Daily Archives: May 17, 2014

Lịch Sử PG Hòa Hảo

Lịch Sử PG Hòa Hảo

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔvà Phật Giáo Thời Ðại

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔvà Phật Giáo Thời Ðại 

Lê Hiếu Liêm

 

Chương một: Dẫn nhập Việt Nam và Phật Giáo đầu thế kỷ hai mươi. 

 

Đầu thế kỷ 20, tư tưởng Nho Giáo, thống trị độc tôn đất nước từ Thời Hồ Quý Ly, nhà Lê và nhà Nguyễn suốt 400 năm, hoàn toàn sụp đổ. Tư tưởng Phật Giáo, ngự trị vinh quang trong thời đại Lý Trần từ thế kỷ thứ 11 đến cuối thế kỷ 14, suy đồi tận gốc. Tư tưởng Tây Phương và tôn giáo của nó, Thiên Chúa Giáo La Mã, bị đại đa số trí thức và nhân dân coi như sản phẩm và công cụ của chế độ Thuộc Địa và thực dân Pháp nên vẫn không được chấp nhận. Ý thức hệ Cộng Sản cũng như các tư tưởng mới khác chưa ra đời. Cả một khoảng trống tư tưởng, cũng có nghĩa là một khoảng trống tôn giáo và chính trị, to lớn bao trùm trên một nước Việt Nam bị nô lệ, bóc lột, áp bức, lạc hậu và nghèo đói. Nhưng đây cũng là môi trường lý tưởng cho sự ra đời của những tư tưởng mới, những tôn giáo mới, những chính đảng mới và những phong trào mới: Phong trào Đông Du và Việt Nam Duy Tân Hội của Phan Bội Châu từ năm 1904,Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can và các nhà Nho tiến bộ năm 1907, tư tưởng dân quyền và dân chủ của Phan Chu Trinh suốt hai mươi năm (1905-1925), phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội cùng năm, Việt Nam Quang Phục Hội năm 1912, cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ và ở Huế năm 1916 của Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, vua Duy Tân…, phong trào Hội Kín ở miền Nam năm 1913-1916 lan rộng khắp Lục Tỉnh và cuộc tấn công Sài Gòn năm 1916. Các hoạt động này đã liên tục diễn ra từ đầu thế kỷ 20 đến cuối đệ nhất thế chiến.

Tuy nhiên mãi đến đầu thập njiên 20 Việt Nam mới thật sự thức dậy với sự ra đời Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng Chí Hội và Tân Việt Cách Mạng Đảng năm 1925, Đạo Cao Đài năm 1926, Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927, Cuộc khởi nghĩa Yên Bái và sự ra đời của Đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930 và phong trào Sô Viết Nghệ Tỉnh 1930-1931.

 

Trong thời gian sôi động này, từ 1925 trở đi, Phật Giáo cũng đã thức dậy. Từ năm 1923, thiền sư Khánh Hòa và thiền sư Thiện Chiếu đã thành lập, tại chùa Long Hòa ở Trà Vinh, Hội Lục Hòa Liên Hiệp với mục đích vận động thành lập một Hội Phật Giáo Việt Nam toàn quốc để chấn hưng Phật Giáo. Thiền sư Thiện Chiếu, khác hẳn tất cả tăng sĩ Phật Giáo đương thời, là một tăng sĩ có tân học. Ông đã đi ra Trung và Bắc vận động thống nhất Phật Giáo năm 1927 nhưng bất thành.

Năm 1928 thiền sư Khánh Hòa xây dựng Thích Học Đường và Phật Học Thư Xã tại Chùa Linh Sơn, Sài Gòn và năm 1929 Ông cho ấn hành tạp chí Viên Âm, tập san Phật Học đầu tiên bằng quốc ngữ tại Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Xoài Hột, Mỹ Tho. Cùng thời, thiền sư Thiện Chiếu xuất bản một tạp chí Phật Học nhắm vào giới thanh niên trí thức lấy tên là Phật Hòa Tân Thanh Niên, đặt tòa soạn tại chùa Chúc Thọ ở Gia Định.

 

Năm 1931 thiền sư Khánh Hòa cùng nhiều tăng sĩ và cư sĩ thành lập Hội Phật Học đầu tiên tại Việt Nam, lấy tên là Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học và thiền sư Từ Phong được mời làm Chánh Hội Trưởng. Hội ra tờ Từ Bi Âm năm 1932. Thiền sư Khánh Hòa, cùng người cộng sự thân tín là thiền sư Thiện Chiếu đã đóng vai trò tiền phong khai mở phong trào chấn hưng Phật Giáo và hiện đại hóa Phật Giáo, chuyển động sâu rộng lịch sử Phật Giáo và lịch sử Việt Nam trong suốt 65 năm qua.

Tại miền Trung, thiền sư Giác Tiên mở Phật Học Đường  tại chùa Trúc Lâm năm 1929 và ủy thác cho đệ tử là bác sĩ Lê Đình Thám thành lập Hội An Nam Phật Học năm 1932. Hội quy tụ đông đảo những danh tăng và cư sĩ trí thức tại miền Trung. Cư sĩ Lê Đình Thám được bầu làm Hội Trưởng và vua Bảo Đại được mời làm Hội Trưởng Danh Dự. Hội ra tạp chí Phật Học Viên Âm năm 1933. Năm 1934, thiền sư Giác Tiên, cư sĩ Lê Đình Thám… đã thành lập Trường An Nam Phật Học, trong đó có mở cấp Đại Học Phật Giáo. Đặc biệt hơn nữa là Hội đã phát động phong trào “Chỉnh Lý Tăng Già” rất quyết liệt để loại trừ ra khỏi tăng già những thành phần phạm giới, bất xứng. Chính nhờ những nổ lực cấp tiến này mà Phật Giáo miền Trung đã đóng được một vai trò quan trọng trong những thập niên sau đó.

Năm 1934 các thiền sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo cùng với giới cư sĩ trí thức tên tuổi tại Hà Nội như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Dương Bá Trạc, Trần Văn Giáp, Nguyễn Năng Quốc, Nguyễn Hữu Kha, Bùi Kỷ, Lê Dư… thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội, bầu cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm hội trưởng và suy tôn thiền sư Thanh Hanh làm Thiền Gia Pháp Chủ. Đặc biệt là trong buổi lễ suy tôn Pháp Chủ này, cư sĩ Trần Trọng Kim đã thuyết pháp về đề tài; “Thập Nhị Nhân Duyên”. Hội ra tạp chí Đuốc Tuệ năm 1935 và phát triển mạnh mẽ khắp miền Bắc (Nguyễn Lang, Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, q 3, t 51-173).

Đặc tính của cả ba Hội Phật Học tại ba miền là vai trò nổi bật của giới trí thức cư sĩ, là thuần túy Phật học và sinh hoạt Phật sự. Thời điểm 1925-1945 là thời điểm chuẩn bị trong kiên nhẫn và thầm lặng. Các hội Phật Học đã làm đúng chức năng và vai trò lịch của mình, một cách khiêm tốn, từ đống gạch vụn đổ nát của nền Phật học và Phật Giáo Việt nam trong thời Thực Dân Pháp thống trị.

Trong thời kỳ này xuất hiện những con người đặc biệt, xuất sắc và những tư tưởng mạnh mẽ, quyết liệt, trong Phật Giáo cũng như ngoài Phật Giáo. Từ đầu thập niên 30, tư tưởng Phật Hộc của Thích Thiện Chiếu đã là những quả bom chấn động. Và năm 1939 Huỳnh Phú Sổ xuất hiện làm một cuộc cách mạng tôn giáo, cải cách toàn bộ và triệt để Phật Giáo chưa từng có trong hai ngàn năm lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Miền Nam, một vùng đất lạ lùng và kỳ diệu…

 

An Hòa Tự

Phan Chu Trinh từ Pháp trở về Sài Gòn năm 1925, đất nước bùng lên những làn sóng tư tưởng dân quyền và dân chủ. Ông khẳng định phải tìm nguyên nhân mất nước trong sự mất đạo đức, mất luân lý, trong bài diễn thuyết Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây, và ông cũng khẳng định chế độ quân chủ chuyên chế là nguyên nhân chính làm mất nước trong bài thuyết giảng Quân Trị Chủ Nghĩa và Dân Trị Chủ Nghĩa tại Sài Gòn năm 1925. Ông mất năm sau đó và đám tang ông cùng với cuộc vận động ân xá nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã khơi bùng phong trào yêu nước và yêu tự do dân chủ trên toàn quốc, đặc biệt là trong giới thanh niên.

Nhưng dữ dội, bốc lửa và sấm sét trong tư tưởng yêu nước chống thực dân cũng như tư tưởng tự do dân chủ, trong thời này, chỉ có Nguyễn An Ninh là đi xa nhất, quyết liệt nhất. Là một thanh niên miền Nam,Ông đi du học ở Pháp và trở về nước với bằng cử nhân Luật. Lợi dụng quy chế thuộc địa của Nam Kỳ, nơi mà báo chí bằng tiếng Pháp được tự do, không bị kiểm duyệt, Ông ra tờ La Cloche fèlèe (Tiếng Chuông Rè) từ năm 1923 đến năm 1926. Ông tự xưng tờ báo của Ông là “cơ quan tuyên truyền tư tưởng Pháp”, lấy tư tưởng của kẻ xâm lăng để đập những nhát búa tạ vào chế độ Thực Dân, đồng thời tờ báo cũng tự nhận là “cơ quan chuẩn bị cho tương lai dân tộc”. Thật là độc đáo và tuyệt vời.

