Daily Archives: March 1, 2014

Chia buồn với Phạm Thanh Nghiên trong nỗi mất mát chung

Chia buồn với Phạm Thanh Nghiên trong nỗi mất mát chung

Mạng Lưới Blogger Việt Nam – 2 giờ chiều ngày 26 tháng 2 năm 2014 cụ bà Nguyễn Thị Lợi đã ra đi thanh thản trong sự thương yêu và tiếc nuối của nhiều người.

Đối với những người bạn trẻ đồng hành cùng Nghiên, đây không chỉ là nỗi mất mát lớn lao của Nghiên mà còn là sự mất mát chung của anh chị em mình. Các bạn trẻ của Nghiên xin phép những cô chú bác lớn tuổi để cùng Nghiên gửi lời thương kính đến với cụ bà Nguyễn Thị Lợi:
Mẹ chính là biểu tượng của đất Mẹ, của lòng thương yêu, của sự nhẫn nhục cùng ý chí kiên cường. Trên con đường chúng con đi, Mẹ không những chỉ là Mẹ của Nghiên mà còn là người đồng hành tinh thần của chúng con.
Chúng con xin gửi đến Mẹ lời tiễn biệt kính yêu. Xin gửi đến gia đình và nhất là bạn Phạm Thanh Nghiên sự chia sẻ về nỗi mất mát chung này vì Mẹ Lợi là Mẹ chung của tất cả anh chị em mình.
Trong những giờ phút đau buồn này, xin gửi đến Nghiên lời nhắn cố gắng giữ gìn sức khỏe vốn đang rất yếu của Nghiên. Chúng ta hãy cùng nhau nhớ đến lời Mẹ dặn lúc Nghiên bị bắt vào tù: “Đường con đã chọn, con hãy cứ vững tâm và đi tiếp. Cố giữ gìn sức khỏe, đừng lo lắng cho mẹ”. Mẹ vẫn luôn còn mãi trong trái tim của anh chị em mình và trên con đường anh em mình chọn vẫn luôn luôn có bước chân của Mẹ.
Trong những ngày sắp đến anh chị em sẽ có mặt cùng với Nghiên để cùng nhau đưa Mẹ về bên kia thế giới bình an, để nhắn với Mẹ rằng: “Mẹ an lòng nhắm mắt, chúng con sẽ luôn ở bên Nghiên, người con gái thân yêu, ốm yếu của Mẹ.”
Chúng con, những đứa con của Mẹ.
Một số thành viên của Mạng Lưới Blogger Việt Nam
Categories: Tin Trong Nước | Leave a comment

Chị tôi – Bùi Thị Minh Hằng

Chị tôi – Bùi Thị Minh Hằng

Viết tặng chị Bùi Thị Minh Hằng
Phạm Thanh Nghiên (Danlambao) – Tôi là con út trong gia đình có 7 anh chị em, bốn chị gái và hai anh trai. Tôi thường bông phèng rằng tôi là… con lớn nhất tính từ dưới lên. Giới thiệu đôi chút về gia cảnh không gì ngoài mục đích… quảng cáo nhà đông anh chị em, nhất là các chị gái. Thế mà tôi vẫn muốn có thêm những người chị khác nữa. Bùi Thị Minh Hằng từng tâm sự rằng chị luôn coi tôi như một tấm gương. Cả cái cách giăng biểu ngữ, băng rôn trong nhà khẳng định chủ quyền biển đảo cũng là cách chị… học tôi, theo như lời chị nói. Viết những chi tiết này ra tôi thấy mình hổ thẹn. Nhưng thật sự rất may mắn khi được chị coi như một đứa em gái và “chị thương Thanh Nghiên từ lúc Nghiên còn ở trong tù, chỉ mong em ra để chị em được gặp mặt”. Ngày đầu quen biết, chúng tôi đã thương mến và coi nhau là chị em.
Nụ cừời Việt Nam

Khi tôi trải qua gần hai năm trong nhà tù thì chị gái thứ hai của tôi (sống trong Sài Gòn) mới biết chuyện. Quả thật, tôi cũng lấy làm ngạc nhiên tại sao chị lại bị… lừa dễ dàng như thế. Lần nào chị gọi điện về mẹ tôi cũng bất đắc dĩ bịa ra vô số lý do để nói dối. Nào là em nó vừa chạy sang hàng xóm, đi chơi, đang dở tay, đi có việc, đang mệt, điện thoại di động tốn tiền nên nó không dùng… Chỉ tại chị yếu đuối quá nên không ai muốn chị bị sốc.

Hồi chị chưa lấy chồng, chị chăm tôi như chăm con. Một cơn đau đầu của tôi cũng khiến chị hoảng sợ, lo lắng đến mất ăn mất ngủ. Năm 2001, tôi bị viêm thanh quản nặng đến mức suốt mấy ngày không nói được, tưởng câm. Chị khóc sưng mắt, than thân trách phận, tự rủa xả bản thân với hy vọng (ngốc nghếch) rằng làm như thế, Trời Phật sẽ cho tôi được bình an sau khi đã… trừng phạt chị.
Chị gái lớn của tôi bằng tuổi chị Hằng. Chị đã có cháu ngoại hơn bốn tuổi. Người ta nói, phụ nữ tuổi Giáp Thìn là người bộc trực, nóng nảy, mạnh mẽ và rất có tài. Chị cả tôi không phải người có tài, nhưng là người bộc trực. Thời gian tôi bị tạm giam, một nửa trong tổng số hơn hai chục thành viên gia đình tôi liên tục bị công an mời, triệu tập để thẩm vấn. Từ mẹ tôi ngoài bẩy mươi tuổi đến các chị gái, anh trai, anh rể, chị dâu, các cháu còn đi học phổ thông cũng bị công an đón đường đưa đi thẩm vấn. Phiền nhất là chị cả, sau mỗi cú điện thoại của công an lại phải lặn lội bỏ công việc từ Hà Nội về Hải Phòng để “thực hiện nghĩa vụ công dân bất đắc dĩ”. Trong một buổi thẩm vấn, một nữ công an thuộc phòng an ninh chính trị Hải Phòng hỏi chị:

