Daily Archives: November 12, 2013

Việt Nam đón Putin, nhận tàu ngầm Kilo, Trung Quốc lo sợ

 

Việt Nam đón Putin, nhận tàu ngầm Kilo, Trung Quốc lo sợ

Anh Tuấn – theo Trí Thức Trẻ | 06/11/2013 10:21Chia sẻ:

(Soha.vn) – Hoàn Cầu vu cáo rằng Việt Nam sẽ “cắt đứt các tuyến vận tải đường biển” bằng tàu ngầm Kilo.

Ngày 7/11/2013, Nga sẽ chính thức bàn giao tàu ngầm Kilo mang tên Hà Nội cho Việt Nam. Tờ Nciku của Nga đánh giá phiên bản này hiện đại hơn phiên bản Kilo mà Trung Quốc hiện đang sở hữu.

Tàu ngầm Hà Nội là chiếc tàu ngầm Kilo Đề án 636 đầu tiên trong tổng số 6 chiếc mà Việt Nam đặt mua của Nga. Theo dự kiến, Việt Nam sẽ tiến hành lễ ra mắt và kéo quốc kỳ trên con tàu vào tháng 1 năm sau.

Tàu ngầm Kilo Hà Nội trong chuyến thăm và thị sát của Thủ tưởng Nguyễn Tấn Dũng tại Kaliningrad hồi tháng 5/2013.

Tàu ngầm Kilo Hà Nội trong chuyến thăm và thị sát của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Kaliningrad hồi tháng 5/2013.

Chiếc Kilo thứ hai mang tên Thành phố Hồ Chí Minh hiện cũng đang trong quá trình thử nghiệm và dự kiến sẽ được bàn giao cho Việt Nam trước cuối năm nay. Theo kế hoạch, 4 chiếc còn lại sẽ được chuyển giao toàn bộ cho Hải quân Việt Nam trước năm 2016.

Mới đây, tờ Kanwa Defense Review có trụ sở tại Canada cũng đã có bài phân tích về tàu Kilo mới của Việt Nam. Tờ này cho biết các linh kiện và bộ phận trên tàu Kilo Việt Nam như kính viễn vọng, thiết bị do thám điện tử và cách âm đều sử dụng những kỹ thuật tiên tiến nhất. Đặc biệt hơn nữa là hệ thống tên lửa Club có tầm bắn tới 290km mới nhất mà Nga trang bị cho tàu ngầm Kilo của Việt Nam.

Trang tin Chinanews cho rằng chuyến thăm tới đây của Tổng thống Nga Vladimir Putin tới Việt Nam là nhằm khẳng định mối quan tâm của Nga và tầm quan trọng đặc biệt của sự kiện Việt Nam nhận bàn giao tàu ngầm Kilo.

Tàu ngầm TP Hồ Chí Minh (bên phải ảnh) chuẩn bị cho chuyến thử nghiệm trên biển hôm 2/10. Bên cạnh là tàu ngầm HQ-184 Hải Phòng mới được hạ thủy cuối tháng 8 vừa qua.
Tàu ngầm TP Hồ Chí Minh (bên phải ảnh) chuẩn bị cho chuyến thử nghiệm trên biển hôm 2/10. Bên cạnh là tàu ngầm HQ-184 Hải Phòng mới được hạ thủy cuối tháng 8 vừa qua.

Trong khi đó, trước thông tin Việt Nam sắp nhận bàn giao tàu ngầm Kilo Hà Nội, tờ Hoàn Cầu của Trung Quốc như thường lệ lập tức phản ứng bằng cách luận điệu vu cáo, xuyên tạc. Trong bài báo với tựa đề “Biển Đông nguy cấp”, Hoàn Cầu la lối một cách rất vô lý rằng Việt Nam đang “chiếm biển của Trung Quốc”, và với lớp tàu Kilo mới, Việt Nam sẽ có tham vọng “tăng cường khống chế Biển Đông”. Hoàn Cầu còn xuyên tạc rằng Việt Nam sẽ “cắt đứt các tuyến vận tải đường biển” bằng những tàu ngầm này.

Trang tin Qianzhan cũng lặp lại luận điệu như tờ Hoàn Cầu. Trang này rêu rao một lý lẽ không ai  có thể chấp nhận được, rằng Việt Nam “chiếm nhiều đảo của Trung Quốc nhất”, bởi vậy nên luôn “lo lắng” trước sự lớn mạnh của quân đội Trung Quốc. Qua đó, Qianzhan đưa ra suy luận việc mua tàu ngầm Kilo là động thái để “gia tăng sự chiếm đóng trái phép”. Truyền thông Trung Quốc còn lu loa rằng các tàu cá của nước này không dám đến gần “đảo của nước mình” vì sẽ bị Việt Nam bắn hoặc bắt đòi tiền nộp phạt, trong khi đây là một hành động mà chính Trung Quốc mới là kẻ thường xuyên châm ngòi và gây sự.

Từ những luận điệu xuyên tạc và vu cáo Việt Nam của truyền thông Trung Quốc, có thể thấy rõ một điều rằng Bắc Kinh đang cảm thấy lo sợ trước sức mạnh ngày càng được tăng cường của Hải quân Việt Nam. Theo các chuyên gia quân sự, tàu ngầm Kilo “hố đen” của Việt Nam sẽ là nhân tố chiến lược giúp thay đổi cục diện trong khu vực, ngăn Trung Quốc thực hiện âm mưu thôn tính, nuốt trọn Biển Đông.

Có lẽ, chính vì điều này mà Trung Quốc “đứng ngồi không yên” khi thời gian tàu ngầm Hà Nội về tới Biển Đông không còn bao xa nữa. Truyền thông Trung Quốc càng mạnh miệng vu cáo, bịa đặt về Việt Nam bao nhiêu thì chỉ càng thể hiện rõ ràng rằng họ đang vô cùng lo sợ mà thôi.

 

Bài viết và ý kiến đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về địa chỉ email: quansu@soha.vn. Trân trọng!

Categories: Biển Đông | Leave a comment

thanh lap mot so tiem có tính cách từ thien…

thanh lap mot so tiem có tính cách từ thien…

Inbox
x
Sang Lephuoc
Oct 29 (13 days ago)

to Ton, minhquang4429, lawrence, Lactan, me, vantran200991, Tan, Tan, Tan, dieuchipham53, paul, Phuong
1. Toi co mot dứa con gai ten Tuyet Nga, chu nhiem mot cơ sở ten la Tổ Dình San Khấu Cải Lưong đã đến dự đai lễ kỹ niêm 74 nam của PGHH.. Đây la mot cô gái trẻ, dep, duyen dáng, rat co khả nang, xong xáo, có lòng tan tuy va đã dấn than tan tình giúp dở BTC Dai Lễ, bưng don ban ghế va sap xếp moi công viec trong Hôi Trường. Huyen Tam đề nghi toi viếng tham cơ sổ cô ta, nam bên canh nơi mình làm Đai Lễ. Tôi và anh em cảm kich trước khả nang va thien chi của Tuýet Nga. Cuoi cung, Tuyet Nga trở nen rat gần gủi với anh em va hửu ich với PGHH.

2. Tuyet Nga có uy tín va anh huong voi mot co quan từ thien ten la HAND TO HAND THRIFT STORES, CO VỐN LIENG VÀ CO NHIEU CO SỞ ĐÁNG GIÁ RẤT CAO TÍNH VỀ PHƯƠNG DIỆN TÀI CHÁNH.
3 Cơ sở HAND TO HAND THRIFT STORES NẦY theo dề nghi của Tuyết Nga bang lòng bỏ tiền ra để làm nhiều tiệm giúp cho mình , với tốn kém lối 10 ngàn đô mỗi tiệm, từ từ làm trên  khắp các tiẻu bang tai Hoa Kỳ. Toi tran trong thông tin cho quy vi ro de chuan bi. Toi tin rang chuq1ng ta sẽ có dieu kien  dể thâu nạp nguoi lam viec tai nhièu tiem, và nhu vay chúng ta sẽ co nhieu co sở va anh em khap noi. Đó là chưa kể rang sau khi chi tieu về moi  cong viec, toi nghĩ rang chúng ta co quyen hi vong moi tiem sẽ co thể mang về cho chúng ta một số lợi tức hàng tháng, mà rốt cuộc chúng ta sẽ co thể co phuong tien làm diều huu ich.
ĐIEU CAN YEU NHỨT LÀ PHẢI CỐ GẮNG NỔ LƯC. MÀ NỔ LƯC   NÀO CŨNG CO THỂ THÀNH CONG NHIỀU HAY THÀNH CÔNG ÍT, GẬP RỦI RO NHIỀU HAY RỦI RO ÍT.VẤN ĐỀ MỖI NGUOI PHẢI PHÁT TÂM

HI SINH VÀ PHAT TAS6M CỐ GẮNG ĐỂ PHUC VU.
4. Hand to Hand Thrift Stores là cung cấp hàng hoá vơi giá rẻ, từ thiên. Chúng ta có quyền đặt tên là HAND TO HAND DÂN HOÀ THRIFT STORES HOẶC HAND TO HAND HOA HAO THRIFT STORES.
Tran trong bao cao,
lephuocsang
TS. LêPhước Sang

Hội truởng HĐTSTƯ GH-PGHH
————————————————
12432 Euclid Street, Garden Grove, CA 92840
832-397-9813 & (714) 584-7778 (xin để lại message)
Categories: Tin Hoa Kỳ | Leave a comment

Bậc giác ngộ và tên khủng bố

Đạo Phật nhập thế, đạo Phật nứg dụng

Bậc giác ngộ và tên khủng bố
Sư ông Làng Mai giảng Lâm Tế Lục bài 22

<style=”margin-left:18.0pt;text-align:justify;line-height: 150%”=””>

  • PSN – 5.10.2013 | Nhất Hạnh
    Pháp thoại ngày 21 tháng Chạp năm 2003
    tại chùa Pháp Vân, xóm Thượng trong khóa tu mùa Thu

<style=”margin-left:18.0pt;text-align:justify;line-height: 150%”=””>

Kính thưa đại chúng, hôm nay là ngày 21 tháng 12 năm 2003, chúng ta đang ở chùa Pháp Vân tại Xóm Thượng trong khóa tu mùa Thu. Chúng ta học tiếp Lâm Tế Lục, xin đại chúng mở ra trang 17 bản dịch tiếng Việt.

 

Này các bạn tu, đừng lấy Bụt làm tiêu chuẩn tuyệt đối. Theo tôi thì cái quan niệm ta có về Bụt ấy cũng như một cái hố xí, và theo nghĩa đó, Bồ Tát và La Hán cũng chỉ là những kẻ đem tới gông cùm. Vì vậy cho nên mới có hiện tượng Văn Thù mang gươm tới giết Cồ Đàm và Ương Quật Ma đem đao tới chém Thích Ca.

 

Đối với người Phật tử, Bụt là đối tượng của sự tôn thờ tuyệt đối, của sự mến mộ tuyệt đối, là hình ảnh tuyệt hảo để cho ta noi theo. Chúng ta thường nghĩ nếu không có hình ảnh của Bụt thì làm sao chúng ta có hướng đi trong cuộc đời. Trong những lúc nguy nan, trong những lúc khổ đau, chúng ta bám vào hình ảnh của Bụt, một tiêu chuẩn tuyệt đối để mà sống, cũng như những người bạn Cơ Đốc giáo bám vào hình ảnh của Thiên Chúa. Nếu không có hình ảnh của chúa Ki Tô như là chỗ nương tựa để bám víu vào, họ sẽ không thể nào vượt được những giờ phút nguy nan. Ấy vậy mà Tổ Lâm Tế đã nói: Đừng mắc kẹt vào hình ảnh của Bụt và Chúa, tại vì đó chỉ là những hình ảnh của chúng ta đã có về Bụt và Chúa.

 

Trước hết ta cho rằng Bụt và Chúa là những cái thực tại nằm ở ngoài ta, không phải là ta. Không phải tự mà là tha (the other, l’autre). Quan điểm sai lầm ở chỗ đó. Quan niệm Bụt và Chúa là một thực tại bên ngoài để ta bám víu vào, quan niệm ấy không có khả năng đưa ta đến sự giải thoát. Có thể quan niệm ấy xoa dịu được một phần nào những đau khổ trong chốc lát, nhưng không đưa ta được tới giải thoát. Ta phải vượt thắng quan niệm đó của ta về Bụt và Chúa. Tại vì nó duy trì tình trạng nô lệ của ta. Vì vậy Tổ gọi nó là một cái hố xí. Có người tín đồ nào dám gọi đức giáo chủ của tôn giáo mình làmột cái hố xí không? Có người tín đồ của một tôn giáo nào có ý muốn sát hại vị giáo chủ của mình hay không? Nhưng trong thiền tông thì có. Tổ Lâm Tế kêu gọi chúng ta gặp Bụt thì phải giết Bụt,‘phùng Phật sát Phật’, lời dạy này, người có căn cơ thấp bé không thể nào hiểu tới được. Chỉ có những người tu tập đã chín muồi, đã sẵn sàng buông bỏ ý niệm mới có thể tiếp nhận được mà thôi. Nếu Tổ Lâm Tế sinh ra trong truyền thống Cơ Đốc giáo mà nói ra một câu như vậy, thì chắc chắn Tổ đã bị nhà thờ tẩn xuất, và rút phép thông công. Đạo Bụt thì ngộ lắm, Tổ nói như vậy mà vẫn còn tiếp tục hành đạo được. Có những nhà nho nghe Tổ Lâm Tế dạy, nói rằng: ‘Trời! Nếu ông này không đi tu thì sẽ trở thành tướng cướp’. Tại vì họ không hiểu được Tổ. Tiểu sử của Tổ có ghi chép rằng: khi còn nhỏ Tổ rất hiếu kính với cha mẹ. Vậy mà Tổ lại tuyên bố là “Gặp cha giết cha, gặp mẹ giết mẹ.” Đây là ngôn ngữ của nhà thiền, ta phải chín chắn lắm mới nắm vững được. Còn nếu ta chưa chín chắn, chưa là thiền sư mà đã muốn sử dụng ngôn ngữ này thì sẽ rất nguy hiểm. Chết ta trước, và chết những người khác sau.

 

Bụt là cái hố xí. Quan niệm của anh về Bụt là một cái hố xí ràng buộc anh, nó bỏ tù anh, và anh phải thoát ra khỏi sự ràng buộc đó. Trong cái nghĩa ấy, hình ảnh các vị Bồ Tát và A la hán mà ta có trong đầu cũng là những cái gông cùm. Ý niệm về Bồ tát Văn Thù và Bồ tát Phổ Hiền mà ta niệm hàng ngày đều là những cái gông cùm mà ta phải thoát ra. Cho nên mới có hiện tượng Văn Thù mang gươm tới giết Cồ Đàm, tức là giết khái niệm đó của ta về Bụt.

 

Ngày lễ Giáng Sinh, trẻ con rất thích ông già Noel. Vấn đề đặt ra là ông già Noel có thật hay là không có thật? Nhu yếu của sự sống bắt buộc phải có ông già Noel. Nếu không có ông già Noel thì chắc chắn sẽ có một ông già khác. Vấn đề ở đây không phải là tôn giáo, nó là văn hóa. Văn hóa Tây phương mà không có ông già Noel thì sẽ thiếu vắng. Vì vậy cho nên có ông già Noel hay không có ông già Noel như một nhân vật lịch sử không phải là vấn đề then chốt.

 

Khái niệm của trẻ em về ông già Noel rất dễ thương, rất ngây thơ. Ông già Noel thường phải mặc áo đỏ, đội nón đỏ có cái chuôi dài, đi đôi hài cao (tại vì đi trên tuyết), và thế nào cũng phải có một bộ râu trắng phơ dài. Phương tiện chuyển vận của ông không phải là xe taxi, mà là một chiếc xe trượt tuyết có những con nai kéo. Khi tới nhà mình ông không vào bằng cửa thường, tại vì cửa thường đã đóng vào giờ ấy. Ông chui từ trên ống khói đi xuống và chui rất hay, thành thử ra áo quần của ông không có dính lọ ngẹ. Ông không bị nóng, dù lúc đó củi vẫn còn cháy. Ở chỗ bếp lửa đêm hôm ấy, bọn con nít treo những chiếc vớ của chúng trước khi đi ngủ. Chúng tin tưởng rằng vào nửa đêm ông già Noel sẽ tới, và sẽ bỏ vào trong những chiếc vớ của chúng những món quà mà chúng thích. Chúng thật sự tin như vậy. Nếu chúng ta lấy mất niềm tin đó của bọn con nít đi, thì tội nghiệp quá. Nếu một đứa bé mới có bốn tuổi, năm tuổi mà nghe nói « ông già Noel là không có thật » thì nó sẽ buồn biết mấy. Vì vậy, chắc chắn phải có ông già Noel cho bọn con nít. Ông già Noel nghe được ước vọng của bọn con nít. Bọn con nít muốn cái gì ông cũng biết và ông cho ngay cái đó, rất là hay. Ước vọng của bọn con nít là một cái gì có thật, mà những người nghe được, hiểu được cái ước vọng đó cũng là những người có thật. Đó là những ông già Noel. Ông già Noel đích thực không cần phải có râu dài màu trắng, không cần phải mặc áo đỏ, không cần phải đi bộ hia đỏ. Nếu chúng ta kẹt vào cái tướng của ông già Noel, thì chúng ta không thấy được ông già Noel. Chúng ta phải nhìn ông già Noel bằng con mắt vô tướng. Vậy thì có ông già Noel, hay là không có ông già Noel? Ta phải nhìn bằng con mắt vô tướng. Nếu ta có một quan niệm về ông già Noel, thì quan niệm đó có thể là quan niệm ngây thơ của em bé. Em bé đó ngày mai sẽ lớn, sẽ bừng tỉnh, sẽ mỉm cười và sẽ biết rằng: mình đã vượt thoát ý niệm ngây thơ về ông già Noel của thời ấu thơ. Tuy vượt thoát rồi, nhưng mình vẫn duy trì hình ảnh ông già Noel cho thế hệ tương lai.

 

Bụt cũng vậy, Chúa cũng vậy, đức Văn Thù cũng vậy, đức Phổ Hiền cũng vậy, đều là những ông già Noel cả. Nhưng nếu chúng ta cho những hình ảnh đó là những sản phẩm hoàn toàn của tưởng tượng thì cũng không đúng. Tại vì ông già Noel cần thiết cho cuộc đời. Bụt, Chúa, các vị Bồ Tát cần thiết cho cuộc đời. Tuy vậy nếu chúng ta muốn lớn lên, không phải là về mặt tuổi tác mà về đời sống tâm linh, muốn tiếp xúc được với sự thật thì chúng ta phải có khả năng buông bỏ những ý niệm, những hình ảnh trẻ thơ của mình. Chúng ta có quan niệm về Bụt, về Chúa, chúng ta đã sống với quan niệm về Bụt, về Chúa đó từ thời ấu thơ. Khi chúng ta học hỏi thực tập, thì từ từ chúng ta buông bỏ những quan niệm đó về Bụt và về Chúa.