Ngoài việc phê bình kịch liệt, thẳng tay chính sách và chế độ thực dân, Ông cổ võ cho việc đào tạo một tầng lớp thanh niên Việt Nam tân học, có văn hóa, có lý tưởng, có chí khí, có năng lực và có tổ chức vàÔng tuyệt đối tin vào sức mạnh và vào tương lai của nhân dân Việt Nam. Ông chủ trương một nước Việt Nam thống nhất từ Nam chí Bắc và trở về lịch sử dân tộc để tìm niềm tin và sức mạnh. Ông hô hào, khi chỉ mới ngoài 20 tuổi, “Chẳng những phải duy trì những giấc mộng vĩ đại, mà còn phải tổ chức thành một nhóm quan trọng để chuẩn bị cho tương lai”. Không những tư tưởng táo bạo, độc đáo, mới lạ, kiến thức của Ông cũng rất uyên bác. Khi Thống Đốc Nam Kỳ tuyên bố: “Xứ này không cần trí thức”. Ông đã viết bài trả lời bốc lửa: “… Những thảm khổ của chúng ta ngày nay, còn gì nữa, đúng là do tổ tiên của chúng ta đã sờ mó vào cây kiến thức. Hạng trí thức đã làm đảo lộn thế giới, làm hư hỏng hạnh phúc của thế giới. Hãy nguyền rủa tên tuổi của Prométhé, kẻ đã lấy trộm chút lửa của Trời. Hãy nguyền rủa con người đã bày ra cái ná cao su cho trẻ con bắn đá vào trán ông khổng lồ… Trí Tuệ, đó là cái tai hại. Trí tuệ, đó là con rắn cuốn quanh thân cây đã làm cho chúng ta vĩnh viễn mất cõi thiên đường… Nói đến vai trò giáo dục, vai trò văn minh của các ông chủ xứ Đông Dương này, thưa các ông, điều ấy làm ta mỉm cười… Người ta đã quỳ lụy bái phục những vị “đem ánh sáng tới”, những vị “làm điều kỳ diệu ở Ấu Châu”… Cái gì kỳ diệu? Thực ra cái kỳ diệu đó là, chỉ trong một thời gian ngắn thôi, người ta đã có thể làm cho trình độ trí thức của người Nam đã thấp đi lại càng rơi vào chỗ cực kỳ dốt nát. Cái kỳ diệu đó là người ta đã có thể, trong một thời gian ngắn như thế, xô đẩy một dân tộc có tư tưởng dân chủ, ngã nhào vào tình trạng nô lệ hoàn toàn“. (Trần Văn Giàu, Sự Phát Triển Của Tư Tưởng ở Việt Nam Từ Thế Kỷ 19 đến Cách Mạng Tháng Tám, q2, t 311).

Nguyễn An Ninh cũng là một trong những nhà trí thức tân học đầu tiên nghiên cứu Phật Học và hoàn thành một tác phẩm Phật Học quan trọng, cuốn “Phê Bình Phật Giáo”. Sau thời kỳ hoạt động sôi nổi từ 1923 đến 1926, Nguyễn An Ninh bị ở tù trong thời gian 1926-1927, sau đó Ông về nghiên cứu Phật Giáo. Trên bàn làm việc của Ông, có một cái chuông, một cái mõ, Ông cạo trọc đầu và đi chân không.Ông nghiên cứu Phật Giáo qua tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và các hoạt động Phật Giáo trong nước. Cuốn Phê Bình Phật Giáo xuất bản năm 1937 là kết quả của sự nghiên cứu này. Tựa đề của cuốn sách, 70 năm sau cũng không có ai dám viết một cuốn sách Phật Học có tựa đề thách thức và can đảm như vậy. Mục đích và phương pháp luận còn mới lạ, táo bạo hơn, đó là “so sánh Phật Giáo với thời đại của nó để chỉ chỗ hay, chỗ đúng hơn của nó đối với các thuyết khác và so sánh Phật Giáo với thời đại này để chỉ sai lầm của Phật Giáo“. Tác phẩm này được giới trí thức, giới chính trị cũng như giới Phật Giáo chú ý đặc biệt.

Nhưng không gây sóng gió và tranh luận suốt nhiều năm trời như những tác phẩm của Thích Thiện Chiếu.Đối với Tăng, Ni, Phật Tử thập niên 30, những tư tưởng Phật Học của Thích Thiện Chiếu là những tiếng sét ngang tai. Ngày nay đọc lại, chắc chắn quý vị tăng sĩ, cư sĩ và Phật Tử cũng không khỏi giựt mình, chấn động và suy nghĩ. Những tư tưởng này, được viết từ thập niên 30, ngày nay, cuối thập niên 90, vẫn còn mới, còn táo bạo, còn chứa đầy sức nặng của đá tảng và sức nổ của sấm sét. Thích Thiện Chiếu là tinh hoa sáng chói của Phật Giáo trong thập niên 20, 30. Ông đã đi tiền phong trong mọi lãnh vực chấn hưng và hiện đại hóa Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ 20 này.

Ta phải đứng trên một đỉnh núi cao, mới hy vọng nhìn thấy những cái gì chưa ai nhìn thấy, những cái gì nằm khuất sau dãy núi cao. đó có thể là những dãy núi cao hơn, hay là một đại dương mênh mông hay là một bình nguyên rực rỡ. Thích Thiện Chiếu là một ngọn núi cao của Phật học và Phật Giáo Việt Nam trước đệ nhị thế chiến. Ta hãy đứng trên đỉnh núi cao ngất, hùng tráng này để nhìn rõ một đỉnh núi cao ngất, hùng vĩ khác, là Cư sĩ, Bồ Tát, Giáo Chủ Huỳnh Phù Sổ.

|Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10|TK|

[BHH430] [PGHH] [THƯ VIỆN PGHH]

 

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Đức Huỳnh Phú Sổ bất tử . PGHH Muôn-Năm . Tinh Thần PGHH bất-diệt

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔvà Phật Giáo Thời Ðại 

Lê Hiếu Liêm

 

Chương một: Dẫn nhập Việt Nam và Phật Giáo đầu thế kỷ hai mươi. 

 

Đầu thế kỷ 20, tư tưởng Nho Giáo, thống trị độc tôn đất nước từ Thời Hồ Quý Ly, nhà Lê và nhà Nguyễn suốt 400 năm, hoàn toàn sụp đổ. Tư tưởng Phật Giáo, ngự trị vinh quang trong thời đại Lý Trần từ thế kỷ thứ 11 đến cuối thế kỷ 14, suy đồi tận gốc. Tư tưởng Tây Phương và tôn giáo của nó, Thiên Chúa Giáo La Mã, bị đại đa số trí thức và nhân dân coi như sản phẩm và công cụ của chế độ Thuộc Địa và thực dân Pháp nên vẫn không được chấp nhận. Ý thức hệ Cộng Sản cũng như các tư tưởng mới khác chưa ra đời. Cả một khoảng trống tư tưởng, cũng có nghĩa là một khoảng trống tôn giáo và chính trị, to lớn bao trùm trên một nước Việt Nam bị nô lệ, bóc lột, áp bức, lạc hậu và nghèo đói. Nhưng đây cũng là môi trường lý tưởng cho sự ra đời của những tư tưởng mới, những tôn giáo mới, những chính đảng mới và những phong trào mới: Phong trào Đông Du và Việt Nam Duy Tân Hội của Phan Bội Châu từ năm 1904,Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can và các nhà Nho tiến bộ năm 1907, tư tưởng dân quyền và dân chủ của Phan Chu Trinh suốt hai mươi năm (1905-1925), phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội cùng năm, Việt Nam Quang Phục Hội năm 1912, cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ và ở Huế năm 1916 của Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, vua Duy Tân…, phong trào Hội Kín ở miền Nam năm 1913-1916 lan rộng khắp Lục Tỉnh và cuộc tấn công Sài Gòn năm 1916. Các hoạt động này đã liên tục diễn ra từ đầu thế kỷ 20 đến cuối đệ nhất thế chiến.

Tuy nhiên mãi đến đầu thập njiên 20 Việt Nam mới thật sự thức dậy với sự ra đời Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng Chí Hội và Tân Việt Cách Mạng Đảng năm 1925, Đạo Cao Đài năm 1926, Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927, Cuộc khởi nghĩa Yên Bái và sự ra đời của Đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930 và phong trào Sô Viết Nghệ Tỉnh 1930-1931.

 

Trong thời gian sôi động này, từ 1925 trở đi, Phật Giáo cũng đã thức dậy. Từ năm 1923, thiền sư Khánh Hòa và thiền sư Thiện Chiếu đã thành lập, tại chùa Long Hòa ở Trà Vinh, Hội Lục Hòa Liên Hiệp với mục đích vận động thành lập một Hội Phật Giáo Việt Nam toàn quốc để chấn hưng Phật Giáo. Thiền sư Thiện Chiếu, khác hẳn tất cả tăng sĩ Phật Giáo đương thời, là một tăng sĩ có tân học. Ông đã đi ra Trung và Bắc vận động thống nhất Phật Giáo năm 1927 nhưng bất thành.

Năm 1928 thiền sư Khánh Hòa xây dựng Thích Học Đường và Phật Học Thư Xã tại Chùa Linh Sơn, Sài Gòn và năm 1929 Ông cho ấn hành tạp chí Viên Âm, tập san Phật Học đầu tiên bằng quốc ngữ tại Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Xoài Hột, Mỹ Tho. Cùng thời, thiền sư Thiện Chiếu xuất bản một tạp chí Phật Học nhắm vào giới thanh niên trí thức lấy tên là Phật Hòa Tân Thanh Niên, đặt tòa soạn tại chùa Chúc Thọ ở Gia Định.

 

Năm 1931 thiền sư Khánh Hòa cùng nhiều tăng sĩ và cư sĩ thành lập Hội Phật Học đầu tiên tại Việt Nam, lấy tên là Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học và thiền sư Từ Phong được mời làm Chánh Hội Trưởng. Hội ra tờ Từ Bi Âm năm 1932. Thiền sư Khánh Hòa, cùng người cộng sự thân tín là thiền sư Thiện Chiếu đã đóng vai trò tiền phong khai mở phong trào chấn hưng Phật Giáo và hiện đại hóa Phật Giáo, chuyển động sâu rộng lịch sử Phật Giáo và lịch sử Việt Nam trong suốt 65 năm qua.

Tại miền Trung, thiền sư Giác Tiên mở Phật Học Đường  tại chùa Trúc Lâm năm 1929 và ủy thác cho đệ tử là bác sĩ Lê Đình Thám thành lập Hội An Nam Phật Học năm 1932. Hội quy tụ đông đảo những danh tăng và cư sĩ trí thức tại miền Trung. Cư sĩ Lê Đình Thám được bầu làm Hội Trưởng và vua Bảo Đại được mời làm Hội Trưởng Danh Dự. Hội ra tạp chí Phật Học Viên Âm năm 1933. Năm 1934, thiền sư Giác Tiên, cư sĩ Lê Đình Thám… đã thành lập Trường An Nam Phật Học, trong đó có mở cấp Đại Học Phật Giáo. Đặc biệt hơn nữa là Hội đã phát động phong trào “Chỉnh Lý Tăng Già” rất quyết liệt để loại trừ ra khỏi tăng già những thành phần phạm giới, bất xứng. Chính nhờ những nổ lực cấp tiến này mà Phật Giáo miền Trung đã đóng được một vai trò quan trọng trong những thập niên sau đó.

