Daily Archives: February 22, 2014

Tín đồ PGHH tại Đồng Tháp tiếp tục bị sách nhiễu

Tín đồ PGHH tại Đồng Tháp tiếp tục bị sách nhiễu

An Nhiên, thông tín viên RFA
2014-02-20
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này

annhien02202014.mp3Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Chi Bùi thị Minh Hằng và bà con Phật Giáo Hoà Hảo trước khi bị công an đánh và bắt

Chi Bùi thị Minh Hằng và bà con Phật Giáo Hoà Hảo trước khi bị công an đánh và bắt

Courtesy binhtrung.org

 

 

Các tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo đang cư ngụ tại huyện Lấp Vò –  Đồng Tháp liên tục bị sách nhiễu, đe dọa sau khi Blogger Bùi Thị Minh Hằng, Chị Nguyễn Thị Thúy Quỳnh và anh Nguyễn Văn Minh bị bắt giam một cách tùy tiện cách đây 9 ngày tại đây.

Hành hung không lý do

Sự việc bắt đầu diễn ra vào ngày  11 tháng 2 vừa qua, khi  gia đình Ông Nguyễn Bắc Truyển được anh em đồng đạo và một số thân hữu từ Sài Gòn về Lấp Vò, Đồng Tháp (nơi vợ chồng ông đang cư trú) để thăm gia đình ông. Nhưng họ đã bị công an chặn xe hành hung bắt giữ 21 người mà không cho biết lý do cũng như không có lệnh bắt giữ người theo đúng luật pháp Viêt Nam. Sau đó Công An tỉnh Đồng Tháp, xã An Bình, huyện Cao Lãnh đã lần lượt thả hết 18 người và vẫn còn giữ lại ba người cho đến ngày hôm nay.

Ông Nguyễn Văn Hoa – một tín đồ Phât Giáo Hòa Hảo – đang cư ngụ tại xã Long Hưng B, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp kể lại lúc mọi người bị công an giả danh côn đồ tấn công trên đường đi:

Công an tấn công hai nhà, đàn áp hai nhà là nhà ông Tô Văn Mãnh và cô Bùi Thị Thúy con gái ông Bùi Văn Trung, gần đây là bị đánh rất nhiều lần.
-Ông Nguyễn Văn Hoa

“Đi đến thăm gia đình vợ chồng Bắc Truyển trên đường đi đó, họ đóng chốt giao thông trên đường đi, tập kích giả danh côn đồ, khi mà công an kêu dừng lại 11 chiếc xe, chưa kịp thắng xe lại, họ dùng tầm vông, cây vuông, ba trắc, dùi cui, đập thí vào người, có người xỉu lên, xỉu xuống, họ tấn công chúng tôi có quan hệ với gia đình Bắc Truyển.”

Ông tiếp tục cho chúng tôi biết sau ngày bị đánh đó, công an luôn sách nhiễu các gia đình phật giáo Hòa Hảo:

“Công an tấn công hai nhà, đàn áp hai nhà là nhà ông Tô Văn Mãnh và cô Bùi Thị Thúy con gái ông Bùi Văn Trung, gần đây là bị đánh rất nhiều lần, họ chặn đường đánh nhiều lắm.”

Riêng về bản thân Ông và gia đình thì bị chặn đường, đe dọa bắt giam, công an kéo đến nhà Ông rất đông gây áp lực buộc Ông phải lên công an xã làm việc, nhưng Ông kiên quyết từ chối và cho biết:

“Lại bao vây nhà tôi, vì tôi liên quan đến Bắc Truyển để làm việc, tôi là người biết luật, hiểu luật tôi từ chối, hôm nay họ kéo quân lực lượng đông lắm sẽ thông báo bắt tôi, họ tràn vào bên trong công an rất đông, đến hai lần, lần nhất 9 giờ sáng, lần hai 10 giờ sáng.”

Ông Hoa nói tiếp, nếu ông đến công an xã làm việc có thể bị đánh đập, bị nguy hại đến tánh mạng:

“Họ dùng chiêu thức này để đưa tôi đến đó có thể họ đánh tôi, bởi vì tôi thấy gần đây đó họ đánh rất nhiều đồng đạo của chúng tôi, từ chỗ đó tôi không đi. Nhà tôi với nhà con tôi cách nhau khoảng bốn chục mét, con tôi ở ngoài lộ, tôi ở trong vườn, cháu ngoại tôi ở trong này với tôi, ngủ ở đây, sáng tôi đưa đi học. Tụi nó lên kế hoạch là nó chặn đường – công an giả danh côn đồ đó – kêu là để tôi đứa cháu tôi đi học nó sẽ đánh và xô tôi xuống sông, nhưng mà nó thấy cháu tôi ngồi trên xe đánh vậy rơi xuống sông thì chết người đi, thành thử ra kế hoạch đó không thực hiện được. Bà con nghe được nó bàn kế hoạch là ngày dó nó sẽ thanh toán tôi bất cứ hình thức nào, mạng sống của tôi hiện nay bị đe dọa dữ lắm.”

Từ hôm chồng tôi bị bắt đến nay thì nhà tôi lúc nào cũng bị sách nhiễu, ban đêm thì họ ném đá lên mái nhà, rồi làm những tiếng động nghe rất là lớn và ồn.
-Bà Bùi Thị Kim Phượng

Bà Bùi Thị Kim Phượng vợ sắp cưới của cựu Tù nhân lương tâm Nguyễn Bắc Truyển cho biết từ ngày Ông Nguyễn Bắc Truyển bị bắt đến nay bản thân Bà luôn bị sách nhiễu, theo dõi và có người cố tình muốn gây thương tích cho Bà, thậm chí cấm đóan bạn bè đến thăm:

“Từ hôm chồng tôi bị bắt đến nay thì nhà tôi lúc nào cũng bị sách nhiễu, ban đêm thì họ ném đá lên mái nhà, rồi làm những tiếng động nghe rất là lớn và ồn, làm cho gia đình tôi không có nghỉ được. Bên ngoài thì lúc nào cũng mười mấy hai mươi người, che dù đóng chốt trước cửa nhà tôi, bắt ghế ngoài lộ, xéo cửa thì có xe 16 chỗ lúc nào cũng sẵn sàng bắt người.  Các nẻo đường nhà đằng sau thì lúc nào cũng có nhiều chốt đóng để ngăn chặn mọi người không có vào để thăm gia đình tôi được.”

Sáng nay ngày 20/02/2014, thời gian đã 9 ngày bị giam, Con trai Bà Bùi Thị Minh Hằng là Trần Bùi Trung đi Đồng Tháp để mong được gặp lại Mẹ cho chúng tôi biết:

“Đơn khiếu nại gửi cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp, Công an Tỉnh  Đồng Tháp, Công an huyện Lấp Vò – Đồng Tháp, Công an huyện Đồng Tháp. Hôm nay đủ chín ngày trong luật tạm giam. Hôm trước có xuống đòi quyền thăm nuôi nhưng chúng nó không cho, bây giờ là con lên chuẩn bị săp xếp đồ đạc con xuống dưới Đồng Tháp để yêu cầu chúng nó đưa cho con cái lệnh tạm giam, tại vì hôm nay là đủ chín ngày rồi chúng nó thả mẹ con ra.”

Một số tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo cho biết, hiên nay số lượng Phật tử PGHH có khoảng trên 2 triệu khắp ở Việt Nam, đa số tín đồ tập trung ở Miền Tây Nam Bộ, nhiều tín đồ PGHH chân tu tại Miền Tây đã bị hành hung, giam cầm, đe doạ thường xuyên chỉ vì Đức Tin Tôn Giáo và quyết không theo Giáo Hội PGHH mà do chính quyền Việt Nam lập ra.

