Monthly Archives: February 2014

Chiến dịch “đánh lên” bất động sản: Thây ma biết đi và tầng cuối địa ngục

Trang Đầu » kinh tế

Chiến dịch “đánh lên” bất động sản:

Thây ma biết đi và tầng cuối địa ngục

Phạm Chí Dũng

Hồi sinh xác chết

Từ tháng Giêng năm 2014, một chiến dịch “đánh lên” bất động sản lại được khởi động đồng loạt ở ba thủ phủ lớn trên phạm vi quốc gia là Hà Nội, Đà Nẵng và Sài Gòn, sau vài lần phải nhận lấy thất bại chua chát trong hai năm 2012 và 2013.

Một trong những phương cách hết sức cổ điển mà các nhóm đầu cơ bất động sản và ngân hàng sử dụng lần này vẫn là truyền thông. Không quá khó khăn để công luận nhận ra số lượng bài viết theo cách “thị trường bất động sản có nhiều dấu hiệu phục hồi”, “giá nhà đất bắt đầu tăng”… xuất hiện tràn lan và không cần giấu vẻ trơ trẽn trên nhiều tờ báo in và trang mạng.

Hà Nội – một trung tâm không chỉ về kinh tế mà ngày càng dồn dập biến động về xã hội và chính trị –trở nên sôi động và trơ trẽn hơn cả. Chiếm gần phân nửa số hàng tồn kho của cả nước về căn hộ cao cấp và trung cấp, thủ đô này có thể cảm nhận tâm trạng của các đại gia nơi đây đangbén ngọt đến thế nào nếu năm con Ngựa không thể phi mã tống táng hàng tồn và do vậy không thể thanh lý nợ xấu cho giới chủ ngân hàng luôn cầm dao đằng chuôi.

Như một đặc trưng thời thượng của làng báo chí Việt Nam, một đội ngũ viết thuê đã hình thành từ Bắc vào Nam. Nếu trước đây giới PR bất động sản này sinh sống chủ yếu trên các tờ báo thương mại, kinh tế, thì nay đã chen chân vào cả những tờ báo đảng loại 1 nhưng rất khó bán như Nhân Dân, Hà Nội Mới, Đại Đoàn Kết…

Thây ma biết đi

Tình thế nền tài chính và tín dụng quốc gia đang trở nên xấu chưa từng thấy vào đầu năm 2014, đặc biệt khi Moody’s– một hãng xếp hạng tín nhiệm có uy tín trên thế giới –lần đầu tiên tung ra số liệu đến 15% nợ xấu trên tổng tài sản của nền kinh tế Việt Nam. Bất chấp hành động của Ngân hàng nhà nước cải chính “báo cáo của Moody’s chỉ có ý nghĩa tham khảo”, một tỷ lệ mới vể nợ xấu cũng lần đầu tiên phải được thừa nhận bởi cơ quan Việt Nam quá nhiều tai tiếng này: 9%.

Quy luật biện chứng lịch sử cực kỳ thời thượng là không thể giải quyết được nợ và nợ xấu nếu không xử lý được núi tồn kho khổng lồ bất động sản, và ngược lại như một định lý đảo. Cặp bài trùng này đã hiện hình từ giữa năm 2011, khi một hãng xếp hạng tín nhiệm lớn trên thế giới là Fitch Ratings tuyên bố tỷ lệ nợ xấu trong các ngân hàng thương mại Việt Nam là 13%, tức gấp đến 4 lần con số chỉ hơn 3% do Ngân hàng nhà nước công bố vào cùng thời điểm.

Đến kỳ họp quốc hội gần giữa năm 2012, Ngân hàng nhà nước bất ngờ thừa nhận tỷ lệ nợ xấu lên đến 10%, tức chỉ số này đã tăng đến 3 lần chỉ trong vòng chưa đầy một năm. Ngay vào lúc đó, thị trường bất động sản đã trở nên nguy ngập với độ trơ lì đầy kiên định của nó là vô phương cứu chữa.

Không ai có thể hiểu được cơ quan điều hành tài chính – tín dụng và tiền tệ cao nhất quốc gia, nếu bản thân họ cũng không ý thức được những gì đã và đang làm. Trong tâm thế luẩn quẩn đối phó với sức ép của công luận, chỉ một thời gian ngắn sau tỷ lệ nợ xấu lại được Ngân hàng nhà nước kéo xuống 8%, rồi còn 6%. Nhưng với tất cả các đại biểu Quốc hội nặng thói quen đọc báo cáo do người khác cung cấp, vẫn không có gì đáng ngạc nhiên khi toàn bộ số liệu của Ngân hàng nhà nước đã không cần kèm thuyết minh hoặc một cơ sở tối thiểu nào cho hai chiều lên – xuống về tỷ lệ nợ xấu. Hiểu ẩn ý hơn, có lẽ đây là một trong những cơ quan có biệt tài giấu diếm đến tận cùng hoạt động số liệu, cùng lúc đẩy Việt Nam vào một trong những vị trí tồi tệ nhất trong bảng xếp hạng của Tổ chức Minh bạch quốc tế.

Ngay cả con số đầy bất ngờ về tỷ lệ nợ xấu lên đến 35-37% do Ủy ban giám sát tài chính quốc gia – một trong những cơ quan tư vấn của Chính phủ – đột ngột công bố vào giữa năm 2013, cũng không thể làm tình trạng minh bạch sáng sủa hơn. Nhưng đến lúc này, hiện thực nguy hiểm đã tỏ rõ thế nan nguy cận kề của nó: với độ chênh đến 6 lần giữa báo cáo của hai cơ quan cùng hệ thống nhà nước, người ta có thể mường tượng một cuộc khủng hoảng tài chính – tín dụng và cả mối xung đột phe nhóm có thể nổ ra ở Việt Nam trong những ngày tháng không quá xa xôi, tái hiện hình ảnh cuộc khủng hoảng tương tự ở Thái Lan vào năm 1997.

Cần nhắc lại, nếu trước cuộc khủng hoảng tài chính 1997, tỷ lệ nợ xấu chỉ được người Thái báo cáo có 5%, thì sau khi khủng hoảng bùng phát, giới quan sát đã kinh ngạc trước tỷ lệ nợ xấu thực ở quốc gia này lên đến 50%, tức gấp chẵn 10 lần!

Với trường hợp Việt Nam, mặc dù vẫn còn trong giai đoạn cố gắng che giấu sự thật, nhưng một sự thật khác không thể phủ nhận là trong suốt ba năm qua đã không thể giải quyết khúc xương lớn nhất thuộc về thị trường nhà đất. Gói hỗ trợ 30.000 tỷ đồng là một ví dụrất tiêu biểu, khi qua 9 tháng khuyến dụ mới giải ngân được vỏn vẹn 3%.

Trong khi đó, dấu hiệu sức mua cạn kiệt vào tết nguyên đán 2014 lại như một điềm báo rất xấu đối với sức tiêu thụ nhà đất. Giảm đến 40-50% so với tết năm ngoái, lực cầu thị trường tiêu dùng đang làm nên một cơn chấn động về thiểu phát và có thể cả giảm phát. Tình hình đó chắc chắn đang phản ánh trạng thái “trơ” của không chỉ thị trường hàng hóa nói chung mà còn với cả thị trường bất động sản đang quá thiểu năng trí tuệ này.

Làm thế nào có thể tiêu thụ ít nhất 100.000 căn hộ trung cấp và cao cấp đang oằn mình trong nắng gió ở Hà Nội và Sài Gòn? Làm thế nào để vào giữa năm 2014 hoặc cùng lắm đến đầu năm 2015, các con nợ đại gia bất động sản có thể đẩy được hàng, dù chỉ một phần, để trả nợ cho các ngân hàng chủ nợ, để các ngân hàng mới có thể “phân loại nợ xấu và trích lập dự phòng rủi ro” như một đòi hỏi theo tinh thần “sống chết mặc bay” của Ngân hàng nhà nước?

Tầng cuối địa ngục

Trong thế tuyệt vọng, nhóm lợi ích ngân hàng ôm tài sản thế chấp bất động sản đang cố tung ra con bài cuối cùng vào năm nay. Chiến dịch “đánh lên” bất động sản thậm chí còn được khoa trương bởi một thông tin sốt dẻo úp mở mới được tung ra vào những ngày gần đây: sẽ có gói kích cầu lên đến 100.000 tỷ đồng dành cho thị trường này!

100.000 tỷ nào? Và tiền ở đâu ra? Hẳn giới đầu tư luôn bị thất vọng ở Việt Nam vẫn không quên sự kiện là vào cuối năm 2012 và sang nửa đầu năm 2013, những quan chức có tầm cỡ của Bộ Xây dựng như Thứ trưởng Nguyễn Trần Nam, cùng một dàn “chuyên gia lợi ích” đã liên tục “tiết lộ” về gói kích cầu lên đến 180.000 – 200.000 tỷ đồng cho bất động sản. Tuy thế cuối cùng thị trường khốn quẫn này vẫn không nhận ra bóng dáng của bất kỳ gói kích thích nào. Thậm chí, ngay cả vốn lưu động mà Ngân hàng nhà nước thường rót cho các ngân hàng thương mại vào dịp tết cũng gần như biến mất vào tết nguyên đán năm 2014.

Cô kiệt về nguồn vốnmới đang là tình thế thảm thương mà nhóm lợi ích ngân hàng không làm cách nào lay động được độ trơ của thị trường bất động sản. Núi tiền mặt vẫn dày ngộn trong két sắt Ngân hàng nhà nước và một số ngân hàng thương mại cổ phần, nhưng dấu chấm bi đát cùng tắc biến là nó lại không thể biến hóa vào thị trường lưu thông theo bất kỳ ý nghĩa sinh lợi nào. Tình hình đó càng lộ rõ triển vọng tắc nghẹn khi một chuyên gia PR tiết lộ một cách trần trụi: toàn bộ con số 100.000 tỷ đồng của “gói kích cầu” bất động sản không hề là “tiền tươi thóc thật” như giới đầu tư và tiêu dùng mong ngóng, mà chỉ là tiền được tạo ra bởi trái phiếu đặc biệt của Chính phủ.

Sẽ không có gì để bàn cãi về tính tác dụng của trào lưu phát hành trái phiếu, nếu tự thân nó không hàm chứa những thất bại hiển nhiên đã được thực chứng. Vào giữa năm 2013, kế hoạch phát hành 600 triệu USD trái phiếu chính phủ để cứu tập đoàn Vinashin đã không thể chứng nhận được bất cứ một nguồn tiêu thụ nào. Vậy với một thị trường bất động sản và cả hệ thống ngân hàng đã quá suy mòn niềm tin chính sách và cả niềm tin chính thể, làm sao có thể tống táng trái phiếu để lấy tiền cứu giới tồn kho?

2014. Kịch bản “phục hồi kinh tế” đang cố gắng được lặp lại những gì của năm 2009, tức cho thị trường chứng khoán sôi trào và kích thích tâm lý phục hồi giả dối đối với người dân và các nhà đầu tư. Tuy nhiên, khác hẳn với năm 2009 là lúc mà ngân sách nhà nước còn đủ 8,5 tỷ USD đổ ra cho một gói kích thích, trong hai năm 2012 và 2013 đã hoàn toàn chẳng có một định dạng nào cho gói kích cầu. Cũng bởi thế và cùng với độ trơ hiện hữu của thị trường bất động sản, cho dù chỉ số chứng khoán Việt Nam đang cố tình được đẩy lên gấp đôi độ tăng của thị trường chứng khoán Mỹ, vẫn quá khó có hy vọng là thị trường này sẽ tạo ra được hiệu ứng “bình thông nhau” với lực cầu trên thị trường bất động sản.

Thậm chí với thị trường chứng khoán Việt Nam, đặc tính vô cùng không minh bạch của nó cộng với thói quen “cờ bạc quen tay” của không ít kẻ chỉ muốn móc tiền từ túi người khác càng biến thị trường này thành một cơn chao đảo nóng lạnh cực kỳ bất thường. Không còn là tâm điểm để giải quyết hàng tồn kho, chứng khoán và cổ phiếu chỉlà liệu pháp cuối cùng để các nhóm lợi ích ngân hàng và bất động sản dùng để kích động tâm lý và sức mua đối với thị trường nhà đất. Bởi vậy nhiều khả năng là nếu độ trơ của thị trường bất động sản vẫn hoàn toàn lì lợm trong nửa đầu năm 2014, người ta sẽ chứng kiến một cú bổ nhào cay đắng của các chỉ số chứng khoán.

Dùng thị trường đầu cơ để tạo ra những ảo ảnh về phục hồi nền kinh tế– đó là cơn bĩ cực khôn nguôi của một nền kinh tế bị nạn cờ bạcvà tham nhũng ăn vào tận xương tủy trong suốt hơn hai chục năm qua.

Toàn thể cơn bĩ cực như thế thuộc về “thành tích điều hành” của Chính phủ. Nhưng đáng phẫn nộ hơn, nó đổ lên đầu người dân toàn bộ đống rác thải của một thứ chủ nghĩa tư bản dã man trong nền kinh tế thị trường độc quyền “định hướng xã hội chủ nghĩa” theo ngôn ngữ và sở thích độc trị của Đảng.

P. C. D.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Advertisements
Categories: Tin Trong Nước | Leave a comment

Các yêu sách trên biển mâu thuẫn ở Biển Đông

Trang Đầu » Biển Đông

Các yêu sách trên biển mâu thuẫn ở

Biển Đông

Biên dịch:Mạch Nguyễn Phương Uyên | Hiệu đính:Lê Hồng Hiệp 

Giới thiệu

Biển Đông là nơi có các đặc điểm địa lý ven biển phức tạp, nhiều tranh chấp chủ quyền đối với các đảo bởi nhiều bên yêu sách, những tuyên bố về đường cơ sở thái quá và gây tranh cãi, những tuyên bố chồng chéo và trái ngược nhau về quyền tài phán trên biển, và gần đây nhất là những tranh chấp liên quan đến báo cáo được nộp lên (cho Liên Hợp Quốc) về các quyền đối với thềm lục địa mở rộng. Mục đích của bài viết này là xem xét và phân tích những vấn đề trên từ những góc nhìn không gian, pháp lý và địa chính trị. Bài viết sẽ mở đầu bằng việc đánh giá tổng quan những nhân tố địa lý và địa chính trị vốn định hình và làm nền tảng cho các tranh chấp tại Biển Đông trước khi đánh giá các tuyên bố của những quốc gia ven biển về đường cơ sở và các khu vực trên biển. Những thỏa thuận về ranh giới biển và khu vực phát triển chung cũng được nêu bật. Cuối cùng, bài viết tìm hiểu những dấu hiệu cho thấy các yêu sách về quyền tài phán trên biển đang được thực thi quyết liệt hơn.

Bối cảnh địa lý và địa chính trị

Biển Đông là một biển nửa kín rộng lớn, bao phủ ít nhất 3.000.000km2, bao quanh bởi các quốc gia – theo chiều kim đồng hồ tính từ phía Bắc – là Trung Quốc và Đài Loan; Phillipines; Malaysia; Brunei Darussalam (Brunei); Indonesia; Singapore; và Việt Nam. Ngoài ra, Campuchia và Thái Lan cũng nằm bên bờ Vịnh Thái Lan, một phần mở rộng của Biển Đông. Hậu quả chủ yếu của đặc tính nửa kín này của Biển Đông, cùng với một số lượng lớn các quốc gia ven biển có liên quan, đó là những yêu sách trên biển của các quốc gia này có xu hướng chồng lấn nhau. Diện tích rộng lớn của Biển Đông có nghĩa rằng hai bờ biển đối diện cách nhau hơn 400 hải lý (nm); một vùng công hải hay “lỗ tròn bánh doughnut” (doughnut hole) rộng lớn có thể tồn tại ngay ở trung tâm của Biển Đông (xem bên dưới). Tuy nhiên, bối cảnh quyền tài phán trên biển lại khá phức tạp bởi sự hiện diện của nhiều nhóm cấu tạo biệt lập thuộc nhiều dạng khác nhau ở Biển Đông. Những quần đảo chính của Biển Đông như sau (theo chiều kim đồng hồ tính từ hướng Tây Bắc):

▪    Quần đảo Hoàng Sa (Paracel Islands), bao gồm khoảng 130 đảo, phần lớn được chia thành hai nhóm là nhóm Lưỡi Liềm và nhóm An Vĩnh (bị tranh chấp giữa Trung Quốc/Đài Loan và Việt Nam)

▪    Quần đảo Đông Sa (Pratas Islands), mà cấu tạo chính là dải đá ngầm Đông Sa, là một rặng san hô ngầm hình tròn có bán kính 11 dặm, bao quanh một đầm phá lớn (nằm dưới sự quản lý của Đài Loan, được tuyên bố chủ quyền bởi Trung Quốc);

▪    Bãi cạn Scarborough (Scaborough Reef/Shoal), một cấu tạo bao gồm một rặng san hô vòng rộng lớn, bị chìm khi thủy triều lên cao trừ một số chỏm nhỏ, và một đầm phá đi kèm (bị tranh chấp giữa Trung Quốc/Đài Loan và Philippines), và bãi Macclesfield (Trung Quốc gọi là Trung Sa – NHĐ) nằm ở phía tây của bãi cạn Scarborough, là một cấu tạo bị chìm hoàn toàn và vĩnh viễn dưới mực nước biển;

▪    Quần đảo Trường Sa (Spratly Islands), bao gồm khoảng 150 – 180 đảo, đảo nhỏ, đá, đá ngầm cũng như rất nhiều những bãi cạn chỉ nổi khi thủy triều thấp và các cấu tạo chìm dưới mực nước biển (tuyên bố chủ quyền toàn bộ hoặc một phần bởi Brunei, Trung Quốc/Đài Loan, Malaysia, Philippines và Việt Nam); và,

▪    Quần đảo Natuna (Natuna Islands), bao gồm một nhóm trên 200 đảo và các cấu tạo biệt lập khác nằm ở Tây Nam của Biển Đông.

Như đã đề cập ở trên, ngoại trừ quần đảo Natuna đang nằm trong phần chủ quyền không tranh chấp của Indonesia, chủ quyền đối với những quần đảo này là đối tượng đang bị tranh chấp. Thêm vào đó, nếu xét về vấn đề quyền tài phán trên biển, các quần đảo tại Biển Đông có tiềm năng vô cùng quan trọng. Trong bối cảnh đó, địa vị pháp lý của những cấu tạo biệt lập này, cũng như vai trò tiềm tàng của chúng trong việc phân định biên giới trên biển, mang ý nghĩa vô cùng then chốt. Ví dụ, nếu các đảo đang bị tranh chấp tại Biển Đông được phân loại là các đảo có khả năng tạo ra các vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng 200 hải lý (trái ngược với “đá” không thể tạo ra vùng EEZ), thì vùng công hải như đã nói ở trên sẽ không còn.

