Daily Archives: February 11, 2014

ĐẠO-PHÁP HUYỀN-THÂM

LƯỢC GIẢNG KINH PHÁP BẢO ĐÀN, HOÀ THƯỢNG TUYÊN HOÁ

Phần Lược Tự 

(05/21/2010) (Xem: 3963)

LƯỢC GIẢNG
KINH PHÁP BẢO ĐÀN
Hoà Thượng Tuyên Hoá Giảng tại Vạn Phật Thánh Thành Hoa Kỳ

 

Phần Lược Tự 

Tên của bộ Kinh này là Kinh Lục Tổ Pháp Bảo Ðàn, tên riêng là “Lục Tổ Pháp Bảo Ðàn.”“Kinh” là tên chung của các bộ Kinh. Kinh Phật lập đề thường dùng bảy loại để phân biệt: tức Ðơn Nhân, Ðơn Pháp, Ðơn Dụ, Nhân Pháp, Nhân Dụ, Pháp Dụ, Nhân Pháp Dụ. NhưKinh Phật Thuyết A Di Ðà là Ðơn Nhân lập đề, vì Ðức Phật và Phật A Di Ðaø đều là người, là người tu hành thành Phật. Người chính là Phật, Phật chính là người, vì thế người Trung Quốc viết chữ Phật có bộ nhân bên cạnh. Ðơn Pháp lập đề như Kinh Bát Nhã, Kinh Niết Bàn. Niết Bàn là pháp, Niết Bàn nghĩa là bất sanh bất diệt. Ðơn Dụ lập đề như Kinh Phật Thuyết Phạm Võng, nếu nghiêm trì giới luật thì có thể sanh ra quang minh, như châu báu của cõi Ðại Phạm Thiên. Nếu phạm giới phá giới, biết pháp phạm pháp thì có chỗ hữu lậu, hữu lậu tất đi đến tam ác đạo: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, nơi đó tuyệt không có một chút nhân tình. Pháp Dụ lập đề như Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là dụ. Nhân Dụ lập đề giống như Kinh Như Lai Sư Tử Hống, Như Lai là người, Sư Tử là dụ, Phật thuyết pháp như sư tử hống. Nhân Pháp lập đề như Kinh Văn Thù Vấn Bát Nhã. Ðầy đủ Nhân Pháp Dụ lập đề như Kinh Ðại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm, Ðại Phương Quảng là pháp, Phật là người, Hoa Nghiêm là dụ.

Nhưng quyển Kinh Lục Tổ Pháp Bảo Ðàn là Kinh Trung Quốc, không phải Kinh Ấn Ðộ, cho nên ngoài bảy loại lập đề ra, còn có thêm một loại là Xứ lập đề. Lục Tổ là người, Pháp Bảo là pháp, Ðàn là xứ sở, vì thế quyển Kinh này là Nhân Pháp Xứ lập đề, không thể giảng theo bảy loại lập đề kể trên.

Ngôi vị Lục Tổ không phải dễ thừa kế, đảm trách. Vì sao vậy? Vì có rất nhiều người muốn giết Ngài. Ngay cả đệ tử của Ngài là Chí Triệt cũng tìm cách giết hại Ngài. Vì thế Ðại sư sau khi đắc pháp đã tỵ nạn mười sáu năm trong nhóm thợ săn. Thậm chí sau khi kiến lập Pháp đàn tại Nam Hoa Tự, vẫn còn có ngoại đạo công khai muốn giết Ngài. Cho nên Ðại sư chạy lên núi ẩn trong núi đá tọa thiền, hòn đá mà Ðại sư tỵ nạn, đến nay vẫn còn thấy ở Nam Hoa Tự.

Lục Tổ Ðại sư từ đâu mà có danh hàm Lục Tổ? Ðiều này bắt đầu từ Ngài Bồ Ðề Ðạt Ma. Bồ Ðề có nghĩa là Giác, Ðạt Ma có nghĩa là Pháp. Ngài Bồ Ðề Ðạt Ma là Tổ thứ hai mươi tám tại Ấn Ðộ, nhưng tại sao Ngài không ở Ấn Ðộ làm Tổ mà đi đến Trung Quốc làm gì? Vì xưa kia Phật đã thọ ký: Ðến đời Tổ thứ hai mươi tám, Ðại thừa Phật pháp sẽ truyền đến Trung Quốc. Do nhân duyên như thế, Ngài Bồ Ðề Ðạt Ma ngồi thuyền đến Trung Quốc truyền đạo. Nhưng lúc đó Phật Pháp tại Trung Quốc, dường như có dường như không, bởi vì chỉ làm công tác bên ngoài như tụng kinh, nghiên cứu kinh điển, giảng kinh v.v.., ngay cả việc bái sám cũng không có. Ðương thời các học giả đều cho Phật giáo như là một loại học vấn để nghiên cứu thảo luận.

Các đạo lý mà Phật giáo nói đều phải y theo mà tu hành. Nhưng thời đại Nam Bắc triều của Trung Quốc lúc đó không có người nào chân chánh tu hành tọa thiền, vì sợ khổ cực. Hiện nay ở Mỹ đây cũng giống như vậy. Ngồi một chút chân đau bèn duỗi chân, nghiêng nghiêng lắc lắc, xoa bóp một hồi. Người dù sao cũng là người! Cũng đều sợ khổ, sợ cực !

Trước khi Tổ sư Ðạt Ma đến Trung Quốc, Ngài có phái hai người đệ tử là Phật Ðà và Da Xá đến Trung Quốc truyền pháp môn đốn ngộ, tức là Thiền tông. Ai ngờ hai Ngài đến Trung Quốc lại gặp phải cảnh trái ý nghịch lòng, tất cả các Tăng sĩ thời đó đều không xem trọng hai Ngài. Sau đó hai Ngài đến Lư Sơn gặp Ðại sư Huệ Viễn; Ngài Huệ Viễn chuyên giảng về pháp môn niệm Phật. Ðại sư Huệ Viễn hỏi:

–Hai vị là các Tăng sĩ Ấn Ðộ, hai vị truyền pháp môn gì mà sao không có ai theo học?

Ngài Phật Ðà và Da Xá chỉ biết nói rất ít tiếng Trung Quốc, bèn đưa tay ra nói:

–Hãy nhìn xem! Bàn tay tôi nắm vào và giở ra có nhanh không?

–Rất nhanh.

–Bồ đề và phiền não cũng nhanh giống như vậy.

Ðại sư Huệ Viễn lập tức khai ngộ, biết ra Bồ đề và phiền não vốn không có gì sai khác. Bồ đề tức phiền não, phiền não tức là Bồ đề! Ngài Huệ Viễn sau khi khai ngộ, rất cung kính cung dưỡng Ngài Phật Ðà và Da Xá. Nhưng không lâu hai bậc cao Tăng Ấn Ðộ này đều vãng sanh trong cùng một ngày. Phần mộ của hai Ngài đến nay vẫn còn ở Lư Sơn.

Tổ sư Ðạt Ma nhìn thấy căn tánh Ðại thừa ở Trung Quốc đã chín muồi, bèn không ngại gian khổ, đường sá xa xôi, đem Phật pháp Ðại thừa đến Trung Quốc. Nhưng lúc đó vì ngôn ngữ không thông, người Trung Quốc gọi Ngài là “Ma-la-sát.” Trẻ con nhìn thấy gương mặt Ngài với bộ râu dài đều hoảng sợ chạy mất. Người ta cho rằng Ngài đến để bắt trẻ con vì thế không cho trẻ con đến gần Ngài.

Sau đó Tổ sư Ðạt Ma đến Nam Kinh nghe Pháp sư Thần Quang giảng Kinh, nhìn thấy cảnh giới thù thắng: “Chư thiên rải hoa cúng dường, dưới đất sen vàng hiện ra.” Cảnh giới này chỉ có người đã đắc Ngũ nhãn Lục thông mới thấy được. Sau khi giảng Kinh xong, là đến phần thỉnh pháp, hỏi pháp, Tổ sư Ðạt Ma hỏi:

–Pháp sư! Ông ở đây làm gì?

Thần Quang trả lời:

–Tôi ở đây giảng Kinh.

–Ông giảng Kinh làm gì?

–Tôi giảng Kinh, đưa người liễu ngộ sinh tử.

–Làm sao có thể liễu ngộ được sanh tử? Kinh mà ông giảng đều là giấy trắng mực đen, ông dùng cái gì mà có thể giúp người liễu đoạn sanh tử ?

Thần Quang bị hỏi không có cách nào trả lời, vì thế xấu hổ mà tức giận. Tuy Pháp sư Thần Quang giảng kinh được chư thiên rải hoa cúng dường nhưng vẫn còn tính nóng giận như vậy. Vì thế tôi nói Phật Pháp đương thời dường như có dường như không. Pháp sư Thần Quang tức giận liền cầm lấy xâu chuỗi niệm Phật làm bằng sắt nói:

–Ông dám hủy báng pháp à!

Nói xong liền dùng xâu chuỗi đánh vào mặt Ðạt Ma. Tổ sư Ðạt Ma tuy biết võ thuật, nhưng không ngờ Thần Quang lợi hại như thế, nói không lại liền động võ, kết quả bị đánh gãy hai cái răng. Nghe nói, răng của bậc Thánh nếu bị đánh gãy, nhổ xuống chỗ nào thì chỗ đó bị hạn hán ba năm. Ðạt Ma nghĩ thầm: “Ba năm không mưa, chết đói biết bao nhiêu người. Ta đến Trung Quốc là muốn độ chúng sanh, không phải là để hại chúng sanh,” vì thế Ngài nuốt hai cái răng vào bụng, không nói một lời liền bỏ đi.

Vì Ngài là người xuất gia, lại là bậc Tổ Sư, cho nên đã nhẫn nhục được những việc như vậy. Trên đường đi, Ngài gặp con chim Anh Vũ bị nhốt trong lồng. Chim Anh Vũ còn thông minh hơn Thần Quang vì biết Bồ Ðề Ðạt Ma là một vị Tổ Sư, nên thưa với Ngài rằng:

–Tây lại ý, Tây lại ý, thỉnh Ngài dạy cho chúng con cách thoát ra khỏi lồng.

Ðạt Ma đến Trung Quốc chưa gặp được tri âm, nay Anh Vũ này lại là tri âm của Ngài. Nghe chim thỉnh giáo mình như vậy, Ðạt Ma rất vui vẻ dạy cho nó một bí quyết: “Muốn thoát khỏi lồng, hai chân duỗi thẳng, đôi mắt nhắm nghiền, đây là diệu kế, giúp con thoát lồng.”

Anh Vũ sau khi hiểu được phương pháp thoát lồng, bèn thưa: “Nay con đã hiểu rồi, cám ơn Ngài chỉ dạy.” Anh Vũ nhìn thấy người chủ từ xa trở về, đợi người chủ đến gần, nó liền sử dụng phương pháp đó. Mỗi ngày người chủ trở về đều đến chơi với con chim yêu quý để tiêu sầu giải muộn, nay nhìn thấy Anh Vũ yêu quý nằm bất động trong lồng liền rất lo lắng, bèn mở cửa lồng đem Anh Vũ để nơi lòng bàn tay: “Ồ! thân chim vẫn còn nóng.” Vì chim giả chết nên khí nóng vẫn còn. Người chủ vừa mở nắm tay ra Anh Vũ liền bay đi! Kế thoát lồng thật hiệu nghiệm.

Chúng ta hiện nay vẫn còn ở trong lồng, đừng nên cho rằng mình đang tự do. Muốn ăn thì ăn, muốn uống thì uống, không giữ gìn quy củ cho là tự do. Ðiều này thật là mê muội vì đã hiểu một cách sai lầm về tự do. Tự do chân chánh là sanh tử tự do, muốn bay lên trời thì lên trời, muốn độn thổ xuống đất thì độn thổ; có được những bản lãnh như thế mới gọi là tự do chân chánh.

Giảng về “Lục Tổ Ðàn Kinh,” tôi vốn giảng không hay, nhưng mà dám giảng. Còn có người giảng rất hay nhưng lại không dám giảng. Tôi giảng không hay nhưng cứ thử giảng, sau này những người giảng hay nên nương theo đó mà giảng tiếp. Sau này quý vị rộng mở trí tuệ thì có thể giảng hay hơn tôi nữa. Giảng hay là học từ cái giảng không hay mà ra.

Pháp sư Thần Quang đánh gãy hai cái răng của Hòa Thượng mặt đen, nhưng thấy Hòa Thượng Ấn Ðộ không có phản ứng gì, bèn cho rằng mình thắng. Nhưng không lâu sau đó quỷ vô thường đến gặp Pháp sư nói:

–Pháp sư, hôm nay mạng sống của ngài đã hết. Vua Diêm La sai tôi đến mời ngài đi.

–Tôi mà cũng phải chết à? Tôi giảng Kinh được trời rãi hoa cúng dường, đất hiện ra hoa sen vàng mà còn không thể dứt vòng sanh tử thì thế gian này còn có ai có thể dứt vòng sanh tử?

–Có chứ! Chính là Ngài Hòa Thượng mặt đen mà bị ông đánh gãy hai cái răng đó. Diêm Vương không những không cai quản được số mạng của Ngài mà mỗi ngày còn phải hướng về Ngài khấu đầu đảnh lễ.

–Quỷ đại ca! Bạn có thể chờ tôi một chút được không? Xin nói với Diêm Vương dùm tôi một tiếng, xin cho tôi một thời gian ngắn để tôi đi học pháp môn liễu đoạn sanh tử của Ngài Hòa Thượng mặt đen.

–Nếu ông thật có lòng thành như vậy thì việc này không phải không có thể linh hoạt giải quyết.

Thần Quang nghe nói rất vui mừng, không kịp mang dép, chân đất đuổi theo Tổ sư Ðạt Ma. Trên đường gặp chim Anh Vũ đã được Ngài Ðạt Ma giúp cho thoát khỏi lồng. Anh Vũ nói cho Thần Quang biết Ngài Ðạt Ma đã giúp nó như thế nào. Thần Quang đi theo sau lưng Tổ Sư, nhưng Tổ không để ý đến. Thần Quang đi theo cho đến núi Hùng Nhĩ ở Lạc Dương (Chùa Thiếu Lâm, Tung Sơn, Hà Nam). Tổ sư Ðạt Ma ở đó diện bích tọa thiền, Ngài ngồi suốt chín năm, Thần Quang cũng quỳ đủ chín năm. Lúc trước, khi tôi giảng đến công án này, có một em bé mười một tuổi nghe rồi rất cao hứng, liền hỏi: “Thần Quang quỳ suốt chín năm, vậy có ăn cơm không?” Tôi trả lời: “Chín năm không ăn cơm thì làm sao có thể sống được? Chính là lúc Tổ sư Ðạt Ma ăn cơm thì Thần Quang cũng ăn cơm, Ðạt Ma ngồi thiền thì Thần Quang quỳ gối, nhưng mà trong sách thì không có ghi việc này.”

Trong thời gian chín năm diện bích của Ðạt Ma có rất nhiều người đến quy y lạy Ngài làm Thầy.

Thần Quang cũng quỳ suốt chín năm. Một ngày kia tuyết lớn, tuyết phủ đến hông. Ðạt Ma nói:

–Tuyết lớn như vậy ông quỳ đó làm gì?

–Bạch Tổ Sư, con muốn liễu đoạn sanh tử. Lúc trước con giảng Kinh không thể liễu đoạn sanh tử, nay kính xin Tổ Sư truyền dạy cho con pháp môn liễu đoạn sanh tử.

–Ngươi nhìn, trời hiện rơi cái gì?

–Bạch Tổ Sư, trời đang rơi tuyết.

–Tuyết có màu gì?

–Bạch Tổ Sư, tuyết màu trắng.

–Ngươi đợi đến lúc nào mà trời rơi tuyết màu đỏ thì lúc đó ta sẽ truyền dạy pháp môn liễu đoạn sanh tử cho ngươi. Nếu trời không rơi tuyết đỏ thì ngươi đừng nên hy vọng ta truyền dạy cho. Ngươi là một kẻ xuất gia hung ác như vậy, dùng xâu chuỗi niệm Phật bằng sắt đánh gãy hai cái răng của ta, ta không báo thù cũng là từ bi lắm rồi, làm sao lại có thể truyền pháp cho ngươi được?

Ðạt Ma đưa ra vấn đề khó khăn như vậy để khảo nghiệm Thần Quang, nhưng Thần Quang đã giải quyết được. Thần Quang nhìn thấy trên tường có một thanh giới đao của người tu đạo, dùng dự bị lúc phạm giới thì đem đao chặt đứt đầu mình chớ không để phạm đến giới thể. Thần Quang liền lấy thanh đao đó xuống chặt đứt cánh tay mình, máu rơi đầy mặt đất đã làm tuyết trắng biến thành tuyết đỏ. Thần Quang liền bụm lấy một nắm tuyết đỏ đem dâng đến trước mặt Ngài Ðạt Ma và nói:

–Bạch Tổ Sư, Ngài xem, đây chính thật là tuyết đỏ.

Ðiều này vốn đã ở trong dự liệu, chỉ vì muốn thử thách chân tâm của Thần Quang, mà Ðạt Ma mới đưa ra vấn đề thử thách này. Vì thế Ngài rất hoan hỷ nói:

–Ta đến Trung Quốc thật không có uổng công, gặp phải ngươi là người chân thành cầu pháp tu hành như vậy, ngay cánh tay của chính mình cũng bỏ đi để cầu pháp, quả là có tâm thành.

Sau đó Ngài Ðạt Ma mới đem pháp môn dĩ tâm ấn tâm, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật truyền cho Thần Quang. Sau khi Ngài Ðạt Ma giảng xong pháp môn, Thần Quang liền sanh tâm phân biệt nói:

–Con chặt đứt cánh tay, rất đau nhức, tâm cũng rất nhức nhối, xin Tổ Sư an tâm cho con.

–Ðem tâm của ông ra đây, ta mới có thể giúp ông an tâm!

Thần Quang bèn đi tìm tâm của mình, Ðông Tây Nam Bắc, trên trời dưới đất, tìm hoài mà không thấy tâm của mình. Thần Quang nói:

–Con tìm không ra.

–Ta đã an tâm cho ông rồi.

Thần Quang lập tức hoát nhiên đại ngộ. Vì thế Thần Quang nói:

Vạn pháp quy nhứt, nhứt quy hà xứ ? 

Thần Quang bất minh cản Ðạt Ma. 

Hùng Nhĩ sơn tiền quỵ cửu tái,

Chỉ cầu nhứt điểm đóa Diêm La.

Vạn pháp quy nhứt, vậy nhứt quy về đâu? Thần Quang không rõ nghĩa lý của chữ “hợp,” vì thế đuổi theo Ðạt Ma, tại núi Hùng Nhĩ quỳ suốt chín năm, chỉ cầu Tổ Sư chỉ điểm cách liễu đoạn sanh tử, thoát khỏi Diêm Vương.

Thần Quang sau khi được Tổ sư Ðạt Ma truyền pháp, liền đổi tên là Huệ Khả, tức là trí huệ đầy đủ, thiện căn viên mãn. Ðại sư Huệ Khả hỏi Tổ sư Ðạt Ma:

–Bạch Tổ Sư, ở Ấn Ðộ Ngài có đồ đệ đắc pháp chưa? Ở Ấn Ðộ, khi truyền pháp có đem ca sa, y, bát truyền cho đồ đệ để làm bằng cớ không?

–Không có, ở Ấn Ðộ ta truyền pháp không có đem ca sa y bát làm vật y cứ, vì tâm người Ấn Ðộ rất thẳng thắn, tu hành đắc đạo liền nói đắc đạo, chỉ cần có người chứng minh đắc đạo là đủ. Nếu chưa được ấn chứng, họ sẽ không nói là: tôi đã đắc đạo chứng quả, tôi đã chứng A La Hán, hoặc tôi đã là Bồ Tát. Người Trung Quốc không giống như vậy. Ở Trung Quốc, người có căn tánh Ðại thừa cũng rất nhiều, nhưng người nói vọng ngữ cũng không ít, tu hành chưa thành tựu đạo nghiệp mà khoe khoang đã thành; chưa chứng quả cũng tự nói đã chứng quả, vì thế cần phải dùng ca sa y bát để chứng minh. Cho nên nay ta truyền ca sa y bát cho ông, ông nên cẩn thận giữ gìn.

Tổ sư Ðạt Ma đến Trung Quốc, từng bị đầu độc sáu lần, vì đương thời Bắc Ngụy có hai vị Pháp sư muốn hại Ngài, một vị là Bồ Ðề Lưu Chi, một vị là Luật sư Quang Thống. Họ rất đố kỵ Ngài, đã làm ra vài món đồ chay, trong đó có chất độc cực mạnh đem đến cúng dường Ngài. Ngài biết trong thức ăn có độc nhưng vẫn ăn một cách bình thường. Ăn xong kêu người đem một cái mâm lại, Ngài mửa vài mâm một đống rắn. Thì ra chất độc đã biến thành rắn. Bồ Ðề Lưu Chi thấy độc không thể giết được Ngài, không hiểu vì duyên cớ gì. Vì thế lần thứ hai bỏ liều lượng thuốc độc gấp đôi. Ðạt Ma cũng ung dung thọ dụng, ăn xong liền ngồi tại một tảng đá lớn, phun thuốc độc ra, sức mạnh của thuốc độc đã làm bể tan tảng đá. Sau đó liên tiếp thêm bốn lần hạ độc nữa nhưng đều không thể hại được Ngài.

Một ngày nọ, Tổ sư Ðạt Ma nói với Ðại sư Huệ Khả rằng:

–Ta đến Trung Quốc, để độ chúng sanh có căn tánh Ðại thừa. Nay pháp đã truyền, ta đã có người kế thừa, giờ viên tịch cũng đã đến.

Sau khi Tổ sư Ðạt Ma viên tịch, chúng đệ tử dùng quan tài bọc xác Ngài đem chôn. Nhưng lúc ấy, Bắc Ngụy có một sứ quan tên là Tống Vân, tại vùng Thông Lãnh, trên đường đi gặp Tổ sư Ðạt Ma. Tổ Sư, tay cầm dép, nói với Tống Vân rằng:

–Quốc Vương nước ông hôm nay băng hà, ông nên mau mau trở về.

Tống Vân hỏi:

–Ðại sư, Ngài đi đâu?

–Ta trở về Ấn Ðộ.

–Ðại sư, Ngài đã truyền pháp cho ai?

–Bốn mươi năm sau tại Trung Quốc.

Sau đó Tống Vân trở về đến Bắc Ngụy đem việc này kể cho mọi người nghe, nhưng không ai tin. Vì thế mọi người mới quật mồ của Tổ sư Ðạt Ma ra xem, trong quan tài chỉ còn chiếc dép, ngoài ra không có cái gì khác. Như vậy Tổ sư Ðạt Ma đi đâu? Mọi người cũng không ai biết, sợ rằng hôm nay đã đến Mỹ quốc không biết chừng, vì Ngài có thể thiên biến vạn hóa, cho nên không ai có thể nhận ra được Ngài. Khi đến Trung Quốc, Ngài nói Ngài đã một trăm năm mươi tuổi, nhưng lúc Ngài ra đi vẫn là một trăm năm mươi tuổi, lịch sử cũng không có cách nào kiểm chứng.

Lúc Tổ sư Ðạt Ma sắp viên tịch, Ngài nói:

–Ta đến Trung Quốc truyền pháp cho ba người, Ðại sư Huệ Khả được phần tủy, Thiền sư Ðạo Dục được phần xương, Tỳ kheo ni Ðạo Tế (tức Tỳ kheo ni Tổng Trì) được phần thịt.

Tỳ kheo ni Ðạo Tế thuộc lòng Kinh Pháp Hoa, sau khi viên tịch từ trong miệng nở ra đóa hoa sen màu xanh. Vì Tổ sư Ðạt Ma đã đem thân thể của Ngài mà phân chia cho các người khác, cho nên ở Mỹ quốc quý vị không thể tìm ra được Ngài.

Nhị Tổ Huệ Khả, họ Cơ, tên Thần Quang, người thời Bắc Tề. Lúc Ngài giáng sanh, cha mẹ Ngài nhìn thấy Kim Giáp Thần Nhân, hộ pháp Vi Ðà Bồ Tát, phóng đại hào quang bảo hộ vị Tổ Sư mới ra đời này, cho nên tên của Ngài gọi là Thần Quang. Ngài thiên tánh thông minh, trí nhớ rất dai, cho nên được người khen ngợi: Mục hạ thập hàng tự, nhĩ thính bách nhân âm. Không phải vừa nhìn là có thể xem được mười hàng chữ, mà là người thường xem một hàng chữ, thì Ngài có thể xem mười hàng chữ, rất nhanh như vậy; một trăm người cùng nói chuyện cùng một lúc, Ngài đều nghe rất rõ ràng, năng lực phân biệt rất nhạy.

Nhưng vị Tổ Sư này rất nóng tính, nói chuyện không hợp liền muốn đánh người. Bốn mươi năm về trước, ngay lúc giảng kinh thuyết pháp cũng mang xâu chuỗi bằng sắt để đi hành hiệp giúp người. Vì thế lúc gặp Tổ sư Ðạt Ma đã dùng xâu chuỗi đánh Ngài Ðạt Ma, kết quả phải quỳ chín năm, phải tự chặt đứt một cánh tay của mình. Quý vị nghĩ xem nếu không nóng tính như vậy làm sao có thể tự mình chặt đứt cánh tay, mà không cảm thấy đau nhức, đợi đến lúc đắc pháp xong mới cảm thấy nhức nhối. Ðiều này bởi vì Ngài rất nóng tính, nếu không nóng tính, chặt đứt cánh tay cũng không cảm thấy đau nhức. Ðau nhức chính là phiền não.

Tổ sư Huệ Khả lúc bốn mươi tuổi gặp Sơ Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma, sau khi đắc pháp bèn ẩn trốn bốn mươi năm, vì đương thời Bồ Ðề Lưu Chi và Luật sư Quang Thống, chuyên gây khó dễ với các đệ tử của Tổ sư Ðạt Ma, thậm chí gặp là muốn giết. Bồ Ðề Ðạt Ma đã bị hai vị ấy dùng thuốc đầu độc, huống chi là đệ tử của Ngài! Ðại sư Huệ Khả nghe theo lời Thầy dạy nên đã ẩn núp, trốn tránh những người gây khó dễ này. Cho đến lúc Ðại sư Huệ Khả tám mươi tuổi, Ngài mới bắt đầu hoằng dương Phật pháp, giáo hóa chúng sanh. Cho đến khi gặp Tam Tổ Tăng Xán, sau khi phú pháp, dặn dò Tam Tổ phải cẩn thận bảo hộ giữ gìn y bát làm chứng cứ, và cần phải ẩn trốn để tránh những sự tật đố và bức hại.

Ðại sư Huệ Khả lúc đó giả dạng điên khùng, nhưng khi gặp chúng sanh hữu duyên, Ngài liền phổ độ giáo hóa họ. Tuy Ngài giả dạng điên khùng, nhưng vì có duyên với chúng sanh cho nên có rất nhiều người tin tưởng Ngài. Tuy Ngài đã giả dạng điên khùng, nhưng bè nhóm của Bồ Ðề Lưu Chi vẫn đem lòng ganh ghét, bèn đi đến quan phủ vu cáo Ðại sư Huệ Khả, nói Ngài là yêu quái mê hoặc dân chúng, để dân chúng sùng bái. Hoàng đế đương thời lại cả tin bèn hạ thánh chỉ, ra lệnh quan phủ bắt Huệ Khả thẩm vấn:

–Ngươi là người hay là yêu quái?

Huệ Khả Ðại sư trả lời:

–Tôi là yêu quái.

Viên quan thẩm vấn vừa nghe Ngài nói như vậy, liền biết Ngài bị oan ức, nên hỏi lại:

–Ông nên nói cho rõ ràng, ông là người hay yêu quái?

–Tôi thiệt đúng là yêu quái.

Vì quốc pháp không cho phép yêu quái mê hoặc thế gian, cho nên đành phải tâu lên Hoàng đế, đem Ngài đi chém để răn chúng. Ôi, thế gian này có chân lý không vậy! Ngài là Tổ Sư đời thứ hai mà quan phủ nói Ngài là yêu tinh.

Ðại sư Huệ Khả rơi nước mắt, nói với đồ chúng rằng:

–Quả báo này ta phải thọ thôi!

Nhị Tổ rất nóng tính, cái gì cũng không sợ, nếu sợ chết Ngài đã không tự nhận là yêu quái. Ngài cảm thấy thương tâm là vì Phật Pháp lúc Ngài còn tại thế, chưa được người ta hiểu biết rộng rãi. Ngài nói Phật Pháp đến thời Tứ Tổ sẽ rơi vào danh tướng, có danh có tướng, liền chấp vào danh tướng. Khóc xong Ngài liền nói với tên đao phủ:

–Ngươi lại giết ta đi!

Ðao phủ cầm đao chém đầu Ngài nhưng lạ thay lại không có máu tuôn ra, chỉ tuôn ra dòng nước trắng như sữa. Quý vị nghĩ đây có phần nào hoang đường không? Quý vị tin cũng được, mà không tin cũng được. Quý vị tin, tôi có thể dùng lý do rất đơn giản để giải thích. Ðây là lúc người tu hành đạt đến thể thuần dương, tất cả máu huyết trong người đều biến thành màu trắng. Quý vị nói không tin, đương nhiên quý vị đã không tin rồi! Nếu quý vị tin, quý vị cũng đã thành Tổ Sư thứ hai rồi.

Viên quan chấp hành nhìn thấy tình hình như thế bèn y như sự thật tâu lên hoàng đế:

–Người đó thiệt là yêu quái, tôi đã giết ông ta nhưng không thấy máu chảy ra, chỉ chảy ra dòng nước trắng như sữa, nhưng gương mặt lúc chết giống như lúc sống, điều này chứng minh ông ta chính thiệt là yêu quái.

Nhưng Hoàng đế biết rằng đã giết lầm một bậc Thánh nhân, vì ở Ấn Ðộ Tổ thứ hai mươi bốn là Tôn giả Sư Tử, khi bị chặt đầu thì không chảy máu mà chỉ chảy nước sữa màu trắng. Ðiều này chứng minh nhân thể thuần dương vô âm, vì vô lậu không có vô minh nên âm đều biến thành dương.

Có người hỏi:

–Bạch thầy, vừa rồi thầy nói Ðại sư Huệ Khả tính rất nóng, làm sao không có vô minh?

Cần biết rõ, tính nóng của Ðại sư Huệ Khả là tính nóng của Ðại Nhẫn, Ðại Dũng, Ðại Trí, Ðại Huệ, hoàn toàn không giống tính nóng như bom nổ của quý vị và tôi. Quý vị cần nghe cho rõ ràng, tính nóng của mỗi người không giống nhau. Tính nóng của trí huệ là có thể nhẫn với nhân quả tuần hoàn, không có làm ngược lại với đạo lý.

Hoàng đế sau khi biết Ðại sư Huệ Khả là vị nhục thân Bồ Tát, bèn sanh lòng sám hối: “Có một vị Bồ Tát ở nước ta, mà Trẫm không biết bảo hộ lại đem Ngài giết đi”. Bèn ra lệnh văn võ đại thần đều phải quy y Nhị Tổ Huệ Khả. Tuy Ngài chết đi nhưng vẫn có thể thâu được một số đệ tử như thế.

Ðời Tùy, Tam Tổ Tăng Xán, không ai biết thân thế tánh danh của Ngài. Lúc Ngài gặp Nhị Tổ, toàn thân Ngài đều là ghẻ lác giống như người mắc bệnh phong cùi. Nhị Tổ hỏi:

–Ông từ đâu đến đây? Ðến đây làm gì?

–Con đến quy y Hòa Thượng cầu học Phật pháp.

–Ông mắc bệnh như vậy thật không thanh tịnh, làm sao có thể học được Phật pháp?

Tam Tổ vốn rất thông minh, còn thông minh hơn Nhị Tổ nữa, bèn thưa:

–Con là người có bệnh, mà Ngài là một bậc Hòa Thượng, nhưng tâm Ngài và con không có gì sai khác.

Nhị Tổ nghe nói liền biết người này không phải tầm thường, liền nói:

–Không cần nói nữa, ta đã biết rồi.

Nói xong bèn truyền pháp cho Tam Tổ và dạy Tam Tổ phải ẩn trốn để tránh sự sát hại của dư đảng Bồ Ðề Lưu Chi:

–Không nên để cho người biết ta đã truyền pháp cho ông.

Vì thế Tam Tổ Tăng Xán học cách của Nhị Tổ, giả dạng điên khùng, âm thầm đi các nơi giáo hóa chúng sanh. Lúc đó gặp lúc Bắc Chu Vũ Ðế tiêu diệt Phật pháp nên Ngài ẩn cư trong núi hơn mười mấy năm. Trên núi vốn có rất nhiều sài lang hổ báo, nhưng khi Ngài vừa đến ở đây các loài động vật đó đều bỏ đi hết.

Sau khi truyền pháp cho Tứ Tổ Ðạo Tín, Tam Tổ bèn thiết Thiên Tăng Trai (thỉnh một ngàn vị Tăng thọ trai cúng dường). Trai đàn hoàn mãn, Ngài bèn nói với đại chúng:

–Các ông cho rằng kiết già ngồi chết là phương pháp hay nhứt, nay ta cho các ông xem một cách chết đặc biệt. Sự sanh tử của tôi rất tự do, không bị hạn chế của thời gian.

Nói xong, tay trái cầm lấy cành cây, chân giơ lên như thế mà an nhiên thị tịch. Lúc Ngài viên tịch, là bao nhiêu tuổi, là người ở địa phương nào, thân thế ra sao, đều không ai biết.

Có người nghe xong rất kinh sợ nghĩ rằng:

–Vị Tổ thứ nhất là Bồ Ðề Ðạt Ma bị đầu độc chết, vị Tổ thứ hai bị giết chết, vị Tổ thứ ba thì nắm lấy cành cây mà thác. Tôi thiệt không dám làm Tổ Sư, nguy hiểm quá!

Quý vị muốn làm cũng làm không được, và không có khả năng làm, vì quý vị sợ chết. Làm Tổ Sư có nghĩa là không sợ chết, xem tử và sanh đều giống nhau không có gì sai khác, cho nên nói rằng “Phiền não tức Bồ đề, sanh tử tức Niết Bàn. Dạo chơi nhân gian, giáo hóa chúng sanh.” Ðó mới có thể làm Tổ Sư. Quý vị nhát gan như thế, có lòng sợ sệt, ngay làm đồ đệ của Tổ Sư cũng còn không được. Tổ Sư đều không sợ khổ, không sợ tai nạn, không sợ sanh, không sợ chết. Quý vị không sợ chết thì mới có thể làm Tổ Sư. Nay nếu ai không sợ chết, tôi liền phong người đó là Tổ Sư.

Tứ Tổ Ðạo Tín, lúc nhỏ theo Tam Tổ Tăng Xán xuất gia học đạo, sáu mươi năm ngồi không nằm, đôi mắt thường nhắm, dụng công biện đạo, không phải Ngài ngủ. Khi Ngài mở mắt, người thường đều giật mình kinh sợ giống như bị động đất. Tại sao vậy? Không ai biết được. Nhưng đó chính là uy đức của Ngài.

Ðường triều Trinh Quán năm thứ mười bảy (công nguyên năm 644), Thái Tông phái sứ thần mời Ngài đến hoàng cung để cúng dường, lễ Ngài làm thầy. Nếu như Pháp sư đời nay, Hoàng đế không mời cũng tìm cách gặp Hoàng đế, dựa dẫm vào, huống chi nay được lễ bái cung thỉnh? Nhưng Tứ Tổ đã từ chối, lựa lời nói:

–Tôi niên kỷ đã lớn, đi cũng đi không nổi. Tuổi già sức yếu, cho nên không thể đi đến Kinh thành được.

Sứ thần trở về tâu lên Hoàng đế, Hoàng đế nói:

–Ngươi quay về nói với Tứ Tổ, bất luận là Ngài lớn tuổi đến đâu đi nữa, ta vẫn mời Ngài vào hoàng cung cúng dường.

Sứ giả đành đi đến chỗ Tứ Tổ, thưa với Ngài rằng:

–Hoàng thượng nói bất luận là Ngài già yếu đến đâu, cũng dùng kiệu để rước Ngài vào hoàng cung để cúng dường.

Ngày xưa không có máy bay, không giống như bây giờ giao thông rất tiện lợi. Tứ Tổ trả lời:

–Không được, tôi đã quá già, nếu như ông nhất định muốn tôi đi, thì chặt đầu tôi mà đem đi. Chớ tâm của tôi dù thế nào đi nữa cũng nhất quyết không đi.

Sứ giả không có cách nào, chỉ đành trở về đem sự việc như thế báo cáo hoàng đế:

–Vị Hòa Thượng đó thật là kỳ lạ, cũng không biết nhân tình thế thái. Ông ta nói dù chặt đầu ông ta, ông ta cũng không đến gặp bệ hạ.

–Ðược, khanh hãy đi đem đầu ông ta mang về đây.

Vua dùng một cái hộp, trong hộp có đựng một thanh gươm bén giao cho sứ thần và nói:

–Cầm lấy thanh gươm này, chặt đầu ông ta mang về đây.

Nhưng lúc sắp khởi hành, Hoàng đế lại nói với sứ thần:

–Dù thế nào đi nữa khanh cũng không được làm tổn thương đến vị Hòa Thượng đó.

Sứ thần hiểu rõ thâm ý của Hoàng đế, liền quay trở lại đến chỗ của Tứ Tổ và nói:

–Lão Hòa Thượng! Rốt cuộc Ngài có đi hay không? Nếu không đi, thanh gươm này sẽ dùng để chặt đầu Ngài, đem đầu Ngài đi gặp hoàng thượng.

Tổ sư Ðạo Tín nói:

–Tốt lắm! đầu của tôi có thể gặp hoàng thượng, đó là vinh dự của tôi, mời Ngài lại chặt đầu của tôi đi!

Sứ thần cầm thanh gươm làm điệu bộ như chặt đầu Tứ Tổ. Nhưng nhìn thấy Tứ Tổ quả nhiên giơ đầu ra chịu chém không chút sợ sệt, bèn bỏ gươm xuống, cất lại vào hộp. Tổ sư Ðạo Tín nhắm mắt chờ sứ thần chém đầu, nhưng chờ rất lâu mà không thấy động tĩnh, bèn tức giận la lên:

–Tại sao ngươi không chặt đầu ta.

Tình hình lúc này cũng không khác gì trường hợp của Nhị Tổ. Sứ thần nói:

–Nhà Vua sai tôi chỉ được nói như vậy, nhưng không được làm tổn hại đến Ngài.

Tổ sư Ðạo Tín nghe xong cười lớn nói:

–Nay ông đã biết, trên thế gian thiệt có người không sợ chết!

Tứ Tổ họ Tư Mã, xuất gia pháp danh Ðạo Tín, là một giòng họ có danh vọng thời bấy giờ. Từ nhỏ xuất gia học đạo, tại thế bảy mươi hai năm, sáu mươi năm lưng không dính chiếu, đã thành tựu cảnh giới bất khả tư nghì. Có lần Ngài đang ở trên núi tu đạo, có một đám giặc cướp bao vây thành khoảng hơn một trăm ngày, lương thực trong thành cùng với nước uống đều dứt tuyệt, khô kiệt. Ðại sư nhìn thấy tình hình như thế, bèn đến trong thành dạy tất cả quan quân và dân chúng tụng “Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Ða.” Niệm không bao lâu, giặc cướp bèn rút lui, giếng nước đang khô cạn tự nhiên tràn ra những dòng nước ngọt, đây là một cảnh giới cảm ứng.

Lúc đó, Ngài dùng Phật nhãn quan sát, thấy núi Phá Ðầu ở Hà Bắc, có mây tía xoay quanh, bao trùm cả khu núi đó. Những vầng mây tía này là điều báo điềm lành, vì thế Ngài bèn đến trú ngụ tại ngọn núi này, và đổi tên núi là Song Phong Sơn.

Ngài giáo hóa những chúng sanh cang cường khó độ, mong cho họ bỏ ác làm lành, nhưng họ cứ y theo đường cũ tiếp tục làm ác, không nghe theo lời giáo hóa. Tứ Tổ nhẫn nại áp dụng các loại pháp môn phương tiện quyền xảo, khiến cho họ bỏ tà quy chánh. Trong hơn bốn mươi năm hoằng dương Phật pháp, Ngài giáo hóa chúng sanh nhiều vô số.

Một ngày nọ Tứ Tổ nói với đồ chúng rằng:

–Các ông phải làm cho ta một cái tháp, ta sắp đi rồi.

Khi Bảo tháp vừa xây xong, đời Ðường Vĩnh Huy năm thứ hai (công nguyên năm 651), ngày hai mươi bốn tháng chín nhuần, Tứ Tổ không bệnh mà viên tịch. Ðồ đệ của Ngài liền đặt Ngài vào trong Bảo tháp làm bằng đá. Bảo tháp vốn dùng khóa sắt khóa cẩn thận. Một năm sau đó, cửa tháp tự động mở ra, đồ chúng thấy Tứ Tổ vẫn đoan nhiên chánh tọa bên trong, sinh động giống như lúc sống, nhưng thịt thì đã khô. Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, nhìn thấy tướng hảo của Tứ Tổ như vậy rất hoan hỷ. Ngài bèn dùng vải dầu phết vàng, giữ gìn nhục thể của Tứ Tổ. Cho đến ngày nay nhục thể của Tứ Tổ vẫn còn lưu lại cho người đời lễ bái chiêm ngưỡng cúng dường.

Ðường triều Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, họ Châu, là người Hoàng Mai (huyện Hoàng Mai nay thuộc tỉnh Hồ Bắc, núi Song Phong thuộc huyện Hoàng Mai), bảy tuổi xuất gia, bái Tứ Tổ làm Thầy, mười ba tuổi thọ Sa di giới. Tánh tình hồn hậu ít nói, tuy các bậc đồng học nhiều lần ăn hiếp khinh thường, Ngài vẫn bình thản, xem như không có gì xảy ra. Ban ngày theo chúng công quả, việc gì cũng làm; ban đêm ngồi thiền nhiếp trì thân tâm, không nói chuyện thị phi, đi theo Tứ Tổ ba mươi năm tu học Phật pháp. Ngũ Tổ thân cao tám thước, tướng mạo kỳ đặc. Ngài trú trên ngọn núi Bằng Mậu, phía đông của núi Song Phong, vì thế đương thời gọi là “Ðông Sơn pháp môn.” Có lần nhìn thấy một đám giặc cướp bao vây thành Hồ Bắc, ngăn chận tất cả đường xá giao thông, Ngũ Tổ từ Ðông Sơn đi vào trong thành. Lúc bọn giặc cướp trông thấy Ngài sợ hãi không còn hồn vía. Vì đám giặc cướp thấy không phải là Tổ Sư mà là vị Kim Giáp Kim Cang Vương Bồ Tát, tay cầm bảo khí, oai đức lẫm liệt, hào quang sáng ngời. Giặc cướp tứ tán rút lui, nhờ đó mà thành được giải vây.

Ðại sư làm sao có thể biến hiện thân Kim Cang Vương Bồ Tát? Vì Ngũ Tổ là bậc chân tu, lại thường hay tụng chú Lăng Nghiêm. Chú Lăng Nghiêm nói: “Nếu ai nhứt tâm tụng trì chú Lăng Nghiêm, thì sẽ được tám vạn bốn ngàn Kim Cang Tạng Bồ Tát bảo hộ trong bất cứ mọi trường hợp nguy hiểm tai nạn nào.” Vua Cao Tông đời Ðường, nhiều lần hạ chiếu mời Ðại sư đến hoàng cung cúng dường, nhưng đều bị Ðại sư khéo léo từ chối. Sau cùng Hoàng đế liền cho người mang nhiều lễ vật, thuốc men quý giá đến cúng dường Ngũ Tổ.

Ðường Hàm Hanh năm thứ năm (công nguyên năm 674), Ngũ Tổ nói với đệ tử rằng:

–Các ông làm cho ta một ngôi tháp, ta sắp đi rồi.

Tháng sau vào ngày mười bốn, Ngài lại hỏi:

–Tháp đã chuẩn bị xong chưa?

Chúng đệ tử trả lời:

–Bạch Ðại sư, tháp đã xây xong rồi.

–Nhiều năm qua ta giáo hóa chúng sanh, độ hóa người có duyên, và phú pháp cho Lục Tổ Huệ Năng. Nay các ông có mười người là bậc pháp tự, hãy kiến lập đạo tràng, hộ trì Phật giáo, hoằng dương chánh pháp, giáo hóa chúng sanh.

Mười vị đại đệ tử tức là Thần Tú, Trí Thâm, Huệ Tạng, Huyền Ước, Lão An, Pháp Như, Trí Ðức, Nghĩa Phương, Huệ Năng và Lưu Chủ Bộ. Ngũ Tổ đưa tiễn mười vị này đi khắp các nơi giáo hóa chúng sanh.

Không lâu, Ngũ Tổ an tọa mà nhập Niết Bàn. Suốt bảy mươi bốn năm, rộng mở giáo pháp, đồ chúng rất đông, truyền y bát cho Ðại sư Huệ Năng.

Trên đây đã lược thuật Tây Thiên Tổ thứ hai mươi tám Bồ Ðề Ðạt Ma, đã đem pháp truyền vào phương Ðông, là Sơ Tổ Thiền tông Trung Quốc. Ðời đời nối tiếp, nhất phái đơn truyền, bẩm thừa chánh pháp nhãn tạng của Ðức Thích Ca Mâu Ni, cho đến sự tích của Ðức Lục Tổ Huệ Năng.

Lục Tổ Pháp Bảo Ðàn Kinh lược tự,” do Pháp Hải Thiền Sư, đệ tử đắc pháp của Lục Tổ, biên soạn, ghi lại sự tích sanh bình của Lục Tổ.

Ðại sư tên là Huệ Năng. Thân phụ của Ngài họ Lư, húy Hạnh Thao, thân mẫu của Ngài là Lý thị.

Ngài sanh vào đời Ðường, niên hiệu Trinh Quán, năm thứ mười hai, nhằm năm Mậu Tuất, tháng hai, ngày mùng tám, giờ tý.

Lúc sanh Ngài có một đạo hào quang chiếu lên hư không, lại có mùi thơm xông khắp cả nhà.

Trời vừa rựng sáng, có hai vị tăng lạ mặt đến xin viếng và gọi thân phụ Ngài mà nói rằng: “Nhơn có đứa nhỏ sanh ngày đêm qua, nên chúng tôi đến đặt tên giùm. Nên đặt trên chữ Huệ, dưới chữ Năng.”

Thân phụ Ngài hỏi: “Sao gọi là Huệ Năng?”

Một vị tăng đáp: “Huệ nghĩa là đem pháp huệ mà thí cho chúng sanh, Năng nghĩa là làm được việc Phật.”

Nói rồi hai vị tăng liền đi ra, chẳng biết đi xứ nào.

Ðại sư khi lọt lòng mẹ, không bú sữa, ban đêm có thần nhơn rưới nước cam lồ cho Ngài.

Giảng:

Ðại sư tên Huệ Năng, cha tên Lư Hạnh Thao, Mẹ họ Lý. Ðại sư sanh vào đời Ðường Trinh Quán năm thứ mười hai (công nguyên năm 638), giờ Tý mùng tám tháng hai năm Mậu Tuất. Lúc Ngài ra đời hào quang chiếu sáng hư không, giống như Phật đỉnh phóng quang, hương lạ đầy nhà. Sáng sớm ngày hôm sau có hai vị dị Tăng đến viếng thăm nói:

–Ðứa trẻ ra đời tối hôm qua cùng với Phật pháp có duyên, vì thế chúng tôi đến đây xin được đặt tên cho đứa bé, thượng Huệ hạ Năng là tên.

Cha của Ngài không hiểu bèn hỏi:

–Tại sao gọi là Huệ Năng?

Tăng đáp:

–”Huệ” là dùng Phật pháp huệ thí chúng sanh, “Năng” là có thể hoằng dương Phật pháp.

Nói xong liền đi mất, không biết đi đâu. Huệ Năng sinh ra, không uống sữa mẹ mà tự lớn. Theo truyền thuyết, mỗi đêm đều có thần nhân đến cho uống nước cam lồ.

Ðến lớn hai mươi bốn tuổi, Ngài nhờ nghe Kinh mà ngộ đạo. Ngài đến viếng Ngũ Tổ Hoàng Mai mà cầu ấn khả.

Giảng:

Một ngày nọ, Huệ Năng đang bán củi, nghe một người khách tụng Kinh Kim Cang, nghe đến câu “ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm,” liền lập tức khai ngộ. Hiện nay có nhiều người đã từng nghe qua Kinh Kim Cang, nhưng không có ai khai ngộ. Tôi hy vọng ở Tây phương, có người nghe đến câu “ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm” có thể hiểu rõ nghĩa lý mà lập tức khai ngộ.

Sau khi khai ngộ, Ðại sư không có đi khắp nơi rêu rao: “Xem nè! Tôi đã khai ngộ rồi.” Ngài không giống như một số người hiện nay, chỉ mới hiểu có một chút kiến thức nông cạn về Phật pháp, bèn đi khắp nơi khoe khoang mình đã khai ngộ. Người xưa dù đã khai ngộ, cũng không dám khinh suất nói rằng mình đã khai ngộ, hà huống những người vốn chưa khai ngộ, càng không nên đi khắp nơi tuyên dương khoe khoang như vậy. Nếu đã khai ngộ, cần phải đi tìm một vị Thiện tri thức mắt sáng (minh nhãn) để chứng minh. Ðó chính là nguyên nhân mà Lục Tổ đi Hoàng Mai cầu Ngũ Tổ ấn chứng.

Từ xưa đến nay, người giác ngộ không bao giờ dám tự mình ấn chứng mình, không giống như người bây giờ, chưa ngộ nói ngộ, phạm đại vọng ngữ. Cần phải biết ngộ và chưa ngộ sai khác một trời một vực, làm sao có thể chân ngụy không phân biệt được, lấy giả thay thật, mắt cá lẫn vào hạt châu, nhắm mắt nói mò ư?

Hiện nay lại có một số thanh niên vô ý thức, sau khi hút ma túy, LSD, say túy lúy, mất hết trí khôn. Lúc đó, ma vương mê hoặc thế gian, giả làm Thiện tri thức mà chứng minh cho họ rằng:

–Ðúng rồi, ngươi đã đạt đến cảnh giới không, nhưng mà ngươi không thể nào ở trong hư không, cần phải trở về chỗ tôi, tôi có phòng ốc, có nhà cửa, lại có nơi nghỉ mát, thoải mái tiện nghi!

Những người này nghe xong liền bái ma vương làm thầy, thật ra mấy người ác tri thức đó, vốn cũng không biết mình là thiệt hay giả, cho nên có câu: “thầy trò cùng mê mờ, người mù dắt người đui” vậy.

Cho nên chúng ta cần phải dùng kinh điển để chứng minh. Kinh điển hoàn toàn không có nói người ngu đó đang ở trong hư không xây dựng phòng ốc. Dù hiện nay hỏa tiễn có thể bay đến mặt trăng, nhưng trong không trung thì không thể nào kiến lập lầu các được. Làm sao có thể lập luận ấu trĩ như vậy?

Hiện nay chúng ta rất bận rộn, sáng sớm bốn giờ đã thức dậy tụng kinh. Chúng ta ở trên mặt đất này bận rộn xây dựng nhà cửa, nhưng không thể xây dựng được ở hư không. Tại sao vậy? Tại vì chúng ta đang ở trên mặt đất, cho nên nhà cửa cũng cần phải xây dựng trên mặt đất. Chúng ta quên mất thân này, mà tạo thân Kim Cang, thân này giống như nhà ở của chúng ta, rồi một ngày nào đó bị hư hoại đi. Nay từ sớm đến tối chúng ta bận rộn nung đúc, rèn luyện, đến cuối cùng có thể tu hành đạt đến thân Kim Cang bất hoại. Sau khi thành tựu thân Kim Cang bất hoại thì có thể tùy tâm sở dục mà đi vào hư không, trên có thể lên đến trời, dưới có thể đi xuống đất hoặc đến Long cung cũng được. Không cần hộ chiếu hoặc hành trình cũng có thể đi đến đích, phi hành tự tại khắp nơi, nhưng đầu tiên quý vị cần phải tu cái thân bất hoại mới có thể đạt cảnh giới này.

Ngũ Tổ xem Ðại sư, nhận ra Ngài có tài đức xứng đáng, nên phú chúc y bát và dạy Ngài nối ngôi Tổ sư. Lúc ấy nhằm đời Ðường Cao Tông, ngươn niên Long Sóc, năm Tân Dậu.

Ngài qua phương Nam ẩn dật mười sáu năm.

Giảng: 

Sau khi rời khỏi Hoàng Mai, Lục Tổ không có một chỗ trú ngụ an toàn. Vì đồ đệ của Thần Tú và các giáo phái khác muốn hãm hại Ngài, vì thế Ðại sư lánh nạn trong nhóm thợ săn suốt mười sáu năm. Trong thời gian này không ai biết Ngài là Lục Tổ. Ngài một mặt dụng công tu thiền định đồng thời làm công việc canh giữ lưới cho đám người thợ săn. Nếu thấy trong lưới có chim thú, Ngài đều tìm đủ mọi cách phóng sanh chúng. Lúc này Ngài có đủ thời gian để tu hành viên mãn công phu của mình mà không bị ai quấy rầy.

Nếu quý vị không chân chánh tu hành thì mọi chuyện đều êm thuận. Một khi phát tâm tu hành, thì ma chướng từ bốn phương tám hướng kéo đến, và tất cả các hiện tượng không tưởng tượng được đều có thể phát sanh.

Trong thời gian mười sáu năm cùng sống với nhóm người thợ săn, Lục Tổ được an ổn. Ðây là một sự ẩn náu một cách sáng suốt – không cầu danh, không cầu lợi, không gây thiệt hại cho người, mà là chân chánh dụng công tu hành.

Ðến ngày mùng tám, tháng giêng, năm Bính Tý, đời Ðường Cao Tông nguyên niên Nghi Phụng, Ngài cùng Ấn Tông Pháp sư luận bàn đạo lý sâu mầu. Ấn Tông Pháp sư khế ngộ tông chỉ của Ðại sư.

Giảng:

Hai người đã thảo luận nhiều lần, đưa ra cách nhìn của mình về đạo lý. Thế thì ai hỏi ai? Ðó là Pháp sư Ấn Tông hỏi Lục Tổ Ðại sư vậy. Lục Tổ đã giải quyết vấn đề tranh luận phướng động hay gió động, thật ra là tâm động. Pháp sư Ấn Tông rất kinh ngạc nghe một người tại gia mà có thể nói ra đạo lý thâm sâu như vậy bèn lập tức rời pháp tòa cung thỉnh Lục Tổ vào trong liêu của mình đàm luận. Ấn Tông Pháp sư hỏi:

–Ông từ đâu đến, tên họ là gì ?

Pháp sư Ấn Tông sau khi biết vị tại gia này là đệ tử đắc pháp của Ngũ Tổ, là người đã được Ngũ Tổ truyền cho y bát, Ngài lập tức đảnh lễ Lục Tổ. Sau đó cầu hỏi những đạo lý nhiệm mầu sâu sắc trong kinh sách, thảo luận về gió động phướng động. Sau khi cùng với Lục Tổ luận bàn xong, Ðại sư Ấn Tông mới hiểu rõ và ngộ được nghĩa lý của Thiền tông.

Ngày rằm tháng ấy, Ấn Tông Pháp sư nhóm hết tứ chúng mà xuống tóc cho Ðại sư, rồi qua mùng tám, tháng hai, lại nhóm hết các vị danh đức mà truyền thọ Cụ túc giới cho Ngài.

Trí Quang Luật sư ở Tây kinh làm Thọ giới sư,

Giảng:

Vào ngày rằm tháng giêng Pháp sư Ấn Tông tập hợp tứ chúng Tỳ khưu, Tỳ khưu ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, cử hành nghi lễ thế độ cho Lục Tổ Ðại sư, khiến cho hiển hiện tướng xuất gia mà thành Tỳ khưu.

