Daily Archives: February 7, 2014

“MỪNG XUÂN”, CÓ “MỪNG ĐẢNG” HAY KHÔNG

“MỪNG XUÂN”, CÓ “MỪNG ĐẢNG” HAY KHÔNG

Lưu Hà Sĩ Tâm

Tiết xuân năm nay nhiều người thích, vì trời đất sáng sủa ấm áp, khiến cảnh xuân đẹp hơn cho thiên nhiên, người lớn đi lại chúc Tết và trẻ con đi chơi không bị trở ngại bởi mưa lạnh. Nhưng cũng có nhiều người muốn có thêm vài đợt mưa xuân nhỏ thôi, rét thêm chút thôi, để bên cạnh cảnh sắc thiên nhiên còn đậm đà thêm suy tư và tình người, làm đậm thơm hơn các món ăn ngày xuân truyền thống. Nông dân nhiều vùng nông thôn nghèo khó ở miền Bắc lặng lẽ mong tiết trời rét đậm, đơn giản là vì những năm rét đậm thì dễ được mùa. Những ai đã từng đón những cái Tết xa xứ, còn nhớ nguyên cảm giác đau đáu từng giờ, từng ngày, nhớ về gia đình, bạn bè vàquê hương xứ sở Việt Nam mình, rồi nhiều lúc tự để cho mình  chìm trong cảm giác cô đơn để rồi sau đó tìm đến nhau cùng chia sẻ vui buồn.

Nhờ Tết đến mà người Việt Nam lúc này có khoảng thời gian rất quý để quan tâm đến nhau, đến cộng đồng nhiều hơn.Điều đó làm dịu đi cái cảm giác rất buồn và cay đắng, kéo dài gần nửa thế kỷ qua, khi chúng ta chứng kiến sự vô cảm ngày càng gia tăng trong xã hội.

Có hiện tượng rất quen, nhưng ngày càng xa lạ với tình cảm của người dân. Ấy là từ trước Tết, trong khi dân chúng mải toan lo cho ngày Tết gia đình, thì khi ra đường bỗng thấy từ khi nào người ta trang trí đỏ lòe: bên cạnh các cờ Tổ quốc, người ta cắm san sát nối tiếp nhau một loại cờ mà không rõ nên gọi là loại cờ gì, những dãy dài các dải đỏ choét làm nền, bên trong không thấy sao, không thấy búa, không thấy liềm, không thấy khuôn mặt vị lãnh tụ nào của tổ chức tiền phong nào… Thì ra ai cũng nhận thấy, cảnh quan chúng ta được trang trí theo kiểu ngày càng giống kiểu trang hoàng của hai anh bạn Trung Quốc và Triều Tiên.

Người dân mấy chục năm qua được Đảng nâng cao “dân trí” rằng, màu đỏ tượng trưng cho cách mạng giải phóng người nghèo, màu đỏ tượng trưng cho máu đổ từ sự hy sinh gian khổ để giành chiến thắng. Vì thế mà màu đỏ là màu cờ Tổ quốc hiện nay, một nước đang xây dựng CNXH.

Nhưng đông đảo người dân ngày càng vô cảm với kiểu trang hoàng nơi công cộng theo kiểu này. Dùng kiểu cờ này, treo san sát như vậy, không những phản cảm mà tốn kém tiền của dân rất phi lý.

Màu đỏ của máu chỉ có ý nghĩa khi tiến hành cuộc đấu tranh theo hướng dùng bạo lực mà thôi.  Với mục tiêu xây dựng bất kỳ xã hội tốt đẹp kiểu nào, kể cả xã hội XHCN mà Đảng CSVN muốn xây dựng, mà thường trực “đấu tranh”, mà thường trực “bạo lực” trên cơ sở máu đổ, thì chỉ có thể đẩy đất nước đến lạc hậu, dân tộc ngày càng khổ đau.

Nhiều người nhận thấy, kiểu cờ đỏ không có ngôi sao vàng ở giữa được treo san sát để tạo cảm giác đó là cờ Đảng. Nếu cắm cờ Đảng thật như vậy thì sẽ bị phản đối kịch liệt của dân chúng. Đảng chỉ muốn tạo cảm giác đó là cờ Đảng, tạo cảm giác toàn dân hân hoan “Mừng Đảng” khi “Mừng xuân”. Sự trơ trẽn của Đảng đã chuyển thành câu chuyện hài của nhân dân.

Đã qua rất lâu rồi những năm tháng mà Đảng làm cho dân lầm tưởng, rằng xuân về với cái Tết no đủ, hạnh phúc là do Đảng mang lại. Trái lại, gần 40 năm qua, Đảng hiện nguyên hình là tổ chức tìm kiếm lợi quyền trên đầu trên cổ nhân dân, bất chấp lợi quyền của nhân dân.

Những ai là vồ vập với việc kỷ niệm ngày thành lập Đảng 3/2?Đó là những người được hưởng lợi từ Đảng, nên chấp nhận làm con rối cho Đảng. Họ kín đáo, lặng lẽ thực hiện những việc Đảng giao (đi cắm cờ, giăng biểu ngữ, phát phóng thanh, viết bài ca ngợi…) để lập công với Đảng. Các lãnh đạo các cơ sở Đảng (chi ủy viên, đảng ủy viên…) từ thấp đến cao thì lo tìm kiếm cơ hội nhắc đến hay tuyên truyền cho ngày này, để cơ sở Đảng của họ rồi sẽ được thành tích “trong sạch – vững mạnh”.

Nhưng dù họ làm những gì và nói những gì về ngày này, người dân không quan tâm. Hầu hết người dân không cần biết đến ngày sinh của Đảng là ngày 3/2. Những người dân biết về ngày này, không ai muốn nhắc đến nó. Hầu hết đảng viên trong Đảng cũng cảm thấy trơ trẽn khi nhắc đến ngày 3/2 trong câu chuyện đời thường, vì thế họ tránh nhắc đến.

“Mừng Đảng” ư, khi xuân Giáp Ngọ này là xuân đầu tiên mà cái gông Hiến Pháp 1992 được gia cố thành cái gông Hiến Pháp 2013, tiếp tục xiết trên đầu lên cổ nhân dân. Câu chuyện hài này rất đặc trưng ở Việt Nam ta. Vì thế, sự vô cảm của người dân mà chúng ta nói đến trên đây, trước hết là sự vô cảm đối với Đảng.

Một dân tộc vô cảm với lực lượng lãnh đạo mình là dân tộc đang bất hạnh. Và đó là dấu hiệu của một nguy cơ quá lớn đối thể chế đang không muốn thay đổi gì, chỉ vì lợi ích của kẻ cầm quyền.

Cho dù bĩ cực đến mấy, sức sống dân tộc Việt Nam vẫn rất tiềm ẩn, thể hiện đơn giản từ tình cảm mừng xuân mới về với thiên nhiên đang trở mình, và tình yêu thương nhau trỗi dậy.

Thái Bình, 5 Tết Giáp Ngọ

L.H.S.T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

 

Advertisements
Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ ĐỨC-HUỲNH GIÁO-CHỦ PGHH MUÔN-NĂM Posted on January 29, 2014 by huyentamhh Edit

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ ĐỨC-HUỲNH GIÁO-CHỦ

PGHH MUÔN-NĂM

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ ĐỨC-HUỲNH

GIÁO-CHỦ PGHH MUÔN-NĂM

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ
và Phật Giáo Thời Ðại
Lê Hiếu Liêm

 

 

Chương một: Dẫn nhập Việt Nam và Phật Giáo đầu thế kỷ hai mươi.

 

Đầu thế kỷ 20, tư tưởng Nho Giáo, thống trị độc tôn đất nước từ Thời Hồ Quý Ly, nhà Lê và nhà Nguyễn suốt 400 năm, hoàn toàn sụp đổ. Tư tưởng Phật Giáo, ngự trị vinh quang trong thời đại Lý Trần từ thế kỷ thứ 11 đến cuối thế kỷ 14, suy đồi tận gốc. Tư tưởng Tây Phương và tôn giáo của nó, Thiên Chúa Giáo La Mã, bị đại đa số trí thức và nhân dân coi như sản phẩm và công cụ của chế độ Thuộc Địa và thực dân Pháp nên vẫn không được chấp nhận. Ý thức hệ Cộng Sản cũng như các tư tưởng mới khác chưa ra đời. Cả một khoảng trống tư tưởng, cũng có nghĩa là một khoảng trống tôn giáo và chính trị, to lớn bao trùm trên một nước Việt Nam bị nô lệ, bóc lột, áp bức, lạc hậu và nghèo đói. Nhưng đây cũng là môi trường lý tưởng cho sự ra đời của những tư tưởng mới, những tôn giáo mới, những chính đảng mới và những phong trào mới: Phong trào Đông Du và Việt Nam Duy Tân Hội của Phan Bội Châu từ năm 1904, Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can và các nhà Nho tiến bộ năm 1907, tư tưởng dân quyền và dân chủ của Phan Chu Trinh suốt hai mươi năm (1905-1925), phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội cùng năm, Việt Nam Quang Phục Hội năm 1912, cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ và ở Huế năm 1916 của Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, vua Duy Tân…, phong trào Hội Kín ở miền Nam năm 1913-1916 lan rộng khắp Lục Tỉnh và cuộc tấn công Sài Gòn năm 1916. Các hoạt động này đã liên tục diễn ra từ đầu thế kỷ 20 đến cuối đệ nhất thế chiến.

