Daily Archives: February 16, 2014

35 năm cuộc chiến biên giới phía Bắc

35 năm cuộc chiến biên giới phía Bắc
http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/35-nam-cuoc-chien-bien-gioi-phia-bac-2950346.html

Tháng 1/1979, Việt Nam mở chiến dịch Tây Nam lật đổ chế độ diệt chủng Khmer đỏ thân Trung Quốc tại Campuchia, Phó Thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình tuyên bố “dạy cho Việt Nam một bài học”.

Quan hệ Việt – Trung bắt đầu rạn nứt năm 1968 khi Việt Nam đồng thời giao hảo với cả Liên Xô và Trung Quốc trong bối cảnh mối quan hệ 2 nước này xuất hiện nhiều xung đột căng thẳng. Năm 1972, Tổng thống Mỹ Nixon tới thăm Bắc Kinh và đạt được thỏa thuận với Trung Quốc. Ba năm sau đó, Việt Nam từ chối tham gia liên minh chống Liên Xô của Trung Quốc.
Ban-do-1979-JPG-9760-1392355066.jpg
Bắc Kinh đã xem đó như mối đe dọa. Tháng 5/1975, Khmer Đỏ cho quân đánh chiếm các đảo Phú Quốc và Thổ Chu, thọc sâu vào lãnh thổ Việt Nam, tàn sát hàng nghìn dân thường. Đứng sau viện trợ cho Khmer Đỏ về vũ khí, khí tài cũng như cố vấn quân sự là Trung Quốc. Tranh chấp Trường Sa và Hoàng Sa cũng nổi lên rõ hơn khi Việt Nam tuyên bố chủ quyền với hai quần đảo.

Ngày 3/11/1978, Việt – Xô ký hiệp ước hữu nghị 25 năm – chính thức xác nhận Việt Nam đứng về phía Liên Xô. Gần 2 tháng sau, quân đội Việt Nam tổng phản công trên biên giới Tây Nam, đánh sang Campuchia lật đổ chính quyền Khmer Đỏ. Trung Quốc quyết định dừng viện trợ cho Việt Nam.

Phó thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình khi ấy đã tuyên bố “phải dạy cho Việt Nam một bài học”.

Cuộc chiến 30 ngày

Rạng sáng 17/ 2/1979, Trung Quốc bất ngờ đưa quân tràn qua biên giới, đồng loạt tấn công 6 tỉnh biên giới lãnh thổ Việt Nam từ Pa Nậm Cúm (Lai Châu) đến Pò Hèn (Quảng Ninh) với chiều dài 1.200 km.

Dù từng tuyên bố về ý định trừng phạt trước đó, cuộc tấn công của Trung Quốc vẫn bất ngờ với Việt Nam và cả thế giới.

Theo Niên giám châu Á năm 1980, thời điểm Trung Quốc tấn công, tổng lực lượng phòng thủ của Việt Nam tại các tỉnh biên giới phía Bắc chỉ có khoảng 50.000 quân (xem chi tiết).

Trong khi đó, Trung Quốc sử dụng 9 quân đoàn chủ lực và 32 sư đoàn bộ binh độc lập; 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn, nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không cùng hàng trăm pháo hạng nặng, hàng nghìn súng cối và dàn hỏa tiễn. Quân Trung Quốc ước lượng có 600.000 người, gấp hơn 10 lần lực lượng tham chiến thực tế của Việt Nam.

Trên mặt trận Lạng Sơn, các cánh quân lớn của Trung Quốc chia làm nhiều mũi đánh vào Bản Chất (Đình Lập), Chi Ma, Ba Sơn (Lộc Bình), Tân Thanh, Tân Yên (Văn Lãng) và khu vực thị trấn Đồng Đăng (Lạng Sơn). Dù bị bất ngờ song chỉ với lực lượng dân quân địa phương, Việt Nam đã quả cảm chặn đánh, ghìm chân quân Trung Quốc nhiều ngày.
TQ2-8774-1392045894-7179-1392174334.jpg

Những người lính đầu tiên bảo vệ đất nước là bộ đội địa phương, công an vũ trang (bộ đội biên phòng), dân quân tự vệ và nhân dân 6 tỉnh biên giới. Ảnh tư liệu.

Ngày 20/2, Trung Quốc tăng cường lực lượng chi viện, mở các đường tấn công mới vào điểm cao nhằm tiến xuống phía nam Đồng Đăng. Quân và dân Lạng Sơn bám trụ trận địa, đánh trả mạnh mẽ các mũi tấn công phía trước, phía sau của địch, buộc quân xâm lược phải co về đối phó và bị đẩy lùi ở nhiều mặt trận.