Chính quyền Việt Nam luôn nói với dư luận quốc tế là nhà nước Việt Nam tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo. Tuy nhiên việc tiếp tục tấn công vào tín đồ PGHH tại các tỉnh Miền Tây cho thấy hành động của chính quyền địa phương đi ngược lại với những gì mà chính quyền trung ương đã nói.

 

Advertisements
Categories: Tin Trong Nước | Leave a comment

Nhật khiến Trung Quốc “dựng tóc gáy” vì lo sợ

Nhật khiến Trung Quốc “dựng tóc gáy” vì lo sợ

A- A A+ ‹Đọc›

Trung Quốc hôm qua (17/2) đã bày tỏ “sự quan ngại cực độ” trước thông tin về việc Nhật Bản không chịu trả lại cho Mỹ một số lượng plutonium đủ để có thể chế tạo 50 quả bom hạt nhân. Đây là cuộc khủng hoảng mới nhất trong quan hệ giữa hai cường quốc hàng đầu Châu Á.
Nhật khiến Trung Quốc “dựng tóc gáy” vì lo sợ
ảnh minh họa

Hãng thông tấn Kyodo của Nhật Bản đưa tin, Washington đã ép Tokyo trả lại 300kg plutonium có thể sử dụng để chế tạo tới 50 quả bom hạt nhân. Nhật Bản đã từ chối nhưng cuối cùng lại nhượng bộ trước yêu cầu của Mỹ, hãng tin Kyodo cho biết.

Số plutonium nói trên được mang đến Nhật Bản trong những năm 1960 để phục vụ các mục đích nghiên cứu và hai chính phủ có thể sẽ đạt được một thỏa thuận chính thức về việc trả lại 300kg plutonium tại Hội nghị Thượng đỉnh Hạt nhân ở The Hague vào tháng 3 tới, một quan chức của Bộ Giáo dục Nhật Bản cho biết.

Trung Quốc vốn đang rơi vào một cuộc đối đầu cực kỳ căng thẳng và quyết liệt với Nhật Bản vì tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải ở biển Hoa Đông. Cường quốc số 1 Châu Á nhiều lần lo lắng phát sốt trước các động thái quân sự của Nhật Bản. Bắc Kinh cũng không ít lần cảnh báo Tokyo không được tái vũ trang.

“Trung Quốc tin rằng, Nhật Bản – với tư cách là một nước tham gia ký kết Hiệp ước Không Phổ biến Vũ khí Hạ nhân, cần phải tôn trọng tuyệt đối cam kết quốc tế về việc không phổ biến vũ khí hạt nhân và an toàn hạt nhân”, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc – bà Hua Chunying đã nói như vậy tại một cuộc họp báo.

“Trong một thời gian dài, Nhật Bản đã không trả lại số nhiên liệu hạt nhân mà họ dự trữ cho nước liên quan. Điều đó đã gây lo ngại cho cộng đồng quốc tế. Trung Quốc tất nhiên là rất quan ngại”, bà Hua nói thêm.

Nhật Bản là nạn nhân duy nhất trên thế giới phải hứng chịu các cuộc tấn công hạt nhân vào giai đoạn cuối cùng của cuộc Chiến tranh Thế giới thứ II. Không giống như Trung Quốc, Nhật Bản không sở hữu vũ khí hạt nhân và lập trường của chính phủ ở Tokyo là sẽ không chế tạo hay theo đuổi vũ khí hạt nhân.

Mặc dù không theo đuổi vũ khí hạt nhân nhưng giới chức Nhật Bản mới đây đã ám chỉ, nước này sẽ cho phép đồng minh Mỹ mang vũ khí hạt nhân vào nước họ trong trường hợp khẩn cấp.

Phát biểu với báo chí Nhật Bản hồi cuối tuần trước, Ngoại trưởng Fumio Kishda đã tuyên bố, Nhật Bản có thể cho phép Mỹ đưa vũ khí hạt nhân vào trong nước trong trường hợp khẩn cấp đe dọa đến an ninh và sự an toàn của các công dân Nhật Bản.

Trung Quốc tất nhiên là cảm thấy vô cùng bất an trước tuyên bố trên của ông Kishda.

Phát ngôn viên Hua hôm qua cũng kêu gọi Nhật Bản tuân thủ nguyên tắc ba không hạt nhân: không sản xuất, không sở hữu và không cho phép đưa vũ khí hạt nhân vào lãnh thổ của nước này. Theo bà Hua, đây là một phần quan trọng trong con đường phát triển hòa bình sau chiến tranh của Nhật Bản và “Nó cũng quan trọng đối với sự ổn định và hòa bình trong khu vực”.

Nguyên tắc 3 không hạt nhân được đưa ra lần đầu tiên bởi Thủ tướng Nhật Bản Eisaku Sato khi ông này có bài phát biểu trước Hạ viện vào năm 1967 và nguyên tắc này đã được Quốc hội Nhật Bản thông qua vào năm 1971.

Tuy nhiên, trước thách thức an ninh ngày một lớn hơn từ phía nước láng giềng Trung Quốc, Nhật Bản gần đây liên tục tăng cường sức mạnh quân sự đồng thời thắt chặt liên minh với Mỹ để sẵn sàng bảo vệ mình.

Quan hệ giữa hai cường quốc Nhật Bản và Trung Quốc từ lâu đã không được “thuận buồm xuôi gió”. Tuy nhiên, chưa có thời điểm nào trong vài thập kỷ trở lại đây, quan hệ Trung-Nhật lại rơi vào cuộc đối đầu gay gắt, quyết liệt và dai dẳng như trong thời gian hơn một năm trở lại đây.

Được châm ngòi từ cuộc tranh chấp đã có từ bao đời nay ở quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trên biển Hoa Đông, căng thẳng Trung-Nhật đang leo thang nguy hiểm đến mức có thể vượt ra ngoài tầm kiểm soát và thậm chí có thể châm ngòi cho một cuộc chiến tranh. Cuộc tranh chấp này đã lan từ dưới biển lên cả trên không. Giờ đây, không chỉ tàu thuyền hai nước thường xuyên gầm ghè nhau trên biển mà ở trên bầu trời, máy bay hai nước cũng liên tục đối đầu nguy hiểm. Gần đây, Bắc Kinh còn gây ra một “cơn sóng gió mới” khi bất ngờ đơn phương thành lập vùng phòng không ở biển Hoa Đông, bao trùm cả khu vực tranh chấp với Tokyo. Thủ tướng Shinzo Abe “còn đổ thêm dầu vào lửa” khi đến thăm đền thờ chiến tranh nhạy cảm Yasukuni, khiến Trung Quốc sục sôi tức giận.

Giới phân tích dự đoán, trong năm nay, khu vực Châu Á được cho là đang đứng trên bờ vực của một trong những ác mộng khủng khiếp nhất, đó là một cuộc chiến tranh Trung-Nhật. Ác mộng này sẽ xảy ra nếu hai cường quốc hàng đầu Châu Á không kiềm chế, ngồi lại đàm phán với nhau mà tiếp tục làm găng, lấn tới trong cuộc đối đầu “tóe lửa” như thời gian vừa qua. Trở về nguyên trạng như trước đây sẽ là cách tốt nhất cho tình hình ở biển Hoa Đông và cho mối quan hệ Trung-Nhật lúc này. Đây là quan điểm được giới chuyên gia và các nhà phân tích đồng tình chia sẻ.

