Daily Archives: February 27, 2014

Ðức Huỳnh Giáo Chủ

Ðức Huỳnh Giáo Chủ
Vương Kim

 

Ðức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,

Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.

Giáo truyền đạo Thích dìu sanh chúng,

Chủ ý chọn người vẹn Tứ ân.

(Hình Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)

Phần I:

HÀNH TRẠNG

Thiên thứ hai

Giai đoạn hoạt động đấu tranh

Chương VIII

Tổ Chức Hàng Ngũ

Ðức Thầy vẫn biết tham vọng của quân phiệt Nhựt muốn thực hiện cái mộng làm chủ Ðông Á, như Ngài đã thấy thâm tâm của họ, khi chiếm Ðông Dương hay Tân Gia Ba, thay vì tuyên bố cho các phần đất thuộc địa nầy được độc lập, giao trả quyền cai trị lại cho dân bổn xứ, họ lại thi hành chánh sách “dịch chủ tái nô”, nghĩa là họ thay thế địa vị của bọn thực dân cũ để xây dựng chế độ thực dân mới của họ.

Ðức Thầy vẫn biết tham vọng ấy nên chi đã thổ lộ tâm tư trong hai câu đối:

Trương Tiên tá Hớn phi thần Hớn,

Quan Thánh cư Tào bất đế Tào.

Ngài sở dĩ đi với Nhựt là để khỏi bị Pháp mưu hại mà thôi. Ngài sống với Nhựt cũng như Quan Công xưa kia sống với Táo Tháo trong lúc thất thủ để chờ cơ hội thoát ly.

Phương chi Ngài biết trước thời cơ, thế nào quân Nhựt vận số cũng không chịu nổi cuộc phản công của Ðồng Minh hết năm Dậu (1945) nên chi trong một bữa ăn đãi quan Nhựt, nhằm ngày 30 tức là ngày chay lạt, mà Ngài cho làm gà. Có người tín đồ nhắc Ngài thì Ngài nói: Người Nhựt không ăn hết nửa con gà.

Như vậy Ngài đã biết trước Nhựt không tồn tại hết nửa năm Dậu (1945). Ngài đã thấu rõ máy huyền cơ nên chi Ngài âm thầm lo liệu để kịp kỳ ứng phó với thời thế.

Ban Trị Sự Phật Giáo Hòa Hảo.

Từ ngày Ðức Thầy ra đời cho đến khi đưa đi lưu cư, không có khoảng thời gian nào rỗi rảnh để cho Ngài sắp xếp nền đạo thành một tổ chức có qui mô, hệ thống. Mãi cho đến khi được đưa về Sài Gòn, nương náu trong vòng bảo vệ của Hiến Binh Nhựt, nghĩa là từ ngày dời về căn nhà ở đường Lefèvre, Ngài mới được rảnh trí để lo sắp xếp nội bộ: Tổ chức các Ban Trị Sự.

Mặc dầu gọi là Ban Trị Sự và nền đạo nên danh là Phật Giáo Hòa Hảo, nhưng về tổ chức chưa dựa vào điều lệ hay nội qui nào. Ngài chọn lựa trong hàng tín đồ thuần thành những người có đạo hạnh và uy tín trong vùng rồi chỉ định hoặc làm Hội Trưởng Tỉnh bộ, Quận bộ hay Thôn bộ. Người được chọn sẽ tùy tiện giới thiệu thêm người khác. Thành thử trong Ban Trị Sự không có con số nhứt định.

Đó là tình trạng các Hội Trưởng trong Ban Trị Sự Phật Giáo Hòa Hảo hồi lúc Ðức Thầy còn bị ràng buộc nương náu trong vòng bảo vệ Hiến Binh Nhựt.

Do sự tổ chức rời rạc ấy mà trong lúc Ðức Thầy đi kinh lý miền Tây, cuộc tiếp rước không được nhứt trí và xảy ra những điều phiền toái làm cho Ngài khó xử trí khi có nhiều tín đồ giành nhau đón Ngài về nhà mình.

Ðến nay được công khai hoạt động, nhứt là để chấm dứt tình trạng tổ chức rời rạc, Ngài mới nghĩ đến sự chỉnh đốn lại các Ban Trị Sự và tổ chức thành hệ thống.

Mặc dầu không có điều lệ, Ðức Thầy cũng đã có ý niệm về hình thức Ban Trị Sự gồm có những chức vụ nào. Ðại để một Ban Trị Sự gồm có 1 Hội Trưởng, 1 Phó Hội Trưởng, 1 Thơ ký, 1 Thủ bổn, 1 viên tổ chức, 1 viên liên lạc, 1 viên tuyên truyền, một số kiểm soát và cố vấn.

Sau khi chỉnh đốn xong cơ cấu các cấp Tỉnh, Ngài mới nghĩ đến sắp xếp cơ quan Trung Ương. Cứ như được biết khoảng tháng 5 năm 1945, Ban Trị Sự Trung Ương được thành hình trong đó Ðức Thầy giữ chức Chánh Hội Trưởng, còn ông Lương Trọng Tường chức Chánh Thơ Ký (1). Ngoài ra còn được biết quí ông Trần Văn Tâm, La Văn Thuận và một số nữa không nhớ tên, lãnh các chức vụ khác trong Ban Trị Sự Trung Ương.

(1) Cứ như được biết Ðức Thầy có cấp cho ông Tường giấy chứng minh thư chức Chánh Thư Ký, nhưng vài hôm sau thì thâu hồi.

Việt Nam Phật Giáo Liên Hiệp Hội.

Thật ra thì khi Ngài về ở căn nhà đường Lefèvre, Ngài đã dự thảo chương trình thống hợp các tông phái Phật Giáo thành một lực lượng lấy tên là Việt Nam Phật Giáo Liên Hiệp Hội.

Trong bài Hiệu Triệu của Việt Nam Ðộc Lập Vận động Hội, Ngài đã có lời kêu gọi thống nhứt giới tu hành theo Phật đạo như sau:

“Các bực Tăng Sư, Thiền đức! Các Cụ có nhớ chăng? Trên lịch sử Việt Nam thời xưa, nhà đại đức Khuôn Việt dầu khoác áo cà sa rời miền tục lụy, thế mà khi quốc gia hữu sự cũng ra tay gánh vác non sông.

“Từ khi người Pháp qua chiếm đất ta, bề ngoài gọi rằng cho ta tự do tín ngưỡng, nhưng bên trong dùng đủ mọi cách âm thầm chia rẽ và phá hoại cho tín đồ nhà Phật không có sức đoàn kết chấn hưng hầu bài trừ cái lưu lệ dị đoan mê tín.

“Ðã vậy lại không có cơ quan tuyên truyền thống nhứt, cũng chẳng có trường chung đào luyện Tăng Sư, các cụ nên biết: hễ nước mất thì cơ sở của đạo phải bị lấp vùi, nước còn nền đạo được phát khai rực rỡ”.

Ðể cụ thể hóa sự đoàn kết, Ngài thành lập Việt Nam Phật Giáo Liên Hiệp Hội với tôn chỉ liên hiệp các tông phái đạo Phật, các nhà sư, các nhà trí thức có xu hướng về Phật Giáo, để:

  1. Tìm cách nâng cao tinh thần đạo Phật.
  2. Tìm những phương tiện cứu giúp kẻ nguy nàn vì thời cuộc hiện tại gây ra.
  3. Giúp đỡ lẫn nhau  trong việc quan, hôn, tang tế.
  4. Binh vực lẫn nhau trong sự tín ngưỡng tự do.

Ðể đạt mục đích trên, Hội sẽ tổ chức ba đặc ban:

a)     Ban nghiên cứu đạo Phật gồm có những nhà sư, những nhà thông thái để hằng ngày tra cứu kinh điển dịch sách hay viết sách nói về đạo Phật.

b)     Ban huấn luyện và truyền bá gồm có các nhà sư, cư sĩ trí thức hoạt động được hội phái đi các nơi giảng giải đạo Phật cho đại chúng, hoặc giả mở trường dạy đạo Phật.

c)      Ban chẩn tế gồm có các nhà hảo tâm thiện nam tín nữ hoạt động chuyên lo cứu giúp kẻ nghèo nàn đói khó, tật bịnh, hoặc giả thành lập các nhà dưỡng lão hay nuôi kẻ mồ côi người tàn tật.

Nếu có thể được, mua trữ thuốc men vải sồ, lúa gạo để dành cho cuộc phước thiện.

Vẫn tưởng Hội sẽ được các nhà sư hưởng ứng, nhưng trái lại, vì tinh thần “riêng chùa riêng Phật” nên Hội đành chết non.

Đi khuyến nông.

Bắt đầu từ năm 1944 trận thế chiến thứ hai trở nên ác liệt do Ðồng Minh phản công thắng lợi ở mặt trận Thái Bình Dương. Việt Nam bị phong tỏa, hàng hóa không nhập cảng được trở nên khan hiếm đắt đỏ, trái lại lúa gạo vì không xuất cảng được nên mất giá rẻ mạt. Trong lúc đồng bào miền Bắc thiếu gạo ăn thì ở Sài Gòn người Pháp dùng lúa thế cho than chụm các nhà máy điện. Vì giá lúa quá rẻ, nông gia bắt đầu bỏ ruộng hoang, xoay qua làm nghề khác. Tình hình nông nghiệp lâm nguy.

Ðể cứu vãn tình thế, người Nhựt yêu cầu Ðức Huỳnh Giáo Chủ đi khuyến nông, vì chúng biết Ngài có ảnh hưởng rất lớn vùng châu thổ sông Cửu Long là vùng đất phù sa màu mỡ, vựa lúa của miền Nam, trong lúc bình thường đã sản xuất chẳng những dư sức nuôi miền Trung miền Bắc mà còn thừa thải xuất cảng ra nước ngoài đem lại cho nước nhà một nguồn ngoại tệ rất lớn.

Thừa cơ hội nầy, Ðức Thầy nhận lời đi khuyến nông, trước là khuyến khích nông dân, sau là củng cố hàng ngũ. Hơn thế nữa, riêng Ngài cũng cảm thấy có nhiệm vụ thiêng liêng đối với dân tộc, nên chi Ngài đứng ra cổ võ đồng bào miền Nam, ngoài việc tăng gia sản xuất còn chung sức, nào tiền nào gạo chở ra cứu giúp, và cũng là dịp cho Ngài thăm viếng khuyến miễn tín đồ bấy lâu xa cách.

Cuộc hành trình nầy mệnh danh là cuộc Khuyến nông, kéo dài trong hai tháng, đi khắp các tỉnh miền Tây Nam Việt, diễn thuyết 107 nơi, số người đến nghe trùng trùng điệp điệp.

Bấy lâu có người mộ đạo đã tự qui y mặc dầu chưa hề gặp Ngài, cũng có người nghe danh cảm mộ mà không biết mặt, nay nghe tin Ngài về thì vô cùng hân hoan phấn khởi. Sự vui mừng của anh em tín đồ trông mong Ngài về không còn bút mực nào tả cho hết. Người ta dựng lên những cổng chào ở mỗi chặng đường và dài theo lộ đặt bàn hương án tỏ lòng kính mộ không khác quang cảnh khi rước sắc Thần trong làng. Trên đường Ngài đi qua, già trẻ nữ nam sắp hàng theo hai bên vệ đường làm thành hàng rào dài, đứng chực chờ cả ngày cả buổi, không quản nắng mưa miễn được chiêm ngưỡng dung nhan. Có điều làm cho mọi người cảm động là mỗi khi Ngài đi qua, nhiều cụ già mừng đến rơi lệ dầm dề, nghẹn ngào chào mừng không nên tiếng.

Và một khi Ngài đi qua rồi thì anh em rùng rùng hoặc đạp xe hoặc kéo bộ chạy theo tạo thành một quang cảnh tấp nập làm trở ngại cuộc lưu hành. Vì vậy, mà Ngài ra lịnh, ai ở đâu thì tiếp rước ở đó, chớ không được đi sang qua vị trí khác. Mặc dầu có lịnh cấm nhưng cũng có người khéo léo tìm cách đi trước, bằng đường thủy thay vì bằng đường bộ.

Vì số người đến đón quá đông nên cuộc tiếp rước phải tổ chức ở những địa điểm rộng rãi, thường là sân vận động, đình chùa hay rạp hát mới chứa hết.

Ở mỗi địa điểm tập họp, người ta có dựng một diễn đài cao để cho mọi người ba bên bốn bề, dầu ở xa cũng trông thấy hình dáng, gương mặt hay bộ tịch của Ngài khi lên thuyết giảng.

Mặc dầu đông đảo không thể tưởng tượng, nhưng khi Ngài cất tiếng thì đâu đó đều lặng lẽ, cho nên dầu ở xa cũng nghe tỏ rõ. Ngài có một giọng nói thanh tao, trong trẻo, hấp dẫn lạ thường, vừa hùng hồn vừa truyền cảm. Ai nghe cũng xúc động, khi mủi lòng rơi lệ, lúc phấn khởi hân hoan.

Ngài nói thao thao bất tuyệt, ai ai cũng nhận Ngài có tài hùng biện, nói rất khỏe, nói không vấp, nói có mạch lạc, rất hấp dẫn. Có ngày, Ngài đăng đàn 5,6 chỗ, nói ngót hai ba tiếng đồng hồ mà không thấy mệt, không tiếng khan. Mỗi ngày dời chỗ nhiều lần mà không nơi nào diễn giảng giống nơi nào, dầu người với trình độ nào nghe cũng thấy thích thú.

Vì Ngài ám thông tâm lý nên nói rất phù hạp mọi căn cơ, khi thì với giọng bình dị khi thì văn vẻ cao siêu. Do đó người nghe không thấy chán, mặc dầu đứng lâu 2,3 tiếng đồng hồ, càng nghe càng thấy khoái cảm, say mê.

Với bất cứ đề tài nào, Ngài cũng nói trôi chảy, thông suốt từ cảnh đồng bào chết đói ngoài Bắc, hết sức thê thảm, qua những lời thiết tha kêu gọi nông dân nỗ lực cấy cày, đến những giáo lý cao siêu của nhà Phật, đề tài nào Ngài cũng diễn giảng thao thao bất tuyệt, nhả ngọc phun châu, càng lúc càng thu hút đông người đến nghe, đổ xô như nước lũ.

Trong thời gian “đi khuyến nông” có vài việc làm cho Ngài bực mình là anh em tín đồ tranh nhau rước Ngài về nhà riêng. Cho được công bằng, khỏi mất lòng người nầy, được lòng người khác, Ngài chỉ chấp nhận đến hội quán, bằng không thì đến ở nhà hàng.

Sau đây là lộ trình khuyến nông:

Khởi hành tại Sài Gòn ngày mồng 1 tháng 5 năm Ât Dậu, nhằm ngày 10-06-1945, đi thẳng xuống Cần Thơ rồi đến Cái Răng, Sóc Trăng, Bãi Xào.

Sau khi thuyết giảng tại Sóc Trăng và Bãi Xào, phái đoàn đến Bạc Liêu ngày mồng 6 tháng 5 năm Ât Dậu tức ngày 15-06-1945. Ðến đây Ngài nghỉ ở nhà ông Võ Văn Giỏi.

Chiều ngày mồng 7 tháng 5 Ât Dậu, Ngài thuyết giảng tại đình Tân Hưng trong châu thành Bạc Liêu.

Ngày mồng 8 tháng 5 năm Ât Dậu, Ngài khuyến nông ở Vĩnh Châu và chiều lại thuyết giảng tại Sóc đồn làng Hưng Hội.