– Thế theo chị, Hoàng Sa, Trường Sa là của ai?
Chị thản nhiên trả lời:
– Của Liên Xô.
Công an kia bất ngờ (và bực tức) hoạnh:
– Sao chị lại nói như thế?
– Thế tôi phải nói thế nào? Nếu nói là của Trung Quốc thì không đúng và lương tâm tôi không cho phép. Còn nếu nói là của Việt Nam thì tôi sợ đi tù. Em tôi nó nói Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam thì bị các người bắt. Giờ tôi cũng nói thế lỡ bị đi tù, mẹ tôi làm sao sống nổi.
Nhưng chị cả tôi không có được cái khí phách ngang tàng như chị Bùi Thị Minh Hằng. Trong suy nghĩ của tôi, chị Hằng là người phụ nữ thông minh, quả cảm, khí khái, mạnh mẽ, quyết liệt và luôn đề cao đức hy sinh. Tất cả những điều đó chắc chắn là những tố chất hết sức đáng quý với một người bảo vệ nhân quyền, chống chế độ độc tài. Tôi yêu mến chị, dù biết giống như tôi và vô số những người đấu tranh khác, chị không hoàn hảo. Có lẽ, chính cái không hoàn hảo ấy khiến tôi và chị trở nên gần gũi và dễ đồng cảm hơn. Hôm nay, đã gần nửa tháng chị và hai người bạn khác là anh Nguyễn Văn Minh, chị Nguyễn Thị Thúy Quỳnh bị bắt trong một vụ dàn cảnh mà hẳn nhiên tác giả kịch bản là những đỉnh cao trí tuệ của đảng. Để rồi chắc chắn chị và hai người bạn sẽ “được” đem ra xét xử và tuyên án trong một phiên tòa man rợ.
Sự góp sức của chị trong cuộc vận động Dân chủ, Nhân quyền không hề nhỏ. Tất cả những việc chị làm đều khiến tôi ngạc nhiên. Nó quá nhiều. Dường như chị có một nội lực rất dồi dào để làm việc không mệt mỏi. Người ta thấy chị ở khắp nơi, trong mọi hoàn cảnh. Từ các cuộc xuống đường biểu tình ôn hòa chống quân xâm lược Trung Quốc đến những phiên tòa bất công xử người yêu nước. Từ các phong trào khiếu kiện đòi công lý của những dân oan mất đất, mất nhà đến những lần đi phát bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Chưa kể số lượng những bài viết, những bài tường trình, các hình ảnh được chị ghi lại đều đặn sau mỗi sự kiện. Bùi Thị Minh Hằng thật sự là ký giả đường phố, ký giả nhân dân. Không thể liệt kê hết những nơi chị đã đi qua, những việc làm chị đã đóng góp (công khai hay âm thầm). Sôi nổi là thế, mãnh liệt là thế nhưng Minh Hằng vẫn luôn phải đối mặt với nỗi cô đơn thường trực. Hình như, bất cứ ai chọn lựa con đường đấu tranh vì cộng đồng cũng phải trải nghiệm những khoảnh khắc như thế. Ta sẽ cô đơn giữa vô số những con người. “Nhiều khi bị tấn công tứ phía, cảm thấy mình lạc lõng em à”. Một lần, tôi nhận được tin nhắn của chị.
Có nhiều điều lắm để viết về chị. Nhưng có lẽ tôi nên kìm nén cảm xúc. Tôi nhớ về chị với những chuyện đời thường khác. Lần gặp đầu tiên, hồi tôi mới ra tù tiện dịp đi Hà Nội khám bệnh. Mấy anh chị em chúng tôi có hẹn ăn trưa cùng nhau: Các anh Ngô Nhật Đăng, Xuân Diện, Anh Chí, Hiếu Gió, Lã Việt Dũng chị Hằng và một chị bạn. Vừa nhìn thấy tôi, chị lao tới ôm thật chặt bằng một cánh tay (tay kia bị gãy đang bó bột). Sợ chị đau, tôi không dám nhúc nhích, nhưng cảm giác sắp nghẹt thở vì chị ghì tôi rất chặt và như không muốn buông ra. Chị khóc to, tựa như một đứa trẻ, bất chấp xung quanh là những người lạ và cả những tên mật vụ đứng nhìn. Chị nói đủ thứ chuyện, về thời gian nửa năm bị giam giữ trong nhà tù trá hình mang tên Cơ sở Giáo dục Thanh Hà. Suốt cuộc gặp, chị nắm chặt tay tôi, thi thoảng lại đưa lên môi hôn. Tôi chưa bao giờ thấy mình đựợc nâng niu và trân quý như thế.

Lần đầu gặp chị. Hình chụp cuối năm 2012.
Lần khác, tôi bệnh phải đi truyền nước. Đang thiu thiu ngủ thì chuông điện thoại reo. Vừa kịp “alô!” đã nghe chị mắng một hồi. Chị xót tôi!
Đầu tháng 1.2014 chị và Bạch Hồng Quyền tới Hải Phòng thăm tôi. Chị bước vào nhà, thản nhiên như một người con vừa đi xa về. Chị gọi mẹ tôi bằng mẹ. Đó là lần gặp cuối cùng không hẹn ngày hội ngộ. Từ hôm chị bị bắt, ngày nào mẹ tôi cũng hỏi: “chúng nó thả chị Hằng ra chưa hả con?”. Mẹ tôi buồn!
Lần thứ hai chị bị bắt. Lần này, có thể sẽ rất dài. Tôi sẽ chờ để được sà vào lòng chị, hôn đôi bàn tay của chị. Trong lúc này, tôi vẫn cảm nhận được hơi ấm từ trái tim nhiệt huyết của chị cùng lời tuyên bố đầy ngạo nghễ: “CHÚNG TÔI NGÃ XUỐNG ĐỂ ĐẤT NƯỚC NÀY ĐƯỢC ĐỨNG LÊN”. Đúng, đất nước này sẽ đứng lên nhờ những sự hy sinh nhỏ bé của chị và của tất cả những người Việt Nam còn nặng lòng yêu nước.
Chị sẽ không ngã chị ơi! Cho dù phía trước đầy nguy khốn.

Phạm Thanh Nghiên
danlambaovn.blogspot.com

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Nghiên cứu so sánh các cuộc cách mạng

Nghiên cứu so sánh các cuộc cách mạng

Ai nhân danh cách mạng để bắt giữ pháp luật, tự do và nhân tính?

Đinh Phàm

Trần Đình Sử dịch từ “多维新闻”本文网址

Mặc dù tôi không thích Arendt, bởi vì bà có quan hệ mờ ám, vừa học trò vừa tình nhân với Heidegger, một người có quan hệ với Đức Quốc xã, nhưng ý kiến của bà trong bài Bàn về cách mạng mang đầy tính chất lí tính, sâu sắc khiến tôi đồng tình.

Cái kết luận mà bà rút ra sau khi so sánh hai cuộc cách mạng chẳng qua là: Bạo lực cách mạng chỉ được sử dụng một lần, nếu sau cách mạng mà không xây dựng được một chế độ dân chủ và pháp luật có hiệu lực thì sẽ không có tự do đích thực, sẽ rơi vào một vòng luẩn quẩn của đấu tranh giai cấp bạo lực, của việc tiếp tục cách mạng lặp đi lặp lại không thể đảo ngược.

Arendt khi truy tìm từ nguyên của từ “cách mạng” đã chỉ ra,“Từ cách mạng vốn là một thuật ngữ thiên văn học, nhờ công trình Bàn về sự vận hành thiên thể của Kopernic mà nó ngày càng được coi trọng trong khoa học tự nhiên. Trong thiên văn học nó vẫn bảo lưu ý nghĩa khoa học của thuật ngữ Latinh, chỉ sự vận động có quy luật của các thiên thể…. Giống như một sức mạnh khiến cho các thiên thể vận hành theo một quy luật nhất định[1]. Không có quan niệm nào tương tự như tất cả các hành động khiến mọi người mê hoặc lại đi xa hơn hai chữ cách mạng ấy. Nói một cách khác, các nhà cách mạng cho rằng, trong quá trình tuyên cáo một trật tự cũ phải diệt vong và đón chào sự ra đời một trật tự mới, thì họ chính là nhà đương cục”. Đúng vậy, để đón chào cái thành quả to lớn của cách mạng kia, sự ra đời một thế giới mới, chúng ta đã không ngừng tô vẽ cho cách mạng, đồng thời, che đậy cái mặt tàn nhẫn, phản động của cách mạng.

Tất cả mọi cuộc cách mạng, nếu không có kết quả cuối cùng là một pháp luật và một chế độ, thì cái cách mạng ấy rốt cuộc sẽ trở thành hòn đá ngáng đường tiến lên của lịch sử. Đây chính là điều mà Arendt rút ra sau khi so sánh cuộc cách mạng Pháp và cách mạng Mĩ, rồi phơi bày tất cả các thứ tệ đoan của cuộc cách mạng tháng Mười Nga.

