Daily Archives: November 1, 2013

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔvà Phật Giáo Thời ÐạiLê Hiếu Liêm

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔvà Phật Giáo Thời ÐạiLê Hiếu Liêm 

 

Chương một: Dẫn nhập Việt Nam và Phật Giáo đầu thế kỷ hai mươi.

 

Đầu thế kỷ 20, tư tưởng Nho Giáo, thống trị độc tôn đất nước từ Thời Hồ Quý Ly, nhà Lê và nhà Nguyễn suốt 400 năm, hoàn toàn sụp đổ. Tư tưởng Phật Giáo, ngự trị vinh quang trong thời đại Lý Trần từ thế kỷ thứ 11 đến cuối thế kỷ 14, suy đồi tận gốc. Tư tưởng Tây Phương và tôn giáo của nó, Thiên Chúa Giáo La Mã, bị đại đa số trí thức và nhân dân coi như sản phẩm và công cụ của chế độ Thuộc Địa và thực dân Pháp nên vẫn không được chấp nhận. Ý thức hệ Cộng Sản cũng như các tư tưởng mới khác chưa ra đời. Cả một khoảng trống tư tưởng, cũng có nghĩa là một khoảng trống tôn giáo và chính trị, to lớn bao trùm trên một nước Việt Nam bị nô lệ, bóc lột, áp bức, lạc hậu và nghèo đói. Nhưng đây cũng là môi trường lý tưởng cho sự ra đời của những tư tưởng mới, những tôn giáo mới, những chính đảng mới và những phong trào mới: Phong trào Đông Du và Việt Nam Duy Tân Hội của Phan Bội Châu từ năm 1904,Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can và các nhà Nho tiến bộ năm 1907, tư tưởng dân quyền và dân chủ của Phan Chu Trinh suốt hai mươi năm (1905-1925), phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội cùng năm, Việt Nam Quang Phục Hội năm 1912, cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ và ở Huế năm 1916 của Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, vua Duy Tân…, phong trào Hội Kín ở miền Nam năm 1913-1916 lan rộng khắp Lục Tỉnh và cuộc tấn công Sài Gòn năm 1916. Các hoạt động này đã liên tục diễn ra từ đầu thế kỷ 20 đến cuối đệ nhất thế chiến.

Tuy nhiên mãi đến đầu thập njiên 20 Việt Nam mới thật sự thức dậy với sự ra đời Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng Chí Hội và Tân Việt Cách Mạng Đảng năm 1925, Đạo Cao Đài năm 1926, Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927, Cuộc khởi nghĩa Yên Bái và sự ra đời của Đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930 và phong trào Sô Viết Nghệ Tỉnh 1930-1931.

 

Trong thời gian sôi động này, từ 1925 trở đi, Phật Giáo cũng đã thức dậy. Từ năm 1923, thiền sư Khánh Hòa và thiền sư Thiện Chiếu đã thành lập, tại chùa Long Hòa ở Trà Vinh, Hội Lục Hòa Liên Hiệp với mục đích vận động thành lập một Hội Phật Giáo Việt Nam toàn quốc để chấn hưng Phật Giáo. Thiền sư Thiện Chiếu, khác hẳn tất cả tăng sĩ Phật Giáo đương thời, là một tăng sĩ có tân học. Ông đã đi ra Trung và Bắc vận động thống nhất Phật Giáo năm 1927 nhưng bất thành.

Năm 1928 thiền sư Khánh Hòa xây dựng Thích Học Đường và Phật Học Thư Xã tại Chùa Linh Sơn, Sài Gòn và năm 1929 Ông cho ấn hành tạp chí Viên Âm, tập san Phật Học đầu tiên bằng quốc ngữ tại Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Xoài Hột, Mỹ Tho. Cùng thời, thiền sư Thiện Chiếu xuất bản một tạp chí Phật Học nhắm vào giới thanh niên trí thức lấy tên là Phật Hòa Tân Thanh Niên, đặt tòa soạn tại chùa Chúc Thọ ở Gia Định.

