Daily Archives: October 28, 2013

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ và Phật Giáo Thời Ðại

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ
và Phật Giáo Thời Ðại
Lê Hiếu Liêm

 

 

Chương một: Dẫn nhập Việt Nam và Phật Giáo đầu thế kỷ hai mươi.

 

Đầu thế kỷ 20, tư tưởng Nho Giáo, thống trị độc tôn đất nước từ Thời Hồ Quý Ly, nhà Lê và nhà Nguyễn suốt 400 năm, hoàn toàn sụp đổ. Tư tưởng Phật Giáo, ngự trị vinh quang trong thời đại Lý Trần từ thế kỷ thứ 11 đến cuối thế kỷ 14, suy đồi tận gốc. Tư tưởng Tây Phương và tôn giáo của nó, Thiên Chúa Giáo La Mã, bị đại đa số trí thức và nhân dân coi như sản phẩm và công cụ của chế độ Thuộc Địa và thực dân Pháp nên vẫn không được chấp nhận. Ý thức hệ Cộng Sản cũng như các tư tưởng mới khác chưa ra đời. Cả một khoảng trống tư tưởng, cũng có nghĩa là một khoảng trống tôn giáo và chính trị, to lớn bao trùm trên một nước Việt Nam bị nô lệ, bóc lột, áp bức, lạc hậu và nghèo đói. Nhưng đây cũng là môi trường lý tưởng cho sự ra đời của những tư tưởng mới, những tôn giáo mới, những chính đảng mới và những phong trào mới: Phong trào Đông Du và Việt Nam Duy Tân Hội của Phan Bội Châu từ năm 1904,Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can và các nhà Nho tiến bộ năm 1907, tư tưởng dân quyền và dân chủ của Phan Chu Trinh suốt hai mươi năm (1905-1925), phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội cùng năm, Việt Nam Quang Phục Hội năm 1912, cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ và ở Huế năm 1916 của Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, vua Duy Tân…, phong trào Hội Kín ở miền Nam năm 1913-1916 lan rộng khắp Lục Tỉnh và cuộc tấn công Sài Gòn năm 1916. Các hoạt động này đã liên tục diễn ra từ đầu thế kỷ 20 đến cuối đệ nhất thế chiến.

Tuy nhiên mãi đến đầu thập njiên 20 Việt Nam mới thật sự thức dậy với sự ra đời Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng Chí Hội và Tân Việt Cách Mạng Đảng năm 1925, Đạo Cao Đài năm 1926, Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927, Cuộc khởi nghĩa Yên Bái và sự ra đời của Đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930 và phong trào Sô Viết Nghệ Tỉnh 1930-1931.

 

Trong thời gian sôi động này, từ 1925 trở đi, Phật Giáo cũng đã thức dậy. Từ năm 1923, thiền sư Khánh Hòa và thiền sư Thiện Chiếu đã thành lập, tại chùa Long Hòa ở Trà Vinh, Hội Lục Hòa Liên Hiệp với mục đích vận động thành lập một Hội Phật Giáo Việt Nam toàn quốc để chấn hưng Phật Giáo. Thiền sư Thiện Chiếu, khác hẳn tất cả tăng sĩ Phật Giáo đương thời, là một tăng sĩ có tân học. Ông đã đi ra Trung và Bắc vận động thống nhất Phật Giáo năm 1927 nhưng bất thành.

Năm 1928 thiền sư Khánh Hòa xây dựng Thích Học Đường và Phật Học Thư Xã tại Chùa Linh Sơn, Sài Gòn và năm 1929 Ông cho ấn hành tạp chí Viên Âm, tập san Phật Học đầu tiên bằng quốc ngữ tại Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Xoài Hột, Mỹ Tho. Cùng thời, thiền sư Thiện Chiếu xuất bản một tạp chí Phật Học nhắm vào giới thanh niên trí thức lấy tên là Phật Hòa Tân Thanh Niên, đặt tòa soạn tại chùa Chúc Thọ ở Gia Định.

 

Năm 1931 thiền sư Khánh Hòa cùng nhiều tăng sĩ và cư sĩ thành lập Hội Phật Học đầu tiên tại Việt Nam, lấy tên là Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học và thiền sư Từ Phong được mời làm Chánh Hội Trưởng. Hội ra tờ Từ Bi Âm năm 1932. Thiền sư Khánh Hòa, cùng người cộng sự thân tín là thiền sư Thiện Chiếu đã đóng vai trò tiền phong khai mở phong trào chấn hưng Phật Giáo và hiện đại hóa Phật Giáo, chuyển động sâu rộng lịch sử Phật Giáo và lịch sử Việt Nam trong suốt 65 năm qua.

Tại miền Trung, thiền sư Giác Tiên mở Phật Học Đường  tại chùa Trúc Lâm năm 1929 và ủy thác cho đệ tử là bác sĩ Lê Đình Thám thành lập Hội An Nam Phật Học năm 1932. Hội quy tụ đông đảo những danh tăng và cư sĩ trí thức tại miền Trung. Cư sĩ Lê Đình Thám được bầu làm Hội Trưởng và vua Bảo Đại được mời làm Hội Trưởng Danh Dự. Hội ra tạp chí Phật Học Viên Âm năm 1933. Năm 1934, thiền sư Giác Tiên, cư sĩ Lê Đình Thám… đã thành lập Trường An Nam Phật Học, trong đó có mở cấp Đại Học Phật Giáo. Đặc biệt hơn nữa là Hội đã phát động phong trào “Chỉnh Lý Tăng Già” rất quyết liệt để loại trừ ra khỏi tăng già những thành phần phạm giới, bất xứng. Chính nhờ những nổ lực cấp tiến này mà Phật Giáo miền Trung đã đóng được một vai trò quan trọng trong những thập niên sau đó.

Năm 1934 các thiền sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo cùng với giới cư sĩ trí thức tên tuổi tại Hà Nội như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Dương Bá Trạc, Trần Văn Giáp, Nguyễn Năng Quốc, Nguyễn Hữu Kha, Bùi Kỷ, Lê Dư… thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội, bầu cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm hội trưởng và suy tôn thiền sư Thanh Hanh làm Thiền Gia Pháp Chủ. Đặc biệt là trong buổi lễ suy tôn Pháp Chủ này, cư sĩ Trần Trọng Kim đã thuyết pháp về đề tài; “Thập Nhị Nhân Duyên”. Hội ra tạp chí Đuốc Tuệ năm 1935 và phát triển mạnh mẽ khắp miền Bắc (Nguyễn Lang, Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, q 3, t 51-173).

Đặc tính của cả ba Hội Phật Học tại ba miền là vai trò nổi bật của giới trí thức cư sĩ, là thuần túy Phật học và sinh hoạt Phật sự. Thời điểm 1925-1945 là thời điểm chuẩn bị trong kiên nhẫn và thầm lặng. Các hội Phật Học đã làm đúng chức năng và vai trò lịch của mình, một cách khiêm tốn, từ đống gạch vụn đổ nát của nền Phật học và Phật Giáo Việt nam trong thời Thực Dân Pháp thống trị.

Trong thời kỳ này xuất hiện những con người đặc biệt, xuất sắc và những tư tưởng mạnh mẽ, quyết liệt, trong Phật Giáo cũng như ngoài Phật Giáo. Từ đầu thập niên 30, tư tưởng Phật Hộc của Thích Thiện Chiếu đã là những quả bom chấn động. Và năm 1939 Huỳnh Phú Sổ xuất hiện làm một cuộc cách mạng tôn giáo, cải cách toàn bộ và triệt để Phật Giáo chưa từng có trong hai ngàn năm lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Miền Nam, một vùng đất lạ lùng và kỳ diệu…

 

An Hòa Tự

Phan Chu Trinh từ Pháp trở về Sài Gòn năm 1925, đất nước bùng lên những làn sóng tư tưởng dân quyền và dân chủ. Ông khẳng định phải tìm nguyên nhân mất nước trong sự mất đạo đức, mất luân lý, trong bài diễn thuyết Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây, và ông cũng khẳng định chế độ quân chủ chuyên chế là nguyên nhân chính làm mất nước trong bài thuyết giảng Quân Trị Chủ Nghĩa và Dân Trị Chủ Nghĩa tại Sài Gòn năm 1925. Ông mất năm sau đó và đám tang ông cùng với cuộc vận động ân xá nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã khơi bùng phong trào yêu nước và yêu tự do dân chủ trên toàn quốc, đặc biệt là trong giới thanh niên.

Nhưng dữ dội, bốc lửa và sấm sét trong tư tưởng yêu nước chống thực dân cũng như tư tưởng tự do dân chủ, trong thời này, chỉ có Nguyễn An Ninh là đi xa nhất, quyết liệt nhất. Là một thanh niên miền Nam,Ông đi du học ở Pháp và trở về nước với bằng cử nhân Luật. Lợi dụng quy chế thuộc địa của Nam Kỳ, nơi mà báo chí bằng tiếng Pháp được tự do, không bị kiểm duyệt, Ông ra tờ La Cloche fèlèe (Tiếng Chuông Rè) từ năm 1923 đến năm 1926. Ông tự xưng tờ báo của Ông là “cơ quan tuyên truyền tư tưởng Pháp”, lấy tư tưởng của kẻ xâm lăng để đập những nhát búa tạ vào chế độ Thực Dân, đồng thời tờ báo cũng tự nhận là “cơ quan chuẩn bị cho tương lai dân tộc”. Thật là độc đáo và tuyệt vời.