Nhìn lại một trăm năm “cách mạng” Trung Quốc, đúng như bà Arendt có nói, “Nhìn từ phương diện lịch sử, chăm chú vào khoảnh khắc cách mạng thì thấy, đại cách mạng đã biến chất thành chiến tranh, biến chất thành nội chiến và ngoại chiến, quyền lợi của nhân dân vừa mới giành được, chưa kịp xây dựng chính thức, liền biến chất thành tao loạn liên miên”. Trung Quốc 20 năm đầu thế kỉ XX đã trải qua các cuộc chiến tranh quân phiệt, chiến tranh kháng Nhật rồi nội chiến Quốc Cộng, tưởng rằng giành được những năm tháng hòa bình, nhưng vị chúa tể của thế giới mới liền tiến hành cuộc thanh toán dị đoan, đó chính là cái phương thức tư duy của kẻ giành chiến thắng trong cách mạng Pháp mà Arendt đã tổng kết, “bởi vì, tiếp theo là kẻ hành động vì cách mạng tự cho phép mình muốn làm gì thì làm,” cho nên, “Làm thế nào để đề phòng kẻ cùng khổ ngày hôm qua, hôm nay thành cự phú liền phát huy các quy tắc hành động của mình, đem áp đặt chúng cho chính thể mới, các mối lo này của hôm nay chưa từng có từ thế kỉ XVIII.” Giải thích theo lí thuyết của Arendt, mấu chốt để phát động một cuộc “cách mạng” nhằm tiến tới xây dựng một nền dân chủ và pháp chế thì phải sử dụng phương thức lập quốc theo cuộc “cách mạng” pháp lí kiểu Mĩ, chư không đi theo con đường chỉ dựa vào cảm xúc và tình cảm. “Phương hướng của cuộc cách mạng Mĩ trước sau đều nhằm dốc sức xây dựng một nước tự do, một chế độ lâu dài. Đối với người hành động vì mục tiêu đó, không cho phép bất cứ hành động nào ngoài phạm vi pháp luật dân sự được thực hiện. Vì sự khổ đau nhất thời, phương hướng của cuộc đại cách mạng Pháp ngay từ đầu đã xa rời quá trình lập quốc, nó được quyết định bởi tính tất yếu, chứ không phải bắt nguồn từ nhu cầu bức thiết giải thoát khỏi chính trị bạo lực, nó bị thúc đẩy bởi nổi thống khổ quá ư nặng nề của nhân dân, và sự đồng cảm với nổi thống khổ vô bờ bến ấy. Ở đây, cái tính chất tùy tiện vô phép tắc vốn bắt nguồn từ tình cảm trong tâm hồn, tính vô hạn của tình cảm xúi giục thúc đẩy, đã phóng thích cả chuỗi bạo lực liên tục.” Câu nói này mới sâu sắc biết bao!

Nước Trung Quốc thế kỉ XX đã đi qua trong cuộc chiến tranh của phong trào văn hóa “ sau cách mạng” và “hậu cách mạng”, từ sự kiện Phúc Điền[2], chỉnh phong Diên An, nội chiến, lại trấn áp phản cách mạng, chống phái hữu rồi cách mạng văn hóa, không có sự kiện nào mà không phải là diễn ra dưới quyền lực tập trung của cá nhân, không đếm xỉa đến nỗi thống khổ của nhân dân, quyền lực của nhân dân bị biến thành kẻ hành động vì cách mạng, biến thành tiếng kèn chiến đấu tiếp tục “cách mạng”. Loại “cách mạng” này rõ ràng đã phải trả giá bằng sự hy sinh nhân tính và hy sinh tự do. Do đó lí luận “Cách mạng không phải là được mời đi dự tiệc” của lãnh tụ vĩ đại Mao Trạch Đông đã trở thành chân lí tối cao và danh ngôn chí lí, mà đến nay vẫn còn thấm sâu trong quan niệm của bao người chấp chính mà hoàn toàn không tự giác.

Cái quan niệm hạt nhân mà Arendt muốn bày tỏ qua sự so sánh hai cuộc cách mang – cách mạng Pháp và cách mạng Mĩ thật là rõ rệt – cuộc cách mạng đại chúng chỉ dựa vào lòng đồng tình và thương xót đối với người nghèo khổ là không đáng tin cậy, đồng thời cũng không cứu được người nghèo khổ, bởi vì cái “cách mạng” này không lấy nhân tính làm cơ sở: “Từ ngày có cuộc đại cách mạng Pháp cũng chính là ngày mà tính vô hạn trong tình cảm của các nhà cách mạng đã khiến cho họ vô cảm trước hiện thực, vô cảm đối với số phận của những cá nhân. Tất cả những điều đó thật khó tin. Vì các “nguyên tắc” của mình, vì “tiến trình lịch sử”, vì “sự nghiệp cách mạng”, các nhà cách mạng sẵn sàng hy sinh mọi cá nhân mà không hề hối tiếc. Tình trạng vô cảm đối với hiện thực tràn đầy tình cảm này cũng đã thể hiện khá rõ rệt trong hành động của bản thân Rousseau, trong biểu hiện thiếu trách nhiệm, tùy tiện lặp đi lặp lại của ông, nhưng chỉ khi Robespierre đưa nó vào trong cuộc xung đột phe phái của cuộc đại cách mạng Pháp nó mới trở thành một nhân tố chính trị quan trọng đáng kể.” Rõ ràng Arendt không hề khẳng định hoàn toàn vai trò của Rousseau và Robespierre trong cuộc đại cách mạng và chủ nghĩa khai sáng, ngược lại, bà phủ định những tệ hại mà thứ “cách mạng” này đem lại cho xã hội, cho các cuộc “cách mạng” kế tục sau đó. Nói thật lòng, đối với nhà khai sáng vĩ đại Rousseau tôi không hề muốn phủ nhận lí luận và tư tưởng khai sáng do ông tạo nên, nhưng trong việc lựa chọn hai chế độ xây dựng quốc gia thì tôi hình như lại thiên về phía Arendt, bởi vì lịch sử đã cho chúng ta biết, “khai sáng” một khi đã bị “cách mạng” lợi dụng, thì rất có thể nảy sinh “tha hóa”, từ đó mà phản bội nhân tính và tự do.

Lời dự báo sau cùng của Robespierre đã chứng minh nguyên nhân thất bại của chủ nghĩa khai sáng: “Chúng ta sẽ chết đi mà không để lại dấu vết gì, bởi vì trong dòng sông lịch sử của nhân loại, chúng ta đã bỏ lỡ thời cơ thành lập một quốc gia tự do.” Cái nghịch lí này chứng minh một sự thật lịch sử rằng công cuộc khai sáng sau khi bị cuộc cách mạng mù quáng bắt cóc đưa lên cỗ xe chiến tranh đã gây nên biết bao hậu quả thảm họa.

Khi người vô sản mất đi xiềng xích, trở thành nguyên động lực của cách mạng, cách mạng dựa vào sức mạnh tình cảm mà giành chính quyền, nhưng khi chiếc gông cùm của nghèo khổ ngày xưa đã tháo ra, phải chăng người vô sản lại không khoác lên mình một chiếc gông cùm mới? Nếu nói Mác đã kế thừa ý tưởng cách mạng của Roberspierre, phát triển thành học thuyết đấu tranh giai cấp, thì Lenin trong lúc vội vàng đã quay lại con đường cũ, thì Stalin đã tạo ra một mô hình cách mạng đấu tranh giai cấp cực đoan nhất, mà Trung Quốc trong những năm 50 – 70 lại chạy theo mô hình cực đoan ấy của Stalin, lại tạo ra vô vàn hậu quả thảm họa. Trong cái chuỗi dây chuyền thế giới “vô sản toàn thế giới liện hiệp lại”, kẻ chịu thảm họa sâu nặng nhất là nhân dân Liên Xô và nhân dân Trung Quốc. Đương nhiên thảm họa nặng nể nhất là nhân dân Cămpuchia trong cuộc diệt chủng của bọn Khơme đỏ của Cămpuchia dân chủ dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ cách mạng Polpot, nó chứng minh cho hậu quả về mặt luân lí của “cách mạng”.

