Daily Archives: November 24, 2013

Những ngọn lửa thầm lặng thắp sáng vùng biên cương phía Bắc

BienDong.Net

Những ngọn lửa thầm lặng thắp sáng vùng biên cương phía Bắc

altBienDong.Net: Rất nhiều vùng biên giới phía Bắc nước ta là khu vực rừng núi, thưa dân, điều kiện sống vất vả. Ở đó, cùng với các lực lượng vũ trang, tham gia bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ quốc gia chính là những người dân bình thường, những người cả đời gắn bó với quê hương đất Việt.

20.11 là ngày nhà giáo Việt Nam, xúc động đọc bài viết của Mai Thanh Hải trên báo quốc nội Thanh Niên về những con người bình dị này đang ngày đêm bám trụ vùng biên ải…

Dọc biên cương phía Bắc bây giờ có rất nhiều nghĩa trang liệt sĩ, bia tưởng niệm khắc những cái tên con gái, hy sinh từ năm 1979. Rất nhiều trong những số đó là các cô giáo, đã ngã xuống trong khi đánh trả quân Trung Quốc xâm lược tấn công, xâm nhập đất đai Tổ quốc, tay vẫn còn vương phấn trắng.

 alt

Cô giáo Thúy và học sinh lớp Mầm non Tả Ló San

Thèm nghe… tiếng người

Bản Tả Ló San (Sen Thượng, Mường Nhé, Điện Biên) nằm kề đường biên, giáp giới đất Trung Quốc, chỉ vẻn vẹn 14 hộ/69 nhân khẩu người Hà Nhì với 13 đứa trẻ học mầm non, tiểu học.

Từ trung tâm xã Sen Thượng lên bản, phải vừa cuốc bộ vừa đi xe máy đúng 30 km đường xuyên qua rừng già âm u, dốc núi dốc ngược và tình hình khu vực rất phức tạp, bất thường.

Bộ đội Biên phòng Đồn 319 – Sen Thượng lên công tác tuyến này, ai cũng phải mang theo súng, đi theo đội hình, cảnh giác từ mọi tiếng động lạ…

Ấy thế mà bao năm nay, những cô giáo dạy hai điểm trường trong bản, cứ đều đặn mỗi tuần hai lần lùi lũi ra xã, vào bản, mặc trời nắng mưa, lũ lụt, đất lở, núi sập và cả những việc “phức tạp bất thường”.

Hôm rồi vào Tả Ló San, tôi đã gặp hai “người lính không đeo quân hàm” ấy. Đó là cô giáo Bùi Dung (24 tuổi, quê ở Tân Lạc, Hòa Bình), dạy 7 học sinh lớp ghép (4 học sinh lớp 2 và 3 mới học lớp 1) và Nguyễn Thị Thúy (23 tuổi, quê ở TP. Điện Biên Phủ), dạy vẻn vẹn 6 học sinh mầm non.

Hai điểm trường ở cùng bản, cách nhau chừng 300 m, nhưng hai cô ở chung trong chái nhà của lớp mầm non rộng chừng 4 m2, kê đủ một cái giường tre và khoảnh treo quần áo, kê hòm đồ, chất sách vở.

alt

Giờ ngủ trưa của học sinh Mầm non miền núi Tây Bắc

Bản Tả Ló San có 14 hộ thì 11 hộ thuộc diện đói nghèo, 3 hộ còn lại thuộc diện cận nghèo nên cảnh sống của các cô giáo, chả khác gì người dân trong bản: mái lợp tôn, vách tre, chân tường tre mủn hở trống hoác, may nhờ mấy cây cột gỗ níu lại cho nhà khỏi đổ. Giữa ban trưa, gió hun hút lùa vào, lạnh như băng.

Tò mò hỏi chuyện, cô Thúy khoe: “Mỗi tuần tụi em ra xã một lần mua gạo, thực phẩm và để nghe… tiếng người”. Tôi băn khoăn: “Đi lại nhiều làm gì cho vất vả?”. Thế nhưng, có đi cùng các cô vào bản, mới thấy cái chặng đường ra vào cuối tuần, có khi lại là động lực để những nữ giáo viên vùng xa bám giữ niềm tin vào sự lần hồi kiếm đồng lương và mong manh giữ tuổi trẻ, chờ sự đổi thay công tác sau 3 năm dằng dặc bám bản, giữ trường…

Không điện, không sóng điện thoại, không tivi, không cả sóng phát thanh nói tiếng Việt; tiếng Kinh phổ thông thì chỉ hãn hữu lắm mới gặp trong bản khi có bộ đội Biên phòng ghé qua…

Cô giáo Dung lẩn mẩn: “Sáng dậy nấu một bữa cơm, ăn cho cả ngày, dè sẻn từ giọt nước mắm, hạt mì chính bởi mưa lũ là không đi nổi. Ngày có nắng, lại lọ mọ vào rừng kiếm củi, chất ngoài hiên để dành; 3 ngày một lần, dắt nhau đi về 6 km lên đỉnh cao có sóng điện thoại, nhắn tin, gọi điện cho người thân, bạn bè…”.Vất vả là vậy, nhưng vẫn hồn nhiên và vô tư lắm lắm. Chả thế mà trước chái nhà các cô ở, vàng rực bụi hoa cúc bướm ríu rít gọi ong về, rủ rỉ chuyện suốt đêm thâu.

Cô giáo Dung bảo: “Em cắm bản ở đây gần 3 năm rồi, sắp được chuyển chỗ khác, chỉ lo Thúy mới vào”. Còn Thúy thì trầm tư: “Dù sao nhà em vẫn ở ngay Điện Biên, gần hơn nhiều nhà chị”.

Trung tá Bùi Văn Hồng, Đồn trưởng Đồn Biên phòng 319 – Sen Thượng đi cùng tôi bùi ngùi: “Nhiều hôm cuối tuần, trời sắp tối mà vẫn thấy cô giáo đi vào bản. Anh em giữ ở lại đồn nghỉ không được, lại phải cắt cử vài đồng chí đi cùng, bảo vệ cô giáo…”

Vĩ thanh

Dọc biên cương phía Bắc bây giờ có rất nhiều nghĩa trang liệt sĩ, bia tưởng niệm khắc những cái tên con gái, hy sinh từ năm 1979. Rất nhiều trong số đó là các cô giáo, đã ngã xuống trong khi đánh trả quân Trung Quốc xâm lược tấn công, xâm nhập đất đai Tổ quốc, tay vẫn còn vương phấn trắng.

Dọc biên cương bây giờ và mãi về sau, vẫn sẽ còn hàng nghìn, hàng vạn những con người trẻ tuổi, chấp nhận vất vả, vượt mọi khó khăn, gắng đi qua những thiệt thòi thường nhật để sống, cống hiến.

Sự nghiệp “gieo chữ” ở những nơi “rừng thiêng nước độc”, không lung linh huyền ảo như lời thơ câu hát xa xưa “Vách đá cheo leo chân em không mỏi. Kìa đàn chim xinh hót vang dẫn đường…” (lời bài hát “Cô giáo bản em”), nhưng đó thực sự là những ngọn lửa thầm lặng thắp sáng núi rừng Tổ quốc, kiên nhẫn đẩy lùi bóng tối đói nghèo khỏi mỗi mái nhà trong bản.

Và bản thân mỗi người trẻ “gieo chữ” khẳng định được chân lý: “Sống một lần, sao cho có ích” – điều mà không phải tất cả mọi người đều thấu hiểu, sẻ chia.

BDN

Categories: Tin Trong Nước | Leave a comment

Giấc Mơ Đã Thành Sự Thật

Chim bay 5
DSC07072
DSC07074
DSC07075
Untitled
Untitled 1
DSC07080
DSC07081
DSC07082
DSC07089
DSC07091
DSC07092
DSC07093
DSC07094
DSC07095
DSC07097
DSC07098
DSC07099
DSC07100
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

The Government of Free Vietnam Is No Republic for Old Men

The Government of Free Vietnam Is No Republic for Old Men

From Garden Grove, the organization tried to bring down its former country’s Communist regime. Instead, it gave American diplomats a giant headache

AComments (2)By CHARLES LAM Thursday, Nov 14 2013
The Government of Free Vietnam Is No Republic for Old Men

Illustration: Jared Boggess | Design: Dustin Ames

According to the Government of Free Vietnam (GFVN), the morning of May 1, 1998, began with a hike and gunfire. Hundreds of freedom fighters from Vietnam and beyond gathered at a compound near the CambodiaThailand border for a three-day conference. The GFVN members had hoped to do something they had dreamed of since the fall of Saigon.

“I answered with the truth because I have nothing to hide. I am a freedom fighter for my country, and I am ready to face any retribution, even if I will die.”

“The group had just reached the bottom of the third mountainside when an explosion was heard,” reads the GFVN’s account of the morning, published in its official handbook, printed by the thousands and distributed worldwide. “A grenade was thrown from atop a high mountaintop, hitting the lower edge of the flagpole in front of the conference location. Next, a military invasion [by Cambodian soldiers] from the Cambodian territory, who had hid atop the mountaintops [unleashed a] downpour [of] shootings with AK-47s, B-40s and additional tens of grenades. . . . Comrade Nguyen Huu Chanh was present at the scene and calmly arranged for all [GFVN members] to face the current situation without panic as death neared only inches away.”

Then, the group says, the Thai military intervened, engaging the Cambodians. Pinned between the two sides, the group fled into Thailand, where it was easily captured by the military. The account concludes, “After the lives of 84 freedom fighters were safely guaranteed, Mr. General Secretary [Chanh] returned to Bangkok in the early morning of May 2, 1998, with overseas delegates to continue the second segment of the conference as scheduled.”

Nguyen Huu Chanh: Labeled a “Terrorist” by the Vietnamese government

Riley Kern
Nguyen Huu Chanh: Labeled a “Terrorist” by the Vietnamese government
Nguyen Huu Chanh and delegates

Courtesy Special Collections and Archives, UC Irvine Libraries / Government of Free Vietnam Publicity and Organizational Materials collection (MS-SEA009)
Nguyen Huu Chanh and delegates
The fund-raising pitch to the Vietnamese community

Courtesy Special Collections and Archives, UC Irvine Libraries / Government of Free Vietnam Publicity and Organizational Materials collection (MS-SEA009)
The fund-raising pitch to the Vietnamese community

Or so the GFVN say. No independent account of the attack was ever reported, nor did the Thai, Cambodian or Vietnamese governments ever confirm the skirmish. But the attack, imagined or not, couldn’t have come at a worse time. Just three years earlier, relations between the United States and the Socialist Republic of Vietnam had finally begun to normalize. In 1994, the United States lifted its trade embargo on Vietnam; in February 1995, President Bill Clinton announced the resumption of diplomatic relations between the two countries after 20 years of severed ties. By that August, both countries had opened embassies in the other, and the U.S. had sent its first diplomatic mission to Vietnam in more than two decades.

While official relations between the two countries warmed, the relationship between Vietnamese Americans and their former fatherland remained as icy as ever. Though the Socialist Republic of Vietnam began to allow Americans—Vietnamese Americans included—back into the country in 1991, anti-communist fervor remained (and, to an extent, remains) high in the diaspora, and Clinton’s move was met with muted anger. In Little Saigon, protests were organized following the announcement, and Vietnamese American community leaders sent letters to the White House and to members of Congress concerning their disapproval, knowing full well their opinions meant little compared to possible profits.

A flurry of anti-communist organizations—with names such as the Viet Tan and theVietnamese Constitutional Monarchist League—popped up, joining others formed following the defeat of South Vietnam. The largest would become the GFVN, known in Vietnamese as Chính Phu Lâm Thoi Viet Nam Tu Do. Founded on April 30, 1995—the 20-year anniversary of the fall of Saigon—the group defined as its goal “[to] dismantle the Communist dictatorship of the Social Republic of Vietnam by a peaceful, practical and persistent approach.”

At its beginning, the GFVN counted former South Vietnamese soldiers, politicians and refugees, as well as some American Vietnam War veterans, among its members. It funded leaflet distributions, radio hijackings, and—according to the government of Vietnam—bombing and arson attacks, all in an effort to overthrow the Reds. With Chanh—who had spent time in the South Vietnamese jungles and appeared in propaganda materials as a dark-haired and fiery man dressed in equally dark suits—as its head, the GFVN became Vietnam’s bane, labeled terrorists and even that well-worn cliché: Public Enemy No. 1. While the organization’s stated goals were peaceful, its actions drew government scrutiny, ultimately leading to arrests, deportations, and FBI and Securities and Exchange Commission (SEC) investigations.

But did it deserve all this attention? The GFVN’s dispatches and writings about itself would fit well in a Graham Greene novel, with descriptions of coordinating movements and attacks from remote jungles written with militaristic flourish. Yet the group’s claims to have trained more than 100,000 supporters at KC-702, a hidden camp in the Indochina frontier, where part of the above account takes place, seem dubious at best. After all, its base of command was not somewhere deep in the Mekong Delta, but rather an office building on the fringes of Little Saigon off Brookhurst Street in Garden Grove, the city the organization always called home.

*     *     *

There was a time when Nguyen Huu Chanh would openly—and proudly—discuss bombings.

“Ask Nguyen Huu Chanh about bombs, and for a second, a smile flickers across his face,” wrote Kay Johnson for a 2001 TIME magazine article. “In fact, bombings are one of [his] favorite topics—and hobbies. . . . He readily describes the bombs his supporters threw at the Vietnamese embassies in Bangkok and Phnom Penh, and the one they claim to have planted in Hanoi‘s airport. Chanh’s favorite subject, however, is the destruction yet to come.

“The next attack will be ‘a very important target’ inside Vietnam itself,” the article continued, next quoting Chanh. “‘Our bombs use an electronic system, a new design. And I control the code.'”

The interview was so unnerving that an unnamed TIME reporter approached U.S. Charge d’Affaires Robert C. Porter Jr. in November 2001 about its content. “A TIME magazine correspondent recently informed Charge on Nov. 19 that she recently interviewed both [GFVN’s] Vo Van Duc and Nguyen Huu Chanh,” reads a diplomatic cable from the Hanoi embassy declassified in 2006. “During the course of the interviews, both men reportedly discussed the objectives and methods of their organization. She indicated that if U.S. legal authorities were interested in listening to the tape of the interviews, they should contact the legal department of the magazine. (She admitted that she wasn’t certain that access to the materials would be granted.)”