Người xuất gia có rất nhiều lý do xuất gia không giống nhau. Có người vì cuộc sống khó khăn, nhìn thấy người xuất gia được người cúng dường, có cái ăn có cái mặc vì thế mà xuất gia. Có người xuất gia vì tuổi già không có con cái chăm sóc, họ nghĩ: “Sau khi ta xuất gia, thâu nhận một đứa đệ tử trẻ tuổi, nó sẽ lo lắng chăm sóc cho ta giống như con ta vậy.” Có người vì đã từng làm trộm cướp, hoặc vì trốn tránh pháp luật, sau khi xuất gia xuống tóc, có thể tránh được nạn chánh phủ bắt được chém đầu họ. Có người lúc còn nhỏ đã bị đưa đến Chùa xuất gia. Ðây là một vài lý do mà người ta xuất gia. Sau khi xuất gia, có thể chân chánh dụng công tu hành hay không, thì thật là khó nói.

Có người mê tín (mê mà có lòng tin). Như một vài bậc cha mẹ thấy con mình bệnh nặng, bèn nghĩ rằng: “Con của mình có thể chết vì bệnh, cần nên đem nó đến Chùa cho xuất gia.” Do vì mê tín, cha mẹ bèn đưa con vào Chùa. Người “mê tín” còn có chỗ hy vọng. Lại có người thì “tín mê” (tin vào điều mê lầm) tức là chuyên tin theo những lập luận tà tri tà kiến, tùy theo những tư tưởng không chính xác mà chuyển biến theo, thật là như lời người ta thường nói: “mê trong mê.” Có người thì “mê mà không tin,” (vừa mê lại vừa không tin), trong cái mê của họ không tin tưởng vào bất cứ việc gì. Nhưng có người thì “tin mà không mê,” những người này dùng chân tâm học Phật pháp, cho đến khi hiểu rõ chân lý thì không còn mê mờ nữa.

Những người xuất gia này có thể chân chánh dụng công tu học hay không, cũng không chắc chắn lắm, hoặc có thể có một hoặc hai phần trăm chân chánh tu học Phật pháp. Nhưng, nếu quý vị hạ quyết tâm nhứt quyết khai ngộ, để liễu sanh thoát tử, thì sau khi xuất gia có thể siêng năng nỗ lực dụng công tu hành.

Có một vài người xuất nhà thế gian, tức ra khỏi nhà tam thế: dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Sau khi ra khỏi tam giới sẽ không còn chấp vào dục sắc, sắc giới, vô sắc giới vì họ không còn chỗ chấp trước, xem tam giới như hoa đốm giữa hư không, cho nên nói vượt ra khỏi sự trói buộc của tam giới, ra khỏi nhà tam giới. Có vài người xuất phiền não gia, nếu quý vị xuất gia mà không đoạn phiền não, thì không thể đắc đạo, vì thế nhất định phải trừ phiền não.

Lục Tổ là một ví dụ đặc biệt, không giống như các lý do đã nói ở trên, vì Ngài đã đạt đến cảnh giới tự do tự tại, xuất gia hay không xuất gia cũng không có gì sai biệt. Lúc còn là cư sĩ, Ngài thực hành Bồ Tát đạo, không giống như những người tại gia tầm thường khác.

Mùng tám tháng hai là ngày Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất gia, trong ngày này tập trung các bậc cao Tăng Ðại đức trong mười phương – Pháp sư Trung Quốc và Pháp sư Ấn Ðộ – vân tập lại, truyền giới cụ túc cho Lục Tổ. Pháp sư Ấn Tông mời Luật sư Trí Quang ở Tây Kinh làm Truyền giới sư cho Lục Tổ. Luật sư Trí Quang trì giới nghiêm minh, trong bốn oai nghi: hành, trụ, tọa, ngọa đều đầy đủ bốn đại oai nghi. Phàm nhứt cử, nhứt động của Luật sư, đều cần phải hợp với luật nghi, không thể tùy tiện. Vì thế Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nghiêm tịnh tỳ ni, hoành phạm tam giới.”

Huệ Tĩch Luật sư ở Tô Châu làm Yết-ma,

Thông Ứng Luật sư ở Kinh Châu làm Giáo thọ,

Kỳ Ðà La Luật sư ở Trung Thiên Trúc thuyết giới,

Mật Ða Tam Tạng ở Tây Thiên Trúc chứng giới.

Giảng:

Yết-ma là Phạn ngữ, có nghĩa là biện sự, là người biện sự trong lúc truyền giới. Yết-ma cần phải xác thực tất cả mọi sở hành đều hợp với giới pháp, hợp với quy củ mà Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đã đặt ra. Các việc làm nếu không hợp với Phật pháp, thì không được Yết-ma chấp nhận.

Lúc truyền giới, Truyền giới sư hỏi Thầy Yết-ma ba lần:

–Có thể truyền giới cho người này không?

Mỗi lần Yết ma đều phải trả lời:

–Có thể.

Trên giới đàn, Yết-ma ngồi bên trái của Giới sư, Giáo thọ sư ngồi bên phải, còn lại bảy vị Chứng giới sư ngồi hai bên. Tất cả là ba vị A-xà-lê và bảy vị Chứng giới sư. Các Ngài đại diện cho mười phương chư Phật giảng pháp và truyền giới. Cho nên xuất gia thọ giới là một việc rất quan trọng.

“Giáo thọ” tức truyền thọ kinh điển. Kỳ Ða La là tiếng Phạn, nghĩa là “Công Ðức Hoa.” Pháp sư Mật Ða tinh thông ba tạng Kinh Luật Luận, cho nên tôn xưng Ngài là Tam Tạng Pháp sư. Tất cả giới thần đều đến bảo hộ vị Pháp sư tài trí này, trong cuộc đời của Ngài có rất nhiều sự tích thần kỳ, “Mật Ða” có nghĩa là hưng thạnh, tươi tốt.

Nguyên Giới đàn này do Tam Tạng Ðại sư Cầu Na Bạt Ðà La ở triều nhà Tống, đứng ra sáng lập và có dựng bia ghi lời Sấm-truyền rằng: “Sau sẽ có một vị Bồ Tát xác phàm thọ giới tại chỗ nầy.”

Giảng:

Cầu Na Bạt Ðà La, nghĩa là “Công Ðức Hiền.” Vị Pháp sư này ở Chùa Quang Hiếu kiến lập một pháp đàn, trên pháp đàn dựng một bia đá, có ghi lời dự ngôn: “Ðời sau có một vị nhục thân Bồ Tát thọ giới cụ túc tại đây.”

Ðến đời Lương Võ Ðế, nguyên niên Thiên Giám, lại có Tam Tạng Ðại sư Trí Dược từ Tây Thiên Trúc ngồi thuyền vượt biển sang Trung Quốc, đem một cây Bồ đề từ Thiên Trúc trồng nơi bờ ranh Giới đàn ấy, và cũng có đặt bia ghi lời dự ngôn như vầy: “Sau nầy một trăm bảy mươi năm, sẽ có một vị Bồ Tát xác phàm khai diễn pháp thượng thừa ở dưới cội cây nầy, cứu độ vô số chúng sanh, ấy là vị Pháp chủ truyền thọ tâm ấn của Phật.”

Giảng:

Lương Vũ Ðế Thiên Giám nguyên niên (công nguyên năm 502), từ Ấn Ðộ Tam Tạng Pháp sư Trí Dược ngồi thuyền vượt biển đến đây, nhìn thấy pháp đàn và bia đá này, bèn lấy cây Bồ đề mà Ngài đã đem từ Ấn Ðộ đến đây, trồng bên cạnh pháp đàn và lập bia dự đoán rằng:

–Một trăm bảy mươi năm sau, sẽ có một vị nhục thân Bồ Tát ở dưới cội Bồ đề này, khai diễn Phật pháp thượng thừa, trực chỉ tâm địa kiến tánh pháp môn mà thành tựu Phật đạo.

Cây Bồ đề khắp nơi đều có thể sanh trưởng, tại Trung Quốc hiện có rất nhiều loại cây này.

Xưa kia Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni trên hội Linh Sơn niêm hoa thị chúng, đem tâm ấn của chư Phật truyền cho Tôn giả Ma Ha Ca Diếp. Tổ sư là người truyền Phật tâm ấn, mà Pháp sư là người giảng kinh thuyết pháp.

Nhục thân bất hoại của Ðại sư Trí Dược hiện vẫn còn bảo tồn trong Chùa Nguyệt Hoa cách Chùa Nam Hoa năm dặm. Người quản lý trong Chùa đã xuất gia, không chiêu đãi khách thập phương, vì thế nếu muốn đi đến tham quan, phải tự chuẩn bị đồ ăn thức uống. Lúc tôi ở Chùa Nam Hoa đã từng đến Chùa Nguyệt Hoa, nhìn thấy nhục thân của Ðại sư Trí Dược được giữ gìn toàn vẹn, hoàn chỉnh, không có một chút hư tổn.

Thật quả như lời sấm truyền, Ðại sư đã đến chỗ nầy mà thế phát và thọ giới, và chỉ bày yếu chỉ của tâm pháp truyền thừa cho tứ chúng vậy.

Giảng:

Lục Tổ sau khi xuống tóc thọ Cụ-túc giới, bèn giảng kinh thuyết pháp cho tứ chúng nghe, truyền thọ bất nhị pháp môn, tức là từ Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đời đời tương truyền pháp môn tâm ấn.

Qua năm sau, nhằm mùa xuân, Ðại sư từ giả đồ chúng mà về chùa Bảo Lâm. Khi ấy sư Ấn Tông cùng các vị tăng, người tục, có trên một ngàn người đến tiễn Ngài thẳng tới Tào Khê.

Giảng:

Mùa Xuân năm sau, Lục Tổ từ giã đại chúng mà trở về Bảo Lâm. Y phục màu đen (tư) là của người xuất gia, lúc đó người tại gia mặc đồ trắng (bạch), vì thế nói: tư bạch hàng ngàn người đưa tiễn Ðại sư đến Tào Khê.

Có người chưa đến Tào Khê mà nói rằng mình đã đến đó, họ ngụy truyền cái gọi là Tào Khê Pháp môn và Thiền tông bí truyền. Thời mạt pháp khắp nơi đều có hiện tượng này: giả Phật giáo đồ, giả nhãn hiệu.

Lúc ấy có Thông Ứng Luật sư ở Kinh Châu, cùng các vị học giả kể có một trăm người, đều theo học với Ðại sư.

Khi Ðại sư đến chùa Bảo Lâm tại Tào Khê, thấy chùa chật hẹp, không đủ dung nạp đồ chúng, thì có ý muốn mở rộng ra. Ngài đến viếng một người trong xóm là Trần Á Tiên mà nói rằng: “Lão tăng đến đây muốn cầu thí chủ cho một khoảnh đất vừa đủ trải tấm tọa cụ được chăng?” 

Giảng:

Lúc đó Luật sư Thông Ứng ở Kinh Châu biết Lục Tổ là vị pháp chủ truyền Phật tâm ấn, bèn dẫn đồ đệ của mình theo Ðại sư học pháp. Lúc Ðại sư đến Tào Khê, nhìn thấy giảng đường nhỏ hẹp, không thể dung nạp số người đông như thế, bèn có ý mở rộng giảng đường. Ngài đến thăm địa chủ Trần Á Tiên nói:

–Thí chủ có thể cúng dường cho lão Tăng một mảnh đất bằng miếng tọa cụ này chăng?

Trần Á Tiên nói: “Tấm tọa cụ của Hòa Thượng rộng bao nhiêu?”

Ðại sư lấy tấm tọa cụ chỉ cho Trần Á Tiên xem, Á Tiên thưa: Ðược. Ðại sư liền lấy tấm tọa cụ phóng ra, bao trùm hết bốn cảnh Tào Khê, lại có bốn vị Thiên Vương hiện thân ngồi trấn bốn hướng.

Giảng:

Ðại sư đưa miếng tọa cụ của Ngài cho Trần Á Tiên xem. Ông ta nói:

–Nếu Ngài chỉ cần mảnh đất to bằng tấm tọa cụ thì con sẵn lòng cúng dường.

Nhưng lúc Ðại sư trải tấm tọa cụ ra, không những khắp cả Chùa Nam Hoa mà cả hơn mười mẫu đất đều được che phủ. Lúc đó Tứ đại thiên vương hiện thân, ngồi trấn ở bốn phương, cho nên mới có cảnh giới kỳ diệu như vậy xuất hiện.

Nay tại cảnh chùa có núi Thiên Vương vì nhơn chuyện này mà đặt ra tên núi ấy. Trần Á Tiên thưa: “Con biết pháp lực của Hòa Thượng thật là quảng đại, nhưng vì phần mộ của cao tổ con đều nằm trong khoảnh đất nầy, ngày sau nếu có cất tháp, xin giữ lại các phần mộ, còn giai dư con hỷ cúng hết, để làm ngôi Bảo-phường vĩnh viễn. Lại chỗ đất nầy có long mạch hình voi trắng, vậy chỉ nên bình thiên chẳng nên bình địa.”

Về sau khi chùa được kiến thiết, nhất nhất đều làm y theo lời thỉnh cầu của Trần Á Tiên. 

Mỗi lần Ðại sư đi dạo trong cảnh chùa, gặp chỗ nào nước non xinh đẹp, Ngài dừng chơn ngồi nghĩ.

Giảng:

Nay trong cảnh Chùa có Thiên Vương Lĩnh, chính vì câu chuyện này mà được tên. Trần Á Tiên nói:

–Con biết Hòa Thượng Ngài pháp lực thần thông quảng đại, nhưng phần mộ cao tổ của con đều ở trong mảnh đất này, tương lai sau này nếu xây dựng Chùa Tháp xin Ngài chừa lại phần mộ của tổ tiên con, ngoài ra các phần đất khác con đều cúng dường Tam Bảo, vĩnh viễn làm đất Già lam.

Long mạch của đất này rất thạnh, núi giống như hình voi trắng, là nơi “bảo sở,” tức là một chỗ rất tốt để xây dựng đạo tràng. Hình địa thế cao thì vật kiến trúc nên xây dựng thấp một chút. Ðịa thế thấp thì có thể xây dựng cao một chút, khiến cho các mái nhà có thể quân bằng, nhưng không nên san bằng đất đai, vì nếu đào đất sợ rằng sẽ làm tổn thương đến long mạch của núi, phá hoại phong thủy, tổn hại linh khí.

Lục Tổ thường thường dạo chơi trong cảnh Chùa, nhìn thấy chỗ nào có phong cảnh đẹp liền ngừng lại để nghỉ ngơi.

Vì thế, mà mười ba Lan-nhã đã được lập lên ở những nơi ấy, một trong những Lan-nhã đó nay là Hoa Quả viện. Cả thảy đều phụ thuộc đạo tràng Bảo Lâm.

Nguyên nơi đạo tràng Bảo Lâm, khi trước cũng có Tam Tạng Ðại sư Trí Dược ở Tây Thiên Trúc, từ Nam Hải qua cửa Tào Khê, lấy tay bụm nước uống, nghe mùi thơm ngọt, thì lấy làm lạ, bèn kêu môn nhơn mà bảo rằng: “Nước ở đây không khác gì bên Tây Thiên Trúc, trên nguồn khe chắc có thắng địa, lập Lan-nhã được.” Sư lần theo dòng nước lên tới nguồn khe, nhìn quanh bốn phương, non nước xây vòng, đầu non chân giụm, xinh đẹp lạ thường… Sư khen rằng: “Cảnh núi nầy rõ ràng giống như cảnh núi Bảo Lâm ở Tây Thiên Trúc.”

Giảng:

Tại sao khu đất bao quanh Chùa Nam Hoa gọi là Bảo Lâm? Bảo Lâm có nghĩa là Vô Thượng Pháp Bảo diễn hóa tại chỗ này, người y pháp tu hành nhiều như cây trong rừng. Ấn Ðộ Ðại sư Trí Dược lúc uống nước tại Tào Khê, cảm thấy mùi vị ngon ngọt chẳng khác nào ở Ấn Ðộ, Ngài biết rằng trên đầu nguồn chắc chắn có thắng địa, có thể kiến lập Tự viện. Ngược theo dòng nước lên đến đầu nguồn, đến núi Bảo Lâm lúc hoàng hôn xuống, nhìn chung quanh, khắp nơi đều là sơn thanh thủy tú, Ngài tán thán rằng:

–Núi này thật giống núi Bảo Lâm ở Thiên Trúc, nên đặt tên nơi nầy là Bảo Lâm đạo trường.

Không phải chỉ có một mình Ngài, Tam tạng Trí Dược mà có rất nhiều đồ đệ đi theo. Ngài nói với họ rằng:

–Ðầu nguồn của dòng suối là một thắng địa, có thể kiến lập Tự viện.

Tự viện, tên gọi Lan-nhã là tiếng Phạn, nghĩa là tịch tĩnh xứ, là nơi thanh tịnh tu hành. Ðất này thanh khiết, núi non xanh biếc bao quanh, phong cảnh tú lệ, thật là nơi thắng địa tu hành.

Sư kêu dân làng Tào Hầu mà bảo rằng: “Nơi núi nầy nên lập một cảnh chùa, sau đây một trăm bảy mươi năm, sẽ có một vị Vô Thượng Pháp Bảo diễn hóa tại chỗ nầy, số người đắc đạo nhiều như cây rừng, vậy nên đặt hiệu chùa là Bảo Lâm.”

Thuở ấy có quan Châu mục tỉnh Thiều Châu, tên là Hầu Kỉnh Trung, lấy những lời ấy mà làm biểu dâng vua, vua nhận lời xin, lại ban cho một tấm biểu hiệu là Bảo Lâm. Thế mới thành một cảnh chùa Phật. Ấy là một ngôi chùa có trước hết đời nhà Lương, niên hiệu Thiên Giám, năm thứ ba.

Giảng:

Thôn này gọi là Tào Hầu, là hậu duệ của Tào Tháo thời đại Tam Quốc. Ðại sư Trí Dược dự đoán một trăm bảy mươi năm sau, “Vô Thượng Pháp Bảo” tức là Lục Tổ trụ tại Bảo Lâm và giáo hóa chúng sanh. Tăng chúng xuất gia và người tại gia tại chỗ này, người khai ngộ đông như số cây trong rừng, vì vậy đất này gọi là “Bảo Lâm.” Lúc đó, trưởng quan Thiều Châu Hầu Kỉnh Trung đem lời dự đoán của Ðại sư Trí Dược tâu với triều đình, Lương Võ Ðế bèn ân tứ là Bảo Lâm. Thiên Giám năm thứ ba (công nguyên năm 504), xây dựng Chùa này, tức là Chùa Nam Hoa hiện nay.

Trước điện chùa có một cái ao, trong đó có một con rồng thường trồi lên hụp xuống, làm náo động các cây rừng. Một ngày kia, rồng hiện hình rất lớn, làm cho sóng nổi nước trào, mây mù tối mịt, các môn đồ đều kinh hãi. 

Ðại sư nạt rằng: “Ngươi có thể hiện hình lớn, mà không hiện hình nhỏ được. Nếu ngươi là thần long thì biến hóa được; nhỏ biến ra lớn, lớn biến ra nhỏ.”

Giảng:

Thân Rồng rất lớn, vì thế chỉ thấy thân của nó mà không thể thấy đầu, bay lượn trong nước, làm cho sóng vỗ ầm ầm, sóng nước dâng cao mười thước, hai mươi thước, thậm chí dâng cao ba mươi thước. Nó dương dương tự đắc, tự cho mình là tài giỏi. Ðồ chúng đều lo sợ nói:

–Thật là bất khả tư nghì, con rồng này muốn làm tổn hại chúng ta!

Lục Tổ quở trách rồng:

–Nếu ngươi thật có thần thông, thì có thể từ có biến không, từ không biến có, ngươi có thể tùy tâm như ý biến hóa, từ thân to lớn hóa thành thân nhỏ bé, từ thân nhỏ bé hóa thành thân to lớn, không có gì chướng ngại.

Rồng ấy thoạt nhiên hụp xuống, giây lâu lại hiện hình nhỏ, nhảy khỏi mặt ao.

Tổ mở bình bát, nói thách rằng: “Chắc ngươi không dám chun vô bình bát của lão tăng?”

Rồng hăm hở nhảy tới trước mặt, Ðại sư lấy bình bát thâu vào, rồng hết phương vùng vẫy. Ðại sư đem bình bát về chùa, thuyết pháp cho rồng nghe.

Giảng:

Lục Tổ dùng lời nói khích khiến cho rồng hóa nhỏ, lập tức không còn thấy rồng nữa, nhưng trong khoảnh khắc một con rồng nhỏ bay lượn nhảy nhót xuất hiện trong nước. Lục Tổ nói:

–Ngươi nay đã biến thành thân nhỏ bé rồi, nhưng ngươi không dám nhảy vào trong bát của ta đâu!

Rồng bơi lội tung tăng trong nước, bơi đến trước mặt Tổ. Lục Tổ không đợi nó nhảy vào trong bát, Ngài lập tức múc nó vào trong bát.

Rồng liền cởi lốt mà đi. Bộ xương nầy dài đến bảy tấc, đầu đuôi, sừng chân, đều có đủ, để lưu truyền tại chùa. Sau Ðại sư lấy đá lấp cái ao ấy. Nay trước điện chùa, phía tả, có tháp bằng sắt dựng nơi đó.

Giảng:

Lục Tổ Ðại sư cầm cái bát đựng con rồng, trở về pháp đường, thuyết pháp cho rồng nghe. Rồng nghe pháp vãng sanh, thoát xác mà đi, để lại di cốt dài hơn bảy tấc, đầu đuôi sừng chân đều đầy đủ, lưu truyền tại chùa. Ðại sư bèn dùng đất đá lấp bằng cái ao này. Bên cạnh đại điện, vẫn còn tháp sắt dựng nơi ao đó.

Trong bài tự của Thiền Sư Pháp Hải nói cái ao này ở bên trái, thật ra nó ở bên phải. Trong “Lục Tổ Ðàn Kinh chú,” Ðinh Phúc Bảo cũng chưa đến Chùa Nam Hoa, đương nhiên không biết chỗ của ao này. Chiếu theo vị trí chỗ ngồi của Lục Tổ trong điện mà đoán định thì ao ở bên phải vậy.

Nguồn: http://www.chuavanphat.org/

 

Tin / Trang  50 100 150 200 250
Sắp theo  Tiêu đề Ngày Số lần xem Đánh giá   Tăng dần Giảm dần
Đang xem 151 – 163 của 163 bài « 1 2 3 4
● KINH NGƯỜI ÁO TRẮNG (07/13/2013) (Xem: 1719) 

● KINH PHÁP ẤN – Thích Nhất Hạnh (06/14/2010) (Xem: 55417) 

● KINH PHÁP HOA GIẢNG GIẢI – Lê Sỹ Minh Tùng (06/26/2012) (Xem: 17204) 

● KINH RUỘT TUỆ GIÁC SIÊU VIỆT (06/25/2013) (Xem: 2888) 

● KINH THẮNG MAN PHU NHÂN HỘI, Chân Hiền Tâm (05/20/2010) (Xem: 25900) 

● KINH THẮNG MAN, Thích Đức Niệm (05/20/2010) (Xem: 24920) 

● KINH VIÊN GIÁC GIẢNG GIẢI, Thích Thanh Từ (05/23/2010) (Xem: 28203) 

● KINH VIÊN GIÁC LUẬN GIẢNG, Thích Thông Huệ (05/23/2010) (Xem: 25653) 

● LĂNG NGHIÊM ẢNH HIỆN (05/08/2013) (Xem: 4524) 

● LUẬN VỀ PHÁP HOA KINH AN LẠC HẠNH NGHĨA (02/07/2013) (Xem: 12023) 

● NGHĨ TỪ TRÁI TIM Đỗ BS Hồng Ngọc (06/02/2011) (Xem: 14864) 

● NHÂN DUYÊN CỦA SỰ SUY VONG (09/02/2013) (Xem: 2291) 

● NIỀM TIN VÀ KINH KALAMA – Nguyễn Duy Nhiên (10/25/2010) (Xem: 56705) 

● PHÁP ẤN Thích Nhất Hạnh (10/15/2010) (Xem: 31658) 

● PHÁP HOA ĐỀ CƯƠNG, Hòa Thượng Thanh Đàm (05/24/2010) (Xem: 24190) 

Thực hư cô bé nhớ rõ chuyện từ…3 kiếp trước

Posted on June 3, 2013 by huyentamhh Edit
13:30 | 02/06/2013

Thực hư cô bé nhớ rõ chuyện từ…3 kiếp trước

‘Kiếp đầu tiên con là người có cha mẹ giàu sang, kiếp thứ hai là một nữ cư sĩ, sống được 50 tuổi nhưng chưa đắc đạo nên bây giờ về nhân gian để tu tiếp’, Như Ý nói.

Nhà bé Nguyễn Thị Như Ý (ấp Vĩnh Lợi, xã Vĩnh Lộc, huyện An Phú, tỉnh An Giang) nhiều năm nay được giới đồng đạo khắp nơi biết đến với hiện tượng “thần đồng thuyết pháp”.

Anh Nguyễn Thành Hạnh (35 tuổi, cha ruột Như Ý) cho biết, ngoài việc học xuất sắc ở trường, đọc sách và nghiên cứu đạo pháp tại nhà là niềm đam mê của Như Ý. Anh Hạnh cho biết thêm, Như Ý có khả năng kỳ lạ, am hiểu và có thể thuyết giảng trước đám đông hàng giờ đồng hồ theo chủ đề Phật giáo, khiến bất cứ ai cũng phải kinh ngạc.

Ở Vĩnh Lợi, người dân biết đến Như Ý không chỉ là “thần đồng” mà còn rất mến mộ và tôn kính. Họ cho rằng bé có nhân duyên từ tiền kiếp và được Đức Phật đầu thai, mới sớm bộc lộ những khả năng “khôn” trước tuổi.

 

Từ nhỏ, Như Ý đã tỏ ra là một cô bé đặc biệt với khả năng thuyết giảng đạo pháp
Từ nhỏ, Như Ý đã tỏ ra là một cô bé đặc biệt với khả năng thuyết giảng đạo pháp.

 

Cô bé xinh xắn, vầng trán cao, đôi mắt sáng và giọng nói ấm áp, súc tích, lập tức gây thiện cảm ngay từ lần gặp đầu. Nhìn con gái, anh Hạnh cười rạng rỡ, không che giấu niềm tự hào khi nhớ lại ước nguyện sinh con đã thành hiện thực: “Tôi vốn sinh ra trong gia đình có truyền thống đạo Phật Hòa Hảo. Hồi chưa lấy vợ, trong những ngày lễ, tôi vẫn thường tham gia những buổi thuyết giảng của các đạo sĩ, giảng sư tại những trung tâm Phật giáo hoặc ở các chùa. Nghe nhiều thấy mê, rồi mình sinh lòng cảm mến lúc nào không hay.

Từ đó, mỗi ngày niệm Phật, tôi cứ đinh ninh và ước mơ sau này sinh con, sẽ trở thành người thuyết giảng Phật pháp cho chư tăng huynh đệ, để đạo hạnh được tăng thêm nhiều phần. Nay thì mong ước của tôi đã trở thành hiện thực, thông qua con gái bé nhỏ của mình”.

Anh Hạnh kể, thời điểm hay tin vợ mang thai, anh càng hăng say tu đạo, ngày qua ngày cầu mong vợ sinh con như ý muốn. Khi vợ hạ sinh lại là một bé gái, anh thoáng buồn bởi suy nghĩ từ trước đến nay trong giới đạo Pháp, rất ít thấy có vị nữ tu sĩ nào tham gia thuyết pháp. Như thế, ước nguyện của anh khó mà có cơ hội trở thành hiện thực.

Tuy nhiên, trái ngược với nỗi lo ngại của anh Hạnh, đứa con gái của anh ngay từ lúc lọt lòng đã bụ bẫm và khôi ngô đến lạ kỳ. Nước da trắng nõn, cặp mắt tròn long lanh, đôi má lúm đồng tiền, miệng chúm chím rất duyên, khuôn mặt đầy đặn phúc hậu. Ngắm nhìn con trong giây phút chào đời, bao nỗi chạnh buồn như tan biến. Bồng con trên tay, anh Hạnh quyết định đặt tên con là Như Ý, với niềm mỏi con mình sau này lớn lên làm bất cứ việc gì cũng thành công.

Đúng như những gì vợ chồng anh Hạnh ăn chay niệm Phật cầu mong, bé Như Ý mỗi ngày một khôn lớn khỏe mạnh, đồng thời mang lại cho mọi người hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Chị Nguyễn Thị Cam (33 tuổi, mẹ ruột bé Như Ý) kể: “Khi được hơn 3 tuổi, Như Ý đã nói chuyện như một người trưởng thành, giống hệt một tu sĩ tinh thông đạo pháp”.

Trong một lần nói chuyện với mẹ mình, Như Ý có nói rằng: “Con chỉ “mượn mẹ” để đầu thai xuống kiếp này tu thêm mà thôi. Kiếp trước của con là một người sinh ra có cha mẹ giàu sang, song con chỉ muốn đi tu mà không được song thân chấp thuận, con buồn tủi lắm, không dễ như cha mẹ bây giờ. Kiếp thứ hai, con được làm một nữ cư sĩ, sống được 50 tuổi nhưng vì tu chưa đắc đạo nên kiếp này con về lại nhân gian để tu tiếp, mong rằng sẽ truyền bá sâu rộng chốn nhân gian hơn nữa, con người hòa hợp, không tranh giành đặc lợi mà giúp đỡ lẫn nhau”.

Cũng theo chị Cam, một lần khác Như Ý không nghe lời khuyên răn của cha mẹ nên chị mắng, không ngờ bé cười rồi cất lời: “Con là một người khác chứ không phải là con mẹ đâu ạ, kiếp này con chỉ mượn cha mẹ để lên đây tu thành thêm kiếp đạo dang dở của con thôi”. Nghe đứa con chưa tròn tiếng nói giọng “ông cụ non”, vợ chồng chị như lạc tai, khi hỏi lại thì bé vẫn nói lại y như vậy.

Vừa mừng vừa lo, mừng vì con khôn trước tuổi, lo vì bé nói những điều vô cùng khác thường so với đứa bé 3 tuổi bình thường. Không chỉ thế, liên tiếp trong thời gian sau đó, Như Ý còn mang những câu chuyện hết sức kỳ lạ nói về về tiền kiếp của mình kể cho cha mẹ và mọi người nghe.

“Thấy nó (Như Ý) hợp với đạo, nên tôi không cho bé nói nữa, mà tìm cách giải thích cặn kẽ để bé hiểu. Những điều này hoàn toàn có thực, nhưng do sợ người ta đàm tiếu rằng cha mẹ tôn sùng con cái để tuyên truyền mê tín dị đoan nên vợ chồng tôi không kể lại cho một ai”.

 

Gia đình Như Ý là bạn đồng đạo
Gia đình Như Ý là bạn đồng đạo.

 

Càng thêm tuổi, Như Ý càng trưởng thành nhanh một cách kinh ngạc. Sự am hiểu Phật giáo của bé cũng theo đà đó, trở nên uyên thâm đến mức khiến nhiều người tu trong đạo không khỏi bất ngờ. Mỗi lần theo cha mẹ đi nghe thuyết giảng về, bé có thể kể lại răm rắp không sót một từ, đồng thời có thể tự triển khai mở rộng, giảng thêm những nội dung và ý nghĩa sâu xa.

Khi vợ chồng anh chị ra một đề tài trong đạo Pháp, thì bé tự đứng lên dõng dạc thuyết giảng thấu tình đạt lý, có thể sánh ngang những vị giảng sư lâu năm. Bên cạnh đó, điều làm vợ chồng anh Hạnh ngạc nhiên là lúc 5 tuổi, bé đã đứng trước hàng trăm tu sĩ thuyết giảng hàng giờ đồng hồ khiến mọi người trầm trồ ngưỡng mộ.

“Lần đầu tiên, tôi trực tiếp nghe con gái mình thuyết pháp trước đông đảo chư tăng, đồng đạo. Ban đầu, tôi thấy rất lo lắng, nhưng sau khi nghe cháu cất lên những lời giảng đầu tiên, nhìn ánh mắt ngạc nhiên của chư tăng đồng đạo bên dưới tôi thấy an tâm hơn. Sau khi bài thuyết pháp kết thúc, mọi người đứng lên khen hay, ai cũng cảm thấy hài lòng và khâm phục trước một giọng thuyết chưa tròn âm nhưng quá đỗi uyên thâm. Chính lúc đó, tôi đã rớt nước mắt vì hạnh phúc. Vậy là coi như, ước mơ của mình đã được con gái biến thành hiện thực một cách như ý, như chính tên chúng tôi đặt cho cháu”, anh Hạnh cho biết thêm.

Với độ am hiểu đạo giáo tinh thông, thuyết giảng thu phục lòng người, Như Ý nhanh chóng được đông đảo phật tử biết đến, nhiều ngôi chùa trong giáo hội đã mời Như Ý về thuyết giảng, nói chuyện. Cho đến nay, bé đã đăng đàn hằng trăm buổi nói chuyện, có thể thuyết giảng nhiều chủ đề khác nhau về đạo Phật, khiến cả những nhà nghiên cứu đạo pháp phải thán phục.

Với khả năng đối đáp trôi chảy, có sức truyền cảm mãnh liệt, Như Ý được người đời và các đồng đạo vô cùng mến mộ. Điều đáng nói, dù trọng vọng nhờ khả năng hơn người của mình, Như Ý vẫn luôn khiêm tốn tự nhận mình “chỉ là một người hiểu ít nhiều Phật giáo”, chứ không bao giờ nhận là một vị “giảng sư” như mọi người gán cho.

Không những thế, “thần đồng” Như Ý còn được mọi người thương mến nhờ đức tính hiền lành, lễ phép, say mê học tập văn hóa, nghiên cứu đạo hạnh. Như Ý ước mơ, cố gắng học tập để sau này trở thành người có ích cho xã hội.

Theo Giadinh.net.vn

PGHH

Posted on May 30, 2013 by huyentamhh Edit
Hotline: 0965.237.756
Update time 19:03 29/05/2013 (GMT+7) 

       

“Thần đồng” Phật giáo 5 tuổi đã nổi

danh khắp trời Tây

Từ bé đã nổi danh khắp nơi nhờ những bài thuyết pháp giảng đạo, “thần đồng” Phật giáo, Như Ý còn khiến cho các đạo sĩ ở trời Tây phải vượt ngàn dặm đến để diện kiến.
Một giảng sư chuyên nghiên cứu Phật pháp đã phải thốt lên rằng: “Gần 50 năm tu niệm, giảng thuyết không biết bao nhiêu bài ở khắp mọi nơi, nhưng kiến thức tôi học hỏi được về Phật pháp so với bé Như Ý thì vẫn còn cách biệt quá xa. Ngẫm lại, tôi thấy quả đúng là “Trường Giang sóng sau đè sóng trước…”.
Đạo sĩ ngoại quốc phủ phục trước đức hạnh “thần đồng”
Sau khi video clip thuyết giảng của bé Như Ý (Ấp Vĩnh Lợi, xã Vĩnh Lộc, huyện An Phú (An Giang) được truyền tải rộng rãi không chỉ trong giới đồng đạo Phật giáo Hòa Hảo mà ở khắp mọi miền đất nước, rất nhiều các giảng sư đã liên hệ, bày tỏ ý muốn bồi dưỡng thêm kiến thức Phật pháp cho bé. Trong khi đó, bản thân bé Như Ý luôn tâm niệm rằng: “Tài năng không quan trọng, cái quan trọng của người hành đạo là tâm đạo, phải thắp sáng cái tâm đạo của mình rồi mới thắp cho những người xung quanh. Em nghĩ, chia sẻ những hiểu biết về đạo pháp đến người khác thì cần chí tâm tu hành ở ngay chính nội hàm ở bên trong con người mình chứ không phải ở sách vở. Sức nhiệm màu cần ở cái tâm chứ không phải cái tài, kẻ tu hành đa phước mới lên…”
 Niềm đam mê của “thần đồng” Như Ý là học tập và nghiên cứu

Đáng nói hơn, nhờ sự am tường tư tưởng nhà Phật và khả năng thuyết giảng trước đám đông đáng kinh ngạc khi mới 5 tuổi, tiếng tăm Như Ý còn vang xa tận hải ngoại, thậm chí được giới đạo sỹ Tây phương biết đến. Có lần, một ông đạo sĩ Việt kiều tên là Kelvin Trần, vì ngưỡng mộ danh tiếng của Như Ý mà bỏ công, gác việc lặn lội bay sang Việt Nam. Mục đích duy nhất của chuyến đi qua nửa vòng trái đất này, không gì khác ngoài hy vọng được thấy “thần đồng” bằng xương, bằng thịt. Hồi đó, đáp chuyến bay xuống TP. HCM, vị đạo sỹ đã đi thẳng về An Giang tìm nhà bé Như Ý. Ngay lần đầu diện kiến “thần đồng”, ánh mắt nhìn trìu mến và phong thái ung dung, tự tại toát ra từ bé Như Ý đã khiến vị đạo sĩ xúc động mà quỳ gối rồi òa khóc nức nở. Suốt một tuần trời nán lại sau đó, được dịp kề cận và nghe “thần đồng” thuyết giảng Phật pháp, vị đạo sỹ càng thêm ngưỡng mộ tài năng và đức hạnh của cô bé. Cho đến tận bây giờ, ông vẫn giữ mối liên lạc với gia đình và thường hỏi thăm bé Như Ý.

Nói về khả năng phi phàm của “thần đồng” nhỏ tuổi này, không chỉ có vị đạo sĩ cách nửa vòng trái đất kia ngưỡng mộ, mà là bất kỳ ai cũng sẽ phải thán phục nếu được dự một buổi “đăng đàn” thuyết pháp của bé. Cùng mặt trên chuyến đi của PV hôm đó, có cụ Đào Bá Hai quê tận Vĩnh Long, năm nay đã 76 tuổi, sức khỏe yếu, việc đi lại chẳng dễ dàng gì. Vậy mà từ khi biết Như Ý, cứ vài tháng, ông cụ lại lặn lội ngồi xe máy cùng bạn đồng đạo là ông Nguyễn Văn Dũng (60 tuổi) xuống An Giang để được nghe Như Ý thuyết giảng. Lần này, cụ Hai còn tặng Như Ý một cái máy cát-sét nhỏ hơn lòng bàn tay, phát vô số bài giảng kinh đã được thu sẵn. Cụ Hai tâm sự với chúng tôi: “Tôi từng nghe Như Ý giảng đạo lúc 9 tuổi.
Ngay lúc đó, bé đã có khả năng thực hiện những bài giảng Phật pháp, tu hành liền một mạch hàng giờ trôi chảy. Những bài giảng của Như Ý không đứt đoạn, không vấp váp, đầy ý tưởng, hình ảnh, tràn ngập tri thức, thơ ca, ẩn dụ, phúng dụ, hoán dụ, so sánh, tượng trưng, ước lệ… khơi gợi mạnh mẽ tâm trí người nghe. Bên cạnh đó, bé còn thể hiện sự am hiểu kiến thức Phật giáo Đông- Tây kim cổ vô cùng kinh ngạc”. Trước lúc ra về, cụ Hai lại nắm tay Như Ý dặn dò: “Ta biết có dặn dò con cố gắng tu đạo cũng bằng thừa, vì vốn dĩ đạo đã có sẵn trong con từ khi mới lọt lòng rồi. Ta chỉ mong con sau này đắc đạo, giúp ích cho đời thôi”.
Bà Bảy Tăng (50 tuổi) vừa lặn lội từ TP.HCM tìm xuống nhà bé Như Ý và ngồi tỉ tê với chúng tôi đủ chuyện về “thần đồng” với một niềm ngưỡng mộ sâu sắc. Bà Bảy nói trong hoan hỉ: “Trước đây, tôi từng nghe bé thuyết giảng qua băng đĩa. Cũng có gặp một hai lần khi bé thuyết pháp trực tiếp trên TP.HCM mà không có điều kiện trực tiếp trò chuyện. Sau này biết rồi, tôi thường mua đĩa do Như Ý thuyết giảng mở cho mấy đứa cháu nghe. Đứa nào đứa nấy đều ham mê xúm xít lại xem mãi mà không biết chán”.
Trí nhớ siêu phàm
Không chỉ nổi danh với những bài thuyết pháp hàng giờ đồng hồ trước các đồng đạo, tài năng thiên bẩm của Như Ý còn có nhiều điểm kỳ lạ mà đến giờ chưa có ai giải thích được. Từ lúc 3 tuổi, cô bé đã học thuộc lòng tất cả các hình minh họa trong cuốn sách tiếng Việt lớp 1 để “đuổi hình bắt chữ” mà không cần một ai chỉ dẫn. Lạ kỳ thay, cứ chỉ vào hình nào là bé phát âm chữ ấy đúng 100% từ đầu đến cuối, dù tiếng nói còn bập bẹ chưa tròn.

Như Ý có trí nhớ tốt như vậy, nên trong trường mỗi dịp bế mạc, tổng kết năm học, bé đều đại diện học sinh lên nói trước toàn trường mà không cần bản ghi chép. Mỗi lần đó, cô giáo dặn về soạn bài phát biểu, sau khi soạn xong bé ôn lại và lên nói mà không cần “bản mộc” nữa. Nhớ lại buổi khai trường lớp 6, khi ai lên phát biểu cũng cần cầm theo tờ giấy, chỉ có mỗi Như Ý là lên nói liền mạch mà không cần cầm bất cứ thứ gì theo. Mới đây, khi tham gia cuộc thi An toàn Giao thông của nhà trường tổ chức, bé phải học thuộc hơn 300 câu, thế mà chỉ sau hai bữa là Như Ý “giải quyết” gọn ghẽ, không sai một câu nào.

Thầy Trần Văn Ơi, giáo viên phụ trách bộ môn tiếng Anh kể: “Hiện tại, bé Như Ý đang học lớp 6A2 của trường. Môn Anh văn do thầy phụ trách và Như Ý học rất giỏi, dẫn đầu lớp về kết quả học tập. Khả năng đặc biệt của bé Như Ý là tự tin, khi nói có sức truyền cảm cao, làm người nói với người nghe có sự đồng cảm đến lạ. Các thầy cô bộ môn khác cũng cho biết điểm của bé cũng suýt soát 10 phẩy. Trong giờ học, chừng nào các em khác không trả lời được, chúng tôi mới kêu Như Ý, mà hầu hết câu nào em cũng trả lời rất tốt. Theo như tôi nghĩ, thành công của Như Ý là do em ấy có sự đầu tư về học tập, nhận thức tốt”.
Từ khi bé Như Ý bộc lộ khả năng thuyết giảng Phật pháp, giới chư tăng đồng đạo không ngừng tìm đến. Bên cạnh đó, nhiều chùa, tịnh thất ngoại tỉnh thường mời Như Ý đi thuyết giảng, mỗi lần “đăng đàn” đều có ghi âm, ghi hình để sao ra đĩa phát cho các Phật tử nghe. Giảng sư Trần Văn Luốc, pháp danh Trần Như – thành viên tiểu ban nghiên cứu của Ban Phổ truyền Giáo lý Trung ương Phật giáo Hòa Hảo tại TP.HCM thừa nhận, Như Ý có một trí nhớ rất tuyệt vời. “Như Ý thuộc làu 48 lời đại nguyện của Đức Phật A Di Đà, các bài kinh giảng chính trong Phật giáo Hòa Hảo. Đặc biệt, bé nhớ không sai một từ nào. Có những cái phải học dữ lắm, tôi mới thuộc còn Như Ý chỉ cần học sơ sơ cũng đã nhớ như in rồi. Bé rất ham học, không chỉ kiến thức mà còn học cả hạnh nết, công phu của mình. Gần 50 năm tu niệm, giảng thuyết không biết bao nhiêu bài ở khắp mọi nơi, nhưng kiến thức tôi học hỏi được về Phật pháp so với bé Như Ý thì vẫn còn cách biệt quá xa. Cũng bởi lẽ, cái phong thái khi thuyết giảng của bé chiếm lĩnh lòng người cao hơn những lời nói hay, nói đẹp. Đúng là “Trường Giang sóng sau đè sóng trước mà…””, ông Luốc nói.
Theo nhận định của rất nhiều giảng sư và các chư tăng đồng đạo: Nền tảng chân tu mà Như Ý có được là một bí ẩn. Họ cho rằng cô bé này có duyên với tu hành từ kiếp trước nên mới thấm đạo phật nhanh nhạy như vậy. Điều đáng nói ở bé Như Ý không phải là nói về cái tài năng đặc biệt của bé mà nói về cái phong cách, một đứa nhỏ mà có phong cách rất người lớn, không có tính cách khoe hoang. Bởi phong cách ấy, nhiều người đã ví bé như một vị thiền sư đắc đạo.

TÌM HIỂU VỀ SỰ“NIỆM PHẬT”

Posted on May 12, 2013 by huyentamhh Edit

TÌM HIỂU VỀ SỰ“NIỆM PHẬT”

Giá trị của việc niệm Phật, được giới thiệu
qua bài “Pháp Môn Tịnh Độ & Giá Trị của Sự
Niệm Phật”, trong CD & sách “Học Phật Tu Nhân,
Tu Tại Gia-Làm Tròn Nhân Đạo, Tìm Đến Sự Giải
Thoát”, là phương thức hành trì, được tin là giản
dị, dể học, dễ hành. Tuy nhiên, để có hiệu quả,
Đức Huỳnh Giáo Chủ khuyên: “Ta cũng nên bố-
thí, nhẫn-nhục, trì-giới, để độ tham, sân, si… Cần
tu thập thiện thì sự niệm mới có hiệu quả. Tu
thập thiện, dứt được thập ác, cũng gọi là tịnh tam
nghiệp… Chúng-sanh tịnh được tam nghiệp mới
mong về cõi Phật.”

Và trong đoạn “Niệm Phật” của “Sấm
Giảng Người Đời”, Đức Sư Vải Bán Khoai cũng
khuyên, khi niệm Phật, chúng ta nên: “muôn việc
đều thôi, không trách than hay kể công. Tránh siêu
niệm, sân si, oán giận cừu hờn. Bỏ tánh nghinh
ngang, câu mâu, tánh gian tà. Không hại người,
chịu hẩm hút cháo rau, sửa tánh tình, ănngay ở
thẳng, tu nhơn tích đức. Chẳng màng sang giàu,
hương sắc.”

Ngài dạy chúng ta: “phải giữ Tứ Ân, giữ
đạo vợ chồng, ơn Thầy nghĩa bạn, và đền đáp ơn
cha nghĩa mẹ, ơn nhà nợ nước. Nhớ chữ Bồ Đề,
tập tánh từ bi, thương người tàn tật, cứu người mắc
nạn, thương hết thế trần.”

Nếu thật tâm hành trì theo phương thức
niệm Phật thì chúng ta sẽ được: “thanh nhàn, vui
thú thảnh thơi, buồn sầu giải hết, Phật độ bảo toàn,
ấm no, khỏi nơi đói lạnh, tật bịnh tiêu tan, thoát
điều bi ai, khỏi hết tai nàn, tránh nơi tai họa, tai
ương khỏi lầm.”

Và khi chúng ta nhận rõ được Phật tánh hay
Như Lai tánh của chính mình, khi ấy chúng ta: “dẹp
được tam bành lục tặc, bình an yêu quái ẩn hình
trong thân.”

Đức Sư Vải Bán Khoai cũng cho biết, khi
niệm Phật, chúng ta: “được Phật độ ân cần, cứu vớt
thoát cơn nguy hiểm, tai họa, khỏi nơi lao khổ,
được yên ổn, chớ hề hại thân.”

Quan trọng, Ngài khuyên: “khuya sớm phải
ân cần, chí tình, giữ dạ cho bền. Đừng nghi ngờ,
phải tưởng Thần linh,bảo hộ bên mình mộ khan.”

Và nếu chí công cầu nguyện thì: “Phật hiện
cho, dắt đi coi non coi núi coi thời Bồng Lai, có Sen
nở đợi chờ, hân hoan Cực Lạc và Cửu Huyền Thất
Tổ đặng về Tây Phương.”

Với những điều được Đức Huỳnh Giáo
Chủ cùng Đức Sư Vải Bán Khoai cho biết, đã cho
chúng ta nhận rõ về những việc cần hành, song song
cùng sự niệm Phật, và những kết quả đạt được trong
việc hành theo phương thức nầy. Một lần nữa, xin
giới thiệu thêm một “Con Đường Tắt” để giúp
chúng ta sớm tìm đến sự giải thoát. Mong hãy lắng
tâm đọc qua, đoạn “Niệm Phật” của Đức Sư Vải
Bán Khoai, để có thêm đức tin trong việc tu học.

Xin thành tâm cầu nguyện Chư Phật mười
phương cùng ơn trên Thầy Tổ gia hộ cho tất cả
chúng ta được nhất tâm phụng hành để đạt được
kết quả mỹ mãn, và xin hồi hướng tất cả những gì
đạt được về cho chúng sanh, vạn vật, để đồng thọ
hưởng những ân đức và đồng được vãng sanh về
nơi an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam Mô A Di Đà Phật.

Nguyễn Hoàng Vũ

NIỆM PHẬT

Niệm Phật có bốn Thần linh,
Thường thường bảo hộ bên mình mộ khan.
Niệm Phật tật bịnh tiêu tan,
Lòng đừng tráo chác mắc vòng gian nan.

Niệm Phật Cực Lạc hân hoan,
Ta Bà khổ não giàu sang mấy hồi.
Niệm Phật muôn việc điều thôi,
Chớ ham siêu niệm luân hồi khốn thay.

Niệm Phật thì phải ân cần,
Thức khuya dậy sớm tay lần hột châu.
Niệm Phật nhớ chữ Bồ đề,
Ơn thâm phải trả nghĩa sâu phải đền.

Niệm Phật thọ mạng tăng long,
Cửu Huyền Thất Tổ đặng về Tây Phương.
Niệm Phật nhớ chữ từ bi,
Gian tham bất bất si si vừa vừa.

Niệm Phật nhiều người không ưa,
Những người có tánh thuở xưa tới giờ.
Niệm Phật sen nở đợi chờ,
Cây nào bông nấy bốn mùa tốt tươi.

1/2

Niệm Phật vui thú thảnh thơi,
Buồn sầu giải hết, mặc người cười chê.
Niệm Phật nhớ chữ bằng đầu,
Cửu Huyền Thất Tổ đặng về Tây Phương.

Niệm Phật Phật độ bảo toàn,
Lần tay có Phật sao không chịu dò?
Niệm Phật chớ khá oán người,
Dầu ai hung ác ta thì thiện tâm.

Niệm Phật nhiều kẻ vô nhân,
Họa tai thì niệm, hết dần lại quên.
Niệm Phật không tốn đồng tiền,
Niệm Phật thoát khỏi những điều bi ai.

Niệm Phật có Phật Như Lai,
Bình an yêu quái ẩn hình trong thân.
Niệm Phật thì phải bỏ tà,
Khỏi nơi tai họa sao dân không dò.

Niệm Phật Phật độ ân cần,
Lâm cơn nguy hiểm có người cứu an.
Niệm Phật đừng có trách than,
Cũng đừng oán giận cừu hờn với ai.

Niệm Phật có Phật vãng lai,
Lâm cơn nạn tám Phật sai cứu mình.
Niệm Phật phải sửa tánh tình,
Ăn ngay ở thẳng chớ tình phang ngang.

Niệm Phật bỏ tính nghinh ngang,
Tu nhơn tích đức Phật sai rước về.
Niệm Phật Phật độ nhiều bề,
Gặp cơn tai họa chớ hề hại thân.

Niệm Phật đừng có kể công,
Dầu lâm tai nạn cũng không lụy mình.
Niệm Phật thì phải chí tình,
Ơn cha nghĩa mẹ giữ gìn cân phân.

Niệm Phật phải giữ Tứ Ân,
Ơn nhà nợ nước xử phân trọn nghì.
Niệm Phật tập tánh từ bi,
Đạo vợ nghĩa chồng chớ có nại nhau.

Niệm Phật hẩm hút cháo rau,

Thương người tàn tật sang giàu đừng ham.

Niệm Phật đừng muốn tiền ngàn,
Xa cừ mã não ai màng làm chi.

Niệm Phật tàn tật đừng khi,
Nữa sau mắc đọa hơn thì người ta.
Niệm Phật bỏ tánh gian tà,
Cũng đừng ham sắc ham hoa làm gì?

Niệm Phật đừng có sân si,
Thấy người mắc nạn khả đi cứu người.

Niệm Phật đừng có oán cừu,
Đừng đem lòng ác hại người chẳng nên.

Niệm Phật giữ dạ cho bền,
Ơn Thầy nghĩa bạn chớ nên sai lầm.
Niệm Phật Phật hiện vào tâm,
Tam bành lục tặc giục mình đặng đâu.

Niệm Phật bỏ tánh câu mâu,
Thì sau mới đặng một câu thanh nhàn.
Niệm Phật khỏi hết tai nàn,
Nói cho già trẻ đặng tàng căn nguyên.

Niệm Phật Phật độ hiển nhiên,
Gặp cơn bạo loạn đặng yên thân mình.
Niệm Phật phải tưởng Thần linh,
Cũng đừng khinh dễ mà mình lụy thân.

Niệm Phật thương hết thế trần,
Giàu nghèo thì cũng nhân nhân là người.
Niệm Phật khổ hải bằng mười,
Chí công gắng đặng thì mình mới nên.

Niệm Phật giữ dạ cho bền,
Ơn đền nghĩa trả dưới trên thuận hòa.
Niệm Phật Phật chẳng ở xa,
Chí công cầu nguyện Phật mà hiện cho.

Niệm Phật thì đặng ấm no,
Khỏi nơi đói lạnh mà lo nỗi gì ?
Niệm Phật có Phật dắt đi,
Coi non coi núi coi thời Bồng Lai.

Niệm Phật Phật cứu hoài hoài,
Khỏi nơi lao khổ nào ai thấy rày.
Niệm Phật tai họa cũng bay,
Nói cho già trẻ giữ nay mà nhờ.

Già trẻ đừng có nghi ngờ,
Việc đời ngó thấy bây giờ tới đây.
Mấy bài khuyên hết Đông Tây,
Nói cho nam nữ đặng hay cứu mình.

Nếu ai mà chẳng có tin,
Rồi sau mang họa chớ tình trách than.
Huệ Lưu diễn nghĩa mấy hàng,
Cầu cho già trẻ luận bàn tu thân.

Cuộc đời xem thấy hầu gần,
Có buồn thời đọc tai ương khỏi lầm.
Đọc rồi phải niệm ba câu,
Có biên câu niệm khẩn cầu dưới đây.

Nam Mô Năng, Cứu Khổ Cứu Nạn, Cho Vạn
Dân Bá Tánh, Bồ Tát Ma Ha Tát.
(Niệm ba lần)

2/2

“CỬA TRƯỜNG SANH BẤT DIỆT”

Posted on April 3, 2013 by huyentamhh Edit

“CỬA TRƯỜNG SANH BẤT DIỆT”
ĐÃ GẶP NẼO

Qua những bài: “Giữ Vững Đức Tin”,
“Nguồn Gốc Đạo PGHH & Những Thời Kỳ Phổ
Hóa”, và “Tóm Lược Về Giáo Lý Đạo PGHH” đã
giới thiệu đến chúng ta về thân thế của Đức Huỳnh
Giáo Chủ cùng những nhân duyên mà Ngài khai
sáng đạo, giáo hóa chúng sanh, về nguồn gốc đạo
PGHH, cùng những căn bản trong Phật Pháp mà
Ngài để lại cho đời và cho chúng ta. Và như Ngài
cho biết: “Ngày nay đã tỉnh ngộ qui y cùng Phật-
pháp. Như vậy cửa trường-sanh bất diệt các trò
đã gặp nẽo.” Tuy nhiên, Ngài cũng cho biết: “các
trò tuy lòng mộ Đạo, chớ chưa hiểu rành nẻo bước
đường đi.” Cho nên, việc làm thế nào để hiểu rõ và
hành đúng theo giáo pháp là điều chúng ta cần nhận
rõ, để tự tìm ra lối giải thoát cho bản thân.