 

Thầy Thanh Văn hồi còn nhỏ nghĩ rằng Bụt rất ưa ăn chuối tại vì thấy ai tới chùa cũng cúng chuối. Bụt đợi cho đến khi chùa vắng lặng hoàn toàn rồi, mới đưa cánh tay ra bẻ một trái chuối mà ăn, đó là cái thấy của thầy Thanh Văn hồi còn 5, 6 tuổi. Đến khi thầy lớn lên thì cái thấy đó không còn nữa, nó được thay thế bằng những cái thấy khác. Vì vậy, ta phải buông bỏ những cái tướng để sự thật có thể hiển bày ra được. Nếu chúng ta không buông bỏ cái tướng ông già Noel, thì làm sao thấy được ước mơ của bọn con nít và lòng thương yêu của những bậc cha mẹ? Ông già Noel có mặt ở trong những em bé đó, và có mặt ở trong những người cha, những người mẹ. Ông già Noel là một phẩm vật sáng tạo của tâm thức. Là sáng tạo phẩm thì nó phải có thật chứ sao không có thật được? Nhưng sáng tạo phẩm đó được nhận thức qua một hình thái nào đó trong văn hóa người ta vẽ ra. Người ta vẽ ra hình Bụt, người ta vẽ ra hình Chúa, người ta vẽ ra hình Bồ Tát, người ta vẽ ra hình ông già Noel.

 

Ta phải lớn lên trong đời sống tâm linh của ta. Ta phải phá tan những hình ảnh để mà tiếp xúc với sự thật. Không phải là Bụt không có, Chúa không có, tình yêu không có, bác ái không có. Đó là những thực tại, nhưng không phải là đối tượng của sự mong cầu đang có mặt ở ngoài ta. Nó không phải là cái khác (the other, l’autre), nó không phải là một thực thể độc lập ngoài tâm thức ta, ngoài con người ta, ngoài sự sống của ta. Khi thấy được như vậy rồi, thì ta không còn tìm cầu, không còn theo đuổi nữa. Ta không đánh mất bản thân của ta, không lâm vào cái mặc cảm ta là con số không. Lưỡi gươm trí tuệ là lưỡi gươm có thể chặt đứt được tất cả những khái niệm đó, những ảo ảnh đó, những tướng trạng đó, những hình thức đó. Vì vậy cho nên mới có hiện tượng ‘Văn Thù mang gươm tới giết Cồ Đàm và Ương Quật Ma đem đao tới chém Thích Ca’. Đây là hai câu chuyện có thể bổ túc cho nhau, nói lên một cách rất tuyệt hảo cái giáo lý vô tướng và vô đắc này. Trước hết ta hãy nói về chuyện Ương Quật Ma (Angulimala).

 

Trong thành Xá Vệ, ai cũng biết Angulimala là một kẻ sát nhân. Khi nghe tin Angulimala xuất hiện trong thành phố, mọi người đều sợ hãi. Có một lần một toán cảnh sát năm chục người đi vào rừng để tìm Ương Quật Ma… Nhưng năm mươi người cảnh sát đó đi vào rừng không thấy trở về. Họ đã bị Ương Quật Ma giết hết. Điều này càng làm cho mọi người kinh sợ. Vua Ba Tư Nặc nghĩ rằng đối với Ương Quật Ma, một toán cảnh sát không đủ, phải huy động cả quân đội mới có thể bắt được Ương Quật Ma. Dân chúng trong thành Xá Vệ có hình ảnh về Ương Quật Ma là một kẻ sát nhân. Họ có hình ảnh về Ương Quật Ma như một ác quỷ không có khả năng hiểu và thương. Tất cả dân chúng trong thành người nào cũng đồng ý là gặp Ương Quật Ma thì phải giết, phải tiêu diệt. Chỉ trừ có một người. Người đó nghĩ rằng trong Ương Quật Ma vẫn còn có hạt giống tốt còn lại. Người đó là đức Thế Tôn. Nhưng mà từ trước tới nay chưa ai có khả năng chạm vào hạt giống đó, cho nên Ương Quật Ma chưa bao giờ có cơ hội để trở thành con người tốt.

 

Buổi sáng hôm đó, Thế Tôn cầm bát đi vào thành Xá Vệ để khất thực. Một Phật tử mời Ngài vào trong nhà và thưa rằng: ‘Bạch Đức Thế Tôn, đi khất thực ngày hôm nay rất nguy hiểm, tại vì Ương Quật Ma đang có mặt trong thành phố. Kính xin Đức Thế Tôn ở lại đây, con sẽ cúng dường cơm cho Ngài. Và xin Ngài nghỉ lại đây. Đợi con nghe tin tức, khi biết rằng tình trạng có an ninh, thì lúc đó con thỉnh đức Thế Tôn về lại tu viện Kỳ Viên.’ Nhưng Bụt nói: ‘Đạo hữu đừng lo! Không sao đâu! Nếu tôi có gặp Ương Quật Ma thì tôi cũng có cách để tự vệ. Đôi khi tôi có thể giúp được Ương Quật Ma nữa.’ Người Phật tử đó không tin lắm, tại vì ông thấy Bụt rất hiền từ, còn Ương Quật Ma rất hung hãn. Ương Quật Ma có một thanh đao, còn Bụt thì không có một võ khí nào cả. Nhưng người Phật tử đó lầm! Bụt cũng có một thanh gươm, đó là thanh gươm của trí tuệ. Ta sẽ chứng kiến cuộc so gươm của Bụt với thanh đoản đao của Ương Quật Ma.

 

Angulimala đã giết rất nhiều người. Mỗi khi giết một người, anh cắt một ngón tay, lấy một đốt xương và xoi một cái lỗ, rồi anh xỏ cái đốt xương đó vào trong cái tràng xương để đeo vào cổ. Ngày hôm đó nghe nói anh ta đã có cái vòng của 99 đốt xương rồi. Anh ta muốn giết thêm một người nữa cho đủ số 100, để có xâu chuổi làm hoàn toàn bằng xương người. Chữ mala trong danh từ Angulimala có nghĩa là xâu chuỗi. Đức Thế Tôn đang bưng bát đi từng bước thảnh thơi thì nghe có tiếng chân chạy rầm rập phía sau lưng. Với linh khiếu bén nhạy, Ngài biết rằng Angulimala đang đuổi theo, nhưng Ngài vẫn bình tĩnh đi. Ngày xưa, Sĩ Đạt Ta cũng giỏi về võ thuật. Nhưng vũ khí của đức Thế Tôn là lòng thương và trí tuệ của Ngài. Kinh sách hay nói là mỗi khi gặp trường hợp nguy hiểm thì đức Thế Tôn trổ ra những phép thần thông. Nhưng đức Thế Tôn đâu cần phải thi thố những phép thần thông. Đức Thế Tôn có dư từ bi, có dư trí tuệ để vượt khỏi những tình trạng khó khăn. Đức Thế Tôn có niềm tin lớn nơi tình thương và trí tuệ của mình.

 

Đức Thế Tôn vẫn bước những bước vững chãi và thảnh thơi, và đề cao cảnh giác. Angulimala lớn tiếng gọi: ‘Ông thầy tu, đứng lại!’ Bụt vẫn tiếp tục đi, không mau hơn, cũng không chậm hơn. Phong độ của Ngài rất thảnh thơi và ung dung. Thấy vậy, Angulimala lớn tiếng hơn nữa: ‘Đứng lại! Ông thầy tu đứng lại!’ Đức Thế Tôn làm như không nghe, cứ tiếp tục đi. Angulimala lấy làm lạ. Từ trước đến nay, hễ mình lên tiếng một cái là ai cũng sợ run không cử động được nữa, mà tại sao ông thầy tu này lại quá ung dung, lại có vẻ là hoàn toàn vô úy. Angulimala chạy mau tới để coi thử ông thầy tu này là ai, mà cả gan như vậy. Chỉ trong khoảnh khắc là Angulimala đi đã ngang hàng với Bụt. Angulimala nói: ‘Tôi bảo ông dừng lại, tại sao ông không dừng?’ Bụt vẫn đi, và với sự điềm tĩnh và giọng nói dịu dàng, Bụt nói: ‘Angulimala! Ta đã dừng lại từ lâu rồi, chính anh mới là người chưa dừng lại.’ Quý vị có đọc Thần Điêu Đại Hiệp chưa? Quý vị có thấy một kiếm chiêu nào mầu nhiệm hơn kiếm chiêu mà Bụt vừa thi thố không? Ngay trong chiêu thức đầu, ta thấy thanh gươm của đức Thế Tôn đã huy động tới tám thành công lực. Từ trước đến giờ, chưa bao giờ Angulimala nghe một câu nói như vậy. ‘Ông nói sao? Ông đang đi rõ ràng mà tại sao ông nói ông đã dừng lại? Tôi không hiểu, ông cắt nghĩa đi?’Đức Thế Tôn, một cách rất bình thản, nói: ‘Angulimala, trên con đường tạo tác những ác nghiệp thì ta đã dừng lại từ nhiều kiếp rồi, nhưng trên con đường tạo tác ác nghiệp anh vẫn còn tiếp tục, thì anh nên dừng lại’. Câu nói đã làm rung động Angulimala.

 

 

 

Lúc đó đức Thế Tôn mới dừng lại. Angulimala cũng dừng lại. Hai người nhìn nhau. Đức Thế Tôn nhìn thẳng vào Angulimala mà nói rằng: ‘Anh biết không! Ở đời ai cũng sợ đau khổ, ai cũng muốn sống, ai cũng sợ chết. Mình phải biết thương người.’ Angulimala mới la lên: ‘Trên đời này có ai thương tôi đâu, mà bảo tôi thương họ? Loài người là loài độc ác nhất ở trên đời, tôi muốn tiêu diệt hết loài người cho hả dạ tôi.’ Đức Thế Tôn nói: ‘Angulimala, tôi biết anh đã đau khổ nhiều. Cuộc đời đã bạc đãi anh, người ta đã không tử tế với anh, người ta đã làm khổ anh. Nhưng anh nên biết: hận thù chỉ làm cho mình thêm khổ đau, chỉ có lòng thương mới đem lại hạnh phúc cho đời mà thôi.’ Angulimala la lớn‘Tình thương hả? Ai là người biết thương? Ông chỉ cho tôi coi?’ Đức Thế Tôn vẫn dịu dàng: ‘Anh đã từng gặp vì tỳ kheo hay tỳ kheo ni nào chưa? Các vị đó không những biết tôn trọng sinh mạng của những con người mà họ cũng biết tôn trọng sự sống của cả loài vật. Họ cũng tôn trọng các loài cỏ cây và đất đá nữa. Nếu anh gặp được một vị tỳ kheo hoặc tỳ kheo ni, anh sẽ thấy rằng tình thương là cái gì có thật. Khi có tình thương trong lòng, ta không còn đau khổ nữa. Hận thù là một khối lửa đốt cháy ta, đốt cháy thế gian. Anh nên quay đầu lại, từ khước bạo động, trở về với con đường của hiểu và của thương.’ Những lời nói của Bụt tràn đầy tính chất từ bi, phát xuất từ trái tim. Angulimala là một con người thông minh nhưng bị hận thù che lấp. Gặp được một con người như Bụt khai mở, anh có cơ hội để cho hạt giống của trí tuệ được tưới tẩm. Anh nói: ‘Tôi có nghe tới một ông thầy tu rất dễ thương, tên là Gotama, có phải ông là Gotama không?’ Bụt nói: ‘Đúng! Tôi là Gotama’. Angulimala nói: ‘Gotama ơi! Bây giờ trễ rồi. Dù tôi có muốn ăn năn, dù tôi có muốn từ bỏ con đường hận thù để đi theo con đường tình thương thì cũng đã muộn. Tôi không có nẻo thoát, tôi đã gây ra quá nhiều tội lỗi.’Đức Thế Tôn im lặng. Rồi Ngài nói: ‘Angulimala, nếu anh thật sự muốn chuyển hóa, muốn từ bỏ con đường bạo động, thì tôi sẽ che chở cho anh. Nếu anh muốn, tôi có thể tiếp nhận anh vào Tăng đoàn làm người xuất gia. Anh sẽ thực tập Từ, thực tập Bi, anh sẽ trở thành một con người mới, anh sẽ làm lại cuộc đời của anh.’ Nghe Bụt nói như vậy, Angulimala rút cây đao liệng xuống đất, rồi quỳ xuống chấp tay lại và xin làm đệ tử của Đức Thế Tôn. Vào lúc ấy các thầy trong đó có thầy Xá Lợi Phất đi tới. Thấy Đức Thế Tôn đang đứng đó, không bị thương tích gì cả mà Angulimala lại đang quỳ dưới chân Ngài các thầy mừng rỡ. Đức Thế Tôn nói: ‘Thầy Xá Lợi Phất, thầy Anan, các vị có cái y nào không? Bây giờ chúng ta hãy làm lễ xuất gia cho Angulimala xuống tóc ngay tại đây.’ Thầy trò bao quanh lại làm thành một vòng tròn, và làm lễ xuống tóc cho Angulimala. Sau khi cạo đầu cho Angulimala, các thầy mặc cho Angulimala một chiếc y khất sĩ (sanghati). Bụt dạy thầy Xá Lợi Phất và các thầy khác đưa Angulimala về tu viện và dạy cho thầy cách nâng bát, cách ngồi, cách đứng, cách đi, cách thở.

 

Chúng ta thấy câu chuyện Angulimala gặp Bụt là một cuộc đấu gươm rất ngoạn mục. Angulimala có thanh gươm của bạo động và hận thù. Đức Thế Tôn có thanh gươm của trí tuệ và từ bi. Khi chúng ta dán được vào người nào đó một cái nhãn hiệu sát nhân cần phải xử trảm, thì chúng ta có thể chĩa súng mà bắn người ấy không gớm tay. Nhưng nếu ta còn thấy được đó vẫn là một con người thì ta không thể nào bóp cò súng được. Vì vậy muốn giết ai đó, thì chúng ta phải cố nghĩ rằng: người này chỉ là ác quỷ, không còn một chút thiện trong tâm. Thanh gươm của đức Thế Tôn, trước hết là để chém đứt cái khái niệm đó. Tại vì ta muốn giết ai, thì phải có khái niệm ác quỷ về người đó. Văn hóa của chúng ta bây giờ là như vậy. Chúng ta đi dán nhãn hiệu cho nhau.

 

xxx

 

Ngày xưa có trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội ở Việt Nam, đào tạo những người xuất gia trẻ và những thanh niên trẻ đi làm việc xã hội. Đường hướng của trường xã hội là không theo bất cứ một phe nào trong hai phe chiến tranh, không theo phe cộng sản, mà cũng không theo phe chống cộng. Đường lối của trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội là chấp nhận tất cả những người Việt là anh em. Mục tiêu của trường là làm lớn lòng thương yêu và hiểu biết, chấp nhận và ôm lấy cả hai phía. Nhưng trong hoàn cảnh chiến tranh, chúng ta đã gặp rất nhiều khó khăn. Nếu chúng ta không theo bên này thì bên này nghi rằng chúng ta đang theo phía bên kia, vì vậy cho nên trường Xã Hội bị đặt vào một tình trạng rất khó xử. Phe chống cộng thì nghi mình theo phe cộng sản. Phe cộng sản thì nghi mình theo phe chống cộng. Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội trở thành đối tượng hiểu lầm của cả hai bên. Một bên muốn dán cho Trường nhãn hiệu cộng sản, một bên muốn dán cho Trường nhãn hiệu phản quốc để có thể giết mình. Đã có những bác, những chú, những chàng thanh niên, những cô thiếu nữ chết vì cái nhìn đó. Nếu muốn giết ai thì trước hết phải dán cho kẻ đó một cái nhãn hiệu. Nếu không dán nhãn hiệu, thì không thể nào giết được.

 
Chùa Pháp Vân (chùa lá) trụ sở đầu tiên của trường TNPSXH

 

Đêm hôm đó có một toán người võ trang vào lúc nửa đêm xông vào một trại công tác của trường thanh niên Phụng Sự Xã Hội, bắt cóc năm người tác viên của trường đi ra bờ sông Saigon, trong số đó có một vị xuất gia trẻ. Người bắt cóc hỏi, tra gạn để biết chắc rằng năm người có thuộc về cái tổ chức gọi là Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội hay không. Khi năm người đó nói: ‘Đúng, chúng tôi là nhân viên của trường thanh niên Phụng Sự Xã Hội.’ Thì một người trong toán võ trang nói rằng: ‘Chúng tôi rất tiếc, chúng tôi được lệnh phải bắn các anh.’ Nói xong họ bắn năm người ngã gục bên bờ sông.

 

Tại sao những người thanh niên với trái tim rất là trong trắng, từ bỏ nếp sống xa hoa vật chất, đi vào chùa để được huấn luyện và để được đi vào thôn xóm để giúp dân giúp nước mà lại bị sát hại một cách tàn nhẫn như vậy? Những người võ trang kia nhận được lệnh là phải tiêu diệt những người gọi là Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, tại vì những thanh niên đó không theo họ, và như vậy có thể là cộng sản trá hình, đang tiếp tay cho cộng sản. Tại vì những thanh niên đó không theo phe chống cộng.‘Chúng tôi rất tiếc! Chúng tôi được lệnh phải bắn các anh.’

 

Sở dĩ mình biết câu chuyện là tại vì một trong năm người đó sống sót kể lại. Không khí hận thù cao ngất. Năm đó có một toán người võ trang khác tới trụ sở trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội ở Phú Thọ Hòa và quăng lựu đạn để tàn sát những tác viên xã hội. Sau đó an ninh quân đội khám phá ra được những người đó thuộc về giới Công giáo quá khích. Họ cho rằng những thanh niên Phật giáo tình nguyện đi vào xã hội phục vụ dân chúng, là kẻ thù của Thiên Chúa giáo, là những người cộng sản trá hình. Đêm hôm đó có nhiều người thanh niên phụng sự xã hội bị thương nặng, có hai người chết. Một người tên là Liên, một người tên là Vui. Họ cũng liệng một trái lựu đạn vào phòng tôi, nhưng tấm màn che cửa phòng hất trái lựu đạn ra ngoài.

 

Trong hận thù, người ta không thấy được con người, người ta chỉ thấy được quỷ dữ, mà quỷ dữ đó chỉ là khái niệm. Chỉ thấy quỷ dữ, người ta mới có khả năng ném lựu đạn, hay là bắn súng vào mà thôi. Trong khi đó, những thanh niên kia là những người rất thánh thiện, những người có trái tim thương yêu và hiểu biết. Chúng ta giết nhau tại vì chúng ta không biết nhau là ai.