The cable concludes, “Please protect the source of this information.”

By then, the American government was trying to figure out the GFVN. Were they really as credible a terrorist threat as al-Qaeda, as the Vietnamese regime insisted, or was it really just a group of middle-aged men mixing Walter Mitty with Rambo?

The GFVN’s pedigree, at least, was legitimate. Its roots were in previous resistance groups, and its senior leadership was dominated by former South Vietnam elite. Its first “Vice Prime Minister” was Linh Quang Vien, an American- and French-educated military officer who held senior positions in multiple governments in South Vietnam before rising to the rank of lieutenant general. The Minister of Justice would be Nguyen Huy Dau, a South Vietnamese ambassador who was a law professor and served as a senior judge in the Superior Court of Saigon. Assuming the title of Prime Minister was Nguyen Khanh, a South Vietnamese general and Head of State of the Republic of Vietnam from 1964 to 1965 after a bloodless military coup that overthrew a military junta put in place by a previous coup.

Leading the troops was Nguyen Huu Chanh. A civil engineer before the Vietnam War, GFVN documents say he became a member of a resistance group located in Central Vietnam. In 1982, the leader of that group, a man named Nguyen Hoang Dan (whom the government of Vietnam identifies as Chanh himself), sent Chanh overseas to build support for the overthrow of the communist regime. Eventually, he landed in Little Saigon, using it as a jumping-off point to travel the world, rallying the diaspora and eventually turning them on to the GFVN cause.

The group positioned itself as the organization most capable of taking back Vietnam. “A peaceful approach must always be the means to settle all conflicts and disputes, including the subversion of the current Communist government,” reads the GFVN’s mission statement. “All approaches must be nonviolent to avoid unnecessary bloodshed to the nation.”

At its height, the GFVN claimed it collected more than $1 million per year in donations from Vietnamese Americans across the globe, and conferences held in Southern California always drew hundreds. But from the get-go, the GFVN ran into problems. Before the organization was even founded, Chanh had attempted to broker a deal with the Republic of Vanuatu to resettle 50,000 Vietnamese refugees stuck in camps across Southeast Asia andthe Philippines; the plan ultimately fell through because of political turmoil in the island nation. On May 5, 1997, Chanh and Gary J. Pierce, a Studio City resident who was also the president and CEO of C.S.I. Ag., signed documents establishing an agreement to endorse a $500 million issuance of “bearer bonds” by the GFVN. Investors who purchased a minimum of $10,000 worth of bonds were promised an annual return of 5.5 percent in addition to double their original investment at the end of five years. As collateral, C.S.I. Ag. put up the company’s supposed gold reserves in Chile, worth more than $20 billion by their estimates.

The bond sale was publicized on both the GFVN’s website and its publications. In a letter to the Vietnamese community explaining the arrangement, Pierce wrote, “By this action, we add our support with all free nations of the world, in support for the Government of Free Vietnam’s peaceful program to achieve Freedom, Democracy and the return of Human Rights to the nation of Vietnam.” He even appeared in a self-produced “documentary” of the GFVN, interspersed between scenes of GFVN leaders and local politicians, including a young Curt Pringle, giving speeches about the goals of the organization. In the documentary (one of the few items the group ever produced in English), Pierce spoke about plans to purchase an island in Australia that would be renamed “Saigon Island” and serve as a home for the group. He even mentioned approaching the Australian government to open a consulate and eventually a full embassy.

However, on July 14, 1998, then-California Commissioner of Corporations Dale E. Bonnerordered the GFVN to stop offering the bonds. “While the department takes no position with regard to the politics or the viability of the organization, ‘Government of Free Vietnam’ is illegally soliciting investments in California,” Bonner wrote in a statement released by the state. “Political and charitable fund-raising is perfectly proper, but not if the offerings are dressed up as investments and offered through the investment marketplace.”

By 1999, the SEC also got involved and won a suit against C.S.I. Ag., claiming the promise of Chilean gold reserves “materially undermin[ed] the safety of the investment.” An arrest warrant was issued for Pierce; in 2001, Pierce and several associates were found guilty of large-scale international investment fraud unrelated to the GFVN. He’s currently serving a 20-year federal prison sentence connected to that scheme.

*     *     *

As diplomacy grew between the United States and Vietnam, Nguyen Huu Chanh and the GFVN became a larger and larger headache for the two countries. By then, the group had already been incurring the wrath of governments.

In 1999 and 2000, GFVN members living in Thailand and Cambodia were arrested for allegedly attempting to smuggle explosives and anti-government leaflets into Vietnam, where they planned to distribute and use the items. Tried in Ho Chi Minh City—the former South Vietnamese capital of Saigon—in 2001, the individuals received sentences of up to 20 years. None of their names was publicly released, appearing only in diplomatic cables and the Congressional Record as part of a list of political prisoners submitted by our very own Representative Dana Rohrabacher (R-Huntington Beach). The trial put the Vietnamese on alert, and they began leaning on a network of spies and diplomats to try to flush out the GFVN in Vietnam and beyond.

In October 2001, tipped off by Thai police, Orange County Sheriff’s deputies arrested Vo Duc Van of Baldwin Park as he stepped off a plane at John Wayne Airport. He faced charges in the United States for using a weapon of mass destruction in a foreign country connected to an “attempted bombing” of the Vietnamese embassy in Bangkok the year before. Vo’s detention—and possible extradition to Thailand and, even worse, Vietnam—was widely publicized and kicked off protests and marches in Orange County. In 2002, hundreds marched in Santa Ana and held a two-day hunger strike, hailing Vo as a folk hero.

“We want to stand behind him. He’s a freedom fighter,” Chanh told the Los Angeles Times at the time.

The charges in the United States were dropped after Thailand requested his extradition, however. Meanwhile, Vo’s older brother, Vinh Tan Nguyen, was arrested in Manila for a similar bombing attempt on the Vietnamese embassy in the Philippines. Vietnamese authorities said the bombs failed to explode, but Vo claimed he defused them before they could because Vo didn’t want to harm innocent people.

FBI agents visited the GFVN’s offices in November 2002 twice to ask Chanh about its activities. Under the Neutrality Act, it’s illegal for U.S. citizens to support military action against foreign nations during peacetime.

“I answered with the truth because I have nothing to hide,” Chanh told the Times. “I am a freedom fighter for my country, and I am ready to face any retribution, even if I will die.

“I didn’t do anything wrong in the United States,” he continued. “The FBI does their job and asks me questions, and I do my job to fight for my country.”

Between 2001 and 2008, Chanh and the GFVN appeared more than 20 times in U.S. diplomatic cables from Vietnam obtained by the Weekly. The first mention is made in passing, but the second was much more serious.

“MFA [Ministry of Foreign Affairs] Americas Department Deputy Director Pham Van Que presented to A/DCM [Deputy Chief of Mission] on Sept. 19 a non-paper on alleged ‘terrorist’ Nguyen Huu Chanh,” reads a diplomatic cable dated Sept. 24, 2003. The note accused Chanh of being a terrorist ringleader who would travel to Laos and Cambodia to “recruit and train people to produce, use mines and bombs,” as well as “purchase grenades and explosives for terrorist activities against Vietnam.”

It explicitly mentions seven occasions between 1999 and 2001 on which the Socialist Government of Vietnam alleged Chanh ordered terrorist attacks—incidents that led to the first batch of arrests.

Nothing came of this, but the anti-GFVN overtures persisted. In a cable dated June 30, 2004, regarding a meeting between the Deputy Chief of Mission Raymond Burghardt and Bui Dinh Dinh, the director of the Ministry of Foreign Affair‘s Consular Department, Bui commented that the broader relationship between Vietnam and the United States was going “quite well,” but was still hindered by “two ‘obstacles to trust'”—one of which was Chanh.

“He [Director Dinh] also claimed that Nguyen Huu Chanh, as leader of the Free Vietnam Movement (a.k.a. Free Vietnam Alliance) worked to ‘incite terrorist acts’ in Vietnam, Thailand and the Philippines,” the cable stated. “Dinh argued that the U.S. speaks out often against terrorism, but does nothing to stop terrorists living in the U.S. from conducting terrorist acts.”

By then, Vo was a cause célèbre in the United States. Though U.S. charges were dropped, he remained in federal custody for years in Los Angeles while waiting for extradition to Thailand. When he ran out of appeals, hundreds protested again, hoping President George W. Bush or Secretary of State Condoleezza Rice would intervene. Vo Duc Van was extradited in 2006 and found guilty in 2007 for attempting to bomb the Vietnamese embassy in Thailand. He was initially sentenced to 24 years in prison, but it was reduced to 12 because of a confession. After being released early in 2011, he returned to his home in Baldwin Park.

Today, Vo is a full-time student, working toward a business law degree. He spends whatever extra time he has defending his older brother from a deportation order. “I dedicated myself to improving Vietnamese politics,” he says. “It didn’t matter what organization I was with; we just tried to contribute to our goal of improving the politics in Vietnam. In that time, the organization was a good thing.”

Vo believes the situation in Vietnam has gotten much better. “The effort of many Vietnamese Americans and Vietnamese overseas, as well as the struggles of many in the country, has improved the situation there,” he says. “We send a lot of support to people in the country, so they can feel more brave and speak out more.”

*     *     *

The first signs the American government was souring on the GFVN appear in a note dated Oct. 22, 2004. Deputy Assistant Secretary for East Asia and Pacific Affairs Marie Huhtala told a Vietnamese minister that the Department of State was working on the extradition of Vo Duc Van and had asked the FBI to look into the organization. But by 2005, nothing had happened, and the Vietnamese government grew increasingly anxious.

“This is the second request we have received from the GVN [government of Vietnam] for assistance with Nguyen Huu Chanh and the Government of Free Vietnam in Exile,” the cable, dated Jan. 3, 2005, reads. “Chanh and his group are seen as a serious threat by some in the GVN and clearly monitored closely. Embassy believes that any information we can provide to the GVN on Chanh and his group would be well-received in Hanoi.”

“Vietnam has many times presented the case of Nguyen Huu Chanh to the Americans,” reads a rough translation of the Vietnamese request. “Nguyen Huu Chanh not only has undertaken many terrorist activities against the Socialist Republic of Vietnam, but also is being sought by the international office [of] Interpol for the smuggling of arms and terrorism. The issue of Nguyen Huu Chanh and his collaborators, who are planning to organize a ‘National Convention’ and to ‘establish a Government’ on Jan. 2, 2005, on United States territory, is a provocation that cannot be accepted by Vietnam. This activity not only aims at undermining the Government of the Socialist Republic of Vietnam—an autonomous nation, having diplomatic relations with the United States—but also aims to divide the ethnic unity that Vietnam is working hard to develop. At the same time, this activity goes against the direction of growing positive relations between Vietnam and the United States.”

The request concludes, “Consequently, Vietnam proposes to the United States to take appropriate measures to prevent Nguyen Huu Chanh and his collaborators from organizing this so-called ‘National Convention’ mentioned above, as well as other activities of a hostile nature against Vietnam, and at the same time requests that the United States collaborate with Vietnam to arrest Nguyen Huu Chanh and render him to Vietnam for trial.”

By this time, the Vietnamese government had tracked Chanh for decades, listing the addresses of every place he’d stay, every house he’d live in. It took the efforts of the United States’ main ambassador in Vietnam to calm the country’s concerns about Chanh and the GFVN. In a cable dated Jan. 18, 2005, from Vietnamese Assistant Foreign Minister Nguyen Duc Hung to U.S. Ambassador to Vietnam Michael Marine, Hung said he was alarmed that the GFVN “planned to open a representative office in Washington, with an opening ceremony scheduled for Feb. 12.”

“You must prevent this,” the assistant foreign minister stressed. “If not, it will be extremely harmful to our relations. You must prosecute him for his crimes. . . . Please take action. . . . If [the opening of Chanh’s Washington office] occurs, everything we have achieved to this point will be lost.'”

Marine’s office replied less than a month later. “Responding to AFM Hung’s question about Chanh’s reported plans to open a GFVN office in Washington, D.C.—in front of which would fly the flag of the old South Vietnam—the Ambassador said that we have to keep things in perspective,” the cable read. It noted that a GFVN convention held in Anaheim that had alarmed the Vietnamese government was a “non-event,” adding that Chanh’s plans to open an office wasn’t illegal.

“It may be better to ignore Chanh than to draw attention to him,” Hung responded.

After that cable, no additional direct references to Chanh or the GFVN were made by the government of Vietnam. By this point, GFVN members were continuing their campaigns of supposed terror. In September 2005, three American citizens—Nguyen Thuong Cuc, Huynh Bich Lien and Le Van Binh—and four Vietnamese nationals were arrested in Vietnam for attempting to set up pirate-radio transmitters under the direction of Chanh and the GFVN. As with the first GFVN followers to be arrested, Cuc, Huynh and Le were charged with crimes against the state, a charge that carries a punishment of between 12 years in a prison camp and death.

However, unlike the original arrestees and Vo, Cuc, Huynh and Le received help from a source who could legitimately apply pressure to Vietnam—then-United States Senator Mel Martinez (R-Florida). The 2005 arrests came at a crucial time for U.S.-Vietnam relations, right before Vietnam joined the World Trade Organization. Before American companies could benefit from the lower tariffs, a bill granting Vietnam permanent normal trade relations needed to be passed by Congress. Before the bill could come to a vote, the senator, who counted Cuc as one of his constituents, put a hold on the bill. After the hold was in place, the Vietnamese government quickly granted a trial. After one day in court, on Nov. 10, 2006, the group was sentenced to 15 months in prison, with credit for time already served. The U.S. citizens were deported back to the United States by the end of the year.

Vu Phi Long, president of the Ho Chi Minh City People’s Court, told reporters he was aware of the diplomatic situation and had decided accordingly. “We carefully considered the case before announcing the verdict to make it suitable for the present situation,” he told theWashington Post.