Trong bài nầy mong giới thiệu “Lời
Khuyên Bổn Đạo”, là những cô động, xúc tích mà
Đức Huỳnh Giáo Chủ chỉ dạy về vô ngã, về luân
hồi sanh tử, về nghiệp báo, về ý nghĩa của việc quy
y, cúng lạy, gìn giữ giới luật, về tam nghiệp, cùng
những việc nên làm… Mong hãy đọc qua để hiểu
rõ những điều ấy, hầu giúp chúng ta thêm vững đức
tin và vững bước đi trên con đường tu học.

1- Về việc qui y, Đức Huỳnh Giáo Chủ cho biết:
“Hãy tạm xét chữ qui y cho thấu đáo: Qui là
về, mà về đâu? Về cửa Phật. Y có nghĩa là
vâng lời theo khuôn-mẫu. Vậy qui y đầu Phật
là nương nhờ cửa Phật và làm y theo lời
Phật dạy…”

2- Về lý vô ngã, Ngài chỉ dạy: “…ấy cũng tại
sự mê lầm của lục căn mà say đắm lục trần;
ý-thức lầm-lạc ấy khiến các trò nhận lấy cái
thân ô-trược nầy là thật… Nào hay thân vô
thường tạm mượn do tứ đại hiệp thành.”

3- Về luân hồi sanh tử, Ngài cô động: “…các
trò còn ở trong biển mê sông khổ, thường bị
những chướng-nghiệp nhiều đời mà làm cho
linh-hồn chìm đắm trong ba cõi sáu đường,
xuống xuống lên lên, luân-hồi chuyển kiếp…”

4- Về nghiệp báo, Ngài cho biết: “…còn tội-
chướng thì linh-hồn phải chịu luân chuyển
báo đền.”

5- Về việc cúng lạy, gìn giữ giới luật, Ngài
khuyên: “Cần nhứt ở chỗ giữ giới-luật hằng

ngày. Còn sự lễ bái là điều phụ thuộc, là
món trợ đạo để nhắc-nhở các trò nhớ phận
sự mà làm.”

6- Về tam nghiệp, Ngài cũng chỉ dạy rõ: “Thầy
xét trong tam nghiệp, các trò còn mang
nặng lắm. Trong đường tu, nương theo tam
nghiệp, thì khổ não lắm. Chúng-sanh tịnh
được tam nghiệp mới mong về cõi Phật.”

7- Trong việc hành trì, Ngài cho biết: “Hãy lấy
gươm trí-huệ mà dọn sạch ma lòng, hãy lấy
lòng khoan-dung mà đối-đãi lẫn nhau, hãy
lấy lòng bác-ái nhân-đạo mà cư-xử với mọi
người. Cần hiểu cái lý vô ngã của nhà Phật.
Hãy rán sức thi hành sẽ có Thầy ủng-hộ.”

Với bao kiếp, chúng ta đã lặn hụp trong biển
mê sông khổ, không tìm ra lối thoát. Nay gặp được
Phật pháp và qui y, thì chúng ta, ít nhiều gì cũng
nhận ra được lối thoát cho bản thân. Với lý vô ngã,
giúp nhận rõ: thân của chúng ta, là điều mà chúng
ta trân quý-dung dưỡng-bảo vệ, đến tình thân luyến
ái, lợi danh, quyền tước, thiệt hơn, oán hờn, chấp
ngã, cùng tất cả vạn vật trong thế giới duy vật nầy,
đều do duyên sanh, duyên diệt, bị chi phối bởi vô
thường, và không gì vĩnh hằng thuộc về ta. Chỉ
có cái thật có, đó là thần thức hay linh hồn của
chúng ta sẽ tồn tại và chịu sự chi phối của nghiệp
báo, từ kiếp nầy sang kiếp khác. Nên khi hiểu được
Phật pháp, nhận rõ được đâu là giả tạm, đâu là cái
thật có, khi ấy chúng ta đã gặp nẽo.

Với những điều qua, cùng những điều Đức
Huỳnh Giáo Chủ đã chỉ dạy: về luân hồi chuyển
kiếp, về thuyết vô ngã, về ý nghĩa của việc quy
y, cúng lạy, gìn giữ giới luật…, mong mang đến
những đức tin cho không riêng những ai gặp được
giáo lý của Ngài, mà cho tất cả những ai, có duyên
may, gặp được giáo lý Phật Pháp, như đã gặp được
“…cửa trường-sanh bất diệt…” Mong tham khảo
qua, “Lời Khuyên Bổn Đạo” của Đức Huỳnh Giáo
Chủ, để nhận rõ từng ý, nhằm giúp chúng ta tìm ra
lối giải thoát cho bản thân. Cầu xin Hồng Ân Tam
Bảo hộ trì cho chúng sanh trong ba cõi sáu đường
đồng gặp nẽo, để cùng đi đến giải thoát.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam Mô A Di Đà Phật.

Nguyễn Hoàng Vũ

LỜI KHUYÊN BỒN-ĐẠO

(của Đức Huỳnh Giáo Chủ)

Trong khi các trò còn ở trong biển mê sông
khổ, thường bị những chướng-nghiệp nhiều đời
mà làm cho linh-hồn chìm đắm trong ba cõi sáu
đường, xuống xuống lên lên, luân-hồi chuyển
kiếp, ấy cũng tại sự mê lầm của lục căn mà say
đắm lục trần; ý-thức lầm-lạc ấy khiến các trò
nhận lấy cái thân ô-trược nấy là thật, cái cảnh
phú-quí cùng cuộc tình duyên tồn tại vui say. Nào
hay thân vô thường tạm mượn do tứ đại hiệp
thành. Cuộc phú-quí tựa đám phù vân, cái sắc
nước hương trời ấy của các trò có khác chi cành
hoa sớm nở chiều tàn, không chi bền chắc, còn tội-
chướng thì linh-hồn phải chịu luân chuyển báo
đền.

Ngày nay đã tỉnh ngộ qui y cùng Phật-
pháp. Như vậy cửa trường-sanh bất diệt các trò
đã gặp nẽo, nương đèn trí-huệ, ly xuất phàm-
trần, chán cảnh phồn hoa tìm nơi tịch tịnh. Nhưng
các trò tuy lòng mộ Đạo, chớ chưa hiểu rành nẻo
bước đường đi. Hãy tạm xét chữ qui y cho thấu
đáo: Qui là về, mà về đâu? Về cửa Phật. Y có
nghĩa là vâng lời theo khuôn-mẫu.

Vậy qui y đầu Phật là nương nhờ cửa Phật
và làm y theo lời Phật dạy, Phật từ-thiện cách nào
ta phải từ-thiện theo cách nấy, Phật tu cách nào đắc
Đạo rồi dạy ta, ta cũng làm theo cách nấy. Thầy
cảnh tỉnh giác-ngộ điều gì chánh đáng thì khá
vâng lời. Cần nhứt ở chỗ giữ giới-luật hằng
ngày. Còn sự lễ bái là điều phụ thuộc, là món trợ
đạo để nhắc-nhở các trò nhớ phận sự mà làm.
Thầy xét trong tam nghiệp, các trò còn mang nặng
lắm. Trong đường tu, nương theo tam nghiệp, thì
khổ não lắm. Chúng-sanh tịnh được tam nghiệp
mới mong về cõi Phật. Tam nghiệp là: Thân
nghiệp, khầu nghiệp, ý nghiệp (đọc lại trong cuốn
Khuyến-Thiện).

Nhưng Thầy xét lại khẩu nghiệp của các trò
nặng-nề hơn hết. Hãy lấy gươm trí-huệ mà dọn
sạch ma lòng, hãy lấy lòng khoan-dung mà đối-
đãi lẫn nhau, hãy lấy lòng bác-ái nhân-đạo mà cư-
xử với mọi người. Cần hiểu cái lý vô ngã của nhà
Phật. Hãy rán sức thi hành sẽ có Thầy ủng-hộ,

KỆ RẰNG:

Đạo-pháp thường hay dung với hòa,
Xét người cho tột xét thân ta.
Nếu người rõ phận vui lòng thứ,
Ta thứ được người, người thứ ta.

Bạc-liêu, năm Nhâm-Ngũ

TÓM LƯỢC VỀ GIÁO LÝ ĐẠO

Posted on April 3, 2013 by huyentamhh Edit

TÓM LƯỢC VỀ GIÁO LÝ ĐẠO

PHẬT GIÁO HÒA HẢO

Qua những điều trong bài viết “Nguồn Gốc
Đạo PGHH & Những Thời Kỳ Phổ Hóa” đã nói rõ
về nguồn gốc đạo PGHH, về những sắc lệnh mà Đức
Huỳnh Giáo Chủ thọ lãnh từ Phật A Di Đà, Phật
Thích Ca, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, Đức Ngọc
Hoàng và Đức Minh Vương để giáo hóa chúng sanh,
cùng điều mà Ngài cho biết: “Khai rừng kinh kệ câu
huyền-bí, Để cứu nhơn-sanh khỏi thảm-sầu”, đã cho
chúng ta những đức tin mạnh mẽ trong việc hành theo
những giáo lý của Ngài.

Bài viết nầy giới thiệu về những trọng yếu,
trong 6 quyển Sấm Kinh và 215 bài Thi Phú, mà Đức
Huỳnh Giáo Chủ để lại cho đời, hầu giúp nhận rõ
những điều mà chúng ta phải trãi qua trong kiếp người,
về luân hồi sanh tử, về tạo hóa, nghiệp quả, về những
sự khổ trong Cõi Ta Bà, những niềm vui ở Cõi Cực
Lạc, cùng những phương thức tu tập…, giúp chúng ta
thêm vững đức tin trong việc hành đạo để tìm đến sự
giải thoát. Tất cả được trích trong Sấm Giảng giáo lý
Đạo PGHH, mong quý vị tham khảo qua.

I – NHỮNG TẠO HÓA, NGHIỆP QUẢ &
SỰ KHỔ TRONG KIẾP NGƯỜI

Khuyên chúng-sanh khuya sớm chuyên cần,
Tìm nguồn-cội diệt-trừ Tứ-Khổ.

Ngỏ lời khuyên nhơn-loại khắp gần xa,
Rán tu tỉnh hưởng đời chung cực-lạc.

1. TAM NGHIỆP – THẬP ÁC
– Thân Nghiệp: tội lỗi do xác thân gây nên
o Sát Sanh: loài người giết nhau, giết thú vật
o Ðạo Tặc: cướp đoạt tài sản lương dân
o Tà Dâm: gian phu, dâm phụ

o
o
o
o

Ý Nghiệp: tội lỗi do ý tưởng gây nên
o Tham Lam: tham danh, lợi, tài, sắc…
o Sân Nộ: nóng nảy, cuồng trí, mất tự chủ
o Mê-Si: thiếu sự nghĩ suy, tin bướng làm
càn

Khẩu Nghiệp: tội lỗi do miệng lưỡi gây nên
Lưỡng Thiệt: nói thêm bớt sự phải- quấy
Ỷ Ngôn: nói điều thất thiệt, hạ nhục người
Ác Khẩu: thề thốt, chửi mắng, hăm he
Vọng Ngữ: có nói không, không nói có

2. TỨ ĐỖ TƯỜNG
– Tửu: nhiễm, thân thể bất an
– Sắc: mê, chịu sự lao khổ
– Tài Của: tham, khổ riêng một kiếp
– Khí Hùng: khởi, tấm thân chịu lao lý

3. TỨ KHỔ
– Sanh: bao-bọc, chật-chội, hình thu
– Lão: hết tráng cường, mòn thân, sức yếu
– Bịnh: do thời tiết, uống ăn bất hòa
– Tử: hữu hình tắc hoại

4. NGŨ UẪN
– Tham: sự mong cầu
– Sân: sự gây-gổ
– Si: sự say mê
– Nhơn: người (tánh phân biệt người và ta)
– Ngã: ta (tánh phân biệt người và ta)

5. NGŨ TRƯỢC
– Kiếp-Trược: thân không toàn vẹn, bệnh tật
– Kiến Trược: ngắm chỗ đê-hèn,bạo-ngược
– Nảo Trược: mưu-kế thắng-thối, ghi thù-oán
– Chúng-Sanh Trược: nhơn, vật luân hồi
– Mạng Trược: giàu-sang, họa phước, bần-cùng

6. LỤC CĂN
– Nhãn: thấy sắc thường hay bận-bịu
– Nhĩ: ưa nghe những điệu âm thinh
– Tủy: ưa mùi êm dịu
– Thiệt: ưa đồ ngon, béo
– Thân: tham sướng, tham tiền của
– Ý: ưa sửa sắc, soi hình, chức phận cao quí

7. LỤC TRẦN
– Sắc: hình tướng, đẹp, xấu…
– Thinh: âm thanh, hay, dở…
– Hương: mùi thơm, hôi…
– Vị: ngọt, đắng, chua, cay…
– Xúc: thích ưa, giận, ghét…
– Pháp: mong muốn, tham, dành…

8. TÁM ĐIỀU KHỔ CỦA CÕI TA BÀ
– Khổ Sanh: ra đời nếm mùi đau-đớn
– Khổ Lão: răng rụng, lưng cong, gối mỏi
– Khổ Bịnh: hành phạt xác thân, hôn-mê
– Khổ Tử: kiệt sức huyễn thân tan-nát
– Khổ Cầu Bất Đắc: bực-tức ưu-phiền
– Khổ Biệt-Ly: chia lìa, chua xót, than khóc
– Khổ Oan-Tắng-Hội: thương ghét, tranh-đua
– Khổ Ưu-Sầu: buồn duyên số, giàu, nghèo…

II – NHỮNG PHƯƠNG THỨC HÀNH TRÌ
& KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

Vững-vàng bất thối công-phu,
Tứ ân đã trả chẳng còn tội căn.

Chữ vinh-hoa phú-quí chẳng cần,
Miễn hiểu đạo hơn là châu báu.

1. TỨ ĐẠI TRỌNG ÂN
– Ân Tổ Tiên Ông Bà Cha Mẹ
– Ân Đất Nước
– Ân Tam Bảo
– Ân Đồng Bào Nhân Loại

2. TỨ DIỆU ĐỀ
– Tập đề: khuôn-khổ người hiền, chịu cực lòng
một bước đầu tiên
– Khổ đề: chịu nhọc-nhằn, đừng ham điều
sung-sướng
– Diệt đề: diệt trừ vật-dục, các việc mến ưa, là
sự giả tạm
– Đạo đề: thấy một đàng thẳng-bẳng mà mê, ôi
chừng đó mới là mầu nhiệm

3. BÁT NHẪN
– Nhẫn Năng Xử Thế: là người hiền, lập thân
danh, chờ thời đại
– Nhẫn-Giái: trì tâm, giữ phận
– Nhẫn-Hương-Lân: nhịn xóm chòm, những
người tuổi tác, trên dưới đều hòa ý hỉ
– Nhẫn-Phụ-Mẫu: cha con, chồng vợ nhịn
nhau
– Nhẫn-Tâm: ngày ngày an-lạc
– Nhẫn-Tánh: lòng hiền-hậu, yên-tịnh dài lâu,
– Nhẫn-Ðức: trong đời vạn sự bình an
– Nhẫn-Thành: được hòa nhã, báu-quí hiển-
vang

4. BÁT CHÁNH ĐẠO
– Chánh Kiến: xem đúng theo sự thật, phán
đoán ngay thẳng công bình
– Chánh Tư-Duy: tư tưởng chân chánh, thanh
cao, tìm chân lý
– Chánh Nghiệp: làm việc ngay đường
– Chánh Tinh Tấn: tín ngưỡng chân chánh,
giữ đức tin mạnh mẽ, quyết chí tu thân
– Chánh Mạng: sanh mạng chân chánh, tự
chủ,tìm chỗ bất diệt bất sanh
– Chánh Ngữ: lời nói chơn thật, ngay thẳng,
đúng với sự thật
– Chánh Niệm: ghi nhớ sự chân chánh, bia tạc
những điều Phật giáo

Chánh Ðịnh: suy gẫm chân chánh, giữ lòng
bất động , huờn-nguyên phản-bổn

5. TU THÂN XỬ KỶ
– Tìm kiếm chân tánh
– Thiệt-hành theo giáo-lý của Phật
– Để đức Tin và lòng lành luôn đi cặp
– Dùng trí-huệ mà bình-đoán mới mong
thoát khỏi tà kiến gạt-gẫm
– Diệt trừ vô-minh, mở-mang trí-huệ
– Tâm và trí phát-triển cả hai
– Đánh đổ tư-tưởng xấu-xa, đem thay vào
những tư-tưởng ôn-hòa, đạo-đức

6. THẬP NHỊ NHƠN-DUYÊN
– Vô-Minh (1) là tối tăm mê dốt, từ hồi vô-thỉ;
– Hành (2) mê dốt ta mới hành-động;
– Thức (3) hành-động, nên mới có cái biết;
– Danh-Sắc (4) có cái biết, nên có xác-thịt,
linh-hồn;
– Lục-Nhập (5) 6 căn, nhiễm với 6 trần;
– Xúc-Động (6) có lục-nhập mới có tiếp-xúc
với mọi người và vạn vật;
– Thọ-Cảm (7) rồi từ chỗ tiếp-xúc mới thọ
hưởng của tiền-trần;
– Ái (8) cái ưa thích, quyến luyến, thâm tình;
– Bảo-Thủ (9) gắng công giữ-gìn chặt-chịa;
– Hữu (10) gìn-giữ chặt chịa thì mới có sống;
– Sanh (11) mến tiếc, đầu thai trở lại;
– Lão-tử (12) sanh ra thì lớn, hễ lớn thì sẽ
già, hễ già thì yếu đau, nếu đau tất là phải
chết;

7. MÔN HOÀN DIỆT
-Vô-minh bị diệt (1) thì hành diệt;
– Hành bị diệt (2) thì thức diệt;
– Thức bị diệt (3) thì danh-sắc diệt;
– Danh-sắc diệt (4) thì lục-nhập diệt;
– Lục nhập diệt (5) thì xúc-động diệt;
– Xúc-động diệt (6) thì thọ cảm diệt;
– Thọ cảm (7) bị diệt thì ái diệt;
– Ái bị diệt (8) thì bảo-thủ diệt;
– Bảo-thủ bị diệt (9) thì hữu diệt;
– Hữu bị diệt (10) thì sanh diệt;
– Sanh bị diệt (11) thì lão, tử diệt (12).
Ấy là giải-thoát.

8. TÁM ĐIỀU VUI Ở CÕI CỰC LẠC
– Thoát khổ sanh: thần-thức nhập Thai-Sen
– Thoát khổ lão: thân Công-Ðức, bất di dịch
– Thoát khổ bịnh: thể thanh-tịnh, không bịnh
– Thoát khổ tử: sanh-mạng Phật, ta đồng thọ

III – NHỮNG ĐIỀU NÊN BIẾT VỀ CHƯ
PHẬT, SỰ LỄ PHẬT & NIỆM PHẬT

Nẽo chánh tà biện luận nhiều bề,
Cho bá-tánh tìm nơi cội-gốc.

Phải nghĩ suy cạn lẽ mới là,
Nay gặp gốc phải mau tìm gốc.

1. ĐỂ HIỂU VỀ CHƯ PHẬT
– Phật Là Gì?
Phật giả là Giác giả,
Giác giả là Tỉnh giả.
– Bốn Đại-Đức của Phật: Từ, Bi, Hỉ, Xả
– Đức Phật Đối Với Chúng-Sanh: yêu hết
chúng sanh, thương xót, dạy-dỗ…

2. ĐƯỜNG TRUNG ĐẠO CỦA PHẬT
– Không trưởng-dưỡng xác thịt
– Không hành xác hay ép xác
– Chẳng ép ai ăn chay, chẳng xúi ai ăn mặn,
tùy theo trình-độ và lòng nhơn của mình.
Điều cần yếu là phải: làm hết các việc từ-
thiện, tránh tất cả điều độc-ác, quyết rửa tấm
lòng cho trong sạch.

3. Ý NGHĨA CỦA SỰ LỄ PHẬT
– Quy Y Theo Phật
– Nguyện Làm Theo Lời Phật Dạy
– Tôn Kính Công Đức Của Chư Phật

4. Ý NGHĨA CỦA SỰ NIỆM PHẬT
– Cảm Nhớ Đức Ân Của Chư Phật
– Để Giao Cảm Cùng Chư Phật
– Để Tìm về Bản Thể Thanh Tịnh

IV – VIỆC NÊN LÀM TRONG TU HỌC

Giảng nầy ra cuối mùa thu,
Dạy ăn dạy ở chữ Tu vuông tròn.

Rút trong các luật các kinh,
Tùy lòng không ép làm in giảng nầy.

– Trọng Mẹ Cha: Công Sanh-Thành, Dưỡng-Dục
– Nhận rõ Điều Tội Phước, Từ Lòng Hối Ngộ
– Làm Lành, Lánh Dữ, Làm Hiền, Làm Việc Phải
– Không Tranh, Không Kình, Không Gièm Pha
– Chuyên Cần, Sốt Sắng, Miệt Mài, Cần Kiệm

Thoát khổ cầu bất đắc: không lo việc sanh-nhai
Thoát khổ biệt ly: dứt ái-ân, quyến-thuộc

Thoát khổ oan tắng hội: tâm đồng nhau, hòa-thuận

Thoát khổ ưu sầu: mọi điều thanh nhã

– Hiền Từ, Nhân Hậu, Thiệt Thà, Ngay Thẳng.
– Thuận Hòa, Chơn Chất, Thành Lòng, Nhẫn Nhục
– Gìn Giới Cấm, Trừ Nghiệp Chướng
– Tầm Tiên Lánh Tục, Tu Tỉnh, Hành Trì

– Thân Mình Tự Trị, Tu Hành, Phải Vẹn Nghĩa Ân
– Suy Nghiệm, Tỉnh Trí, Tỉnh Tâm, Cải Sửa
– Bình Tâm, Ẫn Nhẫn Tùy Thời
– Công Bình, Chánh Trực, Quân Tử, Nhẫn Hòa,
– Đức-Hạnh, Hiền Từ, Hiền-Đức, Chịu Lao Lý
– Trung-Quân Ái-Quốc, Trung Thần, Trung Hiếu

– Tu với Tỉnh: Lặng Tâm Tỏ-Ngộ Ðạo Mầu
– Bỏ Dị Đoan Mới Thấy Đạo Mầu
– Tìm Hiểu Huyền Bí trong Phật Pháp
– Tìm Lời Chơn Chánh, Nhận Rỏ Điều Bất Chánh
– Rán Sưu Tầm, Kiếm Tìm Ðạo Lý Huyền Sâu
– Dùng Trí Đạo, Gươm Trí Huệ, để Tâm Yên Tịnh,
Sáng Suốt, nhận rõ Mê với Tỉnh

– Kính Nễ Phật Trời, Giữ Dạ Sắt Đinh
– Tiên, Phật, Thánh, Thần nay lo dạy dỗ, chỉ bảo về:
Đạo Chánh, Ðạo Lý, Ðạo-đức, Tánh Thiện
– Niệm Phật – Nhớ Chữ Từ Bi
– Làm Theo Phật Thánh – Từ, Bi, Bác, Ái
– Tìm Chữ Sắc Không, Diệt Khổ, Giải Thoát, Đạt
Niết-Bàn, Về Cực-Lạc

Qua những điều trên đã tóm lược những gì mà
chúng ta phải trãi qua trong kiếp người, những điều
về luân hồi sanh tử, những trọng yếu trong Kinh Luật,
cùng những phương thức tu tập… Với những điều ấy
đã cho chúng ta một đại cương về Phật pháp, với từng
ý, từng lời là những phương thức hành trì, giúp vững
vàng trên con đường tu học. Đây là một nhân duyên
lớn không chỉ riêng cho những ai gặp được giáo lý của
Đức Huỳnh Giáo Chủ, mà cho tất cả chúng sanh trong
ba nẻo, sáu đường, nếu tín-nguyện và hành đúng theo
đều sẽ được cứu cánh về nơi an dưỡng. Mong tất cả
chúng ta cố gắng hành trì để nhận rõ về mê với tỉnh,
cùng những kết quả đạt được trong việc tu học, để giải
thoát bản thân, cứu vớt cha mẹ và cứu vớt chúng sanh
nhân loại.

Cả vũ-trụ khắp cùng vạn-vật,
Dầu Tiên, Phàm, Ma, Quỉ, Súc-sanh.
Cứ nhứt tâm tín, nguyện, phụng-hành,
Ðược cứu-cánh về nơi an-dưỡng.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam Mô A Di Đà Phật.

Nguyễn Hoàng Vũ

Quyển VI Cánh Tu Hiền và Sự Ăn Ở của Một Người Bổn-Đạo

Vu Nguyen
Dec 13 (2 days ago) 

to bcc: me

Kính gởi quý đồng đạo, quý đạo hữu

 

Em cháu xin gởi tiếp quyển 6 “Cánh Tu Hiền và Sự Ăn Ở của Một Người Bổn-Đạo”, mong quý vị hoan hỉ đón nhận.

 

Trân trọng,

Vũ Nguyễn

 

****************

 

Quyển VI

Cánh Tu Hiền và Sự Ăn Ở

của Một Người Bổn-Đạo

 

_____________________

 

Lời Nói Đầu

———

 

Năm năm trường xa cách, cái chánh-sách áp bức tôn-giáo gắt-gao của người Pháp làm cho tôi không được gần-gũi các người hầu giải bài tường tận tôn-chỉ hành đạo của tôi.

 

        Ấy không phải vì tôi cố ý muốn xa-lánh các người, song chẳng qua vì sự bắt-buộc của kẻ cường-quyền nên tôi và các người không được trực-tiếp cùng nhau.  Tuy nhiên cũng có lắm thiện-nam tín-nữ rất trung-thành, một lòng gìn đạo.  Nhưng gần đây có vài kẻ hiểu lầm, hành-động một vài điều không phù hợp với tinh thần đạo-đức, trái chủ-nghĩa từ-bi bác-ái và sự cao-thượng của giáo-pháp nhà Phật.  Thế nên điều ấy làm cho quyển sách nhỏ nầy ra đời.  Vậy từ nay trở đi tôi ước mong rằng với vài điều sơ-lược kể ra sau đây, toàn thể thiện-nam tín-nữ trong Đạo sẽ dùng trí-tuệ mình, suy-gẫm gìn-giữ ăn ở theo quy-tắc đã định, đặng tránh những việc đáng tiếc xãy ra, hầu giữ tròn danh-giá của Đạo Phật.  Như thế chẳng phụ công ơn của Đức Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni đã khai sáng Đạo Phật và đã dìu-dắt quần-sanh tầm đường giải thoát.

 

Nam-Mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật

HÒA HẢO

_____________________

 

Quyển 6 – Bao Gồm Những Phần Sau:

 

               I.          Những Điều Sơ Lược Cần Biết Của Kẻ Tu Hiền

            II.          Luận Về Tam Nghiệp

         III.          Luận Về Bát Chánh

       IV.          Cách Thờ Phượng, Hành Lễ Và Sự Ăn Ở Của Một Tín Đồ Phật Giáo Hòa Hảo

V.          Sự Cúng Lạy Của Người Cư Sĩ Tại Gia

       VI.          Lời Khuyên Bổn Đạo

 

_____________________

 

I.          Những Điều Sơ Lược Cần Biết Của Kẻ Tu Hiền

 

Đạo Phật từ xưa đến nay luôn luôn phân làm hai hạng người:

1.          Hạng xuất gia,

2.          Hạng tại gia.

 

HẠNG XUẤT GIA: Gồm có các nhà sư hay những ni cô đã hoàn toàn ly khai với gia đình, quê hương, bè bạn, dựa thân vào cửa Thiền hoặc núi non am cốc, hằng ngày chỉ chuyên lo kinh kệ, săn sóc cảnh dà lam, trau luyện đức lành, giồi mài trí tuệ hầu giảng giải cho bá tánh thập phương nghe để quày đầu hướng thiện quy y Phật Pháp, không còn thiết đến việc đời.  Gia đình nhà cửa của nhà sư là cả thế gian, thân quyến nhà sư là khắp cả nhân loại đại đồng.

 

Đó là hạng người dốc tu cho mau thành Phật quả thoát kiếp luân hồi.
HẠNG TẠI GIA: Gồm tất cả đại chúng, tất cả thiện nam tín nữ chưa đủ những điều kiện xuất gia, vì cảm thấy mình còn nặng nợ với non sông tổ quốc, với gia đình, với đồng bào xã hội, nên chưa thể làm như các nhà sư hay ni cô đặng. Tuy vậy họ cũng sẵn sàng hoan nghinh ca tụng lý tưởng từ bi bác ái đại đồng của nhà Phật và luật Nhân quả do Phật thuyết ra.  Thế nên ở tại nhà họ thờ phượng Đức Phật, phát nguyện quy y, giữ gìn ít điều giới luật, hằng coi kinh sách sửa tánh, răn lòng, ủng hộ các sư.   Như thế, họ cũng lần lần lên con đường giải thoát.

 

Đây là hạng người học Phật tu Nhân.

 

Bàn xét như trên, thấy rằng toàn thể trong Đạo chúng ta thuộc hạng tại gia cư sĩ, học Phật tu Nhân vậy.

 

Sách xưa có câu: “Thiên kinh vạn điển, hiếu nghĩa vi tiên” (muôn vạn quyển kinh của Phật, Thánh, Tiên đều dạy sự hiếu nghĩa làm đầu).  Hôm nay đã quy y đầu Phật, tu niệm tại gia, ta hãy cố gắng vưng lời Thầy Tổ đã dạy, lo tròn câu hiếu nghĩa.

 

Đức Thầy Tây An thuở xưa thường khuyến khích các môn nhơn đệ tử rằng: muốn làm xong hiếu nghĩa, có bốn điều ân ta cần phải hy sinh gắng gổ mới mong làm trọn.

 

1.          Ân Tổ Tiên cha mẹ,

2.          Ân Đất Nước,

3.          Ân Tam Bảo,

4.          Ân Đồng Bào và Nhân loại (với kẻ xuất gia thì Ân Đàn na Thí chủ).

 

1.   ÂN TỔ TIÊN CHA MẸ: Ta sanh ra cõi đời được có hình hài để hoạt động từ thuở bé cho đến lúc trưởng thành, đủ trí khôn ngoan, trong khoảng bao nhiêu năm trường ấy, cha mẹ ta chịu biết bao khổ nhọc; nhưng sanh ra cha mẹ là nhờ có tổ tiên; nên khi biết ơn cha mẹ, cũng có bổn phận phải biết ơn tổ tiên nữa.

 

Muốn đền ơn cha mẹ, lúc cha mẹ còn đang sanh tiền, có dạy ta những điều hay lẽ phải ta rán chăm chỉ nghe lời, chớ nên xao lãng làm phiền lòng cha mẹ.  Nếu cha mẹ có làm điều gì lầm lẫn trái với nhân đạo, ta rán hết sức tìm cách khuyên lơn ngăn cản.  Chẳng thế, ta cần phải lo nuôi dưỡng báo đền, lo cho cha mẹ khỏi đói rách, khỏi bệnh hoạn ốm đau, gây sự hòa hảo trong đệ huynh, tạo hạnh phúc cho gia đình, cho cha mẹ vui lòng thỏa mãn.  Rán cầu cho cha mẹ được hưởng điều phước thọ.  Lúc cha mẹ quá vãng, hãy tu cầu cho linh hồn được siêu thăng nơi miền Phật cảnh, thoát đọa trầm luân.

 

Còn đền ơn tổ tiên, là đừng làm điều gì tồi tệ, điếm nhục tông môn, nếu tổ tiên có làm điều gì sai lầm, gieo họa đau thương lại cho con cháu, ta phải quyết chí tu cầu và hy sinh đời ta làm điều đạo nghĩa, rửa nhục tổ đường.

 

2.   ÂN ĐẤT NƯỚC: Sanh ra, ta phải nhờ tổ tiên cha mẹ, sống ta cũng nhờ đất nước quê hương.  Hưởng những tấc đất, ăn những ngọn rau, muốn cho sự sống được dễ dàng, giống nòi được truyền thụ, ta cảm thấy bổn phận phải bảo vệ đất nước khi bị kẻ xâm lăng giày đạp.  Rán nâng đỡ xứ sở quê hương lúc nghiêng nghèo và làm cho trở nên được cường thạnh.  Rán cứu cấp nước nhà khi bị kẻ ngoài thống trị.  Bờ cõi vững lặng thân ta mới yên, quốc gia mạnh giàu mình ta mới ấm.

 

Hãy tùy tài tùy sức, nỗ lực hy sinh cho xứ sở.  Thảng như không đủ tài lực đảm đương việc lớn, chưa gặp thời cơ giúp đỡ quê hương, ta phải rán tránh đừng làm việc gì sơ xuất đến nỗi làm cho nước nhà đau khổ, và đừng giúp sức cho kẻ ngoại địch gây sự tổn hại đến đất nước.

 

Đó là ta đền ơn cho đất nước vậy.

 

3.   ÂN TAM BẢO: Tam Bảo là gì? – Tức: Phật, Pháp, Tăng.

 

Con người nhờ tổ tiên cha mẹ sanh ra nuôi dưỡng, nhờ đất nước tạo kiếp sống cho mình, ấy về phương diện vật chất.

 

Về phương diện tinh thần, con người cần nhờ đến sự giúp đỡ của Phật, Pháp, Tăng khai mở trí óc cho sáng suốt.  Phật là đấng toàn thiện, toàn mỹ, bác ái vô cùng, quyết cứu vớt sanh linh ra khỏi vòng trầm luân khổ hải.  Thế nên Ngài mới truyền lại giáo pháp, tức là những lời chỉ dạy cho các chư tăng, đặng đem nền Đạo cả của Ngài ban bố khắp trần thế.  Các chư tăng chẳng ai lạ hơn là các đại đệ tử của Đức Phật vậy.  Bởi vì đức Phật luôn luôn chỉ dẫn và cứu vớt quần sanh thoát miền mê khổ, nên ta hãy kính trọng Phật, hãy tin tưởng và tín nhiệm vào sự nghiệp cứu đời của Ngài, làm theo những điều chỉ dạy do các chư tăng cho biết.  Tổ tiên ta đã hiểu rõ sự nhiệm mầu, lòng quảng ái của Phật đối với chúng sanh, đã kính trọng sùng bái Ngài, đã hành động đúng theo khuôn khổ Ngài đã dạy và đã vun trồng bồi đắp cho nền Đạo được phát triển thêm ra, xây dựng một tòa lâu đài Đạo hạnh vô thượng vô song roi truyền mãi mãi với hậu thế.

 

Nên bổn phận chúng ta phải noi theo chí đức của tiền nhân hầu làm cho trí tuệ minh mẫn đặng đi đến con đường giải thoát, dẫn dắt giùm những kẻ sa cơ, và nhứt là phải tiếp tục khai thông nền Đạo đức đặng cái tinh thần từ bi bác ái được gieo rải khắp nơi nơi trong bá tánh.  Như thế mới chẳng phụ công trình vĩ đại của Đức Phật và của tiền nhân để lại, và không đắc tội với kẻ đời sau vậy.

 

4.   ÂN ĐỒNG BÀO VÀ NHÂN LOẠI: Con người vừa mở mắt chào đời đã thấy mình phải nhờ đến sự giúp đỡ của những kẻ ở xung quanh và cái niên kỷ càng lớn thêm bao nhiêu, sự nhờ nhõi càng tuần tự thêm nhiều chừng nấy.

 

Ta nhờ hột cơm của họ mới sống, nhờ miếng vải của họ mới ấm thân, nhờ cửa nhà của họ mới tránh cơn phong vũ.  Vui sướng, ta đồng hưởng với họ.  Hoạn nạn, họ cùng chịu với ta.

 

Họ và ta cũng một màu da, cũng một thứ tiếng nói.  Ta và họ hợp nhau thì thành lại làm một: ấy Quốc gia đó. Họ là ai?  Tức là những người ta thường gọi bằng đồng bào vậy.

 

Đồng bào ta và ta cùng chung một chủng tộc, cùng một nòi giống rọi truyền, cùng có những trang lịch sử vẻ vang oanh liệt, cùng tương trợ lẫn nhau trong cơn nguy biến, cùng chung phận sự đào tạo một tương lai rực rỡ trong bước tiền đồ của giang san đất nước.  Đồng bào ta và ta có một liên quan mật thiết không thể rời nhau, chẳng thể chia nhau và chẳng khi nào có ta mà không có đồng bào, hay có đồng bào mà không có ta.  Thế nên ta phải rán giúp đỡ họ hầu đền đáp cái ơn mà ta đã thọ trong muôn một.

 

Chẳng những thế thôi, ngoài đồng bào ta còn có thế giới, người đang cặm cụi cần lao cung cấp những điều nhu cầu cần thiết.  Họ là nhân loại, là những người đang sanh sống với chúng ta trên quả địa cầu.  Nếu không có nhân loại, thử hỏi dân tộc ta ra như thế nào? Ta có đủ vật liệu để dùng chăng?  Ta có thể tự túc một cách đầy đủ chăng?  Nói tóm lại, ta có thể lẻ loi đương đầu với những khi phong vũ nhiệt hàn với những lúc ốm đau nguy biến, giữ vững cuộc sống còn này chăng?  Hẳn không vậy.  Thế nên dân tộc ta phải nhờ đến Nhân loại, nghĩa là nhờ đến dân tộc khác và phải biết ơn họ.  Hãy nghĩ đến họ cũng như mình nghĩ đến mình và đồng chủng mình.

 

Vả lại, cái tình từ bi bác ái của Đức Phật mà ta đã nhận thức, rất thâm huyền quảng hượt.  Cái tình ấy nó không bến không bờ, không phân biệt màu da, không phân biệt chủng tộc; nó cũng không luận sang hèn và xóa bỏ hết các từng lớp đẳng cấp xã hội mà chỉ đặt vào một: Nhân loại Chúng sanh.

 

Thế, ta không có lý do gì chánh đáng để vì mình hay vì đồng bào mình gây ra tai hại cho các dân tộc khác. Trái lại, hãy đặt vào họ một tư tưởng nhân hòa, một tinh thần hỉ xả và hãy tự xem mình có bổn phận giúp đỡ họ trong cơn hoạn nạn.

 

Đối với những kẻ xuất gia quy y đầu Phật, phụ vào những ân huệ đã thọ như đã nói trên, họ còn phải trực tiếp chịu ân các đàn na thí chủ, nghĩa là những thiện nam tín nữ có hảo tâm cung cấp những vật dụng cần thiết cho họ.  Họ nhờ đến hột cơm, đến miếng vải, đến thuốc men đặng sanh sống, rốt lại họ phải nhờ đến sự nuôi dưỡng hoàn toàn của những kẻ tốt lòng.

 

Với quần sanh, họ mang cái ân rất nặng, cho nên họ phải dìu dắt sanh linh đi tầm Chân lý đặng đáp tạ tấm lòng chiếu cố của thiện tín.

 

 

II.          Luận Về Tam Nghiệp

 

Sanh ra ở đời, con người dầu muốn hay dầu không, cũng phải chịu dưới sự chi phối của định luật thiên nhiên.  Định luật ấy gồm vào một chữ Đạo, đạo của con người kêu bằng “Đạo Nhân” và nó là con đường đi trúng thì sống, bước trật tất chết.

 

Muốn làm tròn Nhân Đạo, phải giữ vẹn Tứ Ân.  Nhưng trước hết hãy tránh Tam Nghiệp và chừa Thập Ác, cũng như muốn làm giàu phải tránh đừng cho thiếu nợ.

 

Mỗi người đều có ba nghiệp chướng sau đây:

–       Thân nghiệp: (tội lỗi do xác thân gây nên);

–       Khẩu nghiệp: (tội lỗi do miệng lưỡi gây nên);

–       Ý nghiệp: (tội lỗi do ý tưởng gây nên).
Ba nghiệp chướng ấy khiến con người phạm mười điều ác kể ra dưới đây:

Thân-nghiệp sanh 3 điều ác:

1.          Sát-sanh

2.          Đạo-tặc

3.          Tà-dâm

Khẩu-nghiệp sanh 4 điều ác:

1.          Lưỡng-thiệt

2.          Ỷ-ngôn

3.          Ác-khẩu

4.          Vọng-ngữ

Ý-nghiệp sanh 3 điều ác:

1.          Tham-lam

2.          Sân-nộ

3.          Mê-si

 

1.   SÁT SANH: Con người mới sanh ra ở đời đều có tánh hiền lành cả.  Song đến lúc lớn khôn vì phải chung chạ với thế giới người hung tàn bạo ngược, tánh nết liền ô nhiễm những sự xấu xa hèn kém, trở nên độc ác dữ dằn.

 

Loài người giết nhau vì tiền bạc, vì sắc đẹp, vì lợi danh, vì quyền thế, vì thù hềm, vì háo thắng… nghĩa là họ giết nhau vì sự ích lợi của một người, của một nhóm người, của một đẳng cấp xã hội, của một quốc gia; họ muốn tiêu diệt tất cả nhân loại, không một ai có quyền sanh sống cùng họ cả.

 

Tại trào nội, sự mà vua coi bầy tôi như cỏ rác, bầy tôi sánh vua như thể địch thù đã làm nguyên nhân cho biết bao cuộc tương tàn tương sát.  Ngoài lê thứ thì con giết mẹ cha, tớ hại chủ, trò giết thầy, chồng vợ giết nhau, đệ huynh xâu xé.  Những cuộc tương tàn rất thường xảy ra trong nhân loại không ngoài các lý do đã kể trên.  Đó là người đối với người.

 

Người đối với thú cầm, sanh vật còn tàn nhẫn gấp mấy nữa: họ giết thú vật vì miếng ăn, vì sự dị đoan mê tín, vì sự vui thích.  Đành rằng mình không thể dứt tuyệt giết các sanh vật (gà, vịt, heo… ) để nuôi thân sống, nhưng chẳng khá dựa vào lý “vật dưỡng nhơn” (thú vật sanh ra đặng nuôi con người) mà giết nó một cách quá đáng.  Chỉ cần dùng nó vừa đúng theo sự nhu cầu cần thiết của các món thực phẩm mình thôi và không nên hoang phí hy sinh nó, nếu sự hy sinh ấy không ích lợi cho mình lắm.  Nhứt là chẳng khá giết các thú vật trong khi tế lễ.  Người ta tưởng rằng khi mình phạm tội với Thánh, Thần, Trời, Đất có thể sát hại sanh vật cúng tế cầu cho tội quả tiêu trừ.  Sự tin tưởng ấy rất sai lầm huyễn hoặc, vì đứng vào bực siêu hình cao cả như chư vị Thánh Thần, có lý nào vì một tình riêng làm sai chạy lẽ công.  Khi gặp tai nạn bất ngờ hay rủi ro đau ốm, con người không chịu thuốc thang, khấn vái Phật Trời cầu cho tai qua nạn khỏi, lại giết các thú vật tế Thần cúng Thánh, kêu cốt, kêu đồng.  Họ không chịu tìm nguyên nhân các sự họa hoạn, không chịu tìm hiểu rằng những tai biến xảy ra đều do căn tiền báo quả hậu, và không chịu ăn năn chừa lỗi, tạo tác phước điền.  Trong khi giết các thú vật đặng tế lễ, họ đã phạm thêm một tội ác lúc họ chưa đền bồi các tội ác trước được.

 

Chẳng những vậy thôi, họ còn giết các thú vật vì sự vui thích của mình; kẻ bắn chim đang bay trên trời, người chặt cá đang lội dưới nước.  Họ bắt thú vật làm tấm bia cho họ nhắm trong những khi cao hứng quên hẳn rằng sanh vật cũng có linh hồn, cũng có thân xác, cũng biết tìm lẽ sống còn như nhân loại vậy.

 

Thế nên, hãy tha thứ cho chúng, hãy dung dưỡng chúng, và nhứt là đối với các gia súc: trâu, bò, ngựa, chó, mèo… chẳng khá sát hại, vì chúng đã giúp ích cho ta trong các việc sanh hoạt hằng ngày.  Tóm lại, không có sự sát sanh vô cớ nào có thể tha thứ được và trong những ngày chay lạt hãy cữ hẳn.

 

2.   ĐẠO TẶC: Câu: “Bần cùng sanh đạo tặc” cần phải là một câu chữa mình của bọn bất lương vô đạo. Những kẻ này ngày vẩn vơ đầu đường xó chợ, tối kiếm chỗ khoét vách đào tường, không làm muốn có ăn, không lo muốn có mặc.  Lớp người cặn bã của xã hội này, sống ngoài vòng pháp luật, trốn nhủi trốn chui, phá rối sự an ninh của dân chúng, chuyên lo giết người cướp của đoạt giựt tài sản của lương dân, không nghĩ rằng phải tốn bao nhiêu giọt mồ hôi, bao nhiêu dòng nước mắt mới làm ra được.  Họ là giống sâu làm rầu nồi canh, là tội nhân gây ra những tai biến trong những gia đình cần lao kiệm tiết, là nguyên nhân của sự nghèo sự khó, họ phá hoại hạnh phúc của con người.

 

Cơ hàn đói khó, thay vì phải làm lụng như những kẻ khác mưu cuộc sống còn, họ gây cái lỗi này rồi đến cái lỗi khác, phạm tội này rồi tới tội nọ, tạo chẳng biết bao nhiêu chuyện bất lành cho nhân chủng.  Lưới trời tuy thưa nhưng khó lọt, những kẻ ấy dầu họ không bị luật hình của loài người phân xử, song cơ Trời cũng sẽ báo ứng đến những hành vi đen tối, nếu họ không chịu ăn năn chừa lỗi, sửa tánh tu thân, bỏ thói vô nghì, lánh điều phi nghĩa.

 

3.   TÀ DÂM: ”Muôn việc lành hiếu thuận đứng đầu, ngàn việc dữ tà dâm đứng trước”.   Sách sử thường bảo như thế.

 

Lần giở xem sử sách, thời thấy tội ác ấy lan diễn ra khắp nơi, từ trào nội cho đến thứ dân, từ trong gia đình đến kẻ xa người lạ, nó là mầm gây ra biết bao thảm trạng!  Gương của vua Tề với vợ Thôi Tử, An Lộc Sơn với Dương Quý Phi há chẳng còn lưu liên hậu thế. Giàu ỷ của hiếp dâm kẻ khó, quan ỷ quyền cường bức đám dân hèn.  Gian phu, dâm phụ từ xưa đến nay luôn luôn đều có.

 

Muốn tránh sự bại hoại nền luân lý nước nhà, muốn giữ gìn tiếng tăm của gia thế, phải đừng để dục tình lôi cuốn, bắt chước gương xưa trau giồi lòng hiếu trung trinh tiết.

 

4.   LƯỠNG THIỆT: Đứng đầu các tội ác do miệng lưỡi gây ra, ác lưỡng thiệt này đã làm duyên cớ cho những sự hiểu lầm nhau, những sự cãi vã gây gổ sanh oán sanh thù.  Sự phải của người thì bớt, sự quấy của người thì thêm, cái lưỡi đã tạo những sự chia rẽ, những cuộc phân tranh, phá tan sự đoàn kết tình thân yêu giữa nhân loại.  Nó cũng là nguồn cội của bao nhiêu bất hòa, hiềm khích.

 

Để giải trừ những tai vạ ấy, phải giữ cho lời nói mình được thành thật, chánh đáng; được vậy trong hương đảng mới bớt rầy rà, ngoài xã hội không điều xích mích, và mình cũng không còn chịu ác cảm, tránh sự miệt khinh của kẻ khác.

 

5.   Ỷ NGÔN: Nói đến tội ác nầy tức là nói đến những vụ chủ ỷ quyền nhiếc xài tôi tớ, quan ỷ thế mắng chưởi dân ngu.  Kẻ giàu có thường ỷ tiền bạc xài xỉ người nghèo, kẻ xảo quyệt ỷ sự khôn lanh nói những điều thất thiệt, kẻ học thức ỷ sự khôn ngoan dùng lời nói hạ nhục người dốt nát.

 

Hãy tránh những sự hiếp người như thế ấy, vì những kẻ dưới tay mình cũng có đầu óc, cũng biết nghĩ suy, nhưng họ bạc phước vô phần nên phải chịu lụy mình vậy.  Nếu họ có lỗi lầm hãy dạy dỗ họ, dùng những cam ngôn mỹ từ, những lời trang nghiêm êm dịu chỉ bảo, không khá bao biếm mà mang điều tội lỗi.

 

6.   ÁC KHẨU: Những tiếng thề thốt lỗ mãng, chưởi mắng tục tằn làm ra tội này; con chưởi mẹ mắng cha không kể luân thường thảo hiếu; mạnh bạo hăm he đánh giết những kẻ yếu hèn, hiếp đáp xóm chòm cô bác. Mở miệng ra chưởi gió mắng mây, trù rủa gia đình, không kiêng Thần Thánh.  Tối ngày kêu réo Phật Trời, mời thỉnh Long cung, làm cho tội lỗi càng thêm chồng chập.

 

Hãy bỏ những tiếng tục tằn thô lỗ làm cho đời sống được êm dịu thanh bay hơn.  Đối với cha mẹ phải có lễ độ, với gia đình, với bà con cô bác, với xóm chòm quen thuộc, lời nói mình phải đoan trang nghiêm chỉnh. Đối với con cháu trong nhà không nên nói những điều ác đức, phải dùng lời nói dịu dàng hiền hậu dạy dỗ chúng.

 

7.   VỌNG NGỮ: Thêm thừa huyễn hoặc, có nói không, không nói có, ác vọng ngữ đã làm nguyên nhân cho những sự bất công của nhân loại.  Thương người nào kiếm cách bào chữa giấu giếm sự quấy và thêu thùa sự tốt ra; ghét ai đặt điều nói xấu và che đậy các điều phải của họ.  Khoe khoang tự đắc, xảo trá đa ngôn, những kẻ điêu ngoa làm cho thiên hạ khinh khi miệt thị.

 

Muốn tránh những điều khiến cho tư cách nhân quần phải bị giảm hạ, hãy tập tánh nói năng chân chánh, bỏ lối láo xược trớ trêu.  Chẳng nên tráo chác với người, bỏ tiếng xảo ngôn và phải dùng lời chơn chất.

 

8.   THAM LAM: Tánh tham lam đã làm cho loài người phải chịu bao nhiêu thảm khổ: chiến tranh, cướp bóc, giết người…  Tham danh, tham lợi, tham sắc, tham tài, tham quyền, tham thế…  Những sự ấy đã xô đẩy con người vào chẳng biết bao nhiêu cuộc chiến đấu ác liệt, gây nên những thảm họa tầy trời.  Những tấn tuồng giặc giã cướp của sát nhơn, những vụ hối lộ, những vụ tranh thế giành quyền đã làm cho nhân sanh điêu linh trong vòng tai nạn khốc hại.  Cái tham ấy cũng đã làm cho con người đau buồn hận khổ, phải khóc đứng than ngồi, phải liều mình tự sát chỉ vì sự ham muốn không được thực hiện; người ta quyên sinh vì tình yêu, vì lợi quyền, vì thất trận…  Những cuộc cấu xé lẫn nhau, những vụ nồi da xáo thịt, những tương sát tương tàn, những điều hung hăng bạo ác cũng do sự tham lam mà ra cả.  Ngày giờ nào loài người diệt được tánh ham muốn của mình, ngày giờ ấy bớt được một phần lớn của sự khổ.  Vả lại, ở đời phải có những lúc thăng trầm chìm nổi, có thì ta xài, không ta nhịn, can gì phải bày mưu tính kế chiếm đoạt của kẻ ngoài.  Của là của chung trong thiên hạ, đời ta còn, nó còn; đời ta mất, nó mất.  Gương Thạch Sùng, Vương Khải há không để lại cho ta một bài học đích đáng lắm ru?  Thế nên hãy nghĩ đến người cũng như mình nghĩ đến mình, hãy dẹp lòng vị kỷ tham lam, lo vun trồng phước đức, bố thí kẻ nghèo hèn, rán công phu sám hối để có thể yên vui nơi miền Cực Lạc, lánh sự giả tạm ở cõi trần này.

 

9.   SÂN NỘ: Tánh nóng nảy thường xúi con người làm những chuyện bất công sái phép, chém giết oán thù nhau.  Kẻ thắng kiêu hãnh, người bại hổ ngươi, nên sự hềm thù càng lan rộng.  ”Giận mất khôn”, cơn giận làm cho con người cuồng trí, mất sự tự chủ, trở nên dữ dằn bạo tợn, chẳng còn nghĩ đến việc công bình, lẽ phải trái.

 

Diệt được nó, tâm ta được thảnh thơi, trí ta được thong thả.  Hãy mở lượng khoan hồng dung tha kẻ lầm lỗi. Hãy nhẫn nhịn và chẳng nên cãi cọ, tranh luận hơn thua làm cho nảy sanh ra những điều hềm khích.

 

10.                  MÊ SI: Tội ác này do sự thiếu óc phán đoán, thiếu sự nghĩ suy mà ra; vì vậy con người ít hay phân biệt được lẽ phải trái, bo bo giữ thiển kiến sai lầm, chẳng chịu nhìn nhận chân lý.  Suốt cả đời ngu muội, chỉ biết mê man theo những vật nhỏ nhen, mau tan, mau rã, chỉ biết tin bướng làm càn, không tìm hiểu con đường giải thoát.

 

Hãy xóa bỏ những điều mê tín, qui thuận theo tinh thần đạo đức, lánh chốn mê lầm, tỉnh cơn mộng huyễn, phá tan màn vô minh che mờ tâm trí, lần bước trên con đường đạo hạnh, đi đến chỗ Bất diệt, Bất sanh.

 

 

 

III.          Luận Về Bát Chánh

 

Trừ xong ba nghiệp chướng, hãy làm theo tám điều chánh và sau khi diệt được thập ác rồi, tự nhiên mười điều lành hiện ra: như thế ta đã đi thêm được một bước trên con đường Đạo hạnh.  Những sự tấn bộ ấy không có nghĩa là đạt được mục đích.  Thế nên, cần phải hành luôn Đạo Bát Chánh tiếp theo, vì đó là quyển kinh nhựt tụng của những ai muốn thoát chốn mê đồ, tấn triển trên đường giải thoát.

 

Bát Chánh gồm có:

1. Chánh kiến
2. Chánh tư duy
3. Chánh nghiệp
4. Chánh tin tấn
5. Chánh mạng
6. Chánh ngữ
7. Chánh niệm
8. Chánh định.

 

1.   CHÁNH KIẾN: Chánh: đúng sự thật.  Kiến: thấy, xem xét.

Chánh kiến: dòm thấy, xem đúng theo sự thật.

 

Phàm con người thường hay bị bản ngã lôi cuốn trí mờ ám làm cho sai chạy ít nhiều sự thật.  Khi vì thiếu sự sáng suốt, khi vì tư thù, khi vì lợi kỷ, khiến cho con người không biết đường ngay nẻo thẳng nên sự phán đoán không công bình chánh đáng làm cho kẻ khác chịu oan tình.  Vì thế mục Chánh Kiến dạy ta phải đem hết trí năng truy cứu các sự rắc rối, cẩn thận xem xét tránh sự lạc lầm trong khi phê đoán bất cứ việc gì, dầu của mình hay của kẻ khác.  Sự quan sát cực điểm, cách xét đoán tận tường, tránh cho ta những tà kiến (sự xem xét lầm lạc) sai chạy, khiến ta dẹp bản ngã đã làm cho trí tuệ mịt mờ u ám, giúp cho ta hiểu biết rõ ràng, minh bạch, cách phán đoán được ngay thẳng công bình.

 

Chẳng thế, nó còn giúp cho ta hiểu biết các điều tục lụy trong trần, biết được lẽ nhiệm mầu tôn giáo khiến ta xua đuổi các điều tà mị, bỏ các sự say mê, trở về với đạo lý, thoát đọa hồng trần.  Nó tránh cho ta tất cả những sự giả dối và nhờ thế, nên ta khỏi bị lạc lầm trong khi hành Đạo.

