Daily Archives: November 29, 2013

Ấn Độ muốn cân bằng lực lượng để đối phó với Trung Quốc

BienDong.Net

Ấn Độ muốn cân bằng lực lượng để đối phó với Trung Quốc

BienDong.Net: Sau những căng thẳng do tranh chấp lãnh thổ, mặc dù Trung Quốc và Ấn độ đã nỗ lực cải thiện quan hệ và làm dịu tình hình, song chủ trương của New Delhi tăng cường mở rộng quan hệ nhằm đối phó với những thách thức từ Trung Quốc vẫn không thay đổi.

Báo Ấn Độ: Cân bằng sự hung hãn của Trung Quốc

Trong số ra gần đây, báo Ấn Độ The Times of India đăng bài nhận xét: Chuyến thăm Ấn Độ của nhà lãnh đạo Việt Nam, Tổng bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng, không thể đơn thuần chỉ là một chuyến thăm của một nhà lãnh đạo nước ngoài trong năm nay.

 alt

Chiến hạm hải quân Ấn Độ ghé thăm Việt Nam

Kế tiếp nhà lãnh đạo của Việt Nam, New Delhi sẽ tiếp Hoàng đế Nhật Bản Akihito và hai nhà lãnh đạo quan trọng trong khu vực – Tổng thống Hàn quốc Park Geun – Hye và Thủ tướng Nhật Shinzo Abe (Thủ tướng Nhật cũng sẽ là quốc khách chính yếu của Ngày Cộng Hòa Ấn Độ nhân kỷ niệm ngày ban hành Hiến pháp đầu tiên của Ấn Độ).

Ấn Độ tổ chức những hoạt động ngoại giao này trong vòng hai tháng rưỡi sắp tới với chủ đích cân bằng ảnh hưởng gia tăng và thái độ hung hãn của Trung Quốc ở Đông Á và Đông Nam Á.

Chuyến thăm của ông Trọng là chuyến đi Ấn Độ thứ ba của các nhà lãnh đạo cao cấp Việt Nam kể từ 2011, cho thấy dấu hiệu tăng tiến của quan hệ đối tác chiến lược và quốc phòng giữa hai nước.

Việc này nói lên những mối liên kết gia tăng giữa hai nước cùng có tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải với Trung Quốc, bài báo viết.

Chuyến thăm lặng lẽ của Bộ trưởng quốc phòng Ấn Độ Mathur đến thành phố Hồ Chí Minh được coi là nhằm củng cố những thỏa thuận chính yếu để tăng cường quan hệ quốc phòng song phương.

Hai nền quân sự Việt – Ấn duy trì những cuộc tiếp xúc thường xuyên. Những mặt hàng quân sự mà Việt Nam mong nhận được từ Ấn Độ còn bao gồm tên lửa hành trình siêu âm Brahmos, loại vũ khí do Ấn Độ và Nga hợp tác sản xuất. Moscow đã bật đèn xanh, nhưng Ấn Độ còn cân nhắc ý nghĩa chính trị của việc cung cấp loại vũ khí hàng đầu này cho Việt Nam.

Sau Việt Nam, những cuộc thăm viếng của Nhật Hoàng Akihito và Thủ tướng Abe trong những tháng tiếp theo cho thấy hành trình mà Nhật và Ấn Độ thực hiện kể từ những cuộc thử nghiệm hạt nhân năm 1998.

Bên cạnh thương mại và đầu tư, quan hệ đối tác về quốc phòng và cuộc giao dịch về hạt nhân đã được đề nghị vẫn là những yêu tố chính của mối quan hệ song phương.

Các viên chức của Phủ Thủ tướng Ấn Độ giải thích: “Mối quan hệ Ấn – Nhật vẫn bền chặt suốt 10 năm qua và chỉ có một hướng là hướng đi lên”.

Cựu Bộ trưởng Ngoại vụ, Chủ tịch Hội đồng Tư Vấn An ninh quốc gia Ấn Độ Shyam Saran nói với The Economic Times: “Sự kiện Nhật Bản nổi bật lên như một nhà cung cấp quân dụng quốc phòng là điều đáng chú ý. Thủ tướng Abe đã nhất quyết không cho phép Trung Quốc thực hiện bá quyền”.

Báo Trung Quốc: Ấn độ “hướng Đông” nhằm đối phó với Trung Quốc

Trong khi đó, tờ Bình luận Trung Quốc (BLTQ) của Hồng Kông đã đăng tải bài viết với nội dung Ấn Độ tăng cường “hướng Đông” nhằm đối phó với Trung Quốc.

Theo bài báo, Ấn Độ đang hưởng ứng chiến lược “tái cân bằng Châu Á” của Mỹ, tăng cường thực thi chiến lược “Đông tiến để có thể giành được lợi ích lớn nhất khi Mỹ thực hiện chiến lược này, đồng thời thừa cơ để gia tăng độ ảnh hưởng về chính trị của Ấn Độ tại khu vực Đông Á và Đông Nam Á.

Tờ BLTQ phân tích: Cuối tháng 5 vừa qua, thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh sang thăm Nhật Bản để tăng cường hợp tác an ninh, quốc phòng với quốc gia này. Ấn Độ tích cực hưởng ứng ý tưởng “hợp lưu” Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương mà thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đưa ra, quốc gia này cũng đang tích cực triển khai mối quan hệ đối tác chiến lược với Nhật Bản, tạo luồng sinh khí mới cho nền kinh tế Ấn Độ và tăng cường các cuộc đối thoại liên quan đến lợi ích chung.

Theo BLTQ, Ấn Độ đã đề ra kế hoạch “ba bước” trong hợp tác chiến lược với Nhật Bản: Thứ nhất, tăng cường cơ chế khu vực, tăng cường sự đồng thuận; Thứ hai, thúc đẩy nhất thể hóa kinh tế khu vực một cách sâu rộng; Thứ ba, tăng cường gắn kết khu vực, dựa trên nguyên tắc tự do hàng hải được luật pháp quốc tế bảo vệ, duy trì sự thông suốt cho các hoạt động thương mại hợp pháp, giải quyết một cách hòa bình các vấn đề trên biển.

Tờ BLTQ cho rằng Ấn Độ luôn cảnh giác cao độ trước sự tiến quân vào Ấn Độ Dương của hải quân Trung Quốc, đề phòng hải quân Trung Quốc củng cố vị thế chiến lược tại Ấn Độ Dương.

BDN

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Trang Đầu » Trung Quốc

Quyền lực mềm Trung Quốc: Một nạn nhân khác của bão Hải Yến

James R. Homes, The Diplomat,

14 tháng Mười Một 2013

Trần Ngọc Cư dịch

Món tiền cứu trợ nhỏ nhoi ngoài mức tưởng tượng mà Bắc Kinh gửi cho Manila đánh dấu một kỷ nguyên ngoại giao chế nhạo mới [a new era of sneer diplomacy].

Trung Quốc không bao giờ hết làm cho thế giới sững sờ. Lãnh đạo Trung Quốc không những hủy hoại cả một chiến dịch quyền lực mềm đầy hứa hẹn được thai nghén trong nhiều năm. Nó còn san bằng cả nền móng quyền lực mềm của chính mình, rồi đổ muối lên trên tàn tích khiến cho không có gì cỏ thể bén rễ trở lại được. Lý do tại sao vẫn còn là một điều bí ẩn.

Dấu hiệu mới nhất cho thấy Trung Quốc có vấn đề hiện ra sau khi trận bão Hải Yến đánh vào Philippines cuối tuần qua, giết chết ít nhất trên 1.800 người, tính cho đến hôm nay [tức ngày 14 tháng Mười Một]. Giáo sư [Walter Russell] Mead đăng một bài trên blog bày tỏ sự ngạc nhiên về số tiền bé tẹo mà Bắc Kinh dành cho việc cứu trợ thiên tai tại Philippines. Khi đọc bài báo, tôi tin chắc Mead đã bỏ sót hai hay ba số zê-rô. Nhưng đối chiếu bài bình luận của ông với một bản tin của hãng Reuters, thì y như rằng, con số ông ta viết ra là đúng: 100.000 USD tiền cứu trợ trực tiếp, và thêm 100.000 USD nữa thông qua Hội Chữ thập đỏ. [Thật ra, về sau Trung Quốc tăng thêm 1.620.000 USD nữa – DG.] Những con số chiếu lệ này làm ô danh chủ nghĩa chiếu lệ.

Ta hãy quên đi cái ngoại giao bằng nụ cười. Đây là cái ngoại giao bằng sự nhạo báng. Nhiều nhà quan sát, trong đó có tôi, gán sự bất động của Trung Quốc tiếp theo sau thảm họa tsunami Ấn Độ Dương 2004 cho khả năng còn non nớt của nước này. Lúc đó, Quân Giải phóng Nhân dân (PLA) chưa sử dụng được những khả năng viễn chinh cần thiết để cứu trợ ở những nơi xa bờ biển Trung Quốc. Bắc Kinh làm ít vì nó chỉ đủ sức làm ít vậy thôi. Tuy nhiên, các lực lượng Trung Quốc hiện nay đã có những phương tiện cứu hộ như tàu bệnh viện Peace Ark [Tàu Nô-ê Hoà bình]. Nhưng các lực lượng này vẫn bất động, không chịu làm gì cả. Thật khó mà không kết luận rằng Bắc Kinh từ chối giúp đỡ nạn nhân trận bão chỉ vì có thù oán với Philippines. Dẫu sao, Manila dám liều lĩnh lặp đi lặp lại rằng khu đặc quyền kinh tế của mình, vâng, là khu đặc quyền kinh tế của mình. Thái độ trả đũa chính trị của Trung Quốc có vẻ đã vượt lên trên việc xoa dịu nỗi đau khổ của con người.

Cách đây không lâu, ít ai nghĩ rằng cách ứng xử này có thể xảy ra, khi Trung Quốc khôn khéo gắn liền khuôn mặt của các nhân vật như Khổng Tử và Đô đốc Trịnh Hoà của Nhà Minh với sự trỗi dậy của một đại cường. Với thông điệp: Trung Quốc là một đại cường nhân ái duy nhất, không có khả năng ngược đãi các tiểu quốc láng giềng.

Những mời gọi này có hiệu quả bao lâu mà Bắc Kinh theo đúng những điều mình rêu rao. Quyền lực mềm chính là “sức thu hút,” theo Giáo sư Joe Nye, cha đỡ đầu của khái niệm này. Đồng tác giả Toshi Yoshihara trên Naval Diplomat Blog thích đặt câu hỏi, liệu quyền lực mềm là một loại hương thầm [pheromone] hay chỉ là một thoáng nước hoa. Trả lời: một hương thầm.

Văn hóa, định chế, và chính sách – những suối nguồn của quyền lực mềm – cần phải giữ được tính nhất quán qua những quãng thời gian dài để tạo được sự chờ đợi nơi những khối thính giả trong tầm ngắm. Hành vi bất nhất, hay cách ứng xử mâu thuẫn với hình ảnh mà một nước muốn trưng ra, nhất định sẽ gây ấn tượng giả dối trong mắt người quan sát. Hay nói đúng ra, loại hành vi này sẽ bôi bác chính những điều mà nước ấy rêu rao. Một chuẩn mực ứng xử xuống cấp thì chẳng còn gì là chuẩn mực. Chủ nghĩa hoài nghi, nếu không phải là sự mất niềm tin, sẽ đón chào chính sách ngoại giao Trung Quốc trong tương lai cứ mỗi lần Bắc Kinh cố xức lên mình một chút nước hoa. Một mùi hôi thối sẽ thoang thoảng bay qua.

