho cậu bé, với danh
hiệu là Ogyen Jigme Chökyi Wangpo.”
Như đã giải thích ở trên, các dòng Nyingthig của Vua Ngawang Dargye và đệ tử
của vua là Zhapkar Tsoktruk Rangtröl đến qua Dodrupchen. Kuyang Lo-de,228 một
đệ tử và Đạo sư của Zhapkar, viết trong một lời cầu nguyện dòng truyền thừa:
Künkhyen Jigme Lingpa,
Con cầu nguyện ngài, xin ban những gia hộ của ngài.
Künzang Zhenphen, Bậc Siêu việt trong những bậc Lão thông,
Pháp Vương Ngari Wangpo, và
Tsoktrul Rangtröl Toàn trí, con cầu nguyện ngài, xin ban cho con những gia
hộ.
229135
Dòng Longchen Nyingthig của Dharma Senge (mất năm 1890) cũng đến qua
Dodrupchen, như Dharma Senge viết:
Cầu mong những khát khao thiêng liêng của Rigdzin Jigme Lingpa được đáp
ứng.
Cầu mong những khát khao thiêng liêng của Jigme Thrinle Özer được đáp
ứng.
Cầu mong những khát khao thiêng liêng của Ngadak Yeshe Gyatso được đáp
ứng.
Cầu mong những khát khao thiêng liêng của bổn sư được đáp ứng.230
Trong số nhiều hóa thân của Dodrupchen có Jigme Phün

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Thiền-Định (t t .3)

Quyển Hai
Dòng Truyền thừa Longchen Nyingthig
Longchen Nyingthig là một tuyển tập các tantra và sādhana được Rigdzin Jigme
Lingpa (1730-1798) khám phá như giáo lý “terma tâm”.
Giáo khóa này được gọi là Longchen Nyingthig do bởi ba lý do chính. Trước
tiên, đó là Nyingthig, những giáo lý cốt tủy thâm sâu Me-ngagde, và được Jigme
Lingpa khám phá nhờ những gia hộ ngài nhận được trong một loạt linh kiến thuần
tịnh về Longchen Rabjam (1308-1363). Kế đó là những giáo lý cô đọng mọi giáo lý
Nyingthig đến qua Longchen Rabjam. Thứ ba, đó là những giáo lý về chủ đề của
Longchen, “sự bao la vĩ đại” hay phạm vi sâu xa nhất, và đó là Nyingthig, “tâm yếu”
(hay cốt tủy thâm sâu) của tất cả các giáo lý. Jigme Lingpa viết: “Nó là phạm vi bao
la vĩ đại và nó là tâm yếu.”50
Longchen Nyingthig chủ yếu tập trung vào Nyingthig, giáo khóa tinh túy thâm
sâu Me-ngagde. Ví dụ như, giai đoạn phát triển của sādhana Rigdzin Düpa xuất
hiện như năng lực hiển lộ (rTsal) của giác tánh nội tại (Rig Pa), và nó cũng hòa vào
Pháp giới tối hậu, sự thuần tịnh nguyên sơ trong giai đoạn hòa tan (viên mãn).
Kyala Khenpo viết trong luận giảng về Rigdzin Düpa của ngài:
Trong những truyền thống Anuttaratantra khác, trước tiên hành giả làm thuần thục
tâm mình bằng cách tu tập về giai đoạn phát triển và sau đó đi vào giai đoạn toàn
thiện. Nhưng trong các thiền định Mahāyoga của Longchen Nyingthig, sau khi đã
được giới thiệu giác tánh nội tại chói ngời (chân tánh của tâm ta) và nhận ra tính bất
khả phân của giác tánh nội tại của ta và tâm giác ngộ của Lạt ma, thiền giả thiền định
trạng thái chứng ngộ đó và tu tập về những sự xuất hiện [của các hình tướng] như
mạn đà la của các Bổn Tôn [năng lực của giác tánh nội tại, Rig Pa]. Vì thế phương
pháp độc nhất vô nhị của Longchen Nyingthig là tu tập về giai đoạn phát triển và giai
đoạn toàn thiện trong sự hợp nhất. Bằng cách sử dụng sự hợp nhất tâm của ta và
tâm giác ngộ của Lạt ma, sự chứng ngộ trí tuệ được đánh thức một cách mạnh mẽ.
51
Giáo lý Longchen Nyingthig
Longchen Nyingthig bao gồm một ít tantra và nhiều sādhana kèm theo những giáo
huấn, luận giảng, và những bản văn bổ sung, trong hai (hay ba) quyển sách gốc
(rTsa Pod). Các giáo lý này được Jigma Lingpa khám phá như một terma tâm.
Ngoài hai quyển sách gốc, giáo khóa bao gồm Phurpa Gyüluk về Vajrakīla trong
một quyển sách, nó được xác nhận là một khám phá terma tâm và là một sưu tập
các tantra. Các giáo lý Longchen Nyingthig chính yếu được phân loại thành hai
phạm trù. Chúng là các tantra nguyên thủy của Nyingthig và các sādhana và giáo lý
Mật thừa.