Ngày sau tức ngày 9 tháng 5 năm Ât Dậu, Ngài đi thăm Linh Quang Tự của ông Chung Bá Khánh dựng trong đồn điền của ông ở làng Vĩnh Lợi và thuyết pháp rồi nghỉ trưa ở đây. Chiều lại Ngài trở về nhà ông Võ Văn Giỏi ở Bạc Liêu. Trong thời gian ở Bạc Liêu, Ngài có đi Hòa Bình, Gia Rai và Cà Mau.

Ngày 12 tháng 5 Ât Dậu nhằm ngày 21-6-1945 phái đoàn từ giã Bạc Liêu đi Rạch Giá, trải qua Vị Thanh, Giồng Riềng, và đến Rạch Giá ngày 16 tháng 5 năm Ât Dậu, ở nhà ông Nguyễn Công Hầu.

Hôm sau, ngày 17 tháng 5 năm Ât Dậu, Ngài đi Cái Sắn, Tân Hội rồi trở về Rạch Giá, nghỉ hai ngày 19 và 20.

Ngày 21 tháng 5 năm Ât Dậu, Ngài đi Sóc Xoài và Ba Hòn bằng ghe máy.

Trong thời gian ở Rạch Giá, Ngài diễn giảng tại rạp Hòa Lạc và đến thăm đình thờ Quan Thượng đẳng đại Thần Nguyễn Trung Trực và quan Phó Cơ Ðiều tại làng Vĩnh Thanh Vân trong châu thành Rạch Giá.

Từ giã Rạch Giá, phái đoàn đi Hà Tiên nơi đây đã có sẵn xe của ông Phán Hồ Viết Long và thầy thuốc Ðỗ văn Viễn chực chờ, rước về Châu đốc thì được tin Hà Tiên bị Ðồng Minh dội bom. Ngài vừa ghé nhà ông Phán Long thì chợ Châu đốc có báo động. Ngày ấy Ngài dùng cơm nhà thầy thuốc Viễn và nghỉ đêm ở đó.

Sáng hôm sau, Ngài thuyết giảng tại sân vận động, trưa lại Ngài đi Bình Di thuyết giảng tại làng Khánh Bình.

Hôm sau Ngài thuyết giảng ở Tịnh Biên rồi bận về có ghé Xà Tón, Thới Sơn, Nhà Bàn. Khi tới núi Sam Ngài có viếng mộ Phật Thầy và tỏ ra buồn bực.

Ngày hôm sau Ngài đến thuyết giảng tại chợ Cái Dầu làng Bình Long.

Bữa sau Ngài qua Tân Châu, thuyết giảng tại sân vận động, dùng cơm trưa nhà ông quan Hữu Kim, rồi đi Hồng Ngự, thuyết giảng tại nhà Hương Sư Sộ, Hội Trưởng Ban trị Sự quận Hồng Ngự. Chiều lại Ngài về tới Hòa Hảo ngày 20 tháng 5 năm Ât Dậu, nhằm ngày 5-7-1945.

Trên đường về Hòa Hảo, Ngài cho ghé ghe máy thăm ông Năm Hiệu. Ngài lên tới nhà thì ông Năm Hiệu đã tắt thở trước 10 phút.

Ngài dặn trong gia đình ngày mai (27-5-Ât Dậu) khi Ngài thuyết giảng ở Chợ Vàm về sẽ an táng.

Đêm về Hòa Hảo anh em tín đồ tụ lại đông đảo đón Ngài, xếp hàng từ trong nhà Ðức Ông ra đến đại lộ, lên đến chợ Cái Tắc (Mỹ Lương), Ðức Thầy phải đi bộ cho anh em thấy mặt qua ánh sáng của chiếc đèn măng sông do một ngưới xách theo.

Sáng ngày 27 tháng 5 Ât Dậu, Ngài diễn đài chợ Vàm Láng Phú An, tổ chức tại sân vận động. Buổi trưa Ngài dùng cơm nhà Hương Hào Phỉ.

Trên đường về, Ngài có ghé đưa linh cửu ông Năm Hiệu ra phần mồ.

Chiều ngày hôm đó, Ngài thuyết giảng tại đình Hòa Hảo.

Trong mấy ngày ở Hòa Hảo, Ngài có làm lễ đem lư hương từ Tổ đình xuống chùa An Hòa Tự, nhằm ngày 30 tháng 5 Ât Dậu.

Sáng ngày mồng 1 tháng 6 năm Ât Dậu, Ngài qua Năng Gù nơi đây có xe Ban Trị Sự tỉnh Long Xuyên đón Ngài rước về tỉnh lỵ Long Xuyên, tới đây độ 11 giờ và ở trọ nơi khách sạn của tỉnh thành.

Ngày mồng 2 tháng 6 năm Ât Dậu, Ngài đi Vĩnh Trạch và Núi Sập.

Ngày 3 tháng 6 năm Ât Dậu, Ngài đi thuyết giảng ở Chợ Mới.

Ngày 4 tháng 6, Ngài đi Mỹ Lương.

Ngày 5 tháng 6, Ngày đi Ðốc Vàng, chiều trở về Mỹ Hội đông. Sáng hôm sau Ngài thuyết giảng tại sân vận động của làng này rồi về Long Xuyên và thuyết giảng tại công sở làng Mỹ Phước (Châu thành Long Xuyên).

Ngày hôm sau, Ngài đi Cái Sắn.

Hôm sau, Ngài đi Thốt Nốt và chiều trở về nghỉ tại Long Xuyên đến 11 giờ đêm, Ngài đi luôn về Cần Thơ để hôm sau thuyết giảng tại sân vận động.

Bữa sau, Ngài đi Xà No thăm Hương bộ Thạnh rồi thuyết giảng tại Cái Tắc. Bữa sau nữa, Ngài đi khuyến nông tại Phụng Hiệp và Cái Răng. Và mấy ngày sau đó, Ngài đi thuyết giảng ở Trà Mơn, Ô Môn, Cờ Ðỏ.

Sau Cần Thơ, Ngài đi Sa đéc, Cao Lãnh, Vĩnh Long, Tam Bình, An Trường, Trà Vinh, Càn Long đến Bến Tre rồi trở về Sài Gòn.

Mặc dầu, cuộc khuyến nông kéo dài trong 2 tháng nhưng không nơi nào Ngài ở lâu. Ngài chỉ đi thoáng qua cho anh em tín đồ được trông thấy dung nhan của Ngài cho thỏa lòng bấy lâu mong ước. Tuy Ngài đã đi rồi, nhưng anh em vẫn ghi đậm hình dáng của Ngài vào tâm não, nhứt là lời vàng ngọc của Ngài đã khuyến giáo. Anh em đa số đến thuộc nằm lòng những đoạn trong bài khuyến nông và nòng nả thi hành theo lời của Ngài tha thiết kêu gọi:

Giờ đây xem lại mùa màng,

Năm rồi miền Bắc tan hoang còn gì.

Chỉ có xứ Nam kỳ béo bở,

Cơ hội nầy bỏ dở sao xong.

Cả kêu điền chủ, phú nông,

Ðứng lên đừng để ruộng đồng bỏ hoang.

Muốn cứu khỏi tai nàn của nước,

No dạ dày là chước đầu tiên:

Nam kỳ đâu phải sống riêng,

Mà còn cung cấp cho miền Bắc Trung.

Hoặc là:

Kẻ phu tá cũng là trọng trách,

Cứu giống nòi quét sạch non sông:

Một phen vác cuốc ra đồng,

Thề rằng ruộng phải được trồng lúa khoai.

Mưa nắng ấy đâu nài thân xác,

Chí hy sanh dầu thác cũng cam:

Miễn sao cho cánh đồng Nam,

Dồi dào lúa chín gặt đem về nhà.

Chừng ấy mới hát ca vui vẻ,

Ai còn khi là kẻ dân ngu:

Không đem được chút công phu,

Gởi một tấm lòng son nhắc nhủ.

Khuyên đồng bào hãy rủ cho đông;

Nắm tay trở lại cánh đồng,

Cần lao nhẫn nại Lạc Long cổ truyền.

Sau 2 tháng đi khuyến về, đã có nhiều tai biến xảy ra tại Sài Gòn, khiến Ngài vô cùng bi thảm viết ra bài thơ sau đây diễn tả cảnh Ðồng Minh dội bom tàn phá Sài Gòn.

Lìa Sài Gòn trong vòng hai tháng,

Khi lộn về tiệm quán tanh banh:

Bởi chưng pháo lũy phi hành,

Quăng bom mù quáng tan tành còn chi.

Ðộng lòng của kẻ từ bi,

Tây phương tâu lại A Di Phật đà.

Rằng bên thế giới Ta Bà,

Chúng sanh tàn sát cũng là vì tham.

Di đà mở cuộc hội đàm,

Cùng chư Bồ Tát quyết đem pháp lành.

Tịnh bình rước khắp chúng sanh,

Làm cho giác ngộ hiền lành như Ta.

Công đồng hoạch định san hà,

Nước ai nấy ở nhà nhà tự do.

Ðiều được biết là sau khi khuyến nông về, Ngài không trở lại căn nhà ở đường Lefèvre nữa mà đi thẳng lên biệt thự số 38 đường Miche (nay là đường Phùng Khắc Khoan) là nơi anh em tín đồ đã xếp đặt sẵn trong lúc Ngài đi Hậu Giang.

(hai bức hình của Ðức Thầy (trang 138, 139)

MUC LUC | CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7| | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | | CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 |

CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|

[TV. PGHH]

Advertisements
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Tại Sao Một Số Cảnh Sát Trung Quốc Thay Đổi Tận Đáy Lòng Quan Điểm Về Cuộc Bức Hại Pháp Luân Công

Tại Sao Một Số Cảnh Sát Trung

Quốc Thay Đổi Tận Đáy Lòng

Quan Điểm Về Cuộc Bức Hại

Pháp Luân Công

 Epoch Times       February 25, 2014      Xã Hội Trung Quốc     No Comment
Hàng trăm học viên Pháp Luân Công thực hành các bài tập trên bãi cỏ lớn phía trước Tòa nhà quốc hội Mỹ vào ngày 12 tháng 7 trước một cuộc mít tinh lớn nêu lên vấn đề đàn áp Pháp Luân Công ở Trung Quốc. (Ma Youzhi / The Epoch Times)

Sau 14 năm chịu sự đàn áp tàn bạo không ngừng, bao gồm giam giữ bất hợp pháp, tra tấn, và bị thu hoạch nội tạng dưới sự phê chuẩn của nhà nước, các học viên Pháp Luân Công ở Trung Quốc gần đây đã báo cáo về thái độ mềm mỏng của một số cảnh sát đối với phong trào tập luyện tinh thần này.

Từ năm 1999, khi nguyên lãnh đạo chế độ, Giang Trạch Dân, ra lệnh tiêu diệt trên diện rộng đối với những người thực hành thiền định và tập các bài tập, các học viên Pháp Luân Công trên toàn thế giới đã duy trì những cuộc biểu tình hòa bình để phản đối cuộc bức hại và công bố sự thật cho công chúng.

Hàng triệu người ở nhiều quốc gia đã ký tên kiến nghị chấm dứt cuộc đàn áp Pháp Luân Công, và một số chính phủ cũng đã ban hành lời tuyên bố công khai như thế. Ở Trung Quốc, hàng ngàn người đã để lại tên và điểm chỉ dấu tay của họ lên hàng chục đơn kiến nghị, yêu cầu phóng thích những học viên đang bị giam giữ.

Theo một số nhà phân tích Trung Quốc, các nhà lãnh đạo Trung Quốc hiện nay đang cảm thấy áp lực khi đương đầu với cuộc bức hại, tuy nhiên, họ không muốn giải quyết nó một cách công khai vì nó có thể sẽ dính líu đến toàn bộ Đảng Cộng sản và có thể làm sụp đổ chế độ. Theo các nhà phân tích, các nhà lãnh đạo hiện tại có ý định sử dụng chiến dịch chống tham nhũng của Tập để hạ bệ các quan chức cấp cao nhất chịu trách nhiệm về việc thi hành chính sách khủng bố và gán cho họ tội tham nhũng thay vì tội diệt chủng và mổ cắp nội tạng từ hàng chục ngàn tù nhân Pháp Luân Công bị giam cầm.

Các vụ bắt giữ gần đây đối với Lý Đông Thắng và Chu Vĩnh Khang, cả hai đều là quan chức cấp cao chịu trách nhiệm chính về chiến dịch chống lại Pháp Luân Công, cho thấy tính xác thực của quan điểm này.

Bắt giữ

Vào tối ngày 20 Tháng 12 năm 2013, Ủy ban Kỷ luật Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thông báo rằng Lý Đông Thắng, Thứ trưởng Bộ Công an và Giám đốc Phòng 610 Trung ương, đang bị điều tra bởi “hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng,” một sự liên quan rõ ràng tới việc tham nhũng.

“Phòng 610″ là tổ chức cấp cao nhất trong Ủy Ban Chính Trị và Pháp Vụ (PLAC) dưới chế độ cộng sản Giang Trạch Dân, được lập ra để đàn áp Pháp Luân Công. Trong khi vị trí đứng đầu của Lý đối với Phòng 610 đã luôn được giữ bán bí mật, thì trong bản công bố điều tra ông ta nó đã được đề cập như là một danh hiệu chính thức đầu tiên, có thể điều này được xem như là một gợi ý rằng chính sách khủng bố Pháp Luân Công, không phải sự ăn hối lộ, mới là trung tâm trong việc điều tra đối với Lý.

Lý Đông Thắng có quan hệ gần gũi với Chu Vĩnh Khang, cựu Tổng trưởng của PLAC, bộ máy an ninh khổng lồ của Trung Quốc. Được biết đến như một ông trùm an ninh của Trung Quốc, Chu Vĩnh Khang cũng là một thành viên Ủy Ban Thường Vụ Bộ Chính Trị trước khi nghỉ hưu vào năm 2012 và là một trong những người đàn ông quyền lực nhất ở Trung Quốc cũng như là một trong những quan chức cấp cao nhất chịu trách nhiệm về chiến dịch chống lại Pháp Luân Công.

Chu cũng đang bị điều tra. Mặc dù chưa có xác nhận chính thức, nhưng việc bị bắt giữ đã được xác nhận từ nhiều nguồn, bao gồm Reuters.

Chu và Lý, thuộc trong số những người được chính cá nhân Giang Trạch Dân lựa chọn để thực hiện chiến dịch diệt chủng của mình chống lại Pháp Luân Công. Hàng trăm quan chức và các cộng sự của bộ ba bị cáo buộc này đã bị sa thải khỏi vị trí của họ trong vòng 18 tháng qua và đều bị điều tra.

Các vụ bắt giữ này được cho là đã gây ra sự hoảng loạn trong phe của Giang Trạch Dân và trong hệ thống pháp luật, tư pháp, và cảnh sát. Cảnh sát và các nhân viên an ninh khác hiện nay đều sợ rằng bản thân họ cũng có thể phải chịu trách nhiệm về những tội ác mà họ đã phạm đối với các học viên Pháp Luân Công.

Cảnh sát: ‘Chúng tôi đã sai’

Theo các báo cáo trên trang web Minh Huệ (Minghui.org), một trang web được duy trì bởi các học viên Pháp Luân Công để ghi lại cuộc đàn áp, nhiều cảnh sát đã nhận ra rằng họ không nên tuân lệnh để đàn áp Pháp Luân Công nữa.

Rất nhiều học viên Pháp Luân Công, cả bên trong và bên ngoài Trung Quốc, đã thực hiện các cuộc gọi điện thoại cho các quan chức thực thi pháp luật của Trung Quốc, giải thích rõ sự thật cho họ và cảnh báo họ về những hậu quả của việc tham gia vào cuộc đàn áp.