Từ quan điểm của Mỹ, cách ứng xử của Trung Quốc vẫn có mặt tốt của nó: Trung Quốc đã làm cho mình nom giống một tên tiểu nhân, một đứa keo kiệt, chứ không phải là một cường quốc cao thượng đáng vai lãnh đạo khu vực. Đây là hành vi tự hại mình ở mức xuẩn động cao. Việc chi mà ta phải can ngăn một đối thủ chiến lược có ý định cầm súng tự bắn vào chân mình. Mày cứ bắn đi!

 

J. R. H.

Dịch giả gửi trực tiếp cho BVN.

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Xã hội Dân sự hay Đảng sự?

Trang Đầu » Dân chủ

Xã hội Dân sự hay Đảng sự?

Hà Sĩ Phu

Khỏi cần lý luận để chứng minh Xã hội dân sự hay Xã hội công dân (Civil Society)  là vô cùng cần thiết và là một thước đo của xã hội văn minh (*).

Do quá hiểu chân lý đương nhiên này nên chính các đảng cộng sản, bên cạnh bộ máy hành chính rất chặt chẽ vẫn phải có những hình thức của Xã hội dân sự, đó là hình thức “Mặt trận” bao gồm hết các tổ chức của nam phụ lão ấu, tôn giáo, công nhân, nông dân…, không chừa một ai.

Đó hẳn là căn cứ để tác giả Thanh Nguyên trên báo Quân đội Nhân dân (xem ở đây) viết rằng:

Nếu cái gì tốt đẹp, tích cực của cái gọi là “xã hội dân sự” thì xã hội ta đang có”.

Khẳng định “cái gọi là Xã hội dân sự thì xã hội ta đang có” thì rất đúng (tức cái xã hội “Mặt trận” đang có đấy) , nhưng các từ ngữ “tốt đẹp” và “tích cực” thì hơi bị… ngược! Nếu nó đã “tốt” và “tích cực” thật thì dân đã xài nó rồi, khỏi phải tốn bao công sức để ra đời một trang Xã hội Dân sự  với bao khó khăn vất vả và đòi hỏi sự dấn thân dũng cảm, và khiến báo Quân đội Nhân dân phải ra tay đối phó như bài viết kể trên?

Cái gọi là “Mặt trận” không thể gọi là của dân khi từ đơn vị nhỏ đến đơn vị lớn đều do người của đảng “lãnh đạo” hết, những ý nguyện lớn nhất của dân có bao giờ được cất lên từ “Mặt trận” không?

Trong xã hội ngày nay chữ nhân dân đã bị “đảng hóa” đến kiệt cùng. Dân được chia nhỏ đến từng tổ dân cư dưới sự giám sát trực tiếp của những chi bộ đảng, quân đội “nhân dân” thì phải trung với Đảng, công an “nhân dân” thì chỉ biết còn Đảng còn mình, thậm chí trên báo Quân đội Nhân dân còn định nghĩa lại “nhân dân” (chỉ gồm những ai theo Đảng lập nên xã hội này)… thì thử hỏi cái “Mặt trận” do Đảng lập ra, cử hẳn một trong 14 vị vua tập thể nắm chóp, thì cái chất “Dân” trong đó có còn hay không?

Theo tác giả Thanh Nguyên thì Diễn đàn Xã hội Dân sự chớ có lập trang Web  riêng làm gì, muốn tốt thì hãy “Tuyên truyền tính chất vì quyền lợi của nhân dân ở các tổ chức xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng”…

Dài dòng làm chi, chỉ hai chữ “dưới sự” là đủ nói lên tất cả! Ai thấy “dưới sự” lâu quá, mỏi lưng thì xin mời vào đây cho thư giãn: www.diendanxahoidansu.wordpress.com.

 

H. S. P.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

(*) Xin đọc một bài báo giàu đảng tính: Xã hội công dân – Một trong những tiền đề để xây dựng xã hội Cộng sản

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Đổi mới tư duy cho đất nước tiến lên

Trang Đầu » Dân chủ

Đổi mới tư duy cho đất nước tiến lên

Nguyễn Trọng Vĩnh

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

 

I. Vì ai nên nỗi

Đọc bài viết của tiến sĩ Trần Đình Bá về “Tứ đại Vina” và những thất thoát do họ gây ra, nợ nần khổng lồ của nhà nước cùng sự công bố của vụ trưởng Trần Ngọc Thành [xem ở đây – BVN], tôi vô cùng xót xa và oán hận. Chắc rằng những công dân lương thiện mà biết được cũng có tâm trạng như tôi.

Do thất thoát, lãng phí, tham ô hàng chục, hàng trăm tỷ đô la, tài chính nhà nước thiếu hụt, tất phải lạm phát, làm cho giá mọi thứ nhu cầu thiết yếu của dân tăng, từ xăng dầu, điện, nước, học phí, viện phí, thuốc men, cho đến con cá lá rau cũng tăng, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân, nhất là công nhân, dân nghèo đời sống càng chật vật.

Do tài chính thiếu hụt, không có tiền tăng lương cho công nhân viên chức, giáo viên để họ đủ nuôi sống gia đình, nên nhiều người phải xoay sở một cách bất chính; không có tiền xây thêm trường học, học sinh phải học ba ca, không có tiền xây thêm bệnh viện, khiến bệnh nhân phải nằm 2,3 người một gường; không có tiền đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn; không có tiền tăng ngân sách quốc phòng, để trang bị cần thiết tạm đủ khả năng bảo vệ độc lập chủ quyền, nên bị “người ta” lấn át. Do thiết hụt tài chính lại tăng vay nợ nước ngoài, nợ cũ nợ mới chồng chất để gánh nặng cho cháu chắt phải trả bao giờ cho hết trong khi tài nguyên khoáng sản các loại móc lên bán hết, còn đâu phần cho các thế hệ mai sau. Những thất thoát kinh khủng mà “Tứ đại Vina” gây ra do mua sắm đồ phế thải, do làm ăn thua lỗ, do tham ô, tất nhiên các giám đốc, các tổng giám đốc phải chịu trách nhiệm. Nhưng trách nhiệm lớn hơn phải là Chính phủ, Thủ tướng là cấp trên trực tiếp quản lý và chỉ đạo các Tập đoàn kinh tế nhà nước. Chả lẽ những sự việc rất to như mua “ụ nổi sắt vụn”, tàu nát, xây hơn 200 cảng biển, 63 sân bay quá nhiều không cần thiết, v.v. mà Thủ tướng không biết hoặc biết mà dung dưỡng, hoặc có những uẩn khúc, khuất tất gì bên trong mà không dám công khai xử lý và không dám công khai nhận trách nhiệm.

Nhưng xét đến cùng thì trách nhiệm thuộc về lãnh đạo Đảng, bởi vì Đảng lãnh đạo toàn diện, lãnh đạo chính quyền, kể cả ký thay chính quyền trong hoạt động đối ngoại, các chức danh chính quyền từ dưới lên đều do cấp ủy Đảng bố trí, Thủ tướng cũng do lãnh đạo Đảng quyết định. Quốc hội bầu chỉ là hình thức. Một Thủ tướng yếu kém, không có tâm, có tầm mà lãnh đạo vẫn để cho quyền điều hành, cộng với những chủ trương sai lầm của lãnh đạo nên kinh tế sa sút, tụt hậu, chính trị lệ thuộc, xã hội hỗn loạn, văn hóa đạo đức suy đồi, dân nghèo nước yếu.

II. Đổi mới tư duy để đất nước tiến lên

1. Trước hết cần có một Hiến pháp thật sự dân chủ, bảo đảm mọi quyền tự do chính đáng của công dân đã ghi trong Hiến pháp, đúng tinh thần dân làm chủ, mọi quyền lực thuộc về nhân dân như lâu nay văn kiện thường nêu. Hiến pháp phải đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên hết và phù hợp với trào lưu văn minh, tiến bộ của thế giới đương đại trong đó có tam quyền phân lập. Có thế mới động viên được tinh thần phấn khởi của toàn dân, phát huy được mọi năng lực, sáng tạo vào công cuộc xây dựng đất nước, không phải như dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 hiện nay theo chỉ thị của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sắp được Quốc hội thông qua.

2. Lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động, không cần nói “theo chủ nghĩa Mác – Lê nin” nữa. Biết rằng Mác, Lênin là những nhà uyên bác, những đầu óc lớn đáng kính, nhưng các vị cũng có những chỗ sai, không phù hợp với thực tế. Vả lại những ý gì của Mác, của Lênin mà thích hợp với nước ta thì đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu, cũng như Người đã tiếp thu những gì là văn minh khoa học, tiến bộ của thế giới. Người cũng đã nghiên cứu tiếp thụ những cái đúng cái hay của đạo Phật, đạo Thiên chúa, của Khổng Tử, của Tôn Trung Sơn. Vậy làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ rồi.

3. Mục tiêu: Xây dựng nước ta dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh như nghị quyết Đảng đã từng nêu là thích hợp. Được thế thì nhân dân hạnh phúc rồi. Không nêu xây dựng chủ nghĩa xã hội nữa. Mô hình xã hội chủ nghĩa kiểu Stalin, trái ngược với thực tế cuộc sống đã tan rã, sụp đổ rồi. Các nước vẫn còn bám theo mô hình ấy như Cuba, Việt Nam, Triều Tiên thì đều nghèo, thậm chí đói (như Triều Tiên), trừ Trung Quốc. Từ khi ông Đặng Tiểu Bình nêu: “Mèo trắng, mèo đen, mèo nào bắt được chuột là mèo tốt” thì Trung Quốc đã rẽ theo con đường phi xã hội chủ nghĩa rồi và tiến nhanh. Mặc dầu đến nay, họ vẫn nêu “Xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc” là nói để mà nói thôi, thực tế thì xã hội Trung Quốc hiện tại là xã hội tư bản chưa hoàn chỉnh do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Việt Nam ta mang tên là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa và vẫn nói xây dựng chủ nghĩa xã hội, vậy theo mô hình nào, tiêu chí ra sao, chưa ai nêu ra. Trong nước ta hiện nay, cái gì là xã hội chủ nghĩa không ai chỉ ra được, đến Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng nói “Đến hết thế kỷ này, cũng chưa hoàn thành được chủ nghĩa xã hội”. Cái mà gần 100 năm nữa chưa biết ra thế nào có phải là ảo tưởng không? Lại nói “định hướng xã hội chủ nghĩa” là định hướng theo cái vô hình ư, thật mơ hồ. Vậy nên thôi nói xây dựng chủ nghĩa xã hội để khỏi tự bó buộc mình và dễ hòa đồng với thế giới. Nên giải thể hoặc cổ phần hóa các Tập đoàn kinh tế nhà nước, không giao cho nó vai trò chủ đạo nền kinh tế và nó cũng không có khả năng chủ đạo.

4. Lãnh đạo khác với Đảng trị. Không nên mọi việc đều do Bộ Chính trị quyết định một cách chủ quan, độc đoán. Phải thực hiện dân chủ, tôn trọng các quyền tự do của công dân được ghi trong Hiến pháp; phải đồng hành với dân, lắng nghe ý kiến của dân, của các chuyên gia, các nhà kinh tế giỏi trong, ngoài nước trong đó có ý kiến của ông Lý Quang Diệu; lắng nghe những ý kiến tâm huyết của những nhà trí thức chân chính, những ý kiến xây dựng của các nhân sĩ ngoài Đảng, của các Đảng viên lão thành trung thực, nói thẳng nói thật. Không nên đàn áp những người có ý kiến bất đồng, những người đấu tranh cho độc lập chủ quyền của Tổ quốc. Bộ Chính trị không nên tự cho mình là giỏi giang, sáng suốt nhất nước (thực tế không phải như vậy), mà phải quý trọng thu hút hiền tài. Những cái ghế, cái ngai không phải là quan trọng mà những người nào làm được cho Tổ quốc cường thịnh mới là quan trọng nhất.