 

Năm 1931 thiền sư Khánh Hòa cùng nhiều tăng sĩ và cư sĩ thành lập Hội Phật Học đầu tiên tại Việt Nam, lấy tên là Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học và thiền sư Từ Phong được mời làm Chánh Hội Trưởng. Hội ra tờ Từ Bi Âm năm 1932. Thiền sư Khánh Hòa, cùng người cộng sự thân tín là thiền sư Thiện Chiếu đã đóng vai trò tiền phong khai mở phong trào chấn hưng Phật Giáo và hiện đại hóa Phật Giáo, chuyển động sâu rộng lịch sử Phật Giáo và lịch sử Việt Nam trong suốt 65 năm qua.

Tại miền Trung, thiền sư Giác Tiên mở Phật Học Đường  tại chùa Trúc Lâm năm 1929 và ủy thác cho đệ tử là bác sĩ Lê Đình Thám thành lập Hội An Nam Phật Học năm 1932. Hội quy tụ đông đảo những danh tăng và cư sĩ trí thức tại miền Trung. Cư sĩ Lê Đình Thám được bầu làm Hội Trưởng và vua Bảo Đại được mời làm Hội Trưởng Danh Dự. Hội ra tạp chí Phật Học Viên Âm năm 1933. Năm 1934, thiền sư Giác Tiên, cư sĩ Lê Đình Thám… đã thành lập Trường An Nam Phật Học, trong đó có mở cấp Đại Học Phật Giáo. Đặc biệt hơn nữa là Hội đã phát động phong trào “Chỉnh Lý Tăng Già” rất quyết liệt để loại trừ ra khỏi tăng già những thành phần phạm giới, bất xứng. Chính nhờ những nổ lực cấp tiến này mà Phật Giáo miền Trung đã đóng được một vai trò quan trọng trong những thập niên sau đó.

Năm 1934 các thiền sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo cùng với giới cư sĩ trí thức tên tuổi tại Hà Nội như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Dương Bá Trạc, Trần Văn Giáp, Nguyễn Năng Quốc, Nguyễn Hữu Kha, Bùi Kỷ, Lê Dư… thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội, bầu cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm hội trưởng và suy tôn thiền sư Thanh Hanh làm Thiền Gia Pháp Chủ. Đặc biệt là trong buổi lễ suy tôn Pháp Chủ này, cư sĩ Trần Trọng Kim đã thuyết pháp về đề tài; “Thập Nhị Nhân Duyên”. Hội ra tạp chí Đuốc Tuệ năm 1935 và phát triển mạnh mẽ khắp miền Bắc (Nguyễn Lang, Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, q 3, t 51-173).

Đặc tính của cả ba Hội Phật Học tại ba miền là vai trò nổi bật của giới trí thức cư sĩ, là thuần túy Phật học và sinh hoạt Phật sự. Thời điểm 1925-1945 là thời điểm chuẩn bị trong kiên nhẫn và thầm lặng. Các hội Phật Học đã làm đúng chức năng và vai trò lịch của mình, một cách khiêm tốn, từ đống gạch vụn đổ nát của nền Phật học và Phật Giáo Việt nam trong thời Thực Dân Pháp thống trị.

Trong thời kỳ này xuất hiện những con người đặc biệt, xuất sắc và những tư tưởng mạnh mẽ, quyết liệt, trong Phật Giáo cũng như ngoài Phật Giáo. Từ đầu thập niên 30, tư tưởng Phật Hộc của Thích Thiện Chiếu đã là những quả bom chấn động. Và năm 1939 Huỳnh Phú Sổ xuất hiện làm một cuộc cách mạng tôn giáo, cải cách toàn bộ và triệt để Phật Giáo chưa từng có trong hai ngàn năm lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Miền Nam, một vùng đất lạ lùng và kỳ diệu…

 

An Hòa Tự

Phan Chu Trinh từ Pháp trở về Sài Gòn năm 1925, đất nước bùng lên những làn sóng tư tưởng dân quyền và dân chủ. Ông khẳng định phải tìm nguyên nhân mất nước trong sự mất đạo đức, mất luân lý, trong bài diễn thuyết Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây, và ông cũng khẳng định chế độ quân chủ chuyên chế là nguyên nhân chính làm mất nước trong bài thuyết giảng Quân Trị Chủ Nghĩa và Dân Trị Chủ Nghĩa tại Sài Gòn năm 1925. Ông mất năm sau đó và đám tang ông cùng với cuộc vận động ân xá nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã khơi bùng phong trào yêu nước và yêu tự do dân chủ trên toàn quốc, đặc biệt là trong giới thanh niên.