Các tantra Nyingthig nguyên thủy là sự tương tục của bản tánh tuyệt đối (Pháp
thân) xuất hiện như các giáo lý đối với bản thân Jigme Lingpa hay đối với những
hóa thân trước đó của ngài và ngài đã đánh thức các giáo lý đó. Trong khi thực
hành ẩn cư trong ba năm tại Samye Chimphu, Jigme Lingpa đã nghiên cứu những 39
tác phẩm của Longchen Rabjam và cầu nguyện hết sức sùng mộ, nhìn thấy ngài
như một vị Phật. Jigme Lingpa có ba linh kiến thanh tịnh về Longchen Rabjam và
nhận những gia hộ của thân, ngữ và tâm của ngài. Trong linh kiến thứ ba,
Longchen Rabjam nói ba lần: “Cầu mong những chứng ngộ ý nghĩa được trao
truyền cho con, và cầu mong sự trao truyền những ngôn từ được hoàn toàn thành
tựu.” Ngay sau đó, Jigme Lingpa chứng ngộ bản tánh của Đại Viên mãn thoát khỏi
sự phân tích trong tâm và nhận sự trao truyền tuyệt đối (Don brGyud), và những
tantra nguyên thủy linh thiêng của Nyingthig xuất hiện trong ngài. Những tantra
nguyên thủy này xuất hiện trong ngài như cốt tủy được hợp nhất của cả ba cách thế
trao truyền – tức là sự trao truyền tâm, trao truyền bằng sự biểu thị, và khẩu truyền
– của ba thân Phật và những Đạo sư của tất cả dòng truyền thừa Dzopa Chenpo,
kể cả Guru Rinpoche, Vimalamitra, và Longchen Rabjam.52
Các sādhana và giáo lý Mật thừa Longchen Nyingthig là những giáo lý đến từ
Jigme Lingpa qua Guru Rinpoche như một terma.53
Trong khi Guru Rinpoche đang viếng thăm Tây Tạng, trên tầng hai ngôi chùa
chính của Tu viện Samye, ngài đã ban giáo lý Longchen Nyingthig cho Vua Trisong
Detsen, Khandro Yeshe Tsogyal, và Vairochana. Sau đó ngài giao phó những giáo
lý cho các vị này bằng phương tiện của dākinī xuất hiện tự nhiên, trí tuệ, nguyên lý
nữ của ba thân Phật. Ngài đã ban những quán đảnh tiên tri bằng cách nói rằng
những giáo lý này sẽ được Jigme Lingpa, một hóa thân (tülku) của Vua Trisong
Detsen, khám phá. Yeshe Tsogyal sắp xếp các giáo lý thành những chữ biểu
tượng của ký ức không bị lãng quên trên những cuộn giấy vàng có năm màu xuất
hiện tự nhiên. Với những quán đảnh ước nguyện, các ngài cất dấu những giáo lý
trong chiếc hộp kho tàng tâm yếu chói lọi (hay kho tàng tâm) của các đệ tử. Các
ngài phó chúc những giáo lý chôn dấu cho các dākinī, các trí tuệ Pháp giới tối
thượng (Pháp giới thể tánh trí), để giữ gìn cho tới đúng lúc đánh thức các giáo lý từ
trạng thái nội tại chói lọi trong tâm các vị khám phá terma.
Vì thế, nhiều thế kỷ sau đó, khi những quán đảnh tiên tri của Guru Rinpoche đã
thuần thục và những thuận cảnh bắt đầu có kết quả, các giáo lý Longchen Nyingthig
được cất dấu đã được đánh thức một cách phù hợp trong tâm giác ngộ của Jigme
Lingpa như một terma tâm.
Jigme Lingpa là một hóa thân của chính Vimalamitra và Vua Trisong Detsen,54 là
những vị nhận lãnh giáo lý Longchen Nyingthig từ Guru Rinpoche và Vimalamitra.
Vì thế những giáo lý Nyingthig của hai dòng chính cùng chảy trong Jigme Lingpa.
Longchen Nyingthig là cốt tủy hay hiện thân của hai truyền thống Nyingthig, Vima
Nyingthig và Khandro Nyingthig.
55 Phạm vi, ngôn ngữ, ý nghĩa, sự rõ ràng, và năng
lực của Longchen Nyingthig làm cho hành giả dễ lãnh hội giáo lý và việc thực hành
được mạnh mẽ, khiến cho trong những thế kỷ vừa qua việc nghiên cứu và thực
hành Longchen Nyingthig đã trở nên phổ thông trong một số đông đảo các
Nyingmapa (các hành giả phái Nyingma) ở Tây Tạng.
Những bản văn chính của Longchen Nyingthig là:56
CÁC TANTRA GỐC (RGYUD) CỦA Longchen Nyingthig57
1. Tantra gốc (rTsa rGyud): Küntu Zangpo Yeshe Longki Gyü (Kun Tu
bZang Po Ye Shes Klong Gi rGyud)
2. Tantra đến sau: Gyü Chima (rGyud Phyi Ma) 40
3. Các giáo lý (Lung): Küntu Zangpo Gong-nyam (Kun Tu bZang Po’i
dGongs Nyams)
4. Các giáo huấn (Me-ngag)
a. Các giáo huấn: Nesum Shenje và Neluk Dorje Tsigang (gNad
gSum Shan ‘Byed và gNas Lug rDo rJe’i Tshigs rKang)
b. Các luận giảng của chúng: Yeshe Lama (Ye Shes Bla Ma) với
các bản văn hỗ trợ của nó (rGyab Ch’os)
CÁC SĀDHANA VÀ GIÁO LÝ MẬT THỪA CỦA Longchen Nyingthig58
1. Những vị Trì minh vương nam
a. Hòa bình: ngoài: La-me Naljor (Bla Ma’i rNal ‘Byor)
trong: Rigdzin Düpa (Rig ‘Dzin ‘Dus Pa)
bí mật: Dug-ngal Rangtröl (sDug bsNgal Rang Grol)
bí mật tối thượng: Ladrup Thigle Gyachen (Bla sGrub
Thig Le’i rGya Chan)
b. Phẫn nộ: xanh dương: Palchen Düpa (dPal Ch’en ‘Dus Pa)
đỏ: Takhyung Barwa (rTa Khyung ‘Bar Ba)
2. Nữ Trì minh vương
a. Hòa bình: sādhana gốc: Yumka Dechen Gyalmo (Yum Ka bDe
Ch’en rGyal Mo)
b. Phẫn nộ: sādhana bí mật: Senge Dongchen (Seng Ge’i gDong
Chan)
Dòng truyền thừa Các Đạo sư của
Longchen Nyingthig
Dòng truyền thừa Longchen Nyingthig bắt đầu với Đức Phật nguyên thủy, hay tinh
túy Phật tối thượng, và truyền xuống tới các Đạo sư đương thời nhờ một dòng trao
truyền không đứt đoạn.