5. Quan trọng hơn hết là phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường vốn có của dân tộc ta. Tự lực, tự cường phải xây dựng và phát triển nội lực, nội lực chính là lòng dân và sức dân. Gắn bó với dân, dựa vào dân thì sẽ có tất cả. Từ các triều đại phong kiến đánh bại được quân xâm lược phương Bắc, giữ được nước cũng là nhờ có sức mạnh của dân, Cách mạng tháng 8 giành lại được độc lập, xây dựng được chính quyền cũng là nhờ được sức mạnh của hàng vạn, hàng triệu dân (vũ khí bấy giờ không đáng kể). Tất nhiên cần có vua sáng, tôi hiền, có lãnh đạo kiệt xuất, tướng lĩnh tài ba biết động viên và phát huy sức mạnh toàn dân. Hiện nay, do yếu kém không tạo được sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc thành ra lệ thuộc. Cái gì giới cầm quyền Trung Quốc đề xuất vì lợi ích của họ đều phải chấp nhận, cái gì Trung Quốc không muốn đều không dám làm. Thế thì tinh thần độc lập tự chủ ở đâu? Tại sao không làm được như Miến Điện?

Ta đã đề ra chính sách ngoại giao “Đa dạng hóa, đa phương hóa, Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, không can thiệp vào nội bộ của nhau” là rất đúng. Vậy cần phát triển quan hệ thân thiện, bình đẳng, cân bằng với các nước lớn, Mỹ cũng như Trung Quốc, không ngả theo bên nào. Đối với những vấn đề thuộc lợi ích quốc gia của ta, ta cứ hành xử theo tình thần độc lập tự chủ, không việc gì phải e ngại ai./.

N. T. V.

 

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Hút thuốc và khói bụi, hai thứ chết người ở Trung Quốc

Hút thuốc và khói bụi, hai thứ chết người ở Trung Quốc

 Lu Chen, Epoch Times       November 25, 2013      Xã Hội Trung Quốc     No Comment
Một người đàn ông (L) mang một chiếc mặt nạ, như một khách khác đang bịt miệng trong chuyến thăm Quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh vào ngày 5 tháng 11 năm 2013. Trung Quốc dự kiến ​​sẽ có một triệu bệnh nhân ung thư phổi vào năm 2025 do ảnh hưởng của thuốc lá và ô nhiễm không khí, theo Hội nghị Cấp cao lần thứ 6 về Ung Thư Phổi Bắc-Nam Trung Quốc - tổ chức tại Bắc Kinh ngày 16-ngày 17 tháng 11. (Wang Triệu / AFP / Getty Images)Một người đàn ông (L) mang một chiếc mặt nạ, như một khách khác đang bịt miệng trong chuyến thăm Quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh vào ngày 5 tháng 11 năm 2013. Trung Quốc dự kiến ​​sẽ có một triệu bệnh nhân ung thư phổi vào năm 2025 do ảnh hưởng của thuốc lá và ô nhiễm không khí, theo Hội nghị Cấp cao lần thứ 6 về Ung Thư Phổi Bắc-Nam Trung Quốc – tổ chức tại Bắc Kinh ngày 16-ngày 17 tháng 11. (Wang Triệu / AFP / Getty Images)

Không khí không dễ hít thở và việc hút thuốc lá đang cùng nhau mang đến ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân Trung Quốc.

Đến năm 2025, Trung Quốc dự kiến ​​sẽ có một triệu bệnh nhân ung thư phổi, đây là con số lớn nhất của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, theo Hội Nghị Cấp Cao lần thứ 6 về Ung Thư Phổi – Bắc – Nam Trung Quốc tổ chức tại Bắc Kinh ngày 16-17 Tháng 11.

Thống kê từ Bộ Y tế Trung Quốc cho thấy ung thư phổi có tỷ lệ tử vong cao nhất trong số tất cả các loại ung thư ở Trung Quốc và tỷ lệ đã tăng 465% trong suốt 30 năm qua.

Theo Bộ Y tế tỷ lệ mắc ung thư phổi tăng trung bình 26,9 phần trăm mỗi năm.

Một phần ba số người hút thuốc trên toàn thế giới

Các chuyên gia tại hội nghị thượng đỉnh cho rằng hút thuốc là nguyên nhân chính cho sự gia tăng tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc bệnh ung thư phổi ở Trung Quốc, và cho biết việc kiểm soát hút thuốc lá sẽ là một biện pháp quan trọng để ngăn ngừa ung thư phổi.

Khoảng 1 triệu người Trung Quốc chết vì các bệnh tật do hút thuốc lá mỗi năm. Các chuyên gia tại hội nghị dự đoán rằng khoảng 2 triệu người sẽ chết vì các bệnh liên quan đến hút thuốc vào năm 2025, nếu không có những biện pháp kiểm soát thuốc lá, các báo cáo chính thức nói.

Trung Quốc là nước sản xuất nhiều thuốc lá nhất trên thế giới mỗi năm 1,7 nghìn tỷ điếu thuốc lá, cao gấp 2,5 lần so với Hoa Kỳ, theo báo cáo chính thức của Trung Quốc. Trung Quốc có 350 triệu người hút thuốc, chiếm gần một phần ba trong số 1,1 tỷ người hút thuốc trên toàn thế giới.

Ô nhiễm không khí nghiêm trọng

Nghiên cứu cho thấy ô nhiễm không khí là có liên quan chặt chẽ với ung thư phổi và các bệnh tim mạch khác.

Sự huện hữu với một mức độ nhất định của các hạt mịn trong không khí, được ước tính đã gây ra 3,2 triệu ca tử vong do bệnh tim mạch trên toàn thế giới trong năm 2010, theo báo cáo của Cơ quan Nghiên cứu Quốc Tế về Ung thư, là một phần của Tổ chức Y Tế Thế giới WHO.

Báo cáo cho biết 223.000 ca tử vong là ung thư phổi, và hơn một nửa số ca tử vong ung thư phổi là do các hạt nhỏ trong môi trường xung quanh ở Trung Quốc và các nước Đông Á khác.

Tình trạng không khí tồi tệ và sương mù dày đặc ở Trung Quốc đã được báo cáo thường xuyên trong năm nay. Một số trường tiểu học, sân bay, đường cao tốc bị đóng cửa ở các khu vực Bắc, Trung, và các vùng ven biển Trung Quốc vào tháng trước do sương mù dày đặc, mà nguyên nhân được cho là ô nhiễm nghiêm trọng và nguy hiểm.

Bắc Kinh sẽ đầu tư 15 tỷ nhân dân tệ (2,5 tỷ USD) để kiểm soát sự ô nhiễm không khí trong năm 2014, theo Ủy ban Phát Triển và Cải cách Bắc Kinh. Bắc Kinh đã bố trí 8 tỷ nhân dân tệ (1,3 tỷ USD) để kiểm soát sự ô nhiễm không khí trong năm nay.

Theo nghiên cứu được thực hiện bởi Tổ Chức Y Tế Thế Giới về ô nhiễm không khí ngoài trời ở 1100 thành phố trên 91 quốc gia trong những năm 2008 và 2009, 21 trong số 100 thành phố tồi tệ nhất về mức độ ô nhiễm không khí là ở  Trung Quốc.

Đầu tháng này, một bé gái 8 tuổi ở tỉnh Giang Tô phía đông Trung Quốc được chẩn đoán bị ung thư phổi, khiến cô bé trở thành bệnh nhân ung thư phổi trẻ nhất trên toàn thế giới. Các bác sĩ địa phương đổ lỗi cho ô nhiễm không khí là nguyên nhân chính, họ chỉ ra rằng cô bé đã hít vào quá nhiều hạt mịn bởi cuộc sống của cô bé nằm bên cạnh một con đường giao thương hạng nặng trong nhiều năm.

Categories: Kien-thuc Y-Khoa | Leave a comment

CHÙA PHẬT GIÁO LÂU ĐỜI NHẤT ĐƯỢC PHÁT HIỆN TẠI NEPAL

 

Chùa Phật Giáo lâu đời nhất được phát hiện tại Nepal

(11/27/2013) (Xem: 700)
CHÙA PHẬT GIÁO LÂU ĐỜI NHẤT
ĐƯỢC PHÁT HIỆN TẠI NEPAL
CÓ THỂ ĐẨY LÙI NGÀY PHẬT ĐẢN SINH 
 
Viết bởi Dan Vergano, National Geographic, ngày 25 tháng 11 2013.
Dịch bởi Tâm Thường Định, ngày 26 tháng 11, 2013.

– Các cuộc khai quật phát hiện ra một ngôi chùa Phật Giáo có niên đại từ thế kỷ thứ sáu trước Công nguyên

Ngày Phật Đản sinh có thể đẩy lùi cả một thế kỷ? Các nhà khảo cổ đã phát hiện ra bằng chứng về ngôi đền Phật giáo cổ nhất được khám phá từ trước đến nay, có niên đại khoảng 550 trước công nguyên

Tọa lạc tại trung tâm hành hương Lâm Tỳ Ni (Lumbini) của Nepal, nơi Đức Phật đản sinh, sự phát hiện này có thể làm thay đổi ngày sinh của một nhân vật tôn giáo nổi tiếng.  Ngày sinh này có thể có trước hơn một thế kỷ mà nhiều học giả đã công nhận. (Xem thêm:”Buddha Rising.”)

Nhà khảo cổ học Robin Coningham của trường Đại học Durham, Vương quốc Anh, tác giả chính của cuộc nghiên cứu khảo cổ này, nhận định trên tạp chí Antiquity hôm thứ Hai, “Những gì chúng tôi đã tìm thấy là Đền thờ Phật giáo đầu tiên trên thế giới.”

Trong cuộc nghiên cứu này, các nhóm khảo cổ quốc tế tường thuật rằng họ đang đào bới phía dưới lớp gạch của đền thờ, nơi mà có hàng trăm ngàn người hành hương đến thăm viếng mỗi năm.


Photography by Ira Block, National Geographic. 
Hình ảnh của các nhà khảo cổ Robin Coningham và Kosh Prasad Acharya chỉ đạo cuộc khai quật trong ngôi đền 
thờ Maya Devi (Hoàng hậu Maya).
Ông Coningham cho rằng, cuộc khai quật cho thấy cấu trúc bằng gỗ cũ kỷ nằm bên dưới những bức tường gạch của ngôi đền Phật giáo. Cách bố trí của ngôi đền gần đây sao lại giống hệt cách bố trí của các cấu trúc bằng gỗ trước đó, điều này chỉ vào một đền thờ có tính tiếp tục của Phật giáo.

Coningham bảo rằng, “Các cuộc tranh luận lớn là về thời gian Đức Phật đã sống và bây giờ chúng tôi có một ngôi đền có từ thế kỷ thứ sáu trước Công nguyên.”  Nhóm nghiên cứu đã sử dụng hai loại kỹ thuật cacbon phóng xạ để tìm ra tuổi của ngôi đền này.

Các học giả bên ngoài hoan nghênh sự phát hiện này, nhưng cảnh giác rằng đừng quá vội vàng chấp nhận sự kiện đền thờ Phật giáo này là lâu đời nhất được phát hiện mà không cần thêm những phân tích khác.

Theo nhà khảo cổ học Ruth Young của Đại học Leicester của Vương quốc Anh qua một điện thư, “Các nhà khảo cổ rất thích tuyên bố rằng họ đã tìm thấy cái sớm nhất hoặc lâu đời nhất của một thứ gì đó.”

Nơi sinh của Đức Phật

Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới, với hơn 350 triệu người, hầu hết đang sống ở Đông Á.

Theo truyền thống, vườn Lâm Tỳ Ni là nơi mẹ của Đức Phật, Hoàng hậu Maya (Maya Devi), với tay nắm lấy một nhánh cây Vô ưu và đã hạ sanh nhân vật lịch sử thái tử Siddhartha Gautama, người sau này trở thành Đức Phật.