Tuy nhiên mãi đến đầu thập njiên 20 Việt Nam mới thật sự thức dậy với sự ra đời Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng Chí Hội và Tân Việt Cách Mạng Đảng năm 1925, Đạo Cao Đài năm 1926, Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927, Cuộc khởi nghĩa Yên Bái và sự ra đời củaĐảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930 và phong trào Sô Viết Nghệ Tỉnh 1930-1931.

 

Trong thời gian sôi động này, từ 1925 trở đi, Phật Giáo cũng đã thức dậy. Từ năm 1923, thiền sư Khánh Hòa và thiền sư Thiện Chiếu đã thành lập, tại chùa Long Hòa ở Trà Vinh, Hội Lục Hòa Liên Hiệp với mục đích vận động thành lập một Hội Phật Giáo Việt Nam toàn quốc để chấn hưng Phật Giáo. Thiền sư Thiện Chiếu, khác hẳn tất cả tăng sĩ Phật Giáo đương thời, là một tăng sĩ có tân học. Ông đã đi ra Trung và Bắc vận động thống nhất Phật Giáo năm 1927 nhưng bất thành.

Năm 1928 thiền sư Khánh Hòa xây dựng Thích Học Đường và Phật Học Thư Xã tại Chùa Linh Sơn, Sài Gòn và năm 1929 Ông cho ấn hành tạp chí Viên Âm, tập san Phật Học đầu tiên bằng quốc ngữ tại Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Xoài Hột, Mỹ Tho. Cùng thời, thiền sư Thiện Chiếu xuất bản một tạp chí Phật Học nhắm vào giới thanh niên trí thức lấy tên là Phật Hòa Tân Thanh Niên, đặt tòa soạn tại chùa Chúc Thọ ở Gia Định.

 

Năm 1931 thiền sư Khánh Hòa cùng nhiều tăng sĩ và cư sĩ thành lập Hội Phật Học đầu tiên tại Việt Nam, lấy tên là Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học và thiền sư Từ Phong được mời làm Chánh Hội Trưởng. Hội ra tờ Từ Bi Âm năm 1932. Thiền sư Khánh Hòa, cùng người cộng sự thân tín là thiền sư Thiện Chiếu đã đóng vai trò tiền phong khai mở phong trào chấn hưng Phật Giáo và hiện đại hóa Phật Giáo, chuyển động sâu rộng lịch sử Phật Giáo và lịch sử Việt Nam trong suốt 65 năm qua.

Tại miền Trung, thiền sư Giác Tiên mở Phật Học Đường  tại chùa Trúc Lâm năm 1929 và ủy thác cho đệ tử là bác sĩ Lê Đình Thám thành lập Hội An Nam Phật Học năm 1932. Hội quy tụ đông đảo những danh tăng và cư sĩ trí thức tại miền Trung. Cư sĩ Lê Đình Thám được bầu làm Hội Trưởng và vua Bảo Đại được mời làm Hội Trưởng Danh Dự. Hội ra tạp chí Phật Học ViênÂm năm 1933. Năm 1934, thiền sư Giác Tiên, cư sĩ Lê Đình Thám… đã thành lập Trường An Nam Phật Học, trong đó có mở cấp Đại Học Phật Giáo. Đặc biệt hơn nữa là Hội đã phát động phong trào “Chỉnh Lý Tăng Già” rất quyết liệt để loại trừ ra khỏi tăng già những thành phần phạm giới, bất xứng. Chính nhờ những nổ lực cấp tiến này mà Phật Giáo miền Trung đã đóng được một vai trò quan trọng trong những thập niên sau đó.

Năm 1934 các thiền sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo cùng với giới cư sĩ trí thức tên tuổi tại Hà Nội như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Dương Bá Trạc, Trần Văn Giáp, Nguyễn Năng Quốc, Nguyễn Hữu Kha, Bùi Kỷ, Lê Dư… thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội, bầu cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm hội trưởng và suy tôn thiền sư Thanh Hanh làm Thiền Gia Pháp Chủ. Đặc biệt là trong buổi lễ suy tôn Pháp Chủ này, cư sĩ Trần Trọng Kim đã thuyết pháp về đề tài; “Thập Nhị Nhân Duyên”. Hội ra tạp chí Đuốc Tuệ năm 1935 và phát triển mạnh mẽ khắp miền Bắc (Nguyễn Lang, Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, q 3, t 51-173).

Đặc tính của cả ba Hội Phật Học tại ba miền là vai trò nổi bật của giới trí thức cư sĩ, là thuần túy Phật học và sinh hoạt Phật sự. Thời điểm 1925-1945 là thời điểm chuẩn bị trong kiên nhẫn và thầm lặng. Các hội Phật Học đã làm đúng chức năng và vai trò lịch của mình, một cách khiêm tốn, từ đống gạch vụn đổ nát của nền Phật học và Phật Giáo Việt nam trong thời Thực Dân Pháp thống trị.

Trong thời kỳ này xuất hiện những con người đặc biệt, xuất sắc và những tư tưởng mạnh mẽ, quyết liệt, trong Phật Giáo cũng như ngoài Phật Giáo. Từ đầu thập niên 30, tư tưởng Phật Hộc của Thích Thiện Chiếu đã là những quả bom chấn động. Và năm 1939 Huỳnh Phú Sổ xuất hiện làm một cuộc cách mạng tôn giáo, cải cách toàn bộ và triệt để Phật Giáo chưa từng có trong hai ngàn năm lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Miền Nam, một vùng đất lạ lùng và kỳ diệu…

 

An Hòa Tự

Phan Chu Trinh từ Pháp trở về Sài Gòn năm 1925, đất nước bùng lên những làn sóng tư tưởng dân quyền và dân chủ. Ông khẳng định phải tìm nguyên nhân mất nước trong sự mất đạo đức, mất luân lý, trong bài diễn thuyết Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây, và ông cũng khẳng định chế độ quân chủ chuyên chế là nguyên nhân chính làm mất nước trong bài thuyết giảng Quân Trị Chủ Nghĩa và Dân Trị Chủ Nghĩa tại Sài Gòn năm 1925. Ông mất năm sau đó và đám tang ông cùng với cuộc vận động ân xá nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã khơi bùng phong trào yêu nước và yêu tự do dân chủ trên toàn quốc, đặc biệt là trong giới thanh niên.

Nhưng dữ dội, bốc lửa và sấm sét trong tư tưởng yêu nước chống thực dân cũng như tư tưởng tự do dân chủ, trong thời này, chỉ có Nguyễn An Ninh là đi xa nhất, quyết liệt nhất. Là một thanh niên miền Nam, Ông đi du học ở Pháp và trở về nước với bằng cử nhân Luật. Lợi dụng quy chế thuộc địa của Nam Kỳ, nơi mà báo chí bằng tiếng Pháp được tự do, không bị kiểm duyệt, Ông ra tờ La Cloche fèlèe (Tiếng Chuông Rè) từ năm 1923 đến năm 1926. Ông tự xưng tờ báo của Ông là “cơ quan tuyên truyền tư tưởng Pháp”, lấy tư tưởng của kẻ xâm lăng để đập những nhát búa tạ vào chế độ Thực Dân, đồng thời tờ báo cũng tự nhận là “cơ quan chuẩn bị cho tương lai dân tộc”. Thật là độc đáo và tuyệt vời.