Sau 10 ngày chiến đấu không đạt được mục tiêu, ngày 27/2, Trung Quốc tung thêm một quân đoàn nhằm vào thị xã Lạng Sơn dùng chiến thuật biển người hòng xâm chiếm các mục tiêu quan trọng. Cuộc chiến diễn ra quyết liệt giữa 2 quân đoàn tăng cường của Trung Quốc và lực lượng vũ trang địa phương Việt Nam. Ở điểm cao 417, đoàn An Lão đã đánh bật hàng chục đợt tấn công, loại khỏi vòng chiến đấu trung đoàn 850 của Trung Quốc. Đặc biệt, ở khu vực cầu Khánh Khê trên đường 18, chiến sĩ đoàn Tây Sơn đã kiên cường chặn đứng một sư đoàn quân và một tiểu đoàn xe tăng Trung Quốc.

Ở hướng Cao Bằng, hai quân đoàn tăng cường của Trung Quốc hình thành hai cánh quân lớn từ phía tây bắc theo đường Thông Nông đánh xuống và từ phía đông bắc qua Thạch An, Quảng Hòa đánh lên nhằm hợp điểm ở thị xã Cao Bằng.

Cả hai cánh quân đều bị bộ đội địa phương và dân quân Cao Bằng đánh chặn. Cánh quân tây bắc dựa vào sức đột phá của xe tăng bị chặn tại Hòa An. Cánh quân đông bắc cũng bị đánh quyết liệt ở Thạch An và Quy Thuận, bị chặn đứng trên đường số 4. Mũi đánh vào Trà Lĩnh, Phục Hòa gồm 2 sư đoàn nhằm chiếm đèo Mã Phục, Khâu Chia cũng bị lực lượng vũ trang địa phương phản kích xé tan đội hình, bỏ chạy về bên kia biên giới.

3 ngày đầu, quân Trung Quốc tại Cao Bằng đã bị thiệt hại 4 tiểu đoàn, bị phá hủy hàng chục xe tăng, xe bọc thép và buộc phải đưa lực lượng dự bị vào vòng chiến. Trên trận địa phòng ngự tại đồi Khâu Chia, các lực lượng của Việt Nam đã chặn đứng một sư đoàn Trung Quốc trong 12 ngày, diệt hơn 4.000 lính. Ngày 12/3, quân Trung Quốc tháo chạy.

Trên tuyến Hoàng Liên Sơn, mờ sáng 17/2, các sư đoàn tuyến 1 của hai quân đoàn Trung Quốc ồ ạt tấn công toàn biên giới Hoàng Liên Sơn từ phía tây bắc đến đông bắc thị xã Lào Cai. Cùng với việc đánh nhiều mũi vào các huyện Bát Xát, Mường Khương, bắn pháo dữ dội vào thị xã, quân Trung Quốc đồng thời bắc cầu qua sông Nậm Thi, cho xe tăng và bộ binh tiến vào thị xã Lao Cai và khu vực Bản Phiệt. Dân quân, tự vệ thị xã cùng các lực lượng vũ trang ở đây đánh trả quyết liệt. Sau 7 ngày, hai quân đoàn Trung Quốc không qua nổi trận địa đánh chặn, phục kích của quân và dân Hoàng Liên Sơn.

Trên các hướng Lai Châu, Hà Tuyên, Quảng Ninh, cùng một lúc quân Trung Quốc chia các hướng đánh vào nhiều điểm. Hai sư đoàn Trung Quốc tiến công theo đường 10 vào Nậm Cúm, Phong Thổ (Lai Châu) và đụng độ với lực lượng vũ trang địa phương. Qua hơn 20 ngày, quân Trung Quốc vẫn bị chặn ở Phong Thổ.

Ở Hà Tuyên, một sư đoàn Trung Quốc tấn công vào các đồn chốt biên phòng đã vấp phải sự kháng cự quyết liệt của công an vũ trang, dân quân, bộ đội các huyện Đồng Văn, Thanh Thủy, Mèo Vạc và đồng bào các dân tộc. Hơn 1.000 lính Trung Quốc thiệt mạng.

Tại Quảng Ninh, Trung Quốc dùng hai sư đoàn bộ binh tiến công vào Pò Hèn, Móng Cái, Cao Ba Lanh, huyện Bình Liêu. Trong hai ngày 19 và 20/2, hai trung đoàn Trung Quốc đã bị đánh lui, tháo chạy sát về biên giới.
TQ3-7880-1392045894-3800-1392174334.jpg

Hàng vạn thanh niên Việt Nam mới 18, đôi mươi đã nằm lại nơi biên giới phía Bắc trong cuộc chiến bất ngờ chống lại quân xâm lược Trung Quốc. Ảnh tư liệu.