Trong giới tư tưởng Âu Mĩ các khái niệm “nhân dân” và “đại chúng” là hoàn toàn khác nhau. Nhân dân là hình ảnh của dân chủ, còn đại chúng là danh từ chỉ bọn người ô hợp. Cho nên Arendt nói: “Về mặt lí luận, điều tai hại nhất là đem đánh đồng nhân dân với đại chúng.” Ở đây nhân dân là những “công dân” có “giác ngộ”, là người dân tự do có quan điểm độc lập; còn “đại chúng” là một đám người nô lệ tinh thần mông muội, là đám AQ bị chấn thương tinh thần dưới ngòi bút của Lỗ Tấn, là bọn lưu manh dễ bị mê hoặc bởi chiến lợi phẩm của cuộc cách mạng – Hitler đã lợi dụng tình cảm của đại chúng mà dựng nên đảng Quốc xã, Stalin cũng lợi dụng tình cảm đại chúng mà lập nên “Tcheka”, còn “Hồng vệ binh” của Trung Quốc thì vẫn tồn tại trong huyết mạch của rất nhiều người, chỉ cần có người vung tay hô to một khẩu hiệu, thì sẽ có vô vàn “cánh tay đỏ” vung lên như rừng, và tiếng hô “Ura!”, “Vạn tuế!” vang động khắp nơi. 

Đ. P.

Ghi chú: Đinh Phàm, đảng viên cộng sản Trung Quốc, hội viên hội nhà văn Trung Quốc, Giáo sư đại học Nam Kinh, Phó Chủ tịch Hội Nghiên cứu Văn học Trung Quốc, Chủ tịch Hội Phê bình Văn học Giang Tô, Phó Tổng biên tập tạp chí Chung Sơn.

[1] Tiếng Latinh, cách mạng là revolvere, nghĩa là quay vong, chuyển động xoay vòng. ND.

[2] Sự kiện Phúc Điền: Đây là sự kiện do Mao Trạch Đông tạo ra để thanh trừng nội bộ vào tháng 12 năm 1930, tại Phúc Điền, tỉnh Giang Tây, giết 120 người thuộc quân đoàn Hồng quân số 20, những người liên lụy bị giết lên đến 70000 người. Năm 1956, Mao đã thừa nhận giết nhầm người, nhưng đến năm 1989 dưới thời Hồ Diệu Bang, Dương Thượng Côn, những nạn nhân mới được tuyên bố vô tội. Đây là vụ thanh trừng đẫm máu đầu tiên trong lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc. ND.

Nguồn:http://trandinhsu.wordpress.com/2014/02/25/nghien-cuu-so-sanh-cac-cuoc-cach-mang/

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Tại sao tôi ủng hộ Thủ tướng?

Tại sao tôi ủng hộ Thủ tướng?

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2014-02-28
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này

mac_lam_02282014.mp3Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

000_Hkg9081458-305.jpg

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Thượng đỉnh ASEAN ở Bandar Seri Begawan, Brunei hôm 10/10/2013 (hình minh họa).

AFP PHOTO / Philippe Lopez

 

 

Dưới quan điểm của Giáo Sư Tương Lai, nguyên giám đốc Viện Xã Hội Việt Nam thì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là người có tầm nhìn xa và có thể làm cho Việt Nam biến chuyển theo hướng tích cực. Đây là một nhận xét rất gây tranh cãi và cuộc phỏng vấn đặc biệt do Mặc Lâm thực hiện hoàn toàn không nói lên quan điểm của người phỏng vấn cũng như Đài Á châu Tự do, mời quý vị theo dõi:

Điều gì Trung Quốc muốn nhất?

Mặc Lâm: Thưa GS ông từng quan ngại việc chính quyền ngày càng có những biểu hiện lệ thuộc quá sâu vào quan hệ Việt Trung một cách bất lợi cho Việt Nam. Giới nghiên cứu cho rằng từ sau Hội nghị Thành Đô thì Bộ chính trị bó tay trong các chính sách đối với Trung Quốc gây nên các cáo buộc là họ đang ngấm ngầm bán nước, ông có chia sẻ gì về việc này?

GS Tương Lai: Ngay những người đề ra các đường lối mà tôi cho là sai lầm họ cũng không tán tận lương tâm muốn bán nước cho Tàu đâu. Hiện nay tôi vẫn tin rằng trong những người có đường lối sai lầm khởi đầu từ Hội nghị Thành Đô họ cũng không phải là những người quyết định bán nước nhưng vì họ muốn giữ cái thể chế chính trị, toàn trị, mà họ cho rằng đó là vì họ yêu nước. Và vì nếu giữ cái chế độ toàn trị đó thì thằng Tàu nó ủng hộ.

Không có gì có lợi hơn cho thằng xâm lược khi mà có một thể chế chính trị bịt miệng dân và quay lưng lại với dân, chỉ xoay lại đấu đá nội bộ với nhau thôi. Bịp dân về 16 chữ, hữu nghị… đấy tất cả các vấn đề nó nằm ở chỗ đó.

Tôi chỉ căn cứ vào lời tuyên bố và lời tuyên bố đó nó phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử. Lời tuyên bố đó đáp ứng được cái lời nguyện vọng của nhân dân.
-GS Tương Lai

Vậy thì bây giờ phải vạch trần cái chỗ đó ra cho người dân thấy đó là một sự nguy hiểm. Phải thấy cái chỗ này: họ không bán nước, họ muốn giữ chế độ toàn trị, mà cái chế độ toàn trị đó thằng Tàu rất thích, nó không muốn gì hơn là có cái chế độ ấy. Chính quyền này thất sủng với dân, nếu như trước đây thất sủng với vua thì bây giờ đây họ thất sủng với dân. Dân không tin họ nữa thì họ không có sức mạnh, và vì họ không có sức mạnh nên họ dựa vào thế lực ngoại bang. Từ đó mọi sự lừa mị, mọi sự rao giảng về cảnh giác, về lập trường về quan điểm, thực chất đây là một cuộc nói dối vĩ đại.

Mặc Lâm: Theo GS thì ai là người trong giới cầm quyền có thể thay đổi sự thật này bằng những việc làm cụ thể, và nếu họ đi ngược lại với xu hướng chung trong đảng thì ai sẽ ủng hộ họ?

GS Tương Lai: Vấn đề bây giờ là làm sao thức tỉnh tinh thần yêu nước của cả dân tộc để cho cả dân tộc này thấy rằng nguy cơ lớn nhất là nguy cơ của thằng Trung Quốc xâm lược đây này! Phải tập trung mũi nhọn vào đó và nhà cầm quyền, bất cứ người nào, họ là ông A, ông B, ông X, ông Y tôi không cần biết họ là ai, tôi chỉ cần họ đáp ứng với nguyện vọng của dân, họ tuyên bố rõ là dựa vào dân và phải có một thái độ rành rọt trước kẻ thù thì tôi ủng hộ, dân ủng hộ, trí thức ủng hộ vậy thôi.