Ngoài việc phê bình kịch liệt, thẳng tay chính sách và chế độ thực dân, Ông cổ võ cho việc đào tạo một tầng lớp thanh niên Việt Nam tân học, có văn hóa, có lý tưởng, có chí khí, có năng lực và có tổ chức và Ông tuyệt đối tin vào sức mạnh và vào tương lai của nhân dân Việt Nam. Ông chủ trương một nước Việt Nam thống nhất từ Nam chí Bắc và trở về lịch sử dân tộc để tìm niềm tin và sức mạnh. Ông hô hào, khi chỉ mới ngoài 20 tuổi, “Chẳng những phải duy trì những giấc mộng vĩ đại, mà còn phải tổ chức thành một nhóm quan trọng để chuẩn bị cho tương lai”. Không những tư tưởng táo bạo, độc đáo, mới lạ, kiến thức của Ông cũng rất uyên bác. Khi Thống Đốc Nam Kỳ tuyên bố: “Xứ này không cần trí thức”. Ông đã viết bài trả lời bốc lửa: “… Những thảm khổ của chúng ta ngày nay, còn gì nữa, đúng là do tổ tiên của chúng ta đã sờ mó vào cây kiến thức. Hạng trí thức đã làm đảo lộn thế giới, làm hư hỏng hạnh phúc của thế giới. Hãy nguyền rủa tên tuổi của Prométhé, kẻ đã lấy trộm chút lửa của Trời. Hãy nguyền rủa con người đã bày ra cái ná cao su cho trẻ con bắn đá vào trán ông khổng lồ… Trí Tuệ, đó là cái tai hại. Trí tuệ, đó là con rắn cuốn quanh thân cây đã làm cho chúng ta vĩnh viễn mất cõi thiên đường… Nói đến vai trò giáo dục, vai trò văn minh của các ông chủ xứ Đông Dương này, thưa các ông, điều ấy làm ta mỉm cười… Người ta đã quỳ lụy bái phục những vị “đem ánh sáng tới”, những vị “làm điều kỳ diệu ở Ấu Châu”… Cái gì kỳ diệu? Thực ra cái kỳ diệu đó là, chỉ trong một thời gian ngắn thôi, người ta đã có thể làm cho trình độ trí thức của người Nam đã thấp đi lại càng rơi vào chỗ cực kỳ dốt nát. Cái kỳ diệu đó là người ta đã có thể, trong một thời gian ngắn như thế, xô đẩy một dân tộc có tư tưởng dân chủ, ngã nhào vào tình trạng nô lệ hoàn toàn“. (Trần Văn Giàu, Sự Phát Triển Của Tư Tưởng ở Việt Nam Từ Thế Kỷ 19 đến Cách Mạng Tháng Tám, q2, t 311).

Nguyễn An Ninh cũng là một trong những nhà trí thức tân học đầu tiên nghiên cứu Phật Học và hoàn thành một tác phẩm Phật Học quan trọng, cuốn “Phê Bình Phật Giáo”. Sau thời kỳ hoạt động sôi nổi từ 1923 đến 1926, Nguyễn An Ninh bị ở tù trong thời gian 1926-1927, sau đó Ông về nghiên cứu Phật Giáo. Trên bàn làm việc của Ông, có một cái chuông, một cái mõ, Ông cạo trọc đầu và đi chân không. Ông nghiên cứu Phật Giáo qua tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và các hoạt động Phật Giáo trong nước. Cuốn Phê Bình Phật Giáo xuất bản năm 1937 là kết quả của sự nghiên cứu này. Tựa đề của cuốn sách, 70 năm sau cũng không có ai dám viết một cuốn sách Phật Học có tựa đề thách thức và can đảm như vậy. Mục đích và phương pháp luận còn mới lạ, táo bạo hơn, đó là “so sánh Phật Giáo với thời đại của nó để chỉ chỗ hay, chỗ đúng hơn của nó đối với các thuyết khác và so sánh Phật Giáo với thời đại này để chỉ sai lầm của Phật Giáo“. Tác phẩm này được giới trí thức, giới chính trị cũng như giới Phật Giáo chú ý đặc biệt.

Nhưng không gây sóng gió và tranh luận suốt nhiều năm trời như những tác phẩm của Thích Thiện Chiếu. Đối với Tăng, Ni, Phật Tử thập niên 30, những tư tưởng Phật Học của Thích Thiện Chiếu là những tiếng sét ngang tai. Ngày nay đọc lại, chắc chắn quý vị tăng sĩ, cư sĩ và Phật Tử cũng không khỏi giựt mình, chấn động và suy nghĩ. Những tư tưởng này, được viết từ thập niên 30, ngày nay, cuối thập niên 90, vẫn còn mới, còn táo bạo, còn chứa đầy sức nặng của đá tảng và sức nổ của sấm sét. Thích Thiện Chiếu là tinh hoa sáng chói của Phật Giáo trong thập niên 20, 30. Ông đã đi tiền phong trong mọi lãnh vực chấn hưng và hiện đại hóa Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ 20 này.

Ta phải đứng trên một đỉnh núi cao, mới hy vọng nhìn thấy những cái gì chưa ai nhìn thấy, những cái gì nằm khuất sau dãy núi cao. đó có thể là những dãy núi cao hơn, hay là một đại dương mênh mông hay là một bình nguyên rực rỡ. Thích Thiện Chiếu là một ngọn núi cao của Phật học và Phật Giáo Việt Nam trước đệ nhị thế chiến. Ta hãy đứng trên đỉnh núi cao ngất, hùng tráng này để nhìn rõ một đỉnh núi cao ngất, hùng vĩ khác, là Cư sĩ, Bồ Tát, Giáo Chủ Huỳnh Phù Sổ.

|Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10|TK|

[BHH430] [PGHH] [THƯ VIỆN PGHH]

About these ads 

Occasionally, some of your visitors may see an advertisement here.

Tell me more | Dismiss this message

Like this:

About these ads

Occasionally, some of your visitors may see an advertisement here.

Tell me more | Dismiss this message

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

40 năm Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa, bài học lịch sử

40 năm Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa, bài học lịch sử

BienDong.Net: Những sự kiện gần đây liên quan đến Trung Quốc ở Biển Hoa Đông (căng thẳng với Nhật Bản và Hoa Kỳ sau khi Trung Quốc tuyên bố thiết lập Vùng nhận dạng phòng không bao gồm cả quần đảo Senkaku) và trong Biển Đông (căng thẳng với Philippines và Việt Nam) cho thấy tham vọng ngày càng tăng của Trung Quốc trong việc kiểm soát các vùng biển và hải đảo xung quanh.

Mặc dù bất ngờ và khó tiên đoán, những sự kiện này chắc chắn không phải là những hành xử tùy hứng của Trung Quốc, cường quốc thứ hai của thế giới.

Chỉ cần nhìn lại một chút lịch sử, ai cũng có thể thấy rằng các sự kiện đó chỉ tiếp nối một loạt các hành vi được tính toán kỹ lưỡng, thường kèm với sữ dụng vũ lực, được Trung Quốc thực hiện trong nhiều thập kỷ, rất lâu trước sự «trỗi dậy hòa bình» của nước này.

Giống như cố Tổng thống Mỹ Harry Truman đã từng nói “Những điều mà chúng ta cho là mới mẻ, thật ra chỉ là vì chúng ta chưa biết đủ về lịch sử”. (“The only thing new in the world is the history you do not know”.).

Tháng Giêng năm 2014, bốn mươi năm ngày Trung Quốc xâm lăng Hoàng Sa, nhắc nhở chúng ta bài học lịch sử buồn cho dân tộc Việt và là một minh chứng lời nói bất hủ này.

Tháng Giêng năm 1974, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã đổ quân, bắn phá các hòn đảo phía Tây của quần đảo Hoàng Sa (nhóm Nguyệt Thiềm) vốn dưới sự quản lý của Việt Nam Cộng Hòa. Mặc dầu sự phản kháng mãnh liệt từ phía Việt Nam Cộng Hòa, Trung Quốc với tiềm lực hải quân và súng đạn cuối cùng cũng đã hoàn toàn chiếm quần đảo chiến lược này và biến nó thành một sự đã rồi cho đến nay.

Chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa

Toàn cảnh cơ sở hành chính trên đảo Hoàng Sa. Ảnh: tư liệu

Theo giáo sư người Pháp Monique Chemillier Gendreau – trong cuốn sách nổi tiếng “Chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” cho đến khi có Hiệp ước bảo hộ của Pháp vào năm 1884, Việt Nam có chủ quyền liên tục không gián đoạn trong gần 2 thế kỷ đối với quần đảo Hoàng Sa. Sự thiết lập chủ quyền của Việt Nam phù hợp đối với luật pháp quốc tế và không có sự cạnh tranh hay phản kháng từ bất kỳ nước nào khác.

Trong giai đoạn đầu của thời kỳ Pháp thuộc, cho đến cuối những năm 1920, Pháp đã không chính thức khẳng định chủ quyền đối với các đảo và bỏ qua các quyền trước của Việt Nam trên quần đảo này. Tuy nhiên, Pháp không bao giờ công khai thừa nhận bất kỳ yêu sách chủ quyền của Trung Quốc. Trong giai đoạn thứ hai của thời kỳ Pháp thuộc, cho đến Thế chiến thứ hai, nước Pháp đã rõ ràng và mạnh mẽ khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa.

Trong giai đoạn hậu thuộc địa và những năm chiến tranh Việt Nam, từ năm 1956 đến năm 1975, Việt Nam bị chia cắt hai bên vĩ tuyến 17 bởi Hiệp định Genève năm 1954. Quần đảo Hoàng Sa, nằm về phía Nam vĩ tuyến 17, hiển nhiên dưới sự quản lý của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa luôn luôn khẳng định và thực thi rõ ràng chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa.