Năm 1934 các thiền sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo cùng với giới cư sĩ trí thức tên tuổi tại Hà Nội như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Dương Bá Trạc, Trần Văn Giáp, Nguyễn Năng Quốc, Nguyễn Hữu Kha, Bùi Kỷ, Lê Dư… thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội, bầu cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm hội trưởng và suy tôn thiền sư Thanh Hanh làm Thiền Gia Pháp Chủ. Đặc biệt là trong buổi lễ suy tôn Pháp Chủ này, cư sĩ Trần Trọng Kim đã thuyết pháp về đề tài; “Thập Nhị Nhân Duyên”. Hội ra tạp chí Đuốc Tuệ năm 1935 và phát triển mạnh mẽ khắp miền Bắc (Nguyễn Lang, Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, q 3, t 51-173).

Đặc tính của cả ba Hội Phật Học tại ba miền là vai trò nổi bật của giới trí thức cư sĩ, là thuần túy Phật học và sinh hoạt Phật sự. Thời điểm 1925-1945 là thời điểm chuẩn bị trong kiên nhẫn và thầm lặng. Các hội Phật Học đã làm đúng chức năng và vai trò lịch của mình, một cách khiêm tốn, từ đống gạch vụn đổ nát của nền Phật học và Phật Giáo Việt nam trong thời Thực Dân Pháp thống trị.

Trong thời kỳ này xuất hiện những con người đặc biệt, xuất sắc và những tư tưởng mạnh mẽ, quyết liệt, trong Phật Giáo cũng như ngoài Phật Giáo. Từ đầu thập niên 30, tư tưởng Phật Hộc của Thích Thiện Chiếu đã là những quả bom chấn động. Và năm 1939 Huỳnh Phú Sổ xuất hiện làm một cuộc cách mạng tôn giáo, cải cách toàn bộ và triệt để Phật Giáo chưa từng có trong hai ngàn năm lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Miền Nam, một vùng đất lạ lùng và kỳ diệu…

 

An Hòa Tự

Phan Chu Trinh từ Pháp trở về Sài Gòn năm 1925, đất nước bùng lên những làn sóng tư tưởng dân quyền và dân chủ. Ông khẳng định phải tìm nguyên nhân mất nước trong sự mất đạo đức, mất luân lý, trong bài diễn thuyết Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây, và ông cũng khẳng định chế độ quân chủ chuyên chế là nguyên nhân chính làm mất nước trong bài thuyết giảng Quân Trị Chủ Nghĩa và Dân Trị Chủ Nghĩa tại Sài Gòn năm 1925. Ông mất năm sau đó và đám tang ông cùng với cuộc vận động ân xá nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã khơi bùng phong trào yêu nước và yêu tự do dân chủ trên toàn quốc, đặc biệt là trong giới thanh niên.

Nhưng dữ dội, bốc lửa và sấm sét trong tư tưởng yêu nước chống thực dân cũng như tư tưởng tự do dân chủ, trong thời này, chỉ có Nguyễn An Ninh là đi xa nhất, quyết liệt nhất. Là một thanh niên miền Nam,Ông đi du học ở Pháp và trở về nước với bằng cử nhân Luật. Lợi dụng quy chế thuộc địa của Nam Kỳ, nơi mà báo chí bằng tiếng Pháp được tự do, không bị kiểm duyệt, Ông ra tờ La Cloche fèlèe (Tiếng Chuông Rè) từ năm 1923 đến năm 1926. Ông tự xưng tờ báo của Ông là “cơ quan tuyên truyền tư tưởng Pháp”, lấy tư tưởng của kẻ xâm lăng để đập những nhát búa tạ vào chế độ Thực Dân, đồng thời tờ báo cũng tự nhận là “cơ quan chuẩn bị cho tương lai dân tộc”. Thật là độc đáo và tuyệt vời.

Ngoài việc phê bình kịch liệt, thẳng tay chính sách và chế độ thực dân, Ông cổ võ cho việc đào tạo một tầng lớp thanh niên Việt Nam tân học, có văn hóa, có lý tưởng, có chí khí, có năng lực và có tổ chức vàÔng tuyệt đối tin vào sức mạnh và vào tương lai của nhân dân Việt Nam. Ông chủ trương một nước Việt Nam thống nhất từ Nam chí Bắc và trở về lịch sử dân tộc để tìm niềm tin và sức mạnh. Ông hô hào, khi chỉ mới ngoài 20 tuổi, “Chẳng những phải duy trì những giấc mộng vĩ đại, mà còn phải tổ chức thành một nhóm quan trọng để chuẩn bị cho tương lai”. Không những tư tưởng táo bạo, độc đáo, mới lạ, kiến thức của Ông cũng rất uyên bác. Khi Thống Đốc Nam Kỳ tuyên bố: “Xứ này không cần trí thức”. Ông đã viết bài trả lời bốc lửa: “… Những thảm khổ của chúng ta ngày nay, còn gì nữa, đúng là do tổ tiên của chúng ta đã sờ mó vào cây kiến thức. Hạng trí thức đã làm đảo lộn thế giới, làm hư hỏng hạnh phúc của thế giới. Hãy nguyền rủa tên tuổi của Prométhé, kẻ đã lấy trộm chút lửa của Trời. Hãy nguyền rủa con người đã bày ra cái ná cao su cho trẻ con bắn đá vào trán ông khổng lồ… Trí Tuệ, đó là cái tai hại. Trí tuệ, đó là con rắn cuốn quanh thân cây đã làm cho chúng ta vĩnh viễn mất cõi thiên đường… Nói đến vai trò giáo dục, vai trò văn minh của các ông chủ xứ Đông Dương này, thưa các ông, điều ấy làm ta mỉm cười… Người ta đã quỳ lụy bái phục những vị “đem ánh sáng tới”, những vị “làm điều kỳ diệu ở Ấu Châu”… Cái gì kỳ diệu? Thực ra cái kỳ diệu đó là, chỉ trong một thời gian ngắn thôi, người ta đã có thể làm cho trình độ trí thức của người Nam đã thấp đi lại càng rơi vào chỗ cực kỳ dốt nát. Cái kỳ diệu đó là người ta đã có thể, trong một thời gian ngắn như thế, xô đẩy một dân tộc có tư tưởng dân chủ, ngã nhào vào tình trạng nô lệ hoàn toàn“. (Trần Văn Giàu, Sự Phát Triển Của Tư Tưởng ở Việt Nam Từ Thế Kỷ 19 đến Cách Mạng Tháng Tám, q2, t 311).

Nguyễn An Ninh cũng là một trong những nhà trí thức tân học đầu tiên nghiên cứu Phật Học và hoàn thành một tác phẩm Phật Học quan trọng, cuốn “Phê Bình Phật Giáo”. Sau thời kỳ hoạt động sôi nổi từ 1923 đến 1926, Nguyễn An Ninh bị ở tù trong thời gian 1926-1927, sau đó Ông về nghiên cứu Phật Giáo. Trên bàn làm việc của Ông, có một cái chuông, một cái mõ, Ông cạo trọc đầu và đi chân không.Ông nghiên cứu Phật Giáo qua tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và các hoạt động Phật Giáo trong nước. Cuốn Phê Bình Phật Giáo xuất bản năm 1937 là kết quả của sự nghiên cứu này. Tựa đề của cuốn sách, 70 năm sau cũng không có ai dám viết một cuốn sách Phật Học có tựa đề thách thức và can đảm như vậy. Mục đích và phương pháp luận còn mới lạ, táo bạo hơn, đó là “so sánh Phật Giáo với thời đại của nó để chỉ chỗ hay, chỗ đúng hơn của nó đối với các thuyết khác và so sánh Phật Giáo với thời đại này để chỉ sai lầm của Phật Giáo“. Tác phẩm này được giới trí thức, giới chính trị cũng như giới Phật Giáo chú ý đặc biệt.

Nhưng không gây sóng gió và tranh luận suốt nhiều năm trời như những tác phẩm của Thích Thiện Chiếu.Đối với Tăng, Ni, Phật Tử thập niên 30, những tư tưởng Phật Học của Thích Thiện Chiếu là những tiếng sét ngang tai. Ngày nay đọc lại, chắc chắn quý vị tăng sĩ, cư sĩ và Phật Tử cũng không khỏi giựt mình, chấn động và suy nghĩ. Những tư tưởng này, được viết từ thập niên 30, ngày nay, cuối thập niên 90, vẫn còn mới, còn táo bạo, còn chứa đầy sức nặng của đá tảng và sức nổ của sấm sét. Thích Thiện Chiếu là tinh hoa sáng chói của Phật Giáo trong thập niên 20, 30. Ông đã đi tiền phong trong mọi lãnh vực chấn hưng và hiện đại hóa Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ 20 này.

Ta phải đứng trên một đỉnh núi cao, mới hy vọng nhìn thấy những cái gì chưa ai nhìn thấy, những cái gì nằm khuất sau dãy núi cao. đó có thể là những dãy núi cao hơn, hay là một đại dương mênh mông hay là một bình nguyên rực rỡ. Thích Thiện Chiếu là một ngọn núi cao của Phật học và Phật Giáo Việt Nam trước đệ nhị thế chiến. Ta hãy đứng trên đỉnh núi cao ngất, hùng tráng này để nhìn rõ một đỉnh núi cao ngất, hùng vĩ khác, là Cư sĩ, Bồ Tát, Giáo Chủ Huỳnh Phù Sổ.

|Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10|TK|

[BHH430] [PGHH] [THƯ VIỆN PGHH]

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

SÀI GÒN: PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY KÊU GỌI BIỂU TÌNH CHỦ NHẬT 18-5-2014 LÚC 8 GIỜ SÁNG

SÀI GÒN: PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY KÊU

GỌI BIỂU TÌNH CHỦ NHẬT 18-5-2014 LÚC 8 GIỜ

SÁNG

HLTL TRONG NƯỚCTÔN GIÁO5/14/2014

 

PHẬT GIÁO HÒA HẢO

THUẦN TÚY

HIỆU TRIỆU

Hỡi anh em trong nhà Nam Việt!

Nhớ nước ta hùng liệt thuở xưa.

