Daily Archives: March 14, 2014

ĐƠN TỐ CÁO NHÀ CẦM QUYỀN CỘNG SẢN VIỆT NAM BẮT GIAM TÙY TIỆN

ĐƠN TỐ CÁO NHÀ CẦM QUYỀN CỘNG SẢN VIỆT NAM BẮT GIAM TÙY TIỆN VÀ VI PHẠM CÔNG ƯỚC LIÊN HIỆP QUỐC CHỐNG TRA TẤN

QLB Kính gởi Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc UNHRC.

Đồng kính gởi:
– Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc HRC.
– Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền HRW.
– Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế Amnesty International,
– Quốc Hội Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ,
– Quốc Hội Liên Minh Châu Âu,

Chúng tôi xin gởi đến quý cơ quan Đơn Tố Cáo Đảng Và Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam Bắt Giam Công Dân Tùy Tiện Và Vi Phạm Công Ước Liên Hiệp Quốc Chống Tra Tấn, Nhục Hình – UNCAT – mà Việt Nam đã tham gia ký kết ngày 7 tháng 11 năm 2013, như sau:
Vào ngày 11 tháng 02 năm 2014 vừa qua nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã triển khai một lực lượng công an và cảnh sát lên đến hàng ngàn người tại xã Long Hưng, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp phục kích và bất ngờ tấn công đánh đập rất dã man 21 công dân là những cựu tù nhân lương tâm và các tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, khi những công dân này đang trên đường đến viếng thăm gia đình cựu tù Nguyễn Bắc Truyển tại ấp Hưng Nhơn, xã Long Hưng, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp, là gia đình đã bị lực lượng công an và cảnh sát cơ động tỉnh Đồng Tháp tấn công, phá hủy tài sản đồng thời bắt giữ cựu tù Nguyễn Bắc Truyển vào ngày 09 tháng 02 năm 2014, tức là hai ngày trước đó.

Kính thưa quý cơ quan,

Cả đoàn 21 người gồm cả tu sỹ Phật Giáo Hòa Hảo, Cư Sỹ và nữ tín đồ đã bị đã thương đẫm máu trước khi bị giam giữ vô cớ suốt hai ngày hai đêm trong điều kiện nơi giam giữ hết sức tối tăm, ô nhiễm và tệ hại hơn nữa là trong suốt thời gian giam giữ, nhà chức trách không hề cung cấp thức ăn, nước uống cho các công dân này rõ ràng là một loại nhục hình man rợ mà nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam áp dụng với công dân của mình là những người hoàn toàn không phạm pháp.

Đến nay, dù 18 công dân bị hành hung và giam giữ vô cớ đó đã phóng thích, riêng ​ 3​ công dân Bùi Thị Minh Hằng, ​Nguyễn Thị Thúy Quỳnh và Nguyễn Văn Minh hiện đã bị chuyển đến giam giữ tại trại giam An Bình là một trại giam thuộc Bộ Công An, tọa lạc tại Phường An Bình, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, mà không có bất cứ một lý do nào cho hành vi bắt bớ và giam cầm của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam.

Kính thưa quý cơ quan,

Việc bắt người, tạm giữ, tạm giam là những biện pháp cưỡng chế cần thiết do các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án áp dụng đối với bị can, bị cáo, là những người vi phạm pháp luật, trong trường hợp phạm tội quả tang và trong trường hợp khẩn cấp, nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án. Nhưng các công dân Bùi Thị Minh Hằng, ​Nguyễn Thị Thúy Quỳnh và Nguyễn Văn Minh chỉ tham gia viếng thăm một gia đình đang bị nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đàn áp, chứ không hề có bất cứ hành vi nào vi phạm pháp luật nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, hoặc đe dọa đến nền an ninh của Việt Nam thì việc tấn công, tra tấn và giam giữ mà các cơ quan an ninh tại huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp thực hiện đối với 21 công dân Việt Nam và đối với công dân Bùi Thị Minh Hằng chẳng những vi phạm Hiếp Pháp và Pháp Luật Việt Nam mà còn vi phạm Công Ước Liên Hiệp Quốc về chống bắt giam tùy tiện, chống tra tấn nhục hình mà nhà nước Việt Nam đã tham gia ký kết.

Kính thưa quý cơ quan,

Hiến Pháp nước cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam có những điều khoản liên quan đến quyền con người như sau:

Điều 71 Hiến pháp 1992 và 2013 quy định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật. Nghiêm cấm mọi hành vi truy bức, nhục hình xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”.
Điều 72 Hiến pháp 1992 và 2013 cũng nhấn mạnh: “Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh.

Vậy mà trong thực tế nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam thường xuyên xâm phạm về thân thể, sức khỏe và tính mạng công dân cũng như thường xuyên bắt bớ, giam giữ những người vô tội mà ngay cả báo chí của nhà nước cộng sản Việt Nam cũng thừa nhận rằng hàng ngàn công dân Việt Nam từng bị bức cung, nhục hình và chịu án tù oan sai, thế nhưng vẫn chưa có bất cứ một giải pháp nào hầu có thể chấm dứt những hành vi vi phạm hiến pháp, pháp luật nhà nước, cũng như các công ước Liên Hiệp Quốc, của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam.

Chúng tôi xin tố cáo tội ác chống lại dân tộc, chống lại đồng bào mình của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam qua sự kiện mới nhất là hành hung, bắt giữ 21 công dân và việc đang giam giữ công dân Bùi Thị Minh Hằng hiện nay.

Chúng tôi kính mong quý cơ quan Liên Hiệp Quốc, Hội Ân Xá Quốc Tế, Chính phủ, Quốc Hội Hoa Kỳ, Quốc Hội Liên Minh Châu Âu, Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, xem xét tư cách Thành Viên Hội Đồng Nhân Quyền, thành viên Tổ Chức Thương Mại Thế Giới WTO – Kính mong Quốc Hội và chính phủ Hoa Kỳ ngăn chặn Việt Nam gia nhập Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) … mà Việt Nam đang vận động để được gia nhập, vì những thành tích nhân quyền vô cùng tồi tệ hiện nay của Việt Nam, như là một biện pháp chế tài nhằm giúp Việt Nam cải thiện dân chủ và nhân quyền để đủ tiêu chuẩn của một quốc gia văn minh, tiến bộ trong cộng đồng quốc tế.

Ngày 16 tháng 02 năm 2014
Người Tố Cáo
Nguyễn Thu Trâm, Thành Viên Khối 8406.
Trưởng Phân Ban Báo Chí Hội Ái hữu Tù Nhân Chính Trị Và Tôn Giáo Việt Nam
Đồng Ký Đơn Tố Cáo 1. Thượng Tọa Thích Thiện Minh.
2. Linh Mục Nguyễn Hữu Giải
3. Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế.
4. Linh Mục Phan Văn Lợi
5. MS. Nguyễn Hồng Quang.
6. Hòa Thượng Thích Nhật Ban.
7. Kỹ Sư Trương Minh Nguyệt
8. Cư Sĩ Lê Minh Triết.
9. Cựu Tù Nhân Lương Tâm, Nguyễn Bắc Truyển
10. Bùi Minh Trung
11. Phạm Nhật Thịnh
12. Trần Văn Thường
14. Cựu Tù NLT, Huỳnh Anh Tú
15. Cự Tù NLT, Huỳnh Anh Trí
16. Tu Sĩ Võ Văn Thanh Liêm
17. Võ Văn Bửu
18. Võ Văn Bảo (con ông Bửu)
19. Bùi Thị Thúy
20. Võ Thị Ánh Tuyết (Như Bửu)
21. Võ Thị Nhạn
22. Tô Văn Mãnh
23. Trương Kim Long

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

HUYẾT LỆ THƯ

  PHẬT GIÁO HÒA HẢO
                            THUẦN TÚY
                       CŨNG CỐ GIÁO QUYỀN-THỐNG NHẤT GIÁO HỘI-XIỂN DƯƠNG GIÁO PHÁP
                                           ——————————————————————————-
 
                              HUYẾT LỆ THƯ
Kính gởi: Toàn thể tín hữu PGHH trong và ngoài nước,
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.
NAM MÔ LONG HOA GIÁO CHỦ ĐƯƠNG LAI HẠ SANH DI LẶC TÔN PHẬT.
Thưa chư tín hữu thân mến,
Sáu mươi bảy năm trôi qua (1947-2014) bao nhiêu triệu tín đồ PGHH chúng ta phải sống trong một bối cảnh tâm tư thương nhớ đợi chờ . . . khắc khoải theo năm tháng.
Con lạc cha con hỡi u ơ,
Thấy lạc tớ ngẩn ngơ thương mến.
Bao nhiêu giọt nước mắt đã rơi ! Khi nghĩ đến Đức Tôn Sư kính yêu và nhớ đến những lời Ngài phán dạy:
-Từ nay cách biệt xa ngàn,
Ai người tâm đạo đừng toan phụ Thầy.
-Giảng kinh đọc tụng chiều mai,
Làm theo lời chỉ ngày rày gặp ta.
-Ít lâu ta cũng trở về,
Khuyên trong bổn Đạo chớ hề lãng xao . . .
-Sống sanh ra phận râu mày,
Một Đời một Đạo đến ngày chung thân . . .
-Cả kêu lớn nhỏ quay về,
Trên hòa dưới thuận chớ lìa chớ phân . . .
-Từ trên tới dưới thuận hòa,
Hay hơn châu báu ngọc ngà giàu sang . . .
-Đạo diệu mầu gặp lúc truân chuyên,
Phận môn đệ phải lo vun quén . .
Đó ! Tôi xin nhắc lại một ít câu trong muôn ngàn câu phán dạy của Đức Thầy để 7 triệu tín hữu tự xem xét bản thân coi trong 67 năm qua mình làm được gì đúng, đã làm những gì sai mà thành tâm cải hối.
Đức Phật phán: “Trên đời có 2 hạng người đáng quí: một là những người chưa bao giờ lầm lỗi, hai là hạng người đã phạm lầm lỗi mà biết thành tâm cải hóa . . .” Tên đồ tể biết buông con dao sát sanh vẫn được chứng quả . . . Quay lại ắt thấy bờ . . .
Sáu mươi bảy năm trôi qua như mây gió cuốn, vật đổi sao dời, tang thương biến cố . . . lòng chúng ta , người tín đồ, vẫn canh cánh bên lòng nỗi niềm u uẩn: NHỚ THẦY ! ! !
Hai mươi bảy năm đầu (1947-1975)  niềm thương nỗi nhớ này được vơi đi đôi phần là nhờ mỗi năm chúng ta được tổ chức lễ kỷ niệm ngày Đức Thầy vắng mặt. Nhưng buồn thảm thay! 38 năm sau cùng này (1975-2013) từ ngày đảng csVN cưỡng chiếm Miền Nam thì nhà cầm quyền cs triệt để cấm tổ chức ngày lễ này, dồn ép chúng ta vào một cuộc sống : tâm tư âm thầm thảm thiết !. . . khiến cho một số tín đồ “tận trung với Đạo, tận hiếu với Thầy” phải trải qua bao nhiêu đêm :
“Đêm dài tỉnh tỉnh mê mê,
Nhớ Thầy thương Đạo não nề tâm can . . .”
“con giun giẫm lắm cũng quằn” . Sự chịu đựng nào cũng đều phải có giới hạn. Tại sao tín đồ PGHH không được tổ chức lễ kỷ niệm Đức Giáo Chủ ? Trong lúc Phật Giáo, Thiên Chúa, Tin Lành, Cao Đài . . . các miếu môn, đình chùa đều được tổ chức lễ kỷ niệm ? ? ?
Đảng csVN đã thực thi một chính sách quá ư tàn nhẫn đối với PGHH , vì sao ? ? ? Phải chăng vì chúng ta , người tín đồ PGHH quá khiếp nhược, cam tâm để cho kẻ ác gian chà đạp? Chà đạp trên danh dự bản thân, chà đạp trên danh dự của Đạo pháp ! Nhục thay !
Trông phường giá áo túi cơm,
Trông phường úy tử mà nhòm đi thôi . . .
Sự nhục nhã nói trên đã đến lúc không còn kéo dài được nữa.
Phải trổi dậy nương dây hùng tráng,
Chữ Đại Hùng, Đại lực từ bi.
Vậy mới trang quân tử nam nhi,
Thân dốc vẹn hai câu ngay thảo . . .
Năm nay (2014) tôi và anh em tín đồ quyết tâm tổ chức ngày Đại Lễ 25-2 âl này tại nhà ông Nguyễn Văn Vinh số 393, Tổ 10, Ấp Long Hòa, Xã Long Giang, huyện Chợ Mới (An Giang) dù phải trả mọi giá . . . dù phải xương rơi máu đổ . . . dù phải tội tù . . .dù phải nhà tan cửa nát  để làm rạng danh Đạo, rỡ danh Thầy.
Nhân danh Giáo Hội PGHH Thuần Túy, tôi trân trọng kính mời toàn thể tín hữu, mọi thành phần, mọi tổ chức xin quang lâm tham dự buổi lễ tại địa điểm kể trên để tăng thêm phần trọng thể, đồng thời biểu dương tinh thần keo sơn của người tín đồ PGHH, dù trời long đất lỡ, dù vật đổi sao dời, dù trải qua bao nhiêu mưu ma chước quỷ của cường quyền bạo lực muốn triệt tiêu PGHH . . . nhưng PGHH vẫn là PGHH, là môn đệ của Đức Huỳnh Giáo Chủ.
Chúng tôi sẽ nghiêng mình nghênh tiếp chư tín hữu, dù là trong khối truyền thống, dù là trong hàng ngũ quốc doanh . . .  vì thời thế, vì hoàn cảnh, nên có truyền thống, có quốc doanh, có riêng, có rẽ . . . nhưng tận tâm tư của toàn thể 7 triệu tín đồ PGHH chúng ta chỉ có một Tôn sư: Đức Huỳnh Giáo Chủ . . . chỉ có một nguồn Đạo pháp: PHẬT GIÁO HÒA HẢO.
Thương nhau như thể thương Thầy,
Ghét nhau như thể ghét Thầy sao nên.
 
-NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ MUÔN NĂM.
PGHH TRƯỜNG TỒN BẤT DIỆT.
Ngày  3 tháng 3 năm 2014.
Hội Trưởng Trung Ương Giáo Hội PGHH Thuần Túy.
                   LÊ QUANG LIÊM
About these ads

Occasionally, some of your visitors may see an advertisement here.

Tell me more | Dismiss this message

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Bức Tâm Thư của người tù chính trị lão thành – ông Lê Văn Tính

Bức Tâm Thư của người tù chính trị lão thành – ông Lê Văn Tính

VRNs (13.3.2014) – Sài Gòn – Ngày 22.2.2014 vừa qua, từ khu biệt giam K2 thuộc trại giam An Phước, Bình Dương, tù nhân chính trị Lê Văn Tính đã viết một bức Tâm Thư dài 6 trang gửi cho những người bạn của mình.
Trong bức Tâm Thư, ông Lê Văn Tính đã mở đầu về những năm dài ở tù sau biến cố năm 1975 như sau: “Tuyệt đại đa số các anh chị có tầm cỡ thuộc hàng chính trị gia lão thành cũng đều có chung nhận xét đơn giản là đặt hy vọng, tin tưởng vào giải pháp Hòa hợp, Hòa giải dân tộc – Chính phủ ba thành phần theo tinh thần Hiệp định… Thế nhưng, sáng hôm sau (30/4), một tiếng sét long trời lở đất giáng xuống đầu cho cả bộ máy chính quyền VNCH…” Sau biến cố này, ông Tính đã phải ngồi tù “hết 9 năm 8 tháng”.
Mở đầu cho 20 năm ngồi tù tiếp theo, ông Lê Văn Tính viết: “Lẽ ra tôi đã cùng đi tị nạn theo diện HO, nhưng tôi quyết tâm ở lại để còn có thể chung tay góp sức một cách trực tiếp với các phong trào đấu tranh …”. Sau đó, ông Tính cho biết ông đã bị kết án 20 năm tù vì “trốn đi nước ngoài để chống chính quyền nhân dân”.
Nhà tù đã không thể làm lụt ý chí, sự cương quyết để đấu tranh cho một đất nước “tự do, dân chủ và nhân quyền” nơi những tù nhân này. Ông cùng với những người bạn tù chính trị của mình “luôn thể hiện tinh thần sắt thép đấu tranh đối với chúng nó, mặc dù bọn giám thị trại giam tìm đủ cách o bế, thuyết phục khuyên chúng tôi nên nhận tội để được giảm án …”.
Trong bức Tâm Thư ông Tính cũng tố cáo “chính sách tàn nhẫn, vô nhân đạo” đối với các tù nhân chính trị khi ông đề cập đến những trường hợp cụ thể…Sau đó ông Tính còn đề cập đến một số vấn đề của đất nước, những việc mà người dấn thân cho dân chủ tại Việt Nam phải thực hiện…
Thiết nghĩ, người đọc sẽ nhận thấy nơi bức Tâm Thư ý chí, lòng quyết tâm, sự hy sinh và những thao thức cho một đất nước Việt Nam tốt đẹp hơn của ông Lê Văn Tính nói riêng và của các tù nhân lương tâm nói chung. Có lẽ vì vậy mà bức Tâm Thư được ghi rõ là gửi cho hai người bạn, nhưng ông Tính cũng muốn đưa chúng lên website để cho mọi người được rõ.
Được biết, ông Lê Văn Tính sinh năm 1940, từng là Cố vấn Ban trị sự Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo, Dân biểu trong Quốc hội Việt Nam Cộng Hòa. Sau biến cố 1975, ông Tính bị bắt và phải ngồi tù đến năm 1984. Ra khỏi tù, ông Tính sang Campuchia và tham gia đảng Nhân Dân Hành Động. Ông bị bắt vào ngày 25/01/1995 và bị dẫn độ về Việt Nam. Ngày 05/12/1996 Tòa án tỉnh An Giang kết án ông Tính 20 năm tù giam.
Mời quý vị đọc bức Tâm Thư của ông Lê Văn Tính:
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Tội ác của Trung Quốc trong trận chiến Gạc Ma

Tội ác của Trung Quốc trong trận

chiến Gạc Ma

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2014-03-13
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này

maclam03132014.mp3Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

gac-ma-305.jpg

Tàu HQ 604 của Việt Nam trước trận chiến Gạc Ma.

File photo

 

 

Mỗi năm vào ngày 14 tháng 3 các chiến sĩ trong trận hải chiến Gạc Ma lại ngậm ngùi nhớ về những phút giây bị tàu Trung Quốc tấn công và cách hành xử vô nhân đạo của họ đối với bộ đội Việt Nam. Hai mươi sáu năm sau, những giờ phút kinh hoàng đó vẫn đọng lại trong nhiều người tuy với suy nghĩ khác nhau nhưng cái chung vẫn là sự dã man của lính Trung Quốc.

Cuộc chiến không cân sức

Ngày 14 tháng 3 năm 1988 hải quân Trung Quốc đã đưa quân đánh chiến đảo Cô Lin, bãi đá Len Đao và bãi Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Lúc đó những đảo này còn rất hoang sơ mặc dù Việt Nam đã tổ chức tuần tra theo dõi nhưng vẫn chưa xây dựng kịp những căn cứ tạm thời chứng minh chủ quyền trên đó.

Trong lần đem bộ đội công binh hải quân ra đảo để xây dựng căn cứ, ba tàu vận tải của Việt Nam không được trang bị như tàu chiến mà chỉ có vũ khí cá nhân để tự vệ đã bị 6 tàu chiến Trung Quốc tấn công. Kết quả là ba tàu Việt Nam bị chìm, 64 bộ đội công binh hải quân hy sinh, 11 người khác bị thương trong khi đó Trung Quốc cũng báo cáo là có 24 binh sĩ bị giết.

Trung Quốc bất chấp luật lệ quốc tế nó không cần gì cả, đấy là trận chiến đấu không cân sức mà. Một bên là vũ trang còn một bên là xây dựng.
-Đại tá Phạm Xuân Phương

Cuộc chiến không cân sức này đã để lại không những dấu ấn lịch sử đối với người dân Việt Nam về sự mất mát đất đai của ông cha mà nó còn hằn sâu nỗi đau của những anh bộ đội công binh hải quân, những người may mắn sống sót nhưng trong ký ức họ vẫn đọng lại những hình ảnh dã man của giặc.

Anh Lê Hữu Thảo, một trong vài nhân chứng còn sống sót kể lại giây phút chính anh chứng kiến lính Trung Quốc bắn vào đồng đội đang ngụp lặn dưới biển khi tàu của họ đã bị chìm. Mặc dù họ không còn khả năng tự vệ hay không thể sống sót nếu không được vớt lên nhưng lính Trung Quốc vẫn điềm nhiên nhìn họ chết dần dưới biển. Anh Thảo kể:

“Hành động của Trung Quốc quá là dã man, nó dã man như thế này: nó sử dụng vũ khí, dùng lê nó đâm và nó bắn luôn bộ đội mình. Bộ đội mình thì chủ yếu là tay không trên tay chỉ có mấy cái xẻng, xà beng để làm việc xây dựng thôi chứ không phải chiến đấu. Nó dã man nhiều chỗ lắm, khi bộ đội mình bị tàu chìm rồi thì nó vẫn bắn giết. Nó bắn chết người đang trôi trên biển. Nó không làm đúng như trong nghĩa vụ quốc tế là khi đối phương bị rơi xuống biển không còn vũ khí nữa thì phải có trách nhiệm cứu vớt. Nó không hề cứu vớt, nó không làm gì cả. Nó rất dã man đề cho mình tự chết hoặc nó bắn cho mình chết để cho cá mập ăn.”

Đại tá Phạm Xuân Phương, một cán bộ cao cấp của Cục Chính trị xác nhận những chiếc tàu này là tàu vận tải, hoàn toàn không trang bị vũ khí như các tàu chiến nhưng vẫn bị Trung Quốc tấn công:

 

edu.vn-250.jpg
Một buổi thắp hương tưởng niệm 64 chiến sĩ tử trận trong trận chiến Gạc Ma 1988. Photo courtesy of edu.vn

 

“Cái trận đó không phải là trận chiến đấu giữa hai lực lượng hải quân với nhau mà bộ đội Việt Nam là bộ đội đi xây dựng, không vũ khí mà tàu là tàu xây dựng chở nguyên vật liệu xây dựng. Trung Quốc bất chấp luật lệ quốc tế nó không cần gì cả, đấy là trận chiến đấu không cân sức mà. Một bên là vũ trang còn một bên là xây dựng hai chuyện rất khác nhau. Chúng tôi cho rằng giữ được lá cờ và cố cho tàu đổ bộ lên trên đảo là hành động đáng khen ngợi trong hoàn cảnh như thế.”

