Daily Archives: November 13, 2013

Vẻ đẹp Di sản Việt Nam qua 100 bức ảnh

   Phóng sự ảnh  
Vẻ đẹp Di sản Việt Nam qua 100 bức ảnh 
16:18 | 13/11/2013

(ĐCSVN) – Từ ngày 8 – 14/11 tại Bảo tàng Hồ Chí Minh và vào ngày 22/11 tại Khu di tích Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội), Triển lãm ảnh Di sản Việt Nam giới thiệu tới công chúng Thủ đô 100 tác phẩm xuất sắc nhất trong cuộc thi ảnh Vietnam Heritage Photo Awards 2013.

Dưới đây là một số tác phẩm nhiếp ảnh xuất sắc đã được Ban Giám khảo cuộc thi lựa chọn từ 6.016 bức ảnh tham dự, trong đó có 3.793 tác phẩm ảnh đơn và 267 tác phẩm ảnh bộ (2.223 ảnh) của 339 tác giả.

Các tác phẩm triển lãm chia sẻ với công chúng những khoảnh khắc, những góc nhìn đa chiều về đề tài di sản: di sản thiên nhiên; di sản văn hóa vật thể; di sản văn hóa phi vật thể.

Triển lãm lần này là điểm dừng thứ 5 trong hành trình triển lãm xuyên Việt do Tạp chí Hertage và Canon phối hợp tổ chức, nhằm kêu gọi sự quan tâm của cộng đồng trong và ngoài nước phát hiện và chia sẻ những giá trị di sản của Việt Nam cần gìn giữ và bảo tồn.

Dưới đây là một số tác phẩm của Triển lãm Di sản Việt Nam:

 

Tác phẩm “Nụ cười M’ Noong”, tác giả: Nguyễn Hồng Quang Phương.

Tác phẩm “Lễ hội pháo Đồng Kỵ” của nghệ sĩ nhiếp ảnh quốc tế Bùi Đăng Thanh.

“Nắng sớm Nha Trang” – tác giả: Mai Lộc.

“Nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu”, tác giả: Vũ Đức Phương.

“Nắng mai ở Bắc Sơn” – Tác giả: Vũ Ngọc Ánh.

“Lễ hội Ramưwan, Bình Thuận”, tác giả: Lê Minh Ngọc.

“Hồn nhiên” – Tác giả: Tào Hòa.

“Nhộn nhịp mùa đay” tác giả: Trương Thị Hồng Tươi.

“Tạo hóa”, tác giả:  Vũ Ngọc Hoàng.

“Góc phố xưa”, tác giả: Đặng Kế Cường.

 

Các từ khóa theo tin:
Bá Phương (Ảnh của BTC)
Categories: Cảnh-Đẹp | Leave a comment

Biển Đông: Hợp tác mới phát triển (13/11/2013)

Thời sự – Chính trị
Biển Đông: Hợp tác mới phát triển (13/11/2013)
Trong 2 ngày hội thảo, các chuyên gia Biển Đông đã cố gắng tìm lời giải cho câu hỏi: Chuyển từ thế đối đầu sang đối thoại cùng chia sẻ lợi ích hay tiếp tục đối đầu?
Đảo Trường Sa Lớn
Ảnh: Lê Minh
Biển Đông vẫn nóng
Nhà nghiên cứu Trung Quốc Dương Danh Dy
Người Việt phải đoàn kết lại. Nói về sức mạnh của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tôi rất tin tưởng vào thế hệ trẻ. Qua đám tang của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho thấy sức mạnh của khối Đại đoàn kết dân tộc là vô cùng to lớn.

Theo học giả Carl Thayer (Australia), ASEAN đã có động thái tích cực khi củng cố được đoàn kết nội khối và khởi động tham vấn với Trung Quốc về Bộ Quy tắc ứng xử Biển Đông.