 

Vì vậy cho nên chúng ta phải dùng lưỡi gươm trí tuệ để chặt đứt những hình ảnh, khái niệm và tất cả những nhãn hiệu. Dù là nhãn hiệu Bụt, Ma, Ki Tô, hay Sa Tăng. Tất cả những nhãn hiệu đó cần phải chặt đứt hết, nếu không chúng sẽ trở thành ra những cái còn tệ hơn là hố xí nữa. Nhân danh Chúa người ta đã tàn phá, nhân danh Bụt người ta cũng có thể chém giết. Nếu Bụt và Chúa là những ý niệm của chúng ta, thì có thể còn tai hại hơn những cái hố xí. Cái hố xí còn có ích lợi, còn ý niệm của chúng ta có thể đưa tới cuồng tín, có thể tiêu diệt con người, tiêu diệt tình thương, như vậy còn nguy hiểm hơn là những cái hố xí. Cho nên lời tuyên bố của Tổ Lâm Tế vẫn còn từ bi lắm.

 

xxx

 

Sau khi bắt được ông Saddam Hussein, Tổng thống Bush có tuyên bố: ”Thế giới sẽ dễ chịu hơn nếu không có mặt của ông, ông ơi!” (Mr. Saddam, the world will be a better place without you.) Câu nói đó có nghĩa là Tôi muốn loại ông ra khỏi sự sống. Chúng ta muốn hỏi ông tổng thống Bush: ‘Có bao nhiêu người cần được loại ra khỏi sự sống, thì trái đất này mới là chỗ đáng sống?’

 

Sau khi nghe ông Saddam Hussein bị bắt, thì có những cuộc biểu tình được tổ chức tại nhiều thành phố ở Iraq. Có nhiều người đã không sợ hãi, đã tham dự vào cuộc biểu tình, không lý tất cả những người theo và có cảm tình với ông Saddam Hussein đều phải giết hết sao? Có biết bao nhiêu người đang không có cảm tình với Hoa Kỳ, không những ở nước Iraq, mà ở những nước xung quanh. Nếu cần loại trừ hết tất cả những người đó, thì bao nhiêu người cần bị loại trừ, một triệu, hai triệu hoặc năm trăm triệu?

 

Cố nhiên là trong cuộc sống, con người có thể tạo ra nhiều lầm lỡ, Ông Saddam Hussein đã làm ra những lầm lỡ, ông ta đã từng độc tài, ông ta đã từng sát hại. Cũng như Ương Quật Ma đã từng lầm lẫn, đã từng sát hại, nhưng Ương Quật Ma đã có cơ hội được gặp đức Từ Bi. Ương Quật Ma có một khối hận thù rất lớn. Những người gọi là quân khủng bố, họ cũng có hận thù rất lớn, họ đã từng đau khổ, và họ đã dùng năng lượng hận thù của họ để biến thành hành động.

 

Nói như thế không có nghĩa là những người tự cho mình không phải là quân khủng bố (terrorist), là những người đó không có hận thù. Những người đó cũng có hận thù và tuy họ gọi những kẻ thù của họ là quân khủng bố. Chính họ cũng là quân khủng bố. Họ cũng sử dụng súng bom, họ cũng tàn sát xóm làng, họ cũng giết hại đàn bà và trẻ em, nhưng mà người ta không gọi họ là quân khủng bố. Những người mang một trái bom làm nổ một chiếc xe bus thì gọi là quân khủng bố. Còn những người sử dụng máy bay oanh tạc, tàn phá một thành phố, giết hại đàn bà trẻ em thì không gọi là khủng bố.

 

Hận thù bên nào mà không có, hiểu lầm bên nào mà không có? Ta cho ta là thánh thiện, là đi trên con đường chánh, là không có tội lỗi, là không có hận thù. Ta cho người kia là quỷ dữ, là hận thù, là sự đe dọa cho văn minh, cho an ninh thế giới. Tất cả những khái niệm đó, tất cả những hình ảnh đó, cần phải được tiêu diệt bằng lưỡi gươm của trí tuệ. Hơn bất cứ lúc nào hết, chúng ta phải sử dụng thanh gươm trí tuệ để chặt bỏ tất cả những ý niệm đó. Chính vì những ý niệm đó, chính vì những nhãn hiệu dán lên cho những con người khác, chúng ta mới có khả năng bóp cò súng tiêu diệt họ. Câu chuyện của Angulimala cho chúng ta thấy rằng nếu chúng ta chuyển hướng, lấy trí tuệ và tình thương làm tiêu chuẩn, thì thế giới này sẽ có hy vọng.

 

xxx

 

Sau khi xuất gia, Angulimala đã trở thành một vị khất sĩ giỏi, thầy tu tập chuyển hóa mau chóng còn hơn nhiều vị khất sĩ khác. Cho đến nỗi các bạn đồng tu đã đặt cho Angulimala một cái tên mới là Ahimsaka, tức là bất bạo động. Có một lần Angulimala đi khất thực về khóc với đức Thế Tôn. Bụt hỏi:‘Tại sao con khóc?’ Angulimala nói rằng: ‘Bạch Đức Thế Tôn, trên đường đi khất thực con gặp một người đàn bà sắp sinh nở, nhưng bà đau quá sinh nở không được. Bà nhờ con đem tâm từ bi để chú nguyện cho bà, mà con không biết làm sao để chú nguyện cho được. Con thấy người ta sắp chết mà mình không cứu được cho nên con khổ quá.‘ Đức Thế Tôn dạy: ‘Thầy Ahimsaka, thầy hãy trở về với người đàn bà đó và nói rằng: Từ khi tôi sinh ra cho đến bây giờ, tôi chưa bao giờ sát hại một người nào, nhờ công đức đó mà bà có thể sinh con một cách bình an.’ Thầy Ahimsa mới la lên: ‘Bạch Đức Thế Tôn, con không thể nói được như vậy! Từ khi sinh ra, con đã sát hại rất nhiều.’ Đức Thế Tôn nói:‘Không! Ta không muốn nói tới ngày sinh ra của cái sắc thân này. Thầy hãy đi nói với người phụ nữ kia rằng: Từ ngày tôi sinh ra trong đạo pháp cho đến bây giờ, tôi chưa bao giờ sát hại bất cứ một sinh mạng nào, dù nhỏ như một con sâu con kiến. Nhân danh công đức đó, tôi muốn cho bà sinh cháu bình an.’ Đức Thế Tôn vừa dứt lời, Angulimala liền chạy vụt đến nơi người đàn bà đang nằm đau đớn chờ sanh, và nói câu đó với bà. Thật mầu nhiệm! Bà ta sinh con một cách dễ dàng. Một hôm khác Angulimala đi khất thực về và lết vào tu viện. Có một người ngày xưa nhận ra được thầy là Angulimala ngày trước. Ông ta đã dùng gậy đánh Angulimala tơi bời, Angulimala thực tập pháp bất bạo động nên không chống trả. Mình mẩy của thầy sưng lên bầm tím, có chỗ chảy máu. Đức Thế Tôn đi ra thấy Angulimala như vậy liền bảo các thầy khiêng thầy ấy vào hậu liêu và chăm sóc. Trong khi các thầy chăm sóc cho Angulimala, lấy nước muối rửa các vết thương và băng bó, thì đức Thế Tôn nói: ‘Con hãy ráng chịu đựng đi. Đây là cái quả cuối cùng mà con phải nhận chịu trước khi con trở thành A la hán.’

 

Sự chuyển hướng của Angulimala là một thành công lớn. Không phải chỉ của Angulimala mà của cả một truyền thống và của tất cả chúng ta. Khi ta chuyển hướng, thì ta được sinh ra trở lại lần thứ hai. Chúng ta phải để cho Angulimala có một cơ hội sinh ra lần thứ hai. Chúng ta phải để cho Saddam Hussein sinh ra lần thứ hai. Người ta sẽ đưa ông ra tòa, nhưng ai là người có quyền xử trị Saddam Hussein? Phúc Âm nói: ‘Ai là người thấy mình không có tội thì hãy ném viên đá vào người đàn bà này.’ Tất cả chúng ta đều có lầm lỡ trong quá khứ, đã gây khổ đau cho người khác. Chúng ta phải biếr rằng trong con người chúng ta cũng có hạt giống của bạo động, của hận thù, của vô minh. Nhưng chúng ta cũng phải tin rằng trong con người của chúng ta cũng có hạt giống của hiểu biết, của thương yêu, của khả năng chuyển hướng.

 

Nếu các nhà lãnh đạo như Tony Blair, hay Georges Bush v.v.. có được những nhà cố vấn có khả năng tưới tẩm hạt giống của hiểu và của thương trong họ thì các vị đó sẽ có những chính sách khác hơn, sẽ không mỗi ngày tạo ra thêm nhiều hận thù, nhiều khổ đau. Từ ngày khởi sự cuộc chiến ở Iraq, hận thù đã được nuôi dưỡng rất nhiều, và người Mỹ đã tạo thêm rất nhiều kẻ thù cho nước Mỹ. Nước Mỹ là một nước rất đẹp, trẻ em Mỹ rất dễ thương, và chúng ta muốn cho nước Mỹ phồn thịnh, đẹp đẽ để làm chỗ nương tựa cho nhiều quốc gia khác. Nhưng nước Mỹ đang đi trên một con đường tạo ra rất nhiều kẻ thù cho chính nước Mỹ. Vì an ninh mà nước Mỹ đã tạo ra một tình trạng không an ninh. Hàng ngàn thanh niên Mỹ đang chết tại Iraq, gần mười ngàn lính Mỹ đã bị thương. Có những người bị thương rất nặng. Vì vậy cho nên lời dạy của Tổ Lâm Tế vẫn còn có hiệu lực trong ngày hôm nay.

 

Chúng ta phải dùng lưỡi gươm trí tuệ để chặt đứt những tri giác sai lầm, những cái thấy hẹp hòi của chúng ta về chính chúng ta và về người. Chúng ta đừng tự dán cho chúng ta nhãn hiệu của sự thánh thiện, của sự vô tội. Chúng ta đừng vội dán vào người nhãn hiệu của tội lỗi, của tàn ác. Tại vì trong tất cả chúng ta, người nào cũng có hạt giống của tàn ác, của hận thù, của vô minh, nhưng người nào cũng có hạt giống của tình thương, của sự hiểu biết. Chúng ta hãy tổ chức cuộc sống hằng ngày như thế nào và thiết lập liên hệ giữa con người với con người như thế nào, giữa quốc gia và quốc gia như thế nào, để cho mọi người đều có cơ hội trở về tưới tẩm hạt giống tốt ở trong con người của mình. Đó là con đường tương lai của chúng ta.

 

Khi ta niệm Bụt có thể ta không biết Bụt là ai và ta là ai. Ai là người niệm Bụt? Ai là Bụt? Ta cầu nguyện Chúa, nhưng có thể ta chưa biết Chúa là ai. Ta không biết ta là ai? Ta có thể nhân danh ta, ta có thể nhân danh Chúa để sát hại. Vì vậy cho nên lưỡi gươm thần của trí tuệ rất là quan trọng. Chúng ta phải là những chiến sĩ, phải sử dụng được lưỡi gươm thần trí tuệ để chặt đứt tất cả những ảo giác, những tri giác sai lầm của chúng ta. Hãy phá bỏ tất cả những nhãn hiệu mà chúng ta thường muốn dán vào nhau để có thể tiêu diệt lẫn nhau. Đây là vấn đề chính của xã hội, của thế giới chúng ta trong ngày hôm nay. Chúng ta tu để làm gì? Chúng ta tu là để lột ra khỏi bản thân và lột ra khỏi người khác những nhãn hiệu. Bên này dán nhãn hiệu cho bên kia, bên kia dán nhãn hiệu cho bên này, để rồi hai bên có thể giết nhau. Lưỡi gươm trí tuệ là để phá bỏ những nhãn hiệu đó, tại vì những nhãn hiệu đó đưa tới sự giết chóc, đưa tới sự hận thù, đưa tới sự tiêu diệt. Dù đó là nhãn hiệu Bụt, nhãn hiệu Chúa, nhãn hiệu Bồ tát, nhãn hiệu La hán, nhãn hiệu cộng sản, nhãn hiệu khủng bố, nhãn hiệu dân chủ, nhãn hiệu tự do, nhãn hiệu văn minh.
Nhất Hạnh

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Cái gì đi tái sanh ?

 Tư Tưởng

<style=”margin-left:18.0pt;text-align:justify;line-height: 150%”=””>

Cái gì đi tái sanh ?

  •  PSN 1.9.2013 | Narada – Phạm Kim Khánh dịch

“Không là một, cũng không phải khác.”
(Thanh Tịnh Đạo)

Ngoài Danh và Sắc, phần tâm linh và phần vật chất, là hai thành phần cấu tạo chúng sanh, Phật Giáo không chấp nhận có một linh hồn vĩnh cửu hay một bản ngã trường tồn mà con người đã thọ lãnh một cách bí ẩn, từ một nguồn gốc cũng không kém bí ẩn.

Một linh hồn mà trường cửu tất nhiên phải bất biến, trước cũng như sau. Nếu linh hồn mà người ta giả định là phần tinh túy của con người là trường tồn vĩnh cửu thì linh hồn không thể tái sanh hay hoại diệt, mà ta không thể giải thích vì sao “từ lúc sơ khởi, linh hồn nầy lại khác biệt rất xa với linh hồn kia.”

Để chứng minh rằng có những lạc thú vô cùng tận trên một thiên đàng vĩnh cửu và cảnh khổ đau vô cùng tận dưới một địa ngục trường tồn, tức nhiên phải chủ trương có một linh hồn trường cửu.

Bertrand Russell viết :

“Ta phải nói rằng sự phân biệt cũ kỹ giữa linh hồn và thể xác đã tiêu tan như mây khói, bởi vì vật chất đã mất tính chất cứng rắn của thể đặc mà tâm cũng mất tính chất tinh thần của nó. Tâm lý học vừa bắt đầu trở thành một ngành khoa học. Trong tình trạng hiện hữu của tâm lý học, sự tin tưởng nơi một cái gì trường tồn vĩnh cửu không có cái nào đòi hỏi khoa học tán trợ” [1].

Theo nhà học giả uyên bác, tác giả quyển “The Riddle of the Universe”:

“Biện chứng Thần Linh Học chủ trương có một đấng Tạo Hóa thổi vào con người một linh hồn bất diệt (thường được xem là một phần của Thần Linh). Đó là một câu truyện thần thoại. Biện chứng Vũ Trụ Luận cho rằng “trật tự luân lý của thế gian” đòi hỏi phải có một linh hồn trường tồn bất diệt. Đó là giáo điều vô căn cứ.

Biện chứng Chung Quả Luận chủ trương rằng do sự tiến triển không ngừng của con người để cải thiện vận mạng mình, những khuyết điểm của linh hồn phàm tục phải được cải tiến mãi mãi trong đời sống và sau kiếp sống. Đó là một lối hiểu sai lầm của thuyết sinh vật đồng nhân (anthropomorphism) cho rằng tất cả những sinh vật đều có hành động và tư tưởng như người.

Theo biện chứng Đạo Đức Luận, những khuyết điểm và những tham vọng chưa được thỏa mãn trong đời sống phải được bổ khuyết và “đền bù một cách công bình và vĩnh viễn” sau kiếp sống. Đó chỉ là một điều mong ước cuồng nhiệt.

Biện chứng Nhân Chủng Luận cho rằng sự tin tưởng nơi tánh cách bất diệt của linh hồn cũng như sự tin tưởng nơi một đấng Tạo Hóa là chân lý cố hữu trong toàn thế nhân loại. Đó hiển nhiên là một sai lầm.

Biện chứng Bản Thể Luận chủ trương rằng linh hồn là một thực thể đơn giản, vô hình, và bất khả phân, tất không thể bị liên quan đến sự vong hoại do cái chết gây ra. Điều nầy căn cứ trên quan niệm sai lạc về hiện tượng tâm linh. Đó là ảo mộng của Duy thần luận.

Tất cả những biện chứng kể trên cũng như tất cả những giả thuyết tương tợ về bản ngã đã lâm vào tình trạng nguy ngập trong vòng mười năm nay và đã bị khoa học chỉ trích và bác bỏ hoàn toàn.” [2]

— Nếu không có chi dưới hình thức linh hồn, chuyển từ kiếp sống nầy sang kiếp sống khác thì cái gì được tái sanh?

Hỏi như vậy đương nhiên là chấp nhận có một cái gì tái sanh.

Cách đây vài thế kỷ có lập luận “Cogito, ergo sum”, “tôi tư tưởng, tức là có tôi”. Đúng như vậy. Tuy nhiên, trước tiên phải chứng minh rằng có một cái “tôi”, đang tư tưởng.

Chúng ta nói rằng mặt trời mọc ở phương Đông và lặn ở phương Tây, mặc dầu ta biết rằng thật sự không phải mặt trời mọc lên và lặn xuống mà chính là quả địa cầu quay. Chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng ta không thể gõ hai lần đúng y vào một chỗ, mặc dầu bề ngoài là như vậy. Tất cả đều biến đổi rất nhanh chóng. Không thể có hai khoảnh khắc giống hệt nhau.

Người Phật tử đồng ý với Bertrand Russell khi ông nói:

“Hiển nhiên có vài lý do để chủ trương rằng cái “Tôi” ngày hôm nay và cái “Tôi” ngày hôm qua là một; và để lấy một thí dụ hiển nhiên hơn nữa, nếu cùng một lúc, tôi thấy một người và nghe người ấy nói ắt, có cảm giác rằng cái “Tôi” đang nghe và cái “Tôi” thấy là một.” [3]

Cho đến những ngày gần đây các khoa học gia còn tìm nơi tính cách bất khả phân tán và bất khả diệt của nguyên tử.

“Với đầy đủ lý lẽ, các nhà vật lý học đã phân tán hạt nguyên tử ấy ra từng loạt những thành phần nhỏ. Cũng vì những lý do không kém chánh đáng, các nhà tâm lý khám phá rằng tâm không phải là một thực thể đồng nhất với cái gì liên tục trường tồn mà là một loạt những yếu tố kết hợp với nhau trong những liên quan mật thiết nào. Do đó, vấn đề trường tồn bất diệt trở thành câu hỏi rằng sau khi thể xác kia chết thì những yếu tố của tâm và những yếu tố của thân có còn tiếp tục liên quan mật thiết với nhau không?” [4]

Cũng như C. E. M. Joad viết trong quyển “The Meaning of Life”:

“Vật chất đã tan rã dưới chính mắt chúng ta. Nó không còn ở thể đặc, không còn bền vững trường tồn, không còn bị những định luật cưỡng chế quy định, và quan trọng hơn tất cả, không còn được biết là gì.”

