Daily Archives: February 24, 2014

PGHH Trường-Cữu

Ðức Huỳnh Giáo Chủ
Vương Kim

Ðức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,

Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.

Giáo truyền đạo Thích dìu sanh chúng,

Chủ ý chọn người vẹn Tứ ân.

(Hình Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)

 

Phần I:

HÀNH TRẠNG

Thiên thứ nhứt

Giai đoạn ra đời mở đạo

Chương VI

Lưu Cư

Ðộng Cơ.

Gần ngót một năm ra cứu đời, dùng huyền diệu của Tiên gia độ bịnh, ra thi thơ Sấm Giảng thức tỉnh người đời, nhứt là những người có căn tu hành theo Ðức Phật Thầy Tây an, đã nhận chân Ðức Huỳnh Giáo Chủ là một vị siêu phàm giáng trần có sứ mạng cứu dân độ thế, nên qui ngưỡng một ngày một đông, gây thành một phong trào khá lan rộng, khiến nhà cầm quyền để ý đến, bèn cho mật thám theo dò la, nhưng chưa vội can thiệp.

a) Ðộng cơ thứ nhứt. Có nhiều sự việc đáng làm cho chúng e ngại, lo ngại nhứt là số tín đồ mỗi lúc mỗi tăng một cách kinh khủng.

Và điểm đáng lo ngại khiến nhà cầm quyền Pháp đi đến quyết định an trí hay lưu cư Ngài là những điểm sau đây:

Trong Sấm Giảng có những câu bộc lộ huyền cơ làm cho chúng nghi là Ngài có mưu định Cần Vương hay chủ trương phục hồi đế nghiệp.

để đáp ứng sự đòi hỏi của tín đồ quá đông đảo, Sấm Giảng phải in thành sách, chớ không thể chép tay hay đánh máy như lúc ban sơ. Nhưng muốn in, nhà in đòi phải có giấy phép của sở kiểm duyệt. Như có lần anh em đem kiểm duyệt, nhà cầm quyền giữ lại một thời gian, vì có những câu chúng không chấp thuận. Nếu bằng lòng sửa chữa lại, chúng mới cho phép in. Những điểm chúng kiệm duyệt là những câu nói về Thánh Chúa.

Chẳng hạn như câu:

Chẳng qua là Nam Việt vô vương,

Nên tai ách xảy ra thảm thiết.

Sau phải sửa lại:

Chẳng qua là Nam Việt vô duơn,

Nên tai ách xảy ra thảm thiết.

Hay những câu nói về thiên cơ:

Hết Tây rồi đến Huê Kỳ,

Sưu cao thuế nặng vậy thì thiết tha.

Sau phải sửa lại:

Hết đây rồi đến dị kỳ,

Sưu cao thuế nặng vậy thì thiết tha.

Hay là câu:

để gặp Chúa ngồi mà than khóc,

Gỡ làm sao hết rối mà về.

Sau phải sửa lại:

để gặp Phật ngồi mà than khốc,

Gỡ làm sao hết rối mà về.

Cũng như trong bài Ngũ nguyện, về câu nguyện thứ nhứt:

“Nam mô nhứt nguyện cầu: Thiên hoàng, địa hoàng, Nhơn hoàng Long Hoa hải hội, Thượng Phật từ bi, Minh Vương trị chúng, thế giới bình an”.

Sau phải sửa lại:

“Nam mô nhứt nguyện cầu: Thiên hoàng, địa hoàng, Nhơn hoàng Long Hoa hải hội, Thượng Phật từ bi, Phật Vương độ chúng thế giới bình an”.

Ngoài ra, chúng còn cho lính kín theo dõi và chép được những bài chưa in ra, nhưng được truyền tay, truyền khẩu nhau có tánh cách chống Pháp.

Chẳng hạn như bài Bánh mì:

Mì kia gốc phải nước mình không?

Nghe thấy rao mì thốt động lòng.

Chiếc bánh não nùng mùi khách lạ,

Bát cơm đau đớn máu ông cha.

Văn minh những võ trưng ba mặt,

Thắm thía tim gan ứa mấy dòng.

Nhớ lại bảy mươi năm trở ngược,

Say mì lắm kẻ bán non sông.

Bài nầy chưa mấy rõ nghĩa chống Pháp bằng bài:

“Cờ tam sắc”

Tam sắc cờ bay phất phơ mà!

Ngồi nhìn nhớ kỹ héo lòng ta.

Thuở xưa đâu có cờ tam sắc,

Gặp cảnh vong bang ứa ruột rà.

Về bài “Cờ tam sắt”, Ðức Thầy cảm thấy thế nào cũng bị bọn gia nô của Pháp bắt bí nên chi Ngài sửa lại để đánh lạc hướng đám “chó săn chim mồi”. Ngài sửa lại như vầy!

Tam sắc cờ bay phất phơ mà,

Ngồi nhìn khoăn khoái cõi lòng ta.

Thuở xưa đâu có cờ tam sắc,

Nay hiệp Tây đông thể ruột rà.

Quả thật, sau đó có tay sai của Pháp đến muốn nghe bài thơ ấy, nhưng cụt hứng khi nghe một tín đồ đọc lại bài thơ đã sửa chữa.

Mặc dầu sách in được kiểm duyệt, các bài truyền khẩu được lột bỏ những điểm chống Pháp, nhưng những khoản kiểm duyệt cũng như những bài truyền khẩu tó tánh cách chống Pháp được kết tập thành hồ sơ kể cả những cuộc đối đáp của Ðức Huỳnh Giáo Chủ với những người đến tiếp kiến, những ý kiến được xem là bài Pháp hay phục hồi đế nghiệp hoặc phục quốc cũng được chúng sưu tầm và mật báo tất cả. Chẳng hạn như câu Ngài đáp một người hỏi Ngài tại sao tu mà còn để tóc, không thế phát như các nhà sư thì Ngài đáp một cách khí khái: Vì tôi không muốn để người ta cạo đầu.

Danh từ “cạo đầu” được bọn gian nô diễn dịch là có ý bất phục đối với nhà cầm quyền bảo hộ.

Sở Liêm phóng cho sưu tập những tư tưởng “phản nghịch” ấy, lập thành hồ sơ, và sau khi nghiên cứu, chúng đi đến kết luận: Ðức Huỳnh Giáo Chủ là một người khá nguy hiểm và nền đạo của Ngài là một tổ chức “chống Pháp” trá hình tôn giáo rất nguyhại cho an ninh, chánh sách thực dân thống trị. Do đó mà chúng quyết định an trí Ngài.

b) Ðộng cơ thứ hai. Ngoài tài liệu thu thập trong Sấm Giảng có tánh cách chống Pháp, còn có việc ông đạo Tưởng nổi loạn ở Tân Châu cũng là một động cơ khiến nhà cầm quyền Pháp quyết định lưu cư Ðức Huỳnh Giáo Chủ để ngừa hậu hoạn.

Như kỳ đăng sơn thứ tư, khi còn ở trên núi Tà Lơn, Ðức Thầy có nói với Biện đài lý do tại đâu phải về.

Lý do đó là vụ đạo Tưởng nổi loạn ở Tân Châu. Và khi về đến Cần Giọt tường thuật vụ đạo Tưởng giết người tế cờ rất rõ. Vụ ấy xảy ra như sau:

Ông đạo Tưởng tên thật là Lâm Văn Quốc, cũng gọi là đạo Quốc, có lập một am để tu tại xã Long Phú cách quận lỵ Tân Châu độ một cây số ngàn. Ông tự nhận là môn phái của Bửu Sơn Kỳ Hương gốc Thất Sơn và qui tụ một số tín đồ khá đông.

Một hôm, ông tự xưng là Minh hoàng và phong tước cho một số môn đệ, nào là chức Vương, Quốc sư, Nguyên soái, Tiên phong, đô đốc, chuẩn bị một cuộc khởi nghĩa phục quốc. ông huấn luyện võ nghệ, cho rèn gươm đao và khoe có phép làm súng bắn không nổ.

Thế rồi đêm mồng 8 rạng ngày mồng 9 tháng giêng năm Canh Thìn, ông phát động cuộc khởi nghĩa. Hành động đầu tiên là giết người để tế cờ. Con vật được ông chọn hy sinh là gia đình Hương tuần Hiếm bị nghi làm tay sai cho Pháp. Sau khi bốt trí châu đáo, bọn ông vây nhà và bắt vợ chồng Hương tuần Hiếm chặt đầu làm lễ tế cờ, gây thành một cuộc náo loạn kinh hoàng tại Tân Châu.

Nhà cầm quyền Pháp bèn cho lính đến đàn áp. đạo Tưởng và đồng bọn tin ở tà thuật làm cho súng bắn không nổ nên hiên ngang đem gươm giáo ra chống cự. Rốt cuộc súng vẫn nổ và bọn đạo Tưởng đều bị bắn hạ; kết quả năm bảy mạng bị giết và gần 30 người bị bắt.

Thế là màn xưng bá đồ vương của đạo Tưởng chấm dứt. Cuộc rối loạn do một nhóm người tự nhận là tu hành, là môn phái Bửu Sơn Kỳ Hương gây ra làm cho nhà cầm quyền Pháp có thái độ cứng rắn đối với Ðức Huỳnh Giáo Chủ.