Ngày Đức Phật đản sanh chính xác vẫn còn tranh luận, với chính quyền Nepal ưu chuộng 623 trước Công nguyên, và các truyền thống khác ưu chuộng ngày gần đây, khoảng năm 400 trước Công nguyên hơn.

Tuy nhiên, 249 trước Công Nguyên, vườn Lâm Tỳ Ni đã trở thành một trong bốn thánh địa tâm linh, rất liêng thiêng của Phật giáo, đánh dấu bằng chữ khắc và một trụ cột để lại có trong 249 trước Công Nguyên bởi hoàng đế A-Dục (Ashoka) Ấn Độ, người đã giúp Phật giáo lan truyền rộng rải trên khắp châu Á.

Vườn Lâm Tỳ Ni sau đó bị bỏ hoang tàn và được tái phát hiện vào năm 1896 và tái thành lập như là một trung tâm tôn thờ, đền thờ Hoàng hậu Maya, mà bây giờ là một di sản thế giới.

Vì lo ngại hao mòn khi truy cập nhiều khác, UNESCO, cùng với các quan chức Nhật Bản và Nepal , hỗ trợ Coningham và các đồng nghiệp khi họ ghi lại những điều kiện tại Lâm Tỳ Ni và nghiên cứu lịch sử bên dưới các lớp cấu trúc gạch còn sót lại từ thời đại A-Dục Vương (vua Ashoka).

Nghiên cứu cũng được sự hỗ trợ bởi Hiệp hội Địa lý quốc gia.

“Chúng tôi có gần quyền vô song tiếp cận nơi khảo cổ này mà có thể sẽ không có cơ hội thứ hai mãi đến thế hệ sau,” Coningham nói. ” Vì lý do đó , chúng tôi thực hiện công việc của mình hoàn toàn cởi mở và minh bạch cho khách hành hương. Họ được chứng kiến và thật cảm động khi được xem chúng tôi đã làm khảo xác.”

Đền Thờ Cây Cổ

Khi đào bới bên dưới trung tâm ngôi đền, các nhà nghiên cứu phát hiện ra những chỗ sâu chỉ vào một lan can bằng gỗ xung quanh một ngôi đền gỗ và có niên đại khoảng 550 trước Công nguyên, Coningham nói. Họ cũng tìm thấy một cấu trúc bằng gạch cũ kỷ.

Trung tâm của ngôi đền đã được khảo xác, nhóm nghiên cứu tìm thấy, và có những rễ cây bằng thạch, bao quanh bởi những tầng đất sét được đi mòn của du khách. Đó có thể là một đền thề cổ xưa, hoặc đền thờ bằng cây.

Rễ cây dường như đã được làm cho màu mỡ, và mặc dù đền thờ cổ xưa được tìm thấy trong truyền thống cũ Ấn Độ, ngôi đền thiếu những dấu hiệu của sự cúng thần hay cúng hiến ở nơi này.

“Nó rất sạch sẽ, trên thực tế, điều đó chỉ vào truyền thống Phật giáo của sự bất bạo động và không thờ cúng thần linh,” Coningham nói.

Nhóm khảo cổ tập trung nghiên cứu vào tuổi của ngôi đền từ than gỗ với kỹ thuật cacbon phóng xạ và phát quang kích thích (luminescence dating), một phương pháp mà tiết lộ thời gian phân hủy phóng xạ của các nguyên tố trong đất để lộ tuổi tác của nó khi còn ở bờ mặt.

Nhìn chung, Coningham lập luận, cuộc khai quật tại điểm này tiết lộ sự bắt đầu của sự trồng trọt khoảng 1000 trước Công nguyên, tiếp theo là sự phát triển một cộng đồng tu viện Phật giáo tương tự của thế kỷ thứ sáu trước Công nguyên.

Sự Uyên Thâm Thận Trọng

“Bằng chứng mới nhất từ cuộc nghiên cứu cho thấy hoạt động nghi lễ đã diễn ra trong nhiều thế kỷ trước ở các cấp độ thời vua A Dục và điều này thực sự có ý nghĩa và thú vị”, Young nói.

Julia Shaw, một giảng viên trong khảo cổ học Nam Á tại Đại học London, bảo rằng: “Những tuyên bố cho một lan can bằng gỗ xung quanh một ngôi đền cây có thể thuyết phục nhưng có thể vẫn còn tính chất suy đoán.”

Bà Shaw cảnh giác nên thận trọng về việc tuyên bố đền thờ Phật giáo lâu đời nhất.

Bà nói, “Sự thờ cúng cây cối, thường ở bàn thờ đơn giản, là một tính năng phổ biến của các tôn giáo cổ xưa ở xứ Ấn Độ, và sự trùng lắp giữa các nghi lễ Phật giáo và truyền thống từ trước, những gì mô tả về việc thờ phụng cây cối có thể khác biệt với sự thờ phượng của Đức Phật lịch sử”.

“Tuy nhiên, nó tiết lộ một số hiểu biết mới cho việc khảo cổ học về nghi lễ Ấn Độ nói chung”, bà ta cho biết thêm.

Coningham kêu gọi đây là cơ hội tốt để nghiên cứu đền thờ thiêng liêng này và đóng góp vào việc bảo tồn vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini) quan trọng này, đặc biệt là do sự phổ biến ngày càng rộng rãi của một thánh địa hành hương lịch sử. Đến năm 2020, dự kiến có hơn bốn triệu người hành hương ​​sẽ đến thăm nơi này.

“Thật là hết sức bận rộn vào những thời điểm khảo xác, có những người cầu nguyện và thiền định, “Coningham nói. “Đó là một thách thức và thú vị, làm việc trên một môi trường tôn giáo sống động này.”

Translated from Oldest Buddhist Shrine Uncovered In Nepal May Push Back Buddha’s Birth Date
Excavations uncover a shrine dating to the sixth century B.C. by Dan Vergano of National Geographic

 

Dưới đây là chùm ảnh của National Geographic

Bản đồ vị trí khai quật cổ sử – Lumbini (Vườn Lâm Tỳ Ni – lãnh thổ Nepal)

Đền thờ Hoàng hậu Maya (Mahadevi temple), nơi đang khai quật cổ sử bên trong


Một vị sư đang hướng về đền thờ Hoàng hậu Maya (Mahadevi temple) cầu nguyện


Các vị sư đang cầu nguyện khi đoàn khảo cổ Anh đang khai quật cổ sử phía bên dưới


 

BÀI ĐỌC THÊM:

● Phân tích thêm về thời điểm Đức Phật đản sinh (National Geographic)

.● Phát hiện dấu tích Phật tổ sống ở thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên (BBC)

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Cơn Ác Mộng Của Người Già Trong Viện Dưỡng Lão

 

Cơn Ác Mộng Của Người Già Trong Viện Dưỡng Lão – Trịnh Thanh Thuỷ

(04/20/2012) (Xem: 27461)
Cơn Ác Mộng Của Người Già 
Trong Viện Dưỡng Lão  
Trịnh Thanh Thuỷ

Ai cũng ao ước « ra đi » dễ dàng , nhưng mâu thuẩn là sợ chết hơi sớm … hơn mình nghĩ . Mà chết hơi … muộn thì đọc bài nầy sẽ biết thêm … như vậy đó  ! ! !

Thật vậy , « Viện Dưỡng Lão » hay « Nursing Home » từ lâu đã là cơn ác mộng của người già , người bệnh cũng như những người mất năng lực tự vệ . Hai chữ « Nursing Home » là hai từ đánh thốc vào tim tạo nên các cơn kinh hãi của các Cụ cao niên . Trên trang mạng chuyên môn về Nursing Home , « Consumer affair Complaints & Review » nơi người dân có thể kiện cáo , phàn nàn về những vấn đề tắc trách , ngược đãi người già của các Viện Dưỡng Lão , đã đăng tải và nêu ra những vấn đề nghiêm trọng cần được mọi người quan tâm .

Những Viện Dưỡng Lão ngày nay có quá nhiều nhân viên thiếu khả năng chuyên môn , ít nhiệt tâm và không được huấn luyện kỹ lưỡng . Việc điều hành của các nhà dưỡng lão hầu hết đều kém và thiếu sự sắp đặt . Con số người bị ngược đãi , bỏ mặc trên cả hai phương diện sinh lý lẫn tâm lý đã lên tới con số hàng chục ngàn người , và còn tăng hơn với sự cắt giảm tài trợ của chính phủ hiện nay do ngân quỹ tài chính thiếu hụt . Họ bị bỏ mặc với những cơn đau trong nhà dưỡng lão như bị quăng vào một thùng rác và chịu đựng những bệnh nhiễm trùng đe doạ tới mạng sống . Họ còn bị bắt nín lặng , khỏi than phiền , kêu cứu hay la lối trước các cơn đau , rối loạn tâm thần hoặc tuyệt vọng , bằng cách được cho uống thuốc an thần một cách rất thản nhiên .

Tôi được một người bạn từng là cựu điều dưỡng viên trong Viện Dưỡng Lão ở Quận Cam , Hoa Kỳ , cho biết và xin kể lại những câu chuyện thật về việc đối xử tệ hại các Cụ cao niên ở đấy cho bạn đọc xem ở phần cuối bài .

Sự bê bối của các Viện Dưỡng Lão đã được che đậy một cách khéo léo trước con mắt công luận nên có rất nhiều trường hợp các Cụ bị bỏ bê và ngược đãi mà không ai biết . Tất cả mọi việc xảy ra đều do việc thiếu tài trợ , thiếu công quỹ , thiếu nhân lực , thiếu huấn luyện và thiếu sự thanh tra thường trực .

Có những thân nhân của người bị ngược đãi báo cáo và than phiền về việc các Cụ bị ngược đãi với ban quản trị , đã bị làm khó dễ , bị trừng phạt hay bị ngăn chặn khi vào thăm các Cụ với lý do là làm trở ngại điều hành của viện . Chính bản thân người bị ngược đãi còn bị trả thù bằng nhiều cách thâm độc mà người mất bản năng tự vệ không sao chống trả được . Như trường hợp một Cụ bà sợ đòn thù mà không dám báo cáo gì , dù thấy người chồng yêu quý của mình bị bạc đãi vì các Cụ chẳng có con cái để tỉ tê kể lể , hay có cũng chẳng bao giờ chúng màng viếng thăm .

Nhắc đến Viện Dưỡng Lão ai cũng sợ nhưng tại sao con số người già và bệnh bị đưa vào đó ngày càng tăng vì nhiều lý do .

Hoa Kỳ hiện nay có khoảng 36 triệu người già trên 65 . Với thế hệ « Baby Boomer » lần lượt về hưu cho tới năm 2050 , con số các Cụ cao niên sẽ tăng cỡ 86 .7 triệu . Do đó , với số lượng người già cao như vậy , nhu cầu đòi hỏi thêm các Viện Dưỡng Lão có dịch vụ chăm sóc y tế thường trực là điều tất yếu .

Hiện nay vào khoảng 91 % của 1650000 người ngụ cư trong Viện Dưỡng Lão tại Mỹ là người già trên 65 tuổi . Hơn phân nửa các Cụ có số tuổi từ 85 trở lên . Hầu hết những trường hợp được đưa vào đấy do những nhu cầu bệnh lý đòi hỏi phải có sự trợ giúp thường trực của y tá hay vật lý trị liệu mà chỉ các viện mới có khả năng cung cấp . Những người bệnh này thường đã bị hàng loạt những bệnh mất năng lực về thể chất lẫn tinh thần hoặc họ có thể yếu đến nỗi không thể di chuyển , tự tắm rửa hay tự ăn uống được . Nhiều người trong số này được xem như những bệnh nhân cần có người chăm sóc suốt đời vì họ không bao giờ có thể hồi phục để có thể tự chăm sóc lấy mình và khả dĩ có thể cho về nhà được . Tương lai của họ một là sẽ chết trong viện , bị chuyển vào nhà thương khi bệnh nghiêm trọng và chết ở đó hay bị trả về viện để chết . Trung bình cứ mỗi 100 Cụ ở Viện Dưỡng Lão trong chu kỳ một năm , có 35 Cụ sẽ chết , 37 Cụ khác bị đưa vào nhà thương nơi các Cụ có thể chết ở đó , được bình phục hay trở về viện .