Dòng truyền thừa này bắt đầu từ ba thân Phật, Dharmakāya (Pháp thân),
Sambhogakāya (Báo thân), và Nirmānakāya (Hóa thân), nguyên lý của Phật quả.
Dharmakāya là bản tánh tối thượng không hình tướng. Sambhogakāya và
Nirmānakāya là những sắc thân hiển lộ của Đức Phật. Ba thân Phật là suối nguồn
tối thượng của tất cả các giáo lý tuyệt đối, chẳng hạn như Longchen Nyingthig. Từ
ba thân Phật, các Đạo sư trong loài người nhận lãnh các giáo lý, như trong trường
hợp của Đại Viên mãn thì Prahevajra đã nhận lãnh giáo lý này.
Prahevajra, Đạo sư đầu tiên trong loài người, đã trao truyền các giáo lý cho
Manjushrīmitra, vị này truyền cho Shrīsimha. Tới lượt Shrīsimha truyền cho
Jnānasūtra, Vimalamitra, Guru Rinpoche, và Vairochana. Vimalamitra cũng nhận
các giáo lý này từ Jnānasūtra.
Vimalamitra và Guru Rinpoche đã truyền các giáo lý cho Vua Trisong Detsen và
một ít người khác ở Tây Tạng. Guru Rinpoche đã chôn dấu nhiều giáo lý như41
terma. Ngài cũng truyền Khandro Nyingthig cho Lhacham Pemasal, hóa thân đời
trước của Longchen Rabjam.
Hầu như tám thế kỷ sau khi Guru Rinpoche chôn dấu Longchen Nyingthig, tinh
túy của các giáo lý Nyingthig, như một terma, Jigme Lingpa đã khám phá những
giáo lý này như một terma tâm. Jigme Lingpa có thể khám phá các giáo lý bởi ngài
đã có những trao truyền và phó chúc trong đời trước và đã nhận những gia hộ của
Longchen Rabjam trong ba linh kiến thanh tịnh trong đời hiện tại của ngài.
Trong bài cầu nguyện dòng truyền thừa Longchen Nyingthig, Jigme Lingpa đề
cập tới dòng truyền thừa của những Đạo sư sau đây, qua đó Longchen Nyingthig
được trao truyền và khám phá:59
Từ xứ sở không bị vướng bận bởi kích thước và thiên kiến,
Samantabhadra (Phổ Hiền), Đức Phật nguyên thủy Pháp thân,
Vajrasattva, năng lực hiển lộ của Báo thân, [xuất hiện] như một phản chiếu
trong nước,
Và Prahevajra trong những thuộc tính hoàn toàn viên mãn của Hóa thân,
Con khẩn cầu các ngài. Xin ban [cho chúng con] những quán đảnh gia hộ.
Shrīsimha,60 kho tàng của Pháp tối thượng,
Manjushrīmitra, Đạo sư của cỗ xe chín thừa,
Jnānasūtra, và Vimalamitra,
Con khẩn cầu các ngài. Xin chỉ cho con con đường dẫn tới giải thoát.
Padmasambhava, Pháp bảo duy nhất của cõi Diêm phù đề,
Cùng với Đức Vua, các Thần dân, và người Hỗ trợ,
61 những con cái-tâm yếu
siêu việt của các ngài,
Longchen [Rabjam], bậc giải mã đại dương các kho tàng tâm,
Jigme Lingpa, bậc được phó chúc kho tàng tối thượng của các Dākinī.
Con khẩn cầu các ngài. Xin cho con đạt được kết quả và thành tựu giải thoát. 42
1
PHÁP THÂN
Dharmakāya (Pháp thân), thân tối thượng, tạo thành nền tảng của mọi phẩm hạnh
của vị Phật, và nền tảng năng lực của các ngài để hoạt động. Bản tánh của Pháp
thân thì thanh tịnh tự trạng thái nguyên thủy của nó và thuần tịnh không bị mọi ô
nhiễm ngẫu nhiên. Siêu vượt tư tưởng và sự biểu lộ bằng ngôn từ, Pháp thân an trụ
không bị trói buộc trong những tính chất, giống như không gian. Không dời đổi khỏi
trạng thái Pháp thân, nó đáp ứng những nhu cầu của mọi sinh loài nhờ sự hiện diện
tự nhiên của hai sắc thân.
Trong những hình tượng của phái Nyingma, Pháp thân được tượng trưng bằng
một vị Phật nam và nữ trần trụi trong sự hợp nhất, có màu thanh thiên (xanh dương
nhạt), được gọi là Samantabhadra (Phổ Hiền).