để tránh hậu hoạn, một cuộc nổi dậy của tôn giáo, tương tự như vụ đạo Tưởng, nhứt là đã có tài liệu chứng thật Ðức Huỳnh Giáo Chủ có tinh thần chống Pháp và đạo của Ngài thu hút tín đồ không thể tưởng tượng, có thể nguy hại cho chế độ thực dân thống trị, nên chi bọn thực dân quyết định dời Ngài ra khỏi tỉnh Châu đốc và an trí ở một nơi khác.

a) Ði Châu đốc. Quyết định nầy được mật báo cho quận trưởng Tân Châu lúc bấy giờ là ông Nguyễn Văn Lễ. ông nầy có bà vợ là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo. Sau khi được chồng cho biết ý định của người Pháp bà Lễ liền chiều ngày mồng 10 tháng 4 Canh Thìn đi xe ngựa xuống Chợ Vàm cho ông Huỳnh Hữu Phỉ hay có hung tin ấy.

ông Phỉ cấp tốc đi xe đạp xuống Hòa Hảo cho Ðức Thầy hay để có lo toan cách ứng phó. Ngài rất thản nhiên, trong lúc anh em tín đồ đều lo âu, sợ cho Ngài phải bị tai họa đến lụy thân khổ xác.

Ngài tươi tỉnh nói đế trấn an mọi người: không có gì mà phải sợ. Không ai làm hại được Thầy đâu. Anh em cứ an tâm. Mặc dầu Ngài nói vậy, chớ toàn thể tín đồ đều lo ngại.

Qua ngày sau tức ngày 12 tháng 4 năm Canh Thìn vào lúc 7 giờ, nhà cầm quyền Pháp đến Hòa Hảo chở Ngày đi Châu đốc, vội vã đến đỗi không kịp cho Ngài thay đồ hay mang hành trang theo. Lúc bấy giờ Ngài mặc áo không túi nên cái giấy thuế thân, Ngài đành lấy giấy gói lại rồi cầm trong tay.

(hình của Ðức Thầy chụp tại nhà ông Ký Giỏi)

Khi đến Châu đốc, vài giờ sau, vâng theo lịnh của cấp trên, nhà cầm quyền địa phương cho chở Ngài rời khỏi tỉnh, thay vì đưa xuống tỉnh Long Xuyên, chúng lại đưa thẳng xuống tỉnh Sa đéc, cách tỉnh Châu đốc một tỉnh, ý chừng họ muốn đoạn hẳn liên lạc với quê nhà tưởng nơi xa lạ khó truyền giáo và thu hút tín đồ hơn.

đứng trước sự đời Ngài đi đột ngột như thế anh em tín đồ đều ngơ ngác, đến rơi lệ, chỉ nhìn theo chớ không làm sao hơn được, trước sự rào đón, ngăn chặn hăm he của chánh quyền.

b) Ðến Sa đéc. Ðến Sa đéc, Ngài được đưa lại sở mật thám, lúc bấy giờ do ông cò Bazin điều khiển. Gặp lúc ông này đi vắng, bà vợ người Việt có tâm mộ đạo, đối xử rất tử tế. Ðến khi viên cò Pháp về, bèn hỏi có phải Ngài là tác giả mấy quyển Sấm Giảng không?

Ngài nhận chính tay Ngài viết. Viên cò không tin với sức học của Ngài có thể sáng tác nổi, nên chi muốn thử Ngài:

– Nếu thật ông viết thì ông thử viết cho tôi coi.

Ngài không ngần ngại đem giấy mực ra viết bài: “Sa đéc” trước mặt viên cò Bazin, rồi đọc cho ông cò nghe.

Trong bài nầy Ngài tỏ bày nỗi lòng bi cảm đối với anh em tín đồ trong những dòng thống thiết như sau:

Muốn lập đạo có câu thành bại,

Sự truân chiên của khách thiền môn.

Khắp sáu châu nức tiếng người đồn,

Ta chịu khổ, khổ cho bá tánh.

Tiếng gọi đời sông mê hãy lánh,

Chạm lợi quyền giàu có cạnh tranh.

Bước chông gai đường đủ sỏi sành,

Đành tách gót lìa quê hương dã.

Ta cũng chẳng lầy chi buồn bả,

Bởi sự thường của bực siêu nhơn.

Dầu gian lao dạ sắt chẳng sờn,

Miễn sanh chúng thông đường giải thoát.

Cơn dông tố mịt mù bụi cát,

Chẳng nao lòng của đấng từ bi:

Vì Thiên đình chưa mở hội thi,

Nên Lão phải phiêu lưu độ chúng.

Kẻ ác đức cho rằng nói túng,

Nó đâu ngờ lòng Lão yêu đương.

Xe rồ xăng vụt chạy bải bươn,

đến khuất dạng tình thương náo nức.

Khắp bá tánh chớ nên bực tức,

Bởi nạn tai vừa mới vấn vương.

Chốn Liên đài bát ngát mùi hương,

Nhờ chỗ ấy mới thi công đức.

đọc xong, viên cò Pháp phải nhận Ngài là một thiên tài xuất chúng và cho về ngụ nhà ông phán đặng.

Tưởng đến Sa đéc, Ngài sẽ dừng chơn ở yên để tiếp tục cuộc hóa độ, đáp lại lòng mong cầu của mọi người, chớ có dè đâu nhà cầm quyền ở đây thấy ảnh hưởng của Ngài quá lớn, thu hút người khắp nơi tấp nập kéo đến, nên quyết định cấm Ngài truyền đạo. Thế là Ngài phải lên đường đi tỉnh khác, tùy Ngài chọn lựa.

Hay tin, anh em tín đồ rất lo buồn, nhưng theo Ngài thì đó là một dịp cho Ngài phổ thông rộng rãi mối đạo.

Ta cũng thương, thương trò lịu địu,

Chớ cũng mừng được dịp phổ thông.

Mà cũng là cơ thử thách của tạo hóa để xem người hành đạo có vững chí làm theo lời Ngài chỉ dạy hay không?

Việc khó khăn lắm lúc khôi hài,

Ây cũng bởi thày lay ông Tạo.

Ông nhồi quả cho người hành đạo,

Lúc nguy nàn thối chí cùng chăng?

Nếu bền lòng vị quả cao thăng,

Chẳng chặt dạ bỏ tăng Phật Thánh.

c) Ðến Cần Thơ. được tin nhà cầm quyền Sa đéc ra lịnh trục xuất Ngài, ngày 17 tháng 4 Canh Thìn anh em tín đồ đem xe đến đưa Ngài xuống Cần Thơ, rồi cô Hai Gương thỉnh Ngài về ở nhà Hương Bộ Võ Mậu Thạnh là cậu của cô ở làng Nhơn Nghĩa, rạch Sua đủa, cũng gọi Kinh Xà No.

đến đây Ngài được ở yên nên khởi lại việc cho thuốc, cho thi bài, tiếp tục cuộc hoằng hóa như hồi còn ở Hòa Hảo. Nhân việc phát phù trị bịnh, Ngài có làm một bài thơ về giấy vàng có hàm ý tiên tri sự biến đổi thời cuộc.

Giấy vàng nay đã giá cao tăng,

Bìa trắng lại ch?? vội bỏ lăn.

Thương thảm chúng quăng nằm kẹt hóc,

Chủ nhà quét tước lượm lăng xăng.

Trong thời gian lưu cư tại Nhơn Nghĩa, Ngài sáng tác và thi họa cũng nhiều. Số tín đồ thâu nhận cũng khá đông, như Ngài đã viết:

Nhân dân bá tánh cũng con lành,

Thầy dạy cho đều khắp chúng sanh.

May mắn vận thời đưa đến chốn,

Tiền khiên dẹp gát kiếm con lành.

d) Vào bịnh viện Chợ Quán. Nhận thấy ảnh hưởng ở đây cũng vang dội và thu hút tín đồ một cách phi thường, nhà cầm quyền không muốn cho Ngài hoạt động nữa. Như đã biết, Ngài được tự do chọn lấy chỗ lưu cư do đó Ngài đưa đơn xin đi Bạc Liêu.

Thế là ngày 29 tháng 6 năm Canh Thìn, Ngài từ giã Nhơn Nghĩa, nhưng khi ra đến Cần Thơ, nhà cầm quyền giữ ngài lại và đưa vào bịnh viện để khám nghiệm ba bốn hôm, đến ngày mồng 4 tháng 7 Canh Thìn thì đưa Ngài lên Sài Gòn, vào nằm bịnh viện Chợ Quán lấy cớ khám nghiệm coi Ngài có mắc bịnh thần kinh không?

Khi vào đây, ban sơ chưa ai biết Ngài. Ngay như viên lương y cai quản bịnh viện là ông Trần Văn Tâm cũng nhộ nhận nên mới nói bỡn khi gặp Ngài: Ở ngoài xé hết bao nhiêu giấy thuế thân của người ta rồi?

Nhưng khi thấy cử chỉ của Ngài đoan trang và số tín đồ đến thăm quá đông mới nghi Ngài là ông đạo.