Theo một bài báo cáo về sự ngược đãi trong Viện Dưỡng Lão của phóng viên Vince Gonzales , đài CBS thì người Mỹ rất sợ phải vào Nursing Homẹ . Đó là nơi cuối cùng mà bất đắc dĩ họ phải đi vào . Một Cụ già 85 tuổi khi không thể sống một mình được nữa mà con cái ngại ngần khi phải mang cha mẹ về chăm sóc thì « cái gì đến , nó phải đến thôi » . Cụ Alice Oshatz bắt đầu khóc khi được hỏi Cụ nghĩ sao khi Cụ trở thành một người bị phế thải trong Viện Dưỡng Lão .

Việc bê bối của các Viện Dưỡng Lão không phải là vấn đề riêng của Mỹ mà nó cũng xảy ra ở các nước khác như Gia Nã Đại , Úc và cả ở Việt Nam . Viện nghiên cứu thông tin y tế Canada cũng có những công bố báo cáo cho biết , trong số những người già của Canada sống lâu dài tại Viện Dưỡng Lão , có tới 44 % mắc chứng trầm cảm , tình trạng thể chất và chất lượng cuộc sống đều không tốt đẹp . Theo bản cáo trạng của hiệp hội Ontario Federation of Labour thì các người già cư ngụ tại các Viện Dưỡng Lão bị để nằm hàng giờ với tã ướt sũng nước tiểu .

Riêng những người già tị nạn Việt Nam ở đất Mỹ cũng rất sợ bị đưa vào Viện Dưỡng Lão . Khi các Cụ lớn tuổi thường tìm về các nơi có nhiều người Việt để ở . Họ hoặc ở chung với con cháu hay ở trong các chung cư dành cho người già với lợi tức thấp . Có Cụ ở trong các khu nhà tiền chế ( mobile home ) và vui thú điền viên ở đó . Nhưng khi tuổi thọ tăng cao , thì sức khoẻ các Cụ xuống dần và lúc đối đầu với bệnh nặng ắt hẳn phải tới . Chuyện không thể tự chăm sóc lấy mình sẽ đương nhiên xảy ra khi bệnh trạng các Cụ tới thời kỳ nghiêm trọng . Xác suất con số người thân vì phải mưu sinh hay bận rộn không có thời giờ chăm sóc các Cụ được rất cao . Con số các Cụ có người thân khá giả , thuê y tá hay điều dưỡng đến nhà ăn ở , nấu nướng và chăm sóc cho không nhiều . Các Cụ thường bị lẫn , mất trí nhớ không nhận ra được cả người phối ngẫu hay người nhà và còn không cho họ tới gần . Cụ thì đổi tính trở nên khó khăn , gắt gỏng , nghi ngờ tất cả mọi người do trầm cảm hay phản ứng phụ của thuốc hoặc do hậu quả của các cơn đau hành hạ . Điều quan trọng nhất là có nhiều Cụ cần sự theo dõi thường xuyên của y tá mà điều kiện tài chánh của con cái không đài thọ nổi , thế là các Cụ bị đưa vào Viện Dưỡng Lão .

Những Cụ lo xa thường về hẳn bên VN ở , để có con cháu hay người làm chăm sóc dùm . Tuy nhiên điều kiện y tế và vệ sinh bên VN kém và thiếu chuyên môn . Trong trường hợp nếu các Cụ bị lâm vào các tình trạng mất năng lực hay trong tình huống khẩn cấp mà không được chăm sóc y tế chu đáo hoặc kịp thời , nguy cơ rủi ro xảy ra cho tính mạng rất cao . Thành ra được cái này lại mất cái kia . Phần quan trọng nhất là chi phí y tế bên VN các Cụ hay người nhà phải tự trả , trong khi ở Mỹ , nếu là công dân trên 65 tuổi hầu như các dịch vụ y tế chính phủ đài thọ gần hết .

Trong một cuộc phỏng vấn về Nhà dưỡng lão cho người già , Thạc sĩ Đặng Vũ Cảnh Linh phát biểu : « Việt Nam có thuận lợi trong vấn đề chăm sóc người cao tuổi khi văn hoá truyền thống coi trọng đạo lý « kính già » , được xây dựng trên tinh thần « trọng lão , trọng xỉ » . Tuy nhiên vấn đề này cũng có khá nhiều khó khăn , tồn tại . Khi ngày nay các giá trị gia đình khủng hoảng , mâu thuẫn thế hệ gia tăng đã dẫn đến tình trạng nhiều người cao tuổi không sống cùng với con cháu hay con cháu bỏ rơi cha mẹ , chối bỏ trách nhiệm chăm sóc người cao tuổi . Ở góc độ xã hội , nhà dưỡng lão , cơ sở xã hội , dịch vụ của chúng ta còn thiếu , phát triển còn lộn xộn , thiếu quy hoạch và chưa đáp ứng yêu cầu về chất lượng , tiêu chuẩn chăm sóc . Trình độ , năng lực của cán bộ y tế , điều dưỡng viên cũng còn hạn chế . Giá các dịch vụ tư nhân còn quá cao so với túi tiền của người cao tuổi … » .

Ngoài ra , Ông Nguyễn Tuấn Ngọc , Giám đốc Trung tâm chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi Từ Liêm cho biết , « chữ « nhà dưỡng lão » ở Việt Nam còn chưa chuẩn . « Ở đây , chỉ nên gọi là các Trung tâm chăm sóc và nuôi dưỡng người cao tuổi thì đúng hơn » .

Trong một bài báo , vấn đề cẩu thả và chăm sóc người già không đúng mức ở các nhà dưỡng lão VN cũng bị phanh phui giống hệt ở nước ngoài .

Ở Mỹ , nếu có thì giờ nghe chuyện thì có khoảng 300 triệu câu chuyện kinh khủng để kể về Viện Dưỡng Lão . Người nào trong đó cũng có tâm sự cần thố lộ . Lý do tại sao có quá nhiều chuyện để kể bởi vì Viện Dưỡng Lão giống như một tàn dư hay một phế tích . Lẽ ra Viện Dưỡng Lão là nơi chăm sóc bệnh nhân và người già nhưng thực tế nó biến thành một cái xưởng dịch vụ , nơi mà người ta được cung cấp dịch vụ nhưng nghệ thuật chăm dưỡng thì bị bỏ quên . Đây là bi kịch của hàng triệu công dân Hoa Kỳ .

Sau đây là những câu chuyện kể lại của một cựu điều dưỡng viên trong một Viện Dưỡng Lão ở Quận Cam Hoa kỳ . Xin phép bạn đọc cho tôi được dấu tên vì những câu chuyện này có thật và đây là ý kiến của một cá nhân nên tôi đã ghi lại với một sự dè dặt như thường lệ .

Ở Orange County , các Viện Dưỡng Lão từ xưa đến nay vẫn do người bản xứ làm chủ và điều hành . Viện thường được chia làm hai khu chính là thường xuyên và bán trú , cùng nhiều khu phụ . Khu thường xuyên dành cho các Cụ ở thường trực . Khu bán trú dành cho những bệnh nhân sau khi được giải phẫu ở nhà thương , không đủ tiền lưu lại vì bệnh phí rất cao , nên phải chuyển vào để nằm chờ . Khi bình phục họ sẽ về nhà . Những khu phụ như khu chuyên về phổi , suyễn , hay có khu lẫn lộn cả khuyết tật bẩm sinh . Họ có sắp các khu theo sắc tộc , như khu dành cho người da trắng , khu cho người Việt Nam , Đại Hàn …& … & … Nếu thiếu phòng , bệnh nhân phải nằm bất cứ khu nào còn trống . Khi người VN vào đông , các Cụ được nhà bếp dành đặc ân cho nấu riêng món ăn Việt . Tuy nhiên , các món Việt chỉ dành cho buổi trưa và tối , còn điểm tâm ban sáng vẫn phải ăn chung các món Mỹ . Các bệnh nhân đặc biệt phải ăn kiêng thì nấu riêng . Ở đây điều dưỡng viên VN ít nên bị điều đi phục vụ toàn viện , không cứ gì phải chăm sóc trong khu có người Việt . Họ thường được gọi đến để thông dịch . Khi khu VN có đông bệnh nhân tới ở , điều dưỡng Việt ưu tiên được làm ở đó .

Theo điều luật định của riêng tiểu bang California , mỗi Viện Dưỡng Lão phải có đủ nhân viên săn sóc cho bệnh nhân , nhất là các dịch vụ khẩn cấp . Một viện có khoảng 100 giường trở lên , mỗi bệnh nhân phải được y tá săn sóc ít nhất 3,2 tiếng mỗi ngày . Y tá phải có bằng như RN , LPN , hay LVN . Những điều dưỡng viên cần có bằng CNA ( certified nursing assistant ) với nhiệm vụ trợ giúp y tá và các nhân viên y tế săn sóc bệnh nhân . Khi chính phủ state board phái người xuống kiểm tra ( thường vào buổi sáng ) , Viện Dưỡng Lão hay mướn và dồn điều dưỡng lại cho đông và cho một điều dưỡng chăm khoảng 13 người theo luật định để che mắt , và quay phim . Khi điều tra viên đi , tới ca chiều điều dưỡng viên bị giảm xuống và phải chăm tới 16 ,17 người bệnh . Ca tối lại còn tệ hơn chăm tới 20 bệnh nhân . Vì nhiều việc quá , điều dưỡng viên làm không xuể , bệnh nhân chắc chắn bị xao lãng và bỏ quên .

Thường thì không ai thích làm cho Viện Dưỡng Lão , những điều dưỡng có bằng hay có kinh nghiệm hay tìm chỗ nhẹ nhàng hơn mà làm . Do đó , các Viện Dưỡng Lão luôn thiếu người và họ phải tìm những người được đào tạo cấp tốc ở các trung tâm dạy nghề . Những người này đóng học phí cao hơn bình thường và chương trình giảng dạy chỉ trong vài tuần lễ , nên họ được giảng dạy qua loa để mau tốt nghiệp đi làm cho nhanh .

Vì được đào tạo cẩu thả nên các điều dưỡng viên này mất căn bản . Họ thường không theo đúng trình tự của việc chăm sóc bệnh nhân . Họ lại bị sức ép của công việc quá nhiều , nên có nhiều người mất cả đạo đức nghề nghiệp . Họ làm việc ẩu tả và dối trá . Chẳng hạn sáng sớm phải rửa mặt , tắm rửa rồi thay tã và quần áo cho bệnh nhân nhưng họ chỉ làm qua loa lấy lệ , cho xong việc . Có khi nước chưa được ấm , họ xối đại nước lạnh khiến bệnh nhân bị ướt , rét , sưng phổi mà chết . Họ cũng không thay tã theo qui định . Lúc trước , khi chưa có chính sách tiết kiệm , viện cho tối đa một ca ( 8 tiếng ) , mỗi bệnh nhân được thay 3 tấm tã , giờ chỉ còn có 2 . Thế mà họ cũng làm biếng không thay , để người bệnh ướt đẫm từ sáng tới chiều . Điều dưỡng ca chiều vào , thấy bệnh nhân bị thối tha , khó chịu khóc lóc quá nên ca chiều phải thay . Những điều dưỡng có lương tâm thấy bệnh nhân nào tiểu ít họ dấu tã đi để dành thay cho những người tiểu nhiều . Tã mà để lâu không thay , da sẽ bị nhiễm trùng , lở loét . Có người lúc mới vào không sao , ở lâu trong viện da bị ghẻ lở nom rất ghê sợ . Có những bệnh nhân bất lực không cử động được , bị bỏ quên từ sáng tới chiều , từ chiều tới tối , không được trở mình , máu chỗ nằm không lưu thông , da mềm đi biến thành mủ hay ghẻ trông thật tội .