Vậy, hình như cái được gọi là nguyên tử “có thể bị phân tán và có thể bị tiêu diệt”. Những điện tử và dương tử cấu thành một nguyên tử “có thể gặp nhau và tiêu diệt lẫn nhau”. Trong lúc ấy, sự bền vững của hai thành phần điện tử và dương tử, chỉ tựa hồ như sự vững bền của một lượn sóng, không có giới hạn chắc chắn, và luôn luôn nằm trong tiến trình biến đổi liên tục, cả hai đều thay đổi hình thức và vị trí.”

Theo Đức Giám Mục Berkeley, cái được gọi nguyên tử là một giả tưởng của siêu hình học và Ngài chủ trương có một thực chất tinh thần gọi là linh hồn.

Sau khi tìm hiểu cái hồn, Hume viết như sau:

“Có vài triết gia tư tưởng rằng trong mỗi chập tư tưởng chúng ta mật thiết ý thức cái gọi là “Ta” và chúng ta cảm giác rằng cái “Ta” có thật, và thật sự tồn tại. Các triết gia ấy, ngoài sự hiển nhiên của mọi luận chứng, cũng quả quyết rằng cái “Ta” hoàn toàn không biến đổi và không thể phân chia.

“Riêng về phần tôi, khi xâm nhập mật thiết vào cái mà tôi gọi là “Tôi” thì luôn luôn tôi vấp phải một cảm giác đặc biệt như nóng hay lạnh, sáng hay tối, thương hay ghét, vui hoặc buồn. Tôi chưa từng bắt gặp cái “Tôi”, ngoài những cảm giác ấy, và chưa hề chiêm nghiệm được cái gì ngoài cảm giác …” [5]

Bergson nói:

“Tất cả mọi tâm thức chỉ tồn tại trong thời gian sinh hoạt và một trạng thái tâm, nếu không biến đổi thì không còn là trạng thái nữa. Trạng thái tâm là một sự biến đổi không ngừng. Nếu sự biến đổi ngưng là trạng thái tâm cũng ngưng. Trạng thái tâm chẳng qua là sự biến đổi.”

Theo nhà tâm lý học trứ danh Watson:

“Chưa có ai từng sờ đụng một linh hồn, hay nhìn thấy linh hồn trong một ống thí nghiệm, hay bằng cách gì khác, để tiếp xúc với linh hồn, như đã từng tiếp xúc với các vật khác trong phòng thí nghiệm. Tuy nhiên, ngờ vực sự hiện hữu của linh hồn được coi là phản tôn giáo và có thể bị rơi đầu. Cho đến ngày nay, người có địa vị ưu tú cũng không dám nêu vấn đề ấy lên.” [6]

Đề cập đến vấn đề linh hồn, Giáo sư James viết:

“Cho đến nay, để giải thích những sự kiện thật sự có thể chứng minh được về kinh nghiệm của thân thì thuyết linh hồn là hoàn toàn vô ích. Cho đến nay không ai có thể bị cưỡng bách phải chấp nhận thuyết ấy vì những lý do khoa học.

“Cái Ta (dùng như một túc từ) là sự kếp hợp do kinh nghiệm, cấu tạo với sự vật đã được biết một cách khách quan. Vậy cái Ta (thường dùng như một chủ từ) biết được sự vật ấy không thể là một sự kết hợp. Không thể dùng cái Ta ấy trong những nhu cầu tâm lý và xem nó như một thựa thể siêu hình không biến đổi, một linh hồn trường tồn bất biến.

Cũng như không thể xem nó như một nguyên lý, một bản ngã siêu việt vượt ra ngoài thời gian. Cái “Ta” chỉ là một tư tưởng biến đổi từng chập. Không một tư tưởng nào giống chập tư tưởng trước kế đó, nhưng luôn luôn thuận ưng theo chập tư tưởng trước để cùng chung hợp lại thành một tư tưởng riêng biệt.” [7]

Và giáo sư James kết luận đoạn sách thích thú về linh hồn như sau:

“Chính cái tư tưởng là người tư tưởng”

Và đó là dư âm của những lời mà Đức Phật đã dạy từ hơn 2500 trước, trong vùng thung lũng sông Hằng (Ganges).

Phật Giáo dạy một thứ tâm lý học trong đó không có linh hồn. Phật Giáo chủ trương rằng chúng ta là sự cấu hợp của hai thành phần Danh và Sắc (nama-rupa), phần tâm linh và phần vật chất, và hai thành phần nầy ở trong trạng thái luôn luôn biến đổi như một dòng suối trường lưu bất tức.

Từ ngàn xưa, những nhà hiền triết Ấn Độ cũng có tin một nguyên tử bất khả phân tán gọi là Paramanu. Theo quan niệm thời bấy giờ, 36 Paramanu hợp thành một Anu; 36 Anu hợp thành một Tajjari; 36 Tajjari hợp thành một Ratharenu. Một hạt bụi rất nhỏ mà ta thấy vởn vơ trong làn ánh sáng, gọi là Ratharenu. Vậy, nếu chia hột bụi kia làm 46.656 phần thì Paramanu là một phần nhỏ ấy (1/46.656).

Theo quan niệm thời bấy giờ thì Paramanu là đơn vị vi tế nhất của vật chất, không thể phân chia được nữa.
Với nhãn quang siêu phàm, Đức Phật phân tách Paramanu và tuyên bố rằng Paramanu gồm có những năng lực tương quan gọi là Paramattha, hay là thành phần chánh yếu của vật chất .

Những Paramattha ấy là Đất (Pathavi), Nước (Apo), Lửa (Tejo), và Gió (Vayo), gọi là Tứ Đại.

Đất (Pathavi) là thành phần có đặc tính duỗi ra, thể chất của phần vật chất. Nếu không có thành phần đất (Pathavi), thì một vật thể không thể chiếm không gian. Hai tánh cách tương đối, cứng và mềm, là điều kiện của thành phần ấy.

Nước (Apo) là thành phần có đặc tính làm dính liền lại. Do ngũ quan, ta có thể tiếp xúc với thành phần Đất (Pathavi), nhưng không thể dùng mắt, tai, mũi, lưỡi và thân để tiếp xúc với thành phần Nước (Apo) trong vật chất. Chính thành phần nầy làm cho những phân tử rời rạc của vật thể dính liền lại và cho ta ý niệm hình thể. Khi một vật ở thể đặc chảy ra thì thành phần Nước (Apo) trong chất lỏng ấy trở nên trội hơn. Khi một vật ở thể đặc bị phân tán thành bụi, trong mỗi hột bụi tí ti cũng có chứa thành phần Nước. Hai Paramattha, Đất (Pathavi) và Nước (Apo), trong vật chất liên quan với nhau thật là mật thiết. Khi thành phần Nước (Apo), có đặc tánh làm dính liền, tiêu tan, thì thành phần Đất (Pathavi), có đặc tính duỗi ra cũng không còn.

Lửa (Tejo) là thành phần nóng trong vật chất. Lạnh cũng là một hình thức của Lửa (Tejo). Cả nóng lẫn lạnh đều nằm trong thành phần Lửa (Tejo) của vật chất và cả hai đều có năng lực làm cho vật chất trở nên chín mùi, hay nói cách khác tạo sinh lực cho vật chất. Vật chất được tồn tại hay bị hư hoại đều do thành phần Lửa. Trái với ba thành phần khác trong Tứ Đại, Lửa (Tejo), cũng gọi là Utu, có năng lực làm cho vật chất tự mình hồi sinh.

Gió (Vayo) là thành phần di động. Chính thành phần Gió (Vayo) trong vật chất tạo nên sự vận chuyển và được xem là năng lực làm phát sanh hơi nóng.

Sự di động và nhiệt lực trong phạm vi vật chất cũng tương đương như tâm và nghiệp trong phạm vi tinh thần.

Tứ Đại, Đất-Nước-Lửa-Gió, là những đơn vị căn bản của vật chất, luôn luôn pha lẫn với bốn chuyển hóa là màu sắc (vanna), hương (gandha), vị (rasa), và bản chất dinh dưỡng (oja).

Tứ Đại và bốn chuyển hóa luôn luôn dính liền nhau và liên quan với nhau rất mật thiết. Nhưng trong một loại vật chất, thành phần nầy có thể trội hơn thành phần khác. Thí dụ như trong đất, thành phần Đất (Pathavi) trội hơn ba thành phần kia. Trong nước thì thành phần Nước (Apo) trôi hơn. Trong lửa thì thành phần Lửa (Teio) và trong không khí thì thành phần Gió (Vajo) trội hơn.

Như vậy, vật chất gồm có những năng lực và những đặc tính trong trạng thái liên tục biến đổi, luôn luôn trôi chảy như một dòng suối. Theo Phật Giáo vật chất chỉ tồn tại trong thời gian bằng 17 lần một chập tư tưởng.[8]

Tâm, thành phần quan trọng hơn trong guồng máy phức tạp của con người gồm có 52 trạng thái tâm (tâm sở) luôn luôn biến đổi. Thọ (vedana), hay cảm giác, là một. Tưởng (sanna), hay tri giác, là một tâm sở khác. 50 tâm sở còn lại gọi chung là Hành (samkhara), hay là những sinh hoạt có tác ý của tâm. Trong 52 trạng thái tâm, hay tâm sở, tác ý (cetana), hay “ý muốn làm” là quan trọng nhất. Tất cả tâm sở đều phát sanh trong thức (vinnana), hay Tâm.

Theo triết học Phật Giáo, không có một khoảnh khắc nào mà tâm có thể trống rỗng, nghĩa là không lúc nào không có một loại tâm duyên theo một đối tượng vật chất hay tinh thần. Thời gian tồn tại của một loại tâm như vật gọi là chập tư tưởng. Khi một chập tư tưởng diệt, tức khắc có một chập mới phát sanh. Như vậy, những chập tư tưởng liên tục nối tiếp, và thời gian tồn tại của một chập tư tưởng thật ngắn, khó mà quan niệm được.

Mỗi chập tư tưởng gồm ba giai đoạn (khana): Sanh (uppada), Trụ (thiti), và Diệt (bhanga).

Ngay khi một tư tưởng vừa qua giai đoạn diệt (bhanga), tức khắc giai đoạn sanh (uppada) của chập tư tưởng kế khởi lên. Trong tiến trình luôn luôn biến đổi của đời sống, mỗi chập tư tưởng khi diệt, chuyển tất cả năng lực và tất cả những cảm giác thâu nhận cho chập tư tưởng kế tiếp. Mỗi chập tư tưởng mới gồm những tiềm năng do chập tư tưởng trước trao lại và thêm vào đó còn có cái gì khác nữa. Như vậy có sự luân lưu không ngừng của tâm. Luồng tâm như một dòng suối luôn luôn trôi chảy. Chập tư tưởng mới không hoàn toàn giống chập tư tưởng trước bởi vì thành phần cấu tạo đã đổi mới, mà cũng không tuyệt đối là khác bởi vì cả hai cùng nằm trong một luồng sống, một dòng đời. Không có chúng sanh đồng nhất nhưng có sự đồng nhất trong tiến trình đời sống của chúng sanh.

Không nên nhận định rằng tâm là một chuỗi dài những chập tư tưởng riêng biệt, kế tiếp nối liền với nhau, như một sợi dây xích, hay một đoàn những toa xe lửa nối liền. Trái lại, “nó liên tục trôi chảy như một dòng sông, luôn luôn tiếp nhận dồi dào những thành phần mới, từ những chi lưu ngũ quan và luôn luôn cung cấp cho thế gian chung quanh những tư tưởng mới thâu nhập trên đường đời [9]”.

Trong chuỗi dài những trạng thái tâm, có sự kề nhau nối tiếp mà không có trạng thái chập chồng cái nầy trên cái kia như có người lầm tưởng. Không có chập tư tưởng đã qua mà còn trở lại. Không có chập tư tưởng hoàn toàn giống hệt chập qua. Những trạng thái ấy luôn luôn biến đổi, không thể tồn tại trong hai khoảnh khắc kế tiếp. Hạng phàm nhân còn lúng túng trong ảo mộng, lầm nhận sự liên tục giả mạo bên ngoài ấy là cái gì vững bền, vĩnh viễn, không đổi thay, và còn đi xa đến đổi đưa một linh hồn trường tồn bất biến (giả định là người vừa hành động vừa quan sát hành động) vào trong cái tâm luôn luôn biến đổi.

Bốn loại hiện tượng tâm linh, hợp với một hiện tượng vật lý, tạo nên Ngũ Uẩn (pancakkhandha), sự kết hợp vô cùng phức tạp của năm thành phần cấu tạo một chúng sanh.

Mỗi cá nhân là sự phối hợp của năm uẩn ấy.

Nhìn ra đại dương ta thấy một biển nước bao la, những thành phần bé nhỏ trong biển cả là sự kết hợp của nhiều giọt nước li ti. Trên bờ biển, cát nhiều vô số kể, nhưng ta chỉ thấy một thảm cát trãi dài trên bãi. Những lượn sóng kế tiếp nhô lên rồi tan ra trên mặt cát, nhưng một cách chính xác, không có một lượn sóng đồng nhất, bất biến, từ đáy sâu của biển cả nhô lên để rồi tan mất sự đồng nhất ấy trên bãi cát.

Xem xi-nê, ta thấy cảnh vật di động trên màn ảnh, nhưng thực ra chỉ có những hình ảnh riêng biệt, liên tục tiếp diễn theo một tốc độ nào và cho ta cảm giác đang nhìn một hoạt cảnh liên tục.

Ta không thể nói hương hoa tỏa ra từ tai hoa, nhụy hoa, hay từ sắc màu của hoa, nhưng mùi thơm là của hoa.

Cùng một thế ấy mỗi cá nhân là sự kết hợp của năm uẩn.

Toàn thể tiến trình của những hiện tượng tâm-vật-lý ấy luôn luôn trở thành rồi tan biến, sanh rồi diệt. Đôi khi Đức Phật dùng danh từ thông thường mà gọi tiến trình ấy là “Ta” hay atta. Tuy nhiên, đó chỉ là một tiến trình luôn luôn biến đổi chớ không phải là một thực thể trường tồn bất biến.

Phật Giáo không hoàn toàn phủ nhận sự hiện hữu của một cá tính theo nghĩa thông thường của nó. Phật Giáo chỉ phủ nhận – trong định nghĩa cùng tột (Paramatha Saccena, Chân đế) – một chúng sanh bất biến, một thực thể vĩnh cửu, chớ không phủ nhận có sự liên tục trong tiến trình.

Danh từ triết học Phật Giáo gọi một cá nhân là Santati, một sự trôi chảy, một triều lưu, hay sự liên tục.

Dòng triều lưu bất tức hay sự liên tục không ngừng ấy của hiện tượng tâm-vật-lý – do nghiệp lực tạo điều kiện – đã bắt nguồn từ quá khứ xa xôi mà ta không thể quan niệm, và sẽ còn liên tục diễn tiến trong tương lai vô tận, ngoại trừ trường hợp ta áp dụng Bát Chánh Đạo một cách đầy đủ và đúng mức.

Chính dòng triều lưu liên tục của hiện tượng tâm-vật-lý ất là cái mà các hệ thống tín ngưỡng khác gọi là cái “Ta” vĩnh cửu hay cái “linh hồn” trường tồn.

— Nếu không có linh hồn, coi như một thực thể đơn thuần, không biến đổi, thì cái gì tái sanh?

Theo Phật Giáo, sanh là sự kết hợp của những uẩn (khandas) hay nhóm, hợp thể (khandhanam patubhavo).
Cũng như sự tái sanh của một trạng thái vật chất phải do trạng thái trước làm nguyên nhân và tạo điều kiện, những hiện tượng tâm-vật-lý nầy cũng phát hiện do những nguyên nhân từ trước khi sanh làm điều kiện. Tiến trình biến đổi hiện tại là kết quả của lòng khao khát ham muốn duyên theo sự biến đổi trong một kiếp sống trước, và bản năng ham muốn tự nhiên trong hiện tại sẽ tạo điều kiện cho sự tái sanh sắp đến. Trong một kiếp sống, tiến trình của đời sống có thể diễn tiến mà không cần có một thực thể trường tồn di chuyển từ chập tư tưởng nầy sang chập tư tưởng kế, thì một loạt tiến trình cũng có thể đặc tính mà không cần có một cái gì khác chuyển từ kiếp nầy sang kiếp khác.

Thuyết tái sanh của Phật Giáo không phải thuyết chuyển sinh linh hồn, hiểu như có sự di chuyển của một linh hồn từ thân xác nầy đến cơ thể vật chất khác. Trong sách vua Milinda Vấn Đạo (Milinda Panha) và Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga), Đại Đức Nagasena và Đại Đức Buddhagosa đã dùng nhiều truyện ngụ ngôn để giúp ta lãnh hội dễ dàng định luật tái sanh của Phật Giáo.

Câu truyện mồi lửa rất là rõ ràng. Đời sống xem như một ngọn lửa, và hiện tượng tái sanh như sự mồi lửa từ cây đèn nầy sang cây đèn khác. Ngọn lửa của đời sống liên tục tiếp diễn, mặc dầu có sự gián đoạn bộc lộ ra bên ngoài mà ta gọi là cái chết.

Vua Milinda hỏi Đại Đức Nagasena:

“Kính bạch Đại Đức, phải chăng có sự tái sanh mà không có gì chuyển sinh thân nầy đến xác thân khác?”

– Đúng như vậy, sự tái sanh diễn tiến không cần có cái gì chuyển sinh thân nầy đến thể xác khác?”

– Xin Ngài ban cho một thí dụ.

– Tâu Đại Vương, thí dụ người nọ dùng lửa của cây đèn nầy để mồi cây đèn kia. Có phải ngọn lửa cây đèn nầy chuyển sang cây đèn kia không ?

– Kính bạch Ngài, không phải vậy.

– Đúng thế, tâu Đại Vương, tái sanh diễn tiến không cần có sự di chuyển của một cái gì từ nơi nầy đến nơi khác.

– Kính bạch Đại Đức, xin Ngài ban cho một thí dụ khác.

– Tâu Đại Vương, Ngài còn nhớ không, thửa nhỏ đi học, ông thầy dạy làm thơ đọc cho Ngài nghe vài vần thơ để Ngài đọc theo đến thuộc lòng.

– Bạch Ngài, có như vậy.

– Vậy, tâu Đại Vương, có phải lời thơ chuyển từ ông thầy sang trí nhớ của Đại Vương không?

– Bạch Ngài, không.

– Cùng một thế ấy, tâu Đại Vương, hiện tượng tái sanh diễn tiến mà không cần có cái gì chuyển từ chổ nầy sang qua nơi khác.

Và Đức vua Milinda hỏi tiếp:

– Kính Bạch Đại Đức, vậy thì cái gì tiếp nối từ kiếp nầy sang kiếp khác?

– Tâu Đại Vương, chính Danh và Sắc, phần tâm linh và phần vật chất, cũng được sanh ra trong kiếp sống kế.

– Có phải cũng tâm và thể xác trước được di chuyển đến và sanh trở lại trong kiếp sống sau không?