Ông bèn đem những điều đọc trong một quyển sách Pháp về đạo Phật mà ông còn thắc mắc đến chất vấn thì được Ngài giải đáp một cách tinh thông, khiến ông phải ngạc nhiên đến khâm phục. Càng kính phục hơn nữa là khi Ngài cho thấy điều huyền diệu, như một hôm ông vào phòng Ngài thì thấy một cụ già đầu râu bạc phếu nằm trên giường. Ông tưởng đi lộn phòng, bèn trở ra để tìm phòng, nhưng khi định tỉnh xem lại số phòng quả quyết chính là phòng của Ngài, nên quày trở vào thì lạ thay, thay vì ông lão khi nãy lại là Ðức Huỳnh Giáo Chủ. Chừng đó ông mới hoàn toàn tin phục, xin thọ giáo qui y. Nhờ vậy Ngài tiếp tục công việc hoằng hóa dễ dàng. Mỗi ngày người đến xin thuốc, cũng như hàng thức giả đến hỏi đạo và qui ngưỡng càng lúc càng đông.

Trong lúc ở bịnh viện, có một việc đáng nêu ra là trường hợp của anh gác cửa. Anh nầy lúc đầu tỏ ra khó khăn đối với anh em tín đồ đến thăm. Anh có một người mẹ đau mắt, chữa nhiều thầy mà không khỏi, khi nghe Ngài chữa bịnh kỳ diệu thì đưa mẹ đến. Ngài chỉ cho một chai nước lã về nhỏ, thế mà khỏi bịnh. Anh đem lòng khâm phục, gọi Ngài là Phật sống. Từ đó trở đi, anh đối xử rất cảm tình với anh em tín đồ không bị làm khó khăn như trước.

Trong thời gian ở Chợ Quán, Ngài viết nhiều bài vở, nhưng đáng kể là quyển “Những điều sơ lược cần biết của kẻ tu hiền” và quyển “Khuyến Thiện” chỉ rõ tận tường pháp môn Tịnh độ.

Hơn một năm cầm giữ Ngài để thí nghiệm, có thể do sự báo cáo của Bác Sĩ Tâm, nhà chức trách thấy Ngài không có gì tỏ ra mắc bịnh thần kinh, nên xét theo lời xin trước kia khi Ngài ở Xà No, bèn chấp thuận cho Ngài lưu cư về Bạc Liêu.

Và cũng có thể nhận thấy tại Chợ Quán, nơi phồn hoa đô hội có nhiều phần tử thức giả qui ngưỡng nên sợ ảnh hưởng của Ngài lan rộng cả vùng Sài Gòn Chợ Lớn, Gia định, vì vậy mà định dời Ngài đi chỗ khác. Xét lại Bạc Liêu là một tỉnh ở mút miền Nam nước Việt lại là tỉnh, phần đông dân cư thuộc thành phần lai Miên, lai Tàu, chuyên việc buôn bán, nếu đưa Ngài đến đó khó mà gây ảnh hưởng sâu rộng được.

Mặc dầu chấp nhận dời Ngài về Bạc Liêu nhưng nhà cầm quyền còn cố giữ lại trong một tuần lễ để giao cho sở mật thám dò xét. Họ đưa Ngài vào bót Ca-ti-na (Poste Catinat) ngày 11 tháng 5 Tân Tỵ (1941). Ðến ngày 19 nghĩa là sau 8 ngày giam giữ, Ngài mới lên đường đi Bạc Liêu.

đ) Ðến Bạc Liêu. Ngài định đến ngụ nhà ông Hội đồng điều như Ngài đã dự tính khi ở Nhơn Nghĩa, nhưng nhà cầm quyền không chấp thuận bảo Ngài chọn chỗ khác, cố ý làm khó dễ nhứt là làm ngược lại ý định của Ngài.

Trong số anh em tín đồ ở đây, có bà Cò Tàu Hảo đóng vai trọng yếu. Bà đến thương lượng với ông bà Võ Văn Giỏi, cựu thơ ký soái phủ Nam Kỳ thì được ông bà sẵn sàng nghinh tiếp. Ngài đến trình với Công an và được chấp thuận với điều kiện là không được: phát phù trị bịnh, thuyết pháp độ nhơn và mỗi tuần, vào ngày thứ hai phải đến trình diện Công an một lần.

Nhơn đó, Ngài có làm ba bài thơ tức cảnh như sau:

Việc chi mà phải đi trình báo,

Mỗi tháng bốn kỳ nhọc cẳng ông.

đợi máy huyền cơ xoay đến mức,

Tính xong cuộc thế lại non Bồng.

Thứ hai hứng sáng mưa tầm tã,

Lính đứng ngoài đường giục giả ông.

Kiếp khách trần gian vay lắm nợ,

để đền trọn nghĩa với non sông.

Người cười người nhạo bảo ông điên,

Ông chẳng giận ai cũng chẳng phiền.

Chỉ tiếc trần gian đùa quá vội,

Chưa tường điên tục hay điên Tiên.

Vì bị cấm đoán đến viếng thăm, anh em tín đồ không vào cửa được, đành đứng lóng nhóng bên ngoài rồi về, tạo thành tiếng đồn đến nhà cầm quyền. Hơn nữa theo sự dò xét của Công an cũng thấy đúng sự thật nên từ đớ sự canh phòng cũng lơi đi. Nhờ vậy Ngài tiếp xúc được nhiều nhân sĩ và hào phú đến vấn an và qui y, trong số ấy được biết; ông Cả Hốt (tức Dương Vĩnh Phước), ông bà Chung bá Khánh, ông bà Võ văn Giỏi… trở thành tín đồ thuần thành (1).

(1) Cũng trong thời gian nầy (năm 1942), tác giả ra mắt Ðức Thầy và được Ngài tiếp kiến từ 7 giờ sáng đến 12 giờ trưa, khi thấy dọn cơm mới bái tạ lui ra.

Trong thời gian ở Bạc Liêu, Ngài sáng tác rất nhiều bài vở, nhứt là lối tản văn, giải bày về giáo lý nhà Phật, như Thập Nhị Nhân Duyên, Tứ Diệu đề…

Cũng nên nói qua tình hình trong lúc nầy. Quân đội Nhựt đã vào đông Dương và lấn lần quyền hành của chánh phủ thuộc địa Pháp. Người Nhựt cho chiêu mộ người Việt vào quân đội. Có một số người Việt hưởng ứng, gia nhập vào hàng ngũ và được đưa về đông Kinh huấn luyện, khi thành tài trở lại hoạt động nơi nước nhà với ý định hợp tác với quân Nhựt gở ách nô lệ, lấy lại chủ quyền quốc gia.

Trong hàng ngũ những người ái quốc ra hợp tác với quân đội Nhựt, có tín đồ phật Giáo Hòa Hảo. Hẳn họ có bổn phận phải cứu Ðức Thầy ra khỏi sự kếm kẹp của người Pháp, nên vận động với nhà binh Nhựt ở Sài Gòn và được sự chấp thuận.

Vã lại, người Nhựt nhận thấy Phật Giáo Hòa Hảo có một khối tín đồ to tát ở miền Nam, có thể lợi dụng lòng yêu nước của họ trong công cuộc hạ Pháp, nếu thi ơn giải cứu được vị Giáo Chủ của họ. Như thế sẽ mua chuộc được cảm tình của khối quần chúng đông đảo nầy.

Mưu định giải cứu Ðức Thầy có thể nhà cầm quyền Pháp dò biết, nên chúng tính lưu cư Ngài qua Ai Lao. Nhưng chúng chẳng dè quân Nhựt lại ra tay trước.

Sở Hiến binh Nhựt bèn phái ông Kimura cùng đi với một vài tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo xuống Bạc Liêu rước Ngài về Sài Gòn trong đêm mồng 2 tháng 9 năm Nhâm Ngọ (11-10-1942).

Vì đi đêm lại không rành đường nên tài xế lái xe đi đường về Cà Mau, đến Tắc Vân thì xe hư máy. Ông Kimura phải mượn xe của Bang trưởng Triều Châu chạy trở lại Bạc Liêu rồi thẳng đường về Sài Gòn, vì vậy mà Pháp hay tin kịp.

e) Về Sài Gòn. Nhưng xe vừa đến ngã ba Trung Lương (Mỹ Tho) thì gặp xe công an chận lại. Vì thế xảy ra tai nạn đụng xe làm cho ông Lâm thơ Cưu theo hầu Ngài bị thương ở sóng mũi, còn Ngài thì chỉ bị thương xoàng. Công an Pháp cho điệu tất cả về Sài Gòn. Hay tin nầy nhà binh Nhựt can thiệp và phản kháng kịch liệt. Bọn Pháp giành bắt Ðức Thầy còn nhà binh Nhựt thì quyết giựt lại viện cớ Ðức Thầy có liên lạc với Trùng Khánh. Trước sự can thiệp quyết liệt của nhà binh Nhựt, bọn Pháp đành nhượng bộ. Thế là Ðức Thầy được giải cứu. Nhà binh Nhựt đưa Ngài về ở phòng Thương Mãi (Hội Nghị Diên Hồng) lúc bấy giờ là cơ sở của Hiến Binh Nhựt. Ngài lưu lại đây trong vòng hai tháng rồi dọn về số 148 đường Lefèvre, hiện nay là đường Nguyễn Công Trứ. Phía sau Thượng Nghị Viện.

Sau đó ít lâu dọn qua số 150 kế đó đến ngày Nhựt đảo chánh Pháp.

Từ khi quân Nhựt giải cứu Ðức Thầy và đem Ngài về ở tại phòng Thương Mãi, trong vòng bảo vệ của Hiến Binh Nhựt, thì quân Pháp khởi sự khủng bố tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo vì chúng cảm thấy số phận của chúng lâm nguy nếu để quân đội Nhựt lôi cuốn được sự hợp tác của khối tín đồ đông đảo nầy.