Tin tức nguồn: http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=816065#ixzz2u3OhEHBw
doc tin tuc www.xaluan.com

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Ðức Huỳnh Giáo Chủ TINH-THẦN PGHH BẤT-DiệT

Ðức Huỳnh Giáo Chủ TINH-THẦN

PGHH BẤT-DiệT

Ðức Huỳnh Giáo Chủ
Vương Kim

 

 

Ðức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,

 

Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.

 

Giáo truyền đạo Thích dìu sanh chúng,

 

Chủ ý chọn người vẹn Tứ ân.

 

 

(Hình Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)

 

Phần I:

 

HÀNH TRẠNG

 

 

Thiên thứ nhứt

 

Giai đoạn ra đời mở đạo

 

 

Chương I: Bối cảnh xã hội

 

Chương II:Thân thế

 

Chương III: Ra Tế độ

 

Chương IV: Đăng Sơn

 

Chương V: Sứ Mạng

 

Chương VI: Lưu Cư

 

Chương VII: Vận Ðộng Ðộc Lập

 

Chương VIII: Tổ Chức Hàng Ngũ

 

Chương IX: Chuẩn Bị Ðấu Tranh

 

 

Thiên thứ hai

 

Giai đoạn hoạt động đấu tranh

 

 

Chương X: Dấn Thân

 

 

Thiên thứ ba

 

Giai Ðoạn Vắng Mặt

 

 

Chương XI: Lý Do Thọ Nạn

 

Chương XII: Còn Hay Mất

 

 

Phần II:

 

SỰ NGHIỆP

 

 

Thiên thứ tư

 

Sự Nghiệp Về Mặt Ðạo

 

Tôn Phái Phật Giáo Hòa Hảo

 

 

Chương XIII: Học Phật

 

Chương XIV: Tu Nhân

 

 

Thiên thứ năm

 

Sự Nghiệp Về Mặt Ðời:

 

Công nghiệp cách mạng

 

 

Chương XV: Quân Sự.

 

Bộ Ðội Nguyễn Trung Trực

 

 

Chương XVI: Chánh Trị

 

Việt Nam Dân Chủ Xã Hội đảng

 

Cùng một tác giả:

 Long Hoa xuất bản

–         Tận Thế và Hội Long Hoa (1952)

–         Đức Phật Thầy Tây An (1953) (hiệp với Đào Hưng)

–         Để Hiểu Phật Giáo Hòa Hảo (1954) (hiệp với Thanh Sĩ)

–         Ðời Hạ Ngươn (1960)

–         Đời người dướI ánh sáng Đạo Phật (1960)

–         Bửu Sơn Kỳ Hương (1966)

–         Hành sử Đạo Nhân (1970)

–         Tu Hiền (1972)

–         Đời Thượng Ngươn (1973)

–         Pháp Môn Tịnh Độ (1973)

–         Tại Sao Ta Phải Tu (1974)

Dân Xã Tùng Thư

–         Chánh trị thường thức (1956)

–         Tinh thần cán bộ (1971)

–         Lập trường Dân Xã Đảng (1971)

MUC LUC | CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | |CHƯƠNG 7 | | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | | CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 |

CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|

[TV. PGHH]

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Mỹ ‘ủng hộ mạnh mẽ’ nhân quyền Tây Tạng

Mỹ ‘ủng hộ mạnh mẽ’ nhân quyền Tây Tạng

Cập nhật: 07:47 GMT – thứ sáu, 21 tháng 2, 2014
Đức Đà Lai Lạt Ma và ông Obama

Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã gặp lãnh tụ tinh thần đang lưu vong của Tây Tạng, Đức Đà Lai Lạt Ma, theo quan chức Hoa Kỳ.

Lãnh đạo Hoa Kỳ hứa sẽ “ủng hộ mạnh mẽ” trong việc bảo vệ nhân quyền của người Tây Tạng ở Trung Quốc trong cuộc gặp.

Trung Quốc trước đó hối thúc Hoa Kỳ hủy cuộc gặp, nói điều này sẽ “gây thiệt hại nghiêm trọng quan hệ Trung-Mỹ”.

Bắc Kinh gọi đức Đà Lai Lạt Ma là người gây chia rẽ, trong khi vị lãnh tụ tinh thần nói ông chỉ bênh vực cho quyền tự trị lớn hơn của Tây Tạng, thậm chí không phải là độc lập.

Trong buổi gặp tại phòng Map Room – thuộc dinh tư của tổng thống – ở tòa Bạch Ốc, ông Obama và Đức Đà Lai Lạt Ma hy vọng đàm phán giữa Bắc Kinh với các đại diện của đức Đà Lai Lạt Ma sẽ sớm tiến hành trở lại.

Lần cuối ông Obama và Đức Đà Lai Lạt Ma gặp nhau là từ năm 2011, cuộc nói chuyện đã khiến Trung Quốc giận dữ. Tây Tạng vẫn là khu vực tự trị ở Trung Quốc.

Bắc Kinh nhiều lần bị cáo buộc là vi phạm tự do chính trị và tôn giáo của Tây Tạng, nhưng luôn luôn bác bỏ cáo buộc này.

Giới chức Trung Quốc cũng nói đã hết sức nỗ lực phát triển kinh tế để cải thiện đời sống của người dân Tây Tạng.

‘Kiên quyết phản đối’

Trung Quốc nhanh chóng phản hồi về cuộc gặp, với Thứ trưởng Ngoại giao Trương Nghiệp Toại cho triệu hồi người phụ tá trưởng đoàn ngoại giao Mỹ ở Bắc Kinh, Daniel Kritenbrink, để bày tỏ phản đối.

Đức Đà Lai Lạt Ma nói ông chỉ bênh vực cho quyền tự trị lớn hơn của Tây Tạng

“Trung Quốc bày tỏ sự phẫn nộ mạnh mẽ và kiên quyết phản đối,” ông Trương nói, theo tin từ Tân Hoa xã.

“Vấn đề Tây Tạng là chuyện nội bộ Trung Quốc, và Hoa Kỳ không có bất kỳ quyền gì để can thiệp,” ông nói thêm. “Động thái như vậy sẽ phá hoại nghiêm trọng hợp tác và quan hệ Trung-Mỹ, và chắc chắn làm suy yếu lợi ích của chính họ.”

Caitlin Hayden, phát ngôn nhân của Ủy ban An ninh Quốc gia, nói ông Obama sẽ tiếp Đức Đà Lai Lạt Ma “với tư cách ngài là lãnh đạo tôn giáo và văn hóa được quốc tế kính trọng”.

Bà nói: “Chúng tôi không ủng hộ độc lập cho Tây Tạng, nhưng Hoa Kỳ cổ suý mạnh mẽ nhân quyền và quyền tự do tôn giáo ở Trung Quốc”.

“Chúng tôi quan ngại về căng thẳng kéo dài và tình trạng nhân quyền xấu đi ở các vùng thuộc Tây Tạng của Trung Quốc”.

Trong những năm qua, hơn 110 người Tây Tạng, chủ yếu là các sư sãi sống bên ngoài khu vực này, đã tự thiêu để phản đối chính sách cầm quyền của Bắc Kinh.

Chính phủ Trung Quốc cáo buộc Đức Đà Lai Lạt Ma đứng đằng sau các cuộc biểu tình.

Dalai Lama đã sang sống lưu vong tại Ấn Độ năm 1959, sau khi quân đội Trung Quốc đàn áp kế hoạch nổi dậy ở Tây Tạng.