 

2.   CHÁNH TƯ DUY: Tu tưởng chân chánh.  Sanh ở trong trần con người thường hay bị các thị dục cám dỗ: lợi danh, quyền tước, nghĩa vợ tình chồng… cái tư tưởng đã rù quến tâm trí mãi mãi quay cuồng vào những sự ấy, không thế nào thoát ly ra được.  Ấy về phần tà.

 

Phần chánh dạy rằng: tâm cần phải bình, tánh cần phải tịnh, giữ tư tưởng cho thanh cao, trí rán tìm cái Chân lý, Chân lý ấy là cái Đạo của mình đối với nhân loại, của mình đối với Trời Phật, của mình đối với mình.  Vì thế, hãy đặt tư tưởng mình vào công cuộc tìm phương cứu giúp sanh linh trong vòng trầm luân oan nghiệt. Hãy tin tưởng Phật Trời và cầu nguyện đấng Thiêng liêng ban bố phước lành cho nhân chúng.  Hãy tìm con đường giải thoát cho mình bằng cách lạc Đạo an bần, xả thân tu tỉnh.

 

3.   CHÁNH NGHIỆP: Việc làm chánh đáng ngay thẳng.

 

Đối với kẻ xuất gia đầu Phật, ngoài những lúc tham thiền nhập định, những khi trì tụng kinh hành, những khi đọc kinh viết sách, những lúc công quả cho nhà Thiền, chẳng có làm việc chi có thể tạo thành ác nghiệp cả.

 

Những kẻ tại gia cư sĩ, trái lại, còn cần phải lo kế sinh nhai, mưu cuộc sống còn; kẻ buôn tảo bán tần, người việc này việc nọ, tóm lại cũng vì xác thân mà ra cả. Tuy nhiên, dầu đời sống của họ có bị sự sinh nhai chi phối, song cái chi phối ấy khác hẳn với kẻ gian tà đạo tặc, chẳng có làm việc gì xảo trá bất nhân.  Trong cuộc mưu cầu cho lẽ sống, họ cũng nguyện bỏ những nghề nghiệp gây tai hại cho con người: nuôi điếm, bán á phiện, buôn rượu, đầu cơ, cho vay cắt cổ v.v…

 

Đành rằng những người buôn bán ấy không có ép buộc bạn hàng, song tại có họ làm các nghề nghiệp ấy, con người mới bị hư hỏng, trụy lạc, hoang đàng, trà đình tửu điếm…  Họ là đồng lõa mà phạm nhân là những kẻ nghiện ngập say sưa.

 

Thế nên mục Chánh Nghiệp răn cấm chúng ta làm các nghề ấy.

 

Kẻ tại gia cư sĩ cũng chẳng sát hại vô cớ các sanh vật, hoặc không đánh đập chém đâm ai có thể gây ra nhiều điều tội lỗi.

 

4.   CHÁNH TIN TẤN: Tín ngưỡng chân chánh và lướt tới.

 

Phái vô thần luận thường cho rằng thân xác tức con người.  Thân còn tức người còn, thân mất là người mất. Không có Thánh, Thần, Trời, Phật; không quả báo luân hồi; cũng chẳng có tội, có phước, có vía, có hồn. Đời là thân xác con người, sống là tranh đấu, mạnh được yếu thua.  Thế nên biết bao nhiêu mánh khóe gian hùng, bao nhiêu ngón điêu ngoa xảo trá, bao nhiêu tàn bạo ngược ngang đều được đem ra dùng cả thảy.

 

Vì vậy, mục Chánh Tin Tấn này khuyên hãy rán giữ đức tin cho mạnh mẽ.  Dầu các thị dục có lớn lao thế mấy, dầu cho có sức lực gì cám dỗ hay bức bách bỏ lòng tín ngưỡng Phật Trời đặng theo việc khác, các sự ấy cũng chẳng thể lôi kéo được.  Và ta luôn luôn phải nhớ đến công cuộc cứu vớt quần sanh thoát nơi khổ hải của Đức Thế Tôn, phải nhớ rằng sanh linh đang chìm đắm trong bể hồng trần, rằng ngày giờ nào còn có kẻ trong chúng sanh chịu khổ thì ta cũng phải khổ vì họ vậy, rằng ta có cái bổn phận giác ngộ trần gian, bỏ những oan trái luân hồi cay nghiệt.  Muốn thế trước hết phải tìm phương tự giác, nhắm cảnh Niết Bàn tấn tới; quyết chí tu thân đắc thành Đạo quả hầu dìu dắt bá tánh thập phương xa miền tục lụy.  Người bỏ hết các sự rầu buồn, các điều tà vạy, dẹp lục căn lục trần, và rán làm cho tinh thần được thêm sáng suốt, rèn luyện các đức tánh cho thiện mỹ: yên tịnh, hỉ lạc, nghiêm tranh, quyết gắng công phu, một lòng bước tới Niết Bàn đặng quyết có tế độ chúng sanh thoát khỏi luân hồi quả báo.

 

5.   CHÁNH MẠNG: Sanh mạng chân chánh, trong sạch.

 

Ở đời, người ta hay lấy xác thân mình làm gốc và hay quí trọng săn sóc nó.  Ấy cũng do lục căn mà ra: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý.  Mắt ưa xem sắc đẹp, tai ưa nghe tiếng hay, mũi ưa ngửi hương thơm, lưỡi ưa đồ ngon béo, thân ưa sự sung sướng, ý ưa chức phận cao.

 

Người ta tìm đủ phương thế bổ dưỡng thân xác mình, làm cho trí tuệ càng ngày càng thêm mờ ám, ngu đần, không còn lo lắng đến sự tiêu diệt.  Thế nên, hãy xa lánh những điều làm tinh thần bị đen tối; bỏ hết đài các xa hoa, thân mình tự chủ để tìm chỗ bất diệt bất sanh; thiền định đặt làm thể, trí tuệ đặt làm mạng, linh hồn nhập Liên hoa, siêu sanh vào cõi Niết Bàn.

 

6.   CHÁNH NGỮ: Lời nói chơn thật.

 

Lục căn làm cho con người nhiễm lục trần.

 

 

[Message clipped]  View entire message

2 Attachments 

6a- Quyển VI – Cách Tu Hiền và Sự Ăn Ở của Một Người Bổn Đạo.doc
6b- Quyển VI – Cách Tu Hiền và Sự Ăn Ở của Một Người Bổn Đạo.pdf
Click here to Reply or Forward

Quyển IV – Giác Mê Tâm Kệ

Quyển IV – Giác Mê Tâm Kệ

Inbox
x
Vu Nguyen
Nov 29 (2 days ago) 

to bcc: me

Kính gởi quý đồng đạo, quý đạo hữu;

 

Em cháu xin gởi tiếp quyển 4, mong quý vị hoan hỉ đón nhận.  Xin cầu chúc quý vị một mùa lễ Tạ Ơn trong an lạc.

 

Trân trọng,

Vũ Nguyễn

 

*****************************

Quyển IV

Giác Mê Tâm Kệ

 (846 câu)

Khai ngọn đuốc từ-bi chí thiện,
Tìm con lành dắt lại Phật đường.
Thương dân hiền giáo đạo Nam-Phương,
Ðặng chỉ ngõ làm lành lánh dữ.
Sách Thánh đạo ghi trong Tam-Tự,
Người mới sanh tánh thiện Trời dành.
Bởi lớn lên tập nhiễm lợi danh,
Nên tật xấu che mờ thiện-tánh.
Thiếu giáo-dục thiếu thêm đức-hạnh,
Ta quyết lòng nhắc lại tánh xưa.
Mặc tình đời gièm-siểm ghét ưa,
Rừng kinh kệ ít người hay chữ.
Quá mắc mỏ bởi chưng Phạn-ngữ,
Nên người đời khó kiếm cho ra.
Mõ chuông bày đọc tụng ó la,
Chớ hiếm kẻ tường thông nghĩa lý.
Dòm trước mắt thấy điều hồ-mị,
Nên động tình bác-ái dạy răn.
Réo những ai lợi dụng làm xằng,
Cho suy-sụp chơn-nhơn mờ-mịt.
Nào có khác mây đen phủ bít,
Rồi dắt nhau đến chỗ dại ngây.
Lấy tinh-thần hiệp vén ngút mây,
Trong bổn-đạo tự thân phải xử.
Xuống dương-thế dạo trong lê-thứ,
Thấy bá-gia gặp lúc não-nùng.
Cảnh trần-gian nhiều nổi lao-lung,
Việc tu-tỉnh ít người hiểu lý.
Trong bá-tánh muốn nơi cao quí,
Phải truy tầm huyền-bí nơi cơ.
Từ sấm kinh cho đến thi thơ,
Trong chốn ấy nhiều nơi trọng yếu.
Tạo làm chi những trung với hiếu!
Ấy là người bổn phận phải trau.
Khuyên dương-trần đừng nệ cần-lao,
Cũng rán sửa rán trau nền đạo.
Tu đầu tóc không cần phải cạo,
Miễn cho rồi cái đạo làm người.
Kể từ nay lỡ khóc lỡ cười,
Vì buồn bực thấy đời biến chuyển.
Các chư Phật từ đây lựa tuyển,
Coi ai là đức-hạnh hiền-từ.
Lời sách xưa cận thủy tri ngư,
Cận sơn lãnh trần gian tri điểu.
Trong sấm giảng nếu ai không hiểu,
Tầm kệ nầy Ta chỉ nẻo đường.
Quyết dạy trần nên nói lời thường,
Cho sanh-chúng đời nay dễ biết.
Trời dông gió sái mùa sái tiết,
Nắng cùng mưa cũng khác xưa rồi.
Khuyên dương-gian bỏ các việc tồi,
Ðặng lo liệu cho tròn phận-sự.
Thấy trần-thế hãy còn lưỡng-lự,
Muốn tu mà còn hỡi chần-chờ.
Việc thế-gian như thể cuộc cờ,
Thắng với thối một hai nước tướng.
Nào ai có gạt dân nói bướng,
Mà dương-trần liệu lượng chánh tà.
Ta mến yêu những kẻ thiệt-thà,
Nghe cơ-giảng thiết-tha lo-liệu.
Học đạo lý như đờn trúng điệu,
Hòa bản rồi thì cứ làm theo.
Lũ Tam-Bành trong bụng còn đeo,
Ðoàn Lục-Tặc ta mau sớm giết.
Mài gươm trí cho tinh cho khiết,
Dứt tâm trần kiếm chữ sắc không.
Ðức Di-Ðà Phật-Tổ ngóng trông,
Chờ dân chúng tìm nơi diệt khổ.
Theo Phật-Giáo từ kim chí cổ,
Gốc ông cha ta cũng tu-hành.
Mà ngày nay cứ mãi tranh giành,
Danh với lợi, của tiền, quyền tước.
Thấy trần thế ai ai cũng ước,
Ðời sao không tới phứt cho rồi.
Nay khổ lao khó đứng khôn ngồi,
Lúc đói cơm buồn lòng ngơ ngẩn.
Làm ác đức nhiều điều quanh quẩn,
Như gà cồ ăn bẩn cối xay.
Thấy người hiền nói đắng nói cay,
Sau mới biết thân ai lao khổ.
Nhớ thuở trước oai-linh Phật-Tổ,
Phép thần-thông trừ lũ Ma-Vương.
Chốn rừng tòng ngồi chịu nắng sương,
Tìm đạo-lý hiến cho trần-thế.
Hiệu Lão-Sĩ ra đời thật-tế,
Ðem lời vàng dạy dỗ dương-trần.
Khuyên chúng-sanh khuya sớm chuyên-cần,
Tìm nguồn-cội diệt-trừ Tứ-Khổ.
Bịnh với Tử từ kim chí cổ,
Sanh với Già hai chữ hoài hoài.
Ðức Thích-Ca xưa ở lầu đài,
Nghiệm Tứ-Khổ nên Ngài tầm Ðạo.
Lo tu tỉnh mặc ai khinh-ngạo,
Diệt Lục-Căn đừng nhiễm Lục-Trần.
Chữ Sắc-Thinh chớ có hầu gần,
Hương với Vị xác trần nên lánh.
Chữ Xúc-Pháp treo gương Hiền Thánh,
Tránh Sáu Ðường cũng đặng về Thần.
Từ xưa nay dạy chỉ nhiều lần,
Mà lê-thứ không lo chẳng liệu.
Nhãn thấy sắc thường hay bận-bịu,
Tai ưa nghe những điệu âm thinh.
Mắt với tai đều chọn đẹp xinh,
Còn lỗ mũi ưa mùi êm dịu.
Ðồ thơm tho nó ưa nó chịu,
Chốn xạ hương hay lết lại gần.
Lưỡi ưa ngon là chuyện ân-cần,
Ðồ ngọt béo nó ưa nó mến.

 

Thân tham sướng muốn tiền của đến,
Ðặng ăn xài cho phỉ tấm tình.
Ý thì ưa sửa sắc soi hình,
Với chức phận cho cao cho quí.
Sáu đường ấy ở trong tâm ý,
Ta mau mau dứt nó cho rồi.
Nếu tỉnh tâm nào có mấy hồi,
Mượn trí đạo duổi ra khỏi xác.
Dứt được nó ấy là giải thoát,
Thì xác trần mới khỏi đọa-đày.
Cả tiếng kêu những kẻ trí tài,
Hãy yên lặng bình tâm suy-nghĩ
Tiên xử kỷ hậu lai xử bỉ,
Bắt lỗi người phải xét lỗi mình.
Vậy mới là phải bực công-bình,
Nẻo chánh-trực chí người quân tử.
Người biết đạo phải gìn ngôn ngữ,
Nói với ai chớ có sai lời.
Trọng mẹ cha kính nễ Phật Trời,
Ðừng nhiều tiếng nghinh-ngang mang lỗi.
Tánh ngay thẳng ta không dời đổi,
Dầu tan xương nát thịt chẳng màng.
Ta Khùng Ðiên nói đại nói càn,
Chẳng có sợ ai rầy ai mắng.
Trời còn lúc tối mưa sớm nắng,
Thì trần-gian còn mãi khổ lao.
Ở trên đời kẻ thấp người cao,
Kẻ hiền-hậu người thì gian-ác.
Không quen biết mà cao tuổi tác,
Ta cũng nên kính trọng mới là.
Tâm từ-bi sánh thể ngọc-ngà,
Trong các báu khó bì tánh Thiện.
Phải xử thế chớ nên bày biện,
Miệng xảo ngôn thường kiện tấm thân.
Việc bán buôn phải giữ ngang cân,
Chớ tập tánh lận lường tráo đấu.
Các công cuộc của người tánh xấu,
Ta giữ gìn chớ có nhiễm vào.
Tâm Bần Tăng chẳng mến sắc màu,
Mến những kẻ biết vào đường chánh.
Ta dạy thế mượn lời Phật Thánh,
Nên truyền ban cho chúng-sanh tường.
Tuy ngày nay chúng nó hùng-cường,
Chừng phân định thì ta cao-quí.
Khuyên bổn-đạo lập thân nuôi chí,
Ðặng chờ ngày yết-kiến Phật Trời.
Quá yêu dân cạn tỏ nhiều lời,
Cho trần-hạ tìm trong lánh đục.
Chẳng chịu tu mãi còn lục-thục,
Lo giàu nghèo lo cũng chẳng rành.
Ham công-danh quên chữ sanh-thành,
Mến phú-quí quên câu dưỡng-dục.
Rán kiếm chỗ tầm tiên lánh tục,
Người ở đời phải được lòng trong.
Biển hồng-trần sớm gội cho xong,
Ngày lập hội mới mong trở lại.
Chữ bần-tiện khuyên dân đừng nại,
Miễn cho ta trở lại ngay đàng.
Chữ vinh-hoa giờ chớ có màng,
Bởi giả tạm của đời Nguơn-hạ.
Gắng công tu xem nhiều phép lạ,
Của Thần-Tiên trừ lũ hung-đồ.
Nào lụa là, lãnh nhiễu, tố sô,
Chớ ham mến mà sau lao-lý.
Ngày tiêu-diệt từ năm Bính-Tý,
Ðến năm nay hao hớt đã nhiều.
Các ngoại bang đã nhuộm máu điều,
Sao trần-thế không toan chẳng liệu.
Ðể đến việc dang lưng mà chịu,
Chớ Phật đâu cứu kịp cho người.
Khuyên chúng-sanh bỏ tánh biếng lười,
Phải sốt-sắng làm ăn cần-thiết.
Nghèo với đói từ nay sẽ biết,
Hàng ngoại bang bố thiết ta hoài.
Nên bá-gia hãy rán miệt-mài
Dầu rách rưới cũng mau cần kiệm.
Lời ta dạy hãy nên suy-nghiệm,
Phải phá tan Ngũ-Uẩn trong mình.
Chữ Tham trong ý muốn mặc tình,
Rán định tánh trừ cho nó tuyệt.
Chữ gây-gổ là Sân hãy diệt,
Cho nó đừng thấp-thoáng trong lòng.
Thêm chữ Si thiệt quá lòng-dòng,
Nên tỉnh trí tìm nơi dụt tắt.
Chữ Nhơn Ngã cũng là quá gắt,
Ta chớ nên phân biệt với người.
Dẹp năm tên được mới mừng cười,
Vô pháp-tướng mới là thiệt tướng.
Người tu hành phải trừ nghiệp-chướng,
Với bốn ma mới đặng an nhàn.
Tửu nhiễm vào thân thể bất an,
Sắc mến nó ngày kia lao khổ.
Ta nghiệm xét từ đời Bàn-Cổ,
Có ai dùng mà đặng thành Tiên.
Mà đời nay theo nó liên-miên,
Chữ Tài Của khổ riêng một kiếp.
Bị tội cướp nào ai có tiếp,
Mà đời nay nó cứ mãi làm.
Chữ Khí hùng khuyên chớ có ham,
Mà lao lý tấm thân trần-thế.
Kẻ nhứt dạ thường sanh bá kế,
Ðể gạt người làm thế cho mình.
Ngày sau nầy lắm nỗi tội tình,
Sao sanh-chúng chẳng lo cải sửa.
Bịnh ôn-dịch thường hay ói mửa,
Mà dương-trần chẳng chịu kiêng-dè.
Qua năm Dê đến lúc mùa hè,
Trong bá-tánh biết ai hữu chí.

 

Ta chịu lịnh Tây-Phương thọ ký,
Gìn Nghiệt-Long đặng cứu dương-trần.
Nên ra đời dạy-dỗ ân-cần,
Khuyên bá-tánh vạn dân liệu lấy.
Khổ với thãm ngày nay có mấy,
Sợ mai sau dòm thấy bay hồn.
Trừ tà-gian còn thiện chỉ tồn,
Cảnh sông máu núi xương tha-thiết.
Trần với thế bây giờ nào biết,
Chừng nhìn xem hư thiệt mới tường.
Ta bây giờ tu niệm tầm thường,
Sau danh thế xạ hương khắp chốn.
Nhà giàu có xài không sợ tốn,
Phải để tiền cho kẻ nghèo nàn.
Lo ăn xài trà rượu xình-xoàng,
Chừng khổ não phàn-nàn căn số.
Lời truyền sấm như bài toán đố,
Ai biết tầm thì đặng hưởng nhờ.
Ta khuyên tu dân cứ mãi ngờ,
Sợ gạt chúng kiếm xu kiếm cắt.
Bị ngoại quốc bán hàng quá gắt,
Nên dân ta chịu chữ cơ-hàn.
Ta Khùng Ðiên của cải chẳng màng,
Miễn lê-thứ được câu hạnh-phúc.
Cờ thế-giới ngày nay gần thúc,
Nên Phật Tiên phải xuống hồng-trần.
Chừng lao-xao ác thú non Tần,
Thì Nam-Quốc lương dân mới biết.
Nay dạy thế cậy cùng ngòi viết,
Với xác trần du-thuyết ít hàng.
Ai nói chi ta cũng chẳng màng,
Sau biết đặng dân đừng có tiếc.
Con phù du hẫng-hờ nào biết,
Thấy bóng đèn thì quyết chun vô.
Thảm thương thay chết héo chết khô,
Nhìn đèn nọ thấy mồ phù-dũ.
Kệ khuyên trần đã mãn mùa thu,
Ðeo danh lợi như con vật ấy.

Giống xe cát biển đông thường thấy,
Tên Dã-Tràng rất uổng công-trình.

 

Khi nước ròng nhờ lúc bình-minh,
Lúc nước lớn cát kia tan rã.

Trần phú-quí thì trần thong-thả,
Chớ còn ta cứ khổ lao hoài.

 

Viết kệ-cơ giảng dạy ít bài,
Mặc lê-thứ làm không tự ý.

Coi rồi phải nhận cho hiểu lý,
Câu huyền sâu của kẻ Khùng nầy.

 

Bởi chữ khùng của Phật của Thầy,
Chớ chẳng phải của người lãng-trí.

Mê với tỉnh nhận ra là lý,
Thấy dương-trần ngủ mãi ngủ hoài.

 

Thức dậy mà tầm đạo kiếm bài,
Ðể thi cử khỏi mang tiếng rớt.

Sách khuyến-thiện miệng kêu không ngớt,
Mà nào ai có thức dậy tầm.

 

Ta nghĩ suy cũng bắt hổ thầm,
Nên than thở cùng trần ít tiếng.

Tâm sáng suốt như đài nguyệt-kiến,
Tánh trong như nước bích mùa xuân.

 

Nếu không tu chừng khổ cũng ưng,
Ðừng có trách sao không chỉ bảo.

Từ nhỏ tuổi đến người trưởng lão,
Mắc trong vòng sanh tử luân hồi.

 

Xuống Diêm-Ðình thấy tội hỡi ôi!
Ðó mới biết có nơi địa-ngục.

Kỳ xả tội nay còn một lúc.
Sao chẳng tu đặng có hưởng nhờ.

 

Gặp giảng kinh trần cứ làm ngơ,
Trồng bông kiểng giống chi hưởng nấy.

Ðịa-ngục cũng tại tâm làm quấy,
Về thiên-đàng tâm ấy tạo ra.

 

Cái chữ Tâm mà Quỉ hay Ma,
Tiên hay Phật cũng là tại nó.

Tu với tỉnh biết làm chẳng khó,
Nếu lặng Tâm tỏ-ngộ Ðạo mầu.

 

Cảnh dương-gian muôn thảm ngàn sầu,
Ngó vạn vật đài lầu chẳng có.

Sông với núi trước kia mắt ngó,
Khi chết rồi thấy nó đặng nào.

 

Ai biết đường hãy sớm tẩu-đào,
Kiếm Ðạo-lý mà nhờ mà nhõi.

Chịu cay-đắng tu hành mới giỏi,
Ta thương đời len-lỏi xuống trần.

 

Ðạo vô-vi của Phật ân-cần,
Nối theo chí Thích-Ca ngày trước.

Câu phú-quí Ngài không màng-ước,
Chữ bồ-đề như cội bá-tòng.

 

Rán dưỡng nuôi chữ đó trong lòng,
Thì là được định chừng diệu-quả.

Lời thuyết-pháp chẳng vì nhơn-ngã,
Người nào đâu có Phật-tánh là.

 

Xem kệ nầy như ngọc như ngà,
Phải nảy nở như cơn mưa thuận.

Hạp mùa tiết giống kia bất luận,
Thảy mọc mầm trổ lá mới mầu.

 

Trông chúng sanh nghĩ tận đuôi đầu,
Về Cực-Lạc mới là hết khổ.

Ðạo với lý từ đây nhiều chỗ,
Phải lọc-lừa cho kỹ mà nhờ.

 

Chọn nơi nào đạo chánh phượng thờ,
Thì mới được thân sau cao-quí.

Nhìn Phật-Giáo mà tìm cái lý,
Coi tại sao ta phải tu hành.

 

Vì yêu dân Ta kể ngọn-ngành,
Khuyên lê-thứ làm lành mà tránh.

Cảnh Niết-Bàn là nơi cứu cánh,
Về chốn ni xa lánh hồng-trần.

 

Dầu không siêu cũng đặng về Thần,
Nhờ hai chữ trung-quân ái-quốc.

Chừng lập Hội biết ai còn mất,
Giờ chưa phân chưa biết chánh tà.

 

Ta vì vưng sắc lịnh Ngọc-Tòa,
Ðền Linh-Khứu sơn-trung chịu mạng.

Nền Ðạo-đức Ta bày quá cạn,
Mà dương-gian còn gạn danh từ.

 

Làm cho Ta lỡ khóc lỡ cười,
Khóc là khóc thương người ngu muội

Thấy Ðiên Khùng làm như sắt nguội,
Chẳng tranh đương nó lại khinh-khi.

 

Ngó về Tây niệm chữ từ-bi,
Cười trần-thế mê-si thái quá.

Tranh với luận đặng dành cơm cá.
Khuyến dụ người đặng kiếm bạc tiền.

 

Thấy chúng sanh ghét ngỏ ganh hiền,
Theo chế-nhạo những người tu tỉnh.

Tu không tu cũng không mời thỉnh,
Mặc tình ai trọng-kỉnh hay chê.

 

Thương lê-dân còn mảng say mê,
Chẳng tu tỉnh cho rành sương nắng.

Thấy ta lại nói cay nói đắng,
Ðắng với cay ta cũng chẳng màng.

 

Chừng trần-gian kiến thấy phụng-hoàng,
Sè cánh múa chào mừng Phật Thánh.

Thấy đạo-lý chớ nào thấy tánh,
Còn ẩn nơi tim óc xác phàm.

 

Ai biết tri việc phải cứ làm,
Sau mới biết ai phàm ai Thánh.

Ðức Lục-Tổ ít ai dám sánh,
Người dốt mà nói pháp quá rành.

 

Lựa làm chi cao chữ học hành,
Biết tỏ ngộ ấy là gặp Ðạo.

Việc cổ tích cần chi phải thạo,
Chuyện qua rồi kể lại làm gì.

 

Nếu ai mà biết chữ tu trì,
Tâm bình tịnh được thì phát huệ.

Ta yêu chúng viết ra Giảng Kệ,
Khuyên tăng-đồ cùng các tín-đồ.

 

Nghe cạn lời có mờ-hồ,
Tìm hiểu nghĩa làm theo đắc Ðạo.

Trần với thế nó hay kiêu-ngạo,
Các nhà sư hãy rán sửa mình.

 

Nếu xuất gia ngũ-giái rán gìn,
Tu chơn chánh mới không hổ tiếng.

Cả ngàn năm nhơn tâm xao-xuyến,
Sao tu hoài chẳng thấy ai thành.

 

Bởi chữ tu liền với chữ hành,
Hành bất chánh người đời mới nói.

Bị tăng chúng quá ham chùa ngói,
Nên tởi khuyên khắp chốn cùng làng.

 

Phật nào ham tượng cốt phết vàng,
Mà tăng tạo hao tiền bá-tánh.

Việc giả dối từ đây nên lánh,
Bổn-đạo ôi! Hãy rán sửa mình.

 

Cuộc dạy đời ta lắm công-trình,
Làm chẳng trọn uổng thay một kiếp.

Lời chơn-chánh trần hay bỏ liếp,
Mãi lo làm hung-hiếp người hiền.

 

Mà làm cho Ngọc-Ðế thảm phiền,
Muốn trừng-trị trần-gian thảm-thiết.

Ðức Phật-Tổ tâm Ngài nhứt quyết,
Tâu Ngọc-Hoàng để Phật dạy trần.

 

Nên ra Kinh, Cơ-Giảng nhiều lần,
Mà dương-thế chẳng cần xét đến.

Xác trần-tục như cây cạnh khến,
Làm hiền hoài ắt phải tiêu mòn.

 

Ðẽo với bào riết nó cũng tròn,
Ðến chừng đó trông vào rất tốt.

Lũ giả-dối thường hay thề-thốt,
Nó chẳng kiên Thần Thánh là gì.

 

Tâm kẻ hung làm chuyện cố-lỳ,
Chẳng có sợ mang điều tội phước.

Ghét những kẻ tu hành bốc-xước,
Miệng kêu gào chuyện phước bề ngoài.

 

Bước vào chùa thấy Phật lạy dài,
Lui khỏi cửa ra tay cấu-xé.

Thấy quyền quí nó hay dựa mé.
Ðặng bợ bưng những kẻ hung-sùng.

 

Ta thương đời nói những chuyện cùng,
Chẳng có vị có dung kẻ quấy.

Cuộc sám -hối vô chùa thường thấy,
Làm gian lừa biết mấy nhiêu lần.

 

Thấy dương-gian lường gạt Thánh Thần,
Mà chua xót cho đời Nguơn-Hạ.

Chữ tự hối nào ai có lạ,
Là ăn-năn cải-sửa tâm lành.

 

Phật chẳng qua dụng chữ tín-thành,
Chớ nào dụng Hương, Ðăng, Trà, Quả.

Làm chay đám tạo nhiều xá-mã,
Bay về Tây nói những chuyện gì?

 

Thấy chúng tăng làm chuyện quáy kỳ,
Ta khuyên mãi cũng không chịu bỏ.

Lời chơn-chánh hình như nói xỏ,
Mà không không nào có biếm đời.
Thấy lạc-lầm khuyên nhủ ít lời,
Chớ nào có ngạo chi tăng chúng.

 

Coi tâm kệ làm theo mới trúng,
Ðể lạc-lầm lắm bớ tăng-đồ.
Ðịnh tâm-thần như mặt nước hồ,
Suy với nghĩ, nghĩ suy đường lối.
Muốn niệm Phật chẳng cần sớm tối,
Ghi vào lòng sáu chữ Di-Ðà.
Thì hiền lương quên mất điều tà,
Ðặng hạnh-phúc nhờ lòng cố gắng.
Việc đạo-đức bất cần thối thắng,
Chữ tu hiền ngay thẳng lần hồi

Thấy Thiên-cơ khó nổi yên ngồi,
Thương lê-thứ tới hồi khổ-não.
Thầy lạc tớ không ai chỉ bảo,
Như vịt con dìu dắt nhờ gà.
Phải nghĩ suy cạn lẽ mới là,
Nay gặp gốc phải mau tìm gốc.
Ðể gặp Phật ngồi mà than khóc,
Gỡ làm sao hết rối mà về.
Mắt nhìn xem yêu quái bộn bề,
Bởi ác-đức nên không ai cứu.
Mang thủy ách hồi năm Ðinh-sửu,
Ðến năm nay tái lại một lần.
Khổ-ách nầy đặng thức-tỉnh trần,
Rằng thiên-định tuồng đời sắp hạ.
Trẻ nhỏ tuổi đời nầy lăng-mạ,
Bị văn-minh cám dỗ loài người.
Kể từ rày cười một khóc mười,
Kẻo chúng nó dể-ngươi Phật Thánh.
Ðạo Quỉ-Vương rất nhiều chi ngánh,
Khuyên dương-trần sớm tránh mới mầu.
Ðể ngày sau đến việc thảm-sầu,
Rán nghe kỹ lời ta mách trước.
Thuyền chúng nó thẳng buồm chạy lướt,
Lọt ngoài khơi mới hết hò khoan.
Tu mà ham cho được giàu sang,
Với quyền tước là tu dối thế.
Nhớ thuở trước vua Lương-Võ-Ðế,
Tạo chùa chiền khắp nước tu hành.
Ðến chừng sau ngã-tử Ðài-thành,
Phật bất cứu vì tâm còn ác.
Tu biết cách như đươn biết đát,
Ðươn đát rành đặng dựa Xe-Loan.
Ai biết nghe thì sớm liệu toan,
Ðể đến việc như người thất nghiệp.
Phải qui căn cùng nhau hội hiệp,
Rán mau chơn mới kịp Ðạo-mầu.
Sớm với chiều gắng chí nguyện-cầu,
Thì sẽ được Tòa-chương dựa kế.
Chúng-sanh thể như gà thất thế,
Phải nằm chờ tới nước bắt ra.
Thời-kỳ nầy nhiều quỉ cùng ma,
Trời mở cửa Quỉ-Vương xuống thế.
Nên Ta mới ra tay cứu-tế,
Kẻo chúng-sanh bịnh khổ quá chừng.
Sau Quỉ-Vương đi đứng nửa lừng,
Thêm tên tuổi chúng-sanh nó biết.
Làm đủ cách xuống lên tha-thiết,
Ở ngoài đường nó biết tên mình.
Tin cùng không thì cũng mặc tình,
Chớ Ta lắm công-trình dạy-dỗ.
Hồi thuở trước Thích-Ca Phật-Tổ,
Ngồi tham-thiền bị nó ghẹo hoài.
Mà cũng không rúng động đặng Ngài,
Nên cố oán phá đời mãi mãi.
Trong bổn-đạo cùng là sư vãi,
Rán bền lòng cho được hiền từ.
Hết khổ lao thì đến vui cười,
Chừng đó mới phỉ tình nguyện ước.
Bọn gái mới ra đường tha-thướt,
Bỏ hết trơn nề-nếp ông cha.
Khác tánh-tình người cổ nước ta,
Nên phải chịu đớn-đau đủ cách.
Trai với gái rán coi sử sách,
Ðứng trung thần với kẻ tiết-trinh.
Dọn bề trong mới gọi đẹp xinh,
Chớ mang lốt bề ngoài chẳng tốt.
Dạy chẳng đặng lòng như lửa đốt,
Khắp dương-gian chưa đặng ba phần.
Kể từ nay Tiên, Phật, Thánh, Thần,
Lo dạy-dỗ dương-trần chẳng xiết.
Ðức Thượng-Ðế dự đền Ngọc-Khuyết,
Nhìn dương-gian cũng luống thở dài.
Thấy chúng-sanh trau-trỉa mặt mày,
Chớ chẳng chịu trau tâm trỉa tánh.
Kẻ đói khó người sang hay lánh,
Bước lại gần chê lũ tanh-hôi.
Cõi Ta-bà Ta thấy hởi ôi!
Sầu bá-tánh quá nên kiêu-cách.
Người tàn-tật đui cùi đói-rách,
Ítt có ai để mắt nhìn vào.
Chuộng những người dù võng sắc màu,
Cậu với mợ, ông-thầy, cô-bác.
Thị kẻ khó như rơm như rác,
Ta quá rầu đài-các văn-minh.
Mấy ai mà giữ dạ sắt đinh,
Theo Tông-Tổ của mình thuở trước?
Ðầu với tóc áo quần láng-mướt,
Chử lanh khôn của quỉ của ma.
Chớ nó không có giống người ta,
Ma với quỉ sanh người hung ác.
Lo tập luyện những câu đờn hát,
Chớ chẳng lo dạy-dỗ ngu khờ.
Ðể cái tâm yên lặng như tờ,
Coi ta nói câu nào bất chánh?
Rán bắt chước làm theo Phật Thánh,
Nếu thiệt người thì biết thương người.
Thấy kẻ khờ quê dốt ngạo cười,
Nào có lấy lời chi chỉ bảo.
Ta thương xót lo tần lo tảo,
Chẳng thấy ai rể thảo dâu hiền.
Làm cho người Thượng-Cổ thêm phiền,
Rất đau xót cho nòi cho giống.
Biết chừng nào được qui nhứt thống,
Khắp hoàn-cầu dân biết thương nhau.
Nhắc ra thì dạ ngọc đớn-đau,
Không nhắc đến biết đâu dân sửa.
Cơm được chín ta nhờ có lửa,
Dân được vui nhờ lúc khải-hoàn.

Phật Như-Lai cho phép Khùng troàn,
Cho bổn-đạo khắp nơi đặng biết.
Ai chưởi mắng thì ta giả điếc,
Ðợi cho người hết giận ta khuyên.
Chữ nhẫn-hòa ta để đầu tiên,
Thì đâu có mang câu thù-oán.
Việc hung-ác hể vừa thấp-thoáng,
Chữ từ-bi ta diệt nó liền.
Sự oán-thù đáp lại chữ hiền,
Thì thù-oán tiêu-tan mất hết.
Chữ bạn tác dù cho đến chết,
Cũng keo sơn gắn chặt mới là.
Bước ra đường ăn nói thiệt-thà,
Dầu khôn-khéo cũng là giả dại.
Nếu tranh-đương ắt ta bị hại,
Thêm sa-cơ lại bị xích-xiềng.
Vì đời nay chúng nó dụng tiền,
Ít ai dụng chữ nhơn chữ nghĩa.
Theo học Ðạo mặc ai mai-mỉa,
Ta cũng đừng gây-gổ với người.
Ðược mấy điều thì đáng vàng mười,
Thiệt hiền-đức có ai mắng chưởi.
Xưa đức Thánh luận bàn cái lưỡi,
Ngài nói rằng các việc tại mầy.
Thuận với hòa hay ghét với rầy,
Cũng cái lưỡi làm thầy các việc.
Phải kiếm cách đặng ta trừ tuyệt,
Lấy tâm-thần làm chủ mới mầu.
Cũng chẳng nên theo tánh võ-hầu,
Thấy chẳng nói mà nhăn mà nhướng.
Hãy liệu sức chớ nên nói bướng,
Dầu việc chi liệu lượng mà làm.
Ðiên Khùng nầy chẳng có nói xàm,
Nói những chuyện từ-bi bác-ái.
Nếu bổn-đạo còn ai làm sái,
Coi kệ nầy mình sửa lấy mình.
Ta không tranh mà cũng không kình,
Cho bá-tánh gièm-pha thỏa chí.
Ai làm phước in ra mà thí,
Thì được nhiều hạnh-phúc sau nầy,
Chốn non xanh dạy-dỗ cáo-cầy,
Xuống trần-thế ra tay dắt chúng.
Tới với Ta chớ đem đồ cúng,
Chỉ đem theo hai chữ thành-lòng.
Chẳng có cần trà, quả, hương nồng,
Mong sanh-chúng từ-lòng hối-ngộ.
Kẻ xa-xuôi có lòng ái mộ,
Xem kệ nầy tu tỉnh tại nhà.
Ở ruộng đồng cũng niệm vậy mà,
Phật chẳng chấp chẳng nài thời khắc.
Chay bốn bữa ấy là quy-tắc,
Của kẻ Khùng chỉ dắt chúng-sanh.
Con Phật thì chẳng có khôn lanh,
Ðời văn-vật khôn ma khôn quỉ.
Lo trang-sức kim-thời huê mỹ,
Rồi phụ-phàng tục cổ nước nhà.
Trong tâm thì chứa chữ gian-tà,
Chớ chẳng chứa tấm lòng bác-ái.
Học chữ nghĩa cho thông cho thái,
Ðặng xuê-xang đài-các xe-tàu.
Tiếng chào mừng cửa miệng làm màu,
Trong tâm-ý mưu-mô đủ thế.
Ta còn mắc phiêu-lưu dương-thế,
Dạo Lục-Châu đặng cứu bá-gia.
Mặc tình ai xem kệ ngâm-nga,
Hay sửa đổi tùy lòng hưu-hỷ.
Thương sanh-chúng tỏ bày quá kỹ,
Hỡi dương-trần nên sớm quày đầu.
Ðặng sau xem Phật-pháp nhiệm-mầu,
Với báu-quí đài-lầu tươi tốt.
Xác ta vốn là người quê dốt,
Nên mở mang chưa được mấy rành.
Khắp dương-gian như sợi chỉ mành,
Mong bổn-đạo tâm thành trở lại.
Dầu cực khổ thân nầy chẳng nại,
Chẳng cần ai bái lạy khẩn-cầu.
Bỏ dị-đoan mới thấy đạo-mầu,
Bớt giả-dối gặp Người Thượng-Cổ.
Gốc thuở trước của Tông của Tổ,
Ðâu có bày dối-mị như vầy.
Những sấm truyền xưa của Phật Thầy,
Dân rán kiếm mà truy thì biết.
Xưa để lại nhiều câu thảm-thiết,
Mà nào ai có biết để lòng.
Chuyện Thiên-Cơ nói rất nảo nồng,
Câu hữu lý bá-tòng khó sánh.
Chốn tựu hội chớ nên léo hánh,
Vì lời xưa có dặn rạch-ròi.
Dân chớ nên phụ bạc giống nòi,
Mà lao-lý tấm thân vô ích.
Phải nhẫn-nhục chờ Người Cổ Tích,
Phật với Trời phân định cho ta.
Người xưa tuy ít chữ nôm-na,
Chớ chơn-chất người ta ngay thẳng.
Dạy bổn-đạo lấy câu trung đẳng,
Chẳng nói cao vì sắp rốt đời.
Ðấng nam-nhi ẩn-nhẫn tùy thời,
Vậy mới gọi khôn-ngoan hữu chí.
Ta ra sức viết câu huyền-bí,
Chúng dân ôi! Rán kiếm rán tầm.
Giống thú kia là loại sanh cầm,
Mà còn biết kiếm tầm đạo-đức.
Thú-vật biết tu hành náo-nức,
Còn người sao chẳng rứt hồng-trần?
Việc tu hành phải vẹn nghĩa ân,
Kinh với sấm chúng dân thường thấy.
Chữ Bát-Chánh rõ ràng trong giấy,
Là chơn truyền của Ðức Thích-Ca.

Người tu hành cần phải tìm ra,
Cho dân biết mục đầu Chánh-Kiến.
Trí linh-mẫn nhìn xem các chuyện,
Phải đừng cho lầm-lạc nẻo tà.
Dầu việc người hay việc của ta,
Nên phán-đoán cho tường cho tận.
Tội với phước xét coi nhiều bận,
Mới khỏi lầm tà-kiến đem vào.
Chánh Tư-Duy mục ấy thanh cao,
Hãy tưởng nhớ những điều đáng nhớ.
Trên cùng dười dầu thầy hay tớ,
Cũng tưởng điều trung-chánh mới mầu.
Việc vui say mèo-mả đâu đâu,
Hãy dẹp gát nhớ câu Lục-Tự.
Câu Chánh-Nghiệp cũng là quá bự,
Dấu nghề chi làm việc ngay đường.
Ta đừng nên theo kẻ bất lương,
Học ngôn xảo để lừa đồng loại.
Chánh Tinh-Tấn dầu thành hay bại,
Cứ một đường tín-ngưỡng của mình.
Dầu cho ai phá rối đức tin,
Ta cũng cứ một đàng đi tới.
Mục Chánh-Mạng chúng-sanh ơi hỡi,
Cho hồn-linh cai-quản châu-thân.
Lấy chơn-nhơn dẹp tánh phàm-trần,
Mới có thể mong về Cực-Lạc.
Câu Chánh-Ngữ lòng son ghi tạc,
Tiếng luận bàn ngay ngắn tỏ tường.
Nói những điều đức-hạnh hiền-lương,
Chớ thêm bớt mà mang tội lỗi.
Việc tráo-chác ấy là nguồn cội,
Lời xảo ngôn do đó mà ra.
Kinh-nghiệm rồi Ta mới diễn ca,
Câu Chánh-Niệm thiết-tha nhiều nỗi.
Khi cầu nguyện đừng cho phạm lỗi,
Phải làm tròn các việc vẹn toàn.
Dân chớ nên làm bướng làm càn,
Trong lúc ấy niệm cho lấy có.
Mục Chánh-Ðịnh thiệt là rất khó,
Giữ tấm lòng bất động như như.
Cho hồn-linh yên-lặng an cư,
Thì mới được huờn-nguyên phản-bổn.
Tà với chánh còn đương trà-trộn,
Người muốn tu phải sớm lọc-lừa.
Tứ-Diệu-Ðề ai có mến ưa,
Thì Lão cũng kể sơ thêm nữa.
Chữ Tập-Ðề nay đà mở cửa,
Ðể đem vào khuôn-khổ người hiền.
Rán cực lòng một bước đầu tiên,
Sau mới được làm nên Phật Thánh.
Về Thượng-Giái cõi Tiên mới bảnh,
Ðến Diệt-Ðề trừ vật-dục xưa.
Cõi hồng-trần các việc mến ưa,
Sự giả tạm ta nên rứt bỏ.
Muốn tâm-tánh ngày kia sáng tỏ,
Thì Khổ-Ðề phải chịu nhọc-nhành.
Lòng dục tu thì phải thiệt-hành,
Chớ đừng có ham điều sung-sướng.
Ðức Phật-Tổ nào đâu hẹp lượng,
Chịu nhọc-nhằn mới rõ Ðạo-Ðề.
Thấy một đàng thẳng-bẳng mà mê,
Ôi chừng đó mới là mầu nhiệm.
Mùi đạo diệu chúng dân rán kiếm,
Trễ thời kỳ khó gặp đặng Ta.
Rồi hành luôn Bát-Nhẫn mới là,
Thì muôn việc đều an bá tuế.
Chữ thứ nhứt Nhẫn-Năng-Xử-Thế,
Là người hiền khó kiếm trong đời.
Lập thân danh tuần trải nơi nơi,
Chờ thời đại mới là khôn khéo.
Chữ Nhẫn-Giái trì tâm trong trẻo,
Khuyên dương-trần giữ phận làm đầu.
Nhẫn-Hương-Lân cùng khắp đâu đâu,
Trên cùng dưới đều hòa ý hỉ.
Nhẫn-Phụ-Mẫu gọi trang hiền sĩ,
Phận xướng tùy chồng vợ nhịn nhau.
Nhịn xóm chòm cô bác mới cao,
Nhẫn-Tâm nọ ngày ngày an-lạc.
Nhịn tất cả những người tuổi tác,
Nhẫn-Tánh lành yên-tịnh dài lâu.
Giữ một lòng hiền-hậu mới mầu,
Quanh năm cũng bảo toàn thân-thể.
Chữ Nhẫn-Ðức kể ra luôn thể,
Thì trong đời vạn sự bình an.
Chữ Nhẫn-Thành báu-quí hiển-vang,
Khắp bá-tánh được câu hòa nhã.
Câu đạo-đức bay mùi thơm lạ,
Muốn nếm thì phải rán sưu tầm.
Các đạo tà mưu khéo âm thầm,
Dân rán tránh kẻo lâm mà khổ.
Chúng nó xuống khuyên-răn nhiều chỗ,
Dùng phép mầu lòe mắt chúng-sanh.
Ai ham linh theo nó tập-tành,
Sa cạm-bẩy khó mong sống sót.
Ta chẳng phải dùng lời chuốt-ngót,
Mà làm cho dân-chúng say mê.
Nẽo chánh tà biện luận nhiều bề,
Cho bá-tánh tìm nơi cội-gốc.
Lựa cho phải kèo xưa danh mộc,
Ðừng để lầm thợ khéo sơn da.
Thì sau nầy đến lúc phong-ba,
Dông gió lớn cột kèo khỏi gãy.
Thấy sanh-chúng nhiều người khờ dại,
Chẳng biết gìn phong-hóa lễ-nghi.
Nên ta đem đạo đức duy-trì,
Gìn tục cổ để người chẳng rõ.
Còn chậm chạp Ðạo-mầu chưa tỏ,
Như rừng hoang mới dọn một đường

Tớ với Thầy nào quản thân lươn,
Muốn cứu thế sá chi bùn trịn.
Thương quá sức nên ta bịn-rịn,
Quyết độ đời cho đến chung thân.
Nếu thế-gian còn chốn mê tân,
Thì Ta chẳng an vui Cực-Lạc.
Dạy bổn-đạo lấy lời đích-xác,
Mà chẳng tu là bởi không ưa.
Chớ nước sâu mà bị gàu thưa,
Dân đông-đảo lời truyền chẳng xiết.
Nên phải tạm mượn cây ngòi viết,
Ðem Ðạo-mầu như hạn cho mưa.
Ðặng tố-trần tâm ý Người Xưa,
Chữ thậm thâm trong kinh Phât-Giáo.
Nền chơn-lý chúng chê rằng láo,
Mà nào Ta có lợi-dung ai.
Trong bá-gia nhiều ít lòng chay,
Ðể giữ trọn trong nền Phật-Pháp.
Gìn giới cấm sửa tâm ô-tạp,
Niệm Phật thì phải dẹp lòng tà.
Nhớ từ-bi hai chữ ngâm-nga,
Dầu làm lụng cũng là trì chí.
Chờ Thiên-Ðịa châu-nhi phục-thỉ,
Như đời xưa có gã Tử-Phòng.
Xem thời cơ người đã rõ thông,
Dùng tôi thiểu mà an bá-tánh.
Ðời vật-chất văn-minh tranh-cạnh,
Chữ lợi quyền giựt-giết lẫn nhau.
Ðộng lòng hiền chư Phật đớn đau,
Cho kinh sấm dạy răn trần-thế.
Nhìn thấy chuyện gạo châu củi quế,
Nghèo bạc vàng đạo-đức cũng nghèo.
Ta xuống trần nhằm lúc nạn eo,
Nên phải bị kẻ hung khinh-bỉ.
Vì bác-ái nên thân Cuồng-Sĩ,
Phải chịu điều khổ hạnh sâu-xa,
Mong cho đời gặp lúc khải-ca,
Trong bốn biển thái-bình mới toại.
Phật, Tiên, Thánh, lòng nhơn hà-hải,
Những ước-ao thế-giới hòa-bình.
Nên khuyên đời truyền-bá sử-kinh,
Cho sanh-chúng sửa mình trong sạch.
Giàu đổi bạn khinh-khi kẻ rách,
Là những câu trong sách Minh-Tâm.
Tánh kẻ sang đổi vợ nào lầm,
Thánh-nhơn để nhiều câu hữu-lý.
Có mấy kẻ ăn-năn xét kỹ?
Mãi ỷ tài chê bướng chê càn.
Thì ngày sau đừng có trách than,
Những tội lỗi của mình tạo lấy.
Bị háo-thắng việc người không thấy,
Rồi mảng lo gièm-siểm nhiều lời.
Vì vậy nên tình nghĩa xe lơi,
Ðâu gần-gũi mà tường diệu lý.
Trong Lục-Tỉnh ai là người trí,
Mau thức thời tìm Ðạo nhiệm-sâu.
Khuyên dân đừng chia áo rẽ bâu,
Phải hợp tác gieo trồng giống quí.
Coi rồi phải thân mình tự trị
Chẳng độ xong Phật khó dắt-dìu.
Thả thuyền Từ bến Giác nâng-niu,
Kẻ hiểu Ðạo mau mau bước xuống.
Việc trải qua như mây gió cuốn,
Nhìn cuộc đời ngày tháng thoi đưa.
Trời sáng ra kế lại thấy trưa,
Năm củ đó rồi qua năm mới.
Mười hai tháng mà còn mau tới,
Thì tuồng đời cũng chóng đổi thay.
Chữ phù-vân phú-quí nay mai,
Luân với chuyển dời qua đổi lại.
Cõi Ta-Bà mấy ai tồn tại,
Sống dư trăm như tuổi lão Bành.
Ðời Hạ-Nguơn hay chết tuổi xanh,
Như thuở trước Nhan-Hồi còn trẻ.
Miễn cho được ngày hai cơm tẻ,
Buổi bần hàn đặng có tu thân.
Nhờ ơn Trời ban-bố đức ân,
Xem chung cuộc Phong-Thần tại thế.
Xử những kẻ hung-hăng tồi-tệ,
Thưởng những người trung nghĩa vẹn toàn.
Ra Kệ nầy hai chữ bảo-an,
Cho trần-thế được tâm thanh-tịnh.
Ngọc báu quí ẩn trong Nam-đỉnh,
Muốn tìm kim đáy biển gắng công.
Thấy dân tình luống những ước mong,
Gặp giống tốt hãy mau cày cấy.
Ai có nói Ta là người quấy,
Ta cũng cam bụng chịu tiếng lời.
Tỏ ít câu cầu chúc cho đời,
Mong bá-tánh vạn dân giải-thoát.

 

***

 

2 Attachments 

4a- Quyển IV-Giác Mê Tâm Kệ.doc
4b- Quyển IV-Giác Mê Tâm Kệ.pdf
Click here to Reply or Forward
30% Off Everything. Spend $200 Get $30 Credit.
Why this ad?Ads –
0.13 GB (0%) of 15 GB used
©2013 Google – Terms & Privacy
Last account activity: 3 days ago

 

Quyển III – Sám Giảng

Quyển III – Sám Giảng

Inbox
x
Vu Nguyen
Nov 22 (2 days ago) 

to bcc: me
Kính gởi quý đồng đạo, quý đạo hữu,
Em cháu xin gởi tiếp quyển 3, mong quý vị hoan hỉ đón nhận và cho ý kiến đóng góp.  Xin chân thành cảm tạ những ý kiến đóng góp cho quyển 1 và 2.  Xin cầu chúc quý vị thân tâm thường an lạc.
Trân trọng,
Vũ Nguyễn

*******************

Quyển III

Sám Giảng

 (612 câu)

 

Ngồi trên đảnh núi liên đài,
Tu hành tầm Ðạo một mai cứu đời.
Lan-thiên một cõi xa chơi,
Non cao đảnh thượng thảnh-thơi vô cùng.
Hiu hiu gió thổi lạnh-lùng,
Phất-phơ liễu yếu lạnh-lùng tòng mai.
Mùa xuân hứng cảnh lầu đài,
Lúc còn xác thịt thi tài hùng-anh.
Tứ vi mây phủ nhiễu đoanh,
Bồng-Lai một cõi hữu danh chữ đề.
Kể từ Tiên cảnh Ta về,
Non Bồng Ta ở dựa kề mấy năm.
Dạo chơi tầm bực tri-âm,
Nay vì thương chúng trần-gian phản hồi.
Nghĩ mình trong sạch đã rồi,
Ðào Tiên tạm thực về ngồi cõi xa.
Phong-trần tâm đã rời ra,
Ngọc-Thanh là hiệu ai mà dám tranh.
Ngày ra chơi chốn rừng xanh,
Tối về kinh kệ cửi canh mặc người.
Xuống trần lỡ khóc lỡ cười,
Ham vui đào mận vuông tròn chẳng xong.
Chừng nào Sấu nọ hóa Long,
Trần-gian mới rõ tấm lòng Thần-Tiên.
Thương đời Ta mượn bút nghiên,
Thở-than ít tiếng giải phiền lòng son.
Bắt đầu cha nọ lạc con,
Thân nầy thương chúng hao mòn từ đây.
Minh-Hoàng chưa ngự đài mây,
Gẫm trong thế-sự còn đầy gian-truân.
Ðò đưa cứu kẻ trầm-luân,
Ðặng chờ vận đến mới mừng chúa tôi.
Thảm-thương thế sự lắm ôi,
Dẫy-đầy thê-thảm lắm hồi mê ly.
Dạo chơi Lục-tỉnh một khi,
Rước đưa người tục tu trì xa khơi.
No chiều rồi lại đói mơi,
Dương-trần sắp vướng bịnh Trời từ đây.
Khuyên trần sớm liệu bắp khoai,
Cháo rau đở dạ tháng ngày cho qua.
Nhắn cùng bổn-đạo gần xa,
Tu hành trì chí mới là liễu mai.
Nguyện cầu qua khỏi nạn tai,
Ðặng coi Tiên-Thánh lầu đài quốc-vương.
Niệm Phật nào đợi mùi hương,
Miễn tâm thành-kính tòa-chương cũng gần.
Lao-xao bể Bắc non Tần,
Quân Phiên tham báu xa gần cũng qua.
Tranh phân cho rõ tài ba,
Cùng nhau giành-giựt mới là thây phơi.
Khổ-lao đà sắp đến nơi,
Thế-gian bớt miệng kêu mời cõi âm.
Dầu cho có ở xa-xăm,
Cũng là rán tới viếng thăm dương-trần.
Ngũ-Hành cùng các chư Thần,
Từ đây sắp đến xuống gần chúng-sanh.
Chuông kia treo sợi chỉ mành,
Chẳng lo thân phận lo giành bướm ong.
Hiếu-trung hãy liệu cho xong,
Ðến chừng gặp Chúa mới mong trở về.
Bây giờ kẻ Sở người Tề,
Hiền-lương đến Hội cũng kề với nhau.
Phật Trời chẳng luận nghèo giàu,
Ai nhiều phước đức được vào cõi Tiên.
Hữu phần thì cũng hữu duyên,
Sửa tâm hiền-đức cõi Tiên cũng gần.
Ta mang mình thịt xác trần,
Ra tay dắt chúng được gần Bồng-Lai.
Mai sau nhiều cuộc đất cày,
Ðua nhau mà chạy lầu đài cũng xa.
Lập rồi cái Hội Long-Hoa,
Ðặng coi hiền-đức được là bao nhiêu.
Gian-tà hồn xác cũng tiêu,,
Thảm-thương bá-tánh chín chiều ruột đau.
Mặc ai tranh luận thấp cao,
Thương trong lê-thứ xáo-xào từ đây.
Chinh chinh bóng xế về tây,
Ðoái nhìn trần-thế xác thây ê-hề.
Thương trần Ta cũng rán thề,
Ðặng cho bá-tánh liệu bề tu thân.
Tu hành chẳng được đức ân,
Thì Ta chẳng phải xác thân người đời.
Phật truyền Ta dạy mấy lời,
Ðặng cho trần-thế thức thời tu-thân.
Nào là luân-lý Tứ-Ân,
Phải lo đền-đáp xác thân mới còn.
Ai mà sửa đặng vuông tròn,
Long-Vân đến hội lầu son dựa kề.
Thương đời văn-vật say mê,
Làm điều gian-ác thảm-thê sau nầy.
Kể từ hầu hạ bên Thầy,
Vào ra chầu-chực đài mây cũng gần.
Tuy là nương dựa non Tần,
Ngày sau thế cuộc xoay vần về Nam.
Qua sông nhờ được cầu Lam,
Tu-hành nào đợi chùa am làm gì.
Bây giờ bạc lộn với chì,
Nữa sau lọc lại vít tì cũng chê.
Bớ dân chớ có say mê,
Trung-lương chánh-trực dựa kề đài mây.
Mảng lo gây-gổ tối ngày,
Chẳng lo rèn đúc trí tài hiền-lương.
Thân Nầy ăn tuyết nằm sương,
Chẳng than chẳng thở vì thương thế-trần.