Chính trong bối cảnh này Trung Quốc đã xâm lăng Hoàng Sa, 40 năm trước, tháng Giêng năm 1974,

Can thiệp quân sự của Trung Quốc vào tháng 1 năm 1974

Quần đảo Hoàng Sa bao gồm hai nhóm chính: nhóm An Vĩnh (ở phía Đông) và các nhóm Nguyệt Thiềm (ở phía Tây), cách nhau khoảng 70 km.

Tàu chiến của Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa Việt Nam tháng 1/1974. Ảnh: tư liệu

Nên lưu ý rằng đã vào năm 1956, lợi dụng thời gian lực lượng viễn chinh Pháp rút khỏi Đông Dương, Trung Quốc đã âm thầm đưa quân ra chiếm đóng phần phía Đông của quần đảo Hoàng Sa (nhóm An Vĩnh).

15 tháng 1 năm 1974, chưa đầy một năm sau khi ký kết Paris hạn chế sự hiện diện của quân đội Mỹ tại miền Nam Việt Nam, Bắc Kinh đã đổ quân ở các đảo phía Tây của quần đảo Hoàng Sa. Trong vài ngày sau cho đến ngày 19 tháng 1 năm 1974, hải quân Trung Quốc tấn công và hoàn toàn xâm chiếm các hòn đảo mặc dầu kháng cự quyết liệt của hải quân Việt Nam Cộng Hòa.

Trước sự xâm lăng trắng trợn đó, đại diện của Việt Nam Cộng Hòa tại Liên Hợp Quốc đã yêu cầu đưa vấn đề ra Hội đồng Bảo an. Ngoài ra, trong một công hàm ngoại giao gửi đến tất cả các bên ký kết của hiệp định Paris, chính quyền miền Nam đã yêu cầu một phiên họp đặc biệt của Hội đồng Bảo an. Tuy nhiên, Trung Quốc, với quyền phủ quyết của mình trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, đã ngăn chặn tất cả những nỗ lực này của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

Ngày 02 tháng 7 năm 1974, đại diện của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã đưa tuyên bố tại Hội nghị của Liên hợp quốc về Luật biển để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa.

Mặc cho những sự phản đối này, Trung Quốc, vẫn chiếm giữ toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và tiếp tục phát triển cơ sở hạ tầng trên quần đảo cho đến nay. Nước Việt Nam thống nhất sau năm 1975 luôn tuyên bố khẳng định rõ ràng chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa.

Luật pháp quốc tế?

Sự can thiệp quân sự của Trung Quốc vào năm 1974 trên quần đảo Hoàng Sa rõ ràng đã đi ngược lại luật pháp quốc tế, bao gồm các nguyên tắc của không thể thụ đắc lãnh thổ bằng vũ lực. Điều này được trình bày chi tiết và rõ ràng trong sách đã dẫn của giáo sư Monique Chemillier Gendreau, chúng tôi xin phép được trích lại dưới đây:

“Sau cú sốc của cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, Công ước của Liên đoàn các Quốc gia đã ra tuyên bố cấm chiến tranh xâm lược, và vào ngày 26 tháng 8 năm 1928, Hiệp ước Kellogg – Briand đã cố gắng biến chiến tranh thành phạm pháp với sự cam kết tự nguyện của các quốc gia ký kết. Việc cấm sử dụng vũ lực đã trở thành giá trị và nguyên tắc pháp lý áp dụng đối với tất cả các nước tại điều 2, đoạn 4 của Hiến Chương Liên hợp quốc.

Mít tinh phản đối Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa. Ảnh: tư liệu

Nguyên tắc xây dựng vào năm 1945 đã được phát triển và củng cố trong Nghị quyết 26/25 (1970). ” Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của chiếm đóng quân sự do sử dụng vũ lực trái với Hiến chương. Lãnh thổ của một nước không thể được thụ đắc bởi một quốc gia khác từ kết quả của việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Bất cứ sự thụ đắc lãnh thổ nào từ việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực đều được coi là phạm pháp. ”

Cùng một văn bản cũng nói: “Mỗi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực để xâm phạm biên giới đang tồn tại với một quốc gia khác hay để giải quyết cách tranh chấp quốc tế, bao gồm các tranh chấp về lãnh thổ hay liên quan đến biên giới quốc gia.

Như vậy, chính sách ngoại giao pháo hạm không còn bất cứ hiệu lực pháp luật nào. Sử dụng vũ lực không thể là cơ sở của một luật pháp”. Hết trích dẫn.

Nhận định này chỉ có thể càng có ý nghĩa nếu được áp dụng cho nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và nước ký kết tất cả những hiến chương và điều lệ trên.

Mặt khác, không phải không tồn tại giải pháp hòa bình nào cho tranh chấp lãnh thổ. Một trong những giải pháp là đưa tranh chấp ra Tòa án Công lý Quốc tế. Tuy nhiên Bắc Kinh đã hoàn toàn làm ngơ trước mọi đề xuất theo hướng này, ít nhất hai lần đối với Pháp vào năm 1937 và năm 1947. Nếu Trung Quốc không ngừng lặp đi lặp lại sức mạnh của bằng chứng về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, tại sao họ lại không đồng ý sự phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế, tổ chức quốc tế thích hợp nhất để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia? Đặc biệt là Trung Quốc có một thẩm phán trong tổ chức này.

Ngoài ra, luật pháp quốc tế đòi hỏi các quốc gia phải đàm phán, như đã nêu trong Điều 33 của Hiến chương Liên hơp quốc: “Các bên trong một tranh chấp có thể ảnh hưởng đến hòa bình và an ninh quốc tế, có trách nhiệm tìm kiếm giải pháp cho tranh chấp thông qua đàm phán, điều tra, hòa giải, trọng tài, tòa án, hoặc nhờ vào các tổ chức, thỏa thuận khu vực hay bất cứ phương thức hòa bình nào có thể thống nhất được với nhau. Hội đồng Bảo an, nếu thấy cần thiết, kêu gọi các bên giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp như vậy”.

Điều nghịch lý là, Trung Quốc không những đã không tạo điều kiện thuận lợi, mà còn liên tục ngăn ngừa bất kỳ ý định nào của Hội đồng bảo an theo hướng này. Minh chứng cụ thể là vào năm 1974, hoặc sau đó vào năm 1988 khi Việt Nam cố gắng đưa vấn đề ra Hội đồng bảo an.

Trung Quốc đang có những động thái nhằm hợp lý hóa cái gọi là “thành phố Tam Sa” phi pháp, vi phạm chủ quyền của Việt Nam với Hoàng Sa và Trường Sa.

Việc sử dụng và đe dọa vũ lực, từ chối đàm phán và giải quyết bởi tòa án quốc tế, rõ ràng không phải là những hành động đáng có của một thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an.

Những việc này làm mất phẩm giá hình ảnh của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, cường quốc kinh tế thứ hai của thế giới, đất nước với khẩu hiệu «trỗi dậy hòa bình» và «giấc mơ Trung Hoa».

Tháng Giêng năm 2014, kỷ niệm bốn mươi năm Trung Quốc xâm lăng quần đảo Hoàng Sa, là lúc nhìn lại lịch sử để hiểu rõ hơn về hành vi hiện tại của Trung Quốc và từ đó để dự đoán tốt hơn trong tương lai.

Mặt khác, nhìn lại và trân trọng lịch sử cũng là cách để người Việt biết chúng ta đã và đang mất những gì để từng ngày nuôi dưỡng ý chí khôi phục.

BDN (theo SGTT)

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Nga khai mạc Olympics ở Sochi

Nga khai mạc Olympics ở Sochi

Cập nhật: 16:35 GMT – thứ sáu, 7 tháng 2, 2014

Tổng thống Nga vừa lên lễ đài để khai mạc Thế vận hội Mùa Đông 2014 ở Sochi, nơi gần 3000 vận động viên sẽ tranh tài trong vòng 16 ngày để đoạt 98 huy chương.

Sau màn quốc ca Nga và ca nhạc, nhảy múa cùng phim chiếu các cảnh trí của quốc gia đăng cai rộng lớn trải từ Âu sang Á là các đoàn vận động viên từ nhiều quốc gia diễu hành qua trước lễ đài.

Ngọn đuốc Olympic đã trải qua hành trình dài và đặc biệt từ Bắc Cực tới trạm Vũ trụ Quốc tế, hay chạm đáy hồ Balkans rồi lên đỉnh Elbrus, ngọn núi cao nhất châu Âu.

Chi phí cao

Nhưng càng tới gần ngày khai mạc người ta càng giữ thông tin cẩn mật để gây ngạc nhiên khi ngọn đuốc tới Sochi, được cho là nơi được tổng thống Nga yêu thích nhất.

Olympics ở Sochi là dịp chính quyền của ông Putin cải thiện hình ảnh của mình với dư luận quốc tế.