Ông Ralf Emmers đến từ trường Nghiên cứu Quốc tế S.Rajaratnam khẳng định, đã có những tiến triển trong giải quyết xung đột trên Biển Đông. Theo đó, “Có thể nói, năm 2013 là năm đạt được nhiều tiến bộ, năm nhìn rõ sự hòa bình, ổn định ở Biển Đông”.
Tuy nhiên, không đồng tình với quan điểm Biển Đông đã lặng sóng, nhiều học giả cho rằng, động thái được cho là tích cực như ngồi vào bàn đàm phán COC, các chuyến công du của các nhà lãnh đạo Trung Quốc đến các nước Đông Nam Á cũng chỉ là một trong những bước đi trong chiến lược của phía Trung Quốc. Học giả Nguyễn Hồng Thao (Việt Nam) cho rằng: Nói Trung Quốc đã có những động thái tích cực làm dịu tình hình Biển Đông là có. Tuy nhiên phải suy xét kĩ sao Trung Quốc lại có hành động như vậy? Có rất nhiều yếu tố buộc Trung Quốc phải có động thái xoa dịu. Chẳng hạn, do sự phản ứng, lên án mạnh mẽ của nhiều nước trong khu vực vì những hành động không đẹp từ phía Trung Quốc. Có yếu tố thay đổi chính sách của Trung Quốc do có dàn lãnh đạo mới. Có yếu tố từ vụ kiện của Philippines ra Tòa án Quốc tế, rồi sự cọ sát của hai cường quốc lớn ở Biển Đông đó là Trung Quốc và Nhật Bản. Tuy nhiên nhìn cục diện chung, Trung Quốc sẽ không từ bỏ tham vọng lấn biển. Những hành động trong thời gian vừa qua chỉ là chiến thuật lúc lên, lúc xuống của Trung Quốc mà thôi.
Giáo sư Đặng Đình Quý, Giám đốc Học viện Ngoại giao Việt Nam cho biết: Dù có nhiều chuyển biến tích cực trong giải quyết những tranh chấp ở Biển Đông trong thời gian vừa qua nhưng Biển Đông 5 năm tới tiếp tục tiềm ẩn nhiều bất trắc. Biển Đông tiếp tục là một trong những khu vực tranh chấp phức tạp nhất thế giới. Chủ nghĩa dân tộc quá khích đã xuất hiện và gia tăng trong một số nước; xu hướng tăng cường vũ trang, bán vũ trang đang mạnh dần lên; lòng tin giữa các bên liên quan tiếp tục suy giảm. Những xu hướng này sẽ làm cho tình hình Biển Đông có thể diễn biến phức tạp hơn, không loại trừ khả năng bùng nổ xung đột vũ trang.
Trên tinh thần đó, nhà nghiên cứu Trung Quốc Dương Danh Dy cảnh báo: Tham vọng bá quyền của Trung Quốc thời nào cũng có. Đặc biệt nó càng ráo riết hơn khi mà tài nguyên trên cạn của Trung Quốc đã dần cạn kiệt cũng như các vùng biển khác của Trung Quốc đều đã ô nhiễm nghiêm trọng. Trong năm vừa qua chiến thuật của Trung Quốc có thay đổi nhưng đây cũng là một trong những bước đi, kế sách của Trung Quốc mà thôi. Biển Đông trong thời gian sắp tới sẽ vẫn nóng.
Đảo Đá Tây
Cẩn trọng với đề xuất khai thác chung
Trả lời báo chí bên lề hội nghị, bà Lee Jian-wei, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế biển (Viện Nghiên cứu Nam Hải, Trung Quốc) cho rằng, hai chuyến thăm cấp cao trong năm 2013 của Chủ tịch nước Việt Nam đi thăm Trung Quốc và Thủ tướng Trung Quốc thăm Việt Nam đã có nỗ lực giải quyết vấn đề căng thẳng trên Biển Đông và đạt được thỏa thuận đầu tiên về mô hình khai thác chung. Đây là những động thái tích cực tiến tới giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình.
Tuy thế, khi trao đổi với phóng viên, GS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Bộ Công an vẫn lưu ý, Việt Nam cần cẩn trọng với thỏa thuận khai thác chung này. “Ví dụ nhà tôi có một mảnh vườn 200 m2 có giấy đỏ, nhà láng giềng bên cạnh cũng có một mảnh vườn như vậy nhưng lại đưa con cháu sang hái hoa quả nhà tôi, xảy ra tranh chấp rồi lại bảo cùng chia nhau, như thế là không được. Chia là chia vùng đất công ở ngoài. Vì vậy chỉ khai thác chung vùng biển quốc tế, còn trong vòng 200 hải lý thì không có vùng tranh chấp hay thỏa thuận khai thác nào hết. Theo Công ước quốc tế về Luật Biển 1982, trong vùng 200 hải lý, Việt Nam có quyền chủ quyền về toàn bộ tài sản quốc gia, làm sao mà đưa vào tranh chấp được”, GS Cương nói .
Học giả Nguyễn Đăng Thắng (Việt Nam) cũng khẳng định cơ sở luật pháp quốc tế là yếu tố cần thiết để phát triển mô hình khai thác chung tại Biển Đông. Tuy nhiên, Trung Quốc cần làm rõ đề xuất khai thác chung cũng như yêu sách đường lưỡi bò. Để giải quyết những vấn đề này, ông Thắng đề nghị các bên liên quan đến tranh chấp tại Biển Đông nên mời một cơ quan thứ ba khách quan giúp giải thích quy chế pháp lý của đảo theo Công ước Luật Biển áp dụng vào các đảo tại Biển Đông.
Trung Quốc muốn gì ở Biển Đông?
Đó là câu hỏi của một học giả người Úc, nêu ra tại hội thảo. Câu hỏi đã làm những người tham dự hội thảo một lần nữa phải suy nghĩ.
Nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ Trần Công Trục cho rằng: Nhìn ở phương diện ngoại giao chúng ta có thấy được những động thái tích cực của Trung Quốc rằng họ muốn giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, không muốn sử dụng vũ lực, muốn chuyển từ thế đối đầu sang đối thoại, hợp tác cùng có lợi. Nhưng đó vẫn chỉ là những tuyên bố trên bàn nghị sự. Còn thì phải nhìn nhận trên thực tế. Hành động bao vây Bãi Cỏ May của Philippines, hành động bắt bớ, cấm đánh bắt cá trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, vẫn bảo vệ đến cùng yêu sách đường Lưỡi Bò hoang tưởng…, rõ ràng về mặt pháp lý Trung Quốc chưa có động thái từ bỏ âm mưu độc chiếm Biển Đông.
Vẫn theo ông Trục, chuyện đàm phán COC, ai cũng có thể nhận thấy Trung Quốc đã xuống thang, đã ngồi vào bàn đàm phán tham vấn về COC nhưng tiến trình rất chậm chạp.
Vậy phải làm gì để có được hòa bình trên biển thật sự? Ông Nguyễn Hồng Thao cho rằng, phải có niềm tin, có ý chí mới giải quyết được những tranh chấp ở Biển Đông. Lòng tin chiến lược thì không thể xây dựng từ một phía mà phải từ nhiều phía. Trung Quốc không muốn Mỹ hạ thấp vai trò của họ trong khu vực này thì Trung Quốc phải hòa hoãn với ASEAN. Nhưng ngược lại Trung Quốc muốn các nước tôn trọng vai trò của mình thì chính họ phải có những nỗ lực thực sự. Tất nhiên trong tranh chấp thì anh nào cũng cho là mình đúng nhưng giữa những cái khác nhau phải tìm ra điểm chung nhất đi đến tiếng nói chung. Theo đó phải cân bằng quyền lợi ích của các bên trên cơ sở tôn trọng Luật pháp quốc tế. Không thể cứ đi tìm câu trả lời một chiều rằng “Trung Quốc muốn gì ở Biển Đông” mà phải đặt câu hỏi ngược lại, Trung Quốc phải nghĩ các nước khác muốn gì ở Biển Đông?
5 đồng thuận lớn tại Hội thảo Biển Đông lần thứ 5
– Thứ nhất, chúng ta đều nhất trí rằng, hòa bình, ổn định và tự do hàng hải ở Biển Đông là lợi ích chung của tất cả các bên liên quan và của cộng đồng quốc tế nói chung. Một Biển Đông bất ổn không những sẽ gây khó khăn cho tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, làm ảnh hưởng tới quan hệ ASEAN-Trung Quốc mà còn làm phức tạp thêm quan hệ giữa các nước lớn, là điều mà không nước nào mong muốn, dù là nước nhỏ hay nước lớn. Chính vì vậy, tất cả các bên liên quan có lợi ích chung trong việc kiểm soát và làm giảm nhiệt tranh chấp ở Biển Đông.
– Thứ hai, chúng ta nhất trí rằng vấn đề Biển Đông không chỉ thuần túy là vấn đề tranh chấp chủ quyền và quyền chủ quyền, mà còn liên quan đến các vấn đề rộng lớn hơn là các chuẩn mực và nguyên tắc của quan hệ quốc tế và sự vận hành của hệ thống luật pháp quốc tế. Các nguyên tắc, chuẩn mực mà các bên áp dụng trong việc giải quyết vấn đề Biển Đông có mối liên hệ mật thiết và có tác động tới việc giải quyết tranh chấp ở các khu vực khác trên thế giới. Đây là một lý do nữa tại sao các bên liên quan đến tranh chấp Biển Đông càng phải ứng xử một cách thận trọng và có tinh thần trách nhiệm cao.
– Thứ ba, chúng ta đều mong muốn luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật Biển của LHQ là cơ sở để các bên xây dựng lòng tin, làm rõ yêu sách, phân định, thu hẹp các yêu sách vùng biển chồng lấn và thúc đẩy các biện pháp hợp tác ở Biển Đông. Tôi vui mừng nhận thấy rằng đã và đang có ngày càng nhiều nghiên cứu sâu hơn về các khía cạnh pháp lý khác nhau của Biển Đông, gia tăng sự quan tâm nghiên cứu các tập quán và án lệ trên thế giới để rút ra các bài học áp dụng vào tranh chấp Biển Đông. Đây là một xu hướng rất đáng được hoan nghênh.
– Thứ tư, chúng ta có nhận thức chung rằng, nếu các bên liên quan có thiện chí hợp tác và nghiêm túc tôn trọng các chuẩn mực, nguyên tắc hợp tác của luật pháp quốc tế thì hoàn toàn có khả năng tìm kiếm giải pháp hợp tác cho vấn đề Biển Đông. Đã có rất nhiều các mô hình hợp tác song phương và đa phương thành công ngay tại khu vực Đông Nam Á và nhiều nơi khác trên thế giới mà chúng ta có thể học tập và áp dụng cho Biển Đông.
– Thứ năm, chúng ta đều mong muốn ASEAN với vai trò là tổ chức an ninh ở khu vực, có vai trò trung tâm trong các cơ chế hợp tác an ninh khu vực sẽ đóng một vai trò to lớn hơn trong việc tạo ra môi trường thuận lợi để các bên liên quan đối thoại, xây dựng lòng tin, kiểm soát tranh chấp và tìm kiếm giải pháp cho vấn đề Biển Đông. Chúng ta tin rằng một ASEAN đoàn kết và có tiếng nói chung sẽ đóng góp tích cực cho tình hình Biển Đông, vì vậy, các bên liên quan, nhất là các nước lớn, có lợi ích chung trong việc giúp ASEAN củng cố đoàn kết và thống nhất.
(Trích phát biểu bế mạc của GS Đặng Đình Quý, Giám đốc Học viện Ngoại giao Việt Nam)
Lục Bình – Khánh Duy
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Việt Nam dần dần trở nên nồng ấm với giới quân sự Mỹ