Quy luật của chiến tranh là giết chóc và dành chiến thắng trên máu của quân thù, thế nhưng sự giết chóc nào cũng bị lên án nếu vượt quá phạm vi đạo đức con người cho phép. Ngay trong chiến tranh, sự đau thương mất mát và các hành vi tàn sát đối phương hàng loạt trong các trận chiến vẫn là nỗi ám ảnh nhân loại dẫn đến việc khai sinh Luật Nhân đạo quốc tế, một phần chủ yếu trong Công Pháp quốc tế bao gồm các quy tắc nhằm bảo vệ những người đã bị loại khỏi vòng chiến, hay không còn khả năng chiến đấu. Luật Nhân đạo quốc tế được bốn nước Liên xô, Mỹ, Anh và Pháp ký ngày 8 tháng 8 năm 1945.

Trái công ước quốc tế

Bên cạnh đó Công ước Geneve ra đời tiếp theo sau đã quy định cụ thể từng hành vi được định nghĩa là tội phạm chiến tranh nhằm hạn chế việc giết người của kẻ chiến thắng hay của một đạo quân, một nhóm, thậm chí một cá nhân đi ngược lại với những quy định trong công ước này.

Công ước Geneva năm 1949, còn gọi là Công ước Geneve thứ hai, và các Nghị định thư bổ sung I và II năm 1977 ghi thêm điều khoản bảo vệ cho các người bị ốm, bị thương trên chiến trường hay trong các trận hải chiến. Điều này cũng bao gồm việc bảo vệ cho các quân nhân bị đắm tàu​.

Những hành vi nào đi nữa trong chiến tranh mà đối xử tàn ác dã man đối với đồng loại đều đáng lên án, lên án một cách nghiêm khắc thậm chí còn phải lưu lại để người đời sau biết.
-GS Vũ Minh Giang

Trung Quốc tỏ ra không cần hiểu về nguyên tắc này nên quân đội của họ vô tư bắn vào kẻ thất trận, hơn nữa bỏ mặt nạn nhân giữa biển khơi cho cá mập ăn thịt là hành động của thời ăn lông ở lổ chứ không thể nói là của một quân đội nhất nhì thế giới. Những tuyên truyền về sự gìn giữ hòa bình của họ chỉ làm xấu thêm bộ mặt thật qua hai cuộc chiến với Việt Nam là cuộc chiến Biên giới 1979 và Gạc Ma năm 1988.

GS-TSKH Vũ Minh Giang Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết bất cứ ai cũng có thể lên án hành động sát nhân này, và cảm xúc ấy cần truyền lại cho người trẻ hơn để họ thấy và hiểu được lịch sử Việt Nam qua những cuộc chiến tranh giữ nước đối với giặc phương Bắc, ông nói:

“Cái cảm xúc của một con người, cảm xúc của một người bình thường thôi trước những hành vi vô nhân tính, dã man thì sẽ như thế nào? Đối với tôi những hành vi nào đi nữa trong chiến tranh mà đối xử tàn ác dã man đối với đồng loại đều đáng lên án, lên án một cách nghiêm khắc thậm chí còn phải lưu lại để người đời sau biết được cái đó. Với ý nghĩa đó sự kiện Gạc Ma thì như thế này: thứ nhất đây là câu chuyện có thể nói nó nằm trong cái mà chúng ta xác định đó là cuộc chiến tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam trước sự xâm lấn của Trung Quốc.

Với ý nghĩa đó rồi đây lịch sự thậm chí trong sách giáo khoa tức là phần phổ biến lịch sử phải ghi vào vì là đây là sự việc thiêng liêng của Việt Nam đã chuyển rất nhiều đời mà vẫn còn chuyển đến mai sau, chắc chắn là như thế và chúng tôi kiên quyết làm việc này bằng được.”

Nhìn Gạc Ma dưới lăng kính tội phạm chiến tranh không phải để mang Trung Quốc ra tòa hay cổ vũ cuộc chiến đã lùi vào quá khứ, nhưng không thể không nhắc nhở sự tàn ác này của quân đội Trung Quốc nhất là mỗi ngày nó mỗi lớn mạnh và tỏ ra nguy hiểm hơn đối với Việt Nam.

Và lại càng phải nhắc tới khi từng phần chủ quyền đất nước đang mòn dần nếu cứ tiếp tục im lặng trên cái nền của lý thuyết phát triển quan hệ hợp tác giữa hai nước cộng sản anh em.

 

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Kịch bản chính trị dành cho Trung Quốc: Xấu hay rất xấu?

Kịch bản chính trị dành cho Trung Quốc: Xấu hay rất xấu?

Phạm Chí Dũng

Sau vụ thảm sát ở Côn Minh, bầu không khí động loạn không chỉ áp chế xã hội mà cả với thể chế chính trị ở Trung Quốc. Những dấu hiệu ngày càng rõ nét về suy thoái kinh tế càng gợi cảm cho một cuộc khủng hoảng tương lai của đất nước “vĩ đại” này.

“Voi cưỡi xe đạp” – một hình ảnh mà giới quan sát phương Tây dành tặng cho Trung Quốc, xem ra đang mang tính linh ứng. Một lần nữa chúng ta cần phác ra những kịch bản biến động kinh tế – chính trị với độ dài trước mắt đến năm 2015 cho quốc gia vẫn đang say sưa với chủ thuyết “Trung Quốc trỗi dậy”.

* Kịch bản 1: Kinh tế ổn định, chính trị biến động nhẹ

Đây là kịch bản tối ưu mà những người luôn tự tôn với tư tưởng Đại Hán không thể kỳ vọng nhiều hơn cho một tương lai đầy bất trắc.

Ứng với kịch bản này, nền kinh tế duy trì được sự ổn định, lạm phát được kiểm soát dưới 10%, GDP tiếp tục duy trì mức tăng trưởng 9-9,5%, thị trường bất động sản không bị vỡ bong bóng, phần lớn các chính quyền địa phương thu xếp trả được nợ cho ngân hàng. Sự ổn định của nền kinh tế Trung Quốc cũng được hỗ trợ bởi khả năng nền kinh tế Mỹ và thế giới không bị rơi vào suy thoái kép, ít nhất trong năm 2014.

Hiện tại, điều kiện kinh tế thế giới đang khá thuận lợi cho kinh tế Trung Quốc, và đây chính là một trong những hỗ trợ lớn lao để Trung Quốc còn tạm giữ được thăng bằng trên thế đu dây giữa tăng trưởng nóng quá khứ và nợ xấu hiện tại.

Tuy nhiên một thực tế không thể phủ nhận là khoảng chênh lệch giàu – nghèo và hố phân cách xã hội vẫn hầu như chưa được cải thiện, nếu không muốn nói là vẫn tiếp tục xu thế giãn rộng hơn. Do đó về mặt xã hội, vẫn tiếp tục xảy ra những cuộc khiếu kiện đất đai, đình công, biểu tình quy mô nhỏ như tình trạng hiện nay. Những mâu thuẫn tại các khu tự trị Nội Mông, Tây Tạng và đặc biệt từ Tân Cương vẫn tiềm ẩn và không loại trừ phát sinh xung đột với quy mô nhỏ và trung bình.

Với những điều kiện kinh tế – xã hội trên, không khí chính trị tiếp tục duy trì ở mức độ bất ổn nhẹ (như hiện nay).Trước mắt, Tập Cận Bình vẫn củng cố được quyền lực và thực hiện chiến dịch “diệt cả hổ lẫn ruồi” cùng kế hoạch cải cách trung hạn. Tuy nhiên, không loại trừ những cải cách này sẽ vấp phải sự phản ứng thù địch từ các nhóm lợi ích dày đặc trong giới quan chứccao cấp Trung Quốc, dẫn đến những âm mưu phản nghịch ngấm ngầm.

Đây cũng là trường hợp mà một giáo sư kinh tế chính trị học của Đại học Havard – Dani Rodrik – cho rằng “Kinh tế tốt không phải luôn là chính trị tốt” (Good economics need not always mean good).

* Kịch bản 2: Kinh tế suy thoái, chính trị biến động tương đối mạnh

Kịch bản này đang có một số dấu hiệu xảy ra khi trong hai năm 2012 và 2013, nền kinh tế Trung Quốc không còn duy trì được sự ổn định khi mức tăng GDP giảm xuống còn 6-7%. Trên thực tế theo giới phân tích độc lập, mức tăng GDP của Trung Quốc chỉ là 3-4%.

Thị trường bất động sản tuy vẫn chưa xuất hiện nhiều dấu hiệu vỡ bong bóng, nhưng nghịch lý là mặt bằng giá treo cao song nợ xấu của các chính quyền địa phương đối với ngân hàng cũng tăng lên. Một báo cáo vào cuối năm 2013 của chính Ngân hàng trung ương Trung Quốc đã phải thừa nhận số nợ xấu của chính quyền địa phương không phải là 1.500 tỷ USD như công bố vào năm 2011, mà đã lên đến 3.000 tỷ USD.

Cùng với hiện tượng tư bản nước ngoài rút vốn khỏi thị trường tài chính, vận động đi ngang của thị trường chứng khoán mà không thể “cất cánh” như kỳ vọng, và nguy cơ vỡ nợ trái phiếu lẫn phá sản cận kề đối với một số tập đoàn và ngân hàng, Có khả năng bắt đầu từ năm 2015, nền kinh tế Trung Quốc sẽ chính thức dặt chân vào giai đoạn suy thoái, dẫn tới suy thoái nặng nề trong một số năm sau đó cùng tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt.

Ứng với những điều kiện kinh tế trên, làn sóng bất mãn xã hội vốn tích tụ nhiều năm nay có thể tăng lên, thậm chí tăng đáng kể. Có khả năng xuất hiện nhiều hơn số lượng các cuộc khiếu kiện đất đai, đình công, cùng biểu tình đòi quyền dân chủ. Nếu các hoạt động mang tính phản ứng xã hội này có mối liên hệ và cộng hưởng vào một thời điểm nào đó thì có thể dẫn đến những cuộc biểu tình phức hợp, tạo thành phong trào phản kháng mạnh mẽ đa thành phần với quy mô lớn, dẫn đến xáo trộn khá mạnh về không khí chính trị và cũng có thể dẫn đến xung đột với hình thức bạo động, bạo loạn với các cơ quan chính quyền và cảnh sát.

Nếu khả năng trên xảy ra, không có nhiều hy vọng để Bắc Kinh sẽ kiềm chế được hoạt động đòi tự trị, dân sinh và dân chủ tại các khu vực Tây Tạng, Tân Cương và Nội Mông. Hoạt động phản kháng này sẽ trở nên phức tạp hơn hẳn và có thể dẫn đến sự xung đột (bạo động, bạo loạn) ở quy mô lớn tại các khu vực này.

Kịch bản trên vẫn có thể xảy ra đối với Trung Quốc ngay cả trong điều kiện nền kinh tế thế giới không bị rơi vào suy thoái kép.

Đây là kịch bản đang có xác suất xảy ra cao nhất đối với Trung Quốc trong những năm tới.Tuổi thọ tối đa của đảng cầm quyền Trung Quốc ứng với kịch bản này sẽ chấm dứt vào những năm 2022-2023.