Nhưng dữ dội, bốc lửa và sấm sét trong tư tưởng yêu nước chống thực dân cũng như tư tưởng tự do dân chủ, trong thời này, chỉ có Nguyễn An Ninh là đi xa nhất, quyết liệt nhất. Là một thanh niên miền Nam,Ông đi du học ở Pháp và trở về nước với bằng cử nhân Luật. Lợi dụng quy chế thuộc địa của Nam Kỳ, nơi mà báo chí bằng tiếng Pháp được tự do, không bị kiểm duyệt, Ông ra tờ La Cloche fèlèe (Tiếng Chuông Rè) từ năm 1923 đến năm 1926. Ông tự xưng tờ báo của Ông là “cơ quan tuyên truyền tư tưởng Pháp”, lấy tư tưởng của kẻ xâm lăng để đập những nhát búa tạ vào chế độ Thực Dân, đồng thời tờ báo cũng tự nhận là “cơ quan chuẩn bị cho tương lai dân tộc”. Thật là độc đáo và tuyệt vời.

Ngoài việc phê bình kịch liệt, thẳng tay chính sách và chế độ thực dân, Ông cổ võ cho việc đào tạo một tầng lớp thanh niên Việt Nam tân học, có văn hóa, có lý tưởng, có chí khí, có năng lực và có tổ chức vàÔng tuyệt đối tin vào sức mạnh và vào tương lai của nhân dân Việt Nam. Ông chủ trương một nước Việt Nam thống nhất từ Nam chí Bắc và trở về lịch sử dân tộc để tìm niềm tin và sức mạnh. Ông hô hào, khi chỉ mới ngoài 20 tuổi, “Chẳng những phải duy trì những giấc mộng vĩ đại, mà còn phải tổ chức thành một nhóm quan trọng để chuẩn bị cho tương lai”. Không những tư tưởng táo bạo, độc đáo, mới lạ, kiến thức của Ông cũng rất uyên bác. Khi Thống Đốc Nam Kỳ tuyên bố: “Xứ này không cần trí thức”. Ông đã viết bài trả lời bốc lửa: “… Những thảm khổ của chúng ta ngày nay, còn gì nữa, đúng là do tổ tiên của chúng ta đã sờ mó vào cây kiến thức. Hạng trí thức đã làm đảo lộn thế giới, làm hư hỏng hạnh phúc của thế giới. Hãy nguyền rủa tên tuổi của Prométhé, kẻ đã lấy trộm chút lửa của Trời. Hãy nguyền rủa con người đã bày ra cái ná cao su cho trẻ con bắn đá vào trán ông khổng lồ… Trí Tuệ, đó là cái tai hại. Trí tuệ, đó là con rắn cuốn quanh thân cây đã làm cho chúng ta vĩnh viễn mất cõi thiên đường… Nói đến vai trò giáo dục, vai trò văn minh của các ông chủ xứ Đông Dương này, thưa các ông, điều ấy làm ta mỉm cười… Người ta đã quỳ lụy bái phục những vị “đem ánh sáng tới”, những vị “làm điều kỳ diệu ở Ấu Châu”… Cái gì kỳ diệu? Thực ra cái kỳ diệu đó là, chỉ trong một thời gian ngắn thôi, người ta đã có thể làm cho trình độ trí thức của người Nam đã thấp đi lại càng rơi vào chỗ cực kỳ dốt nát. Cái kỳ diệu đó là người ta đã có thể, trong một thời gian ngắn như thế, xô đẩy một dân tộc có tư tưởng dân chủ, ngã nhào vào tình trạng nô lệ hoàn toàn“. (Trần Văn Giàu, Sự Phát Triển Của Tư Tưởng ở Việt Nam Từ Thế Kỷ 19 đến Cách Mạng Tháng Tám, q2, t 311).