Theo một báo cáo, vào đầu tháng 01, một học viên tên là Benny đã thực hiện một cuộc gọi đến một đồn cảnh sát ở Trung Quốc. Ban đầu các sĩ quan không muốn nghe cô ấy. Nhưng sau khi cô nói với họ rằng Lý Đông Thắng đã chính thức bị bắt giữ và đang bị điều tra, sau đó họ bắt đầu nghe. Họ cũng đã ghi lại số lượng người để kiến nghị tới Tổ chức Điều Tra Thế giới về việc đàn áp Pháp Luân Công có trụ sở ở New York, nói rằng họ sẽ báo cáo về các cán bộ khác – những người đã phạm tội ác chống lại Pháp Luân Công – để họ chuộc lại những lỗi lầm của mình.

Một học viên khác, đã gọi điện tới một cảnh sát ở Trung Quốc, và bị anh ta mắng xối xả. Nhưng sau đó người cảnh sát này đã đưa cho người học viên số điện thoại riêng của mình. Học viên Benny gọi lại cho ông ta, và lần này người cảnh sát đã rất lịch sự. Ông ta nói: “Cô có biết lý do tại sao tôi chửi mắng người bạn của cô? Đó là bởi vì điện thoại kia của tôi bị theo dõi và tôi cần phải bảo vệ bản thân mình. Tôi biết là bạn của cô gọi điện để giúp tôi và anh ấy là một người rất tốt. Những điều anh ấy nói với tôi đều đúng, ĐCSTQ luôn luôn tìm những con dê tế thần cho những tội ác nó phạm trong các hoạt động trong quá khứ.”

Người cảnh sát này sau đó hứa sẽ bảo vệ các học viên Pháp Luân Công mà ông gặp được.

Vào ngày 17 tháng 01, hai học viên Pháp Luân Công ở tỉnh Sơn Đông đi phát tờ rơi trên phố và khuyến khích mọi người rút khỏi ĐCSTQ. Hai cảnh sát đã tiến về phía các học viên, điều đó thường có nghĩa là họ sẽ bị bắt. Một trong những cảnh sát nói, “Pháp Luân Công đang phân phát tờ rơi.” Người cảnh sát nhìn chằm chằm vào các học viên trong một lúc, sau đó nhìn nhau với một nụ cười và bỏ đi.

Trong một báo cáo khác, một học viên Pháp Luân Công tại thành phố Trùng Khánh cho biết ông đã tới thăm một đồn cảnh sát và nghe một người đàn ông báo cáo về người hàng xóm của ông ta tập Pháp Luân Công. Thay vì khen thưởng người đàn ông này, vị cảnh sát trưởng đã trở nên khó chịu với anh ta, nói: “sự tập luyện của anh ta không có liên hệ với ông, càng có nhiều người tập luyện, thì càng tốt”.

Một nhân viên phòng 610 ở thành phố Trùng Khánh đã đến trại lao động cưỡng bức phụ nữ Shabao để đón các học viên Pháp Luân Công được thả. Ông đã nói rằng: “Chúng tôi rất sai khi đàn áp Pháp Luân Công. Tôi không bao giờ có thể hiểu được chính sách hoạch định của ĐCSTQ.”

Một học viên Pháp Luân Công đã gửi một lá thư nói về sự thật đối của cuộc đàn áp tới người đứng đầu một văn phòng  610 Quận. Sau khi đọc xong lá thư, người đứng đầu Văn phòng 610 này đã từ bỏ công việc của mình.

Một người đàn ông nói rằng ông đã ở trong lực lượng cảnh sát hơn 20 năm, đã rút khỏi ĐCSTQ thông qua sử dụng một bí danh trên trang web Đại Kỷ Nguyên. Ông nói có những điều rất xấu đã xảy đến đối với nhiều cảnh sát mà ông biết, những người đã tham gia vào cuộc đàn áp các học viên Pháp Luân Công. Ông sẽ không bán cuộc đời mình cho ĐCSTQ và sẽ ngừng quấy rối các học viên Pháp Luân Công. Ông cũng khuyên vợ và con không bao giờ gia nhập ĐCSTQ hoặc các tổ chức liên quan.
Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

Hãy Chấm Dứt Nạn Cướp đoạt/Buôn bán Nội Tạng Tại Trung Quốc

Hãy Chấm Dứt Nạn Cướp

đoạt/Buôn bán Nội Tạng Tại

Trung Quốc

 Hon. David Kilgour, J.D.       February 27, 2014      Ý Kiến     No Comment

Bài phát biểu của ông David Kilgour trước Knesset [Hội đồng Lập pháp] của Israel.

các thành viên trong buổi họp tại Knesset Israel, gồm người sống sót, giám đốc trung tâm thông tin Pháp Luân Đại PhápTừ trái qua : Shipping (Sarah) Lu, người sống sót từ trại lao động Trung Quốc ; Roy Bar-IIan, giám đốc Trung tâm Thông tin Pháp Luân Đại Pháp tại Israel; Nghị viên Mosche Feiglin, phó Phát ngôn viên của Quốc hội Israel; Ethan Gutmann, nhà báo điều tra và tác giả sách “Losing the New China” (ảnh do David Kilgour).

Ngày 17 tháng hai, 2014

Các nghị viên Knesset kính mến,

Cho phép tôi cảm ơn sự chào đón mà các bạn dành cho phái đoàn Canada gần đây. Chuyến viếng thăm và bài diễn văn của ngài thủ tướng của chúng tôi tại Knesset được đưa tin rộng khắp đất nước chúng tôi.

Cho phép tôi được nhắc lại bốn đoạn trích dẫn từ bài diễn văn:

“Canada về cơ bản ủng hộ Israel vì điều đó là việc làm đúng…Tình bằng hữu đặc biệt giữa Canada và Israel bén rễ trong các giá trị sẻ chia…Israel là quốc gia duy nhất ở Trung Đông mà từ lâu đã gắn bó với lý tưởng tự do, dân chủ và sự cai trị bằng luật pháp… khi (các giá trị phổ quát) bị đe dọa ở bất kỳ một nơi nào, thì có nghĩa là chúng đang bị đe dọa ở khắp mọi nơi”

Khi phẩm giá con người bị phủ nhận một cách nghiêm trọng ở Trung Quốc thì nó có thể đe dọa tất cả chúng ta, vậy nên tôi hy vọng các nhà lập pháp và nhân dân hai nước chúng ta sẽ làm những điều đúng đắn mà không có sự sợ hãi bị đặt nhầm chỗ.

Tất cả chúng ta trong liên minh quốc tế nhằm chấm dứt nạn cướp đoạt/buôn lậu nội tạng ở Trung Quốc có thể thấy hài lòng rằng các bạn đang tổ chức phiên điều trần quan trọng này.

Thời gian là cấp bách; tôi chắc chắn rằng những người đàn ông và đàn bà không mang tội lỗi gì hiện vẫn đang bị giết hại ở Trung Quốc, để nội tạng của họ có thể được đem bán.

Pháp Luân Công

Cộng đồng nạn nhân chủ yếu, Pháp Luân Công (hay Pháp Luân Đại Pháp) dùng một bộ các bài tập nhẹ nhàng cho thân thể. Đối với tinh thần, các nguyên lý cốt lõi là “Chân-Thiện-Nhẫn”, có tính tương đồng với nguyên lý của nhiều niềm tin tâm linh.

Pháp Luân Công được giới thiệu ra công chúng ở Trung Quốc vào năm 1992; nó phát triển trong bảy năm đến mức 70-100 triệu học viên theo ước tính của chính phủ. Hệ thống niềm tin của môn tập này khác biệt rất lớn với chủ nghĩa vô thần/duy vật của Đảng cộng sản.

Vào tháng bảy năm 1999, tổng bí thư Giang Trạch Dân phát động một cuộc vận động bạo lực với mục đích công khai là để “diệt trừ” Pháp Luân Công.

Một báo cáo của chính phủ Mỹ đã kết luận vài năm trước rằng ít nhất một nửa số tù nhân trong mạng lưới các trại lao động cưỡng bức rộng lớn khắp Trung Quốc – ước tính khoảng 350 trại – là học viên Pháp Luân Công. Những người từng bị giam giữ được phỏng vấn bởi David Matas và bản thân tôi trong nhiều địa điểm bên ngoài Trung Quốc liên tục chỉ ra rằng Pháp Luân Công là nhóm người lớn nhất ở trong các trại và bị đem riêng đi tra tấn và ngược đãi có hệ thống.

Hàng chục triệu học viên Pháp Luân Công hòa bình/phi chính trị từ mọi vùng miền và các ngành nghề khác nhau đã bị chính quyền Bắc Kinh đàn áp vô nhân đạo. Chính sách của chính quyền độc đảng là họ có thể bị giết hại theo yêu cầu mà không cần phải chịu trách nhiệm pháp lý.

Báo cáo độc lập

Vào tháng Năm năm 2006 Liên Minh Điều Tra Cuộc Đàn Áp Pháp Luân Công ở Trung Quốc (CIPFG) đã nhờ David Matas và tôi điều tra về cáo buộc cướp đoạt/buôn bán nội tạng từ các học viên Pháp Luân Công còn sống. Chúng tôi đã cho xuất bản hai báo cáo và một quyển sách, và đang tiếp tục điều tra vấn đề này. (Báo cáo đã được kiểm duyệt của chúng tôi được dịch sang 18 ngôn ngữ, bao gồm tiếng Do Thái, từ trang http://www.david-kilgour.com). Chúng tôi đã kết luận rằng chỉ riêng những năm 2000 đến 2005 có 41,500 ca cấy ghép được tiến hành ở Trung Quốc mà sự giải thích hợp lý duy nhất về nguồn nội tạng này là từ các học viên Pháp Luân Công.

Kết luận chính của chúng tôi là “cho đến ngày nay vẫn còn tình trạng cướp đoạt nội tạng trên quy mô lớn đối với các học viên Pháp Luân Công dù cho các học viên không hề sẵn lòng (…) Các nội tạng thiết yếu của họ, bao gồm thận, gan, giác mạc và tim, bị cưỡng đoạt lấy đi để bán với giá cao, đôi lúc là cho người nước ngoài, những người thường xuyên phải chờ đợi lâu dài để có được sự hiến tặng tình nguyện các nội tạng như thế ở đất nước họ”.

Bằng chứng về việc cướp đoạt/buôn bán nội tạng

Cho phép tôi đề cập chỉ một phần nhỏ trong các bằng chứng đã dẫn chúng tôi đến kết luận:

  • Nhiều điều tra viên đã gọi nhiều cuộc điện thoại đến các bệnh viện, các trại giam và các cơ sở ở khắp Trung Quốc, tự nhận rằng mình là người nhà của các bệnh nhân cần cấy ghép tạng và hỏi rằng liệu họ có bán nội tạng của các học viên Pháp Luân Công hay không. Chúng tôi đã thu được các đoạn ghi âm và sao chép rồi dịch lại các lời thú nhận rằng nhiều cơ sở đang buôn bán nội tạng của các học viên Pháp Luân Công.
  • Các học viên Pháp Luân Công, những người thoát khỏi Trung Quốc sau đó đã chứng thực rằng họ bị kiểm tra máu và nội tạng một cách có hệ thống khi ở trong các trại trên khắp đất nước. Điều này chắc chắn không phải là vì sức khỏe của họ, bởi vì họ thường xuyên bị tra tấn, nhưng nó là cần thiết cho hoạt động cấy ghép nội tạng và việc xây dựng một ngân hàng “người hiến tạng” sống.
  • Trong một vài trường hợp, người nhà của các học viên Pháp Luân Công thấy được thân thể bị cắt xén của người thân của họ giữa lúc chết và hỏa táng. Các nội tạng đã bị lấy mất.
  • Chúng tôi đã phóng vấn người vợ cũ của một bác sĩ phẫu thuật từ Tô Gia Đồn ở thành phố Thẩm Dương, tỉnh Liêu Ninh. Anh ta [vị bác sỹ] kể với cô ấy rằng mình đã lấy giác mạc của 2,000 tù nhân Pháp Luân Công từ năm 2001 đến 2003. Anh ta nói rõ với cô ta rằng không ai trong số những người cung cấp tạng còn sống sót sau cuộc phẫu thuật do nhiều bác sĩ khác nhau đã lấy các nội tạng khác và thân thể của họ bị hỏa thiêu sau đó.

Sự đáp lại từ quốc tế

Nghị viện Châu Âu

Năm 2006, nghị viện Châu Âu tổ chức một phiên điều trần và thông qua một đạo luật lên án việc giam giữ/tra tấn các học viên Pháp Luân Công và bày tỏ quan ngại đối với các báo cáo về hoạt động thu hoạch nội tạng. Tại một phiên điều trần gần đây, ông Tunne Kelam của Hội Đồng Ngoại Giao lưu ý, “nếu chúng ta không nhận thức nghiêm túc về tội ác này thì chúng ta đã trở thành đồng phạm về mặt chính trị và về mặt đạo đức đối với những gì đang diễn ra”.

Mỹ

Kể từ năm 2011, đơn đăng ký visa không-nhập-cư trực tuyến của Mỹ (Mẫu DS-160) hỏi các ứng viên rằng họ có dính líu đến việc lạm dụng cấy ghép tạng không.

Vào tháng 7 năm 2013, nữ nghị sĩ Ileana Ros-Lehtinen (R-Fla.) và người đại diện Robert Andrews (D-N.J) đã trình ra Dự Luật 281 trong Ủy Ban Ngoại Giao, yêu cầu Trung Quốc dừng ngay việc buôn bán nội tạng từ các tù nhân của mình. Luật này nói thêm rằng, “các báo cáo liên tục và tin cậy về nạn thu hoạch nội tạng có hệ thống, được nhà nước phê chuẩn từ các tù nhân lương tâm không tình nguyện” là cơ sở cho sự quan ngại và sau đó cung cấp một bản tổng kết các bằng chứng vốn nối kết hầu hết hoạt động buôn bán nội tạng với một chiến dịch có ý đồ duy nhất là đàn áp và “xóa sổ” môn tu luyện Pháp Luân Công.

Israel

Knesset Israel đã thông qua một pháp chế đáng khâm phục nhằm cấm việc buôn bán và môi giới nội tạng. Luật này còn chấm dứt việc tài trợ qua hệ thống bảo hiểm y tế cho người Israel đi cấy ghép tạng ở Trung Quốc. Trong cuốn sách State Organs [Nội Tạng Quốc Gia], bác sĩ cấy ghép tạng Jay Lavee giải thích rằng điều luật của các bạn là một hành động đáp lại tình trạng lạm dụng cấy ghép tạng ở Trung Quốc. Israel hiện đang dẫn đầu chiến dịch chấm dứt nạn buôn bán nội tạng toàn cầu.

Ai-len

Ở Ai-len vào tháng Bảy vừa qua, Ủy Ban Đại Biểu Ngoại Giao và Thương Mại đã tiến hành một phiên điều trần và nhất trí thông qua một bản kiến nghị kêu gọi chính phủ Ai-len ủng hộ hành động của Liên Hiệp Quốc và Hội Đồng Châu Âu nhằm chấm dứt nạn thu hoạch nội tạng cưỡng bức ở Trung Quốc.

Úc

Tại nghị viện bang New South Wales, một pháp chế chống lại nạn buôn bán nội tạng được thông qua vào năm 2013, qua đó sẽ đưa ra tòa bất kỳ cư dân nào của bang mua một nội tạng bị buôn lậu ở bất cứ đâu. Vào tháng Ba năm ngoái, Thượng viện Úc đã thông qua một bản kháng nghị thúc giục chính phủ chống lại nạn buôn bán nội tạng ở Trung Quốc. Bản khiến nghị còn kêu gọi chính phủ làm theo ví dụ của nước Mỹ trong việc thi hành một yêu cầu visa mới.