Nay ngài đang kêu gọi một “con đường thứ ba” trong quan hệ với Bắc Kinh, tìm kiếm thêm quyền tự trị chứ không đòi tách ra khỏi Trung Quốc.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Việt Nam làm gì để chiếm lĩnh Biển Đông?

Việt Nam làm gì để chiếm lĩnh Biển Đông?

05.04.2013 | 09:32 AM
Thích và chia sẻ bài viết này trên:

Lịch sử từ xa xưa cho thấy, với điều kiện địa hình phức tạp, vùng biển Việt Nam hàm chứa sự bất lợi cho phát triển kinh tế cũng như quân sự.

Khó phòng thủ

Tuy có cấu trúc địa hình đa phân và núi và biển, song người Việt từ xưa tới nay chủ yếu dựa vào đất, chưa quan tâm đúng mức đến tiềm năng kinh tế các vùng biển mặc dù chiều dài bờ biển Việt Nam chiếm tới 3.260 km.

Trong hơn 10 thế kỷ kể từ năm 938 đến nay, Việt Nam thường đối diện với những nguy cơ tranh chấp về đường biên giới trên bộ, cả ở phía Bắc và ở phía Nam nhiều hơn là trên biển. Ngày nay, đường biên giới trên bộ của Việt Nam với ba nước xung quanh vẫn dài hơn khá nhiều so với đường bờ biển. Cho đến tháng 1/1974, Việt Nam chưa bao giờ phải chịu sức ép quá lớn về tranh chấp chủ quyền đối với khu vực biển và hải đảo.

Đường bờ biển ở miền Trung dài và có nhiều nơi thuận lợi để làm cảng nước sâu, đáng lẽ đó phải là điều kiện vật chất tốt để tạo ra sự giàu có cho quốc gia ven biển. Nhưng một điều đáng tiếc là địa hình ven biển thiếu chiều sâu và chiều rộng không gian nên luôn chứa đựng sự bất lợi cả cho việc phòng thủ lẫn việc phát triển tiềm lực kinh tế của đất nước. Champa một thời hùng mạnh về nghề đi biển cũng vì nguyên nhân này mà bị diệt vong trước cả kỷ nguyên mà thuyền buồn và đại bác thống trị trên các đại dương.

Việt Nam làm gì để chiếm lĩnh Biển Đông? - Ảnh 1
Vùng biển Việt Nam có địa hình phức tạp. (Ảnh: T.H/Vietnam+).

Riêng đối với người Việt, trong thời hậu kỳ phong kiến (thế kỷ XVII-XIX), ít nhất đã có ba chính quyền bị suy sụp và thất bại nhanh chóng sau các cuộc tấn công của kẻ địch vào thủ đô qua đường biển (hải quân của Nguyễn Ánh đã đột kích thành công vào Quy nhơn của vua Thái Đức Nguyễn Nhạc năm 1792, vào Phú Xuân của vua Quang Toản nhà Tây Sơn năm 1801 và sau này Thành Huế của Nhà Nguyễn đã thất thủ trước người Pháp vào năm 1883).

Tất cả điều này chứng minh yếu tố bất lợi về địa hình đối với bên phòng thủ một khi bên tấn công đã phong tỏa đường đường biển, không có đường rút lui.

Có thể thấy rằng cấu trúc địa hình chữ S trên đất liền của Việt Nam, dù nằm ngay cạnh một biển vô cùng quan trọng, nhưng dựa trên cấu trúc địa hình này đã không thể hướng nổi các mối quan tâm của cộng đồng cư dân vào các lợi ích kinh tế biển. Từ đó không đủ sức tập trung các nguồn lực từ đất liền cho các mục tiêu dài hạn cho phát triển kinh tế biển.

Sẽ bứt phá khi ở thế chân tường

Lịch sử cho thấy, trong từng thời kỳ nhất định, Nhà nước và xã hội Đại Việt cũng có những mối quan tâm nhất định đối với biển. Giai đoạn từ cuối thời hà Lý đến giữa thời thà Trần (thế kỷ XII-XIII), người Việt đã có sự tận dụng tốt hơn lợi thế của biển để mở rộng quan hệ thương mại với các nước. Đó là thời kỳ chứng kiến sự thành lập, phát triển sầm uất của thương cảng Vân Đồn (từ 1149); các cuộc viễn chinh qua đường biển của người Việt vào lãnh thổ Champa…

Tuy nhiên, trong hai thế kỷ tiếp theo, các kỹ năng của người Việt liên quan biển gần như bị chững lại và suy thoái.

Sự kiện Nguyễn Hoàng được cử vào trấn thủ Thuận Hóa năm 1558 đã mở ra một thời kỳ mới mẻ trong lịch sử Việt Nam, làm xuất hiện xứ Đàng Trong trong cục diện đối đầu với Đàng Ngoài. Quyết định vượt biển vào Nam lúc đó của Nguyễn Hoàng diễn ra khi bị đặt vào đường cùng trước nguy cơ bị họ Trịnh tận diệt.

Những người đi khai phá phương Nam buộc phải có sự thay đổi cả về tư duy, lề lối làm ăn và tập quán sinh hoạt theo hướng gần hơn với biển, điều sẽ không thể có được khi người ta chỉ sinh sống quanh quẩn ở đồng bằng miền Bắc.

Khi phân tích đến yếu tố đặc điểm dân tộc, không nên đổ riệt cho đặc trưng “tâm lý cư dân lúa nước,” cho lề lồi làm ăn có tính tiểu nông “manh mún” từ bao đời nay đã quyết định tư duy “đất liền” của người Việt mà quên đi tâm thức hướng biển.

Lịch sử cũng đã nhiều lần chứng minh, khi bị dồn vào hoàn cảnh không có đường lùi, người Việt rất biết cách bứt phá. Thời hiện đại, chúng ta đã từng biết rõ điều này vào một số thời điểm như mùa đông năm 1946 và mùa đông năm 1986, khi tất cả dân tộc chỉ còn dựa vào niềm tin.

Muốn trở thành một cường quốc trên biển, chắc chắn dân tộc Việt Nam phải tiếp tục bồi đắp bản lĩnh cho mình.

Chưa nhận thức đầy đủ vai trò Biển Đông đối với sự phát triển của đất nước

Năm 1802, Nguyễn Ánh, một ông hoàng rất am hiểu về lợi thế sức mạnh của quyền kiểm soát trên biển với sự giúp đỡ của những người châu Âu đã giành được thắng lợi trong cuộc chiến tranh với Tây Sơn.

Trước việc triều Nguyễn được kế thừa những nền tảng kinh tế-xã hội có căn tính ven biển dưới thời các chúa Nguyễn trước đây và tiếp tục lựa chọn Huế (Phú Xuân cũ) – một đô thị sát biển làm thủ đô, những tưởng Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia phát triển về biển. Song thực tế không phải vậy.

Nguyên nhân trước hết vẫn là hạn chế từ thể chế chính trị của nhà nước phong kiến rập khuôn từ Trung Quốc nên mang bản chất chuyên chế, độc đoán cao, không khuyến khích mở cửa bang giao.

Nguyên nhân thứ hai là việc Triều đình Huế, do phải tính đến khả năng cân bằng quyền lực với Miền Bắc và Miền Nam, đề phòng những khu vực có tiềm lực kinh tế mạnh và dân số đông hơn ly khai đã chủ trương theo đuổi chính sách kinh tế “trọng nông,” “bế quan toả cảng”.

Nguyên nhân thứ ba, các vị vua nhà Nguyễn ưu tiên cho việc mở rộng lãnh thổ đế quốc trên đất liền, chủ yếu là cuộc chiến tranh khốc liệt. Hậu quả của cuộc chiến tranh này đã làm kiệt quệ mọi nguồn sức mạnh của Đại Nam.