* Kịch bản 3: Kinh tế suy thoái, chính trị biến động mạnh

Trong trường hợp xấu nhất, nền kinh tế thế giới rơi vào suy thoái kép và kinh tế Trung Quốc cũng chịu hệ lụy tương ứng.Thị trường xuất khẩu của Trung Quốc sẽ bị hạn hẹp đáng kể. Đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc cũng giảm mạnh, kéo theo tỷ lệ thất nghiệp tăng mạnh. Khi đó, GDP Trung Quốc có thể giảm xuống còn 4-5% và lạm phát tăng vọt từ15-20%. Tình hình này gần như chắc chắn sẽ làm cho bong bóng bất động sản bùng vỡ, giá bất động sản giảm rất mạnh (trên 50% hoặc hơn) với thanh khoản kém. Mặt khác, chính quyền địa phương gần như mất khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng, dẫn đến phản ứng dây chuyền về việc phá sản của một số ngân hàng lớn và làm chao đảo hệ thống tài chính quốc dân.

Những điều kiện kinh tế trên cũng là ngòi nổ cho các hoạt động phản ứng và phản kháng xã hội. Khiếu kiện đất đai, đình công và các biểu tình đòi quyền dân sinh, dân chủ sẽ trở thành các phong trào diễn ra liên tục, quy mô tăng dần, lan rộng tại nhiều tỉnh và thành phố, hoàn toàn có thể dẫn đến xung đột mạnh với chính quyền. Không loại trừ sự kết hợp và cộng hưởng giữa các hoạt động phản kháng xã hội có thể dẫn tới yêu sách thay đổi thể chế chính trị, mà về thực chất có thể xem là “cách mạng hoa nhài” như đã từng xảy ra ở Bắc Phi và Trung Đông vào những tháng đầu năm 2011.

Những điều kiện kinh tế – xã hội và chính trị trên cũng là nhân tố kích thích các phong trào phản kháng rộng lớn ở Tân Cương, Tây Tạng và Nội Mông.Tương ứng với điều kiện đặc thù về lịch sử của các khu vực này, không loại trừ quá trình xung đột bình thường và tự phát có thể dẫn tới những cuộc xung đột vũ trang có tổ chức và gây nguy hiểm cho sự tồn tại của thể chế chính trị ở Trung Quốc.

Tuổi thọ tối đa của đảng cầm quyền Trung Quốc ứng với kịch bản này sẽ chấm dứt vào những năm 2019-2020.

Nhận định

Trong vài năm qua, khả năng tốt nhất (kịch bản 1) đã gần như trôi qua. Một cuộc “cách mạng” về thể chế kinh tế của Tập Cận Bình tại Hội nghị trung ương đảng vào tháng 11/2013 đã không thể làm được những mục tiêu mà ông ta nhắm tới: mở rộng cơ chế sở hữu đất đai, xóa độc quyền và cải cách hệ thống ngân hàng. Sau đó, vị tổng bí thư đảng kiêm chủ tịch nước này đành phải quay lại phương pháp truyền thống: sáng lập một ủy ban an ninh quốc gia và tìm cách bóp nghẹt các hoạt động dân chủ và nhân quyền.

Chỉ còn khả năng cho hai kịch bản sau, ứng với nền kinh tế đang có dấu hiệu suy giảm và luôn tiềm ẩn một cơn nguy biến về nợ xấu bất động sản và bong bóng tín dụng.

Dù chưa biết kịch bản 2 hay kịch bản 3 sẽ chiếm ưu thế, nhưng điều có thể chắc chắn là đảng cầm quyền ở Trung Quốc sẽ không thể hạ cánh mềm trong tương lai không quá xa.

Tương lai đó có thể kéo dài sự tồn tại của đảng cầm quyền Trung Quốc từ 7-10 năm, như một kết quả khảo sát vào năm 2013 của một cơ quan nghiên cứu Anh quốc.

Và tương lai không mấy sáng sủa như thế cũng có thể tác động đến tình hình Việt Nam, nhưng lại theo một khía cạnh mà đại đa số dân chúng và những người yêu chuộng dân chủ nhân quyền nước Việt đặc biệt mong muốn: một Trung Quốc đang chìm nghỉm sẽ khó có thể can thiệp sâu vào đời sống chính trị và nền kinh tế của người dân Việt.

Thậm chí Bắc Kinh cũng không đủ tiền và nhiệt tâm để cung cấp một “gói kích thích” đủ dày nào, ngay cả khi Hà Nội lâm vào khủng hoảng chính trị trong ít năm tới…

P.C.D.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Ghi chú: Mời xem lại bài “Kịch bản nào về những biến động trong lòng Trung Quốc?” đăng trênBauxite VN ngày 26/7/2011 của cùng tác giả. Đây là bài viết đầu tiên của nhà báo Phạm Chí Dũng ở “Lề trái”, trước khi anh bị bắt khẩn cấp với tội danh “âm mưu lật đổ chính quyền” đúng một năm sau đó, vào tháng 7/2012.

***

Kịch bản nào về những biến động trong lòng Trung Quốc?

TS. Phạm Chí Dũng

Phần 1. Xu thế phản kháng trong lòng xã hội Trung Quốc

Vòng cung Tây – Bắc và cả nội địa

Bản đồ hành chính Trung Quốc

 

Khoảng một tháng sau vụ 1.000 người lao động nhập cư từ tỉnh Tứ Xuyên đổ ra đường phố thị trấn Tân Đường, tỉnh Quảng Châu phản ứng dữ dội với cảnh sát và các cơ quan công quyền, vào trung tuần tháng 7/2011, tại khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân cương lại một lần nữa xảy ra bạo động. Những người dân tộc thiểu số Duy Ngô Nhĩ đã tấn công vào một đồn cảnh sát người Hán, làm thiệt mạng 2 cảnh sát và 2 con tin.

Dù hãng tin Tân Hoa xã của Trung Quốc tuyên bố vụ việc Tân Cương trên là hành vi của một nhóm khủng bố, nhưng chỉ có những người mơ hồ về chính trị mới không hiểu được những nguyên cớ thâm sâu về lịch sử trong quan hệ của người Hán với vùng tự trị này. Đó không chỉ là mâu thuẫn đơn thuần về địa giới hành chính mà còn liên quan đến nhiều vấn đề khác như sự cách biệt đáng kể về chính sách mà người Hán được hưởng so với các sắc tộc thiểu số, sự lấn át về văn hóa và tôn giáo mà người Hán đã tạo ra đối với người Duy Ngô Nhĩ…

Tương tự như khu tự trị Tân Cương ở Tây Bắc, các khu tự trị Tây Tạng ở Tây Nam và Nội Mông ở phía Bắc đang trở thành những hiểm họa ngấm ngầm đối với tình trạng an ninh của người Hán sống tại những khu vực này và cả với thể chế chính trị mà Bắc Kinh đang cố gắng duy trì đến chừng nào có thể. Từ năm 2008 đến nay, những hiểm họa này đã có chiều hướng bùng phát và trở thành nguy cơ không hề nhỏ đối với một dân tộc có truyền thống tự tôn cực đoan như người Hán, thu hút sự chú ý của toàn thế giới.

“Gây rối trật tự xã hội” là cụm từ mà các cơ quan tư tưởng và ngôn luận của Trung Quốc thường dùng để chỉ những vụ việc xảy ra ở Nội Mông, Tây Tạng và Tân Cương. Đó thường là những vụ phản ứng theo cách đập phá tài sản của cơ quan công quyền, làm rối loạn giao thông, đốt xe cộ… Nhưng đến khi tình hình trở nên căng thẳng hơn với những vụ người dân tấn công cảnh sát và công chức nhà nước, luồng thông tin tuyên truyền chính thống đã chuyển các vụ tấn công sang “hành động khủng bố”.

Nhưng lại có một mâu thuẫn rất lớn nằm trong chính cách tuyên truyền trên. Bởi nếu quy kết cho những người dân của ba khu tự trị thiểu số là khủng bố thì Tân Hoa xã làm sao giải thích được những vụ việc gần như tương tự cũng đã xảy ra ở ngay trong lòng Trung Quốc, do chính người Hán gây ra? Tại thành phố Phúc Châu, tỉnh giang Tây, một người đàn ông 52 tuổi đã cho nổ ba quả bom trước tòa hành chính thành phố. Trước đó, người đàn ông này đã bày tỏ tình trạng tuyệt vọng trên mạng Internet về việc không thể đòi bồi thường khi bị thu hồi đất đai. Tại thị trấn Hoàng Thạch, tỉnh Hồ Nam, một vụ nổ nhắm vào một đồn cảnh sát đã làm cho đồn này bị phá hủy hoàn toàn, với một cảnh sát thiệt mạng và hai người khác bị thương. Cũng một người đàn ông đã cho nổ bom bên ngoài tòa nhà chính quyền địa phương ở thành phố cảng Thiên Tân làm ít nhất hai người bị thương. Tuy Tân Hoa xã nêu ra lý do hung thủ “muốn trả thù xã hội”, nhưng lại càng làm cho dư luận nghi ngờ về tính chất mù mờ trong tuyên truyền. Ở quy mô phản ứng rộng lớn hơn là vụ hàng ngàn công nhân nhập cư ở Triều Châu, tỉnh Quảng Đông đụng độ với cảnh sát địa phương, sau khi một công nhân nhập cư làm việc tại một nhà máy đồ gốm địa phương bị ông chủ đâm do cãi cọ về chuyện tiền lương, đồng thời cha của nạn nhân cũng bị đánh trọng thương.

Chẳng lẽ tất cả những vụ việc trên đều là hành vi khủng bố? Hoặc cứ giả định đó là khủng bố, thì rõ ràng đối tượng khủng bố không chỉ là những nhóm dân thiểu số mà còn bao gồm cả người Hán, hoạt động khủng bố không chỉ nằm ở những vùng xa xôi mà còn nổ ra ngay trong lòng Đại Hán. Vậy vì lẽ gì mà người Hán lại khủng bố chính đồng bào của mình?

Tất cả những vụ việc bị coi là khủng bố, mà thực chất là phản ứng của xã hội với chính quyền và cảnh sát, đã diễn ra khá đồng loạt trong khoảng thời gian tháng 5-6/2011.Đây cũng là thời gian đã diễn ra sự kiện biển Đông.

Chiến dịch đánh lạc hướng dư luận ra Biển Đông

Hẳn nhiều người trong chúng ta còn nhớ rõ, khoảng thời gian tháng 5-6/2011 cũng chính là lúc những người mặc chiếc áo Đại Hán tỏ ra rất nhiệt tình trong việc tung ra các hoạt động gây hấn ở khu vực Biển Đông. “Đường lưỡi bò” là một cái cớ được dựng lên để các tàu hải giám Trung Quốc vi phạm chủ quyền biển của Việt Nam và khiêu khích bằng chuyện cắt cáp tàu Việt Nam.

Cũng trong thời gian đó, như một mật lệnh được thông báo từ trước, làn sóng công phá Việt Nam nổi lên từ hoạt động của những nhóm biểu tình Trung Quốc, báo chí Trung Quốc, cũng như một chiến dịch hacker xâm lấn và phá hoại các website Việt Nam đã được tiến hành. Tất cả đều diễn ra một cách tuần tự và bài bản về hành động lẫn lời ăn tiếng nói. Tất cả đều như tuân theo một kịch bản có sẵn. Tất cả đều trở thành một kiểu cách “vừa ăn cướp vừa la làng” đến mức khiến cho công luận và dư luận người Việt phải phẫn uất và trở thành lý do chính đáng để khối người Việt yêu nước liên tục biểu tình phản đối âm mưu của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cuộc chiến về dư luận giữa hai quốc gia một lần nữa lại nổi lên.