Nguyễn An Ninh cũng là một trong những nhà trí thức tân học đầu tiên nghiên cứu Phật Học và hoàn thành một tác phẩm Phật Học quan trọng, cuốn “Phê Bình Phật Giáo”. Sau thời kỳ hoạt động sôi nổi từ 1923 đến 1926, Nguyễn An Ninh bị ở tù trong thời gian 1926-1927, sau đó Ông về nghiên cứu Phật Giáo. Trên bàn làm việc của Ông, có một cái chuông, một cái mõ, Ông cạo trọc đầu và đi chân không.Ông nghiên cứu Phật Giáo qua tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và các hoạt động Phật Giáo trong nước. Cuốn Phê Bình Phật Giáo xuất bản năm 1937 là kết quả của sự nghiên cứu này. Tựa đề của cuốn sách, 70 năm sau cũng không có ai dám viết một cuốn sách Phật Học có tựa đề thách thức và can đảm như vậy. Mục đích và phương pháp luận còn mới lạ, táo bạo hơn, đó là “so sánh Phật Giáo với thời đại của nó để chỉ chỗ hay, chỗ đúng hơn của nó đối với các thuyết khác và so sánh Phật Giáo với thời đại này để chỉ sai lầm của Phật Giáo“. Tác phẩm này được giới trí thức, giới chính trị cũng như giới Phật Giáo chú ý đặc biệt.

Nhưng không gây sóng gió và tranh luận suốt nhiều năm trời như những tác phẩm của Thích Thiện Chiếu.Đối với Tăng, Ni, Phật Tử thập niên 30, những tư tưởng Phật Học của Thích Thiện Chiếu là những tiếng sét ngang tai. Ngày nay đọc lại, chắc chắn quý vị tăng sĩ, cư sĩ và Phật Tử cũng không khỏi giựt mình, chấn động và suy nghĩ. Những tư tưởng này, được viết từ thập niên 30, ngày nay, cuối thập niên 90, vẫn còn mới, còn táo bạo, còn chứa đầy sức nặng của đá tảng và sức nổ của sấm sét. Thích Thiện Chiếu là tinh hoa sáng chói của Phật Giáo trong thập niên 20, 30. Ông đã đi tiền phong trong mọi lãnh vực chấn hưng và hiện đại hóa Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ 20 này.

Ta phải đứng trên một đỉnh núi cao, mới hy vọng nhìn thấy những cái gì chưa ai nhìn thấy, những cái gì nằm khuất sau dãy núi cao. đó có thể là những dãy núi cao hơn, hay là một đại dương mênh mông hay là một bình nguyên rực rỡ. Thích Thiện Chiếu là một ngọn núi cao của Phật học và Phật Giáo Việt Nam trước đệ nhị thế chiến. Ta hãy đứng trên đỉnh núi cao ngất, hùng tráng này để nhìn rõ một đỉnh núi cao ngất, hùng vĩ khác, là Cư sĩ, Bồ Tát, Giáo Chủ Huỳnh Phù Sổ.

|Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10|TK|

[BHH430] [PGHH] [THƯ VIỆN PGHH]

For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 04/24/04
Categories: Đức Huỳnh Giáo Chủ | Leave a comment

Những tên tù nhân nam lạm dụng tình dục phụ nữ trong các trại lao động ở Trung Quốc

Những tên tù nhân nam lạm dụng

tình dục phụ nữ trong các trại lao

động ở Trung Quốc

 Huang Qing, Epoch Times       30 October 2013      Chế Độ Trung CộngNhân Quyền Cho Trung QuốcThế Giới     No Comment

ZZZZZZZZZZZX21_1304182326372320-640x450

Một bức họa miêu tả một học viên Pháp Luân Công bị tra tấn bởi cảnh sát chế độ Trung Cộng

Một người sống sót sau khi bị tra tấn và lạm dụng tình dục dã man đã chạy trốn từ Trung Quốc đến Thái Lan và hiện nay muốn cho toàn thế giới biết đến việc chế độ Trung Cộng đã thiết lập một buồng giam đặc biệt trong một trại lao động nam, nhằm lạm dụng tình dục những học viên Pháp Luân Công nữ. Cô đã công bố một bài tường thuật trải nghiệm của  mình trên website của Pháp Luân Công, Minghui.org, bài báo này được dựa theo đó.