Liên Hiệp Vương Quốc Anh

Dữ liệu máu và cấy ghép NHS mà tôi được kể, khẳng định rằng một số công dân Anh vẫn đến Trung Quốc để cấy ghép tạng và sau đó nhận được sự chăm sóc từ NHS. Đối với người Anh và những người ngoại quốc đến Trung Quốc để du lịch cấy tạng thì hy vọng rằng họ không hiểu được nỗi kinh hoàng được gây ra trên “người hiến tạng”.

Các tổ chức phi chính phủ

Nhiều tổ chức y khoa đã đưa ra các bản tuyên bố thúc giục các biện pháp nhằm chấm dứt nạn cướp đoạt nội tạng. Ví dụ, vào năm 2006 Hiệp Hội Y Khoa Thế Giới (WMA) yêu cầu Trung Quốc chấm dứt việc dùng tù nhân làm người hiến tạng. Gần đây chính sách của WMA bao gồm một đoạn văn nói rằng việc hiến tạng từ các tù nhân là không thể chấp nhận được ở các quốc gia nơi mà án tử hình được thực thi.

Tôi nên đưa lời tán dương đối với bác sĩ Jay Lavee và tổ chức Các Bác Sĩ Chống Thu Hoạch Nội Tạng Cưỡng Bức (DAFOH), những người có tiếng nói ở một số quốc gia.

Quan sát

Matas và tôi đang tham gia vào việc phỏng vấn trên phạm vi rộng những người tiếp nhận nội tạng và người nhà của họ. Những cuộc phẫu thuật hầu như được tiến hành trong bí mật. Người tiếp nhận và các mạng lưới hỗ trợ không được cho biết về danh tính của những người hiến tạng; cũng như họ không được cho thấy các văn bản đồng ý từ người hiến tạng. Danh tính của các bác sĩ phẫu thuật và nhân viên hỗ trợ thường không được tiết lộ, bất chấp sự đòi hỏi về thông tin.

Một người tiếp nhận tạng kể với chúng tôi rằng một bác sĩ quân đội, thiếu tá Tan, ở Thượng Hải đã kiểm tra sự tương thích của bảy quả thận trước khi tìm thấy được một quả thích hợp. Người bác sĩ sẽ rời khỏi bệnh viện trong bộ quân phục và sau đó trở lại với hộp đựng các quả thận.

Những lời giới thiệu

Liên minh quốc tế về chấm dứt việc mổ cắp tạng sẽ không ngừng làm việc, chừng nào hoạt động thương mại vô nhân đạo này ở Trung Quốc kết thúc hoàn toàn. Cho đến khi việc bị mất mặt công khai, thường đạt được thông qua nỗ lực ‘nêu tên và làm xấu hổ’ chính quyền độc đảng, chứng tỏ được sự hiệu quả, thì các quốc gia khác và những nhà lập pháp của họ có trách nhiệm chấm dứt sự đồng lõa với hoạt động ngược đãi vô đạo đức này bởi chính các công dân của mình.

Các chính phủ khác nên noi gương Israel bằng cách ban hành các biện pháp để kết án việc buôn bán nội tạng tại nước nhà hoặc ở ngoại quốc. Họ cũng có thể yêu cầu tường trình về ‘du lịch ghép tạng’, cấm nhập cảnh những kẻ dính líu đến việc buôn bán nội tạng, và ngăn cấm các công ty dược làm các xét nghiệm ở lĩnh vực cấy ghép tạng và thử nghiệm y khoa ở Trung Quốc.

Các thương nhân có trách nhiệm nên giảm việc giao thương và đầu tư vào Trung Quốc cho đến khi chính phủ của họ chấm dứt việc buôn bán nội tạng. Khi Bắc Kinh còn chỉ đạo tất cả các đại sứ quán của mình truyền bá sự thù hận và các thông tin giả mạo chống lại Pháp Luân Công thì làm sao có người có thể tiếp tục kinh doanh như bình thường? Khi làm như thế, họ đang tài trợ và nuôi dưỡng một chính quyền độc đảng vốn cướp đoạt nội tạng của các công dân của mình cho mục đích thương mại.

Việc đứng lên vì phẩm giá con người ở đây trong tất cả mọi trường hợp sẽ không gây tổn hại đến thương mại và các giao thương khác của một quốc gia với Trung Quốc. Hãy xét ví dụ của Na Uy, cộng hòa Séc và Canada. Khi Lưu Hiểu Ba được trao giải Nobel Hòa Bình vào năm 2010, chính phủ Na Uy đã nhận phải sức ép đáng kể từ đại sứ quán Trung Quốc ở Oslo, nhưng giải thưởng vẫn được trao và không có gì xảy ra mà ảnh hưởng đến nền kinh tế của Na Uy.

Những lời đe dọa tương tự được gửi đến cựu tổng thống Vaclev Havel khi ông mời Đạt Lai Lạt Ma đến Prague, nhưng vị giáo chủ đã đến và không có điều gì nguy hại cả. Thủ Tướng Harper nhận được nhiều lời đe dọa từ Bắc Kinh khi ông nói rằng mình sẽ không để “đồng đô la vạn năng” quyết định chính sách đối ngoại với Trung Quốc của chính phủ mình. Công ty Bombardier thông báo thương vụ lớn nhất từng có ở Trung Quốc vào cùng thời điểm mà các lời đe dọa đến từ chính quyền một đảng của Trung Quốc. Tôi nghĩ rằng một số nhân vật chủ chốt của đảng kính trọng các nhà lãnh đạo ở các quốc gia dân chủ dám đứng lên vì phẩm giá con người.

Nhiều người trong chúng ta và ở ngoài Trung Quốc nên có một ảnh hưởng lớn hơn trong vụ việc quan trọng này, không những vì nó là cần thiết để bảo vệ hàng nghìn con người khỏi bị giết hại, mà còn vì nó là tốt cho Trung Quốc và cộng đồng quốc tế trên tổng thể. Chúng ta đều muốn một đất nước Trung Quốc tận hưởng sự cai trị bằng luật pháp, phẩm giá cho mọi người và nền cai trị dân chủ.

Cảm ơn.

David Kilgour, JD

Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

Phillipines Phản Đối Trung Quốc Sử Dụng Vòi Rồng Tấn Công Ngư Dân

Phillipines Phản Đối Trung Quốc Sử Dụng Vòi Rồng Tấn Công Ngư Dân

 Associated Press       February 27, 2014      Thế Giới     No Comment
Tổng tham mưu trưởng Quân đội Philippines, tướng Emmanuel Bautista trong một cuộc phỏng vấn ở ngoại ô thành phố Quezon, phía bắc Manila, Philippines vào ngày Thứ 5 Tháng hai 20. Bautista cho biết tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh ở Biển Đông là "vô nghĩa". (AP Photo / Aaron Favila)Tổng tham mưu trưởng Quân đội Philippines, tướng Emmanuel Bautista trong một cuộc phỏng vấn ở ngoại ô thành phố Quezon, phía bắc Manila, Philippines vào ngày Thứ Năm, ngày 20 Tháng hai 20. Bautista cho biết tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh ở Biển Đông là “vô nghĩa”. (AP Photo / Aaron Favila)

MANILA , Philippines – Chính phủ Philippines đã triệu tập phái viên hàng đầu của Trung Quốc ở Manila hôm thứ Ba để phản đối việc Tàu chính quy của Trung Quốc đã sử dụng vòi rồng để xua đuổi những ngư dân Phillipine ra khỏi khu vực bãi cạn đang tranh chấp gay gắt ở Biển Đông.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao, Raul Hernandez cho biết, hoạt động phản đối đã gửi thông điệp đến một nhà ngoại giao Bắc Kinh liên quan đến sự cố ngày 27 tháng 1 tại bãi cạn Scarborough, một ngư trường trù phú được Trung Quốc và Philippines tuyên bố chủ quyền. Trung Quốc làm ngơ trước phản ứng này và khẳng định chủ quyền của họ đối với vùng biển này là “không thể chối cãi”

Trung Quốc đã kiểm soát bãi cạn vì tàu Philippines đã rút lui khỏi trong một cuộc tranh chấp căng thẳng đang bế tắc vào năm 2012. Tàu bảo vệ và giám sát bờ biển Trung Quốc sẽ ra sức bảo vệ lãnh thổ và xua đuổi ngư dân Philippines nếu họ mạo hiểm xâm phạm. Vào năm ngoái, Philippines yêu cầu tòa án quốc tế tuyên bố sự chiếm giữ của Trung Quốc đối với bãi cạn và bảy rạn san hô biển Đông khác là bất hợp pháp.

Một lái buôn cá Philippines tên Macario Forones cho biết: nhân viên bảo vệ bờ biển Trung Quốc sử dụng nước thải dầu thô trong khi thổi còi tàu và la hét vào các ngư dân “Cút đi, Cút đi”. Một hoặc hai tàu đánh cá Philippines khác bị xịt nước thải, ông nói.

Forones cho biết qua điện thoại từ phía tây tỉnh Zambales: “Nước có mùi dầu làm bẩn hết một bên chiếc thuyền đánh cá của tôi, nhưng ngư dân của nhóm tôi đã không thực sự rời khỏi khu vực. Chúng tôi đã phải mất rất nhiều tiền để làm chuyến hành trình đến đó và về cơ bản thì họ đã phớt lờ người Trung Quốc”

Các tàu bảo vệ bờ biển của Trung Quốc với mũi tàu số 3063 sử dụng vòi rồng của nó trong vài phút và phát thanh từ các loa để xua đuổi 2 trong số 14 tàu đánh cá Philippines, Hernandez nói trong một cuộc họp báo .

“Đây là một sự phản đối kịch liệt chống lại Trung Quốc vì các hành động gây hấn lần này”, Hernandez phát biểu trong hoạt động ngoại giao, thêm vào đó ông nói tuyên bố chủ quyền lãnh thổ rộng lớn của Trung Quốc ở Biển Đông là “quá đáng, lấn lướt, và bất hợp pháp. “

“Những hành động này, sự cố này chắc chắn sẽ làm cho tình hình căng thẳng trong khu vực leo thang và điều này đe dọa hơn nữa hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực”, ông nói.

Trung Quốc lặp đi lặp lại rằng họ “có chủ quyền không thể tranh cãi về các vùng đảo tại Biển Đông và các vùng biển liền kề, trong đó có Đảo Hoàng Nham,” họ sử dụng tên Trung Quốc cho bãi cạn Scarborough. Đồng thời họ không phủ nhận cũng không thừa nhận trước cáo buộc tấn công bằng vòi rồng, nhưng lại nói rằng các tàu tuần tra chính quy của Trung Quốc đã và đang tuần tra thường xuyên tại khu vực Scarborough.

“Phía Trung Quốc không chấp nhận cái gọi là ‘phản đối’ của phía Philippines”, người phát ngôn của Đại sứ quán Trung Quốc Zhang Hua cho biết trong một tuyên bố.

Tổng thống Benigno Aquino III cho biết chính phủ của ông sẽ yêu cầu Bắc Kinh trả lời cho câu hỏi liệu đây là một sự việc có tính chất riêng lẻ hay là một cách thức mới của Trung Quốc nhằm khiêu khích các quốc gia đối thủ trong vùng biển đảo tranh chấp.

Tổng tham mưu trưởng quân đội, tướng Emmanuel Bautista nói với các phóng viên hôm thứ Hai rằng lực lượng Philippines tuân theo một chính sách không đối đầu trong khu vực tranh chấp nhưng sẽ bảo vệ đất nước và người dân Phillipines nếu họ đang bị đe dọa.

Quân đội Philippines cho biết họ sẽ không trả đũa.

“Mặc dù đây là một hành động gây hấn, nó không đáng để đáp lại bằng một phản ứng quân sự, ” phát ngôn viên quân đội, Trung tá Ramon Zagala nói. “Chúng tôi khuyến khích ngư dân của chúng tôi tiếp tục cuộc sống bình thường của họ. Chúng tôi không thể để cho một kẻ gây hấn  ngăn chặn cách mà chúng tôi vẫn sinh sống, đặc biệt là một cuộc sống mưu sinh.”

Trung Quốc, Philippines và bốn quốc gia khác đã vướng vào cuộc tranh chấp quyền sở hữu vùng lãnh thổ trên Biển Đông giàu tài nguyên trong nhiều năm. Nhiều người lo ngại các tranh chấp có thể đưa đến một cuộc xung đột vũ trang dữ dội.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

PGHH Trường-Cữu

PGHH Trường-Cữu

Ðức Huỳnh Giáo Chủ
Vương Kim

 

Ðức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,

 

Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.

 

Giáo truyền đạo Thích dìu sanh chúng,

 

Chủ ý chọn người vẹn Tứ ân.

 

 

(Hình Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)

 

Phần I:

HÀNH TRẠNG

 

 

Thiên thứ nhứt

 

Giai đoạn ra đời mở đạo

 

 

Chương VI

 

Lưu Cư

Ðộng Cơ.

Gần ngót một năm ra cứu đời, dùng huyền diệu của Tiên gia độ bịnh, ra thi thơ Sấm Giảng thức tỉnh người đời, nhứt là những người có căn tu hành theo Ðức Phật Thầy Tây an, đã nhận chân Ðức Huỳnh Giáo Chủ là một vị siêu phàm giáng trần có sứ mạng cứu dân độ thế, nên qui ngưỡng một ngày một đông, gây thành một phong trào khá lan rộng, khiến nhà cầm quyền để ý đến, bèn cho mật thám theo dò la, nhưng chưa vội can thiệp.

a) Ðộng cơ thứ nhứt. Có nhiều sự việc đáng làm cho chúng e ngại, lo ngại nhứt là số tín đồ mỗi lúc mỗi tăng một cách kinh khủng.

Và điểm đáng lo ngại khiến nhà cầm quyền Pháp đi đến quyết định an trí hay lưu cư Ngài là những điểm sau đây:

Trong Sấm Giảng có những câu bộc lộ huyền cơ làm cho chúng nghi là Ngài có mưu định Cần Vương hay chủ trương phục hồi đế nghiệp.

để đáp ứng sự đòi hỏi của tín đồ quá đông đảo, Sấm Giảng phải in thành sách, chớ không thể chép tay hay đánh máy như lúc ban sơ. Nhưng muốn in, nhà in đòi phải có giấy phép của sở kiểm duyệt. Như có lần anh em đem kiểm duyệt, nhà cầm quyền giữ lại một thời gian, vì có những câu chúng không chấp thuận. Nếu bằng lòng sửa chữa lại, chúng mới cho phép in. Những điểm chúng kiệm duyệt là những câu nói về Thánh Chúa.

Chẳng hạn như câu:

Chẳng qua là Nam Việt vô vương,

Nên tai ách xảy ra thảm thiết.

Sau phải sửa lại:

Chẳng qua là Nam Việt vô duơn,

Nên tai ách xảy ra thảm thiết.

Hay những câu nói về thiên cơ:

Hết Tây rồi đến Huê Kỳ,

Sưu cao thuế nặng vậy thì thiết tha.

Sau phải sửa lại:

Hết đây rồi đến dị kỳ,

Sưu cao thuế nặng vậy thì thiết tha.

Hay là câu:

để gặp Chúa ngồi mà than khóc,

Gỡ làm sao hết rối mà về.

Sau phải sửa lại:

để gặp Phật ngồi mà than khốc,

Gỡ làm sao hết rối mà về.

Cũng như trong bài Ngũ nguyện, về câu nguyện thứ nhứt:

“Nam mô nhứt nguyện cầu: Thiên hoàng, địa hoàng, Nhơn hoàng Long Hoa hải hội, Thượng Phật từ bi, Minh Vương trị chúng, thế giới bình an”.