Trung Quốc rút quân

Ngày 5/3/1979, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ra lệnh tổng động viên toàn quốc. Cùng ngày, Trung Quốc tuyên bố “hoàn thành mục tiêu chiến tranh” và rút quân. Các nhà quan sát lúc đó cho rằng rút lui là hành động rất khó, có thể gây cho Trung Quốc nhiều tổn thất nếu bị quân tinh nhuệ Việt Nam phản công.

Ngày 7/3, thể hiện thiện chí hòa bình, Việt Nam tuyên bố cho phép Trung Quốc rút quân. 18/3, Trung Quốc hoàn thành việc rút quân.

Trải qua 30 ngày chiến đấu ác liệt, các lực lượng vũ trang tại chỗ và đồng bào dân tộc 6 tỉnh biên giới Việt Nam đã dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân, lấy ít địch nhiều đánh bại “chiến thuật biển người, thọc sâu phá hoại” của quân Trung Quốc.

Theo số liệu công bố, trong hành động quân sự mưu toan phá hoại, 62.500 lính Trung Quốc (hơn 1/10 tổng số được huy động) bị hạ, 3 trung đoàn, 18 tiểu đoàn bị tiêu diệt, thiệt hại; 550 xe quân sự trong đó có 220 xe tăng, xe bọc thép (hơn một nửa số tham chiến) bị bắn cháy, 115 đại bác và súng cối hạng nặng bị phá hủy…Giới phân tích nhận định, thay vì dạy cho Việt Nam một bài học, Trung Quốc đã học được bài học quân sự đắt giá của chính mình.

Tuy nhiên, cuộc xâm chiếm của Trung Quốc cũng gây ra những tổn thất nặng nề cho Việt Nam: các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, thị trấn Cam Đường bị hủy diệt hoàn toàn, hàng chục nghìn người thiệt mạng trong đó có nhiều phụ nữ và trẻ nhỏ. Hiện vẫn chưa có số liệu thống nhất về số thương vong từ phía Việt Nam (thông tin này Tòa soạn bổ sung sau khi có thắc mắc của độc giả về số liệu những người dân, chiến sĩ Việt Nam bị thiệt mạng); 400.000 gia súc bị giết và bị cướp; hàng chục nghìn ha hoa màu bị tàn phá. Khoảng một nửa trong số 3,5 triệu dân các tỉnh biên giới phía Bắc bị mất nhà cửa, tài sản.

Từ 18/3/1979 đến cuối năm 1988, Trung Quốc đã không rút hết quân như tuyên bố. Suốt gần 10 năm đó, chiến sự vẫn tiếp diễn, cao điểm nhất là năm 1984-1985. Nhiều đơn vị quân đội của Trung Quốc đã được luân chuyển tới biên giới, biến Việt Nam thành thao trường.

Việt Nam vì thế buộc phải thường xuyên duy trì một lực lượng quân sự lớn dọc biên giới. Tình trạng chiến tranh khiến kinh tế Việt Nam thiệt hại nặng nề.

Năm 1992, Việt Nam, Trung Quốc bình thường hóa quan hệ. Cuộc chiến biên giới phía bắc, vì nhiều lý do, trong suốt một thời gian dài đã ít được công bố.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Sau chuyến thăm của Mỹ, TQ xây thêm căn cứ quân sự

Sau chuyến thăm của Mỹ, TQ xây thêm căn cứ quân sự

(Quan hệ quốc tế) – Ngoại trưởng Mỹ kết thúc chuyến thăm Trung Quốc với gần như không có sự đột phá nào trong các tiêu chí ban đầu đề ra, báo Pháp đã nhận định Mỹ đã thất bại trong việc kìm chế Trung Quốc

Vẫn không có tiến triển

Trước khi bắt đầu chuyến thăm và làm việc với những Bắc Kinh, Ngoại trưởng Mỹ đã đề ra những vấn đề cần nghị sự, trong đó có vấn đề Triều Tiên với tham vọng phát triển hạt nhân, vấn đề tranh chấp của Trung Quốc tại Biển Đông và Hoa Đông.

Tuy nhiên, kết thúc chuyến thăm này, hai cường quốc gần như không có thêm tiến triển gì trong các vấn đề nóng nêu trên.

Tờ Tri thức trẻ dẫn nguồn tin trên BBC cho biết, sau ngày làm việc cuối cùng tại Đại lễ đường Nhân dân, trả lời trên truyền thông Trung Quốc và thế giới, ông John Kerry nhận định: “Buổi làm việc với ông Tập Cận Bình rất “mang tính xây dựng”. Và theo ngôn ngữ ngoại giao, mang tính xây dựng đồng nghĩa với việc không đạt được thêm tiến triển nào trong đàm phán.