Samantabhadra biểu thị phương diện chứng ngộ Pháp thân, bản tánh tối thượng
của mọi phẩm tính tốt lành và xấu xa của sinh tử và niết bàn. Tự nguyên thủy, ngài
chứng ngộ trí tuệ nguyên sơ của Pháp giới tối thượng, thoát khỏi sự ý niệm hóa.
Nhờ sự chứng ngộ này ngài không an trụ trong những cực đoan của sinh tử mà
cũng không an trụ trong sự an bình của niết bàn. Ngài được gia lực bằng sự thấu
suốt chân lý tối thượng, và sự thấu suốt này là trí tuệ nguyên sơ hoàn toàn bình
đẳng (bình đẳng tánh trí). Nó không là sự trống không đơn thuần do sự tịch diệt tạo
nên. Thay vào đó, đối tượng của trí tuệ nguyên sơ phân biệt (diệu quan sát trí) của
tất cả chư Phật, là tinh túy của trí tuệ nguyên sơ vi tế, an trụ như cõi tịnh độ của sự
quang minh nội tại, “thân trẻ trung trong một tịnh bình.” Sự quang minh nội tại của
mối liên hệ giữa trí tuệ nguyên sơ và đối tượng của nó có thể được ví như cách một
miếng pha lê phóng chiếu một quang phổ ánh sáng, nhưng trên thực tế những tia
sáng thì cố hữu trong miếng pha lê. Do bởi năng lực thiêng liêng này, sự quang
minh nội tại, năm vị Thầy của năm loại mạn đà la Báo thân an trụ, nhờ sự cố hữu
hiển lộ, trong sự phô diễn vĩ đại của những hình tướng và trí tuệ bất khả phân.
Pháp thân an trụ không có sự biến đổi, phân biệt, khác biệt, trong năm cách thế: 43
NƠI CHỐN: pháp giới tối thượng, cõi tịnh độ của “thân trẻ trung
trong một tịnh bình”
ĐẠO SƯ: Phổ Hiền, sự tự-tỉnh giác vĩ đại, trí tuệ nguyên sơ của
nhất thể-như thị
CÁC ĐỆ TỬ: Hội chúng như đại dương các trí tuệ nguyên sơ.
THỜI GIAN: Thời gian bất biến, sự như thị
GIÁO LÝ: Dzopa Chenpo (Đại Viên mãn) tối thượng, giáo lý của
thân, ngữ, và tâm không bị tạo tác.
Pháp thân, thanh tịnh tự nguyên thủy, nhất vị, giống như không gian. Nó an trụ
với ba loại trí tuệ nguyên sơ, siêu vượt sự khái niệm hóa của các cực đoan, thuyết
thực thể (vĩnh cửu) và thuyết hư vô. Ba trí tuệ nguyên sơ là:
1. Trí tuệ nguyên sơ của tinh túy nội tại, thuần tịnh tự nguyên
thủy, siêu vượt những cực đoan của sự khái niệm hóa và sự
biểu lộ bằng ngôn từ, giống như pha lê trong suốt.
2. Trí tuệ nguyên sơ của bản tánh thành tựu tự nhiên; nó là sự
quang minh vi tế, sâu xa, làm nền tảng cho sự xuất hiện của
những thuộc tính của phương diện biểu lộ, và nó không hiện
hữu như một cách thế đặc thù có tính chất hiện tượng.
3. Trí tuệ nguyên sơ của lòng bi mẫn trùm khắp (năng lực); nó
an trụ giống như mặt đất không gây chướng ngại để sự sinh
khởi xảy ra nhờ năng lực hiển lộ của tinh túy nội tại; nhưng
sự tỉnh giác này không phân tích đối tượng của nó.
Nếu có bất kỳ sự thô lậu nào thì Pháp thân sẽ thuộc về hiện tượng và nó sẽ có
những tính chất, trong trường hợp đó nó sẽ không đủ điều kiện như cái gì có sự an
bình và thoát khỏi sự khái niệm hóa như ý nghĩa rốt ráo của nó. Nếu không có
phương diện vi tế của sự quang minh sâu xa như nền tảng của sự xuất hiện thì
Pháp thân sẽ chỉ đơn thuần là một sự vắng mặt, giống như một khoảng trống. Vì thế
nó là một trí tuệ nguyên sơ của sự quang minh vi tế, mở trống, an trụ như nền tảng
của sự xuất hiện, siêu vượt hai cực đoan của thuyết thực thể (vĩnh cửu) và hư vô.
Pháp thân sở hữu ba phẩm tính vĩ đại:
1. Thuần tịnh vĩ đại (sPang Pa Ch’en Po): hai che chướng thình
lình và huyễn hóa với những tập quán của chúng, là cái thực
ra không hiện hữu, hoàn toàn được tịnh hóa.
2. Sự chứng ngộ vĩ đại (rTogs Pa Ch’en Po): Nhờ trí tuệ
nguyên sơ vĩ đại của sự bất nhị, Pháp thân nhìn tất cả sinh
tử và niết bàn mà không rơi vào sự phân biệt.