Ngoài việc phê bình kịch liệt, thẳng tay chính sách và chế độ thực dân, Ông cổ võ cho việc đào tạo một tầng lớp thanh niên Việt Nam tân học, có văn hóa, có lý tưởng, có chí khí, có năng lực và có tổ chức vàÔng tuyệt đối tin vào sức mạnh và vào tương lai của nhân dân Việt Nam. Ông chủ trương một nước Việt Nam thống nhất từ Nam chí Bắc và trở về lịch sử dân tộc để tìm niềm tin và sức mạnh. Ông hô hào, khi chỉ mới ngoài 20 tuổi, “Chẳng những phải duy trì những giấc mộng vĩ đại, mà còn phải tổ chức thành một nhóm quan trọng để chuẩn bị cho tương lai”. Không những tư tưởng táo bạo, độc đáo, mới lạ, kiến thức của Ông cũng rất uyên bác. Khi Thống Đốc Nam Kỳ tuyên bố: “Xứ này không cần trí thức”. Ông đã viết bài trả lời bốc lửa: “… Những thảm khổ của chúng ta ngày nay, còn gì nữa, đúng là do tổ tiên của chúng ta đã sờ mó vào cây kiến thức. Hạng trí thức đã làm đảo lộn thế giới, làm hư hỏng hạnh phúc của thế giới. Hãy nguyền rủa tên tuổi của Prométhé, kẻ đã lấy trộm chút lửa của Trời. Hãy nguyền rủa con người đã bày ra cái ná cao su cho trẻ con bắn đá vào trán ông khổng lồ… Trí Tuệ, đó là cái tai hại. Trí tuệ, đó là con rắn cuốn quanh thân cây đã làm cho chúng ta vĩnh viễn mất cõi thiên đường… Nói đến vai trò giáo dục, vai trò văn minh của các ông chủ xứ Đông Dương này, thưa các ông, điều ấy làm ta mỉm cười… Người ta đã quỳ lụy bái phục những vị “đem ánh sáng tới”, những vị “làm điều kỳ diệu ở Ấu Châu”… Cái gì kỳ diệu? Thực ra cái kỳ diệu đó là, chỉ trong một thời gian ngắn thôi, người ta đã có thể làm cho trình độ trí thức của người Nam đã thấp đi lại càng rơi vào chỗ cực kỳ dốt nát. Cái kỳ diệu đó là người ta đã có thể, trong một thời gian ngắn như thế, xô đẩy một dân tộc có tư tưởng dân chủ, ngã nhào vào tình trạng nô lệ hoàn toàn“. (Trần Văn Giàu, Sự Phát Triển Của Tư Tưởng ở Việt Nam Từ Thế Kỷ 19 đến Cách Mạng Tháng Tám, q2, t 311).

Nguyễn An Ninh cũng là một trong những nhà trí thức tân học đầu tiên nghiên cứu Phật Học và hoàn thành một tác phẩm Phật Học quan trọng, cuốn “Phê Bình Phật Giáo”. Sau thời kỳ hoạt động sôi nổi từ 1923 đến 1926, Nguyễn An Ninh bị ở tù trong thời gian 1926-1927, sau đó Ông về nghiên cứu Phật Giáo. Trên bàn làm việc của Ông, có một cái chuông, một cái mõ, Ông cạo trọc đầu và đi chân không.Ông nghiên cứu Phật Giáo qua tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và các hoạt động Phật Giáo trong nước. Cuốn Phê Bình Phật Giáo xuất bản năm 1937 là kết quả của sự nghiên cứu này. Tựa đề của cuốn sách, 70 năm sau cũng không có ai dám viết một cuốn sách Phật Học có tựa đề thách thức và can đảm như vậy. Mục đích và phương pháp luận còn mới lạ, táo bạo hơn, đó là “so sánh Phật Giáo với thời đại của nó để chỉ chỗ hay, chỗ đúng hơn của nó đối với các thuyết khác và so sánh Phật Giáo với thời đại này để chỉ sai lầm của Phật Giáo“. Tác phẩm này được giới trí thức, giới chính trị cũng như giới Phật Giáo chú ý đặc biệt.

Nhưng không gây sóng gió và tranh luận suốt nhiều năm trời như những tác phẩm của Thích Thiện Chiếu.Đối với Tăng, Ni, Phật Tử thập niên 30, những tư tưởng Phật Học của Thích Thiện Chiếu là những tiếng sét ngang tai. Ngày nay đọc lại, chắc chắn quý vị tăng sĩ, cư sĩ và Phật Tử cũng không khỏi giựt mình, chấn động và suy nghĩ. Những tư tưởng này, được viết từ thập niên 30, ngày nay, cuối thập niên 90, vẫn còn mới, còn táo bạo, còn chứa đầy sức nặng của đá tảng và sức nổ của sấm sét. Thích Thiện Chiếu là tinh hoa sáng chói của Phật Giáo trong thập niên 20, 30. Ông đã đi tiền phong trong mọi lãnh vực chấn hưng và hiện đại hóa Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ 20 này.

Ta phải đứng trên một đỉnh núi cao, mới hy vọng nhìn thấy những cái gì chưa ai nhìn thấy, những cái gì nằm khuất sau dãy núi cao. đó có thể là những dãy núi cao hơn, hay là một đại dương mênh mông hay là một bình nguyên rực rỡ. Thích Thiện Chiếu là một ngọn núi cao của Phật học và Phật Giáo Việt Nam trước đệ nhị thế chiến. Ta hãy đứng trên đỉnh núi cao ngất, hùng tráng này để nhìn rõ một đỉnh núi cao ngất, hùng vĩ khác, là Cư sĩ, Bồ Tát, Giáo Chủ Huỳnh Phù Sổ.

|Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10|TK|

Categories: Đức Huỳnh Giáo Chủ | Leave a comment

Hungary kỷ niệm trọng thể cuộc Cách mạng dân chủ 1956

03:25:pm 23/10/13 | Tác giả: 

Hungary kỷ niệm trọng thể cuộc Cách

mạng dân chủ 1956

Thủ tướng Hungary Viktor Orban đọc diễn văn trong lễ kỷ niệm 57 năm cuộc Cách mạng dân chủ, Budapest, 23/10/2013 REUTERS

Thủ tướng Hungary Viktor Orban đọc diễn văn trong lễ kỷ niệm 57 năm cuộc Cách mạng dân chủ, Budapest, 23/10/2013
REUTERS

Ngày 23/10/2013, Hungary trọng thể kỷ niệm 57 năm cuộc cách mạng dân chủ 1956. Đây là một trong ba đại lễ thường niên của đất nước này, và là đại lễ luôn để lại những dư âm, những biến động trên chính trường, do tầm ảnh hưởng lớn lao của những sự kiện diễn ra đã cách đây gần sáu thập niên.

Tường trình của thông tín viên Hoàng Nguyễn từ Budapest:

Diễn ra trong vòng chưa đầy hai tuần và bị quân đội Liên Xô tràn vào đè bẹp, nhưng biến cố 1956 đã được coi như một cuộc cách mạng tinh khôi hiếm thấy trong lịch sử thế giới. Như lời văn hào Pháp Albert Camus nhận định: “Nước Hungary bị chà đạp, bị xiềng xích, đã nỗ lực cho tự do và công lý hơn bất cứ dân tộc nào trên thế giới trong vòng hai mươi năm qua…”.

Cuộc cách mạng 13 ngày

Những yếu tố của một cuộc khởi nghĩa chống lại chính quyền Cộng sản theo hướng toàn trị Stalinist thực ra đã ngấm ngầm tồn tại từ đầu năm 1956, khi tại nhiều nước trong khối Cộng sản đã có những biến chuyển. Đặc biệt là ở Liên Xô, cuối tháng 2/1956, Tổng bí thư Khrushchev đã công bố bản báo cáo mật vạch trần bộ mặt xấu xa của nhà độc tài Stalin tại Đại hội đảng lần thứ XX.

Cuộc cách mạng rất nhiều người Hungary mong đợi, rốt cục đã bùng nổ vào ngày 23/10, thoạt tiên dưới dạng một cuộc biểu tình tự phát ôn hòa của giới sinh viên Đại học Kỹ thuật Budapest. Cư dân Budapest, công nhân các nhà máy lớn – trong số đó có không ít đảng viên Cộng sản – đã rất nhanh chóng hòa nhập vào đoàn biểu tình.

Bản yêu sách 16 điểm – những đòi hỏi chính yếu của cuộc cách mạng – đã vang lên trước Nhà Quốc hội Hungary, đòi thành lập một chính phủ mới theo xu hướng cải cách; quân đội Liên Xô phải tức khắc rút khỏi Hungary; phế truất và đưa ra tòa những lãnh tụ Cộng sản độc đoán; đảm bảo quyền tự do ngôn luận, báo chí và các quyền công dân khác; tổ chức bầu cử tự do, đa đảng…

Chín rưỡi tối, hơn 300 000 người đổ ra đường, lật đổ bức tượng Stalin cao 10 mét, biểu tượng của thể chế độc tài tại Hungary. Hoảng hốt, ban lãnh đạo Cộng sản đã chỉ thị cho mật vụ chính trị nổ súng vào đoàn biểu tình, đồng thời, yêu cầu Liên Xô trợ giúp. Cuộc biểu tình hòa bình của sinh viên và cư dân Budapest đã biến thành khởi nghĩa vũ trang.

Ngay sau khi xảy ra biến cố 23/10/1956, chiến xa Liên Xô đã được điều động từ các tỉnh về Budapest. Tuy nhiên, người dân Budapest đã dùng mọi vũ khí thô sơ để kháng cự. Với sự xuất hiện của quân đội ngoại bang tại đất Hungary, biến cố 1956 trở thành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và trong vài ngày đầu, sự can thiệp của Liên Xô đã thất bại.

Sau khi được trở lại cương vị Thủ tướng, vị chính khách có tinh thần dân tộc và theo hướng cải tổ Nagy Imre đã lên tiếng đòi quân đội Nga phải tức khắc rút khỏi Budapest và chủ trương tiến hành đàm phán để rút khỏi nước Hungary. Đồng thời, ông cũng ra chỉ thị giải tán cơ quan mật vụ chính trị, công bố đại ân xá và tái lập thể chế đa đảng.

Trước cảnh mắt xích Hungary có thể rời khối Cộng sản, đầu tháng 11/1956, Liên Xô quyết định can thiệp vũ trang vào Hungary đúng vào lúc Thủ tướng Nagy Imre tuyên bố nước này rút khỏi khối Hiệp ước Warszawa và trở thành một quốc gia trung lập. Rạng sáng 04/11/1956, quân đội Xô-viết ồ ạt tràn sang đất Hungary để đàn áp cuộc cách mạng.

Sau chừng một tuần, cuộc chiến hoàn toàn không cân sức đã chấm dứt: 20 000 người Hungary đã bỏ mạng hoặc bị thương trong cuộc chiến ác liệt. Thủ đô Budapest bị tàn phá, nhưng ở nhiều nơi, những người nổi dậy với những vũ khí hết sức thô sơ trong tay đã quyết tâm “tử thủ”, gây cho quân đội Liên Xô những tổn thất không nhỏ.