Sau phải sửa lại:

“Nam mô nhứt nguyện cầu: Thiên hoàng, địa hoàng, Nhơn hoàng Long Hoa hải hội, Thượng Phật từ bi, Phật Vương độ chúng thế giới bình an”.

Ngoài ra, chúng còn cho lính kín theo dõi và chép được những bài chưa in ra, nhưng được truyền tay, truyền khẩu nhau có tánh cách chống Pháp.

Chẳng hạn như bài Bánh mì:

Mì kia gốc phải nước mình không?

Nghe thấy rao mì thốt động lòng.

Chiếc bánh não nùng mùi khách lạ,

Bát cơm đau đớn máu ông cha.

Văn minh những võ trưng ba mặt,

Thắm thía tim gan ứa mấy dòng.

Nhớ lại bảy mươi năm trở ngược,

Say mì lắm kẻ bán non sông.

Bài nầy chưa mấy rõ nghĩa chống Pháp bằng bài:

“Cờ tam sắc”

Tam sắc cờ bay phất phơ mà!

Ngồi nhìn nhớ kỹ héo lòng ta.

Thuở xưa đâu có cờ tam sắc,

Gặp cảnh vong bang ứa ruột rà.

Về bài “Cờ tam sắt”, Ðức Thầy cảm thấy thế nào cũng bị bọn gia nô của Pháp bắt bí nên chi Ngài sửa lại để đánh lạc hướng đám “chó săn chim mồi”. Ngài sửa lại như vầy!

Tam sắc cờ bay phất phơ mà,

Ngồi nhìn khoăn khoái cõi lòng ta.

Thuở xưa đâu có cờ tam sắc,

Nay hiệp Tây đông thể ruột rà.

Quả thật, sau đó có tay sai của Pháp đến muốn nghe bài thơ ấy, nhưng cụt hứng khi nghe một tín đồ đọc lại bài thơ đã sửa chữa.

Mặc dầu sách in được kiểm duyệt, các bài truyền khẩu được lột bỏ những điểm chống Pháp, nhưng những khoản kiểm duyệt cũng như những bài truyền khẩu tó tánh cách chống Pháp được kết tập thành hồ sơ kể cả những cuộc đối đáp của Ðức Huỳnh Giáo Chủ với những người đến tiếp kiến, những ý kiến được xem là bài Pháp hay phục hồi đế nghiệp hoặc phục quốc cũng được chúng sưu tầm và mật báo tất cả. Chẳng hạn như câu Ngài đáp một người hỏi Ngài tại sao tu mà còn để tóc, không thế phát như các nhà sư thì Ngài đáp một cách khí khái: Vì tôi không muốn để người ta cạo đầu.

Danh từ “cạo đầu” được bọn gian nô diễn dịch là có ý bất phục đối với nhà cầm quyền bảo hộ.

Sở Liêm phóng cho sưu tập những tư tưởng “phản nghịch” ấy, lập thành hồ sơ, và sau khi nghiên cứu, chúng đi đến kết luận: Ðức Huỳnh Giáo Chủ là một người khá nguy hiểm và nền đạo của Ngài là một tổ chức “chống Pháp” trá hình tôn giáo rất nguyhại cho an ninh, chánh sách thực dân thống trị. Do đó mà chúng quyết định an trí Ngài.

b) Ðộng cơ thứ hai. Ngoài tài liệu thu thập trong Sấm Giảng có tánh cách chống Pháp, còn có việc ông đạo Tưởng nổi loạn ở Tân Châu cũng là một động cơ khiến nhà cầm quyền Pháp quyết định lưu cư Ðức Huỳnh Giáo Chủ để ngừa hậu hoạn.

Như kỳ đăng sơn thứ tư, khi còn ở trên núi Tà Lơn, Ðức Thầy có nói với Biện đài lý do tại đâu phải về.

Lý do đó là vụ đạo Tưởng nổi loạn ở Tân Châu. Và khi về đến Cần Giọt tường thuật vụ đạo Tưởng giết người tế cờ rất rõ. Vụ ấy xảy ra như sau:

Ông đạo Tưởng tên thật là Lâm Văn Quốc, cũng gọi là đạo Quốc, có lập một am để tu tại xã Long Phú cách quận lỵ Tân Châu độ một cây số ngàn. Ông tự nhận là môn phái của Bửu Sơn Kỳ Hương gốc Thất Sơn và qui tụ một số tín đồ khá đông.

Một hôm, ông tự xưng là Minh hoàng và phong tước cho một số môn đệ, nào là chức Vương, Quốc sư, Nguyên soái, Tiên phong, đô đốc, chuẩn bị một cuộc khởi nghĩa phục quốc. ông huấn luyện võ nghệ, cho rèn gươm đao và khoe có phép làm súng bắn không nổ.

Thế rồi đêm mồng 8 rạng ngày mồng 9 tháng giêng năm Canh Thìn, ông phát động cuộc khởi nghĩa. Hành động đầu tiên là giết người để tế cờ. Con vật được ông chọn hy sinh là gia đình Hương tuần Hiếm bị nghi làm tay sai cho Pháp. Sau khi bốt trí châu đáo, bọn ông vây nhà và bắt vợ chồng Hương tuần Hiếm chặt đầu làm lễ tế cờ, gây thành một cuộc náo loạn kinh hoàng tại Tân Châu.

Nhà cầm quyền Pháp bèn cho lính đến đàn áp. đạo Tưởng và đồng bọn tin ở tà thuật làm cho súng bắn không nổ nên hiên ngang đem gươm giáo ra chống cự. Rốt cuộc súng vẫn nổ và bọn đạo Tưởng đều bị bắn hạ; kết quả năm bảy mạng bị giết và gần 30 người bị bắt.

Thế là màn xưng bá đồ vương của đạo Tưởng chấm dứt. Cuộc rối loạn do một nhóm người tự nhận là tu hành, là môn phái Bửu Sơn Kỳ Hương gây ra làm cho nhà cầm quyền Pháp có thái độ cứng rắn đối với Ðức Huỳnh Giáo Chủ.

để tránh hậu hoạn, một cuộc nổi dậy của tôn giáo, tương tự như vụ đạo Tưởng, nhứt là đã có tài liệu chứng thật Ðức Huỳnh Giáo Chủ có tinh thần chống Pháp và đạo của Ngài thu hút tín đồ không thể tưởng tượng, có thể nguy hại cho chế độ thực dân thống trị, nên chi bọn thực dân quyết định dời Ngài ra khỏi tỉnh Châu đốc và an trí ở một nơi khác.

a) Ði Châu đốc. Quyết định nầy được mật báo cho quận trưởng Tân Châu lúc bấy giờ là ông Nguyễn Văn Lễ. ông nầy có bà vợ là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo. Sau khi được chồng cho biết ý định của người Pháp bà Lễ liền chiều ngày mồng 10 tháng 4 Canh Thìn đi xe ngựa xuống Chợ Vàm cho ông Huỳnh Hữu Phỉ hay có hung tin ấy.

ông Phỉ cấp tốc đi xe đạp xuống Hòa Hảo cho Ðức Thầy hay để có lo toan cách ứng phó. Ngài rất thản nhiên, trong lúc anh em tín đồ đều lo âu, sợ cho Ngài phải bị tai họa đến lụy thân khổ xác.

Ngài tươi tỉnh nói đế trấn an mọi người: không có gì mà phải sợ. Không ai làm hại được Thầy đâu. Anh em cứ an tâm. Mặc dầu Ngài nói vậy, chớ toàn thể tín đồ đều lo ngại.

Qua ngày sau tức ngày 12 tháng 4 năm Canh Thìn vào lúc 7 giờ, nhà cầm quyền Pháp đến Hòa Hảo chở Ngày đi Châu đốc, vội vã đến đỗi không kịp cho Ngài thay đồ hay mang hành trang theo. Lúc bấy giờ Ngài mặc áo không túi nên cái giấy thuế thân, Ngài đành lấy giấy gói lại rồi cầm trong tay.

(hình của Ðức Thầy chụp tại nhà ông Ký Giỏi)

Khi đến Châu đốc, vài giờ sau, vâng theo lịnh của cấp trên, nhà cầm quyền địa phương cho chở Ngài rời khỏi tỉnh, thay vì đưa xuống tỉnh Long Xuyên, chúng lại đưa thẳng xuống tỉnh Sa đéc, cách tỉnh Châu đốc một tỉnh, ý chừng họ muốn đoạn hẳn liên lạc với quê nhà tưởng nơi xa lạ khó truyền giáo và thu hút tín đồ hơn.

đứng trước sự đời Ngài đi đột ngột như thế anh em tín đồ đều ngơ ngác, đến rơi lệ, chỉ nhìn theo chớ không làm sao hơn được, trước sự rào đón, ngăn chặn hăm he của chánh quyền.

b) Ðến Sa đéc. Ðến Sa đéc, Ngài được đưa lại sở mật thám, lúc bấy giờ do ông cò Bazin điều khiển. Gặp lúc ông này đi vắng, bà vợ người Việt có tâm mộ đạo, đối xử rất tử tế. Ðến khi viên cò Pháp về, bèn hỏi có phải Ngài là tác giả mấy quyển Sấm Giảng không?

Ngài nhận chính tay Ngài viết. Viên cò không tin với sức học của Ngài có thể sáng tác nổi, nên chi muốn thử Ngài:

– Nếu thật ông viết thì ông thử viết cho tôi coi.

Ngài không ngần ngại đem giấy mực ra viết bài: “Sa đéc” trước mặt viên cò Bazin, rồi đọc cho ông cò nghe.

Trong bài nầy Ngài tỏ bày nỗi lòng bi cảm đối với anh em tín đồ trong những dòng thống thiết như sau:

Muốn lập đạo có câu thành bại,

Sự truân chiên của khách thiền môn.

Khắp sáu châu nức tiếng người đồn,

Ta chịu khổ, khổ cho bá tánh.

Tiếng gọi đời sông mê hãy lánh,

Chạm lợi quyền giàu có cạnh tranh.

Bước chông gai đường đủ sỏi sành,

Đành tách gót lìa quê hương dã.

Ta cũng chẳng lầy chi buồn bả,

Bởi sự thường của bực siêu nhơn.

Dầu gian lao dạ sắt chẳng sờn,

Miễn sanh chúng thông đường giải thoát.

Cơn dông tố mịt mù bụi cát,

Chẳng nao lòng của đấng từ bi:

Vì Thiên đình chưa mở hội thi,

Nên Lão phải phiêu lưu độ chúng.

Kẻ ác đức cho rằng nói túng,

Nó đâu ngờ lòng Lão yêu đương.

Xe rồ xăng vụt chạy bải bươn,

đến khuất dạng tình thương náo nức.

Khắp bá tánh chớ nên bực tức,

Bởi nạn tai vừa mới vấn vương.

Chốn Liên đài bát ngát mùi hương,

Nhờ chỗ ấy mới thi công đức.

đọc xong, viên cò Pháp phải nhận Ngài là một thiên tài xuất chúng và cho về ngụ nhà ông phán đặng.

Tưởng đến Sa đéc, Ngài sẽ dừng chơn ở yên để tiếp tục cuộc hóa độ, đáp lại lòng mong cầu của mọi người, chớ có dè đâu nhà cầm quyền ở đây thấy ảnh hưởng của Ngài quá lớn, thu hút người khắp nơi tấp nập kéo đến, nên quyết định cấm Ngài truyền đạo. Thế là Ngài phải lên đường đi tỉnh khác, tùy Ngài chọn lựa.

Hay tin, anh em tín đồ rất lo buồn, nhưng theo Ngài thì đó là một dịp cho Ngài phổ thông rộng rãi mối đạo.

Ta cũng thương, thương trò lịu địu,

Chớ cũng mừng được dịp phổ thông.

Mà cũng là cơ thử thách của tạo hóa để xem người hành đạo có vững chí làm theo lời Ngài chỉ dạy hay không?

Việc khó khăn lắm lúc khôi hài,

Ây cũng bởi thày lay ông Tạo.

Ông nhồi quả cho người hành đạo,

Lúc nguy nàn thối chí cùng chăng?

Nếu bền lòng vị quả cao thăng,

Chẳng chặt dạ bỏ tăng Phật Thánh.

c) Ðến Cần Thơ. được tin nhà cầm quyền Sa đéc ra lịnh trục xuất Ngài, ngày 17 tháng 4 Canh Thìn anh em tín đồ đem xe đến đưa Ngài xuống Cần Thơ, rồi cô Hai Gương thỉnh Ngài về ở nhà Hương Bộ Võ Mậu Thạnh là cậu của cô ở làng Nhơn Nghĩa, rạch Sua đủa, cũng gọi Kinh Xà No.

đến đây Ngài được ở yên nên khởi lại việc cho thuốc, cho thi bài, tiếp tục cuộc hoằng hóa như hồi còn ở Hòa Hảo. Nhân việc phát phù trị bịnh, Ngài có làm một bài thơ về giấy vàng có hàm ý tiên tri sự biến đổi thời cuộc.

Giấy vàng nay đã giá cao tăng,

Bìa trắng lại ch?? vội bỏ lăn.

Thương thảm chúng quăng nằm kẹt hóc,

Chủ nhà quét tước lượm lăng xăng.

Trong thời gian lưu cư tại Nhơn Nghĩa, Ngài sáng tác và thi họa cũng nhiều. Số tín đồ thâu nhận cũng khá đông, như Ngài đã viết:

Nhân dân bá tánh cũng con lành,

Thầy dạy cho đều khắp chúng sanh.

May mắn vận thời đưa đến chốn,

Tiền khiên dẹp gát kiếm con lành.

d) Vào bịnh viện Chợ Quán. Nhận thấy ảnh hưởng ở đây cũng vang dội và thu hút tín đồ một cách phi thường, nhà cầm quyền không muốn cho Ngài hoạt động nữa. Như đã biết, Ngài được tự do chọn lấy chỗ lưu cư do đó Ngài đưa đơn xin đi Bạc Liêu.

Thế là ngày 29 tháng 6 năm Canh Thìn, Ngài từ giã Nhơn Nghĩa, nhưng khi ra đến Cần Thơ, nhà cầm quyền giữ ngài lại và đưa vào bịnh viện để khám nghiệm ba bốn hôm, đến ngày mồng 4 tháng 7 Canh Thìn thì đưa Ngài lên Sài Gòn, vào nằm bịnh viện Chợ Quán lấy cớ khám nghiệm coi Ngài có mắc bịnh thần kinh không?

Khi vào đây, ban sơ chưa ai biết Ngài. Ngay như viên lương y cai quản bịnh viện là ông Trần Văn Tâm cũng nhộ nhận nên mới nói bỡn khi gặp Ngài: Ở ngoài xé hết bao nhiêu giấy thuế thân của người ta rồi?

Nhưng khi thấy cử chỉ của Ngài đoan trang và số tín đồ đến thăm quá đông mới nghi Ngài là ông đạo.

Ông bèn đem những điều đọc trong một quyển sách Pháp về đạo Phật mà ông còn thắc mắc đến chất vấn thì được Ngài giải đáp một cách tinh thông, khiến ông phải ngạc nhiên đến khâm phục. Càng kính phục hơn nữa là khi Ngài cho thấy điều huyền diệu, như một hôm ông vào phòng Ngài thì thấy một cụ già đầu râu bạc phếu nằm trên giường. Ông tưởng đi lộn phòng, bèn trở ra để tìm phòng, nhưng khi định tỉnh xem lại số phòng quả quyết chính là phòng của Ngài, nên quày trở vào thì lạ thay, thay vì ông lão khi nãy lại là Ðức Huỳnh Giáo Chủ. Chừng đó ông mới hoàn toàn tin phục, xin thọ giáo qui y. Nhờ vậy Ngài tiếp tục công việc hoằng hóa dễ dàng. Mỗi ngày người đến xin thuốc, cũng như hàng thức giả đến hỏi đạo và qui ngưỡng càng lúc càng đông.