They still had it in for Chanh, though. He was arrested in South Korea in 2006, more than a year after he stepped down as “Head of State” of the Government of Free Vietnam, proclaiming “he now has the confidence to leave the home base in the good hands of” others. The Vietnamese government asked the South Koreans to arrest Chanh on the charge that he was a terrorist mastermind who planned the smuggling of weapons. The move set off protests in Los Angeles and Orange counties. After three months of confinement, the South Korean Supreme Court ruled Chanh was a political dissident and allowed him to return to the United States.

“I have believed in South Korea’s judicial system, and now I am grateful to the South Korean court for its fair ruling,” Nguyen told the South Korean Yonhap News agency after his release.

Vietnamese officials were upset at the decision.

“We reiterate that [Chanh] is the leader of a ring of criminals who have conducted terrorist actions against Vietnam,” read a statement released by the Vietnamese Embassy in Washington, D.C. “We request countries concerned to cooperate with Vietnam in stopping terrorist acts committed by Chanh’s group and punishing the perpetrators.”

By then, the GFVN was already on its way to irrelevancy. In a website change between April and June 2006 (the period during which Chanh was arrested), the site was updated to include a cry for help in petitioning for Chanh’s release. All mentions of KC-702 and other militaristic rhetoric disappeared. Meanwhile, members began passing away. Nguyen Khanh died on Jan. 11, 2013, at age 85 in San Jose from complications related to kidney failure and pneumonia. Nguyen Huy Dau died on Sept. 22, 2008, at the age of 94, and Linh Quang Vien died on Jan. 17, 2013, at the age of 94.

After Chanh’s release, the website stopped updating, going dark sometime between 2009 and 2011. Currently, its URL, gfvn.org, is for sale.

*     *     *

Meeting Chanh today, he’s a far cry from the striking “freedom fighter” once hailed in the refugee community. The 65-year-old still wears dark suits, though they’re now often covered in sawdust from remodeling. He still spends most of his time in an office in Garden Grove, but now it’s as the founder and CEO of GlobalTV, a company that offers programming in Vietnamese and other languages through the Internet. His business card forgoes any mention of the Government of Free Vietnam.

The jump from revolutionary group to entertainment executive may seem a large one, but Chanh and other GlobalTV employees see it very logically. By broadcasting Vietnamese programming to overseas communities from Israel to South Korea, they’re helping to preserve and build Vietnamese culture for the day Vietnam sees free elections.

“The one thing about overseas Vietnamese communities is that they’re pro-democracy and freedom, 100 percent,” Chanh says. “The overseas communities call home, and they talk to people in Vietnam, and that’s very good for the transfer of ideas. That’s why Vietnam has opened the door.”

He continues, “Right now, the communists are just communists in name only, in the color red. Right now, they don’t care. Every day, it changes in Vietnam—the economy, the technology, religion, everything changes. It’s not 100 percent yet, but maybe 50.”

And once Vietnam is 100 percent ready for a free election, once the communist government finally goes, Chanh and his former comrades will be ready.

“After fighting in the jungles, in Vietnam, in politics, I think I made a mistake before,” he says. “I didn’t have media before. For 30 years, people have been taught Communism—Uncle Ho, all that. Now, we have to retrain them.

“One day, Vietnam will have democracy like Cambodia,” he continues. “And when that day comes, we will be ready.”

Show Pages

Related Content

13 Things Your Bartender Won't Tell You
Paid Distribution
13 Things Your Bartender Won’t Tell You
(Reader’s Digest)
Costa Mesa's Mystery Pot Shop
Costa Mesa’s Mystery Pot Shop
(OC Weekly)
Colin Oyama Wants to Fight
Colin Oyama Wants to Fight
(OC Weekly)
Oliver Stone and Professor Peter Kuznick Deliver a Message
Oliver Stone and Professor Peter Kuznick Deliver a Message
(OC Weekly)
13 Things Your Bartender Won't Tell You
Costa Mesa's Mystery Pot Shop
Colin Oyama Wants to Fight
Oliver Stone and Professor Peter Kuznick Deliver a Message
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Quyển III – Sám Giảng

Quyển III – Sám Giảng

Inbox
x
Vu Nguyen
Nov 22 (2 days ago)

to bcc: me
Kính gởi quý đồng đạo, quý đạo hữu,
Em cháu xin gởi tiếp quyển 3, mong quý vị hoan hỉ đón nhận và cho ý kiến đóng góp.  Xin chân thành cảm tạ những ý kiến đóng góp cho quyển 1 và 2.  Xin cầu chúc quý vị thân tâm thường an lạc.
Trân trọng,
Vũ Nguyễn

*******************

Quyển III

Sám Giảng

 (612 câu)

 

Ngồi trên đảnh núi liên đài,
Tu hành tầm Ðạo một mai cứu đời.
Lan-thiên một cõi xa chơi,
Non cao đảnh thượng thảnh-thơi vô cùng.

Hiu hiu gió thổi lạnh-lùng,
Phất-phơ liễu yếu lạnh-lùng tòng mai.
Mùa xuân hứng cảnh lầu đài,
Lúc còn xác thịt thi tài hùng-anh.

Tứ vi mây phủ nhiễu đoanh,
Bồng-Lai một cõi hữu danh chữ đề.
Kể từ Tiên cảnh Ta về,
Non Bồng Ta ở dựa kề mấy năm.

Dạo chơi tầm bực tri-âm,
Nay vì thương chúng trần-gian phản hồi.
Nghĩ mình trong sạch đã rồi,
Ðào Tiên tạm thực về ngồi cõi xa.

Phong-trần tâm đã rời ra,
Ngọc-Thanh là hiệu ai mà dám tranh.
Ngày ra chơi chốn rừng xanh,
Tối về kinh kệ cửi canh mặc người.

Xuống trần lỡ khóc lỡ cười,
Ham vui đào mận vuông tròn chẳng xong.
Chừng nào Sấu nọ hóa Long,
Trần-gian mới rõ tấm lòng Thần-Tiên.

Thương đời Ta mượn bút nghiên,
Thở-than ít tiếng giải phiền lòng son.
Bắt đầu cha nọ lạc con,
Thân nầy thương chúng hao mòn từ đây.


Minh-Hoàng chưa ngự đài mây,
Gẫm trong thế-sự còn đầy gian-truân.
Ðò đưa cứu kẻ trầm-luân,
Ðặng chờ vận đến mới mừng chúa tôi.

Thảm-thương thế sự lắm ôi,
Dẫy-đầy thê-thảm lắm hồi mê ly.
Dạo chơi Lục-tỉnh một khi,
Rước đưa người tục tu trì xa khơi.

No chiều rồi lại đói mơi,
Dương-trần sắp vướng bịnh Trời từ đây.
Khuyên trần sớm liệu bắp khoai,
Cháo rau đở dạ tháng ngày cho qua.

Nhắn cùng bổn-đạo gần xa,
Tu hành trì chí mới là liễu mai.
Nguyện cầu qua khỏi nạn tai,
Ðặng coi Tiên-Thánh lầu đài quốc-vương.

Niệm Phật nào đợi mùi hương,
Miễn tâm thành-kính tòa-chương cũng gần.
Lao-xao bể Bắc non Tần,
Quân Phiên tham báu xa gần cũng qua.


Tranh phân cho rõ tài ba,
Cùng nhau giành-giựt mới là thây phơi.
Khổ-lao đà sắp đến nơi,
Thế-gian bớt miệng kêu mời cõi âm.

Dầu cho có ở xa-xăm,
Cũng là rán tới viếng thăm dương-trần.
Ngũ-Hành cùng các chư Thần,
Từ đây sắp đến xuống gần chúng-sanh.

Chuông kia treo sợi chỉ mành,
Chẳng lo thân phận lo giành bướm ong.
Hiếu-trung hãy liệu cho xong,
Ðến chừng gặp Chúa mới mong trở về.

Bây giờ kẻ Sở người Tề,
Hiền-lương đến Hội cũng kề với nhau.
Phật Trời chẳng luận nghèo giàu,
Ai nhiều phước đức được vào cõi Tiên.


Hữu phần thì cũng hữu duyên,
Sửa tâm hiền-đức cõi Tiên cũng gần.
Ta mang mình thịt xác trần,
Ra tay dắt chúng được gần Bồng-Lai.

Mai sau nhiều cuộc đất cày,
Ðua nhau mà chạy lầu đài cũng xa.
Lập rồi cái Hội Long-Hoa,
Ðặng coi hiền-đức được là bao nhiêu.

Gian-tà hồn xác cũng tiêu,,
Thảm-thương bá-tánh chín chiều ruột đau.
Mặc ai tranh luận thấp cao,
Thương trong lê-thứ xáo-xào từ đây.

Chinh chinh bóng xế về tây,
Ðoái nhìn trần-thế xác thây ê-hề.
Thương trần Ta cũng rán thề,
Ðặng cho bá-tánh liệu bề tu thân.

Tu hành chẳng được đức ân,
Thì Ta chẳng phải xác thân người đời.
Phật truyền Ta dạy mấy lời,
Ðặng cho trần-thế thức thời tu-thân.

Nào là luân-lý Tứ-Ân,
Phải lo đền-đáp xác thân mới còn.
Ai mà sửa đặng vuông tròn,
Long-Vân đến hội lầu son dựa kề.

Thương đời văn-vật say mê,
Làm điều gian-ác thảm-thê sau nầy.
Kể từ hầu hạ bên Thầy,
Vào ra chầu-chực đài mây cũng gần.

Tuy là nương dựa non Tần,
Ngày sau thế cuộc xoay vần về Nam.
Qua sông nhờ được cầu Lam,
Tu-hành nào đợi chùa am làm gì.

Bây giờ bạc lộn với chì,
Nữa sau lọc lại vít tì cũng chê.
Bớ dân chớ có say mê,
Trung-lương chánh-trực dựa kề đài mây.

Mảng lo gây-gổ tối ngày,
Chẳng lo rèn đúc trí tài hiền-lương.
Thân Nầy ăn tuyết nằm sương,
Chẳng than chẳng thở vì thương thế-trần.

 

Theo Thầy giảng dạy nhiều lần,
Dương-gian nào biết thế-trần nào hay.
Cầu cho dân khỏi nạn tai,
Qua nơi khổ-nảo mặc ai chê cười.


Bạc đâu dám sánh vàng mười,
U-mê mà lại chê cười Thần Tiên.
Giả từ sơn-lãnh lâm-tuyền,
Về đây hội hiệp sạ duyên tớ Thầy.

Ở rừng bạn với cáo-cầy,
Bây giờ xuống thế cáo-cầy lìa xa.
Thiên-cơ biến đổi can qua,
Gẫm trong thế giới còn đôi ba phần.

Mau mau kíp kíp chuyên cần,
Chúng sanh còn có lập thân hội nầy.
Tuần huờn Thiên-Ðịa đổi xây,
Cám thương trần-hạ lòng Ðây chẳng sờn.

Cũng còn kẻ ghét người hờn,
Vì không rõ hiểu sạ dươn của Thầy.
Hổ-lang ác-thú muôn bầy,
Lớp bay lớp chạy sau nầy đa-đoan.


Ai mà ăn ở nghinh-ngang,
Ðón đường nó bắt xé tan xác hồn.
Chữ rằng họa phước vô môn,
Ðáo đầu cũng phải xác hồn tiêu tan.

Khuyên người hữu phước giàu sang,
Mau mau làm phước làm doan cho rồi.
Ðể sau khó đứng khôn ngồi,
Thương nhà tiếc của biết hồi nào nguôi.

Ai mà ăn ở ngược xuôi,
Bị nơi rắn rít chẳng vui đâu là.
Rắn to tên gọi mãng-xà,
Trên rừng nó xuống nó tha dương-trần.

Ai mà tu tỉnh chuyên cần,
Làm đường ngay thẳng có Thần độ cho.
Thương đời hết dạ cần lo,
Chẳng lo niệm Phật nhỏ to làm gì.

Tu là: tâm trí nhu mì,
Tu hiền tu thảo vậy thì cho xong.
Tu cầu cứu vớt Tổ-Tông,
Với cho bá-tánh máu hồng bớt rơi.

Tu cầu cha mẹ thảnh-thơi,
Quốc-vương thủy-thổ chiều mơi phản hồi.
Tu đền nợ thế cho rồi,
Thì sau mới được đứng ngồi tòa sen.


Người tu phải lánh hơi men,
Ðừng ham sắc lịch lắm phen lụy mình.
Tu là sửa trọn ân tình,
Tào-khang chồng vợ bố-kình đừng phai.

Tu cầu Ðức Phật Như-Lai,
Cứu dân qua khỏi nạn tai buổi nầy.
Chữ tu chớ khá trễ chầy,
Phải trau phải sửa nghe Thầy dạy khuyên.

Ra đời xưng hiệu Khùng Ðiên,
Nào ai có rõ Thần Tiên là gì.
Tu không cần lạy cần quì,
Ngồi đâu cũng sửa vậy thì mới mau.


Trí hiền tâm đức chùi lau,
Ra công lọc kỹ thì thau ra vàng.
Vinh-hoa phú-quí chẳng màng,
Ra oai ra lực cỡi thoàn xa chơi.

Con sông dòng nước chiều mơi.
Dốc lòng trả nợ nước đời cho xong.
Chừng nào bổn-đạo hiểu thông,
Thiên-cơ đạo-lý để lòng mới thôi.

Chữ vinh chữ nhục mấy hồi,
Ðến khi thất vận làm mồi yêu tinh.
Tu rèn tâm trí cho minh,
Tánh kia thành kiếng phỉ tình chùi lau.

Hiểu rồi những việc lao-đao,
Ở cùng cô bác làm sao cho tròn.
Kính yêu nào phải hao mòn,
Ở cho phải nghĩa lòng son mới vừa.

Nghinh-ngang hỗn-ẩu phải chừa,
Bà con nội ngoại dạ thưa mới là.
Xóm diềng phải ở thật-thà,
Dầu không quen biết cũng là như quen.

Ở cho cha mẹ ngợi khen,
Gặp người lâm nạn đua chen giúp giùm.
Xác thân là cái gông cùm,
Nếu làm chẳng trọn thú hùm xé thây.