Cuộc nổi dậy 1956 bị đàn áp, Thủ tướng Nagy Imre bị treo cổ trong một vụ án ngụy tạo năm 1958, vài trăm người bị tử hình và rất nhiều người tham gia cách mạng bị bỏ tù hàng loạt, chừng 250 000 người phải bỏ nước ra đi trong một làn sóng di tản lớn chưa từng có của đất nước này, ghi dấu ấn một trang sử hết sức bi hùng trong lịch sử Hungary thế kỷ 20.

 Mộ của cố Thủ tướng Hungary Imre Nagy tại nghĩa trang Budapest (ảnh chụp 23/10/2011) REUTERS
Mộ của cố Thủ tướng Hungary Imre Nagy tại nghĩa trang Budapest (ảnh chụp 23/10/2011)
REUTERS

Tác nhân của biến cố lịch sử: “Những chàng trai Pest”

Thế kỷ 20 cũng như thời gian trước đó đã có không ít cuộc cách mạng bi thảm, nhưng biến cố 1956 tại Hungary nổi trội ở điểm, nó đã được sự tham gia rất đông đảo của giới thanh, thiếu niên quả cảm và can trường, những người đã đi vào lịch sử với tên gọi “những chàng trai Pest”, biểu tượng của cuộc khởi nghĩa.

Thế hệ trẻ Hungary thời ấy, do không vướng bận những toan tính chính trị hay ý thức hệ, sẵn sàng xuống đường và cầm vũ khí hơn những bậc cha, anh của họ. Theo một hồi tưởng, tại khu Corvin, nơi xảy ra chiến sự ác liệt nhất, hơn 80% những chiến sĩ chỉ mới ở độ tuổi 20 tuổi. Trong số những người bị thiệt mạng, 21% ở độ tuổi 19 hoặc trẻ hơn, 4% ở ngưỡng 16 hoặc chưa tới.

Một thống kê cho thấy, học sinh, sinh viên và công nhân ở độ tuổi dưới 25 đã có mặt và nắm phần chủ đạo trong đại đa số các trận chiến chống lại chiến xa Liên Xô trên đường phố Budapest. Ở khu Corvin, chỉ bằng bom xăng và những vũ khí tự chế, “những chàng trai Pest” đã bắn hạ 17 chiến xa Liên Xô trong vòng một ngày và biến mỗi góc phố, mỗi ngôi nhà thành chiến lũy.

Sở dĩ có được những kết quả bất ngờ như thế là vì giới trẻ đã chiếm được thiện cảm và sự hỗ trợ của cư dân. “Động cơ” của họ khi cầm vũ khí rất trong sáng và vô tư: Có người, vì đồng tình với những đòi hỏi dân chủ 16 điểm của giới sinh viên; có người vì hy vọng một tương lai tươi sáng, phồn vinh hơn. Rất ít người vì những lý do hay mục đích cá nhân.

Tham gia cách mạng 1956, những thanh, thiếu niên Hungary đã thừa hưởng tình yêu quê hương đất nước lãng mạn từ thời đại của người anh hùng dân tộc – thi sĩ Petőfi Sándor (những năm 1848-1849). Giới nghiên cứu cho rằng, nếu thiếu họ, biến cố 1956 chắc hẳn sẽ chấm dứt sau vài ngày với những thỏa hiệp theo mọi hướng với chính quyền cộng sản và Điện Kremlin.

Trong suốt ba thập niên thời cộng sản tại Hungary, người dân nước này đã lưu truyền một câu chuyện tiếu lâm kinh điển – vừa mang âm hưởng tự hào, vừa pha chút ngậm ngùi – về vai trò “những chàng trai Pest” trong khởi nghĩa 1956: “Tại sao quân Liên Xô chỉ toàn tấn công vào sáng sớm? Là vì khi đó bọn trẻ vẫn đang ngủ!”.

Được coi như những anh hùng bên chiến lũy, ký ức về “những chàng trai Pest” còn mãi đọng lại trong người dân Hungary, và là nguồn cảm hứng cho giới thanh niên cấp tiến cuối thập niên 80 thế kỷ trước đã tham gia tích cực vào những biến chuyển dân chủ, khiến Hungary chuyển đổi thể chế một cách ôn hòa, và trở thành quốc gia Đông Âu hàng đầu trên góc độ này.

Những yếu nhân, sáng lập viên Liên đoàn Thanh niên Dân chủ FIDESZ, đứng đầu là Chủ tịch Orbán Viktor, hiện là Thủ tướng Hungary, cũng từng mang trong lòng di sản đẹp đẽ của thế hệ thanh niên 1956. Ngày nay, khi trở thành những chính khách bị coi là chỉ còn đặt lợi ích đảng phái, cá nhân lên trên hết, lời chỉ trích nặng nhất đối với họ, là đã “phản bội lý tưởng 1956″.

Hungary hiện tại và di sản 1956

Trong vòng hơn ba thập niên, 1956 bị coi là đề tài cấm kỵ và nếu có được nhắc đến thì luôn đi kèm với khái niệm “bạo loạn phản cách mạng”. Biến chuyển dân chủ 1989 đến với Hungary kể từ khi một lãnh tụ đảng cao cấp, ông Pozsgay Imre, tuyên bố đó là một “cuộc khởi nghĩa nhân dân”. Chính thể Cộng sản hoàn toàn mất chỗ đứng và tính chính đáng, hợp thức kể từ đó!

Như một động thái mang tính chất tượng trưng, nền đệ tam Cộng hòa Hungary đã lựa chọn ngày tuyên bố ra đời vào đúng vào 23/10/1989, kỷ niệm 33 năm ngày cách mạng 1956 bùng nổ. Göncz Árpád, nhân sĩ từng bị án tù chung thân vì tham gia cuộc khởi nghĩa 1956, trở thành vị Tổng thống đầu tiên của Cộng hòa Hungary trong hai nhiệm kỳ, 1990-2000.

Tuy nhiên, để xứng đáng với di sản để lại của 1956, không hề đơn giản. Từ nhiều năm nay, hầu như đảng phái nào tại Hungary trong cuộc chiến tranh giành ảnh hưởng và quyền lực cũng tự nhận là “nối dõi” truyền thống 1956, nhưng trong thực tế lợi ích đảng phái của họ quá bao trùm, khiến chính trường Hungary gặp mâu thuẫn trầm trọng, xã hội bị chia rẽ nặng nề.

Nhiều năm, kỷ niệm 23/10 trở nên cuộc đấu sức giữa các đảng, xem đảng nào vận động được nhiều cổ động viên hơn ra đường, mang tính thị uy lẫn nhau. Những cuộc đại biểu tình – nhiều khi đi kèm bạo lực và những sự kích động – cũng hay diễn ra trong dịp này, không phản ánh được đúng tính chất phản kháng ôn hòa cho một xã hội tốt hơn của cuộc cách mạng.

Trong năm nay, 23/10 được thông báo là ngày hội của phe đối lập, khi đại đa số các đảng phái, tổ chức đối lập trước nay hoạt động biệt lập, nay kết lại thành một “đại liên minh” để chống lại phe cầm quyền do đảng cánh hữu FIDESZ đứng đầu. Phe này, do lợi thế 2/3 số ghế trong Quốc hội, 3 năm vừa qua đã trở nên bảo thủ và độc đoán trong mắt những người yêu dân chủ.

Đứng trước kỳ tổng tuyển cử Quốc hội mùa xuân 2014, có thể thấy kỷ niệm về một nỗ lực dân chủ, tự quyết và độc lập dân tộc lại không được vinh danh đúng cách trong dịp 23/10 năm nay, thay vào đó là những hoạt động với mục tiêu cá nhân riêng lẻ và bé phái. “Ngày Tự do”, như tên gọi của nó, vẫn mang những vị đắng, đặc biệt trong cảnh Hungary vẫn khủng hoảng trầm trọng!

Công luận Hungary, hiện chưa thực sự đặt niềm tin vào một đảng phái nào, chỉ hy vọng vào nỗ lực tranh đấu của người dân, của các tổ chức dân sự trước sự độc đoán, lạm quyền của chính phủ và giới chính khách, như sự tiếp nối của tinh thần yêu tự do, dân chủ 1956.

Hoàng Nguyễn (RFI)

Categories: Uncategorized | Leave a comment

Chính sách tài chánh và khủng hoảng nợ công tại Hoa Kỳ

12:01:am 30/07/11 | Tác giả: 

Chính sách tài chánh và khủng hoảng nợ công tại Hoa Kỳ

Đồng hồ Nợ Quốc Gia trên đường 44 tại New York cho thấy số nợ đã lên đến 14.39 ức (trillion). Ảnh: Mark Peterson/Redux

Nhận xét của Thủ tướng Anh Winston Churchill: “Dân chủ là tổ chức nhà nước vô cùng tệ hại……” phản ảnh rất đúng vào cuộc tranh luận giữa Lập Pháp và Hành Pháp để nâng mức nợ công tại Mỹ vào đầu tháng 8 tới đây.

Để tóm tắt: luật pháp Hoa Kỳ hiện chỉ cho mức nợ công tối đa là 14.2 ngàn tỷ USD. Do bội chi và khủng hoảng tài chánh mức con số này gần đạt tới, và nếu vào đầu tháng 8 tổng thống Obama và Quốc Hội không đồng ý để nâng mức trần thì chính phủ sẽ không thể vay mượn thêm để trả tiền lời và các chi phí hàng ngày. Như vậy trên nguyên tắc Hoa Kỳ sẽ “vỡ nợ” cho dù tiềm năng kinh tế vẫn còn rất dồi dào.

Cuộc tranh cãi giữa toà Nhà Trắng và Quốc Hội khiến thị trường tài chánh thế giới rúng động vì từ trước đến nay công phiếu của Hoa Kỳ được xếp hạng AAA nghĩa là vô cùng an toàn. Các hãng S&P và Moody‘s doạ hạ điểm tín dụng nếu chính quyền Mỹ tỏ ra bất lực vì bất đồng nội bộ. Trong hoàn cảnh khối Euro đang lung lay, lạm phát tại Trung Quốc tăng nhanh, Nhật Bản bị trì trệ thì các nhà kinh doanh hết chỗ chạy sẽ dẫn đến khủng hoảng kinh tế và bể bóng đầu tư toàn cầu.

Hoa Kỳ đã nâng mức trần nợ công nhiều lần trước đây cho chiến tranh, hoặc do đồng đô-la mất giá. Điều khác biệt giờ này khi nợ công đã lên quá cao trên 90% GDP, nếu không có biện pháp giải quyết gấp rút thì trong vài năm tới đây người ta lo ngại Mỹ sẽ thành giống như Hy Lạp hiện giờ – nghĩa là thực sự vỡ nợ chớ không còn “vỡ nợ kỹ thuật”.