Vào ngày 7 tháng 1 năm 2000, cô Yin Liping, lúc đó 32 tuổi, đã bị bắt và bị kết án một năm – sáu tháng vào trại lao động, và được đưa đến Trại Lao động Cưỡng bức Thiết Lĩnh (Tieling).

Hơn 9 tháng sau đó, cô đã bị lưu chuyển từ Thiết Lĩnh, đến Trại Lao động Cưỡng bức Liêu Ninh, và sau đó là Trại Lao động Mã Tam Gia.

Trong suốt quá trình này cô phải chịu nhiều hình thức tra tấn, không cho ngủ, và nhồi nhét công việc hàng ngày. Cân nặng sụt giảm từ 165 pound xuống còn 135 pounds, và cô bắt đầu thường xuyên nôn ra máu.

Một cánh cửa mở ra cho Yin để được đối đãi dễ chịu hơn – từ bỏ niềm tin vào Pháp Luân Công, đồng ý với cái mà chính quyền gọi là “đã được chuyển hóa”. Nhưng cô đã không thừa nhận điều đó.

Vào ngày 19 tháng 4 năm 2oo1 – thời điểm mà Yin đã bị giam hơn 15 tháng trong tổng số 18 tháng án phạt – Yin và 9 người khác, những người cũng phủ nhận việc chuyển hóa, đã bị triệu tập cùng nhau và được cho biết là họ đang bị chuyển đi.

Một trong những viên trưởng cai ngục đã nói với một nụ cười méo mó, “Chúng tôi đang đưa các cô đến một nơi mà các cô có thể tập Pháp Luân Công tốt hơn.”

Yin bước đến một trong những viên cai ngục phụ trách nhóm của cô và nhẹ nhàng yêu cầu cô ta không được ngược đãi các học viên Pháp Luân Công nữa.

Cô nhìn vào một viên cai ngục khác trạc tuổi mình, người chuyên xúi các tù nhân giày vò Yin, và Yin cảm thấy thương xót cho cô ta. Yin ôm và thì thầm vào tai cô ta rằng cô ấy sẽ phải lãnh nhận hậu quả vì đã làm hại người khác; cô ta nên ngừng lại.

Viên cai ngục rơi lệ và nói với cô, “Nói với họ là cô bị đau. Cô bị đau.” Sau này Yin nhận ra rằng những người cai ngục đã biết trước những gì đang đón chờ họ.

Trại lao động nam

Một chiếc xe buýt đã đưa nhóm học viên Pháp Luân Công nữ đến Trại Lao động nam Trương Thực (Zhangshi Men’s Labor Camp).

“Chúng tôi bị xếp thành một hàng ngang trước sân của trại lao động,” Yin Liping nói. “Hai người cảnh sát trông rất lực lưỡng bắt đầu đọc tên. Sau đó một trong số họ đọc một danh sách các nội qui. Anh ta nói ‘Nếu các học viên Pháp Luân Công vì từ chối bị chuyển hóa mà chết, thì cái chết của họ xem như là tự tử.’ Những điều này là chỉ lệnh từ [lúc đó đang là Tổng bí thư] Giang Trạch Dân. Viên cai ngục nói rất cứng rắn. Tôi không nhớ nổi những điều luật khác được đọc lên hôm đó.”

Vào tháng 10 năm 2000, 6 tháng trước những sự việc tại Trại Lao động Nam Trương Thực được mô tả bởi Yin Liping, 18 học viên nữ Pháp Luân Công đã bị lột trần và ném vào những buồng giam nam tại Trại Lao động Mã Tam Gia. Bức khắc gỗ này miêu tả lại cảnh tượng.

Vào tháng 10 năm 2000, 6 tháng trước những sự việc tại Trại Lao động Nam Trương Thực được mô tả bởi Yin Liping, 18 học viên nữ Pháp Luân Công đã bị lột trần và ném vào những buồng giam nam tại Trại Lao động Mã Tam Gia. Tấm khắc gỗ này miêu tả lại cảnh tượng đó.