-Tâu Đại Vương, không phải chính tâm và thể xác trong kiếp trước được được sanh trở lại trong kiếp sống nầy. Tuy nhiên, Danh và Sắc ở kiếp trước đã hành động, gây nhân , tạo nghiệp – thiện hay ác – và tùy thuộc nơi nghiệp ấy, tâm và thể xác được sanh ra trong kiếp nầy.

– Kính bạch Đại Đức, nếu không phải chính tâm và thân trước được sanh trở lại trong kiếp kế thì ta có thể tránh khỏi quả báo của những hành động bất thiện không?

– Nếu không có sự tái sanh thì ta không còn trả quả của những hành động bất thiện, nhưng tâu Đại Vương, ta đã tái sanh trong một kiếp sống khác thì tức nhiên phải còn chịu hậu quả của những hành động quá khứ.

– Kính thỉnh Đại Đức cho một thí dụ.

– Tâu Đại Vương, cũng như người nọ bẻ trái xoài của một người khác, bị chủ bắt, nạp cho vua và thưa: “Tâu Đại Vương, người nầy đã lấy của tôi một trái xoài”, và người nọ trả lời: “Tâu Đại Vương, tôi không có lấy trái xoài của ông ấy. Trái xoài mà tôi bẻ không phải là trái mà ông ấy đã trồng ra cây xoài. Như vậy tôi không đáng bị trừng phạt.” Vậy, Tâu Đại Vương, người lấy trái xoài có đáng bị phạt không?

– Kính bạch Đại Đức, dĩ nhiên người ấy đáng tội.

– Vì lẽ gì?

– Bạch Ngài, dầu có viện lẽ nào để chạy tôi, người ấy cũng đáng bị phạt vì trài xoài mà người ấy bẻ là do xoài của ông kia trồng ra cây.

– Cùng một thế ấy, Tâu Đại Vương, với tâm và thân nầy ta làm một điều gì – thiện hay ác – và do hành động ấy, một tâm và thân khác được sanh ra trong kiếp mới. Như ,vậy, ta không tránh khỏi sự ràng buộc của nghiệp quá khứ. [10]

Đại Đức Buddhaghosa giải thích điểm phức tạp nầy bằng những thí dụ như tiếng dội, ánh sáng, con dấu và sự phản chiếu của mặt gương.

Một văn hào hiện đại cũng giải thích tiến trình tử-sanh ấy bằng một loạt những quả bi da. [11]

“Thí dụ như, nếu một quả bi da lăn đến đụng một quả khác đang ở yên một chổ, thì quả lăn tới ngưng lại và quả bị đụng lại lăn. Không phải quả banh lăn chuyển sang quả banh bị đụng. Nó vẫn còn nằm lại phía sau, nó chết. Nhưng ta không thể phủ nhận rằng chính sự di chuyển của nó, sức xung kích của nó, cái kết quả dĩ nhiên, hay cái nghiệp lực của quả banh trước phát hiện trong quả banh kế, chớ không phải một chuyển động mới khác được tạo ra.”

Cùng một lối ấy – để dùng những danh từ thông thường – xác thân chết, và nghiệp lực tái sanh trong một cơ thể khác mà không cần có cái gì di chuyển từ kiếp sống nầy sang kiếp khác. Chúng sanh mới được sanh ra, không thể hoàn toàn là một, nhưng cũng không tuyệt đối khác hẳn với chúng sanh vừa chết, bởi vì cả hai cùng nằm trong một luồng nghiệp. chỉ có sự liên tục của dòng đời, triền miên thay đổi, tiếp diễn trong một thể xác mới, bất di bất dịch, chuyển sang từ thể xác nầy sang thân khác.

***
Chú thích:
[1] Religion and Science, trang 132.
[2] Bertrand Russell, The Riddle of the Universe, trang 166.
[3] Religion and Science, trang 132.
[4] Religion and Science, trang 166.
[5] William James, Principles of Psychology, trang 351.
[6] Watson, Behaviourism, trang 4.
[7] Principles of Psychology, trang 215.
[8] Theo các nhà chú giải kinh điển, nếu chia thời gian của một cái nhoáng ra làm một triệu phần thì thời gian của một chập tư tưởng còn ngắn hơn là một phần triệu của thời gian một cái nhoáng.
[9] Xem Compendium of Philosophy – Introduction, trang 12.
[10] Xem Warren, Budhism in Translations, trang 234-235.
[11] Xem sách “Buddha and the Gospel of Budhism”, trang 106, của tác giả Dr. Ananda Coomasvami.

Trích:
Đức Phật và Phật Pháp
(The Buddha and His Teachings)
Tác giả: Hòa thượng Narada – Dịch giả: cư sĩ Phạm Kim Khánh

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Trung tướng Đặng Quốc Bảo vừa nói những gì vậy?

10:53:am 06/09/09 | Tác giả: 

Trung tướng Đặng Quốc Bảo vừa nói những gì vậy?

Trong giới báo chí, trí thức, đảng viên CS lâu năm ở Hà Nội đang lưu truyền một tài liệu đánh máy 5 trang, ghi lại cuộc phỏng vấn cựu trung tướng Đặng Quốc Bảo do 2 nhà báo quân đội là đại tá Tạ Cao Sơn và đại tá Quách Hải Lượng thực hiện.

Cuộc phỏng vấn được tiến hành ngày 26/6/2009, chưa được đăng trên báo hay mạng trong nước, chỉ xuất hiện trên mạng Talawas gần đây – đầu tháng 9-2009.

Tướng Đặng Quốc Bảo năm nay 81 tuổi, là trung tướng về hưu, từng là uỷ viên trung ương ĐCS VN tại Đại hội IV (cuối 1976), từng là Hiệu trưởng trường đại học kỹ thuật quân sự trong thời chiến, sau đó là Bí thư thứ nhất Đoàn Thanh niên CS Hồ Chí Minh, rồi thứ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, cuối cùng là Trưởng ban Khoa giáo TW đảng. Một gương mặt hấp dẫn nhất hiện nay ở Hà Nội.

Tôi quen biết trực tiếp ông Bảo trong một thời gian dài, từ hồi 1970 đến 1990, có nhiều cuộc trao đổi ý kiến lý thú với ông. Ông là một cán bộ cấp cao đảng CS rất hiếm, cực hiếm, là ham học, ham đọc, ham tranh luận, và luôn có ý kiến riêng của chính mình, do có nếp độc lập suy nghĩ.

Ngay từ sau 30-4-1975 ông đã rất băn khoăn, lấy làm khó hiểu về cái gọi là chính sách “cải tạo” – thực tế là bỏ tù, đầy ải, trả thù –  hàng chục vạn viên chức và sỹ quan của chế độ miền Nam. Ông thổ lộ:  “để làm gì?  Mất một cơ hội hoà hợp bằng vàng! Mất đứt một khối nhân lực, chất xám! Pure perte! ( mất đứt !)”.

Trước khi Đại hội X họp, ông công khai lên tiếng trong một cuộc họp Chi bộ đảng: “báo cáo chính trị được dự thảo không ngang tầm ! đảng đang lâm vào khủng hoảng về tư duy, về lý luận; thiếu tầm nhìn chiến lược, thiếu tư duy chiến lược”.

Trong một bức thư gửi lãnh đạo, ông cảnh báo: “Đạo đức suy đồi, tham nhũng bất trị lan tràn vì lãnh đạo không thật sự quyết chiến với nó. Nó sẽ phá đảng từ bên trong, vì làm mất lòng tin của quần chúng. Không ai phá, lật đổ, chính kẻ biến chất trong đảng tự phá, tự ‘lật đổ’ cái đảng này!”.

Ông là em chú bác với ông Trường Chinh; từ năm 1981, ông đã trả lời thẳng thắn ông Trường Chinh rằng chủ nghĩa cộng sản hiện thực không ổn, từ khi Trung quốc khai chiến với Liên xô là biểu hiện thất bại về đường lối. Đảng không nhận ra sự thật để thay đổi mạnh dạn, thì ông sẵn sàng ra khỏi trung ương và ông không còn lý do để nắm đoàn thanh niên vì tương lai của đoàn cũng không còn!

Ông là người rất hiếm, là uỷ viên trung ương một khóa duy nhất, chỉ vì, như ông nói:

“Người ta bảo tôi bướng, cứng đầu! Nhưng tôi phải là tôi chứ!”. Chính ông đã quyết định kỷ luật với sinh viên Nguyễn Chí Vịnh, con đại tướng Nguyễn Chí Thanh hồi 1974 khi Vịnh phạm kỷ luật sống bê tha, gian dối, gây gổ với đồng học, không đủ tiêu chuẩn thành sỹ quan, phải chuyển về một đon vị thông tin để rèn luyện.

Vậy trong cuộc trả lời phỏng vấn mới rồi, tướng Đặng Quốc Bảo (huân chương Hồ Chí Minh – có cả một lực lượng ngưỡng mộ đông đảo trong trí thức, tuổi trẻ) đã nói những gì? Có thể tóm tắt là ông vẫn mạnh dạn,” bướng bỉnh”, vẫn cứng đầu, tự tin, nói công khai, minh bạch ý kiến của mình đối với những vấn đề nóng bỏng nhất.

Đó là:

– An ninh quốc gia là vấn đề đầu tiên, là yếu tố đầu tiên của phát triển đất nước.
– Vấn đề Trung Quốc đang nổi lên thành vấn đề lớn nhất, quan trọng nhất, cũng là khó khăn nhất đối với nền an ninh quốc gia Việt Nam.
–  Trung quốc luôn thực hiện chiến lược đen tối với Việt Nam;  “Chúng nó đang nhất định thực hiện các mưu đồ xâm lược Việt Nam. Trên thế giới chưa ai mưu sâu như Trung Quốc, chưa ai xảo trá, nham hiểm bằng Trung Quốc. Trung Quốc là xứ sở của nguỵ biện và ngộ biện. Hiện nay Việt Nam chưa có nhân vật nào chọi được với Trung Quốc. Ngày nay Trung Quốc giàu, mạnh, tham … là một hiểm họa “.
–  Tai hoạ sẽ đến với Việt Nam, nếu như những người lãnh đạo không nhìn rõ, không thấy được Trung Quốc là một đối thủ nguy hiểm.
–  Về trí thức hiện nay, họ có độc lập suy nghĩ, nhưng thiếu những người có tư duy chiến lược, đại bộ phận phải lo miếng ăn, bát cơm của họ.
–  Về thanh niên, sinh viên, học sinh ngày nay: họ rất thụ động, họ bị ru ngủ, bị đánh lừa. Sinh viên học sinh sống cực khổ, họ phải đi tìm chỗ giải quyết khó khăn cho gia đình và cho bản thân.
–  Về Đoàn thanh niên CS: rất có tội, khi hàng năm giới thiệu tới 10 vạn thanh niên cơ hội chủ nghĩa vào đảng cộng sản ;
–  Cái thiếu chung hiện nay là thiếu ngọn cờ, thiếu trào lưu, thiếu phong trào;
–  Phải nói đến giới luật, luật gia; họ là những người hiểu biết, cho nên họ có nhiều tiếng nói phản biện. “Luật sư Cù Huy Hà Vũ kiện thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là sự khởi động.  Giới luật gia có thể trở thành một động lực chính trị”.
–  Trong giai đoạn phát triển, chúng ta cần có Nhà nước pháp quyền, phải có pháp trị. Thời Hồ Chí Minh là điển hình của việc không dùng pháp trị (giải tán trường Luật). Sai lầm là không nhấn mạnh dân chủ và pháp trị.
–   Về cái nguy cơ không dân chủ, thiếu luật, luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã cảnh báo từ năm 1950;
–  “Độc tài của cộng sản ghê gớm lắm. Thâu tóm quyền lực; lừa bịp nhân dân; biến người thành nô lệ”. Xưa là thần dân của phong kiến, sau là thần dân của tư bản, bây giờ là thần dân của cộng sản. Là thần dân, chưa là công dân đích thực;
–   ” Chủ nghĩa tư bản phát triển có cơ chế và yếu tố chống độc tài. Những người cộng sản không học được điều này ở chủ nghĩa tư bản “.
–  ” Bác Hồ thất bại là chưa tìm ra con đường phát triển cho dân tộc, chưa chỉ ra con đường phát triển. Thế mà cứ nói là đi theo con đường bác Hồ đã chỉ thì thật là vô lý. Bác đã chỉ đâu mà theo! “.
–   Chúng ta phải tham gia luật chơi chung của thế giới và Liên Hợp quốc, phải thâm nhập, hoà nhập; phải liên kết chặt chẽ với khối ASEAN. Phải cải tạo chính trị, chống độc tài.

Tôi tóm tắt những ý chính trên đây, không thêm một ý nào, một chữ nào. Để bạn đọc hiểu rõ những  ý chính mà ông Đặng Quốc Bảo muốn truyền đạt. Ông từng bị lãnh đạo coi là “cứng đầu”, “bướng”, nay đã 81 tuổi, càng không biết sợ ai.

Ông dám nói những điều ngược hẳn với bộ chính trị hiện tại, mà toàn là về đường lối, về những vấn đề cơ bản nhất. Nói rõ, nói “toạc móng heo” như có lần ông nói với tôi.  Điều này càng giải thích vì sao cả bộ máy thông tin tuyên truyền trong nước lại im re, vì sao bộ 4 T, bộ “lề phải” và bộ công an ráo riết ngăn chặn việc lưu truyền 5 trang đánh máy ghi lại cuộc phỏng vấn suốt 2 tháng nay; và Talawas đã làm một việc rất hay, có hiệu quả xã hội, đúng vào lúc ĐCS bước vào chuẩn bị đại hội XI.
Chẳng lẽ trung tướng Đặng Quốc Bảo và 2 đại tá nhà báo Tạ Cao Sơn, Quách Hải Lượng lại sắp bị hỏi thăm sức khoẻ và viết bản kiểm điểm, để rồi ra trước vô tuyến truyền hình diễn trò phản tỉnh, xin ân xá?  Họ cay, nhưng có dám?  Xin chờ  xem .

Paris,  6-9-2009.

Nguồn: VOA

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Sấm Giảng Thi Văn Giáo Lý – Quyển I

Sấm Giảng Thi Văn Giáo Lý – Quyển I

Inbox
x
Vu Nguyen
Nov 8 (3 days ago)

to bcc: me

Kính gởi quý đồng đạo, quý đạo hữu!

 

Để tiện việc lưu truyền giáo lý đạo, em cháu xin gởi đến quý vị những Sấm Giảng, Thi Văn… của Đức Thầy, theo trình tự những gì trong quyển “Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ”.

 

Để tiện việc nghiên cứu, tra khảo, phổ biến giáo lý đạo đến với đại chúng dưới nhiều hình thức, em cháu sẽ gởi đến quý vị dưới 3 dạng sau:kèm trong email, Microsoft Word và PDF.  Mong quý vị hoan hĩ tiếp nhận và niệm tình tha thứ cho tất cả những sai xót. 

 

Xin chân thành cảm tạ và mong đón nhận những ý kiến đóng góp trong tinh thần đạo pháp.  Cầu xin Hồng Ân Tam Bảo gia hộ cho quý vị cùng gia quyến vạn sự bình an.

 

Trân trọng,

 

Vũ Nguyễn

 

**************************************

Quyển I

Khuyên Người Đời Tu-Niệm

(912 câu)