Nhưng đây cũng là Thế vận hội đắt nhất trong lịch sử với chi phí lên tới hơn 50 tỷ euro.

Ban tổ̉ chức nói số lãnh đạo quốc tế đến dự nhiều gấp ba lần lần trước ở Vancouver, Canada năm 2010.

Dự kiến Canada, Na Uy và Hoa Kỳ sẽ chiếm vị trí đầu bảng huy chương các loại.

Với đoàn vận động viên Anh Quốc (Team GB), mục tiêu lần này chỉ là đoạt ba huy chương cho các môn thể thao mùa đông.

Nga tăng cường an ninh cho kỳ Olympics, nhất là sau khi Mỹ khuyến cáo các hãng hàng không chở người tham dự Olympics rằng chất nổ có thể bị mang lên máy bay dưới dạng thuốc đánh răng.

Vị trí của Sochi không xa vùng Caucasus nhiều bất ổn sắc tộc và tốn giáo đã khiến chính quyền Nga đặc biệt chú ý đến an ninh.

Các phóng viên nói trước khi khai mạc, Sochi giống như một nơi bị cắt khỏi thế giới bên ngoài với sự hiện diện của quân đội trên bộ và tàu chiến ngoài khơi để phòng vệ.

Lễ khai mạc kéo dài khoảng hai tiếng 40 phút, với số pháo hoa khổng lồ nặng tới 22.5 tấn.

Có 3.000 người tham gia biểu diễn, dẫn dắt người xem qua chín giai đoạn quan trọng trong lịch sử nước Nga.

Canada là một trong những đoàn được chào đón nhiều nhất, năm nay tham gia Sochi với số vận động viên lớn nhất từ trước tới nay, với 221 người.

Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

Đông Á sẽ rơi vào xung đột vũ trang?

Đông Á sẽ rơi vào xung đột vũ trang?

Tiến sỹ Đoàn Xuân Lộc

Gửi cho BBC Việt ngữ từ London

 

Cập nhật: 12:19 GMT – thứ năm, 6 tháng 2, 2014

Phi cơ Trung Quốc tập cất cánh trên chiến hạm ngoài khơi

Phát biểu tại một hội nghị về an ninh quốc tế ở thành phố Munich, nước Đức, gần đây cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger cho rằng xung đột quân sự có thể xảy ra tại châu Á.

Trong một bài viết trên nhật báo The Telegraph ở Anh ngày 06/01/2014, John Everard, cựu Đại sứ Anh ở Bắc Hàn, đã so sánh tình hình tại Á Đông năm 2014 với bối cảnh châu Âu năm 1914 – khi một nước Đức đang nổi (cũng giống như Trung Quốc bây giờ) tìm cách thay đổi hiện trạng để khẳng định vị thế của mình. Thái độ ấy của nước Đức lúc bấy giờ đã đẩy châu Âu và thế giới vào Thế chiến thứ nhất.

Nhưng đó không phải là lần đầu tiên các chính trị gia ngoài châu Á cảnh báo nguy cơ xung đột ở đây. Chẳng hạn, trong một bài phát biểu tại Đại học Zurich, Thụy Sĩ vào tháng 11/2011, Chủ tịch Liên hiệp châu Âu (EU) Herman Van Rompuy đã chỉ ra tâm lý đối đầu và chi tiêu lớn cho quốc phòng của các nước khu vực.

Theo ông hai khuynh hướng đó là nguyên nhân sâu xa có thể dẫn đến một cuộc chạy đua vũ trang toàn diện ở châu Á. Ông cũng nêu rằng nếu trong thế kỷ trước châu Âu là đại lục nguy hiểm nhất và là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc thế chiến, giờ mọi sự chú ý của giới quan sát và các nhà chiến lược lại hướng về những diễn biến gần đây tại châu Á.

“Trong thế kỷ trước châu Âu là đại lục nguy hiểm nhất và là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc thế chiến, giờ mọi sự chú ý của giới quan sát và các nhà chiến lược lại hướng về những diễn biến gần đây tại châu Á.”

Chủ tịch EU Herman Van Rompuy

Với những nhận xét như vậy, Chủ tịch EU muốn cảnh báo rằng nếu tình trạng đối đầu và chạy đua vũ trang cứ tiếp diễn, châu Á có thể rơi vào xung đột, thập chí phải đối diện với những cuộc chiến như châu Âu đã từng nếm trải trong thế kỷ vừa qua.

Nếu quan sát những gì diễn ra tại châu Á và Đông Á nói riêng trong những năm vừa qua – đặc biệt tình trạng căng thẳng và đối đầu giữa Trung Quốc và Nhật Bản trong thời gian gần đây – chắc ai cũng có thể nhận ra rằng hai khuynh hướng đó ngày càng gia tăng và đáng lo ngại.

Câu hỏi được đặt là tại sao hai khuynh hướng ấy càng ngày càng mạnh tại châu Á và liệu chúng có dẫn châu lục này vào một cuộc xung đột quân sự như ông Henry Kissinger cảnh báo?

Căng thẳng, đối đầu do đâu?

B52 của MỹB52 bay trên vùng phòng không Trung Quốc công bố trên biển Hoa Đông hôm 27/11/2013.

Có rất nhiều nguyên nhân – trực tiếp hay gián tiếp – dẫn đến tình trạng căng thẳng, đối đầu giữa Trung Quốc và Nhật Bản trong thời gian qua.

Một trong những nguyên nhân ấy là các hiềm khích lịch sử để lại. Thời gian gần đây những hận thù quá khứ ấy không chỉ không được gạt bỏ mà còn được khơi dậy. Cụ thể, các cuộc ‘khẩu chiến’ mới đây giữa hai quốc gia này đều liên quan đến chiến tranh trong quá khứ.

Trong khi Bắc Kinh buộc Chính phủ Nhật phải xin lỗi về những ‘tội ác chiến tranh’ trước đây, Tokyo lại cho rằng họ đã nghiêm túc giải quyết chuyện quá khứ của mình.

Yếu tố khác làm khơi dậy những nghi kỵ quá khứ và gia tăng căng thẳng giữa hai nước láng giềng là chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi – nếu không muốn nói là hơi quá khích – càng ngày càng trở nên phổ biến và thậm chí được khuyến khích tại Nhật Bản và Trung Quốc. Chuyện Thủ tướng Shinzo Abe tới thăm đền Yasukuni – nơi thờ những binh sĩ Nhật tử trận trong thời chiến, trong đó có một số tội phạm chiến tranh của Nhật trong Thế chiến thứ hai – và việc Trung Quốc nổi giận lên án chuyến thăm của ông Abe chứng minh điều đó.

Một lý do nữa – dù ít được giới quan sát, phân tích nhắc đến – ít hay nhiều khiến Trung Quốc có thái độ mạnh bạo, nếu không muốn nói là khá hung hăng, với Nhật Bản và một số nước khu vực khác là Trung Quốc vẫn là một quốc gia độc đảng.

Nếu là một quốc gia dân chủ, có thể Trung Quốc không có những hành động hung hăng, bành trướng – như đơn phương đưa ra đường lưỡi bò hay áp đặt vùng nhận dạng phòng không – như nước này đã tiến hành.

“Ông Tập theo đuổi ‘Giấc mơ Trung Hoa’ một phần cũng vì sự trỗi dậy của Trung Quốc. Và đây là một nguyên nhân quan trọng nữa dẫn đến tình trạng căng thẳng, đối đầu giữa Bắc Kinh và Tokyo”

Ba lý do trên ít hay nhiều được thể hiện qua ‘Giấc mơ Trung Hoa’ mà ông Tập Cận Bình khởi xướng. Phần vì cảm thấy đất nước mình bị làm nhục trong quá khứ, phần vì thấy chủ nghĩa Mác-Lê càng ngày càng mất chỗ đứng tại Trung Quốc, giới lãnh đạo ở Bắc Kinh đang tìm cách khơi dậy lòng tự tôn dân tộc nơi người dân để tiến hành ‘cuộc phục hưng vĩ đại’ và cũng qua đó có thể duy trì, củng cố tính chính danh cho mình.

Ông Tập theo đuổi ‘Giấc mơ Trung Hoa’ một phần cũng vì sự trỗi dậy của Trung Quốc. Và đây là một nguyên nhân quan trọng nữa dẫn đến tình trạng căng thẳng, đối đầu giữa Bắc Kinh và Tokyo. Nhờ sự lớn mạnh về kinh tế, Trung Quốc càng ngày càng hiện đại hóa quân đội và công khai phô trương sức mạnh quân sự của mình. Chính điều này đã làm Nhật Bản và các nước khu vực khác quan ngại và buộc họ phải thay đổi chiến lược quân sự hay tăng cường quốc phòng để phòng vệ hoặc để đối trọng với Trung Quốc.