Trong hoàn cảnh đó, và kỳ bầu cử sắp tới năm 2012 cuộc tranh luận giữa Toà Nhà Trắng và Quốc Hội mang hai màu sắc giữa các tính toán chính trị và những vấn đề kinh tế.

Đảng Cộng Hoà không muốn thoả hiệp vì cũng như gián tiếp giúp ông Obama tăng uy tín để tái đắc cử thêm nhiệm kỳ hai. Ngược lại nếu kinh tế trì trệ thì đảng này có thêm cơ hội chiếm lại cả toà Bạch Ốc lẫn Thượng và Hạ Viện năm 2012.

Ngay chính trong Cộng Hoà cũng chia làm 2 phe. Cánh hữu thuộc TEA party (viết tắt của Tax Enough Aready – tức Nhà Nước đã đánh thuế quá nhiều rồi, chớ không có nghĩa là nước trà) đòi phải cắt giảm và kiểm soát chặt chẻ chi tiêu đồng thời không tăng thuế. Khuynh hướng này được nhiều người Mỹ tán đồng nên TEA party muốn nâng cao uy tín của hai ứng cử viên sáng chói là bà Sarah Palin và Michele Bachmann – cả hai đều là phụ nữ!

Đảng Dân Chủ chỉ có một ứng viên tổng thống năm 2012 là ông Obama. Nhưng các Dân Biểu và Nghị Sĩ thuộc đảng này không thể để ông Obama thoả hiệp với đảng Cộng Hoà vì họ sẽ bị cử tri Dân Chủ trừng phạt trong 2 năm tới đây.

Tóm lại, cả hai chính đảng của Mỹ đang gờm lẫn nhau cố tình dồn lỗi để hạ uy tín đối thủ, mục tiêu là nhắm vào cuộc bầu cử năm 2012.

Nhưng dù có tham vọng chính trị nhưng cả hai Đảng Cộng Hoà và Dân Chủ cũng đồng thời cũng rất lo sợ tính trật khiến đàm phán thất bại. Giả sử thị trường tài chánh và kinh tế rơi vào khủng hoảng lớn thì dân Mỹ sẽ bị ảnh hưởng nặng nề và nổi loạn bằng lá phiếu trong kỳ  bầu cử năm 2012. Khi đó sẽ có hàng loạt các chính trị gia bị dân chúng cho về hưu sớm!

Sân khấu chính trị của Hoa Kỳ phức tạp và bị xem là trì trệ. Nhưng dù bị ảnh hưởng bởi cánh tả hay hữu, hay chi phối bởi các thế lực tư bản nhưng rồi chung cục vẫn do quyết định bởi lá phiếu của từng người dân.

***

Bên cạnh các tham vọng chính trị thì những tranh luận về kinh tế cũng sôi nổi không kém.  Ai cũng đồng ý là mức nợ của Hoa Kỳ đã lên quá cao cần phải cắt giảm. Nhưng bao giờ, bao nhiêu và giảm ở đâu thì lại không có đồng thuận.

Lấy thí dụ cho dễ hiểu: nước Mỹ vừa qua cơn khủng hoảng giống như người bệnh mới vượt cơn ngặt nghèo. Các bác sĩ cãi nhau vì cắt thuốc quá sớm thì sợ bệnh sẽ tái phát, còn dùng thuốc lâu sẽ sanh hậu hoạn sau này.

Thất nghiệp còn cao (trên 9%), khu vực tư nhân chưa thu nhận nhân công mới mà nhà nước giảm chi e rằng kinh tế suy sụp trở lại. Nhưng cứ tăng chi trong lúc nợ công đã lên trên 90% GDP sẽ làm trì trệ tăng trưởng sau này.

Muốn giảm nợ công có hai cách: giảm chi hay tăng thuế (còn hai cách nữa là phá giá đồng đô la khiến giảm giá trị nợ, hoặc kinh tế phát triển nên dù mức thuế không đổi mà số thu tăng). Nếu giảm chi thì cắt ở đâu trước: an sinh xã hội, bảo hiểm y tế hay quốc phòng – dĩ nhiên là chẳng ai muốn phần của mình bị xén bớt. Còn tăng thuế nhà giàu thì lại ảnh hưởng đến xí nghiệp, dân nghèo nghe thích nhưng bù lại sẽ không tìm được việc làm vì công ty không có tiền đầu tư.

Tóm lại, nhiều thầy thuốc tranh cãi trong lúc bệnh nhân nằm chờ chết đúng là vào trong dịp này.

***

Toàn bộ câu nói của Churchill là: “Dân chủ là một cách tổ chức nhà nước vô cùng tệ hại, nhưng các mô hình còn lại đều đã thất bại”. Hoa Kỳ đã đứng vững qua nhiều cơn thử thách vào thế kỷ thứ 20 trong khi phong kiến, phát xít và kinh tế tập trung đã bị lịch sử chôn vùi. Nhưng liệu nền dân chủ tại Hoa Kỳ (và Âu Châu – Nhật Bản) có còn trẻ trung để thích ứng vào thế kỷ thứ 21 theo đà phát triển nhảy vọt của các nước đang mở mang? Hay một mô hình mới Tư Bản Nhà Nước (hay còn gọi là Đồng Thuận Bắc Kinh)  hiện có sức thu hút rất lớn vì mang lại nhiều hiệu quả, cho dù có bao nhiêu lời tiên đoán sụp đổ từ 30 năm nhưng Trung Quốc vẫn tăng trưởng như diều gặp gió?

Người viết có quan điểm của mình, nhưng xin để từng bạn đọc tự suy nghĩ và kết luận.

© Đoàn Hưng Quốc

© Đàn Chim Việt

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Khủng hoảng giữa Nhật Bản và Trung Quốc sẽ là một căng thẳng địa chính trị nghiêm trọng nhất trên thế giới

01:22:am 01/02/13 | Tác giả: 

Khủng hoảng giữa Nhật Bản và Trung

Quốc sẽ là một căng thẳng địa chính trị nghiêm trọng nhất trên thế giới

 

 

Giới thiệu: Bản tiếng Việt dưới đây dựa trên một cuộc phỏng vấn ông Ian Bremmer, chủ tịch công ty tham vấn về địa chính trị Eurasia Group, được thực hiện tại Davos, Thụy Sĩ bởi tạp chí Business Insider. Bài phỏng vấn với văn nói được viết lại thành một bài bình luận. Nhưng nội dung không thay đổi.

Hình (U.S. Department of Energy): Bản đồ tranh chấp lãnh hải giữa Trung Quốc và Nhật Bản.

Hình (U.S. Department of Energy): Bản đồ tranh chấp lãnh hải giữa Trung Quốc và Nhật Bản.

Trung Quốc và Nhật Bản xem ra sắp bước vào một cuộc chiến súng đạn về một vài hòn đảo nhỏ mà hai bên đang tranh chấp. Sự căng thẳng giữa hai nước đang gia tăng bất kể những hòn đảo và là một mối lo ngại quốc gia lớn lao đối với Hoa Kỳ và các nơi khác trên thế giới.

Chuyện gì sẽ xẩy ra với Trung Quốc và Nhật Bản?

Vấn đề to lớn là quan hệ, cân bằng sức mạnh giữa hai nước này đã thay đổi và đang thay đổi một cách đột ngột, gây ấn tượng sâu sắc – thật sự và rất mạnh mẽ, không có lợi cho Nhật Bản.

Từ những phối cảnh về an ninh, chính trị, và kinh tế nẩy sinh ra những vấn đề lớn lao cho Nhật Bản. Hiện nay sau cùng Nhật Bản đã có một nhà lãnh đạo [Shinzo Abe] có khả năng tại chức một thời gian. Ông ta không những có khuynh hướng quốc gia dân tộc mà còn có khuynh hướng ngày càng ủng hộ dân chủ. Ông đã là thủ tướng trước đây và là một người thực tiễn hơn, nhưng nếu chúng ta gặp ông, ông nói về sự mong muốn thành lập một liên minh các nước dân chủ tại Á châu [và] hướng nhiều hơn về Ấn Độ, Úc châu, và Tân Tây Lan. Ông [xứng đáng với biệt hiệu] là Ông Chuyển Hướng trước khi vấn đề chuyển hướng trở thành một thời trang.

Nhà lãnh đạo mới của Nhật Bản bước vào một lãnh vực mà Hoa Kỳ đã hành động vì lo ngại về thử thách của Trung Quốc ở trong vùng.  Nhìn từ phối cảnh của chính sách ngoại giao, đây là một cố gắng chiến lược đơn thuần lớn nhất mà chánh quyền Obama đã cam kết.

Chúng ta phải nghĩ rằng Trung Quốc sẽ xem tất cả những thứ này là những hành động khiêu khích. Câu hỏi thật sự là chính phủ Trung Quốc sẵn sàng để phản ứng tới mức nào trong cách leo thang? Đây có phải là trường hợp xung đột giữa Nga – Georgia hay không? Đúng một chút. Chúng ta đang chọc con gấu phải không? Tôi không có câu trả lời về vấn đề này, nhưng tôi nghi ngờ rằng nó không tốt.

Tôi có một vài điểm vắn tắt sau đây:

Trước hết, trái với Ông Hồ Cẩm Đào, Ông Tập Cận Bình có quyền hành đối với quân đội. Ông củng cố trực tiếp được nhiều những thứ như Ban Thường Vụ xung quanh. Ông ta là một nhân vật mạnh mẽ hơn, cá tính mạnh mẽ hơn, và dược lòng trung thành của Quân Đội nhiều hơn. Như vậy, nếu muốn leo thang, ông có thể cảm thấy thoải mãi hơn và tự tin rằng ông có thể tăng, giảm mà không mất khả năng kiểm soát. Điều này nguy hiểm cho Nhật Bản.

Nếu chúng ta cũng nhìn vào cách Trung Quốc tiến hành về vấn đề này trước đây: cho phi cơ bay sát địa phận trước những cuộc bầu cử, hầu như là Trung Quốc không muốn Ông [Shinzo] Abe đắc cử, [nhưng] họ chắc chắc không phiền hà nếu Ông Abe thắng. Chủ nghĩa quốc gia dân tộc bài Nhật là màn kịch Trung Quốc đóng dễ dàng. Nó cho phép Trung Quốc giải tỏa một số việc nếu không sẽ gây ra bất mãn và như vậy tạo ra những khó khăn cho chính phủ Trung Quốc.