Ngàn năm Bắc địch vày bừa,

Mà còn đứng dậy tống đưa quân thù.

Tiếng roi lại bình Ngô sát Đát,

Sử xanh còn ngào ngạt hương thơm. . .

 

Là con Hồng cháu Lạc, chúng ta làm sao quên được những trang sử bi thảm ngàn năm Bắc thuộc Trung Quốc đã giày xéo quê hương yêu quí của chúng ta, chà đạp lên đời sống của Dân tộc ta.

 

Những tấm gương sáng rạng ngời của tiền nhân ta: Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê là những trang sử oai hùng oanh liệt lưu lại cho chúng ta nhớ đến bổn phận thiêng liêng: BẢO VỆ TỔ QUỐC.

 

Nay, Tàu cộng lúc nào cũng nuôi tham vọng thôn tính nước ta, ngang ngược chiếm đảo, chiếm biển, chiếm đất, khai thác beauxit Tây Nguyên. . . rồi giờ đây lại đặt khoan dầu ở Biển Đông  một cách khiêu khích, coi 90 triệu đồng bào chúng ta như cỏ rác. . .

 

Vậy thì ta hãy hiệp bè,

Cùng nhau đoàn kết đặng khoe sức hùng.

Khắp Bắc Nam đùng đùng một trận,

Ấy mới mong quốc vận phục hồi.

Trước là dẹp lũ cộng bồi,

Sau đưa quốc tặc qui hồi Diêm cung.

Nếu nay chẳng vẫy vùng cương quyết,

Thì ắt là tiêu diệt giống nòi. . .

 

Đồng bào ơi!

Chúng ta hãy mạnh mẽ xuống đường để đả đảo Tàu cộng, đả đảo những kẻ mãi quốc cầu vinh, biểu dương tinh thần kiên cường yêu nước. 

 

ĐEM MÁU XƯƠNG ĐỔI LẤY TỰ DO.

 

Ngày xuống đường là ngày Chủ nhật 18-5-2014 vào lúc 8 giờ sáng. Địa điểm tập trung: Công viên 30-4 cạnh nhà thờ Đức Bà.

 

Với tư cách Hội Trưởng Trung Ương PGHH Thuần Túy, tôi tha thiết kêu gọi 7 triệu tín hữu PGHH toàn quốc, nhất là ở Miền Tây HÃY MẠNH MẼ TÍCH CỰC THAM GIA CÁC CUỘC BIỂU TÌNH CỦA ĐỒNG BÀO CHỐNG Tàu cộng. 

 

VIỆT NAM ĐỘC LẬP MUÔN NĂM.

Ngày 14 tháng 5 năm 2014.

TM Giáo Hội PGHH Thuần Túy.

Hội Trưởng Trung Ương

 

 

LÊ QUANG LIÊM

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

PGHH – CẢNH BÁO KHẨN CẤP

PGHH – CẢNH BÁO KHẨN CẤP

PHẬT GIÁO HÒA HẢO
THUẦN TÚY
————————-
CẢNH BÁO KHẨN CẤP

Theo một nguồn tin đáng tin cậy cho biết là trong cuộc biểu tình sáng chủ nhật 18-5-2014, đám tay sai của Tàu cộng ở VN sẽ tổ chức nhiều toán xã hội đen trà trộn vào những người biểu tình rồi gây những việc náo loạn bất hợp pháp như vừa xảy ra ở Bình Dương và một vài nơi khác.

Âm mưu này biến những cuộc biểu tình chính nghĩa biến thành những hành động ô tạp bất hợp pháp nhằm mục đích:

a- Làm giảm uy tín phong trào chống Tàu cộng đang biểu dương và phát triển mạnh mẽ.

b- Tạo cho nhà cầm quyền cộng sản có cơ hội muốn bắt ai thì bắt, vàng thau lẫn lộn, dựa vào lý do an ninh trấn áp thành phần lãnh đạo phong trào chống Tàu cộng, dập tắt phong trào càng sớm càng tốt.

Trong tinh thần kiên cường bảo vệ đất nước, chúng ta vẫn tiến hành cuộc biểu tình nhưng phải hết sức dè dặt và thận trọng đối với những phần tử bất chính cùng đứng trong hàng ngũ biểu tình với chúng ta. Nếu có dấu hiệu sẽ xảy ra cuộc hỗn loạn thì ta phải tự giải tán đừng để bọn tay sai của Tàu cộng thừa cơ lợi dụng.

Ngày 16 tháng 5 năm 2014.

TM Giáo Hội PGHH Thuần Túy

Hội Trưởng Trung Ương

LÊ QUANG LIÊM

Tin liên quan 
SÀI GÒN: PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY KÊU GỌI BIỂU TÌNH CHỦ NHẬT 18-5-2014 LÚC 8 GIỜ SÁNG

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

PGHH: Bạch Thư Tuyệt Mệnh của Tín đồ Nguyễn thị Ngọc Lan

PGHH: Bạch Thư Tuyệt Mệnh của Tín đồ Nguyễn thị

Ngọc Lan

HLTL TRONG NƯỚC4/01/2013

PHẬT GIÁO HÒA HẢO (năm đạo thứ 74)

 

BẠCH THƯ TUYỆT MỆNH

 

Kính gởi:

– Ủy Hội Nhân Quyền Quốc Tế HĐBA LHQ.

– Cộng  Đồng Nhân Loại yêu chuộng: Hòa bình, Công Lý, Nhân quyền: tự do Tôn Giáo, tự do Dân Chủ trên thế giới.

– Các cơ quan truyền thông quốc tế.

– Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước.

– Đảng cầm quyền CS Việt Nam.

 

Tôi tên là: Nguyễn thị Ngọc Lan sinh năm 1956 thường trú số nhà 128/2 khu vực Thới Trinh A, phường Thới An quận Ô Môn TP CT. Nhân vào mùa xuân ĐẠO NẠN: 25/ tháng 02 và QUỐC NẠN: 30/ 04, kỷ niệm hằng năm trên đất nước Việt Nam. Tôi một tín đồ PGHH xin kính gởi bức: BẠCH THƯ TUYỆT MỆNH nầy đến với mọi người để chia sẻ lý tưởng và tâm tư nguyện vọng tha thiết của tôi, có nội dung như sau:

 

1- Phật Giáo Hòa Hảo là một tôn giáo Việt Nam, sinh ra và phát triển từ lòng dân tộc, Đức Giáo Chủ: Huỳnh Phú Sổ là người Việt Nam, khai sinh năm 1919 và lớn lên đến năm 1939, Ngài được 19 tuổi đã mở đạo tại làng Hòa Hảo và cho đến  ngày 25 tháng hai nhuần năm đinh hợi, thì Thọ Nạn tại rạch Đốc Vàng, cũng chính trên dãi đất Việt Nam nầy, lúc ấy Ngài được 27 tuổi. Có thể khẳng định cuộc đời và sự nghiệp Đức Huỳnh Giáo Chủ và tôn giáo PGHH đã gắn liền dòng sinh mệnh của dân tộc và tổ quốc Việt Nam.Với một nền giáo lý căn bản là: Học Phật Tu Nhân. Học Phật là học theo công hạnh của Phật. “Phật tu cách nào đắc đạo rồi dạy ta, ta phải làm theo cách nấy”. Còn Tu Nhân là đền đáp bốn trọng ân,1- Ân Tổ Tiên Cha Mẹ, 2- Ân Đất Nước, 3- Ân Tam Bảo, 4- Ân Đồng Bào và Nhân Loại, trong đó Ân Đất Nước, được đặt trước Ân Tam Bảo.

 

Để thực thi nghĩa vụ công dân lúc nước nhà bị họa xăm lăng đô hộ “nước mất đâu dễ ngồi an”. Với một ý chí ưu việt kế thừa truyền thống Đức Trần Nhân Tông, “Tăng sĩ quyết chùa am bế cửa, Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha. Đền xong nợ nước thù nhà, Thiền môn trở gót Phật Đà nam mô”, Đức Huỳnh Giáo Chủ với 02 triệu tín đồ, năm 1945 Ngài đã cổ súy khối tín đồ cùng toàn dân đứng lên đánh đuổi xăm lăng, giành lại độc lập cho đất nước… Là Đấng Giáo Chủ một Tôn Giáo phát xuất tại Việt Nam, và là thủ lãnh Đảng Việt Nam Dân Chủ Xã Hội: Đã chủ trương “toàn dân chính trị” thế tất Đảng chống độc tài bất cứ hình thức nào”, đã đối lập lại chủ nghĩa ngoại lai vô thần độc tài của lãnh tụ vong bản Hồ Chí Minh, một đệ tử của CNCSQT, núp với chiêu bài:Việt Minh. Cướp được chính quyền từ đức vua Bảo Đại, Việt Minh CS đã thủ tiêu những người thuộc các Đảng phái quốc gia chân chính, cụ thể chính là Đức Huỳnh Giáo Chủ PGHH đã bị ám hại trong một cuộc họp hòa giải do Việt Minh tổ chức vào ngày 25 tháng Hai nhuần năm Đinh Hợi, nhằm ngày 16-04-1947, và đoàn thể PGHH đã trở thành nạn nhân của VMCS. Với vô số những nấm mồ chôn tập thể, khắp nơi thuộc vùng ĐBSCL, đến nay vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Việt Minh CS đã khiến cho tinh thần đoàn kết dân tộc lúc bấy giờ bị tan rã, tạo cơ hội cho Pháp tái chiếm Việt Nam lần thứ hai.

 

Sau biến cố ngày 30-04-1975, miền nam Việt Nam bị CSBV cưỡng chiếm, các tôn giáo bị giải thể, nhất là tôn giáo PGHH. Bởi ý thức hệ của chủ nghĩa CS và trong quá khứ có những cuộc tàn sát đẫm máu đối với PGHH, ĐCSVN cầm quyền đã tìm mọi cách để triệt tiêu PGHH. Giáo Lý bị tịch thu hũy bỏ, các cơ sở thờ tự của đạo bị quản lý chiếm dụng, các chức sắc của đạo bị đưa đi trại tù “học tập cải tạo”. Nhiều người đã chết rũ trong lao lý, hay ra tù chỉ thời gian ngắn là chết, vì bị khảo hình hoặc bị đầu độc, do tính chất bạo lực bất khoan dung của chế độ CS.