Nhiều nơi tín đồ bị bắt bớ, những người có uy tín ở Lục tỉnh phải tầm đường ẩn lánh lên Sài Gòn nhờ sự che chở của Ðức Thầy. Vì vậy mà Ngài phải dành cả căn phố cho anh em tá túc. Về thực phẩm thì anh em Lục tỉnh thường xuyên tiếp tế.

Có hôm, sau khi dùng cơm trưa, anh em năm nghỉ, Ðức Thầy bước qua thấy anh em nằm sấp lớp không khác gì tằm trong nòng thì nói rằng: Có khác gì tằm đâu, khi ăn dâu no rồi thì nằm nghỉ. Nhưng đây là thứ tằm không kéo kén.

Đây là những anh em hữu phước được Ðức Thầy chở che nên thoát khỏi sự khủng bố của quân Pháp.

Chỉ thảm thương cho một số anh em khác, vì không kịp thoát thân nên bị quân pháp bắt và đầy đi. Người lên Bà Rá, kẻ ra Côn đảo. Có một số lớn đã bỏ thây nơi rừng thiêng nước độc hay gởi xương ngoài Côn đảo. Trong bảng “Những Thánh Tử đạo” nên ghi nhớ những tên ông Cả Ðô, ông Cả Cừ, ông Dương Thiện Tứ tự Sừ.

Trong lúc tá túc tại căn nhà ở đường Lefèvre, có một số anh em tín đồ, vì chờ mãi thời cuộc mà không thấy biến chuyển nên đâm ra chán nản, hoặc than trách hoặc bỏ đi.

Cũng có những người tỏ ý không bằng lòng khi Ðức Thầy để cho người Nhựt bảo vệ. Như thế sợ e mang tiếng ỷ lại vào ngoại bang thì Ngài có làm hai câu đối sau đây để tỏ ý chí bất khuất của Ngài:

Trương Tiên tá Hớn phi thần Hớn,

Quan Thánh cư Tào bất đế Tào.

Mặc dầu chưa tung bay cất cánh, thỏa chí chim bằng, Ngài cũng bắt đầu tiếp xúc các nhà trí thức, nhứt là những nhóm ái quốc, thừa cơ hội uy thế của Pháp bị quân Phù Tang làm giảm hạ, đứng ra tập hợp hàng ngũ, tổ chức thành đoàn thể chánh trị, đương nhiên thân Nhựt. Trong số đó được biết nhóm ông Ngô đình Ðẩu, Trần văn Ân… trong Ủy Ban Trung Ương Việt Nam Phục Quốc Hội, nhóm Việt Nam Thanh Niên Ai Quốc đoàn của ông Ðinh Khắc Thiệt.

Ðối với đoàn Thanh Niên ái quốc, Ngài có phái ông Hồ Nhựt Tân đến tham gia các phiên họp để trợ trưởng tinh thần và tài chánh Ngài cũng có làm thơ tặng đoàn để khích lệ chí anh hùng, đề cao lòng yêu nước, trong những câu như sau:

Thanh niên nghĩa vụ phi thường,

Phận là phải biết yêu thương giống nòi.

Nay chẳng lẽ ngồi coi thắng bại,

Của cọp rồng trên dãy đất ta.

Một khi cọp đã lìa nhà,

Biết rồng có chịu buông tha chăng cùng?

Vậy anh em phải chung lưng lại,

Dùng sức mình đánh bại kẻ thù;

Tỏ ra khí phách trượng phu,

Vung long tuyền kiếm tận tru gian thần.

Xưa nước đã bao lần khuynh đảo,

được cứu nguy nhờ máu anh hùng;

Hy sinh báo quốc tận trung,

Đem bầu nhiệt huyến so cùng sắt gang.

Việt Nam là giống Hồng Bàng,

Muôn đời xa lánh tai nàn diệt vong.

Ngài không ngớt tiếp xúc và chuẩn bị hàng ngũ, vì Ngài tiên đoán cơ hội sẽ đến cho dân Việt Nam tranh đấu, giành lại chủ quyền đã mất trong tay Pháp ngót 80 năm nay. Ngày mà mọi người mong đợi ấy đã điểm. Ðó là ngày mồng 9 tháng 3 1945, ngày Nhựt đảo chánh Pháp, ngày Ðức Huỳnh Giáo Chủ chấm dứt giai đoạn ràng buộc bước sang giai đoạn công khai hoạt động đấu tranh.

MUC LUC | CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7| | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | | CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 |

CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|

[TV. PGHH]

Advertisements
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Tín đồ PGHH tại Đồng Tháp tiếp tục bị sách nhiễu

Tín đồ PGHH tại Đồng Tháp

tiếp tục bị sách nhiễu

An Nhiên, thông tín viên RFA
2014-02-20
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này

annhien02202014.mp3Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Chi Bùi thị Minh Hằng và bà con Phật Giáo Hoà Hảo trước khi bị công an đánh và bắt

Chi Bùi thị Minh Hằng và bà con Phật Giáo Hoà Hảo trước khi bị công an đánh và bắt

Courtesy binhtrung.org

 

 

Các tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo đang cư ngụ tại huyện Lấp Vò –  Đồng Tháp liên tục bị sách nhiễu, đe dọa sau khi Blogger Bùi Thị Minh Hằng, Chị Nguyễn Thị Thúy Quỳnh và anh Nguyễn Văn Minh bị bắt giam một cách tùy tiện cách đây 9 ngày tại đây.

Hành hung không lý do

Sự việc bắt đầu diễn ra vào ngày  11 tháng 2 vừa qua, khi  gia đình Ông Nguyễn Bắc Truyển được anh em đồng đạo và một số thân hữu từ Sài Gòn về Lấp Vò, Đồng Tháp (nơi vợ chồng ông đang cư trú) để thăm gia đình ông. Nhưng họ đã bị công an chặn xe hành hung bắt giữ 21 người mà không cho biết lý do cũng như không có lệnh bắt giữ người theo đúng luật pháp Viêt Nam. Sau đó Công An tỉnh Đồng Tháp, xã An Bình, huyện Cao Lãnh đã lần lượt thả hết 18 người và vẫn còn giữ lại ba người cho đến ngày hôm nay.

Ông Nguyễn Văn Hoa – một tín đồ Phât Giáo Hòa Hảo – đang cư ngụ tại xã Long Hưng B, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp kể lại lúc mọi người bị công an giả danh côn đồ tấn công trên đường đi:

Công an tấn công hai nhà, đàn áp hai nhà là nhà ông Tô Văn Mãnh và cô Bùi Thị Thúy con gái ông Bùi Văn Trung, gần đây là bị đánh rất nhiều lần.
-Ông Nguyễn Văn Hoa

“Đi đến thăm gia đình vợ chồng Bắc Truyển trên đường đi đó, họ đóng chốt giao thông trên đường đi, tập kích giả danh côn đồ, khi mà công an kêu dừng lại 11 chiếc xe, chưa kịp thắng xe lại, họ dùng tầm vông, cây vuông, ba trắc, dùi cui, đập thí vào người, có người xỉu lên, xỉu xuống, họ tấn công chúng tôi có quan hệ với gia đình Bắc Truyển.”

Ông tiếp tục cho chúng tôi biết sau ngày bị đánh đó, công an luôn sách nhiễu các gia đình phật giáo Hòa Hảo:

“Công an tấn công hai nhà, đàn áp hai nhà là nhà ông Tô Văn Mãnh và cô Bùi Thị Thúy con gái ông Bùi Văn Trung, gần đây là bị đánh rất nhiều lần, họ chặn đường đánh nhiều lắm.”

Riêng về bản thân Ông và gia đình thì bị chặn đường, đe dọa bắt giam, công an kéo đến nhà Ông rất đông gây áp lực buộc Ông phải lên công an xã làm việc, nhưng Ông kiên quyết từ chối và cho biết:

“Lại bao vây nhà tôi, vì tôi liên quan đến Bắc Truyển để làm việc, tôi là người biết luật, hiểu luật tôi từ chối, hôm nay họ kéo quân lực lượng đông lắm sẽ thông báo bắt tôi, họ tràn vào bên trong công an rất đông, đến hai lần, lần nhất 9 giờ sáng, lần hai 10 giờ sáng.”

Ông Hoa nói tiếp, nếu ông đến công an xã làm việc có thể bị đánh đập, bị nguy hại đến tánh mạng:

“Họ dùng chiêu thức này để đưa tôi đến đó có thể họ đánh tôi, bởi vì tôi thấy gần đây đó họ đánh rất nhiều đồng đạo của chúng tôi, từ chỗ đó tôi không đi. Nhà tôi với nhà con tôi cách nhau khoảng bốn chục mét, con tôi ở ngoài lộ, tôi ở trong vườn, cháu ngoại tôi ở trong này với tôi, ngủ ở đây, sáng tôi đưa đi học. Tụi nó lên kế hoạch là nó chặn đường – công an giả danh côn đồ đó – kêu là để tôi đứa cháu tôi đi học nó sẽ đánh và xô tôi xuống sông, nhưng mà nó thấy cháu tôi ngồi trên xe đánh vậy rơi xuống sông thì chết người đi, thành thử ra kế hoạch đó không thực hiện được. Bà con nghe được nó bàn kế hoạch là ngày dó nó sẽ thanh toán tôi bất cứ hình thức nào, mạng sống của tôi hiện nay bị đe dọa dữ lắm.”

