Daily Archives: October 29, 2013

NGUYÊN NHÂN XUẤT HIỆN CĂN CỨ QUÂN SỰ MỚI Ở BIỂN ĐÔNG

BienDong.Net

NGUYÊN NHÂN XUẤT HIỆN CĂN CỨ QUÂN SỰ

MỚI Ở BIỂN ĐÔNG

BienDong.Net: Việc Trung Quốc thi hành chính sách cứng rắn trên vấn đề biển đảo, mở rộng và gia tăng các hoạt động gây hấn ở Biển Đông làm cho tình hình Biển Đông ngày càng phức tạp, căng thẳng.

Nỗ lực giảm bớt căng thẳng thông qua việc xây dựng Bộ qui tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) giữa các quốc gia ASEAN và Trung Quốc đang diễn tiến một cách chậm chạp.

Cuộc đàm phán giữa các quan chức Trung Quốc và ASEAN được các chuyên gia quốc tế đánh giá là vẫn chẳng đi tới đâu. Trong bối cảnh đó, các nước ven Biển Đông phải gia tăng chi phí để củng cố lực lượng phòng thủ trên biển của mình.

Các nhà nghiên cứu quốc tế đều cho rằng chính các hành động của Trung Quốc đang đẩy các nước ven Biển Đông vào cuộc chạy đua vũ trang mới, tăng cường chi phí mua sắm vũ khí trang thiết bị và xây dựng các căn cứ quân sự mới để đối phó với những hành động gây hấn của Trung Quốc bảo vệ vùng biển của mình. Chỉ từ đầu tháng 10 tới nay, đã xuất hiện 2 căn cứ quân sự mới của Philippines và Malaysia ở khu vực gần quần đảo Trường Sa trên Biển Đông.

Để đối phó với những hoạt động của Trung Quốc nhằm vào Philippines ở Biển Đông (Trung Quốc gây tình hình căng thẳng ở khu vực bãi cạn Scarborough và chuẩn bị cho việc xây dựng cấu trúc mới ở khu vực này; Trung Quốc khống chế khu vực bãi Cỏ Mây, ngăn cản Philippines tiếp tế cho lực lượng của Philippines ở khu vực này…), Tổng thống Philippines Benigno Aquino đã công bố ngân sách 1,8 tỷ USD cho chương trình hiện đại hóa quân đội nước này và khôi phục kế hoạch xây dựng căn cứ không quân và hải quân mới ở vịnh Subic, nơi từng là căn cứ quân sự lớn nhất của Mỹ tại Đông Nam Á trước khi bị đóng cửa vào năm 1992.

Mới đây nhất ngày 06/10/2013, báo Philippines Daily Inquirer đưa tin hải quân Philippines vừa xúc tiến kế hoạch phát triển căn cứ mới ở vịnh Oyster. Căn cứ này sẽ gồm một xưởng đóng tàu lớn và một cơ sở hải quân. Chính quyền Philippines đã giải ngân 500 triệu peso (hơn 2,1 tỷ USD) để hoàn thành các cơ sở hạ tầng chính, gồm một đoạn đường dài 12 km nối đến vịnh Oyster. Phát triển căn cứ ở Oyster nằm trong chương trình nâng cấp năng lực hải quân Philippines, bao gồm việc lắp đặt hệ thống radar tại các khu vực chiến lược từ bắc tới nam của tỉnh Palawan hướng ra Biển Đông. Hệ thống radar mới sẽ cho phép Philippines theo dõi các diễn biến ở Biển Đông, giữa lúc Philippines đang có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc tại vùng biển này.

Chỉ huy Lực lượng hải quân miền tây Philippines Thiếu tướng Joseph Rostum Pena cho biết, cơ sở mới sẽ là căn cứ lý tưởng để huấn luyện thủy quân lục chiến; căn cứ tương lai tại vịnh Oyster sẽ giúp mở rộng phạm vi đồn trú cho 2 tàu mới tậu của Hải quân Philippines, vốn được sửa sang từ các tàu tuần duyên của Cảnh sát biển Mỹ. Nó cũng mở đường cho việc Mỹ luân phiên đồn trú binh sĩ tại đây và tàu chiến, máy bay ra vào khu vực này.

Vịnh Oyster cách thủ đô Manila khoảng 550 km về phía tây nam, chỉ cách quần đảo Trường Sa khoảng 160 km (100 dặm). Theo kế hoạch, Philippines sẽ biến rạn san hô ngập mặn Oyster Bay trên đảo Palawan thành một căn cứ quân sự lớn mà giới quân sự Philippines gọi là “một vịnh Subic thu nhỏ”.

