Daily Archives: November 23, 2013

Mai Thi Dung may not have a chance to return home

Mai Thi Dung may not have a chance to return home

Nguyễn Bắc Truyển  Translated by Như Ngọc (Danlambao) – “Probably Dung does not have a chance to return home,” said Buu, the husband of the prisoner of conscience Mai Thi Dung imprisoned in Thanh Xuan Prison in Hanoi. Sentenced to 11 years in prison, Dung has spent 8 years in prison while carried gallstones in the last 7 years. Her health has been deteriorating so badly that she may not survive the remaining 3 years of imprisonment.
She was transferred to Thanh Xuan prison earlier in October 2013 from Xuan Loc prison, Dong Nai province. Her family made effort to visit her once in the new prison and the second visit is beyond their imagination. Beside financial problems, Buu has to travel more than 2,000 km to visit his wife; therefore, he told me over the phone in depression, “Probably Dung does not have a chance to return home.” Buu said her health was very bad in Xuan Loc prison, and it is getting worse. Her skin is turning dark, her body is swelling, and her voice is so weak.
During the first visit, Thanh Xuan prison officer promised Buu to provide his wife treatment and asked him to convince her not to go on hunger strike. But a promise is just a promise. On Nov. 07, 2013, the Vietnamese communist authorities joined the International Convention Against Torture treaty. On Nov. 12, 2013, Vietnam was elected to serve on the UN Human Rights Council board. And today, Nov. 20, 2013, the communist regime continues to torture a female prisoner of conscience who is suffering serious illnesses in a critical condition. Evil still wins goodness.
Categories: Tin Trong Nước | Leave a comment

Kế hoạch tiêu hủy vũ khí hóa học Syria trên biển: Hiểm họa từ bãi thải vũ khí dưới biển Baltic

BienDong.Net

Kế hoạch tiêu hủy vũ khí hóa học Syria trên biển: Hiểm họa từ bãi thải vũ khí dưới biển Baltic

EmailInPDF.

BienDong.Net: Sau khi Albania từ chối đề nghị của Mỹ cho sử dụng lãnh thổ của mình làm nơi tiêu hủy vũ khí hóa học Syria, ngày 20.11 các nhà ngoại giao phương Tây và quan chức của Tổ chức Cấm vũ khí hóa học (OPCW) tại The Hague cho biết OPCW đang nghiên cứu việc tiêu hủy số vũ khí này trên biển, trên một con tàu hoặc giàn khoan ngoài khơi.

“Điều duy nhất được biết đến vào thời điểm hiện tại là vấn đề này khả thi về mặt kỹ thuật” – các quan chức OPCW tuyên bố như vậy với hãng tin Reuters.

 alt

Đại dương không thể là bãi rác thải vũ khí hóa học

Theo Ralf Trapp, chuyên gia về giải trừ vũ khí hóa học, việc xây dựng một cơ sở tiêu hủy trên một giàn khoan nổi ngoài khơi có thể không khác nhiều so với trên các đảo san hô Thái Bình Dương, nơi Mỹ tiêu hủy phần lớn kho vũ khí hóa học của họ trong những năm 1990. Tuy nhiên, theo ông Trapp, việc xử lí kho vũ khí hóa học của Syria phức tạp hơn nhiều so với các quả bom hóa học từ thời Thế chiến 2 mà Nhật Bản tìm thấy dưới đáy biển, sau đó đưa lên phá hủy tại khu vực gần cảng Kanda từ năm 2004 đến 2006.

Cuối tuần trước, do áp lực phản đối của người dân, Chính phủ Albania đã từ chối đề nghị của Mỹ để tiêu hủy vũ khí hóa học của Syria. Chính phủ Na Uy cũng từ chối yêu cầu của Mỹ với lý do “không có chuyên gia và cơ sở” để làm việc này.

Việc tiêu hủy các vũ khí trong vùng biển quốc tế sẽ không cần đến sự chấp thuận của bất kỳ quốc gia nào, tuy nhiên nó có thể vấp phải sự phản đối từ các nhà hoạt động môi trường.