Tôi không đứng về phía ông nào hết, tôi đứng về phía nhân dân, tôi đứng về lợi ích của tổ quốc. Ai yêu nước, đấu tranh, chống ngoại xâm và cải cách thể chế, đem trả cái quyền dân chủ về cho dân, xây dựng một nhà nước pháp quyền đích thật thì tôi ủng hộ lực lượng đó bất chấp họ như thế nào. Họ đáp ứng được yêu cầu của dân thì hãy ủng hộ họ để cho họ làm việc.

Sẽ có tranh cãi nếu ủng hộ ai đó?

 

gstuonglai-giadinh.net-250.jpg
Giáo sư Tương Lai. Photo courtesy of giadinh.net

 

Mặc Lâm: Chúng tôi còn nhớ GS đã trả lời RFA rằng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bị sức ép từ đâu đấy nên bài tuyên bố đem Trường Sa Hoàng Sa vào sách giáo khoa của ông ấy đã bị rút xuống. GS có bị một sức ép tương tự nào sau khi chia sẻ ý kiến này hay không?

GS Tương Lai: Thì vừa rồi, trên cái diễn đàn xã hội dân sự của chúng tôi, họ dồn tôi, họ bắt buộc tôi trả lời là Giáo sư Tương Lai hãy trả lời đi, “ai gây sức ép cho Thủ Tướng?” Họ thừa biết rồi việc gì phải hỏi như vậy? Thực ra mà nói, bây giờ có những vấn đề nó lẫn lộn và xáo trộn như thế làm thật giả khó phân. Nếu không tỉnh táo thì ngay chính cái người đang đấu tranh nhiều khi cũng vấp phải những sai lầm. Đứng phía ông A, hay đứng phía ông B.

Mặc Lâm: Quay lại với việc đứng phía nào như GS vừa nói, GS nghĩ sao khi nhiều người xác quyết rằng ông đang ủng hộ một cách mạnh mẽ đương kim Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, nếu vậy GS có thể cho biết căn cứ trên những việc nào mà ông mạnh dạn ủng hộ ông Thủ tướng?

GS Tương Lai: Tôi chỉ căn cứ vào lời tuyên bố và lời tuyên bố đó nó phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử. Lời tuyên bố đó đáp ứng được cái lời nguyện vọng của nhân dân, tôi nói thí dụ: cái việc khẳng định Hoàng Sa – Trường Sa là chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam phải đưa vào sách giáo khoa. Điều này là số một vì nó biểu tỏ dứt khoát ai là kẻ thù, ai là kẻ đang cướp nước của chúng ta?

Hãy nói đi đã. Nói được cái đúng để cho nhân dân lấy đó làm cái gậy tựa vào đó mà đi.

-GS Tương Lai

Thứ hai là tuyên bố cái thể chế mà do đại hội VI tạo ra thì bây giờ động lực ấy đã hết rồi, động lực đó là gì? Là “dân chủ, và nhà nước pháp quyền là cặp song sinh thể hiện đặc điểm của thể chế chính trị hiện đại”, như thế không phải và không thể là chế độ toàn trị như hiện nay nữa, mà phải là dân chủ nhà nước pháp quyền đích thực của thể chế chính trị hiện đại. Rõ ràng còn có gì để mà nói, còn có gì để mà phân vân về cái chuyện này? Vì điều này nó rõ rồi cho nên tôi ủng hộ, tôi ủng hộ cái quan điểm đó.

Còn có một anh khác tuyên bố là “không, đảng ta không thừa nhận tam quyền phân lập!” thì như vậy anh ta đã phủ nhận thành tựu của nền văn minh loài người. Bởi vì tam quyền phân lập đâu phải là sản phẩm tư sản, đấy chính là một quá trình dài lâu trong lịch sử người ta mới tìm ra được. Bây giờ họ quay lưng lại vứt bỏ, và chỉ nghĩ rằng là chuyên chế vô sản thì mới có thể là triệu lần dân chủ hơn. Đấy là một sự nói dối vĩ đại, một sự bịp bợm vĩ đại, và vì bịp bợm như thế thì dân không tin, và khi anh đã bịp bợm  lớn như vậy thì mọi điều khác người ta cũng không tin,

Có phải chỉ là một ly nước giải cơn khát?

Mặc Lâm: Vâng, nhưng thưa GS Thủ tướng Dũng cũng bị nhiều người cho rằng ông ấy tuyên bố nhưng không làm mà chỉ là động tác nhằm giảm thiểu sức ép công luận trong một khoảng thời gian đặc biệt hay trước một biến cố nào đó mà thôi?

Ông là thủ tướng mà tuyên bố như vậy thì tôi xin nói với ví dụ: anh công an chặn đường tôi, tôi nói anh chận tôi vì lý do gì, ông thủ tướng của các anh nói đấy.
-GS Tương Lai

GS Tương Lai: Đồng ý, nhưng hãy nói đi đã. Nói được cái đúng để cho nhân dân lấy đó làm cái gậy tựa vào đó mà đi. “Dân có quyền làm những điều mà pháp luật không cấm, còn riêng với nhà nước chỉ làm được những gì mà pháp luật cho phép”.

Điều đó cũ rich, cũ nhưng mà hết sức mới vì lâu nay người tra không làm. Bây giờ ông Thủ tướng tuyên bố như vậy tôi không biết ông là ai, nhưng ông là thủ tướng mà tuyên bố như vậy thì tôi xin nói với ví dụ: anh công an chặn đường tôi, tôi nói anh chận tôi vì lý do gì, ông thủ tướng của các anh nói đấy, “dân có quyền làm những gì mà pháp luật không cấm” tại sao anh cấm tôi, tại sao anh cấm tôi biểu tình, biểu tình là điều đã ghi trong hiến pháp…. thì có phải cái điều này là sai luật hay không?

Mặc Lâm: Thưa GS dựa trên những nhận xét tích cực đó ông có kỳ vọng Thủ tướng Dũng sẽ là một Gorbachev thứ hai cho Việt Nam hay không?

GS Tương Lai: Việt Nam không phải là Liên Xô và tôi không muốn có một Gorbachev cho Việt Nam. Mỗi một nước có một đặc điểm dân tộc. Ở Việt Nam tôi cần một tư tưởng, một đường lối mà nó giải phóng cho sức sống của dân tộc. Nó huy động sức đoàn kết của toàn dân, ai làm được điều đó thì người ấy chính là cái người mà nhân dân cần. Nhân dân sẵn sàng bỏ qua tất cả những gì sai lầm mà họ có.

Nhân dân sẵn sàng ủng hộ họ, nếu như họ thật sự phát động nhân dân, đi vào nhân dân, hô hào nhân dân đứng lên và trao quyền làm chủ cho dân chống lại cái xã hội toàn trị hiện nay. Cái thời toàn trị đó, những người chóp bu ấy thực tế là đang tiếp tay cho kẻ thù cho nên tôi ủng hộ.

Mặc Lâm: Xin cảm ơn Giáo sư Tương Lai.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Trò chơi nguy hiểm’ ở Crimea

Trò chơi nguy hiểm’ ở Crimea

Bridget Kendall

Phóng viên ngoại giao, BBC News

 

Cập nhật: 17:48 GMT – thứ sáu, 28 tháng 2, 2014
Liệu ông Yanukovych (trái) có phải là quân cờ của ông Putin (phải)

Ukraine đã tố cáo hải quân Nga thi hành “xâm lược có vũ trang” tại một phi trường ở vùng tự trị Crimea.

Phóng viên BBC Bridget Kendall tìm hiểu góc nhìn của Moscow về cuộc khủng hoảng.

Chính thức mà nói, bộ quốc phòng và ngoại giao Nga không bình luận về cáo buộc của Kiev.