Hạ-nguơn nay đã hết đời,
Phong-ba biến-chuyển đổi-dời gia-cang.
Năm Mèo Kỷ-Mão rõ ràng,
Khắp trong trần-hạ nhộn-nhàng xiết chi.
Ngồi buồn Ðiên tỏ một khi,
Bá gia khổ-não vậy thì từ đây.
Cơ trời thế cuộc đổi xây,
Ðiên mới theo Thầy xuống chốn phàm-gian.
Thấy đời ly-loạn bất an,
Khắp trong các nước nhộn-nhàng đao binh.
Kẻ thời phụ nghĩa bố-kình,
Người thời trung-hiếu chẳng gìn vẹn hai.
Nên Ðiên khuyên-nhủ bằng nay,
Xin trong lê-thứ ngày rày tỉnh tâm.
Cơ thâm thì họa diệt thâm,
Nào trong sách sử có lầm ở đâu.
Người khôn nghe nói càng rầu,
Người ngu nghe nói ngửa đầu cười reo.
Rồi sau sẽ thấy hùm beo,
Khắp trong bá-tánh hiểm nghèo đáng thương.
Ðiên nầy vưng lịnh Minh-Vương,
Với lịnh Phật đường đi xuống giảng dân.
Thấy trong bá-tánh phàm-trần,
Kẻ khinh người nhạo Thần Tiên quỉ tà.
Mặc ai bàn tán gần xa,
Quỉ của Phật Bà sai xuống cứu dân.
Kẻ xa thì mến đức-ân,
Làm cho người gần ganh-ghét khinh khi.
Nam mô, mô Phật từ-bi,
Miệng thì niệm Phật lòng thì tà-gian.
Khắp trong bá-tánh trần-hoàn,
Cùng hết xóm làng đều bỉ người Ðiên.
Ðiên nầy xưa cũng như ai,
Vào các ra đài tột bực giàu-sang.
Nghĩ suy danh-lợi chẳng màng,
Bèn lên ẩn-dật lâm-san tu trì.
Nhờ Trời may-mắn một khi,
Thẩn-thơ lại gặp Ðức Thầy Bửu-Sơn.
Cuối đầu Ðiên tỏ nguồn-cơn,
Ðộng lòng bác-ái ra ơn dạy truyền.
Thấy Ðiên tâm tánh quá thiềng,
Nội trong sáu khắc biết liền Thiên-cơ.
Chuyện nầy thôi nói sơ sơ,
Ðể rộng thì giờ nói chuyện chơn tu.
Dương-trần kẻ trí người ngu,
Ham võng ham dù danh-lợi xuê-xang.
Cờ đà đến nước bất an,
Chẳng lo tu niệm tham-gian làm gì.
Phật, Trời thương kẻ nhu-mì,
Trọng cha, yêu Chúa kính vì tổ-tông.
Ngồi buồn nói chuyện bông-lông,
Khắp trong trần-hạ máu hồng nhuộm rơi.
Chừng nào mới đặng thảnh-thơi,
Dậu Phật ra đời thế-giới bình yên.
Ðiên nầy Ðiên của Thần-Tiên,
Ở trên Non-Núi xuống miền Lục-Châu.
Ðời còn chẳng có bao lâu,
Rán lo tu-niệm đặng chầu Phật-Tiên.
Thế-gian ít kẻ làm hiền,
Nhiều người tàn-bạo làm phiền Hóa-Công.
Thế-gian chuyện có nói không,
Ðến hội Mây-Rồng thân chẳng toàn thây.
Việc đời đến lúc cấn gay,
Mà cũng tối ngày nói xéo nói xiên.
Dương-trần tội ác liên-miên,
Sau xuống huỳnh-tuyền Ðịa-ngục khó ra.
Ðiên nầy nói chuyện gần xa,
Ðặng cho lê-thứ biết mà lo tu.
Tu cho qua cửa Diêm-phù,
Khỏi sa Ðịa-ngục ngao-du Thiên-đài.
Ðường đời chẳng có bao dai,
Nên viết một bài cho bá-tánh coi.
Tuồng đời như pháo châm ngòi,
Bá-gia yên-lặng mà coi Khùng nầy.
Khùng thời ba Tớ một Thầy,
Giảng-dạy dẫy-đầy rõ việc Thiên-cơ.
Ðiên đây còn dại còn khờ,
Yên lặng như tờ coi chúng làm sao.
Bá-gia kẻ thấp người cao,
Chừng thấy máu đào chúng mới chịu tu.
Bây giờ giả dại giả ngu,
Cũng như Nhơn-Quí ở tù ngày xưa.
Lúc nầy kẻ ghét người ưa,
Bị Ðiên nói bừa những việc vừa qua.
Dương-trần biếm nhẻ gần xa,
Nói quỉ nói tà đây cũng cam tâm.
Ngồi buồn nhớ chuyện xa xăm,
Dạo trong Bảy-Núi cười thầm sư-mang.
Nói rằng lòng chẳng ham sang,
Sao còn ham của thế-gian làm gì?
Việc nầy thôi quá lạ kỳ,
Cũng trong Phật-Giáo sao thì chê khen.
Lúc nầy tâm trí rối beng,
Tiếng quyển tiếng kèn mặc ý bá-gia.
Hết gần rồi lại tới xa,
Dân-sự nhà nhà bàn tán cười chơi.
Chuyện nầy cũng lắm tuyệt-vời,
Giả như Hàn-Tín đợi thời lòn trôn.
Ðến sau danh nổi như cồn,
Làm cho Hạng-Võ mất hồn mấy khi.
Chuyện xưa thanh-sử còn ghi,
Khen anh Hàn-Tín vậy thì mưu cao.
Chuyện đời phải có trước sau,
Ðiên Khùng khờ dại mà cao tu hành.
Bá-gia phải rán làm lành,
Niệm Phật cho rành đặng thấy Thần-Tiên.
Thương đời trong dạ chẳng yên,
Khắp trong lê-thứ thảm phiền từ đây.
Ngày nay thế-cuộc đổi xây,
Rán lo tu niệm đặng Thầy cứu cho.
Mảng theo danh-lơi ốm-o,
Sẳn của hét hò đứa ở người ăn.
Ðừng khi nhà lá một căn,
Mà biết niệm Phật sau bằng bạc muôn.
Giàu sang như nước trên nguồn,
Gặp cơn mưa lớn nó tuôn một giờ.
Cửu-Huyền Thất-Tổ chẳng thờ,
Ðể thờ những Ðạo ngọn cờ trắng phau.
Dương-trần bụng dạ nhiều màu,
Thấy cảnh bên Tàu sao chẳng nghĩ suy.
Lời xưa người cổ còn ghi,
Những việc lạ kỳ nay có hay chưa?
Chưa là với kẻ chẳng ưa,
Chớ người tâm đạo biết thừa tới đâu.
Bá-gia mau kíp lo âu,
Ðể sau đối đầu chẳng đặng toàn thây.
Việc đời nói riết thêm nhây,
Nếu muốn làm Thầy phải khổ phải lao.
Mèo kêu bá-tánh lao-xao,
Ðến chừng rồng rắn máu đào chỉn ghê.
Con ngựa lại đá con dê,
Khắp trong trần-hạ nhiều bề gian-lao.
Khỉ kia cũng bị xáo-xào,
Canh khuya gà gáy máu đào mới ngưng.
Nói ra nước mắt rưng-rưng,
Ðiên biểu dân đừng làm dữ làm hung.
Việc đời nói chẳng có cùng,
Ðến sau mới biết đây dùng kế hay.
Bây giờ mắc việc tà tây,
Nên mới làm vầy cho khỏi ngại-nghi.
Thiên-cơ số mạng biết tri,
Mà sao chẳng chịu chạy đi cho rồi?
Những người giả đạo bồi-hồi,
Còn chi linh-thính mà ngồi mà nghe.
Việc đời như nước trong khe,
Nó tưởng đặt vè nói biếm người hung.
Ðiên nầy nối chí theo Khùng,
Như thể dây dùn đặng cứu bá-gia.
Sau nầy kẻ khóc người la,
Vài ba năm nữa biết mà tà-tinh.
Ðiên biết chẳng lẽ làm thinh,
Nói cho bá-tánh mặc tình nghe không.
Việc Ðiên, Ðiên xử chưa xong,
Lục-Châu chưa giáp mà lòng ủ-ê.
Người nghe đạo lý thì mê,
Kẻ lại nhún trề nói: Lão kiếm cơm.
Thấy nghèo coi thể rác-rơm,
Rồi sau mới biết rác-rơm của Trời.
Vì Ðiên chưa đến cái thời,
Nên còn ẩn dạng cho người cười chê.
Từ đây sắp đến thảm-thê,
Con lìa cha mẹ, vợ kia xa chồng.
Tới chừng đến việc ngóng-trông,
Trách rằng Trời Phật không lòng từ-bi.
Di-Ðà lục-tự rán ghi,
Niệm cho tà-quỉ vậy thì dang ra.
Khuyên đừng xài phí xa-hoa,

Ăn cần ở kiệm đặng mà lo tu.
Ðừng khinh những kẻ đui-mù,
Ðến sau sẽ khổ gấp mười mù-đui.
Ðời nay xét tới xem lui,
Chừng gặp tuổi Mùi bá-tánh biết thân.
Tu-hành sau được đức-ân,
Nhờ Trời ban bố cho gần Phật Tiên.
Nói ra trong dạ chẳng yên,
Ðiên gay chèo quế dạo miền Lục-Châu.
Tới đâu thì cũng như đâu,
Thêm thảm thêm sầu lòng dạ người xưa.
Bá-gia ai biết thì ưa,
Tôi chẳng nói thừa những việc Thiên-cơ.
Khi già lúc lại trẻ thơ,
Giả quê giả dốt khắp trong thị thiềng.
Ði nhiều càng thảm càng phiền,
Lên doi xuống vịnh nào yên thân Già.
Tay chèo miệng lại hát ca,
Ca cho bá-tánh biết đời loạn-ly.
A-Di-Ðà Phật từ-bi,
Ở bên Thiên-Trước chứng tri lòng nầy.
Từ ngày thọ giáo với Thầy,
Dẹp lòng vị-kỷ đầy lòng yêu dân.
Ngày nay chẳng kể tấm thân,
Miễn cho bá-tánh được gần Bồng-Lai.
Ðời nầy vốn một lời hai,
Khắp trong trần-hạ mấy ai tu trì.
Ðời nầy giành-giựt làm chi,
Tới việc ly-kỳ cũng thả trôi sông.
Thuyền đưa Tiên-cảnh Non-Bồng,
Mấy ai mà có thiềng lòng theo đây.
Cứ lo làm việc tà-tây,
Bắt ngưu bắt cầy đặng chúng làm ăn.
Chừng đau niệm Phật lăng-xăng,
Phật đâu chứng kịp lòng người ác-gian.
Thấy đời mê-muội lầm-than,
Ăn bạ nói càng tội-lỗi chỉn ghê.
Chữ tu không phải lời thề,
Mà không nhớ đến đặng kề Tiên-bang.
Nói nhiều trong dạ xốn-xang,
Cùng hết xóm làng tàn-ác nhiều hơn.
Thầy chùa như thể cây sơn,
Ngoài da coi chắc trong thời mối ăn.
Buồn thay cho lũ ác-tăng.
Làm điều dối thế cho hư đạo-mầu.
Di-Ðà Phật-Tổ thêm rầu,
Giận trong tăng-chúng sao lừa-dối dân.
Có thân chẳng liệu lấy thân,
Tu theo lối cũ mau gần Diêm-Vương.
Bá-gia lầm lạc đáng thương,
Nên trước Phật đường thọ lãnh dạy dân.
Dương trần nhiều kẻ ham sân,
Cứ theo biếm-nhẻ xa gần người Ðiên.
Lòng buồn mượn lấy bút nghiên,
Viết cho trần hạ bớt phiền lo tu.
Thương đời chớ chẳng kiếm xu,
Buồn cho bá-tánh hết mù tới đui.
Có chi mà gọi rằng vui,
Khắp trong bá-tánh gặp hồi gian lao.
Từ đây hay ốm hay đau,
Rán tu đem được Phật vào trong tâm.
Lời hiền nói rõ họa thâm,
Ðặng cho bá-tánh tỉnh tâm tu hành.
Ngày nay Ðiên mở đạo lành,
Khắp trong lê-thứ được rành đường tu.
Nay đà gần cuối mùa thu,
Hết ngu tới dại công-phu gần thành.
Xác trần đạo-lý chưa rành,
Mấy ai mà được lòng thành với Ðiên.
Ðiên nầy sẽ mở xích xiềng,
Dắt-dìu bá-tánh gần miền Tiên-bang.
Không ham danh-lợi giàu sang,
Mong cho bá-tánh được nhàn tấm thân.
Thường về chầu Phật tấu trần,
Cầu xin Phật-Tổ ban lần đức ơn.
Nay đà bày tỏ nguồn cơn,
Cho trong trần-hạ thiệt hơn tỏ tường.
Phật, Trời thấy khổ thời thương,
Muốn cho lê-thứ thường thường làm nhơn.
Ðừng ham tranh-đấu thiệt hơn,
Tu niệm chớ sờn uổng lắm dân ôi!
Hồng-trần biển khổ thấy rồi,
Rán tu nhơn-đạo cho tròn mới hay.
Ðừng ham nói đắng nói cay,
Cay đắng sau nầy đau đớn, sầu-bi.
Tu hành tâm trí rán trì,
Sau nầy sẽ thấy việc gì trên mây.
Ðừng làm tàn-ác ham gây,
Sẽ có người nầy cứu vớt giùm cho.
Dương-trần lắm chuyện đôi co,
Phải dẹp vị-kỷ mà lo tu hành.
Kệ kinh tưởng-niệm cho sành,
Ngày sau thấy Phật đành rành chẳng sai.
Lúc nầy thế-giới bi-ai,
Chẳng nói vắn dài Phật nọ tức tâm.
Mấy lời khuyên nhủ chẳng lầm,
Từ đây đạo hạnh được mầm thanh-cao.
Hồng-trần lao-khổ xiết bao,
Khuyên trong lê-thứ bước vào đường tu.
Xưa nay đạo-hạnh quá lu,
Ngày nay sáng tỏ đền bù ngày xưa.
Mặc tình kẻ ghét người ưa,
Ðiên chẳng nói thừa lại với thứ-dân.
Quan-trường miệng nói vang rân,
Mà tâm dính chặt hồng-trần bụi nhơ.
Buồn đời nên mới làm thơ,
Cũng còn tai lấp mắt ngơ mới kỳ.
Người đời lòng dạ bất tri,
Trông cho làm bịnh dị-kỳ nó coi.
Dương-gian chậu úp được voi,
Giấu đầu rồi lại cũng lòi sau đuôi.
Nói nhiều mà dạ chẳng nguôi,
Việc tu bá-tánh bắn lùi như tôm.
Tưởng Phật được lúc đầu hôm,
Ðêm khuya muốn giựt nồi cơm của người.
Thế-gian nhiều việc nực cười,
Tu-hành chẳng chịu, lo cười lo khinh.
Người già ham muốn gái xinh,
Ðến sau chẳng biết thân mình ra sao?
Xác thân cọp xé beo quào,
Còn người tàn bạo máu đào tuôn rơi.
Tu-hành hiền-đức thảnh-thơi,
Ngay cha thảo chúa Phật, Trời cứu cho.
Bá gia hãy rán mà lo,
Kiếm Lão Ðưa Ðò nói chuyện huyền cơ.
Bấy lâu chẳng biết làm thơ,
Nay viết ít tờ trần-hạ tỉnh tâm.
Ðến sau khổ hạnh khỏi lâm,
Nhờ công tu niệm âm-thầm quá hay.
Chừng nào chim nọ biếng bay,
Cá kia biếng lội khổ nầy mới yên.
Nhắc ra quá thảm quá phiền,
Bể khổ gần miền mà chẳng chịu tu.
Ngọn đèn chơn-lý hết lu,
Khắp trong lê-thứ ao tù từ đây.
Thấy trong thời-cuộc đổi xây,
Ðời nay trở lại khác nào đời Thương.
Nhắc ra thêm ghét Trụ-Vương,
Ham mê Ðắc-Kỷ là phường bội cha.
Hết gần Ðiên lại nói xa,
Nói cho bá-tánh biết mà người chi.
Lời lành khuyên hãy gắn ghi,
Dương-trần phải rán tu-trì sớm khuya.
Ðừng ham làm chức nắc-nia,
Ngày sau như khóa không chìa dân ôi!
Tu-hành như thể thả trôi,
Nay lở mai bồi chẳng có thiềng tâm.
Mưu sâu thì họa cũng thâm,
Ngày sau sẽ biết thú cầm chỉn ghê.
Hùm beo tây tượng bộn bề,
Lại thêm ác thú mãng-xà, rít to.
Bá-gia ai biết thì lo,
Gác tai gièm xiểm đôi co ít gì!
Hết đây rồi đến dị-kỳ,
Sưu cao thuế nặng vậy thì thiết tha.
Dân nay như thể không cha,
Chẳng ai dạy-dỗ thiệt là thảm-thương.
Thứ nầy đến thứ Minh-Vương,
Nơi chốn Phật-đường mặt ngọc ủ-ê.
Cám thương trần-hạ nhiều bề,
Bởi chưng tàn bạo khó kề Phật Tiên.
Chúng ham danh-lợi điền-viên,
Ngày sau đến việc lụy-phiền suốt canh.
Kệ-kinh tụng niệm đêm thanh,
Ấy là châu-ngọc để dành ngày sau.
Bây giờ chưa biết vàng thau,
Ðời sau kính trọng người cao tu hành.
Nam-mô miệng niệm lòng lành,
Bá gia phải rán biết rành đường tu.
Thương ai ham võng ham dù,
Cũng như những kẻ đui mù đi đêm.
Khuyên đời như vá múc thêm,
Mảng lo tranh đoạt thù-hềm với nhau.
Ðến chừng có ốm có đau,
Vang mồm niệm Phật, Phật nào chứng cho.
Dương-trần tiếng nhỏ tiếng to,
Nói ngỗng nói cò đây cũng làm thinh.
Tưởng rằng thân nó là vinh,
Chẳng lo tu niệm cứ ghình với Ðiên.
Nói ra trong dạ chẳng yên,
Bây giờ nói chuyện cởi thuyền khuyên dân.
Ðêm ngày chẳng nại tấm thân,
Nắng mưa chẳng quản tảo-tần ai hay.
Chừng sau đến hội Rồng-Mây,
Người đời mới biết Ðiên nầy là ai.
Lui thuyền chèo quế tay gay,
Thuyền đi nước ngược đến rày cù lao.
Xa xa chẳng biết làng nào,
Thiệt làng Long-Khánh ít người nào tu.