Cho rồi nhơn-nghĩa mới hay,
Lễ-nghi phong-hóa đổi thay làm gì?
Từ đây biến đổi dị-kỳ,
Dương-thế chuyện gì cũng có chuyển lay.

Rèn tâm cho được thẳng ngay,
Khỏi nơi tà quỉ một mai thấy đời.
Cũng là người ở trong trời,
Cớ sao ăn ở nhiều lời ngổn-ngang.

Hung-hăng ỷ của giàu sang,
Chẳng kiên Trời Phật mê-man ỷ tiền.
Dạy rồi cái đạo tu hiền,
Làm trai nhỏ tuổi tình duyên đang nồng.

Cũng đừng ghẹo gái có chồng,
Cũng đừng phá hoại chữ đồng gái trinh.
Ra đường chọc ghẹo gái xinh,
Nữa sau mắc phải yêu-tinh hư mình.

Xử cho vẹn chữ nghĩa tình,
Vâng lời cha mẹ mà gìn gia-cang.
Nghiêm-đường chịu lịnh cho an,
Loạn-luân cang-kỷ hổ mang tiếng đời.

Anh em đừng có đổi dời,
Phụ-phàng dưa muối xe lơi nghĩa-tình.
Tuy là trời đất rộng thinh,
Có Thần xem xét phân minh cho người.

Vô duyên chưa nói mà cười,
Chưa đi mà chạy hỡi người vô duyên.
Lớn lên phận gái cần-chuyên,
Làm ăn thì phải cho siêng mới là.

 

Phải gìn dục vọng lòng tà,
Ðừng chiều theo nó vậy mà hư thân!
Nghe lời cha mẹ cân phân,
Tam-tùng vẹn giữ lập thân buổi nầy.

Tình duyên chẳng kíp thì chầy,
Chớ đừng cải lịnh gió mây ngoại-tình.
Ði thưa về cũng phải trình,
Công, dung, ngôn, hạnh, thân mình phải trau.

Công là phải sửa làm sao,
Làm ăn các việc tầm-phào chẳng nên.
Mình là gái mới lớn lên,
Ðừng cho công việc hớ-hên mới là.

Chữ dung là phận đàn bà,
Vóc hình tươi-tắn đứng đi dịu-dàng.
Dầu cho mắc chữ nghèo nàn,
Cũng là phải sửa phải sang mới mầu.

Ngôn là lời nói mặc dầu,
Cũng cho nghiêm-chỉnh mới hầu khôn ngoan.
Ðừng dùng lời tiếng phang-ngang,
Thì cha với mẹ mới an tấm lòng.

 

Hạnh là đức tánh phải không?

Ở cùng chòm xóm đừng cho mất lòng.
Bốn điều nếu đã làm xong,
Cũng gìn chữ hiếu phục tòng song thân.

Dạy rồi những chuyện đức ân,
Phận làm cha mẹ xử phân lẽ nào.
Lỗi-lầm chớ có hùng-hào,
Ðừng chưởi đừng rủa đừng cào đừng bươi.


Ðem lời hiền đức tốt tươi,
Ðặng mà giáo-hóa vàng mười chẳng hơn.
Cũng đừng gây gổ giận-hờn,
Cho con bắt chước sạ duơn mới là.

Nam-Mô sáu chữ Di-Ðà,
Từ-bi tế-độ vậy mà chúng-sanh.
Xưa nay Sáu Chữ lạnh tanh,
Chẳng ai chịu khó niệm sành thử coi.

Trì tâm thì quá ít-oi,
Bây giờ dùng thử mà coi lẽ nào.
Rạch tim đem để Nó vào,
Thì là mới khỏi máu đào tuôn rơi.

Ðể sau đến việc tả-tơi,
Rồi tu sao kịp chiều mơi cho thành.
Ngày nay chim đã gặp cành,
Chẳng lo đậu lại cho rành gió mưa.

Tu hành nhiều kẻ chẳng ưa,
Mặc ai gièm siểm sớm trưa chẳng màng.
Gẫm trong thế-sự trần-hoàn,
Người hung người ác tà-gian cũng nhiều.

Thương đời ta mới đánh liều,
Mong người tu tỉnh ít nhiều cũng hay.
Muốn tu còn đợi chiều mai,
Khuyên người rèn sớm thì xài lâu hư.

Những người có của tiền dư,
Hãy nên bố-thí dành tư làm gì.
Sau đây nhiều chuyện ly-kỳ,
Kể sao cho xiết vậy thì dân ôi!

Tại sao chẳng cúng chè xôi,
Bởi vì tận thế Phật thôi ăn chè.
Cũng không có muốn hoa-hòe,
Lầu đài sơn phết cũng là chẳng ham.

Ai chê khờ dại cũng cam,
Chớ Tôi cũng chẳng có ham lầu đài.
Chữ tu hãy rán miệt-mài,
Ðừng kể vắn dài đừng nệ mau lâu.

Giáo khuyên khắp hết đâu đâu,
Bớt điều mị-dối mới hầu thấy Ta.
Ðừng theo lũ quỉ lũ ma,
Cúng kiếng nó mà nó phải ăn quen.

Chết rồi cũng bớt cóc ken,
Trống đờn lễ nhạc tế xen ích gì.
Ðàn nhu thầy lễ cũng kỳ,
Mắc phải chuyện gì phủ phục bình hưng?

Lại thêm đờn địch từng tưng,
Ðem con heo sống mà dưng làm gì?
Chủ gia kẻ lạy người quì,
Làm chuyện dị-kỳ giả-dối hay không?

Nếu không thì trả lời không,
Bằng mà có dối thì hòng sửa đi.
Thương đời Ta luống sầu-bi,
Học nho cứ mãi làm thi ngạo đời.

Rung đùi ngâm chuyện trên trời,
Tình-duyên cá nước vậy thời dỗ con.
Thấy đời Ta cũng héo von,
Học nho mà chẳng làm tròn nghĩa nhơn.

Khoe mình chẳng có ai hơn,
Nhờ làm thuốc bắc đở cơn túng nghèo.
Hiền nhơn chẳng chịu làm theo,
Ðợi ai có bịnh túng nghèo chẳng tha.

Hốt thời cắc bảy cắc ba,
Nó đòi năm cắc người ta hoảng hồn.
Lành bay còn ác lại tồn,
Ðến chừng lập Hội xác hồn lìa xa.

Mấy anh thầy thuốc Lang-sa,
Cũng là mổ mật người ta lấy tiền.
Xin trong anh chị đừng phiền,
Ðồng bạc đồng tiền là thứ phi ân.

Muốn sau dựa được Các-Lân,
Hãy nên trao sửa hiền nhân mới là.
Những người quê dốt thật-thà,
Cũng nên tu niệm nhờ mà thân sau.

Lập đời mới biết thấp cao,
Bây giờ chưa biết ai thau ai chì.
Ðời xưa có Ngũ-Viên-Kỳ,
Ðem tài học thuốc hiến thì cho dân.

Người xưa còn chẳng cần thân,
Miễn cho trong nước chúng dân được nhờ.
Ðể tâm yên-lặng như tờ,
Nghĩ suy lời lẽ tỏ mờ thể nao.

Luận xem thế sự thấp cao,
Khuyên dân hãy bớt làm màu hiếu nhi.

Bớt bỏ rình-rang một khi,
Nếu cha mẹ chết làm y lời nầy.

Là lời truyền-giáo của Thầy,
Bông hoa cầu Phật hiệp vầy đi chôn.
Còn mình muốn đãi làng thôn,
Thì là tùy ý đáp ngôn cho người.

Gẫm trong thế sự nực cười,
Chẳng lo cải sửa cho người tâm ngay.
Mình làm chữ hiếu mới hay,
Chớ mướn người ngoài cầu nguyện khó siêu.

Muốn cho tội lỗi mòn tiêu,
Thành tâm cầu nguyện sớm chiều mới hay.
Mục-Liên cứu mẹ bằng nay,
Nhờ người hiếu hạnh tâm rày từ-bi.

Ai ai hãy rán mà suy,
Thương đời Ta tỏ chuyện ni rõ-ràng.
Làm tuần trà rượu xình-xoàng,
Rồi thì chửi-lộn mà an nỗi gì?

Dương-trần làm chuyện dị-kỳ,
Tạo nhiều cảnh giả chơn thì chẳng theo.
Của tiền chớ có bỏ theo,
Chết rồi tế-lễ bò heo làm gì?

Nếu ai biết chữ tu trì,
Cha mẹ còn sống vậy thì cho ăn.
Không làm để ở lung-lăng,
Chưởi cha mắng mẹ lăng-xăng thiếu gì.

Ở cho biết nhượng biết tùy,
Vui lòng cha mẹ vậy thì mới ngoan.
Ðạo là vốn thiệt cái đàng,
Ta ra sức dọn cho toàn chúng sanh.

Thôi thôi bớt miệng hùng-anh,
Ở nơi cửa khẩu thiệt rành tiếng ni.
Chưng bày quân-tử làm chi,
Của đồ hổ-bịch vậy thì xưng hô.

Lũ đàng lũ điếm hồ-đồ,
Anh-hùng quân-tử xưng hô rền trời.
Gặp ai mắc nạn cười chơi,
Chớ không ra sức giúp đời điều chi.


Hổ mình là bực tu mi,
Chưa tròn bổn-phận mà ti tôn mình.
Kể từ thượng lộ đăng trình,
Vào Nam ra Bắc mặc tình bôn-phi.

Khuyên răn trần-thế một khi,
Tuồng đời sắp hạ bằng ni rõ ràng.
Dương-gian làm huyễn nói càn,
Cùng xóm cuối làng đâu cũng như đâu.


Hò reo giục trống nhiều câu,
Sai đồng khiển quỉ nói lâu nực cười.
Ta khuyên hết thảy các người,
Nhiều chuyện trò cười hãy bỏ bớt đi.

Ðừng hò đừng réo làm chi,
Nghinh-ngang kêu múa có khi hại mình.
Nghe không thì cũng mặc tình,
Nói cho rõ-rệt dân tin không là.

Quan-Âm Nam-Hải Phổ-Ðà,
Cùng Thầy ra lịnh nên ta giáo-truyền.
Thánh Thần không phải thiếu tiền,
Mà kêu mà réo xuống trần mà sai.

Nam-Mô Quan-Âm Như-Lai,
Cầu xin chư Phật cứu nay dương-trần.
Khuyên đừng chưởi Thánh mắng Thần,
Xưa nay thứ lỗi thế-trần chẳng kiên.

Lưỡng Thần ghi chép liên miên,
Nào tội nào phước dưới miền trần gian.
Tâu qua Thuợng-Ðế Ngọc-Hoàng,
Dương-trần hung-ác đa đoan quá nhiều.

Chúng-sanh ngang-ngược làm liều,
Ngọc-Hoàng Ngài muốn xử tiêu cho rồi.
Minh-Vương khó đứng khôn ngồi,
Thảm thương lê-thứ mắc hồi gian-truân.

Trước đền mắt ngọc lụy rưng,
Quí yêu bá-tánh biết chừng nào nguôi.
Làm sao cho dạ được vui,
Cúi đầu lạy Phật cầu xin cứu trần.

Lời khuyên xưa cũng một lần,
Nay mượn xác trần xuống bút ra cơ.
Khôn-ngoan nghe nói ngẩn-ngơ,
Ngu-si thì tưởng như thơ biếm đời.

Ở đâu cũng Phật cũng Trời,
Tâm thành chí nguyện xem đời khó chi.
Văn-Thù Bồ-Tát từ-bi,
Chèo tuyền Bát-Nhã cứu thì trần-gian.

Gió đưa lướt sóng buồm loan,
Rước người tu niệm xuê-xang phỉ tình.
Ai mà Ta dạy chẳng gìn,
Thì sau đừng trách mất tình yêu-đương.

Bàn-môn tài phép nào tường,
Kêu Trời giậm Ðất cũng thì dạ rân.
Nói cho trần thế liệu toan,
Chớ theo tả-đạo mà tan xác hồn.

Nó làm nhiều phép nhiều môn,
Bùa mê thuốc lú mê hồn chúng-sanh.
Thành binh sái đậu cũng rành,
Nếu tin thời mắc tan tành về sau.

Bây giờ bất luận người nào,
Không dùng của thế sắc màu cũng không.
Nói cho bổn đạo rõ lòng,
Ấy là chơn-chánh mới hòng vinh-vang.

Ðịa-Tiên tài phép đa đoan,
Phi đao bửu kiếm mê-man mắt trần.
Phật truyền thâu hết phép Thần,
Cứu an bá-tánh một lần nạn nguy.

Phiên-binh bốn phía tứ vi,
Kể sao cho xiết chuyện ni sau nầy.
Lớp thì thú ác dẫy-đầy,
Lớp thì tranh đấu tối ngày chẳng thôi.

Kẻ hung chừng đó làm mồi,
Cho bầy ác-thú đền bồi tội xưa.

Bây giờ còn mãi lọc lừa,
Chẳng lo kiếm chỗ đụt mưa sau nầy.

Hiền lành chừng đó sum vầy,
Quân-thần cộng lạc mấy ngày vui chơi.
Ðến đó Ta mới mừng cười,
Nhìn xem Ngọc-Ðế giữa Trời định phân.

Thiên-Hoàng mở cửa Các-Lân,
Ðịa-Hoàng cũng mở mấy từng ngục môn.
Mười cửa xem thấy ghê hồn,
Cho trần coi thử có mà hay không.

Nhơn-Hoàng cũng lấy lẽ công,
Cũng đồng trừng-trị kẻ lòng tà-gian.
Ấy là đến lúc xuê-xang,
Tam-Hoàng trở lại là đời Thượng-Nguơn.


Khuyên dân lòng chớ có sờn,
Rán tu thì được xem đờn trên mây.
Người hung chết đất chật thây,
Nhìn xem bắt thảm ngày rày cho dân.

Mấy người còn được xác thân,
Thì là Ðài-Ngọc Các-Lân mới kề.
Bây giờ kẻ nhún người trề,
Chê ta rằng dại rằng khờ cũng cam.