Trang Đầu » Hoa KỳNgoại Giao

Việt Nam dần dần trở nên nồng ấm với giới quân sự Mỹ

Carl ThayerThe Diplomat, 6/11/2013

Trần Ngọc Cư dịch

Tháng trước Mỹ và Việt Nam tổ chức hai cuộc họp an ninh cấp cao quan trọng hàng năm tại Washington: Đối thoại Chính trị, An ninh, Quốc phòng lần thứ 6, và Đối thoại Chính sách Quốc phòng lần thứ 4.

Đối thoại Chính trị, An ninh, Quốc phòng Mỹ-Việt lần thứ 6 được tổ chức vào ngày 1 tháng Mười ở cấp thứ trưởng. Phía Mỹ có Quyền Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao về các Vấn đề Chính trị – Quân sự Tom Kelly đại diện, và phía Việt Nam có Thứ trưởng Ngoại giao Hà Kim Ngọc đại diện.

Cuộc đối thoại này có một nghị trình rộng lớn bàn đến một loạt vấn đề chính trị, an ninh, quốc phòng đáng quan tâm. Việc này được phản ánh trong thành phần các đại diện tham dự.

Phái đoàn Mỹ gồm các đại diện từ Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Cơ quan Phát triển Quốc tế và Bộ Chỉ huy Mỹ ở Thái Bình Dương. Phái đoàn Việt Nam gồm có các đại diện từ Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng.

Nghị trình cuộc Đối thoại Chính trị, An ninh, Quốc phòng Mỹ – Việt lần thứ 6 gồm chống khủng bố, chống ma túy, chống buôn người, an ninh mạng, an ninh quốc phòng, phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu hộ, các vấn đề di sản chiến tranh và hợp tác trong các tổ chức khu vực như ASEAN, Diễn đàn Khu vực ASEAN và Thượng đỉnh Đông Á.