3. Tâm vĩ đại (Sems Ch’en Po): Do bởi hai phẩm tính trước,
những hiển lộ của Pháp thân đối với sự lợi lạc của tất cả
chúng sinh thì tự nhiên và thành tựu một cách tự nhiên mà
không có bất kỳ khái niệm nào. 44
2
BÁO THÂN
Dharmakāya (Pháp thân) an trụ trong trạng thái của sự quang minh sâu xa và bản
tánh tuyệt đối của các hiện tượng. Không chỉnh sửa bản tánh của Pháp thân,
Sambhogakāya (Báo thân) tự-xuất hiện, thân hỉ lạc, hiển lộ tự nhiên. Từ tinh túy của
Pháp thân, phương diện hiển lộ của trí tuệ nguyên sơ, vô số thân Phật và cõi tịnh
độ xuất hiện như sự tự-tri giác, giống như những tia sáng năm màu xuất hiện từ
một miếng pha lê nhờ những tia sáng mặt trời. Trong Báo thân, vị Thầy và các đệ
tử được hợp nhất trong phạm vi của cùng một sự chứng ngộ. Vị Thầy không ban
giáo lý mà đúng hơn, các giáo lý được tự xuất hiện trong trạng thái đồng nhất. Các
Báo Thân xuất hiện tự nhiên như sự tự-tri giác theo năm cách thế:
NƠI CHỐN: “Cõi tịnh độ vô song của mạng lưới tuyệt đẹp” tự-tri
giác
VỊ THẦY: Năm bộ Phật, chẳng hạn như Vajrasattva
(Akshobhya, Phật Bất Động), được tô điểm ba mươi hai tướng
tốt và tám mươi tướng phụ.
CÁC ĐỆ TỬ: Vô lượng chư Phật như đại dương, xuất hiện như
sự tự-hiển lộ của trí tuệ nguyên sơ, không gì khác hơn chính là
vị Thầy.
GIÁO LÝ: Cái thấy chói ngời vĩ đại, không thể diễn tả và thoát
khỏi những sự khái niệm hóa của biểu thị và ngôn từ.
THỜI GIAN: Sự bất biến; chu kỳ thời gian luôn luôn tiếp diễn
Có hai loại trao truyền trong Báo thân:
1. Trong cõi tịnh độ vô song, các giáo lý tantra được Samantabhadra (Phổ
Hiền) ban cho chư Phật Báo Thân tự-tri giác, chính là Đức Phổ Hiền, trong khi vị
Thầy và các đệ tử an trụ trong trạng thái chứng ngộ không thể phân biệt. Điều này
được gọi là sự trao truyền cùng một tâm của vị Thầy và đệ tử.
6245
2. Nhờ sự gia hộ của vị Thầy, những đệ tử có tâm thức khác biệt với tâm của
Thầy trở nên đồng nhất với tâm Thầy. Điều này được gọi là sự trao truyền việc trở
nên bất khả phân của tâm Thầy và đệ tử.
63
Năm trí tuệ nguyên sơ của Báo thân là:64
1. Pháp giới thể tánh trí (dharmadhātujnāna): Là sự hợp nhất bất khả phân của
ba phương diện: tánh Không vĩ đại (sự mở trống), là nền tảng của sự giải thoát,
thuần tịnh tự nguyện thủy; nền tảng của sự tự-quang minh, ánh sáng tự nhiên của
trí tuệ nguyên sơ; và Pháp giới tối hậu của trí tuệ tỉnh giác.
2. Đại viên cảnh trí (ādarshajnāna): Những hình tướng xuất hiện trong giác tánh
trống không-quang minh theo cách thế không bị chướng ngại, giống như sự xuất
hiện của những phản chiếu trong một tấm gương. Trí tuệ nguyên sơ này là phương
diện của nền tảng đối với sự xuất hiện của hai sắc thân, Báo thân và Hóa thân. Để
đáp lại những đệ tử có thể nhìn thấy và tu tập, hai sắc thân của Đức Phật và ba trí
tuệ nguyên sơ sau đây xuất hiện tự nhiên như một phản chiếu.
3. Bình đẳng tánh trí (samantājnāna): Đó là trí tuệ bình đẳng vĩ đại giải thoát tự
nguyên sơ, trong đó mọi sự xuất hiện của các sắc thân của Đức Phật xuất hiện phù
hợp với tri giác của các đệ tử, không rơi vào hay giữ bất kỳ cực đoan nào.
4. Diệu quan sát trí (pratyavekshanajnāna): là trí tuệ nguyên sơ đồng thời nhìn
thấy rõ ràng mọi hiện tượng có thể nhận thức được không chút sai lầm.
5. Thành sở tác trí (krityānushthānajnāna): là trí tuệ nguyên sơ thành tựu
những mục đích của riêng ta trong trạng thái của giác tánh nội tại, và phụng sự tự
nhiên mọi nhu cầu của chúng sinh mà không cần nỗ lực, giống như một viên ngọc
như ý.
Pháp giới thể tánh trí nhìn mọi sự như chúng là, chân lý tuyệt đối; và bốn trí tuệ
nguyên sơ kia nhìn thấy cách thức mọi sự xuất hiện, chân lý tương đối. 46
3
HÓA THÂN
Trong khi Pháp thân an trụ mà không di chuyển khỏi sự nhất như vĩ đại của sinh tử
và Niết bàn, sắc thân của Đức Phật, những hiển lộ lòng bi mẫn không cần dụng
công, xuất hiện trong những phô diễn muôn hình vạn trạng không ngơi nghỉ, như sự
phô diễn của những xuất hiện thần diệu.