Một lý do khác làm tăng sự hiềm khích, căng thẳng giữa Trung Quốc với Nhật Bản và một số quốc gia trong vùng là tại đây có nhiều tranh chấp về lãnh thổ, lãnh hải tồn tại từ lâu và chưa được giải quyết thỏa đáng. Có thể nói không có khu vực hay châu lục nào phải đối diện với nhiều tranh chấp về chủ quyền như châu Á và Đông Á nói riêng. Và quốc gia có nhiều tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải nhất trong khu vực là Trung Quốc.

Hơn nữa, vùng biển tranh chấp là vùng biển quan trọng cả về kinh tế và chiến lược. Chẳng hạn, Biển Đông – nơi Trung Quốc có tranh chấp chủ quyền với một số nước ASEAN, trong đó có Việt Nam – không chỉ giàu tài nguyên thủy sản, nhiều khoáng sản, nhất là dầu khí, mà còn là một trong những tuyến đường hàng hải quốc tế chính yếu. Kiểm soát được vùng biển này Trung Quốc sẽ có rất nhiều thuận lợi để thực hiện giấc mơ bá quyền, bá chủ (khu vực) của mình.

Thái độ mạnh bạo của Trung Quốc?

Quân đội Nhật BảnNhật Bản tăng cường phòng không và quân sự trong khi tiến hành các điều chỉnh về chính sách quốc phòng.

Vì những lý do trên, trong thời gian gần đây Bắc Kinh đã có nhiều động thái khá hung hăng và chính tham vọng bành trướng, bá quyền, bá chủ khu vực ấy của họ đã làm Nhật Bản cũng như nhiều nước khác trong vùng quan ngại và buộc các quốc gia này phải lên tiếng hay thay đổi chính sách quốc phòng để nhằm đối phó với Trung Quốc.

Điều đó cho thấy, dù có thể có những yếu tố khác tác động – như chuyện Thủ tướng Abe đi thăm đền Yasukuni hoặc quyết định thay đổi chính sách quốc phòng của ông – Trung Quốc là quốc gia chính gây nên những căng thẳng, đối đầu hay chạy đua vũ trang ở Đông Á gần đây.

“Dù muốn hay không, Nhật Bản và nhiều nước khác không thể thụ động ngồi im chứng kiến Trung Quốc phô trương sức mạnh quân sự và bất chấp công luận, luật pháp quốc tế đơn phương đưa ra đường lưỡi bò, áp đặt vùng cấm bay hay vùng đánh bắt cá tại các vùng biển thuộc chủ quyền của mình.”

Vào tháng 12 năm ngoái, sau khi Thủ tướng Nhật tuyên bố gia tăng ngân sách quốc phòng, Bắc Kinh đã cáo buộc Tokyo viện cớ an ninh quốc gia để mở rộng quân đội và cho rằng hành động ấy sẽ làm gia tăng căng thẳng trong khu vực.

Nhưng có thể nói chính những động thái gần đây của Trung Quốc đã buộc Nhật Bản phải thay đổi chính sách quốc phòng để có thể chủ động đối phó với Trung Quốc. Nằm cạnh một quốc gia đang từng ngày lớn mạnh và đặc biệt khi quốc gia ấy lại có những động thái mạnh bạo, hung hăng, việc các nước láng giềng đang có tranh chấp lãnh hải với Bắc Kinh như Nhật Bản gia tăng quốc phòng hay thay đổi chiến lược quốc phòng cũng là chuyện dễ hiểu.

Trong một bài viết trên Bloomberg ngày 29/12/2013, Kishore Mahbubani – Hiệu trưởng trường Chính sách công Lý Quang Diệu, thuộc Đại học Quốc gia Singapore và là cựu Đại sứ Singapore tại Liên Hợp Quốc – nhận định rằng Tokyo rất quan ngại về thái độ hung hăng của Bắc Kinh và cho rằng Trung Quốc càng gây hấn, Nhật càng nhanh chóng tăng cường khả năng quân sự của mình và củng cố liên minh với Mỹ và các nước khu vực khác.

Đúng vậy, dù muốn hay không, Nhật Bản và nhiều nước khác không thể thụ động ngồi im chứng kiến Trung Quốc phô trương sức mạnh quân sự và bất chấp công luận, luật pháp quốc tế đơn phương đưa ra đường lưỡi bò, áp đặt vùng cấm bay hay vùng đánh bắt cá tại các vùng biển thuộc chủ quyền của mình.

Trung QuốcLãnh đạo TQ đang nuôi ‘Giấc mơ Trung Hoa’ khi nước này trên đà trỗi dậy

Điều đáng nói là căng thẳng giữa Trung Quốc và Nhật Bản không chỉ diễn ra trong giới lãnh đạo mà còn ở được thể hiện qua thái độ của người dân. Theo kết quả thăm dò dư luận mới đây của Pew Research Center – một trung tâm chuyên về thăm dò dư luận quốc tế đặt tại Thủ đô Washington, Mỹ – chỉ có 5% người Nhật được hỏi có thái độ tốt với Trung Quốc trong khi đó có đến 90% người Trung Quốc không có thiện cảm với Nhật.

Cũng theo kết quả của trung tâm này, năm 2007 có đến 29% người Nhật có thiện cảm với Trung Quốc nhưng năm 2013 con số đó chỉ là 5%. Điều này cũng chứng tỏ rằng những động thái của Trung Quốc trong những năm qua có tác động rất lớn đến dư luận người Nhật. Một kết quả khác cũng đáng nêu lên là có đến 96% người Nhật và 91% người Hàn Quốc được hỏi cho rằng sự lớn mạnh của Trung Quốc không tốt cho đất nước của họ.

Đối đầu sẽ dẫn đến xung đột?

Có thể nói kể từ khi kết thúc Chiến tranh lạnh tới nay, chưa lúc nào Đông Á rơi vào tình trạng căng thẳng, đối đầu như hiện nay. Tuy vậy, một cuộc xung đột vũ trang giữa Trung Quốc và Nhật Bản hay giữa Trung Quốc và một quốc gia khu vực nào đó khó có thể xảy ra – ít nhất là trong những năm tới.

“Một trong những lý do xung đột quân sự như vậy khó diễn ra trong thời gian tới là vì Trung Quốc và Nhật Bản phụ thuộc vào nhau rất nhiều về mặt kinh tế. Hiện tại Nhật Bản là đối tác thương mại lớn thứ ba của Trung Quốc và Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Nhật.”

Một trong những lý do xung đột quân sự như vậy khó diễn ra trong thời gian tới là vì Trung Quốc và Nhật Bản phụ thuộc vào nhau rất nhiều về mặt kinh tế. Hiện tại Nhật Bản là đối tác thương mại lớn thứ ba của Trung Quốc và Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Nhật. Ước tính kim ngạch mậu dịch giữa hai nước lên tới 340 tỷ đôla. Vì vậy, bất cứ một cuộc xung đột nào sẽ gây hậu quả nghiêm trọng đến kinh tế hai nước. Giới phân tích thường nêu lập luận này để loại trừ khả năng xung đột vũ trang Trung-Nhật.

Về phía Trung Quốc, dù đang trở thành cường quốc thứ hai thế giới và số một khu vực về quân sự và có những động thái mạnh bạo trong thời gian qua, có thể giới lãnh đạo nước này vẫn chưa muốn hay không thể có một hành động khiêu chiến nào đó lúc này vì nếu làm như vậy Trung Quốc sẽ chịu rất nhiều tổn thất. Như bài viết của John Everard nhận định, nếu một cuộc xung đột vũ trang giữa Trung Quốc với Nhật hay một quốc gia nào đó trong khu vực xảy ra, Mỹ sẽ vào cuộc vì Washington đã thiết lập các liên minh quân sự với Nhật và nhiều nước trong vùng. Đây là một điều Bắc Kinh không muốn.

Hơn nữa, ngoài Bắc Hàn và một số ít quốc gia khác như Pakistan, đến giờ Trung Quốc vẫn không có nhiều đồng minh tại châu Á và hầu hết các nước trong khu vực đều có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc.

Do vậy, nếu Bắc Kinh tiến hành một cuộc chiến hay có một hành động hung hăng quá trớn nào đó lúc này, không chỉ Mỹ vào cuộc mà các nước trong khu vực cũng sẽ liên minh với nhau để đối phó với Trung Quốc. Chẳng hạn, trước những động thái gần đây của Bắc Kinh, một ủy ban thuộc Chính phủ Nhật dự kiến kêu gọi nước này cho phép quân đội giúp đỡ các đồng minh trong khu vực nếu các đồng minh bị tấn công.

Không quân Hàn QuốcHàn Quốc đang điều chỉnh chiến lược quân sự ở khu vực trong lúc tiếp tục đối phó với Bắc Hàn.