Tớ Thầy liền giả đui mù,
Bèn đi ca hát kiếm xu dương-trần.
Bá-gia tựu lại rần-rần,
Trong nửa ngày trần chẳng có đồng chi.
Nực cười trần-hạ một khi,
Ở một đêm thì sáng lại qua sông.
Bình-minh vừa buổi chợ đông,
Bày trò bán thuốc hát ròng đời nay.
Cho thiên-hạ tựu đông vầy,
Rồi mới ra bài hát việc Thiên-cơ.
Tới đây bá-tánh làm ngơ,
Buồn cho lê-thứ kịp giờ ra đi.
Lìa xa Hồng-Ngự một khi,
Thẳng đường trực-chỉ Ðiên đi Tân-Thành.
Tới đây ra mặt người rành,
Nói chuyện thiệt sành thông-lảu Ðạo nho.
Nhiều người xúm lại đôi co,
Chê lão đưa đò mà biết việc chi.
Thấy đời động tánh từ-bi,
Ðiên chẳng bắt tì còn mách việc xa.
Khoan khoan chơn nọ bước ra,
Giáp rạch Cả-Cái rồi ra ngoài vàm.
Ðoái nhìn mây nọ trắng lam,
Ðiên ra sức lực chèo chơi một giờ.
Xa nhìn sương bạc mờ mờ,
Tân-An làng nọ dân nhờ bắp khoai.
Giả người bán cá bằng nay,
Dân chúng ngày rày xúm lại mua đông.
Tới lui giá cả vừa xong,
Ðiên cũng bằng lòng cân đủ cho dân.
Có người chẳng chịu ngang cân,
Bỏ thêm chẳng bớt mấy lần không thôi.
Nực cười trần-hạ lắm ôi!
Giảng cho bá-tánh một hồi quá lâu.
Thân già thức suốt canh thâu,
Nói cho lê-thứ quày đầu mới thôi.
Nhiều người nghe hết phủi rồi,
Quày thuyền trở lại bồi-hồi sầu-bi.
Giả người tàn-tật một khi,
Xuống vàm kinh Xáng được thì chút vui.
Một người nhà lá hẩm hiu,
Mà biết đạo-lý mời Cùi lên chơi.
Bàn qua kim-cổ một hồi,
Cùi xuống giữa vời Châu-Ðốc thẳng xông.
Ðến nơi thiên-hạ còn đông,
Giả gái không chồng đi bán cau tươi.
Thấy dân ở chợ nực cười,
Xúm nhau trêu ghẹo đặng cười Gái Tơ.
Buồn đời lăng mạ ngẫn-ngơ,
Biến mất lên bờ liền giả cùi đui.
Phố phường nhiều kẻ tới lui,
Thấy kẻ Ðui Cùi chẳng muốn ngó ngang.
Ðời nay quý trọng người sang,
Giả ra gây lộn nói toàn tiếng Tây.
Tây, Nam, Chà, Chệt, chú, thầy,
Nó thấy làm vầy chẳng bắt ngại nghi.
Xuống thuyền quày quả một khi,
Chèo lên Vĩnh-Tế vô thì núi Sam.
Ði ngang chẳng ghé chùa am,
Xuôi dòng núi Sập đặng làm người ngu.
Xem qua đầu tóc u-xù,
Cũng như người tội ở tù mới ra.
Chèo ghe rao việc gần xa,
Bồng-lai Tiên-cảnh ai mà đi không?
Nhiều người tâm đạo ước mong,
Nếu tôi gặp được như rồng lên mây.
Ấy là tại lịnh Phương Tây,
Cho kẻ bạo tàn kiến thấy Thần Tiên.
Có người nói xéo nói xiên,
Chú muốn kiếm tiền nói gạt bá gia.
Thoáng nghe lời nói thiết tha,
Rưng rưng nước mắt chèo về Mặc-Dưng.
Tay chèo miệng cũng rao chừng,
Ðường đi Tiên cảnh ai từng biết chưa?
Khúc thời nhắc lại đời xưa,
Lúc chàng Lý-Phủ đổ thừa Trọng-Ngư.
Nhà anh có của tiền dư,
Sao chẳng hiền-từ thương-xót bá-gia?
Bây giờ gặp việc thiết-tha,
Bạc vàng có cứu anh mà hay không?
Hết tây Ðiên lại nói đông,
Có ai thức-tỉnh để lòng làm chi!
Mặc-Dưng mất dạng Từ-Bi,
Thuyền đi trở ngược về thì Vàm-Nao.
Dòm xem thiên-hạ lao-xao,
Không ghé nhà nào cũng gọi vài câu.
Con sông nước chảy vòng cầu,
Ngày sau có việc thãm sầu thiết-tha.
Chừng ấy nổi dậy phong-ba,
Có con nghiệt-thú nuốt mà người hung.
Ðến chừng thú ấy phục-tùng,
Bá-gia mới biết người Khùng là ai.
Bây giờ phải chịu tiếng tai,
Giảng Ðạo tối ngày mà chẳng ai nghe.
Ðời như màn nọ bằng the,
Hãy rán học vè của kẻ Khùng-Ðiên.
Khỏi vàm Ðiên mới quày thuyền,
Xuống miền Cao-Lãnh lại phiền lòng thêm.
Tới đây ca hát ban đêm,
Ai có thù hềm chửi mắng cũng cam.
Cho tiền cho bạc chẳng ham,
Quyết lòng dạy-dổ dương-trần mà thôi.
Nghe rồi thì cũng phủi rồi,
Nào ai có biết đây là người chi.
Trở về Phong-Mỹ một khi,
Thuyền đi một mạch tới thì Rạch-Chanh.
Ghe chèo khúc quẹo khúc quanh,
Ở đây có một người lành mà thôi.
Nhắc ra tâm trí bồi-hồi,
Khó đứng khôn ngồi thương xót bá-gia.
Kiến-Vàng làng nọ chẳng xa,
Kíp mau tới đó vậy mà thử coi.
Xứ nầy nhà cửa ít oi,
Mà trong dân sự nhiều người chơn tu.
Thấy người đói rách xin xu,
Ra tay cứu vớt đui mù chẳng chê.
Khỏi đây đến chổ bộn-bề,
Rõ ràng Bến-Lức đã kề bên ghe.
Giả Người Tàn Tật đón xe,
Rồi lại nói vè ròng việc Thiên-cơ.
Hết vè rồi lại nói thơ,
Làm cho bá-tánh ngẩn-ngơ trong lòng.
Thơ vè Ðiên đã nói xong,
Ði luôn Ba-Cụm kẻo lòng ước-mơ.
Tới đây dẹp hết vè thơ,
Giả Người Bán Mắm quá khờ quá quê.
Chợ nầy thiên-hạ bộn-bề,
Kẻ nhún người trề chê mắm chẳng ngon.
Bạn hàng tiếng nói quá dòn:
Giá nầy chẳng bán còn chờ chuyện chi?
Bưng thời kẻ níu người trì:
Ở đây không bán chị thì đi đâu?
Dứt lời rồi lại câu-mâu,
Mắng: con đĩ chó khéo hầu làm khôn!
Muốn làm cho có người đồn,
Biến mất xác hồn cho chúng chỉnh ghê.
Nói ra thêm thảm thêm thê,
Ông-Lãnh dựa kề giả bán Trầu Cau.
Bạn hàng xúm lại lao-xao:
Ông bán giá nào nói thử nghe coi?
Trầu thời kẻ móc người moi,
Còn cau bẻ giấu thấy lòi tánh tham.
Thấy già bán rẻ nó ham,
Bị thêm quê dốt nó làm thẳng tay.
Ghe người biến mất bằng nay.
Cho chúng biết tài của kẻ Thần Tiên.
Bến-Thành đến đó đậu liền,
Gặp hai thằng lính tra liền thế thân.
Tớ Thầy nói chuyện cân phân:
Mới lỡ một lần xin cậu thứ-tha.
Hai người tôi ở phương xa,
Bởi chưng khổ-não mới là nổi trôi.
Lính nghe vừa dứt tiếng rồi,
Khoát nạt một hồi rồi lại bắt giam.
Thấy đời trong dạ hết ham,
Ghe người biến mất coi làm chi đây.
Tức thời Ðiên giả làm thầy,
Ði coi đi bói khắp trong phố phường.
Có người tu niệm đáng thương,
Ðiên mới chỉ đường Tịnh-Ðộ Vãng-Sanh.
Dạo cùng khắp cả Sài-Thành,
Khi ca khi lý nói rành Thiên-cơ.
Bá-gia bá-tánh làm ngơ,
Tưởng như những kẻ nói thơ kiếm tiền.
Văn-minh trọng bạc trọng tiền,
Khôn-ngoan độc-ác làm phiền người xưa.
Mặc ai ghét ghét ưa ưa,
Chẳng dám nói bừa cho bá-tánh nghe.
Phiền-ba ngựa ngựa xe xe,
Ðiên giả người què Gia-Ðịnh thẳng xông.
Què nầy đường xá lảu-thông,
Khắp trong thiềng-thị rồi thì nhà-quê.
Kêu cơm bá tánh nghe ghê,
Thêm nói bộn-bề những việc về sau.
Dương-trần bàn tán thấp cao,
Chẳng biết người nào rõ việc tiên-tri.
Giã từ Gia-định một khi,
Thuyền loan trực chỉ đến thì Cần-Thơ.
Tới đây giả Kẻ Quá Khờ,
Vợ điên chồng lại đứng hờ một bên.
Phố phường xóm dưới đầu trên,
Cùng người đi chợ xúm nhau reo cười.
Thị-thiềng hiền-đức được mười,
Phần nhiều xúm lại chê cười người điên.
Vợ thời ca hát huyên-thiên,
Chồng chẳng có tiền lại quán xin cơm.
Bá-gia coi thể rác-rơm,
Ai cũng sẵn hờm đặng có ghẹo chơi.
Ðiên mà ca hát việc đời,

Với việc hiện thời khổ-nảo Âu-Châu.
Chạy cùng chẳng sót đâu đâu,
Lòng quá thảm-sầu lìa lại Vĩnh-Long.
Chợ quê giảng dạy đã xong,
Thuyền loan trực chỉ đến rày Bến-Tre.
Chợ nầy đậu tại Nhà-Bè,
Giả Chị Bán Chè dạo khắp các nơi.
Giọng rao rặt tiếng kim thời,
Rước rước mời mời anh chị mua ăn.
Trẻ già qua lại lăng-xăng,
Nói nói rằng rằng những việc bướm-ong.
Gánh chè bán hết vừa xong,
Ðiên cũng nói ròng chuyện khổ về sau.
Nói rồi chơn bước mau mau,
Lìa xa thiềng-thị đến thì thôn-quê.
Ði đâu cũng bị nhún trề,
Kẻ lại chưởi thề nói: lũ bá-vơ.
Thấy đời tai lấp mắt ngơ,
Lúc ở trên bờ khi lại đi ghe.
Dạo cùng khắp tỉnh Bến-Tre,
Ðủ bực thơ vè lìa lại Trà-Vinh.
Tới đây bày đặt hát kình,
Ðua nhau bán thuốc mặc tình nghe không.
Nói ra những chuyện bông-lông,
Trách trong lê-thứ không lòng từ-bi.
Gặp người đói khó khinh-khi,
Ðiền-viên sự sản ai thì làm cho.
Dạy rồi thuyền lại Mỹ-Tho,
Khuyên trong trần-hạ rán lo tu-trì.
Xưa nay không có mấy khi,
Dương-trần có Phật vậy thì xuống đây.
Chợ quê giáp hết thuyền quay,
Ði trở lộn về Ông-Chưởng giảng dân.
Quản chi nắng Sở mưa Tần,
Chèo xuôi chèo ngược mấy lần không thôi.
Thảm thương bá-tánh lắm ôi !
Bồng-Lai Tiên-cảnh rao rồi một khi.
Nếu ai rảnh việc thì đi,
Còn mắc nợ thì ở lại dương-gian.
Có người xưng hiệu ông Quan,
Tên thiệt Vân-Trường ở dưới dinh Ông.
Thấy đời cũng bắt động lòng,
Ghé vào tệ-xá thẳng xông lên nhà.
Mình người tu-niệm vậy mà,
Nói chi lớn tiếng người mà khinh-khi.
Người nhà cảm tạ một khi,
Cúng năm cắc bạc tiền đi Non Bồng.
Xuống thuyền xuôi nước thẳng xông,
Ghé nhà chủ Phối xem lòng Ðạo Ba.
Ngồi chơi đạo-lý bàn qua,
Mấy bà có biết lúa mà bay không?
Có người đạo-lý hơi thông,
Xin ông bày tỏ cho tôi hiểu rày.
Ðiên nghe liền mới tỏ bày:
Lúa bay về núi dành rày ngày sau.
Hỏi qua tu-niệm âm-hao,
Không biết câu nào trái ý Ðạo Ba.
Buồn đời Ðiên mới bước ra,
Tay gay chèo quế dạo thì khắp nơi.
Ði hoài chẳng có nghỉ ngơi,
Miệng cũng rao mời Tiên-cảnh Bồng-Lai.
Có người xuống bến bằng nay,
Mách chơi ít tiếng người rày mạng vong.
Nhà ngươi thiệt chẳng có lòng:
Ðòi đã hai lần sao chẳng chịu đi?
Thương đời ta luống sầu-bi,
Ðò đi tới chốn ăn thì bao nhiêu?
Ðiên rằng tôi chẳng ham nhiều,
Bao nhiêu tự ý cho nhiều chẳng ham.
Ðiên nầy bụng chẳng có tham,
Ghe đã chở đầy chật nứt trong mui.
Già đây cũng chở cầu vui,
Vậy chú hãy ngồi ngay chổ sau đây.
Thấy người lòng dạ tà-tây:
Thân tôi làm vầy ông chẳng cho vô?
Trong mui đã mát lại khô,
Tôi có đủ tiền mà trả cho ông.
Trong mui dòm thấy trống không,
Bước nhầu vào đó máu hồng trào ra.
Cho người hung bạo biết Ta,
Thuyền Người biến mất vậy mà còn chi.
Trở lên Chợ-Mới một khi,
Chèo lên chèo xuống vậy thì cũng rao.
Năm xưa đây có máu đào,
Mà nay chưa có người nào chơn tu.
Nào Ðiên có muốn kiếm xu,
Mà trong trần-hạ đui mù không hay.
Hỏi ông người ở đâu rày,
Trả lời rằng ở Non cày Vua Nghiêu.
Tới đây trong dạ buồn hiu,
Bỏ ghe Ðiên cũng đánh liều chưa thôi.
Giả ra một Kẻ Hàn Nồi,
Khắp trong hàng xóm đi rồi sạch trơn.
Tới đâu cũng tỏ thiệt hơn,
Nhà tôi vốn thiệt có đờn năm dây.
Tôi còn mắc cái nợ nầy,
Nên mới làm vầy cho giải quả-căn.
Nhà tôi đâu phải khó khăn,
Ðem theo trong xách bạc hằng tám mươi.
Nhiều người nghe nói reo cười,
Thân tôi lao-lý anh cười tôi chi?
Giã từ Chợ-Mới một khi,
Thuyền đi xuôi ngược đến thì Ba-Răng.
Ít ai biết được đạo hằng,
Ghé am thầy pháp nói rằng lở chơn.
Trước sau bày tỏ nguồn cơn,
Vì thương lê-thứ chi sờn lòng Ðây.
Có người lối xóm muốn gây,
Xin sáu trái bắp liền quày xuống ghe.
Ghe Ðiên vốn thiệt ghe be,
Mà lại Ðiên nhè nước ngược thẳng xông.
Ra oai thuyền chạy như dông,
Người nhà xuống bến trong lòng ngại nghi.
Ông nầy chẳng biết người chi,
Chèo quế vậy thì mạnh bạo quá tay.
Thần Tiên mà chẳng ai hay,
Cứ biếm nhẻ hoài buồn dạ Người Xưa.
Ðời nay mỏng tợ màn thưa,
Khuyên trong lê-thứ chẳng thừa một câu.
Thân nầy chẳng nệ mau lâu,
Miễn cho bá-tánh gặp chầu vinh-huê.
Thương trong trần-hạ thảm-thê,
Lao-khổ nhiều bề chớ chẳng còn vui.
Nhiều người nghèo khổ hẩm-hui,
Không đất cậm dùi mà chẳng ai thương.
Con thuyền đang lướt gió sương,
Bỗng nghe tiếng khóc tư-lương ai-hoài.
Có người ở xóm bằng nay,
Bị mất trộm rày đồ-đạc sạch trơn.
Du-thần bày tỏ nguồn cơn :
Rằng người nghèo-khó đương hờn phận duyên.
Ðiên nghe vội-vã quày thuyền,
Dùng khoa coi bói giải phiền phàm nhơn.
Coi rồi bày tỏ thiệt hơn,
Khuyên cô đừng giận đừng hờn làm chi.
Rồi đi dạo xóm một khi,
Ði lên nhà thì giã gạo mà chơi.
Vào nhà nói chuyện một hơi,
Gặp người bán thuốc cũng thời ghé vô:
– Mua một ve uống hỡi cô,
Uống vô bổ khỏe trị nhiều chứng phong.
Uống thì pha nước nóng trong,
Chớ đừng pha rượu nó hòng kỵ thai.
Hai thằng ở xóm bằng nay,
Nó nói ngày rày thuốc chẳng có hay.
Người cha đi lại thấy rầy:
– Thiệt mấy đứa nầy cải-cọ làm chi.
Bước ra nhà nọ một khi,
Ði lên đi xuống kiếm thì xe lôi.
Gặp xe chẳng có lên ngồi,
Chạy trước đi rồi ngừng lại chỗ kia.
Xóm nầy kẻ ghét người ưa,
Ghé vào nhà nọ nhổ bừa cái răng.
Nhổ rồi lui tới lăng-xăng,
Liền bước xuống thuyền Thầy Tớ thả trôi.
Vàm-Nao rày đã đến rồi,
Quày thuyền ghé lại bằng nay Chợ-Ðình.
Hát hai câu hát huê-tình,
Ðậu xem dân chúng Chợ-Ðình làm sao.
Sáng ngày chợ nhóm lao-xao,
Giả bận Ao Màu ai cũng dòm xem.
Mấy thằng trai trẻ thấy thèm,
Ðứng xa quanh-quẩn nói gièm với nhau.
Ðứa nầy nói để cho tao,
Ðứa kia xạo-xự áo màu quá ngon.
Nhắc ra động tấm lòng son,
Buồn cho lê-thứ sao còn ham vui.
Ở đây một buổi ghe lui,
Về trên Bảy-Núi ngùi-ngùi thương dân.
Thầy Trò chẳng nại tấm thân,
Rảo khắp Non Tần bận nữa thử coi.
Chơn tu thì quá ít-oi,
Nhiều người ẩn-sĩ quá lòi tánh tham.
Ði lần ra đến núi Sam,
Ðến nơi rảo khắp chùa am của người.
Dạy rồi bắt quá tức cười,
Thầy tu nhiều kẻ biếng lười quá tay.
Trẻ già biến hóa ai hay,
Dạo trong Bảy Núi chẳng nài công lao.
Rú rừng lúc thấp lúc cao,
Giả ra Nghèo-Khó vào nhiều am-vân.
Tu hành nhiều kẻ tham sân,
Làm sao cho đặng mau gần Phật-Tiên.
Ai ai cũng cứ ham tiền,
Ấy là đem sợi xích xiềng trói thân.
Lìa xa Bảy-Núi lần lần,
Xuống thuyền trực chỉ đến gần Hà-Tiên.
Ðến đây giả Kẻ Không Tiền,
Rảo khắp thị-thiềng xin-xỏ bá-gia