Với vấn đề Triều Tiên, ông Kerry cho biết “ông Tập rất tích cực và tôi mừng khi thấy chúng tôi có cơ hội đào sâu vào chi tiết về một số thách thức đối với Triều Tiên”. Đồng thời, Ngoại trưởng Mỹ cũng chỉ rõ: “Không có quốc gia nào có thể giải quyết vấn đề của miền Bắc hiệu quả bằng Trung Quốc, bởi hai quóc gia này có những sự gắn kết chặt chẽ, đặc biệt trong vấn đề kinh tế”.

Ngoại trưởng John Kerry làm việc với Chủ tịch Tập Cận Bình tại Đại lễ đường Nhân dân Trung Hoa
Ngoại trưởng John Kerry làm việc với Chủ tịch Tập Cận Bình tại Đại lễ đường Nhân dân Trung Hoa

Đáp lại ông Ngoại trưởng Mỹ, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao nói Trung Quốc “đã thực hiện vai trò trách nhiệm của mình” nhằm giúp tìm ra giải pháp.

“Chúng tôi tuy sử dụng nhiều kênh khác nhau, đã làm việc với Triều Tiên về vấn đề hạt nhân qua đàm phán hạt nhân sáu bên, và vẫn giữ liên lạc thường xuyên giữa các bên,” bà Hoa Xuân Oánh nói trong cuộc họp báo thường kỳ hôm thứ Sáu 14/02.

Tuy nhiên, với vấn đề tranh chấp biển đảo, vấn đề gây căng thẳng trực tiếp giữa hai cường quốc, gần như không có thêm một tiến triển nào. Hai nước tiếp tục khẳng định tinh thần “không đối đầu” khi Ngoại trưởng Vương Nghị của Trung Quốc cho biết, hai bên khẳng định nguyên tắc không đối đầu, không xung đột, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi.

Tuy nhiên, trước khi rời Trung Quốc, ông Kerry đã cảnh báo rằng Hoa Kỳ “không công nhận, không chấp nhận” vùng nhận dạng phòng không mới của Trung Quốc ở biển Hoa Đông gồm cả các đảo do Nhật Bản kiểm soát.

Đồng thời, phát biểu trước báo giới tại Bắc Kinh, ông Kerry nói ông đã cảnh báo Trung Quốc về bất kỳ một hành động mới tương tự, trong bối cảnh có các nguồn tin nói rằng Bắc Kinh đang cân nhắc lập ADIZ ở Biển Đông, nơi Trung Quốc có các tranh chấp chủ quyền với vài quốc gia láng giềng trong đó có Philippines – một đồng minh của Mỹ.

Báo Pháp: “Mỹ thất bại trong việc kìm chế Trung Quốc”

Sau chuyến đi của Ngoại trưởng John Kerry và kết quả đạt được chỉ “mang tính xây dựng”, một tờ báo Pháp đã có bài viết cho rằng Mỹ đang gặp nhiều khó khăn với Trung Quốc.

Tờ Vietnam+ dẫn bài viết trên tờ Le Figaro của Pháp vừa đăng bài “Kerry không kìm được tham vọng của Trung Quốc,” trong đó cho rằng dưới danh nghĩa đồng minh của một số quốc gia châu Á, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã đề nghị Bắc Kinh giảm bớt các yêu sách chủ quyền lãnh thổ nhưng không thành công.

Ông John Kerry làm việc với Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị
Ông John Kerry làm việc với Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị

Tờ báo nhận định khả năng xử lý khó khăn của Ngoại trưởng Kerry vẫn không thay đổi được tình hình. Các quốc gia láng giềng của Trung Quốc bị bắt nạt và ngày càng quan ngại trước các yêu sách lãnh thổ ngày càng mạnh của Trung Quốc, ông Kerry đã cố gắng đàm phán với Chủ tịch nước Tập Cận Bình nhưng vô ích, thậm chí Mỹ cũng đã dọa rằng các quần đảo đang tranh chấp với Nhật là nằm trong khuôn khổ Hiệp ước an ninh, quy định Mỹ được phép can thiệp bảo vệ Nhật khi có một nước thứ ba tấn công. Thế nhưng, Trung Quốc vẫn bỏ ngoài tai những cảnh báo trên.

Theo bài báo, Ngoại trưởng Kerry đã không thành công trong việc giải quyết tình hình tranh chấp chủ quyền biển đảo giữa Trung Quốc với các nước láng giềng tại Biển Đông.

Bắc Kinh đòi hỏi chủ quyền gần như toàn bộ Biển Đông, thậm chí cả những lãnh hải rất xa với vùng duyên hải của mình, gây lo ngại đặc biệt cho Philippines và Việt Nam. Thế nhưng, căng thẳng nhất vẫn là tranh chấp chủ quyền quần đảo Senkaku/Điếu Ngư giữa hai đại cường kinh tế châu Á là Nhật Bản và Trung Quốc.