Dương-trần bỏ bớt tánh tham,
Ðừng chơi cờ-bạc đừng làm ác-gian.
Ðể sau coi Hội coi hàng,
Coi Tiên coi Phật mới ngoan bớ trần.

Ðiếm-đàng đĩ-thõa chớ gần,
Ðể sau xem thấy non Tần xôn-xao.
Tuy nghèo dùng đỡ cháu rau,
Bền lòng niệm Phật thì sau thanh nhàn.

Ðừng quen thói củ làm càn,
Trộm gà cắp vịt xóm làng ghét vơ.
Khi xưa Ta cũng làm thơ,
Mà đời trần-hạ làm ngơ ít nhìn.

Dạy cho trần-thế phỉ tình,
Ðàng Tiên cõi tục phân minh hai đường.
Bây giờ hát bộ là thường,
Ðể sau Phật hát tỏ tường cho xem.


Cải-lương tuồng ấy cũ mèm,
Tốn tiền buồn ngủ lại thèm đồ ăn.
Nhảy lui nhảy tới lăng-xăng,
Làm tuồng mèo mả thêm nhăng cho đời.

Hạ-nguơn lòng dạ đổi dời,
Bây giờ khổ não đến đời là đây.
Rán nghe lời dạy của Thầy,
Ðể chừng đến việc kiếm Thầy khó ra.

Tây-Phương Thầy lại quá xa,
Nên ta mới nói cạn lời dân nghe.
Ðừng ham lên ngựa xuống xe,
Ăn xài phí của lụa the làm gì.

Xuống trần ta dạy cố lỳ,
Cốt cho trần-thế nghe thì mới thôi.
Ngày nay xe lết xe lôi,
Ðúng lời truyền sấm của hồi đời Lê.


Là năm Rồng, Rắn, Ngựa, Dê,
Chúng-sanh thế-giới ê-hề thây phơi.
Trạng-Trình truyền sấm mấy lời,
Ngày nay dân-chúng vậy thời rán tri.

Hiền nhơn bổn phận tu mi,
Hãy mau thức tỉnh kiếm thì huyền-cơ.
Ngọn đèn khi tỏ khi mờ,
Chúng sanh còn đợi còn chờ chuyện chi.

Trên Trời xuất hiện Tử-Vi,
Quang-minh sáng suốt vậy thì dân ôi!
Thương dân khó đứng khôn ngồi,
Xót xa dạ Ngọc bồi-hồi tâm Trung.

Gió dông thì cội cây rung,
Phương xa có giặc thung-dung đặng nào?
Trời tây chúng nó hùng-hào,
Ðem lòng gây-gổ máu đào mới tuôn.

Cầu Trời cho chúng qua truông,
Thế-gian yên-lặng hát tuồng khải-ca.
Tây-Phương tuy ở cõi xa,
Thành tâm thì có Phật mà đáo lai.

Ước mong dân khỏi nạn tai,
Dắt-dìu Tiên-cảnh Bồng-Lai nhiều người.
Xem trần khó nỗi vui cười,
Lo giàu lo lợi chẳng rồi bớ dân.

Mẹ cha là kẻ trọng ân,
Dưỡng nuôi báo hiếu lúc thân yếu già.
Giường linh đơm quảy mới là,
Có chi cúng nấy vậy mà dân ôi!


Ta là thân phận làm tôi,
Phải đền phải đáp cho rồi mới hay.
Mặc ai tranh luận đấu tài,
Khuyên dân nên hãy miệt mài chữ Tu.

Giảng nầy ra cuối mùa thu,
Dạy ăn dạy ở chữ Tu vuông tròn.
Học theo mối đạo làm con,
Luận xem học mới mấy đon đời nầy.

Văn-minh sửa mặt sửa mày,
Áo quần láng mướt ngày rày ăn chơi.
Dọn xem hình vóc lả lơi,
Ra đường ăn nói những lời nguyệt-hoa.

Trong tâm nhớ những điều tà,
Lời ăn tiếng nói thiệt là quá lanh.
Xưng là đầu trẻ tuổi xanh,
Chẳng trau hiền-đức học hành làm chi?

Khôn ngoan thời những chuyện gì,
Cũng là lừa dối vậy thì dân quê.
Người xưa nó lại khinh chê,
Ông cha hủ-bại u-mê hơn mình.

Tự do trai gái kết tình,
Với lo trau sửa cho mình đẹp tươi.
Gái trai đến tuổi đôi mươi,
Chẳng kiêng cha mẹ nói cười lả-lơi.

So hình sửa sắc chiều mơi,
Ðặng làm những chuyện trái đời vô liêm.

Cớ sao chê cổ trọng kim,
Phụ cha phản chúa lỗi niềm tôi con.


Thấy đời trần-hạ thon-von,
Ai nuôi cho lớn mà còn khinh khi.
Ông cha thuở trước ngu si,
Mà ngay mà thật hơn thì đời nay.

Học hay lợi dụng tiền tài,
Lên quan xuống huyện ăn xài lả-lê.
Gặp ai đói rách cười chê,
Miệng kia hễ mở chưởi thề vang rân.

Chẳng lo rèn trí lập thân,
Ðể làm xảo trá khổ thân sau nầy.
Giáo-viên các sở các thầy,
Khuyên mau tỉnh ngộ tập rày lòng nhơn.

Giúp đời đừng đợi trả ơn,
Miễn tròn bổn phận hay hơn bạc vàng.
Ðánh liều Ta cũng nói càn,
Cứu dân bất luận giàu sang khó nghèo.


Vinh-hoa như thể bọt bèo,
Hiền-lương bất luận khó nghèo cũng xinh.
Nhắc năm Gia-Tĩnh triều Minh,
Nàng Kiều vì hiếu bán mình chuộc cha.

Tuy là lưu-lạc bôn-ba,
Ðến khi mãn hạn bạn xưa cũng nhìn.
Ghét ưa ta cũng mặc tình,
Nghiệm kim suy cổ biện minh thế nào.

Bá-gia kẻ thấp người cao,
Hiền thần hiếu nghĩa rán trau cho rồi.
Giảng nầy chỉ các điều tồi,
Khuyên dân hãy rán mà ngồi mà suy.

Thân ta, Ta chẳng tiếc chi,
Miễn cho bá-tánh nạn gì cũng qua.
Luận xem những việc sâu xa,
Chúng-sanh tưởng Phật thì là hãy coi.

Tháng ngày như thể đưa thoi,
Nguyện cầu thế-giới bớt ngòi chiến tranh.
Ngồi buồn dân gặp chiếu manh,
Ta cho bá-tánh bức tranh vô hình.

Ai ai cũng rán xét mình,
Nếu còn tánh xấu thì rinh ra ngoài.
Cạn lời mà ý còn dài,
Hiến cho trần-hạ một bài ngụ-ngôn.

Tới đây Ta giã làng thôn,
Ngọc-Thanh lui gót phi bôn Nam-Kỳ.
Hiền thần sách sử nêu ghi,
Miễu son tạc để tu-mi trung thần.

Thôi thôi cảnh khổ hầu gần,
Ta khuyên dân-chúng ân-cần nhìn xem.
Ra đời dạy-dỗ anh em,
Xem qua ít bận rán đem vào lòng.

Người tu như thể bá-tòng,
Ai ai cũng quí cũng trông cũng nhìn.
Sửa trau là phận của mình,
Xưa nay lời lẽ sử kinh rõ ràng.


Chừng nào ta gặp Hớn-Hoàng,
Chúng-sanh mới hết phàn-nàn số căn.
Mạnh-Tông xưa cũng khóc măng,
Ðất khô nẩy mụt rõ lòng hiếu-nhi.

Mặc ai nhạo-báng khinh-khi,
Phần ta niệm chữ từ-bi độ đời.
Muốn xem được Phật được Trời,
Thì là phải rán nghe lời dạy răn.

Bá-gia cùng các chư tăng,
Việc tu không đợi hương đăng làm gì.
Ðời cùng tu gấp kịp thì,
Ðặng xem báu ngọc ly-kỳ Năm-Non.

Phật thương bổn-đạo như con,
Muốn cho bổn-đạo lòng son ghi lời.
Nữa sau đến việc biết đời,
Bây giờ chưa thấy nó thời không tin.

Tới đây cũng dứt giảng kinh,
Nếu ai biết sửa tâm linh mới mầu.
Nam-mô lòng sở nguyện-cầu,
Chúc cho bá-tánh muôn sầu tiêu tan.


NAM-MÔ A-DI ÐÀ PHẬT
(tam niệm)

Cầu Phật-Tổ, Phật-Thầy, quan Thượng-Ðẳng Ðại-Thần, chư quan Cựu-Thần, chư vị Sơn-Thần, chư vị Năm Non Bảy Núi phổ-độ bá-tánh vạn dân tiêu tai tịnh sự giải-thoát mê-ly.

2 Attachments

3a- Quyển III-Sám Giảng.doc
3b- Quyển III-Sám Giảng.pdf
Sang Lephuoc
10:28 PM (12 hours ago)

to meminhquang4429TonlawrenceLactanquele1paulPhuong, Vu
1.XIN CAM ON VU NGUYEN DA CO NHIEU NO LUC TRONG PHO BIEN TAI LIEU PGHH VA BSKH.

2. RAT HOAN NGENH Y KIEN CUA VU NGUY TRONG VIEC PHOI HOP VA CHUNG SUC VOI NHAU. VOI TU CACH HOI TRUONG HDTSTU/GHPGHH, TOI DA UY NHIEM  CHO DONG DAO HUYEN TAM, TRONG VAI TRO CHANH THO KY HDTSTU KIEM TONG VU TRUONG PTGL PGHH LIEN LAC  CHAC CHE VA PHOI HOP VOI VU NGUYEN …MONG VU NGUYEN CHO BIET DIA CHI, EMAIL, VA DIEN THOAI DE TIDEN LIEN LAC VOI NHAU. CELL CUA TOI LA 832 3979813,LEPHUOCSANG.PGHH@GMAIL.COM, DIA CHI HOI QUAN HDTSTU/GHPGHH LA 12432EUCLID ST, GARDEN GROVE, CSA 92840. DIEN THOAI CUA HUYEN TAM LA 7147205271HUYENTAMHH@GMAIL.COM.
3 CUNG XIN VU NGUYEN CHO CHUNG TOI NHUNG CHI TIET CAN THIET DE CHUNG TA CO THE LIEN LAC VOI NHAU. HUYEN TAM TRUOC 1975 DA THEO HOC NHIEU KHOA HOC VE PTGL, THUOC GIA DINH PGHH KY CUU, TAN TUY TRUNG THANH VOI DAO . TU KH.I RA HAI NGOAI DEN NAY, LUON LUON TAN TINH VOI NHIEM VU MOT TIN DO PGHH  NHIET HUYET, HET LONG DONG GOP CHO  SU MANG PHAT TRIEN GIAO THUYET HOC PHAT TU NHAN, TU AN TRONG DAI.
LE PHUOC SANG MO COI LUC 7 TUOI. TIA TOI CHETKHI MOI 32 TUOI, MA TOI 28 TUOI, TOI PHAI SONG CUC HO O DONG RUONG LAM DU CAC CONG VIEC HET SUC CUC NHOC TRONG DONG RUON CHO DEN KHI 17 TUOI MOI CHANH THUC DI HOC TAI TINH LY LONG XUYEN, 19 TUOI DAU SO HOC, LANH PHAN THUONG DANH DU  CUA QUOC TRUONG BAO DAI…DAU CU NHAN LUAT NAM 1963, LAM CHANH AN , ROI CU HOI TRUONG LUONG TRONG TUONG VA HDTSTU  DE CU TOI LAM CO VAN PHAP LUAT, LAM DAI DIEN HDTSTUGHPGHH TAI SAIGON, LAM VIEC VOI CHANH PHU, VOI TON GIAO DANG PHAI, VOI NGOAI GIAO DOAN,DE CU TOI LAM TONG VU TRUONG VAN HOA GIAO DUC VA THANH NIEN, THANH LAP VA LAM  VIEN TRUONG VIEN DAI HOC HOA HAO. SUOT 38 NAM NAY O HAI NGOAI TOI KHONG HE LAM MOT VIEC GI CO LANH LUONG BONG, VI TOI CAM THAY  PHAI TOAN THI LO  TRA NO AN TINH VOI PGHH  DA GIOI THIEU TOI   VAO UY BAN LANH DAO QUOC GIA, DA DUA TOI VAO LAM TONG TRUONG, PHU TA THU TUONG, CHUYEN TRACH GIAO DUC, CANH NONG VA Y TE, UNH HO TOI DAC CU QUOC HOI LAP HIEN VOI SO PHIEU CAO NHUT TOAN QUOC, DAC CU NGHI SI THUONG NGHI VIEN  BAU CU TOAN QUOC, DAC CU VOI SO PHIEU CAO NHUT TRONG TOAN MIEN TAY CUA PGHH. HDTSTU GHPGHH

TS. LêPhước Sang

Hội truởng HĐTSTƯ GH-PGHH
————————————————
12432 Euclid Street, Garden Grove, CA 92840
832-397-9813 & (714) 584-7778 (xin để lại message)
Click here to Reply, Reply to all, or Forward
Brooks Brothers at up to 70% off retail. Today on Rue La La.
Why this ad?Ads –
0.13 GB (0%) of 15 GB used
©2013 Google – Terms & Privacy
Last account activity: 36 minutes ago

 

Categories: Tài-liệu Tu-Học | Leave a comment

Quyển III – Sám Giảng

Quyển III – Sám Giảng

 
Inbox
x
 
 
 
Vu Nguyen
Kính gởi quý đồng đạo, quý đạo hữu, Em cháu xin gởi tiếp quyển 3, mong quý vị…
Nov 22 (2 days ago)

 
 
Sang Lephuoc
10:28 PM (12 hours ago)

 
to meminhquang4429TonlawrenceLactanquele1paulPhuong, Vu
 
 
 
 
1.XIN CAM ON VU NGUYEN DA CO NHIEU NO LUC TRONG PHO BIEN TAI LIEU PGHH VA BSKH.