Nhóm của cô được đưa đến một tòa nhà trắng và được kiểm tra huyết áp. Một trong số họ bị đưa đi, và chín người ở lại. Có một phòng cảnh vệ bên cạnh những thanh chắn sắt với một cánh cửa chấn song. Bên kia cửa là một hành lang với những căn phòng dọc lối đi.

Chín người họ, mỗi người bị đưa vào một phòng. Phòng của Yin có một cái giường 1.6m và một cái tủ gỗ để treo quần áo.

Bốn người đàn ông đã ở sẵn trong phòng của cô. Khi cô đi qua hành lang để đi đến phòng tắm, cô thấy một phòng lớn với 30 người đàn ông đang nằm trên sàn. Yin sợ hãi và ngạc nhiên không biết cô đang làm gì ở nơi này.

Lúc 10 giờ đêm, cô yêu cầu những người đàn ông trong phòng cô ra ngoài, để cô có thể đi ngủ. “Đi ngủ ư?” một người đàn ông trung niên nói, và cười phá lên. “Cô sẽ đi ngủ ư? Không ai được phép ngủ mà chưa được ‘chuyển hóa’. Một cô đã được ‘đào tạo’ ở đây trong 18 ngày và không cho ngủ. Cuối cùng, cô ấy bị điên.”

“Những tiếng thét kinh hãi”

Sau đó Yin Liping nghe thấy những tiếng khóc ngoài hành lang của một học viên tên là Zhou Guirong. “Cô ấy cứ gọi tên tôi,” Yin Liping nói. “Tôi cố hết sức chạy ra khỏi phòng và thấy Zhou đã chạy thoát ra hành lang. Tôi ôm Zhou thật chặt và không thả ra.”

“Các tù nhân nam liên tục đánh đập chúng tôi. Mắt phải của tôi sưng phồng lên vì bị đánh đập còn quần áo thì bị rách và bị xé. Cả Zhou và tôi bị kéo lê về buồng. Tôi bị 4 hay 5 tên đàn ông đánh đập và trở nên mất phương hướng. Cuối cùng, tôi bị ép phải nằm yên trên giường. Một tên ngồi lên người tôi và đánh đập tôi. Tôi chóng mặt và ngất xỉu.”

“Khi tôi tỉnh lại, tôi thấy 3 tên đang nằm bên cạnh tôi, tay và cơ thể họ tất cả đều ở trên người tôi. Hai trong số đó đứng giữa chân tôi, một đang quay video và một người khác đang xem video. Họ liên tục nói những lời tục tĩu. Tôi không biết có bao nhiêu người khác đang ở dưới chân tôi. Họ liên tục gãi lòng bàn chân tôi và cười lớn. Họ nói tục tĩu và một trong số họ cứ nói, ‘Đừng có giả chết. Cô phải từ bỏ Pháp Luân Công ngay cả khi cô đã chết!’”

“Tôi không tin nổi điều mình đang thấy,” Yin nói “Tôi nôn ra máu và có máu ở khắp nơi.”

“Tôi nghe những tiếng thét kinh hãi của Zhou Guirong trong các buồng giam. Cô ấy kêu lên ‘Liping’. Đó là tên tôi. Tôi thấy như là tôi đang ở trong mơ. Nhưng không phải, đó không phải là mơ. Tôi biết chắc rằng đó không phải là mơ. Tiếng thét kinh hãi kia đã kéo tôi trở lại địa ngục khủng khiếp giữa trần gian này.”

“Bất chợt tôi không thể nghe thấy tiếng gì và không thể nhìn thấy gì. Tôi vùng vẫy để đứng dậy và đi tìm âm thanh quen thuộc đó. Đầu tôi đã bị đánh bởi một cái móc áo bằng gỗ, và tôi đột nhiên cảm thấy một chất nước ấm nóng chảy xuống mặt mình.”