Những quả bom nổ chậm dưới đáy biển Baltic

alt

Sau gần 70 năm nằm yên dưới đáy biển, những thùng chứa vũ khí hóa học đang ngày ngày bị bào mòn, làm tăng nguy cơ rò rỉ các chất độc chết người

Kế hoạch tiêu hủy các vũ khí hóa học của Syria, khiến người ta liên tưởng tới sự kiện hàng trăm ngàn tấn bom đạn và vũ khí hóa học bị chôn vùi dưới đáy biển Baltic sau thế chiến 2 và nay đang trở thành những mối đe dọa tiềm tàng đối với cuộc sống của người dân và môi trường biển.

Theo báo chí Ba Lan, quyết định loại bỏ toàn bộ 267.500 tấn vũ khí hóa học tịch thu trong Thế chiến 2 được đưa ra tại Hội nghị Potsdam năm 1945. Cách thức nhanh gọn và rẻ nhất để làm việc này là đổ nó xuống biển Baltic, chủ yếu là vịnh Bornholm có độ sâu 100 m và vịnh Gotland có độ sâu 459 m. Rốt cục là người Nga đổ khoảng 40.000 tấn hơi cay, khí mù tạt, phosgene, tabun, muối xyanua và a xít prussic xuống vùng biển rộng khoảng 2.800 km2 quanh đảo Bornholm. Năm 1945, người Anh đổ 69.000 tấn đạn pháo và 5.000 tấn bom xuống eo biển Little Belt. Một năm sau, người Mỹ đánh chìm 42 tàu chứa 130.000 tấn vũ khí hóa học của Đức tại các eo biển Đan Mạch. Đầu thập niên 1950, Liên Xô và Đông Đức đổ 6.000 tấn vũ khí hóa học xuống vùng biển ngoài khơi nước Đức.

Công luận lưu ý rằng tất cả những con số đó mới chỉ là ước tính, và sự thật có thể nghiêm trọng hơn, bởi hiện nay, Nga mới giải mật một phần các tài liệu về kế hoạch vứt bỏ vũ khí hóa học của nước này. Những tài liệu tương tự ở Anh và Mỹ được coi là mật trong vòng 50 năm, nhưng đến năm 1997, thời hạn được kéo dài thêm 20 năm, nữa tức đến năm 2017 mới có thể được giải mật.

Thực tế, sau gần 70 năm nằm yên dưới đáy biển, những thùng chứa vũ khí hóa học đang dần bị bào mòn. Cách đây hơn 10 năm, nhà khoa học Nga Aleksander Korotenko dự báo rằng từ năm 2020 đến năm 2060, các thùng chứa hóa chất sẽ bị bào mòn nhanh hơn và chất độc sẽ rò rỉ ra nước biển nhiều hơn.

alt

Đường ống dẫn khí Nord Stream chạy qua biển Baltic

Các nhà khoa học Châu Âu cảnh báo khí mù tạt, chiếm 80% lượng hóa chất bị vứt xuống biển, có thể gây ra mối đe dọa đối với các loài cá và sinh vật biển khác tại Baltic. Bằng chứng là từ giữa thập niên 1990, tỷ lệ mắc ung thư phổi và ung thư da ở các ngư dân Thụy Điển đánh bắt giữa các đảo Bornholm và Gotland ngoài khơi bờ biển phía nam nước này tăng mạnh. Họ bị các triệu chứng điển hình do phơi nhiễm khí mù tạt. Trong khi đó, theo kết luận của Viện Hải dương học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Ba Lan, cá sống ở khu vực có vũ khí hóa học mắc bệnh nhiều hơn cá sống ở các khu vực khác của biển Baltic và có nhiều khiếm khuyết về gien.

Và rủi ro không chỉ đến từ các vũ khí hóa học. Theo số liệu do Đan Mạch công bố, trung bình mỗi năm nước này có 20 người bị thương do “rác đạn” trên biển. Năm 2005, một quả mìn nổ giết chết 3 ngư dân Hà Lan trên chiếc tàu đánh cá của họ.