Ngày nào sinh tử còn hiện hữu thì Nirmānakāya (Hóa thân), thân hiển lộ, sẽ còn
xuất hiện để đáp ứng những nhu cầu của những chúng sinh bình thường. Đó là bởi
khi mặt trăng được phản chiếu trong những thùng nước, thì có bao nhiêu thùng
nước là có bấy nhiêu mặt trăng để tạo ra ánh phản chiếu của nó. Hóa thân có thể
được phân thành ba loại:
1. Hóa thân tự nhiên (Rang bZhin sPrul sKu): Đối với các đệ tử có tri giác thanh
tịnh, và những bậc đã đạt được cấp độ nào đó trong mười cấp độ (thập địa), hiển lộ
Báo thân vĩ đại xuất hiện như tịnh độ vô song và những cõi tịnh độ của Năm Bộ
Phật, chẳng hạn như Vajrasattva, và của Ba Bộ Phật, chẳng hạn như Vajrapāni
(Kim Cương Thủ), giống như sự phản chiếu trong một tấm gương. Ở đây tâm của
các đệ tử không đồng nhất với tâm của vị Thầy, Đức Phật, nhưng trong thực tế
những cõi tịnh độ này là những cõi tịnh độ Báo thân, vì thế chúng được gọi là
những cõi tịnh độ nửa-Báo thân và nửa-Hóa thân.
2. Những bậc Hóa thân điều phục chúng sinh (‘Gro ‘Dul sPrul sKu): Đây là hiển
lộ của Hóa thân tuyệt hảo, có ba mươi hai tướng tốt và tám mươi tướng phụ. Các
ngài xuất hiện trong mỗi một cõi trong sáu cõi của vô số hệ thống thế giới. Bằng
mười hai công hạnh và những phương pháp thiện xảo các ngài phụng sự các nhu
cầu và sự giải thoát của tất cả chúng sinh. Hóa thân tuyệt hảo của cõi người trong
hệ thống thế giới của chúng ta trong thời hiện tại là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Mười hai công hạnh của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là (1) hạ thế từ cõi trời
Tushita (Đâu suất), (2) vào thai tạng của thân mẫu, (3) đản sinh, (4) học các nghệ
thuật, (5) lập gia đình, (6) từ bỏ đời sống gia chủ thế tục, (7) thực hành khổ hạnh,47
(8) du hành tới Cội Bồ đề, (9) chiến thắng ma quân, (10) đạt được Phật quả; và (12)
nhập niết bàn.
3. Hóa thân của những Thân tướng Khác nhau (sNa Tshogs SPrul sKu): Trong
hiển lộ Hóa thân này không có sự chắc chắn về nơi chốn, hình thức, hay khoảng
thời gian của sự hiển lộ. Nó xuất hiện trong bất kỳ hình thức nào thích hợp với
chúng sinh, chẳng hạn những sinh loài; như những hình tượng, Kinh điển, nhà cửa,
vườn tược, thuốc men, cầu đường, và v. v..
Trí tuệ nguyên sơ của Hóa thân là sự chứng ngộ rằng bất kỳ hình thức Hóa thân
nào xuất hiện trước chúng sinh thì không phải là những hình thức vô tri hay chỉ là
những phản chiếu. Các ngài có hai loại trí tuệ nguyên sơ, và những trí tuệ đó xuất
hiện một cách tự nhiên vì sự lợi lạc của chúng sinh.
Trí tuệ nguyên sơ “thấu suốt như nó là” là sự chứng ngộ bản tánh của chân lý
tuyệt đối của mọi vật hiện hữu có tính chất hiện tượng, không có bất kỳ sai lầm nào.
Trí tuệ này biểu lộ cho chúng sinh ý nghĩa của chân lý tuyệt đối, là chân lý thoát khỏi
những sự khái niệm hóa của sinh và diệt, giống như không gian.
Trí tuệ nguyên sơ “thấu biết tất cả” những sự hiện hữu có tính chất hiện tượng
đồng thời là sự chứng ngộ chân lý tương đối không lầm lẫn những tính chất khác
biệt của các hiện hữu hiện tượng.
Sự trao truyền độc nhất vô nhị của Đại Viên mãn được Prahevajra (Garab Dorje,
Kim Cương Hỉ) nhận từ Vajrasattva hay Vajrapāni. Vajrasattva và Vajrapāni là vị
Phật xuất hiện trong hình thức Sambhogakāya (Báo Thân) hay nửa Báo Thân, và
Prahevajra là vị Phật xuất hiện trong hình thức Hóa Thân. 48
4
PRAHEVAJRA (GARAB DORJE)
PRAHEVAJRA (dGa’ Rab rDo rJe)65 là một Nirmānakāya (Hóa thân), thân hiển lộ
của Đức Phật xuất hiện như Đạo sư Đại Viên mãn đầu tiên trong loài người. Theo
những nguồn mạch của Đại Viên mãn, Prahevajra sinh làm con gái của Vua xứ
Oddiyāna. Theo một vài học giả thì Oddiyāna ở khu vực quanh Thung lũng Swat mà
hiện nay là Pakistan. Oddiyāna là suối nguồn quan trọng nhất của các giáo lý Phật
giáo, hay tantra (Mật điển) bí truyền. Nó là một địa điểm đầy năng lực và là xứ sở
của các dākinī, nhiều tài nguyên thiên nhiên, rừng rậm và dã thú. Tại Oddiyāna
cũng có một ngôi chùa tráng lệ tên là Deche Tsekpa (Vô số Hỉ lạc) có 6.108 ngôi
chùa nhỏ bao quanh. Tất cả đều rất hưng thịnh.