Mặc dù dưới thời Minh Mạng, hải quân cũng được quan tâm, hải đội đã tung hoành ở Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng mọi sự chuyển biến theo chiều hướng tệ hại chỉ sau đó ít lâu (chưa đến 10 năm). Hải quân đã bị bỏ quên, trang bị vũ khí yếu kém, ít luyện tập nên từng bị cướp biển Tàu đánh bại ngay trước cửa nhà. Phần lớn thuyền bè bị cất vào kho và trở nên mục nát.

Sự lãng quên vai trò của biển trong việc duy trì, củng cố sức mạnh quân sự và kinh tế một thời tạo nên cơ đồ nhà Nguyễn đã khiến Việt Nam phải trả một cái giá khủng khiếp khi chứng kiến sức mạnh quân sự của hạm đội Pháp ở Đà Nẵng vào năm 1858-1859.

Về cơ bản, trong suốt thời kỳ phong kiến Việt Nam, việc duy trì đường lối đối ngoại và kinh tế chỉ chú trọng quan hệ với Trung Hoa và coi thường quan hệ với các nước khác đã mang đến một hậu quả tiêu cực lâu dài đối với sự phát triển của dân tộc. Do vậy, mặc dù là một đất nước có vị trí gần biển và giàu tài nguyên biển nhưng người Việt không nhận thức được đúng đắn vai trò của biển, hải đảo thông qua việc sử dụng nhân tố này để phá cục diện mất cân bằng chiến lược với Trung Quốc.

Ngày nay, với đường lối chính sách độc lập, mở cửa trên tinh thần làm bạn với tất cả các nước của Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với lợi ích của dân tộc và tạo điều kiện khả năng phát triển các tiềm lực kinh tế biển.

Tuy nhiên, việc áp dụng thành công nguyên lý kết hợp giữa hai nhân tố thể chế vượt trước và lợi thế mặt tiền của biển còn tuỳ thuộc rất nhiều vào việc hiểu đúng bản chất cả về ưu thế và bất lợi đối với đất nước. Từ đó, xác định bước đi đúng đắn cho việc thực hiện chiến lược biển của quốc gia.

Phải làm những gì để chiếm lĩnh Biển Đông?

Bên cạnh yêu cầu sớm hình thành học thuyết phát triển đất nước dựa vào biển và quy hoạch lại toàn bộ không gian lãnh thổ, Việt Nam nhất thiết phải nhanh chóng xây dựng tuyến đường sắt mới xuyên trục Bắc-Nam, xác định lại vị trí trọng yếu làm cảng biển quốc tế nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế biển

Việt Nam làm gì để chiếm lĩnh Biển Đông? - Ảnh 2
Đảo Đá Lớn.(Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN).

“Hải-lục” phải hợp nhất

Nhận thức được vai trò quan trọng của biển Đông, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 Khoá X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 (2/2007) và Luật Biển Việt Nam 2012 là hai văn bản do cấp quyết sách cao nhất của đất nước thông qua, đề cập trực tiếp và toàn diện về chính sách biển của Việt Nam.

Trong thập kỷ đầu tiên vừa qua của thế kỷ XXI, vấn đề biển, hải đảo đã được chú trọng xem xét trong các loại quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn và trung hạn. Tuy vậy, kết quả lại cho thấy một sự nghi ngờ về tính khả thi và hiệu quả kinh tế-xã hội của các loại quy hoạch.

Tuy có nhiều ý kiến, song đến nay vẫn chưa có một câu trả lời xác đáng về “thế trận” ra biển của Việt Nam trong khi áp lực an ninh trên biển Đông đang tăng nhanh.

Nhìn vào bức tranh đã phân tích (ở các bài trước), có thể nhận định rằng, tình thế của Việt Nam đối với cục diện trên Biển Đông có thể nói là khá bất lợi. Song, sự bất lợi trên thực tế còn có thể lớn hơn nữa, khi hiểu rằng: lãnh thổ Việt Nam trên đất liền là cả một đới bờ lớn, nơi chịu tác động qua lại các yếu tố từ cả đại dương lẫn lục địa.

Để phát triển đất nước trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, phải xây dựng được học thuyết phát triển đất nước dựa vào biển một cách hoàn chỉnh. Học thuyết phát triển đất nước dựa vào biển không đơn thuần là một bản tập hợp của các loại tư duy quản lý theo ngành lĩnh vực hay tư duy vùng miền, địa phương, có nghĩa là vẫn áp dụng tư duy quản lý “cắt khúc” của đất liền vào mà luôn phải xuất phát từ tính toàn cục cả về không gian lẫn về thời gian của đối tượng quản lý.

Trước hết, để khắc phục hạn chế về hình thể đất nước trên đất liền thuộc dạng “nhà siêu mỏng nằm bên xa lộ,” trong quản lý lãnh thổ cần phải luôn nhất quán cách tiếp cận quản lý tổng hợp dựa trên quan niệm Việt Nam là một quốc gia “lưỡng phần lãnh thổ,” bao gồm phần đất (lục) và phần biển (hải).

Với quan niệm như trên, việc tổ chức không gian toàn lãnh thổ Việt Nam nhất thiết phải theo phương châm “hải-lục hợp nhất”. Mọi tính toán và hành động mang tầm vĩ mô trên đất liền đều phải nghĩ đến tác động của nó đối với biển và ngược lại.

Tiếp theo cần cân nhắc điều chỉnh chức năng kinh tế-quốc phòng của từng vùng miền. Ví dụ như Đông Nam Bộ cần tăng tốc đầu tư, phát triển công nghiệp tàu thuỷ và kinh tế cảng biển quốc tế, cảng hàng không quốc tế để trở thành đầu mối thương mại và vận tải của toàn khu vực Đông Nam Á; Duyên hải miền Trung nên giảm bớt số khu kinh tế ven biển, số dự án cảng biển để chú trọng vào một số ngành kinh tế đã định hướng như du lịch biển, nghề cá…

Cuối cùng, để nâng cao năng lực quy hoạch phát triển kinh tế biển gắn với quốc phòng-an ninh và điều phối chính sách biển (bao gồm cả vùng bờ), cần nghiên cứu tổ chức lại theo hướng chỉ nên có duy nhất một Uỷ ban quốc gia về các vấn đề biển, hải đảo do Chủ tịch nước hoặc Thủ tướng Chính phủ trực tiếp đứng đầu.

Cần xác định cảng biển trọng yếu

Trên thực tế, muốn phát triển hướng Biển thì con đường lưu thông là vô cùng quan trọng. Năm 2010, dự án đường sắt cao tốc Bắc-Nam đã bị “bác” bởi lo sợ nguy cơ lún sâu hơn vào món nợ khổng lồ, hiệu quả kinh tế thì mơ hồ trong khi còn biết bao vấn đề thực tiễn cấp bách của đời sống nhân dân cần phải giải quyết.

Tuy nhiên, vấn đề đường sắt không chỉ là câu chuyện phục vụ hành khách, mà nó sẽ là một dự án quan trọng, phá vỡ thế cô lập, chia cắt làm nhiều khúc ở Miền Trung, Tây Nguyên, mở đường cho phát triển kinh tế biển.

Về cảng, chúng ta cần nói đến tầm quan trọng của dự án Cảng Vân Phong (Khánh Hoà) trong mối quan hệ với chiến lược biển của Việt Nam. Mặc dù có những điều kiện tự nhiên rất thuận lợi để làm cảng nước sâu nhưng nếu không có mặt bằng không gian đủ rộng để phát triển đô thị ăn theo và không có đường giao thông thông thoáng để kết nối nhanh chóng với các vùng khác hoặc xuyên được sang Campuchia và Thái Lan thì tiền đồ của Cảng này liệu có mấy khả quan?