Người già thường có giấc ngủ trưa , điều dưỡng phải cho họ đi nghỉ trưa . Tuy nhiên , vì làm biếng họ để bệnh nhân ngủ gà ngủ gật trên xe mà không đẩy họ về phòng cho lên giường như qui định .

Lúc về già , nhiều người răng yếu hay rụng , khi được đút ăn họ ăn rất chậm . Đôi khi vì buồn phiền các Cụ không muốn ăn , điều dưỡng có quá nhiều việc , lại hết giờ , không đủ kiên nhẫn , họ chỉ đút qua loa nên các Cụ trong đó ốm o , gầy mòn và bị đói thường xuyên . Họ làm hết việc thì về rốt cuộc bệnh nhân là người bị thiệt hạị .

Ngoài ra còn xảy ra nạn kỳ thị đối với bệnh nhân . Người nào ít có hay không người thân tới thăm hoặc để mắt tới thường xuyên , cơ hội bị bỏ quên rất cao . Các Cụ đó có nhấn chuông mỏi tay , đòi thay tã hay giúp đỡ đều bị lờ đi đến phút chót khi điều dưỡng sắp hết ca , họ mới trở lại thay tã cho . Khi các Cụ phản đối hay thưa gởi sẽ bị trả thù hèn hạ bằng nhiều cách mà hành hạ là một thí dụ điển hình . Khi được đưa từ giường qua xe hay từ xe qua giường , họ bị liệng nặng tay như quăng một món đồ . Người bệnh có đau chỉ biết khóc thầm và chịu câm nín , không dám báo cáo vì càng khiếu nại càng bị trả thù dã man hơn . Tuy nhiên những điều dưỡng Việt trong đó đa số có lương tâm và đạo đức nghề nghiệp và đối xử ít tệ bạc hơn . Nhưng đâu phải tất cả các điều dưỡng viên là người Việt mà có đủ các sắc dân , nhất là những điều dưỡng viên nam người Mễ Tây Cơ . Vì cần tiền , họ làm 2 ca , thường là ca chiều và ca đêm . Làm một ca đã mệt , khi ca kế tới , họ tìm chỗ ngủ để nghỉ . Công việc dĩ nhiên bị bê trễ , họ nguỵ trang bằng cách lấy chăn mền tấn chung quanh bệnh nhân và có ai tới kiểm tra hay y tá ghé mắt đến , đều yên chí thấy mọi Thứ Tươm tất sạch sẽ nên bỏ đi , đâu biết rằng bệnh nhân nằm đó bên dưới đầy nước tiểu và phân .

Còn trường hợp cho uống thuốc lộn nữa . Nếu ban điều hành phác giác , người làm lỗi sẽ bị đuổi , không thì thôi . Với những bệnh nhân hay phàn nàn đau nhức , bấm chuông hoài , có khi họ bị cho uống thuốc giả hay thuốc an thần để khỏi tiếp tục kêu ca . Có những trường hợp bệnh nhân vì bị cho vào nhà dưỡng lão nên buồn khổ quá mà trở nên lầm lẫn hoặc đã bệnh còn tăng thêm bệnh vì kiêm thêm chứng trầm cảm .

Những người từng làm việc cho Viện Dưỡng Lão , những người khách đến thăm viện và quan trọng nhất là những người già sống trong viện , tất cả đều ước mơ các Viện Dưỡng Lão được thay đổi . Thay đổi làm sao để khi nghĩ tới , nhắc đến , nó không còn là một cơn ác mộng của tuổi già . Đường lối điều hành Viện cần phải tổ chức lại sao cho hữu hiệu . Các y tá và điều dưỡng cần phải được cắt bớt việc . Khi ít bận rộn họ mới có thì giờ để ý và chăm sóc kỹ hơn cho các Cụ . Nếu các Cụ có muốn tâm sự , họ có thời giờ để lắng nghe . Mà khi các Cụ có nơi để kể lể , tâm hồn sẽ phơi phới , đỡ thấy cô đơn buồn khổ nhiều . Phần tâm lý được chăm sóc , bệnh ắt hẳn thuyên giảm . Vấn đề lương tâm và đạo đức nên đặt ra ở đây cho ban quản đốc dù mục đích tối hậu là thương mại . Cần giải quyết , quan tâm và lắng nghe những tiếng chuông kêu của bệnh nhân nhiều hơn . Nên có thức ăn đêm dự phòng trong trường hợp khẩn thiết khi có Cụ đói bụng .

Riêng nhịp cầu thông cảm giữa người già và con cái phải được thiết lập ngay từ lúc các Cụ chưa được đưa vào Viện Dưỡng Lão . Các Cụ cần sửa soạn tâm lý khi đến lúc phải vào Viện Dưỡng Lão mà không cảm thấy quá buồn khổ . Vì càng buồn khổ thì bệnh trầm cảm sẽ làm bệnh tật thêm trầm trọng . Thời buổi kinh tế khó khăn , việc làm khó kiếm , có việc thì quá bận rộn nên con cái bất đắc dĩ mới đưa cha mẹ vào đó . Có nhiều Cụ vì sống chung với con cái quen rồi vào đó quá bất mãn , lại cô đơn nên chửi rủa suốt ngày , chửi con cái xong quay qua chửi cả nhân viên trong viện , càng chửi càng bị ghét , càng bị bỏ bê .

Mỗi Viện Dưỡng Lão nên có một khu vườn nhiều cây xanh để người già có cơ hội tiếp xúc với thiên nhiên , thở dưỡng khí trong lành . Giấc mơ của người già sẽ thành sự thật khi họ được ngồi trên xe lăn được chăm sóc chu đáo trong một khu vườn có chim hót líu lo , sóc chạy tung tăng , đâu đó là tiếng cười đùa khanh khách của vài đứa trẻ . Đời sống thần tiên và êm ả thế ai không muốn sống và vào viện ?

Categories: Kien-thuc Y-Khoa | Leave a comment

TƯƠNG QUAN GIỮA THIỀN SỨC KHỎE VÀ THIỀN GIÁC NGỘ

 

Tương quan giữa thiền sức khỏe và thiền giác ngộ

(11/16/2013) (Xem: 735)
Tác giả : Trần Đinh
TƯƠNG QUAN 
GIỮA THIỀN SỨC KHỎE VÀ THIỀN GIÁC NGỘ 
Trần Đinh

DẪN NHẬP

Nói về kiếp người Đức Lão Tử đã thốt lên rằng:

“Ngô hữu đại hoạn, vị ngô hữu thân,
 
Ngô nhược vô thân, hà hoạn chi hữu?”
 
Dịch :
 
“ Ta có cái khốn khổ lớn, vì ta có thân,
 
Nếu ta không thân thì đâu có khổ gì ?”[1]

Thật vậy, khi chúng ta mang cái thân này thì làm sao tránh khỏi cái khổ về thân và tâm. Về thân thì chúng ta mang biết bao nhiêu là bệnh tật, về tâm thì có biết bao nhiêu ưu tư phiền não. Vậy làm sao để thoát khỏi bệnh tật và phiền não? Đức Phật đã chỉ dạy rất nhiều phương pháp, nhưng người viết chỉ nói về phương pháp “Thiền”. Riêng phương pháp này cũng có rất nhiều như: thiền Minh Sát, thiền Tứ Niệm Xứ, thiền xuất hồn, thiền luân xa, thiền chú…Tên gọi thì nhiều nhưng mục đích chung là đem lại thân thể mạnh khỏe, an lạc trong hiện tại và giải thoát trong tương lai. Cho nên ngày nay thiền không những được áp dụng trong chốn thiền môn với mục đích giác ngộ, mà còn được giới y học dùng để điều trị các bệnh nan y và đã đạt được những kết quả rất tốt, họ tạm gọi đó là thiền sức khỏe.

Đến đây có nhiều người lầm tưởng thiền sức khỏe là một phương pháp thiền khác không phải thiền giác ngộ, mà không biết rằng giữa chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau.

THIỀN LÀ GÌ ?

Một lớp thực tập thiền dành cho trẻ em tại chùa Pháp Hoa Daknong

Trước hết chúng ta cần phải biết “thiền là gì?”.

Thiền (chữ Hán: chán tiếng Nhật: zen), gọi đầy đủ là Thiền-na (tiếng Trung Quốc: chánna 禪那tiếng Sanskrit: dhyāna,tiếng Pāli: jhāna, tiếng Nhật: zenna, tiếng Anh: meditation), là thuật ngữ Hán-Việt được phiên âm từ dhyāna trong tiếng Phạn. Dhyāna là danh từ phát sinh từ gốc động từ √dhyā (hoặc √dhyai). Bộ Sanskrit-English Dictionary của Monier-Williams ghi lại những nghĩa chính như sau: to think of, imagine, contemplate, meditate on, call to mind, recollect. Tất cả các trào lưu triết họcẤn Độ đều hiểu dưới gốc động từ này là sự tư duy, tập trung lắng đọng và vì vậy, ta cũng tìm thấy từ dịch ý Hán-Việt là Tĩnh lự(chữ Hán: 靜慮). Các cách phiên âm Hán-Việt khác là Đà-diễn-na (chữ Hán:  馱衍那), Trì-a-na (持阿那). Đây là một thuật ngữ được nhiều tôn giáo sử dụng để chỉ những phương pháp tu tập khác nhau, nhưng với một mục đích duy nhất là: đạt kinh nghiệm “Tỉnh giác”, “Giải thoát”, “Giác ngộ”.  

Tiến sĩ khoa tâm lí học kiêm Thiền sư người Anh, David Fontana viết tóm tắt rất hay về thế nào là Thiền và thế nào là Phi thiền: “Thiền không có nghĩa là ngủ gục; để tâm chìm lặng vào cõi hôn mê; trốn tránh, xa lìa thế gian; vị kỉ, chỉ nghĩ tới mình; làm một việc gì không tự nhiên; để rơi mình vào vọng tưởng; quên mình ở đâu. Thiền là: giữ tâm tỉnh táo, linh động; chú tâm, tập trung; nhìn thế giới hiện hữu rõ ràng như nó là; trau dồi tấm lòng nhân đạo; biết mình là ai, ở đâu.”[2]

THIỀN SỨC KHỎE


Một lớp thực tập thiền dành cho các thí sinh thi hoa hậu người sắc tộc tại chùa Bửu Minh Gia Lai

Tất cả chúng ta đều mang tấm thân duyên hợp, cho nên không ai mà không mang những mầm móng bệnh. Người khỏe hay người bệnh là do sức khỏe hay sự miễn nhiễm trong cơ thể chúng ta mạnh hay yếu. Mặc dù y học ngày càng phát triển nhưng nhiều bệnh viện và bác sĩ người Âu cũng đã dùng thiền để chữa trị bệnh tâm thần, bệnh AIDS (Sida), bệnh ung thư… nên tạm gọi là thiền sức khỏe.

PHƯƠNG PHÁP ỨNG DỤNG

Có rất nhiều phương pháp thiền được dùng để trị bệnh như :

1.Quán tưởng hay Thiền quán (Visualisation Meditation): Tâm hành giả nghĩ vào một điểm giữa hai chặn mày, hay mắt hé mở nhìn vào một điểm đen, trắng… treo trên tường, hay đèn nến, một ảnh tượng treo trên tường, Tượng Phật, hay tượng một lãnh tụ mà mình hâm mộ. Rồi tập trung tư tưởng (mind) vào đó, đừng nghĩ những vấn đề gì khác.                      