Những tác nhân địa chính trị đối với các tranh chấp tại Biển Đông

Những nhân tố địa chính trị chính yếu tạo cơ sở và gây nên những tranh chấp tại Biển Đông bao gồm những lo ngại không dứt về chủ quyền và quyền chủ quyền, những lo ngại về tự do hàng hải và an ninh tại các tuyến đường biển quan trọng, cũng như các cân nhắc về quyền tiếp cận tài nguyên biển. Trong số những yếu tố này thì vấn đề chủ quyền nổi bật hơn hết. Dù toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, các quốc gia có lãnh thổ kiểu Hòa ước Westphalia đã không hề suy giảm, có lẽ rõ ràng nhất là ở Đông và Đông Nam Á. Tranh chấp chủ quyền, nhất là đối với các vùng trên cạn (các đảo bị tranh chấp), vì thế vẫn là nguyên nhân gốc rễ của những tranh chấp chủ quyền các đảo ở Biển Đông, nhất là khi gắn liền với những ảnh hưởng tiêu cực từ tình trạng cạnh tranh và thù địch trong lịch sử.

Biển Đông là tâm điểm của hàng loạt Các tuyến liên lạc trên biển (SLOCs) có tầm quan trọng khu vực và toàn cầu. Việc đảm bảo cho các SLOCs và tự do hàng hải là vô cùng quan trọng để nền kinh tế thế giới vận hành suôn sẻ bởi vì giao thương quốc tế vẫn phụ thuộc rất nhiều vào vận tải hàng hải. Thực sự, sự phụ thuộc vào giao thương đường biển này càng bị trầm trọng hóa bởi các nền kinh tế nghèo nàn tài nguyên nhưng lại chú trọng xuất khẩu ở Đông và Đông Nam Á, và trong tình hình này, các tuyến SLOCs đi qua Biển Đông rõ ràng đều rất thiết yếu. Cũng tồn tại một khía cạnh an ninh năng lượng rõ rệt và ngày càng nổi bật đối với an ninh các tuyến đường biển tại khu vực này. Đáng lưu ý là hệ thống các SLOCs nối các nút thắt tạo thành cửa ngõ và lối ra khỏi Biển Đông có xu hướng tránh những vùng đảo đang tranh chấp tại khu vực này vì chúng là các mối rủi ro đối với hành trình hàng hải.

Liên quan đến việc tiếp cận các nguồn tài nguyên biển, có một nhận thức được mặc định từ lâu dù có thể không có căn cứ vững chắc, cho rằng những vùng tranh chấp ở Biển Đông chứa một trữ lượng đáng kể các nguồn năng lượng dưới đáy biển. Lượng hydrocacbon, nếu có tồn tại, chắc chắn sẽ rất hấp dẫn đối với các quốc gia duyên hải ở Biển Đông, tất các các nước này trừ Brunei đều đang đối mặt với những lo ngại về an ninh năng lượng ngày càng khẩn cấp. Tuy nhiên, những ước tính về tiềm năng dầu và khí đốt của Biển Đông rất khác nhau; chúng thường chỉ mang tính suy đoán, không được chứng minh rõ ràng, và do đó thường gây nhiều lầm lẫn và nên được xem xét một cách thận trọng. Dù sao đi nữa, nhận thức dai dẳng cho rằng Biển Đông chứa một nguồn tài nguyên dưới đáy biển vô cùng to lớn vẫn là một động lực chính dẫn đến tranh chấp tại Biển Đông. Những rắc rối gần đây liên quan đến các hoạt động khai thác dầu và khí đốt ở Biển Đông đã củng cố quan điểm này.

Cuối cùng, môi trường nhiệt đới nửa kín của Biển Đông và Vịnh Thái Lan tạo nên môi trường biển phong phú xét về khía cạnh đa dạng sinh học. Những môi trường này hỗ trợ ngành thủy sản trên toàn cầu cũng như là khu vực, đặc biệt là đối với vấn đề an ninh lương thực của hàng trăm triệu cư dân ven biển. Theo đó, việc tiếp cận những vùng nước ở Biển Đông phục vụ đánh bắt cá, cũng như bảo tồn và bảo vệ môi trường biển để hỗ trợ cho các hoạt động này, nên là ưu tiên hàng đầu của các quốc gia vùng duyên hải Biển Đông. Tuy nhiên, không may là môi trường biển, sự đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật ở đây được thừa nhận rộng rãi là đang bị đe dọa nghiêm trọng.

Những tuyên bố về quyền tài phán trên biển

Tất cả các quốc gia vùng duyên hải ở Biển Đông, ngoại trừ Campuchia, đều là các thành viên tham gia vào Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS). Do đó, cần phải đánh giá những tuyên bố về quyền tài phán trên biển của các nước này trong bối cảnh UNCLOS.

Các đường cơ sở

Những tuyên bố trên biển phụ thuộc vào chủ quyền đối với các vùng lãnh thổ đất liền có đường bờ biển phù hợp với câu châm ngôn pháp lý “Đất thống trị biển”. Đường cơ sở dọc bờ biển, đến lượt nó, là cơ sở cho những tuyên bố quyền tài phán trên biển, vì những vùng biển này được tính từ đường cơ sở. UNCLOS[2] quy định nhiều loại đường cơ sở. Tuy nhiên, khi không có những tuyên bố nào khác, đường cơ sở “thông thường” trùng với ngấn nước thủy triều thấp như được thể hiện trên những hải đồ tỉ lệ lớn được công nhận bởi quốc gia ven biển liên quan sẽ được áp dụng ưu tiên theo như Điều 5 của UNCLOS. Trong bối cảnh của Biển Đông, đường cơ sở thông thường cũng như những điều khoản của Công ước về đường cơ sở của các dải đá ngầm (Điều 6 của UNCLOS) đặc biệt phù hợp với các đường cơ sở và những tuyên bố trên biển của các đảo bị tranh chấp ở Biển Đông. Đường cơ sở thông thường cũng được áp dụng cho các tuyên bố trên biển của Brunei cũng như là của Trung Quốc và Việt Nam tại Vịnh Bắc Bộ.

Đối với vấn đề bờ biển lục địa của các quốc gia bao quanh Biển Đông, phần lớn các quốc gia liên quan rõ ràng đều cho rằng bờ biển của họ bị thụt sâu vào hay được bao quanh bởi các đảo trong vùng lân cận và theo đó đã xác định hệ thống các đường cơ sở thẳng như được quy định bởi Điều 7 của UNCLOS. Campuchia, Trung Quốc và Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam đã đưa ra những tuyên bố về đường cơ sở thẳng như thế này. Trong khi đó mặc dù Malaysia vẫn chưa chính thức công khai vị trí những đường cơ sở thẳng của mình, bản đồ Malaysia là bằng chứng cho thấy quốc gia này đã đưa ra những tuyên bố kiểu như vậy. Những đường cơ sở thẳng đã được tuyên bố này phần lớn đều rộng lớn và thường đối diện những đường bờ biển tương đối thẳng hoặc liên kết các đảo nhỏ cách xa nhau và cách xa bờ biển đất liền. Do đó, những tuyên bố này đã dẫn đến sự phản ứng của quốc tế, đáng chú ý là từ Mỹ, nước đã tiến hành đánh giá một cách hệ thống các thực tiễn hàng hải của những quốc gia khác như là một phần của chương trình Tự do Hàng hải (FON) của mình. Thêm nữa, hai quốc gia ven biển ở Biển Đông, Indonesia và Philippines, là những quốc gia quần đảo và đã xác định những đường cơ sở quần đảo phù hợp với Điều 47 của UNCLOS

M.N.P.U.

[1] Giám đốc Nghiên cứu, Trung tâm nghiên cứu Quốc gia Australia về An ninh và Tài nguyên Biển (ANCORS), Đại học Wollongong

[2] United Nations, United Nations Convention on the Law of the Sea, Publication no.E97.V10, (New York, NY: United Nations, 1983). Xem, 1833 UNTS 3, được mở ký ngày 10 tháng 12 năm 1982, Montego Bay, Jamaica (có hiệu lực từ 16 tháng 11 năm 1994), <http://www.un.org/Depts/los/convention_agreements/convention_overview_convention.htm&gt;.

Nguồn bản gốc: Clive Schofield[1] (2013). “Increasingly contested waters? Conflicting maritime claims in the South China Sea”, in Leszek Buszynski & Christopher Roberts (eds), The South China Sea and Australia’s Regional Security Environment, National Security College Occasional Paper  No. 5, pp. 8-12

Nguồn bản tiếng Việt: nghiencuuquocte.net

 

 

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Yêu cầu nhà cầm quyền trả tự do cho Bùi Thị Minh Hằng

Yêu cầu nhà cầm quyền trả tự do cho Bùi Thị Minh Hằng và khởi tố vụ án gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong khi thi hành công vụ.

Nguyễn Tường Thụy

1. Hôm nay, 21/2/2014, cháu Trần Bùi Trung, con trai chị Bùi Thị Minh Hằng cho biết, Công an huyện Lấp Vò đã trả lời gia đình về trường hợp của mẹ cháu là chị Bùi Thị Minh Hằng: “Đã có quyết định khởi tố… sẽ thông báo về gia đình”.

Cháu Trung cho biết người trả lời cháu là Nguyễn Hồng Nguyên thuộc phòng CSĐT công an huyện Lấp Vò.

Khi hỏi còn hai người là Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Thị Thúy Quỳnh cũng bị giữ lại với Bùi Hằng thì sao, con gái chị Hằng cũng cho biết là cũng như thế.

Thông tin này có độ chính xác cao vì là lời các con chị Bùi Hằng nói ra. Mặt khác, cũng đã hết thời hạn tạm giữ tối đa là 9 ngày mà chị không được trả tự do.

Nếu sự việc này là thật thì đây là việc làm bất chấp pháp luật của công an Lấp Vò – Long An [Đồng Tháp – BVN], là cách hành xử đê tiện và hèn nhát của nhà cầm quyền.

2. Như chúng ta đã biết, trưa ngày 11/2/2014, Bùi Hằng cùng hơn 20 bà con tín đồ Hòa Hảo đến thăm gia đình chị Bùi Thị Kim Phượng, vợ anh Nguyễn Bắc Truyền nhưng đã bị công an địa phương bắt.

Những người bị bắt cho biết họ bị chặn xe, đánh đập hết sức tàn bạo rồi chở về giam ở công an Lấp Vò.

Một ngày sau, 12/2/2014, Công an huyện Lấp Vò đã ra thông báo về việc tạm giữ người đối với Bùi Thị Minh Hằng. Lý do tạm giữ ghi “Đã có hành vi tụ tập đông người trên đường giao thông, gây cản trở giao thông nghiêm trọng…

Sau khi đa số người được thả (còn giữ lại 3 người) họ bắt thêm anh Nguyễn Văn Hoa – tín đồ PGHH, hiện nay chưa rõ ra sao.

Theo lời kể của những người bị bắt rồi thả về thì chính công an mới là người gây rối trật tự công cộng. Họ còn phạm tội theo Điều 107 Bộ luật hình sự: Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong khi thi hành công vụ.

3. Sự qui kết của công an Đồng Tháp và lời kể của những người trong cuộc hoàn toàn mâu thuẫn nhau thì chúng ta tin ai? Có thể khi bị bắt bớ, đánh đập, họ có phản ứng lại, nhưng 20 người làm sao có thể gây “cản trở giao thông nghiêm trọng”. Câu chữ này được cài vào nhằm tăng nặng khung hình phạt khi họ đưa Bùi Hằng ra tòa.

Điều 245. Tội gây rối trật tự công cộng  

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: 

c) Gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt động công cộng;

Được biết, lực lượng công an đông hơn số người đến thăm gia đình chị Phượng rất nhiều lần. Vì vậy, việc cản trở giao thông nếu có thì do phía công an gây ra chứ đâu tại 20 người di thăm chị Phượng.

Trên thực tế, việc công an sử dụng lực lượng nhiều hơn những người họ đàn áp, đánh đập và đã đàn áp, đánh đập họ là điều đã xảy ra thường xuyên không có gì là lạ.

4. Bùi Thị Minh Hằng từng bị bắt đi cải tạo 2 năm. Mặc dù họ dụ dỗ, lừa đảo bằng đủ cách, nào là xin khoan hồng, nào là xin đi chữa bệnh nhưng đều bị chị cự tuyệt. Cuối cùng, sau 5 tháng, họ buộc phải cưỡng bức chị ra. Điều này đồng nghĩa với việc họ thừa nhận bắt Bùi Hằng đi cải tạo là sai.

Sau khi ra trại, Bùi Hằng phát đơn kiện Nguyễn Thế Thảo, chủ tịch Hà Nội. Chị đã nộp án phí. Nhưng sau đó thì tòa án bênh Thảo, không đưa ra xét xử vụ này.

Ra trại, chị từ người nội trợ, trở thành một người chiến sĩ như chị nói. Chị đấu tranh mạnh mẽ hơn, có bài bản hơn nhưng đều trong khuôn khổ của luật pháp. Và chính sự mạnh mẽ của chị làm cho họ khó chịu. Chị bị theo dõi mọi nơi, mọi lúc, kể cả khi ở nhà đóng cửa, chúng dùng mắm tôm, dầu nhớt ném vào nhà, phơi bày sự bẩn thỉu, đê tiện, hèn hạ mà chỉ chế độ này mới có.

Chị đã mất quá nhiều, từ kinh tế, từ việc gia đình ly tán, từ thân xác hao mòn tới 15 kg sau khi ra trại. Nhà cầm quyền đã đẩy chị đến chỗ không còn gì để mất. Chị đã từng tuyên bố tự thiêu mà những người hiểu chị không coi đây là chuyện đùa.

5. Lần này, họ quyết tâm bắt chị đưa ra tòa. Vụ bắt chị hôm 11/2 chỉ là tạo cớ (chứ không phải là mượn cớ) để bắt giam chị. Họ bất chấp bài học đưa Hằng vào trại cách đây chưa lâu vẫn còn đó. Chắc hẳn trong việc này, Công an Lấp Vò hay Đồng Tháp cũng chỉ là người thực hiện âm mưu của cấp cao hơn nữa đối với Bùi Hằng.

Tuy nhiên, xét toàn diện, nhà cầm quyền dù có tức tối, nhỏ nhen cũng cần phải cân nhắc. Bắt Bùi Hằng vào tù không phải là điều đơn giản, cho dù họ thừa cơ bắp để làm điều đó.

Ra trại, Bùi Thị Minh Hằng càng được nhiều người ủng hộ hơn, kể cả trong nước và cộng đồng quốc tế. Nếu như thời gian chị ở trại cải tạo, nhà cầm quyền lợi dụng hoàn cảnh của chị để chia rẽ gia đình chị thì bây giờ, các con đã hiểu chị và trở về với chị, các cháu thương mẹ hơn bao giờ hết. Bạn bè chị vui mừng và chúc mừng chị về Hạnh phúc muộn mằn đó. Có ai đó còn dè dặt bởi tính cách quá mạnh, hoặc nghi ngờ về động cơ đấu tranh của chị thì bây giờ cũng hiểu và thương yêu, nể trọng chị hơn.

Trong 2 ngày nay, khi chờ đợi đã hết thời hạn tạm giữ tối đa, nhiều lời kêu gọi biểu tình phản đối giam giữ Bùi Hằng không phải ở Đồng Tháp mà ở Hà Nội, Sài Gòn đã được nêu ra.

Còn với chị, tù tội cũng thoảng qua như giấc ngủ ngày. Chị cũng đã sẵn sàng cho việc này, bởi chị hiểu quá rõ dã tâm và thủ đoạn của những kẻ có quyền đối với chị

Qua vụ việc Bùi Hằng và đồng bào tín đồ Hòa Hảo bị bắt, tôi tin đồng bào hơn là tin vào Công an Vấp Lò – Đồng Tháp. Yêu cầu nhà cầm quyền trả tự do cho Bùi Thị Minh Hằng và những người còn lại. Đồng thời ra quyết định khởi tố vụ án theo điều 107 Bộ luật hình sự: Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong khi thi hành công vụ.

21/02/2014

N.T.T.

Categories: Tin Trong Nước | Leave a comment

Khi công an dùng nhục hình

Khi công an dùng nhục hình

TT – Trong hai năm trở lại đây, tại hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa có nhiều vụ công an, điều tra viên bị truy tố do sử dụng nhục hình với nghi can. Điều đó thể hiện sự nghiêm minh của luật pháp, nhưng cũng cho thấy tình trạng vi phạm pháp luật ngay trong cơ quan bảo vệ pháp luật.

Nguyên sĩ quan công an Lang Thành Dũng ra tòa, lãnh án 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội dùng nhục hình với ông Nguyễn Trường Vũ – Ảnh: Duy Thanh

Dư luận tại tỉnh Phú Yên rất quan tâm vụ án có đến năm sĩ quan công an bị truy tố tội “dùng nhục hình”, đang chờ ngày ra pháp đình.

Trong số năm bị cáo có một người thuộc Công an tỉnh Phú Yên là Nguyễn Minh Quyền (nguyên thiếu tá thuộc Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội). Bốn người còn lại của Công an TP Tuy Hòa gồm: Nguyễn Tấn Quang (nguyên thiếu tá, đội phó đội cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội), Phạm Ngọc Mẫn (nguyên thượng úy thuộc đội cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội), Đỗ Như Huy (nguyên trung úy thuộc đội cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội) và Nguyễn Thân Thảo Thành (nguyên thiếu úy, cán bộ điều tra).

Nhiều vụ đánh nghi can thương vong

Theo hồ sơ, ngày 13-5-2012, tại cơ quan Công an TP Tuy Hòa, trong quá trình xét hỏi nghi can Ngô Thanh Kiều (sinh năm 1982, ở xã Hòa Đồng, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên) về hành vi trộm cắp tài sản, năm công an nói trên đã đánh anh Kiều. Chiều cùng ngày, khi được đưa đến Công an tỉnh Phú Yên để làm việc thì anh Kiều choáng và chết trên đường đưa đi cấp cứu.