Một điểm chót về vấn đề này. Khi chúng ta nhìn vào vấn đề Trung Quốc – Nhật Bản, so với tất cả những lãnh thổ khác trong vùng – chúng ta nói về Biển Hoa Đông, Biển Hoa Nam – với tất cả những nước trong vùng Biển Hoa Nam, Trung Quốc có một nền kinh tế lớn hơn bất cứ nền kinh tế nào của những nước này, nhưng Trung Quốc cũng lại có những cộng đồng dân Trung Quốc ở hải ngoại chế ngự nền kinh tế địa phương. Họ là những doanh nhân, và với thời gian điều này làm cho Trung Quốc thoải mái. Những doanh nhân này biết chuyện gì xẩy ra bên trong nước, tạo ra sự minh bạch. Nhưng điều này cũng có nghĩa là với thời gian, Trung Quốc thật sự cảm thấy như thể là nếu họ chỉ cần xây dựng một quan hệ kinh tế, an ninh sẽ được bảo đảm.

Trung Quốc sẽ có ảnh hưởng chính trị, họ sẽ có ảnh hưởng an ninh song phương. Tất cả Trung Quốc có thể làm được là nắm chắc rằng Hoa Kỳ không có khả năng để tạo ra những liên hệ đa phương ở trong vùng.

Đối với trường hợp Nhật Bản, điều này không đúng. Không có người Trung Quốc có ảnh hưởng thương mại quan trọng trong nước Nhật. Họ rất mơ hồ về cách thức hệ thống hoạt động. Nhật Bản lớn hơn nhiều, do đó, nếu chúng ta là Trung Quốc, chúng ta nghĩ làm thế nào để có thể thay đổi cán cân theo chiều hướng có lợi cho chúng ta. Khi chúng ta trở thành một nền kinh tế lớn nhất thế giới, khi chúng ta xây dựng một quân lực lớn mạnh hơn, vấn đề của chúng ta là Nhật Bản.

Một quốc gia mà chúng ta chuẩn bị để xông xáo tới – bây giờ tạm gọi là quyết đoán – nhưng sau này có thể là xông xáo – là Nhật Bản. Tất cả những yếu tố cấu trúc này thật sự làm tôi lo ngại. Không có gì để nghi ngờ rằng những liên hệ kinh tế giữa hai nước vẫn còn quan trọng. Không có gì phải thắc mắc rằng Hoa Kỳ chắc chắn không muốn thấy tranh chấp giữa nước đồng minh Nhật Bản và Trung Quốc. Hoa Kỳ sẽ có thể cố gắng tới mức nào để ngăn chặn cuộc tranh chấp này với một tiền đề là Hoa Kỳ và Nhật Bản có quan hệ mật thiết; Tôi không rõ nếu cuộc tranh chấp sẽ không trở thành nghiêm trọng hơn. Nếu tôi phải đánh cuộc ngay bây giờ, tôi nghĩ rằng sẽ có tình trạng sẽ leo thang nghiêm trọng trong năm 2013.

Tôi nghĩ cho đến nay, Trung Quốc – Nhật Bản là một căng thẳng địa chính trị nghiêm trọng nhất trên căn bản tranh chấp trực tiếp song phương trong những năm sắp tới.

Sẽ có chiến tranh giữa Trung Quốc và Nhật Bản ?

japan-china crisis 1

Hình (Getty Images): Siêu thị Jusco với vốn đầu tư Nhật Bản tại Qingdao, Trung Quốc bị đập phá và hôi của.

Tôi nghĩ rằng hai nước đang có chiến tranh rồi. Tôi nghĩ rằng cuộc chiến vi tính chống các ngân hàng Nhật đã gia tăng rất nhiều. Tôi nghĩ chúng ta nhìn vào những cuộc biểu tình chống Nhật Bản do chính phủ rõ ràng khuyến khích và ảnh hưởng trực tiếp đối với đầu tư của Nhật tại Trung Quốc. Chiến tranh ngày nay được điều khiển bằng những phương tiện khác. Chúng ta có thể chắc chắn không nói rằng những kẻ này là bạn. Câu hỏi là họ là kẻ thù hay là vừa là bạn vừa là kẻ thù?

Nhìn vào nhóm 20 quốc gia (G-20), liên hệ song phương tệ nhất trong bất cứ hai nước nào trong G-20 hiện nay là Trung Quốc – Nhật Bản. Tôi nghĩ điều này rõ ràng. Nhân tiện đây, mười năm trước là trường hợp Nga – Nhật Bản.  Vào thời điểm đó cũng liên hệ đến tranh chấp lãnh thổ.  Nhật Bản thật sự đã phải làm việc vất vả để cải thiện liên hệ này.

Vì nhiều lý do tình trạng trước đây dễ dàng hơn nhiều. Chúng ta không có vấn đề văn hóa. Nga thấy Nhật có khả năng trả tiền và tất cả những thứ như vậy. Trường hợp Trung Quốc – Nhật Bản vô cùng khó khăn hơn.

Tôi có nghĩ rằng hai nước sẽ trực tiếp đối đầu nhau không?  Đây không phải là trường hợp Nga xâm chiếm Georgia với xe tăng, nhưng chúng ta có thể chắc chắn thấy những cuộc giao tranh nhỏ trên lãnh thổ tranh chấp. Sự kiện này có khả năng lôi cuốn sự có mặt nhiều hơn của Hoa Kỳ trong vùng. Nguy hiểm là điều này có thể làm cho quan hệ Hoa Kỳ – Trung Quốc trở nên tồi tệ.

Nếu ở trong đúng tình trạng này, những gì sẽ xẩy ra? Một phi cơ Nhật sẽ bắn đạn lửa vào một phi cơ Trung Quốc. Phi cơ Trung Quốc phản ứng lại và bắn rơi phi cơ Nhật. Cái gì sẽ xẩy ra?

Trước hết chúng ta sẽ thấy bang giao giữa hai nước bị cắt đứt. Dĩ nhiên những đại sứ sẽ bị triệu hồi tức khắc. Không phải là hoàn toàn đoạn tuyệt, nhưng đây là việc đầu tiên xẩy ra. Chúng ta sẽ thấy [những hoạt động] bài Trung Quốc và [những hoạt động] bài Nhật ở khắp nơi. Chúng ta sẽ thấy một vài trường hợp liên hệ đến bạo lực.

Hình (Reuters): Ngoại Trưởng Nhật Fumio gặp Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hilary Clinton trong lần viếng thăm Washington vào giữa tháng 1, 2013. Hoa Kỳ tuyên bố không ủng hộ bất cứ một hành động đơn phương nào về cuộc tranh chấp lãnh hải giữa Trung Quốc và Nhật Bản.

Hình (Reuters): Ngoại Trưởng Nhật Fumio gặp Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hilary Clinton trong lần viếng thăm Washington vào giữa tháng 1, 2013. Hoa Kỳ tuyên bố không ủng hộ bất cứ một hành động đơn phương nào về cuộc tranh chấp lãnh hải giữa Trung Quốc và Nhật Bản.

Có thể sẽ có một số người gốc Nhật sống tại Trung Quốc sẽ bị đánh đập và giết chết. Việc đánh phá các cơ sở của Nhật Bản tại Trung Quốc được xem như không chịu đựng nổi.  Những công ty Nhật sẽ phải rời khỏi Trung Quốc hàng loạt.

Tình trạng xấu đủ. Đây là những điều thật chắc chắn xẩy ra nếu có kiểu đương đầu như vậy. Câu hỏi đặt ra là hai bên có thể quay ngược trở lại được không?

Về viễn cảnh quân sự, tôi nghi ngờ hai nước muốn như vậy. Hoa Kỳ lập tức sẽ biểu dương sức mạnh. Đây hiển nhiên sẽ là một báo động cao nhất cho cả hai phe, nhưng cũng sẽ có nhiều biện pháp để tạo sự tin cậy giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc để thử bảo đảm cuộc tranh chấp quân sự giữa Nhật – Trung Quốc không bị vượt ra khỏi khả năng kiềm chế.

Bây giờ hãy nhớ rằng Nhật Bản chi tiêu vào khoảng 1% tổng sản phẩm nội địa về quốc phòng. Nhật Bản không tự bảo vệ như chúng ta. Điều này làm cuộc sống dễ dàng hơn khi nghĩ về tình trạng tồi tệ có thể gặp phải, nhưng không có nguy hiểm về chiến tranh – xung đột quân sự trực tiếp – tình trạng này làm cho hai bên tin tưởng rằng việc leo thang là có thể xẩy ra.

Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, nếu có xung đột – Đông và Tây Đức – người ta nói tới Thế Chiến Thứ III. Nhưng ở đây không ai nói như thế. Một phần bởi vì Nhật quá yếu. Một phần vì Nhật, Trung Quốc, và Hoa Kỳ có quá nhiều quyền lợi kết nối với người Trung Quốc.

Nhưng nếu Hoa Kỳ biểu dương lực lượng, Hoa Kỳ sẽ bảo vệ Nhật Bản?  Hoa Kỳ sẽ phải làm như thế vì Nhật Bản là đồng minh của chúng ta.  Hoa Kỳ cũng có những quyền lợi tại Trung Quốc. Chúng ta đã chọn phe. Nếu nhìn vào lời tuyên bố của Bà Hillary Clinton về điểm này, chúng ta rõ ràng đã lựa chọn phe: “Chúng ta không muốn dính líu vào cuộc xung đột này, nhưng hãy để cho chúng ta làm sáng tỏ một cách rất tường tận rằng chúng ta ủng hộ sự toàn vẹn lãnh thổ của Nhật Bản.” Chúng ta dành cho Nhật Bản những hòn đảo này. Họ là đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ. Chúng ta cam kết về điều đó.

Chúng ta có những quyền lợi to tát tại Trung Đông trong lãnh vực năng lượng. Những quyền lợi này đang giảm xuống với thời gian. Do Thái là đồng minh của chúng ta. Điều này làm chúng ta gặp khó khăn. Đây là rõ ràng là một tình trạng tương tự, nhưng Trung Quốc rất quan trọng đối với chúng ta về phương diện kinh tế hơn bất cứ nước nào tại Trung Đông.

Hoa Kỳ có đánh nhau với Trung Quốc hay không?

Nếu Trung Quốc quyết định lấy những đảo này, chúng ta có bảo vệ Nhật Bản hay không? Chúng ta có đánh nhau với Trung Quốc hay không?