Một hiện tượng rất đáng chú ý là trong phần lớn thời gian Trung Quốc can thiệp vào chủ quyền biển của Việt Nam và Philippines, số vụ việc “trả thù xã hội” trong lòng quốc gia này đã giảm hẳn. Ngay cả những nhân sĩ tiên phong của phong trào đòi quyền dân chủ như họa sĩ Ngải Vị Vị cũng lắng lại.Cùng với những biện pháp cương – nhu xen kẽ, dường như chính quyền Trung Quốc đã tương đối đạt được mục đích tạm ổn định tình hình chính trị – xã hội của họ.

Hiển nhiên là chiến dịch định hướng công luận và dư luận nhằm chỉ trích, lên án “Việt Nam vi phạm chủ quyền lãnh hải Trung Quốc” đã hướng dư luận trong nước ra Biển Đông, vô hình trung làm dịu bớt làn sóng bất mãn ở các khu tự trị lẫn bất bình từ lớp người có thu nhập thấp và từ giới trí thức tại Trung Hoa đại lục.

Cũng bởi thế, việc Trung Quốc chỉ dùng tàu hải giám để can thiệp vào vùng biển Việt Nam chứ không phải tàu quân sự, cùng những động tác khiêu khích và gây hấn dích dắc luân phiên, rất có thể nhằm mục đích kéo dài thời gian để kéo dư luận trong nước hướng về sự tranh chấp biển đảo, nhưng lại không chủ trương làm căng thẳng quá mức vấn đề tranh chấp. Minh họa điển hình cho chủ trương này là khi Philippines tỏ ra cứng rắn thì ngay lập tức Trung Quốc đã phải đấu dịu.

Từ chiến dịch tuyên truyền về tranh chấp Biển Đông của Trung Quốc, chúng ta có thể rút ra một nhận xét là trong những điều kiện bình thường, khi mối quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc với các nước láng giềng có liên quan đến quyền lợi của Trung Quốc chỉ mang tính va chạm cục bộ và nhỏ lẻ, Trung Quốc thường khá mặn mà với chiêu thức ngụy tạo những nguyên cớ để gây xung đột nửa vời, đồng thời sử dụng cơ quan tư tưởng và giới truyền thông để chuyển hướng dư luận trong nước ra nước ngoài. Trong những năm tới, những chiến dịch như vậy hoàn toàn có thể được lặp đi lặp lại, tất nhiên tùy điều kiện phát sinh mà nội dung và mục tiêu chiến dịch sẽ được thay đổi cho phù hợp hơn.

Cũng từ chiến dịch tuyên truyền của Trung Quốc, chúng ta có thể rút ra một đánh giá cơ bản về tình hình nội tại của quốc gia này. Vào những năm trước, giữa Trung Quốc và những quốc gia có liên quan đến khu vực Biển Đông cũng xảy ra va chạm, thậm chí xung đột, nhưng đã không diễn ra một chiến dịch tuyên truyền lớn như vừa qua của Trung Quốc. Đó cũng là khoảng thời gian mà tình hình chính trị Trung Quốc được xem là khá ổn định, không xảy ra các phong trào đòi quyền dân chủ của các nhân sĩ trí thức bất đồng chính kiến, cũng chỉ lẻ tẻ diễn ra một số phản ứng xã hội của những nhóm người dân khiếu kiện đất đai và hoạt động đình công. Nhýng ðến nay, khi các sắc thái phản ứng xã hội đã trở nên gay gắt và dễ bộc lộ hơn nhiều, việc Trung Quốc phải tổ chức một chiến dịch tuyên truyền công phu cũng cho thấy tình hình chính trị và nhiều vấn đề xã hội của quốc gia này không thật sự tốt đẹp như họ thường tuyên bố.

Nói cách khác, hiện giờ chính quyền Trung Quốc đang phải đối mặt với rất nhiều mối lo nội tại.Vậy đó là những mối lo gì?

Ngay trước mắt, Trung Quốc đang phải đối mặt với ít nhất hai khó khăn rất lớn. Khó khăn thứ nhất thuộc về kinh tế như nạn lạm phát, sự sa sút trong tăng trưởng GDP, bong bóng của thị trường bất động sản. Khó khăn thứ hai là các vấn đề xã hội như tham nhũng, khiếu kiện đất đai và đình công, phân hóa giàu nghèo, kể cả làn sóng người giàu di cư ra nước ngoài.

Những khó khăn kinh tế

Vào quý 2/2011, mặc dù tỷ lệ tăng trưởng GDP của Trung Quốc vẫn đạt đến 9,5%, nhưng đà tăng đã bị giảm sút đôi chút so với quý 1/2011 (9,7%). Tình trạng chững lại của GDP đã gây nên sự lo lắng mơ hồ đối với các nhà quản lý kinh tế của Bắc Kinh khi vào giữa năm 2008 – thời kỳ gay gắt của khủng hoảng kinh tế thế giới – Trung Quốc vẫn đạt GDP trên 10%, còn vào năm 2007 tỷ lệ tăng trưởng GDP cao điểm là 13%. Do chính quyền bắt buộc phải liên tục nâng lãi suất cơ bản (từ cuối năm 2010 đến giữa tháng 6/2011 đã 5 lần nâng lãi suất cơ bản) để hạn chế lạm phát, tín dụng cho sản xuất cũng theo đó bị siết chặt, dẫn đến GDP giảm dần.

Trái ngược với đà giảm sút của GDP là đường biểu diễn tăng dần của tỷ lệ lạm phát. Nếu vào tháng 7/2010, tỷ lệ lạm phát ở Trung Quốc chỉ khoảng trên 3%, thì đến giữa năm 2011, lạm phát đã tăng hơn 6%. Lạm phát tăng khiến giá cả hàng hóa tăng theo và chính quyền trung ương buộc phải thắt bầu tín dụng, lại càng làm cho lĩnh vực sản xuất khó khăn hơn.

Một phần không nhỏ – khoảng 2,5-3% trong cơ cấu GDP – được đóng góp từ khu vực bất động sản. Trong giai đoạn 2009 – 2011, khu vực này đã tăng trưởng rất mạnh, tạo nên một mặt bằng giá mới cao hơn hẳn thời điểm sau khủng hoảng kinh tế 2008. Tuy nhiên với tình trạng giá nhà ở Bắc Kinh đã tăng đến hơn 8 lần từ năm 2005 đến nay, bất cứ người dân Trung Quốc nào cũng có thể nhìn rõ là giá nhà đất đã bị các công ty bất động sản đẩy lên quá cao, vượt quá xa sức mua và mặt bằng thu nhập của người dân có thu nhập trung bình và dưới trung bình. Do vậy, một khi giá nhà đất bị kéo xuống theo quy luật điều tiết tự nhiên, nguồn thu về bất động sản của các công ty bất động sản và các chính quyền địa phương tất yếu sẽ giảm mạnh, kéo theo đà giảm sút tiếp nối của GDP.

Riêng đối với chính quyền địa phương, nguồn thu về bất động sản thường chiếm khoảng 60% trong cơ cấu thu của họ, mà các chính quyền này lại đang mang nợ khoảng 2.200 tỷ USD đối với Ngân hàng trung ương Trung Quốc. Do vậy nếu thu không đủ thì có khả năng nhiều chính quyền địa phương sẽ phải đối mặt với tình thế vỡ nợ và làm lây lan đến sự tồn vong của một số ngân hàng trong hệ thống ngân hàng Trung Quốc.

Sau giai đoạn khủng hoảng năm 2008 với mức tăng GDP có lúc thấp nhất chỉ còn hơn 6%, nền kinh tế Trung Quốc đã có một sự phục hồi khá thần kỳ khi dần lấy lại nhịp tăng trưởng mạnh mẽ vào thời kỳ năm 2006-2007.Khi đó, chỉ có rất ít ý kiến của chuyên gia nước ngoài tỏ ra quan ngại về tình trạng tăng trưởng quá nóng của đất nước này. Một phần khác, do kho dự trữ ngoại hối của Trung Quốc thường xuyên trên dưới 3.000 tỷ USD, đứng thứ hai trên thế giới sau Mỹ, nên khó có mối quan ngại nào có cơ sở. Thậm chí ngay cả khi thị trường bất động sản Trung Quốc tăng trưởng quá nóng, giới chuyên gia cũng chỉ dám đề cập đến bong bóng bất động sản chứ ít khi nói đến bong bóng kinh tế.

Song trong thời gian gần đây, những tổ chức phân tích độc lập của quốc tế như Moody và Fitch đã có cái nhìn khác hơn về kinh tế Trung Quốc.Theo Moody, tuy gần đây Trung Quốc đã phải công bố số nợ của các chính quyền địa phương là 1.650 tỷ USD, nhưng số liệu này còn thấp hơn ít nhất 500 tỷ USD so với con số thực tế.

Sự khác biệt giữa con số thống kê chính thức với thực tế vẫn luôn là một vệt mờ trong tính minh bạch của nền kinh tế. Trong điều kiện kinh tế phát triển bình thường và Trung Quốc không phải chịu nhiều áp lực, vệt mờ này có thể chỉ nằm ở một góc nhỏ nào đó trong bức tranh kinh tế tổng thể. Nhưng nếu nền kinh tế bắt đầu xuất hiện những nhược điểm tồi tệ, vệt mờ đó rất có thể sẽ nhanh chóng trở thành một đám mây mờ có thể che lấp cả mặt trời Trung Hoa và góp thêm một yếu tố tiêu cực làm cho nền kinh tế mau chóng bị rơi vào tình trạng mất thăng bằng hơn.

***

Phần 2. Phân cực xã hội: an nguy lớn nhất của Trung Quốc

Trong Phần 1 – “Xu thế phản kháng trong lòng xã hội Trung Quốc”, bài viết đã tóm tắt thực trạng của hiện tượng phản kháng xã hội đang diễn ra trong lòng xã hội Trung Quốc, xuất phát từ các vùng tự trị Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông và từ cả một số tỉnh, thành phố trong nội địa. Đó chính là nguyên cớ chủ yếu dẫn đến chiến dịch của Trung Quốc nhằm đánh lạc hướng dư luận trong nước ra khu vực biển Đông thuộc Việt Nam.

Trong Phần 2, bài viết tiếp tục phân tích những an nguy nội tại mà Trung Quốc hiện phải đối mặt.

Ẩn số từ bong bóng bất động sản

Liên quan đến tính minh bạch của nền tài chính Trung Quốc, Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody ước tính nợ xấu trong ngành ngân hàng Trung Quốc có thể lên tới 8 đến 12%, trong khi con số công bố chính thức chỉ là 1,2%. Còn nhớ vào đầu năm 2011, Fitch đã ước tính nợ xấu của Trung Quốc có thể chạm tới mức 30%. Với mức độ nợ xấu này, nhóm doanh nghiệp nhỏ – là nhóm mang lại khoảng 80% việc làm cho người Trung Quốc nhưng gặp rất nhiều khó khăn trong tiếp cận với tín dụng – sẽ chịu tác động tiêu cực nhất.

Với những khó khăn hiện tại và thiếu minh bạch trong tài chính Trung Quốc, Moody và Fitch đã bắt đầu tính toán đến khả năng nền kinh tế quốc gia này rơi vào tình huống xấu hơn, thậm chí là tồi tệ hơn. Theo cách nhìn của các tổ chức này, nền kinh tế Trung Quốc sẽ phải chịu sự chấn động khi tốc độ tăng trưởng kinh tế dưới 7% – sẽ xảy ra khi lạm phát quá cao hay thị trường bất động sản bị đảo ngược về tăng trưởng. Nếu kinh tế Trung Quốc bị chấn động, chính phủ Trung Quốc sẽ phải chi tiêu mạnh tay cho các kế hoạch giải cứu, tái cấp vốn. Nhóm chính sách này sẽ tác động không nhỏ đến Đài Loan, Úc và Chilê.