Trong hệ thống cảng biển ở khu vực phía Nam, có lẽ cần quan tâm hơn đến Cảng Thị Vải – Cái Mép bởi nó hội tụ đầy đủ hơn các điều kiện để phát triển thành một cảng lớn nhất không chỉ của Việt Nam mà cho toàn khu vực Đông Dương. Cảng này cũng nằm xa hơn về phía Nam, nơi ít có khả năng rủi ro liên quan đến những tranh chấp vũ trang nên có thể coi là điểm đến an toàn và có hiệu quả đối với tàu bè thương mại trên khắp thế giới.

Với việc đặt lại vấn đề như trên, một dự án đường sắt mới cho phép tạo ra sự liên kết với tốc độ nhanh chóng và khả năng vận chuyển hàng hoá lớn giữa các miền của đất nước, lại càng thêm cần thiết.

Nếu đường sắt mới kết nối với Cảng Thị Vải – Cái Mép, nó sẽ là tuyến đường vận chuyển hàng hoá tiện lợi hơn bất tuyến vận tải nào khác kỳ giữa Miền Bắc Việt Nam, Lào và Tây Nam Trung Quốc với các nước Đông Nam Á (trừ Philippines), Trung Đông và Nam Á, Châu Đại Dương và Nam Mỹ. Có thể thấy rằng, ý nghĩa cực kỳ to lớn của dự án đường sắt lại nằm ở một việc tưởng chừng ít liên quan, đó chính là để đưa Trường Sa gần hơn với đất liền.

Một ví dụ thường được nhắc đến như bài học về tầm nhìn và sự quyết đoán để đưa đất nước tiến lên, đó là quyết định làm tuyến đường (bộ) cao tốc Seoul-Busan của Tống thống Hàn Quốc Park Chung Hee. Dù gặp rất nhiều phản đối, nhưng thực tế đã chứng minh đó là một quyết định đúng đắn, cho phép kết nối 2 trung tâm kinh tế của đất nước, mở đường cho Hàn Quốc trở thành cường quốc.

Sau khi xem xét nguyên nhân và bài học đã qua để trả lời việc tại sao Việt Nam chưa thể tận dụng vị trí ven biển để trở thành một quốc gia có sức mạnh trên Biển Đông, phải hiểu được rằng một dân tộc muốn vươn ra biển, muốn chứng tỏ được sức mạnh trên biển, trước hết cần có tầm nhìn chiến lược, mang tính toàn cục. Ngoài ra, phải có sự quyết tâm, sức bền bỉ rất cao để vượt qua chính mình bằng việc khắc phục được những hạn chế, tồn tại cố hữu./.

Theo Đặng Xuân Phương 
TTXVN/Vietnam+

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Tàu ngầm Hà Nội của Việt Nam.

Đầu tháng 1/2014, tàu chở hàng cỡ lớn Rolldock đã cập cảng Cam Ranh của Việt Nam và mang theo một chiếc tàu ngầm. Chiếc tàu ngầm mang tên Hà Nội, với ký hiệu HQ- 182, là loại tàu ngầm lớp Kilo cải tiến do Nga chế tạo nằm trong số hợp đồng 6 chiếc được ký kết giữa Hà Nội và Moskva năm 2009.

Với lượng giãn nước 4.000 tấn, tàu ngầm chạy bằng động cơ diesel của Hải quân Việt Nam có 6 ống phóng tên lửa chống tàu siêu âm dẫn đường Klub. Nó được Hải quân Mỹ mệnh danh là “lỗ đen” giữa lòng đại dương. Tàu ngầm này có thể hoạt động lặng lẽ ngoài khơi Việt Nam, sẵn sàng đánh chặn và đánh chìm bất kỳ kẻ tấn công nào và 6 chiếc tàu ngầm loại này sẽ là lực lượng chủ lực của hải quân Việt Nam khi nó được bàn giao đầy đủ.

Lý do tàu ngầm được ưu tiên phát triển tại châu Á - Ảnh 1

Tàu ngầm Hà Nội của Việt Nam.

Tuy nhiên, Việt Nam không phải là quốc gia duy nhất ở khu vực đang mua sắm loại vũ khí này. Malaysia đã sở hữu hai chiếc. Thái Lan cũng mới thành lập đơn vị chỉ huy tàu ngầm và giờ chỉ cần trang bị những chiếc tàu ngầm trên thực tế. Hàn Quốc đã tăng gấp đôi hạm đội tàu ngầm, trong khi Nhật Bản đang tăng thêm một 1/3 số tàu ngầm của mình.

Khắp châu Á, ngân sách quốc phòng đã tăng lên nhanh chóng. Chi tiêu quốc phòng tại khu vực trong năm 2013 cao hơn 11,6% so với năm 2010. Những mức tăng lớn nhất trong năm qua tập trung ở khu vực Đông Á với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc chiếm hơn 1/2. Trung Quốc hiện có mức chi tiêu quốc phòng nhiều gấp 3 lần so với Ấn Độ, và còn hơn các nước láng giềng như Nhật Bản, Hàn Quốc… cộng lại. Để duy trì hòa bình và giành chiến thắng trong một cuộc chiến tranh tiềm năng, hải quân các nước trong khu vực đang “đặt cược” vào lực lượng tàu ngầm.

Lý do tàu ngầm được ưu tiên phát triển tại châu Á - Ảnh 2

Tàu ngầm Nadaeyung của Hàn Quốc.

Khi kinh tế phát triển, các quốc gia châu Á đầu tư xây dựng lực lượng tàu ngầm là một vấn đề hợp quy luật bởi vì nhiều nước trong khu vực phụ thuộc lớn và thông thương hàng hải để xuất, nhập khẩu tài nguyên thiên nhiên và hàng hóa. Nhật Bản phải nhập khẩu 96% năng lượng tiêu thụ trong khi Hàn Quốc nhập khẩu 96% thực phẩm. Đối với nhiều quốc gia trong khu vực, mất quyền kiểm soát trên biển là một thảm họa.

Trung Quốc cũng không ngoại lệ. Về mặt truyền thống, Trung Quốc là một cường quốc trên đất liền. Khi nền kinh tế phát triển, lợi ích của nước này mở rộng trên phạm vi toàn cầu. Hiện Bắc Kinh đang phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu dầu mỏ ở Trung Đông, các nguyên vật liệu thô từ châu Phi và Australia trong khi cả thế giới là thị trường tiêu thụ hàng hóa của Trung Quốc. Những mặt hàng này chủ yếu được lưu thông bằng đường biển.

Lý do tàu ngầm được ưu tiên phát triển tại châu Á - Ảnh 3

Tàu ngầm lớp Nguyên của Trung Quốc.

Kết quả là, lực lượng hải quân của Bắc Kinh đang được đầu tư phát triển với tốc độ chóng mặt. Trung Quốc cũng đã đưa tàu sân bay đầu tiên của mình, Liêu Ninh vào hoạt động từ năm 2011, đang tự chế tạo một tàu sân bay khác cùng các tàu khu trục, đổ bộ khác. Dưới biển, hạm đội tàu ngầm của Trung Quốc đã được tăng cường và mở rộng với các lớp tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân và động cơ diesel với một số tự sản xuất và một số khác mua từ Nga. Đồng thời, Bắc Kinh đã sử dụng sức mạnh chính trị và quân sự mới của mình để theo đuổi yêu sách lãnh thổ. Điều này khiến Bắc Kinh ở trong tình thế đối đầu với một số nước ASEAN trên biển Đông cũng như với Nhật Bản ở biển Hoa Đông.