 

Năm 1999, do sự đấu tranh đòi hỏi không ngừng từ trong nước, cùng cộng đồng người Việt hải ngoại và sức ép của cộng động quốc tế về Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo tại Việt Nam. Nhà cầm quyền CS với ý đồ “dùng PGHH để diệt PGHH”. Ngày 26-05-1999, Họ đã dàn dựng tấm bình phong để dối lừa công luận gồm: Ban Đại DiệnPGHH quốc doanh, làm tay sai công cụ để hợp pháp hóa vai trò thủ tiêu mọi truyền thống, lịch sử, di tích quý báu của PGHH, nhất là ngày lễ thiêng liêng trọng đại 25 tháng 02 hằng năm, ngày mà VMCS đã ám hại ĐHGC, (cho đến nay vẫn bị cấm ngăn, khủng bố, triệt hạ tín đồ hành lễ).

 

Để đấu tranh bảo vệ Đạo Pháp, đòi quyền Tự Do Tôn Giáo cho các tôn giáo Việt Nam nói chung, PGHH nói riêng, bằng chủ trương “ôn hòa bất bạo động,” người tín đồ PGHH thuần túy, đã bị nhà cầm quyền CS đàn áp, khủng bố rất dã man, vì quyết bảo vệ Đạo Pháp, bảo vệ những truyền thống quý báu không bị triệt tiêu, nhiều người đã quyết hy sinh quyền lợi gia đình và thân mạng, bằng cách Tự Thiêu, hay phải vào tù để phản đối sự đàn áp, và đòi quyền TỰ DO TÔN GIÁO với nhà cầm quyền CSVN, cho đến nay vẫn tiếp diễn không ngừng.

 

2- Kể từ khi có ĐCSVN do ông Hồ Chí Minh làm lãnh tụ. Suốt 69 năm cầm quyền miền bắc, 38 năm cầm quyền miền nam, ĐCS đã gây ra biết bao là tội ác với dân tộc Việt Nam. Khởi động chiến tranh đã làm tang tốc đau thương cho người dân hai miền Nam, Bắc phải nhà tan cửa nát, hàng ba triệu người đã tốn hao sinh mạng vì bị chết chóc, mang thương tật, do đạn bom để lại. Khi không có chiến tranh, ĐCS cầm quyền đã cướp đoạt tài sản đất đai nhà cửa nhân dân, và giết người bằng khẩu hiệu, chính sách bần cùng hóa nhân dân “trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, tróc tận rể”, cải cách ruộng đất, nhân văn giai phẩm, học tập cải tạo, đánh đổ tư bản, cải tạo công thương nghiệp, đưa dân tập trung vùng kinh tế mới, làm kiệt quệ nguồn tài lực của quốc dân, trong thời kỳ gọi là “bao cấp”.

 

Bước sang thời kỳ “mở cửa”, đảng viên cộng sản có đầy đủ mọi quyền lực, dựa giẫm trên luật pháp, hưởng lợi ích nhóm với nhiều dịch vụ thương mại, nhận hối lộ bất chính, đồng lõa bao che, chia chác, tha hồ nhũng lạm bóc lột, đục khoét ngân sách quốc dân, gây nợ nần chồng chất lên đầu cổ người dân Việt Nam cần cù lao động. Tệ tham nhũng nầy, đến nay đã trở thành quốc nạn. Bị đối xử áp bức bất công, số Dân Oan bị cướp mất tài sản đất đai nhà cửa, đi khiếu kiện kêu oan nhiều năm, nhà cầm quyền vẫn không cứu xét, vô gia cư, cuộc sống đói nghèo lê la khắp nơi cầu thực.

 

Phụ nữ Việt Nam phải đi làm dâu hay làm nô lệ, bán dâm cho người ngoại quốc để kiếm tiền, mong “xóa đói giảm nghèo” cho gia đình người thân. Trẻ em nghèo đói thất học, lao động, bán vé số, ăn xin vất vưỡn đọa đày trong cuộc sống độ nhựt vv và vv.

 

Một thể chế độc đảng bất công, nên sanh nhiều tệ nạn hoành hành, đã đẩy người dân xuống tận cùng vực thẳm của sự khổ đau. Tự do Dân Chủ, tự do Tôn Giáo bị áp đặt cấm đoán khắc khe. Nhà tù CS đã cầm giam vô số những người bất đồng chính kiến, chỉ vì cất lên tiếng nói đòi quyền Tự do Tôn Giáo, đòi quyền tự do Dân Chủ.

 

Nói tóm lại từ khi ĐCS cầm quyền cho đến nay, với một chủ nghĩa ngoại lai vô thần, độc tài chuyên chế, triệt tiêu Tôn Giáo, xây dựng quyền lợi trên xương máu của nhân dân, đã tạo nên một xã hội Việt Nam đau thương, đầy máu và nước mắt, phẩm chất đạo đức suy đồi, tham quan đầy dẫy, bất công áp bức lộng hành, đói nghèo tuộc hậu. Tất cả đã hiện bày mà không một ai có lương tri mà không thấy biết. Và sự ám ảnh trước mắt: Là nguy cơ bị mất nước, dân tộc Việt Nam sắp làm nô lệ cho bọn bành trướng Tàu phù do ĐCSVN nhiều lần đã âm thầm ký kết thỏa hiệp hiến dâng Tổ Quốc. (Công hàm của Thủ Tướng Phạm văn Đồng đã chứng minh điều nầy).

 

Là người tín đồ PGHH phụng hành giáo pháp TỨ ÂN. Nhân mùa Quốc Nạn 30/04/1975, ngày CS miền Bắc cưỡng chiếm miền Nam, và lễ kỷ niệm 25/02 âl hàng năm ngày ĐHGC PGHH vắng mặt, do VMCS âm mưu hãm hại, suốt 37 năm qua ngày lễ kỷ niệm nầy luôn bị nhà cầm quyền cấm ngăn và khũng bố tín đồ PGHH không cho hành lễ. Nay trước thảm cảnh lầm than: Đạo Pháp ngữa nghiêng, Quốc phá Gia vong của đồng bào và tổ quốc Việt Nam. Lòng đầy bi xót, tôi xin kính gởi bức Bạch Thư Tuyệt Mệnh nầy đến với các tổ chức, cơ quan Nhân Quyền, dân chủ trên thế giới, mong  có biện pháp hữu hiệu cứu giúp. Bằng con tim khát vọng, muốn cho toàn thể đồng bào Việt Nam thân thương của tôi có một cuộc sống thật sự được: ĐỘC LẬP, TỰ DO, ẤM NO HẠNH PHÚC, và CÔNG BẰNG XÃ HỘI, mà suốt 69 năm qua, dân tộc Việt Nam chúng tôi đã bị chế độ vô thần, độc tài CSVN cưỡng đoạt. Để biểu lộ thành ý trên, tôi nguyện đốt lên ngọn Đuốc thân, để phản đối chính sách đàn áp Tôn Giáo, và Dân chủ bị kềm kẹp, góp phần cùng toàn dân tháo toan ách nạn cộng sản, kiến tạo lại một xã hội văn minh Việt Nam Mới mà Nhân Quyền phải được thực thi một cách đầy đủ.

 

Và riêng các Đảng viên, ĐCS cầm quyền, những điều tôi nêu trên của chế độ cầm quyền cộng sản là hoàn toàn đúng sự thật. Và tôi dám chắc một điều, đảng các vị là tác nhân, nên các vị hiểu rõ hơn ai hết, nhưng không thể thừa nhận sự thật trên, cụ thể như chính Sử gia kiêm ĐBQH Dương Trung Quốc đã phát biểu “có những sự thật không thể nói ra”. Vì sự thật đó chính là sai trái là lỗi lầm, là tội đồ của Dân Tộc. Vì đã đặc quyền lợi đảng trên tổ quốc và đồng bào, quên cội nguồn dân tộc, tôn thờ một chủ nghĩa CSQT, cam tâm làm tay sai, hiến dâng tổ quốc cho bọn bành trướng giặc Tàu, đưa dân tộc đến chổ khốn khổ, đói nghèo, lạc hậu, và cùm gông trong nô lệ.

 

Tôi chân thành tha thiết cầu mong quý vị hãy nghĩ đến tình ruột thịt, nghĩa đồng bào, da vàng, “giọt máu cùng đỏ, giọt nước mắt cùng mặn”. Dân tộc ta đã chịu đựng quá nhiều điều lầm than cơ cực và mất mát do ĐCSVN gây ra. Xin hãy thức tỉnh, tìm về lịch sử. Đức Vua Hùng đã có công dựng nước, các bậc Tiền Nhân bao đời đã có công giữ nước đem máu đào tắm gội giang san “thà làm quỷ nước Nam, quyết không nô lệ làm vương hầu phương bắc”. Họ đã hy sinh viết nên những trang lịch sử, độc lập vẻ vang oanh liệt cho nòi giống. Ý chí quật cường bất khuất, niềm kiêu hãnh vốn có của Tổ Tiên Hồng Lạc với một nền Văn Hiến quý báu hơn bốn ngàn năm lịch sử, mang đậm đà bản sắc của dân tộc, đã bao lần đập tan mộng xâm lăng, tham tàn bành trướng trước một kẻ thù khổng lồ phương bắc.

 

– Hãy vì nền độc lập, chủ quyền của quốc gia dân tộc Việt Nam không bị Tàu hóa.

– Hãy vì tương lai phồn vinh, thịnh vượng của quê hương Việt Nam.

– Hãy vì sự tự do, ấm no hạnh phúc, công bằng xã hội cho đồng bào Việt Nam.

 

Nay con thuyền Tổ Quốc Việt Nam sắp bị diệt vong trước phong ba bão táp: áp bức, đói nghèo, nô lệ giặc xâm lăng. Các vị là người lèo lái vận mệnh, hãy chuyển đổi phương hướng, tránh cho đồng bào cuộc tương tàn tương sát đẫm máu, tiến tới  hòa hợp hòa giải dân tộc, y như Miến Điện đã thực hiện một cách tuyệt vời. Hãy cùng nhau tuyên bố:

 

1-      Giải thể đảng Cộng Sản, trả quyền làm chủ cho nhân dân.

2-      Trả tự do cho các tù nhân Tôn Giáo và Chính Trị.

3-      Trưng cầu dân ý, có tổ chức nhân quyền quốc tế giám sát.

4-      Tiến hành bầu cử quốc hội lập hiến, bao gồm cá nhân, các đảng phái tham gia.

5-      Xây dựng Hiến Pháp Việt Nam, nhân quyền, dân chủ theo đúng tinh thần HĐBA LHQ.