Từ hôm chồng tôi bị bắt đến nay thì nhà tôi lúc nào cũng bị sách nhiễu, ban đêm thì họ ném đá lên mái nhà, rồi làm những tiếng động nghe rất là lớn và ồn.
-Bà Bùi Thị Kim Phượng

Bà Bùi Thị Kim Phượng vợ sắp cưới của cựu Tù nhân lương tâm Nguyễn Bắc Truyển cho biết từ ngày Ông Nguyễn Bắc Truyển bị bắt đến nay bản thân Bà luôn bị sách nhiễu, theo dõi và có người cố tình muốn gây thương tích cho Bà, thậm chí cấm đóan bạn bè đến thăm:

“Từ hôm chồng tôi bị bắt đến nay thì nhà tôi lúc nào cũng bị sách nhiễu, ban đêm thì họ ném đá lên mái nhà, rồi làm những tiếng động nghe rất là lớn và ồn, làm cho gia đình tôi không có nghỉ được. Bên ngoài thì lúc nào cũng mười mấy hai mươi người, che dù đóng chốt trước cửa nhà tôi, bắt ghế ngoài lộ, xéo cửa thì có xe 16 chỗ lúc nào cũng sẵn sàng bắt người.  Các nẻo đường nhà đằng sau thì lúc nào cũng có nhiều chốt đóng để ngăn chặn mọi người không có vào để thăm gia đình tôi được.”

Sáng nay ngày 20/02/2014, thời gian đã 9 ngày bị giam, Con trai Bà Bùi Thị Minh Hằng là Trần Bùi Trung đi Đồng Tháp để mong được gặp lại Mẹ cho chúng tôi biết:

“Đơn khiếu nại gửi cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp, Công an Tỉnh  Đồng Tháp, Công an huyện Lấp Vò – Đồng Tháp, Công an huyện Đồng Tháp. Hôm nay đủ chín ngày trong luật tạm giam. Hôm trước có xuống đòi quyền thăm nuôi nhưng chúng nó không cho, bây giờ là con lên chuẩn bị săp xếp đồ đạc con xuống dưới Đồng Tháp để yêu cầu chúng nó đưa cho con cái lệnh tạm giam, tại vì hôm nay là đủ chín ngày rồi chúng nó thả mẹ con ra.”

Một số tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo cho biết, hiên nay số lượng Phật tử PGHH có khoảng trên 2 triệu khắp ở Việt Nam, đa số tín đồ tập trung ở Miền Tây Nam Bộ, nhiều tín đồ PGHH chân tu tại Miền Tây đã bị hành hung, giam cầm, đe doạ thường xuyên chỉ vì Đức Tin Tôn Giáo và quyết không theo Giáo Hội PGHH mà do chính quyền Việt Nam lập ra.

Chính quyền Việt Nam luôn nói với dư luận quốc tế là nhà nước Việt Nam tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo. Tuy nhiên việc tiếp tục tấn công vào tín đồ PGHH tại các tỉnh Miền Tây cho thấy hành động của chính quyền địa phương đi ngược lại với những gì mà chính quyền trung ương đã nói.

 

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Báo động: Trung Quốc đã sẵn sàng cho cuộc chiến lớn

Báo động: Trung Quốc đã sẵn sàng cho cuộc chiến lớn

06.07.2013 | 14:51 PM
Thích và chia sẻ bài viết này trên:

Các cuộc tập trận gần đây của Trung Quốc các nhiệm vụ phòng thủ không có ý nghĩa gì. Đơn giản là những nhiệm vụ đó không được đặt ra. Trong các cuộc tập trận, người ta thao dượt các hành động tấn công chứ không phải phòng thủ.

Đó là nhận định của Hramchihin Alexander- Phó Giám đốc Viện Phân tích chính trị và quân sự LB Nga trên VPK. Bài viết dưới đây của chuyên gia này cho thấy toàn cảnh bức tranh về quy mô quân đội Trung Quốc cũng như các ý nghĩa đằng sau của nó. Và mặc dù mối quan hệ quân sự giữa hai nước đang nồng ấm khi Nga quyết định bán các vũ khí tiên tiến nhất của mình cho Trung Quốc, trong đó có máy bay thế hệ 4++ Su-35K, tên lửa phòng không hiện đại S-400 Triumphf… nhưng giới phân tích vẫn có những lý do để e ngại.

Chiến hạm 056

Lục quân đông nhất thế giới và đang hiện đại hóa chóng mặt

Trong những thập kỷ gần đây, khả năng chiến đấu của Trung Quốc sự gia tăng nhanh chóng, trong khi nhiều người ở Nga và phương Tây vẫn lầm tưởng rằng, Trung Quốc vẫn đang sản xuất binh khí kỹ thuật chất lượng thấp và cũng chỉ ở mức loạt nhỏ.

Nếu như xảy ra một cuộc xung đột quân sự giữa Trung Quốc và Mỹ, nó sẽ diễn ra trên biển và trên không. Do đó, trên các ấn phẩm báo chí in của Mỹ và phương Tây nói chung, người ta dành sự chú ý nhiều nhất cho sự phát triển của hải quân và không quân Trung Quốc. Ở Nga, người ta đơn giản là chép lại các nguồn tin phương Tây này, điều có vẻ hơi lạ. Bởi lẽ, Nga có đường biên giới trên bộ dài 4,3 ngàn km với Trung Quốc. Hơn nữa, những yêu sách lãnh thổ lớn của Trung Quốc đối với Nga vẫn còn đó.

Với lục quân Trung Quốc cũng đang diễn ra điều đang xảy ra với không quân và hải quân của họ – đó là sự đổi mới chất lượng nhanh chóng trong khi vẫn duy trì các thông số số lượng.

Mặc dù có sự cắt giảm đáng kể về quân số trong thập kỷ 1980, quân đội Trung Quốc vẫn là quân đội lớn nhất thế giới về thông số này về số, trong khi đã cải thiện mạnh mẽ về chất.

Trung Quốc đang xây dựng lực lượng xe tăng khổng lồ nhất thế giới theo giải mã sâu xa của chuyên gia này, có lẽ nó không dành cho Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc hay các nước Đông Nam Á bởi hình thái chiến trường không cho phép. Vậy thì nó dành cho ai khác, ngoài Nga với địa hình rộng mênh mông và biên giới hàng ngàn km với Trung Quốc?

Tàu chiến Type 956

Lục quân Trung Quốc đã nhận được không dưới 4.000 xe tăng hiện đại Туре-96 và Туре-99, hơn nữa việc thay thế xe tăng cũ bằng xe tăng mới đang thực hiện theo nguyên tắc một đổi một. Tức là sự đổi mới triệt để về chất không dẫn đến sự cắt giảm về số lượng. Các xe tăng Туре-96/96А đã được biên chế cho tất cả 7 đại quân khu của quân đội Trung Quốc, Туре-99 hiện mới trang bị cho 3 đại quân khu Thẩm Dương, Bắc Kinh và Lan Châu (chính là những đại quân khu tiếp giáp biên giới với Nga).

Trung Quốc đã chế tạo được cả một họ xe chiến đấu lội nước mà đi đầu là xe chiến đấu bộ binh WZ-502 (còn có tên là ZBD-04) lắp tháp của xe chiến đấu bộ binh Nga BMP-3. Lính thủy đánh bộ Trung Quốc đã được trang bị đến 300 xe này, việc sản xuất đang tiếp tục. Dĩ nhiên là đặc tính bơi nước bị tất cả các chuyên gia trên thế giới đánh giá dưới góc độ sự chuẩn bị cho cuộc đổ bộ lên Đài Loan, mặc dù các xe này có thể bơi ngon qua sông Amur hay Ussuri trên biên giới với Nga chẳng hạn.

Tuy nhiên, sau đó, quân đội Trung Quốc nhận ra là khả năng bơi nước dẫn tới khả năng bảo vệ bị suy yếu. Sau đó, họ đã chế tọ biến thể mới của xe chiến đấu bộ binh này là WZ-502G. Nhờ tăng cường vỏ giáp bảo vệ, xe WZ-502G không còn khả năng bơi nữa. Đổi lại, theo các nguồn tin Trung Quốc, tháp xe WZ-502G, cũng như phần trước thân xe chống chịu được đạn xuyên giáp 30 mm bắn từ cự ly 1 km, còn hai bên thân xe chịu được đạn 14,5 mm bắn từ cự ly 200 m.

Một sự trùng hợp thú vị là 30 mm là cỡ đạn của pháo 2А42, vũ khí chính của xe chiến đấu bộ binh BMP-2 của Nga. Trong khi đó, xe chiến đấu bộ binh Bradley của Mỹ lắp pháo M242 cỡ 25 mm. Còn 14,5 mm là cỡ đạn rất ít có. Chỉ có duy nhất một súng máy có cỡ đạn này là KPVT, vũ khí chính của tất cả các xe bọc thép chở quân cũng của Nga. Cỡ đạn lớn nhất của các súng máy phương Tây là 12,7 mm.

PZL 155mm

Hiện đại và uy lực mạnh. Pháo nòng dài đang phát triển nhanh, chẳng hạn đang đưa vào trang bị pháo tự hành 155 mm PLZ-05 (đã chuyển giao không dưới 250 khẩu).