“Tôi vùng vẫy đứng dậy. Tôi không có khái niệm sống hay chết. Không có điều gì có thể cản được tôi. Tôi đập hết sức mình vào cửa phòng trong khi những tù nhân khác đang đánh tôi. Tôi tiếp tục gọi lên, ‘Zhou Guirong’. Và rồi cô ấy chạy đến phòng tôi. Cô ôm tôi. Và sau đó chúng tôi chạy đến cánh cửa cuối hành lang.”

“Chúng tôi cố hết sức đẩy mở cánh cửa sắt. Rồi cánh cửa sắt cuối cùng cũng mở. Cả hai đã bị thương nghiêm trọng. Trước những viên cảnh sát này chúng tôi không còn thấy sợ chết nữa. Tôi hỏi họ ‘Đây là trại lao động của Trung Quốc à? Tại sao Trung Quốc lại đối xử với chúng tôi như những tên côn đồ? Anh có mẹ, có chị, có con gái, có cô, có dì không? Những hành động này, có biểu tượng cho đất nước chúng ta không?’”

“Nếu những tên đàn ông đó không ra khỏi phòng chúng tôi, tôi sẽ nhớ lấy ngày này. Hôm nay là ngày 19 tháng 4 năm 2001, và các anh đang trực tối nay. Nếu chúng tôi sống sót ra khỏi đây, tôi sẽ kiện các anh. Và nếu chúng tôi chết ở đây, linh hồn của chúng tôi sẽ không bao giờ để các anh yên. Sức nhẫn chịu của chúng tôi không phải là vô biên.’ Viên cảnh sát đã gọi những tù nhân kia và nói họ để cho chúng tôi ngủ một mình vào tối hôm đó.”

“Chúng tôi bị đưa đến phòng của tôi và 4 tù nhân ở lại trông coi chúng tôi. Chúng tôi đã thức cả đêm nhìn nhau trong nước mắt. Chúng tôi có thể nghe thấy âm thanh của những tiếng la và tiếng đập cửa từ những phòng khác.”

“Học”

“Ngày hôm sau, các tù nhân đã tra tấn tôi vào đêm hôm trước quay trở lại với một máy quay phim. Lần này có thêm một người phụ nữ đi cùng. Họ đem theo rất nhiều sách của Pháp Luân Công. Họ đọc một đoạn và sau đó diễn giải nó theo kiểu sỉ nhục Pháp Luân Công. Và rồi họ đọc một đoạn khác và lại diễn giải.”

“Và rồi một tên đã lạm dụng tôi vào đêm hôm trước, hỏi tại sao tôi không học cùng họ. Sau đó anh ta lôi tôi lên giường, liên tục đánh tôi và hỏi tại sao tôi không học cùng họ, ‘Chẳng phải cô muốn làm một học viên Pháp Luân Công hay sao?’”

“Tôi nói tôi không hề phạm tội và chỗ này không phải là nơi để tôi học. Tại sao tôi phải bị giam cầm, để học à?”

“Những tù nhân đó đã chép lại mọi điều tôi nói và sau đó hỏi lại rằng họ viết có đúng không. Và rồi đến giờ ăn. Nhưng tôi không thể ăn bất kỳ loại thức ăn nào ở đó, và thân thể tôi rất yếu ớt.”

“Sau đó là buổi tối và mọi thứ lại diễn ra giống hệt như đêm hôm trước. Họ bắt đầu tra tấn tôi như đêm hôm trước – lạm dụng tình dục. Những viên cảnh vệ đã bị đổi – họ không phải là những người của đêm hôm trước.”

“Zhou Guirong đã bị đánh và cô chạy sang phòng tôi. Tôi đứng lên và nôn ra máu. Lúc đó mọi âm thanh đều ngừng lại. Sau đó Zhou Guirong khóc và gọi tên tôi. Rồi thì cảnh sát báo cáo với nhóm trưởng và họ đồng ý để Zhou Guirong ở lại chăm sóc tôi.”

“Nhưng họ không quên bức hại Zhou và tiếp tục học những bài giảng của Pháp Luân Công với cô ấy theo một cách tà ác. Zhou đã không nhìn thấy một quyển sách Pháp Luân Công nào từ rất lâu và chuẩn bị nhận nó, nhưng tôi nói, ‘Chúng ta không thể học ở đây, nó là một sự ô nhục.’ Cô ấy để quyển sách xuống. ‘Khi chúng ta về nhà, chúng ta sẽ học những bài giảng Pháp Luân Công thật tốt,’ tôi nói.”