Trong lúc ở bịnh viện, có một việc đáng nêu ra là trường hợp của anh gác cửa. Anh nầy lúc đầu tỏ ra khó khăn đối với anh em tín đồ đến thăm. Anh có một người mẹ đau mắt, chữa nhiều thầy mà không khỏi, khi nghe Ngài chữa bịnh kỳ diệu thì đưa mẹ đến. Ngài chỉ cho một chai nước lã về nhỏ, thế mà khỏi bịnh. Anh đem lòng khâm phục, gọi Ngài là Phật sống. Từ đó trở đi, anh đối xử rất cảm tình với anh em tín đồ không bị làm khó khăn như trước.

Trong thời gian ở Chợ Quán, Ngài viết nhiều bài vở, nhưng đáng kể là quyển “Những điều sơ lược cần biết của kẻ tu hiền” và quyển “Khuyến Thiện” chỉ rõ tận tường pháp môn Tịnh độ.

Hơn một năm cầm giữ Ngài để thí nghiệm, có thể do sự báo cáo của Bác Sĩ Tâm, nhà chức trách thấy Ngài không có gì tỏ ra mắc bịnh thần kinh, nên xét theo lời xin trước kia khi Ngài ở Xà No, bèn chấp thuận cho Ngài lưu cư về Bạc Liêu.

Và cũng có thể nhận thấy tại Chợ Quán, nơi phồn hoa đô hội có nhiều phần tử thức giả qui ngưỡng nên sợ ảnh hưởng của Ngài lan rộng cả vùng Sài Gòn Chợ Lớn, Gia định, vì vậy mà định dời Ngài đi chỗ khác. Xét lại Bạc Liêu là một tỉnh ở mút miền Nam nước Việt lại là tỉnh, phần đông dân cư thuộc thành phần lai Miên, lai Tàu, chuyên việc buôn bán, nếu đưa Ngài đến đó khó mà gây ảnh hưởng sâu rộng được.

Mặc dầu chấp nhận dời Ngài về Bạc Liêu nhưng nhà cầm quyền còn cố giữ lại trong một tuần lễ để giao cho sở mật thám dò xét. Họ đưa Ngài vào bót Ca-ti-na (Poste Catinat) ngày 11 tháng 5 Tân Tỵ (1941). Ðến ngày 19 nghĩa là sau 8 ngày giam giữ, Ngài mới lên đường đi Bạc Liêu.

đ) Ðến Bạc Liêu. Ngài định đến ngụ nhà ông Hội đồng điều như Ngài đã dự tính khi ở Nhơn Nghĩa, nhưng nhà cầm quyền không chấp thuận bảo Ngài chọn chỗ khác, cố ý làm khó dễ nhứt là làm ngược lại ý định của Ngài.

Trong số anh em tín đồ ở đây, có bà Cò Tàu Hảo đóng vai trọng yếu. Bà đến thương lượng với ông bà Võ Văn Giỏi, cựu thơ ký soái phủ Nam Kỳ thì được ông bà sẵn sàng nghinh tiếp. Ngài đến trình với Công an và được chấp thuận với điều kiện là không được: phát phù trị bịnh, thuyết pháp độ nhơn và mỗi tuần, vào ngày thứ hai phải đến trình diện Công an một lần.

Nhơn đó, Ngài có làm ba bài thơ tức cảnh như sau:

Việc chi mà phải đi trình báo,

Mỗi tháng bốn kỳ nhọc cẳng ông.

đợi máy huyền cơ xoay đến mức,

Tính xong cuộc thế lại non Bồng.

Thứ hai hứng sáng mưa tầm tã,

Lính đứng ngoài đường giục giả ông.

Kiếp khách trần gian vay lắm nợ,

để đền trọn nghĩa với non sông.

Người cười người nhạo bảo ông điên,

Ông chẳng giận ai cũng chẳng phiền.

Chỉ tiếc trần gian đùa quá vội,

Chưa tường điên tục hay điên Tiên.

Vì bị cấm đoán đến viếng thăm, anh em tín đồ không vào cửa được, đành đứng lóng nhóng bên ngoài rồi về, tạo thành tiếng đồn đến nhà cầm quyền. Hơn nữa theo sự dò xét của Công an cũng thấy đúng sự thật nên từ đớ sự canh phòng cũng lơi đi. Nhờ vậy Ngài tiếp xúc được nhiều nhân sĩ và hào phú đến vấn an và qui y, trong số ấy được biết; ông Cả Hốt (tức Dương Vĩnh Phước), ông bà Chung bá Khánh, ông bà Võ văn Giỏi… trở thành tín đồ thuần thành (1).

(1) Cũng trong thời gian nầy (năm 1942), tác giả ra mắt Ðức Thầy và được Ngài tiếp kiến từ 7 giờ sáng đến 12 giờ trưa, khi thấy dọn cơm mới bái tạ lui ra.

Trong thời gian ở Bạc Liêu, Ngài sáng tác rất nhiều bài vở, nhứt là lối tản văn, giải bày về giáo lý nhà Phật, như Thập Nhị Nhân Duyên, Tứ Diệu đề…

Cũng nên nói qua tình hình trong lúc nầy. Quân đội Nhựt đã vào đông Dương và lấn lần quyền hành của chánh phủ thuộc địa Pháp. Người Nhựt cho chiêu mộ người Việt vào quân đội. Có một số người Việt hưởng ứng, gia nhập vào hàng ngũ và được đưa về đông Kinh huấn luyện, khi thành tài trở lại hoạt động nơi nước nhà với ý định hợp tác với quân Nhựt gở ách nô lệ, lấy lại chủ quyền quốc gia.

Trong hàng ngũ những người ái quốc ra hợp tác với quân đội Nhựt, có tín đồ phật Giáo Hòa Hảo. Hẳn họ có bổn phận phải cứu Ðức Thầy ra khỏi sự kếm kẹp của người Pháp, nên vận động với nhà binh Nhựt ở Sài Gòn và được sự chấp thuận.

Vã lại, người Nhựt nhận thấy Phật Giáo Hòa Hảo có một khối tín đồ to tát ở miền Nam, có thể lợi dụng lòng yêu nước của họ trong công cuộc hạ Pháp, nếu thi ơn giải cứu được vị Giáo Chủ của họ. Như thế sẽ mua chuộc được cảm tình của khối quần chúng đông đảo nầy.

Mưu định giải cứu Ðức Thầy có thể nhà cầm quyền Pháp dò biết, nên chúng tính lưu cư Ngài qua Ai Lao. Nhưng chúng chẳng dè quân Nhựt lại ra tay trước.

Sở Hiến binh Nhựt bèn phái ông Kimura cùng đi với một vài tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo xuống Bạc Liêu rước Ngài về Sài Gòn trong đêm mồng 2 tháng 9 năm Nhâm Ngọ (11-10-1942).

Vì đi đêm lại không rành đường nên tài xế lái xe đi đường về Cà Mau, đến Tắc Vân thì xe hư máy. Ông Kimura phải mượn xe của Bang trưởng Triều Châu chạy trở lại Bạc Liêu rồi thẳng đường về Sài Gòn, vì vậy mà Pháp hay tin kịp.

e) Về Sài Gòn. Nhưng xe vừa đến ngã ba Trung Lương (Mỹ Tho) thì gặp xe công an chận lại. Vì thế xảy ra tai nạn đụng xe làm cho ông Lâm thơ Cưu theo hầu Ngài bị thương ở sóng mũi, còn Ngài thì chỉ bị thương xoàng. Công an Pháp cho điệu tất cả về Sài Gòn. Hay tin nầy nhà binh Nhựt can thiệp và phản kháng kịch liệt. Bọn Pháp giành bắt Ðức Thầy còn nhà binh Nhựt thì quyết giựt lại viện cớ Ðức Thầy có liên lạc với Trùng Khánh. Trước sự can thiệp quyết liệt của nhà binh Nhựt, bọn Pháp đành nhượng bộ. Thế là Ðức Thầy được giải cứu. Nhà binh Nhựt đưa Ngài về ở phòng Thương Mãi (Hội Nghị Diên Hồng) lúc bấy giờ là cơ sở của Hiến Binh Nhựt. Ngài lưu lại đây trong vòng hai tháng rồi dọn về số 148 đường Lefèvre, hiện nay là đường Nguyễn Công Trứ. Phía sau Thượng Nghị Viện.

Sau đó ít lâu dọn qua số 150 kế đó đến ngày Nhựt đảo chánh Pháp.

Từ khi quân Nhựt giải cứu Ðức Thầy và đem Ngài về ở tại phòng Thương Mãi, trong vòng bảo vệ của Hiến Binh Nhựt, thì quân Pháp khởi sự khủng bố tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo vì chúng cảm thấy số phận của chúng lâm nguy nếu để quân đội Nhựt lôi cuốn được sự hợp tác của khối tín đồ đông đảo nầy.

Nhiều nơi tín đồ bị bắt bớ, những người có uy tín ở Lục tỉnh phải tầm đường ẩn lánh lên Sài Gòn nhờ sự che chở của Ðức Thầy. Vì vậy mà Ngài phải dành cả căn phố cho anh em tá túc. Về thực phẩm thì anh em Lục tỉnh thường xuyên tiếp tế.

Có hôm, sau khi dùng cơm trưa, anh em năm nghỉ, Ðức Thầy bước qua thấy anh em nằm sấp lớp không khác gì tằm trong nòng thì nói rằng: Có khác gì tằm đâu, khi ăn dâu no rồi thì nằm nghỉ. Nhưng đây là thứ tằm không kéo kén.

Đây là những anh em hữu phước được Ðức Thầy chở che nên thoát khỏi sự khủng bố của quân Pháp.

Chỉ thảm thương cho một số anh em khác, vì không kịp thoát thân nên bị quân pháp bắt và đầy đi. Người lên Bà Rá, kẻ ra Côn đảo. Có một số lớn đã bỏ thây nơi rừng thiêng nước độc hay gởi xương ngoài Côn đảo. Trong bảng “Những Thánh Tử đạo” nên ghi nhớ những tên ông Cả Ðô, ông Cả Cừ, ông Dương Thiện Tứ tự Sừ.

Trong lúc tá túc tại căn nhà ở đường Lefèvre, có một số anh em tín đồ, vì chờ mãi thời cuộc mà không thấy biến chuyển nên đâm ra chán nản, hoặc than trách hoặc bỏ đi.

Cũng có những người tỏ ý không bằng lòng khi Ðức Thầy để cho người Nhựt bảo vệ. Như thế sợ e mang tiếng ỷ lại vào ngoại bang thì Ngài có làm hai câu đối sau đây để tỏ ý chí bất khuất của Ngài:

Trương Tiên tá Hớn phi thần Hớn,

Quan Thánh cư Tào bất đế Tào.

Mặc dầu chưa tung bay cất cánh, thỏa chí chim bằng, Ngài cũng bắt đầu tiếp xúc các nhà trí thức, nhứt là những nhóm ái quốc, thừa cơ hội uy thế của Pháp bị quân Phù Tang làm giảm hạ, đứng ra tập hợp hàng ngũ, tổ chức thành đoàn thể chánh trị, đương nhiên thân Nhựt. Trong số đó được biết nhóm ông Ngô đình Ðẩu, Trần văn Ân… trong Ủy Ban Trung Ương Việt Nam Phục Quốc Hội, nhóm Việt Nam Thanh Niên Ai Quốc đoàn của ông Ðinh Khắc Thiệt.

Ðối với đoàn Thanh Niên ái quốc, Ngài có phái ông Hồ Nhựt Tân đến tham gia các phiên họp để trợ trưởng tinh thần và tài chánh Ngài cũng có làm thơ tặng đoàn để khích lệ chí anh hùng, đề cao lòng yêu nước, trong những câu như sau:

Thanh niên nghĩa vụ phi thường,

Phận là phải biết yêu thương giống nòi.

Nay chẳng lẽ ngồi coi thắng bại,

Của cọp rồng trên dãy đất ta.

Một khi cọp đã lìa nhà,

Biết rồng có chịu buông tha chăng cùng?

Vậy anh em phải chung lưng lại,

Dùng sức mình đánh bại kẻ thù;

Tỏ ra khí phách trượng phu,

Vung long tuyền kiếm tận tru gian thần.

Xưa nước đã bao lần khuynh đảo,

được cứu nguy nhờ máu anh hùng;

Hy sinh báo quốc tận trung,

Đem bầu nhiệt huyến so cùng sắt gang.

Việt Nam là giống Hồng Bàng,

Muôn đời xa lánh tai nàn diệt vong.

Ngài không ngớt tiếp xúc và chuẩn bị hàng ngũ, vì Ngài tiên đoán cơ hội sẽ đến cho dân Việt Nam tranh đấu, giành lại chủ quyền đã mất trong tay Pháp ngót 80 năm nay. Ngày mà mọi người mong đợi ấy đã điểm. Ðó là ngày mồng 9 tháng 3 1945, ngày Nhựt đảo chánh Pháp, ngày Ðức Huỳnh Giáo Chủ chấm dứt giai đoạn ràng buộc bước sang giai đoạn công khai hoạt động đấu tranh.

MUC LUC | CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7| | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | | CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 |

CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|

[TV. PGHH]

About these ads

Occasionally, some of your visitors may see an advertisement here.

Tell me more | Dismiss this message

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Hoa Kỳ giúp Việt Nam phát triển kinh tế

Hoa Kỳ giúp Việt Nam phát

triển kinh tế

Một phái đoàn gồm những viên chức cấp cao của 33 tập đoàn Hoa Kỳ do Hội đồng Thương Mại ASEAN- Hoa Kỳ tổ chức hiện đang có mặt tại Việt Nam để làm việc với chính phủ Hà Nội.

Các cuộc gặp cấp cao với chính phủ Việt Nam của phái đoàn được cho biết tập trung vào các nỗ lực tái cấu trúc kinh tế và khuyến khích cải cách của Việt Nam. Mục tiêu giúp Việt Nam trở thành một điểm đầu tư và kinh doanh hấp dẫn hơn nữa.

Thông cáo báo chí của đoàn phát đi hôm qua 26 tháng 2 nói rõ phái đoàn sẽ đưa ra những ý kiến làm thế nào Việt Nam có thể tạo điều kiện cho các cổ đông tham gia nhiều hơn, cải thiện qui trình tư vấn. Ngoài ra đoàn cũng ủng hộ việc gia nhập Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương, TPP, của Việt Nam.

Chủ tịch Hội đồng Thương Mại ASEAN- Hoa Kỳ, ông Alexander Feldman, cho biết thêm chuyến đi của phái đoàn đến Việt Nam lần này nhằm đánh dấu 20 năm kỷ niệm quan hệ thương mại giữa hai nước. Ông này nhắc lại kể từ năm 1994, thương mại Mỹ- Việt đã gia tăng gấp 134 lần. Hiện nay mỗi năm lên đến 30 tỷ Mỹ kim.

Theo đánh giá của ông Alexander Feldman thì đó là kết quả trực tiếp của nỗ lực không ngừng cải cách nền kinh tế của chính phủ Việt Nam, tạo ra một môi trường kinh doanh thân thiện cho các nhà đầu tư.