 2.Thiền chánh niệm (Mindfulness Meditation): Đi đứng, nằm ngồi…luôn luôn tỉnh thức. Lúc đi biết mình đang đi, đứng, ăn… biết mình đang đứng hay đang ăn (Be mindfulness, you know what you doing).

3. Thiền chú (Mantra Meditation): Đọc chú hay niệm danh hiệu Phật. Hành giả có thể niệm danh hiệu Phật, Bồ tát, hay bài chú sáu chữ: “Um ma ni bát mê hồng”, lặp đi lặp lại như thế (niệm trong cổ nhưng vẫn nghe được tiếng. Tập trung tư tưởng nghe tiếng niệm đó, không nghĩ gì khác hơn.[3]

  4. Thiền thở (quán sổ tức) là một trong những cách dễ nhất để định tâm mà Đức Phật đã chỉ dạy trong kinh “Quán Niệm Hơi Thở” [Anapanasati sutta]. Bác sĩ  Andrew Weil (Đại học Arizona, Mỹ), một trong những người đã thí nghiệm và cũng đề nghị sử dụng pháp Thiền Thở để định tâm. Sau khi tâm được an định, hành giả không cần đếm mà tập trung tâm theo hơi thở vào hơi thở ra (gọi là tùy tức, (Following the Breath).[4]

(Hình bên: Thiền tập tại câu lạc bộ Nhân Sinh)

LỢI ÍCH

Sau đây là những minh chứng các bác sĩ phương Tây đã dùng thiền để trị bệnh và đạt được kết quả :

1. Bệnh ung thư

“Bác sĩ phân tâm học, Ainslie Meares, công bố những nghiên cứu liên tục trong các năm 1960 với tựa đề Giảm bệnh không cần thuốc (Relief Without Drugs). Trong bản công bố ông ghi lại những kỹ thuật thiền đơn giản (từ Ấn giáo, vì có lẽ ông chưa biết thiền Phật Giáo, HQ), là các phương cách hữu hiệu có khả năng chữa trị các bệnh lo âu, sợ hải, giảm căng thẳng và đau nhức thường trực”, làm cho cơ thể hoạt động bình thường, hệ miễn nhiễm tăng trưởng giúp bệnh nhân cancer thư giản, thoải mái, bớt bệnh.
Khoa học gia Jon Kabat-Zinn, tại đại học UCLA, Los Angeles, California, cũng sử dụng thiền chánh niệm trong chương trình Thiền thư giãn MBSR (Mindfulness-Based Stress Reduction) để trị bệnh ung thư. Một thí nghiệm 90 bệnh nhân được công bố cho thấy 31% giảm được sự căng thẳng buồn lo và 67% giảm tâm tính bất thường làm gia tăng sức đề kháng của hệ miễn nhiễm, giúp bệnh ung thư thuyên giảm.”[5]
Vào tháng 11 năm 1979, trên tạp chí Medicine Journal Australia, bác sĩ Mearses báo cáo về một trường hợp ung thư ruột kết (colon) của một người đàn ông 64 tuổi, một nhà tâm lý học. Ông ta không chịu giải phẫu mà thích hành thiền trung bình 3 giờ mỗi ngày. Chỉ sau 2 tuần lễ đã thấy có sự cải thiện. Sau 6 tuần thì chấm dứt sự trợ lực bơm thụt vào hậu môn – giúp lưu thông ruột kết. Sau 2 tháng không còn chứng thức giấc giữa đêm. Sau 6 tháng, phân trở lại kích thước bình thường và sau 1 năm thì dứt hẳn chứng ung thư.[6]

2. Bệnh AIDS

“Tháng 7.2008 đại học UCLA có cuộc thí nghiệm của Giáo sư Tiến sĩ Jon Kabat-Zinn về chữa trị bệnh AIDS, chương trình 8 tuần “Thiền Chánh niệm giảm căng thẳng MBSR (Mindfulness-Based Stress Reduction). Ông chia bệnh nhân làm hai nhóm. Một nhóm ngồi thiền, một nhóm uống thuốc không ngồi thiền.

Sau 8 tuần, chích máu thí nghiệm. Kết quả như sau: Trung bình, mỗi người ngồi thiền có số lượng bạch huyết cầu (CD4+T) tăng lên 20, còn người chỉ uống thuốc mà không ngồi thiền, bạch huyết cầu (CD4+T) bị sụt giảm mất 185 trung bình cho mỗi người. Với kết quả nầy cho thấy Thiền công hiệu hơn thuốc. Bạch huyết cầu CD4+T có khả năng làm chậm hay chận đứng sự phát triển của bệnh AIDS.”[7]

3. Bệnh tim

Hơn 10 năm trước đây một bài trên Nhật báo Los Angeles Times cho biết, BS Dean Ornish chữa những bệnh tim hiểm nghèo bằng ba phương pháp là cho bệnh nhân ăn chay, tập thể dục và ngồi thiền. Kết quả đạt 85%. Các hãng bảo hiểm sức khỏe (Health Insurance Companies) lớn như Blue Cross, Blue Shield, Mutual of Omaha tài trợ cho mỗi người bệnh 3.500 Mỹ kim để chữa bệnh tim theo phương pháp nầy.[8]

THIỀN GIÁC NGỘ

1. Định nghĩa

Thân đã vô thường, nhưng còn tâm niệm có thường không ? Tâm niệm cũng âm thầm dời đổi, có phần thô lại có phần mau lẹ và vi tế hơn, nếu như chúng ta không có “sức định” thì khó mà thấy được. “Sức định” càng sâu thì chúng ta càng nhìn nhận được những thay đổi của tâm, quá trình sanh diệt của tâm. Từ đó chúng ta nhận biết được bản chất thật của các pháp, thoát khỏi các phiền não khổ đau, đạt được an lạc, giải thoát. Đây chính là thiền giác ngộ. Nhưng tâm thì gồm có thô tâm, vi tế tâm.

1.1 Thô tâm

Thô tâm có nghĩa là những tâm mà mắt thường có thể nhìn thấy, chẩn đoán được vì nó biểu hiện ra bên ngoài như : trầm cảm, căng thẳng, nóng giận…Những trạng thái tâm này thực chất đã được tích tụ từ rất lâu bây giờ vượt “quá ngưỡng” nên mới bộc phát ra bên ngoài.

1.2 Vi tế tâm

Vi tế tâm là những tâm mà mắt thường chúng ta không thể thấy được, các máy móc hiện đại ngày nay cũng không thể nào chẩn đoán được. Những tâm vi tế này chỉ có thể dùng “công phu miên mật, đạt được đại định” mới có thể nhìn thấy, ví như tấm gương càng sáng thì càng nhìn thấy rõ mọi vật hiển hiện trên đó.

2. Phương pháp ứng dụng

Có rất nhiều phương pháp thiền để đưa đến giác ngộ như:

Phật giáo Nguyên thủy thì có :

–          Thiền Tứ Niệm Xứ gồm có: niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp.

–          Thiền Minh Sát Tuệ, nghĩa là dùng trí tuệ để quán sát các pháp.

Phật giáo Phát triển có:

–          Tịnh độ tông dùng phương pháp niệm Phật, nghĩa là nương vào câu niệm Phật để định tâm.

–          Mật tông: nương vào câu thần chú để định tâm.

–          Thiền tông gồm có: Lục diệu pháp môn, Như Lai thiền, Tổ Sư thiền…

LỢI ÍCH

Tất cả chúng ta đang bị trói buộc bởi ngũ dục (tài, sắc, danh, thực, thụy), tham ái chi phối cho nên lúc nào cũng cam tâm tình nguyện làm nô lệ cho chúng. Giờ đây, nương vào những phương pháp thiền giác ngộ chúng ta được làm chủ bản thân mình, có cơ hội nhìn nhận bản chất thực của các pháp, chọc thủng bức màn vô minh để nếm trải hương vị an lạc trong hiện tại và giải thoát trong tương lai.

Đức Phật, chư Tổ từ Ấn Độ, Trung Hoa đến Việt Nam là những vị đã đạt được những hương vị quý giá đó.

LIÊN HỆ GIỮA THIỀN GIÁC NGỘ VÀ THIỀN SỨC KHỎE

Tuy hai tên gọi hoàn toàn khác nhau vì do mục đích hành thiền của mỗi hành giả khác nhau, nhưng giữa thiền giác ngộ và thiền sức khỏe có sự liên hệ mật thiết với nhau, hỗ tương lẫn nhau hay nói cách khác tuy hai nhưng là một.

1. Từ thiền sức khỏe đến thiền giác ngộ

 “Bị lao phổi, sau 7 lần mổ, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện chỉ còn một góc phổi, mất 8 xương sườn. Thế nhưng ông đã sống đến tuổi 85 chỉ nhờ một bài thở. Ông sinh năm 1913 tại Hà Tĩnh, học Đại học Y khoa Hà Nội rồi sang Pháp tiếp tục học, tốt nghiệp bác sĩ Nhi khoa năm 1941. Năm 1942, ông bị lao phổi nặng, điều trị ở Bệnh viện Saint Hilaire du Touvet, Grenoble. Thời đó, bệnh lao chưa có thuốc chữa. Từ năm 1943 đến 1948, ông phải chịu mổ bảy lần, cắt bỏ tám xương sườn, cắt bỏ toàn bộ lá phổi bên phải và một phần ba lá phổi bên trái. Các bác sĩ Pháp bảo ông chỉ có thể sống được hai năm nữa. Trong thời gian nằm chờ chết, ông đã tìm ra phương pháp thở để tự chữa bệnh cho mình. Và kết quả là ông đã sống đến tuổi 85 mới mất (1997), nghĩa là sống thêm được 50 năm nữa. Ông là bác sĩ, đồng thời là một nhà văn, nhà báo, nhà hoạt động xã hội rất nhiệt tâm. Ông là cố vấn của bộ môn tâm lý – xã hội học, tại Trung tâm Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ y tế thành phố Hồ Chí Minh (nay là Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch). Trong lúc nhiều người giảng bài, nói chuyện, hội họp, làm việc… thấy uể oải, hụt hơi, thì một người chỉ còn hai phần ba lá phổi, chỉ còn gần một nửa “dung tích sống” như ông lại vẫn ung dung, thư thái không bị stress, không bị mệt.” [9]

Qua đây chúng ta thấy: Trong cơn “thập tử nhất sinh” bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã thực hành thiền thở với mục đích ban đầu là chữa trị bệnh cho mình. Nhưng ông không ngờ rằng: không những ông sống thêm được 50 năm mà ông còn thực chứng được sự vô thường ngay trên bản thân mình.

2. Từ thiền giác ngộ đến thiền sức khỏe

Tháng 04 năm 1966, Hòa thượng Thích Thanh Từ dựng Pháp Lạc thất trên núi Tương Kỳ, Vũng Tàu. Tháng 07 năm 1968, Hòa thượng liễu đạt lý sắc không, thấu suốt thật tướng Bát Nhã. Từ con mắt Bát Nhã trông qua tạng Kinh, lời Phật, ý Tổ hoác toang thông thống. Giáo lý Đại thừa và thâm ý nhà Thiền đã được Hòa thượng khám phá từ công phu thiền định của Người. Ngày 08 tháng 12 năm ấy, Hòa thượng tuyên bố ra thất giữa bao niềm hân hoan của Tăng Ni, Phật tử. Nước cam lồ từ đây rưới khắp, suối từ bi từ đây tuôn chảy, mở ra trang Thiền sử Việt Nam rực rỡ huy hoàng vào cuối thế kỷ 20.[10]

Hiện nay, tuy Ngài đã 90 tuổi, tấm thân giả tạm luôn phải gánh chịu những biến đổi về vật lý như: tim mạch, đau nhức… nhưng thần thái của Hòa thượng luôn an lạc, tự tại.