 

Có được như thế, Tổ Quốc và đồng  bào Việt Nam mới thoát khỏi thảm họa diệt vong trước kẻ thù phương bắc, cùng chung xây dựng xã hội Dân Giàu Nước Mạnh, và Quý vị sẽ trở thành ân nhân của đại gia đình Việt Nam. Trang lịch sử tên tuổi quý vị muôn thu mãi chói ngời. Bằng ngược lại, tốc độ vận hành bánh xe Nhân Quyền, dân chủ Việt Nam sẽ nghiền nát, mà không một quyền lực nào có thể kềm hãm được. Tất cả mọi thứ vật chất của việc làm phi nhân phi nghĩa lẫn danh dự, sẽ không còn và bị đào thải xuống vũng bùn nhơ bẩn nghìn thu./.

 

Phật Giáo Hòa Hảo trường tồn bất diệt.

Tổ Quốc Việt Nam đời đời bền vững.

Nòi Giống Lạc Hồng tự do dân chủ, văn minh, ấm no hạnh phúc muôn năm.

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam Mô A Di Đà Phật.

Nam Mô Đại Từ Đại Bi Kim Sơn Phật.

 

Cần Thơ ngày   01  tháng 04 năm 2013.

Người viết Bạch Thư Tuyệt Mệnh.

 

 

Nguyễn Thị Ngọc Lan.

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

BẠCH THƯ SỐ 1 Và Số 2 PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY

BẠCH THƯ SỐ 1 Và Số 2 PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY

  BẠCH THƯ SỐ 1 Và Số 2 PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY CỦNG CỐ GIÁO QUYỀN-THỐNG NHẤT GIÁO HỘI-XIỂN DƯƠNG GIÁO PHÁP ————————–                           THÔNG BẠCH Kính gởi: Toàn thể tín hữu PGHH thân mến trong và ngoài nước, NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT. NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT. Thưa chư tín hữu, Nhân danh Hội Trưởng Trung Ương PGHH Thuần Túy, tôi có lời khen ngợi tòan thể Trị Sự Viên trong Giáo Hội và một số tín hữu đã phát huy mạnh mẽ ý chí kiên cường bất khuất trước sức đàn áp thô bạo của nhà cầm quyền cộng sản quyết tâm ngăn chận chúng ta tổ chức ngày Đại Lễ 25/2 âl , kỷ niệm Đức Huỳnh Giáo Chủ bị việt minh cộng sản ám hại. Giáo Hội PGHH Thuần Túy chúng ta đã biểu dương được tinh thần “TẬN TRUNG VỚI ĐẠO, TẬN HIẾU VỚI THẦY” một cách anh dũng bất chấp hiểm nguy sinh tử trước nhãn quan quốc nội và nhãn quan quốc tế rằng: PGHH không phải là con giun mà cộng sản muốn gày xéo thế nào cũng được. Thực ra, đứng trên phương diện thực tế khách quan, việc tổ chức lễ kỷ niệm là một phong tục thiêng liêng của nhân gian, bất luận giai cấp nào, tôn giáo nào, cả đình miểu am cốc đều có quyền tổ chức, không một quyền lực nào có quyền ngăn trở. Trên đất nước VN có bao nhiêu tôn giáo, có bao nhiêu đình miểu am cốc cũng đều được tự do tổ chức lễ kỷ niệm, chỉ duy nhất có PGHH là không được hưởng quyền này . Đó là chứng cứ hiển nhiên cho thấy rằng đảng csVN vẫn quyết tâm tiêu diệt PGHH, vì sao csVN muốn tiêu diệt PGHH? Vì PGHH tôn trọng Ân Tổ Tiên Cha Mẹ còn cs thì vô gia đình . . . Vì PGHH tôn trọng Ân Đất Nước còn cs thì vô tổ quốc . . . Vì PGHH tôn trọng Ân Tam Bảo (Phật,Pháp,Tăng) còn cs thì vô tôn giáo . . . Vì PGHH là một tôn giáo dân tộc, sinh ra từ lòng dân tộc, lớn lên trong khí thiêng sông núi của Tổ Quốc nên phải sống cùng Tổ Quốc và Dân Tộc và cũng phải chết vì Dân Tộc và Tổ Quốc. Đó là một chướng ngại to lớn trên con đường “xích hóa” VN của đảng csVN nên csVN phải triệt tiêu PGHH cho bằng được. Lần này nhà cầm quyền cs đã sử dụng trên 1.000 công an, bộ đội cơ động, có cả xã hội đen, xe vòi rồng, xe bít bùng, v.v. . . để đàn áp PGHH. Cái cảnh cs đàn áp thê thảm xảy ra tại nhà ông Nguyễn Văn Vinh đã chứng tỏ rõ ràng những hành động đó vừa vô nhân đạo, vừa vô liêm sĩ, vừa thô bạo, vừa tàn ác không còn tình người và người. – Đánh một bà già 82 tuổi (bà Trần Thị Xinh) rồi lột quần áo bỏ nằm trần truồng lõa lồ dưới đất là một hành động rừng rú không thấy có trong lịch sử loài người. – Đánh bà Võ Thị Gấm (vợ cố Hà Hải, người bị chết vì cs ngược đãi trong tù) 82 tuổi, gãy tay phải nhập viện . – Đánh đập 20 tín đồ PGHH bất tỉnh rồi lục soát ai có cà rá thì lấy cà rá, ai có giây chuyền thí lấy dây chuyền, ai có vòng vàng thì lấy vòng vàng, ai có tiền thì lấy tiền. Lấy tiền tất cả hơn 100 triệu đồng là tiền của anh em tín đồ PGHH dành dụm đóng góp để chẩn bần tín đồ nghèo trong dịp lễ. Ôi! Quang vinh thay cho đảng csVN, đánh người bất tỉnh để cướp của như thế ấy là hành động còn rừng rú hơn những toán thổ phỉ ! ! ! – Đóng chốt trước nhà trên 50 gia đình Trị Sự Viên lãnh đạo Giáo Hội PGHH Thuần Túy, “nội bất xuất, ngoại bất nhập” trong nhà có ai bịnh hoạn bất thường cũng không được đi ra khỏi nhà để chữa trị, nằm chờ chết. Với tín đồ PGHH nông dân chất phác, tay lấm chân bùn, trong tay không một tất sắt mà nhà cầm quyền cs đã sử dụng hằng ngàn công an để đàn áp thật là oai hùng, trong lúc quỳ lạy cúi đầu dâng đất (6 tỉnh phía Bắc) dâng biển, dâng đảo, dâng khai thác bauxit Tây Nguyên cho Tàu cộng . . . Các ông lãnh đạo đảng csVN ơi! Các ông có thấy hổ thẹn không? Thưa chư tín hửu PGHH thân mến, Cuộc đối đầu với cs , nhất là cuộc tuyệt thực tại gia của chúng ta lần này, người tín đồ PGHH đã biểu dương tinh thần bất khuất, ý chí kiên cường để bảo vệ đạo pháp, để bảo vệ quyền làm người của con người . . . Cuộc tuyệt thực đã đi đến ngày thứ tư, tôi xét thấy cũng dã đủ rồi, chúng ta phải bảo tồn sức khỏe của chúng ta để tiếp tục tiến bước trên con đường đấu tranh giải thể đảng cộng sản VN, tay nắm tay, sức chung sức, lòng chung lòng với toàn dân đế xây dựng một nước VN: Tự Do, Dân Chủ, Hòa Bình và Thịnh Vượngthật sự xứng đáng là con Hồng cháu Lạc với truyền thống 4.000 năm văn hiến. Tôi xin long trọng tuyên bố CHẤM DỨT CUỘC TUYỆT THỰC  kể từ hôm nay: ngày 27-3-2014. PHẬT đạo sáng ngời ánh bửu linh, GÍAO truyền chánh pháp tạo thanh bình. HÒA đồng nhơn loại an thiên hạ, HẢO hợp thời cơ độ chúng sanh. TRƯỜNG thuyết Tu Nhân đời thạnh trị, TỒN tâm Học Phật , đạo quang vinh. BẤT câu tăng tục chơn như pháp, DIỆT khổ qua bờ đến cõi thanh. – ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ VẠN TUẾ. – PGHH TRƯỜNG TỒN BẤT DIỆT. Ngày 27 tháng 3 năm 2014. TM Giáo Hội PGHH Thuần Túy. Hội Trưởng Trung Ương LÊ QUANG LIÊM———————————– PHẬT GIÁO HÒA HẢO  THUẦN TÚY CỦNG CỐ GIÁO QUYỀN-THỐNG NHẤT GIÁO HỘI-XIỂN DƯƠNG GIÁO PHÁP                                         BẠCH THƯ SỐ 2 Kính gởi: – Ông Nguyễn Phú Trọng. – Ông Trương Tấn Sang. – Ông Nguyễn Sinh Hùng. – Ông Nguyễn Tấn Dũng. Thế là cuộc điều động hằng ngàn công an, bộ đội cơ động, xã hội đen, xe vòi rồng, xe bít bùng, v.v. . . để chận đứng PGHH tổ chức ngày lễ kỷ niệm Đức Huỳnh Giáo Chủ bị việt minh cộng sản ám hại . . . các ông đã đạt một chiến thắng vô cùng vẽ vang, chiến thắng  một nhóm tín đồ PGHH vốn là nông dân chất phác, tay lấm chân bùn trong tay không một tất sắt. Thật quang vinh thay cho đảng csVN quang vinh? Lại càng quang vinh hơn với những hành động oai hùng mang tính rừng rú: a- Đánh một bà già 82 tuổi (bà Trần Thị Xinh) bị ngất xỉu rồi lột hết quần áo để bà nằm trần truồng lõa lồ đưới đất. Hành động oai hùng này có lẽ đệ tử các ông đã hành sử đúng theo đường lối của đảng csVN quang vinh! Và oai hùng này không thấy có trong lịch sử loài người. b- Đánh bà Võ Thị Gấm 82 tuổi bị gãy tay phải đi cấp cứu ở bịnh viện Châu Thành, An Giang. c- Đánh đập ngất xỉu 20 tín đồ PGHH đang chuẩn bị cuộc lễ rồi lục soát lấy hết nữ trang tiền bạc. Số tiền này lên đến trên 100 triệu là tiền của anh chị em tín đồ PGHH dành dụm đóng góp để chẩn bần cho tín đồ nghèo trong dịp lễ. Thật quang vinh thay hành động sở trường cố hữu của đảng csVN dù những toán thổ phỉ cũng phải cúi đầu thán phục ! d- Đóng chốt trước cửa nhà toàn bộ chức sắc lãnh đạo của Giáo Hội PGHH Thuần Túy và “nội bất xuất, ngoại bất nhập” dù trong nhà có ai bịnh hoạn cũng không được ra khỏi nhà để chữa bịnh, nằm chờ chết. Điển hình như trường hợp của ông Nguyễn Văn Thơ ở Xã Tân Hòa (Đồng Tháp) trong ngày 23-3-2014 . . . trường hợp của ông Nguyễn Văn Vinh ở Xã Long Giang (An Giang) trong những ngày từ 20 đến 25-3-2014 . . . Trường hợp của ông Nguyễn Văn Điền ở Xã Tân Phước (Đồng Tháp) trong ngày 22-3-2014 . . . Trường hợp của anh Nguyễn Ngọc Tân ở Bình Minh (Vĩnh Long) trong ngày 23-3-2014 . . . v.v. . . Đây là hảnh động nhân đạo mà Tần Thỉ Hoàng có sống lại cũng phải cúi đầu thán phục ! Và đây cũng là một chứng minh cụ thể chính sách nhất quán tôn trọng nhân quyền, tôn trọng Tự Do Tôn Giáo mà Thứ Trưởng Hà Kim Ngọc, trưởng đoàn VN đã báo cáo trong Đại Hội Nhân Quyền kiểm điểm định kỳ toàn cầu về Nhân Quyền tại Geneve (Thụy Sĩ) ngày 5-2-2014. Bức Bạch Thư này tôi chỉ điểm sơ lược lại một số hành động của đoàn đệ tử các ông để các ông tự chiêm nghiệm chính sách của các ông như vậy có quá đáng hay không? Có trắng trợn chà đạp Nhân Quyền, có trằng trợn chà đạp Tự Do Tôn Giáo hay không? Vì tôi tin rằng các ông, dù sao,  cũng còn chút ít lương tâm để cân nhắc ĐIỀU LÀNH, ĐIỀU ÁC. Rõ ràng với đồng bào nhân dân trong nước các ông đã hành sử một chính sách độc tài toàn trị, chà đạp nhân dân đến xương tàn cốt rụi, còn với ngoại bang thì các ông chuyên dối trá để cầu viện . . . nhất là với tàu cộng thì các ông quỳ mọp để dâng đất (6 tỉnh phía Bắc) dâng biển dâng đảo, dâng khai thác bauxit Tây Nguyên , v.v. . . và v.v. . . Tôi mong các ông hãy tự kiểm điểm sửa sai để cho toàn dân còn được hưởng vài hạt cơm rơi . . . một vài manh áo rách. QUAY LẠI ẮT THẤY BỜ. Ngày 28 tháng 3 năm 2014 Cư Sĩ LÊ QUANG LIÊM 