Bài báo nhận định Trung Quốc ngày càng tự tin hơn vào chính mình, đang sử dụng nghệ thuật “quyền lực mềm” và trở thành “đối thủ” đáng gờm đối với Mỹ trong khu vực, bất chấp chính sách “xoay trục” sang châu Á của Mỹ.

Tàu ngầm tấn công của Trung Quốc di chuyển tại vịnh Victoria của Hong Kong
Tàu ngầm tấn công của Trung Quốc di chuyển tại vịnh Victoria của Hong Kong

Trung Quốc xây quân cảng tại Hong Kong

Ngay sau khi kết thúc chuyến thăm của Ngoại trưởng John Kerry, Trung Quốc đã công bố một thông tin đáng chú ý. Tờ VOV dẫn nguồn tin của Tân Hoa Xã cho biết, Uỷ ban Quy hoạch Hong Kong ngày 15/2 đã chấp thuận cho Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) xây dựng một quân cảng ngay tại một quận trung tâm của mình.

Người phát ngôn của Uỷ ban Quy hoạch Hong Kong cho biết nếu được thông qua, đây sẽ là quân cảng đầu tiên của PLA tại Hong Kong. Kế hoạch xây dựng quân cảng ở đây đã được tính toán từ năm 1994, chỉ 3 năm trước khi Anh trao trả Hong Kong cho Trung Quốc.

Tuy nhiên, đề xuất này vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của người dân Hong Kong vì họ cho rằng họ sẽ mất đi một không gian đẹp dọc Vịnh Victoria nếu như khu vực này bị thu hồi để xây quân cảng.

Nguyên Minh (Tổng hợp)

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Tham vọng viễn dương của Hải quân Trung Quốc

Thứ sáu, 14/2/2014 10:07 GMT+7

Facebook
Twitter

Tham vọng viễn dương của Hải quân

Trung Quốc

Hải quân Trung Quốc gần đây liên tục tiến hành diễn tập quân sự và mở các tuyến hàng hải mới, cho thấy tham vọng viễn dương của nước này trong bối cảnh Mỹ quyết tâm “xoay trục” về châu Á-Thái Bình Dương.

Liaoning-5092-1392266691.jpg
Trung Quốc quyết thưc hiện tham vọng viễn dương, trong bối cảnh Mỹ muốn xoay trục về châu Á-Thái Bình Dương. Trong ảnh là tàu sân bay Liêu Ninh. Ảnh minh họa: Reuters

Đầu tháng này, chiến hạm của Trung Quốc lần đầu tiên đến Ấn Độ Dương diễn tập quân sự, với hành trình thông qua eo biển Sunda, giữa đảo Java và Sumatra của Indonesia. Trên đường về nước, các tàu này lại chọn tuyến hàng hải khác, lần lượt đi qua eo Lombok, gần đảo Bali và eo Makassar bên bờ bang Borneo của Malaysia.

“Trung Quốc đang nỗ lực xây dựng một lực lượng hải quân viễn dương, có khả năng thực hiện nhiệm vụ ngoài khơi xa”, bình luận viên Demetri Sevastopulo của tờ Financial Times nhận định. “Họ muốn thay đổi thế cân bằng sức mạnh tại Thái Bình Dương, nơi Mỹ chiếm vị thế bá chủ hàng chục năm qua”.

Ông Rory Medcalf, chuyên gia về an ninh châu Á thuộc Viện nghiên cứu Lowy, Australia, cho rằng những động thái gần đây không khác gì màn phô diễn lực lượng của Hải quân Trung Quốc.

“Họ đang phát đi tín hiệu rằng, Trung Quốc có đủ quyền sử dụng các tuyến hàng hải quốc tế”, chuyên gia này nói. “Chỉ 5 năm nữa, việc Trung Quốc tiến hành các hoạt động quân sự bên ngoài Biển Đông và Hoa Đông sẽ trở nên khá bình thường”.

Theo Medcalf, Trung Quốc muốn đột phá “chuỗi đảo thứ nhất”, phân cách Biển Đông, Hoa Đông và Hoàng Hải với Thái Bình Dương, để tăng cường tiến hành hoạt động quân sự. Sau sự kiện tàu chiến nước này lần đầu đi qua eo Soya giữa Nhật và Nga, truyền thông nhà nước Trung Quốc tuyên bố họ đã thực hiện thành công giấc mộng đột phá “chuỗi đảo thứ nhất”.