Jacek Beldowski Jacek Beldowski, chuyên gia Viện Hải dương học của thành phố biển Sopot của Ba Lan, đồng thời là điều phối viên Dự án Nghiên cứu và xử lý vũ khí hóa học (gọi tắt là Chemsea – một dự án liên quốc gia có sự tham gia của 11 viện nghiên cứu từ Ba Lan, Thụy Điển, Phần Lan, Lithuania và Đức) cho biết: “Có lẽ không phải toàn bộ số vũ khí hóa học sẽ đồng loạt tuôn chảy ra môi trường. Nhưng, một điều chắc chắn là những năm sắp tới sẽ xuất hiện một dạng ô nhiễm hoàn toàn mới ở vùng Baltic”.

Một nguy cơ lớn khác mà các bãi thải vũ khí đặt ra là các công trình dưới đáy biển, kể cả các hệ thống đường ống dẫn dầu khí và đường cáp quang qua biển Baltic, điển hình là những tranh cãi nổi lên khi khởi động dự án xây dựng đường ống dẫn khí đốt Nord Stream chạy qua biển Baltic nối từ Nga sang Đức cách đây vài năm.

Vùng biển Baltic rộng khoảng 422.000 km2 với độ sâu trung bình là 56 m, nằm ở Bắc Âu, giáp với Thụy Điển, Phần Lan, Nga, Estonia, Latvia, Lithuania, Ba Lan, Đức và Đan Mạch.

BDN (tổng hợp theo TN và CAND)

Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

Cựu binh Liên Xô “hé lộ” cuộc chiến đấu ở Việt Nam

 

Ngày đăng : 06:00 03/08/2013 (GMT+7)