Những quốc gia trên đã buộc phải tự tìm cách kìm chế tham vọng lãnh thổ của Bắc Kinh và biết rằng không thể giành chiến thắng nếu đối đầu trực tiếp. Cách thức hiệu quả nhất ở đây, là tàu ngầm. Những “sát thủ dưới lòng đại dương” này có thể bí mật ẩn nấp và ngụy trang khiến đối phương khó phát hiện, dó đó, chúng có thể tiêu diệt những tàu chiến có kích thước lớn hơn gấp nhiểu lần.

Lý do tàu ngầm được ưu tiên phát triển tại châu Á - Ảnh 4

Tàu ngầm Kuroshio của Nhật Bản.

Đây là những điều mà Nhật Bản đã tính đến khi tăng cường lực lượng tàu ngầm của mình từ 16 lên 22 chiếc. Hạm đội tàu ngầm của Nhật Bản được đánh giá là tốt nhất ở châu Á và với đặc điểm địa lý của mình Tokyo có thể dễ dàng ngăn chặn lực lượng hải quân Trung Quốc tiếp cận theo cách truyền thống.

Liệu các tàu ngầm mới này khiến cho nguy cơ về một cuộc chiến tranh ở khu vực châu Á tăng lên, hay giảm đi? Và hành động khiêu khích của Bắc Kinh hiện nay liệu có khiến ngày càng nhiều các tàu ngầm của các nước trong khu vực hiện diện dọc theo bờ biển của Trung Quốc? Ngay cả khi cho rằng đây là thế kỷ của chiến tranh tàu ngầm thì các câu hỏi trên vẫn rất khó có câu trả lời. Tác chiến tàu ngầm sẽ rất hiệu quả cho đến khi một trong các bên tham chiến vận dụng tốt nghệ thuật chiến tranh chống ngầm. Trung Quốc hiện không có kinh nghiệm nhiều trong lĩnh vực tác chiến chống ngầm, nên sẽ là một lợi thế lớn đối với các đối thủ của nó.

Nếu việc phát triển các hạm đội tàu ngầm ở châu Á chứng minh được rằng đây là biện pháp răn đe đáng tin cậy, nó có thể duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực trong một thời gian dài.

Theo Báo Tin tức

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Chủ tịch Trung Quốc hạ lệnh sẵn sàng chiến tranh với Nhật?

Chủ tịch Trung Quốc hạ lệnh sẵn sàng

chiến tranh với Nhật?

A- A A+ ‹Đọc›

Có tin cho rằng, Quân ủy Trung ương Trung Quốc ban hành chỉ thị trực tiếp và rõ ràng cho quân đội “chiến tranh với Nhật Bản nếu cuộc chiến là thích đáng”.
Nhiều người quan ngại, Trung, Nhật sắp bước vào giai đoạn xung đột quân sự trực tiếp.
Nhiều người quan ngại, Trung, Nhật sắp bước vào giai đoạn xung đột quân sự trực tiếp.

Một số phương tiện truyền thông (phiên bản tiếng Anh) dẫn thông tin, nhiều người quan ngại căng thẳng Trung-Nhật liên quan đến tranh chấp lãnh thổ quần đảo Điếu Ngư/Senkaku ở Biển Hoa Đông đã trải qua giai đoạn đối đầu bằng miệng và tiếp theo rất có thể sẽ là cuộc đối đầu quân sự trực tiếp.
Giới lãnh đạo quân sự Trung Quốc quan ngại, với sự hỗ trợ của Mỹ, Nhật Bản nhiều khả năng sẽ phát động chiến tranh chống Trung Quốc. Theo đó, Quân ủy Trung ương Trung Quốc đã chỉ thị trực tiếp và rõ ràng tới toàn quân đội, cứ “chiến tranh với Nhật Bản nếu cuộc chiến là thích đáng”.
Thậm chí, nguồn tin còn tiết lộ thông tin Chủ tịch Trung Quốc kiêm Chủ tịch Quân ủy Trung ương Tập Cận Bình thậm chí còn đưa ra cảnh báo như trên tới một phái đoàn kinh tế và thương mại của Nhật tới thăm Trung Quốc thời gian gần đây. Khi đó, Chủ tịch Tập đặc biệt nhấn mạnh, nếu Nhật Bản tiếp tục khiêu khích Trung Quốc, đẩy căng thẳng liên quan đến tranh chấp lãnh thổ quần đảo Điếu Ngư/Senkaku leo thang, Tokyo sẽ phải hứng chịu mọi hậu quả.
Mới đây, một quan chức Mỹ cũng đưa ra nhận định rằng, các cuộc tập trận gần đây của Trung Quốc chứng tỏ nước này đang chuẩn bị một cuộc chiến tranh chớp nhoáng với Nhật Bản nhằm đánh chiếm các hòn đảo đang tranh chấp ở Biển Hoa Đông.
Cụ thể, Đại úy Hải quân James Fanell, chỉ huy các hoạt động thu thập thông tin-tình báo của Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ nhấn mạnh: “Chúng tôi rút ra kết luận rằng, Quân đội Trung Quốc đã được giao nhiệm vụ mới là tiến hành một cuộc chiến tranh nhanh gọn, chớp nhoáng đánh bại lực lượng Nhật Bản ở Biển Hoa Đông. Mục tiêu của nhiệm vụ là để đánh chiếm quần đảo Senkaku/Điếu Ngư hay thậm chí cả quần đảo nam Ryukyu”.

Theo dõi sự kiện qua Videos Thời Sự quốc tế tiếng Anh

Bạn đọc gửi 0 bình luận « Nhấn để đọc và cùng chia sẻ

Tin tức nguồn: http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=818805#ixzz2u1gJryLT
doc tin tuc www.xaluan.com

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Obama ở xa còn Nga ở gần

Ukraine

Obama ở xa còn Nga ở gần

Nguyễn Giang

bbcvietnamese.com

 

Cập nhật: 16:58 GMT – thứ sáu, 21 tháng 2, 2014

Hơn một tuần qua, đợt bạo lực “tồi tệ nhất châu Âu kể từ cuộc chiến Balkans” đang diễn ra ở Kiev chiếm trọn nhiều mặt báo quốc tế.

‘Xin đừng lấy tôi’, người Ukraine ôm bí ngô theo phong tục trả quà đính hôn tới Sứ quán Nga

Đến ngày 21/2/2014, sau đợt quân đội dùng súng bắn tỉa giết người biểu tình và phe đấu tranh cũng bắn lại cảnh sát làm chừng 80 người chết cả hai phía, tình hình tuy tạm yên chờ bầu cử mới nhưng vẫn chưa rõ sẽ ra sao.

Bức tranh Ukraine cũng không phải chỉ có hai màu đen trắng.

Không thể nói phiến diện rằng phe biểu tình thì tốt, chính phủ thì xấu, châu Âu hay Hoa Kỳ luôn đúng và Nga thì sai bởi còn có nhiều yếu tố lịch sử, địa lý và dân tộc đan xen trong chuyện Ukraine.

Trên thực tế biểu tình ở Ukraine chỉ là sự bùng phát ra ngoài của xung khắc nội bộ ở một xã hội đang đứng ở ngã ba đường.

Giới trẻ và người dân phía Tây Ukraine hướng về EU, Hoa Kỳ nhưng láng giềng sát nách họ lại là Nga.