2. RAT HOAN NGENH Y KIEN CUA VU NGUY TRONG VIEC PHOI HOP VA CHUNG SUC VOI NHAU. VOI TU CACH HOI TRUONG HDTSTU/GHPGHH, TOI DA UY NHIEM  CHO DONG DAO HUYEN TAM, TRONG VAI TRO CHANH THO KY HDTSTU KIEM TONG VU TRUONG PTGL PGHH LIEN LAC  CHAC CHE VA PHOI HOP VOI VU NGUYEN …MONG VU NGUYEN CHO BIET DIA CHI, EMAIL, VA DIEN THOAI DE TIDEN LIEN LAC VOI NHAU. CELL CUA TOI LA 832 3979813,LEPHUOCSANG.PGHH@GMAIL.COM, DIA CHI HOI QUAN HDTSTU/GHPGHH LA 12432EUCLID ST, GARDEN GROVE, CSA 92840. DIEN THOAI CUA HUYEN TAM LA 7147205271HUYENTAMHH@GMAIL.COM.
3 CUNG XIN VU NGUYEN CHO CHUNG TOI NHUNG CHI TIET CAN THIET DE CHUNG TA CO THE LIEN LAC VOI NHAU. HUYEN TAM TRUOC 1975 DA THEO HOC NHIEU KHOA HOC VE PTGL, THUOC GIA DINH PGHH KY CUU, TAN TUY TRUNG THANH VOI DAO . TU KH.I RA HAI NGOAI DEN NAY, LUON LUON TAN TINH VOI NHIEM VU MOT TIN DO PGHH  NHIET HUYET, HET LONG DONG GOP CHO  SU MANG PHAT TRIEN GIAO THUYET HOC PHAT TU NHAN, TU AN TRONG DAI.
LE PHUOC SANG MO COI LUC 7 TUOI. TIA TOI CHETKHI MOI 32 TUOI, MA TOI 28 TUOI, TOI PHAI SONG CUC HO O DONG RUONG LAM DU CAC CONG VIEC HET SUC CUC NHOC TRONG DONG RUON CHO DEN KHI 17 TUOI MOI CHANH THUC DI HOC TAI TINH LY LONG XUYEN, 19 TUOI DAU SO HOC, LANH PHAN THUONG DANH DU  CUA QUOC TRUONG BAO DAI…DAU CU NHAN LUAT NAM 1963, LAM CHANH AN , ROI CU HOI TRUONG LUONG TRONG TUONG VA HDTSTU  DE CU TOI LAM CO VAN PHAP LUAT, LAM DAI DIEN HDTSTUGHPGHH TAI SAIGON, LAM VIEC VOI CHANH PHU, VOI TON GIAO DANG PHAI, VOI NGOAI GIAO DOAN,DE CU TOI LAM TONG VU TRUONG VAN HOA GIAO DUC VA THANH NIEN, THANH LAP VA LAM  VIEN TRUONG VIEN DAI HOC HOA HAO. SUOT 38 NAM NAY O HAI NGOAI TOI KHONG HE LAM MOT VIEC GI CO LANH LUONG BONG, VI TOI CAM THAY  PHAI TOAN THI LO  TRA NO AN TINH VOI PGHH  DA GIOI THIEU TOI   VAO UY BAN LANH DAO QUOC GIA, DA DUA TOI VAO LAM TONG TRUONG, PHU TA THU TUONG, CHUYEN TRACH GIAO DUC, CANH NONG VA Y TE, UNH HO TOI DAC CU QUOC HOI LAP HIEN VOI SO PHIEU CAO NHUT TOAN QUOC, DAC CU NGHI SI THUONG NGHI VIEN  BAU CU TOAN QUOC, DAC CU VOI SO PHIEU CAO NHUT TRONG TOAN MIEN TAY CUA PGHH. HDTSTU GHPGHH                 

TS. LêPhước Sang

Hội truởng HĐTSTƯ GH-PGHH
————————————————
12432 Euclid Street, Garden Grove, CA 92840
832-397-9813 & (714) 584-7778 (xin để lại message)
Categories: Hội Đồng Trị Sư | Leave a comment

The Top 75 Pictures of the Day for 2013

75. THE FACE OF AN ICEBERG
http://twistedsifter.com/2013/09/the-face-of-an-iceberg/

74. AIRPLANE VIEW OF A DISTANT STORMhttp://twistedsifter.com/2013/09/airplane-view-of-a-distant-sto

73. METICULOUSLY DISMANTLED VW GOLF
http://twistedsifter.com/2013/09/exploded-view-of-vw-golf-mk2

72. OPEN WATER ROLL CLOUD
http://twistedsifter.com/2013/09/open-water-roll-cloud/

71. THE TALLEST WATERFALL IN THE WORLD
http://twistedsifter.com/2013/09/angel-falls-worlds-tallest-wat

70. AN ALBINO HUMPBACK WHALE
http://twistedsifter.com/2013/09/albino-humpback-whale-migaloo/

69. INVISIBLE REFLECTION
http://twistedsifter.com/2013/09/laura-williams-self-portrait-h

68. PORTLAND FAMOUS JAPANESE MAPLE
http://twistedsifter.com/2013/09/portland-famous-japanese-maple

67. MEXICO GIANT CRYSTAL CAVE
http://twistedsifter.com/2013/09/giant-crystal-cave-naica-mexic

66. GRAND CANYON LIGHT SHOW
http://twistedsifter.com/2013/09/grand-canyon-light-show/

65. LONE CHAMOIS ABOVE THE CLOUDS
http://twistedsifter.com/2013/09/lone-tatra-chamois-above-the-c

64. THE GORGE AT WATKINS GLEN
http://twistedsifter.com/2013/09/watkins-glen-gorge-rainbow-bri

63. IRIDESCENT ANTARCTICA
http://twistedsifter.com/2013/09/iridescent-antarctica/

62. LOOK AT THIS BABY MUSK OX
http://twistedsifter.com/2013/08/look-at-this-baby-muskox/

61. UFO SPOTTED IN SEATTLE
http://twistedsifter.com/2013/08/ufo-spotted-in-seattle-space-n

60. COLOGNE CATHEDRAL DURING WWII
http://twistedsifter.com/2013/08/cologne-cathedral-during-wwii/

59. HONG KONG AT NIGHT
http://twistedsifter.com/2013/08/hong-kong-skyline-at-night-vic

58. THE WAITOMO GLOWWORM CAVES
http://twistedsifter.com/2013/08/waitomo-glowworm-caves-new-zea

57. WATERSPOUTS OVER THE ADRIATIC
http://twistedsifter.com/2013/08/waterspouts-over-the-adriatic/

56. THE FULL CIRCLE RAINBOW
http://twistedsifter.com/2013/08/the-full-circle-rainbow/

55. THE STUDLEY TOOL CHEST
http://twistedsifter.com/2013/07/ho-studley-tool-chest/

54. EARTH FROM THE DARK SIDE OF SATURN
http://twistedsifter.com/2013/07/earth-from-dark-side-of-saturn

53. PRAISE THE SUN
http://twistedsifter.com/2013/07/praise-the-sun-silhouette/

52. SAN FRANCISCO IS STEEP
http://twistedsifter.com/2013/07/san-francisco-is-steep/

51. IN THE HEAT OF THE MOMENT
http://twistedsifter.com/2013/07/in-the-heat-of-the-moment/

50. SAN FRANCISCO FOG
http://twistedsifter.com/2013/06/san-franscisco-fog/

49. YALE RARE BOOK AND MANUSCRIPT LIBRARY
http://twistedsifter.com/2013/06/yale-rare-book-and-manuscript-

48. SUNSET IN SANTORINI
http://twistedsifter.com/2013/06/sunset-in-oia-santorini/

47. THE SKY WHALE
http://twistedsifter.com/2013/06/the-sky-whale/

46. WHEN ART MEETS NATURE
http://twistedsifter.com/2013/06/when-art-meets-nature/

45. SHELF CLOUD OVER TIMISOARA
http://twistedsifter.com/2013/06/shelf-cloud-over-timisoara-rom

44. PONTHUS’ BEECH
http://twistedsifter.com/2013/06/ponthus-beech-bretagne-france/

43. FLYBY ECLIPSE
http://twistedsifter.com/2013/06/flyby-partial-solar-eclipse/

42. UNDERWATER PERFECTION
http://twistedsifter.com/2013/05/perfect-timing-underwater-perf

41. POOLSIDE MOUNTAIN VIEW
http://twistedsifter.com/2013/05/cambrian-hotel-poolside-mounta

40. YOKOHAMA CHERRY BLOSSOMS IN BLOOM
http://twistedsifter.com/2013/05/picture-of-the-day-yokohama-ch

39. BARN CONVERSION
http://twistedsifter.com/2013/05/barn-conversion-seagull-house-

38. FACE PLANT
http://twistedsifter.com/2013/05/face-plant-double-exposure/

37. THE MULTICOLORED ICEBERG
http://twistedsifter.com/2013/05/striped-multicolored-iceberg/

36. JUST ROOM ENOUGH ISLAND
http://twistedsifter.com/2013/05/just-room-enough-island-thousa

35. THE ROMAN POOL AT HEARST CASTLE
http://twistedsifter.com/2013/05/the-roman-pool-at-hearst-castl

34. ABANDONED RAILWAY IN PARIS
http://twistedsifter.com/2013/04/petite-ceinture-abandoned-rail

33. THAT WHAT FRIENDS ARE FOR
http://twistedsifter.com/2013/04/thats-what-friends-are-for/

32. THE ROCKY WAVE
http://twistedsifter.com/2013/04/the-wave-paria-canyon-vermilio

31. THE ANCIENT BANYAN TREE
http://twistedsifter.com/2013/04/ancient-banyan-tree-big-island

30. FOREST ON SHIPWRECK ISLAND
http://twistedsifter.com/2013/04/ss-ayrfield-shipwreck-homebush

29. FIRST FLIGHT
http://twistedsifter.com/2013/04/baby-ducks-first-flight-leavin

28. MOONRISE TIME-LAPSE OVER LA
http://twistedsifter.com/2013/04/moonrise-time-lapse-over-la/

27. GLACIAL WATERFALLS
http://twistedsifter.com/2013/04/glacial-waterfalls/

26. JUST A BIG CAT
http://twistedsifter.com/2013/04/close-up-lion-licking-paw/

25. A HORIZON RAINBOW IN PARIS
http://twistedsifter.com/2013/03/horizon-rainbow-in-paris/

24. KAMCHATKA ICE CAVE, RUSSIA
http://twistedsifter.com/2013/03/kamchatka-ice-cave-russia/

23. WORLD COOLEST SUBWAY ENTRANCE
http://twistedsifter.com/2013/03/bockenheimer-warte-subway-entr

22. THE TSUNAMI CLOUD
http://twistedsifter.com/2013/03/tsunami-cloud-lake-michigan-ho

21. AURORA ASTRALIS FROM SPACE
http://twistedsifter.com/2013/03/aurora-astralis-from-space/
20. WAVES OF TIME
http://twistedsifter.com/2013/03/heart-shaped-kannesteinen-rock

19. COOLEST. DUCK. EVER.
http://twistedsifter.com/2013/03/awesome-surfing-duck-is-awesom

18. THE EDGE OF INSANITY
http://twistedsifter.com/2013/03/looking-down-from-top-of-burj-

17. DOWN THE SPIRAL
http://twistedsifter.com/2013/03/double-spiral-staircase-vatica

16. WHISKEY ON THE ROCKS
http://twistedsifter.com/2013/03/whiskey-on-the-rocks-of-fuji/

15. THE STAINED GLASS MAPPARIUM
http://twistedsifter.com/2013/03/stained-glass-globe-mapparium-

14. MOON JELLY
http://twistedsifter.com/2013/03/aurelia-aurita-moon-jelly/

13. FORCES OF NATURE
http://twistedsifter.com/2013/03/forces-of-nature/

12. COAL TRAIN AT SUNSET
http://twistedsifter.com/2013/03/coal-train-at-sunset-powder-ri

11. LOOKING DOWN FROM LION HEAD
http://twistedsifter.com/2013/03/atop-lions-head-cape-town-sout

10. DUCT TAPE LANDSCAPE
http://twistedsifter.com/2013/02/miniature-duct-tape-landscape-

9. THIS IS NORWAY
http://twistedsifter.com/2013/02/voringfossen-mabodalen-norway/

8. TRIPPY ICE EFFECT AFTER FLOOD
http://twistedsifter.com/2013/02/trippy-ice-effect-after-flood/

7. THE EYE OF THE MOON
http://twistedsifter.com/2013/02/moon-north-window-arches-natio

6. THE SPACE ‘SELFIE’
http://twistedsifter.com/2013/02/self-portrait-in-space/

5. CLOUD CITY, DUBAI
http://twistedsifter.com/2013/02/dubai-cityscape-aerial-with-fo

4. CONTRAST IN KRAKOW
http://twistedsifter.com/2013/02/winter-contrast-in-krakow-blac

3. BRUSSELS FLOWER CARPET
http://twistedsifter.com/2013/01/brussels-belgium-flower-carpet

2. NATURE OVERTAKES THE GREAT WALL
http://twistedsifter.com/2013/01/nature-overtakes-the-great-wal

1. SUNRISE AT EASTER ISLAND
http://twistedsifter.com/2013/01/sunrise-at-easter-island-aeria

http://twistedsifter.com/2012/12/top-100-pictures-of-the-day-20

http://twistedsifter.com/2011/12/top-50-pictures-of-the-day-for

THE FACE OF AN ICEBERG

http://twistedsifter.com/2013/09/the-face-of-an-iceberg/
Categories: Cảnh-Đẹp | Leave a comment

Kiếp sau mình ở đâu – Như Hùng

Cập nhật ngày 15/11/2013 (GMT+7)

Kiếp sau mình ở đâu – Như Hùng

www.HoPhap.net
http://www.HoPhap.net

Kiếp sau mình ở đâu
Như Hùng

“Mình với ta tuy hai mà một
Ta với mình tuy một mà hai”

Mình!  Chữ mình, nghe như âu yếm, thân thương, gần gũi và có duyên làm sao ấy. Nó vừa để chỉ cho chính mình, chàng, nàng, chúng ta, chúng mình, còn là tiếng gọi, tiếng kêu tràn ngập hạnh phúc, và đôi khi có chút dỗi hờn trách móc. Nó còn là tiếng thì thầm bên nhau, nói cho nhau nghe, những vỗ về, an ủi, năn nỉ, ỉ ôi. Nghĩa là nó có muôn ngàn hồng tía, sắc màu, hương vị, nghĩa ngữ, nghiã cảnh, nghĩa ý.