Tại Khánh Hòa, các cơ quan pháp luật ở huyện Vạn Ninh cũng đã khởi tố, bắt giam bị can Lê Minh Phát, nguyên công an viên xã Vạn Long, vì có hành vi truy bắt, đánh đập em Tu Ngọc Thạch (14 tuổi) tại trụ sở công an xã khiến em này tử vong ngày 31-12-2013. Trước đó, trong năm 2012, tòa án đã tuyên phạt 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo đối với Lang Thành Dũng, nguyên trung úy Công an TP Nha Trang, vì đã bắt nhầm hai ông Nguyễn Trường Vũ và Trương Chí Bình về trụ sở do nghi trộm cắp, rồi đánh đập đến mức ông Vũ phải đi cấp cứu. Cũng trong năm 2012, tòa án đã tuyên phạt hai nguyên sĩ quan Công an TP Nha Trang là trung úy Nguyễn Đình Quyết 9 tháng tù cho hưởng án treo, đại úy Trần Bá Tuấn mức cảnh cáo vì đã dùng nhục hình đối với bà Trần Thị Lan…

Ngày 20-2, thượng tá Lê Quang Thanh – trưởng Công an huyện Khánh Vĩnh – cho biết ba công an xã Khánh Trung đã bị cho thôi việc vì “có vi phạm các quy định trong công tác”. Cụ thể, vào ngày 5-7-2013 hai anh Cao Văn Lệ (27 tuổi) và Cao Văn Tuyên (19 tuổi) bị Công an xã Khánh Trung gọi đến trụ sở vì nghi hai anh trộm cắp. Tối cùng ngày, công an xã đưa anh Tuyên và anh Lệ vào Trung tâm Y tế huyện Khánh Vĩnh cấp cứu nhưng bác sĩ xác định anh Tuyên đã tử vong trước khi đến bệnh viện. Anh Lệ nói anh và anh Tuyên đã bị ba công an dùng dùi cui đánh vào tay, chân. Theo thượng tá Thanh, kết luận điều tra cho thấy anh Tuyên chết do bệnh lý phù phổi cấp, không phải do bị đánh.

Ông Nguyễn Trường Vũ – người bị Lang Thành Dũng đánh bị thương – Ảnh: Văn Tạo

Đừng để vừa mất cán bộ, vừa mất uy tín

Tại các phiên tòa xét xử, khi được tòa hỏi vì sao lại dùng nhục hình, ba nguyên sĩ quan Công an TP Nha Trang nêu trên đều lấy lý do nôn nóng phá án và không kiềm chế được sự nóng giận khi các nghi can khai báo mâu thuẫn, lòng vòng! Một lãnh đạo Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa nói: “Chúng tôi thường xuyên nhắc nhở anh em trong lực lượng của mình là cần luôn giữ trái tim nóng và cái đầu lạnh. Áp lực công việc rất lớn, tội phạm lại lưu manh, xấc xược nên anh em dễ bức xúc, nổi nóng. Tuy nhiên, không phải vì nôn nóng phá án hay bức xúc mà công an lại vi phạm pháp luật. Cấm bức cung, nhục hình nghi can, phạm nhân là đã được luật quy định, ngành cũng nghiêm cấm từ lâu nay. Những vụ án dùng nhục hình xảy ra tại Khánh Hòa là những bài học rất lớn, rất đau xót cho lực lượng.Công an tỉnh tăng cường thanh tra và thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở để không xảy ra vi phạm tương tự”.

Chiều 20-2, ông Nguyễn Chuyện – chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy, trưởng Ban pháp chế HĐND tỉnh Khánh Hòa – trao đổi: “Công an nếu “mềm” quá thì những kẻ phạm tội sẽ vùng lên, do vậy lực lượng này cần trấn áp, điều tra tội phạm một cách kiên quyết, nhưng phải mưu trí và khôn khéo bằng những biện pháp nghiệp vụ chứ không phải là bắt người ta về trụ sở rồi đánh đập, nhục hình. Thời gian qua, không riêng Khánh Hòa mà còn một số nơi khác xảy ra các vụ công an dùng nhục hình với người khác, phải ra tòa. Hậu quả là ngành mất cán bộ, trong đó có những trinh sát, điều tra viên giỏi; bị mất uy tín vì người của cơ quan bảo vệ pháp luật nhưng lại vi phạm pháp luật”.

Ông Chuyện cho hay chiều 20-2, Ban pháp chế HĐND tỉnh Khánh Hòa họp triển khai kế hoạch giám sát việc giải quyết khiếu nại tố cáo trong lĩnh vực tư pháp. Hiện chưa có chương trình chi tiết, nhưng trong đợt giám sát này, Ban pháp chế HĐND tỉnh Khánh Hòa sẽ lưu ý vấn đề công an dùng nhục hình; ngoài ra sẽ giám sát thường xuyên, liên tục vấn đề này để kiến nghị chấn chỉnh, xử lý kịp thời nếu phát hiện có vi phạm.

DUY THANH

 

Thiếu tướng PHẠM VĂN HÓA (giám đốc Công an tỉnh Phú Yên):

Cứ can phạm chết trong trại thì dư luận cho là do công an đánh

Nhiệm vụ chính của công an khi giam giữ can phạm, nghi can là chống trốn, chống thông cung, chống suy kiệt, chống chết, chống tự sát trong trại. Nhưng ở Phú Yên thì năm này năm khác cũng có các vụ người bị giam tự tử trong nhà giam giữ. Khách quan là do trại giam, nhà tạm giữ xây dựng theo mẫu, được mặt này thì yếu mặt khác. Ví dụ thiết kế buồng giam chống trốn tốt thì lại dễ tự tử vì các song sắt cửa… Can phạm, nghi can vào trại thì tâm lý khác với bên ngoài, muốn tự tử thì thắt cổ không được cũng đập đầu, cắn lưỡi…

Người bị tạm giam chết trong trại thì dư luận luôn đặt vấn đề là bị công an đánh. Bởi vậy chúng tôi chỉ đạo thường xuyên lực lượng công an nhà giam phải tuần tra, kiểm soát 24/24 giờ, ở các trung tâm quan sát buồng giam bằng camera cũng phải trực 24/24 giờ để khi phát hiện người bị tạm giam, tạm giữ có biểu hiện, hành vi tự tử thì can thiệp, xử lý kịp thời. Đối với phạm nhân mới đưa vào trại tạm giam, nhà tạm giữ thì không được giam lẻ, mà phải giam chung 2-3 người/buồng để họ giám sát, có gì báo kịp thời. Tôi thấy trang bị camera quan sát buồng giam là hiệu quả, nhưng ở Phú Yên chỉ mới trại tạm giam Công an tỉnh được trang bị một số máy, còn các nhà tạm giữ công an cấp huyện thì chưa có kinh phí.

D.T. ghi

 

 

Những vụ chết người trong nhà tạm giữ

* Sáng 20-10-2006: anh Phạm Văn Hồng (sinh năm 1985, ở xã An Ninh Đông, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên), người bị bắt khẩn cấp một ngày trước đó do có hành vi đốt lưới đánh cá của một người trong thôn, được phát hiện đã chết trong nhà tạm giữ Công an huyện Tuy An. Các cơ quan chức năng kết luận anh Hồng chết do treo cổ tự tử. Do nghi ngờ anh Hồng bị đánh chết, người nhà anh cùng hàng trăm người khác đã đưa quan tài lên thị trấn Chí Thạnh, đặt trên quốc lộ 1 trước mặt các cơ quan của huyện Tuy An, gây ách tắc giao thông, mất an ninh trật tự trong hai ngày 21 và 22-10-2006.

* Ngày 25-4-2011: anh Lê Anh Thắng (sinh năm 1977, ở P.9, TP Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, bị bắt ngày 24-4-2011) chết trong nhà tạm giữ hành chính thuộc trại tạm giam Công an tỉnh Phú Yên. Công an kết luận anh Thắng chết do treo cổ tự tử.

* Lúc 23g ngày 11-8-2011, anh Lê Văn Trận (sinh năm 1985, ở xã Hòa Hiệp Trung, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên, một trong tám nghi can bị bắt vào ngày 11-8-2011 vì liên quan đến một vụ hiếp dâm) chết trong nhà tạm giữ Công an huyện Đông Hòa, được xác định là tự tử. Gia đình anh Trận không nhận thi thể anh vì cho rằng anh chết do nguyên nhân khác nên công an đã tổ chức an táng.

* Lúc 17g30 chiều 7-10-2013: chị Trần Thị Hải Yến (sinh năm 1982, ở xã An Cư, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên), bị can trong vụ án “cố ý gây thương tích”, bị bắt tạm giam từ ngày 15-1-2013 ở nhà tạm giữ Công an huyện Tuy An. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Yên kết luận chị Yến chết do treo cổ tự tử, nhưng gia đình chị Yến chưa đồng ý nên đang khiếu nại.

Categories: Tin Trong Nước | Leave a comment

Biển Đông: Thế trận mới đang hình thành

Biển Đông: Thế trận mới đang

hình thành

27.02.2014 | 19:15 PM
Thích và chia sẻ bài viết này trên:

“Lợi ích quốc gia” của Mỹ trên Biển Đông không chỉ đơn thuần là “tự do hàng hải” mà còn lớn hơn nhiều, đó là an ninh quốc gia Mỹ và Nhật Bản…

Giới hạn “lợi ích quốc gia” của Mỹ đã đến vạch đỏ…

Từ cuối năm 2013, các tuyên bố chính thức cũng như không chính thức của giới lãnh đạo ngoại giao và quân sự Mỹ về Biển Đông đã cứng rắn hẳn lên đối với Trung Quốc, khi Bắc Kinh càng lúc càng có thêm các hành động được coi là khiêu khích để áp đặt bằng sức mạnh các đòi hỏi chủ quyền của mình tại Biển Đông. Phải chăng giới hạn “lợi ích quốc gia” của Mỹ đã đến vạch đỏ?

Năm 2010, tại Hà nội, Ngoại trưởng Mỹ lúc đó là bà H.Clinton đã tuyên bố một câu “như đinh đóng cột” rằng: “Mỹ có lợi ích quốc gia ở Biển Đông” khiến cho Trung Quốc bất ngờ “chết đứng”, Ngoại trưởng Trung Quốc bỏ ra khỏi phòng họp sau khi trút tức giận lên Singapo một câu sặc mùi nước lớn: “Nên nhớ anh chỉ là nước nhỏ”.

Vậy “lợi ích quốc gia” của Mỹ bao hàm vấn đề gì mà đã hơn 3 năm trôi qua,Trung Quốc đã làm cho Biển Đông nổi sóng, đưa các quốc gia ĐNA vào cuộc đua tăng cường năng lực quốc phòng…thì Mỹ vẫn tỏ ra trung lập và cho đến giờ mới có những tuyên bố cứng rắn?

Nếu Biển Đông thành “ao nhà” của Trung Quốc, nghĩa là Trung Quốc khống chế hoàn toàn các tuyến hàng hải quan trọng và eo biển Malacca thì trước hết đây là một đòn trời giáng vào “tử huyệt” của Nhật Bản đồng thời đẩy Mỹ ra khỏi khu vực ĐNA, làm bàn đạp để chia đôi Thái Bình Dương với Mỹ. Ngược lại, nếu không khống chế được Biển Đông thì chưa nói đến bị Mỹ và liên minh quân sự của Mỹ bao vây hay không mà an ninh về năng lượng, an ninh về thương mại của Trung Quốc luôn có độ tin cậy không cao và luôn bị đe dọa. Trung Quốc sẽ không có cơ hội để chơi sòng phẳng với Mỹ trên mọi vấn đề.

Té ra là “lợi ích quốc gia” của Mỹ trên Biển Đông không chỉ đơn thuần là “tự do hàng hải” mà còn lớn hơn nhiều, đó là an ninh quốc gia Mỹ và Nhật Bản, một liên minh quân sự nòng cốt trong chiến lược châu Á-TBD của Mỹ.

Những hành động của Trung Quốc thời gian qua trên Biển Đông như chiếm bãi cạn Scarborogh của Philippines, đồng minh của Mỹ, thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa”, cấm đánh bắt hải sản… không khiến Mỹ phải can thiệp vì nó không lớn hơn quan hệ kinh tế với Trung Quốc. Một học giả Mỹ đã nói thẳng: “Mỹ không đem hạm đội 7 sang để đánh nhau với Trung Quốc vì mấy cái đảo đá mà chỉ sang vì lợi ích quốc gia”, là chính xác.

Như vậy dễ thấy là chỉ khi nào Biển Đông có dầu hiệu sắp bị rơi vào tay kẻ khác, tức là có thể coi như đó là vạch đỏ giới hạn mà buộc Mỹ phải có biện pháp cứng rắn để bảo vệ lợi ích quốc gia.

Tàu tuần duyên USS Freedom tác chiến gần bờ của Hải quân Mỹ triển khai ở căn cứ Changi, Singapore đang canh chừng cửa ra vào eo biển Malacca
Một bộ phận công trình của căn cứ Subic được lặng lẽ khôi phục đến trạng thái “có thể cung cấp sử dụng bất cứ lúc nào” cho lực lượng tàu ngầm Thái Bình Dương của Mỹ (Globaltimes)

Dư luận và giới quan sát đã không mấy khó khăn khi nhận ra Mỹ đã chất vấn chỉ trích tính pháp lý của đường lưỡi bò (chiếm hơn 80% diện tích Biển Đông) mà Trung Quốc đã tuyên bố, Mỹ cảnh cáo Trung Quốc rằng “sẽ thay đổi tư thế quân sự” nếu Trung Quốc thiết lập ADIZ trên Biển Đông, Mỹ công khai ủng hộ Philippines kiên Trung Quốc về đường lưỡi bò… trong bối cảnh khi Trung Quốc đang tăng cường sức mạnh hải quân một cách bất thường và tỏ ra rất quyết đoán trong hành động…bởi vì đây là 2 vấn đề cốt yếu cho thấy Biển Đông có nguy cơ sẽ bị Trung Quốc khống chế.

Việc Mỹ xuất hiện trực tiếp, công khai, vào khu vực Biển Đông đã tạo ra 2 mâu thuẫn lớn: Mâu thuẫn giữa Trung Quốc với các nước có tranh chấp về chủ quyền biển đảo và mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Mỹ-Nhật Bản về nguy cơ thách thức đến an ninh quốc gia, địa vị thống trị châu Á-TBD.

Thế trận trên Biển Đông trở nên đầy kịch tính khi xuất hiện 2 cường quốc đối đầu. Tính chất Trung-Mỹ đậm đặc hơn đã khiến cho các nước nhỏ dễ thở hơn dưới áp lực của Trung Quốc.

Tính nguy hiểm của ADIZ trên Biển Đông

Chúng ta không bao giờ nghĩ rằng Trung Quốc sẽ không lập ADIZ trên Biển Đông mà lập ADIZ hay không với Trung Quốc chỉ là vấn đề thời gian. Phát ngôn viên của BQP Trung Quốc đã tuyên bố rõ ràng là “khi chuẩn bị đủ điều kiện thì sẽ lập ADIZ trên Biển Đông” đó thôi.

Chúng ta biết rằng, ADIZ là sản phẩm của chiến tranh lạnh, nhưng nếu như Trung Quốc lập ADIZ trên Biển Đông thì đây lại là sự “sáng tạo” đầy hiểm độc.

Thử hỏi có quốc gia nào ở ĐNA dám tấn công Trung Quốc bằng không quân hay không? An ninh Trung Quốc từ hướng Biển Đông (biển Nam Trung Hoa) có bị đe dọa bởi các nước nhỏ ven Biển Đông? Hay là Trung Quốc đề phòng máy bay của Nhật Bản, Mỹ tấn công từ hướng này, vậy thì ADIZ trên biển Hoa Đông ngay trước cửa nhà Trung Quốc mà máy bay B-52 Mỹ bay lượn mà sao Trung Quốc không một phản ứng?…

Rõ ràng, nếu Trung Quốc lập ADIZ trên Biển Đông là chỉ dùng nó để áp dụng cho tranh chấp chủ quyền, một kiểu xâm lược, chiếm đoạt vùng trời của quốc gia láng giềng rất ngang ngược và đặc biệt rất tàn độc và bỉ ổi. Nói là tàn độc, bỉ ổi là vì thực chất, đây là hành động đe dọa, sát hại con tin để đòi hỏi chủ quyền.

Các quốc gia bị ADIZ trùm lên buộc phải lựa chọn hoặc là có hàng trăm người trên chuyến bay dân sự sẽ bị đe dọa, giết hại nếu như không chấp nhận ADIZ họ lập ra hoặc muốn an toàn thì mất chủ quyền.

Sự lợi hại, nguy hiểm của việc dùng ADIZ để tranh chấp chủ quyền luôn tạo ra cho láng giềng một sự lựa chọn bắt buộc: Chiến tranh hoặc hòa bình trong lệ thuộc.

Việc dùng ADIZ trên Biển Đông để tranh chấp chủ quyền sẽ là nguyên nhân chủ yếu làm sụp đổ chính sách quốc phòng “ba không” hòa bình của Việt Nam.

Chính sách quốc phòng “3 không” của Việt Nam

Chính sách “ba không” quốc phòng Việt Nam bao gồm: không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia, thực chất là chính sách quốc phòng hòa bình, mong muốn hòa bình, tin cậy lẫn nhau… nằm trong đường lối đối ngoại của Đảng là “muốn là bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới”.

Đây là thông điệp thứ nhất, thông điệp hòa bình, mong muốn chung sống hòa bình với tất cả các quốc gia trong khu vực và thế giới..

Nếu kẻ thù gây chiến, ngang nhiên xâm hại đến chủ quyền, khi máu đã đổ trên vùng trời, vùng biển, hải đải của Tổ quốc thì lúc đó, chính kẻ thù đã xóa bỏ chính sách quốc phòng “ba không” hòa bình của Việt Nam. Rõ ràng là Việt Nam muốn hòa bình, nhưng kẻ thù không muốn cho chúng ta hòa bình, chúng muốn cướp trời, cướp biển thì Việt Nam buộc phải chống lại.

Để chống lại kẻ thù xâm lược, Việt Nam luôn cần sự ủng hộ của toàn thế giới và không những chỉ dựa vào một nước này nào đó mà sẵn sàng dựa vào cả thế giới để chống kẻ thù xâm lược, là một trong 3 dòng thác cách mạng mà Việt Nam đã vận dụng để tạo nên chiến thắng trong các cuộc chiến tranh vệ quốc trước đây.

Nên hiểu rằng, chấp nhận hy sinh xương máu là biện pháp cuối cùng tổn hại nhất, giá phải trả đắt nhất mà dân tộc Việt cũng buộc phải dùng để bảo vệ chủ quyền thì không có biện pháp nào mà dân tộc Việt không sử dụng để chiến thắng quân xâm lược. Đó là điều chắc chắn.