Một số tên tuổi lớn của Hoa Kỳ có mặt trong phái đoàn có thể kể tên như Boeing, Apple, Coca-Cola, ExxonMobil, Ford, UPS, Visa…

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Ba nhà hoạt động tuyệt thực trong trại giam đến ngày thứ 15

Ba nhà hoạt động tuyệt thực

trong trại giam đến ngày thứ 15

Gia Minh, biên tập viên RFA
2014-02-26
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này

giaminh02262014.mp3Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Chi Bùi thị Minh Hằng và bà con Phật Giáo Hoà Hảo trước khi bị công an đánh và bắt

Chi Bùi thị Minh Hằng và bà con Phật Giáo Hoà Hảo trước khi bị công an đánh và bắt

Courtesy binhtrung.org

 

 

Nhóm ba nhà hoạt động trong đó có bà Bùi Thị Minh Hằng hiện đang bị công an huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp giam giữ, và tin cho biết cả ba người đang tuyệt thực trong trại giam đến ngày thứ 15.

Phản đối việc bắt giữ

Ông Nguyễn Bắc Truyển, một cựu tù nhân lương tâm và là thân hữu của những người vừa nói ra Hà Nội trong mấy ngày qua để kêu gọi các cơ quan ngoại giao quốc tế can thiệp.

Vào lúc 5:30 chiều ngày 26 tháng 12, ông Nguyễn Bắc Truyển có cuộc nói chuyện với biên tập viên Gia Minh về công việc đó. Trước hết ông trình bày:

Nguyễn Bắc Truyển: Tôi ra Hà Nội lần này mục đích trọng tâm là vận động nhân quyền cho chị Bùi Hằng và hai trường hợp đang bị giam giữ tại huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

Sự việc, như các cơ quan truyền thông đưa tin, chị Bùi Hằng, cô Nguyễn Thị Thúy Quỳnh và anh Nguyễn Văn Minh trên đường cùng với 18 người đến thăm gia đình bên vợ tôi thì bị lọt vào một ổ phục kích của công an huyện Lấp Vò. Hai mươi mốt người này bị chặn đường, bị đánh đập rất dã man và sau đó bị đưa về thẩm vấn tại công an huyện Lấp Vò 24 tiếng.

Hiện nay tình trạng sức khỏe của cô Bùi Thị Minh Hằng, cô Nguyễn Thị Thúy Quỳnh hết sức đáng quan ngại vì họ đã tuyệt thực 15 ngày rồi.
-Nguyễn Bắc Truyển

Sau 24 tiếng, ba người tiếp tục bị bắt giữ là chị Bùi Hằng, cô Nguyễn Thị Thúy Quỳnh và anh Nguyễn Văn Minh, 18 người được thả. Hiện nay tình trạng sức khỏe của cô Bùi Thị Minh Hằng, cô Nguyễn Thị Thúy Quỳnh hết sức đáng quan ngại vì họ đã tuyệt thực 15 ngày rồi. Theo tin mới nhất họ đã tuyệt thực 15 ngày trong tù để phản đối việc bắt giữ, giam giữ. Tôi ra Hà Nội lần này với trọng tâm gặp các đại sứ quán ở Hà Nội để nêu lên tình trạng công an huyện Lấp Vò đã bắt người và giam giữ người một cách độc đoán, trái với luật pháp của Việt Nam và trái luôn với cả luật pháp quốc tế.

Các đại sứ quán rất quan tâm đến trường hợp này qua trình bày rất rõ của tôi. Họ nói sẽ có hành động ngay tức khắc để gửi Nhà nước Việt Nam.

Gia Minh: Ông đã gặp những đại sứ quán nào để trình bày trường hợp vừa nêu?

Nguyễn Bắc Truyển: Đầu tiên là đại sứ quán Úc. Trước khi tôi đến đại sứ quán Úc tôi đã bị tấn công, bị đánh đập ở trong xe taxi.

Ngày hôm sau, đại sứ Liên minh Châu Âu đã tổ chức cuộc họp, họ mời nhiều đại sứ trong đó có đại sứ Canada, đại sứ Na Uy, đại sứ Hà Lan, đại sứ Đức, đại sứ Hoa Kỳ cùng tới để nghe tôi trình bày về vấn đề của chị Bùi Thị Minh Hằng và họ đã quan tâm đến trường hợp chị Hằng và hứa sẽ có hành động ngay tức khắc.

 

Ông Nguyễn Bắc Truyển kêu gọi trả tự do cho gia đình luật sư Lê Quốc Quân
Ông Nguyễn Bắc Truyển kêu gọi trả tự do cho gia đình luật sư Lê Quốc Quân

 

Gia Minh: Tiếp theo ông còn đến gặp cơ quan ngoại giao nào nữa không?

Nguyễn Bắc Truyển: Ngoài ra tôi cũng có gửi báo cáo đến cho một số đại sứ không thể đến tham dự được.

Gia Minh: Ông bị hành hung trước khi đến gặp đại sứ quán Úc, nay ông vẫn còn ở Hà Nội thì ông có thấy an toàn khi ở xa như thế không?

Nguyễn Bắc Truyển: Tôi biết chuyến đi Hà Nội này tôi sẽ gặp rất nhiều khó khăn.Trước khi đi tôi đã dự đoán được tình hình; nhưng có hơi chủ quan khi tôi và vợ đi đến đại sứ quán Úc, chúng tôi đi một mình thành ra mức độ nguy hiểm bị tấn công gia tăng. Khi họ chớp được thời cơ, họ tấn công ngay. Nhưng ngày hôm qua đã có anh em ở Hà Nội hỗ trợ tôi, cùng đi tới Liên Minh Châu Âu thì mọi việc lại khác. Và chúng tôi đi rất an toàn trên một chiếc xe. Khi về, ông Philip là tham tán chính trị của Đại sứ quán Úc có hỏi về tình trạng an toàn thế nào. Tôi nói hiện đang có rất nhiều an ninh đang bao vây nơi chúng tôi có mặt. Ông ta cho một chiếc xe chở chúng tôi và cùng đi với chúng tôi.

Ủng hộ đấu tranh dân chủ

Gia Minh: Ông thấy sự hỗ trợ, ủng hộ của những người biết vấn đề của ông và những người đấu tranh khác ra sao tại Hà Nội?

Nguyễn Bắc Truyển: Mặc dù trong cuộc đấu tranh này mỗi người một vẻ, mỗi người có phương pháp đấu tranh của mình; thế nhưng mục đích cũng là đòi quyền con người, đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam. Do đó tôi thấy các anh chị em ở Hà Nội đa số ủng hộ chị Bùi Thị Minh Hằng và hai bạn trẻ đang bị bắt giam. Họ nói sẽ có những hành động để ủng hộ chị Bùi Thị Minh Hằng trong thời gian sắp tới. Hiện nay tại Hà Nội và ở những nước có đông đảo đồng bào của chúng ta ở đã có những vận động cho chị Hằng tại những nơi đó.

Mặc dù trong cuộc đấu tranh này mỗi người một vẻ, mỗi người có phương pháp đấu tranh của mình; thế nhưng mục đích cũng là đòi quyền con người, đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam.
-Nguyễn Bắc Truyển

Gia Minh: Tình hình hiện đang xảy ra cho bản thân ông và một số thân hữu như chị Bùi Thị Minh Hằng và những đồng đạo Phật giáo Hòa Hảo ở Lấp Vò, Đồng Tháp; theo ông thì vì sao phía chính quyền vẫn có những hành động như vậy là những người đấu tranh làm thế nào để có thể vượt qua?

Nguyễn Bắc Truyển: Người đấu tranh phải có bản lĩnh, phải kiên cường, phải chịu đựng. Tại vì chúng ta đấu tranh bất bạo động, không có gì ngoài Internet và truyền thông trên Internet. Do đó chúng ta phải kiên nhẫn và chấp nhận sự đàn áp; ngay cả sự bỏ tù cũng phải chấp nhận. Còn sự đối đầu với bạo lực thì chúng tôi không có khả năng đó. Chúng ta chỉ dùng tiếng nói của mình để đưa những vấn đề đang vi phạm nhân quyền tại Việt Nam ra cho thế giới biết. Từ đó thế giới sẽ biết cách nào để ủng hộ, vận động công cuộc đấu tranh này. Ngoài ra chúng ta cũng có 4 triệu đồng bào sống trên 100 quốc gia. Đây là lực lượng rất hùng hậu để áp lực kêu gọi nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam phải tôn trọng những giá trị phổ quát của Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân quyền.

Còn về nhà cầm quyền, theo tôi nghĩ, sau phiên kiểm định UPR tại Geneve, họ tăng cường sự đàn áp và bắt đầu dùng những hình thức như côn đồ đánh đập những nhà đấu tranh, tôi thấy có gia tăng. Nay họ e ngại việc bắt bớ nhưng sẵn sàng dùng côn đồ, hoặc an ninh giả dạng côn đồ để tấn công những người đấu tranh. Đó là chuyện đang xảy ra và tôi thực sự quan ngại cho vấn đề này. Nhưng là một người đấu tranh, chúng tôi phải chấp nhận.

Gia Minh: Hẳn nhiên gần đây, ông có nghe thông tin có người đấu tranh vì bị áp bức quá mức đã lên tiếng ngưng các bài viết, ngưng các hoạt động đấu tranh từ trước đến nay. Ông nghĩ cũng có trường hợp bạo lực có thể trấn áp được đấu tranh ở trong nước không?

Nguyễn Bắc Truyển: Bạo lực có thể làm cho người ta ngã lòng, từ bỏ lý tưởng của mình; nhưng tôi nghĩ đó chỉ là số ít thôi. Bạo lực chỉ làm cho người ta thêm sắt đá thôi.

Gia Minh: Cám ơn ông.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Nga sửa căn cứ quân sự bỏ hoang để đối phó ai?

Nga sửa căn cứ quân sự bỏ hoang để đối phó ai?

(Tin tức 24h) – Nhận thấy sự lớn mạnh của lực lượng vũ trang các nước trong khu vực có thể đe dọa đến an ninh Nga tại Viễn Đông, Bộ Quốc phòng Nga quyết định chi 7,8 tỷ rúp để sửa chữa căn cứ Không quân “Thảo nguyên” ở khu vực biên giới Nga-Trung cách thành phố Chita 250 km về phía đông nam.

Thông tin trên được Thời báo Hoàn Cầu dẫn nguồn từ tờ “Izvestia” Nga ngày 19/2 cho biết, theo đó Bộ Quốc phòng Nga đã bắt đầu chi tiền sửa chữa căn cứ không quân đã bỏ hoang trước đây ở Viễn Đông. Căn cứ này bị bỏ hoang từ năm 2010, sau đó tất cả thiết bị đều bị dỡ bỏ. Vì vậy, các công trình của căn cứ đều phải bắt đầu xây dựng từ con số không.

Dựa vào yêu cầu hiện đại hóa, sân bay sẽ được tiến hành cải tạo toàn diện, diện tích sẽ tăng lớn, đường băng sân bay sẽ mở rộng toàn diện, sẽ thực hiện công tác rải bê tông quy mô lớn, đồng thời lắp thiết bị chiếu sáng đặc biệt, thông tin vô tuyến điện và các thiết bị tiên tiến khác.

Công tác sửa chữa đã triển khai toàn diện vào ngày 19/1, toàn bộ công trình sẽ hoàn thành vào tháng 10/ 2015. Căn cứ không quân này được xây dựng vào thập niên 60 của thế kỷ trước, chủ yếu để cho lực lượng hàng không tầm xa sử dụng, thuộc sân bay cấp 1, có thể cất hạ cánh máy bay trên 75 tấn.

Quân khu phía Đông tiếp nhận iêm kích Su-35S

Quân khu phía Đông tiếp nhận tiêm kích Su-35S

Sau khi bị cựu Bộ trưởng Quốc phòng Serdyukov giải tán Quân khu Siberia vào năm 2010, tất cả nhân viên của căn cứ này đều đã rút đi, căn cứ quân sự này chỉ còn thừa lại một số đường băng bê tông vài chục năm.

Kế hoạch sửa chữa này của Bộ Quốc phòng Nga được cựu Tổng tư lệnh Không quân Nga, Đại tướng Peter Denekin cho rằng, sửa chữa sân bay “Thảo nguyên” là bước đi đầu tiên sửa chữa toàn diện sân bay quân sự Quân khu phía Đông.

Điều này có ý nghĩa mang tính toàn diện, máy bay chiến đấu cần phân tán triển khai ở các sân bay, tránh bị địch phá hủy lượng lớn trong một lần nếu bị tập kích. Hiện nay, mạng lưới căn cứ Không quân của Quân đội Nga ở khu vực Viễn Đông chưa thể làm được điều này.

Peter Denekin nói: “Bộ trưởng Sergei Shoigu không thể không từng bước khôi phục một số sân bay đã bị cựu Bộ trưởng Quốc phòng Serdyukov bỏ hoang, bao gồm 2 căn cứ ở bang Amur, 2 căn cứ ở khu vực Primorsky Krai.

Nói về ý nghĩa của căn cứ quân sự này, Viện trưởng Viện nghiên cứu các vấn đề địa-chính trị Nga, Thượng tướng Leonid Ivashov cho rằng, cụm chiến đấu của Không quân Nga sẽ phát huy vai trò chiến lược quan trọng trong tác chiến phòng thủ của Quân khu phía Đông.

Tướng Ivashov nhận định: “Hiện nay, mối đe dọa quân sự đến từ khu vực này đang ngày càng tăng cường. Chỉ huy cao nhất Quân đội Nga đã ý thức được, mấy năm trước, Bộ Quốc phòng từ bỏ những sân bay này là một việc làm ngu xuẩn, vì vậy cần tiến hành khôi phục toàn diện. Ở đây, tôi hoàn toàn không muốn nói đến mối đe dọa từ Trung Quốc, lãnh thổ của Nga đều có sức hấp dẫn đối với tất cả các nước láng giềng. Trong tình hình này, quân đội yếu sẽ đối mặt với sự khiêu khích quân sự nghiêm trọng”.

Ông chỉ ra, ngoài Trung Quốc, Mỹ cũng phô diễn sức mạnh của họ tại khu vực này, Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản đang không ngừng tăng cường sức mạnh quân sự. Những yếu tố này tạo nên mối đe dọa nghiêm trọng tới an ninh nước Nga tại khu vực này.

Được biết, việc tái xây dựng căn cứ Không quân “Thảo nguyên” là bước tiếp theo được Bộ Quốc phòng Nga tăng cường sức mạnh cho Quân khu phía Đông. Mới đây nhất Bộ Quốc phòng Nga đã quyết định tăng cường trang bị cho lực lượng Không quân tại Quân khu phía Đông 12 tiêm kích thế hệ 4++ Su-35S.

Đại tướng Sergei Shoigu – Bộ trưởng Quốc phòng Nga nhấn mạnh, chiến đấu cơ đa năng Su-35S có tính năng vượt trội hơn so với máy bay nước ngoài thuộc thế hệ thứ 4, tiệm cận thế hệ thứ 5. Nó sẽ là sự bổ sung quý giá, làm nền tảng vững chắc cho việc tạo ra một thế hệ trang bị hàng không thứ 5 của Nga.

Không chỉ triển khai chiến đấu cơ thế hệ 4++ Su-35 tại vùng Viễn Đông Nga, trong năm 2013, Không quân Nga cũng đã triển khai máy bay Su-30SM đến khu vực này. Được biết đây “là một phần trong chương trình tái vũ trang nhà nước tới năm 2020 và kế hoạch quốc phòng nhà nước trong năm 2013.

Nằm trong chương trình tăng cường sức mạnh cho Không quân tại Quân khu phía Đông, hồi tháng 11/2013 vừa qua, Bộ Quốc phòng Nga cũng đã công bố quyết định mua sắm 40 chiếc trực thăng chiến đấu trang bị tại đây.

Theo Phát ngôn viên của Quân khu phía Đông, Trung tá Alexander Gordeev cho biết: “Hơn 40 máy bay trực thăng chiến đấu thế hệ mới Mi-8AMTSh và Ka-52 sẽ được chuyển giao cho các căn cứ Không quân tại Quân khu phía Đông vào cuối năm 2013 hoặc đầu 2014”.