Cách đó không xa lắm, trên một hòn đảo có cát vàng bao phủ, một sư cô tên là
Sudharmā,
67 con gái của Vua Uparāja68 và Hoàng hậu Ālokabhāsvati (Bậc Chiếu
sáng)69 xứ Oddiyāna đang thiền định trong một túp lều cỏ đơn sơ với một thị giả tên
là Sukhasāravati (Trái tim Hỉ lạc). Một đêm, sư cô có một giấc mơ trong đó một
người đàn ông tinh khiết với nước da trắng xuất hiện và đặt một bình pha lê lên đầu
cô ba lần. Chiếc bình có tô điểm năm chữ tượng trưng cho năm vị Phật và phát ra
những tia sáng, và cô có thể nhìn thấy ba cõi thật rõ ràng.
Sau giấc mơ, vào ngày mồng mười, sư cô sinh ra một cậu con trai tô điểm
những dấu hiệu kiết tường. Đứa trẻ này là tái sinh của Adhichitta, một hiển lộ của
Vajrasattva (Kim Cương Tát Đỏa), đấng xuất hiện trong cõi trời để truyền bá Đại
Viên mãn ở đó. Sư cô hoảng sợ và xấu hổ. “Đứa trẻ không cha này chính là một
tinh linh xấu ác!” cô la lên và ném nó vào một hố tro, mặc dù cô thị giả, là người có
những phẩm tính tốt lành, đã cảnh báo sư cô rằng đứa trẻ là một hiển lộ giác ngộ.
Vào lúc đó, người ta nghe thấy những âm thanh kỳ diệu, và những tia sáng xuất
hiện. Ba đêm sau đó, sư cô tìm lại được đứa bé, nó bình yên vô sự.
70 Cô nhận ra
rằng đứa bé là một hiển lộ giác ngộ, và cô đưa nó về nhà, quấn nó trong một miếng
lụa trắng và tắm cho nó. Vào lúc đó, các dākinī và hiền nhân ca ngợi và cúng
dường đứa trẻ, và từ trên không trung các vị trời tán thán: 49
Ồ Vị Bảo trợ, Đạo sư, Đấng Thế Tôn,
Bậc Thủ hộ của thế giới, người khám phá chân tánh,
Xin là vị bảo trợ mạnh mẽ của chúng con.
Kim cương của Pháp giới, chúng con khẩn cầu ngài.
Khi đứa trẻ lên bảy tuổi, tràn đầy năng lực trí tuệ, cậu nài nỉ mẹ cho cậu đi gặp
các học giả để có thể thảo luận với họ về giáo thuyết tôn giáo. Khi được cho phép,
cậu vội vã chạy tới ông của cậu là Vua Uparāja, và khẩn cầu được gặp các học giả.
Cậu thảo luận với năm trăm học giả, không ai có thể đánh bại cậu. Họ đồng lòng
chấp nhận cậu là một hóa thân giác ngộ và đặt bàn chân cậu lên đầu họ trong cử
chỉ vô cùng tôn kính. Họ tặng cậu bé danh hiệu Prajnābhava (Bản tánh Trí tuệ). Nhà
vua rất vui và tặng cho đứa trẻ danh hiêu Prahevajra (Kim cương Cực Hỷ). Cậu
cũng được gọi là Vetālasukha và Rolang Thaldok (Thây ma sống lại Hỉ lạc và Thây
ma sống lại màu Tro), bởi cậu đã được cứu sống từ tro tàn nơi cậu bị chôn vùi.
Sau đó ở phương bắc, trên vách đứng Núi Sūryaprakāsha (Núi Rực Nắng),
trong một túp lều cỏ, Prahevajra an trụ trong thiền định cho tới khi ngài ba mươi hai
tuổi. Trong chốc lát, ngài nhận những quán đảnh, giáo huấn, và phó chúc của các
tantra Đại Viên mãn từ Vajrasattva71 và đạt được cấp độ “vô tu,” Phật quả. Trái đất
rung động bảy lần, người ta nghe thấy những âm thanh từ không trung, và một trận
mưa hoa đổ xuống.
Khi nghe thấy những âm thanh chiến thắng đó, một vị vua dị giáo phái người tới
giết Prahevajra, nhưng họ không thể làm hại ngài, bởi thân ngài vô hình giống như
những tia sáng mặt trời. Ngay sau đó Prahevajra xuất hiện trong không trung, nhà
vua và các thần dân tăng trưởng niềm tin nơi ngài và trở thành những Phật tử.
Năm ba mươi hai tuổi, ngài đi đến núi Malaya. Ngài ở trên đỉnh núi ba năm và
chép lại các giáo lý của chư Phật trong quá khứ và đặc biệt là 6.400.000 câu kệ của
Đại Viên mãn đang hiện diện trong ký ức của ngài, với sự trợ giúp của các Dākinī
Vajradhātu và Anantagunā. Sau đó ngài giao cho Khandro Ngönpar Jungwar chăm
sóc giáo lý và giao trách nhiệm cho Dākinī Semden thực hiện những lễ cúng dường
cho Kinh điển thiêng liêng.
Với sự phô diễn thần diệu, Prahevajra đi tới đại bảo tháp ở Shītavana, mộ địa
huyền bí.72 Ở đó ngài ban giáo lý cho nhiều đệ tử kể cả Dākinī Suryakiranā. Trong
thời gian đó, phù hợp với lời tiên tri của Đức Văn Thù, Đạo sư Manjushrīmitra tới
mộ địa Shītavana và nhận những giáo lý Nyingthig từ Prahevajra trong bảy mươi
lăm năm.