Đây cũng chính là thông điệp thứ hai cho những kẻ có mưu đồ bành trướng, cậy mạnh đụng đến một dân tộc yêu chuộng hòa bình.

Tuy nhiên chính sách “ba không” đó có phát huy hiệu quả hay không thì phụ thuộc rất lớn vào sức mạnh quân sự, khả năng răn đe của Việt Nam đối với những kẻ có mưu đồ gây chiến.

Vì thế, ở một góc độ nào đó, tuyên bố “thay đổi tư thế quân sự” của Mỹ nếu Trung Quốc lập ADIZ trên Biển Đông lại góp phần cho chính sách quốc phòng hòa bình của Việt Nam có tính răn đe mạnh hơn, phát huy hiệu quả hơn.

Tại sao ư? Đương nhiên Trung Quốc chẳng bao giờ muốn Việt Nam liên minh quân sự với Mỹ, Nhật Bản hay Nga và càng không muốn Mỹ, Nhật Bản hay Nga có căn cứ quân sự ở Việt Nam.

Theo Lê Ngọc Thống (Đất Việt)

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Ðức Huỳnh Giáo Chủ

Ðức Huỳnh Giáo Chủ
Vương Kim

 

Ðức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,

Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.

Giáo truyền đạo Thích dìu sanh chúng,

Chủ ý chọn người vẹn Tứ ân.

(Hình Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)

Phần I:

HÀNH TRẠNG

Thiên thứ hai

Giai đoạn hoạt động đấu tranh

Chương VIII

Tổ Chức Hàng Ngũ

Ðức Thầy vẫn biết tham vọng của quân phiệt Nhựt muốn thực hiện cái mộng làm chủ Ðông Á, như Ngài đã thấy thâm tâm của họ, khi chiếm Ðông Dương hay Tân Gia Ba, thay vì tuyên bố cho các phần đất thuộc địa nầy được độc lập, giao trả quyền cai trị lại cho dân bổn xứ, họ lại thi hành chánh sách “dịch chủ tái nô”, nghĩa là họ thay thế địa vị của bọn thực dân cũ để xây dựng chế độ thực dân mới của họ.

Ðức Thầy vẫn biết tham vọng ấy nên chi đã thổ lộ tâm tư trong hai câu đối:

Trương Tiên tá Hớn phi thần Hớn,

Quan Thánh cư Tào bất đế Tào.

Ngài sở dĩ đi với Nhựt là để khỏi bị Pháp mưu hại mà thôi. Ngài sống với Nhựt cũng như Quan Công xưa kia sống với Táo Tháo trong lúc thất thủ để chờ cơ hội thoát ly.

Phương chi Ngài biết trước thời cơ, thế nào quân Nhựt vận số cũng không chịu nổi cuộc phản công của Ðồng Minh hết năm Dậu (1945) nên chi trong một bữa ăn đãi quan Nhựt, nhằm ngày 30 tức là ngày chay lạt, mà Ngài cho làm gà. Có người tín đồ nhắc Ngài thì Ngài nói: Người Nhựt không ăn hết nửa con gà.

Như vậy Ngài đã biết trước Nhựt không tồn tại hết nửa năm Dậu (1945). Ngài đã thấu rõ máy huyền cơ nên chi Ngài âm thầm lo liệu để kịp kỳ ứng phó với thời thế.

Ban Trị Sự Phật Giáo Hòa Hảo.

Từ ngày Ðức Thầy ra đời cho đến khi đưa đi lưu cư, không có khoảng thời gian nào rỗi rảnh để cho Ngài sắp xếp nền đạo thành một tổ chức có qui mô, hệ thống. Mãi cho đến khi được đưa về Sài Gòn, nương náu trong vòng bảo vệ của Hiến Binh Nhựt, nghĩa là từ ngày dời về căn nhà ở đường Lefèvre, Ngài mới được rảnh trí để lo sắp xếp nội bộ: Tổ chức các Ban Trị Sự.

Mặc dầu gọi là Ban Trị Sự và nền đạo nên danh là Phật Giáo Hòa Hảo, nhưng về tổ chức chưa dựa vào điều lệ hay nội qui nào. Ngài chọn lựa trong hàng tín đồ thuần thành những người có đạo hạnh và uy tín trong vùng rồi chỉ định hoặc làm Hội Trưởng Tỉnh bộ, Quận bộ hay Thôn bộ. Người được chọn sẽ tùy tiện giới thiệu thêm người khác. Thành thử trong Ban Trị Sự không có con số nhứt định.

Đó là tình trạng các Hội Trưởng trong Ban Trị Sự Phật Giáo Hòa Hảo hồi lúc Ðức Thầy còn bị ràng buộc nương náu trong vòng bảo vệ Hiến Binh Nhựt.

Do sự tổ chức rời rạc ấy mà trong lúc Ðức Thầy đi kinh lý miền Tây, cuộc tiếp rước không được nhứt trí và xảy ra những điều phiền toái làm cho Ngài khó xử trí khi có nhiều tín đồ giành nhau đón Ngài về nhà mình.

Ðến nay được công khai hoạt động, nhứt là để chấm dứt tình trạng tổ chức rời rạc, Ngài mới nghĩ đến sự chỉnh đốn lại các Ban Trị Sự và tổ chức thành hệ thống.

Mặc dầu không có điều lệ, Ðức Thầy cũng đã có ý niệm về hình thức Ban Trị Sự gồm có những chức vụ nào. Ðại để một Ban Trị Sự gồm có 1 Hội Trưởng, 1 Phó Hội Trưởng, 1 Thơ ký, 1 Thủ bổn, 1 viên tổ chức, 1 viên liên lạc, 1 viên tuyên truyền, một số kiểm soát và cố vấn.

Sau khi chỉnh đốn xong cơ cấu các cấp Tỉnh, Ngài mới nghĩ đến sắp xếp cơ quan Trung Ương. Cứ như được biết khoảng tháng 5 năm 1945, Ban Trị Sự Trung Ương được thành hình trong đó Ðức Thầy giữ chức Chánh Hội Trưởng, còn ông Lương Trọng Tường chức Chánh Thơ Ký (1). Ngoài ra còn được biết quí ông Trần Văn Tâm, La Văn Thuận và một số nữa không nhớ tên, lãnh các chức vụ khác trong Ban Trị Sự Trung Ương.

(1) Cứ như được biết Ðức Thầy có cấp cho ông Tường giấy chứng minh thư chức Chánh Thư Ký, nhưng vài hôm sau thì thâu hồi.

Việt Nam Phật Giáo Liên Hiệp Hội.

Thật ra thì khi Ngài về ở căn nhà đường Lefèvre, Ngài đã dự thảo chương trình thống hợp các tông phái Phật Giáo thành một lực lượng lấy tên là Việt Nam Phật Giáo Liên Hiệp Hội.

Trong bài Hiệu Triệu của Việt Nam Ðộc Lập Vận động Hội, Ngài đã có lời kêu gọi thống nhứt giới tu hành theo Phật đạo như sau:

“Các bực Tăng Sư, Thiền đức! Các Cụ có nhớ chăng? Trên lịch sử Việt Nam thời xưa, nhà đại đức Khuôn Việt dầu khoác áo cà sa rời miền tục lụy, thế mà khi quốc gia hữu sự cũng ra tay gánh vác non sông.

“Từ khi người Pháp qua chiếm đất ta, bề ngoài gọi rằng cho ta tự do tín ngưỡng, nhưng bên trong dùng đủ mọi cách âm thầm chia rẽ và phá hoại cho tín đồ nhà Phật không có sức đoàn kết chấn hưng hầu bài trừ cái lưu lệ dị đoan mê tín.

“Ðã vậy lại không có cơ quan tuyên truyền thống nhứt, cũng chẳng có trường chung đào luyện Tăng Sư, các cụ nên biết: hễ nước mất thì cơ sở của đạo phải bị lấp vùi, nước còn nền đạo được phát khai rực rỡ”.

Ðể cụ thể hóa sự đoàn kết, Ngài thành lập Việt Nam Phật Giáo Liên Hiệp Hội với tôn chỉ liên hiệp các tông phái đạo Phật, các nhà sư, các nhà trí thức có xu hướng về Phật Giáo, để:

  1. Tìm cách nâng cao tinh thần đạo Phật.
  2. Tìm những phương tiện cứu giúp kẻ nguy nàn vì thời cuộc hiện tại gây ra.
  3. Giúp đỡ lẫn nhau  trong việc quan, hôn, tang tế.
  4. Binh vực lẫn nhau trong sự tín ngưỡng tự do.

Ðể đạt mục đích trên, Hội sẽ tổ chức ba đặc ban:

a)     Ban nghiên cứu đạo Phật gồm có những nhà sư, những nhà thông thái để hằng ngày tra cứu kinh điển dịch sách hay viết sách nói về đạo Phật.

b)     Ban huấn luyện và truyền bá gồm có các nhà sư, cư sĩ trí thức hoạt động được hội phái đi các nơi giảng giải đạo Phật cho đại chúng, hoặc giả mở trường dạy đạo Phật.

c)      Ban chẩn tế gồm có các nhà hảo tâm thiện nam tín nữ hoạt động chuyên lo cứu giúp kẻ nghèo nàn đói khó, tật bịnh, hoặc giả thành lập các nhà dưỡng lão hay nuôi kẻ mồ côi người tàn tật.

Nếu có thể được, mua trữ thuốc men vải sồ, lúa gạo để dành cho cuộc phước thiện.

Vẫn tưởng Hội sẽ được các nhà sư hưởng ứng, nhưng trái lại, vì tinh thần “riêng chùa riêng Phật” nên Hội đành chết non.

Đi khuyến nông.

Bắt đầu từ năm 1944 trận thế chiến thứ hai trở nên ác liệt do Ðồng Minh phản công thắng lợi ở mặt trận Thái Bình Dương. Việt Nam bị phong tỏa, hàng hóa không nhập cảng được trở nên khan hiếm đắt đỏ, trái lại lúa gạo vì không xuất cảng được nên mất giá rẻ mạt. Trong lúc đồng bào miền Bắc thiếu gạo ăn thì ở Sài Gòn người Pháp dùng lúa thế cho than chụm các nhà máy điện. Vì giá lúa quá rẻ, nông gia bắt đầu bỏ ruộng hoang, xoay qua làm nghề khác. Tình hình nông nghiệp lâm nguy.

Ðể cứu vãn tình thế, người Nhựt yêu cầu Ðức Huỳnh Giáo Chủ đi khuyến nông, vì chúng biết Ngài có ảnh hưởng rất lớn vùng châu thổ sông Cửu Long là vùng đất phù sa màu mỡ, vựa lúa của miền Nam, trong lúc bình thường đã sản xuất chẳng những dư sức nuôi miền Trung miền Bắc mà còn thừa thải xuất cảng ra nước ngoài đem lại cho nước nhà một nguồn ngoại tệ rất lớn.

Thừa cơ hội nầy, Ðức Thầy nhận lời đi khuyến nông, trước là khuyến khích nông dân, sau là củng cố hàng ngũ. Hơn thế nữa, riêng Ngài cũng cảm thấy có nhiệm vụ thiêng liêng đối với dân tộc, nên chi Ngài đứng ra cổ võ đồng bào miền Nam, ngoài việc tăng gia sản xuất còn chung sức, nào tiền nào gạo chở ra cứu giúp, và cũng là dịp cho Ngài thăm viếng khuyến miễn tín đồ bấy lâu xa cách.

Cuộc hành trình nầy mệnh danh là cuộc Khuyến nông, kéo dài trong hai tháng, đi khắp các tỉnh miền Tây Nam Việt, diễn thuyết 107 nơi, số người đến nghe trùng trùng điệp điệp.

Bấy lâu có người mộ đạo đã tự qui y mặc dầu chưa hề gặp Ngài, cũng có người nghe danh cảm mộ mà không biết mặt, nay nghe tin Ngài về thì vô cùng hân hoan phấn khởi. Sự vui mừng của anh em tín đồ trông mong Ngài về không còn bút mực nào tả cho hết. Người ta dựng lên những cổng chào ở mỗi chặng đường và dài theo lộ đặt bàn hương án tỏ lòng kính mộ không khác quang cảnh khi rước sắc Thần trong làng. Trên đường Ngài đi qua, già trẻ nữ nam sắp hàng theo hai bên vệ đường làm thành hàng rào dài, đứng chực chờ cả ngày cả buổi, không quản nắng mưa miễn được chiêm ngưỡng dung nhan. Có điều làm cho mọi người cảm động là mỗi khi Ngài đi qua, nhiều cụ già mừng đến rơi lệ dầm dề, nghẹn ngào chào mừng không nên tiếng.

Và một khi Ngài đi qua rồi thì anh em rùng rùng hoặc đạp xe hoặc kéo bộ chạy theo tạo thành một quang cảnh tấp nập làm trở ngại cuộc lưu hành. Vì vậy, mà Ngài ra lịnh, ai ở đâu thì tiếp rước ở đó, chớ không được đi sang qua vị trí khác. Mặc dầu có lịnh cấm nhưng cũng có người khéo léo tìm cách đi trước, bằng đường thủy thay vì bằng đường bộ.

Vì số người đến đón quá đông nên cuộc tiếp rước phải tổ chức ở những địa điểm rộng rãi, thường là sân vận động, đình chùa hay rạp hát mới chứa hết.

Ở mỗi địa điểm tập họp, người ta có dựng một diễn đài cao để cho mọi người ba bên bốn bề, dầu ở xa cũng trông thấy hình dáng, gương mặt hay bộ tịch của Ngài khi lên thuyết giảng.

Mặc dầu đông đảo không thể tưởng tượng, nhưng khi Ngài cất tiếng thì đâu đó đều lặng lẽ, cho nên dầu ở xa cũng nghe tỏ rõ. Ngài có một giọng nói thanh tao, trong trẻo, hấp dẫn lạ thường, vừa hùng hồn vừa truyền cảm. Ai nghe cũng xúc động, khi mủi lòng rơi lệ, lúc phấn khởi hân hoan.

Ngài nói thao thao bất tuyệt, ai ai cũng nhận Ngài có tài hùng biện, nói rất khỏe, nói không vấp, nói có mạch lạc, rất hấp dẫn. Có ngày, Ngài đăng đàn 5,6 chỗ, nói ngót hai ba tiếng đồng hồ mà không thấy mệt, không tiếng khan. Mỗi ngày dời chỗ nhiều lần mà không nơi nào diễn giảng giống nơi nào, dầu người với trình độ nào nghe cũng thấy thích thú.

Vì Ngài ám thông tâm lý nên nói rất phù hạp mọi căn cơ, khi thì với giọng bình dị khi thì văn vẻ cao siêu. Do đó người nghe không thấy chán, mặc dầu đứng lâu 2,3 tiếng đồng hồ, càng nghe càng thấy khoái cảm, say mê.

Với bất cứ đề tài nào, Ngài cũng nói trôi chảy, thông suốt từ cảnh đồng bào chết đói ngoài Bắc, hết sức thê thảm, qua những lời thiết tha kêu gọi nông dân nỗ lực cấy cày, đến những giáo lý cao siêu của nhà Phật, đề tài nào Ngài cũng diễn giảng thao thao bất tuyệt, nhả ngọc phun châu, càng lúc càng thu hút đông người đến nghe, đổ xô như nước lũ.

Trong thời gian “đi khuyến nông” có vài việc làm cho Ngài bực mình là anh em tín đồ tranh nhau rước Ngài về nhà riêng. Cho được công bằng, khỏi mất lòng người nầy, được lòng người khác, Ngài chỉ chấp nhận đến hội quán, bằng không thì đến ở nhà hàng.

Sau đây là lộ trình khuyến nông:

Khởi hành tại Sài Gòn ngày mồng 1 tháng 5 năm Ât Dậu, nhằm ngày 10-06-1945, đi thẳng xuống Cần Thơ rồi đến Cái Răng, Sóc Trăng, Bãi Xào.

Sau khi thuyết giảng tại Sóc Trăng và Bãi Xào, phái đoàn đến Bạc Liêu ngày mồng 6 tháng 5 năm Ât Dậu tức ngày 15-06-1945. Ðến đây Ngài nghỉ ở nhà ông Võ Văn Giỏi.

Chiều ngày mồng 7 tháng 5 Ât Dậu, Ngài thuyết giảng tại đình Tân Hưng trong châu thành Bạc Liêu.

Ngày mồng 8 tháng 5 năm Ât Dậu, Ngài khuyến nông ở Vĩnh Châu và chiều lại thuyết giảng tại Sóc đồn làng Hưng Hội.

Ngày sau tức ngày 9 tháng 5 năm Ât Dậu, Ngài đi thăm Linh Quang Tự của ông Chung Bá Khánh dựng trong đồn điền của ông ở làng Vĩnh Lợi và thuyết pháp rồi nghỉ trưa ở đây. Chiều lại Ngài trở về nhà ông Võ Văn Giỏi ở Bạc Liêu. Trong thời gian ở Bạc Liêu, Ngài có đi Hòa Bình, Gia Rai và Cà Mau.

Ngày 12 tháng 5 Ât Dậu nhằm ngày 21-6-1945 phái đoàn từ giã Bạc Liêu đi Rạch Giá, trải qua Vị Thanh, Giồng Riềng, và đến Rạch Giá ngày 16 tháng 5 năm Ât Dậu, ở nhà ông Nguyễn Công Hầu.

Hôm sau, ngày 17 tháng 5 năm Ât Dậu, Ngài đi Cái Sắn, Tân Hội rồi trở về Rạch Giá, nghỉ hai ngày 19 và 20.

Ngày 21 tháng 5 năm Ât Dậu, Ngài đi Sóc Xoài và Ba Hòn bằng ghe máy.

Trong thời gian ở Rạch Giá, Ngài diễn giảng tại rạp Hòa Lạc và đến thăm đình thờ Quan Thượng đẳng đại Thần Nguyễn Trung Trực và quan Phó Cơ Ðiều tại làng Vĩnh Thanh Vân trong châu thành Rạch Giá.

Từ giã Rạch Giá, phái đoàn đi Hà Tiên nơi đây đã có sẵn xe của ông Phán Hồ Viết Long và thầy thuốc Ðỗ văn Viễn chực chờ, rước về Châu đốc thì được tin Hà Tiên bị Ðồng Minh dội bom. Ngài vừa ghé nhà ông Phán Long thì chợ Châu đốc có báo động. Ngày ấy Ngài dùng cơm nhà thầy thuốc Viễn và nghỉ đêm ở đó.