Tôi nghĩ rằng xác suất của kịch bản này quả thật rất thấp, chính vì Hoa Kỳ dính líu vào việc này.  Thật vậy, trong khi Trung Quốc đã chuẩn bị hành động gây gỗ không thỏa hiệp với Nhật Bản, tôi không tin rằng Trung Quốc sẵn sàng để hành động như vậy với Hoa Kỳ.

Việc Hoa Kỳ can dự vào cuộc xung đột Trung-Nhật sẽ có những ảnh hưởng kinh tế gián tiếp không thể tránh được. Nó sẽ có tác động trên quan hệ thương mại Trung-Mỹ, và chắc chắn sẽ làm cho quan hệ ngoại giao giữa hai nước trở nên lạnh nhạt hơn nhiều. Nó cũng sẽ làm cho tiềm năng hợp tác mới mẻ về Syria không đáng kể qua thời gian. Bắc Hàn và nhiều nơi khác chúng ta cần sư hợp tác sẽ trở thành khó khăn hơn nhiều.

Đây là hai cường quốc quan trọng nhất thế giới hiện nay.

Tôi nghĩ xác suất về việc Trung Quốc xung đột quân sự trong vùng với Hoa Kỳ đang bảo vệ Nhật Bản quả thật rất thấp. Đối với tôi đây là lối cổ võ sự sợ hãi mà thôi.

Tôi nghĩ rằng đối với cuộc đụng độ quân sự lẻ tẻ, vấn đề tiềm tàng nằm ở trong cuộc xung đột kinh tế nghiêm trọng thực sự giữa Nhật Bản và Trung Quốc. Đó là điều thực sự đúng hiện nay, nó có thể xẩy ra ngày mai.

The Japan-China Crisis Is The Most Significant Geopolitical Tension In The World
Ian Bremmer
Business Insider
24-1-2013
Người dịch: Nguyễn Quốc Khải

© Đàn Chim Việt

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Tầu có đáng sợ không?

12:01:am 24/10/13 | Tác giả: 

Tầu có đáng sợ không?

my-viet-trungNgày 20 tháng 10 vừa qua, cựu Thống đốc Quỹ Tiền Tệ Quốc Gia Mỹ ( 1987-2006), ông Greenspan nhận định :

Kinh tế Trung Hoa sẽ ngày một chậm lại, mặc dù mức sản xuất cao, nhưng toàn vay mượn kỹ thuật ngoại quốc, thiếu sáng kiến, trong 100 hãng xưởng sáng chế hàng đầu thế giới, theo Reuters, Mỹ chiếm hàng đầu với 40 hãng, Tầu không có hãng nào. Tầu chỉ làm gia công, qua các công trình dự án hợp tác với nước khác.  Lý do là Tầu độc đảng, cổ điển, không dám nghĩ ngoài khuôn khổ, không dám sáng tạo ( BBC News phỏng vấn).

Với một nền kinh tế 8.5 trillions USD, mức tăng trưởng trung bình 7.7 %, xuất cảng đang giảm, tiêu dùng nội địa không đủ mạnh để giữ mức quân bình kinh tế ( như Mỹ), lợi tức đầu người Tầu năm 2012 chỉ có 9.300 usd, hàng thứ 124 trên 229 nước, bằng nửa Nga (18.000), thua Thái Lan (10.300), thua Đại Hàn (32.800), chỉ trên Ấn (3.900) và Việt Nam ( .600-hàng thứ 141) (tài liệu CIA Library –the World Factbook- theo WorldBank thì GDP Tầu trung bình 2008-2012 chỉ là 6.188 usd).

Từ ngày Đặng Tiểu Bình canh tân kinh tế Tầu, đã gần 40 năm, Tầu vẫn chưa có một sáng chế danh hiệu quốc tế nào như Samsung, Kia, LG, Huyndai…của Đại Hàn, kinh tế bề ngoài nhìn rất vĩ đại : xa lộ, cao ốc, xây cất cơ sở thể thao (Olympic và Expo Thượng hải 2010), nhưng với dân số 1.3 tỷ, quen thủ công nghiệp, nông nghiệp, gò bó trong nguyên tắc khẩu hiệu, người bắt nạt người, tham nhũng vĩ mô, xã hội Tầu vẫn là chuỗi kéo dài của thời phong kiến, lạc hậu từ cách nghĩ đến cách sống. Tầu nhất thống thiên hạ, ép buộc các sắc dân vào một rọ, chứ không thật sự thống nhất thành một Hợp chúng quốc đồng tiến đồng tôn.

Từ tháng 4- 2002, bà Thatcher, cựu Thủ Tướng Anh, đã  nhận định về tương lai thế giới và về Tầu  trong tập sách Thuật Trị Nước – Sách lược cho thế giới đang chuyển biến– Statecraft- Strategies for a changing world  (do Harpes Collins xb), với một số chương dành cho Á Ðông, đặc biệt là bảng so sánh giữa hệ thống Kinh tế tự do và sản lượng GDP : cột Kinh tế ít tự do nhất ( least free economies) cho thấy Việt Nam đứng hàng 12 với lợi tức 1.850 USD, trong khi ở cột Kinh tế tự do nhất (freest economies), thì Hồng Kông có GDP cao tới 25.257 USD, bảng này cho thấy lợi ích của tự do thị trường đem lại sung túc cho dân chúng trong nước.

Bà Thatcher, chịu ảnh hưởng sách lược Kinh tế tự do của Hayek hơn là của Keynes, trong sách “Cơ chế Tự do” ( The Constitution of Liberty- 1960)  Hayek viết về một trật tự xã hội mới “không có quyền lực lớn mạnh từ trung ương xen vào” (without the interventions of omnipotent central authority p. 159- 160), với năm điểm định nghĩa cho tự do dân quyền :

1-   Tư hữu (private property)

2-   Luật pháp (rule of law)

3-   Thái độ tâm lý (attitudes)

4-   Văn Hóa (cultures)

5-   Thuế khóa

Về phần Tâm lý và Văn hóa, bà Thatcher phân tích khác biệt giữa văn hóa Do Thái Thiên chúa giáo (JudeoChristian) nghiêng về tự do cá nhân, quyền năng sáng tạo và đặc thù của mỗi người (emphasize the creativity of man and the uniqueness of individual) với các khối văn hóa như Á Phi nghiêng về định mệnh (fate) và coi nhẹ ý chí tự do (very limited role for free will…p. 415). Văn hóa Do Thái Thiên Chúa giáo đánh giá cao sự làm việc, con người là nhân chủ của ngoại cảnh sinh sống- man is to be the master of environment- và có nhận thức thời gian như một đường thẳng tiến chứ không tin vào vòng định mệnh với các chu kỳ trở đi trở lại (sense of linear time, not a deterministic belief in cycles and repeating stages…p. 418)

Trung Hoa, theo bà Thatcher, phải còn lâu lắm mới đạt được địa vị đại cường quốc về mọi mặt kinh tế lẫn xã hội và trước sau chế độ Cộng Sản Tầu cũng sẽ thất bại như  CS đã suy sụp ở các vùng khác (In due course Communism will fail in China, as it has elsewhere  p. 178). Nhật Bản và Ấn Ðộ là hai cường quốc đứng thế quân bình lực lượng với Tầu ở châu Á. Âu Châu, sở dĩ tiến bộ trước tiên là vì , bà Thatcher dựa theo nhận định của J. Stuart Mill, biết chấp nhận đa phương tiến bộ và đa diện phát triển (plurality of paths for its progressive and many sides of development- On Liberty p.138).

NGUY CƠ TRƯỚC MẮT

Hơn 70 năm trước, lý thuyết gia Lý Đông A đã cảnh báo về nguy cơ bành trướng của Tầu. Hiện tại, Tầu dùng kế tằm ăn dâu, từ từ nuốt Việt, lấn biên giới, thuê đất thuê rừng 50 năm, đưa dân công vào đặc khu, lấy vợ Việt, tính kế thực dân 2020-2040-2060, như một số tin rò rỉ từ hội nghị Thành Đô 1990. Chiến sách của Tầu tạo nguy cơ như sau :

1-Mặt biển, mặt biên giới Bắc, mặt Tây cao nguyên Trường sơn ta bị vây. Xưa kia, bị giặc Bắc tấn công, ta còn rừng núi để rút lui bảo toàn lực lượng (thời Trần bỏ Thăng Long rút vào Thanh, Nghệ – Thời Lê, nghĩa sĩ tập hợp vào khu rừng Lam sơn, thời Việt Minh cũng vậy, thời CSVN chống Mỹ cũng dùng sách lược rút vào rừng núi, tránh bom đạn, rồi đánh ra…), nay VN không còn khu an toàn để chống đỡ. Nếu Tầu tấn công, VN sẽ loay hoay trong rọ tỉnh thành, ra biển cũng bị vây chặt.

2-Mặt pháp lý, công hàm 1958 nhượng biển đảo khó xóa. Trong vòng CS quốc tế, Tầu vẫn coi Đảng CSVN, từ 1930, là một chi bộ, môi hở răng lạnh. Ba tướng Tầu ngồi chỉ đạo ở hầm Điện Biên Phủ, gần 200 khẩu đại bác từ Tầu mang sang…CSVN quả thật rất khó rũ nợ.

NHƯỢC ĐIỂM CHIẾN LƯỢC CỦA TẦU

1-Kinh tế Tầu rất dễ suy xụp, chỉ cần Nhật, Mỹ, Âu Tây… rút các dự án hợp tác, thì nạn thất nghiệp hàng trăm triệu người sẽ đưa Tầu vào khủng hoảng rối loạn. Tỷ như Samsung lập nhà máy sản xuất điện tử lớn nhất ở Bắc Ninh-Thái Nguyên, Việt Nam chứ không đặt bên Tầu. Hãng Apple đã đặt hàng ở Đài Loan, Brazil… cho công nghệ iPhone, iPad… Indonesia, Thái, Mã Lai, tới Miến Điện… sẽ là nguồn cung cấp  nhân công cho các nước kỹ nghệ thay vì nhân công Tầu.