Cách đây không lâu, Roubini, một chuyên gia thượng thặng của Mỹ, người đã từng dự đoán chính xác về cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, đã tiên đoán Trung Quốc sẽ phải chịu một sự hạ cánh không an toàn (hay còn gọi là “hạ cánh cứng”) vào năm 2013 khi các khó khăn về lạm phát, sự sụt giảm của GDP, khả năng tan vỡ của bong bóng bất động sản cùng lúc tác động lên nền kinh tế Trung Quốc.

Khá tương đồng với Roubini, Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Fitch gần đây cũng đã cảnh báo có đến 60% khả năng Trung Quốc có thể rơi vào một cuộc khủng hoảng ngân hàng từ giữa năm 2013 trở đi. Vậy tác nhân nào có thể tạo nên sự chấn động đối với hệ thống ngân hàng?Chỉ có thể là lĩnh vực đầu tư địa ốc với quá nhiều hình ảnh đầu cơ không giới hạn.

Hiện thời, một lý do khá dễ hiểu cho sự dao động kéo dài tại vùng đỉnh của mặt bằng giá nhà đất Trung Quốc là vẫn có những nhóm lợi ích tiềm tàng không muốn (hoặc chưa muốn) chỉ số giá địa ốc bị sụt giảm mạnh. Đó là các ngân hàng thương mại – nơi giữ cửa các món vay khổng lồ cho các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, và chính quyền các địa phương – những nơi có không khí tăng giá nhà đất nóng sốt. Tất cả đều liên quan đến nguồn thu thường xuyên, hợp pháp cũng như bất hợp pháp, của các tổ chức và cá nhân. Với lý do đó, điều đương nhiên là sẽ khó có một cuộc đổ vỡ ngay lập tức của bong bóng bất động sản ở Trung Quốc, mặc dù quả bong bóng này đã được định dạng từ lâu nay. Nguồn tín dụng sẽ tiếp tục được chảy vào một số doanh nghiệp bất động sản, dù có khắt khe hơn trước.

Do vậy, thị trường bất động sản Trung Quốc là một ẩn số lớn đối với tương lai nước này. Từ đầu năm 2011 đến nay, kinh tế Trung Quốc đã bị bao phủ bởi nguy cơ lạm phát. Việc chính phủ Trung Quốc thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ dù có hạn chế được tỷ lệ lạm phát nhưng lại dẫn đến giảm sức tăng trưởng – yếu tố vốn đang có xu hướng giảm. Mặt khác, việc thắt chặt tín dụng sẽ đương nhiên làm giảm đi sức cầu tiềm tàng đối với thị trường bất động sản và càng làm cho thị trường này khó tiêu thụ hàng hóa, trong bối cảnh doanh thu tại nhiều thành phố đang bị giảm sút trông thấy. Điều này đương nhiên càng làm cho khả năng trả nợ của chính quyền địa phương và các doanh nghiệp bất động sản cho ngân hàng trung ương Trung Quốc vô vọng hơn.

Trong trường hợp ngược lại, bong bóng bất động sản trở nên hiện hữu thì hậu quả bùng vỡ của nó có thể làm sụt đến 3% GDP của Trung Quốc và sẽ tác động tức thì hệ thống ngân hàng nước này và dẫn tới những hậu quả xã hội khó lường.

Hố phân cực đã quá lớn

Tại Trung Quốc, hiện thực “hố đen” không chỉ tồn tại trong quan hệ cung – cầu bất động sản mà đã từ lâu tồn tại bởi mức chênh lệch giàu-nghèo lên đến 65 lần giữa 10% dân số có thu nhập cao nhất và 10% công dân có thu nhập thấp nhất tại Trung Quốc.

Trước khi con sóng phục hồi bất động sản hình thành vào giữa năm 2009, đa số người dân nước này đã phải thắt lưng buộc bụng để dành tiền mua nhà. Song khi con sóng ấy bất thần dâng cao, nó thật giống với một cơn đại hồng thủy lừng lững đổ ập xuống đầu người tiêu dùng – tầng lớp thấp cổ bé họng còn chưa kịp hoàn hồn sau cơn địa chấn khủng hoảng kinh tế năm 2008.

Cho đến nay, giới có thu nhập trung bình ở Trung Quốc vẫn không thể mơ tưởng đến một căn hộ dù là giá bình dân, vì sau đợt tăng bất động sản năm 2009-2010, cho đến nay sự thật đơn giản là bong bóng bất động sản Trung Quốc vẫn chưa chịu nổ. Sự xì hơi chậm chạp của nó, được chứng minh bởi chỉ có 9/70 thành phố có giá nhà đất giảm nhẹ trong 6 tháng đầu năm 2011, đã làm dấy lên sự công phẫn từ tầng lớp bình dân đối với giới đại gia địa ốc của nước này.

Cần nhắc lại, vào tháng 10/2009, những người giàu nhất của Trung Quốc đã được thống kê thành nhóm “10”. Trong số 10 đại gia có tài sản trên 4 tỷ USD ấy, có đến 7 người kinh doanh các lĩnh vực tài chính và bất động sản. Chỉ có ba đại gia khác thuộc về các ngành ô tô, linh kiện điện thoại, nhôm.

Vào tháng 8/2010, Tập đoàn tài chính Credit Suisse của Thụy Sỹ đã trở thành tổ chức phân tích độc lập đầu tiên nêu ra thực trạng về “quỹ đen” của giới thượng lưu Trung Hoa. Theo một nghiên cứu kéo dài nhiều năm của tập đoàn tài chính Thụy Sĩ này, các hộ gia đình Trung Quốc đã che giấu khoảng 9.300 tỷ nhân dân tệ (tương đương 1.400 tỷ USD) không được công bố trong báo cáo thu nhập cá nhân. Số tiền khổng lồ này, chủ yếu bất hợp pháp hoặc hợp pháp nửa vời, tương đương với 30% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của toàn đất nước Trung Quốc.

Credit Suisse cũng nhận định rằng hầu hết tài sản ngầm nằm trong túi các gia đình giàu, với nhóm 20% dân số giàu nhất sở hữu tới 81,3% của con số 1.400 tỷ USD. Lần đầu tiên, thế giới được biết đến Trung Quốc bằng vào một sắc mặt khác: tình trạng bất bình đẳng về thu nhập đã được đẩy lên rất cao.

Phản ứng xã hội lại đang đi trước những hậu quả về kinh tế. Các kế hoạch cung cấp nhà cho người có thu nhập thấp ngày càng xa vời trong thực tế. Một phần trong số đối tượng có thu nhập thấp ấy chắc chắn là những người dân có đất đã bị doanh nghiệp kinh doanh bất động sản “lấy cắp” khi chỉ đền bù cho họ 1/10 hay 1/20 cái giá trị mà lẽ ra chính họ phải được hưởng khi thị trường đạt đỉnh.

“Nước nghèo giàu có”!

Hãy khoan bàn đến vấn đề Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông – những khu vực bị người Hán kỳ thị – mà ngay cả nội tình giữa những người Hán với nhau cũng đang diễn ra sự kỳ thị trầm trọng.

Hố phân cách giàu nghèo quá lớn ở Trung Quốc đang dẫn đến thái độ được coi là “thù địch” của người nghèo đối với người giàu. Gần đây đã xuất hiện một khái niệm mới của giới phân tích phương Tây: Trung Quốc là một “nước nghèo giàu có” đầu tiên trên thế giới, được minh chứng bởi tình trạng người dân thì nghèo nhưng tổng khối lượng kinh tế của cả nước thì lại rất giàu.

Credit Suisse đã khẳng định thêm một sự thật khác rằng Trung Quốc là một trong những nước có khoảng cách giàu nghèo lớn nhất thế giới, cao hơn nhiều so với công bố chính thức: nhóm 10% dân số giàu nhất có thu nhập bình quân đầu người 97.000 nhân dân tệ, tương đương 14.280 USD, cao gấp 65 lần so với nhóm 10% nghèo nhất. Trong khi đó, báo cáo từ Cục thống kê Trung Quốc đưa ra tỷ lệ phân cách chỉ 23 lần (năm 2010). Còn trước đó vào năm 2008, cũng Cục thống kê Trung Quốc đã đưa ra tỷ lệ phân cách chỉ có 9 lần, trong khi một cuộc điều tra độc lập của giáo sư Vương Tiểu Lỗ thuộc Quỹ Cải cách Trung Quốc đã cho thấy khoảng cách này lên đến 25 lần.

Thực tế là tại nhiều vùng xa thành thị ở Trung Quốc, mặt bằng thu nhập bình quân của người dân vẫn còn rất thấp, những điều kiện sống và môi trường giáo dục, y tế, đi lại không được đảm bảo so với tất cả những gì tốt nhất mà giới giàu có được hưởng. Theo cơ quan quản lý hệ thống ngân hàng Trung Quốc, đến cuối năm 2009, hơn 50 địa phương thuộc 3 tỉnh nghèo nhất của Trung Quốc là Tây Tạng, Vân Nam và Tứ Xuyên vẫn chưa có dịch vụ ngân hàng. Điều này có nghĩa rằng người dân những nơi này không hề có các dịch vụ tài chính cơ bản.Chính vì thế, làn sóng người nhập cư vào các thành phố lớn ngày càng mạnh mẽ và tất nhiên cũng gây ra nhiều rắc rối cho chính quyền sở tại.

Hệ số Gini (thước đo mức phân phối thu nhập trong một xã hội) ở các vùng nông thôn đã tăng từ 0,35 lên đến 0,38 trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2010, cho thấy sự bất bình đẳng ngày càng tăng trong khu vực này. Theo chuẩn quốc tế, hệ số Gini ở mức 0,4 cho thấy sự bất bình đẳng ở mức nguy hiểm.

Những nguồn cơn của hố phân cực

Sự bức xúc và bất mãn của dân chúng cũng căn cứ vào vấn nạn ngày càng nhiều quan chức nhà nước tìm cách tuồn nguồn tiền có được từ tham nhũng ra tài khoản ngân hàng nước ngoài, gửi vợ con ra nước ngoài và đến lượt mình có thể sẽ “biến” ra nước ngoài một khi có điều kiện thuận lợi.

Một điểm trùng hợp cũng cần ghi nhận là tỷ lệ “quỹ đen” của giới nhà giàu Trung Quốc chiếm đến gần 1/3 GDP, lại bằng với giá trị tham nhũng tại quốc gia này – cũng khoảng 1/3 GDP. Nhà nghiên cứu Vương Tiểu Lỗ của Quỹ Cải cách Trung Quốc đã tìm ra con số tham nhũng lên đến 9.600 tỷ NDT (khoảng 1.500 tỷ USD). Với những quan chức nằm trong diện tham nhũng đậm đà như thế, hiển nhiên cách thức an toàn nhất của họ là đi theo xu hướng di cư của giới giàu có ra nước ngoài, vừa có thể rửa tiền bất chính, vừa an toàn hơn hẳn so với việc tiếp tục ở lại trong nước.