Cuộc Đối thoại Chính sách Quốc phòng Mỹ – Việt lần thứ 4 cũng được tổ chức ở cấp thứ trưởng và có sự tham dự của quan chức từ Bộ Quốc phòng của hai nước. Cuộc đối thoại thứ tư này được tổ chức tại Washington ngày 28-29 tháng Mười. Phía Mỹ có Phó Trợ lý Bộ Quốc phòng về Nam Á và Đông Nam Á Vikram Singh đại diện, và phía Việt Nam có Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh đại diện.

Cả hai cuộc đối thoại được tổ chức trong khuôn khổ của Bản ghi nhớ về Thúc đẩy Hợp tác Quan hệ Quốc phòng Song phương được ký kết ngày 19 tháng Chín 2011 và Tuyên bố chung Mỹ-Việt ngày 25 tháng Bảy 2013.

Bản ghi nhớ 2011 đặt ra năm lĩnh vực ưu tiên về hợp tác quốc phòng song phương: đối thoại thường xuyên ở cấp cao giữa Bộ Quốc phòng hai nước, an ninh trên biển, tìm kiếm cứu hộ, giúp đỡ nhân đạo, cứu trợ thiên tai và gìn giữ hòa bình. Bản Ghi nhớ, trên thực tế, chỉ là một lối mã hóa [codification] cho những hoạt động đã được thực hiện. Bản Ghi nhớ cũng là một biện pháp minh bạch được thiết kế để làm giảm bớt – được chừng nào hay chừng nấy – những lo ngại của Bắc Kinh về câu kết quân sự Mỹ – Việt chống Trung Quốc.

Những đối thoại quốc phòng Mỹ – Việt này được tiến hành dưới bóng những di sản của thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Việt Nam sử dụng những dịp này để công bố tiến độ tìm kiếm các nhân viên quân sự Mỹ mất tích trong chiến cuộc (MIA). Chẳng hạn, trong chuyến viếng thăm Hà Nội tháng Sáu 2012 của Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta, Việt Nam công bố sẽ mở ra ba địa điểm mới cho việc tìm kiếm MIA của Mỹ. Tuyên bố này được được ra một ngày trước khi khai mạc cuộc Đối thoại Chính trị, An ninh, Quốc phòng lần thứ 5. Tại cuộc Đối thoại Chính sách Quốc phòng lần thứ 2 vào tháng Chín 2011, Việt Nam trao sáu hồ sơ liên quan các cuộc tìm kiếm MIA của Mỹ.

Washington sử dụng các dịp đối thoại quốc phòng để tái khẳng định việc tiếp tục cam kết khai quật bom mìn chưa nổ và tẩy sạch hậu quả Chất độc Da cam. Tại cuộc Đối thoại Chính sách Quốc phòng lần thứ 2, chẳng hạn, Mỹ tuyên bố sẽ tiếp tục giúp đỡ Việt Nam khắc phục “hậu quả chiến tranh”, một mỹ từ để gọi các bom mìn chưa nổ và chất độc dioxin.

Hợp tác quốc phòng Mỹ – Việt theo Bản ghi nhớ 2011 đã tiến hành ở một nhịp độ thận trọng và tuần tự. Ngay trước khi hai bên ký kết Bản ghi nhớ này, chiếc tàu của Bộ Chỉ huy Hải vận Quân sự Mỹ đầu tiên đã được sửa chữa nhẹ tại Vịnh Cam Ranh. Sau khi Bản Ghi nhớ được ký kết, bốn tàu khác của Bộ Chỉ huy Hải vận Quân sự Mỹ được sửa chữa tại đó. Mỗi lượt sửa chữa được đánh giá dưới nửa triệu USD.

Tháng Mười 2011, Giám đốc Học viện Quốc phòng Việt Nam đã đến nói chuyện với ban giảng huấn và sinh viên tại Đại học Quốc phòng Mỹ. Lần đầu tiên, Việt Nam đã gửi đến Trường Chiến tranh Quốc gia Hoa Kỳ và Trường Tham mưu Hải quân Hoa Kỳ, mỗi nơi một nghiên cứu sinh.