Sáng hôm sau, Ngài thuyết giảng tại sân vận động, trưa lại Ngài đi Bình Di thuyết giảng tại làng Khánh Bình.

Hôm sau Ngài thuyết giảng ở Tịnh Biên rồi bận về có ghé Xà Tón, Thới Sơn, Nhà Bàn. Khi tới núi Sam Ngài có viếng mộ Phật Thầy và tỏ ra buồn bực.

Ngày hôm sau Ngài đến thuyết giảng tại chợ Cái Dầu làng Bình Long.

Bữa sau Ngài qua Tân Châu, thuyết giảng tại sân vận động, dùng cơm trưa nhà ông quan Hữu Kim, rồi đi Hồng Ngự, thuyết giảng tại nhà Hương Sư Sộ, Hội Trưởng Ban trị Sự quận Hồng Ngự. Chiều lại Ngài về tới Hòa Hảo ngày 20 tháng 5 năm Ât Dậu, nhằm ngày 5-7-1945.

Trên đường về Hòa Hảo, Ngài cho ghé ghe máy thăm ông Năm Hiệu. Ngài lên tới nhà thì ông Năm Hiệu đã tắt thở trước 10 phút.

Ngài dặn trong gia đình ngày mai (27-5-Ât Dậu) khi Ngài thuyết giảng ở Chợ Vàm về sẽ an táng.

Đêm về Hòa Hảo anh em tín đồ tụ lại đông đảo đón Ngài, xếp hàng từ trong nhà Ðức Ông ra đến đại lộ, lên đến chợ Cái Tắc (Mỹ Lương), Ðức Thầy phải đi bộ cho anh em thấy mặt qua ánh sáng của chiếc đèn măng sông do một ngưới xách theo.

Sáng ngày 27 tháng 5 Ât Dậu, Ngài diễn đài chợ Vàm Láng Phú An, tổ chức tại sân vận động. Buổi trưa Ngài dùng cơm nhà Hương Hào Phỉ.

Trên đường về, Ngài có ghé đưa linh cửu ông Năm Hiệu ra phần mồ.

Chiều ngày hôm đó, Ngài thuyết giảng tại đình Hòa Hảo.

Trong mấy ngày ở Hòa Hảo, Ngài có làm lễ đem lư hương từ Tổ đình xuống chùa An Hòa Tự, nhằm ngày 30 tháng 5 Ât Dậu.

Sáng ngày mồng 1 tháng 6 năm Ât Dậu, Ngài qua Năng Gù nơi đây có xe Ban Trị Sự tỉnh Long Xuyên đón Ngài rước về tỉnh lỵ Long Xuyên, tới đây độ 11 giờ và ở trọ nơi khách sạn của tỉnh thành.

Ngày mồng 2 tháng 6 năm Ât Dậu, Ngài đi Vĩnh Trạch và Núi Sập.

Ngày 3 tháng 6 năm Ât Dậu, Ngài đi thuyết giảng ở Chợ Mới.

Ngày 4 tháng 6, Ngài đi Mỹ Lương.

Ngày 5 tháng 6, Ngày đi Ðốc Vàng, chiều trở về Mỹ Hội đông. Sáng hôm sau Ngài thuyết giảng tại sân vận động của làng này rồi về Long Xuyên và thuyết giảng tại công sở làng Mỹ Phước (Châu thành Long Xuyên).

Ngày hôm sau, Ngài đi Cái Sắn.

Hôm sau, Ngài đi Thốt Nốt và chiều trở về nghỉ tại Long Xuyên đến 11 giờ đêm, Ngài đi luôn về Cần Thơ để hôm sau thuyết giảng tại sân vận động.

Bữa sau, Ngài đi Xà No thăm Hương bộ Thạnh rồi thuyết giảng tại Cái Tắc. Bữa sau nữa, Ngài đi khuyến nông tại Phụng Hiệp và Cái Răng. Và mấy ngày sau đó, Ngài đi thuyết giảng ở Trà Mơn, Ô Môn, Cờ Ðỏ.

Sau Cần Thơ, Ngài đi Sa đéc, Cao Lãnh, Vĩnh Long, Tam Bình, An Trường, Trà Vinh, Càn Long đến Bến Tre rồi trở về Sài Gòn.

Mặc dầu, cuộc khuyến nông kéo dài trong 2 tháng nhưng không nơi nào Ngài ở lâu. Ngài chỉ đi thoáng qua cho anh em tín đồ được trông thấy dung nhan của Ngài cho thỏa lòng bấy lâu mong ước. Tuy Ngài đã đi rồi, nhưng anh em vẫn ghi đậm hình dáng của Ngài vào tâm não, nhứt là lời vàng ngọc của Ngài đã khuyến giáo. Anh em đa số đến thuộc nằm lòng những đoạn trong bài khuyến nông và nòng nả thi hành theo lời của Ngài tha thiết kêu gọi:

Giờ đây xem lại mùa màng,

Năm rồi miền Bắc tan hoang còn gì.

Chỉ có xứ Nam kỳ béo bở,

Cơ hội nầy bỏ dở sao xong.

Cả kêu điền chủ, phú nông,

Ðứng lên đừng để ruộng đồng bỏ hoang.

Muốn cứu khỏi tai nàn của nước,

No dạ dày là chước đầu tiên:

Nam kỳ đâu phải sống riêng,

Mà còn cung cấp cho miền Bắc Trung.

Hoặc là:

Kẻ phu tá cũng là trọng trách,

Cứu giống nòi quét sạch non sông:

Một phen vác cuốc ra đồng,

Thề rằng ruộng phải được trồng lúa khoai.

Mưa nắng ấy đâu nài thân xác,

Chí hy sanh dầu thác cũng cam:

Miễn sao cho cánh đồng Nam,

Dồi dào lúa chín gặt đem về nhà.

Chừng ấy mới hát ca vui vẻ,

Ai còn khi là kẻ dân ngu:

Không đem được chút công phu,

Gởi một tấm lòng son nhắc nhủ.

Khuyên đồng bào hãy rủ cho đông;

Nắm tay trở lại cánh đồng,

Cần lao nhẫn nại Lạc Long cổ truyền.

Sau 2 tháng đi khuyến về, đã có nhiều tai biến xảy ra tại Sài Gòn, khiến Ngài vô cùng bi thảm viết ra bài thơ sau đây diễn tả cảnh Ðồng Minh dội bom tàn phá Sài Gòn.

Lìa Sài Gòn trong vòng hai tháng,

Khi lộn về tiệm quán tanh banh:

Bởi chưng pháo lũy phi hành,

Quăng bom mù quáng tan tành còn chi.

Ðộng lòng của kẻ từ bi,

Tây phương tâu lại A Di Phật đà.

Rằng bên thế giới Ta Bà,

Chúng sanh tàn sát cũng là vì tham.

Di đà mở cuộc hội đàm,

Cùng chư Bồ Tát quyết đem pháp lành.

Tịnh bình rước khắp chúng sanh,

Làm cho giác ngộ hiền lành như Ta.

Công đồng hoạch định san hà,

Nước ai nấy ở nhà nhà tự do.

Ðiều được biết là sau khi khuyến nông về, Ngài không trở lại căn nhà ở đường Lefèvre nữa mà đi thẳng lên biệt thự số 38 đường Miche (nay là đường Phùng Khắc Khoan) là nơi anh em tín đồ đã xếp đặt sẵn trong lúc Ngài đi Hậu Giang.

(hai bức hình của Ðức Thầy (trang 138, 139)

MUC LUC | CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7| | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | | CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 |

CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|

[TV. PGHH]

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Tại Sao Một Số Cảnh Sát Trung Quốc Thay Đổi Tận Đáy Lòng Quan Điểm Về Cuộc Bức Hại Pháp Luân Công

Tại Sao Một Số Cảnh Sát Trung

Quốc Thay Đổi Tận Đáy Lòng

Quan Điểm Về Cuộc Bức Hại

Pháp Luân Công

 Epoch Times       February 25, 2014      Xã Hội Trung Quốc     No Comment
Hàng trăm học viên Pháp Luân Công thực hành các bài tập trên bãi cỏ lớn phía trước Tòa nhà quốc hội Mỹ vào ngày 12 tháng 7 trước một cuộc mít tinh lớn nêu lên vấn đề đàn áp Pháp Luân Công ở Trung Quốc. (Ma Youzhi / The Epoch Times)

Sau 14 năm chịu sự đàn áp tàn bạo không ngừng, bao gồm giam giữ bất hợp pháp, tra tấn, và bị thu hoạch nội tạng dưới sự phê chuẩn của nhà nước, các học viên Pháp Luân Công ở Trung Quốc gần đây đã báo cáo về thái độ mềm mỏng của một số cảnh sát đối với phong trào tập luyện tinh thần này.

Từ năm 1999, khi nguyên lãnh đạo chế độ, Giang Trạch Dân, ra lệnh tiêu diệt trên diện rộng đối với những người thực hành thiền định và tập các bài tập, các học viên Pháp Luân Công trên toàn thế giới đã duy trì những cuộc biểu tình hòa bình để phản đối cuộc bức hại và công bố sự thật cho công chúng.

Hàng triệu người ở nhiều quốc gia đã ký tên kiến nghị chấm dứt cuộc đàn áp Pháp Luân Công, và một số chính phủ cũng đã ban hành lời tuyên bố công khai như thế. Ở Trung Quốc, hàng ngàn người đã để lại tên và điểm chỉ dấu tay của họ lên hàng chục đơn kiến nghị, yêu cầu phóng thích những học viên đang bị giam giữ.

Theo một số nhà phân tích Trung Quốc, các nhà lãnh đạo Trung Quốc hiện nay đang cảm thấy áp lực khi đương đầu với cuộc bức hại, tuy nhiên, họ không muốn giải quyết nó một cách công khai vì nó có thể sẽ dính líu đến toàn bộ Đảng Cộng sản và có thể làm sụp đổ chế độ. Theo các nhà phân tích, các nhà lãnh đạo hiện tại có ý định sử dụng chiến dịch chống tham nhũng của Tập để hạ bệ các quan chức cấp cao nhất chịu trách nhiệm về việc thi hành chính sách khủng bố và gán cho họ tội tham nhũng thay vì tội diệt chủng và mổ cắp nội tạng từ hàng chục ngàn tù nhân Pháp Luân Công bị giam cầm.

Các vụ bắt giữ gần đây đối với Lý Đông Thắng và Chu Vĩnh Khang, cả hai đều là quan chức cấp cao chịu trách nhiệm chính về chiến dịch chống lại Pháp Luân Công, cho thấy tính xác thực của quan điểm này.

Bắt giữ

Vào tối ngày 20 Tháng 12 năm 2013, Ủy ban Kỷ luật Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thông báo rằng Lý Đông Thắng, Thứ trưởng Bộ Công an và Giám đốc Phòng 610 Trung ương, đang bị điều tra bởi “hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng,” một sự liên quan rõ ràng tới việc tham nhũng.

“Phòng 610″ là tổ chức cấp cao nhất trong Ủy Ban Chính Trị và Pháp Vụ (PLAC) dưới chế độ cộng sản Giang Trạch Dân, được lập ra để đàn áp Pháp Luân Công. Trong khi vị trí đứng đầu của Lý đối với Phòng 610 đã luôn được giữ bán bí mật, thì trong bản công bố điều tra ông ta nó đã được đề cập như là một danh hiệu chính thức đầu tiên, có thể điều này được xem như là một gợi ý rằng chính sách khủng bố Pháp Luân Công, không phải sự ăn hối lộ, mới là trung tâm trong việc điều tra đối với Lý.

Lý Đông Thắng có quan hệ gần gũi với Chu Vĩnh Khang, cựu Tổng trưởng của PLAC, bộ máy an ninh khổng lồ của Trung Quốc. Được biết đến như một ông trùm an ninh của Trung Quốc, Chu Vĩnh Khang cũng là một thành viên Ủy Ban Thường Vụ Bộ Chính Trị trước khi nghỉ hưu vào năm 2012 và là một trong những người đàn ông quyền lực nhất ở Trung Quốc cũng như là một trong những quan chức cấp cao nhất chịu trách nhiệm về chiến dịch chống lại Pháp Luân Công.

Chu cũng đang bị điều tra. Mặc dù chưa có xác nhận chính thức, nhưng việc bị bắt giữ đã được xác nhận từ nhiều nguồn, bao gồm Reuters.

Chu và Lý, thuộc trong số những người được chính cá nhân Giang Trạch Dân lựa chọn để thực hiện chiến dịch diệt chủng của mình chống lại Pháp Luân Công. Hàng trăm quan chức và các cộng sự của bộ ba bị cáo buộc này đã bị sa thải khỏi vị trí của họ trong vòng 18 tháng qua và đều bị điều tra.

Các vụ bắt giữ này được cho là đã gây ra sự hoảng loạn trong phe của Giang Trạch Dân và trong hệ thống pháp luật, tư pháp, và cảnh sát. Cảnh sát và các nhân viên an ninh khác hiện nay đều sợ rằng bản thân họ cũng có thể phải chịu trách nhiệm về những tội ác mà họ đã phạm đối với các học viên Pháp Luân Công.

Cảnh sát: ‘Chúng tôi đã sai’

Theo các báo cáo trên trang web Minh Huệ (Minghui.org), một trang web được duy trì bởi các học viên Pháp Luân Công để ghi lại cuộc đàn áp, nhiều cảnh sát đã nhận ra rằng họ không nên tuân lệnh để đàn áp Pháp Luân Công nữa.

Rất nhiều học viên Pháp Luân Công, cả bên trong và bên ngoài Trung Quốc, đã thực hiện các cuộc gọi điện thoại cho các quan chức thực thi pháp luật của Trung Quốc, giải thích rõ sự thật cho họ và cảnh báo họ về những hậu quả của việc tham gia vào cuộc đàn áp.

Theo một báo cáo, vào đầu tháng 01, một học viên tên là Benny đã thực hiện một cuộc gọi đến một đồn cảnh sát ở Trung Quốc. Ban đầu các sĩ quan không muốn nghe cô ấy. Nhưng sau khi cô nói với họ rằng Lý Đông Thắng đã chính thức bị bắt giữ và đang bị điều tra, sau đó họ bắt đầu nghe. Họ cũng đã ghi lại số lượng người để kiến nghị tới Tổ chức Điều Tra Thế giới về việc đàn áp Pháp Luân Công có trụ sở ở New York, nói rằng họ sẽ báo cáo về các cán bộ khác – những người đã phạm tội ác chống lại Pháp Luân Công – để họ chuộc lại những lỗi lầm của mình.

Một học viên khác, đã gọi điện tới một cảnh sát ở Trung Quốc, và bị anh ta mắng xối xả. Nhưng sau đó người cảnh sát này đã đưa cho người học viên số điện thoại riêng của mình. Học viên Benny gọi lại cho ông ta, và lần này người cảnh sát đã rất lịch sự. Ông ta nói: “Cô có biết lý do tại sao tôi chửi mắng người bạn của cô? Đó là bởi vì điện thoại kia của tôi bị theo dõi và tôi cần phải bảo vệ bản thân mình. Tôi biết là bạn của cô gọi điện để giúp tôi và anh ấy là một người rất tốt. Những điều anh ấy nói với tôi đều đúng, ĐCSTQ luôn luôn tìm những con dê tế thần cho những tội ác nó phạm trong các hoạt động trong quá khứ.”

Người cảnh sát này sau đó hứa sẽ bảo vệ các học viên Pháp Luân Công mà ông gặp được.

Vào ngày 17 tháng 01, hai học viên Pháp Luân Công ở tỉnh Sơn Đông đi phát tờ rơi trên phố và khuyến khích mọi người rút khỏi ĐCSTQ. Hai cảnh sát đã tiến về phía các học viên, điều đó thường có nghĩa là họ sẽ bị bắt. Một trong những cảnh sát nói, “Pháp Luân Công đang phân phát tờ rơi.” Người cảnh sát nhìn chằm chằm vào các học viên trong một lúc, sau đó nhìn nhau với một nụ cười và bỏ đi.

Trong một báo cáo khác, một học viên Pháp Luân Công tại thành phố Trùng Khánh cho biết ông đã tới thăm một đồn cảnh sát và nghe một người đàn ông báo cáo về người hàng xóm của ông ta tập Pháp Luân Công. Thay vì khen thưởng người đàn ông này, vị cảnh sát trưởng đã trở nên khó chịu với anh ta, nói: “sự tập luyện của anh ta không có liên hệ với ông, càng có nhiều người tập luyện, thì càng tốt”.

Một nhân viên phòng 610 ở thành phố Trùng Khánh đã đến trại lao động cưỡng bức phụ nữ Shabao để đón các học viên Pháp Luân Công được thả. Ông đã nói rằng: “Chúng tôi rất sai khi đàn áp Pháp Luân Công. Tôi không bao giờ có thể hiểu được chính sách hoạch định của ĐCSTQ.”

Một học viên Pháp Luân Công đã gửi một lá thư nói về sự thật đối của cuộc đàn áp tới người đứng đầu một văn phòng  610 Quận. Sau khi đọc xong lá thư, người đứng đầu Văn phòng 610 này đã từ bỏ công việc của mình.

Một người đàn ông nói rằng ông đã ở trong lực lượng cảnh sát hơn 20 năm, đã rút khỏi ĐCSTQ thông qua sử dụng một bí danh trên trang web Đại Kỷ Nguyên. Ông nói có những điều rất xấu đã xảy đến đối với nhiều cảnh sát mà ông biết, những người đã tham gia vào cuộc đàn áp các học viên Pháp Luân Công. Ông sẽ không bán cuộc đời mình cho ĐCSTQ và sẽ ngừng quấy rối các học viên Pháp Luân Công. Ông cũng khuyên vợ và con không bao giờ gia nhập ĐCSTQ hoặc các tổ chức liên quan.
Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

Hãy Chấm Dứt Nạn Cướp đoạt/Buôn bán Nội Tạng Tại Trung Quốc

Hãy Chấm Dứt Nạn Cướp

đoạt/Buôn bán Nội Tạng Tại

Trung Quốc

 Hon. David Kilgour, J.D.       February 27, 2014      Ý Kiến     No Comment

Bài phát biểu của ông David Kilgour trước Knesset [Hội đồng Lập pháp] của Israel.

các thành viên trong buổi họp tại Knesset Israel, gồm người sống sót, giám đốc trung tâm thông tin Pháp Luân Đại PhápTừ trái qua : Shipping (Sarah) Lu, người sống sót từ trại lao động Trung Quốc ; Roy Bar-IIan, giám đốc Trung tâm Thông tin Pháp Luân Đại Pháp tại Israel; Nghị viên Mosche Feiglin, phó Phát ngôn viên của Quốc hội Israel; Ethan Gutmann, nhà báo điều tra và tác giả sách “Losing the New China” (ảnh do David Kilgour).