Người phát ngôn của ông Vladimir Putin kể lại khi tổng thống gặp các nghị sĩ, chuyện này không nằm trong ưu tiên của ông.

Bức tranh mà Moscow đưa ra là các sự kiện ở Crimea tự nó xảy ra – là phản ứng tự nhiên của người dân nói tiếng Nga cảm thấy bị chính quyền mới ở Kiev đe dọa.

“Và tại sao không?” Moscow biện luận. Dùng sức mạnh nhân dân và dân quân để thách thức chế độ chính là điều mà đối lập ở Kiev đã làm.

Thật khó biết Kremlin có đứng đằng sau hay không.

Chẳng ai thừa nhận công khai, nhưng có dấu hiệu chính phủ Nga đang cứng rắn hơn.

Ông Yanukovych được cho trú ẩn, được phép tuyên bố ông là tổng thống hợp pháp, rằng chính phủ mới ở Kiev là kết quả của cuộc đảo chính phi pháp của bọn cực đoan.

Một số nghị sĩ cao cấp của Nga gần với Kremlin cũng nói gần giống vậy.

Có nguy cơ Crimea tách khỏi Ukraine?

Thú vị khi Viktor Yanukovych nói rõ rằng Crimea không nên tách khỏi Ukraine.

Các nguồn chính thống ở Nga cũng không ai kêu gọi tách Crimea khỏi Ukraine.

Có lẽ vì giới chức Nga đang đi dây – giữa thách thức chính quyền ở Kiev và giữ quan hệ tốt với phương Tây.

Họ biết vấn đề chia cắt sẽ dẫn tới sự đối đầu thực sự về chính trị và ngoại giao.

Câu hỏi cho Tổng thống Putin là ông có thể đẩy nó đi xa tới đâu mà không dẫn đến đối đầu toàn diện.

Có thể ông nghĩ mình sẽ làm được cả hai – khuyến khích Crimea tự trị nhiều hơn nhưng không tách hẳn; chỉ trích Kiev nhưng không đổ vỡ quan hệ; và làm chính quyền non trẻ Ukraine lo lắng bởi hoạt động ở đường biên giới mà không xảy ra xâm lược.

Bằng cách đó, khi gọi điện cho các thủ đô phương Tây, ông có thể tiếp tục trấn an rằng dự định của Nga chỉ mang tính hòa bình.

Nhưng đó là trò chơi nguy hiểm. Nếu căng thẳng gia tăng nữa, có thể không tránh khỏi khủng hoảng toàn diện giữa Đông và Tây.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

MÔN HOÀN DIỆT

MÔN HOÀN DIỆT

Inbox
x

Vu Nguyen

10:52 AM (13 hours ago)

to bcc: me

Kính thưa quý đạo hữu, quý đồng đạo;

 

Em cháu xin gởi quý vị bài: “MÔN HOÀN DIỆT” để tiện việc tham khảo, tìm hiểu những giáo hóa về:

 

DIỆT SỰ VÔ MINH

–       Đừng: phiền-não, tham-lam, ích-kỷ

–       Không: hờn-giận, ghét-ganh

 

Ø Tìm con đường bát chánh đạo của Phật mà đi

Ø Làm việc nhơn từ, giúp thế độ đời

Ø Giữ tâm thanh tịnh, chuyên tâm niệm Phật, gây mối thiện-duyên

 

èèè (đưa đến) Trí-huệ mở-mang

èèè (đưa đến) Cõi lòng sáng-suốt

èèè (đưa đến) Màn vô-minh sẽ bị diệt

 

SỰ GIẢI THOÁT

      Vô-minh (1) bị diệt   èèè (đưa đến) hành diệt;

Hành (2) bị diệt                èèè (đưa đến) thức diệt;

Thức (3) bị diệt                 èèè (đưa đến) danh-sắcdiệt;

Danh-sắc (4) bị diệt èèè (đưa đến) lục-nhập diệt;

Lục nhập (5) bị diệt èèè (đưa đến) xúc-động diệt;

Xúc-động (6) bị diệt èèè (đưa đến) thọ cảm diệt;

Thọ cảm (7) bị diệt   èèè (đưa đến) ái diệt;

Ái (8) bị diệt              èèè (đưa đến) bảo-thủ diệt;

Bảo-thủ (9) bị diệt    èèè (đưa đến) hữu diệt;

Hữu (10) bị diệt        èèè (đưa đến) sanh diệt;

Sanh (11) bị diệt       èèè (đưa đến) lão, tử (12)diệt.

 

Ấy là giải-thoát vậy.

 

****************

 

MÔN HOÀN DIỆT

 

Nếu ta tìm con đường bát chánh đạo của Phật mà đi, giữ tâm thanh tịnhlàm việc nhơn từkhông lònghờn-giậnchẳng dạ ghét-ganhchuyên tâm niệm Phậtgiúp thế độ đời,đừng chứa điều phiền-não và để bụngtham-lam ích-kỷgây mối thiện-duyên, lần lần trí-huệ mở-mangcõi lòng sáng-suốt, thì màn vô-minh sẽ bị diệt mất.

 

Vô-minh bị diệt thì hành diệt; hànhbị diệt thì thức diệt; thức bị diệt thì danh-sắc diệt; danh-sắc diệt thì lục-nhập diệt; lục nhập diệt thì xúc-động diệt; xúc-động diệt thì thọ cảm diệt;thọ cảm bị diệt thì ái diệt; ái bị diệt thì bảo-thủ diệt; bảo-thủ bị diệt thì hữu diệt; hữu bị diệt thì sanh diệt; sanh bị diệt thì lão, tử diệt.  Ấy là giải-thoátvậy.

 

Bạc-liêu, năm Nhâm-Ngũ (1942)

 

2 Attachments

16a- MÔN HOÀN DIỆT – Microsoft Word.doc
16b- MON HOAN DIET – pdf.pdf
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

THẬP NHỊ NHƠN-DUYÊN

THẬP NHỊ NHƠN-DUYÊN

 

NGUỒN GỐC CỦA SỰ LUÂN HỒI (12 duyên sanh)

 

Phát khởi từ sự tăm tối mê say, sự vô-minh (1)

èèè (đưa đến) hành-động (2), gây tạo ác nghiệp

èèè (đưa đến) sanh ra muôn pháp, nên có cái biết,thức (3)

èèè (đưa đến) có hữu-tình, nên có xác-thịt và linh-hồn, danh-sắc (4)

èèè (đưa đến) có 6 căn, nhiễm với 6 trần, gọi làlục-nhập (5)

èèè (đưa đến) tiếp-xúc với mọi người, vạn vật, gọi là xúc-động (6)

èèè (đưa đến) thọ hưởng của tiền-trần, gọi là thọ-cảm (7)

èèè (đưa đến) có cái ưa thích, quyến luyến, thâm tình, gọi là ái (8)

èèè (đưa đến) gắng công giữ-gìn, gọi là bảo-thủ(9)

èèè (đưa đến) sở hữu (10) để sống còn

èèè (đưa đến) mến tiếc, đầu thai trở lại cõi trần, gọi là sanh (11)

èèè (đưa đến) già-yếu-đau-chết, gọi là lão, tử (12)

Tại vô-minh mà ra tất cả.

 

TÓM LƯỢC VỀ 12 DUYÊN SANH

Vô-Minh (1) sanh hành;

Hành (2) sanh thức;

Thức (3) sanh danh-sắc;

Danh-Sắc (4) sanh lục-nhập;

Lục-Nhập (5) sanh xúc-động;

Xúc-Động (6) sanh thọ-cảm;

Thọ-Cảm (7) sanh ái;

Ái (8) sanh bảo-thủ;

Bảo-Thủ (9) sanh hữu;

Hữu (10) sanh sanh;

Sanh (11) sanh lão-tử (12).