Thông thường, mặt mạnh nhất của lục quân Trung Quốc là pháo phản lực. Nước này đã chế tạo nhiều mẫu hệ thống rocket phóng loạt trên cơ sở các mẫu của Liên Xô, cũng như các mẫu hoàn toàn tự phát triển. Điều logic là chính Trung Quốc đã phát triển được hệ thống rocket phóng loạt uy lực nhất và tầm bắn xa nhất thế giới là WS-2 (6х400 mm) mà các biến thể đầu của nó có tầm bắn 200 km, còn các biến thể cuối (WS-2D) có tầm bắn 350-400 km. Cả MRLS và HIMARS của Mỹ lẫn Smerch của Nga đều không có tính năng dù là gần gần với WS-2.

Nhìn chung, sử dụng hệ thống rocket phóng loạt bắn mục tiêu diện mặt đất có lợi hơn nhiều là sử dụng máy bay. Bởi lẽ, ở đây không có rủi ro mất chiếc máy bay cực kỳ đắt tiền và thêm nữa là tổ lái tốn kém còn hơn nữa cho huấn luyện, cũng không tốn nhiên liệu vốn cũng rất đắt. Chỉ có đạn dược là bị tiêu hao, nhưng đạn của hệ thống rocket phóng loạt cũng rẻ hơn bom đạn máy bay. Hơn nữa, mỗi bệ phóng của hệ thống rocket phóng loạt này sẽ có một máy bay không người lái trinh sát riêng, nên tăng được hơn nữa độ chính xác bắn.

Không thể không lưu ý đến việc từ sâu bên trong khu vực Mãn Châu Lý, WS-2D có khả năng tiêu diệt chớp nhoáng tất cả các đơn vị quân đội Nga tại các khu vực Vladivostok-Ussuryisk, Khabarovsk và Blagoveshchensk-Belogorsk.

Su 35

Còn từ các vùng giáp biên của Mãn Châu Lý (nhưng vẫn là từ lãnh thổ Trung Quốc), hệ thống rocket phóng loạt này sẽ tiêu diệt quân đội và các căn cứ không quân của Nga ở khu vực Chita và các xí nghiệp chiến lược ở Komsomolsk trên sông Amur. Hơn nữa, các quả đạn cỡ nhỏ của WS-2D lại có tốc độ siêu vượt âm, thời gian chúng bay hết tầm tối đa cũng không quá 5 phút. Phòng không Nga không chỉ không thể tiêu diệt, mà ngay cả phát hiện chúng cũng không thể.

Đồng thời, sẽ hoàn toàn không thể phát hiện việc triển khai các hệ thống rocket phóng loạt trên lãnh thổ Trung Quốc bởi lẽ các bệ phóng của chúng trông giống các xe tải bình thường, thậm chí các ống dẫn hướng cũng có hình hộp rất dễ ngụy trang thành thùng xe tải. Và đây không phải là hệ thống vũ khí phòng thủ mà là hệ thống thuần túy tấn công, đột kích.

NATO không có cái gì khác có thể so sánh xa xôi về tính năng với WS-2.

Cho đến gần đây, mặt yếu của lục quân Trung Quốc là không có một trực thăng tiến công thực thụ. Z-9 chế tạo trên cơ sở trực thăng Pháp Dauphin có thể được coi là trực thăng tiến công một cách rất khiên cưỡng. Nhưng nay vấn đề này đã được vượt qua khi Trung Quốc đang đưa vào trang bị trực thăng WZ-10 được phát triển trên cơ sở sử dụng các công nghệ Nga và phương Tây. Lục quân Trung Quốc hiện đã có 60 trực thăng này, việc sản xuất đang được tiếp tục.

Hải quân và không quân của quân đội Trung Quốc có quy mô lớn thứ hai thế giới, chỉ đứng sau Mỹ. Lục lượng không quân của Trung Quốc bao gồm khoảng 140 máy bay ném bom tầm trung H-6 và H-6M (sao chép từ máy bay ném bom chiến lược Tu-16 của Liên xô), 150 đến 200 máy bay ném bom chiến thuật JH-7, 150-550 cường kích Q-5.

Máy bay chiến đấu có ít nhất 100 Su-30 và J-16, 200-350 Su-27 và J-11, 200-250 J-10, 200 J-8 và 700-800 J-7 (Mig-21).

Hiện nay, Không quân Trung Quốc đang loại bỏ dần khỏi biên chế các loại máy bay Q-5, J-7 và J-8 phiên bản cũ, chuyển sang các biến thể hiện đại hóa JH-7, J-16 (bản sao không có giấy phép của Su-30), J-11B (bản sao không có giấy phép của Su-27) và J-10. Nói chung, số lượng máy bay Trung Quốc sản xuất trong một năm nhiều hơn của tất cả các nước NATO (trong đó có Mỹ) cộng lại.

Trực thăng Z9

Trung Quốc lại đang sở hữu hàng trăm, nếu không nói là hàng ngàn tên lửa đạn đạo tầm trung sử dụng vào các mục đích chiến thuật (OTP). Hiện đa số các tên lửa này đang đặt ở đối diện Đài Loan và hướng vào hòn đảo này.

Về hải quân, lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc đông đảo nhất thế giới. Trong đó có 8 tàu ngầm hạt nhân (bốn thuộc dự án 091 và 093) và ít nhất 60 tàu ngầm điện-diesel (10 chiếc dự án 041A), tám thuộc dự án 636EM, hai 636 và 877 dự án, 13 dự án 039G, năm dự án 035G, 13 thuộc  035, tám dự án 033). Tất cả các tàu dự án 041A, 039G, 636EM đều trang trang bị tên lửa chống tàu…

Về tàu khu trục, Hải quân Trung Quốc có 25 tàu chiến dự án 956, dự án 956EM II, ba dự án 052S, 052V hai dự án, hai dự án 052, hai dự án 051S, 051V một dự án, hai dự án 051 “Luda-3″… Các tàu chiến lớp Luda sẽ được thay thế dần bằng các tàu khu trục dự án 052S.

Trực thăng Z 10

Hiện 4 tàu chiến khu trục lớp 052D của Trung Quốc bắt đầu được trang bị hệ thống chiến đấu tân tiến Aegis. Nước này đang có kế hoạch trang bị hệ thống Aegis cho ít nhất 10 tàu khu trục. Như vậy, Trung Quốc là nước thứ tư sau Mỹ, Hàn Quốc và Nhật Bản có tàu khu trục Aegis.

Các tàu chiến Trung Quốc được trang bị tên lửa chống hạm C-803 tiên tiến phóng từ container. Dự án 054A là khu trục hạm đầu tiên được trang bị tên lửa phòng không HQ-16.

Với số lượng khủng nói trên, Trung Quốc có đội tàu khu trục lớn nhất thế giới. Các khu trục hạm này sẽ là lực lượng hộ tống bảo vệ hàng không mẫu hạm trong tương lai.

Bên cạnh các tàu chiến có lượng giãn nước lớn, Trung Quốc cũng đã phát triển mạnh số lượng khinh hạm (đội tàu muỗi). Trong đó, đáng chú ý có có khinh hạm tên lửa hai thân tàng hình Type 022. Ngoài ra, Trung Quốc cũng đã bí mật phát triển các tàu tên lửa mới thuộc Type 056 và chỉ công khai dự án này từ tháng 5/2013. Theo một số nguồn tin, Hải quân Trung Quốc có kế hoạch phát triển tới 50 chiếc tàu chiến Type 056.

Type 056 có thể coi là dự án lai khi kích thước của nó là trung gian giữa hai lớp tàu khu trục và Corvette (hộ tống hạm). Với phạm vi giới hạn trong 2.000 dặm, nó được xếp vào loại hộ tống hạm. Trong tương lai, Type 056 sẽ thay thế dần đội tàu muỗi lạc hậu phát triển trong giai đoạn thập kỷ 60 – 80 của thế kỷ XX.

Một số chuyên gia cho rằng, Type 056 sẽ không có cửa khi hoạt động ở biển Hoa Đông, nơi nó sẽ phải đối đầu với các chiến hạm khủng của Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc những sẽ là lực lượng đáng nể khi bắt nạt hải quân các nước Đông Nam Á.

Tại thời điểm này các nhà máy đóng mặt nước đang hoàn thành cùng lúc 10 tàu khu trục, ít nhất 9 hộ tống hạm và khoảng 10 tàu ngầm hạt nhân/diesel… Có thể nói, tốc độ phát triển và đóng mới tàu chiến của Trung Quốc  là chưa từng có trong lịch sử thế giới. Nói chung, Hải quân Trung Quốc đã hoàn thành thời kỳ xây dựng hàng loạt thử nghiệm các loại tàu nổi để xác định sự lựa chọn tối ưu các tàu khu trục, tàu khu trục lớn và tàu hộ tống.

H6 – K

Các cuộc tập trận của lục quân Trung Quốc cũng có đặc điểm rất thú vị.Tháng 9/2006, Trung Quốc tiến hành cuộc tập trận quy mô chưa từng có của hai đại quân khu Thẩm Dương và Bắc Kinh, hai đại quân khu có tiềm lực mạnh nhất trong 7 đại quân khu. Chính các đại quân khu này tiếp giáp với Nga trên biên giới phía đông của Nga dài 4.300 km.