Ngày 17 tháng hai, 2014

Các nghị viên Knesset kính mến,

Cho phép tôi cảm ơn sự chào đón mà các bạn dành cho phái đoàn Canada gần đây. Chuyến viếng thăm và bài diễn văn của ngài thủ tướng của chúng tôi tại Knesset được đưa tin rộng khắp đất nước chúng tôi.

Cho phép tôi được nhắc lại bốn đoạn trích dẫn từ bài diễn văn:

“Canada về cơ bản ủng hộ Israel vì điều đó là việc làm đúng…Tình bằng hữu đặc biệt giữa Canada và Israel bén rễ trong các giá trị sẻ chia…Israel là quốc gia duy nhất ở Trung Đông mà từ lâu đã gắn bó với lý tưởng tự do, dân chủ và sự cai trị bằng luật pháp… khi (các giá trị phổ quát) bị đe dọa ở bất kỳ một nơi nào, thì có nghĩa là chúng đang bị đe dọa ở khắp mọi nơi”

Khi phẩm giá con người bị phủ nhận một cách nghiêm trọng ở Trung Quốc thì nó có thể đe dọa tất cả chúng ta, vậy nên tôi hy vọng các nhà lập pháp và nhân dân hai nước chúng ta sẽ làm những điều đúng đắn mà không có sự sợ hãi bị đặt nhầm chỗ.

Tất cả chúng ta trong liên minh quốc tế nhằm chấm dứt nạn cướp đoạt/buôn lậu nội tạng ở Trung Quốc có thể thấy hài lòng rằng các bạn đang tổ chức phiên điều trần quan trọng này.

Thời gian là cấp bách; tôi chắc chắn rằng những người đàn ông và đàn bà không mang tội lỗi gì hiện vẫn đang bị giết hại ở Trung Quốc, để nội tạng của họ có thể được đem bán.

Pháp Luân Công

Cộng đồng nạn nhân chủ yếu, Pháp Luân Công (hay Pháp Luân Đại Pháp) dùng một bộ các bài tập nhẹ nhàng cho thân thể. Đối với tinh thần, các nguyên lý cốt lõi là “Chân-Thiện-Nhẫn”, có tính tương đồng với nguyên lý của nhiều niềm tin tâm linh.

Pháp Luân Công được giới thiệu ra công chúng ở Trung Quốc vào năm 1992; nó phát triển trong bảy năm đến mức 70-100 triệu học viên theo ước tính của chính phủ. Hệ thống niềm tin của môn tập này khác biệt rất lớn với chủ nghĩa vô thần/duy vật của Đảng cộng sản.

Vào tháng bảy năm 1999, tổng bí thư Giang Trạch Dân phát động một cuộc vận động bạo lực với mục đích công khai là để “diệt trừ” Pháp Luân Công.

Một báo cáo của chính phủ Mỹ đã kết luận vài năm trước rằng ít nhất một nửa số tù nhân trong mạng lưới các trại lao động cưỡng bức rộng lớn khắp Trung Quốc – ước tính khoảng 350 trại – là học viên Pháp Luân Công. Những người từng bị giam giữ được phỏng vấn bởi David Matas và bản thân tôi trong nhiều địa điểm bên ngoài Trung Quốc liên tục chỉ ra rằng Pháp Luân Công là nhóm người lớn nhất ở trong các trại và bị đem riêng đi tra tấn và ngược đãi có hệ thống.

Hàng chục triệu học viên Pháp Luân Công hòa bình/phi chính trị từ mọi vùng miền và các ngành nghề khác nhau đã bị chính quyền Bắc Kinh đàn áp vô nhân đạo. Chính sách của chính quyền độc đảng là họ có thể bị giết hại theo yêu cầu mà không cần phải chịu trách nhiệm pháp lý.

Báo cáo độc lập

Vào tháng Năm năm 2006 Liên Minh Điều Tra Cuộc Đàn Áp Pháp Luân Công ở Trung Quốc (CIPFG) đã nhờ David Matas và tôi điều tra về cáo buộc cướp đoạt/buôn bán nội tạng từ các học viên Pháp Luân Công còn sống. Chúng tôi đã cho xuất bản hai báo cáo và một quyển sách, và đang tiếp tục điều tra vấn đề này. (Báo cáo đã được kiểm duyệt của chúng tôi được dịch sang 18 ngôn ngữ, bao gồm tiếng Do Thái, từ trang http://www.david-kilgour.com). Chúng tôi đã kết luận rằng chỉ riêng những năm 2000 đến 2005 có 41,500 ca cấy ghép được tiến hành ở Trung Quốc mà sự giải thích hợp lý duy nhất về nguồn nội tạng này là từ các học viên Pháp Luân Công.

Kết luận chính của chúng tôi là “cho đến ngày nay vẫn còn tình trạng cướp đoạt nội tạng trên quy mô lớn đối với các học viên Pháp Luân Công dù cho các học viên không hề sẵn lòng (…) Các nội tạng thiết yếu của họ, bao gồm thận, gan, giác mạc và tim, bị cưỡng đoạt lấy đi để bán với giá cao, đôi lúc là cho người nước ngoài, những người thường xuyên phải chờ đợi lâu dài để có được sự hiến tặng tình nguyện các nội tạng như thế ở đất nước họ”.

Bằng chứng về việc cướp đoạt/buôn bán nội tạng

Cho phép tôi đề cập chỉ một phần nhỏ trong các bằng chứng đã dẫn chúng tôi đến kết luận:

  • Nhiều điều tra viên đã gọi nhiều cuộc điện thoại đến các bệnh viện, các trại giam và các cơ sở ở khắp Trung Quốc, tự nhận rằng mình là người nhà của các bệnh nhân cần cấy ghép tạng và hỏi rằng liệu họ có bán nội tạng của các học viên Pháp Luân Công hay không. Chúng tôi đã thu được các đoạn ghi âm và sao chép rồi dịch lại các lời thú nhận rằng nhiều cơ sở đang buôn bán nội tạng của các học viên Pháp Luân Công.
  • Các học viên Pháp Luân Công, những người thoát khỏi Trung Quốc sau đó đã chứng thực rằng họ bị kiểm tra máu và nội tạng một cách có hệ thống khi ở trong các trại trên khắp đất nước. Điều này chắc chắn không phải là vì sức khỏe của họ, bởi vì họ thường xuyên bị tra tấn, nhưng nó là cần thiết cho hoạt động cấy ghép nội tạng và việc xây dựng một ngân hàng “người hiến tạng” sống.
  • Trong một vài trường hợp, người nhà của các học viên Pháp Luân Công thấy được thân thể bị cắt xén của người thân của họ giữa lúc chết và hỏa táng. Các nội tạng đã bị lấy mất.
  • Chúng tôi đã phóng vấn người vợ cũ của một bác sĩ phẫu thuật từ Tô Gia Đồn ở thành phố Thẩm Dương, tỉnh Liêu Ninh. Anh ta [vị bác sỹ] kể với cô ấy rằng mình đã lấy giác mạc của 2,000 tù nhân Pháp Luân Công từ năm 2001 đến 2003. Anh ta nói rõ với cô ta rằng không ai trong số những người cung cấp tạng còn sống sót sau cuộc phẫu thuật do nhiều bác sĩ khác nhau đã lấy các nội tạng khác và thân thể của họ bị hỏa thiêu sau đó.

Sự đáp lại từ quốc tế

Nghị viện Châu Âu

Năm 2006, nghị viện Châu Âu tổ chức một phiên điều trần và thông qua một đạo luật lên án việc giam giữ/tra tấn các học viên Pháp Luân Công và bày tỏ quan ngại đối với các báo cáo về hoạt động thu hoạch nội tạng. Tại một phiên điều trần gần đây, ông Tunne Kelam của Hội Đồng Ngoại Giao lưu ý, “nếu chúng ta không nhận thức nghiêm túc về tội ác này thì chúng ta đã trở thành đồng phạm về mặt chính trị và về mặt đạo đức đối với những gì đang diễn ra”.

Mỹ

Kể từ năm 2011, đơn đăng ký visa không-nhập-cư trực tuyến của Mỹ (Mẫu DS-160) hỏi các ứng viên rằng họ có dính líu đến việc lạm dụng cấy ghép tạng không.

Vào tháng 7 năm 2013, nữ nghị sĩ Ileana Ros-Lehtinen (R-Fla.) và người đại diện Robert Andrews (D-N.J) đã trình ra Dự Luật 281 trong Ủy Ban Ngoại Giao, yêu cầu Trung Quốc dừng ngay việc buôn bán nội tạng từ các tù nhân của mình. Luật này nói thêm rằng, “các báo cáo liên tục và tin cậy về nạn thu hoạch nội tạng có hệ thống, được nhà nước phê chuẩn từ các tù nhân lương tâm không tình nguyện” là cơ sở cho sự quan ngại và sau đó cung cấp một bản tổng kết các bằng chứng vốn nối kết hầu hết hoạt động buôn bán nội tạng với một chiến dịch có ý đồ duy nhất là đàn áp và “xóa sổ” môn tu luyện Pháp Luân Công.

Israel

Knesset Israel đã thông qua một pháp chế đáng khâm phục nhằm cấm việc buôn bán và môi giới nội tạng. Luật này còn chấm dứt việc tài trợ qua hệ thống bảo hiểm y tế cho người Israel đi cấy ghép tạng ở Trung Quốc. Trong cuốn sách State Organs [Nội Tạng Quốc Gia], bác sĩ cấy ghép tạng Jay Lavee giải thích rằng điều luật của các bạn là một hành động đáp lại tình trạng lạm dụng cấy ghép tạng ở Trung Quốc. Israel hiện đang dẫn đầu chiến dịch chấm dứt nạn buôn bán nội tạng toàn cầu.

Ai-len

Ở Ai-len vào tháng Bảy vừa qua, Ủy Ban Đại Biểu Ngoại Giao và Thương Mại đã tiến hành một phiên điều trần và nhất trí thông qua một bản kiến nghị kêu gọi chính phủ Ai-len ủng hộ hành động của Liên Hiệp Quốc và Hội Đồng Châu Âu nhằm chấm dứt nạn thu hoạch nội tạng cưỡng bức ở Trung Quốc.

Úc

Tại nghị viện bang New South Wales, một pháp chế chống lại nạn buôn bán nội tạng được thông qua vào năm 2013, qua đó sẽ đưa ra tòa bất kỳ cư dân nào của bang mua một nội tạng bị buôn lậu ở bất cứ đâu. Vào tháng Ba năm ngoái, Thượng viện Úc đã thông qua một bản kháng nghị thúc giục chính phủ chống lại nạn buôn bán nội tạng ở Trung Quốc. Bản khiến nghị còn kêu gọi chính phủ làm theo ví dụ của nước Mỹ trong việc thi hành một yêu cầu visa mới.

Liên Hiệp Vương Quốc Anh

Dữ liệu máu và cấy ghép NHS mà tôi được kể, khẳng định rằng một số công dân Anh vẫn đến Trung Quốc để cấy ghép tạng và sau đó nhận được sự chăm sóc từ NHS. Đối với người Anh và những người ngoại quốc đến Trung Quốc để du lịch cấy tạng thì hy vọng rằng họ không hiểu được nỗi kinh hoàng được gây ra trên “người hiến tạng”.

Các tổ chức phi chính phủ

Nhiều tổ chức y khoa đã đưa ra các bản tuyên bố thúc giục các biện pháp nhằm chấm dứt nạn cướp đoạt nội tạng. Ví dụ, vào năm 2006 Hiệp Hội Y Khoa Thế Giới (WMA) yêu cầu Trung Quốc chấm dứt việc dùng tù nhân làm người hiến tạng. Gần đây chính sách của WMA bao gồm một đoạn văn nói rằng việc hiến tạng từ các tù nhân là không thể chấp nhận được ở các quốc gia nơi mà án tử hình được thực thi.

Tôi nên đưa lời tán dương đối với bác sĩ Jay Lavee và tổ chức Các Bác Sĩ Chống Thu Hoạch Nội Tạng Cưỡng Bức (DAFOH), những người có tiếng nói ở một số quốc gia.

Quan sát

Matas và tôi đang tham gia vào việc phỏng vấn trên phạm vi rộng những người tiếp nhận nội tạng và người nhà của họ. Những cuộc phẫu thuật hầu như được tiến hành trong bí mật. Người tiếp nhận và các mạng lưới hỗ trợ không được cho biết về danh tính của những người hiến tạng; cũng như họ không được cho thấy các văn bản đồng ý từ người hiến tạng. Danh tính của các bác sĩ phẫu thuật và nhân viên hỗ trợ thường không được tiết lộ, bất chấp sự đòi hỏi về thông tin.

Một người tiếp nhận tạng kể với chúng tôi rằng một bác sĩ quân đội, thiếu tá Tan, ở Thượng Hải đã kiểm tra sự tương thích của bảy quả thận trước khi tìm thấy được một quả thích hợp. Người bác sĩ sẽ rời khỏi bệnh viện trong bộ quân phục và sau đó trở lại với hộp đựng các quả thận.

Những lời giới thiệu

Liên minh quốc tế về chấm dứt việc mổ cắp tạng sẽ không ngừng làm việc, chừng nào hoạt động thương mại vô nhân đạo này ở Trung Quốc kết thúc hoàn toàn. Cho đến khi việc bị mất mặt công khai, thường đạt được thông qua nỗ lực ‘nêu tên và làm xấu hổ’ chính quyền độc đảng, chứng tỏ được sự hiệu quả, thì các quốc gia khác và những nhà lập pháp của họ có trách nhiệm chấm dứt sự đồng lõa với hoạt động ngược đãi vô đạo đức này bởi chính các công dân của mình.

Các chính phủ khác nên noi gương Israel bằng cách ban hành các biện pháp để kết án việc buôn bán nội tạng tại nước nhà hoặc ở ngoại quốc. Họ cũng có thể yêu cầu tường trình về ‘du lịch ghép tạng’, cấm nhập cảnh những kẻ dính líu đến việc buôn bán nội tạng, và ngăn cấm các công ty dược làm các xét nghiệm ở lĩnh vực cấy ghép tạng và thử nghiệm y khoa ở Trung Quốc.

Các thương nhân có trách nhiệm nên giảm việc giao thương và đầu tư vào Trung Quốc cho đến khi chính phủ của họ chấm dứt việc buôn bán nội tạng. Khi Bắc Kinh còn chỉ đạo tất cả các đại sứ quán của mình truyền bá sự thù hận và các thông tin giả mạo chống lại Pháp Luân Công thì làm sao có người có thể tiếp tục kinh doanh như bình thường? Khi làm như thế, họ đang tài trợ và nuôi dưỡng một chính quyền độc đảng vốn cướp đoạt nội tạng của các công dân của mình cho mục đích thương mại.

Việc đứng lên vì phẩm giá con người ở đây trong tất cả mọi trường hợp sẽ không gây tổn hại đến thương mại và các giao thương khác của một quốc gia với Trung Quốc. Hãy xét ví dụ của Na Uy, cộng hòa Séc và Canada. Khi Lưu Hiểu Ba được trao giải Nobel Hòa Bình vào năm 2010, chính phủ Na Uy đã nhận phải sức ép đáng kể từ đại sứ quán Trung Quốc ở Oslo, nhưng giải thưởng vẫn được trao và không có gì xảy ra mà ảnh hưởng đến nền kinh tế của Na Uy.

Những lời đe dọa tương tự được gửi đến cựu tổng thống Vaclev Havel khi ông mời Đạt Lai Lạt Ma đến Prague, nhưng vị giáo chủ đã đến và không có điều gì nguy hại cả. Thủ Tướng Harper nhận được nhiều lời đe dọa từ Bắc Kinh khi ông nói rằng mình sẽ không để “đồng đô la vạn năng” quyết định chính sách đối ngoại với Trung Quốc của chính phủ mình. Công ty Bombardier thông báo thương vụ lớn nhất từng có ở Trung Quốc vào cùng thời điểm mà các lời đe dọa đến từ chính quyền một đảng của Trung Quốc. Tôi nghĩ rằng một số nhân vật chủ chốt của đảng kính trọng các nhà lãnh đạo ở các quốc gia dân chủ dám đứng lên vì phẩm giá con người.

Nhiều người trong chúng ta và ở ngoài Trung Quốc nên có một ảnh hưởng lớn hơn trong vụ việc quan trọng này, không những vì nó là cần thiết để bảo vệ hàng nghìn con người khỏi bị giết hại, mà còn vì nó là tốt cho Trung Quốc và cộng đồng quốc tế trên tổng thể. Chúng ta đều muốn một đất nước Trung Quốc tận hưởng sự cai trị bằng luật pháp, phẩm giá cho mọi người và nền cai trị dân chủ.

Cảm ơn.

David Kilgour, JD

Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

Phillipines Phản Đối Trung Quốc Sử Dụng Vòi Rồng Tấn Công Ngư Dân

Phillipines Phản Đối Trung Quốc Sử Dụng Vòi Rồng Tấn Công Ngư Dân

 Associated Press       February 27, 2014      Thế Giới     No Comment
Tổng tham mưu trưởng Quân đội Philippines, tướng Emmanuel Bautista trong một cuộc phỏng vấn ở ngoại ô thành phố Quezon, phía bắc Manila, Philippines vào ngày Thứ 5 Tháng hai 20. Bautista cho biết tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh ở Biển Đông là "vô nghĩa". (AP Photo / Aaron Favila)Tổng tham mưu trưởng Quân đội Philippines, tướng Emmanuel Bautista trong một cuộc phỏng vấn ở ngoại ô thành phố Quezon, phía bắc Manila, Philippines vào ngày Thứ Năm, ngày 20 Tháng hai 20. Bautista cho biết tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh ở Biển Đông là “vô nghĩa”. (AP Photo / Aaron Favila)

MANILA , Philippines – Chính phủ Philippines đã triệu tập phái viên hàng đầu của Trung Quốc ở Manila hôm thứ Ba để phản đối việc Tàu chính quy của Trung Quốc đã sử dụng vòi rồng để xua đuổi những ngư dân Phillipine ra khỏi khu vực bãi cạn đang tranh chấp gay gắt ở Biển Đông.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao, Raul Hernandez cho biết, hoạt động phản đối đã gửi thông điệp đến một nhà ngoại giao Bắc Kinh liên quan đến sự cố ngày 27 tháng 1 tại bãi cạn Scarborough, một ngư trường trù phú được Trung Quốc và Philippines tuyên bố chủ quyền. Trung Quốc làm ngơ trước phản ứng này và khẳng định chủ quyền của họ đối với vùng biển này là “không thể chối cãi”

Trung Quốc đã kiểm soát bãi cạn vì tàu Philippines đã rút lui khỏi trong một cuộc tranh chấp căng thẳng đang bế tắc vào năm 2012. Tàu bảo vệ và giám sát bờ biển Trung Quốc sẽ ra sức bảo vệ lãnh thổ và xua đuổi ngư dân Philippines nếu họ mạo hiểm xâm phạm. Vào năm ngoái, Philippines yêu cầu tòa án quốc tế tuyên bố sự chiếm giữ của Trung Quốc đối với bãi cạn và bảy rạn san hô biển Đông khác là bất hợp pháp.