Và trên hết, Mỹ, Liên hiệp châu Âu và cộng đồng quốc tế nói chung và các nước khác tại Đông Á nói riêng cũng hiểu rõ rằng một cuộc xung đột vũ trang giữa Trung Quốc và Nhật sẽ tác động xấu lên nền kinh tế thế giới và có thể đẩy đưa không chỉ Đông Á mà cả thế giới vào một cuộc chiến. Do đó, không ai muốn chuyện đó xảy ra và sẽ tìm cách ngăn ngừa nó.

Không loại trừ hoàn toàn xung đột

Nói thế không có nghĩa là loại trừ hoàn toàn khả năng xung đột quân sự tại Đông Á. Chẳng hạn, trong một bài viết được đăng trên Tạp chí Foreign Policy hôm 04/10/2012, Michael Auslin nhắc lại rằng vào năm 1909, Norman Angell – một chính trị gia người Anh và cũng là một nhà báo – quả quyết rằng vì phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, các nước châu Âu không thể đánh chiếm lẫn nhau. Nhưng chỉ năm năm sau đó, chiến tranh bùng nổ tại châu lục này.

Một bài viết của Michael Crowley trên tạp chí Time ngày 02/12/2013 cho rằng vì những hiềm khích quá khứ và đối đầu hiện tại giữa Trung Quốc và Nhật Bản một cuộc chiến có thể xảy ra.

“Khác hẳn với châu Âu và thậm chí cả châu Phi, châu Á không có một cơ chế nào có thể giúp giải quyết ổn thỏa tranh chấp, xung đột giữa các nước”

John Everard, cựu Đại sứ Anh ở Bắc Hàn

Dù không nghĩ những căng thẳng, tranh chấp hiện tại sẽ biến thành một cuộc đối đầu quân sự, John Everard nhận định rằng những tranh chấp ấy cũng không thể giải quyết một cách hòa bình trong tương lai ngắn và như vậy căng thẳng, đối đầu sẽ tiếp diễn. Một lý do ông đưa ra là khác hẳn với châu Âu và thậm chí cả châu Phi, châu Á không có một cơ chế nào có thể giúp giải quyết ổn thỏa tranh chấp, xung đột giữa các nước.

Nhận định ấy ít hay nhiều có cơ sở vì đến giờ các cơ chế như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) hay Hội nghị bộ trưởng quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) – ba diễn đàn quy tụ 10 nước ASEAN, Mỹ, Nga và các nước lớn trong khu vực như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc – được các nước ASEAN khởi xướng để đối thoại về các vấn đề an ninh khu vực không làm giảm hay giải quyết được các tranh chấp, căng thẳng ở Đông Á.

Vì vậy, dù xung đột vũ trang khó hay không xảy ra – như Michael Auslin đã từng dự đoán cách đây gần hai năm – những căng thẳng, đối đầu hiện tại có thể đây đưa châu Á vào ‘một cuộc chiến tranh lạnh’ trong những năm hay thậm chí những thập niên tới. Và điều này cũng có nghĩa là khu vực này vẫn phải luôn đối diện với nhiều nguy cơ xung đột, bất ổn.

Bài viết phản ánh quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả, một người đang làm nghiên cứu tại Global Policy Institute, London.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Hoa Kỳ ra tuyên bố về UPR Việt Nam

Hoa Kỳ ra tuyên bố về UPR Việt Nam

Cập nhật: 12:22 GMT – thứ sáu, 7 tháng 2, 2014
Kiểm định định kỳ phổ quát và nhân quyền lần thứ 18Đoàn Việt Nam tham gia Kiểm định định kỳ phổ quát về nhân quyền của LHQ tại Geneva.

Đại Sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam đã ra tuyên bố về sự kiện Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (UPR) của Việt Nam tại Geneva, hôm 05/2/2014 từ Hà Nội.

Tòa Đại sứ tại Hà Nội hôm thứ Tư đưa phát biểu của Đại biện Lâm thời, Phái bộ Hoa Kỳ, ông Peter Mulrean cho hay Hoa Kỳ hoan nghênh Việt Nam tham gia công ước quốc tế về chống tra tấn và cảm ơn chính quyền Hà Nội đã có bài thuyết trình tại cuộc Kiểm định UPR lần thứ 18.

Tuy nhiên theo Hoa Kỳ, chính quyền Việt Nam vẫn còn có những hành vi đáng ‘quan ngại’ và ‘thất vọng’ khi xâm phạm các quyền phổ quát về con người, trong đó có xâm phạm các quyền tự do ngôn luận, lập hội, hạn chế tôn giáo, ngăn cản xã hội dân sự v.v…

Bản tuyên bố của Tòa Đại sứ Hoa Kỳ hôm thứ Tư nói:

“Hoa Kỳ cảm ơn đoàn Việt Nam về bài thuyết trình của đoàn,

“Chúng tôi hoan nghênh việc Việt Nam ký Công ước Chống Tra tấn, tiến bộ về bảo vệ quyền của người đồng tính/song tính/chuyển giới, và số lượng đăng ký nhà thờ tăng lên.

“Tuy nhiên, Việt Nam vẫn sách nhiễu và bắt giữ những người thực hiện các quyền hạn và các quyền tự do phổ quát, như tự do ngôn luận và lập hội. Việt Nam cũng hạn chế tự do tôn giáo, và việc sách nhiễu các nhà thờ không đăng ký vẫn diễn ra.

“Chúng tôi quan ngại về sự hạn chế đối với việc thành lập nghiệp đoàn độc lập, về việc sử dụng lao động trẻ em và lao động cưỡng bức, và việc chính phủ sử dụng lao động bắt buộc.

“Chúng tôi cũng thất vọng về việc Việt Nam ngăn cản xã hội dân sự tham gia vào toàn bộ quá trình UPR.”

‘Đề xuất của Hoa Kỳ’

Biểu tình ở Việt NamCác phong trào xuống đường của người dân Việt Nam đã phát triển mạnh trong những năm gần đây.

Bản tuyên bố của Hoa Kỳ đưa ra ba điểm để xuất với Việt Nam như sau:

“Sửa đổi luật an ninh quốc gia mơ hồ được sử dụng để đàn áp các quyền phổ quát, và thả vô điều kiện tất cả các tù nhân chính trị, như Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, Lê Quốc Quân, Điếu Cày và Trần Huỳnh Duy Thức;

“Bảo vệ các quyền của người lao động được quốc tế công nhận và tăng cường thực thi luật cấm lao động cưỡng bức; và

“Nhanh chóng phê chuẩn và thực thi Công ước Chống Tra tấn.”

Tại cuộc Kiểm định định kỳ phổ quát về nhân quyền lần thứ 18, một số quốc gia và tổ chức cho rằng Việt Nam đã có một số chuyển biến nhất định trong vấn đề nhân quyền, trong đó có việc vận động trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc.

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn nhiều điểm phải cải thiện về nhân quyền trong đó Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ, nghiêm túc nhiều điểm trong 96 khuyến cáo mà Việt Nam đã chấp nhận trong lần kiểm định UPR bốn năm về trước.

“Chúng tôi cũng thất vọng về việc Việt Nam ngăn cản xã hội dân sự tham gia vào toàn bộ quá trình UPR”

Đại sứ quán Hoa Kỳ tại VN

Nhiều đoàn ngoại giao như Hoa Kỳ, Anh, Úc, Canada, Đức, Ireland, Ba Lan, Thụy Điển, Phần Lan, Hungary, Czech và các quốc gia khác đã thẳng thắn chất vấn Việt Nam về những vấn đề mà Việt Nam được cho là vi phạm nhân quyền, đồng thời nêu quan điểm yêu cầu Việt Nam sửa đổi.

Đại diện của Thái Lan tại UPR 18 kêu gọi Việt Nam thành lập một định chế về nhân quyền ở cấp độ quốc gia. Trong khi, Hungary khuyến nghị Việt Nam cần thúc đẩy tự do trên mạng.

Việt Nam đang chịu nhiều sức ép hơn trong tư cách mới là một thành viên của Hội đồng Nhân quyền của LHQ.

Một số tổ chức Phi chính phủ Quốc tế như, UN Watch, cho hay vào ngày 25/2 này, một loạt các tổ chức NGO sẽ nhóm họp ở Geneva và đề nghị khai trừ Việt Nam khỏi Hội đồng Nhân quyền vì theo các tổ chức này “Việt Nam không đảm bảo các quyền tự do cho người dân ở mức cao nhất, tương xứng với tư cách thành viên.”

‘Luôn tôn trọng nhân quyền’

UPRViệt Nam tham dự UPR lần này với tư cách mới là thành viên của Hội đồng Nhân quyền của LHQ.

Sự kiện kiểm định định kỳ về nhân quyền tại Geneva lần này đã thu hút được sự chú ý của nhiều giới ở trong và ngoài nước.