 

Theo Thầy giảng dạy nhiều lần,
Dương-gian nào biết thế-trần nào hay.
Cầu cho dân khỏi nạn tai,
Qua nơi khổ-nảo mặc ai chê cười.
Bạc đâu dám sánh vàng mười,
U-mê mà lại chê cười Thần Tiên.
Giả từ sơn-lãnh lâm-tuyền,
Về đây hội hiệp sạ duyên tớ Thầy.
Ở rừng bạn với cáo-cầy,
Bây giờ xuống thế cáo-cầy lìa xa.
Thiên-cơ biến đổi can qua,
Gẫm trong thế giới còn đôi ba phần.
Mau mau kíp kíp chuyên cần,
Chúng sanh còn có lập thân hội nầy.
Tuần huờn Thiên-Ðịa đổi xây,
Cám thương trần-hạ lòng Ðây chẳng sờn.
Cũng còn kẻ ghét người hờn,
Vì không rõ hiểu sạ dươn của Thầy.
Hổ-lang ác-thú muôn bầy,
Lớp bay lớp chạy sau nầy đa-đoan.
Ai mà ăn ở nghinh-ngang,
Ðón đường nó bắt xé tan xác hồn.
Chữ rằng họa phước vô môn,
Ðáo đầu cũng phải xác hồn tiêu tan.
Khuyên người hữu phước giàu sang,
Mau mau làm phước làm doan cho rồi.
Ðể sau khó đứng khôn ngồi,
Thương nhà tiếc của biết hồi nào nguôi.
Ai mà ăn ở ngược xuôi,
Bị nơi rắn rít chẳng vui đâu là.
Rắn to tên gọi mãng-xà,
Trên rừng nó xuống nó tha dương-trần.
Ai mà tu tỉnh chuyên cần,
Làm đường ngay thẳng có Thần độ cho.
Thương đời hết dạ cần lo,
Chẳng lo niệm Phật nhỏ to làm gì.
Tu là: tâm trí nhu mì,
Tu hiền tu thảo vậy thì cho xong.
Tu cầu cứu vớt Tổ-Tông,
Với cho bá-tánh máu hồng bớt rơi.
Tu cầu cha mẹ thảnh-thơi,
Quốc-vương thủy-thổ chiều mơi phản hồi.
Tu đền nợ thế cho rồi,
Thì sau mới được đứng ngồi tòa sen.
Người tu phải lánh hơi men,
Ðừng ham sắc lịch lắm phen lụy mình.
Tu là sửa trọn ân tình,
Tào-khang chồng vợ bố-kình đừng phai.
Tu cầu Ðức Phật Như-Lai,
Cứu dân qua khỏi nạn tai buổi nầy.
Chữ tu chớ khá trễ chầy,
Phải trau phải sửa nghe Thầy dạy khuyên.
Ra đời xưng hiệu Khùng Ðiên,
Nào ai có rõ Thần Tiên là gì.
Tu không cần lạy cần quì,
Ngồi đâu cũng sửa vậy thì mới mau.
Trí hiền tâm đức chùi lau,
Ra công lọc kỹ thì thau ra vàng.
Vinh-hoa phú-quí chẳng màng,
Ra oai ra lực cỡi thoàn xa chơi.
Con sông dòng nước chiều mơi.
Dốc lòng trả nợ nước đời cho xong.
Chừng nào bổn-đạo hiểu thông,
Thiên-cơ đạo-lý để lòng mới thôi.
Chữ vinh chữ nhục mấy hồi,
Ðến khi thất vận làm mồi yêu tinh.
Tu rèn tâm trí cho minh,
Tánh kia thành kiếng phỉ tình chùi lau.
Hiểu rồi những việc lao-đao,
Ở cùng cô bác làm sao cho tròn.
Kính yêu nào phải hao mòn,
Ở cho phải nghĩa lòng son mới vừa.
Nghinh-ngang hỗn-ẩu phải chừa,
Bà con nội ngoại dạ thưa mới là.
Xóm diềng phải ở thật-thà,
Dầu không quen biết cũng là như quen.
Ở cho cha mẹ ngợi khen,
Gặp người lâm nạn đua chen giúp giùm.
Xác thân là cái gông cùm,
Nếu làm chẳng trọn thú hùm xé thây.
Cho rồi nhơn-nghĩa mới hay,
Lễ-nghi phong-hóa đổi thay làm gì?
Từ đây biến đổi dị-kỳ,
Dương-thế chuyện gì cũng có chuyển lay.
Rèn tâm cho được thẳng ngay,
Khỏi nơi tà quỉ một mai thấy đời.
Cũng là người ở trong trời,
Cớ sao ăn ở nhiều lời ngổn-ngang.
Hung-hăng ỷ của giàu sang,
Chẳng kiên Trời Phật mê-man ỷ tiền.
Dạy rồi cái đạo tu hiền,
Làm trai nhỏ tuổi tình duyên đang nồng.
Cũng đừng ghẹo gái có chồng,
Cũng đừng phá hoại chữ đồng gái trinh.
Ra đường chọc ghẹo gái xinh,
Nữa sau mắc phải yêu-tinh hư mình.
Xử cho vẹn chữ nghĩa tình,
Vâng lời cha mẹ mà gìn gia-cang.
Nghiêm-đường chịu lịnh cho an,
Loạn-luân cang-kỷ hổ mang tiếng đời.
Anh em đừng có đổi dời,
Phụ-phàng dưa muối xe lơi nghĩa-tình.
Tuy là trời đất rộng thinh,
Có Thần xem xét phân minh cho người.
Vô duyên chưa nói mà cười,
Chưa đi mà chạy hỡi người vô duyên.
Lớn lên phận gái cần-chuyên,
Làm ăn thì phải cho siêng mới là.

 

Phải gìn dục vọng lòng tà,
Ðừng chiều theo nó vậy mà hư thân!
Nghe lời cha mẹ cân phân,
Tam-tùng vẹn giữ lập thân buổi nầy.
Tình duyên chẳng kíp thì chầy,
Chớ đừng cải lịnh gió mây ngoại-tình.
Ði thưa về cũng phải trình,
Công, dung, ngôn, hạnh, thân mình phải trau.
Công là phải sửa làm sao,
Làm ăn các việc tầm-phào chẳng nên.
Mình là gái mới lớn lên,
Ðừng cho công việc hớ-hên mới là.
Chữ dung là phận đàn bà,
Vóc hình tươi-tắn đứng đi dịu-dàng.
Dầu cho mắc chữ nghèo nàn,
Cũng là phải sửa phải sang mới mầu.
Ngôn là lời nói mặc dầu,
Cũng cho nghiêm-chỉnh mới hầu khôn ngoan.
Ðừng dùng lời tiếng phang-ngang,
Thì cha với mẹ mới an tấm lòng.

 

Hạnh là đức tánh phải không?

Ở cùng chòm xóm đừng cho mất lòng.
Bốn điều nếu đã làm xong,
Cũng gìn chữ hiếu phục tòng song thân.
Dạy rồi những chuyện đức ân,
Phận làm cha mẹ xử phân lẽ nào.
Lỗi-lầm chớ có hùng-hào,
Ðừng chưởi đừng rủa đừng cào đừng bươi.
Ðem lời hiền đức tốt tươi,
Ðặng mà giáo-hóa vàng mười chẳng hơn.
Cũng đừng gây gổ giận-hờn,
Cho con bắt chước sạ duơn mới là.
Nam-Mô sáu chữ Di-Ðà,
Từ-bi tế-độ vậy mà chúng-sanh.
Xưa nay Sáu Chữ lạnh tanh,
Chẳng ai chịu khó niệm sành thử coi.
Trì tâm thì quá ít-oi,
Bây giờ dùng thử mà coi lẽ nào.
Rạch tim đem để Nó vào,
Thì là mới khỏi máu đào tuôn rơi.
Ðể sau đến việc tả-tơi,
Rồi tu sao kịp chiều mơi cho thành.
Ngày nay chim đã gặp cành,
Chẳng lo đậu lại cho rành gió mưa.
Tu hành nhiều kẻ chẳng ưa,
Mặc ai gièm siểm sớm trưa chẳng màng.
Gẫm trong thế-sự trần-hoàn,
Người hung người ác tà-gian cũng nhiều.
Thương đời ta mới đánh liều,
Mong người tu tỉnh ít nhiều cũng hay.
Muốn tu còn đợi chiều mai,
Khuyên người rèn sớm thì xài lâu hư.
Những người có của tiền dư,
Hãy nên bố-thí dành tư làm gì.
Sau đây nhiều chuyện ly-kỳ,
Kể sao cho xiết vậy thì dân ôi!
Tại sao chẳng cúng chè xôi,
Bởi vì tận thế Phật thôi ăn chè.
Cũng không có muốn hoa-hòe,
Lầu đài sơn phết cũng là chẳng ham.
Ai chê khờ dại cũng cam,
Chớ Tôi cũng chẳng có ham lầu đài.
Chữ tu hãy rán miệt-mài,
Ðừng kể vắn dài đừng nệ mau lâu.
Giáo khuyên khắp hết đâu đâu,
Bớt điều mị-dối mới hầu thấy Ta.
Ðừng theo lũ quỉ lũ ma,
Cúng kiếng nó mà nó phải ăn quen.
Chết rồi cũng bớt cóc ken,
Trống đờn lễ nhạc tế xen ích gì.
Ðàn nhu thầy lễ cũng kỳ,
Mắc phải chuyện gì phủ phục bình hưng?
Lại thêm đờn địch từng tưng,
Ðem con heo sống mà dưng làm gì?
Chủ gia kẻ lạy người quì,
Làm chuyện dị-kỳ giả-dối hay không?
Nếu không thì trả lời không,
Bằng mà có dối thì hòng sửa đi.
Thương đời Ta luống sầu-bi,
Học nho cứ mãi làm thi ngạo đời.
Rung đùi ngâm chuyện trên trời,
Tình-duyên cá nước vậy thời dỗ con.
Thấy đời Ta cũng héo von,
Học nho mà chẳng làm tròn nghĩa nhơn.
Khoe mình chẳng có ai hơn,
Nhờ làm thuốc bắc đở cơn túng nghèo.
Hiền nhơn chẳng chịu làm theo,
Ðợi ai có bịnh túng nghèo chẳng tha.
Hốt thời cắc bảy cắc ba,
Nó đòi năm cắc người ta hoảng hồn.
Lành bay còn ác lại tồn,
Ðến chừng lập Hội xác hồn lìa xa.
Mấy anh thầy thuốc Lang-sa,
Cũng là mổ mật người ta lấy tiền.
Xin trong anh chị đừng phiền,
Ðồng bạc đồng tiền là thứ phi ân.
Muốn sau dựa được Các-Lân,
Hãy nên trao sửa hiền nhân mới là.
Những người quê dốt thật-thà,
Cũng nên tu niệm nhờ mà thân sau.
Lập đời mới biết thấp cao,
Bây giờ chưa biết ai thau ai chì.
Ðời xưa có Ngũ-Viên-Kỳ,
Ðem tài học thuốc hiến thì cho dân.
Người xưa còn chẳng cần thân,
Miễn cho trong nước chúng dân được nhờ.
Ðể tâm yên-lặng như tờ,
Nghĩ suy lời lẽ tỏ mờ thể nao.
Luận xem thế sự thấp cao,
Khuyên dân hãy bớt làm màu hiếu nhi.

Bớt bỏ rình-rang một khi,
Nếu cha mẹ chết làm y lời nầy.
Là lời truyền-giáo của Thầy,
Bông hoa cầu Phật hiệp vầy đi chôn.
Còn mình muốn đãi làng thôn,
Thì là tùy ý đáp ngôn cho người.
Gẫm trong thế sự nực cười,
Chẳng lo cải sửa cho người tâm ngay.
Mình làm chữ hiếu mới hay,
Chớ mướn người ngoài cầu nguyện khó siêu.
Muốn cho tội lỗi mòn tiêu,
Thành tâm cầu nguyện sớm chiều mới hay.
Mục-Liên cứu mẹ bằng nay,
Nhờ người hiếu hạnh tâm rày từ-bi.
Ai ai hãy rán mà suy,
Thương đời Ta tỏ chuyện ni rõ-ràng.
Làm tuần trà rượu xình-xoàng,
Rồi thì chửi-lộn mà an nỗi gì?
Dương-trần làm chuyện dị-kỳ,
Tạo nhiều cảnh giả chơn thì chẳng theo.
Của tiền chớ có bỏ theo,
Chết rồi tế-lễ bò heo làm gì?
Nếu ai biết chữ tu trì,
Cha mẹ còn sống vậy thì cho ăn.
Không làm để ở lung-lăng,
Chưởi cha mắng mẹ lăng-xăng thiếu gì.
Ở cho biết nhượng biết tùy,
Vui lòng cha mẹ vậy thì mới ngoan.
Ðạo là vốn thiệt cái đàng,
Ta ra sức dọn cho toàn chúng sanh.
Thôi thôi bớt miệng hùng-anh,
Ở nơi cửa khẩu thiệt rành tiếng ni.
Chưng bày quân-tử làm chi,
Của đồ hổ-bịch vậy thì xưng hô.
Lũ đàng lũ điếm hồ-đồ,
Anh-hùng quân-tử xưng hô rền trời.
Gặp ai mắc nạn cười chơi,
Chớ không ra sức giúp đời điều chi.
Hổ mình là bực tu mi,
Chưa tròn bổn-phận mà ti tôn mình.
Kể từ thượng lộ đăng trình,
Vào Nam ra Bắc mặc tình bôn-phi.
Khuyên răn trần-thế một khi,
Tuồng đời sắp hạ bằng ni rõ ràng.
Dương-gian làm huyễn nói càn,
Cùng xóm cuối làng đâu cũng như đâu.
Hò reo giục trống nhiều câu,
Sai đồng khiển quỉ nói lâu nực cười.
Ta khuyên hết thảy các người,
Nhiều chuyện trò cười hãy bỏ bớt đi.
Ðừng hò đừng réo làm chi,
Nghinh-ngang kêu múa có khi hại mình.
Nghe không thì cũng mặc tình,
Nói cho rõ-rệt dân tin không là.
Quan-Âm Nam-Hải Phổ-Ðà,
Cùng Thầy ra lịnh nên ta giáo-truyền.
Thánh Thần không phải thiếu tiền,
Mà kêu mà réo xuống trần mà sai.
Nam-Mô Quan-Âm Như-Lai,
Cầu xin chư Phật cứu nay dương-trần.
Khuyên đừng chưởi Thánh mắng Thần,
Xưa nay thứ lỗi thế-trần chẳng kiên.
Lưỡng Thần ghi chép liên miên,
Nào tội nào phước dưới miền trần gian.
Tâu qua Thuợng-Ðế Ngọc-Hoàng,
Dương-trần hung-ác đa đoan quá nhiều.
Chúng-sanh ngang-ngược làm liều,
Ngọc-Hoàng Ngài muốn xử tiêu cho rồi.
Minh-Vương khó đứng khôn ngồi,
Thảm thương lê-thứ mắc hồi gian-truân.
Trước đền mắt ngọc lụy rưng,
Quí yêu bá-tánh biết chừng nào nguôi.
Làm sao cho dạ được vui,
Cúi đầu lạy Phật cầu xin cứu trần.
Lời khuyên xưa cũng một lần,
Nay mượn xác trần xuống bút ra cơ.
Khôn-ngoan nghe nói ngẩn-ngơ,
Ngu-si thì tưởng như thơ biếm đời.
Ở đâu cũng Phật cũng Trời,
Tâm thành chí nguyện xem đời khó chi.
Văn-Thù Bồ-Tát từ-bi,
Chèo tuyền Bát-Nhã cứu thì trần-gian.
Gió đưa lướt sóng buồm loan,
Rước người tu niệm xuê-xang phỉ tình.
Ai mà Ta dạy chẳng gìn,
Thì sau đừng trách mất tình yêu-đương.
Bàn-môn tài phép nào tường,
Kêu Trời giậm Ðất cũng thì dạ rân.
Nói cho trần thế liệu toan,
Chớ theo tả-đạo mà tan xác hồn.
Nó làm nhiều phép nhiều môn,
Bùa mê thuốc lú mê hồn chúng-sanh.
Thành binh sái đậu cũng rành,
Nếu tin thời mắc tan tành về sau.
Bây giờ bất luận người nào,
Không dùng của thế sắc màu cũng không.
Nói cho bổn đạo rõ lòng,
Ấy là chơn-chánh mới hòng vinh-vang.
Ðịa-Tiên tài phép đa đoan,
Phi đao bửu kiếm mê-man mắt trần.
Phật truyền thâu hết phép Thần,
Cứu an bá-tánh một lần nạn nguy.
Phiên-binh bốn phía tứ vi,
Kể sao cho xiết chuyện ni sau nầy.
Lớp thì thú ác dẫy-đầy,
Lớp thì tranh đấu tối ngày chẳng thôi.
Kẻ hung chừng đó làm mồi,
Cho bầy ác-thú đền bồi tội xưa.

Bây giờ còn mãi lọc lừa,
Chẳng lo kiếm chỗ đụt mưa sau nầy.
Hiền lành chừng đó sum vầy,
Quân-thần cộng lạc mấy ngày vui chơi.
Ðến đó Ta mới mừng cười,
Nhìn xem Ngọc-Ðế giữa Trời định phân.
Thiên-Hoàng mở cửa Các-Lân,
Ðịa-Hoàng cũng mở mấy từng ngục môn.
Mười cửa xem thấy ghê hồn,
Cho trần coi thử có mà hay không.
Nhơn-Hoàng cũng lấy lẽ công,
Cũng đồng trừng-trị kẻ lòng tà-gian.
Ấy là đến lúc xuê-xang,
Tam-Hoàng trở lại là đời Thượng-Nguơn.
Khuyên dân lòng chớ có sờn,
Rán tu thì được xem đờn trên mây.
Người hung chết đất chật thây,
Nhìn xem bắt thảm ngày rày cho dân.
Mấy người còn được xác thân,
Thì là Ðài-Ngọc Các-Lân mới kề.
Bây giờ kẻ nhún người trề,
Chê ta rằng dại rằng khờ cũng cam.
Dương-trần bỏ bớt tánh tham,
Ðừng chơi cờ-bạc đừng làm ác-gian.
Ðể sau coi Hội coi hàng,
Coi Tiên coi Phật mới ngoan bớ trần.
Ðiếm-đàng đĩ-thõa chớ gần,
Ðể sau xem thấy non Tần xôn-xao.
Tuy nghèo dùng đỡ cháu rau,
Bền lòng niệm Phật thì sau thanh nhàn.
Ðừng quen thói củ làm càn,
Trộm gà cắp vịt xóm làng ghét vơ.
Khi xưa Ta cũng làm thơ,
Mà đời trần-hạ làm ngơ ít nhìn.
Dạy cho trần-thế phỉ tình,
Ðàng Tiên cõi tục phân minh hai đường.
Bây giờ hát bộ là thường,
Ðể sau Phật hát tỏ tường cho xem.
Cải-lương tuồng ấy cũ mèm,
Tốn tiền buồn ngủ lại thèm đồ ăn.
Nhảy lui nhảy tới lăng-xăng,
Làm tuồng mèo mả thêm nhăng cho đời.
Hạ-nguơn lòng dạ đổi dời,
Bây giờ khổ não đến đời là đây.
Rán nghe lời dạy của Thầy,
Ðể chừng đến việc kiếm Thầy khó ra.
Tây-Phương Thầy lại quá xa,
Nên ta mới nói cạn lời dân nghe.
Ðừng ham lên ngựa xuống xe,
Ăn xài phí của lụa the làm gì.
Xuống trần ta dạy cố lỳ,
Cốt cho trần-thế nghe thì mới thôi.
Ngày nay xe lết xe lôi,
Ðúng lời truyền sấm của hồi đời Lê.
Là năm Rồng, Rắn, Ngựa, Dê,
Chúng-sanh thế-giới ê-hề thây phơi.
Trạng-Trình truyền sấm mấy lời,
Ngày nay dân-chúng vậy thời rán tri.
Hiền nhơn bổn phận tu mi,
Hãy mau thức tỉnh kiếm thì huyền-cơ.
Ngọn đèn khi tỏ khi mờ,
Chúng sanh còn đợi còn chờ chuyện chi.
Trên Trời xuất hiện Tử-Vi,
Quang-minh sáng suốt vậy thì dân ôi!
Thương dân khó đứng khôn ngồi,
Xót xa dạ Ngọc bồi-hồi tâm Trung.
Gió dông thì cội cây rung,
Phương xa có giặc thung-dung đặng nào?
Trời tây chúng nó hùng-hào,
Ðem lòng gây-gổ máu đào mới tuôn.
Cầu Trời cho chúng qua truông,
Thế-gian yên-lặng hát tuồng khải-ca.
Tây-Phương tuy ở cõi xa,
Thành tâm thì có Phật mà đáo lai.
Ước mong dân khỏi nạn tai,
Dắt-dìu Tiên-cảnh Bồng-Lai nhiều người.
Xem trần khó nỗi vui cười,
Lo giàu lo lợi chẳng rồi bớ dân.
Mẹ cha là kẻ trọng ân,
Dưỡng nuôi báo hiếu lúc thân yếu già.
Giường linh đơm quảy mới là,
Có chi cúng nấy vậy mà dân ôi!
Ta là thân phận làm tôi,
Phải đền phải đáp cho rồi mới hay.
Mặc ai tranh luận đấu tài,
Khuyên dân nên hãy miệt mài chữ Tu.
Giảng nầy ra cuối mùa thu,
Dạy ăn dạy ở chữ Tu vuông tròn.
Học theo mối đạo làm con,
Luận xem học mới mấy đon đời nầy.
Văn-minh sửa mặt sửa mày,
Áo quần láng mướt ngày rày ăn chơi.
Dọn xem hình vóc lả lơi,
Ra đường ăn nói những lời nguyệt-hoa.
Trong tâm nhớ những điều tà,
Lời ăn tiếng nói thiệt là quá lanh.
Xưng là đầu trẻ tuổi xanh,
Chẳng trau hiền-đức học hành làm chi?
Khôn ngoan thời những chuyện gì,
Cũng là lừa dối vậy thì dân quê.
Người xưa nó lại khinh chê,
Ông cha hủ-bại u-mê hơn mình.
Tự do trai gái kết tình,
Với lo trau sửa cho mình đẹp tươi.
Gái trai đến tuổi đôi mươi,
Chẳng kiêng cha mẹ nói cười lả-lơi.
So hình sửa sắc chiều mơi,
Ðặng làm những chuyện trái đời vô liêm.

Cớ sao chê cổ trọng kim,
Phụ cha phản chúa lỗi niềm tôi con.
Thấy đời trần-hạ thon-von,
Ai nuôi cho lớn mà còn khinh khi.
Ông cha thuở trước ngu si,
Mà ngay mà thật hơn thì đời nay.
Học hay lợi dụng tiền tài,
Lên quan xuống huyện ăn xài lả-lê.
Gặp ai đói rách cười chê,
Miệng kia hễ mở chưởi thề vang rân.
Chẳng lo rèn trí lập thân,
Ðể làm xảo trá khổ thân sau nầy.
Giáo-viên các sở các thầy,
Khuyên mau tỉnh ngộ tập rày lòng nhơn.
Giúp đời đừng đợi trả ơn,
Miễn tròn bổn phận hay hơn bạc vàng.
Ðánh liều Ta cũng nói càn,
Cứu dân bất luận giàu sang khó nghèo.
Vinh-hoa như thể bọt bèo,
Hiền-lương bất luận khó nghèo cũng xinh.
Nhắc năm Gia-Tĩnh triều Minh,
Nàng Kiều vì hiếu bán mình chuộc cha.
Tuy là lưu-lạc bôn-ba,
Ðến khi mãn hạn bạn xưa cũng nhìn.
Ghét ưa ta cũng mặc tình,
Nghiệm kim suy cổ biện minh thế nào.
Bá-gia kẻ thấp người cao,
Hiền thần hiếu nghĩa rán trau cho rồi.
Giảng nầy chỉ các điều tồi,
Khuyên dân hãy rán mà ngồi mà suy.
Thân ta, Ta chẳng tiếc chi,
Miễn cho bá-tánh nạn gì cũng qua.
Luận xem những việc sâu xa,
Chúng-sanh tưởng Phật thì là hãy coi.
Tháng ngày như thể đưa thoi,
Nguyện cầu thế-giới bớt ngòi chiến tranh.
Ngồi buồn dân gặp chiếu manh,
Ta cho bá-tánh bức tranh vô hình.
Ai ai cũng rán xét mình,
Nếu còn tánh xấu thì rinh ra ngoài.
Cạn lời mà ý còn dài,
Hiến cho trần-hạ một bài ngụ-ngôn.
Tới đây Ta giã làng thôn,
Ngọc-Thanh lui gót phi bôn Nam-Kỳ.
Hiền thần sách sử nêu ghi,
Miễu son tạc để tu-mi trung thần.
Thôi thôi cảnh khổ hầu gần,
Ta khuyên dân-chúng ân-cần nhìn xem.
Ra đời dạy-dỗ anh em,
Xem qua ít bận rán đem vào lòng.
Người tu như thể bá-tòng,
Ai ai cũng quí cũng trông cũng nhìn.
Sửa trau là phận của mình,
Xưa nay lời lẽ sử kinh rõ ràng.
Chừng nào ta gặp Hớn-Hoàng,
Chúng-sanh mới hết phàn-nàn số căn.
Mạnh-Tông xưa cũng khóc măng,
Ðất khô nẩy mụt rõ lòng hiếu-nhi.
Mặc ai nhạo-báng khinh-khi,
Phần ta niệm chữ từ-bi độ đời.
Muốn xem được Phật được Trời,
Thì là phải rán nghe lời dạy răn.
Bá-gia cùng các chư tăng,
Việc tu không đợi hương đăng làm gì.
Ðời cùng tu gấp kịp thì,
Ðặng xem báu ngọc ly-kỳ Năm-Non.
Phật thương bổn-đạo như con,
Muốn cho bổn-đạo lòng son ghi lời.
Nữa sau đến việc biết đời,
Bây giờ chưa thấy nó thời không tin.
Tới đây cũng dứt giảng kinh,
Nếu ai biết sửa tâm linh mới mầu.
Nam-mô lòng sở nguyện-cầu,
Chúc cho bá-tánh muôn sầu tiêu tan.

NAM-MÔ A-DI ÐÀ PHẬT
(tam niệm)

 

Cầu Phật-Tổ, Phật-Thầy, quan Thượng-Ðẳng Ðại-Thần, chư quan Cựu-Thần, chư vị Sơn-Thần, chư vị Năm Non Bảy Núi phổ-độ bá-tánh vạn dân tiêu tai tịnh sự giải-thoát mê-ly.

2 Attachments 

3a- Quyển III-Sám Giảng.doc
3b- Quyển III-Sám Giảng.pdf
Sang Lephuoc
10:28 PM (12 hours ago) 

to meminhquang4429TonlawrenceLactanquele1paulPhuong, Vu
1.XIN CAM ON VU NGUYEN DA CO NHIEU NO LUC TRONG PHO BIEN TAI LIEU PGHH VA BSKH. 

2. RAT HOAN NGENH Y KIEN CUA VU NGUY TRONG VIEC PHOI HOP VA CHUNG SUC VOI NHAU. VOI TU CACH HOI TRUONG HDTSTU/GHPGHH, TOI DA UY NHIEM  CHO DONG DAO HUYEN TAM, TRONG VAI TRO CHANH THO KY HDTSTU KIEM TONG VU TRUONG PTGL PGHH LIEN LAC  CHAC CHE VA PHOI HOP VOI VU NGUYEN …MONG VU NGUYEN CHO BIET DIA CHI, EMAIL, VA DIEN THOAI DE TIDEN LIEN LAC VOI NHAU. CELL CUA TOI LA 832 3979813,LEPHUOCSANG.PGHH@GMAIL.COM, DIA CHI HOI QUAN HDTSTU/GHPGHH LA 12432EUCLID ST, GARDEN GROVE, CSA 92840. DIEN THOAI CUA HUYEN TAM LA 7147205271HUYENTAMHH@GMAIL.COM.
3 CUNG XIN VU NGUYEN CHO CHUNG TOI NHUNG CHI TIET CAN THIET DE CHUNG TA CO THE LIEN LAC VOI NHAU. HUYEN TAM TRUOC 1975 DA THEO HOC NHIEU KHOA HOC VE PTGL, THUOC GIA DINH PGHH KY CUU, TAN TUY TRUNG THANH VOI DAO . TU KH.I RA HAI NGOAI DEN NAY, LUON LUON TAN TINH VOI NHIEM VU MOT TIN DO PGHH  NHIET HUYET, HET LONG DONG GOP CHO  SU MANG PHAT TRIEN GIAO THUYET HOC PHAT TU NHAN, TU AN TRONG DAI.
LE PHUOC SANG MO COI LUC 7 TUOI. TIA TOI CHETKHI MOI 32 TUOI, MA TOI 28 TUOI, TOI PHAI SONG CUC HO O DONG RUONG LAM DU CAC CONG VIEC HET SUC CUC NHOC TRONG DONG RUON CHO DEN KHI 17 TUOI MOI CHANH THUC DI HOC TAI TINH LY LONG XUYEN, 19 TUOI DAU SO HOC, LANH PHAN THUONG DANH DU  CUA QUOC TRUONG BAO DAI…DAU CU NHAN LUAT NAM 1963, LAM CHANH AN , ROI CU HOI TRUONG LUONG TRONG TUONG VA HDTSTU  DE CU TOI LAM CO VAN PHAP LUAT, LAM DAI DIEN HDTSTUGHPGHH TAI SAIGON, LAM VIEC VOI CHANH PHU, VOI TON GIAO DANG PHAI, VOI NGOAI GIAO DOAN,DE CU TOI LAM TONG VU TRUONG VAN HOA GIAO DUC VA THANH NIEN, THANH LAP VA LAM  VIEN TRUONG VIEN DAI HOC HOA HAO. SUOT 38 NAM NAY O HAI NGOAI TOI KHONG HE LAM MOT VIEC GI CO LANH LUONG BONG, VI TOI CAM THAY  PHAI TOAN THI LO  TRA NO AN TINH VOI PGHH  DA GIOI THIEU TOI   VAO UY BAN LANH DAO QUOC GIA, DA DUA TOI VAO LAM TONG TRUONG, PHU TA THU TUONG, CHUYEN TRACH GIAO DUC, CANH NONG VA Y TE, UNH HO TOI DAC CU QUOC HOI LAP HIEN VOI SO PHIEU CAO NHUT TOAN QUOC, DAC CU NGHI SI THUONG NGHI VIEN  BAU CU TOAN QUOC, DAC CU VOI SO PHIEU CAO NHUT TRONG TOAN MIEN TAY CUA PGHH. HDTSTU GHPGHH

 

TS. LêPhước Sang 

Hội truởng HĐTSTƯ GH-PGHH
————————————————
12432 Euclid Street, Garden Grove, CA 92840
832-397-9813 & (714) 584-7778 (xin để lại message)
Click here to Reply, Reply to all, or Forward
Brooks Brothers at up to 70% off retail. Today on Rue La La.
Why this ad?Ads –
0.13 GB (0%) of 15 GB used
©2013 Google – Terms & Privacy
Last account activity: 36 minutes ago

 

Kệ Dân CỦA NGười Khùng ( quyển 2)

Quyển II

Kệ Dân Của Người Khùng

 (476 câu)

 

Ngồi Khùng trí đoái nhìn cuộc thế,
Thấy dân mang sưu thuế mà thương.
Chẳng qua là Nam-Việt vô vương,
Nên tai-ách xảy ra thảm-thiết.
Bạc không cánh đổi thay chẳng biết,
Vàng bị nghèo mấy chiếc chẳng còn.
Mới mấy năm sao quá hao-mòn,
Mùa màng thất, đói đau không thuốc.
Thương hại bấy lê-dân đứt ruột,
Thảm vợ con đói rách đùm-đeo.
Gẫm chữ nghèo thường mắc chữ eo,
Thêm gạo lúa lại tăng giá mắc.
Nhìn cuộc thế đổi thay quá gắt,
Máy Thiên-cơ mỗi phút mỗi thay.
Nẻo thạnh suy như thể tên bay,
Đường vinh-nhục rủi may một lát.
Ai phú-quí vào đài ra các,
Ta Điên Khùng thương hết thế-trần.
Khuyên chúng-sanh chẳng biết mấy lần,
Nào ai có tỉnh tâm tìm Đạo.

 

Trai trung-liệt đáng trai hiền-thảo,
Gái tiết-trinh mới gái Nam-trào.
Lời Thánh Hiền để lại biết bao,
Sao trai gái chẳng coi mà sửa?
Đời tận thế mà còn lần-lựa,
Chẳng chịu mau cải dữ về lành.
Làm Phật-Nhi phải được lòng thành,
Thì mới đặng vãng-sanh Cực-Lạc.
Tương với muối cháo rau đạm bạc,
Nghèo lương hiền biết niệm Di-Đà.
Mà mai sau thoát khỏi tinh ma,
Lại được thấy cảnh Tiên nhàn-hạ.
Trên Bảy Núi còn nhiều báu lạ,
Rán tu tâm dưỡng tánh coi đời.
Coi là coi được Phật được Trời,
Coi phép lạ của Tiên của Thánh.
Cuộc dương-thế ngày nay mỏng-mảnh,
Mà sang giàu còn hiếp nghèo nàn.
Phải xả thân tầm Bát-Nhã thoàn,
Sau mới khỏi hùm tha sấu bắt.
Đến chừng đó bốn phương có giặc,
Khắp hoàn-cầu thiết thiết tha tha.
Vậy sớm mau kiếm chữ Ma-Ha,
Thì Phật cứu khỏi nơi khói lửa.
Tưởng nhớ Phật như ăn cơm bữa,
Vọng Cửu-Huyền sớm tối mới mầu.
Chữ Nam-Mô dẹp được lòng sầu,
Sau thấy được nhà Tiên cửa Thánh.
Ghét những đứa giàu-sang kiêu-hãnh,
Thương những người đói-rách cơ-hàn.
Cảnh phồn-hoa khó sánh lâm-san,
Sau sẽ có nhiều điều vinh-hạnh.
Cõi trần-thế hết suy tới thạnh,
Hết lâm nguy đến lúc khải-hoàn.
Tuy tu hành chịu chữ nghèo-nàn,
Sau đắc đạo gặp điều cao-quí.
Mặc bá-tánh đời nầy dị-nghị,
Ta Điên Khùng mà tánh lương-hiền.
Lòng yêu dân chẳng trọng bạc tiền,
Mà dương-thế cứ theo biếm nhẻ.
Sau lập Hội thì già hóa trẻ,
Khắp hoàn-cầu đổi xác thay hồn.
Đức Ngọc-Hoàng mở cửa thiên-môn,
Đặng ban thưởng Phật Tiên với Thánh.
Khuyên trai gái học theo Khổng-Mạnh,
Sách Thánh Hiền dạy Đạo làm người.
Xem truyện thơ chẳng biết hổ-ngươi,
Mà làm thói Điêu-Thuyền, Lữ-Bố.
Sau kẻ ấy làm mồi mãnh-hổ,
Cảnh Núi-Non nhiều thú dị-kỳ.
Nó trọng ai hiền-đức nhu-mì,
Sát phạt kẻ bội cha phản chúa.
Đến chừng đó thiên-la lưới bủa,
Mới biết rằng Trời Phật công-bằng.
Nếu dương trần sớm biết ăn-năn,
Làm hiền-đức khỏi đường lao-lý.
Học tả-đạo làm điều tà-mị,
Theo dị-đoan cúng kiếng tinh-tà.
Thì sau nầy gặp chuyện thiết-tha,
Đừng có trách Khùng Điên chẳng cứu.

 

Thấy bá-tánh nghinh tân yểm cựu,
Học ai mà ngang-ngược nhiều lời.
Phụ mẹ cha khinh-dể Phật Trời,
Chẳng có kể công sanh dưỡng-dục.
Thương lê-thứ bày tường trong đục,
Mặc ý ai nghe phải thì làm.
Lời của người di-tịch Núi-Sam,
Chớ chẳng phải bày điều huyễn-hoặc.
Cảnh Thiên-Trước thơm-tho nồng-nặc,
Chẳng ở yên còn xuống phàm-trần.
Ấy vì thương trăm họ vạn dân,
Nên chẳng kể tấm thân lao-khổ.
Giả Quê Dốt khuyên người tỉnh-ngộ,
Giả Bán Buôn thức giấc người đời.
Rằng ngày nay có Phật có Trời,
Kẻo dân-thứ nhiều người kêu ngạo.
Xuống mượn xác nhằm năm Kỷ-Mão,
Buồn xóm làng cứ ghét Điên Khùng.
Nếu trẻ già ai biết thì dùng,
Chẳng có ép có nài bá-tánh.
Nghe Điên dạy sau nầy thơi-thảnh,
Đây chỉ đường Cực-Lạc vãng-sanh.
Đừng có ham lên mặt hùng-anh,
Sa địa ngục uổng thân uổng kiếp.
Theo đạo-lý nhứt tâm mới kịp,
Ngày nay đà gặp dịp tu hành.
Niệm Di-Đà rán niệm cho rành,
Thì mới được sống coi Tiên-Thánh.
Đức Minh-Chúa chẳng ai dám sánh,
Xưa mạt Thương phụng gáy non Kỳ.

Bởi Võ-Vương đáng bực tu-mi,
Nay trở lại khác nào đời trước.
Kẻ gian-ác bị gươm ba thước,
Nơi pháp-tràng trị kẻ hung-đồ.
Được thảnh-thơi nhờ chữ Nam-Mô,
Khuyên bổn-đạo rán mà trì-chí.
Xưa Tây-Bá thất-niên Dũ-lý,
Huống chi ta sao khỏi tiếng đời.
Dòm biển trần cảnh khổ vơi vơi,
Lao với khổ, khổ lao chẳng xiết.
Ghét bạo chúa là xưa Trụ-Kiệt,
Mất cơ-đồ lại bị lửa thiêu.
Thương Minh-Vương bắt chước Thuấn-Nghiêu,
Lòng hiền đức nào ai có biết.
Thương trần-thế kể sao cho xiết,
Mượn xác trần bút tả ít hàng.
Kể rõ ràng những việc lầm-than,
Mặc làng xóm muốn nghe thì chép.
Việc tu tỉnh Khùng không có ép,
Cho giấy vàng Điên chẳng có nài.
Lòng yêu dân chẳng nệ vắn dài,
Cho bổn-đạo giải khuây niệm Phật.
Việc xảy đến Đây truyền sự thật,
Ấy là lời của Phật giáo-khuyên.
Rán nghe lời của kẻ Khùng-Điên,
Phật, Tiên, Thánh hãy nên trọng kỉnh.
Bịnh ôn-dịch cũng đừng mời thỉnh,
Cõi ngũ-hành chẳng khá réo-kêu.
Hãy gìn lòng chớ khá dệt-thêu,
Nói xiên-xỏ cũng không no béo.

 

Đời Ngươn-Hạ ngày nay mỏng-mẻo,
Khuyên thế-trần hãy rán kiêng-dè.
Mặc tình ai lên ngựa xuống xe,
Ta chẳng có ham nơi phú-quí.
Trong bổn-đạo từ nay kim-chỉ,
Đói với nghèo sắp đến bây giờ.
Vì thương đời nên Lão kể sơ,
Cho bá-tánh rõ lời châu ngọc.
Nước Nam-Việt ai là thằng ngốc,
Người đời nay như ốc mượn hồn.
Chim tìm cây mới gọi chim khôn,
Người hiền-đức mới là người trí.
Theo Phật-Giáo sau nầy cao quí,
Được nhìn xem Ngọc-Đế xử phân.
Lại dựa kề Bệ-Ngọc Các-Lân,
Cảnh phú-quí nhờ ơn Phật-Tổ.
Thấy bá-tánh nhiều điều tai-khổ,
Khùng thương dân nên phải hết lời.
Dạo Lục-Châu chẳng có nghỉ-ngơi,
Mà lê-thứ nào đâu có biết.
Dạy Đạo chánh vì thương Nam-Việt,
Ở Cao-Miên vì mến Tần-Hoàng.
Trở về Nam đặng có sửa-sang,
Cho thiện-tín được rành chơn-lý.
Trong Sáu-Tỉnh nhiều điều tà-mị,
Tu-hành mà vị-kỷ quá chừng.
Thì làm sao thoát khỏi trầm-luân,
Khuyên bổn-đạo rán tầm nẻo chánh.
Chừng lập Hội xác thân mới rảnh,
Nếu không thời khó thấy Phật Trời.

Khùng dạy dân chẳng dám nghỉ-ngơi,
Đi chẳng kể tấm thân già cả.
Cảnh trần-thế mặc ai thong-thả,
Chớ lòng ta chẳng đắm hồng-trần.
Có thân thì rán giữ lấy thân,
Để đến việc ăn-năn chẳng kịp.
Yêu những kẻ tâm đầu ý hiệp,
Mến những ai biết kiếm Đạo-mầu.
Cảnh Tây-Thiên báu ngọc đầy lầu,
Rán tu tỉnh tìm nơi an dưỡng.
Kẻ hiền-đức sau nầy được hưởng,
Phép Thần-Linh của Đức Di-Đà.
Lại được thêm thoát khỏi Ta-Bà,
Khỏi luân chuyển trong vòng Lục Đạo.
Đức Diêm-Chúa yêu người hiền thảo,
Trọng những ai biết niệm Di-Đà.
Lại được gần Bệ-Ngọc Long-Xa,
Coi chư quốc tranh-giành châu-báu.
Trai nhỏ tuổi kính thành trưởng lão,
Gái bé thơ biết trọng tuổi già.
Rán tỉnh tâm dẹp được lòng tà,
Thì được thấy Phật, Tiên, Thần, Thánh.
Việc hung-dữ hãy nên xa lánh,
Theo gương hiền trau sửa làm người.
Sau tà-tinh ăn sống nuốt tươi,
Mà bá-tánh chẳng lo cải thiện.
Miệng dương-thế hay bày nói huyễn,
Sách Thánh Hiền ghét kẻ nhiều lời.
Khuyên chúng-sanh niệm Phật coi đời,
Cõi Hạ-Giái rồng mây chơi giỡn.

 

Ở chòm-xóm đừng cho nhơ-bợn,
Rán giữ gìn phong-hóa nước nhà.
Câu tam-tùng bọn gái nước ta,
Chữ hiếu-nghĩa trẻ trai cho vẹn.
Ghét những kẻ có ăn bỏn-sẻn,
Thương những người đói rách lương hiền.
Muốn tu-hành thì phải cần-chuyên,
Tưởng nhớ Phật chớ nên sái buổi.
Kẻ phú-quí đừng vong cơm nguội,
Sau đói lòng chẳng có mà dùng.
Ta yêu đời than-thở chẳng cùng,
Mà bá-tánh chẳng theo học hỏi.
A-Di-Đà nhìn xem khắp cõi,
Đặng trông chờ mong-mỏi chúng-sanh.
Hiện hào-quang ngũ sắc hiền lành,
Đặng tìm kiếm những người hiền-đức.
Kẻ tâm-trí mau mau tỉnh-thức,
Kiếm Đạo-mầu đặng có hưởng nhờ.
Chốn hồng-trần nhiều cảnh nhuốc-nhơ,
Rán hiểu rõ huyền-cơ mà tránh.
Chốn tửu-điếm ta nên xa lánh,
Tứ-đổ-tường đừng có nhiểm vào.
Người tránh xa mới gọi trí cao,
Sa bốn vách mang điều nhơ-nhuốc.
Muốn tu tỉnh nay đà gặp cuộc,
Đức Di-Đà truyền mở Đạo lành.
Bởi vì Ngài thương xót chúng-sanh,
Ra sắc lịnh bảo Ta truyền dạy.
Nên khổ-lao Khùng không có nại,
Miễn cho đời hiểu đặng Đạo-mầu.

Ai muốn tầm Đạo cả cao sâu,
Thì hãy dẹp tánh tình ích-kỷ.
Mau trở lại đừng theo tà-quỉ,
Tham, Sân, Si chớ để trong lòng.
Phải giữ lòng cho được sạch trong,
Mới thoát khỏi trong vòng bịnh khổ.
Lớp đau chết kể thôi vô số,
Thêm tà-ma yêu-quái chật đường.
Chốn hồng-trần nhiều nỗi thảm-thương,
Làm sao cứu những người hung-ác.
Khắp thế-giới cửa nhà tan-nát,
Cùng xóm làng thưa-thớt quạnh-hiu.
Bấy lâu nay nuôi dưỡng chắt-chiu,
Nay tận-diệt lập đời trở lại.
Khắp lê-thứ biến vi thương-hải,
Dùng phép-mầu lập lại Thượng-Ngươn.
Việc Thiên-Cơ Khùng tỏ hết trơn,
Cho trần-hạ tường nơi lao-lý.
Lão nào có bày điều ma-mị,
Mà gạt-lường bổn-đạo chúng-sanh.
Đức Minh-Vương ngự chốn Nam-Thành,
Đặng phân xử những người bội nghĩa.
Trung với hiếu ta nên trau-trỉa,
Hiền với lương bổn-đạo rèn lòng.
Thường nguyện-cầu siêu-độ Tổ-Tông,
Với bá-tánh vạn dân vô sự.
Đời Nguơn-Hạ nhiều người hung-dữ,
Nên xảy ra lắm sự tai-ương.
Đức Di-Đà xem thấy xót thương,
Sai chư Phật xuống miền dương-thế.

 

Tu kíp kíp nếu không quá trễ,
Chừng đối đầu khó kiếm Điên Khùng.
Cứu lương-hiền chẳng cứu người hung,
Kẻ gian-ác đến sau tiêu-diệt.
Nay trở lại như đời Trụ-Kiệt,
Hãy tu nhơn chớ có tranh-giành.
Tuy nghèo hèn mà chí cao-thanh,
Được hồi-phục nhờ ơn chư Phật.
Hãy thương xót những người tàn-tật,
Thấy nghèo hèn chớ khá khinh cười.
Trên Năm-Non rồng phụng tốt tươi,
Miền Bảy-Núi mà sau báu-quí.
Mặc trai gái trẻ già có nghĩ,
Thì khoan cười tôi rất cám ơn.
Khùng ra đời truyền dạy thiệt hơn,
Chư bổn-đạo chớ nên khinh rẻ.
Nay Khùng đã hết già hóa trẻ,
Nên giữa đồng bỗng lại có sông.
Ở Tây-Phương chư Phật ngóng trông,
Chờ bá-tánh rủ nhau niệm Phật.
Làm nhơn-ái ắt tiêu bịnh-tật,
Vậy hãy mau tầm Đạo Thích-Ca.
Phật tại tâm chớ có đâu xa,
Mà tìm kiếm ở trên Non-Núi.

Chúng đục-đẽo những cây với củi,
Đắp xi-măng sơn-phết đặt tên.
Ngục A-Tỳ dựa kế một bên,
Chờ những kẻ tu hành giả-dối.
Khuyên sư-vãi mau mau cải-hối,
Làm vô-vi chánh Đạo mới mầu.

Đạo Thích-Ca nhiều nẻo cao sâu,
Hãy tìm kiếm cái không mới có.
Ngôi Tam-Bảo hãy thờ Trần-Đỏ,
Tạo làm chi những cốt với hình.
Khùng nói cho già trẻ làm tin,
Theo Lục-Tổ chớ theo Thần-Tú.
Khuyên bổn-đạo chớ nên mê ngủ,
Thức dậy tìm Đạo chánh của Khùng.
Đặng sau xem liệt quốc tranh hùng,
Được sanh sống nhờ ơn Chín-Bệ.
Hóa phép lạ biết bao mà kể,
Chín từng mây nhạc trổi tiêu-thiều.
Kẻ tà-gian sau bị lửa thiêu,
Người tu niệm sống đời thượng-cổ.
Khùng vưng lịnh Tây-Phương Phật-Tổ,
Nên giáo-truyền khắp cả Nam-Kỳ.
Hội Long-Hoa chọn kẻ tu-mi,
Người hiền-đức đặng phò chơn Chúa.
Khuyên những kẻ giàu sang có của,
Hãy mở lòng thương xót dân nghèo.
Cảnh vinh-hoa lại quá cheo-leo,
Nhà giàu có sau nhiều tai-ách.
Hỡi bá-tánh rừng sâu có mạch,
Tuy u-minh mà có đền vàng.
Lịnh Quan-Âm dạy biểu Khùng troàn,
Cho bổn-đạo rõ nguồn chơn-lý.
Lũ thầy-đám hay bày trò khỉ,
Mượn kinh luân tụng mướn lấy tiền.
Chốn Diêm-Đình ghi tội liên-miên,
Mà tăng-chúng nào đâu có rõ.

 

Theo Thần-Tú tạo nhiều chuông mõ,
Từ xưa nay có mấy ai thành?
Phật từ-bi độ tử độ sanh,
Là độ kẻ hiền-lương nhơn-ái.
Xá với phướn là trò kỳ-quái,
Làm trai-đàn che miệng thế-gian.
Kẻ vinh-hoa phú-quí giàu sang,
Mướn tăng-chúng đặng làm chữ hiếu.
Thương bá-tánh vì không rõ hiểu,
Tưởng vậy là nhơn nghĩa vẹn tròn.
Thấy lạc-lầm Đây động lòng son,
Khuyên bổn-đạo hãy nên tỉnh-ngộ.
Ở dương-thế tạo nhiều cảnh khổ,
Xuống huỳnh-tuyền Địa-Ngục khảo hình.
Tuy lưới Trời thưa rộng thinh-thinh,
Chớ chẳng lọt những người hung-ác.
Khi nhắm mắt hồn lìa khỏi xác,
Quỉ Vô-Thường dắt xuống Diêm Đình.
Sổ sách kia tội phước đinh-ninh,
Phạt với thưởng hai đường tỏ rõ.
Tìm Cực-Lạc, Đây rành đường ngõ,
Hãy mau-mau tu tỉnh mới mầu.
Tận thế-gian còn có bao lâu,
Mà chẳng chịu làm tròn nhơn-đạo.
Kẻ nghèo khó hụt tiền thiếu gạo,
Mở lòng nhơn tiếp rước mới là.
Làm hiền-lành hơn tụng hơ-hà,
Hãy tưởng Phật hay hơn ó-ré.
Đã chánh Đạo thêm còn sức khỏe,
Đặng nuôi cha dưỡng mẹ cho tròn.

Vẹn mười ơn mới đạo làm con,
Lúc sanh sống chớ nên phụ-bạc.
Nếu làm đám được về Cực-Lạc,
Thì giàu sang được trọn hai bề.
Ỷ tước-quyền làm ác ê-hề,
Khi bỏ xác nhiều tiền lo-lót.
Kinh với sám tụng nghe thảnh-thót,
Lũ nhưn-bông tập luyện đã rành.
Đẩu với đờn, kèn, trống, nhịp sanh,
Làm ăn rập đặng đòi cao giá.
Tâm trần-tục còn phân nhơn ngã,
Thì làm sao thoát khỏi luân-hồi.
Những giấy-tiền vàng-bạc cũng thôi,
Chớ có đốt tốn tiền vô lý.
Xưa Thần-Tú bày điều tà-mị,
Mà dắt-dìu bá-tánh đời Đường.
Thấy chúng-sanh lầm lạc đáng thương,
Cõi Âm-Phủ đâu ăn của hối.
Đúc Phật lớn chùa cao bối-rối,
Mà làm cho Phật-Giáo suy đồi.
Tu Vô-Vi chớ cúng chè xôi,
Phật chẳng muốn chúng-sanh lo lót.
Tăng với chúng ưa ăn đồ ngọt,
Nên bày ra cúng kiếng hoài hoài.
Ỷ nhiều tiền chẳng biết thương ai,
Cúng với lạy khó trừ cho đặng.
Kẻ nghèo khó tu hành ngay thẳng,
Không cầu siêu Phật bỏ hay sao?
Lập trai đàn chạy chọt lao xao,
Bôi lem mặt làm tuồng hát Phật.

 

Nay nhằm lúc mùa màng ngập thất,
Vậy hãy mau bỏ bớt dị-đoan.
Rán giữ gìn luân-lý tam cang,
Tròn đức-hạnh mới là báu-quí.
Nay gần đến long phi xà vĩ,
Cảnh gian-nan bá-tánh hầu kề.
Thấy chúng sanh còn hỡi say mê,
Khùng chỉ rõ đường tà nẻo chánh.
Ta là kẻ vô hình hữu ảnh,
Ẩn xác phàm gìn đạo Thích-Ca.
Làm gian-ác là quỉ là ma,
Làm chơn-chánh là Tiên là Phật.
Hiếm những kẻ không nhà không đất,
Mà sang giàu chẳng xót thương giùm.
Có lỡ-lầm chưởi mắng um-sùm,
Thêm đánh đập khác nào con vật.
Ăn không hết lo dành lo cất,
Đem bạc trăm cúng Phật làm chi?
Phật Tây-Phương vốn tánh từ-bi,
Đâu túng thiếu mà quơ mà tởi.
Khùng cả tiếng kêu dân ơi hỡi,
Hãy giúp cho kẻ đói mới nhằm.
Đến loạn-ly khổ hạnh khỏi lâm,
Còn hơn đúc chuông đồng Phật bự.
Chẳng làm phước để làm hung-dữ,
Rồi vào chùa lạy Phật mà trừ.
Phật Tây-Phương có lẽ hiểu dư,
Dụng tâm ý chớ không dụng vật.
Muốn bổn-đạo tánh tình chơn-chất,
Rèn lòng hiền thương xót lẫn nhau.

Kể từ rày vàng lộn với thau,
Phật, Tiên, Thánh cùng nhau xuống thế.
Cứu bá-tánh không cần lễ mễ,
Để dắt-dìu đạo-lý rành đường.
Nước Nam-Việt nhằm cõi Trung-Ương,
Sau sẽ có Phật Tiên tại thế.
Khuyên sư vãi bớt dùng của thế,
Gắng công tu đặng có xem đời.
Tu thật tâm thì được thảnh-thơi,
Tu giả-dối thì lao thì lý.
Khùng khuyên hết kẻ ngu người trí,
Rán tỉnh tâm suy nghĩ Đạo-mầu.
Chuyện huyền-cơ bí-hiểm cao sâu,
Hãy nghiệm xét hai đường tà chánh.
Các chư Phật không khi nào rảnh,
Tâm từ-bi vẫn nhớ chúng-sanh.
Các chư Thần tuần vãng năm canh,
Về Thượng-Giái tâu qua Thượng-Đế.
Sổ tội ác thì vô số kể,
Còn làm nhơn thì quá ít oi.
Hội công-đồng xem xét hẳn-hòi,
Sai chư tướng xuống răn trần-thế.
Đau nhiều chứng dị-kỳ khó kể,
Sắp từ nay lao-khổ đến cùng.
Kẻ dương gian khó nổi thung-dung,
Người bạo ác không toàn tánh mạng.
Đường đạo-lý chớ nên chán-nản,
Hãy bền lòng tầm Phật trong tâm.
Phật Tây-Phương thiệt quá xa-xăm,
Phải tìm kiếm ở trong não trí.