Năm 2009, các xu hướng này vẫn tiếp tục. Trung Quốc tiến hành cuộc tập trận quy mô lớn nhất trong lịch sử Kuyuae-2009. Cuộc tập trận diễn ra trên địa bàn 4 đại quân khu Thẩm Dương, Lan Châu, Tế Nam và Quảng Châu với sự tham gia của đến 50.000 quân của lục quân và không quân, hơn 6.000 phương tiện vận tải. Trong quá trình tập trận, các lực lượng đã vượt qua tổng cộng 50.000 km. Ví dụ, 4 sư đoàn lục quân đã hành quân (bằng đường sắt, sau đó là tự di chuyển) trên quãng đường 2.000 km. Trong cuộc tập trận này đã thao dượt các hành động hiệp đồng của tất cả các binh chủng trong điều kiện chiến tranh hiện đại. Một trong các mục đích tập trận là kiểm tra các hệ thống vũ khí tối tân, cũng như khả năng hoạt động của hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu đang được triển khai Bắc Đẩu, một hệ thống tương tự GPS của Mỹ.

Rõ ràng là kịch bản tập trận như thế không hề liên quan đến việc đánh chiếm Đài Loan, hay phản kích cuộc xâm lược từ phía Mỹ. Đánh chiếm Đài Loan sẽ phải là một chiến dịch đổ bộ đường biển vì kích thước chiến trường lục địa trên đảo Đài Loan rất nhỏ, chiều rộng của Đài Loan từ tây sang đông không quá 150 km, do đó không thể thực hiện các cuộc hành quân dài hàng ngàn kilômet được. Ngoài ra, trong các cuộc tập trận được tiến hành không có sự tham gia của lực lượng của đại quân khu Nam Kinh là đại quân khu có nhiệm vụ tác chiến chống Đài Loan.

Cuộc xâm lược từ phía Mỹ, nếu như có thể tưởng tượng ra, chỉ có thể là cuộc tấn công từ hướng biển và từ trên không bằng vũ khí chính xác cao nhằm phá hủy tiềm lực quân sự và kinh tế của Trung Quốc. Các hành động trên bộ sẽ là tự sát.

Vậy lục quân và không quân Trung Quốc đang chuẩn bị tiến hành chiến tranh với những binh khí kỹ thuật hiện đại, hệ thống vệ tinh định vị và các hệ thống bảo đảm tác chiến tối tân với quân đội nước nào?

Cần lưu ý là chỉ ở Nga và Kazakhstan là có thể tiến hành các chiến dịch tiến công có chiều sâu đến 2.000 km. Ở Đông Nam Á, chiều sâu chiến trường nhìn chung không quá 1.500 km, còn trên bán đảo Triều Tiên là không quá 750 km. Ngoài ra, cả địa hình diễn ra tập trận cũng giống hơn về các điều kiện địa-vật lý với các khu vực của Trung Á, Viễn Đông và Ngoại Baikal của Nga.

Tường Bách

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

“Không quân Việt Nam sử dụng đơn vị tinh nhuệ nhất cho Biển Đông”

 

“Không quân Việt Nam sử

dụng đơn vị tinh nhuệ nhất cho

Biển Đông”

ĐÔNG BÌNH24/02/14 06:14

(GDVN) – Báo Trung Quốc nói ra nói vào về xây dựng hiện đại hóa hải, không quân của Việt Nam, nhưng đây là bài viết để hiểu dư luận Trung Quốc.

 

Thủ tướng Việt Nam thị sát lực lượng tên lửa phòng thủ bờ biển Bastion-P, tên lửa này là phiên bản của tên lửa chống hạm siêu âm K-301 Yakhont nổi tiếng, sử dụng khung xe MZKT do Belarus nghiên cứu chế tạo. Hệ thống Bastion-P chủ yếu dùng để tấn công các mục tiêu trên mặt biển và đất liền, khoảng cách tấn công hiệu quả là 300 km, có thể dùng để phòng thủ tuyến đường bờ biển dài trên 600 km. Việc triển khai hệ thống tên lửa chống hạm Bastion chỉ cần thời gian 5 phút.

Tân Hoa xã ngày 21 tháng 2 đăng bài viết tuyên truyền nói rằng”Lực lượng tinh nhuệ nhất của Không quân Việt Nam tập trung cho Biển Đông, dùng vịnh Cam Ranh để thu hút viện trợ từ bên ngoài”. Bài viết này được dẫn từ tờ “Thanh niên online”  Trung Quốc.

Sau đây là nội dung chính của bài viết được báo chính thống TQ đăng tải:

Trong 1 năm qua, Việt Nam một mặt thông qua con đường ngoại giao gia tăng kiểm soát đối với tranh chấp biển có thể gay gắt thêm, mặt khác cũng không để chậm trễ các bước mua sắm trang bị hải, không quân tiên tiến.

Đầu năm 2014, tàu ngầm Hà Nội Type 636 mua của Nga đã về đến vịnh Cam Ranh, sự kiện này được một số truyền thông nước ngoài cho là “cột mốc trong phát triển hải quân của Việt Nam”.

Trong một năm qua, Việt Nam tiếp tục “chỉnh đốn quân đội, tăng cường vũ khí trang bị”, mua trang bị hải, không quân tiên tiến của nước ngoài, thực hiện sách lược ngoại giao “linh hoạt hơn”… Một loạt động thái công khai và âm thầm vẫn được triển khai xoay quanh lợi ích của Việt Nam ở khu vực Biển Đông.

Báo Trung Quốc cho rằng: Không quân Việt Nam tăng cường triển khai máy bay chiến đấu trên hướng Biển Đông

Triển khai “thế chân vạc” đối ngoại

Theo tờ “Nguyệt san quốc phòng châu Á” Malaysia, là tuyến đường biển quốc tế quan trọng, Biển Đông là “cổ họng” (yết hầu) từ Ấn Độ Dương đi qua eo biển Malacca, tiến vào Tây Thái Bình Dương, ở đây còn chứa tài  nguyên khoáng sản phong phú, quan trọng nhất là dầu mỏ và khí đốt, trở thành nguyên nhân chủ yếu nhất làm cho vấn đề chủ quyền đảo, đá ở Biển Đông nóng lên trong những năm gần đây.

Trong bối cảnh này, tháng 5 năm 2013, tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng có bài phát biểu đề cập đến vấn đề Biển Đông, đã đưa ra các kiến nghị cụ thể và chính sách ngoại giao mới của Việt Nam.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh tầm quan trọng của “bảo đảm ann ninh và tự do hàng hải”, thúc giục các nước tăng cường hợp tác. “Tôi tin rằng, sẽ không có nước nào phản đối các nước lớn ngoài khu vực tham gia các vấn đề của khu vực này. Các nước trong khu vực cần xây dựng và củng cố lòng tin chiến lược, mới có thể thúc đẩy hòa bình, hợp tác và thịnh vượng của châu Á-Thái Bình Dương”.

Báo “Hoàn Cầu” Trung Quốc cho rằng: “Át chủ bài” của Không quân Việt Nam do Nga chế tạo, phạm vi tác chiến bao trùm toàn bộ Biển Đông

Về chính sách ngoại giao của Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết: “Việt Nam kiên trì thực  hiện đường lối ngoại giao độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, là bạn và đối tác tin cậy của các nước, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Việt Nam nỗ lực làm sâu sắc quan hệ đối tác chiến lược và quan hệ đối tác hợp tác cùng có lợi, cùng thắng với các nước, chính sách quốc phòng của Việt Nam luôn duy trì hòa bình và tự vệ, Việt Nam không phải là đồng minh quân sự của nước nào, cũng không cho phép nước khác xây dựng căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam, sẽ không bắt tay với nước khác nhằm vào nước thứ ba”.

Từ nửa sau năm 2013 trở đi, cấp cao Việt Nam liên tiếp thăm Trung Quốc, Mỹ, các nước ASEAN, đồng thời còn mời nhà lãnh đạo các nước đến Việt Nam tiến hành hội đàm song phương – gồm Nga, Ấn Độ, Mỹ, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand, Bulgaria, Australia.

Việt Nam tích cực tăng cường liên hệ với quốc tế, ngoài nâng cao vị thế quốc tế, tìm kiếm viện trợ kinh tế, nội dung quan trọng hơn là hợp tác an ninh, đặc biệt là hợp tác an ninh trên biển.

Mặt khác, cho dù một số chủ trương của Việt Nam và Trung Quốc trong vấn đề chủ quyền biển đảo tồn tại mâu thuẫn, hai bên vẫn cố gắng bảo vệ quan hệ bình thường, tháng 6 năm 2013, Trung-Việt ký kết thỏa thuận đường dây nóng trên Biển Đông; tháng 10, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường thăm Việt Nam, cam kết tăng cường hợp tác hàng hải song phương, giải quyết xung đột bằng phương thức hòa bình.

Máy bay chiến đấu Su-30 của Không quân Việt Nam

Nhìn vào bài phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các hoạt động của quan chức Việt Nam sau đó, điểm tập trung đầu tiên của chính sách quốc phòng Việt Nam vẫn là vấn đề Biển Đông, bố cục đối ngoại của Việt Nam cơ bản có cục diện “thế chân vạc”: Thực hiện ngoại giao cân bằng đa phương; tăng cường hợp tác quốc tế, nâng cao thực lực quốc phòng và ngoại giao; duy trì quan hệ hữu nghị với Trung Quốc.