Bộ Quốc phòng Nga cho biết, loạt máy bay trực thăng mới dự kiến sẽ thay thế phi đội trực thăng chiến đấu già nua Mi-24 Hind ở Viễn Đông.

Không chỉ tăng cường sức mạnh cho Không quân, quân đội Nga còn quyết định tăng cường sức mạnh cho lực lượng phòng không chiến lược tại Quân khu phía Đông bằng hệ thống phòng không S-400. Tính đến cuối năm 2013, hai hệ thống S-400 cấp trung đoàn đã được chuyển giao cho quân đội Nga. Tiếp đó, từ năm 2014, Nga sẽ nhận được 2-3 trung đoàn tên lửa phòng không S-400/năm.

Được biết, Quân khu phía Đông Nga đã nhận được tổ hợp tên lửa phòng không tối tân S-400 Triumf thứ 4 từ năm 2012. Tổ hợp S-400 Triumf được triển khai tại thành phố cảng Nakhodka, thuộc vùng Primorye, gần Trung Quốc và Triều Tiên. Nó sẽ kết hợp với các tổ hợp S-400 khác được triển khai trước đó ở Khu vực Moscow và lãnh thổ Baltic, thuộc Kaliningrad.

N.Phương

Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

Đàm phán Việt – Trung về khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ

BienDong.Net

Đàm phán Việt – Trung về khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ

BienDong.Net: Từ ngày 19 đến 20.2, tại Hà Nội đã diễn ra cuộc đàm phám vòng V cấp chuyên viên về vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và vòng V nhóm công tác về hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm trên biển Việt Nam – Trung Quốc.

Tại đàm phán vòng V cấp chuyên viên về vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, hai bên khẳng định thực hiện nghiêm túc nhận thức chung của lãnh đạo hai nước về việc vững bước thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ. Đồng thời tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này.

Trong vòng đàm phán này, Tổ chuyên gia kỹ thuật về khảo sát chung hai bên đã tiến hành trao đổi về một số nội dung cụ thể phục vụ hai mục tiêu phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này.

Từ Vịnh Hạ Long ra cửa Vịnh Bắc Bộ (ảnh minh họa)

Bên cạnh đó, tại đàm phán vòng V nhóm công tác về hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm trên biển, hai bên đã trao đổi và thống nhất kế hoạch triển khai cụ thể hai Thỏa thuận hợp tác liên quan đến dự án “Hợp tác trao đổi, nghiên cứu về quản lý môi trường biển và hải đảo vùng Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam – Trung Quốc” và dự án “Nghiên cứu so sánh trầm tích thời kỳ Hôlôxen khu vực châu thổ sông Hồng và châu thổ sông Trường Giang”.

Hai bên nhất trí tiến hành đàm phán vòng VI cấp chuyên viên Việt Nam – Trung Quốc về vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ vào nửa cuối năm 2014 và vòng VI về hợp tác trong lĩnh vực ít nhạy cảm trên biển Việt Nam – Trung Quốc vào tháng 5/2014 tại Trung Quốc.

Từ năm 2012 đến nay, hai nước vẫn thường xuyên tổ chức các vòng đàm phán, 1 năm 2 lần, để tìm tiếng nói chung.

Tìm hiểu thêm về Vịnh Bắc Bộ và quá trình đàm phán giữa Việt Nam – Trung Quốc

Trong bài viết được đăng lại trên Website của Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Lê Công Phụng, nguyên Thứ trưởng Ngoại giao cho biết:

Trong các vấn đề do lịch sử để lại trong quan hệ giữa VN và Trung Quốc có 3 vấn đề liên quan đến biên giới lãnh thổ là xác định đường biên giới trên đất liền; phân định Vịnh Bắc Bộ và vấn đề trên Biển Đông (mà thực chất là vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như đối với vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của ta), trong các vấn đề trên, vấn đề biên giới trên đất liền đã được giải quyết bằng việc ký kết Hiệp ước trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày 30-12-1999.

Vịnh Bắc Bộ được bao bọc bởi Việt Nam và Trung Quốc có diện tích 123.700 km2, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 320 km (176 hải lý) và nơi hẹp nhất khoảng 220 km (119 hải lý). Chiều dài bờ biển phía Việt Nam khoảng 763 km, còn phía Trung Quốc khoảng 695 km. Phần Vịnh phía Việt Nam có khoảng 1.300 hòn đảo ven bờ, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm cách đất liền nước ta khoảng 110 km, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 130 km. Vịnh có vị trí chiến lược quan trọng đối với Việt Nam và Trung Quốc về an ninh và quốc phòng. Đặc thù của Vịnh là chiều ngang tương đối hẹp, từ trước tới nay hai nước chưa hề phân định Vịnh. Theo Công ước luật Biển năm 1982 của Liên hiệp quốc, toàn bộ Vịnh Bắc Bộ là vùng chồng lấn và trong thực tế thời gian qua có tranh chấp, ảnh hưởng không tốt đến quan hệ giữa hai nước. Trước tình hình đó, hai nước đều có nhu cầu tiến hành đàm phán để phân định Vịnh Bắc Bộ nhằm đạt hai mục tiêu cơ bản và lâu dài: một là xác định đường phân giới rạch ròi, phân chia vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước láng giềng; hai là giải quyết vấn đề tồn tại do lịch sử để lại, tạo cơ sở và động lực thúc đẩy quá trình xây dựng lòng tin, tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai nước.

Ngoài ý nghĩa về an ninh, quốc phòng, Vịnh Bắc Bộ còn có ý nghĩa lớn về kinh tế, có nguồn lợi hải sản phong phú. Hai nước đều có nhu cầu hợp tác đánh bắt, bảo vệ môi trường và bảo vệ và nuôi trồng nguồn hải sản trong Vịnh. Vào các năm 1957, 1961 và 1963 hai nước có ký các thỏa thuận cho phép thuyền buồm của hai bên được đánh bắt trong Vịnh ngoài phạm vi tương ứng 3 hải lý, 6 hải lý và 12 hải lý tính từ bờ biển và hải đảo mỗi bên. Các thỏa thuận này đã hết hiệu lực vào những năm 70. Trong quá trình đàm phán về phân định Vịnh Bắc Bộ, phía Trung Quốc kiên trì đề nghị lập vùng đánh cá chung đồng thời với việc phân định Vịnh Bắc Bộ và nhấn mạnh nếu không thỏa thuận được vấn đề này thì khó có thể giải quyết được vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000. Việt Nam không chủ trương gắn vấn đề nghề cá mang tính kinh tế, kỹ thuật với vấn đề phân định quốc giới mang tính chiến lược lâu dài. Nhưng VN cũng nhận thức rõ là việc không giải quyết được vấn đề nghề cá có thể dẫn đến hậu quả là khó giải quyết được vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000. Lúc đó toàn bộ Vịnh sẽ tiếp tục bị coi là vùng chồng lấn giữa hai bên, và tình hình ở đó sẽ tiếp tục mất ổn định. Thực tiễn quốc tế cho thấy nhiều nước có vịnh hoặc vùng biển chung cũng đã thỏa thuận lập vùng đánh cá chung và về mặt pháp lý thì điều đó không trái với Công ước luật Biển năm 1982. Nhằm mục đích tạo thuận lợi tối đa cho việc giải quyết vấn đề phân định và trên cơ sở cân nhắc kỹ mọi khía cạnh trong quan hệ hai nước cũng như thực tiễn quốc tế, VN đã đồng ý lập vùng đánh cá chung ở trong Vịnh Bắc Bộ. Cuộc đàm phán về biên giới lãnh thổ, trong đó có vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ giữa VN và Trung Quốc đã được tiến hành từ đầu những năm 70. Trong các năm 1974 và 1977 – 1978, hai nước đã tiến hành 2 vòng đàm phán về phân định. Nhưng do điều kiện lúc đó nên đàm phán không có kết quả. Sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ, hai bên đã quyết định thương lượng để giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ, trong đó có vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ. Hai nước đã ký Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới – lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày 19-10-1993, trong đó nêu rõ phương hướng phân định Vịnh Bắc Bộ là “Hai bên sẽ áp dụng luật quốc tế và tham khảo thực tiễn quốc tế, theo nguyên tắc công bằng và tính đến mọi hoàn cảnh liên quan trong Vịnh để đi đến một giải pháp công bằng”. Thực hiện thỏa thuận đó, từ 1993 đến năm 2000, hai bên đã triển khai 7 vòng đàm phán cấp chính phủ, 3 cuộc gặp giữa hai Trưởng đoàn đàm phán cấp chính phủ và 18 vòng đàm phán cấp chuyên viên.

Trong quá trình đàm phán, hai bên đã vận dụng các nguyên tắc như sau để giải quyết: một là, căn cứ vào các quy định của Công ước luật Biển 1982 của Liên hiệp quốc cũng như các nguyên tắc luật pháp quốc tế và tập quán được công nhận rộng rãi; hai là, hai bên tính đến các đặc thù của Vịnh Bắc Bộ như sự hiện diện của các đảo, chiều dài bờ biển v.v…; ba là, việc giải quyết vấn đề phân định phải xuất phát từ thực trạng cũng như nhu cầu phát triển quan hệ giữa hai nước; bốn là, bảo đảm nguyên tắc công bằng và chiếu cố lợi ích của nhau. Về diện tích, phía Trung Quốc kiên trì chủ trương đại thể chia đôi, thừa nhận VN có thể nhỉnh hơn nhưng hơn không đáng kể. Việt Nam chủ trương giải pháp công bằng phải phù hợp với các hoàn cảnh hữu quan trong Vịnh như sự hiện diện của các đảo của ta, chiều dài bờ biển của ta lớn hơn v.v… Do đó, kết quả của giải pháp phân định phù hợp với yêu cầu Việt Nam đặt ra. Về diện tích tổng thể VN được 53,23% diện tích Vịnh, Trung Quốc đạt 46,77% (ta hơn Trung Quốc 6,46% tức là khoảng 8.205 km2), đường phân định cách đảo Bạch Long Vĩ 15 hải lý, đảo Cồn Cỏ được hưởng 50% hiệu lực. Về khía cạnh tài nguyên, giải pháp phân định đạt được cũng bảo đảm việc phân chia lợi ích một cách công bằng. Hai bên đã phân chia rõ ràng phần thềm lục địa để mỗi bên đều có thể tiến hành thăm dò, khai thác tài nguyên trong phạm vi thềm lục địa của mình mà không bị bên kia can thiệp hoặc gây khó khăn. Trong trường hợp có cấu tạo mỏ vắt qua đường phân định, hai bên sẽ thỏa thuận với nhau về việc khai thác và phân chia lợi ích của việc khai thác đó.

Cuộc đàm phán về nghề cá được khởi động muộn hơn. Mãi đến tháng 4-2000 Việt Nam mới tán thành đàm phán nghề cá. Qua 6 vòng đàm phán cấp chuyên viên về nghề cá, hai bên nhất trí lập vùng đánh cá chung ở trong Vịnh Bắc Bộ từ vĩ độ 20o xuống đường đóng cửa Vịnh. Vùng này có bề rộng là 30,5 hải lý kể từ đường phân định về mỗi phía và có tổng diện tích là 33.500 km2, tức là khoảng 27,9% diện tích Vịnh. Như vậy, đảm bảo cách bờ của mỗi nước là 30 hải lý: đại bộ phận cách bờ của VN 35 – 59 hải lý và có 2 điểm cách bờ là 28 hải lý. Thời hạn của vùng đánh cá chung là 15 năm (12 năm chính thức và 3 năm gia hạn). Hai bên cũng đã thỏa thuận các điều khoản liên quan đến bảo vệ môi trường và bảo vệ và nuôi trồng nguồn hải sản trong Vịnh. Ba nguyên tắc lớn của vùng đánh cá chung là: vùng đặc quyền kinh tế của nước nào thì nước đó có quyền kiểm tra, kiểm soát các tàu cá được phép vào vùng đánh cá chung; sản lượng và số tàu thuyền được phép vào vùng đánh cá chung là dựa trên nguyên tắc bình đẳng, căn cứ vào sản lượng được phép đánh bắt, xác định thông qua điều tra liên hợp định kỳ; mỗi bên đều có quyền liên doanh hợp tác đánh cá với bên thứ 3 trong vùng đặc quyền kinh tế của mình. Hai bên thỏa thuận lập Ủy ban liên hợp nghề cá để xây dựng quy chế liên quan đến vùng đánh cá chung. Ngoài vùng đánh cá chung ra, hai bên thỏa thuận về dàn xếp quá độ với thời hạn 4 năm ở phía Bắc vĩ tuyến 20 cho tàu thuyền của hai bên tiếp tục được đánh bắt. Phạm vi cụ thể của vùng này hai bên sẽ tiếp tục thảo luận. Sau thời hạn quá độ, tàu thuyền của các bên về đánh cá ở vùng đặc quyền kinh tế của mình, trừ khi được bên kia cho phép. Đồng thời hai bên cũng thỏa thuận lập một vùng đệm nhỏ ở ngoài cửa sông Bắc Luân với mục đích là tạo thuận lợi cho việc ra vào của các tàu cá nhỏ (nếu phát hiện các tàu đó đánh cá thì cảnh cáo và buộc rời khỏi vùng nước của mình). Vùng này dài 10 hải lý và tính từ đường phân định rộng 3 hải lý về mỗi bên.

Theo ông Lê Công Phụng, về tổng thể, các giải pháp đạt được trong quá trình đàm phán và được thể hiện trong hai bản Hiệp định là thỏa đáng, đáp ứng lợi ích và nguyện vọng của cả hai bên. Các Hiệp định đó là kết quả của quá trình đàm phán lâu dài, thể hiện nỗ lực, thiện chí và tính đến sự quan tâm, nhân nhượng từ cả hai phía. Đối với VN, việc ký Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ tiếp theo việc ký Hiệp ước về biên giới trên đất liền năm 1999, có ý nghĩa rất quan trọng vì qua đó Việt Nam đã đạt được mục tiêu là giải quyết được hai trong ba vấn đề biên giới – lãnh thổ tồn đọng lâu nay giữa hai nước. Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc năm 1999 và Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ tạo nên một cơ sở pháp lý vững chắc để quản lý biên giới, lãnh thổ, thực hiện mục tiêu là xây dựng biên giới Việt Nam – Trung Quốc thành biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định lâu dài, và tạo động lực thúc đẩy, tăng cường quan hệ hai nước. Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ đã xác định trọn vẹn đường biên giới lãnh hải giữa Việt Nam và Trung Quốc ở khu vực ngoài cửa sông Bắc Luân, phân định rõ ràng phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và phạm vi thềm lục địa của hai nước ở Vịnh. Hiệp định đã ghi nhận cam kết của hai bên tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mỗi bên trong phạm vi các vùng biển của mình. Hiệp định cũng đã đề ra cách giải quyết khi xảy ra trường hợp hai bên chung nhau các mỏ tài nguyên khoáng sản nằm trong Vịnh. Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ ký với Trung Quốc là Hiệp định phân định biển thứ hai của nước ta (Hiệp định phân định biển đầu tiên là Hiệp định phân định các vùng biển giữa Việt Nam và Thái Lan ký năm 1997). Do đó ý nghĩa của Hiệp định này không chỉ dừng lại trong khuôn khổ quan hệ Việt – Trung mà thực sự góp phần vào việc ổn định hòa bình trong khu vực. Hiệp định hợp tác nghề cá đã góp phần quan trọng đưa đến việc ký kết Hiệp định phân định; thể hiện rõ sự nhân nhượng, thông cảm lợi ích của nhau.

BDN (theo báo chí quốc nội)

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Blog at WordPress.com.