Vào tháng 6/2011, một công bố khá bất thường của Ngân hàng trung ương Trung Quốc đã cho thấy các quan tham Trung Quốc đã gửi ra nước ngoài đến 120 tỷ USD trong giai đoạn 1990-2008. Những địa chỉ được ưa chuộng gửi tiền là Mỹ, Australia, Canada và Hà Lan. Cùng với sự bốc hơi tài chính là sự bốc hơi về con người khi có đến 16.000 – 18.000 quan chức và nhân viên các công ty quốc doanh đã rời khỏi Trung Quốc.

Hiện tượng giàu đột biến ở Trung Quốc cũng kéo theo một hiện tượng xã hội ở quốc gia này: nhiều người nghèo đã công khai chỉ trích lớp người thượng lưu muốn rời khỏi Trung Quốc là “không có lòng yêu nước”.

Việc người giàu Trung Quốc di cư ra nước ngoài đã trở thành một hiện tượng xã hội từ năm 2006-2007.Trong cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, hiện tượng này tạm lắng đi. Nhưng sang năm 2009 và đến giữa năm 2010, giới giàu có Trung Quốc đã công khai bàn tán chuyện chỉ mất nửa triệu USD để có một tấm thẻ xanh ở Mỹ hay Canada.

Vào tháng 5/2011, một cuộc điều ra của công ty tư vấn Bain đã cho thấy có đến 60% người giàu Trung Quốc mong muốn định cư ở nước ngoài. Đây là số người giàu với tài sản bình quân trên 10 triệu USD.Trong số 2.600 người được điều tra, ít nhất có 10% gần như hoàn tất mọi thủ tục xuất cảnh. Theo Bain, càng giàu họ lại càng muốn ra nước ngoài. Đối với những ai đang có hơn 100 triệu nhân dân tệ, 27% đã rời Trung Quốc, còn 47% đang cân nhắc ra đi. Bến đỗ mới của những người này tập trung vào các quốc gia phương Tây như Mỹ, Canada, Australia hoặc một số nước châu Âu.

***

Phần 3. Ba kịch bản về những biến động trong lòng Trung Quốc

Trong hai phần đầu, – “Xu thế phản kháng trong lòng xã hội Trung Quốc”, và “Phân cực xã hội: an nguy lớn nhất của Trung Quốc” – bài viết đã phân tích xu thế phản kháng xã hội xuất hiện trong lòng xã hội Trung Quốc và những nguyên nhân dẫn đến tình trạng phản kháng, trong đó chủ yếu xuất phát từ hố phân cực giàu nghèo quá lớn. Cùng với vấn đề sắc tộc thiểu số ở vòng cung Tây – Bắc, đó chính là nguồn cơn có thể dẫn đến những biến động chính trị – xã hội trong lòng Trung Quốc trong 2-3 năm tới, được tác giả phân tích và dự báo trong Phần 3 của bài viết này.

Sự oán giận của người dân

Những hậu quả trầm trọng về kinh tế bao giờ cũng kéo theo ảnh hưởng lớn lao về xã hội, hằn đậm trong ý thức của tầng lớp “dưới đáy” một tư tưởng được coi là thù địch với lớp người giàu có – điều luôn có tiền lệ ở Trung Quốc. Rồi khi những hệ quả xã hội vốn không được giải quyết và lại có nguy cơ dẫn đến tình trạng xáo trộn và bùng nổ, khi đó tình thế của nền kinh tế mới thật sự trầm kha.

Trong quốc gia “nước nghèo giàu có”, rất nhiều người dân bị mất đất vào tay các doanh nghiệp bất động sản đã phải chứng kiến đất đai của họ bị thổi giá lên đến hàng chục lần so với giá đền bù. Đó cũng là điều mà Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã phải công khai thừa nhận là “sự oán giận của người dân” (có tác giả dịch là “sự căm phẫn của người dân”). Do đó không có gì ngạc nhiên khi liên tiếp trong những tháng gần đây, tại Trung Quốc đã xảy ra hàng loạt vụ biểu tình của người dân khiếu kiện đất đai, của giới sinh viên ở Nội Mông, của người nhập cư ở Quảng Châu và Quảng Đông, kể cả những vụ đánh bom vào các cơ quan công quyền ở Thiên Tân. Từ sau vụ Thiên An Môn năm 1989, bầu không khí xã hội đã một lần nữa trở nên căng thẳng với màu sắc đối đầu hơn là đối thoại.

Với vùng tự trị Tân Cương, rõ ràng tình hình mấy năm nay đã thoát khỏi tầm chế ngự của không khí đối thoại. Thực chất, đó là một cuộc bạo loạn vừa mang tính tự phát, nhưng cũng manh nha được tổ chức bởi các nhóm sắc tộc Duy Ngô Nhĩ. Gần hai trăm người chết của cả hai phía Duy Ngô Nhĩ và người Hán vào năm 2008 đã cho thấy tính trầm trọng đến thế nào của vụ xung đột này.

Cũng tương tự quá trình tích tụ từ lâu nay đối với người dân tộc thiểu số, hàng loạt vụ đánh bom của người Hán vào cơ quan công quyền và cảnh sát, điều trước đây chưa từng xảy ra, đã khẳng định điều mà Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo thừa nhận là “sự căm phẫn của người dân”, chứ chẳng phải là một cụm từ nào nhẹ nhàng hay né tránh như cơ quan thông tin Tân Hoa xã vẫn thường phát đi.

Trên tất cả, những vụ việc phản ứng của người dân, dù là người dân tộc thiểu số hay người Hán, đều xuất phát từ bất công xã hội được tích tụ theo thời gian và được đẩy lên quá ngưỡng chịu đựng của những nạn nhân bị trắng tay mà không nhìn thấy một tia sáng nào từ công lý.

Trong một số nghiên cứu về tình hình Trung Quốc, đa số các chuyên gia nước ngoài đều thừa nhận quốc gia này có hệ thống chính trị khá vững mạnh, trong đó xương sống của chế độ là sự trung thành của quân đội. Trong sự kiện Thiên An Môn năm 1989, khi quân đội thi hành lệnh bắn vào sinh viên biểu tình, kể cả dùng xe tăng để nghiến nát người biểu tình, những hình ảnh kinh hoàng và dã man như thế đã được truyền đi khắp thế giới. Thế nhưng điều lạ lùng là sau đó sự kiện này đã được Bắc Kinh xoa dịu, còn mối quan hệ ngoại giao, kinh tế giữa Trung Quốc với Mỹ và các nước khác lại trở về nhịp sinh hoạt bình thường trước đó.

Tuy nhiên từ năm 1989 đến nay, thời gian đã trôi qua gần một phần tư thế kỷ.Đó là một khoảng thời gian đủ dài để nhiều chuyện thay đổi. Khác hẳn với năm 1989, tình trạng phân hóa giàu nghèo hiện nay ở Trung Quốc đã trở nên quá trầm trọng, sự đan xen hoàn toàn không rõ rệt giữa đường lối “chủ nghĩa xã hội hài hòa theo kiểu Trung Quốc” với quá nhiều bất công kinh tế và xã hội mà chỉ thường diễn ra vào thời kỳ đầu của “chủ nghĩa tư bản dã man” đã dần biến xã hội Trung Quốc thành một thứ nhà kho lộn xộn về ý thức hệ. Trong bối cảnh lộn xộn đó, thật khó có được một đánh giá hoàn hảo về sự trung thành của quân đội, khi phần lớn sĩ quan và binh lính đều có gia đình và người thân liên quan đến sự thất vọng từ các bất công xã hội.

Văn Cầm Hải – một nhà văn và cũng là nhà nghiên cứu lịch sử ở nước ngoài – cho rằng chính sách ngoại giao lòng dân của Trung Quốc đã bị thất bại ở Tây Tạng. Trong một chuyến đến vùng Nội Mông, ông đã viết lại những ghi nhận của mình: “Tôi đã biết về sự nhẫn nhịn của người sa mạc qua một người bạn Mông Cổ mời tôi ăn thịt nướng trong đêm mưa ở Lan Châu – thủ phủ tỉnh Cam Túc. Anh ta khuyên tôi rằng, nếu muốn giết sói, hãy cho nó chạy và hú đến lúc nào nó quỵ xuống vì sức lực mà chúng bỏ ra!…Trung Quốc cần có một sự thay đổi tận gốc quan điểm lịch sử và thời đại về sức mạnh và sự tồn tại hài hòa của mình với thế giới. Nếu không thay đổi, dù có bỏ ra hàng tỷ đô la, dù có hào nhoáng kết nối với chính quyền bản địa bằng những thỏa thuận hay kiềm chế chính trị nhưng không thể nào mua được lòng dân, Trung Quốc sẽ quỵ ngã bởi chính sức mạnh hung hãn của mình, như hình ảnh con sói mà người Mông Cổ từng nói với tôi trong đêm mưa ở Lan Châu”.

Chính trị không phải tự thân vận động, cũng như các nhóm đòi quyền dân chủ ở Trung Quốc sẽ khó có thể đạt được nguyện vọng của họ chỉ đơn thuần bằng những khẩu hiệu có vẻ như hơi trừu tượng và ít liên hệ đến đời sống hàng ngày của tầng lớp bình dân. Nhưng nếu chính trị bị tác động bởi nguyên cớ xác đáng là những bức xúc, bất mãn xã hội thì tự thân chính trị có thể bị thay đổi. Trong trường hợp Trung Quốc, bức xúc xã hội lại bắt nguồn từ đời sống kinh tế và thu nhập – điều quá khó để có thể thay đổi vào lúc này.

Ba kịch bản về những biến động trong lòng Trung Quốc

Vậy với những dấu hiệu và mầm mống đã và đang phát sinh trong lòng mình, liệu trong tương lai có thể xảy ra những kịch bản biến động nào ở quốc gia này?

Với chính thể Bắc Kinh, có lẽ yếu tố tiên quyết họ phải giữ bằng được là sự ổn định về kinh tế và làm dịu bớt những căng thẳng giàu – nghèo. Chẳng hạn vào tháng 7/2011, chính phủ Trung Quốc đã thông báo một kế hoạch đầu tư đến 138 tỷ nhân dân tệ (21 tỷ USD) trong 5 năm tới để tài trợ cho 226 dự án lớn tại Tây Tạng, tập trung vào cơ sở hạ tầng, dịch vụ công cộng và bảo vệ môi trường.

Tuy nhiên nền kinh tế Trung Quốc trong 2-3 năm tới lại phụ thuộc rất lớn vào ba ẩn số là chỉ số lạm phát, mức tăng trưởng GDP và độ bền vững của thị trường bất động sản.Theo cách nhìn của chúng tôi, đối với trường hợp Trung Quốc trong bối cảnh thế giới hiện nay, kinh tế sẽ là yếu tố mang tính quyết định đến chính trị tại quốc gia này.

Thời gian trung hạn từ năm 2011 đến 2013 sẽ quyết định việc nền kinh tế Trung Quốc có vượt qua được thử thách lớn hay không. Trong thời gian đó, sự biến thiên của 3 ẩn số kinh tế lạm phát, GDP và bất động sản sẽ tác động trực tiếp đến phản ứng xã hội và do đó sẽ dẫn dắt dây chuyền sang hệ quả chính trị. Nếu các ẩn số này trở nên xấu hơn, kế hoạch đầu tư của chính quyền trung ương cho các vùng tự trị cũng đương nhiên bị hạn chế nhiều, đồng thời có thể dẫn đến cả sự thay đổi về đường lối và thậm chí là thể chế chính trị.