Đánh giá về việc làm của Philippines, ông Patrick Cronin, một chuyên gia Mỹ về an ninh Châu Á – Thái Bình Dương, nói: “Vịnh Oyster có thể là lựa chọn tốt nhất” để đối phó với một Trung Quốc ngày càng quyết đoán ở Biển Đông. Thời gian gần đây, các phương tiện truyền thông nhà nước Trung Quốc cảnh báo rằng một “đòn phản công” đối với Philippines là không thể tránh khỏi, nếu Manila tiếp tục khiêu khích Bắc Kinh. Chính vì vậy việc xây dựng căn cứ quân sự ở vịnh Oyster được xem là động thái mới nhất của Philippines nhằm tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề an ninh biển.

Malaysia không đưa tin công khai về các hành động của Trung Quốc xâm lấn vùng biển của Malaysia vì sợ ảnh hưởng đến quan hệ kinh tế với Trung Quốc, nhưng Malaysia đã âm thầm triển khai việc tăng cường sức mạnh cho lực lượng hải quân để đối phó với các hành động xâm lấn của Trung Quốc.

Ngày 20/10, BBC dẫn thông cáo từ Bộ Quốc phòng Malaysia cho hay Malaysia sẽ thành lập quân đoàn thủy quân lục chiến và xây dựng một căn cứ hải quân tại thị trấn Bintulu, nằm sát Biển Đông để bảo vệ vùng biển mà nước này tuyên bố chủ quyền.

Căn cứ mới chỉ cách bãi ngầm James khoảng 110 km. Bãi ngầm James cách bờ biển bang Sarawak của Malaysia chừng 80 km, cách bờ biển phía nam Trung Quốc đến 1.800 km và là điểm tận cùng phía nam trong bản đồ “đường lưỡi bò” phi lý do Bắc Kinh đơn phương vạch ra trên Biển Đông. Hồi tháng 3, giới quan sát sửng sốt và nhiều quốc gia vô cùng quan ngại khi 4 tàu chiến của Trung Quốc kéo đến khu vực bãi ngầm James trong một đợt diễn tập. Malaysia từng khẳng định tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở nơi đây “hoàn toàn không có căn cứ và nhằm chiếm đoạt tài nguyên”.

Bên cạnh đó, hãng thông tấn Bernama dẫn lời Bộ trưởng Quốc phòng Tun Hussein tuyên bố Malaysia sẽ đưa vào hoạt động 6 chiến hạm cận bờ (LCS) từ năm 2018 cũng như tăng cường mua sắm tàu đổ bộ và chiến đấu cơ. Theo ông, LCS sẽ trở thành đội tàu chủ lực của hải quân hoàng gia Malaysia với nhiệm vụ tuần tra các vùng biển có tiềm năng kinh tế cao.

Ngoài ra, Bộ trưởng Tun Hussein còn công bố kế hoạch thành lập quân đoàn thủy quân lục chiến với mô hình hoạt động tương tự lực lượng của Mỹ. Theo tuần báo IHS Jane’s Defence Weekly, Washington rất tán thành ý định của Kuala Lumpur. Hồi tháng 6.2013, trong cuộc tập trận CARAT giữa Mỹ với các nước ASEAN, hải quân Malaysia đã diễn tập đổ bộ với quân đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ.

Xét trong bối cảnh Trung Quốc liên tục có những hoạt động lấn chiếm trên thực địa ở Biển Đông như tập trận đổ bộ, thả cọc bê tông xuống bãi James; tàu Trung Quốc cản phá hoạt động khảo sát của tàu Malaysia trong vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia, có thể thấy việc Malaysia thành lập căn cứ và lực lượng Hải quân mới, cũng như tăng cường lực lượng hải quân không hề ngẫu nhiên mà là để đối phó với Trung Quốc.