Theo Khandro Nyingthig73 và những nguồn mạch khác, Shrīsimha cũng tới mộ
địa Shītavana và nhận Khandro Nyingthig và những giáo lý khác từ Prahevajra, và
sau này ngài trao truyền những giáo lý đó cho Guru Padmasambhava và
Vairochana.74
Cuối cùng, tại nguồn con sông Danatika, thân xác của Prahevajra tan biến vào
Pháp giới thuần khiết, giữa những dấu hiệu kỳ diệu như trái đất rung động, một khối
vĩ đại ánh sáng cầu vồng, và những âm thanh khác nhau.
Khi Manjushrīmitra dâng những lời cầu nguyện bi thương, từ giữa một khối ánh
sáng trong không trung, Prahevajra xuất hiện, và một chiếc hộp bằng vàng lớn bằng
một móng tay hạ xuống bàn tay Manjushrīmitra. Chiếc hộp này có đựng di chúc của
Prahevajra, tên là Ba Lời Thâm nhập điều Cốt tủy.
75 Nó bao gồm những lời sau: 50
Kính lễ sự chứng ngộ điều xác quyết nơi tự tánh!
[Bản tánh của] giác tánh là thoát khỏi sự hiện hữu,
Và những xuất hiện khác nhau của những sự tự-xuất hiện thì bất tận.
Vì thế mọi vật hiện hữu có tính chất hiện tượng đang xuất hiện như cõi tịnh độ
của Pháp thân,
Và mọi sự xuất hiện được giải thoát trong bản tánh [của giác tánh] tự thân.
[Cái thấy:] Sự Giới thiệu bản tánh tự thân [giác tánh của riêng ta].
[Con Đường:] Trở nên xác quyết về điểm duy nhất [của việc duy trì bản tánh tự
thân].
[Kết quả:] Có sự xác quyết nơi sự giải thoát [của mọi sự vào bản tánh nguyên
sơ].
Chỉ bằng cách đọc di chúc, Manjushrīmitra đã đạt được một sự chứng ngộ
tương đương với sự chứng ngộ của Prahevajra. 51
5
MANJUSHRīMITRA
MANJUSHRĪMITRA (‘Jam dPal bShes gNyen)76 sinh trong một gia đình bà la môn
trong thành phố Dvikrama ở hướng tây của Bodhgayā tại Ấn Độ. Thân phụ ngài là
Sādhushāstrī, và thân mẫu là Pradīpālokā.
77 Ngài trở thành một học giả của cả năm
lãnh vực học thuật.
Trong một linh kiến thanh tịnh, Đức Văn Thù ban cho ngài lời tiên tri này: “Ồ nam
tử của gia đình tốt lành, nếu con muốn đạt được Phật quả ngay trong đời này, hãy
đi tới mộ địa Shītavana.” Manjushrīmitra tới đó và nhận giáo lý từ Prahevajra trong
bảy mươi lăm năm. Prahevajra bảo ngài:
Bản tánh của tâm là Phật từ nguyên thủy.
Tâm, giống như không gian, không có sinh hay diệt.
Khi đã hoàn toàn chứng ngộ ý nghĩa của sự nhất như của mọi hiện tượng,
an trụ trong nó, không tìm kiếm, là thiền định.78
Manjushrīmitra đã chứng ngộ ý nghĩa của giáo lý của Prahevajra và diễn tả sự
chứng ngộ của ngài cho Prahevajra:
Con là Manjushrīmitra.
Con đã đạt được sự thành tựu Yamāntaka.
Con đã chứng ngộ sự bình đẳng vĩ đại của sinh tử và Niết bàn.
Trí tuệ nguyên sơ thấu suốt mọi sự phát khởi trong con.
Khi Prahevajra đạt được Niết bàn giữa những dấu hiệu kỳ diệu, Manjushrīmitra
nhìn thấy Prahevajra trong không trung giữa một khối ánh sáng, và ngài đã thốt ra
lời than thở này:
Than ôi, than ôi, than ôi! Ồ sự Bao la Rộng lớn!
Nếu ánh sáng ngọn đèn của vị Thầy bị che khuất,
Ai sẽ xua tan bóng tối của thế giới? 52
Từ khối ánh sáng với âm thanh của một tiếng sấm xuất hiện một hộp bằng vàng
lớn bằng một móng ngón tay cái. Trên không trung chiếc hộp đi nhiễu quanh
Manjushrīmitra ba lần. Sau đó nó hạ xuống lòng bàn tay phải. Khi mở hộp, ngài tìm
thấy di chúc Ba Lời Thâm nhập điều Cốt tủy của Prahevajra viết bằng chất nước
ma-la-chít (malachite) màu xanh dương trên một cái lá làm bằng năm chất quý báu.
Chỉ nhìn thấy nó ngài đã đạt được một sự chứng ngộ tương đương với chứng ngộ
của Prahevajra. Sau đó Manjushrīmitra phân loại 6.400.000 câu kệ của Dzopa
Chenpo thành ba phạm trù (sDe):
1. Các giáo lý nhấn mạnh cách thức tâm “an trụ”, ngài đã phân loại là
Semde
2. Các giáo lý nhấn mạnh việc thoát khỏi những nỗ lực, ngài đã phân loại
là Longde
3. Các giáo lý nhấn mạnh những điểm cốt tủy, ngài đã phân loại là Mengagde
Manjushrīmitra phân chia Nyingthig, giáo lý phi thường nhất của Me-ngagde
thành hai nhóm:
1. Những giáo lý khẩu truyền (sNyan rGyud)
2. Các tantra có tính cách giải thích (bShad rGyud)
Ngài đã ghi lại những giáo lý khẩu truyền. Nhưng đối với những tantra có tính
cách giải thích, ngài