2-Với mặt hàng rẻ tiền, thiếu phẩm chất, một thời Tầu đã qua mặt người tiêu dùng tại các nước chậm tiến, nhưng dần dần, người tiêu dùng khôn ngoan hơn, nhiều dữ liệu thông tin hơn, hàng Tầu sẽ ế ẩm. Cứ xem thực phẩm đồ ăn uống Tầu bị chê bai thiếu an toàn vệ sinh trên thì thấy Tầu không thể lừa bịp thế giới được nữa, người Pháp từ xưa đã dùng từ chinoiserie để chế diễu trò hề ẩu tả, phiền toái vô ích của người Tầu. Gần đây hãng thuốc Pfizer, đã điều tra vụ Viagra giả làm tại Thượng Hải, và nay Pfizer đã tăng giá thuốc lên gấp đôi (từ 10 usd lên 20usd) để thuốc giả không thể theo kịp và người tiêu thụ, chịu giá đắt nhưng có thuốc chính hiệu. Văn hóa Tầu như vậy có phẩm chất gì để cống hiến cho thế giới và làm sao xứng đáng làm đại cường trong thế kỷ 21 ?

3-Ngay trong nước, dân chúng Tầu càng hướng về văn minh văn hóa Âu Mỹ : năm 2012 Starbucks lập thêm 500 cửa hàng cà phê, Mac Donald trong Expo Thượng Hải 2010 ngày nào cũng bán hết nhẵn burgers ! chưa cần nói đến Coca Cola, iPhones, iPads…Vậy sự độc tài, độc đảng sẽ còn kéo dài được bao lâu, hay sẽ âm thầm tàn lụi biến mất trước làn sóng kinh tế mới ?

4- Mặt Tân Cương Hồi giáo, hợp với Tây Tạng, sẽ không phải là là vùng Tầu dễ kiểm soát, ở đây, Tầu đối mặt với Tôn giáo, với duy tâm, duy linh… trong trường kỳ sẽ thắng duy vật, văn hóa bì phu dĩ thực vi tiêncủa Tầu chắc gì đã lấn lướt được văn hóa diệt dục, ăn chay, nhịn đói đạt đạo ? Tầu CS đã thất bại hoàn toàn khi toan tính CS hóa Nam Dương, MãLai, ở hai nước Hồi giáo này, CS đã không có chân đứng và đã bị tiêu diệt hoàn toàn (1950-1960)

5- Đập Dương Tử Giang, phẩm chất tạo tác kém, đang rò nứt, nếu đập này vỡ, khoảng 400 triệu người Tầu sẽ bị lụt cuốn trôi.

6- Mặt Tây Bắc có Nga kềm, mặt Đông Bắc có Nhật và Đại Hàn cản, ngoài biển Đông vướng Phi và hạm đội Hoa Kỳ, đường lưỡi bò chỉ liếm được đàn em VNCS, không dọa được các nước Tự do Dân chủ khác, vả lại nếu có đại biến, những vụ Thiên An Môn sẽ xẩy ra khắp nơi trong 1 tỷ 300 triệu người mà số dân thuần Hán chỉ có khoảng 700 triệu.

CHIẾN LƯỢC RIÊNG CHO VIỆT

1-      Lạc Việt là nhóm độc nhất, từ hơn 2000 năm xưa, đã thoát ly khỏi Hán hóa, tạo dựng nước mới quanh delta sông Hồng sông Mã. Với tiếng nói riêng, với Lệ Làng riêng mà người Hán đã thừa nhận phong tục tập quán Việt rất khác biệt:  răng đen, xâm mình, mặc váy, tóc dài… quân bình được văn hóa Ấn-Trung, với hơn 50 bộ tộc anh em, nghiêng về văn hóa nhân chủng Nam Á, Mon Kmer, VN có bản sắc Thần nông so với phương Bắc Mongoloid, du mục.

Thế nên, Trung hoa có thể thâu phục Mông cổ, Mãn Thanh, Tân cương, Tây Tạng, ít dân, vào thời điểm thế kỷ 19-20, nhưng không thể thâu phục nước VN với 90 triệu dân trong thế kỷ văn minh mới, thế kỷ 21 khi cả thế giới là một làng địa cầu, dùng mạng điện tử và chung quy luật quốc tế. Chưa kể lối xưng hô Cô, Dì, Chú, Bác, Anh, Em… phản ảnh văn hóa Hữu Lễ, gia tộc xã hội đồng bào, sau này cùng chữ Quốc ngữ,là những khí giới rất mạnh bảo vệ văn hóa Việt, cho dù Tầu có mang sách Tầu vào VN thì vẫn phải dịch sang quốc ngữ và có bóp méo Việt sử thì mạng lưới tràn ngập ngôn ngữ Việt vẫn đủ lực  kháng cự lại.

Kế hoạch tàm thực của Tầu cũng không thể thành công : ngừơi Tầu bao đời sang Việt Nam đã bị Việt đồng hóa : 1000 năm Bắc thuộc, 21 năm Minh thuộc, quan quân Tầu sang cai trị Việt, lấy vợ Việt rồi thành Việt, như họ Hồ (Nghệ An), họ Vũ (Vũ Hồn, Hải dương), sau này người Minh hương như Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Địch, cho tới cụ Phan Thanh Giản, Trịnh Công Sơn… Người Pháp từ cuối thế kỷ 19 đầu 20 đã cho người Tầu từ tô giới Pháp bên Tầu sang Nam Việt khai khẩn, người Triều, người Phước Kiến (Mân Việt)… trở thành Việt, nếu nay hỏi một người Tầu Singapore là người gì, họ sẽ nhận họ là người Sing hơn là người Tầu ! Cũng cần nhấn mạnh sức mạnh của phụ nữ Việt, từ xưa trong văn hóa mẫu hệ, tới Trưng Triệu… đàn bà Việt dù lấy Tây lấy Tầu vẫn gọi thằng Tây, thằng Tầu, thằng Sing… trong tiềm thức, coi thường ngoại nhân, giữ vững nguồn cội Việt của mình, Việt hóa luôn cả ông chồng ngoại quốc.

2-VN hiện tại nên nghiêng nhiều hơn vào Nga để lấy thế hỗ trợ. Trong quá khứ, Nga Xô CS đã huấn luyện rất nhiều cán bộ CS Việt, đã huấn luyện nhiều chuyên viên cho CSVN, đã viện trợ CSVN đánh Mỹ, đã giúp chuyển quân VC từ Cao Miên về Bắc kháng Tầu 1978-79… Cho nên, Nga vốn là thù địch của Tầu, 1969 đã từng đánh nhau với Tầu ở biên giới, Nga đã lên kế hoạch tỷ mỷ đánh nguyên tử vào Tầu… do đó Nga có thể là tấm khiên cho VN hiện tại trước sức bành trướng của Trung Cộng. Sự hiện diện cả vạn người Nga ở Nha Trang, Cam Ranh, Mũi Né, Vũng Tầu… rất hữu ích trong việc cản Tầu Cộng. VNCS khó lòng trông cậy vào Mỹ ở biển Đông là vì chiến lược của Mỹ giờ đây là chiến lược kinh tế, Mỹ có thể bảo vệ vòng đai biển Nam Á, Phi-Nam Dương-Mã Lai-Úc… sang đến Thái, Miến… nhưng không chắc gì đã trực tiếp giúp VN cản Tầu; với một tiệm Starbucks mở ở Sài Gòn so với 1.500 tiệm Starbucks ở Tầu, tư bản Mỹ không thể bỏ chợ lớn Tầu để bênh vực chợ nhỏ VN ! từ 1972-73 Mỹ đã nhượng Đông Dương cho Tầu, Mỹ có thể đánh bài theo lối trường vốn, tư bản hóa thành công chủ nghĩa CS, Xã hội, nhận du học sinh nhằm khai hóa Tự do Dân chủ, diễn tiến tự nhiên này không thể đảo ngược, dần dần sẽ xô ngã Tầu-VC-Bắc Hàn như đã xô ngã Nga Sô, Đông Âu.

Ngoài ra nếu có đại biến, thiết tưởng VN vẫn có thể liên kết với Tây Tạng, Tân Cương Hồi giáo, với người Choang đồng chủng, ngay cả với Đài Loan (Điền Việt, Mân Việt)… làm thế tương trợ ỷ dốc. Cũng cần nhắc lại tranh chấp biên giới giữa Nga-Tầu từ 1969, tới 1990, 2004-2005 vẫn còn hội đàm chưa hòan toàn thỏa thuận giữa hai bên.

3-Người Việt miền Nam còn một sợi dây pháp lý để bám vào tranh đấu : đó là Hiệp định Paris 1973, hiệp định này không cho phép Bắc quân xóa sổ miền Nam, cùng lắm là một chính phủ Liên hiệp, hòa bình thả nổi, mà thời đó chính Trung Cộng cũng đã ủng hộ giải pháp một miền Nam trung lập, liên hiệp, họ muốn Mỹ rút khỏi Á Đông nhưng cũng không muốn VNCS thống nhất thành một cái gai sát cạnh. Do đó, kế sách lúc này, là vận động quốc tế, trả lại quyền tự quyết cho nhân dân miền Nam, nếu thế cùng, Trung Cộng nuốt miền Bắc, thì VN vẫn còn một mảnh đất Cửu Long trung lập, cùng các nước Đông Nam Á, sinh tồn chờ thời cơ phục hưng như tổ tiên Việt đã làm. Nên nhớ, toàn dân VN không bao giờ khuất phục Tầu, dù Nam hay Bắc, dù Cộng hay không Cộng, bọn thân TC chỉ là thiểu số, rất thiểu số, mà ngay cả những người ký kết mốc 2020-2040-2060 cũng vô tình hay cố ý, kéo dài thời gian, để chờ biến chuyển trong ngoài, chờ tình thế thay đổi ngược lại. Và như vậy, VN vẫn còn nhiều cơ hội đề kháng sinh tồn hàng ngàn năm nữa.

Chiến lược dựng nước mở nước của tổ tiên để lại qua huyền sử Năm mươi con lên núi, năm mươi conxuống biển, tức Bắc cự Nam tiến, tới thế kỷ 17-18 ta đã hoàn thành một nước Việt hoàn chỉnh từ Nam Quan tới Cà Mau, như Trạng Trình tiên liệu : Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân.

Trạng Trình còn tiên tri thêm :

Bảo sơn thiến tử xuất

Bất chiến tự nhiên thành

Một nước Việt tứ hải lạc âu ca :

Cơ đồ ức vạn xuân…

Thần châu thu cả mọi nơi vẹn toàn…

Khách quan và chủ quan, vận nước Việt còn dài, Việt chưa thể mất nước, và rất có thể Trung Hoa sẽ vỡ đổ tan tành trước khi thực hiện âm mưu quỷ kế xâm lấn Việt.