Đánh giá về việc thành lập căn cứ quân sự của Malaysia ở Biển Đông, ông Trần Công Trục, nguyên Chủ nhiệm Uỷ ban Biên giới quốc gia nhận định: “Việc Malaysia thành lập căn cứ và lực lượng mới sẽ tác động tích cực vào tình hình Biển Đông. Trước đây, có những dư luận nói phản ứng của Malaysia trước sự hiện diện của Trung Quốc ở khu vực sát vùng đặc quyền kinh tế của nước này còn rất hạn chế, thậm chí làm ngơ. Kể cả khi Trung Quốc tổ chức tập trận ở bãi ngầm James, thuộc thềm lục địa Malaysia. Nhưng giờ đây, phải chăng đã đến lúc Malaysia không thể kiềm chế được nữa và đây là lời cảnh báo dành cho Trung Quốc, rằng nếu còn tiếp tục lấn tới, gây sức ép bằng các hoạt động trên thực tế sẽ gặp phải sự phản ứng mạnh mẽ hơn”.

Như vậy, có thể thấy ngoại giao con thoi cấp cao của Trung Quốc qua các chuyến thăm của Chủ tịch nước Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Khắc Cường đến các nước ASEAN vừa qua không thể xoa dịu được mỗi lo ngại của các nước trước chính sách cứng rắn của nhà cầm quyền mới ở Bắc Kinh, nhất là các hành động gây hấn, hăm doạ của Trung Quốc đối với các nước láng giềng trên biển.

Việc Philippines và Malaysia cùng công bố thiết lập các căn cứ quân sự mới là việc làm chính đáng và cần thiết để đối phó với những hành động mới leo thang của Trung Quốc. Điều này càng cho thấy cho dù Bắc Kinh có ra sức dùng những lời “đường mật” để khuyếch trương cho cái gọi là “chính sách láng giềng hữu nghị” thì cũng không thể che đậy được những hành động ngang ngược của họ. Người ta thường nói “con giun xéo lắm cũng quằn”, do vậy mà Philippines đã phải kiện Trung Quốc ra Toà Trọng tài quốc tế, đồng thời tăng cường lực lượng hải quân của mình; Malaysia luôn được coi là giữ thái độ “im lặng” trước các việc làm của Trung Quốc ở Biển Đông cũng đã phải âm thầm tăng cường lực lượng hải quân và thiết lập căn cứ quân sự mới ở Biển Đông. Việt Nam cũng cần học hỏi Philippines và Malaysia trong việc sử dụng Cam Ranh, một vị trí rất đắc địa cho căn cứ quân sự để chống lại sự bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông.

BDN

 

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

CẦN MỘT HÀNH ĐỘNG CHO MỘT SỰ TIN CẬY

BienDong.Net

CẦN MỘT HÀNH ĐỘNG CHO MỘT SỰ TIN CẬY

BienDong.Net: Trung Quốc đang bắt đầu các nỗ lực mới để tái chinh phục vùng ảnh hưởng tại Đông Nam Á. Trải qua 30 năm tiến hành cải cách, Trung Quốc đã trở thành một cường quốc Châu Á – Thái Bình Dương; một số lĩnh vực đã phát huy vai trò nước lớn toàn cầu.

Nhưng Trung Quốc vẫn có rất ít quốc gia đồng minh và thân hữu. Vì sao vậy?

Đành rằng, trong quan hệ giữa các quốc gia, lợi ích là bất biến. Đặng Tiểu Bình rất ưa dùng danh ngôn của một chính khách Anh cuối thế kỷ 19 “Không có đồng minh vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích vĩnh viễn”. Nhưng sự tin cậy vẫn là cơ sở để duy trì những mối quan hệ bền vững. Trung Quốc đề cao sự trỗi dậy hòa bình và lý thuyết “cùng thắng”, nhưng rất ít người tin điều đó. Trung Quốc thường làm sao thắng người; người Trung Quốc sang nước nhỏ làm ăn thường chỉ ăn người. “Mối đe dọa Trung Quốc” vì vậy chẳng thể là sản phẩm trí tưởng tượng do Mỹ và phương Tây truyền bá và gieo rắc. Mối đe dọa của Trung Quốc là hiện hữu, là có thật. Các dân tộc nhỏ yếu ở Trung Á đang lo ngại về sự đồng hóa của người Hán. Ở Nga, người ta lo ngại người Trung Quốc xâm nhập và xâm chiếm vùng Viễn Đông Nga. Một trí thức Thượng Hải từng nói với người Nga: Nếu nước Nga không có vũ khí hạt nhân, Trung Quốc đã chiếm Siberia từ lâu rồi. Người Ấn Độ phải giành những khoản ngân sách quốc gia cực lớn để xây dựng quân đội và hiện đại hóa quốc phòng, sẵn sàng đối phó với sự lấn lướt thường trực của Trung Quốc dọc đường biên giới trên đỉnh Himalayas và với Pakistan – nước được Trung Quốc chống lưng, thường xuyên gây hấn. Người Myanmar vốn có tính độc lập dân tộc rất cao, trải qua 20 năm quan hệ chặt chẽ với người Trung Quốc đã thấy được cái họa phụ thuộc, từ đó phải cải cách, mở cửa, để đón ảnh hưởng phương Tây vào cân bằng lại ảnh hưởng của Trung Quốc. Các nước Đông Nam Á lục địa ngày càng quan ngại về sự đô hộ phương Bắc về kinh tế.