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔvà Phật Giáo Thời Ðại

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔvà Phật Giáo Thời Ðại 

Lê Hiếu Liêm

 

Chương một: Dẫn nhập Việt Nam và Phật Giáo đầu thế kỷ hai mươi. 

 

Đầu thế kỷ 20, tư tưởng Nho Giáo, thống trị độc tôn đất nước từ Thời Hồ Quý Ly, nhà Lê và nhà Nguyễn suốt 400 năm, hoàn toàn sụp đổ. Tư tưởng Phật Giáo, ngự trị vinh quang trong thời đại Lý Trần từ thế kỷ thứ 11 đến cuối thế kỷ 14, suy đồi tận gốc. Tư tưởng Tây Phương và tôn giáo của nó, Thiên Chúa Giáo La Mã, bị đại đa số trí thức và nhân dân coi như sản phẩm và công cụ của chế độ Thuộc Địa và thực dân Pháp nên vẫn không được chấp nhận. Ý thức hệ Cộng Sản cũng như các tư tưởng mới khác chưa ra đời. Cả một khoảng trống tư tưởng, cũng có nghĩa là một khoảng trống tôn giáo và chính trị, to lớn bao trùm trên một nước Việt Nam bị nô lệ, bóc lột, áp bức, lạc hậu và nghèo đói. Nhưng đây cũng là môi trường lý tưởng cho sự ra đời của những tư tưởng mới, những tôn giáo mới, những chính đảng mới và những phong trào mới: Phong trào Đông Du và Việt Nam Duy Tân Hội của Phan Bội Châu từ năm 1904,Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can và các nhà Nho tiến bộ năm 1907, tư tưởng dân quyền và dân chủ của Phan Chu Trinh suốt hai mươi năm (1905-1925), phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội cùng năm, Việt Nam Quang Phục Hội năm 1912, cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ và ở Huế năm 1916 của Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, vua Duy Tân…, phong trào Hội Kín ở miền Nam năm 1913-1916 lan rộng khắp Lục Tỉnh và cuộc tấn công Sài Gòn năm 1916. Các hoạt động này đã liên tục diễn ra từ đầu thế kỷ 20 đến cuối đệ nhất thế chiến.

Tuy nhiên mãi đến đầu thập njiên 20 Việt Nam mới thật sự thức dậy với sự ra đời Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng Chí Hội và Tân Việt Cách Mạng Đảng năm 1925, Đạo Cao Đài năm 1926, Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927, Cuộc khởi nghĩa Yên Bái và sự ra đời của Đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930 và phong trào Sô Viết Nghệ Tỉnh 1930-1931.

 

Trong thời gian sôi động này, từ 1925 trở đi, Phật Giáo cũng đã thức dậy. Từ năm 1923, thiền sư Khánh Hòa và thiền sư Thiện Chiếu đã thành lập, tại chùa Long Hòa ở Trà Vinh, Hội Lục Hòa Liên Hiệp với mục đích vận động thành lập một Hội Phật Giáo Việt Nam toàn quốc để chấn hưng Phật Giáo. Thiền sư Thiện Chiếu, khác hẳn tất cả tăng sĩ Phật Giáo đương thời, là một tăng sĩ có tân học. Ông đã đi ra Trung và Bắc vận động thống nhất Phật Giáo năm 1927 nhưng bất thành.

Năm 1928 thiền sư Khánh Hòa xây dựng Thích Học Đường và Phật Học Thư Xã tại Chùa Linh Sơn, Sài Gòn và năm 1929 Ông cho ấn hành tạp chí Viên Âm, tập san Phật Học đầu tiên bằng quốc ngữ tại Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Xoài Hột, Mỹ Tho. Cùng thời, thiền sư Thiện Chiếu xuất bản một tạp chí Phật Học nhắm vào giới thanh niên trí thức lấy tên là Phật Hòa Tân Thanh Niên, đặt tòa soạn tại chùa Chúc Thọ ở Gia Định.

 

Năm 1931 thiền sư Khánh Hòa cùng nhiều tăng sĩ và cư sĩ thành lập Hội Phật Học đầu tiên tại Việt Nam, lấy tên là Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học và thiền sư Từ Phong được mời làm Chánh Hội Trưởng. Hội ra tờ Từ Bi Âm năm 1932. Thiền sư Khánh Hòa, cùng người cộng sự thân tín là thiền sư Thiện Chiếu đã đóng vai trò tiền phong khai mở phong trào chấn hưng Phật Giáo và hiện đại hóa Phật Giáo, chuyển động sâu rộng lịch sử Phật Giáo và lịch sử Việt Nam trong suốt 65 năm qua.

Tại miền Trung, thiền sư Giác Tiên mở Phật Học Đường  tại chùa Trúc Lâm năm 1929 và ủy thác cho đệ tử là bác sĩ Lê Đình Thám thành lập Hội An Nam Phật Học năm 1932. Hội quy tụ đông đảo những danh tăng và cư sĩ trí thức tại miền Trung. Cư sĩ Lê Đình Thám được bầu làm Hội Trưởng và vua Bảo Đại được mời làm Hội Trưởng Danh Dự. Hội ra tạp chí Phật Học Viên Âm năm 1933. Năm 1934, thiền sư Giác Tiên, cư sĩ Lê Đình Thám… đã thành lập Trường An Nam Phật Học, trong đó có mở cấp Đại Học Phật Giáo. Đặc biệt hơn nữa là Hội đã phát động phong trào “Chỉnh Lý Tăng Già” rất quyết liệt để loại trừ ra khỏi tăng già những thành phần phạm giới, bất xứng. Chính nhờ những nổ lực cấp tiến này mà Phật Giáo miền Trung đã đóng được một vai trò quan trọng trong những thập niên sau đó.

Năm 1934 các thiền sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo cùng với giới cư sĩ trí thức tên tuổi tại Hà Nội như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Dương Bá Trạc, Trần Văn Giáp, Nguyễn Năng Quốc, Nguyễn Hữu Kha, Bùi Kỷ, Lê Dư… thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội, bầu cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm hội trưởng và suy tôn thiền sư Thanh Hanh làm Thiền Gia Pháp Chủ. Đặc biệt là trong buổi lễ suy tôn Pháp Chủ này, cư sĩ Trần Trọng Kim đã thuyết pháp về đề tài; “Thập Nhị Nhân Duyên”. Hội ra tạp chí Đuốc Tuệ năm 1935 và phát triển mạnh mẽ khắp miền Bắc (Nguyễn Lang, Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, q 3, t 51-173).

Đặc tính của cả ba Hội Phật Học tại ba miền là vai trò nổi bật của giới trí thức cư sĩ, là thuần túy Phật học và sinh hoạt Phật sự. Thời điểm 1925-1945 là thời điểm chuẩn bị trong kiên nhẫn và thầm lặng. Các hội Phật Học đã làm đúng chức năng và vai trò lịch của mình, một cách khiêm tốn, từ đống gạch vụn đổ nát của nền Phật học và Phật Giáo Việt nam trong thời Thực Dân Pháp thống trị.