Một lái buôn cá Philippines tên Macario Forones cho biết: nhân viên bảo vệ bờ biển Trung Quốc sử dụng nước thải dầu thô trong khi thổi còi tàu và la hét vào các ngư dân “Cút đi, Cút đi”. Một hoặc hai tàu đánh cá Philippines khác bị xịt nước thải, ông nói.

Forones cho biết qua điện thoại từ phía tây tỉnh Zambales: “Nước có mùi dầu làm bẩn hết một bên chiếc thuyền đánh cá của tôi, nhưng ngư dân của nhóm tôi đã không thực sự rời khỏi khu vực. Chúng tôi đã phải mất rất nhiều tiền để làm chuyến hành trình đến đó và về cơ bản thì họ đã phớt lờ người Trung Quốc”

Các tàu bảo vệ bờ biển của Trung Quốc với mũi tàu số 3063 sử dụng vòi rồng của nó trong vài phút và phát thanh từ các loa để xua đuổi 2 trong số 14 tàu đánh cá Philippines, Hernandez nói trong một cuộc họp báo .

“Đây là một sự phản đối kịch liệt chống lại Trung Quốc vì các hành động gây hấn lần này”, Hernandez phát biểu trong hoạt động ngoại giao, thêm vào đó ông nói tuyên bố chủ quyền lãnh thổ rộng lớn của Trung Quốc ở Biển Đông là “quá đáng, lấn lướt, và bất hợp pháp. “

“Những hành động này, sự cố này chắc chắn sẽ làm cho tình hình căng thẳng trong khu vực leo thang và điều này đe dọa hơn nữa hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực”, ông nói.

Trung Quốc lặp đi lặp lại rằng họ “có chủ quyền không thể tranh cãi về các vùng đảo tại Biển Đông và các vùng biển liền kề, trong đó có Đảo Hoàng Nham,” họ sử dụng tên Trung Quốc cho bãi cạn Scarborough. Đồng thời họ không phủ nhận cũng không thừa nhận trước cáo buộc tấn công bằng vòi rồng, nhưng lại nói rằng các tàu tuần tra chính quy của Trung Quốc đã và đang tuần tra thường xuyên tại khu vực Scarborough.

“Phía Trung Quốc không chấp nhận cái gọi là ‘phản đối’ của phía Philippines”, người phát ngôn của Đại sứ quán Trung Quốc Zhang Hua cho biết trong một tuyên bố.

Tổng thống Benigno Aquino III cho biết chính phủ của ông sẽ yêu cầu Bắc Kinh trả lời cho câu hỏi liệu đây là một sự việc có tính chất riêng lẻ hay là một cách thức mới của Trung Quốc nhằm khiêu khích các quốc gia đối thủ trong vùng biển đảo tranh chấp.

Tổng tham mưu trưởng quân đội, tướng Emmanuel Bautista nói với các phóng viên hôm thứ Hai rằng lực lượng Philippines tuân theo một chính sách không đối đầu trong khu vực tranh chấp nhưng sẽ bảo vệ đất nước và người dân Phillipines nếu họ đang bị đe dọa.

Quân đội Philippines cho biết họ sẽ không trả đũa.

“Mặc dù đây là một hành động gây hấn, nó không đáng để đáp lại bằng một phản ứng quân sự, ” phát ngôn viên quân đội, Trung tá Ramon Zagala nói. “Chúng tôi khuyến khích ngư dân của chúng tôi tiếp tục cuộc sống bình thường của họ. Chúng tôi không thể để cho một kẻ gây hấn  ngăn chặn cách mà chúng tôi vẫn sinh sống, đặc biệt là một cuộc sống mưu sinh.”

Trung Quốc, Philippines và bốn quốc gia khác đã vướng vào cuộc tranh chấp quyền sở hữu vùng lãnh thổ trên Biển Đông giàu tài nguyên trong nhiều năm. Nhiều người lo ngại các tranh chấp có thể đưa đến một cuộc xung đột vũ trang dữ dội.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

PGHH Trường-Cữu

PGHH Trường-Cữu

Ðức Huỳnh Giáo Chủ
Vương Kim

 

Ðức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,

 

Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.

 

Giáo truyền đạo Thích dìu sanh chúng,

 

Chủ ý chọn người vẹn Tứ ân.

 

 

(Hình Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)

 

Phần I:

HÀNH TRẠNG

 

 

Thiên thứ nhứt

 

Giai đoạn ra đời mở đạo

 

 

Chương VI

 

Lưu Cư

Ðộng Cơ.

Gần ngót một năm ra cứu đời, dùng huyền diệu của Tiên gia độ bịnh, ra thi thơ Sấm Giảng thức tỉnh người đời, nhứt là những người có căn tu hành theo Ðức Phật Thầy Tây an, đã nhận chân Ðức Huỳnh Giáo Chủ là một vị siêu phàm giáng trần có sứ mạng cứu dân độ thế, nên qui ngưỡng một ngày một đông, gây thành một phong trào khá lan rộng, khiến nhà cầm quyền để ý đến, bèn cho mật thám theo dò la, nhưng chưa vội can thiệp.

a) Ðộng cơ thứ nhứt. Có nhiều sự việc đáng làm cho chúng e ngại, lo ngại nhứt là số tín đồ mỗi lúc mỗi tăng một cách kinh khủng.

Và điểm đáng lo ngại khiến nhà cầm quyền Pháp đi đến quyết định an trí hay lưu cư Ngài là những điểm sau đây:

Trong Sấm Giảng có những câu bộc lộ huyền cơ làm cho chúng nghi là Ngài có mưu định Cần Vương hay chủ trương phục hồi đế nghiệp.

để đáp ứng sự đòi hỏi của tín đồ quá đông đảo, Sấm Giảng phải in thành sách, chớ không thể chép tay hay đánh máy như lúc ban sơ. Nhưng muốn in, nhà in đòi phải có giấy phép của sở kiểm duyệt. Như có lần anh em đem kiểm duyệt, nhà cầm quyền giữ lại một thời gian, vì có những câu chúng không chấp thuận. Nếu bằng lòng sửa chữa lại, chúng mới cho phép in. Những điểm chúng kiệm duyệt là những câu nói về Thánh Chúa.

Chẳng hạn như câu:

Chẳng qua là Nam Việt vô vương,

Nên tai ách xảy ra thảm thiết.

Sau phải sửa lại:

Chẳng qua là Nam Việt vô duơn,

Nên tai ách xảy ra thảm thiết.

Hay những câu nói về thiên cơ:

Hết Tây rồi đến Huê Kỳ,

Sưu cao thuế nặng vậy thì thiết tha.

Sau phải sửa lại:

Hết đây rồi đến dị kỳ,

Sưu cao thuế nặng vậy thì thiết tha.

Hay là câu:

để gặp Chúa ngồi mà than khóc,

Gỡ làm sao hết rối mà về.

Sau phải sửa lại:

để gặp Phật ngồi mà than khốc,

Gỡ làm sao hết rối mà về.

Cũng như trong bài Ngũ nguyện, về câu nguyện thứ nhứt:

“Nam mô nhứt nguyện cầu: Thiên hoàng, địa hoàng, Nhơn hoàng Long Hoa hải hội, Thượng Phật từ bi, Minh Vương trị chúng, thế giới bình an”.

Sau phải sửa lại:

“Nam mô nhứt nguyện cầu: Thiên hoàng, địa hoàng, Nhơn hoàng Long Hoa hải hội, Thượng Phật từ bi, Phật Vương độ chúng thế giới bình an”.

Ngoài ra, chúng còn cho lính kín theo dõi và chép được những bài chưa in ra, nhưng được truyền tay, truyền khẩu nhau có tánh cách chống Pháp.

Chẳng hạn như bài Bánh mì:

Mì kia gốc phải nước mình không?

Nghe thấy rao mì thốt động lòng.

Chiếc bánh não nùng mùi khách lạ,

Bát cơm đau đớn máu ông cha.

Văn minh những võ trưng ba mặt,

Thắm thía tim gan ứa mấy dòng.

Nhớ lại bảy mươi năm trở ngược,

Say mì lắm kẻ bán non sông.

Bài nầy chưa mấy rõ nghĩa chống Pháp bằng bài:

“Cờ tam sắc”

Tam sắc cờ bay phất phơ mà!

Ngồi nhìn nhớ kỹ héo lòng ta.

Thuở xưa đâu có cờ tam sắc,

Gặp cảnh vong bang ứa ruột rà.

Về bài “Cờ tam sắt”, Ðức Thầy cảm thấy thế nào cũng bị bọn gia nô của Pháp bắt bí nên chi Ngài sửa lại để đánh lạc hướng đám “chó săn chim mồi”. Ngài sửa lại như vầy!

Tam sắc cờ bay phất phơ mà,

Ngồi nhìn khoăn khoái cõi lòng ta.

Thuở xưa đâu có cờ tam sắc,

Nay hiệp Tây đông thể ruột rà.

Quả thật, sau đó có tay sai của Pháp đến muốn nghe bài thơ ấy, nhưng cụt hứng khi nghe một tín đồ đọc lại bài thơ đã sửa chữa.

Mặc dầu sách in được kiểm duyệt, các bài truyền khẩu được lột bỏ những điểm chống Pháp, nhưng những khoản kiểm duyệt cũng như những bài truyền khẩu tó tánh cách chống Pháp được kết tập thành hồ sơ kể cả những cuộc đối đáp của Ðức Huỳnh Giáo Chủ với những người đến tiếp kiến, những ý kiến được xem là bài Pháp hay phục hồi đế nghiệp hoặc phục quốc cũng được chúng sưu tầm và mật báo tất cả. Chẳng hạn như câu Ngài đáp một người hỏi Ngài tại sao tu mà còn để tóc, không thế phát như các nhà sư thì Ngài đáp một cách khí khái: Vì tôi không muốn để người ta cạo đầu.

Danh từ “cạo đầu” được bọn gian nô diễn dịch là có ý bất phục đối với nhà cầm quyền bảo hộ.

Sở Liêm phóng cho sưu tập những tư tưởng “phản nghịch” ấy, lập thành hồ sơ, và sau khi nghiên cứu, chúng đi đến kết luận: Ðức Huỳnh Giáo Chủ là một người khá nguy hiểm và nền đạo của Ngài là một tổ chức “chống Pháp” trá hình tôn giáo rất nguyhại cho an ninh, chánh sách thực dân thống trị. Do đó mà chúng quyết định an trí Ngài.

b) Ðộng cơ thứ hai. Ngoài tài liệu thu thập trong Sấm Giảng có tánh cách chống Pháp, còn có việc ông đạo Tưởng nổi loạn ở Tân Châu cũng là một động cơ khiến nhà cầm quyền Pháp quyết định lưu cư Ðức Huỳnh Giáo Chủ để ngừa hậu hoạn.

Như kỳ đăng sơn thứ tư, khi còn ở trên núi Tà Lơn, Ðức Thầy có nói với Biện đài lý do tại đâu phải về.

Lý do đó là vụ đạo Tưởng nổi loạn ở Tân Châu. Và khi về đến Cần Giọt tường thuật vụ đạo Tưởng giết người tế cờ rất rõ. Vụ ấy xảy ra như sau:

Ông đạo Tưởng tên thật là Lâm Văn Quốc, cũng gọi là đạo Quốc, có lập một am để tu tại xã Long Phú cách quận lỵ Tân Châu độ một cây số ngàn. Ông tự nhận là môn phái của Bửu Sơn Kỳ Hương gốc Thất Sơn và qui tụ một số tín đồ khá đông.

Một hôm, ông tự xưng là Minh hoàng và phong tước cho một số môn đệ, nào là chức Vương, Quốc sư, Nguyên soái, Tiên phong, đô đốc, chuẩn bị một cuộc khởi nghĩa phục quốc. ông huấn luyện võ nghệ, cho rèn gươm đao và khoe có phép làm súng bắn không nổ.

Thế rồi đêm mồng 8 rạng ngày mồng 9 tháng giêng năm Canh Thìn, ông phát động cuộc khởi nghĩa. Hành động đầu tiên là giết người để tế cờ. Con vật được ông chọn hy sinh là gia đình Hương tuần Hiếm bị nghi làm tay sai cho Pháp. Sau khi bốt trí châu đáo, bọn ông vây nhà và bắt vợ chồng Hương tuần Hiếm chặt đầu làm lễ tế cờ, gây thành một cuộc náo loạn kinh hoàng tại Tân Châu.

Nhà cầm quyền Pháp bèn cho lính đến đàn áp. đạo Tưởng và đồng bọn tin ở tà thuật làm cho súng bắn không nổ nên hiên ngang đem gươm giáo ra chống cự. Rốt cuộc súng vẫn nổ và bọn đạo Tưởng đều bị bắn hạ; kết quả năm bảy mạng bị giết và gần 30 người bị bắt.

Thế là màn xưng bá đồ vương của đạo Tưởng chấm dứt. Cuộc rối loạn do một nhóm người tự nhận là tu hành, là môn phái Bửu Sơn Kỳ Hương gây ra làm cho nhà cầm quyền Pháp có thái độ cứng rắn đối với Ðức Huỳnh Giáo Chủ.

để tránh hậu hoạn, một cuộc nổi dậy của tôn giáo, tương tự như vụ đạo Tưởng, nhứt là đã có tài liệu chứng thật Ðức Huỳnh Giáo Chủ có tinh thần chống Pháp và đạo của Ngài thu hút tín đồ không thể tưởng tượng, có thể nguy hại cho chế độ thực dân thống trị, nên chi bọn thực dân quyết định dời Ngài ra khỏi tỉnh Châu đốc và an trí ở một nơi khác.

a) Ði Châu đốc. Quyết định nầy được mật báo cho quận trưởng Tân Châu lúc bấy giờ là ông Nguyễn Văn Lễ. ông nầy có bà vợ là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo. Sau khi được chồng cho biết ý định của người Pháp bà Lễ liền chiều ngày mồng 10 tháng 4 Canh Thìn đi xe ngựa xuống Chợ Vàm cho ông Huỳnh Hữu Phỉ hay có hung tin ấy.

ông Phỉ cấp tốc đi xe đạp xuống Hòa Hảo cho Ðức Thầy hay để có lo toan cách ứng phó. Ngài rất thản nhiên, trong lúc anh em tín đồ đều lo âu, sợ cho Ngài phải bị tai họa đến lụy thân khổ xác.

Ngài tươi tỉnh nói đế trấn an mọi người: không có gì mà phải sợ. Không ai làm hại được Thầy đâu. Anh em cứ an tâm. Mặc dầu Ngài nói vậy, chớ toàn thể tín đồ đều lo ngại.

Qua ngày sau tức ngày 12 tháng 4 năm Canh Thìn vào lúc 7 giờ, nhà cầm quyền Pháp đến Hòa Hảo chở Ngày đi Châu đốc, vội vã đến đỗi không kịp cho Ngài thay đồ hay mang hành trang theo. Lúc bấy giờ Ngài mặc áo không túi nên cái giấy thuế thân, Ngài đành lấy giấy gói lại rồi cầm trong tay.

(hình của Ðức Thầy chụp tại nhà ông Ký Giỏi)

Khi đến Châu đốc, vài giờ sau, vâng theo lịnh của cấp trên, nhà cầm quyền địa phương cho chở Ngài rời khỏi tỉnh, thay vì đưa xuống tỉnh Long Xuyên, chúng lại đưa thẳng xuống tỉnh Sa đéc, cách tỉnh Châu đốc một tỉnh, ý chừng họ muốn đoạn hẳn liên lạc với quê nhà tưởng nơi xa lạ khó truyền giáo và thu hút tín đồ hơn.

đứng trước sự đời Ngài đi đột ngột như thế anh em tín đồ đều ngơ ngác, đến rơi lệ, chỉ nhìn theo chớ không làm sao hơn được, trước sự rào đón, ngăn chặn hăm he của chánh quyền.

b) Ðến Sa đéc. Ðến Sa đéc, Ngài được đưa lại sở mật thám, lúc bấy giờ do ông cò Bazin điều khiển. Gặp lúc ông này đi vắng, bà vợ người Việt có tâm mộ đạo, đối xử rất tử tế. Ðến khi viên cò Pháp về, bèn hỏi có phải Ngài là tác giả mấy quyển Sấm Giảng không?

Ngài nhận chính tay Ngài viết. Viên cò không tin với sức học của Ngài có thể sáng tác nổi, nên chi muốn thử Ngài:

– Nếu thật ông viết thì ông thử viết cho tôi coi.

Ngài không ngần ngại đem giấy mực ra viết bài: “Sa đéc” trước mặt viên cò Bazin, rồi đọc cho ông cò nghe.

Trong bài nầy Ngài tỏ bày nỗi lòng bi cảm đối với anh em tín đồ trong những dòng thống thiết như sau:

Muốn lập đạo có câu thành bại,

Sự truân chiên của khách thiền môn.

Khắp sáu châu nức tiếng người đồn,

Ta chịu khổ, khổ cho bá tánh.

Tiếng gọi đời sông mê hãy lánh,

Chạm lợi quyền giàu có cạnh tranh.

Bước chông gai đường đủ sỏi sành,

Đành tách gót lìa quê hương dã.

Ta cũng chẳng lầy chi buồn bả,

Bởi sự thường của bực siêu nhơn.

Dầu gian lao dạ sắt chẳng sờn,

Miễn sanh chúng thông đường giải thoát.

Cơn dông tố mịt mù bụi cát,

Chẳng nao lòng của đấng từ bi:

Vì Thiên đình chưa mở hội thi,

Nên Lão phải phiêu lưu độ chúng.

Kẻ ác đức cho rằng nói túng,

Nó đâu ngờ lòng Lão yêu đương.