facebook twitter google plus zing me - + print friendly

Cựu binh Liên Xô “hé lộ” cuộc chiến đấu ở Việt Nam

(Kienthuc.net.vn) – Cựu chiến binh Liên Xô từng có thời gian phục vụ ở Việt Nam đã tiết lộ nhiều thông tin về cuộc chiến bảo vệ bầu trời miền Bắc Việt Nam trước máy bay Mỹ.
Đài Tiếng nói nước Nga đã có cuộc phỏng vấn được một trong những người đã từng bảo vệ bầu trời Việt Nam chống lại cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam của Đế quốc Mỹ giai đoạn 1960-1970. Đó là ông Nikolai Kolesnik – Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Nga từng công tác tại Việt Nam. Ông Nikolai tới Việt Nam từ năm 1965, khi đó ông là hạ sĩ quan phụ trách chuẩn bị bệ phóng và đạn tên lửa của tổ hợp tên lửa phòng không Dvina.
– Thưa ông, có những ý kiến cho rằng các loại vũ khí khí tài được đưa từ Liên Xô sang Việt Nam là loại đã lạc hậu?
Theo tôi, vào thời điểm bấy giờ thì đó là những trang bị hiện đại nhất. Ví dụ như tiêm kích phản lực MiG-21, chính trên những máy bay này các phi công Việt Nam đã bắn rơi cả “thần sấm” F-105 hay “pháo đài bay” B-52. Trong những năm chiến tranh, lực lượng không quân tiêm kích của Không quân Nhân dân Việt Nam đã tiêu diệt 350 máy bay của Không quân, Hải quân Mỹ.
 Trong những năm chiến tranh, Không quân Nhân dân Việt Nam bắn rơi 350 máy bay Mỹ.
Về phần Không quân Nhân dân Việt nam bị tổn thất ít hơn nhiều, chỉ mất 145 máy bay. Tên tuổi các phi công “át chủ bài” bắn rơi đến 7, 8, 9 máy bay Mỹ đã đi vào lịch sử của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong khi đó phi công thành công hơn cả của Mỹ chỉ giành được 6 trận không chiến thắng lợi.
Các tổ hợp tên lửa phòng không Liên Xô S-75 Dvina (NATO định danh là SA-2) được đưa sang Việt Nam trong những năm chiến tranh có thể tiêu diệt mục tiêu thậm chí ở độ cao 25km.
Tạp chí kỹ thuật quân sự của Mỹ những năm đó ghi nhận rằng: “Cho đến nay đây là những quả đạn chết người nhất được bắn lên từ mặt đất nhằm vào máy bay”.
Bộ đội tên lửa phòng không của Việt Nam (dùng S-75 Dvina) do các chuyên gia Liên Xô huấn luyện đã bắn rơi gần 1.300 máy bay Mỹ, trong đó có 54 máy bay ném bom chiến lược B-52, mỗi chiếc như vậy chở 25 tấn bom, và có khả năng tiêu diệt sự sống và mọi công trình trên diện tích bằng ba mươi sân bóng đá.
 “Rồng lửa” Dvina giúp bộ đội Việt Nam bắn rơi nhiều máy bay Mỹ.
Sau những chiến thắng đầu tiên của lực lượng tên lửa ở Việt Nam, quân Mỹ buộc phải giảm mạnh độ cao để tránh tên lửa, nhưng lại rơi vào lưới lửa của pháo phòng không.
Ngoài ra, khi tên lửa Liên Xô xuất hiện các phi công quân sự Mỹ đã bắt đầu từ chối bay ném bom lãnh thổ Bắc Việt Nam. Bộ chỉ huy của họ đã phải đưa ra những biện pháp khẩn cấp, kể cả tăng tiền trả cho mỗi chuyến bay chiến đấu, thường xuyên thay đổi thành phần đội bay của các tàu sân bay.
Thời gian đầu các trận đánh của tên lửa do các sĩ quan Liên Xô thực hiện, các bạn Việt Nam học tập kinh nghiệm của chúng tôi. Lần đầu tiên tên lửa Liên Xô xuất kích trên bầu trời Việt Nam vào ngày 24/7/1965. Khi đó, một tốp 4 chiếc F-4 Phantom của Mỹ bay về phía Hà Nội ở độ cao pháo cao xạ không bắn tới. Các tên lửa của chúng tôi đã được phóng về phía chúng và 3 trong 4 chiếc đã bị bắn rơi. Ở Việt Nam ngày chiến thắng này hàng năm được kỷ niệm như ngày truyền thống của bộ đội tên lửa.
– Ông nhớ trận thử lửa đầu tiên của mình chứ? Khi đó ai giành chiến thắng?
Ngày 11/8/1965, chúng tôi đã 18 lần chiếm lĩnh trận địa theo báo động chiến đấu, nhưng tất cả đều không có kết quả. Và, cuối cùng, đến khuya chúng tôi đã dùng 3 quả tên lửa bắn rơi 4 máy bay địch. Tổng cộng các tiểu đoàn của các trung đoàn phòng không thứ nhất và thứ 3 trong các trận đánh mà tôi có tham gia đã bắn rơi 15 máy bay địch.
Trinh sát cơ RF-4C của Không quân Mỹ trúng đạn tên lửa Dvina trên bầu trời miền Bắc Việt Nam ngày 12/8/1967.
– Chắc là Không quân Mỹ đã săn lùng các kíp chiến đấu của các ông?