 

****************

 

THẬP NHỊ NHƠN-DUYÊN

 

Nhơn duyên thứ nhứt phát khởi từ màn vô-minh mà che lấp bản ngã (linh-hồn) nên làm cho người phảităm tối mê saygây tạo ác nghiệp,chịu nẻo luân hồi thống khổ.  Đây là 12 duyên sanh: Vô-minh sanh hành, hành sanh thức, thức sanh danh-sắc, danh-sắc sanh lục-nhập, lục-nhập sanh xúc-động, xúc-động sanh thọ-cảm, thọ-cảm sanh ái, ái sanh bảo-thủ, bảo-thủ sanh hữu, hữu sanh sanh, sanh sanh lão-tử. 

 

Đó là 12 duyên-sanh, nó dắt đi từ kiếp nầy đến kiếp kia không có dứt; cáivô-minh nghĩa là tối tăm mê dốt, từ hồi vô-thỉ.  Có mê dốt ta mới hành-động, rồi hành-động ấy sanh ra muôn pháp, nên mới có cái thức (biết), ví như loài cây cỏ, sắt đá (vô tình) không biết chi cả, đâu có danh-sắc, còn ta là loài hữu-tình cái biết ấy nên có xác-thịt và linh-hồn, danh-sắc.  Xác thịt và linh-hồn có thì phải có 6 căn: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý nhiễm với 6 trần là: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp nên gọi là lục-nhập.  Có lục-nhập mới có tiếp-xúc với mọi người và vạn vật, nên gọi là xúc-động, rồi từ chỗ tiếp-xúc mới thọ hưởng của tiền-trần nên gọi làthọ-cảm.  Có thọ-cảm, thọ hưởng của tiền-trần rồi mới có cái ưa thích, quyến luyến, thâm tình nên gọi là ái.

 

Muôn việc chi ở đời, nếu ta yêu thích cái điều đó, thì ta phải gắng công giữ-gìn chặt-chịa nên gọi là bảo-thủ; mà gìn-giữ chặt chịa thì mới có sống, nếu không, làm sao mà ta sống, nên gọi làhữu.  Rồi cái sống ấy, mến tiếc ấy mới đầu thai trở lại cõi trần đặng hưởng dụng nên gọi là sanh.  Muôn loài vạn vật hễ sanh ra thì lớn, hễ lớn thì sẽ già bị trong tứ đại (đất, nước, gió, lửa) làm nên nào là tứ thời, cảm-mạo bất hòa, hễ già thì yếu đau, nếu đau tất là phải chết nên gọi là lão, tử.  Ấy vậy cái nghiệp-nhơn của già chết, ấy là tại cái vô-minh mà ra tất cả.

 

 

2 Attachments

15a- THẬP NHỊ NHƠN-DUYÊN – Microsoft Word.doc
15b- THAP NHI NHON-DUYEN – pdf.pdf
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

ĐỨC PHẬT ĐỐI VỚI CHÚNG-SANH

ĐỨC PHẬT ĐỐI VỚI CHÚNG-SANH

 

–       Đức Phật đối với chúng-sanh và môn-đồ như người cha đối với các hạng con. 

–       Phật yêu hết chúng sanh, dầu duyên-nghiệpchẳng đồng nhautu cao thấp khác nhau, nhưng mỗi chúng-sanh đều có Phật tánh.

–       Lòng từ-bi của Phật, thương xótdạy-dỗchúng-sanh, nhưng mà sự gần gũi và ban phước-huệ vẫn có khác, vì phải tùy theo mỗi kẻ tín-đồ:

o  Người tín-đồ vâng lời, lo học hỏikiếm đạo mầuquí trọng chuyện lànhquí trọng kinh luậtgiữ theo giới-luậtcẩn thận từ lời nói việc làm thì Phật thường gần-gũi hơn và thường ban thưởng

o  Những tín-đồ dối tuchẳng vâng lời dạy,chẳng giữ giới-luật thì trên là Đức Phật và dưới là ông Thầy của kẻ ấy chỉ lấy lòng từ-bi mà nhận sự trách-cứ, chớ không thế nào mà gần-gũi và ban phước-huệ cho kẻ chẳng thành-tín kia đặng.

 

****************

 

ĐỨC PHẬT ĐỐI VỚI CHÚNG-SANH

 

Một ông cha ở trong gia-đình vẫn có lòng thương xót hết các con, dù lớn nhỏ, khôn dại gì cũng vậy.  Tại sao? Vì xét ra lớn nhỏ là tại đứa sanh ra trước, đứa sanh sau; khôn dại là tại đứa chăm học cùng biếng trễ, chớ cũngđồng là con đều do huyết nhục sanh ra. Vậy bổn-phận ông cha thì hết lòng lo dạy-dỗ các con, lo-lắng cho có gia-cư, nghiệp-nghệ, tài-sản để cho con, ruộng đất cho con.  Vậy thì tình thương vẫn đồng, mà cái chỗ âu-yếm ban thưởng nhiều khi có khác, ấy là phải tùy theo mỗi đứa. 

 

Tại sao vậy?  Vì đứa nào hiếu thuận từ-hòa, dễ dạy, dễ hiểu, thì ông cha âu yếm hơn đứa ngỗ-nghịch, bạo tàn.  Với đứa khó dạy thì ông chỉ biết than-thở mà thôi, chớ không thể âu-yếm đặng.  Còn đứa nào cần-kiệm, lo giữ-gìn gia-sản của cha nó, chẳng cho hư-hoại, cẩn thận từ ly, dầu lời nói hay việc làm để bảo tồn danh-giá của cha nó, thì cha nó hằng ngày ban thưởng cho nó luôn, chớ không thể ban thưởng cho những đứa hoang chơi, tàn phá sự-nghiệp, làm những điều điếm-nhục gia môn!  Những đứa ấy, ông cho có thể nén lòng mà rước lấy sự chế-nhạo, trách-cứ là nhiều lắm rồi, chớ làm sao mà ban thưởng đặng.

 

Cũng mường tượng như trên, hỡi các người!  Đức Phật đối với chúng-sanhvà môn-đồ như người cha đối với các hạng con trên đây vậy.  Phật cũng yêu hết chúng sanh, dầu kẻ ngu người trí, yêu tất cả môn-đồ (dầu kẻ biếng-nhác với kẻ siêng-năng).  Bởi tại duyên-nghiệp mỗi chúng-sanh chẳng đồng nhau, tu cao thấp khác nhau, nhưng mỗi chúng-sanh đều có Phật tánh. Vậy lòng từ-bi của Phật là vì thương xót chúng-sanh, lo dạy-dỗ chúng-sanh, nhưng mà sự gần gũi và ban phước-huệ vẫn có khác, vì phải tùy theo mỗi kẻ tín-đồ

 

Người tín-đồ nào hằng ngày vâng lời Phật dạy, rán lo học hỏi, tìm kiếm đạo mầu, quí trọng chuyện lành thìPhật thường gần-gũi hơn đứa đã dạy nhiều lần mà chẳng chịu nghe theo, và thường ban thưởng cho kẻ tín-đồ nàoquí trọng kinh luật của Phật, chăm lòng giữ theo giới-luậtcẩn thận từ lời nói việc làm, đừng để cho người ta nhạo-báng Phật hay chê-bai Thầy của mình.  Còn những kẻ tín-đồ dối tu,chẳng vâng lời dạychẳng giữ giới-luật thì trên là Đức Phật và dưới là ông Thầy của kẻ ấy chỉ lấy lòng từ-bi mà nhận sự trách-cứ của kẻ ngoại đạo, chớ không thế nào mà gần-gũi và ban phước-huệ cho kẻ chẳng thành-tín kia đặng.