Ði rồi cũng quá thiết-tha,
Trở về non cũ đặng mà dạo chơi.
Non Tiên gió mát thảnh thơi,
Nhưng nhớ việc đời lụy ngọc nhỏ sa.
Xuống trần lúc hát lúc ca,
Mà trong lê-thứ có mà biết chi.
Nam-mô hai chữ từ-bi,
Trần-hạ nói gì đây cũng làm thinh.
Tu thời nhàn hạ thân mình,
Phần Ðiên khuyên nhủ mặc tình ghét ưa.
Thiên-cơ ai dám nói thừa,
Mà trong bá-tánh chẳng ưa Ðiên Khùng.
Xuống thuyền chèo quế thung-dung,
Ði dạy đủ chỗ khắp cùng thử coi.
Rạch-Giá chợ nọ thoi-loi,
Gần nơi ven biển cá mòi nhiều hơn.
Tới đây giả kẻ Có Cơn,
Khi say khi tỉnh lúc hờn số căn.
Dương-trần đi lại lăng-xăng,
Chê chê nhạo nhạo cười rằng quân điên.
Ở đâu mà tới thị-thiềng,
Lính chẳng bắt xiềng nó lại bót đi.
Lòng thương vì tánh từ-bi,
Dạy-dỗ chuyện cùng mà chẳng ai nghe.
Dạy rồi Ðiên lại xuống ghe,
Long-Xuyên, Sa-Ðéc nói ròng vè-thơ.
Vợ chồng nghèo khổ bơ-vơ.
Ở nơi giữa chợ lại khờ lại quê.
Buồn trong lê-thứ ủ-ê,
Sóc-Trăng chợ ấy thuyền kề đến nơi.
Ðến đâu thì cũng tả-tơi,
Nói rõ việc đời sắp khổ sắp lao.
Thị-thiềng thiên-hạ lao-xao,
Chẳng có người nào tu-niệm hiền-lương.
Thấy trong trần-hạ thảm thương,
Ðâu có biết đường chơn chánh mà đi.
Lìa xa đô-thị một khi,
Thuyền loan trực-chỉ đến thì Bạc-Liêu.
Chợ nầy tàn-ác quá nhiều,
Phố-phường dân Thổ dân Tiều nhiều hơn.
Ði cùng thành-thị ráo trơn,
Ca-Mau đến đó thiệt hơn tỏ bày.
Cho trong bá-tánh chợ nầy,
Rõ việc dẫy đầy lao lý về sau.
Ðường đi lao-khổ sá bao,
Miễn cho trần-hạ biết vào đường tu.
Tu hành đâu có tốn xu,
Mà sau thoát khỏi lao tù thế-gian.
Thầy Trò lắm cảnh gian-nan,
Chừng nào hết khổ mới an tấm lòng.
Ðằng-vân đến tỉnh Gò-Công,
Vì thương dân-thứ mới hòng đến đây.
Xưa kia bão-lụt tỉnh nầy,
Mà sau cảnh khổ xứ nầy nhiều hơn.
Yêu dân lòng nọ chẳng sờn,
Thầy hát Tớ đờn dạy cũng khắp nơi.
Khỏi đây Bà-Rịa tách vời,
Ðến đó vậy thời trời mới sáng ra.
Chợ nầy đông-đúc người ta
Nhiều đuông chà-là lại với nho tươi.
Ðến đây Thầy Tớ hóa mười,
Nói nói cười cười bán thuốc Sơn Ðông.
Ai ai đều cũng ngóng trông,
Coi lũ khách nầy hát thuật làm sao.
Hát mà trong bụng xáo-xào,
Nói chuyện bên Tàu máu đổ tuôn rơi.
Cả kêu dân-chúng hỡi ôi,
Sao không thức tỉnh việc đời gần bên.
Khổ đà đi đến như tên,
Rán lo tu niệm tìm nền vinh-hoa.
Vinh nầy của Ðức Phật Bà,
Của Ông Phật Tổ ban mà cho dân.
Tu cho nhàn toại tấm thân,
Ðừng làm tàn-ác xa lần Tiên bang.
Hát kêu bớ kẻ giàu sang,
Rán lo làm phước làm doan mới là.
Ðến lâm cảnh khổ có Ta,
Với lịnh Phật Bà cứu vớt giùm cho.
Tu hành phải rán trì mò,
Gặp Lão Ðưa Ðò đừng có khinh-khi.
Dạy rồi Thầy Tớ liền đi,
Biên-Hòa đến đó vậy thì xem qua.
Ðến đây dạy-dỗ gần xa,
Khuyên trong bá-tánh vậy mà tỉnh tâm.
Ngày nay gặp Bạn Tri-Âm.
Rán mà trì chí đặng tầm huyền-cơ.
Tân-an dạy-dỗ kịp giờ,
Chẳng dám chần chờ đi thẳng Tây-Ninh.
Tới đây vừa lúc bình-minh,
Ðiên ra sức giảng mặc tình nghe không.
Giảng rồi Dầu-Một thẳng xông,
Thiềng-thị giáp vòng thứ chót là đây.
Thương dân giảng dạy dẫy-đầy
Rảo khắp tối ngày chẳng có nghỉ chơn.
Nhiều người hung-ác quá chừng,
Không biết đời khổ lo mừng lo vui.
Nhắc ra dạ nọ nào nguôi,
Từ đây Lục-tỉnh đui cùi thiếu chi.
Nói mà trong dạ sầu-bi
Bá-gia chậm chậm khinh-khi Ðiên nầy.
Ðừng ham nói nọ nói nầy,
Lặng yên coi thử Ðiên nầy là ai.
Cảm thương Ông Lão Bán Khoai,
Vì yêu dân-chúng chẳng nài nắng mưa.
Câu nầy nhắc chuyện năm xưa,
Khuyên trong trần-hạ hãy chừa lòng tham.
Khùng thời quê ngụ núi Sam,
Còn Ðiên chẳng có chùa am dưới nầy.
Vua Nghiêu xưa mở đất cày,
Ngày nay nhường lại cảnh nầy cho Ðiên.
Xuống trần day-dỗ huyên-thiên,
Dạy rồi thì lại thảm-phiền nhiều hơn.
Cầu xin Phật-Tổ ra ơn,
Lời Ðiên khuyên nhủ như đờn Bá-Nha.
Thị-thiềng khắp hết gần xa,
Từ đây sắp đến quê nhà Ðiên đi.
Ðừng thấy ngu dại mà khi,
Thầy thì Huệ-Lựu, Tớ thì Huệ-Tâm.
Ðời cùng còn chẳng mấy năm,
Khắp trong các nước thây nằm bằng non.
Cha thì chẳng thấy mặt con,
Vợ thì chồng chẳng được còn tại gia.
Khuyên trong lê-thứ trẻ già,
Tu hành hiền đức Phật mà cứu cho.
Ấy là quý báu thơm tho,
Ðừng ham gây-gổ nhỏ to làm gì.
Con thì ăn ở nhu mì,
Học theo luân-lý kính vì mẹ cha.
Sau nầy sấu bắt hùm tha,
Xử người tàn-bạo vậy mà tại đây.
Ðời xưa quả-báo thì chầy,
Ðời nay quả-báo một giây nhãn tiền.
Dương-trần phải rán làm hiền,
Ðừng trọng bạc tiền bỏ nghĩa bỏ nhân.
Người hung phải sửa cái thân,
Từ đây có kẻ Du-Thần xét soi.
Chuyện người chớ móc chớ moi,
Hãy treo gương thiện mà soi lấy mình.
Ai thương ai ghét mặc tình,
Phận mình cứ giữ tâm mình cho ngay.
Ðiên đây vưng lịnh Phương Tây,
Hầu hạ bên Thầy đặng cứu bá-gia.
Thấy đời lòng dạ tây-tà,
Cứ theo chế nhạo cười mà người Ðiên.
Ngồi buồn kể chuyện huyên-thiên,
Chẳng có ham tiền cũng bị ghét vơ.
Viết cho bá-tánh ít tờ,
Ði làm ruộng rẫy bỏ hờ theo xem.
Thương người nghèo khổ lấm-lem,
Thấy cảnh sung-sướng nó thèm quá tay.
Ai mà biết đặng ngày mai,
Ngày nay yên-tịnh ngày mai thảm-sầu.
Từ rày gặp cảnh buồn rầu,
Cho người tàn-bạo cứng đầu khinh-khi.
Dương-trần nay đáng sầu-bi,
Nên Ðiên mới nói chuyện ni tỏ tường.
Ðêm ngày tưởng Phật cho thường,
Phải rán lo-lường kim-chỉ từ đây.
Thương đời Ðiên mới tỏ bày,
Dạy trong trần-hạ ngày rày rán nghe.
Ðừng khi nhà lá chòi tre,
Nhà săng cột lớn bù-xè hay ăn.
Lúc nầy Ðiên mắc lăng-xăng,
Dương-trần biết đặng đạo-hằng mới thôi.
Chẳng ham cúng kiếng chè xôi,
Phật Trời chẳng muốn điều tồi ấy đâu.
Muốn cho dân hiểu Ðạo-mầu,
Chớ không có muốn chùa lầu cho cao.
Bao nhiêu cũng biết vàng thau,
Dạy khôn trần-thế chớ nào dạy ngu.
Sáng ngày con chó sủa tru,
Chừng heo cắn ổ hiềm-thù mới yên.
Ðừng ham giành-giựt của tiền,
Người hung hay gọi kẻ hiền rằng ngu.
Nay Ðiên chỉ rõ đường tu,
Ấy là đủ việc tài bù cho dân.
Thôi thôi nói riết dần lân,
Tới đây cũng lần ngừng lại bút nghiên.

NAM-MÔ A-DI-ÐÀ PHẬT

BỬU châu công luyện chốn non Tần,
SƠN thủy môn giang bảo giác dân.
KỲ quái chờ nơi Thiên nhứt định,
HƯƠNG nồng dành thưởng kẻ tròn ân.

 

2 attachments — Download all attachments (zipped for

  English (US)

)

1a- Quyển I – Khuyên Người Đời Tu Niệm.doc
123K   View   Download
1b- Quyển I – Khuyên Người Đời Tu Niệm.pdf
151K   View   Download
Sang Lephuoc
Nov 8 (3 days ago)

to mevantran200991giaccodoTantannguyen_pghhdieuchipham53AlexPhuongHenryhenryle888minhquang4429TonlawrenceLactannhanquatemplenhatquangquele1
TS. LêPhước Sang

Hội truởng HĐTSTƯ GH-PGHH
————————————————
12432 Euclid Street, Garden Grove, CA 92840
832-397-9813 & (714) 584-7778 (xin để lại message)
2 attachments — Download all attachments (zipped for

  English (US)

)

1a- Quyển I – Khuyên Người Đời Tu Niệm.doc
123K   View   Download
1b- Quyển I – Khuyên Người Đời Tu Niệm.pdf
151K   View   Download
Categories: Sấm Giảng | Leave a comment

Trung Quốc “tranh sổ đỏ” của các nước láng giềng

BÀI VIẾT THUỘC CHỦ ĐỀ:BIỂN ĐÔNG

Trung Quốc “tranh sổ đỏ” của các nước láng giềng

YÊN THỦY-NGUYỄN TÂM (VIETNAM+) LÚC : 20/08/12 11:21

Trước luận điểm hết sức phi lý của Trung Quốc về “đường lưỡi bò,” Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Bá Diến, Giám đốc Trung tâm Luật Biển và Hàng hải Quốc tế, Chủ nhiệm Bộ môn Luật Quốc tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) và Thạc sĩ, nghiên cứu sinh Nguyễn Hùng Cường, Giảng viên Bộ môn Luật quốc tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) đã viết cuốn sách “Thềm lục địa trong pháp luật quốc tế” nhằm khảo luận những kiến thức cơ bản nhất về thềm lục địa dưới góc độ luật pháp quốc tế.

Cuốn sách này đã khẳng định chủ quyền lịch sử, pháp lý không thể tranh cãi của Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ, ít nhất từ thế kỷ XVI đã thực thi một cách thực sự, hòa bình, công khai và liên tục.

Dành cho phóng viên Vietnam+ cả buổi sáng để trao đổi về vấn đề này, vị học giả cả đời nghiên cứu về Luật Quốc tế và Luật Biển của Việt Nam đã khẳng định hành động của Trung Quốc ở Biển Đông chính là “tranh sổ đỏ” của các nước láng giềng.

Phi lý “đường lưỡi bò”

– Thưa ông, cuốn sách “Thềm lục địa trong Pháp luật quốc tế” được hình thành trong bối cảnh thế nào?

PGS. TS. Nguyễn Bá Diến: Thời điểm bắt đầu đặt bút viết cuốn sách là hơn một năm, kể từ khi tàu của Trung Quốc vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam cắt cáp và quấy phá tàu thăm dò khai thác dầu khí của chúng ta. Tuy nhiên, đây là sản phẩm-kết quả của một quá trình đã được chúng tôi nghiên cứu khá lâu rồi, nhất là khi Việt Nam chuẩn bị Báo cáo Quốc gia xác định ranh giới ngoài thềm lục địa của Việt Nam trình Uỷ ban ranh giới ngoài thềm lục địa của Liên Hợp Quốc và tôi là một trong những người được giao soạn thảo phần báo cáo pháp lý của bản Báo cáo này.

Đặc biệt, một sự kiện càng thôi thúc chúng tôi nghiên cứu và viết cuốn sách này là việc ngày 7/5/2009, Trung Quốc gửi công hàm và bản đồ “đường lưỡi bò” lên Liên hợp quốc phản đối việc Việt Nam và Malaysia gửi báo cáo riêng và chung về xác định ranh giới ngoài một phần thềm lục địa của mình. Điều đó cho thấy đây là một hành động phi lý, ngang ngược, bộc lộ công khai chiến lược bành trướng, độc chiếm biển Đông của Trung Quốc, xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam cũng như của các nước khác ở Biển Đông đối với các vùng biển và thềm lục địa của mình đã được Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hợp quốc quy định.

Điều 76 của Công ước Luật biển có quy định hết sức rõ ràng: “Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính toán chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi mép ngoài của rìa lục địa ở khoảng cách gần hơn.”

Như vậy, rõ ràng công ước luật biển đã cấp “số đỏ” cho mỗi quốc gia ven bờ, trong đó có Việt Nam, không những đối với nội thủy và lãnh hải của mình mà còn đối với Vùng đặc quyền về kinh tế và Thềm lục địa với bề rộng tối thiểu 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Những quyền này là thiêng liêng và bất khả xâm phạm!

[Tàu Trung Quốc ngang ngược cắt cáp tàu Việt Nam]

Là một cường quốc-thành viên thường trực Hội đồng Bảo an của Liên hợp quốc và đồng thời thành viên Công ước Luật biển năm 1982, đáng ra Trung Quốc, hơn ai hết, phải tôn trọng các quy định của Công ước, càng phải thể hiện là một quốc gia có trách nhiệm trong việc tuân thủ các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế. Tiếc rằng, Trung Quốc lại hành động ngược lại.

Với việc đưa ra yêu sách “đường lưỡi bò” mơ hồ, phi khoa học, không những Trung Quốc đã vi phạm các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế mà còn tự làm mất đi hình ảnh “ trỗi dậy hòa bình” và tự cô lập trên trường quốc tế.

Theo Luật quốc tế, làm gì có chuyện một quốc gia lại tự mình đơn phương vẽ ra một cái đường rồi nói là biên giới/ranh giới quốc gia của mình được?! Nếu đó là đường biên giới, thì phải hoạch định một cách bài bản và thảo luận với các quốc gia liên quan theo một nguyên tắc và quy trình chặt chẽ, dựa trên điều ước quốc tế về hoạch định biên giới/ranh giới. Không một quốc gia nào được quyền đơn phương hoạch định biên giới/ranh giới quốc gia của mình. Bởi vậy, yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc đã bị nhiều chuyên gia cho rằng, đó là hành vi “xâm lược bằng bản đồ.”

– Ra đời trong bối cảnh tình hình Biển Đông đang căng thẳng, cuốn sách sẽ có ý nghĩa như thế nào?

PGS. TS Nguyễn Bá Diến: Cuốn sách này trình bày và luận giải những vấn đề lý luận cơ bản và chuyên sâu của luật biển quốc tế về thềm lục địa như: Khái niệm khoa học địa chất, khoa học pháp lý về thềm lục địa; Quy chế pháp lý của thềm lục địa, xác định ranh giới thềm lục địa theo quy định pháp luật quốc tế; Phân định thềm lục địa của các quốc gia có bờ biển liền kề hoặc đối diện nhau…

Bên cạnh những vấn đề cơ bản, cuốn sách còn phân tích thực tiễn phân định và giải quyết tranh chấp về thềm lục địa của một số quốc gia trên thế giới thông qua các án lệ điển hình của cơ quan tài phán quốc tế. Đồng thời, cuốn sách đã đưa ra các luận chứng lich sử-pháp lý chứng minh chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đây là những nghiên cứu bước đầu, góp phần làm phong phú thêm hệ thống lý luận và thực tiễn pháp lý về thềm lục địa, giúp quá trình xây dựng, hoàn thiện chính sách pháp luật về quy chế pháp lý và thềm lục địa, phân định thềm lục địa giữa Việt Nam với các nước trong khu vực nhằm bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ nước ta.

Bản đồ cổ của Trung Quốc cho thấy cực Nam của đất nước này chỉ đến đảo Hải Nam.

Đầu tư mặt trận pháp lý

– Cuốn sách ra đời đã thu hút được sự quan tâm lớn của dư luận. Kế hoạch tiếp theo của ông là gì?

PGS. TS Nguyễn Bá Diến: Còn rất nhiều việc phải làm và chúng ta có rất nhiều chứng cứ để nói về sự sai trái của Trung Quốc trong những yêu sách và hành vi của họ trên Biển Đông trong thời gian qua. Thời gian tới, tôi và các cộng sự sẽ cho ra một bộ sách chuyên khảo về vấn đề này.

Chúng ta tôn trọng tình hữu nghị với Trung Quốc và luôn coi Trung Quốc là một “nước láng giềng” đúng với nghĩa đầy đủ của từ này. Nước láng giềng khác với “nhà hàng xóm láng giềng,’’ vì nếu nhà hàng xóm mà chơi không tốt, chơi bẩn thì ta có thể bán/bỏ nhà mà đi, còn với nước láng giềng, thì không thể có chuyện bỏ đất, bỏ biển mà đi được. Hòa hiếu lân bang là truyền thống giữ nước hàng ngàn năm qua của dân tộc mình. Nhất là trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa, hợp tác và hữu nghị phải là sợi chỉ đỏ và là nền tảng của chiến lược phát triển và chấn hưng đất nước.

Tuy nhiên, chúng ta không thể nhún nhịn mãi khi “anh hàng xóm không biết điều” cứ quyết tranh cướp cho được biển trời của mình. Bất kỳ một dân tộc có lòng tự trọng nào cũng không bao giờ cho phép nhân nhượng trong vấn đề chủ quyền lãnh thổ bởi nó là phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc.

Tôi nghĩ, đã là người con dân tộc Việt Nam, chúng ta đều phải góp sức mình cho sự nghiệp vĩ đại này. Là một cán bộ khoa học, chúng tôi tâm niệm rằng cần phải tiếp tục đóng góp sức mình trong việc đưa ra các luận cứ khách quan, khoa học cũng như các bằng chứng lịch sử-pháp lý nhằm khẳng định cái đúng, bảo vệ lẽ phải, để toàn nhân dân ta càng thêm tự hào và quyết tâm trong quộc đấu tranh chính nghĩa vì chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ. Bên cạnh đó là việc tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới cũng như của chính nhân dân Trung Quốc yêu chuộng hòa bình và công lý.

[PVN yêu cầu Trung Quốc hủy việc mời thầu sai trái]

– Theo ông, để bảo vệ tốt chủ quyền biển đảo, chúng ta sẽ phải làm gì?

PGS.TS Nguyễn Bá Diến: Trước tiên, chúng ta phải nhận diện rõ chiến lược mà Trung Quốc đang theo đuổi để người dân Việt Nam cũng như các nước Đông Nam Á và thế giới thấy rõ, không mơ hồ. Một học giả nước ngoài hoàn toàn có lý cho rằng, “sự bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông chỉ là một phần của kế hoạch bành trướng tổng thể, bao gồm ‘bành trướng cứng’ như hành động trên biển, trên đất liền và ‘bành trướng mềm’ như tăng cường hiện diện ở tất cả các nơi có tiềm năng lợi ích về tài nguyên, dầu mỏ, địa chính trị… cho Trung Quốc”.

Chúng ta phải nhận diện rõ và cảnh giác với tham vọng này cũng như có chiến lược tổng thể và toàn diện về mọi mặt nhằm nâng cao tiềm lực và khả năng tự vệ, trong đó cần đặc biệt chú trọng đến vấn đề đào tạo nguồn nhân lực, an ninh quốc phòng, chính trị, ngoại giao, khoa học công nghệ, phát triển kinh tế nói chung và kinh tế biển nói riêng… Đặc biệt, cần có sự đầu tư thích đáng cho mặt trận pháp lý.

Tôi rất thích một câu nói của Pier Đại đế: “Cần thiết phải giải thích những quyền lợi của đất nước là gì, và làm cho dân chúng hiểu được điều này thì không một kẻ thù nào dám xâm phạm bờ cõi của chúng ta.” Cũng đúng như đường lối của Đảng và Nhà nước ta hiện nay là dân biết, dân bàn… Bởi vậy, công tác truyền thông về vấn đề chủ quyền lãnh thổ là hết sức quan trọng.

– Xin cảm ơn ông!

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Blog at WordPress.com.