© Hạ Long Bụt sĩ

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Hai thanh niên Tạng tự thiêu ở Tứ Xuyên

Hai thanh niên Tạng tự thiêu ở Tứ Xuyên

Cập nhật: 04:44 GMT – thứ năm, 21 tháng 2, 2013
Bản đồ trấn A Bá Trấn A Bá nằm về cực bắc của tỉnh Tứ Xuyên là nơi đã chứng kiến nhiều vụ tự thiêu

Hai thanh niên người Tạng đã thiêu mình đến chết ở miền Tây Trung Quốc, các nhà hoạt động nhân quyền và các tổ chức của người Tạng lưu vong cho biết.

Đây là hai vụ tự thiêu mới nhất trong hàng loạt các hành động phản kháng của người Tạng đối với điều mà họ cho là sự đàn áp của chính phủ Bắc Kinh.

Hai thanh niên này chỉ mới 17 và 18 tuổi đã châm lửa vào mình ở trấn A Bá thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Họ đã qua đời hôm thứ Ba ngày 19/2.

Hai thanh niên này có tên là Rinchen và Sonam Dhargye.

Theo Trung tâm Nhân quyền và Dân chủ Tây Tạng, lúc tự thiêu Rinchen đang về đón Tết cùng với gia đình.

Chỉ trong vòng hai năm qua, đã có hơn 100 người Tạng tự thiêu ở Trung Quốc, trong đó có Tây Tạng, các nhà hoạt động nhân quyền cho hay.

Phần đông trong số họ đã không qua khỏi.

Trấn A Bá là khu vực có đông người Tạng sinh sống và là nơi có Tự viện Kirti nổi tiếng của Phật giáo Tây Tạng. Nơi đây đã chứng kiến rất nhiều vụ tự thiêu trong những tháng gần đây.

Hồi tuần trước, một tăng sỹ 19 tuổi ở A Bá cũng đã tự châm lửa vào mình để phản đối chính quyền Trung Quốc.

Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

Tướng Giáp – người phản đối chiến tranh

Tướng Giáp – người phản đối chiến tranh

TS. Pierre Asselin

Gửi cho BBC từ Hoa Kỳ

 

Cập nhật: 15:54 GMT – thứ hai, 28 tháng 10, 2013
Tướng GiápTướng Giáp đã bị phe chủ chiến loại khỏi bộ máy chiến tranh chống người Mỹ

Võ Nguyên Giáp thực sự là một con người phi thường. Đáng chú ý nhất, ông là kiến trúc sư trong chiến thắng của Việt Minh trước quân Pháp ở Điện Biên Phủ vào mùa xuân năm 1954.

Chiến thắng này dẫn tới việc ký kết hiệp định Geneva kết thúc cuộc chiến tranh Đông Dương (1946-1954) và chấm dứt chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam, Campuchia và Lào.

Nhưng ông Giáp vẫn bị hiểu lầm ở phương Tây. Có lẽ huyền thoại vĩ đại nhất xung quanh con người của ông là ông tiếp tục chỉ đạo cuộc chiến tranh của cộng sản chống lại Hoa Kỳ và đồng minh Nam Việt Nam sau năm 1965. Thực tế là ông Giáp không có vai trò quan trọng trong việc định hình chiến lược chiến tranh của cộng sản sau năm 1965, và ông còn thực sự phản đối cuộc chiến ngay từ đầu.

Sau khi ký kết hiệp định Geneva vào tháng Bảy 1954, ông Giáp và Hồ Chí Minh chỉ đạo những người đi theo họ ở cả hai miền của Việt Nam chấm dứt chiến đấu, tập kết ở miền Bắc nếu họ khi đó là chiến binh ở khu vực phía dưới vĩ tuyến 17, và tin tưởng vào việc thống nhất hòa bình của đất nước trong vòng hai năm, sau khi một cuộc tổng tuyển cử bắt buộc theo hiệp định Geneva được tiến hành.

“Lê Duẩn, người chỉ đạo nỗ lực chiến tranh của Việt Minh ở miền Nam trong phần lớn cuộc chiến Đông Dương, và vị phó của ông, Lê Đức Thọ, đặc biệt bực bội với việc hai ông Hồ và Giáp “

Hiệp định được ông Hồ và Giáp tin tưởng là khả thi. Bên cạnh đó, từ chối hòa bình và nối lại chiến tranh ngay lập tức có thể kích thích sự can thiệp quân sự của Mỹ. Sau tám năm dài chiến đấu, các lực lượng quân sự dưới sự chỉ huy của họ không có điều kiện để nghênh chiến ngay với quân đội Mỹ, cả về vật chất lẫn tinh thần. Điện Biên Phủ là một chiến thắng ngoạn mục, nhưng đó cũng là một chiến thắng với giá quá đắt khi tổn phí nhân lực và vật chất của chiến dịch là quá đáng.

Do đó, sau năm 1954 và tiếp tục vượt ra ngoài thời hạn tiến hành cuộc tổng tuyển cử quốc gia về thống nhất đất nước mà chúng ta đều biết là không bao giờ diễn ra, ông Hồ và Giáp là những người ủng hộ nhiệt thành của “đấu tranh hòa bình” ở miền Nam, tránh khiêu khích Washington, và “xây dựng chủ nghĩa xã hội” ở miền Bắc.

Trong thời gian này, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến hành một nỗ lực đầy tham vọng và tốn kém để hiện đại hóa và sắp xếp lực lượng vũ trang của miền Bắc, Quân đội Nhân dân Việt Nam, và động viên hàng chục ngàn binh lính nhập ngũ phục vụ mục đích đó. Cam kết của lãnh đạo Liên Xô, Nikita Khrushchev “chung sống hoà bình” với những kẻ thù tư bản phương Tây bắt đầu vào năm 1956 chỉ càng xác nhận quan điểm của hai ông Hồ và Giáp chống lại việc tái mở chiến tranh ở Việt Nam.

Quyết định đình lại “cuộc đấu tranh giải phóng” trong năm 1954 và việc không thể nối lại chiến tranh ngay lập tức vào sau năm 1956 đã không được lòng của một số nhà lãnh đạo cộng sản ở miền Nam.

‘Rạn nứt hai phe’

Lãnh đạo Cộng sảnTác giả cho rằng Lê Duẩn và phe chủ chiến đã sớm gạt bỏ phe Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp ra ngoài lề

Lê Duẩn, người chỉ đạo nỗ lực chiến tranh của Việt Minh ở miền Nam trong phần lớn cuộc chiến Đông Dương, và vị phó của ông, Lê Đức Thọ, đặc biệt bực bội với việc hai ông Hồ và Giáp ủng hộ hiệp định Geneva. Cả hai ông này sau này đã được triệu tập về Hà Nội, nơi mà họ sẽ mở ra một chiến dịch kêu gọi nối lại ngay lập tức cuộc đấu tranh vũ trang ở miền Nam.

Đường lối của họ và sự chống đối của ông Hồ và Giáp tạo ra rạn nứt trong giới lãnh đạo. Cuộc rạn nứt này đã phân ra một bên là phe “ôn hòa”, bao gồm ông Hồ, Giáp, và các đệ tử của họ – những người phản đối nối lại chiến tranh ít nhất vào thời điểm đó, và bên kia là phe “chủ chiến”, bao gồm Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và Nguyễn Chí Thanh – những người cho rằng việc “giải phóng” miền Nam là không thể chờ đợi.

Cuộc tranh cãi tại Hà Nội lên đến đỉnh điểm vào cuối năm 1963, sau khi Tổng thống miền Nam Việt Nam, Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Cảm thấy đây là thời gian tốt hơn bao giờ hết để nam tiến mạnh mẽ, phe chủ chiến đã tổ chức một cuộc đảo chính tại Hà Nội, thâu tóm việc kiểm soát ra quyết định.

Các ông Hồ, Giáp và những người ôn hòa khác đã bị gạt ra ngoài lề sau đó, và Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Hùng đã đảm nhận việc cầm cương của quá trình hoạch định chính sách tại Hà Nội. Với sự thúc giục của Lê Duẩn, vào tháng 12/1963, ban lãnh đạo cộng sản ban hành Nghị quyết 9 kêu gọi tiêu diệt quân thù ở miền Nam và khởi đầu một “cuộc chiến tranh lớn” để “giải phóng” khu vực phía dưới vĩ tuyến 17.

“Về công lao mà nói, ông Giáp không có công trạng gì với kết quả cuộc chiến chống Hoa Kỳ – và do đó ông cũng không đáng bị đổ lỗi cho những tổn thất trong chiến thắng cuối cùng của Hà Nội”

Vào thời gian cuộc chiến chống người Mỹ nổ ra vào năm 1965, Võ Nguyên Giáp đóng một vai trò chủ yếu mang tính nghi lễ ở miền Bắc.

Cũng giống như Hồ Chí Minh, ông trở thành một khuôn mặt của các nỗ lực chiến tranh chống Mỹ, một công cụ tiếp thị, cho một phe cánh trong Đảng, những người thiếu danh tiếng, uy tín và tính hấp dẫn trên trường quốc tế.

Cuộc “tổng công kích” năm 1968 không liên can gì tới tướng Giáp. Trên thực tế, Giáp chống lại chủ trương này. Cuộc công kích là đứa con tinh thần của Lê Duẩn. Hơn ông Hồ và chắc chắn là hơn hẳn ông Giáp, Lê Duẩn là người chịu trách nhiệm tại Hà Nội về cuộc chiến tranh chống lại Mỹ. Với ý nghĩa này, ông là kiến trúc sư “thực sự” trong chiến thắng của quân đội cộng sản vào năm 1975.

Chiến thắng của Lê Duẩn trước người Mỹ và các đồng minh của họ vào năm 1975 chắc chắn “toàn diện” hơn chiến thắng của tướng Giáp với người Pháp vào năm 1954, nhưng nó cũng tốn kém hơn. Ông Giáp không có công trạng gì với kết quả cuộc chiến chống Hoa Kỳ cũng như ông cũng không đáng bị đổ lỗi cho những tổn thất trong chiến thắng cuối cùng của Hà Nội.

Với giai đoạn sau năm 1954, ông Giáp nên được nhớ đến như một người phản đối cuộc chiến Việt Nam.

Bài viết phản ánh quan điểm riêng và văn phong của tác giả, người đang là Phó Giáo sư Lịch sử thuộc Đại học Hawaii Pacific, Hoa Kỳ

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.