Tuy nhiên, tướng Timothy Keating, nguyên tư lệnh quân đội Mỹ tại Thái Bình Dương, lại cho rằng việc tàu chiến Trung Quốc đi qua eo biển của Indonesia “không có gì to tát” và tham vọng viễn dương của hải quân nước này là bước phát triển bình thường.

CAS940-1939-1392345137.jpg
Trung Quốc luôn muốn đột phá “chuỗi đảo thứ nhất” (đường đỏ), để tăng cường hoạt động quân sự ra đại dương. Đồ họa:Pentagon

Trên thực tế, Hải quân Trung Quốc đã thực hiện nhiều bước chuẩn bị để hướng đến mục tiêu này. Trong hai năm 2012 và 2013, Bắc Kinh gửi binh sĩ và tàu chiến đến Vịnh Aden, Somalia, tham gia hoạt động chống cướp biển. Tháng 10/2013, tàu chiến của nước này lần đầu đi qua Magellan, eo biển cực nam của khu vực Nam Mỹ.

Cũng trong năm ngoái, tàu chiến của Trung Quốc thậm chí còn tiến vào vùng đặc quyền kinh tế của Mỹ, động thái được cho có thể làm thay đổi cuộc đối đầu giữa cường quốc hải quân thống trị Thái Bình Dương và đối thủ chính của mình.

Theo chuyên gia quan hệ quốc tế Steffen Richter, cùng với sức ảnh hưởng quốc tế và sức mạnh quân sự không ngừng gia tăng của Trung Quốc, quan hệ Bắc Kinh-Washington cũng đang biến đổi.

Mỹ hiện rất khó chấp nhận quan điểm rằng trung tâm chính trị quốc tế đã thay đổi, nhưng buộc phải thích ứng với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Bắc Kinh lần đần tiên gửi một phân đội tham gia cuộc diễn tập “Hổ mang vàng”, đang diễn ra tại Thái Lan. Hải quân Trung Quốc cũng dự kiến sẽ tham dự cuộc diễn tập quân sự quốc tế quy mô lớn “Vành đai Thái Bình Dương” vào mùa hè này tại Hawaii.

Việc Hải quân Trung Quốc đi qua eo biển Indonesia còn có một ý nghĩa quan trọng khác là bởi biên chế tàu chiến của hoạt động lần này, ông Gary Li, chuyên gia phân tích cao cấp của IHS Maritime, nhận định.

Ngoài hai tàu khu trục, biên chế của đội tàu lần này còn có một tàu đổ bộ đời mới, có thể chở xe chiến đấu và máy bay trực thăng. “Đây sẽ là sức mạnh chủ lực trong tương lai”, ông Li nói. Loại tàu này xuất hiện ngày càng nhiều trên Biển Đông và các vùng biển xa khác.

Was7621046-6961-1392266691.jpg
Tổng thống Barack Obama phải chứng minh được với đồng minh tính thực chất và lâu dài của chiến lược “xoay trục” về châu Á. Ảnh minh họa: Reuters

Trung Quốc không ngừng khuếch trương sức mạnh quân sự tại Thái Bình Dương. Việc nước này tồn tại tranh chấp chủ quyền biển đảo với Nhật Bản và một số nước ASEAN, là lý do chính khiến các đồng minh của Mỹ tại khu vực đặt hy vọng vào chiến lược xoay trục của Washington.

Tháng 11/2013, Trung Quốc đơn phương thiết lập Vùng Nhận dạng Phòng không (ADIZ) trên biển Hoa Đông, bao trùm quần đảo Senkaku/Điếu Ngư tranh chấp với Nhật Bản. Theo tờ Asahi Shimbun, quan chức không quân nước này cũng đã soạn thảo đề xuất lập ADIZ trên Biển Đông. Các động thái trên đều vấp phải phản ứng mạnh mẽ từ Mỹ và các nước liên quan.

Chính vì vậy, chuyến công du Hàn Quốc, Trung Quốc và Indonesia của Ngoại trưởng Mỹ John Kerry, cũng như kế hoạch thăm 4 nước châu Á của Tổng thống Barack Obama vào thời điểm này có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, nhằm củng cố lòng tin của các nước đồng minh.

Nhiều chuyên gia cho rằng, các đồng minh của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương đều thất vọng trước việc ông Kerry không dành nhiều sự quan tâm cho khu vực này, trái ngược với thời cựu ngoại trưởng Hillary Clinton.

Mặc dù Ngoại trưởng Kerry tái khẳng định Hiệp ước an ninh Mỹ – Nhật ký năm 1960, trong cuộc hội đàm hôm 7/2 với Ngoại trưởng Nhật Fumio Kishida, Tokyo được cho là vẫn thất vọng trước việc Washington không thể ép Bắc Kinh gỡ bỏ ADIZ.