 

Sau đến việc sơn băng kiệt thủy,
Khùng thảm thương bá-tánh quá chừng.
Nhìn xem trần nước mắt rưng-rưng,
Cảnh áo-não kể sao cho xiết.
Ta dạy-dỗ là vì tình thiệt,
Cho bá-gia rõ biết người Khùng.
Thấy dương-trần làm dữ làm hung,
Nên khuyên nhủ cho người lương-thiện.
Chữ Lục-Tự trì tâm bất viễn,
Thì lâm nguy có kẻ cứu mình.
Ai lòng nhơn hoặc chép hay in,
Mà truyền-bá đặng nhiều phước-đức.
Trong bá-tánh từ nay buồn bực,
Khùng yêu dân chỉ rõ Đạo mầu.
Rán trì tâm tưởng niệm canh thâu,
Nằm đi đứng hay ngồi chẳng chấp.
Việc biến-chuyển Thiên-Cơ rất gấp,
Khuyên chúng-sanh hãy rán tu hành.
Cầu linh hồn cho được vãng sanh,
Đây chỉ rõ đường đi nước bước.
Hãy tưởng Phật đừng làm bạo ngược,
Ta phần hồn dạo khắp thế gian.
Vào xác trần nước mắt chứa-chan,
Khắp lê-thứ nghe lời thì ít.
Chốn sơn-lãnh bây giờ mù mịt,
Cho nên dân dạy chẳng nghe lời.
Kể từ nay nói chuyện chiều mơi,
Chớ chẳng nói dông dài khó hiểu.
Cờ đã thất còn chờ nước chiếu,
Mà còn ăn con chốt làm chi.

Ai là người quân-tử tu mi?
Phải sớm xử thân mình cho vẹn.
Chừng lập Hội khỏi thùa khỏi thẹn,
Với Phật Tiên cũng chẳng xa chi.
Lời cao-siêu khuyên hãy gắn ghi,
Ta ra sức dắt-dìu bá-tánh.

 

* * *

 

NAM-MÔ TAM-GIÁO QUI NGƯƠN,
PHỔ-ĐỘ CHÚNG-SANH A-DI-ĐÀ PHẬT

 

BỬU ngọc vãng-lai rõ Đạo-mầu,
SƠN tầm hạnh Thích nẻo cao sâu.
KỲ giả thức tâm tìm Đạo-lý,
HƯƠNG tuyệt đăng lui bãi phục cầu.

 

 

2 attachments — Download all attachments (zipped for 

  English (US)

)

2a- Quyển II-Kệ Dân của Người Khùng.doc
58K   View   Download
2b- Quyển II-Kệ Dân của Người Khùng.pdf
103K   View   Download
Click here to Reply or Forward
Turn your entertainment into a high performance event!
Why this ad?Ads –

LƯỢC GIẢNG KINH PHÁP BẢO ĐÀN, HOÀ THƯỢNG TUYÊN HOÁ

Phần Lược Tự 

(05/21/2010) (Xem: 3963)

LƯỢC GIẢNG
KINH PHÁP BẢO ĐÀN
Hoà Thượng Tuyên Hoá Giảng tại Vạn Phật Thánh Thành Hoa Kỳ

 

Phần Lược Tự 

Tên của bộ Kinh này là Kinh Lục Tổ Pháp Bảo Ðàn, tên riêng là “Lục Tổ Pháp Bảo Ðàn.”“Kinh” là tên chung của các bộ Kinh. Kinh Phật lập đề thường dùng bảy loại để phân biệt: tức Ðơn Nhân, Ðơn Pháp, Ðơn Dụ, Nhân Pháp, Nhân Dụ, Pháp Dụ, Nhân Pháp Dụ. NhưKinh Phật Thuyết A Di Ðà là Ðơn Nhân lập đề, vì Ðức Phật và Phật A Di Ðaø đều là người, là người tu hành thành Phật. Người chính là Phật, Phật chính là người, vì thế người Trung Quốc viết chữ Phật có bộ nhân bên cạnh. Ðơn Pháp lập đề như Kinh Bát Nhã, Kinh Niết Bàn. Niết Bàn là pháp, Niết Bàn nghĩa là bất sanh bất diệt. Ðơn Dụ lập đề như Kinh Phật Thuyết Phạm Võng, nếu nghiêm trì giới luật thì có thể sanh ra quang minh, như châu báu của cõi Ðại Phạm Thiên. Nếu phạm giới phá giới, biết pháp phạm pháp thì có chỗ hữu lậu, hữu lậu tất đi đến tam ác đạo: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, nơi đó tuyệt không có một chút nhân tình. Pháp Dụ lập đề như Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là dụ. Nhân Dụ lập đề giống như Kinh Như Lai Sư Tử Hống, Như Lai là người, Sư Tử là dụ, Phật thuyết pháp như sư tử hống. Nhân Pháp lập đề như Kinh Văn Thù Vấn Bát Nhã. Ðầy đủ Nhân Pháp Dụ lập đề như Kinh Ðại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm, Ðại Phương Quảng là pháp, Phật là người, Hoa Nghiêm là dụ.

Nhưng quyển Kinh Lục Tổ Pháp Bảo Ðàn là Kinh Trung Quốc, không phải Kinh Ấn Ðộ, cho nên ngoài bảy loại lập đề ra, còn có thêm một loại là Xứ lập đề. Lục Tổ là người, Pháp Bảo là pháp, Ðàn là xứ sở, vì thế quyển Kinh này là Nhân Pháp Xứ lập đề, không thể giảng theo bảy loại lập đề kể trên.

Ngôi vị Lục Tổ không phải dễ thừa kế, đảm trách. Vì sao vậy? Vì có rất nhiều người muốn giết Ngài. Ngay cả đệ tử của Ngài là Chí Triệt cũng tìm cách giết hại Ngài. Vì thế Ðại sư sau khi đắc pháp đã tỵ nạn mười sáu năm trong nhóm thợ săn. Thậm chí sau khi kiến lập Pháp đàn tại Nam Hoa Tự, vẫn còn có ngoại đạo công khai muốn giết Ngài. Cho nên Ðại sư chạy lên núi ẩn trong núi đá tọa thiền, hòn đá mà Ðại sư tỵ nạn, đến nay vẫn còn thấy ở Nam Hoa Tự.

Lục Tổ Ðại sư từ đâu mà có danh hàm Lục Tổ? Ðiều này bắt đầu từ Ngài Bồ Ðề Ðạt Ma. Bồ Ðề có nghĩa là Giác, Ðạt Ma có nghĩa là Pháp. Ngài Bồ Ðề Ðạt Ma là Tổ thứ hai mươi tám tại Ấn Ðộ, nhưng tại sao Ngài không ở Ấn Ðộ làm Tổ mà đi đến Trung Quốc làm gì? Vì xưa kia Phật đã thọ ký: Ðến đời Tổ thứ hai mươi tám, Ðại thừa Phật pháp sẽ truyền đến Trung Quốc. Do nhân duyên như thế, Ngài Bồ Ðề Ðạt Ma ngồi thuyền đến Trung Quốc truyền đạo. Nhưng lúc đó Phật Pháp tại Trung Quốc, dường như có dường như không, bởi vì chỉ làm công tác bên ngoài như tụng kinh, nghiên cứu kinh điển, giảng kinh v.v.., ngay cả việc bái sám cũng không có. Ðương thời các học giả đều cho Phật giáo như là một loại học vấn để nghiên cứu thảo luận.

Các đạo lý mà Phật giáo nói đều phải y theo mà tu hành. Nhưng thời đại Nam Bắc triều của Trung Quốc lúc đó không có người nào chân chánh tu hành tọa thiền, vì sợ khổ cực. Hiện nay ở Mỹ đây cũng giống như vậy. Ngồi một chút chân đau bèn duỗi chân, nghiêng nghiêng lắc lắc, xoa bóp một hồi. Người dù sao cũng là người! Cũng đều sợ khổ, sợ cực !

Trước khi Tổ sư Ðạt Ma đến Trung Quốc, Ngài có phái hai người đệ tử là Phật Ðà và Da Xá đến Trung Quốc truyền pháp môn đốn ngộ, tức là Thiền tông. Ai ngờ hai Ngài đến Trung Quốc lại gặp phải cảnh trái ý nghịch lòng, tất cả các Tăng sĩ thời đó đều không xem trọng hai Ngài. Sau đó hai Ngài đến Lư Sơn gặp Ðại sư Huệ Viễn; Ngài Huệ Viễn chuyên giảng về pháp môn niệm Phật. Ðại sư Huệ Viễn hỏi:

–Hai vị là các Tăng sĩ Ấn Ðộ, hai vị truyền pháp môn gì mà sao không có ai theo học?

Ngài Phật Ðà và Da Xá chỉ biết nói rất ít tiếng Trung Quốc, bèn đưa tay ra nói:

–Hãy nhìn xem! Bàn tay tôi nắm vào và giở ra có nhanh không?

–Rất nhanh.

–Bồ đề và phiền não cũng nhanh giống như vậy.

Ðại sư Huệ Viễn lập tức khai ngộ, biết ra Bồ đề và phiền não vốn không có gì sai khác. Bồ đề tức phiền não, phiền não tức là Bồ đề! Ngài Huệ Viễn sau khi khai ngộ, rất cung kính cung dưỡng Ngài Phật Ðà và Da Xá. Nhưng không lâu hai bậc cao Tăng Ấn Ðộ này đều vãng sanh trong cùng một ngày. Phần mộ của hai Ngài đến nay vẫn còn ở Lư Sơn.

Tổ sư Ðạt Ma nhìn thấy căn tánh Ðại thừa ở Trung Quốc đã chín muồi, bèn không ngại gian khổ, đường sá xa xôi, đem Phật pháp Ðại thừa đến Trung Quốc. Nhưng lúc đó vì ngôn ngữ không thông, người Trung Quốc gọi Ngài là “Ma-la-sát.” Trẻ con nhìn thấy gương mặt Ngài với bộ râu dài đều hoảng sợ chạy mất. Người ta cho rằng Ngài đến để bắt trẻ con vì thế không cho trẻ con đến gần Ngài.

Sau đó Tổ sư Ðạt Ma đến Nam Kinh nghe Pháp sư Thần Quang giảng Kinh, nhìn thấy cảnh giới thù thắng: “Chư thiên rải hoa cúng dường, dưới đất sen vàng hiện ra.” Cảnh giới này chỉ có người đã đắc Ngũ nhãn Lục thông mới thấy được. Sau khi giảng Kinh xong, là đến phần thỉnh pháp, hỏi pháp, Tổ sư Ðạt Ma hỏi:

–Pháp sư! Ông ở đây làm gì?

Thần Quang trả lời:

–Tôi ở đây giảng Kinh.

–Ông giảng Kinh làm gì?

–Tôi giảng Kinh, đưa người liễu ngộ sinh tử.

–Làm sao có thể liễu ngộ được sanh tử? Kinh mà ông giảng đều là giấy trắng mực đen, ông dùng cái gì mà có thể giúp người liễu đoạn sanh tử ?

Thần Quang bị hỏi không có cách nào trả lời, vì thế xấu hổ mà tức giận. Tuy Pháp sư Thần Quang giảng kinh được chư thiên rải hoa cúng dường nhưng vẫn còn tính nóng giận như vậy. Vì thế tôi nói Phật Pháp đương thời dường như có dường như không. Pháp sư Thần Quang tức giận liền cầm lấy xâu chuỗi niệm Phật làm bằng sắt nói:

–Ông dám hủy báng pháp à!

Nói xong liền dùng xâu chuỗi đánh vào mặt Ðạt Ma. Tổ sư Ðạt Ma tuy biết võ thuật, nhưng không ngờ Thần Quang lợi hại như thế, nói không lại liền động võ, kết quả bị đánh gãy hai cái răng. Nghe nói, răng của bậc Thánh nếu bị đánh gãy, nhổ xuống chỗ nào thì chỗ đó bị hạn hán ba năm. Ðạt Ma nghĩ thầm: “Ba năm không mưa, chết đói biết bao nhiêu người. Ta đến Trung Quốc là muốn độ chúng sanh, không phải là để hại chúng sanh,” vì thế Ngài nuốt hai cái răng vào bụng, không nói một lời liền bỏ đi.

Vì Ngài là người xuất gia, lại là bậc Tổ Sư, cho nên đã nhẫn nhục được những việc như vậy. Trên đường đi, Ngài gặp con chim Anh Vũ bị nhốt trong lồng. Chim Anh Vũ còn thông minh hơn Thần Quang vì biết Bồ Ðề Ðạt Ma là một vị Tổ Sư, nên thưa với Ngài rằng:

–Tây lại ý, Tây lại ý, thỉnh Ngài dạy cho chúng con cách thoát ra khỏi lồng.

Ðạt Ma đến Trung Quốc chưa gặp được tri âm, nay Anh Vũ này lại là tri âm của Ngài. Nghe chim thỉnh giáo mình như vậy, Ðạt Ma rất vui vẻ dạy cho nó một bí quyết: “Muốn thoát khỏi lồng, hai chân duỗi thẳng, đôi mắt nhắm nghiền, đây là diệu kế, giúp con thoát lồng.”

Anh Vũ sau khi hiểu được phương pháp thoát lồng, bèn thưa: “Nay con đã hiểu rồi, cám ơn Ngài chỉ dạy.” Anh Vũ nhìn thấy người chủ từ xa trở về, đợi người chủ đến gần, nó liền sử dụng phương pháp đó. Mỗi ngày người chủ trở về đều đến chơi với con chim yêu quý để tiêu sầu giải muộn, nay nhìn thấy Anh Vũ yêu quý nằm bất động trong lồng liền rất lo lắng, bèn mở cửa lồng đem Anh Vũ để nơi lòng bàn tay: “Ồ! thân chim vẫn còn nóng.” Vì chim giả chết nên khí nóng vẫn còn. Người chủ vừa mở nắm tay ra Anh Vũ liền bay đi! Kế thoát lồng thật hiệu nghiệm.

Chúng ta hiện nay vẫn còn ở trong lồng, đừng nên cho rằng mình đang tự do. Muốn ăn thì ăn, muốn uống thì uống, không giữ gìn quy củ cho là tự do. Ðiều này thật là mê muội vì đã hiểu một cách sai lầm về tự do. Tự do chân chánh là sanh tử tự do, muốn bay lên trời thì lên trời, muốn độn thổ xuống đất thì độn thổ; có được những bản lãnh như thế mới gọi là tự do chân chánh.

Giảng về “Lục Tổ Ðàn Kinh,” tôi vốn giảng không hay, nhưng mà dám giảng. Còn có người giảng rất hay nhưng lại không dám giảng. Tôi giảng không hay nhưng cứ thử giảng, sau này những người giảng hay nên nương theo đó mà giảng tiếp. Sau này quý vị rộng mở trí tuệ thì có thể giảng hay hơn tôi nữa. Giảng hay là học từ cái giảng không hay mà ra.

Pháp sư Thần Quang đánh gãy hai cái răng của Hòa Thượng mặt đen, nhưng thấy Hòa Thượng Ấn Ðộ không có phản ứng gì, bèn cho rằng mình thắng. Nhưng không lâu sau đó quỷ vô thường đến gặp Pháp sư nói:

–Pháp sư, hôm nay mạng sống của ngài đã hết. Vua Diêm La sai tôi đến mời ngài đi.

–Tôi mà cũng phải chết à? Tôi giảng Kinh được trời rãi hoa cúng dường, đất hiện ra hoa sen vàng mà còn không thể dứt vòng sanh tử thì thế gian này còn có ai có thể dứt vòng sanh tử?

–Có chứ! Chính là Ngài Hòa Thượng mặt đen mà bị ông đánh gãy hai cái răng đó. Diêm Vương không những không cai quản được số mạng của Ngài mà mỗi ngày còn phải hướng về Ngài khấu đầu đảnh lễ.

–Quỷ đại ca! Bạn có thể chờ tôi một chút được không? Xin nói với Diêm Vương dùm tôi một tiếng, xin cho tôi một thời gian ngắn để tôi đi học pháp môn liễu đoạn sanh tử của Ngài Hòa Thượng mặt đen.

–Nếu ông thật có lòng thành như vậy thì việc này không phải không có thể linh hoạt giải quyết.

Thần Quang nghe nói rất vui mừng, không kịp mang dép, chân đất đuổi theo Tổ sư Ðạt Ma. Trên đường gặp chim Anh Vũ đã được Ngài Ðạt Ma giúp cho thoát khỏi lồng. Anh Vũ nói cho Thần Quang biết Ngài Ðạt Ma đã giúp nó như thế nào. Thần Quang đi theo sau lưng Tổ Sư, nhưng Tổ không để ý đến. Thần Quang đi theo cho đến núi Hùng Nhĩ ở Lạc Dương (Chùa Thiếu Lâm, Tung Sơn, Hà Nam). Tổ sư Ðạt Ma ở đó diện bích tọa thiền, Ngài ngồi suốt chín năm, Thần Quang cũng quỳ đủ chín năm. Lúc trước, khi tôi giảng đến công án này, có một em bé mười một tuổi nghe rồi rất cao hứng, liền hỏi: “Thần Quang quỳ suốt chín năm, vậy có ăn cơm không?” Tôi trả lời: “Chín năm không ăn cơm thì làm sao có thể sống được? Chính là lúc Tổ sư Ðạt Ma ăn cơm thì Thần Quang cũng ăn cơm, Ðạt Ma ngồi thiền thì Thần Quang quỳ gối, nhưng mà trong sách thì không có ghi việc này.”

Trong thời gian chín năm diện bích của Ðạt Ma có rất nhiều người đến quy y lạy Ngài làm Thầy.

Thần Quang cũng quỳ suốt chín năm. Một ngày kia tuyết lớn, tuyết phủ đến hông. Ðạt Ma nói:

–Tuyết lớn như vậy ông quỳ đó làm gì?

–Bạch Tổ Sư, con muốn liễu đoạn sanh tử. Lúc trước con giảng Kinh không thể liễu đoạn sanh tử, nay kính xin Tổ Sư truyền dạy cho con pháp môn liễu đoạn sanh tử.

–Ngươi nhìn, trời hiện rơi cái gì?

–Bạch Tổ Sư, trời đang rơi tuyết.

–Tuyết có màu gì?

–Bạch Tổ Sư, tuyết màu trắng.

–Ngươi đợi đến lúc nào mà trời rơi tuyết màu đỏ thì lúc đó ta sẽ truyền dạy pháp môn liễu đoạn sanh tử cho ngươi. Nếu trời không rơi tuyết đỏ thì ngươi đừng nên hy vọng ta truyền dạy cho. Ngươi là một kẻ xuất gia hung ác như vậy, dùng xâu chuỗi niệm Phật bằng sắt đánh gãy hai cái răng của ta, ta không báo thù cũng là từ bi lắm rồi, làm sao lại có thể truyền pháp cho ngươi được?

Ðạt Ma đưa ra vấn đề khó khăn như vậy để khảo nghiệm Thần Quang, nhưng Thần Quang đã giải quyết được. Thần Quang nhìn thấy trên tường có một thanh giới đao của người tu đạo, dùng dự bị lúc phạm giới thì đem đao chặt đứt đầu mình chớ không để phạm đến giới thể. Thần Quang liền lấy thanh đao đó xuống chặt đứt cánh tay mình, máu rơi đầy mặt đất đã làm tuyết trắng biến thành tuyết đỏ. Thần Quang liền bụm lấy một nắm tuyết đỏ đem dâng đến trước mặt Ngài Ðạt Ma và nói:

–Bạch Tổ Sư, Ngài xem, đây chính thật là tuyết đỏ.

Ðiều này vốn đã ở trong dự liệu, chỉ vì muốn thử thách chân tâm của Thần Quang, mà Ðạt Ma mới đưa ra vấn đề thử thách này. Vì thế Ngài rất hoan hỷ nói:

–Ta đến Trung Quốc thật không có uổng công, gặp phải ngươi là người chân thành cầu pháp tu hành như vậy, ngay cánh tay của chính mình cũng bỏ đi để cầu pháp, quả là có tâm thành.

Sau đó Ngài Ðạt Ma mới đem pháp môn dĩ tâm ấn tâm, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật truyền cho Thần Quang. Sau khi Ngài Ðạt Ma giảng xong pháp môn, Thần Quang liền sanh tâm phân biệt nói:

–Con chặt đứt cánh tay, rất đau nhức, tâm cũng rất nhức nhối, xin Tổ Sư an tâm cho con.

–Ðem tâm của ông ra đây, ta mới có thể giúp ông an tâm!

Thần Quang bèn đi tìm tâm của mình, Ðông Tây Nam Bắc, trên trời dưới đất, tìm hoài mà không thấy tâm của mình. Thần Quang nói:

–Con tìm không ra.

–Ta đã an tâm cho ông rồi.

Thần Quang lập tức hoát nhiên đại ngộ. Vì thế Thần Quang nói:

Vạn pháp quy nhứt, nhứt quy hà xứ ? 

Thần Quang bất minh cản Ðạt Ma. 

Hùng Nhĩ sơn tiền quỵ cửu tái,

Chỉ cầu nhứt điểm đóa Diêm La.

Vạn pháp quy nhứt, vậy nhứt quy về đâu? Thần Quang không rõ nghĩa lý của chữ “hợp,” vì thế đuổi theo Ðạt Ma, tại núi Hùng Nhĩ quỳ suốt chín năm, chỉ cầu Tổ Sư chỉ điểm cách liễu đoạn sanh tử, thoát khỏi Diêm Vương.

Thần Quang sau khi được Tổ sư Ðạt Ma truyền pháp, liền đổi tên là Huệ Khả, tức là trí huệ đầy đủ, thiện căn viên mãn. Ðại sư Huệ Khả hỏi Tổ sư Ðạt Ma:

–Bạch Tổ Sư, ở Ấn Ðộ Ngài có đồ đệ đắc pháp chưa? Ở Ấn Ðộ, khi truyền pháp có đem ca sa, y, bát truyền cho đồ đệ để làm bằng cớ không?

–Không có, ở Ấn Ðộ ta truyền pháp không có đem ca sa y bát làm vật y cứ, vì tâm người Ấn Ðộ rất thẳng thắn, tu hành đắc đạo liền nói đắc đạo, chỉ cần có người chứng minh đắc đạo là đủ. Nếu chưa được ấn chứng, họ sẽ không nói là: tôi đã đắc đạo chứng quả, tôi đã chứng A La Hán, hoặc tôi đã là Bồ Tát. Người Trung Quốc không giống như vậy. Ở Trung Quốc, người có căn tánh Ðại thừa cũng rất nhiều, nhưng người nói vọng ngữ cũng không ít, tu hành chưa thành tựu đạo nghiệp mà khoe khoang đã thành; chưa chứng quả cũng tự nói đã chứng quả, vì thế cần phải dùng ca sa y bát để chứng minh. Cho nên nay ta truyền ca sa y bát cho ông, ông nên cẩn thận giữ gìn.

Tổ sư Ðạt Ma đến Trung Quốc, từng bị đầu độc sáu lần, vì đương thời Bắc Ngụy có hai vị Pháp sư muốn hại Ngài, một vị là Bồ Ðề Lưu Chi, một vị là Luật sư Quang Thống. Họ rất đố kỵ Ngài, đã làm ra vài món đồ chay, trong đó có chất độc cực mạnh đem đến cúng dường Ngài. Ngài biết trong thức ăn có độc nhưng vẫn ăn một cách bình thường. Ăn xong kêu người đem một cái mâm lại, Ngài mửa vài mâm một đống rắn. Thì ra chất độc đã biến thành rắn. Bồ Ðề Lưu Chi thấy độc không thể giết được Ngài, không hiểu vì duyên cớ gì. Vì thế lần thứ hai bỏ liều lượng thuốc độc gấp đôi. Ðạt Ma cũng ung dung thọ dụng, ăn xong liền ngồi tại một tảng đá lớn, phun thuốc độc ra, sức mạnh của thuốc độc đã làm bể tan tảng đá. Sau đó liên tiếp thêm bốn lần hạ độc nữa nhưng đều không thể hại được Ngài.

Một ngày nọ, Tổ sư Ðạt Ma nói với Ðại sư Huệ Khả rằng:

–Ta đến Trung Quốc, để độ chúng sanh có căn tánh Ðại thừa. Nay pháp đã truyền, ta đã có người kế thừa, giờ viên tịch cũng đã đến.

Sau khi Tổ sư Ðạt Ma viên tịch, chúng đệ tử dùng quan tài bọc xác Ngài đem chôn. Nhưng lúc ấy, Bắc Ngụy có một sứ quan tên là Tống Vân, tại vùng Thông Lãnh, trên đường đi gặp Tổ sư Ðạt Ma. Tổ Sư, tay cầm dép, nói với Tống Vân rằng:

–Quốc Vương nước ông hôm nay băng hà, ông nên mau mau trở về.

Tống Vân hỏi:

–Ðại sư, Ngài đi đâu?

–Ta trở về Ấn Ðộ.

–Ðại sư, Ngài đã truyền pháp cho ai?

–Bốn mươi năm sau tại Trung Quốc.

Sau đó Tống Vân trở về đến Bắc Ngụy đem việc này kể cho mọi người nghe, nhưng không ai tin. Vì thế mọi người mới quật mồ của Tổ sư Ðạt Ma ra xem, trong quan tài chỉ còn chiếc dép, ngoài ra không có cái gì khác. Như vậy Tổ sư Ðạt Ma đi đâu? Mọi người cũng không ai biết, sợ rằng hôm nay đã đến Mỹ quốc không biết chừng, vì Ngài có thể thiên biến vạn hóa, cho nên không ai có thể nhận ra được Ngài. Khi đến Trung Quốc, Ngài nói Ngài đã một trăm năm mươi tuổi, nhưng lúc Ngài ra đi vẫn là một trăm năm mươi tuổi, lịch sử cũng không có cách nào kiểm chứng.

Lúc Tổ sư Ðạt Ma sắp viên tịch, Ngài nói:

–Ta đến Trung Quốc truyền pháp cho ba người, Ðại sư Huệ Khả được phần tủy, Thiền sư Ðạo Dục được phần xương, Tỳ kheo ni Ðạo Tế (tức Tỳ kheo ni Tổng Trì) được phần thịt.

Tỳ kheo ni Ðạo Tế thuộc lòng Kinh Pháp Hoa, sau khi viên tịch từ trong miệng nở ra đóa hoa sen màu xanh. Vì Tổ sư Ðạt Ma đã đem thân thể của Ngài mà phân chia cho các người khác, cho nên ở Mỹ quốc quý vị không thể tìm ra được Ngài.

Nhị Tổ Huệ Khả, họ Cơ, tên Thần Quang, người thời Bắc Tề. Lúc Ngài giáng sanh, cha mẹ Ngài nhìn thấy Kim Giáp Thần Nhân, hộ pháp Vi Ðà Bồ Tát, phóng đại hào quang bảo hộ vị Tổ Sư mới ra đời này, cho nên tên của Ngài gọi là Thần Quang. Ngài thiên tánh thông minh, trí nhớ rất dai, cho nên được người khen ngợi: Mục hạ thập hàng tự, nhĩ thính bách nhân âm. Không phải vừa nhìn là có thể xem được mười hàng chữ, mà là người thường xem một hàng chữ, thì Ngài có thể xem mười hàng chữ, rất nhanh như vậy; một trăm người cùng nói chuyện cùng một lúc, Ngài đều nghe rất rõ ràng, năng lực phân biệt rất nhạy.

Nhưng vị Tổ Sư này rất nóng tính, nói chuyện không hợp liền muốn đánh người. Bốn mươi năm về trước, ngay lúc giảng kinh thuyết pháp cũng mang xâu chuỗi bằng sắt để đi hành hiệp giúp người. Vì thế lúc gặp Tổ sư Ðạt Ma đã dùng xâu chuỗi đánh Ngài Ðạt Ma, kết quả phải quỳ chín năm, phải tự chặt đứt một cánh tay của mình. Quý vị nghĩ xem nếu không nóng tính như vậy làm sao có thể tự mình chặt đứt cánh tay, mà không cảm thấy đau nhức, đợi đến lúc đắc pháp xong mới cảm thấy nhức nhối. Ðiều này bởi vì Ngài rất nóng tính, nếu không nóng tính, chặt đứt cánh tay cũng không cảm thấy đau nhức. Ðau nhức chính là phiền não.

Tổ sư Huệ Khả lúc bốn mươi tuổi gặp Sơ Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma, sau khi đắc pháp bèn ẩn trốn bốn mươi năm, vì đương thời Bồ Ðề Lưu Chi và Luật sư Quang Thống, chuyên gây khó dễ với các đệ tử của Tổ sư Ðạt Ma, thậm chí gặp là muốn giết. Bồ Ðề Ðạt Ma đã bị hai vị ấy dùng thuốc đầu độc, huống chi là đệ tử của Ngài! Ðại sư Huệ Khả nghe theo lời Thầy dạy nên đã ẩn núp, trốn tránh những người gây khó dễ này. Cho đến lúc Ðại sư Huệ Khả tám mươi tuổi, Ngài mới bắt đầu hoằng dương Phật pháp, giáo hóa chúng sanh. Cho đến khi gặp Tam Tổ Tăng Xán, sau khi phú pháp, dặn dò Tam Tổ phải cẩn thận bảo hộ giữ gìn y bát làm chứng cứ, và cần phải ẩn trốn để tránh những sự tật đố và bức hại.

Ðại sư Huệ Khả lúc đó giả dạng điên khùng, nhưng khi gặp chúng sanh hữu duyên, Ngài liền phổ độ giáo hóa họ. Tuy Ngài giả dạng điên khùng, nhưng vì có duyên với chúng sanh cho nên có rất nhiều người tin tưởng Ngài. Tuy Ngài đã giả dạng điên khùng, nhưng bè nhóm của Bồ Ðề Lưu Chi vẫn đem lòng ganh ghét, bèn đi đến quan phủ vu cáo Ðại sư Huệ Khả, nói Ngài là yêu quái mê hoặc dân chúng, để dân chúng sùng bái. Hoàng đế đương thời lại cả tin bèn hạ thánh chỉ, ra lệnh quan phủ bắt Huệ Khả thẩm vấn:

–Ngươi là người hay là yêu quái?

Huệ Khả Ðại sư trả lời:

–Tôi là yêu quái.

Viên quan thẩm vấn vừa nghe Ngài nói như vậy, liền biết Ngài bị oan ức, nên hỏi lại:

–Ông nên nói cho rõ ràng, ông là người hay yêu quái?

–Tôi thiệt đúng là yêu quái.

Vì quốc pháp không cho phép yêu quái mê hoặc thế gian, cho nên đành phải tâu lên Hoàng đế, đem Ngài đi chém để răn chúng. Ôi, thế gian này có chân lý không vậy! Ngài là Tổ Sư đời thứ hai mà quan phủ nói Ngài là yêu tinh.

Ðại sư Huệ Khả rơi nước mắt, nói với đồ chúng rằng:

–Quả báo này ta phải thọ thôi!

Nhị Tổ rất nóng tính, cái gì cũng không sợ, nếu sợ chết Ngài đã không tự nhận là yêu quái. Ngài cảm thấy thương tâm là vì Phật Pháp lúc Ngài còn tại thế, chưa được người ta hiểu biết rộng rãi. Ngài nói Phật Pháp đến thời Tứ Tổ sẽ rơi vào danh tướng, có danh có tướng, liền chấp vào danh tướng. Khóc xong Ngài liền nói với tên đao phủ:

–Ngươi lại giết ta đi!

Ðao phủ cầm đao chém đầu Ngài nhưng lạ thay lại không có máu tuôn ra, chỉ tuôn ra dòng nước trắng như sữa. Quý vị nghĩ đây có phần nào hoang đường không? Quý vị tin cũng được, mà không tin cũng được. Quý vị tin, tôi có thể dùng lý do rất đơn giản để giải thích. Ðây là lúc người tu hành đạt đến thể thuần dương, tất cả máu huyết trong người đều biến thành màu trắng. Quý vị nói không tin, đương nhiên quý vị đã không tin rồi! Nếu quý vị tin, quý vị cũng đã thành Tổ Sư thứ hai rồi.

Viên quan chấp hành nhìn thấy tình hình như thế bèn y như sự thật tâu lên hoàng đế:

–Người đó thiệt là yêu quái, tôi đã giết ông ta nhưng không thấy máu chảy ra, chỉ chảy ra dòng nước trắng như sữa, nhưng gương mặt lúc chết giống như lúc sống, điều này chứng minh ông ta chính thiệt là yêu quái.

Nhưng Hoàng đế biết rằng đã giết lầm một bậc Thánh nhân, vì ở Ấn Ðộ Tổ thứ hai mươi bốn là Tôn giả Sư Tử, khi bị chặt đầu thì không chảy máu mà chỉ chảy nước sữa màu trắng. Ðiều này chứng minh nhân thể thuần dương vô âm, vì vô lậu không có vô minh nên âm đều biến thành dương.

Có người hỏi:

–Bạch thầy, vừa rồi thầy nói Ðại sư Huệ Khả tính rất nóng, làm sao không có vô minh?

Cần biết rõ, tính nóng của Ðại sư Huệ Khả là tính nóng của Ðại Nhẫn, Ðại Dũng, Ðại Trí, Ðại Huệ, hoàn toàn không giống tính nóng như bom nổ của quý vị và tôi. Quý vị cần nghe cho rõ ràng, tính nóng của mỗi người không giống nhau. Tính nóng của trí huệ là có thể nhẫn với nhân quả tuần hoàn, không có làm ngược lại với đạo lý.

Hoàng đế sau khi biết Ðại sư Huệ Khả là vị nhục thân Bồ Tát, bèn sanh lòng sám hối: “Có một vị Bồ Tát ở nước ta, mà Trẫm không biết bảo hộ lại đem Ngài giết đi”. Bèn ra lệnh văn võ đại thần đều phải quy y Nhị Tổ Huệ Khả. Tuy Ngài chết đi nhưng vẫn có thể thâu được một số đệ tử như thế.

Ðời Tùy, Tam Tổ Tăng Xán, không ai biết thân thế tánh danh của Ngài. Lúc Ngài gặp Nhị Tổ, toàn thân Ngài đều là ghẻ lác giống như người mắc bệnh phong cùi. Nhị Tổ hỏi:

–Ông từ đâu đến đây? Ðến đây làm gì?

–Con đến quy y Hòa Thượng cầu học Phật pháp.

–Ông mắc bệnh như vậy thật không thanh tịnh, làm sao có thể học được Phật pháp?

Tam Tổ vốn rất thông minh, còn thông minh hơn Nhị Tổ nữa, bèn thưa:

–Con là người có bệnh, mà Ngài là một bậc Hòa Thượng, nhưng tâm Ngài và con không có gì sai khác.

Nhị Tổ nghe nói liền biết người này không phải tầm thường, liền nói:

–Không cần nói nữa, ta đã biết rồi.

Nói xong bèn truyền pháp cho Tam Tổ và dạy Tam Tổ phải ẩn trốn để tránh sự sát hại của dư đảng Bồ Ðề Lưu Chi:

–Không nên để cho người biết ta đã truyền pháp cho ông.

Vì thế Tam Tổ Tăng Xán học cách của Nhị Tổ, giả dạng điên khùng, âm thầm đi các nơi giáo hóa chúng sanh. Lúc đó gặp lúc Bắc Chu Vũ Ðế tiêu diệt Phật pháp nên Ngài ẩn cư trong núi hơn mười mấy năm. Trên núi vốn có rất nhiều sài lang hổ báo, nhưng khi Ngài vừa đến ở đây các loài động vật đó đều bỏ đi hết.

Sau khi truyền pháp cho Tứ Tổ Ðạo Tín, Tam Tổ bèn thiết Thiên Tăng Trai (thỉnh một ngàn vị Tăng thọ trai cúng dường). Trai đàn hoàn mãn, Ngài bèn nói với đại chúng:

–Các ông cho rằng kiết già ngồi chết là phương pháp hay nhứt, nay ta cho các ông xem một cách chết đặc biệt. Sự sanh tử của tôi rất tự do, không bị hạn chế của thời gian.

Nói xong, tay trái cầm lấy cành cây, chân giơ lên như thế mà an nhiên thị tịch. Lúc Ngài viên tịch, là bao nhiêu tuổi, là người ở địa phương nào, thân thế ra sao, đều không ai biết.

Có người nghe xong rất kinh sợ nghĩ rằng:

–Vị Tổ thứ nhất là Bồ Ðề Ðạt Ma bị đầu độc chết, vị Tổ thứ hai bị giết chết, vị Tổ thứ ba thì nắm lấy cành cây mà thác. Tôi thiệt không dám làm Tổ Sư, nguy hiểm quá!

Quý vị muốn làm cũng làm không được, và không có khả năng làm, vì quý vị sợ chết. Làm Tổ Sư có nghĩa là không sợ chết, xem tử và sanh đều giống nhau không có gì sai khác, cho nên nói rằng “Phiền não tức Bồ đề, sanh tử tức Niết Bàn. Dạo chơi nhân gian, giáo hóa chúng sanh.” Ðó mới có thể làm Tổ Sư. Quý vị nhát gan như thế, có lòng sợ sệt, ngay làm đồ đệ của Tổ Sư cũng còn không được. Tổ Sư đều không sợ khổ, không sợ tai nạn, không sợ sanh, không sợ chết. Quý vị không sợ chết thì mới có thể làm Tổ Sư. Nay nếu ai không sợ chết, tôi liền phong người đó là Tổ Sư.

Tứ Tổ Ðạo Tín, lúc nhỏ theo Tam Tổ Tăng Xán xuất gia học đạo, sáu mươi năm ngồi không nằm, đôi mắt thường nhắm, dụng công biện đạo, không phải Ngài ngủ. Khi Ngài mở mắt, người thường đều giật mình kinh sợ giống như bị động đất. Tại sao vậy? Không ai biết được. Nhưng đó chính là uy đức của Ngài.

Ðường triều Trinh Quán năm thứ mười bảy (công nguyên năm 644), Thái Tông phái sứ thần mời Ngài đến hoàng cung để cúng dường, lễ Ngài làm thầy. Nếu như Pháp sư đời nay, Hoàng đế không mời cũng tìm cách gặp Hoàng đế, dựa dẫm vào, huống chi nay được lễ bái cung thỉnh? Nhưng Tứ Tổ đã từ chối, lựa lời nói:

–Tôi niên kỷ đã lớn, đi cũng đi không nổi. Tuổi già sức yếu, cho nên không thể đi đến Kinh thành được.

Sứ thần trở về tâu lên Hoàng đế, Hoàng đế nói:

–Ngươi quay về nói với Tứ Tổ, bất luận là Ngài lớn tuổi đến đâu đi nữa, ta vẫn mời Ngài vào hoàng cung cúng dường.

Sứ giả đành đi đến chỗ Tứ Tổ, thưa với Ngài rằng:

–Hoàng thượng nói bất luận là Ngài già yếu đến đâu, cũng dùng kiệu để rước Ngài vào hoàng cung để cúng dường.

Ngày xưa không có máy bay, không giống như bây giờ giao thông rất tiện lợi. Tứ Tổ trả lời:

–Không được, tôi đã quá già, nếu như ông nhất định muốn tôi đi, thì chặt đầu tôi mà đem đi. Chớ tâm của tôi dù thế nào đi nữa cũng nhất quyết không đi.

Sứ giả không có cách nào, chỉ đành trở về đem sự việc như thế báo cáo hoàng đế:

–Vị Hòa Thượng đó thật là kỳ lạ, cũng không biết nhân tình thế thái. Ông ta nói dù chặt đầu ông ta, ông ta cũng không đến gặp bệ hạ.

–Ðược, khanh hãy đi đem đầu ông ta mang về đây.

Vua dùng một cái hộp, trong hộp có đựng một thanh gươm bén giao cho sứ thần và nói:

–Cầm lấy thanh gươm này, chặt đầu ông ta mang về đây.

Nhưng lúc sắp khởi hành, Hoàng đế lại nói với sứ thần:

–Dù thế nào đi nữa khanh cũng không được làm tổn thương đến vị Hòa Thượng đó.

Sứ thần hiểu rõ thâm ý của Hoàng đế, liền quay trở lại đến chỗ của Tứ Tổ và nói:

–Lão Hòa Thượng! Rốt cuộc Ngài có đi hay không? Nếu không đi, thanh gươm này sẽ dùng để chặt đầu Ngài, đem đầu Ngài đi gặp hoàng thượng.

Tổ sư Ðạo Tín nói:

–Tốt lắm! đầu của tôi có thể gặp hoàng thượng, đó là vinh dự của tôi, mời Ngài lại chặt đầu của tôi đi!

Sứ thần cầm thanh gươm làm điệu bộ như chặt đầu Tứ Tổ. Nhưng nhìn thấy Tứ Tổ quả nhiên giơ đầu ra chịu chém không chút sợ sệt, bèn bỏ gươm xuống, cất lại vào hộp. Tổ sư Ðạo Tín nhắm mắt chờ sứ thần chém đầu, nhưng chờ rất lâu mà không thấy động tĩnh, bèn tức giận la lên:

–Tại sao ngươi không chặt đầu ta.

Tình hình lúc này cũng không khác gì trường hợp của Nhị Tổ. Sứ thần nói:

–Nhà Vua sai tôi chỉ được nói như vậy, nhưng không được làm tổn hại đến Ngài.

Tổ sư Ðạo Tín nghe xong cười lớn nói:

–Nay ông đã biết, trên thế gian thiệt có người không sợ chết!

Tứ Tổ họ Tư Mã, xuất gia pháp danh Ðạo Tín, là một giòng họ có danh vọng thời bấy giờ. Từ nhỏ xuất gia học đạo, tại thế bảy mươi hai năm, sáu mươi năm lưng không dính chiếu, đã thành tựu cảnh giới bất khả tư nghì. Có lần Ngài đang ở trên núi tu đạo, có một đám giặc cướp bao vây thành khoảng hơn một trăm ngày, lương thực trong thành cùng với nước uống đều dứt tuyệt, khô kiệt. Ðại sư nhìn thấy tình hình như thế, bèn đến trong thành dạy tất cả quan quân và dân chúng tụng “Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Ða.” Niệm không bao lâu, giặc cướp bèn rút lui, giếng nước đang khô cạn tự nhiên tràn ra những dòng nước ngọt, đây là một cảnh giới cảm ứng.

Lúc đó, Ngài dùng Phật nhãn quan sát, thấy núi Phá Ðầu ở Hà Bắc, có mây tía xoay quanh, bao trùm cả khu núi đó. Những vầng mây tía này là điều báo điềm lành, vì thế Ngài bèn đến trú ngụ tại ngọn núi này, và đổi tên núi là Song Phong Sơn.

Ngài giáo hóa những chúng sanh cang cường khó độ, mong cho họ bỏ ác làm lành, nhưng họ cứ y theo đường cũ tiếp tục làm ác, không nghe theo lời giáo hóa. Tứ Tổ nhẫn nại áp dụng các loại pháp môn phương tiện quyền xảo, khiến cho họ bỏ tà quy chánh. Trong hơn bốn mươi năm hoằng dương Phật pháp, Ngài giáo hóa chúng sanh nhiều vô số.

Một ngày nọ Tứ Tổ nói với đồ chúng rằng:

–Các ông phải làm cho ta một cái tháp, ta sắp đi rồi.

Khi Bảo tháp vừa xây xong, đời Ðường Vĩnh Huy năm thứ hai (công nguyên năm 651), ngày hai mươi bốn tháng chín nhuần, Tứ Tổ không bệnh mà viên tịch. Ðồ đệ của Ngài liền đặt Ngài vào trong Bảo tháp làm bằng đá. Bảo tháp vốn dùng khóa sắt khóa cẩn thận. Một năm sau đó, cửa tháp tự động mở ra, đồ chúng thấy Tứ Tổ vẫn đoan nhiên chánh tọa bên trong, sinh động giống như lúc sống, nhưng thịt thì đã khô. Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, nhìn thấy tướng hảo của Tứ Tổ như vậy rất hoan hỷ. Ngài bèn dùng vải dầu phết vàng, giữ gìn nhục thể của Tứ Tổ. Cho đến ngày nay nhục thể của Tứ Tổ vẫn còn lưu lại cho người đời lễ bái chiêm ngưỡng cúng dường.

Ðường triều Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, họ Châu, là người Hoàng Mai (huyện Hoàng Mai nay thuộc tỉnh Hồ Bắc, núi Song Phong thuộc huyện Hoàng Mai), bảy tuổi xuất gia, bái Tứ Tổ làm Thầy, mười ba tuổi thọ Sa di giới. Tánh tình hồn hậu ít nói, tuy các bậc đồng học nhiều lần ăn hiếp khinh thường, Ngài vẫn bình thản, xem như không có gì xảy ra. Ban ngày theo chúng công quả, việc gì cũng làm; ban đêm ngồi thiền nhiếp trì thân tâm, không nói chuyện thị phi, đi theo Tứ Tổ ba mươi năm tu học Phật pháp. Ngũ Tổ thân cao tám thước, tướng mạo kỳ đặc. Ngài trú trên ngọn núi Bằng Mậu, phía đông của núi Song Phong, vì thế đương thời gọi là “Ðông Sơn pháp môn.” Có lần nhìn thấy một đám giặc cướp bao vây thành Hồ Bắc, ngăn chận tất cả đường xá giao thông, Ngũ Tổ từ Ðông Sơn đi vào trong thành. Lúc bọn giặc cướp trông thấy Ngài sợ hãi không còn hồn vía. Vì đám giặc cướp thấy không phải là Tổ Sư mà là vị Kim Giáp Kim Cang Vương Bồ Tát, tay cầm bảo khí, oai đức lẫm liệt, hào quang sáng ngời. Giặc cướp tứ tán rút lui, nhờ đó mà thành được giải vây.

Ðại sư làm sao có thể biến hiện thân Kim Cang Vương Bồ Tát? Vì Ngũ Tổ là bậc chân tu, lại thường hay tụng chú Lăng Nghiêm. Chú Lăng Nghiêm nói: “Nếu ai nhứt tâm tụng trì chú Lăng Nghiêm, thì sẽ được tám vạn bốn ngàn Kim Cang Tạng Bồ Tát bảo hộ trong bất cứ mọi trường hợp nguy hiểm tai nạn nào.” Vua Cao Tông đời Ðường, nhiều lần hạ chiếu mời Ðại sư đến hoàng cung cúng dường, nhưng đều bị Ðại sư khéo léo từ chối. Sau cùng Hoàng đế liền cho người mang nhiều lễ vật, thuốc men quý giá đến cúng dường Ngũ Tổ.

Ðường Hàm Hanh năm thứ năm (công nguyên năm 674), Ngũ Tổ nói với đệ tử rằng:

–Các ông làm cho ta một ngôi tháp, ta sắp đi rồi.

Tháng sau vào ngày mười bốn, Ngài lại hỏi:

–Tháp đã chuẩn bị xong chưa?

Chúng đệ tử trả lời:

–Bạch Ðại sư, tháp đã xây xong rồi.

–Nhiều năm qua ta giáo hóa chúng sanh, độ hóa người có duyên, và phú pháp cho Lục Tổ Huệ Năng. Nay các ông có mười người là bậc pháp tự, hãy kiến lập đạo tràng, hộ trì Phật giáo, hoằng dương chánh pháp, giáo hóa chúng sanh.

Mười vị đại đệ tử tức là Thần Tú, Trí Thâm, Huệ Tạng, Huyền Ước, Lão An, Pháp Như, Trí Ðức, Nghĩa Phương, Huệ Năng và Lưu Chủ Bộ. Ngũ Tổ đưa tiễn mười vị này đi khắp các nơi giáo hóa chúng sanh.

Không lâu, Ngũ Tổ an tọa mà nhập Niết Bàn. Suốt bảy mươi bốn năm, rộng mở giáo pháp, đồ chúng rất đông, truyền y bát cho Ðại sư Huệ Năng.

Trên đây đã lược thuật Tây Thiên Tổ thứ hai mươi tám Bồ Ðề Ðạt Ma, đã đem pháp truyền vào phương Ðông, là Sơ Tổ Thiền tông Trung Quốc. Ðời đời nối tiếp, nhất phái đơn truyền, bẩm thừa chánh pháp nhãn tạng của Ðức Thích Ca Mâu Ni, cho đến sự tích của Ðức Lục Tổ Huệ Năng.

Lục Tổ Pháp Bảo Ðàn Kinh lược tự,” do Pháp Hải Thiền Sư, đệ tử đắc pháp của Lục Tổ, biên soạn, ghi lại sự tích sanh bình của Lục Tổ.

Ðại sư tên là Huệ Năng. Thân phụ của Ngài họ Lư, húy Hạnh Thao, thân mẫu của Ngài là Lý thị.

Ngài sanh vào đời Ðường, niên hiệu Trinh Quán, năm thứ mười hai, nhằm năm Mậu Tuất, tháng hai, ngày mùng tám, giờ tý.

Lúc sanh Ngài có một đạo hào quang chiếu lên hư không, lại có mùi thơm xông khắp cả nhà.

Trời vừa rựng sáng, có hai vị tăng lạ mặt đến xin viếng và gọi thân phụ Ngài mà nói rằng: “Nhơn có đứa nhỏ sanh ngày đêm qua, nên chúng tôi đến đặt tên giùm. Nên đặt trên chữ Huệ, dưới chữ Năng.”

Thân phụ Ngài hỏi: “Sao gọi là Huệ Năng?”

Một vị tăng đáp: “Huệ nghĩa là đem pháp huệ mà thí cho chúng sanh, Năng nghĩa là làm được việc Phật.”

Nói rồi hai vị tăng liền đi ra, chẳng biết đi xứ nào.

Ðại sư khi lọt lòng mẹ, không bú sữa, ban đêm có thần nhơn rưới nước cam lồ cho Ngài.

Giảng:

Ðại sư tên Huệ Năng, cha tên Lư Hạnh Thao, Mẹ họ Lý. Ðại sư sanh vào đời Ðường Trinh Quán năm thứ mười hai (công nguyên năm 638), giờ Tý mùng tám tháng hai năm Mậu Tuất. Lúc Ngài ra đời hào quang chiếu sáng hư không, giống như Phật đỉnh phóng quang, hương lạ đầy nhà. Sáng sớm ngày hôm sau có hai vị dị Tăng đến viếng thăm nói:

–Ðứa trẻ ra đời tối hôm qua cùng với Phật pháp có duyên, vì thế chúng tôi đến đây xin được đặt tên cho đứa bé, thượng Huệ hạ Năng là tên.

Cha của Ngài không hiểu bèn hỏi:

–Tại sao gọi là Huệ Năng?

Tăng đáp:

–”Huệ” là dùng Phật pháp huệ thí chúng sanh, “Năng” là có thể hoằng dương Phật pháp.

Nói xong liền đi mất, không biết đi đâu. Huệ Năng sinh ra, không uống sữa mẹ mà tự lớn. Theo truyền thuyết, mỗi đêm đều có thần nhân đến cho uống nước cam lồ.

Ðến lớn hai mươi bốn tuổi, Ngài nhờ nghe Kinh mà ngộ đạo. Ngài đến viếng Ngũ Tổ Hoàng Mai mà cầu ấn khả.

Giảng:

Một ngày nọ, Huệ Năng đang bán củi, nghe một người khách tụng Kinh Kim Cang, nghe đến câu “ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm,” liền lập tức khai ngộ. Hiện nay có nhiều người đã từng nghe qua Kinh Kim Cang, nhưng không có ai khai ngộ. Tôi hy vọng ở Tây phương, có người nghe đến câu “ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm” có thể hiểu rõ nghĩa lý mà lập tức khai ngộ.

Sau khi khai ngộ, Ðại sư không có đi khắp nơi rêu rao: “Xem nè! Tôi đã khai ngộ rồi.” Ngài không giống như một số người hiện nay, chỉ mới hiểu có một chút kiến thức nông cạn về Phật pháp, bèn đi khắp nơi khoe khoang mình đã khai ngộ. Người xưa dù đã khai ngộ, cũng không dám khinh suất nói rằng mình đã khai ngộ, hà huống những người vốn chưa khai ngộ, càng không nên đi khắp nơi tuyên dương khoe khoang như vậy. Nếu đã khai ngộ, cần phải đi tìm một vị Thiện tri thức mắt sáng (minh nhãn) để chứng minh. Ðó chính là nguyên nhân mà Lục Tổ đi Hoàng Mai cầu Ngũ Tổ ấn chứng.

Từ xưa đến nay, người giác ngộ không bao giờ dám tự mình ấn chứng mình, không giống như người bây giờ, chưa ngộ nói ngộ, phạm đại vọng ngữ. Cần phải biết ngộ và chưa ngộ sai khác một trời một vực, làm sao có thể chân ngụy không phân biệt được, lấy giả thay thật, mắt cá lẫn vào hạt châu, nhắm mắt nói mò ư?

Hiện nay lại có một số thanh niên vô ý thức, sau khi hút ma túy, LSD, say túy lúy, mất hết trí khôn. Lúc đó, ma vương mê hoặc thế gian, giả làm Thiện tri thức mà chứng minh cho họ rằng:

–Ðúng rồi, ngươi đã đạt đến cảnh giới không, nhưng mà ngươi không thể nào ở trong hư không, cần phải trở về chỗ tôi, tôi có phòng ốc, có nhà cửa, lại có nơi nghỉ mát, thoải mái tiện nghi!

Những người này nghe xong liền bái ma vương làm thầy, thật ra mấy người ác tri thức đó, vốn cũng không biết mình là thiệt hay giả, cho nên có câu: “thầy trò cùng mê mờ, người mù dắt người đui” vậy.

Cho nên chúng ta cần phải dùng kinh điển để chứng minh. Kinh điển hoàn toàn không có nói người ngu đó đang ở trong hư không xây dựng phòng ốc. Dù hiện nay hỏa tiễn có thể bay đến mặt trăng, nhưng trong không trung thì không thể nào kiến lập lầu các được. Làm sao có thể lập luận ấu trĩ như vậy?

Hiện nay chúng ta rất bận rộn, sáng sớm bốn giờ đã thức dậy tụng kinh. Chúng ta ở trên mặt đất này bận rộn xây dựng nhà cửa, nhưng không thể xây dựng được ở hư không. Tại sao vậy? Tại vì chúng ta đang ở trên mặt đất, cho nên nhà cửa cũng cần phải xây dựng trên mặt đất. Chúng ta quên mất thân này, mà tạo thân Kim Cang, thân này giống như nhà ở của chúng ta, rồi một ngày nào đó bị hư hoại đi. Nay từ sớm đến tối chúng ta bận rộn nung đúc, rèn luyện, đến cuối cùng có thể tu hành đạt đến thân Kim Cang bất hoại. Sau khi thành tựu thân Kim Cang bất hoại thì có thể tùy tâm sở dục mà đi vào hư không, trên có thể lên đến trời, dưới có thể đi xuống đất hoặc đến Long cung cũng được. Không cần hộ chiếu hoặc hành trình cũng có thể đi đến đích, phi hành tự tại khắp nơi, nhưng đầu tiên quý vị cần phải tu cái thân bất hoại mới có thể đạt cảnh giới này.

Ngũ Tổ xem Ðại sư, nhận ra Ngài có tài đức xứng đáng, nên phú chúc y bát và dạy Ngài nối ngôi Tổ sư. Lúc ấy nhằm đời Ðường Cao Tông, ngươn niên Long Sóc, năm Tân Dậu.

Ngài qua phương Nam ẩn dật mười sáu năm.