Tôi đang ở vào chặng đường “ba mươi năm nhìn lại chuyện chúng mình” và đã vượt qua cái tuổi “biết mệnh trời” (tri thiên mệnh) được nữa chặng. Bây giờ thì “biết mạng đất” (tri thổ mệnh) và đang ở vào giai đoạn mà trong nhà Phật gọi là bệnh, một trong bốn chặng đường của kiếp nhân sinh, ai rồi cũng lần lượt đến (sinh, lão, bệnh, tử). Bây giờ dù mở mắt hay nhắm mắt, ở đâu và làm gì, cũng đều liên quan đến cái mạng của mình. Hôm nay nó ra làm sao, nhỏng nhẻo ở chổ nào, réo gọi đau đớn ở chổ mô, bửa nay mình làm sao vậy? Ủa mà sao bác sỹ không tìm ra bệnh nhỉ? Bệnh của người già, bệnh của thời gian, của tháng ngày chồng chất, đến hẹn lại lên, không cần mời gọi, bệnh của nghiệp. Biết rồi nói mãi, ba Cao ( cao máu, cao đường, cao mở) lần lượt tới thăm, người củ bệnh mới, bệnh củ bệnh mới, thi nhau tung hoành ngang dọc. Cái thực tại của bây chừ phần nhiều do thân bệnh làm chủ, cái tâm đôi khi cũng chào thua, vượt lên số phận, nghiệp quả, đớn đau, là cả một kỳ công, tư duy, quán chiếu, một cách nghiêm mật. Chỉ giận là lúc còn khoẻ mạnh, thân thể chưa bị vô thường đớn đau hành hạ, khi tâm còn minh mẫn, lại không chịu tu tập, bây chừ, dù có hối hận than trách, đổ thừa tại răng tại rứa thì cũng đã muộn. Nhưng nếu muốn tu, biết tu, quyết lòng tu, cho dù có muộn, vẫn còn hơn không. Ừ! Mà rốt cuộc không biết cái mạng của mình nó thuộc về đâu, đi về đâu, nằm ở đâu, tới ở đâu, trôi về đâu vậy ta? Cái nầy thì khó đó nghe.

Mình tu là mong giải thoát an lạc ở bây giờ và khi chết được vãng sanh về cảnh giới Cực Lạc. Thân tứ đại khi đến lúc phải trả về với tứ đại (đất, nước, gió, lửa), chỉ còn nghiệp lực dẫn đưa, đầu thai thọ nhận. Biết như vậy, tất cả đều bị chi phối bởi định luật vô thường, nhưng mình vẫn sinh tâm đắm nhiểm, hơn thua được mất, khổ đau trầm luân trôi nỗi. Mình quên đi cái vô hạn, chỉ tính cái hữu hạn, mình quên đi nguyên lý của vô thường (thành, trụ, hoại, không) quên chân lý của như thật. Hể mình còn tham sân si, c òn dính mắc, còn vấn vương, nào là nhà cao cửa rộng, nệm êm gối ấm, sự nghiệp giàu sang, gia đình sum vầy, con cháu đầy đàn. Rứa là mình mắc kẹt vào đó, rứa là mình dính cứng vào đó không lối thoát. Hẹn kiếp sau để đền ơn, báo ơn, trả ơn, trả nghiệp, rứa là mình trói vào đó, cột vào đó, buộc vào đó, không phương vẫy vùng. Một mai vô thường đến, làm sao đành lòng rủ bỏ ra đi, thong dong nhẹ bước?

Thông thường khi sống nhẹ nghiệp, thì lúc chết mới mong nghiệp nhẹ. Tâm lượng rộng lớn bao dung, nhận ra chân lý cao tột, một lòng hướng thiện. Phải chuyển hóa, đổi thay, buông bỏ, xa rời, thì mới được nhẹ nhàng, chứ không nó nặng nề, kéo mình về nơi tăm tối. Như vậy sẽ khổ đau, sẽ chìm mãi, chìm dài dài, sẽ lận đận mãi, lận đận dài dài. Rứa là, khổ cả một đời một kiếp, bon chen cả một đời, lận đận cả một đời, khổ đau cả một đời, một đời đau khổ. Than thở cùng ai đây, ai chia sẽ san sớt, ai gánh dùm mình cái nghiệp trả vay?

Hình như mọi lo lắng quá mức, những tốn kém công sức tiền của không cần thiết, gọi là để chuẩn bị cho mình, hoặc cho người chết. Có phải, để người sống nhìn vào cho đẹp, cho thơm, cho có tiếng vang, cho thật đặc biệt, vừa lòng thiên hạ xóm giềng, vui lòng đẹp mặt kẻ đến người đi, cho người chết thì ít mà người sống thì nhiều. Mồ to mả lớn, cúng kiến linh đình, giết hại sinh linh, cổ tiệc đầy bàn, gọi mời tới tấp. Giả như lúc ấy mình đang ở thế giới bên kia, đang thong dong đi mây về gió, đang du ngoạn sơn thủy hữu tình, đang thăm chổ nầy viếng chổ nọ. Thình lình gọi giật ngược lại, triệu thỉnh hương linh về gấp gấp, mau mau, để hưởng lộc con cháu. Lúc ấy, mình phản ứng như thế nào? Tức quá đi thôi, chứ chưa nói có về được, và có phép để về hay không nữa. Ủa! Không lẽ khi mình đã về thế giới bên kia, rồi lại phải chờ con chờ cháu cúng kiến mình mới có để ăn, để mặc, giả như con cháu quên hoặc không chịu cúng, thì mình phải làm sao, chuẩn bị bằng cách nào đây, chờ đến lúc ấy, muộn rồi chăng? Đó là lúc nói mình thong dong nhẹ nghiệp, nếu chẳng may nặng nghiệp, vì khi sống không lo tu tập, không biết hướng thiện, không phân biệt chánh tà, tạo muôn ngàn ác nghiệp, gây khổ đau cho muôn loài, nên khi chết nghiệp lực dẫn dắt về nơi tăm tối, thì làm sao đi mây về gió, quay về hưởng lộc con cháu? Ừ còn phải xin phép đi đường, visa nhập cảnh, công an cảnh sát đứng đầy tra xét, đường về ngăn sông cách lối, mà biết về có được không, chứ đừng nói hưởng được lộc con cháu. 

Khi mình còn sống, đang trông cảnh ngắm người, đang thăm viếng bạn bè, đang ở đâu và làm gì đó, đang vui vẻ ở bên nầy, đang tụ hội ở bên kia, đột nhiên bà xã hay ông xã hoặc con cái của mình, gọi điện thoại bảo về nhà ăn cơm gấp, cả gia đình đang chờ đang đợi, đang ngóng, đang trông. Lấy cớ tìm lý do, kiểm soát theo lệnh ai đó, thử xem mình đang ở đâu và làm gì, hoặc thật lòng gọi về. Nghĩa là có muôn ngàn lý do, và lý do nào cũng khiến cho mình phải phiền lòng bực mình cả. Tâm lý cùng phản ứng tức thì của mình lúc đó ra sao, đùng đùng nổi giận, suýt xoa tiếc nối, vì đang vui với cảnh với người, không muốn bị quấy rầy, không muốn hình bóng của ai xen vào tâm trí, người củ kẻ mới dập dìu. Rứa mà, tự nhiên bị làm phiền, bị gọi về tới tấp, nghĩ có tức không, phát điên lên được chứ. Sự quan tâm lo lắng, hay làm phiền đều tùy vào mức độ nhận biết cảm thông của mình. Có biết bao người mong bị quấy rầy, làm phiền mà cũng không có, không được, lẽ ra mình phải vui mừng cảm tạ vì còn ai đó quan tâm. Khi đang sống ở đây mà lúc vô thường, khổ đau bệnh tật viếng thăm mình còn bất lực, huống gì mai sau đi về bên ấy, sao không lo sợ đắn đo, hụt hẩng, cho dù vậy biết lo có được không, có thoát không, hành trang lên đường nặng nhẹ, mới là câu hỏi và trả lời lớn.

Cái tâm cảnh khi mình đang sống như thế nào, thì lúc đi về thế giới bên kia nó cũng tương tự như thế, nhẹ nhàng ở hiện tại,  hạnh phúc trong từng hơi thở, tỉnh thức trong từng suy tư, lâng lâng thoát tục, an lạc thường hằng bất tận, thì về đâu, đến đâu, ở đâu, cũng đều được tự tại. Ngoài nghiệp lực dẫn đưa, khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm, trong nhờ đục chịu, thì không một ai, chưa một ai, sẽ không có một ai, đủ quyền năng làm khác đi, làm thay đổi, đưa ta về cảnh giới thiên đường được. Ngoài chính mình, do mình làm chủ quyết định, thì không một ai, đấng quyền năng nào, tối cao nào, có đủ năng lực để tác tạo chuyển hóa nghiệp quả của mình cả.

Ta đang thong dong ở thế giới khác, cảnh khác, ta đang chịu hình phạt, đày đọa, do những tạo tác từ trước. Ta đang trả, phải trả, bằng lòng để trả, chấp nhận để trả, miễn cưỡng để trả, cam lòng để trả, thì cũng phải trả vì là nhân quả. Lúc nào mình cũng cầu cho nhau “sinh thuận tử an”, làm sao ta an được, khi cứ liên tục quấy rầy, bằng cách nầy hình thức nọ? Cầu mong thẳng đường mình về cực lạc, cứ sao kêu gào, đẩy mời, nhắc nhở, liệu ta có nhẹ nhàng rủ sạch ra đi, nhẹ bước trở về?

Có chuyện nầy mình kể qúy vị nghe nhé, chị Hai mình năm nay được bảy mươi ba tuổi, dịp tết vừa rồi con trai kế của chị từ Mỹ về thăm gia đình. Mấy anh em tụi nó cùng với chị ngồi nói chuyện, chị bảo sau nầy má chết, tụi con nhớ chôn má gần bà ngoại (mẹ của chúng tôi) ở đây gần con gầncháu, tụi con đi laị nhang khói thăm viếng mả mồ cũng tiện. Chị nói như vậy cháu nào nghe cũng cho là hợp lý, hợp với tâm nguyện của má mình,   khi tôi nghe cháu kể lại, cũng cho là hợp tình hợp lý, tiện lợi mọi đường. Cháu kể đến đây thì nó ngưng kể và uống nước nên tôi nghĩ như vậy, rồi cháu kể tiếp: Tối đó má con nằm ngủ, bả thấy ba con về bảo với má: “sao khi bà chết mà đòi chôn ở gần chổ mẹ, mà không chôn cạnh tui”? Tôi nghe các cháu nói, anh cũng thường về báo mộng, nhân đây tôi cũng nói sơ qua anh rể của tôi một chút, anh mất ở độ tuổi bảy mươi hai, anh bị bệnh về phổi, nghe bác sỹ nói bị ung thư, anh mất đã mấy năm rồi. Lúc sống anh ít biết tu, nên khi chết vẫn còn lưu luyến, vướng bận chi đó, nên chưa chịu đi đầu thai. Cả đời anh hầu như sống ở bên quê vợ, khi anh lập gia đình, làm ăn, sinh con đẻ cái, có dâu rễ nội ngoại vẫn ở bên quê vợ, nhưng khi chết lại chôn ở bên quê mình.  Chị Hai tôi lấy chồng trong thời chiến tranh nên không về quê chồng, vẫn ở bên quê cha mẹ, chị tôi cả đời ở bên quê cha mẹ nhưng khi chết anh lại đòi phải chôn ở bên anh, bên quê chồng, nghe cũng nghịch lý đó nhỉ? Ừ mà cái chuyện chôn cất ở đâu, nhiều khi mình không thể làm chủ được, chết rồi mà. Dù sống hay chết, có phải vì không được như ý mà mình phát sinh phiền lòng, nổi giận, đau khổ? Mình tu là tu ở cái chổ nầy, ở cái chổ biết cái gì phát sinh, chánh niệm hay tạp niệm, làm chủ cái gì, giác ngộ hay không mới là điều quan trọng, vượt thoát buông bỏ hay không mới là việc lớn. Tu trong mọi hoàn cảnh, cảnh giới, tình huống, trạng thái, tâm thức, là ở cái chổ nầy, tại đây, lúc nầy, ở đây.

Tôi nói với người cháu rằng: Bộ má con cả đời làm vợ chưa đủ hay sao mà khi chết lại xuống đó làm vợ tiếp tục nữa? Chôn ở đâu, để ở đâu, bằng cách nào, không còn là điều quan trọng nữa, sống ra sao, chết ra sao, mới là điều đáng nói. Thật ra chôn cất, cũng chỉ là tập quán mà thôi, nếu muốn mình có thể thay đổi và làm cách khác vẫn được. Chị Hai tôi nhờ biết tu, hy vọng chị sẽ an lạc, bình thản đón nhận tất cả, mong là vậy. Tôi nói với cháu, má con mất thiêu ra tro là tiện nhất, thờ ở đâu cũng được, để ở đâu cũng tiện, đổ sông đổ biển gì cũng khỏe, chứ chôn cất mả mồ, quy hoạch tới lui, dời chổ nầy chổ nọ. Nếu chôn cất mà quyến luyến vấn vương, tiếc thân tiếc mạng, chờ con đợi cháu đến thăm viếng, lỡ con cháu bận rộn chưa tới, không chịu tới, mình nằm ở đó, chờ rồi đợi, ngóng rồi trông, sẽ sinh đau khổ giận hờn, rứa là dù chết vẫn khổ, dằn vặt đọa tiếp tục, khi sống đã vậy thì chết cũng vậy không thể khác hơn được. Người biết tu là biết buông xả mọi thứ, không còn bận lòng, khi chết đó là sự giải thoát nhẹ nghiệp, khi thân tứ đại bị hỏa thiêu cũng không khởi lên đau đớn, không khởi sự tiếc nối, không khởi niệm sân hận. Khi sống, nhờ mình biết tu tập quán chiếu, sớm nhận ra chân lý ngay từ lúc sanh tiền, nên mọi việc đều bình thản chấp nhận. Để tránh làm buồn lòng người mất, gia đình nên làm theo di nguyện của người chết, đừng làm trái ý, kể cả thương ghét, để người mất không khởi tâm sận hận oán trách, lưu luyến, nếu muốn đổi thay điều gì phải có sự ưng thuận từ trước. Đó là tu sơ sơ, chứ nếu tu kỷ, tu chín mùi, tu rục, thì tất cả đều bình đẳng, an nhiên, bình đẳng lúc sống và khi chết, tâm làm chủ, tâm tác tạo, tâm là đạo, một khi làm chủ được tâm của mình, thì kiểu gì cách gì cũng được, cách gì kiểu gì cũng xong, cái gì điều gì cũng đều được thong dong tự tại. Tu ngay từ bây giờ, mọi sự chuẩn bị là phải chuẩn bị ngay từ bây giờ, mọi huân tập tốt đẹp vào chủng tử là phải huân tập ngay từ bây giờ, đừng chần chừ, chậm trể.