“Ủy ban An ninh Quốc gia do Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đứng đầu, có thể đã hoạch định bước đi leo thang tiếp theo”, căn cứ trên phản ứng mềm mỏng của Mỹ, ông Jim Shinn, cựu quan chức đứng đầu bộ phận châu Á của Lầu Năm Góc, nhận định.

Chuyên gia Medcalf cho rằng chiến lược quay trở lại châu Á của Mỹ còn nhiều yếu tố bất định, nhưng Washington phải chứng minh được rằng “sự tái cân bằng này mang tính thực chất và lâu dài”.

“Hiện tồn tại niềm hy vọng rằng các cấp cao nhất của chính quyền Mỹ sẽ quan tâm hơn đến châu Á”, Medcalf nhận xét. “Đang có một sự bất bình lặng lẽ”.

Đức Dương

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

“Bá quyền” kiểu Trung Quốc

“Bá quyền” kiểu Trung Quốc

BẢO DUY

-565 phút trước

Với vị trí là nền kinh tế số 2 thế giới và đang tiến những bước dài trong cuộc đua với Mỹ, việc Trung Quốc bá quyền chắc chắn không thể tránh khỏi. Tương tự như những gì Mỹ đã từng làm tại châu Mỹ, nhưng Học thuyết Monroe phiên bản Trung Quốc sẽ như thế nào?
“Bá quyền” kiểu Trung Quốc

Trung Quốc nuôi mộng bá chủ thế giới.

Những gì diễn ra tại Đông Á, đang dần đúng với thuật ngữ “lưỡng cực” trong quan hệ quốc tế. Phép so sánh này cho thấy một thực tế, hai quốc gia lớn nhất đang ngày lớn mạnh, chồng chéo khu vực ảnh hưởng và cạnh tranh vai trò lãnh đạo khu vực.

Sẽ còn lâu lắm thế giới mới quên được cuộc đối đầu dai dẳng, căng thẳng giữa Mỹ và Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh. Một chiến ngầm quy mô toàn cầu, buộc nhiều nước phải đưa ra lựa chọn, hoặc Mỹ hoặc Liên Xô.

Trong suốt nhiều năm qua, các nhà phân tích đã nhiều lần ngập ngừng khi áp dụng những từ ngữ mạnh mẽ trong mối quan hệ giữa các nước Đông Á, nhưng rõ ràng, điều đó đang ngày càng được chấp nhận.

Một cuộc đấu tranh lâu dài giữa Trung Quốc và Nhật Bản, với sự hậu thuẫn của Mỹ, đang có nhiều nguy cơ sắp diễn ra. Nói một cách khác, một cuộc Chiến tranh Lạnh quy mô nhỏ đang dần hiện hữu trước mắt.

Một châu Á lưỡng cực đã từng được nhắc đến rất nhiều trong thời gian trước đây, khi không một quốc gia nào đủ tiềm lực và khu vực ảnh hưởng để chiếm ưu thế.

Nhưng hoàn cảnh bây giờ đã khác.

Trung Quốc hiện đang là nền kinh tế đứng thứ 2 thế giới và mặc dù đang rơi vào thời kỳ tăng trưởng chậm, nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn gấp 3 lần Mỹ và gấp 6 lần Nhật Bản. Theo tính toán, đến năm 2020, Trung Quốc sẽ “soán ngôi” Mỹ, trở thành nền kinh tế số 1 của thế giới.

Dân số của Trung Quốc, 1,35 tỷ người cho một đất nước, thật sự quá khủng khiếp. Cứ 7 người trên Trái Đất thì có 1 là người Trung Quốc. Chính vì dân số quá đông nên mặc dù là gã khổng lồ thứ 2 của kinh tế thế giới, GDP bình quân đầu người của Trung Quốc vẫn ở mức thấp.

Theo tính toán, nếu mức thu nhập bình quân của người Trung Quốc ngang bằng với Mỹ và Nhật Bản, tổng GDP của Trung Quốc sẽ bằng cả thế giới gộp lại. Những con số này truyền cảm hứng cho rất nhiều người về một “giấc mơ Trung Hoa”, thời kỳ Trung Quốc trở lại vị thế “Trung Nguyên”, trung tâm của cả thế giới.

Một nền kinh tế mạnh và ổn định là yếu tố thúc giục Bắc Kinh gia tăng các hành động cũng như tuyên bố chủ quyền trên biển Đông và biển Hoa Đông.

Trong thời gian gần đây, Trung Quốc tích cực theo đuổi chiến lược “trỗi dậy hòa bình” nhằm trấn an cộng đồng thế giới và tránh khỏi nguy cơ bị bao vây bởi một liên minh chống Trung Quốc.