 

Bạc-liêu, ngày 24-8 Nhâm-Ngũ (1942)

2 Attachments

14a- ĐỨC PHẬT ĐỐI VỚI CHÚNG-SANH – Microsoft Word.doc
14b- ÐUC PHAT ÐOI VOI CHUNG-SANH – pdf.pdf
Categories: Đức Huỳnh Giáo Chủ | Leave a comment

TIN VUI ĐẦU NĂM

TIN VUI ĐẦU NĂM
QUỐC HỘI TIỂU BANG VIRGINIA HOA KỲ
VINH DANH VIỆT NAM CỘNG HÒA. 10/2/2014
 
 
(VNCHF)…Với ánh mắt cảm thông và ngưỡng mộ, 40 vị Thượng Nghị Sĩ đã đồng loạt đứng dậy vổ tay chào mừng Phái Đoàn VNCH đang có mặt trong Tòa Đại Sảnh của Quốc Hội Tiểu Bang Virginia Hoa Kỳ, trong một tràng  pháo tay nồng nhiệt và kéo dài đến độ ai cũng phải ngạc nhiên. Quốc Hội Tiểu Bang Virginia qua Nghị Quyết J.R. 455 Vinh danh về những thành quả chiến đấu cũng như sự hy sinh của Quân Lực VNCH đã đạt được sự đồng thuận gần như tuyệt đối của Lưởng viện Quốc Hội Virginia.139/140. 
 
 
Lúc bấy giờ về phía VNCH tất cả cũng đã đứng dậy nghiêm nghị lắng nghe những lời ca ngợi về sự chiến đấu và hy sinh của Quân Lực VNCH vang lên một cách trang trọng trong Phòng Hội lớn của Thượng Nghị Viện. Thượng Nghị Sĩ Dick Black người đầu tiên được mời phát biểu trong buổi lể  , Ông nói, đã đến lúc phải nhắc nhở  đến một đồng minh thân cận lâu năm của Hoa Kỳ và vinh danh cho họ, đó là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từng chiến đấu can trường trước sự xâm lăng của Cộng Sản Bắc Việt với sự hổ trợ của cả khối Cộng Sản Quốc Tế…  
 
 
Nghe những điều xác nhận nầy mọi người tham dự  ai cũng cảm thấy ấm lòng và rộn lên một cảm giác bùi ngùi khó tả, đâu đây có tiếng nấc sùi sụt, có người không ngăn được giọt lệ mùng vui tủi buồn lẩn lộn và đó là hình ảnh xúc động nhất, đáng ghi nhớ nhất trong Ngày Lể Vinh Danh Việt Nam Cộng Hòa tại Quốc Hội Tiểu Bang Virginia Hoa Kỳ vào lúc 12 giờ Ngày 10/2/2014 vừa qua.
 
Có thể nói đây là lần đầu tiên Việt Nam Cộng Hòa một đất Nước với nhiều oan khiên hệ lụy, từng chiến đấu một cách anh dũng để chống lại kẻ thù phương Bắc để bảo vệ miền Nam nhưng cuối cùng vì sa cơ thất thế nên đã bị Cộng Sản Việt Nam dùng vũ lực xâm chiếm một cách bất hợp lệ và cho đến hôm nay mới được chính giới Hoa Kỳ long trọng vinh danh một cách công khai sau 39 năm im lặng. Nhân vật được Phái Đoàn VNCH nói đến nhiều nhất là tác giả của Nghị Quyết JR 455  Thượng nghị sĩ Dick Black một cựu chiến binh Việt Nam từng vào sinh ra tử khi sát cánh chiến đấu bên cạnh người lính VNCH,
 
 
 Ông đã tham gia và chứng kiến những trận đánh khốc liệt từ trên đường phố (Tết Mậu Thân 1968) trên chiến trường (Mùa hè đỏ lửa 1972)  với sự chống trã mãnh liệt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cùng với những hy sinh gian khổ cũng như thiệt thòi của họ vì thế đối với Ông VNCH là một ấn tượng sâu sắc và bi thãm nhất, vì vậy nhân kỷ niệm 1 năm ngày ban hành Nghị Quyết JR 455 Ông nhấn mạnh là mong muốn tất cả mọi người phải biết đến công lao của người Lính VNCH và qua việc vi phạm Hiệp Định Paris 1973 cưởng chiếm VNCH một cách thô bạo của Việt Cộng chứng tỏ VNCH vẩn còn chứ không phải đã mất như 1 số người đã nói. Thượng Nghị Sĩ Dick Black còn thố lộ tâm sự là Ông muốn trở thành một công dân danh dự của Nước VNCH.
 
 
Mặc dù sự chuẩn bị vội vàng gấp rút, trong cái giá lạnh của miền đông Nước Mỹ, Phái Đoàn VNCH đã có khoảng 40 người tham dự gồm có Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích và một số thành viên trong Uỷ Ban LDLTVNCH. Dân Biểu VNCH Lý Hiền Tài, Ông Đoàn Hữu Định Chủ Tịch Cộng Đồng VN tại DC-MD-VA, Ông Nguyễn Mậu Trinh Chủ Tịch Hội Cao Niên, Ông Huỳnh Hiệp, Nguyên P.HT/BTS/GH-PGHH/HN, Tăng Văn Tuệ, Châu Thành từ Richmond cùng với các vị đại diện Tôn Giáo như Công Giáo, Phật Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo và Tin Lành. Ông Phan Văn Tính, Cô Mỹ Lan là những người đã góp phần vận động Nghị Quyết JR 455, Về Quân Đội có Thiếu Tướng Trần Quang Khôi, Đề Đốc Đinh Mạnh Hùng, Trung Tá Người Nhái Nguyễn Văn Tiên, Văn Kỳ Biệt Động Quân, Từ California có Nhạc Sĩ Hồ Văn Sinh, Cô Diệu Chi Sĩ quan Nữ Quân Nhân và một số các chị phụ nữ tại địa phương lộng lẩy trong chiếc áo dài màu vàng với banner cờ vàng 3 sọc đỏ đã làm tăng thêm màu sắc của Quân Dân Cán Chính VNCH trong ngày Lể Vinh Danh lịch sử cho Việt Nam Cộng Hòa. Ngoài ra còn có một số báo chí địa phương và Cô Destiny Huỳnh của Đài Truyền Hình SBTN thực hiện các phóng sự tại chổ rất sống động. Đài SBTV là Đài duy nhất lấy hình ảnh của buổi lễ từ đầu cho đến lúc cuối.
 
Sau buổi lể vinh danh toàn thể Phái Đoàn VNCH đã được mời tham dự bửa tiệc do Hiệp Hội Thương Mại Á Châu VA khoản đãi, trong một bầu không khí rất vui tươi thân mật như tình quân dân cá với nước,  truớc khi nhập tiệc mọi người đã trao đổi các ý kiến, nhận xét nhưng tựu chung đã toát ra một tinh thần đoàn kết hướng về quê hương đất Nước, mọi người ai cũng vui và phải nói là lên tinh thần. Rồi cuộc vui cũng tàn  mọi người lưu luyến chia tay tất cả đều hẹn nhau trong những ngày sắp tới với quyết tâm giương cao ngọn cờ vàng chính nghĩa, đấu tranh cho một ngày về trên đất Mẹ Việt Nam.
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Blog at WordPress.com.