Từ tháng Sáu đến tháng Tám 2012, Việt Nam gửi quan sát viên đầu tiên đến cuộc Diễn tập Vùng ven Thái Bình Dương (RIMPAC). Tháng Bảy 2012, Mỹ tiếp đón Ban Chỉ đạo 504 của Việt Nam có nhiệm vụ khắc phục hậu quả bom mìn chưa nổ sau chiến tranh. Tháng Mười Hai cùng năm, tàu sân bay George Washington của Mỹ đã tiếp đón một phái đoàn quan chức Việt Nam bay ra hải phận quốc tế ngoài khơi duyên hải đông Việt Nam.

Năm 2012, Việt Nam tiếp đón một số quan chức quân sự Mỹ cao cấp, gồm Tư lệnh Hạm đội Bảy (tháng Giêng); Bộ trưởng Quốc phòng Panetta (tháng Sáu); Tư lệnh Hạm đội Bảy (tháng Bảy); và một phái đoàn của Đại học Quốc phòng Mỹ (tháng Mười). Tháng Tư, Việt Nam đăng cai tổ chức sinh hoạt trao đổi giữ hai hải quân lần thứ 3 tại cảng Đà Nẵng gồm huấn luyện cứu nạn và phòng chống thiên tai nhưng không có thao diễn bắn đạn thật hay trao đổi kỹ năng chiến đấu.

Năm 2013 Việt Nam đăng cai tổ chức cuộc Đối thoại Chính sách Quốc phòng lần thứ 3 vào tháng Giêng và cuộc sinh hoạt trao đổi hải quân phi-tác chiến lần thứ tư tại Đà Nẵng vào tháng Tư tiếp đó.

Trong một phát triển có ý nghĩa, tháng Sáu vừa qua Chủ tịch Tham mưu Liên quân Hoa Kỳ tiếp đón cuộc thăm viếng đầu tiên của Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (và Thứ trưởng Quốc phòng), Tướng Đỗ Bá Tỵ. Phái đoàn Tướng Tỵ gồm có Tư lệnh Không quân Việt Nam và các Phó Tư lệnh Hải quân và Tổng cục Tình báo. Chuyến đi của ông bao gồm một cuộc thăm viếng Căn cứ Hỗn hợp Lewis-McChord ở bang Washington, việc này gợi ý về những hoạt động hỗn hợp có thể diễn ra trong tương lai.

Cao điểm của quan hệ song phương Mỹ-Việt được thể hiện vào tháng Bảy 2013, khi Tổng thống Mỹ Barack Obama tiếp đón người đồng nhiệm, Chủ tịch nước Trương tấn Sang, tại Nhà trắng. Hai vị quốc trưởng đã đồng ý mở ra một “thời kỳ mới cho quan hệ song phương” bằng cách thiết lập một Quan hệ Đối tác Toàn diện Mỹ-Việt [a U.S.-Vietnam Comprehensive Partnership].

Bản Tuyên bố chung được hai nhà lãnh đạo đưa ra gồm chín điểm. Điểm sáu đề cập đến các vấn đề di sản chiến tranh và điểm bảy bàn về hợp tác an ninh quốc phòng. Không có nỗ lực quan trọng nào được công bố trong việc theo dõi tính cách diễn biến của các quan hệ quốc phòng song phương.

Cả hai nhà lãnh đạo bày tỏ sự hài lòng về việc thực thi Bản Ghi nhớ 2011 và tái khẳng định sự cam kết thực thi đầy đủ bản ghi nhớ này. Cả hai đồng ý tiếp tục cuộc Đối thoại Chính trị, An ninh Quốc phòng và cuộc Đối thoại Chính sách Quốc phòng.

Về hợp tác tương lai, hai nhà lãnh đạo quyết định nới rộng hợp tác nhằm nâng cao các khả năng tìm kiếm cứu hộ và phòng chống thiên tai của Việt Nam, đồng thời thiết lập quan hệ hợp tác trong vấn đề an ninh phi truyền thống [non-traditionary security]. Bản Tuyên bố chung nêu rõ chống khủng bố, thi hành luật biển, chống tội phạm xuyên quốc gia (hải tặc, tội phạm công nghệ cao, ma túy, buôn lậu người và động vật hoang dã) và an ninh mạng. Tổng thống Obama đề nghị giúp đỡ và hậu thuẫn việc Việt Nam lần đầu tiên tham gia hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên Hợp Quốc.