Giảng: 

Sau khi rời khỏi Hoàng Mai, Lục Tổ không có một chỗ trú ngụ an toàn. Vì đồ đệ của Thần Tú và các giáo phái khác muốn hãm hại Ngài, vì thế Ðại sư lánh nạn trong nhóm thợ săn suốt mười sáu năm. Trong thời gian này không ai biết Ngài là Lục Tổ. Ngài một mặt dụng công tu thiền định đồng thời làm công việc canh giữ lưới cho đám người thợ săn. Nếu thấy trong lưới có chim thú, Ngài đều tìm đủ mọi cách phóng sanh chúng. Lúc này Ngài có đủ thời gian để tu hành viên mãn công phu của mình mà không bị ai quấy rầy.

Nếu quý vị không chân chánh tu hành thì mọi chuyện đều êm thuận. Một khi phát tâm tu hành, thì ma chướng từ bốn phương tám hướng kéo đến, và tất cả các hiện tượng không tưởng tượng được đều có thể phát sanh.

Trong thời gian mười sáu năm cùng sống với nhóm người thợ săn, Lục Tổ được an ổn. Ðây là một sự ẩn náu một cách sáng suốt – không cầu danh, không cầu lợi, không gây thiệt hại cho người, mà là chân chánh dụng công tu hành.

Ðến ngày mùng tám, tháng giêng, năm Bính Tý, đời Ðường Cao Tông nguyên niên Nghi Phụng, Ngài cùng Ấn Tông Pháp sư luận bàn đạo lý sâu mầu. Ấn Tông Pháp sư khế ngộ tông chỉ của Ðại sư.

Giảng:

Hai người đã thảo luận nhiều lần, đưa ra cách nhìn của mình về đạo lý. Thế thì ai hỏi ai? Ðó là Pháp sư Ấn Tông hỏi Lục Tổ Ðại sư vậy. Lục Tổ đã giải quyết vấn đề tranh luận phướng động hay gió động, thật ra là tâm động. Pháp sư Ấn Tông rất kinh ngạc nghe một người tại gia mà có thể nói ra đạo lý thâm sâu như vậy bèn lập tức rời pháp tòa cung thỉnh Lục Tổ vào trong liêu của mình đàm luận. Ấn Tông Pháp sư hỏi:

–Ông từ đâu đến, tên họ là gì ?

Pháp sư Ấn Tông sau khi biết vị tại gia này là đệ tử đắc pháp của Ngũ Tổ, là người đã được Ngũ Tổ truyền cho y bát, Ngài lập tức đảnh lễ Lục Tổ. Sau đó cầu hỏi những đạo lý nhiệm mầu sâu sắc trong kinh sách, thảo luận về gió động phướng động. Sau khi cùng với Lục Tổ luận bàn xong, Ðại sư Ấn Tông mới hiểu rõ và ngộ được nghĩa lý của Thiền tông.

Ngày rằm tháng ấy, Ấn Tông Pháp sư nhóm hết tứ chúng mà xuống tóc cho Ðại sư, rồi qua mùng tám, tháng hai, lại nhóm hết các vị danh đức mà truyền thọ Cụ túc giới cho Ngài.

Trí Quang Luật sư ở Tây kinh làm Thọ giới sư,

Giảng:

Vào ngày rằm tháng giêng Pháp sư Ấn Tông tập hợp tứ chúng Tỳ khưu, Tỳ khưu ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, cử hành nghi lễ thế độ cho Lục Tổ Ðại sư, khiến cho hiển hiện tướng xuất gia mà thành Tỳ khưu.

Người xuất gia có rất nhiều lý do xuất gia không giống nhau. Có người vì cuộc sống khó khăn, nhìn thấy người xuất gia được người cúng dường, có cái ăn có cái mặc vì thế mà xuất gia. Có người xuất gia vì tuổi già không có con cái chăm sóc, họ nghĩ: “Sau khi ta xuất gia, thâu nhận một đứa đệ tử trẻ tuổi, nó sẽ lo lắng chăm sóc cho ta giống như con ta vậy.” Có người vì đã từng làm trộm cướp, hoặc vì trốn tránh pháp luật, sau khi xuất gia xuống tóc, có thể tránh được nạn chánh phủ bắt được chém đầu họ. Có người lúc còn nhỏ đã bị đưa đến Chùa xuất gia. Ðây là một vài lý do mà người ta xuất gia. Sau khi xuất gia, có thể chân chánh dụng công tu hành hay không, thì thật là khó nói.

Có người mê tín (mê mà có lòng tin). Như một vài bậc cha mẹ thấy con mình bệnh nặng, bèn nghĩ rằng: “Con của mình có thể chết vì bệnh, cần nên đem nó đến Chùa cho xuất gia.” Do vì mê tín, cha mẹ bèn đưa con vào Chùa. Người “mê tín” còn có chỗ hy vọng. Lại có người thì “tín mê” (tin vào điều mê lầm) tức là chuyên tin theo những lập luận tà tri tà kiến, tùy theo những tư tưởng không chính xác mà chuyển biến theo, thật là như lời người ta thường nói: “mê trong mê.” Có người thì “mê mà không tin,” (vừa mê lại vừa không tin), trong cái mê của họ không tin tưởng vào bất cứ việc gì. Nhưng có người thì “tin mà không mê,” những người này dùng chân tâm học Phật pháp, cho đến khi hiểu rõ chân lý thì không còn mê mờ nữa.

Những người xuất gia này có thể chân chánh dụng công tu học hay không, cũng không chắc chắn lắm, hoặc có thể có một hoặc hai phần trăm chân chánh tu học Phật pháp. Nhưng, nếu quý vị hạ quyết tâm nhứt quyết khai ngộ, để liễu sanh thoát tử, thì sau khi xuất gia có thể siêng năng nỗ lực dụng công tu hành.

Có một vài người xuất nhà thế gian, tức ra khỏi nhà tam thế: dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Sau khi ra khỏi tam giới sẽ không còn chấp vào dục sắc, sắc giới, vô sắc giới vì họ không còn chỗ chấp trước, xem tam giới như hoa đốm giữa hư không, cho nên nói vượt ra khỏi sự trói buộc của tam giới, ra khỏi nhà tam giới. Có vài người xuất phiền não gia, nếu quý vị xuất gia mà không đoạn phiền não, thì không thể đắc đạo, vì thế nhất định phải trừ phiền não.

Lục Tổ là một ví dụ đặc biệt, không giống như các lý do đã nói ở trên, vì Ngài đã đạt đến cảnh giới tự do tự tại, xuất gia hay không xuất gia cũng không có gì sai biệt. Lúc còn là cư sĩ, Ngài thực hành Bồ Tát đạo, không giống như những người tại gia tầm thường khác.

Mùng tám tháng hai là ngày Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất gia, trong ngày này tập trung các bậc cao Tăng Ðại đức trong mười phương – Pháp sư Trung Quốc và Pháp sư Ấn Ðộ – vân tập lại, truyền giới cụ túc cho Lục Tổ. Pháp sư Ấn Tông mời Luật sư Trí Quang ở Tây Kinh làm Truyền giới sư cho Lục Tổ. Luật sư Trí Quang trì giới nghiêm minh, trong bốn oai nghi: hành, trụ, tọa, ngọa đều đầy đủ bốn đại oai nghi. Phàm nhứt cử, nhứt động của Luật sư, đều cần phải hợp với luật nghi, không thể tùy tiện. Vì thế Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nghiêm tịnh tỳ ni, hoành phạm tam giới.”

Huệ Tĩch Luật sư ở Tô Châu làm Yết-ma,

Thông Ứng Luật sư ở Kinh Châu làm Giáo thọ,

Kỳ Ðà La Luật sư ở Trung Thiên Trúc thuyết giới,

Mật Ða Tam Tạng ở Tây Thiên Trúc chứng giới.

Giảng:

Yết-ma là Phạn ngữ, có nghĩa là biện sự, là người biện sự trong lúc truyền giới. Yết-ma cần phải xác thực tất cả mọi sở hành đều hợp với giới pháp, hợp với quy củ mà Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đã đặt ra. Các việc làm nếu không hợp với Phật pháp, thì không được Yết-ma chấp nhận.

Lúc truyền giới, Truyền giới sư hỏi Thầy Yết-ma ba lần:

–Có thể truyền giới cho người này không?

Mỗi lần Yết ma đều phải trả lời:

–Có thể.

Trên giới đàn, Yết-ma ngồi bên trái của Giới sư, Giáo thọ sư ngồi bên phải, còn lại bảy vị Chứng giới sư ngồi hai bên. Tất cả là ba vị A-xà-lê và bảy vị Chứng giới sư. Các Ngài đại diện cho mười phương chư Phật giảng pháp và truyền giới. Cho nên xuất gia thọ giới là một việc rất quan trọng.

“Giáo thọ” tức truyền thọ kinh điển. Kỳ Ða La là tiếng Phạn, nghĩa là “Công Ðức Hoa.” Pháp sư Mật Ða tinh thông ba tạng Kinh Luật Luận, cho nên tôn xưng Ngài là Tam Tạng Pháp sư. Tất cả giới thần đều đến bảo hộ vị Pháp sư tài trí này, trong cuộc đời của Ngài có rất nhiều sự tích thần kỳ, “Mật Ða” có nghĩa là hưng thạnh, tươi tốt.

Nguyên Giới đàn này do Tam Tạng Ðại sư Cầu Na Bạt Ðà La ở triều nhà Tống, đứng ra sáng lập và có dựng bia ghi lời Sấm-truyền rằng: “Sau sẽ có một vị Bồ Tát xác phàm thọ giới tại chỗ nầy.”

Giảng:

Cầu Na Bạt Ðà La, nghĩa là “Công Ðức Hiền.” Vị Pháp sư này ở Chùa Quang Hiếu kiến lập một pháp đàn, trên pháp đàn dựng một bia đá, có ghi lời dự ngôn: “Ðời sau có một vị nhục thân Bồ Tát thọ giới cụ túc tại đây.”

Ðến đời Lương Võ Ðế, nguyên niên Thiên Giám, lại có Tam Tạng Ðại sư Trí Dược từ Tây Thiên Trúc ngồi thuyền vượt biển sang Trung Quốc, đem một cây Bồ đề từ Thiên Trúc trồng nơi bờ ranh Giới đàn ấy, và cũng có đặt bia ghi lời dự ngôn như vầy: “Sau nầy một trăm bảy mươi năm, sẽ có một vị Bồ Tát xác phàm khai diễn pháp thượng thừa ở dưới cội cây nầy, cứu độ vô số chúng sanh, ấy là vị Pháp chủ truyền thọ tâm ấn của Phật.”

Giảng:

Lương Vũ Ðế Thiên Giám nguyên niên (công nguyên năm 502), từ Ấn Ðộ Tam Tạng Pháp sư Trí Dược ngồi thuyền vượt biển đến đây, nhìn thấy pháp đàn và bia đá này, bèn lấy cây Bồ đề mà Ngài đã đem từ Ấn Ðộ đến đây, trồng bên cạnh pháp đàn và lập bia dự đoán rằng:

–Một trăm bảy mươi năm sau, sẽ có một vị nhục thân Bồ Tát ở dưới cội Bồ đề này, khai diễn Phật pháp thượng thừa, trực chỉ tâm địa kiến tánh pháp môn mà thành tựu Phật đạo.

Cây Bồ đề khắp nơi đều có thể sanh trưởng, tại Trung Quốc hiện có rất nhiều loại cây này.

Xưa kia Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni trên hội Linh Sơn niêm hoa thị chúng, đem tâm ấn của chư Phật truyền cho Tôn giả Ma Ha Ca Diếp. Tổ sư là người truyền Phật tâm ấn, mà Pháp sư là người giảng kinh thuyết pháp.

Nhục thân bất hoại của Ðại sư Trí Dược hiện vẫn còn bảo tồn trong Chùa Nguyệt Hoa cách Chùa Nam Hoa năm dặm. Người quản lý trong Chùa đã xuất gia, không chiêu đãi khách thập phương, vì thế nếu muốn đi đến tham quan, phải tự chuẩn bị đồ ăn thức uống. Lúc tôi ở Chùa Nam Hoa đã từng đến Chùa Nguyệt Hoa, nhìn thấy nhục thân của Ðại sư Trí Dược được giữ gìn toàn vẹn, hoàn chỉnh, không có một chút hư tổn.

Thật quả như lời sấm truyền, Ðại sư đã đến chỗ nầy mà thế phát và thọ giới, và chỉ bày yếu chỉ của tâm pháp truyền thừa cho tứ chúng vậy.

Giảng:

Lục Tổ sau khi xuống tóc thọ Cụ-túc giới, bèn giảng kinh thuyết pháp cho tứ chúng nghe, truyền thọ bất nhị pháp môn, tức là từ Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đời đời tương truyền pháp môn tâm ấn.

Qua năm sau, nhằm mùa xuân, Ðại sư từ giả đồ chúng mà về chùa Bảo Lâm. Khi ấy sư Ấn Tông cùng các vị tăng, người tục, có trên một ngàn người đến tiễn Ngài thẳng tới Tào Khê.

Giảng:

Mùa Xuân năm sau, Lục Tổ từ giã đại chúng mà trở về Bảo Lâm. Y phục màu đen (tư) là của người xuất gia, lúc đó người tại gia mặc đồ trắng (bạch), vì thế nói: tư bạch hàng ngàn người đưa tiễn Ðại sư đến Tào Khê.

Có người chưa đến Tào Khê mà nói rằng mình đã đến đó, họ ngụy truyền cái gọi là Tào Khê Pháp môn và Thiền tông bí truyền. Thời mạt pháp khắp nơi đều có hiện tượng này: giả Phật giáo đồ, giả nhãn hiệu.

Lúc ấy có Thông Ứng Luật sư ở Kinh Châu, cùng các vị học giả kể có một trăm người, đều theo học với Ðại sư.

Khi Ðại sư đến chùa Bảo Lâm tại Tào Khê, thấy chùa chật hẹp, không đủ dung nạp đồ chúng, thì có ý muốn mở rộng ra. Ngài đến viếng một người trong xóm là Trần Á Tiên mà nói rằng: “Lão tăng đến đây muốn cầu thí chủ cho một khoảnh đất vừa đủ trải tấm tọa cụ được chăng?” 

Giảng:

Lúc đó Luật sư Thông Ứng ở Kinh Châu biết Lục Tổ là vị pháp chủ truyền Phật tâm ấn, bèn dẫn đồ đệ của mình theo Ðại sư học pháp. Lúc Ðại sư đến Tào Khê, nhìn thấy giảng đường nhỏ hẹp, không thể dung nạp số người đông như thế, bèn có ý mở rộng giảng đường. Ngài đến thăm địa chủ Trần Á Tiên nói:

–Thí chủ có thể cúng dường cho lão Tăng một mảnh đất bằng miếng tọa cụ này chăng?

Trần Á Tiên nói: “Tấm tọa cụ của Hòa Thượng rộng bao nhiêu?”

Ðại sư lấy tấm tọa cụ chỉ cho Trần Á Tiên xem, Á Tiên thưa: Ðược. Ðại sư liền lấy tấm tọa cụ phóng ra, bao trùm hết bốn cảnh Tào Khê, lại có bốn vị Thiên Vương hiện thân ngồi trấn bốn hướng.

Giảng:

Ðại sư đưa miếng tọa cụ của Ngài cho Trần Á Tiên xem. Ông ta nói:

–Nếu Ngài chỉ cần mảnh đất to bằng tấm tọa cụ thì con sẵn lòng cúng dường.

Nhưng lúc Ðại sư trải tấm tọa cụ ra, không những khắp cả Chùa Nam Hoa mà cả hơn mười mẫu đất đều được che phủ. Lúc đó Tứ đại thiên vương hiện thân, ngồi trấn ở bốn phương, cho nên mới có cảnh giới kỳ diệu như vậy xuất hiện.

Nay tại cảnh chùa có núi Thiên Vương vì nhơn chuyện này mà đặt ra tên núi ấy. Trần Á Tiên thưa: “Con biết pháp lực của Hòa Thượng thật là quảng đại, nhưng vì phần mộ của cao tổ con đều nằm trong khoảnh đất nầy, ngày sau nếu có cất tháp, xin giữ lại các phần mộ, còn giai dư con hỷ cúng hết, để làm ngôi Bảo-phường vĩnh viễn. Lại chỗ đất nầy có long mạch hình voi trắng, vậy chỉ nên bình thiên chẳng nên bình địa.”

Về sau khi chùa được kiến thiết, nhất nhất đều làm y theo lời thỉnh cầu của Trần Á Tiên. 

Mỗi lần Ðại sư đi dạo trong cảnh chùa, gặp chỗ nào nước non xinh đẹp, Ngài dừng chơn ngồi nghĩ.

Giảng:

Nay trong cảnh Chùa có Thiên Vương Lĩnh, chính vì câu chuyện này mà được tên. Trần Á Tiên nói:

–Con biết Hòa Thượng Ngài pháp lực thần thông quảng đại, nhưng phần mộ cao tổ của con đều ở trong mảnh đất này, tương lai sau này nếu xây dựng Chùa Tháp xin Ngài chừa lại phần mộ của tổ tiên con, ngoài ra các phần đất khác con đều cúng dường Tam Bảo, vĩnh viễn làm đất Già lam.

Long mạch của đất này rất thạnh, núi giống như hình voi trắng, là nơi “bảo sở,” tức là một chỗ rất tốt để xây dựng đạo tràng. Hình địa thế cao thì vật kiến trúc nên xây dựng thấp một chút. Ðịa thế thấp thì có thể xây dựng cao một chút, khiến cho các mái nhà có thể quân bằng, nhưng không nên san bằng đất đai, vì nếu đào đất sợ rằng sẽ làm tổn thương đến long mạch của núi, phá hoại phong thủy, tổn hại linh khí.

Lục Tổ thường thường dạo chơi trong cảnh Chùa, nhìn thấy chỗ nào có phong cảnh đẹp liền ngừng lại để nghỉ ngơi.

Vì thế, mà mười ba Lan-nhã đã được lập lên ở những nơi ấy, một trong những Lan-nhã đó nay là Hoa Quả viện. Cả thảy đều phụ thuộc đạo tràng Bảo Lâm.

Nguyên nơi đạo tràng Bảo Lâm, khi trước cũng có Tam Tạng Ðại sư Trí Dược ở Tây Thiên Trúc, từ Nam Hải qua cửa Tào Khê, lấy tay bụm nước uống, nghe mùi thơm ngọt, thì lấy làm lạ, bèn kêu môn nhơn mà bảo rằng: “Nước ở đây không khác gì bên Tây Thiên Trúc, trên nguồn khe chắc có thắng địa, lập Lan-nhã được.” Sư lần theo dòng nước lên tới nguồn khe, nhìn quanh bốn phương, non nước xây vòng, đầu non chân giụm, xinh đẹp lạ thường… Sư khen rằng: “Cảnh núi nầy rõ ràng giống như cảnh núi Bảo Lâm ở Tây Thiên Trúc.”

Giảng:

Tại sao khu đất bao quanh Chùa Nam Hoa gọi là Bảo Lâm? Bảo Lâm có nghĩa là Vô Thượng Pháp Bảo diễn hóa tại chỗ này, người y pháp tu hành nhiều như cây trong rừng. Ấn Ðộ Ðại sư Trí Dược lúc uống nước tại Tào Khê, cảm thấy mùi vị ngon ngọt chẳng khác nào ở Ấn Ðộ, Ngài biết rằng trên đầu nguồn chắc chắn có thắng địa, có thể kiến lập Tự viện. Ngược theo dòng nước lên đến đầu nguồn, đến núi Bảo Lâm lúc hoàng hôn xuống, nhìn chung quanh, khắp nơi đều là sơn thanh thủy tú, Ngài tán thán rằng:

–Núi này thật giống núi Bảo Lâm ở Thiên Trúc, nên đặt tên nơi nầy là Bảo Lâm đạo trường.

Không phải chỉ có một mình Ngài, Tam tạng Trí Dược mà có rất nhiều đồ đệ đi theo. Ngài nói với họ rằng:

–Ðầu nguồn của dòng suối là một thắng địa, có thể kiến lập Tự viện.

Tự viện, tên gọi Lan-nhã là tiếng Phạn, nghĩa là tịch tĩnh xứ, là nơi thanh tịnh tu hành. Ðất này thanh khiết, núi non xanh biếc bao quanh, phong cảnh tú lệ, thật là nơi thắng địa tu hành.

Sư kêu dân làng Tào Hầu mà bảo rằng: “Nơi núi nầy nên lập một cảnh chùa, sau đây một trăm bảy mươi năm, sẽ có một vị Vô Thượng Pháp Bảo diễn hóa tại chỗ nầy, số người đắc đạo nhiều như cây rừng, vậy nên đặt hiệu chùa là Bảo Lâm.”

Thuở ấy có quan Châu mục tỉnh Thiều Châu, tên là Hầu Kỉnh Trung, lấy những lời ấy mà làm biểu dâng vua, vua nhận lời xin, lại ban cho một tấm biểu hiệu là Bảo Lâm. Thế mới thành một cảnh chùa Phật. Ấy là một ngôi chùa có trước hết đời nhà Lương, niên hiệu Thiên Giám, năm thứ ba.

Giảng:

Thôn này gọi là Tào Hầu, là hậu duệ của Tào Tháo thời đại Tam Quốc. Ðại sư Trí Dược dự đoán một trăm bảy mươi năm sau, “Vô Thượng Pháp Bảo” tức là Lục Tổ trụ tại Bảo Lâm và giáo hóa chúng sanh. Tăng chúng xuất gia và người tại gia tại chỗ này, người khai ngộ đông như số cây trong rừng, vì vậy đất này gọi là “Bảo Lâm.” Lúc đó, trưởng quan Thiều Châu Hầu Kỉnh Trung đem lời dự đoán của Ðại sư Trí Dược tâu với triều đình, Lương Võ Ðế bèn ân tứ là Bảo Lâm. Thiên Giám năm thứ ba (công nguyên năm 504), xây dựng Chùa này, tức là Chùa Nam Hoa hiện nay.

Trước điện chùa có một cái ao, trong đó có một con rồng thường trồi lên hụp xuống, làm náo động các cây rừng. Một ngày kia, rồng hiện hình rất lớn, làm cho sóng nổi nước trào, mây mù tối mịt, các môn đồ đều kinh hãi. 

Ðại sư nạt rằng: “Ngươi có thể hiện hình lớn, mà không hiện hình nhỏ được. Nếu ngươi là thần long thì biến hóa được; nhỏ biến ra lớn, lớn biến ra nhỏ.”

Giảng:

Thân Rồng rất lớn, vì thế chỉ thấy thân của nó mà không thể thấy đầu, bay lượn trong nước, làm cho sóng vỗ ầm ầm, sóng nước dâng cao mười thước, hai mươi thước, thậm chí dâng cao ba mươi thước. Nó dương dương tự đắc, tự cho mình là tài giỏi. Ðồ chúng đều lo sợ nói:

–Thật là bất khả tư nghì, con rồng này muốn làm tổn hại chúng ta!

Lục Tổ quở trách rồng:

–Nếu ngươi thật có thần thông, thì có thể từ có biến không, từ không biến có, ngươi có thể tùy tâm như ý biến hóa, từ thân to lớn hóa thành thân nhỏ bé, từ thân nhỏ bé hóa thành thân to lớn, không có gì chướng ngại.

Rồng ấy thoạt nhiên hụp xuống, giây lâu lại hiện hình nhỏ, nhảy khỏi mặt ao.

Tổ mở bình bát, nói thách rằng: “Chắc ngươi không dám chun vô bình bát của lão tăng?”

Rồng hăm hở nhảy tới trước mặt, Ðại sư lấy bình bát thâu vào, rồng hết phương vùng vẫy. Ðại sư đem bình bát về chùa, thuyết pháp cho rồng nghe.

Giảng:

Lục Tổ dùng lời nói khích khiến cho rồng hóa nhỏ, lập tức không còn thấy rồng nữa, nhưng trong khoảnh khắc một con rồng nhỏ bay lượn nhảy nhót xuất hiện trong nước. Lục Tổ nói:

–Ngươi nay đã biến thành thân nhỏ bé rồi, nhưng ngươi không dám nhảy vào trong bát của ta đâu!

Rồng bơi lội tung tăng trong nước, bơi đến trước mặt Tổ. Lục Tổ không đợi nó nhảy vào trong bát, Ngài lập tức múc nó vào trong bát.

Rồng liền cởi lốt mà đi. Bộ xương nầy dài đến bảy tấc, đầu đuôi, sừng chân, đều có đủ, để lưu truyền tại chùa. Sau Ðại sư lấy đá lấp cái ao ấy. Nay trước điện chùa, phía tả, có tháp bằng sắt dựng nơi đó.

Giảng:

Lục Tổ Ðại sư cầm cái bát đựng con rồng, trở về pháp đường, thuyết pháp cho rồng nghe. Rồng nghe pháp vãng sanh, thoát xác mà đi, để lại di cốt dài hơn bảy tấc, đầu đuôi sừng chân đều đầy đủ, lưu truyền tại chùa. Ðại sư bèn dùng đất đá lấp bằng cái ao này. Bên cạnh đại điện, vẫn còn tháp sắt dựng nơi ao đó.

Trong bài tự của Thiền Sư Pháp Hải nói cái ao này ở bên trái, thật ra nó ở bên phải. Trong “Lục Tổ Ðàn Kinh chú,” Ðinh Phúc Bảo cũng chưa đến Chùa Nam Hoa, đương nhiên không biết chỗ của ao này. Chiếu theo vị trí chỗ ngồi của Lục Tổ trong điện mà đoán định thì ao ở bên phải vậy.

Nguồn: http://www.chuavanphat.org/

 

Tin / Trang  50 100 150 200 250
Sắp theo  Tiêu đề Ngày Số lần xem Đánh giá   Tăng dần Giảm dần
Đang xem 151 – 163 của 163 bài « 1 2 3 4
● KINH NGƯỜI ÁO TRẮNG (07/13/2013) (Xem: 1719) 

● KINH PHÁP ẤN – Thích Nhất Hạnh (06/14/2010) (Xem: 55417) 

● KINH PHÁP HOA GIẢNG GIẢI – Lê Sỹ Minh Tùng (06/26/2012) (Xem: 17204) 

● KINH RUỘT TUỆ GIÁC SIÊU VIỆT (06/25/2013) (Xem: 2888) 

● KINH THẮNG MAN PHU NHÂN HỘI, Chân Hiền Tâm (05/20/2010) (Xem: 25900) 

● KINH THẮNG MAN, Thích Đức Niệm (05/20/2010) (Xem: 24920) 

● KINH VIÊN GIÁC GIẢNG GIẢI, Thích Thanh Từ (05/23/2010) (Xem: 28203) 

● KINH VIÊN GIÁC LUẬN GIẢNG, Thích Thông Huệ (05/23/2010) (Xem: 25653) 

● LĂNG NGHIÊM ẢNH HIỆN (05/08/2013) (Xem: 4524) 

● LUẬN VỀ PHÁP HOA KINH AN LẠC HẠNH NGHĨA (02/07/2013) (Xem: 12023) 

● NGHĨ TỪ TRÁI TIM Đỗ BS Hồng Ngọc (06/02/2011) (Xem: 14864) 

● NHÂN DUYÊN CỦA SỰ SUY VONG (09/02/2013) (Xem: 2291) 

● NIỀM TIN VÀ KINH KALAMA – Nguyễn Duy Nhiên (10/25/2010) (Xem: 56705) 

● PHÁP ẤN Thích Nhất Hạnh (10/15/2010) (Xem: 31658) 

● PHÁP HOA ĐỀ CƯƠNG, Hòa Thượng Thanh Đàm (05/24/2010) (Xem: 24190) 

Thực hư cô bé nhớ rõ chuyện từ…3 kiếp trước

Posted on June 3, 2013 by huyentamhh Edit
13:30 | 02/06/2013

Thực hư cô bé nhớ rõ chuyện từ…3 kiếp trước

‘Kiếp đầu tiên con là người có cha mẹ giàu sang, kiếp thứ hai là một nữ cư sĩ, sống được 50 tuổi nhưng chưa đắc đạo nên bây giờ về nhân gian để tu tiếp’, Như Ý nói.

Nhà bé Nguyễn Thị Như Ý (ấp Vĩnh Lợi, xã Vĩnh Lộc, huyện An Phú, tỉnh An Giang) nhiều năm nay được giới đồng đạo khắp nơi biết đến với hiện tượng “thần đồng thuyết pháp”.

Anh Nguyễn Thành Hạnh (35 tuổi, cha ruột Như Ý) cho biết, ngoài việc học xuất sắc ở trường, đọc sách và nghiên cứu đạo pháp tại nhà là niềm đam mê của Như Ý. Anh Hạnh cho biết thêm, Như Ý có khả năng kỳ lạ, am hiểu và có thể thuyết giảng trước đám đông hàng giờ đồng hồ theo chủ đề Phật giáo, khiến bất cứ ai cũng phải kinh ngạc.

Ở Vĩnh Lợi, người dân biết đến Như Ý không chỉ là “thần đồng” mà còn rất mến mộ và tôn kính. Họ cho rằng bé có nhân duyên từ tiền kiếp và được Đức Phật đầu thai, mới sớm bộc lộ những khả năng “khôn” trước tuổi.

 

Từ nhỏ, Như Ý đã tỏ ra là một cô bé đặc biệt với khả năng thuyết giảng đạo pháp
Từ nhỏ, Như Ý đã tỏ ra là một cô bé đặc biệt với khả năng thuyết giảng đạo pháp.

 

Cô bé xinh xắn, vầng trán cao, đôi mắt sáng và giọng nói ấm áp, súc tích, lập tức gây thiện cảm ngay từ lần gặp đầu. Nhìn con gái, anh Hạnh cười rạng rỡ, không che giấu niềm tự hào khi nhớ lại ước nguyện sinh con đã thành hiện thực: “Tôi vốn sinh ra trong gia đình có truyền thống đạo Phật Hòa Hảo. Hồi chưa lấy vợ, trong những ngày lễ, tôi vẫn thường tham gia những buổi thuyết giảng của các đạo sĩ, giảng sư tại những trung tâm Phật giáo hoặc ở các chùa. Nghe nhiều thấy mê, rồi mình sinh lòng cảm mến lúc nào không hay.

Từ đó, mỗi ngày niệm Phật, tôi cứ đinh ninh và ước mơ sau này sinh con, sẽ trở thành người thuyết giảng Phật pháp cho chư tăng huynh đệ, để đạo hạnh được tăng thêm nhiều phần. Nay thì mong ước của tôi đã trở thành hiện thực, thông qua con gái bé nhỏ của mình”.

Anh Hạnh kể, thời điểm hay tin vợ mang thai, anh càng hăng say tu đạo, ngày qua ngày cầu mong vợ sinh con như ý muốn. Khi vợ hạ sinh lại là một bé gái, anh thoáng buồn bởi suy nghĩ từ trước đến nay trong giới đạo Pháp, rất ít thấy có vị nữ tu sĩ nào tham gia thuyết pháp. Như thế, ước nguyện của anh khó mà có cơ hội trở thành hiện thực.

Tuy nhiên, trái ngược với nỗi lo ngại của anh Hạnh, đứa con gái của anh ngay từ lúc lọt lòng đã bụ bẫm và khôi ngô đến lạ kỳ. Nước da trắng nõn, cặp mắt tròn long lanh, đôi má lúm đồng tiền, miệng chúm chím rất duyên, khuôn mặt đầy đặn phúc hậu. Ngắm nhìn con trong giây phút chào đời, bao nỗi chạnh buồn như tan biến. Bồng con trên tay, anh Hạnh quyết định đặt tên con là Như Ý, với niềm mỏi con mình sau này lớn lên làm bất cứ việc gì cũng thành công.

Đúng như những gì vợ chồng anh Hạnh ăn chay niệm Phật cầu mong, bé Như Ý mỗi ngày một khôn lớn khỏe mạnh, đồng thời mang lại cho mọi người hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Chị Nguyễn Thị Cam (33 tuổi, mẹ ruột bé Như Ý) kể: “Khi được hơn 3 tuổi, Như Ý đã nói chuyện như một người trưởng thành, giống hệt một tu sĩ tinh thông đạo pháp”.

Trong một lần nói chuyện với mẹ mình, Như Ý có nói rằng: “Con chỉ “mượn mẹ” để đầu thai xuống kiếp này tu thêm mà thôi. Kiếp trước của con là một người sinh ra có cha mẹ giàu sang, song con chỉ muốn đi tu mà không được song thân chấp thuận, con buồn tủi lắm, không dễ như cha mẹ bây giờ. Kiếp thứ hai, con được làm một nữ cư sĩ, sống được 50 tuổi nhưng vì tu chưa đắc đạo nên kiếp này con về lại nhân gian để tu tiếp, mong rằng sẽ truyền bá sâu rộng chốn nhân gian hơn nữa, con người hòa hợp, không tranh giành đặc lợi mà giúp đỡ lẫn nhau”.

Cũng theo chị Cam, một lần khác Như Ý không nghe lời khuyên răn của cha mẹ nên chị mắng, không ngờ bé cười rồi cất lời: “Con là một người khác chứ không phải là con mẹ đâu ạ, kiếp này con chỉ mượn cha mẹ để lên đây tu thành thêm kiếp đạo dang dở của con thôi”. Nghe đứa con chưa tròn tiếng nói giọng “ông cụ non”, vợ chồng chị như lạc tai, khi hỏi lại thì bé vẫn nói lại y như vậy.

Vừa mừng vừa lo, mừng vì con khôn trước tuổi, lo vì bé nói những điều vô cùng khác thường so với đứa bé 3 tuổi bình thường. Không chỉ thế, liên tiếp trong thời gian sau đó, Như Ý còn mang những câu chuyện hết sức kỳ lạ nói về về tiền kiếp của mình kể cho cha mẹ và mọi người nghe.

“Thấy nó (Như Ý) hợp với đạo, nên tôi không cho bé nói nữa, mà tìm cách giải thích cặn kẽ để bé hiểu. Những điều này hoàn toàn có thực, nhưng do sợ người ta đàm tiếu rằng cha mẹ tôn sùng con cái để tuyên truyền mê tín dị đoan nên vợ chồng tôi không kể lại cho một ai”.

 

Gia đình Như Ý là bạn đồng đạo
Gia đình Như Ý là bạn đồng đạo.

 

Càng thêm tuổi, Như Ý càng trưởng thành nhanh một cách kinh ngạc. Sự am hiểu Phật giáo của bé cũng theo đà đó, trở nên uyên thâm đến mức khiến nhiều người tu trong đạo không khỏi bất ngờ. Mỗi lần theo cha mẹ đi nghe thuyết giảng về, bé có thể kể lại răm rắp không sót một từ, đồng thời có thể tự triển khai mở rộng, giảng thêm những nội dung và ý nghĩa sâu xa.

Khi vợ chồng anh chị ra một đề tài trong đạo Pháp, thì bé tự đứng lên dõng dạc thuyết giảng thấu tình đạt lý, có thể sánh ngang những vị giảng sư lâu năm. Bên cạnh đó, điều làm vợ chồng anh Hạnh ngạc nhiên là lúc 5 tuổi, bé đã đứng trước hàng trăm tu sĩ thuyết giảng hàng giờ đồng hồ khiến mọi người trầm trồ ngưỡng mộ.

“Lần đầu tiên, tôi trực tiếp nghe con gái mình thuyết pháp trước đông đảo chư tăng, đồng đạo. Ban đầu, tôi thấy rất lo lắng, nhưng sau khi nghe cháu cất lên những lời giảng đầu tiên, nhìn ánh mắt ngạc nhiên của chư tăng đồng đạo bên dưới tôi thấy an tâm hơn. Sau khi bài thuyết pháp kết thúc, mọi người đứng lên khen hay, ai cũng cảm thấy hài lòng và khâm phục trước một giọng thuyết chưa tròn âm nhưng quá đỗi uyên thâm. Chính lúc đó, tôi đã rớt nước mắt vì hạnh phúc. Vậy là coi như, ước mơ của mình đã được con gái biến thành hiện thực một cách như ý, như chính tên chúng tôi đặt cho cháu”, anh Hạnh cho biết thêm.

Với độ am hiểu đạo giáo tinh thông, thuyết giảng thu phục lòng người, Như Ý nhanh chóng được đông đảo phật tử biết đến, nhiều ngôi chùa trong giáo hội đã mời Như Ý về thuyết giảng, nói chuyện. Cho đến nay, bé đã đăng đàn hằng trăm buổi nói chuyện, có thể thuyết giảng nhiều chủ đề khác nhau về đạo Phật, khiến cả những nhà nghiên cứu đạo pháp phải thán phục.

Với khả năng đối đáp trôi chảy, có sức truyền cảm mãnh liệt, Như Ý được người đời và các đồng đạo vô cùng mến mộ. Điều đáng nói, dù trọng vọng nhờ khả năng hơn người của mình, Như Ý vẫn luôn khiêm tốn tự nhận mình “chỉ là một người hiểu ít nhiều Phật giáo”, chứ không bao giờ nhận là một vị “giảng sư” như mọi người gán cho.

Không những thế, “thần đồng” Như Ý còn được mọi người thương mến nhờ đức tính hiền lành, lễ phép, say mê học tập văn hóa, nghiên cứu đạo hạnh. Như Ý ước mơ, cố gắng học tập để sau này trở thành người có ích cho xã hội.

Theo Giadinh.net.vn

PGHH

Posted on May 30, 2013 by huyentamhh Edit
Hotline: 0965.237.756
Update time 19:03 29/05/2013 (GMT+7) 

       

“Thần đồng” Phật giáo 5 tuổi đã nổi

danh khắp trời Tây

Từ bé đã nổi danh khắp nơi nhờ những bài thuyết pháp giảng đạo, “thần đồng” Phật giáo, Như Ý còn khiến cho các đạo sĩ ở trời Tây phải vượt ngàn dặm đến để diện kiến.
Một giảng sư chuyên nghiên cứu Phật pháp đã phải thốt lên rằng: “Gần 50 năm tu niệm, giảng thuyết không biết bao nhiêu bài ở khắp mọi nơi, nhưng kiến thức tôi học hỏi được về Phật pháp so với bé Như Ý thì vẫn còn cách biệt quá xa. Ngẫm lại, tôi thấy quả đúng là “Trường Giang sóng sau đè sóng trước…”.
Đạo sĩ ngoại quốc phủ phục trước đức hạnh “thần đồng”
Sau khi video clip thuyết giảng của bé Như Ý (Ấp Vĩnh Lợi, xã Vĩnh Lộc, huyện An Phú (An Giang) được truyền tải rộng rãi không chỉ trong giới đồng đạo Phật giáo Hòa Hảo mà ở khắp mọi miền đất nước, rất nhiều các giảng sư đã liên hệ, bày tỏ ý muốn bồi dưỡng thêm kiến thức Phật pháp cho bé. Trong khi đó, bản thân bé Như Ý luôn tâm niệm rằng: “Tài năng không quan trọng, cái quan trọng của người hành đạo là tâm đạo, phải thắp sáng cái tâm đạo của mình rồi mới thắp cho những người xung quanh. Em nghĩ, chia sẻ những hiểu biết về đạo pháp đến người khác thì cần chí tâm tu hành ở ngay chính nội hàm ở bên trong con người mình chứ không phải ở sách vở. Sức nhiệm màu cần ở cái tâm chứ không phải cái tài, kẻ tu hành đa phước mới lên…”
 Niềm đam mê của “thần đồng” Như Ý là học tập và nghiên cứu

Đáng nói hơn, nhờ sự am tường tư tưởng nhà Phật và khả năng thuyết giảng trước đám đông đáng kinh ngạc khi mới 5 tuổi, tiếng tăm Như Ý còn vang xa tận hải ngoại, thậm chí được giới đạo sỹ Tây phương biết đến. Có lần, một ông đạo sĩ Việt kiều tên là Kelvin Trần, vì ngưỡng mộ danh tiếng của Như Ý mà bỏ công, gác việc lặn lội bay sang Việt Nam. Mục đích duy nhất của chuyến đi qua nửa vòng trái đất này, không gì khác ngoài hy vọng được thấy “thần đồng” bằng xương, bằng thịt. Hồi đó, đáp chuyến bay xuống TP. HCM, vị đạo sỹ đã đi thẳng về An Giang tìm nhà bé Như Ý. Ngay lần đầu diện kiến “thần đồng”, ánh mắt nhìn trìu mến và phong thái ung dung, tự tại toát ra từ bé Như Ý đã khiến vị đạo sĩ xúc động mà quỳ gối rồi òa khóc nức nở. Suốt một tuần trời nán lại sau đó, được dịp kề cận và nghe “thần đồng” thuyết giảng Phật pháp, vị đạo sỹ càng thêm ngưỡng mộ tài năng và đức hạnh của cô bé. Cho đến tận bây giờ, ông vẫn giữ mối liên lạc với gia đình và thường hỏi thăm bé Như Ý.

Nói về khả năng phi phàm của “thần đồng” nhỏ tuổi này, không chỉ có vị đạo sĩ cách nửa vòng trái đất kia ngưỡng mộ, mà là bất kỳ ai cũng sẽ phải thán phục nếu được dự một buổi “đăng đàn” thuyết pháp của bé. Cùng mặt trên chuyến đi của PV hôm đó, có cụ Đào Bá Hai quê tận Vĩnh Long, năm nay đã 76 tuổi, sức khỏe yếu, việc đi lại chẳng dễ dàng gì. Vậy mà từ khi biết Như Ý, cứ vài tháng, ông cụ lại lặn lội ngồi xe máy cùng bạn đồng đạo là ông Nguyễn Văn Dũng (60 tuổi) xuống An Giang để được nghe Như Ý thuyết giảng. Lần này, cụ Hai còn tặng Như Ý một cái máy cát-sét nhỏ hơn lòng bàn tay, phát vô số bài giảng kinh đã được thu sẵn. Cụ Hai tâm sự với chúng tôi: “Tôi từng nghe Như Ý giảng đạo lúc 9 tuổi.
Ngay lúc đó, bé đã có khả năng thực hiện những bài giảng Phật pháp, tu hành liền một mạch hàng giờ trôi chảy. Những bài giảng của Như Ý không đứt đoạn, không vấp váp, đầy ý tưởng, hình ảnh, tràn ngập tri thức, thơ ca, ẩn dụ, phúng dụ, hoán dụ, so sánh, tượng trưng, ước lệ… khơi gợi mạnh mẽ tâm trí người nghe. Bên cạnh đó, bé còn thể hiện sự am hiểu kiến thức Phật giáo Đông- Tây kim cổ vô cùng kinh ngạc”. Trước lúc ra về, cụ Hai lại nắm tay Như Ý dặn dò: “Ta biết có dặn dò con cố gắng tu đạo cũng bằng thừa, vì vốn dĩ đạo đã có sẵn trong con từ khi mới lọt lòng rồi. Ta chỉ mong con sau này đắc đạo, giúp ích cho đời thôi”.
Bà Bảy Tăng (50 tuổi) vừa lặn lội từ TP.HCM tìm xuống nhà bé Như Ý và ngồi tỉ tê với chúng tôi đủ chuyện về “thần đồng” với một niềm ngưỡng mộ sâu sắc. Bà Bảy nói trong hoan hỉ: “Trước đây, tôi từng nghe bé thuyết giảng qua băng đĩa. Cũng có gặp một hai lần khi bé thuyết pháp trực tiếp trên TP.HCM mà không có điều kiện trực tiếp trò chuyện. Sau này biết rồi, tôi thường mua đĩa do Như Ý thuyết giảng mở cho mấy đứa cháu nghe. Đứa nào đứa nấy đều ham mê xúm xít lại xem mãi mà không biết chán”.
Trí nhớ siêu phàm
Không chỉ nổi danh với những bài thuyết pháp hàng giờ đồng hồ trước các đồng đạo, tài năng thiên bẩm của Như Ý còn có nhiều điểm kỳ lạ mà đến giờ chưa có ai giải thích được. Từ lúc 3 tuổi, cô bé đã học thuộc lòng tất cả các hình minh họa trong cuốn sách tiếng Việt lớp 1 để “đuổi hình bắt chữ” mà không cần một ai chỉ dẫn. Lạ kỳ thay, cứ chỉ vào hình nào là bé phát âm chữ ấy đúng 100% từ đầu đến cuối, dù tiếng nói còn bập bẹ chưa tròn.

Như Ý có trí nhớ tốt như vậy, nên trong trường mỗi dịp bế mạc, tổng kết năm học, bé đều đại diện học sinh lên nói trước toàn trường mà không cần bản ghi chép. Mỗi lần đó, cô giáo dặn về soạn bài phát biểu, sau khi soạn xong bé ôn lại và lên nói mà không cần “bản mộc” nữa. Nhớ lại buổi khai trường lớp 6, khi ai lên phát biểu cũng cần cầm theo tờ giấy, chỉ có mỗi Như Ý là lên nói liền mạch mà không cần cầm bất cứ thứ gì theo. Mới đây, khi tham gia cuộc thi An toàn Giao thông của nhà trường tổ chức, bé phải học thuộc hơn 300 câu, thế mà chỉ sau hai bữa là Như Ý “giải quyết” gọn ghẽ, không sai một câu nào.

Thầy Trần Văn Ơi, giáo viên phụ trách bộ môn tiếng Anh kể: “Hiện tại, bé Như Ý đang học lớp 6A2 của trường. Môn Anh văn do thầy phụ trách và Như Ý học rất giỏi, dẫn đầu lớp về kết quả học tập. Khả năng đặc biệt của bé Như Ý là tự tin, khi nói có sức truyền cảm cao, làm người nói với người nghe có sự đồng cảm đến lạ. Các thầy cô bộ môn khác cũng cho biết điểm của bé cũng suýt soát 10 phẩy. Trong giờ học, chừng nào các em khác không trả lời được, chúng tôi mới kêu Như Ý, mà hầu hết câu nào em cũng trả lời rất tốt. Theo như tôi nghĩ, thành công của Như Ý là do em ấy có sự đầu tư về học tập, nhận thức tốt”.
Từ khi bé Như Ý bộc lộ khả năng thuyết giảng Phật pháp, giới chư tăng đồng đạo không ngừng tìm đến. Bên cạnh đó, nhiều chùa, tịnh thất ngoại tỉnh thường mời Như Ý đi thuyết giảng, mỗi lần “đăng đàn” đều có ghi âm, ghi hình để sao ra đĩa phát cho các Phật tử nghe. Giảng sư Trần Văn Luốc, pháp danh Trần Như – thành viên tiểu ban nghiên cứu của Ban Phổ truyền Giáo lý Trung ương Phật giáo Hòa Hảo tại TP.HCM thừa nhận, Như Ý có một trí nhớ rất tuyệt vời. “Như Ý thuộc làu 48 lời đại nguyện của Đức Phật A Di Đà, các bài kinh giảng chính trong Phật giáo Hòa Hảo. Đặc biệt, bé nhớ không sai một từ nào. Có những cái phải học dữ lắm, tôi mới thuộc còn Như Ý chỉ cần học sơ sơ cũng đã nhớ như in rồi. Bé rất ham học, không chỉ kiến thức mà còn học cả hạnh nết, công phu của mình. Gần 50 năm tu niệm, giảng thuyết không biết bao nhiêu bài ở khắp mọi nơi, nhưng kiến thức tôi học hỏi được về Phật pháp so với bé Như Ý thì vẫn còn cách biệt quá xa. Cũng bởi lẽ, cái phong thái khi thuyết giảng của bé chiếm lĩnh lòng người cao hơn những lời nói hay, nói đẹp. Đúng là “Trường Giang sóng sau đè sóng trước mà…””, ông Luốc nói.
Theo nhận định của rất nhiều giảng sư và các chư tăng đồng đạo: Nền tảng chân tu mà Như Ý có được là một bí ẩn. Họ cho rằng cô bé này có duyên với tu hành từ kiếp trước nên mới thấm đạo phật nhanh nhạy như vậy. Điều đáng nói ở bé Như Ý không phải là nói về cái tài năng đặc biệt của bé mà nói về cái phong cách, một đứa nhỏ mà có phong cách rất người lớn, không có tính cách khoe hoang. Bởi phong cách ấy, nhiều người đã ví bé như một vị thiền sư đắc đạo.
Search for: 

Bài Mới Đăng

Advertisements
Categories: Tài-liệu Tu-Học | Leave a comment

Ðức Huỳnh Giáo Chủ TINH-THẦN PGHH BẤT-DiệT

Ðức Huỳnh Giáo Chủ TINH-THẦN PGHH BẤT-DiệT

Ðức Huỳnh Giáo Chủ TINH-THẦN

PGHH BẤT-DiệT

Ðức Huỳnh Giáo Chủ
Vương Kim

 

 

Ðức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,

 

Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.

 

Giáo truyền đạo Thích dìu sanh chúng,

 

Chủ ý chọn người vẹn Tứ ân.

 

 

(Hình Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)

 

Phần I:

 

HÀNH TRẠNG

 

 

Thiên thứ nhứt

 

Giai đoạn ra đời mở đạo

 

 

Chương I: Bối cảnh xã hội

 

Chương II:Thân thế

 

Chương III: Ra Tế độ

 

Chương IV: Đăng Sơn

 

Chương V: Sứ Mạng

 

Chương VI: Lưu Cư

 

Chương VII: Vận Ðộng Ðộc Lập

 

Chương VIII: Tổ Chức Hàng Ngũ

 

Chương IX: Chuẩn Bị Ðấu Tranh

 

 

Thiên thứ hai

 

Giai đoạn hoạt động đấu tranh

 

 

Chương X: Dấn Thân

 

 

Thiên thứ ba

 

Giai Ðoạn Vắng Mặt

 

 

Chương XI: Lý Do Thọ Nạn

 

Chương XII: Còn Hay Mất

 

 

Phần II:

 

SỰ NGHIỆP

 

 

Thiên thứ tư

 

Sự Nghiệp Về Mặt Ðạo

 

Tôn Phái Phật Giáo Hòa Hảo

 

 

Chương XIII: Học Phật

 

Chương XIV: Tu Nhân

 

 

Thiên thứ năm

 

Sự Nghiệp Về Mặt Ðời:

 

Công nghiệp cách mạng

 

 

Chương XV: Quân Sự.

 

Bộ Ðội Nguyễn Trung Trực

 

 

Chương XVI: Chánh Trị

 

Việt Nam Dân Chủ Xã Hội đảng

 

Cùng một tác giả:

 Long Hoa xuất bản

–         Tận Thế và Hội Long Hoa (1952)

–         Đức Phật Thầy Tây An (1953) (hiệp với Đào Hưng)

–         Để Hiểu Phật Giáo Hòa Hảo (1954) (hiệp với Thanh Sĩ)

–         Ðời Hạ Ngươn (1960)

–         Đời người dướI ánh sáng Đạo Phật (1960)

–         Bửu Sơn Kỳ Hương (1966)

–         Hành sử Đạo Nhân (1970)

–         Tu Hiền (1972)

–         Đời Thượng Ngươn (1973)

–         Pháp Môn Tịnh Độ (1973)

–         Tại Sao Ta Phải Tu (1974)

Dân Xã Tùng Thư

–         Chánh trị thường thức (1956)

–         Tinh thần cán bộ (1971)

–         Lập trường Dân Xã Đảng (1971)

MUC LUC | CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | |CHƯƠNG 7 | | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | | CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 |

CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|

[TV. PGHH]

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Tàu ngầm Việt chờ vươn khơi

THỜI SỰThứ ba, 11/02/2014 22:25

Tàu ngầm Việt chờ vươn khơi

Ít ai có thể ngờ dự án chế tạo tàu ngầm của ông Nguyễn Quốc Hòa, Giám đốc Công ty Cơ khí Quốc Hòa (TP Thái Bình), lại đạt kết quả bước đầu ngoài mong đợi.

Tới đây, tàu ngầm mang tên Trường Sa 1 do Công ty Cơ khí Quốc Hòa chế tạo sẽ được đưa ra biển Hải Phòng hoặc Thái Bình thử nghiệm. Tác giả thiết kế, chế tạo tàu ngầm này, ông Nguyễn Quốc Hòa, cho biết nếu thành công, sau Trường Sa 1 sẽ là Thái Bình 1 và nhiều tàu ngầm khác mang thương hiệu Việt Nam ra đời.

Từ ý tưởng “gàn dở”

Phải đợi từ sáng đến chiều tối, chúng tôi mới gặp được vị giám đốc có ý tưởng thực hiện dự án mà nhiều người cho rằng hết sức “gàn dở” này. Ông bận tiếp đoàn chuyên gia của Bộ Quốc phòng đến tham quan, khảo sát về chiếc tàu ngầm Trường Sa 1.

Ông Nguyễn Quốc Hòa, người thiết kế, chế tạo tàu ngầm Trường Sa 1
Ông Nguyễn Quốc Hòa, người thiết kế, chế tạo tàu ngầm Trường Sa 1

Theo ông Hòa, tại buổi tiếp, các chuyên gia đưa ra hàng loạt câu hỏi hóc búa về cân bằng động, cân bằng tĩnh, thiết bị quan sát, liên lạc, đặc biệt là công nghệ không khí tuần hoàn độc lập hay vì sao lại sử dụng chân vịt 3 cánh… Tuy nhiên, sau khi được “mục sở thị” Trường Sa 1 và nghe ông Hòa giải trình, nhiều người trong đoàn tin tưởng dự án sẽ thành công.

“Không có thiết kế tổng thể mà qua nghiên cứu tài liệu, hình dung đến đâu làm đến đó, tôi vừa làm vừa mò mẫm. Qua thử nghiệm, không ít lần động cơ tàu bị trục trặc, thậm chí nổ nhưng tôi vẫn không chùn bước” – ông Hòa kể lại.

Ý tưởng của ông Hòa xuất phát từ việc nước ta phải bỏ ra nhiều triệu USD để mua tàu ngầm kilo. Ông trăn trở rằng láng giềng là Trung Quốc cũng chế tạo được tàu ngầm, tại sao người Việt lại không làm được? Vốn là kỹ sư hóa học của Trường ĐH Bách khoa Hà Nội, kỹ sư cơ khí chuyên ngành khuôn mẫu của Đức, ông quyết định tìm hiểu về chế tạo tàu ngầm. Chỉ việc suốt ngày “cắm mặt” vào máy tính tìm tài liệu chế tạo tàu ngầm của Nga, Mỹ, Đức…, ông phải mất hơn 3 tháng.

“Khi đóng tàu ngầm mới là ý tưởng, vợ con và bạn bè đều ngăn cản tôi vì họ cho rằng tàu ngầm là thứ gì đó rất kinh khủng, không thể làm được. Nhiều người còn mỉa mai: Giám đốc một xưởng cơ khí địa phương nhưng lại có ý tưởng hoang đường” – ông Hòa nhớ lại.

Những kỹ sư và thợ cơ khí trong công ty được ông Hòa yêu cầu tham gia dự án cũng cho rằng đây là việc làm không tưởng. Anh Hoàng Văn Hiệp nhớ lại: “Lúc đầu, nghe chế tạo tàu ngầm, anh em đều sửng sốt và nghĩ giám đốc nói đùa. Tuy nhiên, sau khi được thuyết phục, bắt tay vào việc, tất cả lại quyết tâm và tin sẽ thành công”.

Sau hơn 4 tháng mệt mài, ông Hòa cùng 6 kỹ sư và 40 công nhân cơ khí đã hình thành vỏ tàu. Sau đó, việc lắp đặt các thiết bị trong tàu như bảng điều khiển, hệ thống điện, các loại trục, hệ thống tuần hoàn khí, máy nổ, hệ thống điện tử, thiết bị cảm biến, kính tiềm vọng… cũng dần được hoàn thiện.

Nhận được nhiều ủng hộ

Đến giữa tháng 1/2014, đợt thử nghiệm đầu tiên đã thành công ngoài mong đợi. Trong bể nước, con tàu đã có thể lặn, nổi được theo ý của người thiết kế. Đặc biệt, khi lặn, hệ thống không khí tuần hoàn độc lập (AIP) hoạt động hiệu quả, không xảy ra trục trặc mà còn giúp duy trì sự sống cho con người.