Giờ thì, qúy vị nghe phiên của tôi nhé, số là phía bên nàng của tôi, có ông anh rể họ, anh ở trên miền Bắc Cali, thỉnh thoảng anh xuống dưói Nam Cali nầy chơi, gặp dịp có tiệc ở nhà em gái kế của mình tôi. Hôm ấy anh thấy tôi ăn chay, anh kêu tên và nói: Dũng bửa ni ăn chay hả?  Không chờ tôi trả lời anh nói tiếp: Thứ khác có chay không? Anh nói xong, anh cười một trận thật là thoải mái, thật nên thơ, thật đẹp, cười rổn rang. Tôi không biết phải diễn tả trận cười của anh ra làm sao nữa, anh cười mỉa mai hay cười sảng khoái, anh cười trước bàng quang thiên hạ như cười vào chổ không người, anh cười như không cần biết có người chung quanh, không có đối tượng, không cần phản ứng của kẻ khác, không cần biết thiên hạ nghĩ sao, mà cho dù nghĩ sao thì đã sao, anh cóc cần thiên hạ nghĩ, anh cười thoải mái tự nhiên như chưa bao giờ được cười, anh hết cười mà giọng cười vẫn còn đọng lại, âm thanh thoang thoảng mơ hồ. Thấy anh cười sung sướng như vậy, phản ứng của tôi ra làm sao qúy vị biết không? Tôi chỉ cười trừ, cười an ủi, nếu làm sự so sánh về tiếng cười, nụ cười, thì nụ cười của tôi xa lắc nụ cười của anh, tôi cười mĩm, cười gượng gạo, cười không được tự nhiên, cười không thành tiếng, cười cho có cười, cười trong đau khổ. Nghĩa là tôi cười thua anh, không được tự nhiên, không sảng khoái, cười chỉ để mà cười, cho có lệ, đỡ lúng túng, không biết mần răng. Vậy là tôi thua anh ở tiếng cười, nụ cười, thua xa lắc, xa lơ, thua như chưa bao giờ được thua.

Tiếng cười, tạm cho qua đi, tôi thầm nghĩ: Thứ khác mà tôi chay được thì tôi đã thành Phật rồi. Sau đó tôi thức tỉnh, tôi quán chiếu, cho đó là một công án, một sự đánh động vào tâm thức, một sự động não, một sự chấn động toàn thân tâm, sự vùng lên bật dậy bản năng đích thực ở trong tôi, một sự chạm thẳng vào cái bản ngã, sự thách đố cái thường tình ở trong tôi, một sự kiểm tra nội lực, sở đắc tu tập trong tôi. “ Bửa ni ăn chay hả? Thứ khác có chay không ?” Vế thứ nhứt anh đưa ra, liên quan đến việc ăn uống chay mặn, sinh mạng, sự sống của muôn loài, lòng từ bi, nhân phẩm. Nhưng vế thứ nhì thì khác, nó cao xa diệu vợi, phải nhón chân với lên hái xuống, phải đào bới cất công tìm tòi, nó ở chổ khác, nơi khác, ở trong tận cùng của tâm ý. Vậy thì, thứ khác, điều khác, sự khác, mà anh muốn nói, nó là thứ gì, điều gì, cái gì, là gì, và tại sao là thứ khác, mà không phải thứ nầy, cái nầy, cái kia, thứ nọ? Chay ở đây là sao, trong ý nghĩa thông thường của chay mặn, ẩn dụ, mật ngôn, ẩn ý?  Vì lòng từ bi thương xót chúng sanh, không nở giết hại, gây thêm khổ đau, nên mới ăn chay. Không muốn tạo nghiệp nhân quả sát hại chúng sinh nên ăn chay, hay là ăn chay để bệnh tật giảm bớt, cho nhẹ nghiệp, nghĩa là có nhiều lý do dẫn đến việc ăn chay. Nhưng thứ khác, điều khác, nếu không chay tịnh, không biết kìm chế, hóa giải, thì sẽ nặng nghiệp vô cùng, lắm khi còn hơn nghiệp sát nữa. Vậy thì chay nầy là chay gì đây, chay của không tạo nghiệp, cởi bỏ tham ái oán thù, thân tâm đều thanh tịnh? Thông thường, nghiệp phát sinh đều do thân, khẩu, ý cùng với vô minh, tham, sân, si. Vậy thì muốn an lạc giải thoát, thì phải chay tất cả, phải tịnh tất cả, chứ không đơn thuần chỉ có việc ăn uống. Thật ra, mình tu tập mọi thứ ở chung quanh, nơi người thân kẻ lạ, những ngang trái thị phi ở cuộc đời, công án nơi đâu cũng có, giác ngộ, bùng vỡ luôn ở trong ta, giật mình tỉnh thức, có nhận ra, lúc nào và bao giờ, do chính mình quyết định.

Có lần tôi hỏi mình của tôi: Kiếp sau mình có gặp lại? Cả tôi và nàng đều trả lời là không. Chắc qúy vị thầm nghĩ, tại hai mình ấy không có hạnh phúc? Thật sự thì chúng tôi tạm gọi là hạnh phúc, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, chưa hối hận, không chiến tranh, hưu chiến, đình chiến, chỉ có hòa bình, sóng yên biển lặng như tờ, tháng ngày lững lờ trôi như thế, bình bình yên yên. Không biết có phải đó là một thứ như tên gọi là hạnh phúc? Hay hạnh phúc là phải đi tìm, phải đấu tranh, phải giành giật, phải khấy động nó lên, để rồi tìm cách lắng xuống cho dù có xót xa, của những tiếc nối muộn màng, của những ước mơ không bao giờ đến? Nếu vậy thì hai mình đây không dám, chắc tại nghiệp duyên còn ràng buộc. Khi trả lời là không, có lẽ cả hai đều không mong ngày gặp lại trong hình dáng và thân xác nầy, không mong ngày gặp lại trong tâm cảnh nầy, không mong ngày gặp lại trong nghiệp quả luân hồi nầy, chắc là vậy, cho là vậy đi.  Cũng có thể, do vì thích tu nên khi gặp lại thì mong không còn ái nghiệp bám theo, chỉ muốn làm bạn đồng tu, cùng nhau đi trên con đường giải thoát, bình đẳng với tất cả, không thân không sơ, cùng chung một Phật tánh.

Nhưng cũng có người lại muốn, nếu có gặp thì gặp người khác, cảnh khác, tâm thức khác mới vui, mới có ý nghĩa, mới đọng lại trong tâm dài lâu hơn. Người mới, môi trường mới, tâm cảnh cũng mới, nên có nhiều thách đố, có nhiều chướng duyên, thuận duyên, có nghịch cảnh, thuận cảnh, có nhiều thứ bậc giai tầng, nên sự rung động mới mãnh liệt sâu xa, mới gợi nhớ dài lâu, mới lưu lại dấu ấn đậm đà. Hay người khác, kẻ khác, và ai đó là một sự trả nghiệp, lỡ tạo, lỡ vay, nên phải trả, chỉ có vậy thôi. Thỉnh thoảng mình thấy, tại sao người ta ly dị, người ta bỏ nhau, người ta giận nhau, người ta đau khổ với nhau, đơn giản vì họ phải trả nghiệp. Này nhé, ta suy nghĩ ở dạng trả nghiệp, chứ không phải tạo nghiệp, ai tạo ráng chịu, ai trả cũng ráng chịu luôn. Người tu, là cầu mong nghiệp quả đã tạo từ vô lượng kiếp về trước, đến tận hôm nay, nguyện xin đến hết, để mình trả một lần cho xong, cho rảnh nợ, không còn dây dưa níu kéo, không chần chừ, không hẹn dịp khác, kiếp khác mới đến, mới trả. Xin trả hết ở kiếp nầy, một lần rồi thôi, đến hết trả hết, đến nữa đi trả nữa đi, trả cho hết, trả cho xong, trả không thiếu, không dư, không thừa, có bao nhiêu trả bấy nhiêu. Để mai sau ta nhẹ gánh, nhẹ nợ, ta thong dong tự tại trên mọi lối đi về, không còn đuổi theo bám chặt. Người tu cầu mong như vậy, và chỉ có vậy, còn mình thì mong sao đây? Sạch nợ, xong nợ, hết nghiệp với người nầy nhưng lại vướng với người khác, hết cái nầy, chuyện nầy, lại dính cái khác, chuyện khác. Cái nầy chay cái khác lại không chay, cái nầy tịnh, cái khác lại không tịnh. Vậy là, mình trả nghiệp hay tạo nghiệp, dứt nghiệp hay đổ hô cho nghiệp, tại nghiệp, tội cho nghiệp?

Kiếp nầy hay kiếp sau mới trả hết nghiệp, trả kịp không vậy, trả có hết không vậy? Ừ! Sao cứ tạo nghiệp hoài vậy? Nghiệp, có thiện, ác, không thiện cũng không ác, làm sao để không tạo nghiệp, dứt nghiệp, chuyển nghiệp, nhiều nghiệp thế, biết chọn cái nào, cho vừa với mình đây? Nghiệp nào không tạo nhân ác, có quả lành, có lợi thì làm, cái nào nhẹ thì làm, cái nào không có nghiệp, dứt nghiệp, chuyển nghiệp thì làm, cái nào thong thả thì làm, cái nào đây vậy ta?

Mình ơi! Kiếp sau mình ở đâu cho ta theo với.

Ừ mình!

Kiếp sau mình trả ở đâu cho ta trả với?

Ừ mình! Nghiệp đó mình.

Như Hùng
 

 

Phòng Lắng Nghe và Chia Sẻ — iTemple: HoPhap.Net
 Quay lại  In Bài Viết này  Gởi cho người thân  
 CÁC BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ
Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Xin một phút lặng tâm!

Xin một phút lặng tâm!

Inbox
x
Vu Nguyen
Nov 17 (7 days ago)

to bcc: me

Với những chỉ giáo của Tổ Thầy trong giáo lý đạo, em cháu xin mượn đôi điều cùng những hình ảnh, xin được nhắc nhỡ và kêu gọi mỗi chúng ta hãy chung tay tiếp sức, với tính cách cá nhân hay tập thể, để giúp đỡ trực tiếp hay gián tiếp những người trong cảnh màn trời chiếu đất trong cơn bão Philippines’ typhoon.

 

“… ngoài đồng bào ta còn có thế giới, … những người đang sanh sống với chúng ta trên quả địa cầu, … ta có thể lẻ loi đương đầu với những khi phong vũ nhiệt hàn với những lúc ốm đau nguy biến, … dân tộc ta phải nhờ đến Nhân loại, nghĩa là nhờ đến dân tộc khác và phải biết ơn họ.  Hãy nghĩ đến họ cũng như mình nghĩ đến mình và đồng chủng mình, … hãy đặt vào họ một tư tưởng nhân hòa, một tinh thần hỉ xả và hãy tự xem mình có bổn phận giúp đỡ họ trong cơn hoạn nạn.” (ÂN ĐỒNG BÀO VÀ NHÂN LOẠI)

 

NAM-MÔ A-DI ÐÀ PHẬT

NAM-MÔ A-DI ÐÀ PHẬT

NAM-MÔ A-DI ÐÀ PHẬT

 

Cầu Phật-Tổ, Phật-Thầy, quan Thượng-Ðẳng Ðại-Thần, chư quan Cựu-Thần, chư vị Sơn-Thần, chư vị Năm Non Bảy Núi phổ-độ bá-tánh vạn dân tiêu tai tịnh sự giải-thoát mê-ly.

 

Cả kêu bổn đạo ai là thiệt tu.
Xả thân làm phước Diêm-phù vượt qua.

Nếu đã xả thân tầm đạo-đức,
Mở lòng bố thí ngộ thần ca.

 

Bác-ái xả thân tầm đạo chánh,
Độ người lao khổ dạ không phiền.

 

Thành kính,

 

Vũ Nguyễn

 

Sang Lephuoc
Nov 17 (7 days ago)

to me, Vu
 Dong dao Huyen Tam,

Chanh Tho Ky HDTSTU/GHPGHH kiem Tong Vu Truong PTGH PGHH,

TS. LêPhước Sang

Hội truởng HĐTSTƯ GH-PGHH
————————————————
12432 Euclid Street, Garden Grove, CA 92840
832-397-9813 & (714) 584-7778 (xin để lại message)
Sang Lephuoc
Nov 17 (7 days ago)

to Vu, me
Kinh goi Dong Dao Huyen Tam, Chanh Tho Ky HDTSTU,GHPGHH kiem Tong Vu Truong PTGLPGHH,

Toi co nghde loi nhan trong may cua Ong. Xin chanh thuc uy nhiem Ong giu lien lac chac che va hop tac voi dong dao Vu Nguyen ve moi cong tac PTGL cung nhu Tu Thien Xa Hoi.
Cho toi goi loi tham va nguong mo den V u Nguyen.
lephuocsang
Categories: Sinh Hoạt Tôn Giáo | Leave a comment

Blog at WordPress.com.