Sự bạo ngược thể hiện rõ nhất qua các cuộc tranh chấp tại các vùng biển bao quanh Trung Quốc. Tại Biển Đông, Trung Quốc sử dụng lực lượng quân sự từng bước leo thang gây xung đột và lấn chiếm các đảo: Năm 1956 chiếm đóng một phần quần đảo Hoàng Sa; năm 1974, đánh chiếm phần còn lại của quần đảo Hoàng Sa do binh lính của chính quyền Việt Nam Cộng hòa kiểm soát. Năm 1988, Trung Quốc đánh chiếm 5 bãi đá do Việt Nam kiểm soát và năm 1995, chiếm đảo Vành Khăn do Philippines kiểm soát, thiết lập chỗ đứng tại quần đảo Trường Sa. Trung Quốc tích cực nêu vấn đề chủ quyền và muốn giành lại “các quyền lịch sử” đối với một vùng biển mênh mông ở Biển Đông. Hàng ngày, các lực lượng hải quân và chấp pháp của Trung Quốc chèn ép, ngăn chặn các hoạt động dân sự của các nước láng giềng giáp biển ngay trong vùng đặc quyền kinh tế của các nước này.

Người Trung Quốc với tư tưởng nước lớn Đại Hán ít khi đặt mình vào vị trí người khác để xem thiên hạ nghĩ gì về mình, trừ phi lợi ích sát sườn của họ đòi hỏi phải làm như vậy. Gần đây họ đang nhìn lại chính sách láng giềng phương Nam. Trên báo Le Monde của Pháp số gần đây, Jean – Pierre Cabestan, thuộc Đại học Hong Kong, nhận xét cuộc tấn công ngoại giao của hai nhà lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc tại Đông Nam Á gần đây cho thấy Bắc Kinh đang thay đổi chiến lược; có một thiện chí hòa dịu từ phía Trung Quốc. Không biết đó có phải là tạm thời hay không, nhưng Trung Quốc đã ý thức được các tác dụng phụ của cách tiếp cận hung hăng quá đà ngoài Biển Đông mà họ áp dụng tới nay. Người ta đã lưu ý thấy các cuộc tranh luận ở Trung Quốc, trong giới nghiên cứu, kể cả ở Trường Đảng và trong các nhóm chính thức, về cái giá của thái độ hung hăng này.

Đầu thế kỷ này, Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), giữa lúc Mỹ phát động cuộc chiến chống khủng bố quốc tế, gây ra các cuộc chiến tranh tại Afghanistan và Iraq, Trung Quốc xác định đại thời cơ chiến lược đã đến. Năm 2001, Thủ tướng Chu Dung Cơ đã bất ngờ đưa ra kiến nghị ký kết Hiệp định thương mại tự do với ASEAN. Để bôi trơn mối quan hệ kinh tế này, tháng 11/2002, Trung Quốc chấp nhận cùng ASEAN ký kết Tuyên bố về ứng xử các bên ở Biển Đông (DOC). Nhưng trong thời gian đó, như báo Le Monde nhận xét, “Bắc Kinh đã dựng lên một hàng rào rất cao trong các đòi hỏi Biển Đông, đến mức mà mọi nhượng bộ của giới lãnh đạo đối với phạm vi chủ quyền trên biển đều đẩy họ hứng chịu búa rìu của dư luận Trung Quốc”. Ngay như việc đưa ra các số liệu ước lượng trữ lượng dầu khí Biển Đông, con số của các cơ quan thuộc phía Trung Quốc đưa ra bao giờ cũng cao vống lên, tạo sự kích động ham muốn của người Trung Quốc.

Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu đã làm giảm nhu cầu đối với hàng hóa Trung Quốc tại Châu Âu và Bắc Mỹ. Sản xuất của Trung Quốc bị thu hẹp; tăng trưởng kinh tế chậm lại. Trong khi đó, qua 10 năm, các nước ASEAN trở thành đối tác thương mại lớn thứ ba của Trung Quốc. Năm 2013, Trung Quốc chủ trương mở rộng các khu vực tự do thương mại cận biên và các chuyến thăm hàng loạt nước Đông Nam Á trong tháng 10 vừa qua của lãnh đạo Trung Quốc cho thấy Bắc Kinh muốn tìm một phép màu nhiệm qua việc mở đột phá mới về kinh tế thương mại với ASEAN, với mục tiêu đưa thương mại Trung Quốc – ASEAN lên 500 tỷ USD vào năm 2015 và 1.000 tỷ USD vào năm 2020. Nếu thành tựu, ASEAN có thể trở thành đối tác thương mại lớn thứ hai (2015) và thứ nhất (2020).

Trên Thời báo Hoàn cầu, một tờ báo nổi tiếng về thái độ hung hăng trong vấn đề biển đảo, ngày 15/10, đăng bài của Li Kaisheng, thuộc Viện quan hệ quốc tế, Viện Hàn lâm khoa học Thượng Hải, dưới tiêu đề “Các quan hệ kinh tế là không đủ để xây dựng các quan hệ lâu bền với ASEAN”, nhắc lại tuyên bố của Thủ tướng Lý Khắc Cường tại cuộc gặp gỡ cấp cao Trung Quốc – ASEAN lần thứ 16 rằng Trung Quốc muốn xây dựng “một cộng đồng vận mệnh chung” với các thành viên ASEAN.

Nhưng, như tác giả thừa nhận, “để đạt một đột phá vẫn gặp những thách thức lớn. Nền tảng của cộng đồng này là một tầm nhìn chung về an ninh, một lĩnh vực mà Trung Quốc và các nước thành viên ASEAN vẫn còn ít điểm đồng thuận. Những bất đồng sâu sắc về các vấn đề an ninh giữa Trung Quốc và ASEAN không thể giảm bớt chỉ bằng việc làm sâu sắc thêm quan hệ kinh tế. Từ những năm 1990, Trung Quốc đã nỗ lực rất lớn để tăng cường quan hệ kinh tế của mình với ASEAN, ví dụ thúc đẩy mạnh mẽ khu vực tự do thương mại Trung Quốc – ASEAN, nhưng sự tin cậy lẫn nhau giữa các bên trong vấn đề an ninh vẫn không được tăng cường. Do vậy, việc thiết lập cộng đồng vận mệnh chung không thể chỉ thần túy dựa trên hợp tác kinh tế. Trung Quốc phải đối diện với các thách thức của các vấn đề biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) bằng một thái độ chính trị trực tiếp. Sẽ không có thỏa hiệp về chủ quyền, nhưng làm sao quản lý và kiểm soát các vấn đề phát sinh từ các vấn đề chủ quyền trong khuôn khổ mới của quan hệ an ninh chính trị Trung Quốc – ASEAN là một thử thách thực sự đối với ban lãnh đạo Trung Quốc. Trung Quốc cần xem xét lại chính sách của mình để đạt các mục tiêu này”.

Các nhà quan sát quốc tế lưu ý đến những nội dung mới tại thỏa thuận 3 điểm về Biển Đông nêu trong Tuyên bố chung đưa ra tại Hà Nội ngày 15/10/2013 nhân dịp Thủ tướng Lý Khắc Cường thăm chính thức Việt Nam. Báo Độc lập của Nga cho rằng quyết định thành lập nhóm công tác để cùng nghiên cứu vấn đề Biển Đông “có thể được coi là mang tính lịch sử”. Có học giả Singapore còn cho rằng Trung Quốc đã có “tư duy mới trong việc giải quyết tranh chấp tại Biển Đông”.

Phải chăng, Trung Quốc đang tìm cách bôi trơn để đạt các đột phá kinh tế? Những đánh giá của giới quan sát có thể là sự lạc quan vội vã, khi người ta nhớ lại hơn 10 năm thực thi DOC, Trung Quốc tỏ ra là bậc thầy của ngoại giao câu giờ và dùng lời nói xoa dịu dư luận.

Jean – Pierre Cabestan nhận xét, cuộc tấn công ngoại giao của ông Lý Khắc Cường cho thấy Bắc Kinh đang thay đổi chiến lược, nhưng các nước liên quan sẽ không tin lời hứa của Trung Quốc là thật, chừng nào Trung Quốc chưa thể hiện thiện chí qua các cuộc thảo luận về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông.

BDN

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.