Di sản của quá khứ cũng đang tiếp tục tác động đến tâm tư người dân ở quốc gia 45 triệu dân, thu nhập trên 3000 USD đầu người một năm này và thể hiện ra trong các đợt biểu tình.

Địa chính trị Ukraine

Mario Platero viết trên một tờ báo ÝIl Sole-24 Ore, đã mô tả chính xác câu chuyện Ukraine như sau:

“Với ông Obama và một nước Mỹ mệt mỏi năm 2014, Ukraine chỉ là một vấn đề xa xôi “

“Với ông Putin và Nga, việc kiểm soát toàn diện Ukraine là vấn đề chiến lược sống còn, với ông Obama và một nước Mỹ mệt mỏi năm 2014, Ukraine chỉ là một vấn đề xa xôi nên để cho các đồng minh châu Âu dính vào…”

Cấm vận, một phương thức từng hữu hiệu với các nền kinh tế khép kín, có thể chỉ đẩy Ukraine nghiêng về phía Nga.

Trong khi châu Âu thông qua cấm vận, Hoa Kỳ đã kiềm chế hơn và như các tiết lộ từ điện đàm ngoại giao của Mỹ, chính quyền Obama cũng không rõ ràng về chuyện ủng hộ ai trong phe đối lập.

Thái độ của người Mỹ là hoàn toàn dễ hiểu.

Rút kinh nghiệm từ chiến tranh cựu Bosnia và Kosovo, không phải cuộc can thiệp nào của Hoa Kỳ vào châu Âu gần đây cũng để lại ấn tượng tốt với tất cả.

Mặt khác, quan hệ với Moscow vẫn luôn có tầm chiến lược hơn vùng Đông Âu và dù muốn dính líu, các quốc gia bên ngoài cũng không thể thay đổi các di sản lịch sử có từ lâu của khu vực ngoại vi nước Nga.

Lịch sử còn tác động

Dù Ukraine đã độc lập được hơn 20 năm, các dấu ấn lịch sử vẫn còn sâu đậm trong tâm trí người dân và có ảnh hưởng đến suy nghĩ của phe đối lập vốn luôn e ngại về tác động của Moscow.

Nạn đói thời Stalin năm 1934 làm chết hàng triệu nông dân Ukraine

Nhắc lại lịch sử, ngay sau Cách mạng Bolshevik năm 1917, sự hình thành Cộng hòa Xô Viết Ukraine năm 1922 đóng vai trò quan trọng cho việc lập ra Liên Xô.

Nhưng vựa lúa mì Ukraine cũng là nơi xảy ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa phái cộng sản và phe dân tộc chủ nghĩa Ukraine, dẫn đến các đợt trấn áp đẫm máu của Stalin với phú nông, địa chủ Ukraine.

Nạn đói thời cộng sản do chính sách tịch thu lúa mì và khoai tây làm hàng triệu người dân Ukraine thiệt mạng.

30 năm đàn áp liên tục của Stalin để làm chủ Ukraine để lại dấu ấn sâu đậm tới mức nhiều người ủng hộ phe đối lập tại Kiev nay vẫn tin rằng nếu thua cuộc ở Quảng trường Maidan, họ sẽ bị công an đến nhà lôi đi vào lúc nửa đêm như chuyện xảy ra trong thập niên 1930.

Có một sự hiểu lầm rằng dân tộc người Ukraine chia làm hai khu vực ngôn ngữ tiếng Ukraine ở phía Tây và tiếng Nga ở phía Đông.

Trên thực tế, đa số người dân phía Đông chính là người Nga hoặc con cháu họ được Liên Xô đưa vào Cộng hòa Xô Viết Ukraine và tất nhiên họ không thể nào ủng hộ chủ nghĩa dân tộc Ukraine như những người dân Ukraine chính gốc ở phía Tây.

Nhiều người vẫn nghĩ chủ nghĩa cộng sản tan rã ở Nga vì chính biến tại Moscow năm 1991 và cuộc đấu đá Yeltsin-Gorbachev nhưng thực ra cuộc bỏ phiếu độc lập của Ukraine tháng 12 năm đó mới là yếu tố quyết định xóa sổ Liên Xô về mặt biên giới.

Hơn 90% người Ukraine khi đó đã bỏ phiếu chọn con đường độc lập khỏi Moscow.

Ngày nay, người dân phía Đông có nhiều cảm tình với Nga nhưng người phía Tây tiếp tục nghi ngờ chủ nghĩa Đại Nga và muốn đi về hướng khác.

Thời gian độc lập cũng quá ngắn, chưa đủ để gắn kết quốc gia và chỉ có thế hệ lãnh đạo gốc Liên Xô đầu tiên như Tổng thống Leonid Kravchuk còn khả năng dung hòa hai xu thế và nói chuyện được cả với châu Âu lẫn Moscow.

Sau Cách mạng Cam 2004, các nhân vật chính trị Ukraine đều mang khá bè phái, chỉ dựa vào một nhóm ủng hộ cụ thể mà thiếu khả năng liên kết cả nước.

Chạm vào truyền thống

Những người nói tiếng Nga ở Ukraine tiếp tục tôn thờ Stalin

Khác biệt ngôn ngữ, văn hóa hai vùng Đông Tây đã bị đẩy lên cao khi ông Viktor Yanukovych lên làm tổng thống chủ yếu nhờ ủng hộ từ vùng người gốc Nga ở phía Đông.

Ông đã phạm một sai lầm nghiêm trọng khi nhấn mạnh xung khắc vùng miền qua động tác bác bỏ một hiệp định liên kết với EU và nhận các khoản trợ giúp từ Moscow khiến phe đối lập cáo buộc ông là phản quốc.

Với Moscow, Ukraine không chỉ là vùng đất lập quốc – người Nga tin rằng tổ tiên họ đến từ vùng Kiev – mà còn đóng vai trò hàng đầu trong dự án Phục hưng không gian Liên Xô cũ của ông Putin hiện nay.

Nhưng biến động tại Ukraine đặt câu hỏi về tương lai của kế hoạch mà Nga theo đuổi.

Với chính người Ukraine, có vẻ như trước mắt bất cứ một giải pháp chính trị nào cũng khó làm hài lòng các phe phái và dù có bầu cử mới, tình hình sẽ còn bất ổn.

Châu Âu đã có kinh nghiệm đau thương về xung khắc dân tộc vì lý do lịch sử.

Sau Chiến tranh Lạnh, giải pháp xóa nhòa các mâu thuẫn truyền thống là đưa tất cả các quốc gia và dân tộc vào dưới mái nhà chung châu Âu.

Quan chức cao cấp của EU sang Ukraine nhằm thúc đẩy một thỏa thuận hòa bình

Nhưng với Ukraine, mức sống, trình độ kinh tế và khoảng cách xa khu vực trung tâm của châu Âu khiến lộ trình gia nhập EU nếu có cũng còn khá xa.

Trang web của Ủy hội châu Âu mới chỉ xác nhận Ukraine là “quốc gia đối tác ưu tiên” với mục tiêu hướng tới “liên kết kinh tế và chính trị” thân thiết hơn.

Trong khi đó, sự ủng hộ của Hoa Kỳ cũng còn rất chung chung và nước Nga thì sẽ mãi mãi ở bên cạnh, thậm chí ở cả bên trong Ukraine.

Câu hỏi làm sao thoát khỏi ràng buộc của lịch sử và địa lý khiến chuyện Ukraine tiếp tục đáng quan tâm.

Đây cũng là vấn đề chung tạo nhiều gợi mở cho không ít các quốc gia khác

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Blog at WordPress.com.