Tầm nhìn mua vũ khí mở rộng tới châu Âu, Mỹ

Theo đánh giá của bài báo, quân đội Nhân dân Việt Nam có khoảng 500.000 quân (?), là một trong 10 đội quân lớn của thế giới (?). Sau năm 2010, Hà Nội tích cực mở rộng nguồn cung cấp vũ khí trang bị, theo thống kê của Tập đoàn thông tin quốc phòng Jane’s Anh (IHS), chi tiêu quân sự của Việt Nam năm 2010 là 3,78 tỷ USD, dự kiến năm 2017 sẽ lên tới 4,9 tỷ USD, mức tăng là 30%.

Ngoài Nga và Ukraine, hoạt động mua sắm vũ khí của Việt Nam còn mở rộng đến các nước như Belarus, EU, Mỹ, Canada, Israel, Ấn Độ. Điều đáng chú ý là, tuy Mỹ không cung cấp vũ khí chiến đấu chính cho Việt Nam, nhưng đã nới lỏng cấm vận của thời kỳ Chiến tranh Lạnh, sẵn sàng bán “trang bị không gây chết người (chí tử)” cho Việt Nam, được cho là sự đột phá về quan hệ quân sự song phương.

Tên lửa không đối không R-29 của máy bay chiến đấu Su-30MK2V Không quân Việt Nam

Phối hợp với sự coi trọng vấn đề Biển Đông, Việt Nam đặt hiện đại hóa trang bị hải, không quân lên vị trí hàng đầu. Hiện nay, chương trình mua sắm vũ khí quan trọng được Việt Nam tích cực thúc đẩy gồm có: mua tàu ngầm Type 636 lớp Kilo, máy bay chiến đấu ném bom Su-30MK2V của Nga, mua tàu hộ vệ hạng nhẹ lớp Sigma của Hà Lan; trong đó, toàn bộ 6 tàu ngầm đặt mua của nhà máy đóng tàu Admiralty Shipyard Nga có kế hoạch hoàn thành bàn giao vào năm 2016, dùng để thực hiện các nhiệm vụ như trinh sát, tuần tra, săn ngầm và chống hạm.

Hiện nay, trực thuộc Hải quân Việt Nam là 4 quân khu duyên hải (4 vùng), tổng binh lực khoảng 50.000 quân, có trên 120 tàu tác chiến; Hải quân Việt Nam đã triển khai hệ thống tên lửa bờ đối hạm Bastion-P và tàu hộ vệ hạng nhẹ lớp Gepard do Nga chế tạo ở các căn cứ miền Trung và miền Nam, khả năng răn đe đối với các mục tiêu trên biển tương đối nổi trội.

Còn về Không quân Việt Nam, nòng cốt là 24 máy bay chiến đấu Su-30 và 12 máy bay chiến đấu Su-27SKV/UBK, bán kính tác chiến có thể bao trùm lên tất cả các đảo, đá ngầm thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Máy bay chiến đấu Su-30 Không quân Việt Nam tập trung cho Biển Đông

Lực lượng tinh nhuệ nhất phải kể tới sư đoàn hàng không tiêm kích 370 của Không quân Việt Nam, trang bị máy bay chiến đấu Su-30, trung đoàn 935 trực thuộc sư đoàn này được triển khai ở căn cứ Biên Hòa, ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh.

Xét thấy thành phố Hồ Chí Minh cách eo biển Malacca khoảng trên 1.100 km, những máy bay chiến đấu này không cần tiếp dầu trên không, cũng đủ để tuần tra toàn bộ Biển Đông. Trung đoàn 940 của Không quân Việt Nam trang bị máy bay chiến đấu Su-27 cũ hơn, có căn cứ cách đảo Hải Nam, Trung Quốc 500 km, hành trình khoảng nửa tiếng đồng hồ.

Tích cực phát triển lực lượng “chống can dự”

Nhà nghiên cứu Học viện Rajaratnam Singapore là Bitzinger phân tích cho rằng, Việt Nam “bắt chước” Trung Quốc, phát triển lực lượng “chống can dự” (anti-access strategy) phiên bản thu nhỏ, để triệt tiêu thực lực của Hải, Không quân Trung Quốc ngày càng mạnh trên hướng Biển Đông, tàu ngầm Type 636 biên chế gần đây là trang bị quan trọng, then chốt.

Máy bay chiến đấu Su-27SK của Không quân Việt Nam

Tờ “Jane’s Defense Weekly” Anh cho rằng, Việt Nam tuy không có tàu ngầm hạt nhân, tàu khu trục Aegis và tàu sân bay, nhưng tăng cường khả năng tác chiến biển gần (duyên hải) có hiệu quả rõ rệt, máy bay chiến đấu Su-30 hiện có, tên lửa chống hạm siêu âm, tàu hộ vệ tên lửa cùng với lực lượng tàu ngầm mới thành lập có thể tăng cường có hiệu quả năng lực điều động trên biển và phòng thủ đảo cho Quân đội Việt Nam.

Nhưng, hiện đại hóa quân sự của Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn quá độ, dự kiến 10 năm sau, Quân đội Việt Nam mới có thể có khả năng kiềm chế các hoạt động của Trung Quốc trên Biển Đông.

Theo tuyên truyền của TQ, “Không chỉ như vậy, Việt Nam còn sử dụng vịnh Cam Ranh như một “con bài mặc cả” tiềm năng. Vịnh Cam Ranh nằm ở tuyến đường giao thông quan trọng kết nối Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, thích hợp cho neo đậu tàu chiến cỡ lớn, cảng này có mặt hướng ra quần đảo Trường Sa, là chỗ xung yếu chiến lược để Việt Nam vươn ra Biển Đông”.

Sau thế kỷ 19, các cường quốc châu Âu cạnh tranh lấy vịnh Cam Ranh làm căn cứ hải quân, từng là nơi thực dân Pháp triển khai hạm đội Viễn Đông, trong thời gian chiến tranh Nhật-Nga năm 1904-1905, Pháp cung cấp vịnh Cam Ranh cho Hạm đội Thái Bình Dương thứ hai của Sa Hoàng nghỉ ngơi.

Truyền thông Trung Quốc tiếp tục tuyên truyền, Trung Quốc có “Su-30 Việt Nam”, tức là sơn màu giống máy bay chiến đấu Su-30 của Việt Nam để chúng làm “quân xanh” trong tập trận. Những tuyên truyền kiểu “chủ nghĩa khủng bố” này đáng lên án, cảnh giác, bác bỏ.

Trong thời gian chiến tranh Việt Nam, vịnh Cam Ranh trở thành căn cứ quân Mỹ. Sau khi kết thúc chiến tranh Việt Nam, từ năm 1979 trở đi, Hải quân Liên Xô lại nhận thuê khu vực này 25 năm. Năm 2002, do khó khăn kinh tế, Nga không thể chi trả giá thuê cao 300 triệu USD mỗi năm, chủ động rút khỏi vịnh Cam Ranh.

Trong thời gian bỏ trống vịnh Cam Ranh, Việt Nam nhiều lần lấy thuê căn cứ làm lý do, thu hút sự quan tâm của Mỹ, Nga, Nhật Bản, Ấn Dộ. Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang từng cho biết: “Việt Nam sẽ cho phép Nga xây dựng cơ sở sửa chữa tàu ở vịnh Cam Ranh. Việt Nam cung cấp căn cứ trên biển cho Nga hoàn toàn không vì mục đích quân sự, nhưng vịnh Cam Ranh có thể dùng để hỗ trợ phát triển hợp tác quân sự song phương”. Nội bộ Nga cũng có người chủ trương, có thể coi vịnh Cam Ranh là quân cảng của tàu sân bay chế tạo mới.

Báo Trung Quốc kết luận cho rằng xanh rờn cho rằng, “tuy Việt Nam tuyên bố sẽ không để vịnh Cam Ranh trở thành pháo đài (cứ điểm quan trọng) quân sự của nước khác, nhưng tiếp tục coi nó là “con bài mặc cả” ngoại giao, “ý đồ lôi kéo các nước can thiệp vào vấn đề Biển Đông rất rõ ràng””.

Tàu ngầm Hà Nội lớp Kilo của Hải quân Việt Nam sẵn sàng bảo vệ chủ quyền biển đảo
Tàu hộ vệ tên lửa Lý Thái Tổ HQ-012 của Hải quân Việt Nam sẵn sàng bảo vệ chủ quyền biển đảo
Tàu tên lửa lớp Molniya của Hải quân Việt Nam sẵn sàng bảo vệ chủ quyền biển đảo
Tàu hộ vệ hạng nhẹ lớp Sigma do Hà Lan chế tạo
Tên lửa phòng không S-300 của Việt Nam, mua của Nga, sẵn sàng bảo vệ chủ quyền biển đảo
Tên lửa phòng không SA-3 của Việt Nam sẵn sàng  bảo vệ chủ quyền biển đảo
Quân đội Việt Nam chọn súng trường Galil để sản xuất và trang bị, sẵn sàng bảo vệ chủ quyền biển đảo
Lực lượng đặc nhiệm Việt Nam tiến hành diễn tập tác chiến đổ bộ, tăng cường khả năng phòng thủ, bảo vệ biển đảo
Lực lượng cảnh sát biển Việt Nam sẵn sàng bảo vệ chủ quyền biển đảo
Ngư dân Việt Nam vừa làm ăn vừa sẵn sàng bảo vệ chủ quyền biển đảo
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Blog at WordPress.com.