Đoàn đại biểu của chính phủ Việt Nam gồm nhiều bộ ngành tham gia UPR năm 2014 tại Geneva về cơ bản đã khẳng định nhà nước và chính phủ Việt Nam luôn luôn tôn trọng và thực thi nghiêm túc tất cả các điều luật, công ước quốc tế về nhân quyền và quyền công dân, cho rằng Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ đáng ghi nhận kể từ lần kiểm định trước hồi năm 2009.

Đại diện Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Ban Tôn Giáo Chính phủ của Việt Nam có mặt tại Geneva đều khẳng định trong các lĩnh vực cụ thể, Việt Nam đều tôn trọng các quyền của công dân, quyền con người, với chính phủ không kiểm duyệt báo chí, mạng internet, đảm bảo các quyền tự do về ngôn luận, tôn giáo, tín ngưỡng, hoặc không có tôn giáo, tín ngưỡng, tôn trọng các điều khoản đã ký của công ước quốc tế về chống tra tấn hoặc đối xử tàn nhẫn v.v…

“Mặc dù thừa nhận VN có một số cải thiện về nhân quyền trong một số lĩnh vực, chúng tôi cho rằng báo cáo của đoàn ngoại giao VN không phản ánh đầy đủ và chính xác tình hình nhân quyền của Việt Nam, nhất là trong các lĩnh vực quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tự do lập hội và tự do hội họp”

Thông cáo Báo chí Liên Tổ chức

Trong dịp này, tại Geneva, nhiều tổ chức nhân quyền, phi chính phủ và các nhà hoạt động vì dân chủ và nhân quyền của Việt Nam đã tham gia nhiều sự kiện liên quan, một số nhóm vận động từ các đảng phái như Việt Tân, The Voice, các cộng đoàn Việt Nam ở hải ngoại đã có các hoạt động gây áp lực lên chính quyền Việt Nam qua các diễn đàn quốc tế xung quanh sự kiện kiểm định.

Còn từ trong nước, một số giới quan sát cũng đã có những đánh giá về nhân quyền Việt Nam, cũng như dự kiến tác động của cuộc kiểm định UPR.

Hôm thứ Tư, 05/2, chuyên gia về nhân quyền luật hiến pháp của Việt Nam từ Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo sư Nguyễn Đăng Dung nói cho rằng cả sự kiện kiểm định UPR năm 2014 và việc Việt Nam dành ghế nhân quyền đều là những dấu hiệu có tác động ‘tích cực và tiến bộ’ đối với Việt Nam.

“Trước đây không có được nói và quốc tế cũng không hiểu gì, và đây là nơi để nói và người ta còn có sự kiểm định bằng các đoàn phi chính phủ đến để nói trước các cơ quan nhân quyền quốc tế, thì tôi thấy đấy là một sự tiến bộ,” chuyên gia về luật nhân quyền và luật hiến pháp nói với BBC hôm 05/2/2014.

‘Không kỳ vọng hiệu quả’

UPRNhiều tổ chức, cá nhân đấu tranh cho nhân quyền ở hải ngoại tiếp tục gây áp lực với chính quyền VN.

Tuy nhiên, TS Nguyễn Quang A không kỳ vọng kỳ kiểm định UPR sẽ có hiệu quả chuyển đội thực sự về chính sách với chính quyền Việt Nam. Ông nói:

“Tôi nghĩ rằng chắc chắn nó sẽ có tác động gây áp lực lên nhà cầm quyền Việt Nam”, ông nói với BBC trong cuộc phỏng vấn hôm 5/2.

“Nhưng những áp lực đấy có thực sự hữu hiệu để khiến nhà cầm quyền phải thay đổi chính sách liên quan đến nhân quyền thì tôi e rằng tính hiệu quả của nó là không nhiều.”

Trước đó, hôm 04/2, Hòa Thượng Thích Quảng Độ, qua diễn đàn cuộc Hội luận “Những tiếng nói của Xã hội dân sự bị cấm đoán” do Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam và Liên Đoàn Quốc tế Nhân quyền với sự hậu thuẫn của Ân Xá Quốc tế và Human Rights Watch tổ chức, nêu quan điểm:

“Kể từ cuộc Kiểm điểm Thường kỳ Phổ quát lần thứ nhất trước đây, Việt Nam hứa hẹn thực thi nhân quyền. Nhưng trái lại, Việt Nam tung chiến dịch leo thang đàn áp như chưa từng các nhà bất đống chính kiến, và những ai phê phán chính quyền”

Hòa Thượng Thích Quảng Độ

“Kể từ cuộc Kiểm điểm Thường kỳ Phổ quát lần thứ nhất trước đây, Việt Nam hứa hẹn thực thi nhân quyền. Nhưng trái lại, Việt Nam tung chiến dịch leo thang đàn áp như chưa từng các nhà bất đống chính kiến, và những ai phê phán chính quyền. Các bloggers trẻ, nhà báo, những người đấu tranh bảo vệ quyền công nhân, quyền phụ nữ và thiếu nhi đã không ngừng bị sách nhiễu hay bị giam cầm chưa từng thấy xưa nay.

“Cuộc đàn áp cũng nhắm vào các cộng đồng tôn giáo. Bất cứ ở đâu trên thế giới này, tự do tôn giáo đều quan trọng – được ghi rõ tại điều 18 trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, cũng như trong Hiến Pháp Việt Nam. Là quyền không thể chối bỏ, ngay cả trong thời chiến. Trong hoàn cảnh không hiện hữu những đảng phái chính trị đối lập, các công đoàn tự do hay các tổ chức phi chính phủ độc lập, các tôn giáo là những tiếng nói trọng yếu cho xã hội dân sự, nói lên nỗi bất bình của nhân dân và áp lực cho sự cải cách,” lá thư của Hòa thượng Quảng Độ gửi Hội luận từ Việt Nam viết.

Hôm thứ Tư, một thông cáo báo chí liên tổ chức cuar Mạng lưới Blogger Việt Nam, Voice, No U, Dân Làm báo, Phật giáo Hòa Hảo Truyền thống, Con đường Việt Nam… nêu quan điểm:

“Mặc dù thừa nhận Việt Nam có một số cải thiện về nhân quyền trong một số lĩnh vực, chúng tôi cho rằng báo cáo của đoàn ngoại giao Việt Nam không phản ánh đầy đủ và chính xác tình hình nhân quyền của Việt Nam, nhất là trong các lĩnh vực quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tự do lập hội và tự do hội họp.

“Bên canh đó, đoàn ngại giao VN còn đưa ra nhiều thông tin sai sự thật và những lập luận có tính ngụy biện, lảng tránh nội dung chính của câu hỏi trong quá trình báo cáo và trả lời chất vấn.”

‘Hy vọng đạt đồng thuận’

UPRMột số tổ chức vận động độc lập cho nhân quyền của VN đã tham gia các hoạt động tại UPR 2014.

Từ Hà Nội, hôm thứ Tư, Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Đại biểu Quốc hội Việt Nam, nêu quan điểm với BBC cho rằng ‘nhận thức’ về nhân quyền ở Việt Nam, trong đó ở giới chức chính quyền thời gian gần đây đều đã được cải thiện.

Hôm thứ Năm, từ Sài Gòn, nguyên Phó Chủ nhiệm thường trực Văn phòng Quốc hội Việt Nam, luật sư Trần Quốc Thuận cũng thừa nhận ‘không khí tự do, nhân quyền’ ở Việt Nam thời gian gần đây đã ‘dễ thở hơn’.

Tuy nhiên, luật sư Thuận cũng nói thêm nhận thức và thực thi nhân quyền của Việt Nam, hay là khoảng cách giữa ‘nói và làm’ trên thực tế vẫn còn có khác biệt lớn.

“Pháp luật, chỉ vô hình thức, thì nhìn đâu cũng thấy có, nhưng mà rõ ràng khi áp dụng thì tùy tiện, pháp luật mù mờ và chưa có một điều luật bảo vệ quyền, nhân quyền của người công dân một cách thực sự”

Luật sư Trần Quốc Thuận

Ông nói: “Pháp luật, chỉ vô hình thức, thì nhìn đâu cũng thấy có, nhưng mà rõ ràng khi áp dụng thì tùy tiện, pháp luật mù mờ và chưa có một điều luật bảo vệ quyền, nhân quyền của người công dân một cách thực sự.”

Cũng nhân dịp này, hôm thứ Tư, ông Phạm Khắc Lãm, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Người VN ở Nước ngoài, cựu Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam, nêu quan điểm kỳ vọng giữa chính phủ Việt Nam và các lực lượng tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền người Việt Nam ở trong nước và hải ngoại sẽ đạt được một ‘đồng thuận’ trong vấn đề này.

“Giải pháp… là hai bên nhân nhượng nhau để đạt đến một sự đồng thuận. Có thể sự đồng thuận đó có khó khăn nhưng tôi tin rằng nếu có sự thiện chí của các bên thì chắc chắn một sự đồng thuận là có thể kiếm được,” ông nói với BBC.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Blog at WordPress.com.