Xe rồ xăng vụt chạy bải bươn,

đến khuất dạng tình thương náo nức.

Khắp bá tánh chớ nên bực tức,

Bởi nạn tai vừa mới vấn vương.

Chốn Liên đài bát ngát mùi hương,

Nhờ chỗ ấy mới thi công đức.

đọc xong, viên cò Pháp phải nhận Ngài là một thiên tài xuất chúng và cho về ngụ nhà ông phán đặng.

Tưởng đến Sa đéc, Ngài sẽ dừng chơn ở yên để tiếp tục cuộc hóa độ, đáp lại lòng mong cầu của mọi người, chớ có dè đâu nhà cầm quyền ở đây thấy ảnh hưởng của Ngài quá lớn, thu hút người khắp nơi tấp nập kéo đến, nên quyết định cấm Ngài truyền đạo. Thế là Ngài phải lên đường đi tỉnh khác, tùy Ngài chọn lựa.

Hay tin, anh em tín đồ rất lo buồn, nhưng theo Ngài thì đó là một dịp cho Ngài phổ thông rộng rãi mối đạo.

Ta cũng thương, thương trò lịu địu,

Chớ cũng mừng được dịp phổ thông.

Mà cũng là cơ thử thách của tạo hóa để xem người hành đạo có vững chí làm theo lời Ngài chỉ dạy hay không?

Việc khó khăn lắm lúc khôi hài,

Ây cũng bởi thày lay ông Tạo.

Ông nhồi quả cho người hành đạo,

Lúc nguy nàn thối chí cùng chăng?

Nếu bền lòng vị quả cao thăng,

Chẳng chặt dạ bỏ tăng Phật Thánh.

c) Ðến Cần Thơ. được tin nhà cầm quyền Sa đéc ra lịnh trục xuất Ngài, ngày 17 tháng 4 Canh Thìn anh em tín đồ đem xe đến đưa Ngài xuống Cần Thơ, rồi cô Hai Gương thỉnh Ngài về ở nhà Hương Bộ Võ Mậu Thạnh là cậu của cô ở làng Nhơn Nghĩa, rạch Sua đủa, cũng gọi Kinh Xà No.

đến đây Ngài được ở yên nên khởi lại việc cho thuốc, cho thi bài, tiếp tục cuộc hoằng hóa như hồi còn ở Hòa Hảo. Nhân việc phát phù trị bịnh, Ngài có làm một bài thơ về giấy vàng có hàm ý tiên tri sự biến đổi thời cuộc.

Giấy vàng nay đã giá cao tăng,

Bìa trắng lại ch?? vội bỏ lăn.

Thương thảm chúng quăng nằm kẹt hóc,

Chủ nhà quét tước lượm lăng xăng.

Trong thời gian lưu cư tại Nhơn Nghĩa, Ngài sáng tác và thi họa cũng nhiều. Số tín đồ thâu nhận cũng khá đông, như Ngài đã viết:

Nhân dân bá tánh cũng con lành,

Thầy dạy cho đều khắp chúng sanh.

May mắn vận thời đưa đến chốn,

Tiền khiên dẹp gát kiếm con lành.

d) Vào bịnh viện Chợ Quán. Nhận thấy ảnh hưởng ở đây cũng vang dội và thu hút tín đồ một cách phi thường, nhà cầm quyền không muốn cho Ngài hoạt động nữa. Như đã biết, Ngài được tự do chọn lấy chỗ lưu cư do đó Ngài đưa đơn xin đi Bạc Liêu.

Thế là ngày 29 tháng 6 năm Canh Thìn, Ngài từ giã Nhơn Nghĩa, nhưng khi ra đến Cần Thơ, nhà cầm quyền giữ ngài lại và đưa vào bịnh viện để khám nghiệm ba bốn hôm, đến ngày mồng 4 tháng 7 Canh Thìn thì đưa Ngài lên Sài Gòn, vào nằm bịnh viện Chợ Quán lấy cớ khám nghiệm coi Ngài có mắc bịnh thần kinh không?

Khi vào đây, ban sơ chưa ai biết Ngài. Ngay như viên lương y cai quản bịnh viện là ông Trần Văn Tâm cũng nhộ nhận nên mới nói bỡn khi gặp Ngài: Ở ngoài xé hết bao nhiêu giấy thuế thân của người ta rồi?

Nhưng khi thấy cử chỉ của Ngài đoan trang và số tín đồ đến thăm quá đông mới nghi Ngài là ông đạo.

Ông bèn đem những điều đọc trong một quyển sách Pháp về đạo Phật mà ông còn thắc mắc đến chất vấn thì được Ngài giải đáp một cách tinh thông, khiến ông phải ngạc nhiên đến khâm phục. Càng kính phục hơn nữa là khi Ngài cho thấy điều huyền diệu, như một hôm ông vào phòng Ngài thì thấy một cụ già đầu râu bạc phếu nằm trên giường. Ông tưởng đi lộn phòng, bèn trở ra để tìm phòng, nhưng khi định tỉnh xem lại số phòng quả quyết chính là phòng của Ngài, nên quày trở vào thì lạ thay, thay vì ông lão khi nãy lại là Ðức Huỳnh Giáo Chủ. Chừng đó ông mới hoàn toàn tin phục, xin thọ giáo qui y. Nhờ vậy Ngài tiếp tục công việc hoằng hóa dễ dàng. Mỗi ngày người đến xin thuốc, cũng như hàng thức giả đến hỏi đạo và qui ngưỡng càng lúc càng đông.

Trong lúc ở bịnh viện, có một việc đáng nêu ra là trường hợp của anh gác cửa. Anh nầy lúc đầu tỏ ra khó khăn đối với anh em tín đồ đến thăm. Anh có một người mẹ đau mắt, chữa nhiều thầy mà không khỏi, khi nghe Ngài chữa bịnh kỳ diệu thì đưa mẹ đến. Ngài chỉ cho một chai nước lã về nhỏ, thế mà khỏi bịnh. Anh đem lòng khâm phục, gọi Ngài là Phật sống. Từ đó trở đi, anh đối xử rất cảm tình với anh em tín đồ không bị làm khó khăn như trước.

Trong thời gian ở Chợ Quán, Ngài viết nhiều bài vở, nhưng đáng kể là quyển “Những điều sơ lược cần biết của kẻ tu hiền” và quyển “Khuyến Thiện” chỉ rõ tận tường pháp môn Tịnh độ.

Hơn một năm cầm giữ Ngài để thí nghiệm, có thể do sự báo cáo của Bác Sĩ Tâm, nhà chức trách thấy Ngài không có gì tỏ ra mắc bịnh thần kinh, nên xét theo lời xin trước kia khi Ngài ở Xà No, bèn chấp thuận cho Ngài lưu cư về Bạc Liêu.

Và cũng có thể nhận thấy tại Chợ Quán, nơi phồn hoa đô hội có nhiều phần tử thức giả qui ngưỡng nên sợ ảnh hưởng của Ngài lan rộng cả vùng Sài Gòn Chợ Lớn, Gia định, vì vậy mà định dời Ngài đi chỗ khác. Xét lại Bạc Liêu là một tỉnh ở mút miền Nam nước Việt lại là tỉnh, phần đông dân cư thuộc thành phần lai Miên, lai Tàu, chuyên việc buôn bán, nếu đưa Ngài đến đó khó mà gây ảnh hưởng sâu rộng được.

Mặc dầu chấp nhận dời Ngài về Bạc Liêu nhưng nhà cầm quyền còn cố giữ lại trong một tuần lễ để giao cho sở mật thám dò xét. Họ đưa Ngài vào bót Ca-ti-na (Poste Catinat) ngày 11 tháng 5 Tân Tỵ (1941). Ðến ngày 19 nghĩa là sau 8 ngày giam giữ, Ngài mới lên đường đi Bạc Liêu.

đ) Ðến Bạc Liêu. Ngài định đến ngụ nhà ông Hội đồng điều như Ngài đã dự tính khi ở Nhơn Nghĩa, nhưng nhà cầm quyền không chấp thuận bảo Ngài chọn chỗ khác, cố ý làm khó dễ nhứt là làm ngược lại ý định của Ngài.

Trong số anh em tín đồ ở đây, có bà Cò Tàu Hảo đóng vai trọng yếu. Bà đến thương lượng với ông bà Võ Văn Giỏi, cựu thơ ký soái phủ Nam Kỳ thì được ông bà sẵn sàng nghinh tiếp. Ngài đến trình với Công an và được chấp thuận với điều kiện là không được: phát phù trị bịnh, thuyết pháp độ nhơn và mỗi tuần, vào ngày thứ hai phải đến trình diện Công an một lần.

Nhơn đó, Ngài có làm ba bài thơ tức cảnh như sau:

Việc chi mà phải đi trình báo,

Mỗi tháng bốn kỳ nhọc cẳng ông.

đợi máy huyền cơ xoay đến mức,

Tính xong cuộc thế lại non Bồng.

Thứ hai hứng sáng mưa tầm tã,

Lính đứng ngoài đường giục giả ông.

Kiếp khách trần gian vay lắm nợ,

để đền trọn nghĩa với non sông.

Người cười người nhạo bảo ông điên,

Ông chẳng giận ai cũng chẳng phiền.

Chỉ tiếc trần gian đùa quá vội,

Chưa tường điên tục hay điên Tiên.

Vì bị cấm đoán đến viếng thăm, anh em tín đồ không vào cửa được, đành đứng lóng nhóng bên ngoài rồi về, tạo thành tiếng đồn đến nhà cầm quyền. Hơn nữa theo sự dò xét của Công an cũng thấy đúng sự thật nên từ đớ sự canh phòng cũng lơi đi. Nhờ vậy Ngài tiếp xúc được nhiều nhân sĩ và hào phú đến vấn an và qui y, trong số ấy được biết; ông Cả Hốt (tức Dương Vĩnh Phước), ông bà Chung bá Khánh, ông bà Võ văn Giỏi… trở thành tín đồ thuần thành (1).

(1) Cũng trong thời gian nầy (năm 1942), tác giả ra mắt Ðức Thầy và được Ngài tiếp kiến từ 7 giờ sáng đến 12 giờ trưa, khi thấy dọn cơm mới bái tạ lui ra.

Trong thời gian ở Bạc Liêu, Ngài sáng tác rất nhiều bài vở, nhứt là lối tản văn, giải bày về giáo lý nhà Phật, như Thập Nhị Nhân Duyên, Tứ Diệu đề…

Cũng nên nói qua tình hình trong lúc nầy. Quân đội Nhựt đã vào đông Dương và lấn lần quyền hành của chánh phủ thuộc địa Pháp. Người Nhựt cho chiêu mộ người Việt vào quân đội. Có một số người Việt hưởng ứng, gia nhập vào hàng ngũ và được đưa về đông Kinh huấn luyện, khi thành tài trở lại hoạt động nơi nước nhà với ý định hợp tác với quân Nhựt gở ách nô lệ, lấy lại chủ quyền quốc gia.

Trong hàng ngũ những người ái quốc ra hợp tác với quân đội Nhựt, có tín đồ phật Giáo Hòa Hảo. Hẳn họ có bổn phận phải cứu Ðức Thầy ra khỏi sự kếm kẹp của người Pháp, nên vận động với nhà binh Nhựt ở Sài Gòn và được sự chấp thuận.

Vã lại, người Nhựt nhận thấy Phật Giáo Hòa Hảo có một khối tín đồ to tát ở miền Nam, có thể lợi dụng lòng yêu nước của họ trong công cuộc hạ Pháp, nếu thi ơn giải cứu được vị Giáo Chủ của họ. Như thế sẽ mua chuộc được cảm tình của khối quần chúng đông đảo nầy.

Mưu định giải cứu Ðức Thầy có thể nhà cầm quyền Pháp dò biết, nên chúng tính lưu cư Ngài qua Ai Lao. Nhưng chúng chẳng dè quân Nhựt lại ra tay trước.

Sở Hiến binh Nhựt bèn phái ông Kimura cùng đi với một vài tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo xuống Bạc Liêu rước Ngài về Sài Gòn trong đêm mồng 2 tháng 9 năm Nhâm Ngọ (11-10-1942).

Vì đi đêm lại không rành đường nên tài xế lái xe đi đường về Cà Mau, đến Tắc Vân thì xe hư máy. Ông Kimura phải mượn xe của Bang trưởng Triều Châu chạy trở lại Bạc Liêu rồi thẳng đường về Sài Gòn, vì vậy mà Pháp hay tin kịp.

e) Về Sài Gòn. Nhưng xe vừa đến ngã ba Trung Lương (Mỹ Tho) thì gặp xe công an chận lại. Vì thế xảy ra tai nạn đụng xe làm cho ông Lâm thơ Cưu theo hầu Ngài bị thương ở sóng mũi, còn Ngài thì chỉ bị thương xoàng. Công an Pháp cho điệu tất cả về Sài Gòn. Hay tin nầy nhà binh Nhựt can thiệp và phản kháng kịch liệt. Bọn Pháp giành bắt Ðức Thầy còn nhà binh Nhựt thì quyết giựt lại viện cớ Ðức Thầy có liên lạc với Trùng Khánh. Trước sự can thiệp quyết liệt của nhà binh Nhựt, bọn Pháp đành nhượng bộ. Thế là Ðức Thầy được giải cứu. Nhà binh Nhựt đưa Ngài về ở phòng Thương Mãi (Hội Nghị Diên Hồng) lúc bấy giờ là cơ sở của Hiến Binh Nhựt. Ngài lưu lại đây trong vòng hai tháng rồi dọn về số 148 đường Lefèvre, hiện nay là đường Nguyễn Công Trứ. Phía sau Thượng Nghị Viện.

Sau đó ít lâu dọn qua số 150 kế đó đến ngày Nhựt đảo chánh Pháp.

Từ khi quân Nhựt giải cứu Ðức Thầy và đem Ngài về ở tại phòng Thương Mãi, trong vòng bảo vệ của Hiến Binh Nhựt, thì quân Pháp khởi sự khủng bố tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo vì chúng cảm thấy số phận của chúng lâm nguy nếu để quân đội Nhựt lôi cuốn được sự hợp tác của khối tín đồ đông đảo nầy.

Nhiều nơi tín đồ bị bắt bớ, những người có uy tín ở Lục tỉnh phải tầm đường ẩn lánh lên Sài Gòn nhờ sự che chở của Ðức Thầy. Vì vậy mà Ngài phải dành cả căn phố cho anh em tá túc. Về thực phẩm thì anh em Lục tỉnh thường xuyên tiếp tế.

Có hôm, sau khi dùng cơm trưa, anh em năm nghỉ, Ðức Thầy bước qua thấy anh em nằm sấp lớp không khác gì tằm trong nòng thì nói rằng: Có khác gì tằm đâu, khi ăn dâu no rồi thì nằm nghỉ. Nhưng đây là thứ tằm không kéo kén.

Đây là những anh em hữu phước được Ðức Thầy chở che nên thoát khỏi sự khủng bố của quân Pháp.

Chỉ thảm thương cho một số anh em khác, vì không kịp thoát thân nên bị quân pháp bắt và đầy đi. Người lên Bà Rá, kẻ ra Côn đảo. Có một số lớn đã bỏ thây nơi rừng thiêng nước độc hay gởi xương ngoài Côn đảo. Trong bảng “Những Thánh Tử đạo” nên ghi nhớ những tên ông Cả Ðô, ông Cả Cừ, ông Dương Thiện Tứ tự Sừ.

Trong lúc tá túc tại căn nhà ở đường Lefèvre, có một số anh em tín đồ, vì chờ mãi thời cuộc mà không thấy biến chuyển nên đâm ra chán nản, hoặc than trách hoặc bỏ đi.

Cũng có những người tỏ ý không bằng lòng khi Ðức Thầy để cho người Nhựt bảo vệ. Như thế sợ e mang tiếng ỷ lại vào ngoại bang thì Ngài có làm hai câu đối sau đây để tỏ ý chí bất khuất của Ngài:

Trương Tiên tá Hớn phi thần Hớn,

Quan Thánh cư Tào bất đế Tào.

Mặc dầu chưa tung bay cất cánh, thỏa chí chim bằng, Ngài cũng bắt đầu tiếp xúc các nhà trí thức, nhứt là những nhóm ái quốc, thừa cơ hội uy thế của Pháp bị quân Phù Tang làm giảm hạ, đứng ra tập hợp hàng ngũ, tổ chức thành đoàn thể chánh trị, đương nhiên thân Nhựt. Trong số đó được biết nhóm ông Ngô đình Ðẩu, Trần văn Ân… trong Ủy Ban Trung Ương Việt Nam Phục Quốc Hội, nhóm Việt Nam Thanh Niên Ai Quốc đoàn của ông Ðinh Khắc Thiệt.

Ðối với đoàn Thanh Niên ái quốc, Ngài có phái ông Hồ Nhựt Tân đến tham gia các phiên họp để trợ trưởng tinh thần và tài chánh Ngài cũng có làm thơ tặng đoàn để khích lệ chí anh hùng, đề cao lòng yêu nước, trong những câu như sau:

Thanh niên nghĩa vụ phi thường,

Phận là phải biết yêu thương giống nòi.

Nay chẳng lẽ ngồi coi thắng bại,

Của cọp rồng trên dãy đất ta.

Một khi cọp đã lìa nhà,

Biết rồng có chịu buông tha chăng cùng?

Vậy anh em phải chung lưng lại,

Dùng sức mình đánh bại kẻ thù;

Tỏ ra khí phách trượng phu,

Vung long tuyền kiếm tận tru gian thần.

Xưa nước đã bao lần khuynh đảo,

được cứu nguy nhờ máu anh hùng;

Hy sinh báo quốc tận trung,

Đem bầu nhiệt huyến so cùng sắt gang.

Việt Nam là giống Hồng Bàng,

Muôn đời xa lánh tai nàn diệt vong.

Ngài không ngớt tiếp xúc và chuẩn bị hàng ngũ, vì Ngài tiên đoán cơ hội sẽ đến cho dân Việt Nam tranh đấu, giành lại chủ quyền đã mất trong tay Pháp ngót 80 năm nay. Ngày mà mọi người mong đợi ấy đã điểm. Ðó là ngày mồng 9 tháng 3 1945, ngày Nhựt đảo chánh Pháp, ngày Ðức Huỳnh Giáo Chủ chấm dứt giai đoạn ràng buộc bước sang giai đoạn công khai hoạt động đấu tranh.

MUC LUC | CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7| | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | | CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 |

CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|

[TV. PGHH]

About these ads

Occasionally, some of your visitors may see an advertisement here.

Tell me more | Dismiss this message

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.