Điều này chứng tỏ rằng, với những vị đã giác ngộ thì tuy thân mang trọng bệnh nhưng đối với các Ngài không có gì là to tát. Ngược lại, các Ngài càng nhìn nhận rõ hơn về sự duyên hợp của thân, làm chủ được thân, tinh thần của các Ngài rất định tĩnh nhờ đó mà không bị bệnh tình chi phối nhiều mà ngày càng thuyên giảm.

Bác sĩ Herbert Benson cho rằng có từ 60% đến 90% bệnh tật là do căng thẳng gây ra.

 KẾT LUẬN

Thiền giác ngộ và thiền sức khỏe thực ra chỉ là một. Khi chúng ta thực hành thiền sức khỏe thì chúng ta đã thực hành thiền giác ngộ và ngược lại. Cả hai hòa quyện vào nhau và hỗ trợ cho nhau. Nếu chúng ta thực hành thiền sức khỏe mà tâm trí không tập trung thì không có lợi cho sức khỏe Vì thế, tập trung tâm vào một chỗ là điều kiện hàng đầu của phương pháp thiền sức khỏe.

Cũng vậy nếu như chúng ta thực hành thiền giác ngộ mà tâm tán loạn thì thân thể chúng ta cũng sẽ gánh chịu những hậu quả nặng nề như tẩu hỏa nhập ma, bệnh tim mạch…Do đó, yêu cầu của thiền giác ngộ là “chế tâm nhất xứ, vạn sự vô cữu”, nghĩa là nếu để tâm ở một chỗ thì muôn việc không có lỗi.

Tóm lại, hai phương pháp thiền đều có chung một điều kiện. Cho nên trong khi thực hành thiền sức khỏe là đang thực hành thiền giác ngộ và thực hành thiền giác ngộ là đang thực hành thiền sức khỏe.

Có thể hiểu gọn hơn là, giảm tham sân si bệnh lìa khỏi xác. Tam nghiệp chưa trừ giác ngộ được sao?

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Thực hư về ‘thánh tăng 7 tuổi’ Thích Chân Tâm

 

Sunday, November 24, 2013

Thực hư về ‘thánh tăng 7 tuổi’ Thích Chân Tâm

Chú tiểu Thích Chân Tâm.

QLB –  Ngay từ khi còn trong bụng mẹ cho đến khi ra đời, thánh sư Thích Chân Tâm đã có những biểu hiện hết sức kỳ lạ mà một đứa trẻ bình thường hoàn toàn không có. Cho đến nay, cuộc đời của chú vẫn là một điều bí ẩn đối với mọi người.
Đứa trẻ kỳ lạ
Đang giữa độ hè nóng oi ả, nhưng ngày 13/6/2006, trời đột nhiên trong xanh mát mẻ đến lạ thường. Phật tử Chân Hương nằm trên bàn sinh, mắt nhắm nghiền đau đớn, miệng không ngừng cầu Trời khấn Phật cho cậu con trai của mình ra đời được khỏe mạnh. Sở dĩ chị phải làm vậy bởi, ngay từ khi còn trong bụng mẹ, cậu con trai của chị đã có những biểu hiện khác thường.

Theo như lời kể của gia đình, không chỉ chị mà hầu hết những người có mặt khi chứng kiến cậu bé ra đời đều hết sức ngạc nhiên khi hai mắt chú đã mở to thay vì nhắm nghiền như những đứa trẻ khác, hai tay chắp vào nhau để ở tư thế tam muội – một trong những tư thế của chư tăng, phật tử hay thực hiện. Cũng từ đây, cậu bé có những biểu hiện lạ thường, được xem như một Phật sống hiển linh.

Trong giới phật tử trên cả nước, ít người không biết đến chú tiểu Thích Chân Tâm – một thần đồng của Phật giáo, khi mới 5 tuổi đã đọc kinh thành thục như các vị cao tăng. Bên cạnh khả năng đặc biệt ấy, cậu cũng khiến mọi người ngạc nhiên, tò mò khi ngay từ trong bụng mẹ đến khi ra đời luôn có những biểu hiện kỳ lạ mà người thường không thể có được. Từ những biểu hiện kỳ lạ đó, mọi người đang đồn đại rằng, chú được đại sư Thích Minh Phát đầu thai vào.

Chú tiểu Thích Chân Tâm được sinh ra trong một gia đình ở quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Ngay từ khi trong bụng mẹ, chú đã có những biểu hiện kỳ lạ như điều khiển mẹ mình chuyển từ ăn mặn sang ăn chay, thích đến chùa làm công quả, tụng kinh niệm Phật…, nếu không sẽ thấy khó chịu trong người.

Mang thai hơn tám tháng thì mẹ cậu chuyển dạ, khi bác sĩ mổ ra thì đã thấy chú mở mắt, tay chắp tam muội, người nữ (trừ mẹ cậu) động vào là khóc. Đặc biệt, cậu không thích uống sữa mẹ, uống vào là nôn ra, cuối cùng gia đình phải dùng sữa ngoài.

Càng ngày, cậu càng có biểu hiện của một nhà tu hành khi chỉ thích ăn đồ chay, trái cây, thích cạo trọc đầu, mặc áo nâu, thích nghe nhạc niệm Phật, gõ mõ, tụng kinh và thần chú. Khi ngủ, chú thường nằm nghiêng bên phải, đây được xem là cách nằm cát tường, bình yên mà đức Phật thường nằm.

Thấy con có những biểu hiện lạ, được mọi người mách, gia đình đã đưa chú vào quy y Tam Bảo tại chùa Giác Viên ở quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, chú được Ni trưởng Thích Nữ Như Thông đặt cho pháp danh là Giác Lâm. Theo Ni trưởng Như Thông thì khi đến đây, chú chỉ ăn chay, khi mới chưa đầy một tuổi. Mặc áo khác vào, chú đều cào cấu, muốn xé bỏ, nhưng khi thay áo nâu thì cười thích thú. Chú thích cạo trọc đầu, nếu để tóc dài là ốm ngay.

Điều kỳ lạ nữa là, trước khi chú tiểu Thích Chân Tâm ra đời, cả hai bên nội ngoại chẳng ai biết đến Phật pháp, chỉ thờ tự ông bà tổ tiên. Tuy nhiên, với phước tướng sẵn có, Chân Tâm đã khiến cả hai họ phát tâm quy y, hưởng một cuộc sống an lành, hạnh phúc.

Nhân duyên đến với chú tiểu Giác Lâm khi gặp được sư thầy Thích Chân Giác, vào dịp ông đến đây. Vừa gặp chú tiểu, sư thầy đã thấy cảm mến ngay, một linh cảm cho ông thấy, chú tiểu chính là trụ tử của Phật giáo sau này, nếu không được quan tâm chăm sóc sẽ là có tội. Do đó, ông tận tâm chỉ dạy chú tiểu.

Một điều kỳ lạ khiến sư thầy Thích Chân Giác thấy bất ngờ và yêu mến chú tiểu này hơn là, chú không thích nô đùa như bao đứa trẻ khác mà chỉ thích yên tĩnh để học chữ, gõ mõ, ăn chay, niệm phật. Những bài kinh, câu kệ, chú chỉ học 2 – 3 lần là thuộc ngay.

Đến ngày 10/3/2011, nhằm ngày giỗ tổ Hùng Vương, sư thầy Thích Chân Giác nhận thấy duyên lành đã đến, trái chín đã rụng, nên đã làm lễ thế phát xuất gia cho Giác Lâm với pháp hiệu là Thích Chân Tâm. Theo đó, sư thầy mong muốn rằng, chú tiểu Chân Tâm sẽ có một chân lý rõ ràng, một tấm lòng từ bi nhân hậu như chính cái tên của cậu vậy.

Thực hư chuyện ở ẩn để thực hiện chân tu

Cuộc đời của chú tiểu Thích Chân Tâm càng trở nên ly kỳ khi có tin đồn thổi cho rằng, chú chính là do sư thầy Thích Minh Phát, vốn tu tại chùa Ấn Quang, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh đầu thai vào. Tin đồn trở nên huyền bí hơn khi mọi người nhắc lại câu chuyện, trước khi viên tịch, sư thầy Thích Minh Phát có chia sẻ sẽ đầu thai vào một cậu bé, lên 5 tuổi sẽ có người nhận ra thầy.

Quả thực, chẳng biết có sự ngẫu nhiên hay không, nhưng nhiều khẳng định chắc nịch ràng, chú tiểu Thích Chân Tâm có tướng mạo, phong thái rất giống sư thầy Thích Minh Phát.

Ngoài ra, những biểu hiện khác thường từ nhỏ của sư thầy và chú tiểu cũng rất giống nhau khi cùng thích ăn chay, cạo đầu, nghe mõ, tụng kinh niệm phật, mặc áo nâu … Tuy nhiên, nhiều người lại có ý kiến trái chiều rằng, không nên chỉ dựa vào một số nét tương đồng, ngẫu nhiên ấy mà cho rằng, chú tiểu Thích Chân Tâm là do sư thầy Thích Minh Phát đầu thai, muốn kết luận thì cần phải có những bằng chứng xác thực hơn nữa…

Có một điều kỳ lạ là, ngay sau buổi phỏng vấn của báo chí với chú tiểu Thích Chân Tâm được thực hiện ở chùa Giác Viên vào cuối năm 2011, cho đến nay, chú gần như mất tích. Nhiều người cho rằng, chú ở ẩn là để tu luyện, đạt đến chân tu.

Chúng tôi cố gắng đến gặp hai phật tử Chân Hương và Chân Thắng (bố mẹ của chú tiểu Thích Chân Tâm) để hỏi thăm tình hình của chú thì bị từ chối, họ không bình luận gì về con trai mình. Đến gặp Ni trưởng Thích Nư Như Thông thì bà bảo không biết rõ, chỉ biết rằng, hiện Chân Tâm theo sư thầy Thích Chân Giác đến một tịnh thất bí mật nào đó tu luyện mà thôi.

Sau nhiều lần tìm hiểu, liên hệ, chúng tôi chưa gặp được sư thầy Thích Chân Giác. Tuy nhiên, những thông tin về chú tiểu Thích Chân Tâm vẫn được vị sư thầy này chia sẻ trên một số diễn đàn Phật giáo. Theo đó, sức khỏe của chú tiểu Chân Tâm vẫn rất tốt, chú rất ngoan ngoãn, chịu khó học chữ, đọc kinh, niệm phật…

Cũng trên diễn đàn, sư thầy Thích Chân Giác kể lại câu chuyện nửa thực, nửa hư mà bố mẹ chú tiểu từng chia sẻ với mình là: “Khi Chân Tâm mới hơn hai tuổi, mẹ chú trêu sẽ sinh thêm em bé, ngay lập tức chú khuyên mẹ rằng không nên sinh em bé nữa vì làm người khổ lắm, chỉ những người đi tu như con mới sướng thôi, con đi tu vẫn có thể có hiếu với cha mẹ được mà…”.

Thấy con trả lời vậy, cha chú hỏi vì sao con nói thế thì chú bảo rằng là do Tổ Bồ Đề Đạt Ma dạy thế. Bất ngờ, nhưng muốn kiểm chứng lời của con trai, hôm sau cha mẹ đưa chú đến chùa rồi bảo chỉ cho họ xem Tổ Bồ Đề Đạt Ma là ai. Khi vừa đi qua ban thờ Tổ, không chút đắn đo, Chân Tâm vội reo lên: “Tổ Bồ Đề Đạt Ma đây”, khiến cha mẹ cậu hết sức bất ngờ…

Categories: Tin Trong Nước | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.