Vâng đúng vậy. Sau mỗi trận đánh chúng tôi phải di chuyển trận địa. Không thể khác được, ngay lập tức quân Mỹ sẽ bắn tên lửa và ném bom vào các trận địa đã phát hiện được. Người Mỹ cố gắng tìm mọi cách ngăn cản sử dụng trang bị của chúng ta, chúng dùng thủ đoạn nhiễu, tên lửa chống radar Shrike. Các nhà thiết kế quân sự của chúng ta cũng đáp trả và hoàn thiện vũ khí trang bị tên lửa phòng không.
– Ông đã tự mình nhìn thấy phi công Mỹ bị bắt làm tù binh chưa?
Chính tôi chưa lần nào nhìn thấy. Hơn nữa sự có mặt của chúng tôi ở Việt Nam đã không được công khai. Suốt thời gian ở Việt Nam chúng tôi chỉ mặc thường phục, không có vũ khí cá nhân và thậm chí không có bất kỳ giấy tờ nào. Giấy từ được cất giữ ở Đại sứ quán Liên Xô.
– Vậy ông đã được giải thích ra sao là sẽ bay sang Việt Nam và ông đã nói gì với gia đình ở nhà?
Tôi phục vụ ở trung đoàn phòng không gần Moscow. Trung đoàn trưởng tuyên bố là có đề nghị với chúng tôi đi công tác đến đất nước “có khí hậu nhiệt đới nóng”. Hầu như tất cả đã đồng ý đi, còn những ai vì lí do nào đó không muốn đi thực tế đã không đi. Tôi cũng đã nói với gia đình ở nhà như vậy.
– Điều gì làm ông, một chàng trai trẻ, ngạc nhiên nhất?
Mọi điều đều làm tôi ngạc nhiên, thiên nhiên không quen thuộc, con người, khí hậu và trận bom đầu tiên phải chịu. Bởi vì ở Moscow chúng tôi được định hướng là chỉ huấn luyện và đào tạo các kíp chiến đấu Việt Nam. Nhưng thực tế, ở Việt Nam chúng tôi đã phải huấn luyện ngay trên trận địa, mà Không quân Mỹ vẫn không ngừng ném bom hàng ngày.
Người Việt Nam rất kiên cường, họ học rất nhanh. Tôi cũng đã học thuộc những khẩu lệnh và từ chuyên dùng cơ bản bằng tiếng Việt.
– Điều gì là khó khăn nhất?
Nóng và ẩm không thể chịu nổi. Ví như, sau 40 phút mặc quần áo tráng cao su chuyên dụng để nạp chất ôxy hoá cho tên lửa (thành phần nhiên liệu đạn tên lửa), chúng tôi đã giảm cân đến 1kg.
 Ông Nikolai Kolesnik nhận Huân chương Hữu nghị của Nhà nước Việt Nam trao tặng. Ảnh: VOV
– Thanh niên Việt Nam ngày nay nghĩ gì về cuộc chiến tranh này và sự tham gia của các ông trong cuộc chiến tranh đó?
Các cựu chiến binh Việt Nam của cuộc chiến tranh này luôn rất quý trọng. Chúng tôi nhớ lại những ngày gian khổ khó khăn và những chiến thắng chung của chúng tôi. Còn thế hệ trẻ thì quan tâm hỏi chúng tôi về những trận đánh và các tình tiết mà họ chưa biết của cuộc chiến tranh này.
– Hiện nhiều người ở nước ta (Nga) có ý kiến khác nhau về sự tham gia của Liên Xô vào các cuộc xung đột ngoài lãnh thổ. Đối với ông sự tham gia vào chiến tranh ở Việt Nam là gì?
Đối với tôi những trận đánh đó vẫn là những sự kiện sáng chói nhất trong cuộc sống. Tôi và các bạn chiến đấu của tôi, cả Liên Xô và cả Việt Nam đã tham gia vào các sự kiện lịch sử, đã góp phần tạo nên chiến thắng.
Tôi tự hào là đã giúp nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh vì độc lập của họ và đã tham gia vào việc xây dựng Bộ đội tên lửa phòng không Việt Nam.
“Viện trợ quân sự của Liên Xô là rất to lớn và toàn diện. Nếu nói về giá trị thì đó là khoảng 2 triệu USD/ngày trong suốt cuộc chiến tranh. Liên Xô đã đưa sang Việt Nam một số lượng lớn trang bị kỹ thuật gồm: 2.000 xe tăng; 7.000 pháo và súng cối; hơn 5.000 pháo phòng không; 158 tổ hợp tên lửa phòng không; hơn 700 máy bay chiến đấu; 120 trực thăng và hơn 100 tàu chiến”, ông Nikolai cho biết.
Để huấn luyện bộ đội Việt Nam sử dụng khí tài này chiến đấu, các chuyên gia Liên Xô đã được điều sang Việt Nam. Từ tháng 7/1965 đến cuối năm 1974 đã có gần 6.500 sĩ quan và tướng lĩnh, cũng như 4.500 chiến sĩ và hạ sĩ quan của các Lực lượng vũ trang Liên Xô tham gia vào các hoạt động chiến đấu ở Việt Nam. Ngoài ra, các trường và học viện quân sự của Liên Xô cũng bắt đầu đào tạo quân nhân Việt Nam, khoảng 10.000 người.
Nguyễn Vũ

BÀI ĐỌC NHIỀU

Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

Blog at WordPress.com.