Nghị trình của cuộc Đối thoại Chính sách Quốc phòng Mỹ-Việt lần thứ 4 gồm các vấn đề an ninh khu vực và quốc tế, an ninh trên biển, các vấn đề di sản chiến tranh (gồm cả thông tin về MIA Việt Nam), hợp tác trong các diễn đàn đa phương như Hội nghị các Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN+, việc Mỹ hỗ trợ Việt Nam tham gia lần đầu trong lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc, và kế hoạch hợp tác cho năm 2014.

Tướng Vịnh trao cho phía Mỹ bốn hồ sơ về những địa điểm tìm kiếm MIA mới. [Phó Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ] Singh cam kết gia tăng hậu thuẫn cho việc tẩy sạch Chất Da cam và tháo gỡ bom mìn chưa nổ.

Có gì mới mẻ chăng? Đó là, hai bên đã đồng ý đẩy mạnh hợp tác giữa hải quân hai nước và giữa các học viện cũng như các cơ sở quốc phòng hai nước. Một Bản Ghi nhớ được ký kết về sự hợp tác giữa Lực lượng Tuần duyên Mỹ và Tuần duyên Việt Nam (trước đây là Cảnh sát Biển).

Diễn biến tuần tự trong các đối thoại chính trị, an ninh và quốc phòng Mỹ-Việt phản ánh đường lối thận trọng của Việt Nam trong việc duy trì sự quân bình trong quan hệ của mình đối với Trung Quốc và đối với Mỹ. Ví dụ, cho đến nay Việt Nam vẫn chưa tham gia các cuộc diễn tập quân sự với Mỹ.

Việt Nam chỉ cho phép Hải quân Mỹ được ghé cảng của mình mỗi năm một lần và tiếp tục cấm tàu chiến Mỹ vào Vịnh Cam Ranh. Việt Nam cũng chưa chấp thuận một yêu cầu được Bộ trưởng Panetta đưa ra vào tháng Sáu 2012 về việc thiết lập một Văn phòng Hợp tác Quốc phòng tại Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội.

Việt Nam còn bất bình về điều mà nước này cho là một cam kết không thỏa đáng đối với việc thanh toán các di sản chiến tranh. Trong một cuộc phỏng vấn tiếp theo sau cuộc Đối thoại Chính sách Quốc phòng lần thứ 4, Tướng Vịnh nói, “một quan hệ quốc phòng tốt đẹp hơn cần phải dựa trên hiệu năng của việc hợp tác trên thực tế, gồm việc khắc phục hậu quả chiến tranh… Nói chung, Mỹ đã đề nghị hợp tác tích cực với Việt Nam trong vấn đề này, nhưng như thế vẫn chưa đủ vì các hậu quả chiến tranh là khủng khiếp”. Tướng Vịnh cũng nhận xét rằng theo quan niệm của ông “chúng ta phải xây dựng niềm tin chiến lược giữa các lãnh đạo hàng đầu của hai nước…”.

Phát biểu này có thể nhắc đến việc Mỹ vẫn tiếp tục những hạn chế đối với việc bán vũ khí cho Việt Nam bất chấp những yêu cầu trực tiếp do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh đưa ra với Bộ trưởng Panetta vào tháng Sáu 2012.

Theo các Điều lệ Buôn bán Vũ khí Quốc tế [của Hoa Kỳ], Mỹ chỉ có thể bán cho Việt Nam một số hạng mục và dịch vụ quốc phòng không sát thương nhất định trên cơ sở xét theo từng trường hợp một. Việc bán các vũ khí sát thương và một số hạng mục không sát thương như ống nhòm ban đêm vẫn còn bị cấm.

Gần đây Việt Nam đã chủ động giải quyết vấn đề niềm tin chiến lược. Vào cuối tháng Tám, bên lề cuộc họp các Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN+, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam mời Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel đến thăm Việt Nam năm 2014. Hagel đã chấp nhận lời mời.

Theo một thoả ước đạt được vào năm 2003, Việt Nam và Mỹ đồng ý để các bộ trưởng quốc phòng hai nước thay phiên nhau thăm viếng cứ ba năm một lần. Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam đã đến thăm Washington năm 2006 và 2009. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đã đến thăm Hà Nội năm 2006 và 2012. Chuyến viếng thăm sắp tới của Hagel có thể báo hiệu chấm dứt chu kỳ ba năm một lần và bắt đầu mở ra các cuộc tiếp xúc thường xuyên hơn giữa Bộ trưởng Quốc phòng hai nước.

 

C. T.

Dịch giả gửi trực tiếp cho BVN

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.