“Ác quỷ không để cho chúng tôi yên vào tối hôm đó. Và sau đó một người đàn ông nói rằng ‘đầu và thân của cô ta nóng quá, đừng để cô ta chết.’ Mọi người đàn ông ở đó đều đến kiểm tra thân nhiệt của tôi và tất cả yên lặng. Tôi không nhớ được làm sao mà tôi có thể qua được đêm hôm đó.”

“Vào đêm thứ ba, Zhou và tôi đột nhiên nhớ đến Ren Dongmei, cô ấy chưa từng kết hôn. Cô ấy bị giam cầm trong buồng giam sâu nhất. Lúc đó, Zhou và tôi đã không còn suy nghĩ đến cái chết. Chúng tôi chạy ra hành lang và gào lên tên Ren. Tôi thấy những người cai ngục và nói với họ rằng Ren vẫn còn là trinh nữ. Tôi van xin họ tha cho cô ấy, ‘Anh cũng có con gái mà, đúng không?’”

“Nhiều năm qua, tôi đã không viết ra những chi tiết mà tôi đã trải qua ở nơi ấy. Tư tưởng của tôi sẽ sụp đổ nếu tôi cố làm điều ấy. Tôi không dám và không muốn nghĩ đến nó, bởi vì mỗi lần nó xuất hiện trong tâm trí tôi, tôi sẽ bị chìm đắm trong khiếp hãi và đau đớn.”

“Sau này tôi biết được, trước khi chúng tôi bị đưa đến nơi ấy, đã có 33 học viên được đưa đến đó và ‘bị chuyển hóa’ theo cách này. Một số đã bị suy sụp tinh thần. Trong nhiều năm, họ không ngừng bức hại tàn bạo các học viên Pháp Luân Công.”

Từ một nhóm 9 người bị bức hại tình dục ở Trại Lao động Nam Trương Thực, Yin Liping biết rằng Zhou Guirong và Su Juzhen sau đó đã chết vì bị tra tấn. Lúc đầu Su đã bị suy sụp tinh thần.

Lời kết

Bác sỹ Jingduan Yang là một nhà tâm lý học ở Philadelphia, người đã điều trị những người còn sống sau khi bị bức hại tại những trại lao động ở Trung Quốc và cũng đã phỏng vấn một số nạn nhân của Trại Lao động khét tiếng Mã Tam Gia.

Yang nói rằng khó khăn của Yin Liping khi viết lại câu chuyện của cô là điều thường thấy ở những nạn nhân bị lạm dụng khốc liệt như thế.

“Điều này được gọi là rối loạn hậu chấn thương,” Yang nói. “Một triệu chứng là chết lặng, xa lánh, không muốn nghe, nhìn, hay thấy bất kỳ điều gì có thể gợi lại cho nạn nhân về những gì đã xảy đến với cô ấy. Cô ấy luôn sống trong sợ hãi và lo lắng. Đây là những triệu chứng thường gặp.”

“Sự tác động lên những ai bị lạm dụng kiểu này là khủng khiếp,” Yang nói. “Bạn không thể đánh giá được những gì đã xảy đến với họ. Nó phá hủy lòng tự trọng của một con người. Nó khắc sâu nỗi sợ hãi và khủng bố lên nạn nhân cả về thể xác, về cảm xúc và về nhận thức.”

“Nỗi sợ hãi luôn ở trong người ấy và có thể phát tác vào bất cứ lúc nào, nếu có điều gì làm họ liên tưởng đến nỗi đau này. Nó thay đổi vĩnh viễn cách họ đối xử với con người. Ngay cả khi họ đã thoát khỏi nơi mà họ bị lạm dụng và sinh sống ở một nơi an toàn, họ vẫn bị ác mộng, hồi tưởng, và khủng bố.”

Chú thích:
Được dịch bởi Leo Chen và Hsin-yi Lin. Chỉnh sửa tiếng Anh bởi Stephen Gregory.

Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

Blog at WordPress.com.