Thực tế, tốc độ tăng trưởng và sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc chưa bao giờ làm các nước xung quanh cảm thấy yên tâm. “Trỗi dậy hòa bình” chỉ là cách Trung Quốc che đậy những bước đi gây chia rẽ sự đoàn kết, từng bước phá vỡ chuỗi đảo thứ nhất do Mỹ xây dựng.

Lấy ví dụ mỗi nước là một mắt xích thì sự liên kết những quốc gia không yên tâm về sự “trỗi dậy hòa bình”, đủ sức khóa chặt Bắc Kinh.

Thế nhưng, không ít các quốc gia đã dính bẫy và chiến lược “trỗi dậy hòa bình” đã phát huy tác dụng, đặc biệt tại khu vực Đông Nam Á. Vấn đề biển Đông, vốn có liên quan trực tiếp đến quyền lợi của Trung Quốc và gây tranh cãi với nhiều nước, đã không được quốc gia chủ nhà đưa vào chương trình nghị sự.

Kể từ khi Olympic Bắc Kinh được tổ chức vào năm 2008, thế giới càng chú ý và thấy rõ dấu hiệu của một sức mạnh đang lên. Trung Quốc bắt đầu liều lĩnh và cứng rắn hơn trong các hành động của mình, nhất là tại các vùng biển đang tranh chấp.

Tại biển Đông, Trung Quốc đẩy mạnh các hoạt động tuần tra, xua đuổi tàu thuyền của các quốc gia trong khu vực. Nổi bật nhất chính là cuộc đối đầu căng thẳng giữa Bắc Kinh và Manila tại bãi cạn Scarborough. Có thể nói, tại khu vực Đông Nam Á, không một quốc gia nào đủ sức đương đầu một mình với gã khổng lồ phương Bắc.

Thế nhưng, tại Đông Á thì khác. Các quốc gia Đông Á rõ ràng mạnh và vượt trội xa hơn những người láng giềng phía Nam của Trung Quốc. Trung Quốc chắc chắn biết rõ điều đó nhưng vẫn tuyên bố vùng nhận diện phòng không (ADIZ) trên biển Hoa Đông và thách thức quyền lực Nhật Bản cũng như sự hậu thuẫn của Mỹ.

Một cuộc đối đầu lưỡng cực giữa Nhật Bản và Trung Quốc đang có nguy cơ diễn ra hơn bao giờ hết, trong bối cảnh một Trung Quốc đang tự tin với sức mạnh đang lên trong khu vực.

Bá quyền Trung Quốc?

Sự bá quyền trên phạm vi châu lục, như cách mà Đức, Pháp và Liên Xô từng làm, có thể là một giấc mơ mà Trung Quốc đang hướng đến. Nhưng sự thất bại của Đế quốc Nhật Bản hay Napoleon là minh chứng rõ nhất cho một sự ham muốn quyền lực vượt quá giới hạn.

Gần đây, những nhà phân tích Nhật Bản và Mỹ dần đi đến một đồng thuận rằng Trung Quốc có khả năng sẽ thực hiện tham vọng bá quyền khu vực trước.

Một sự bá quyền của Trung Quốc trên toàn châu Á, sẽ mang nhiều nét tương đồng với những gì Mỹ đã từng làm tại khu vực Mỹ Latinh.

Học thuyết Monroe phiên bản Trung Quốc đã vẽ nên rất nhiều viễn cảnh:

– Mỹ rút quân khỏi Nhật Bản và Hàn Quốc

– Triệt thoái sự hiện diện hải quân của Mỹ tại Đông Nam Á. Hải quân Mỹ lùi xa Trung Quốc, ít nhất là đến tận Hawaii.

– Thái Bình Dương bị chia làm 2 phần: phía Đông Trung Quốc và phía Tây là của Mỹ. Hạm đội biển xanh của Trung Quốc thoát khỏi vòng kềm kẹp của chuỗi đảo thứ nhất.

– Sự phổ biến và chiếm ưu thế của đồng Nhân dân tệ tại Đông Nam Á và thậm chí là Hàn Quốc.

– Khu vực tự do thương mại xuất hiện

– Chính sách đối ngoại của các quốc gia láng giềng theo hướng mở rộng và đồng bộ với Trung Quốc

– Đài Loan sẽ bị cô lập nếu không chấp nhận sáp nhập vào Trung Quốc

Những gì mà chúng ta thấy, sẽ không nhanh chóng diễn ra. Đó là một kế hoạch trong nhiều thập kỷ tiếp theo. Tuy nhiên, có một thực tế cần phải thừa nhận, thời đại hoàng kim của ưu thế Mỹ đang dần đến hồi kết thúc.

Theo The Diplomat

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.