Tùy vào mức độ biến thiên của ba ẩn số trên, trong khoảng thời gian 2011-2013 và có thể sau đó 1-2 năm, nội tại Trung Quốc có thể xảy ra một số kịch bản biến động được chúng tôi phân tích và dự báo dưới đây:

* Kịch bản 1: Kinh tế ổn định, chính trị biến động nhẹ

Nền kinh tế duy trì được sự ổn định, lạm phát được kiểm soát dưới 10% trong năm 2011-2012, GDP tiếp tục duy trì mức tăng trưởng 9-9,5%, thị trường bất động sản không bị vỡ bong bóng, phần lớn các chính quyền địa phương thu xếp trả được nợ cho ngân hàng. Sự ổn định của nền kinh tế Trung Quốc cũng được hỗ trợ bởi khả năng nền kinh tế Mỹ và thế giới không bị rơi vào suy thoái kép.

Có một khả năng là ngay cả trường hợp nền kinh tế thế giới rơi vào suy thoái kép, kinh tế Trung Quốc, với tiềm lực mạnh mẽ và dự trữ ngoại hối tốt, vẫn có thể giữ được đà tăng trưởng và kềm chế được lạm phát.

Tuy nhiên khoảng chênh lệch giàu – nghèo và hố phân cách xã hội vẫn chưa được cải thiện so với hiện trạng, hoặc còn phải mất nhiều năm nữa mới được cải thiện. Do đó về mặt xã hội, vẫn tiếp tục xảy ra những cuộc khiếu kiện đất đai, đình công, biểu tình quy mô nhỏ như tình trạng hiện nay. Những mâu thuẫn tại các khu tự trị Nội Mông, Tây Tạng và Tân Cương vẫn tiềm ẩn và không loại trừ phát sinh xung đột với quy mô nhỏ.

Với những điều kiện kinh tế – xã hội trên, không khí chính trị tiếp tục duy trì ở mức độ bất ổn nhẹ (như hiện nay). Đây cũng là trường hợp mà một giáo sư kinh tế chính trị học của Đại học Havard – Dani Rodrik – cho rằng “Kinh tế tốt không phải luôn luôn là chính trị tốt” (Good economics need not always mean good).

* Kịch bản 2: Kinh tế suy thoái, chính trị biến động tương đối mạnh

Nền kinh tế Trung Quốc không duy trì được sự ổn định khi mức tăng GDP giảm xuống còn 6-7%, chỉ số lạm phát tăng trên 10% trong năm 2011 và nặng nề hơn trong năm 2012, đồng thời thị trường bất động sản có dấu hiệu vỡ bong bóng, giá bất động sản giảm mạnh (trên 30%) và bắt đầu xuất hiện dấu hiệu tỷ lệ nợ xấu của các chính quyền địa phương đối với ngân hàng tăng lên.

Nền kinh tế thế giới rơi vào trạng thái suy thoái kép hoặc có dấu hiệu bị suy thoái kép.

Ứng với những điều kiện kinh tế trên, làn sóng bất mãn xã hội vốn tích tụ nhiều năm nay sẽ tăng lên đáng kể. Có khả năng xuất hiện nhiều hơn hẳn số lượng các cuộc khiếu kiện đất đai, đình công, cùng biểu tình đòi quyền dân chủ. Nếu các hoạt động mang tính phản ứng xã hội này có mối liên hệ và cộng hưởng vào một thời điểm nào đó thì có thể dẫn đến những cuộc biểu tình phức hợp, tạo thành phong trào phản kháng mạnh mẽ đa thành phần với quy mô lớn, dẫn đến xáo trộn khá mạnh về không khí chính trị và cũng có thể dẫn đến xung đột với hình thức bạo động, bạo loạn với các cơ quan chính quyền và cảnh sát.

Nếu khả năng trên xảy ra, không có nhiều hy vọng để Bắc Kinh sẽ kềm chế được hoạt động đòi tự trị, dân sinh và dân chủ tại các khu vực Tây Tạng, Tân Cương và Nội Mông. Hoạt động phản kháng này sẽ trở nên phức tạp hơn hẳn và có thể dẫn đến sự xung đột (bạo động, bạo loạn) ở quy mô lớn tại các khu vực này.

Kịch bản trên vẫn có thể xảy ra đối với Trung Quốc ngay cả trong điều kiện nền kinh tế thế giới không bị rơi vào suy thoái kép.

* Kịch bản 3: Kinh tế suy thoái, chính trị biến động mạnh

Trong trường hợp xấu nhất, nền kinh tế thế giới rơi vào suy thoái kép và kinh tế Trung Quốc cũng chịu hệ lụy tương ứng. Khi đó, GDP Trung Quốc có thể giảm xuống còn 4-5% và lạm phát tăng vọt từ 10-15%, kéo theo tỷ lệ thất nghiệp phi mã. Tình hình này gần như chắc chắn sẽ làm cho bong bóng bất động sản bùng vỡ, giá bất động sản giảm rất mạnh (trên 50% hoặc hơn) với thanh khoản kém. Mặt khác, chính quyền địa phương gần như mất khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng, dẫn đến phản ứng dây chuyền về việc phá sản của một số ngân hàng lớn và làm chao đảo hệ thống tài chính quốc dân.

Những điều kiện kinh tế trên cũng là ngòi nổ cho các hoạt động phản ứng và phản kháng xã hội. Khiếu kiện đất đai, đình công và các biểu tình đòi quyền dân sinh, dân chủ sẽ trở thành các phong trào diễn ra liên tục, quy mô tăng dần, lan rộng tại nhiều tỉnh và thành phố, hoàn toàn có thể dẫn đến xung đột mạnh với chính quyền. Không loại trừ sự kết hợp và cộng hưởng giữa các hoạt động phản kháng xã hội có thể dẫn tới yêu sách thay đổi thể chế chính trị, mà về thực chất có thể xem là “cách mạng hoa nhài” như đã từng xảy ra ở Bắc Phi và Trung Đông vào những tháng đầu năm 2011.

Cũng cần tham khảo một đánh giá của giáo sư kinh tế và chính trị học Barry Eichengeen của Đại học California về cuộc cách mạng hoa nhài ở Bắc Phi: “Sự bất ổn chính trị đã bắt nguồn từ thất bại của chính quyền trong việc phân chia lợi tức một cách công bằng, đặc biệt đối với những giai cấp bị thiệt thòi trong xã hội là giới trẻ, nông dân và công nhân… Trong kinh tế, sự phân chia lợi tức quốc gia một cách công bằng cũng quan trọng không kém gì sự phát triển lợi tức”.

Những điều kiện kinh tế – xã hội và chính trị trên cũng là nhân tố kích thích các phong trào khả kháng rộng lớn ở Tân Cương, Tây Tạng và Nội Mông.Tương ứng với điều kiện đặc thù về lịch sử của các khu vực này, không loại trừ quá trình xung đột bình thường và tự phát có thể dẫn tới những cuộc xung đột vũ trang có tổ chức và gây nguy hiểm cho sự tồn tại của thể chế chính trị ở Trung Quốc.

Hiện thời, vẫn còn khá sớm để đánh giá về xác suất có thể xảy ra của từng kịch bản trên, cũng như về sự biến thái của 3 kịch bản trên thành nhiều kịch bản khác. Tuy vậy theo quan điểm phân tích của chúng tôi, 3 kịch bản trên vẫn là những khả năng cốt lõi với sự ảnh hưởng mang tính quyết định của các vấn đề kinh tế đối với vận động chính trị trong lòng xã hội Trung Quốc.

Liên quan đến Việt Nam, trừ kịch bản 3, khi chính quyền Trung Quốc sẽ phải toàn tâm tập trung các nguồn lực để đối phó với biến động trong nước, còn với hai kịch bản 1 và 2, khả năng Trung Quốc sử dụng phương án đánh lạc hướng dư luận ra bên ngoài lãnh thổ bằng cách tạo ra những vụ việc gây hấn, tranh chấp ở khu vực biển Đông và vùng biên giới liên quan với Việt Nam, vẫn có thể được thực hiện vào bất kỳ thời điểm nào họ thấy cần thiết.

Cảnh sát và người dân đối đầu trong vụ biểu tình ở Lichuan ngày 9-6 – Ảnh: AFP

Chiều 12.6, khu ngoại ô Zengcheng [Quảng Châu], cảnh sát chống bạo động phun hơi gas để giải tán đám đông công nhân nhập cư phản đối sự ngược đãi của những nhân viên bảo vệ đối với một phụ nữ trẻ bán hàng rong đang mang thai. Ảnh: Reuters

P.C.D.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Đức Đạt Lai Lạt Ma: Trung Quốc là một nước ‘vĩ đại’ với chính phủ ‘có hại’

Đức Đạt Lai Lạt Ma: Trung Quốc là một nước ‘vĩ đại’ với chính phủ ‘có hại’

Đức Đạt Lai Lạt Ma phát biểu tại Thánh đường Quốc gia ở thủ đô Washington, 7/3/2014

Lãnh tụ tinh thần Tây Tạng đang sống lưu vong, Đức Đạt Lai Lạt Ma, gọi Trung Quốc là “một nước vĩ đại”, nhưng mô tả thể chế chính trị của nước này là “có hại.”

Khi phát biểu hôm thứ sáu trước một cử tọa tại Thánh đường Quốc gia ở thủ đô Washington của Mỹ, Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng điều mà người dân Trung Quốc cần có nhiều hơn là tự do và cần có ít đi là sự kiểm duyệt của chính phủ.

Ông nói rằng thể chế của Trung Quốc có hại cho việc phát triển của khả năng sáng tạo cá nhân, và ông quan tâm về việc người nghèo ở Trung Quốc không thể thông qua hệ thống tư pháp để giải quyết những sự bất bình.

Khi được hỏi tại sao Trung Quốc phản đối những chuyến viếng thăm của ông tới Washington, vị tu sĩ đoạt giải Nobel Hòa bình này trả lời “Quí vị nên hỏi Trung Quốc.”

Các giới chức Trung Quốc cho biết họ đã trao cho Hoa Kỳ một kháng nghị để phản đối việc Đức Đạt Lai Lạt Ma hôm thứ năm đến thăm trụ sở Quốc hội Mỹ. Tại đây Đức Đạt Lai Lạt Ma đã hướng dẫn lễ cầu nguyện tại Thượng viện và gặp gỡ các nhà lãnh đạo Quốc hội Mỹ.

Một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói rằng Quốc hội Mỹ phải thực thi cam kết là thừa nhận Tây Tạng là một phần của Trung Quốc và không hậu thuẫn cho sự độc lập của Tây Tạng.

Đức Đạt Lai Lạt Ma phủ nhận tố cáo của Trung Quốc cho rằng ông là người muốn đòi cho Tây Tạng độc lập. Ông nói ông chấp nhận quyền cai trị của Trung Quốc và chỉ muốn Tây Tạng có thêm quyền tự trị và nhân quyền của đồng bào ông được tôn trọng. Ông cũng bác bỏ tố cáo của Trung Quốc cho rằng ông khuyến khích người Tây Tạng tự thiêu để phản đối sự cai trị của Bắc Kinh.

Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã tiếp kiến Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Tòa Bạch Ốc hồi tuần trước. Nhà lãnh đạo Mỹ tái khẳng định sự hậu thuẫn mạnh mẽ cho truyền thống tôn giáo và văn hóa của Tây Tạng. Ông cũng tán dương phương pháp tranh đấu bất bạo động của Đức Đạt Lai Lạt Ma cho quyền tự trị của Tây Tạng.

Categories: Tin Hoa Kỳ | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.