Các thông số kỹ thuật đều đạt yêu cầu như sự cân bằng của tàu khi nổi trên mặt nước, hoạt động của động cơ và hệ thống tuần hoàn khí trong điều kiện lặn dưới nước, độ kín của nắp tàu… Trong đợt thử nghiệm này, ông Hòa nhiều lần vào trong con tàu điều khiển việc lặn, nổi vì “có gì thì mình tôi chịu”. “Lúc đầu, gặp rất nhiều khó khăn, chẳng những không nhụt chí mà tôi còn tin chắc sẽ thành công” – ông kể.

Theo ông Hòa, nhiều người Việt Nam không tin vào khả năng của mình, lúc nào cũng sợ thất bại, mất của, mất uy tín. Thực ra, chế tạo tàu ngầm còn dễ hơn sản xuất các máy móc, thiết bị tinh xảo mà công ty của ông nhận làm từ các đối tác nước ngoài. “Chưa thể nói dự án sẽ thành công hay không nhưng hy vọng từ việc chế tạo tàu ngầm Trường Sa 1, sẽ có nhiều người Việt Nam vượt qua các rào cản để thực hiện những dự án khác to lớn hơn” – ông tâm sự.

Ông Hòa khẳng định: “Giai đoạn 1 của dự án đã thành công nhưng tôi sẵn sàng hợp tác với bất cứ ai để hoàn thành”. Theo ông, ngoài Bộ Quốc phòng rất quan tâm đến dự án, Hải quân Việt Nam cũng sẵn sàng giúp đỡ trong việc thử nghiệm tàu ngầm Trường Sa 1. Nhiều khả năng trong giai đoạn 2, sau khi hoàn chỉnh, Trường Sa 1 sẽ được lực lượng hải quân trợ giúp đưa ra biển chạy thử.

Có thể nằm im dưới biển trong 15 giờ

Tàu ngầm Trường Sa 1 dài 8,8 m, cao 3 m, nơi phình to nhất 2,8 m, lượng choán nước 12 tấn khi lặn và 9 tấn khi nổi. Tàu có thể lặn sâu 50 m, có khả năng di chuyển hoặc nằm im dưới đáy biển đến 15 giờ và có thể hoạt động 15 ngày liên tục trong bán kính 800 km, vận tốc có thể đạt khoảng 40 km/giờ.

Tàu Trường Sa 1 có 4 hệ thống chính là động lực, điện, dẫn đường và bảo đảm sự sống. Mỗi lần hoạt động, tàu cần 1 tấn dầu DO để chạy cùng lúc 2 máy nổ diesel. Về nguyên lý hoạt động của hệ thống AIP, ông Hòa giải thích: “Động cơ nổ phải có không khí. Với công nghệ AIP, không khí do động cơ xả ra sẽ qua bộ lọc để loại tạp chất, đưa vào làm sạch, bơm thêm ôxy rồi đưa trở lại máy nổ, bắt đầu một vòng tuần hoàn mới”. Theo ông, khi lặn, tàu Trường Sa 1 có hệ thống tái tạo ôxy, khử carbon để người bên trong hô hấp.

 

AloBacsi.vn
Theo Người lao động
Categories: Tin Trong Nước | Leave a comment

Về cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung

THỜI SỰThứ ba, 11/02/2014 19:07

Về cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung tháng

2/1979: Cần được xem như chiến thắng chống ngoại

xâm

Những cắc cớ trong quan hệ lịch sử giữa các quốc gia phải xem như những cái hố, hay vết hằn lịch sử. Cách xử lý một cách đàng hoàng là không được phép lấp nó đi.

“Nếu thực tình muốn hướng tới tương lai, ta cần bắc cầu đi qua hố ngăn cách đó. Đường đi vẫn thênh thang trên cây cầu đàng hoàng, nhưng ta vẫn nhìn thấy cái hố đúng như nó có, không to hơn, không hẹp hơn” – Giáo sư Vũ Minh Giang – Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội – nhận định với báo Lao Động về cuộc chiến biên giới năm 1979.

Duy nhất Trung Quốc nói Việt Nam nổ súng tấn công

– Hội Khoa học lịch sử Việt Nam – mà ông là thành viên – dự kiến sẽ có một lễ tưởng niệm sự kiện chiến tranh biên giới ngày 17.2.1979. Ông có thể cho biết chi tiết?

– Lễ tưởng niệm dự kiến sẽ được tổ chức gắn với một hội thảo khoa học về đề tài này. Sự kiện này chúng ta chưa tổ chức bao giờ, nên đây sẽ là lần đầu tiên. Vì vậy, chúng tôi dự kiến không trọng quy mô, mà trọng chiều sâu, nêu đúng bản chất của vấn đề. Chủ trương của Hội Sử học là dứt khoát phải thể hiện quan điểm.

Phải trả lại vị trí cho những anh hùng đã hy sinh. Chúng tôi đã tiếp cận với rất nhiều bậc lão thành cách mạng, họ rất khắc khoải về cuộc chiến biên giới 1979.

Ban Bí thư cũng đã quyết định biên soạn bộ lịch sử Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh – mà chúng tôi gọi là bộ Quốc sử, tập trung những nhà sử học hàng đầu của Việt Nam. Một trong những nguyên tắc là không được bỏ qua các sự kiện lịch sử hàng đầu, trong đó có cuộc chiến biên giới 17.2.1979.

Tới đây, các sự kiện như Hoàng Sa, Trường Sa bị đánh chiếm, hay việc Trung Quốc đưa quân đánh Việt Nam năm 1979 cũng sẽ được đưa vào sách giáo khoa lịch sử. Nếu chúng ta không nói gì sẽ là mảnh đất màu mỡ cho xuyên tạc.

– Từ góc độ một nhà sử học, Giáo sư đánh giá như thế nào về cuộc chiến biên giới Việt-Trung?

– Sự kiện 1979 cũng có những nguyên nhân khách quan, chủ quan, nhưng nằm trong chuỗi của lịch sử, vào thời kỳ Trung Quốc muốn thể hiện mình có một vị thế nào đó ở Châu Á, hay bộc lộ một chính sách quan hệ quốc tế của họ. Sự kiện 17.2.1979, khi Trung Quốc đưa tới 600.000-700.000 quân tấn công trên toàn tuyến biên giới của Việt Nam, không thể diễn giải khác đi được, ngoài việc đây là cuộc chiến tranh xâm lược hay cuộc tấn công vào Việt Nam.

Trên thực tế, quân và dân ta đã đứng dậy, anh dũng đánh bật đạo quân xâm lược ra khỏi bờ cõi. Vì vậy, sự kiện 35 năm nhìn lại cuộc chiến biên giới, có lẽ cần phải được đối xử công bằng và trang trọng như một chiến thắng chống ngoại xâm trong lịch sử.

Tuy nhiên, cũng tiếp nối truyền thống cha ông, chúng ta hiểu Trung Quốc luôn có kiểu ứng xử của một nước lớn với các nước lân bang, trong đó có Việt Nam. Bài toán đặt ra là chúng ta phải thể hiện bản lĩnh của dân tộc Việt, phải để nhân dân thấy được đất nước ghi nhớ, trân trọng chiến công của những người đã ngã xuống, nhưng cũng không làm tổn hại, ảnh hưởng đến quan hệ hai nước.

Những cắc cớ trong quan hệ lịch sử giữa các quốc gia phải xem như những cái hố, hay vết hằn lịch sử. Nếu cứ giấu giếm, hay bảo rằng không có, thì đó là cách che giấu lịch sử. Điều này không chỉ không được phép, mà còn có tội với các liệt sĩ, những người đã đổ xương máu bảo vệ đất nước. Nhưng một thái độ khác, bới sâu nó ra để gây hận thù lại là xuyên tạc lịch sử. Tội này cũng không kém việc che giấu lịch sử.

Không phải khi nào “sự nhịn” cũng là “sự lành”

– Như Giáo sư nói, chúng ta cần trả lại sự thật cho lịch sử. Nhưng cho đến nay, Trung Quốc vẫn tuyên truyền rằng đây là cuộc chiến do Việt Nam nổ súng trước. Vậy “cây cầu” này cần phải bắc sao đây?

– Việc Trung Quốc nói rằng chỉ “đối phó” cuộc tấn công của Việt Nam thì liệu ai tin được, khi chỉ trong 1 giờ, họ đưa 600.000-700.000 quân ào ào đánh bật các chốt biên giới của Việt Nam, tiến sâu vào đất liền. Nếu không phải tinh thần chiến đấu quật cường của dân tộc Việt Nam, không biết cuộc chiến đó sẽ đi đến đâu.

Đó, không gì khác hơn, là cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc, được chuẩn bị rất kỹ lưỡng. Còn chính Việt Nam mới bị động. Nếu là Việt Nam gây hấn, vì sao Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam khi đó lại đang đi thăm Lào? Nếu chuẩn bị cho chiến tranh, ai lại làm thế?

Về vấn đề này, chỉ có duy nhất Trung Quốc nói vậy, còn thế giới thì không. Chẳng nhẽ, tất cả thế giới sai, chỉ một mình Trung Quốc đúng? Thế giới đều nói đây là cuộc chiến tranh xâm lược, ở các mức độ khác nhau. Bởi người Việt Nam lúc đó, không có gì mong muốn hơn là một cuộc sống hòa bình, với những khó khăn sau một cuộc chiến tranh dài chồng chất, thiếu thốn lương thực và giải quyết bài toán nội bộ…

Việt Nam không có quyền lợi gì trong việc gây hấn với Trung Quốc

Chìa khóa ở đây là ta cần phải nói sự thật và chỉ sự thật mà thôi. Muốn vậy, ta phải có những nghiên cứu. Có một thời gian dài, đây là vấn đề ta cho là nhạy cảm trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, cho nên hầu như không được giới nghiên cứu lịch sử dân sự tiến hành nghiên cứu.

Chúng ta cần quốc tế hóa việc nghiên cứu này. Không thể chỉ là Trung Quốc đơn phương nói thế này, Việt Nam đơn phương nói thế khác. Tôi biết nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài đã có những tìm hiểu, đào sâu tư liệu về cuộc chiến tranh biên giới này. Chúng ta cần liên kết lại. Còn cứ nói lấy được thì không nên.

– Thưa Giáo sư, việc Việt Nam im lặng, trong lúc Trung Quốc chỉ trích Việt Nam tấn công đã gây tổn thương quan hệ giữa hai bên, khi người dân Trung Quốc hiểu lầm về bản chất cuộc chiến, còn dư luận Việt Nam thì như đã nói ở trên. Theo ông, bài học nào cần rút ra?

– Tại diễn đàn Shangri La vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đưa ra thông điệp về lòng tin chiến lược. Đó là một ý tưởng lớn và hay. Nếu Trung Quốc thực tâm, cùng Việt Nam tìm hiểu bản chất sự thật thì sẽ gây dựng được lòng tin. Song nếu cứ “tôi đúng, anh sai” thì lòng tin khó gây dựng lắm.

Cần phải hiểu rằng không phải cứ im lặng là tốt. Vì Trung Quốc sẽ sử dụng điều đó như một chứng cứ rằng “Sai rồi, nên có dám nói gì đâu”. Tôi cho rằng, sự nhịn đến không dám nói gì không phải là cách xử lý hay với Trung Quốc. Không vì thế mà họ tử tế hơn.

Điều quan trọng là ta phải có cách xử lý đĩnh đạc, đàng hoàng của một quốc gia có chủ quyền.

Một lễ kỷ niệm xứng đáng cuộc chiến biên giới 1979 sẽ thể hiện sự trân trọng với những chiến sĩ đã hy sinh, trân trọng lịch sử. Đó chính là mong mỏi của dân.

– Xin cảm ơn Giáo sư!

Việc Trung Quốc nói rằng chỉ “đối phó” cuộc tấn công của Việt Nam thì liệu ai tin được, khi chỉ trong 1 giờ, họ đưa 600.000 – 700.000 quân ào ào đánh bật các chốt biên giới của Việt Nam, tiến sâu vào đất liền. Nếu không phải tinh thần chiến đấu quật cường của dân tộc Việt Nam, không biết cuộc chiến đó sẽ đi đến đâu. Đó, không gì khác hơn là cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc, được chuẩn bị rất kỹ lưỡng.

AloBacsi.vn
Theo Tô Phương Thuỷ – Lao Động
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Việt Nam là đất nước rất hạnh phúc

TUANVIETNAM ››
06/02/2014 15:11 GMT+7
TUANVIETNAM ››
06/02/2014 15:11 GMT+7

Việt Nam là đất nước rất hạnh phúc

 

Nếu ai đó hỏi tôi về Việt Nam, tôi sẽ nói: “Việt Nam là một đất nước rất hạnh phúc, từng con người luôn lạc quan, vui vẻ, không phải lo lắng bất cứ điều gì xung quanh. Đặc biệt, họ luôn tin vào ngày mai, tin rằng ngày mai sẽ tốt hơn ngày hôm qua”.

Tôi đến Việt Nam cách đây 4 năm và ghi nhận đầu tiên về đất nước này là sự năng động, nhiều người trẻ và mối quan hệ giữa con người với nhau được coi trọng, mọi người luôn tìm cách để thân thiện, lúc nào cũng vui vẻ, cười đùa thoải mái.

Ngay cả ở công ty, buổi trưa, các bạn cùng mang cơm đến ăn tại bàn, nói chuyện rôm rả, tuy hơi ồn ào nhưng rất vui. Khi tôi kể chuyện này với bạn bè ở Nhật, họ rất ngạc nhiên, vì ở Nhật không có không khí này.

Về khía cạnh gia đình, Việt Nam bây giờ cũng vẫn còn thế hệ cháu sống với ông bà, hoặc cả ba thế hệ cùng sống trong một căn nhà. Điều này ở Nhật Bản không còn nữa nên tôi thấy rất đáng quý.

hạnh phúc, lạc quan, Việt Nam

Độ xây dựng và đô thị hóa cũng thay đổi nhanh, các tòa nhà, nhà hàng sang trọng mọc lên khắp nơi, đầu tư nước ngoài cũng tăng trưởng mạnh và luật pháp cũng kịp ra đời để cập nhật những thay đổi này.

Tuy nhiên, 4 năm qua, tuy kinh tế Việt Nam phát triển khả quan nhưng vẫn chưa tạo được sự đồng bộ, các thủ tục hành chính, cách làm việc của các cơ quan hành chính vẫn chưa thay đổi, và so với các nước khác thì còn lạc hậu.

Mặt khác, tuy số đông người dân đều dùng các thiết bị công nghệ, điện thoại, máy tính, tivi hiện đại, có thể nói tương đương, thậm chí cao hơn cả mức tiêu dùng của người Nhật, nhưng đường sá, điện, nước, giáo dục, dịch vụ y tế còn yếu, chưa đảm bảo điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm đầu tư.

Để khắc phục điều này, Chính phủ cần lắng nghe ý kiến của những doanh nghiệp (DN) đi trước xem họ đang cần gì và đang gặp khó khăn gì để hỗ trợ kịp thời, giúp nhà đầu tư đến sau an tâm hơn.

Chẳng hạn, một trong những khó khăn chúng tôi gặp phải là sự thay đổi về luật pháp ở Việt Nam thường quá đột ngột, khi chúng tôi biết thì đã có hiệu lực nên chỉ còn cách phải cố gắng thay đổi để tuân thủ đúng luật pháp.

Với quyết định làm ăn lâu dài tại Việt Nam, Sapporo không chỉ xây nhà máy tại đây vào năm 2011 mà còn là một trong những DN tiên phong trong vấn đề bảo vệ môi trường. Nhà máy Sapporo có hệ thống xử lý tương đương tiêu chuẩn Nhật Bản và được tỉnh Long An xem là nhà máy kiểu mẫu điển hình về hệ thống xử lý nước thải.

Ngoài ra, chúng tôi cũng tích cực triển khai chương trình học bổng cho sinh viên xuất sắc các trường đại học, vì luôn xem giáo dục thế hệ trẻ là nền tảng quan trọng nhất của một quốc gia muốn phát triển.

Các DN Việt Nam hiện nay phát triển rất nhanh chóng, và theo kinh nghiệm của chúng tôi, các DN muốn thành công thì nên có tầm nhìn dài hạn, ít nhất cho 10 năm sau.

Ở Nhật có khái niệm “tuyển dụng cả đời”, nghĩa là khi tuyển dụng nhân viên, DN Nhật Bản luôn phải có chiến lược dài hạn để đảm bảo cuộc sống cả đời cho người lao động, vì vậy, họ luôn nhìn rất xa.

Chính vì phát triển lâu dài nên dù nền kinh tế thuận lợi hay khó khăn, họ vẫn cố duy trì phát triển. Hơn nữa, khi DN xác định phát triển dài hạn như vậy thì chính phủ, các ban, ngành khác cũng phải có chính sách dài hạn hơn.

Một yếu tố quan trọng giúp các DN Nhật Bản thành công là vấn đề quản trị. Ở Nhật, các DN thường quản trị theo phương pháp 50 – 50. Chẳng hạn, ở Sapporo, chúng tôi thực hiện quản trị 50% top-down, 50% bottom-up.

Tức là song song với chỉ thị của cấp trên, nhân viên cấp dưới luôn là người đưa ra ý kiến đề xuất cải tiến hoặc thay đổi. Cách quản trị này giúp nhân viên cấp dưới người Việt phát huy sự nhạy bén, khuyến khích họ đưa ra ý tưởng mới.

Nói đến Tết ở Việt Nam, tôi thấy giống như những cái Tết tôi đã trải qua ở Nhật Bản 40 năm trước. Vào dịp Tết , mọi người cũng rất hân hoan, dọn dẹp, trang hoàng nhà cửa, và có nhiều dự định tốt đẹp trong tương lai.

Ở Nhật Bản, những phong tục này đã mai một ít nhiều, nên đón Tết ở Việt Nam khiến tôi rất bồi hồi và có cảm giác như ở quê hương mình. Nếu ai đó hỏi tôi về Việt Nam, tôi sẽ nói: “Việt Nam là một đất nước rất hạnh phúc, từng con người luôn lạc quan, vui vẻ, không phải lo lắng bất cứ điều gì xung quanh. Đặc biệt, họ luôn tin vào ngày mai, tin rằng ngày mai sẽ tốt hơn ngày hôm qua”.

HIROFUMIKISHI – Tổng giám đốc công ty TNHH Sapporo Việt Nam/ Theo Doanh nhân SG

 

Nếu ai đó hỏi tôi về Việt Nam, tôi sẽ nói: “Việt Nam là một đất nước rất hạnh phúc, từng con người luôn lạc quan, vui vẻ, không phải lo lắng bất cứ điều gì xung quanh. Đặc biệt, họ luôn tin vào ngày mai, tin rằng ngày mai sẽ tốt hơn ngày hôm qua”.

Tôi đến Việt Nam cách đây 4 năm và ghi nhận đầu tiên về đất nước này là sự năng động, nhiều người trẻ và mối quan hệ giữa con người với nhau được coi trọng, mọi người luôn tìm cách để thân thiện, lúc nào cũng vui vẻ, cười đùa thoải mái.

Ngay cả ở công ty, buổi trưa, các bạn cùng mang cơm đến ăn tại bàn, nói chuyện rôm rả, tuy hơi ồn ào nhưng rất vui. Khi tôi kể chuyện này với bạn bè ở Nhật, họ rất ngạc nhiên, vì ở Nhật không có không khí này.

Về khía cạnh gia đình, Việt Nam bây giờ cũng vẫn còn thế hệ cháu sống với ông bà, hoặc cả ba thế hệ cùng sống trong một căn nhà. Điều này ở Nhật Bản không còn nữa nên tôi thấy rất đáng quý.

hạnh phúc, lạc quan, Việt Nam

Độ xây dựng và đô thị hóa cũng thay đổi nhanh, các tòa nhà, nhà hàng sang trọng mọc lên khắp nơi, đầu tư nước ngoài cũng tăng trưởng mạnh và luật pháp cũng kịp ra đời để cập nhật những thay đổi này.

Tuy nhiên, 4 năm qua, tuy kinh tế Việt Nam phát triển khả quan nhưng vẫn chưa tạo được sự đồng bộ, các thủ tục hành chính, cách làm việc của các cơ quan hành chính vẫn chưa thay đổi, và so với các nước khác thì còn lạc hậu.

Mặt khác, tuy số đông người dân đều dùng các thiết bị công nghệ, điện thoại, máy tính, tivi hiện đại, có thể nói tương đương, thậm chí cao hơn cả mức tiêu dùng của người Nhật, nhưng đường sá, điện, nước, giáo dục, dịch vụ y tế còn yếu, chưa đảm bảo điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm đầu tư.

Để khắc phục điều này, Chính phủ cần lắng nghe ý kiến của những doanh nghiệp (DN) đi trước xem họ đang cần gì và đang gặp khó khăn gì để hỗ trợ kịp thời, giúp nhà đầu tư đến sau an tâm hơn.

Chẳng hạn, một trong những khó khăn chúng tôi gặp phải là sự thay đổi về luật pháp ở Việt Nam thường quá đột ngột, khi chúng tôi biết thì đã có hiệu lực nên chỉ còn cách phải cố gắng thay đổi để tuân thủ đúng luật pháp.

Với quyết định làm ăn lâu dài tại Việt Nam, Sapporo không chỉ xây nhà máy tại đây vào năm 2011 mà còn là một trong những DN tiên phong trong vấn đề bảo vệ môi trường. Nhà máy Sapporo có hệ thống xử lý tương đương tiêu chuẩn Nhật Bản và được tỉnh Long An xem là nhà máy kiểu mẫu điển hình về hệ thống xử lý nước thải.

Ngoài ra, chúng tôi cũng tích cực triển khai chương trình học bổng cho sinh viên xuất sắc các trường đại học, vì luôn xem giáo dục thế hệ trẻ là nền tảng quan trọng nhất của một quốc gia muốn phát triển.

Các DN Việt Nam hiện nay phát triển rất nhanh chóng, và theo kinh nghiệm của chúng tôi, các DN muốn thành công thì nên có tầm nhìn dài hạn, ít nhất cho 10 năm sau.

Ở Nhật có khái niệm “tuyển dụng cả đời”, nghĩa là khi tuyển dụng nhân viên, DN Nhật Bản luôn phải có chiến lược dài hạn để đảm bảo cuộc sống cả đời cho người lao động, vì vậy, họ luôn nhìn rất xa.

Chính vì phát triển lâu dài nên dù nền kinh tế thuận lợi hay khó khăn, họ vẫn cố duy trì phát triển. Hơn nữa, khi DN xác định phát triển dài hạn như vậy thì chính phủ, các ban, ngành khác cũng phải có chính sách dài hạn hơn.

Một yếu tố quan trọng giúp các DN Nhật Bản thành công là vấn đề quản trị. Ở Nhật, các DN thường quản trị theo phương pháp 50 – 50. Chẳng hạn, ở Sapporo, chúng tôi thực hiện quản trị 50% top-down, 50% bottom-up.

Tức là song song với chỉ thị của cấp trên, nhân viên cấp dưới luôn là người đưa ra ý kiến đề xuất cải tiến hoặc thay đổi. Cách quản trị này giúp nhân viên cấp dưới người Việt phát huy sự nhạy bén, khuyến khích họ đưa ra ý tưởng mới.

Nói đến Tết ở Việt Nam, tôi thấy giống như những cái Tết tôi đã trải qua ở Nhật Bản 40 năm trước. Vào dịp Tết , mọi người cũng rất hân hoan, dọn dẹp, trang hoàng nhà cửa, và có nhiều dự định tốt đẹp trong tương lai.

Ở Nhật Bản, những phong tục này đã mai một ít nhiều, nên đón Tết ở Việt Nam khiến tôi rất bồi hồi và có cảm giác như ở quê hương mình. Nếu ai đó hỏi tôi về Việt Nam, tôi sẽ nói: “Việt Nam là một đất nước rất hạnh phúc, từng con người luôn lạc quan, vui vẻ, không phải lo lắng bất cứ điều gì xung quanh. Đặc biệt, họ luôn tin vào ngày mai, tin rằng ngày mai sẽ tốt hơn ngày hôm qua”.

HIROFUMIKISHI – Tổng giám đốc công ty TNHH Sapporo Việt Nam/ Theo Doanh nhân SG

Categories: Tin Trong Nước | Leave a comment

“Trò chơi” giữa Việt Nam-Trung Quốc trong gỡ bỏ cấm vận

“Trò chơi” giữa Việt Nam-Trung Quốc trong gỡ bỏ cấm vận

“Có nhiều lần một thành viên của phái đoàn trả lời câu hỏi của tôi như là “Thưa Ông Sauvageot, chúng tôi rất quan tâm đến tình hình nhân quyền tại Việt Nam, nên có lẽ chưa gỡ bỏ cấm vận được.”  Họ vô tình đã tạo cơ hội cho tôi giải thích cho họ rằng tình hình nhân quyền tại Việt Nam luôn tốt hơn Trung Quốc về rất nhiều mặt”

Bài 1: Món quà Tết của Tổng thống Bill Clinton

Bài 2: Việt Nam bỏ lỡ một cơ hội cải cách

LTS: Trong số những người ủng hộ việc gỡ bỏ cấm vận có Đại tá về hưu Andre Sauvageot. Ông là người sau chục năm làm phiên dịch cho các Trưởng đoàn Mỹ vào VN để thảo luận hợp tác về MIA/POW, một trong những tiền đề quan trọng để gỡ bỏ cấm vận, cuối năm 1992 đã trở thành Trưởng Đại diện của Công ty General Electric tại Việt Nam. Andre Sauvageot chia sẻ những khó khăn trong quá trình vận động bỏ cấm vận.

Việt Nam, Trung Quốc, cấm vận, phát triển, nhân quyền
Cửa hàng mậu dịch quốc doanh, hình ảnh quen thuộc một thời ở Việt Nam thời kỳ bị cấm vận kinh tế. Ảnh tư liệu

Vì sao Mỹ kéo dài cấm vận Việt Nam?

Ông có thể cho biết những thế lực nào tại Mỹ cản trở việc gỡ bỏ cấm vận?

Sau khi Liên Xô tan rã cuối năm 1991, và không còn cái gọi là “chiến tranh lạnh” giữa hai siêu cường, Mỹ không có lý do gì về chiến lược để cấm vận Việt Nam. Tuy nhiên, sau khi mất “lý do” chiến lược, Mỹ vẫn tiếp tục cấm vận Việt Nam vì nhiều nguyên nhân.  Ví dụ:

(a) Sau nhiều năm chiến đấu trên chiến trường Việt Nam, nhiều người dân Mỹ cùng công chức trong Chính phủ, có ác cảm đối với Việt Nam, mặc dù chiến tranh do chính Mỹ gây ra! Vì thường dân Mỹ lúc bấy giờ tự coi nước mình có chính nghĩa để giới hạn sự mở rộng của các nước cộng sản nói chung, và các đồng minh của Liên Xô (cũ) nói riêng.

Thêm vào đó, nhiều người Mỹ tin rằng Việt Nam vẫn giữ một số tù binh còn sống, mặc dù nhờ sự hợp tác tích cực của Chính phủ Việt Nam, Chính phủ Mỹ hiểu dần dần rằng Việt Nam đã giao lại tất cả tù binh, cũng như rất tích cực giúp kiểm điểm quân nhân Mỹ đã bị mất tích.

Cũng có một lý do nữa về tâm lý là Mỹ đã thua trong cuộc chiến tranh Việt Nam!  Một cường quốc đã chiến thắng 3 nước phát xít, Đức, Ý, Nhật, trong đại chiến thứ 2, làm sao thua tại Việt Nam?  Câu hỏi đó chạm lòng tự ái của nhiều người, trong suốt nhiều năm.

(b) Liên minh các gia đình (League of families) có quân nhân bị mất tích trong chiến tranh Mỹ tại Việt Nam đã tin rằng nếu nhanh chóng mở rộng quan hệ với Việt Nam, Mỹ sẽ mất khả năng gây áp lực để khuyến khích Việt Nam hợp tác.

Tôi nhớ nhiều lần mà tôi ra Hà Nội để phiên dịch cho các Trưởng đoàn Mỹ thăm Việt Nam để thảo luận vấn đề tìm kiếm di hài của quân nhân Mỹ bị mất tích, như Ông Richard Armitage, Trợ lý Bộ trưởng, Bộ Quốc phòng Mỹ, về quốc tế sự vụ trong lĩnh vực an ninh, Cựu Đại tướng John Vessey, Đặc phái viên của hai Tổng Thống là Reagan và Bush (bố), và Thượng Nghị sĩ John Kerry, Chủ tịch của Liên Minh các gia đình được phép đi theo, và tham dự tất cả các cuộc thảo luận.

(c) Tuy nhiên, trong nhiệm kỳ 4 năm của cựu Tổng Thống Bush (1989-1992) cũng có nhiều chính trị gia và tổ chức tại Mỹ bắt đầu nghĩ nên bỏ cấm vận.  Chính cựu Tổng Thống Bush, hồi tháng 4, năm 1992, mặc dù không bỏ cấm vận, đã sửa đổi chính sách một phần như sau: (1) cho phép cho các công ty Mỹ thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam; (2) Bỏ cấm vận cho 4 thứ sản phẩm là thiết bị y tế, thiết bị nông nghiệp, nhu yếu phẩm và dược phẩm.

Tiếp theo có tổng tuyển cử giữa Tổng Thống đương kim (Bush) và ứng cử viên Bill Clinton, Đảng Dân Chủ, được trúng cử.  Tôi đã có ấn tượng rằng nếu Tổng Thống Bush đã trúng cử, cho nhiệm kỳ thứ 2, ông Bush có lẽ sẽ bỏ cấm vận ngay trong năm 1993, vì chính ông đã bắt đầu mở rộng quan hệ với Việt Nam thêm một chút.  Hơn nữa về mặt chính trị, Tổng Thống Bush là cựu chiến binh đã chiến đấu trong đại chiến thứ 2, có thể dễ bỏ cấm vận và không trở thành mục tiêu chỉ trích của Đảng đối lập.

Thách thức cho Tổng thống Bill Clinton

 

Việt Nam, Trung Quốc, cấm vận, phát triển, nhân quyền
ÔngAndre Sauvageot

Như vậy, Tổng Thống Clinton có những khó khăn cá nhân nào trong dỡ bỏ cấm vận, nên ông đã không làm được ngay sau trúng cử?

Trái lại với cựu Tổng Thống Bush, việc bỏ lệnh cấm vận là một khó khăn đáng kể cho Tổng Thống Clinton. Vì Đảng Cộng hoà thiên hữu, dễ tố cáo Tổng Thống Clinton là người đã trốn “nghĩa vụ” tham dự chiến tranh “chống cộng sản” tại Việt Nam.

Mặc dù, như chúng ta biết Tổng Thống Clinton vì nhìn xa, trông rộng và đủ can đảm, bỏ lệnh cấm vận ngày 3/2/1994, đúng ngày kỷ niệm thứ 64 Cố Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập Đảng Cộng Sản VN.  Đương nhiên, vì việc này Tổng Thống Clinton bị thành phần cực hữu phê bình nặng nề.

Lực lượng ủng hộ gỡ bỏ cấm vận là những ai? Họ hành động như thế nào để ủng hộ Tổng Thống?

Tổng Thống Clinton được sự hỗ trợ của một số chính trị gia và tổ chức tại Mỹ. Đáng kể là sự hỗ trợ của Thượng Nghị Sĩ John McCain, vừa là người của Đảng Cộng hoà (đối lập đảng Dân Chủ của Clinton) và vừa là cựu chiến binh đã bị bắn rơi trên Miền Bắc, bị bắt và là tù binh trong trại giam Hoả lò, Hà Nội.  Cũng có một số cựu chiến binh khác đáng kể, như Thượng Nghị sĩ John kerry và cá nhân tôi, rất mong bỏ qua quá khứ hướng tới tương lai vì lợi ích của cả hai nước.

Hai TNS Kerry và McCain đã đoàn kết để hỗ trợ Tổng Thống Clinton bò lệnh cấm vận. Ví dụ TNS Kerry với tư cách là Chủ tịch Uỷ ban đặc biệt về lính Mỹ bị mất tích trong chiến tranh tại Việt Nam đã thăm Việt Nam nhiều lần để gặp cấp lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chính phủ Việt Nam.

Cũng có lúc TNS McCain đi theo.  Vì vậy, có lúc tôi là người phiên dịch cho cả hai vị, kể cả một lần lúc thăm Hoả lò, trại giam mà McCain đã là tù binh. Lúc về Mỹ, hai TNS đều báo cáo đúng sự thật về sự hợp tác của Chính phủ và nhân dân Việt Nam để giúp tìm ra các di hài và thông tin về lính Mỹ đã bị mất tích.  Như thế, môi trường chính trị tại Mỹ đã bắt đầu thay đổi.

Thêm vào đó, một số công ty Mỹ bắt đầu thành lập các văn phòng đại diện tại Việt Nam sau sự nới lỏng của Tổng thống Bush vào tháng 4.1992.  Các công ty này, đương nhiên, mong chính phủ Mỹ bỏ cấm vận để có thể mở thị trường, bán sản phẩm của mình tại Việt Nam.

Cũng từ đó, đương nhiên, các công ty, các doanh nghiệp của Mỹ đạt được sự chú ý, sự hỗ trợ của một số hạ nghị sĩ, thượng nghị sĩ mà có thiện chí giúp các công ty trong khu vực của họ, và mở rộng thị trường xuất khẩu cho các công ty trong quận, hay tiểu bang của họ.

Bản thân ông, cả với tư cách người ủng hộ tăng cường mối quan hệ giữa hai nước, vừa là đại diện công ty General Electric đang mong muốn bản sản phẩm ở Việt Nam, đã sử dụng những biện pháp nào để thúc đẩy việc gỡ bỏ cấm vận?

(a) Như đã nói trên, phiên dịch cho TNS Kerry nói riêng, và các phái đoàn của Quốc hội Mỹ thăm Việt Nam nói chung, để giúp họ tìm hiểu thêm sự thật về Việt Nam cùng chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, và thiện chí hợp tác để cải thiện quan hệ Việt-Mỹ, trên cơ sở nguyên tắc hai bên đều cùng có lợi.

(b) Giới thiệu nhiều doanh nhân cao cấp Mỹ cho quan chức Nhà nước Việt Nam để hai bên quen biết nhau, thêm phấn khởi làm ăn với nhau, và sẵn sàng vận động chính phủ Mỹ bỏ cấm vận.

(c) Đặc biệt và hữu ích đối với tôi là nhiều cơ hội gặp các phái đoàn Quốc hội Mỹ lúc họ thăm Việt Nam để tìm hiểu tình hình, và thảo luận với một số doanh nhân Mỹ đã bắt đầu thường trú tại Việt Nam. Vì tôi là Trưởng Đại diện của công ty General Electric (GE), một công ty lớn bao gồm nhiều doanh nghiệp mà có khả năng đóng góp vào hạ tầng cơ sở của Việt Nam như thiết bị năng lượng, động cơ máy bay, máy bay cho thuê, đầu máy xe lửa, tôi thường được mời gặp họ nhằm trao đổi ý kiến, hay phát biểu, nhân danh GE.

Có một điều tế nhị là GE vừa hoanh nghênh cho tôi làm như thế, miễn là không đạt được sự chú ý của báo chí Mỹ. Bởi vì GE thừa biết tại nước Mỹ vẫn có nhiều người dân chưa đồng ý làm kinh doanh với Việt Nam, và việc vận động gỡ bỏ lệnh cấm vận có thể làm mất lòng của một số khách hàng Mỹ, thường mua sản phẩm GE như là tủ lạnh, bóng đèn, thì bất lợi cho GE.  Vì vậy, tôi rút kinh nghiệm luôn luôn hỏi các phái đoàn tham quan, rằng “Thưa quý vị hôm nay có báo chí tham dự không?”

Nếu có, tôi không dám nói nhiều, chỉ một vài câu an toàn như: “Công ty GE chúng tôi rất vui mừng Tổng Thống cho phép thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam, và chúng tôi rất phấn khởi tìm hiểu tiềm năng của thị trường Việt Nam.  Trong quá trình nghiên cứu thì chúng tôi sẽ theo chặt chẽ chính sách của Chính phủ Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.”

Tuy nhiên, lúc không có báo chí, tôi đi thẳng vào việc giải thích đủ các lý do lệnh cấm vận là vô lý, bất lợi cho cả hai nước, như mất cơ hội tạo ra việc làm cho nhân dân lao động tại Mỹ như là tại các phân xưởng chế tạo tua khí, tua bin hơi, tua bin nước, máy phát điện, động cơ máy bay, đầu máy xe lửa…

Trong những cuộc thảo luận, tôi đã hiểu nhiều nghị sĩ Mỹ và các thành viên trong đoàn có nhiều định kiến sai lầm về Việt Nam, xuất phát từ chiến tranh và tuyên truyền của chính phủ Mỹ trong chiến tranh và một phần sau khi chiến tranh chấm dứt. Nên tôi phát triển một biện pháp giúp họ xoá bỏ định kiến sai lầm như sau:

Tôi mở lời phát biểu bằng lời khen cựu Tổng Thống Bush (bố) đã vận động Quốc hội Mỹ mở rộng quan hệ thương mại với Trung Quốc. Sau đó, tôi đạt câu hỏi tại sao không mở quan hệ thương mại với Việt Nam.  Mặc dù thị trường Việt Nam là nhỏ hơn Trung Quốc, thì nguyên tắc đa dạng hoá quan hệ thương mại của Mỹ toàn cầu cũng như thế.

Có nhiều lần một thành viên của phái đoàn trả lời câu hỏi của tôi như là “Thưa Ông Sauvageot, chúng tôi rất quan tâm đến tình hình nhân quyền tại Việt Nam, nên có lẽ chưa gỡ bỏ cấm vận được.”  Họ vô tình đã tạo cơ hội cho tôi giải thích cho họ rằng tình hình nhân quyền tại Việt Nam luôn tốt hơn Trung Quốc về nhiều mặt.

Và như thế là tôi thường áp dụng một kỹ thuật gọi là “game” – tức là đặt một số câu hỏi cho ai đó trong đoàn trả lời. Nếu họ trả lời đúng thì tôi nói đúng, nếu không tôi giải thích cho họ tại sao họ sai.

Ví dụ tôi hỏi các câu hỏi, trong hơn 190 nước trên thế giới, các vấn đề chỉ liên quan tới Trung Quốc và Việt Nam, và khả năng đoán đúng của họ là 50%.

Chẳng hạn, tôi nếu những hiện tượng như “Trăm hoa đua nở”, “Đại Nhảy Vọt”, “Cách mạng Văn hóa”, “Hồng vệ binh”, rồi “Nước nào đã hy sinh xương máu để cứu Căm-pu-chia, lật đổ Khmer Đỏ để người dân Khmer được tự do thoát khỏi ách nô lệ, khủng bố của Khmer Đỏ”…

Rồi với từng trường hợp tôi luôn trả lời “Đúng” hoặc “Sai”, kèm theo lời giải thích cụ thể với các thành viên trong đoàn.

Sau khi đàm thoại với họ, tôi hỏi: Như thế tại sao nước Mỹ lại cấm vận Việt Nam?  Xin quý vị về Mỹ hãy suy nghĩ và vận động các đại biểu khác, cũng như bên hành pháp, bỏ lệnh cấm vận Việt Nam.

Kết quả là nhiều nghị sĩ và thành viên trong đoàn, sau khi về nước, đã viết thư cảm ơn tôi đã mở mắt cho họ về thực tế ở Việt Nam.

Xin cám ơn ông!

Huỳnh Phan (Thực hiện)

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Con đường TPP của VN ‘còn nhiều ổ gà’

Con đường TPP của VN ‘còn nhiều ổ gà’

Cập nhật: 12:16 GMT – thứ ba, 11 tháng 2, 2014
Lãnh đạo VN và Hoa Kỳ cam kết đẩy mạnh đàm phán TPP hồi tháng 7 năm 2013.

Việt Nam tin rằng sẽ có thêm lợi ích từ Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) nhưng trước mắt còn gặp nhiều trở ngại.

Trong bài viết ‘Vietnam and the TPP Traverse Rough Seas Towards Promised Land’ trên trang Bấmwww.vietnam-briefing.com, tác giả Edward Barbour-Lacey cũng nói về những rủi ro khi Hà Nội đặt bút ký TPP.

TPP được xem là thỏa thuận chiếm 40% GDP toàn cầu và chiếm khoảng 30% mậu dịch quốc tế.

TPP cũng được chính quyền Hoa Kỳ xem là cách để Washington củng cố quan hệ với các nước châu Á để đối trọng với ảnh hưởng của Trung Quốc.

Việt Nam tin rằng TPP sẽ tạo điều kiện tiếp cận và đẩy mạnh xuất khẩu tại các thị trường mới, cũng như duy trì các thị trường truyền thống.

Trong những năm qua, 50% đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là từ các nước thành viên TPP.

TPP dự kiến sẽ giúp nhiều ngành tại Việt Nam như may mặc, giày da, đồ gỗ…và khiến các sản phẩm của Việt Nam cạn tranh hơn các sản phẩm của Trung Quốc bởi Trung Quốc không tham gia TPP.

Hơn nữa, TPP sẽ giúp Việt Nam tạo môi trường luật pháp minh bạch hơn trong bối cảnh Hà Nội đang sửa đổi các văn bản liên quan tới đầu tư, luật đất đại và đấu thầu.

‘Hệ quả tiêu cực’

“Khi ta xem các thỏa thuận mậu dịch tự do khác từng có trong lịch sử, có thể biện luận rằng lợi ích kinh tế là nhiều hơn chi phí phát sinh từ các thỏa thuận như TPP”

Tuy nhiên, chặng đường tới hoàn tất đàm phán TPP không dễ dàng.

Tác giả bài viết nhận định điều ông gọi là “TPP có thể có một số hệ quả tiêu cực với Việt Nam.”

“Đặc biệt là việc tăng cạnh tranh mạnh từ các nước có thể làm tê liệt một số khu vực kinh doanh quản ly yếu kém của Việt Nam.

“Ngoài ra, trong một số lĩnh vực Việt Nam có lợi thế như các sản phẩm nông nghiệp thì Việt Nam sẽ không thể tận dụng được việc giảm thuế.

Thậm chí ngay ở Hoa Kỳ TPP không phải được tất cả âu yếm. Hiện có cuộc chiến giữa khu vực có lao động được tổ chức tốt (có nghiệp đoàn) với các công ty đa quốc gia vốn hưởng lợi chủ yếu từ TPP.

“Những người phản đối gọi thỏa thuận này là “lén lút, phi dân chủ” và giết chết việc làm”

“Khi ta xem các thỏa thuận mậu dịch tự do khác từng có trong lịch sử, có thể biện luận rằng lợi ích kinh tế là nhiều hơn chi phí phát sinh từ các thỏa thuận như TPP.

Tác giả, cũng bàn về dự luật nông nghiệp Hoa Kỳ đã tạo ra những điểm gây tranh cãi theo đó có một điều khoảng cho phép Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ triển khai chương trình kiểm tra cá tra của Việt Nam vì lý do an toàn thực phẩm.

Xuất khẩu VN sang Hoa Kỳ 2013

  • Hàng dệt và may mặc (8.61 tỉ USD)
  • Giày da (2.63 tỉ USD)
  • Đồ gỗ (1.98 tỉ USD)
  • Máy tính, đồ điện tử (1.47 tỉ USD)
  • Thủy sản (1.46 tỉ USD)
  • Máy móc, công cụ, phụ kiện (1.01 tỉ USD)

 

Tuy nhiên ngay cả một cơ quan thanh tra độc lập của Quốc hội Hoa Kỳ (BấmGAO) đã gọi chương trình này là “lãng phí và không cần thiết.”

Việt Nam đang có động thái trả đũa để bảo vệ ngành cá tra và nhiều nhà phân tích tin rằng Hà Nội có thể đưa chủ đề này ra kiện tại WTO và rằng có khả năng việc thực hiện TPP có thể bị trì hoãn.

Trong năm 2013 xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ tăng 21.3% so với năm trước đó, đạt 23.87 tỉ USD. Tức là 18% xuất khẩu của Việt Nam là sang Hoa Kỳ.

Việt Nam nhập hàng hóa trị giá 5.23 tỉ USD từ Hoa Kỳ trong năm 2013, tăng 8.3% so với 2012.

Cả Việt Nam và Nhật Bản đều kêu gọi Hoa Kỳ hoàn tất thỏa thuận khung TPP trước chuyến thăm của Tổng thống Obama sang châu Á vào tháng Tư.

Cả hai nước lo ngại rằng nếu Hoa Kỳ càng cần nhiều thời gian để hoàn tất quá trình này thì lại càng có thêm khả năng Hoa Kỳ sẽ đưa ra thêm các thay đổi đối với thỏa thuận.

Tin vui, như báo Japan Times đưa, là cả hai nước đều ủng hộ Hoa Kỳ mạnh trong vai trò tại châu Á và xem Washington có ảnh hưởng làm ổn định khu vực hiện có các tranh chấp lãnh thổ, tác giả Edward Barbour-Lacey kết luận.

‘Thế lực cản TPP’

Ông Kerry từng nói ông đã trao đổi thẳng thắn và cởi mở với người tương nhiệm phía VN về một loạt các chủ đề bao gồm nhân quyền.

Cho tới nay chính phủ Hoa Kỳ khuyến cáo Việt Nam phải có cải thiện nhân quyền rõ rệt như một trong các điều kiện để sớm hoàn tất vòng đàm phán TPP.

Tuy nhiên trong cuộc phỏng vấn với BBC ngày 02/02/2014, tiến sỹ kinh tế Phạm Chí Dũng nói với BBC về điều ông gọi là có thể một thế lực trong nội bộ đảng và ngành an ninh vốn không muốn Việt Nam “gần gũi với phương Tây” và không muốn Việt Nam ký TPP.

Ông Dũng, trong một Bấmbài viết khác cho BBC, cũng từng bình luận rằng khoảng 80-90% nguyên phụ liệu dùng để sản xuất hàng xuất khẩu của nển kinh tế Việt Nam vẫn phụ thuộc vào Trung Quốc và Nhà nước Việt Nam sẽ vào thế khó xử khi bắt buộc phải chuyển đổi vùng nhập khẩu nguyên liệu.

“TPP dĩ nhiên là một lối thoát, thậm chí là một lối mở tươi lành nhất mà chính thể một đảng ở Việt Nam có thể vận dụng để ít nhất cũng tạm làm yên lòng dân chúng, hạn chế được phần nào những phẫn uất của dân nghèo về sự tàn bạo của các nhóm lợi ích, và cách nào đó tạm thời kìm giữ những ý tưởng hoặc hành động cần phải thay đổi thể chế chính trị.

“Thế nhưng điều kỳ lạ là dù vẫn ngầm xem TPP là một cái phao cứu sinh, trong suốt ba năm qua Hà Nội vẫn hầu như chẳng làm gì để bổ túc cho hồ sơ ứng cử viên TPP như cải cách kinh tế và giảm tính độc quyền của khối doanh nghiệp nhà nước, tăng tính minh bạch và tính hữu dụng cho cuộc chiến chống tham nhũng, kể cả một số vấn đề liên quan khác như môi trường, quyền lập hội lao động…”, nhà báo bị cấm xuất cảnh và bị thu hộ chiếu mới đây bình luận.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Báo TQ nói Thủ tướng Nhật ‘diễn hề’

Báo TQ nói Thủ tướng Nhật ‘diễn hề’

Cập nhật: 14:11 GMT – thứ ba, 11 tháng 2, 2014
Thủ tướng Nhật Shinzo AbeBài báo gay gắt đáp trả việc ông Abe gọi TQ ‘dùng lý lẽ của những kẻ bất lương’

Một tờ báo của Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉ trích Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe bằng những lời lẽ nặng nề một cách bất thường.

Hôm thứ Ba 11/02, báo Trung Quốc trách lãnh đạo cấp cao của Nhật đã so sánh căng thẳng giữa hai quốc gia với quan hệ Anh – Đức trước Thế chiến I.

Bài thể hiện quan điểm biên tập trên Nhân dân Nhật báo có đoạn viết: “Việc ông Abe đưa ra sự thật méo mó và trắng trợn về Trung Quốc dùng logic của những kẻ bất lương là minh chứng cho việc Nhật Bản từ chối công nhận lịch sử xâm lăng đen tối, bành trướng lãnh thổi và đóng chiếm thuộc địa thời đế quốc.”

“Ông Abe đã sai, nhưng ông ta dẫn chiếu lập luận từ thời trước Thế chiến I như một người bị bỏ đói và không biết lựa đồ ăn cho mình,” bài báo viết.

“Trò tung hứng của các chính trị gia Nhật Bản như trò hề thỉnh thoảng lại xuất hiện trên sân khấu lịch sử,” hãng tin Reuters dẫn nguồn China Daily.

“…Nếu Nhật Bản từ chối bước ra khỏi vòng tròn ma giáo mà họ đã tự vẽ ra và bướng bỉnh định nghĩa công lý quốc tế bằng những ảo tưởng lịch sử, chúng tôi sẽ chăm sóc họ tới cùng,”

“Tuy nhiên, nếu sự việc phải xảy ra theo cách này, kết thúc của nó sẽ gây thảm cảnh ghê sợ cho toàn nước Nhật.”

Bài viết gay gắt này sau đó được Tân Hoa xã đăng lại bằng tiếng Anh, và đây là dấu hiệu rõ ràng cho thấy chính quyền muốn phổ biến nó tới độc giả quốc tế, theo Reuters.

‘Khả năng xung đột’

Trung Quốc và Nhật căng thẳng do cách nhìn chiến tranh và tranh chấp biển đảo

Trong một cuộc họp giữa các quốc gia châu Á với báo giới ở Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại Davos hồi tháng trước, ông Abe được phóng viên hỏi về khả năng xảy ra xung đột giữa Nhật Bản với Trung Quốc.

Lúc đó nhiều báo dẫn lời Thủ tướng Nhật so sánh quan hệ Trung – Nhật với quan hệ Anh – Đức vào đêm trước khi xảy ra Thế chiến I, song bản ghi âm câu trả lời bằng tiếng Nhật cho thấy người phiên địch có lẽ dã dịch thiếu, theo Reuters.

Hãng thông tấn AFP dịch chính xác từ tiếng Nhật lời ông Abe: “Năm nay đánh dấu 100 năm kể từ Thế chiến I. Lúc đó Anh và Đức có mối quan hệ kinh tế mạnh mẽ, nhưng họ đã tham chiến. Tôi nhắc tới thông tin về lịch sử này như là một cách để thêm vào bình luận.”

“Nếu điều như anh/chị vừa nói xảy ra, nó sẽ gây ra thiệt hại nghiêm trọng tới cả Nhật Bản và Trung Quốc, và cũng gây thiệt hại lớn tới thế giới. Chúng ta phải đảm bảo sao cho điều này không xảy ra.”

Hồi đầu tháng Hai, khi nói về an ninh toàn cầu, cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger cho rằng “châu Á đang ở vào tình thế giống như thế kỷ 19 và không loại trừ được khả năng có xung đột quân sự”.

Ông nói rằng với thế giới bên ngoài, điều quan trọng là làm sao không để Nhật Bản hay Trung Quốc bị “lôi kéo vào khả năng dùng vũ lực để giải quyết vấn đề”.

Trước ông Kissinger, bà Phó Oánh, cựu Thứ trưởng Ngoại giao hiện là chủ tịch ủy ban đối ngoại Quốc hội Trung Quốc phát biểu tại Munich rằng “quan hệ với Nhật Bản là tồi tệ nhất từ trước tới nay”.

Nhật Bản và Trung Quốc vốn vẫn đang lời qua tiếng lại do tranh chấp chủ quyền trên biển Hoa Đông và các vấn đề từ thời chiến.

Hôm 05/02, Một thành viên Hội đồng quản trị của hãng phát thanh-truyền hình NHK, Nhật Bản, tuyên bố Thảm sát Nam Kinh là sự bịa đặt gây nhiều tranh cãi.

Trước đó vài ngày, tân giám đốc của NHK, Katsuto Momii, nói việc Nhật dùng nô lệ tình dục trong Thế chiến Hai là chuyện bình thường cho các nước tham chiến.

“Những phụ nữ đó có thể được thấy ở bất kỳ nước nào tham chiến như Pháp và Đức.”

Nhưng ông Momii sau đó phải xin lỗi: “Thật không phải khi tôi có những bình luận ở những nơi như thế.”

Trung Quốc nói có thể có đến 300.000 người dân và lính thiệt mạng ở Nam Kinh trong mùa đông 1937-38 sau khi quân Nhật vào thành phố.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Trên biển Hoa Đông: Tàu khu trục Trung Quốc nhanh hơn tàu Nhật 1

Trên biển Hoa Đông: Tàu khu trục Trung Quốc

nhanh hơn tàu Nhật 1

 – Một tàu khu trục của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã đến giải cứu rất nhanh một tàu đánh cá của nước này ở khu vực gần vùng biển tranh chấp với Nhật Bản.

Giới phân tích cho rằng đây là tín hiệu cho thấy sự sẵn sàng của PLA trong việc triển khai lực lượng…

Tàu khu trục Zhoushan mang tên lửa của hải quân Trung Quốc đã chạy với tốc độ cao trong khoảng 3 tiếng rưỡi đến nơi tàu cá nước này bốc cháy vào tối 7.2 tại vùng biển nằm cách khu vực Amami – Oshima ở tỉnh Kagoshima của Nhật Bản khoảng 280 km về phía tây – tây bắc. Vụ hỏa hoạn đã khiến 6 ngư dân trên tàu thiệt mạng.

Tàu khu trục Zhoushan của hải quân Trung Quốc.

Tàu khu trục Zhoushan của hải quân Trung Quốc.

Theo truyền thông Trung Quốc và Hãng tin Kyodo của Nhật Bản, tàu khu trục Zhoushan đã đến trước 3 tàu tuần tra của lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản. Ba tàu này trước đó đã nhận được đề nghị hỗ trợ từ phía Trung Quốc.

Chuyên gia hải quân tại Bắc Kinh, đại tá Lý Kiệt cho rằng, sự có mặt của tàu khu trục Zhoushan trong vụ cứu hộ trên đã cho thấy sự sẵn sàng của PLA cả trên không và trên biển sau khi Bắc Kinh tuyên bố thiết lập một Vùng Nhận dạng phòng không (ADIZ) ở biển Hoa Đông vào tháng 11.2013. Khu vực này bao gồm quần đảo tranh chấp Điếu Ngư/Senkaku.

Mới đây, ý định của giới quân đội Trung Quốc muốn thành lập một vùng nhận dạng phòng không trên Biển Đông đã khiến cho nhiều nước như Mỹ, Nhật, Philippines, Việt Nam… lo ngại. Đây cũng là lý do khiến hai Ngoại trưởng Mỹ và Nhật ngày 7.2 đã nhất trí là sẽ nỗ lực ngăn cản, không cho Trung Quốc mở rộng ADIZ mà Bắc Kinh đã thiết lập trên biển Hoa Đông qua các vùng biển khác, có thể là trên Biển Đông.

Báo Nhật Bản đưa tin, Ngoại trưởng Nhật Fumio Kishida và Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã chia sẻ quan điểm rằng hai nước đều không chấp nhận ADIZ mà Trung Quốc tuyên bố trên biển Hoa Đông, bao trùm lên vùng quần đảo Senkaku (Bắc Kinh gọi là Điếu Ngư) đang do Nhật Bản quản lý.

Bên cạnh đó, hai ngoại trưởng đã khẳng định rằng Mỹ và Nhật Bản sẽ phối hợp với các quốc gia khác hiện đang quan ngại trước hành động của Bắc Kinh, để đối phó với khả năng Trung Quốc mở rộng ADIZ của họ bao trùm lên những khu vực tại Biển Đông. Tướng Không quân PK Roy thuộc Tư lệnh liên quân Ấn Độ tại Quân khu Andaman và Nicobar cũng đã lên tiếng hối thúc các nước trong vùng Biển Đông phải nhanh chóng thiết lập bộ quy tắc ứng xử để giúp cho tranh chấp chủ quyền không leo thang thành xung đột vũ trang.

Các phản ứng gay gắt nói trên đã khiến Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc phải lên tiếng phủ nhận thông tin được tiết lộ về phương án thành lập vùng phòng không trên Biển Đông.

Quang Minh (tổng hợp

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Blog at WordPress.com.