Trong thời kỳ này xuất hiện những con người đặc biệt, xuất sắc và những tư tưởng mạnh mẽ, quyết liệt, trong Phật Giáo cũng như ngoài Phật Giáo. Từ đầu thập niên 30, tư tưởng Phật Hộc của Thích Thiện Chiếu đã là những quả bom chấn động. Và năm 1939 Huỳnh Phú Sổ xuất hiện làm một cuộc cách mạng tôn giáo, cải cách toàn bộ và triệt để Phật Giáo chưa từng có trong hai ngàn năm lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Miền Nam, một vùng đất lạ lùng và kỳ diệu…

 

An Hòa Tự

Phan Chu Trinh từ Pháp trở về Sài Gòn năm 1925, đất nước bùng lên những làn sóng tư tưởng dân quyền và dân chủ. Ông khẳng định phải tìm nguyên nhân mất nước trong sự mất đạo đức, mất luân lý, trong bài diễn thuyết Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây, và ông cũng khẳng định chế độ quân chủ chuyên chế là nguyên nhân chính làm mất nước trong bài thuyết giảng Quân Trị Chủ Nghĩa và Dân Trị Chủ Nghĩa tại Sài Gòn năm 1925. Ông mất năm sau đó và đám tang ông cùng với cuộc vận động ân xá nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã khơi bùng phong trào yêu nước và yêu tự do dân chủ trên toàn quốc, đặc biệt là trong giới thanh niên.

Nhưng dữ dội, bốc lửa và sấm sét trong tư tưởng yêu nước chống thực dân cũng như tư tưởng tự do dân chủ, trong thời này, chỉ có Nguyễn An Ninh là đi xa nhất, quyết liệt nhất. Là một thanh niên miền Nam,Ông đi du học ở Pháp và trở về nước với bằng cử nhân Luật. Lợi dụng quy chế thuộc địa của Nam Kỳ, nơi mà báo chí bằng tiếng Pháp được tự do, không bị kiểm duyệt, Ông ra tờ La Cloche fèlèe (Tiếng Chuông Rè) từ năm 1923 đến năm 1926. Ông tự xưng tờ báo của Ông là “cơ quan tuyên truyền tư tưởng Pháp”, lấy tư tưởng của kẻ xâm lăng để đập những nhát búa tạ vào chế độ Thực Dân, đồng thời tờ báo cũng tự nhận là “cơ quan chuẩn bị cho tương lai dân tộc”. Thật là độc đáo và tuyệt vời.

Ngoài việc phê bình kịch liệt, thẳng tay chính sách và chế độ thực dân, Ông cổ võ cho việc đào tạo một tầng lớp thanh niên Việt Nam tân học, có văn hóa, có lý tưởng, có chí khí, có năng lực và có tổ chức vàÔng tuyệt đối tin vào sức mạnh và vào tương lai của nhân dân Việt Nam. Ông chủ trương một nước Việt Nam thống nhất từ Nam chí Bắc và trở về lịch sử dân tộc để tìm niềm tin và sức mạnh. Ông hô hào, khi chỉ mới ngoài 20 tuổi, “Chẳng những phải duy trì những giấc mộng vĩ đại, mà còn phải tổ chức thành một nhóm quan trọng để chuẩn bị cho tương lai”. Không những tư tưởng táo bạo, độc đáo, mới lạ, kiến thức của Ông cũng rất uyên bác. Khi Thống Đốc Nam Kỳ tuyên bố: “Xứ này không cần trí thức”. Ông đã viết bài trả lời bốc lửa: “… Những thảm khổ của chúng ta ngày nay, còn gì nữa, đúng là do tổ tiên của chúng ta đã sờ mó vào cây kiến thức. Hạng trí thức đã làm đảo lộn thế giới, làm hư hỏng hạnh phúc của thế giới. Hãy nguyền rủa tên tuổi của Prométhé, kẻ đã lấy trộm chút lửa của Trời. Hãy nguyền rủa con người đã bày ra cái ná cao su cho trẻ con bắn đá vào trán ông khổng lồ… Trí Tuệ, đó là cái tai hại. Trí tuệ, đó là con rắn cuốn quanh thân cây đã làm cho chúng ta vĩnh viễn mất cõi thiên đường… Nói đến vai trò giáo dục, vai trò văn minh của các ông chủ xứ Đông Dương này, thưa các ông, điều ấy làm ta mỉm cười… Người ta đã quỳ lụy bái phục những vị “đem ánh sáng tới”, những vị “làm điều kỳ diệu ở Ấu Châu”… Cái gì kỳ diệu? Thực ra cái kỳ diệu đó là, chỉ trong một thời gian ngắn thôi, người ta đã có thể làm cho trình độ trí thức của người Nam đã thấp đi lại càng rơi vào chỗ cực kỳ dốt nát. Cái kỳ diệu đó là người ta đã có thể, trong một thời gian ngắn như thế, xô đẩy một dân tộc có tư tưởng dân chủ, ngã nhào vào tình trạng nô lệ hoàn toàn“. (Trần Văn Giàu, Sự Phát Triển Của Tư Tưởng ở Việt Nam Từ Thế Kỷ 19 đến Cách Mạng Tháng Tám, q2, t 311).

Nguyễn An Ninh cũng là một trong những nhà trí thức tân học đầu tiên nghiên cứu Phật Học và hoàn thành một tác phẩm Phật Học quan trọng, cuốn “Phê Bình Phật Giáo”. Sau thời kỳ hoạt động sôi nổi từ 1923 đến 1926, Nguyễn An Ninh bị ở tù trong thời gian 1926-1927, sau đó Ông về nghiên cứu Phật Giáo. Trên bàn làm việc của Ông, có một cái chuông, một cái mõ, Ông cạo trọc đầu và đi chân không.Ông nghiên cứu Phật Giáo qua tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và các hoạt động Phật Giáo trong nước. Cuốn Phê Bình Phật Giáo xuất bản năm 1937 là kết quả của sự nghiên cứu này. Tựa đề của cuốn sách, 70 năm sau cũng không có ai dám viết một cuốn sách Phật Học có tựa đề thách thức và can đảm như vậy. Mục đích và phương pháp luận còn mới lạ, táo bạo hơn, đó là “so sánh Phật Giáo với thời đại của nó để chỉ chỗ hay, chỗ đúng hơn của nó đối với các thuyết khác và so sánh Phật Giáo với thời đại này để chỉ sai lầm của Phật Giáo“. Tác phẩm này được giới trí thức, giới chính trị cũng như giới Phật Giáo chú ý đặc biệt.

Nhưng không gây sóng gió và tranh luận suốt nhiều năm trời như những tác phẩm của Thích Thiện Chiếu.Đối với Tăng, Ni, Phật Tử thập niên 30, những tư tưởng Phật Học của Thích Thiện Chiếu là những tiếng sét ngang tai. Ngày nay đọc lại, chắc chắn quý vị tăng sĩ, cư sĩ và Phật Tử cũng không khỏi giựt mình, chấn động và suy nghĩ. Những tư tưởng này, được viết từ thập niên 30, ngày nay, cuối thập niên 90, vẫn còn mới, còn táo bạo, còn chứa đầy sức nặng của đá tảng và sức nổ của sấm sét. Thích Thiện Chiếu là tinh hoa sáng chói của Phật Giáo trong thập niên 20, 30. Ông đã đi tiền phong trong mọi lãnh vực chấn hưng và hiện đại hóa Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ 20 này.

Ta phải đứng trên một đỉnh núi cao, mới hy vọng nhìn thấy những cái gì chưa ai nhìn thấy, những cái gì nằm khuất sau dãy núi cao. đó có thể là những dãy núi cao hơn, hay là một đại dương mênh mông hay là một bình nguyên rực rỡ. Thích Thiện Chiếu là một ngọn núi cao của Phật học và Phật Giáo Việt Nam trước đệ nhị thế chiến. Ta hãy đứng trên đỉnh núi cao ngất, hùng tráng này để nhìn rõ một đỉnh núi cao ngất, hùng vĩ khác, là Cư sĩ, Bồ Tát, Giáo Chủ Huỳnh Phù Sổ.

|Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10|TK|

[BHH430] [PGHH] [THƯ VIỆN PGHH]

 

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Sự phá sản trong chính sách Trung quốc chứng minh sự sai lầm cực kì nguy hiểm của nhóm cầm đầu chế độ toàn trị

Sự phá sản trong chính sách Trung quốc chứng minh sự sai lầm cực kì nguy hiểm của nhóm cầm đầu chế độ toàn trị

Âu Dương Thệ (Danlambao) – Việc Tập Cận Bình để gần 100 tầu chiến, phi cơ, tầu hải giám… hộ tống giàn khoan dầu khủng HD 981 vào sâu trong thềm lục địa VN và lại từ chối yêu cầu của Nguyễn Phú Trọng sang Bắc kinh đàm phán, đây là đỉnh cao chứng tỏ sự phá sản toàn bộ chính sách Trung quốc của nhóm cầm đầu CSVN. Rõ ràng đây là hậu quả của chính sách trao trứng cho ác, xây nhà trên cát của những người cầm đầu chế độ độc tài toàn trị!
Ban chấp hành Trung ương ĐCSVN vừa mở Hội nghị Trung ương 9 (HNTU) kéo dài cả một tuần từ 8 tới 14.5.2014. Theo Điều lệ Đảng, đây là cơ quan cao nhất thảo luận và quyết định các chính sách hệ trọng. ĐCSVN là đảng cầm quyền độc quyền nên mọi quyết định và hành động của chính quyền đảng này sẽ gây tác động trực tiếp tới quyền lợi của nhân dân và tương lai của đất nước. Cương lĩnh chính trị 2011 và Hiến pháp 2013 cũng tiếp tục giành độc tôn cho ĐCSVN và đảng này tự phong là lực lượng tiên phong, lực lượng chính trị duy nhất và chính đáng lãnh đạo toàn bộ đất nước.
Quyền cao thì trách nhiệm phải lớn. Đã đòi quyền tuyệt đối cho mình thì chính mình cũng phải nhận trách nhiệm tuyệt đối những việc mình làm và những hậu quả của nó! Đây là thước đo lương tâm, trí tuệ và thái độ của những người cầm đầu chế độ toàn trị đối với nhân dân VN và dư luận quốc tế!
Trong khi TBT Nguyễn Phú Trọng kiêm Bí thư Quân ủy Trung ương, tức Tổng tư lệnh các lực lượng quân sự đọc diễn văn khai mạc tại HNTU 9 thì đúng một tuần trước đó ngày 1.5 gần 100 tầu hải quận, trực thăng quận sự, hải giám, kiểm ngư của Trung quốc đã hộ tống giàn khoan dầu khổng lồ nhất của Trung quốc vào sâu trong thềm lục địa VN cách đảo Lý Sơn chừng 119 hải lý (221km), thuộc lô 143 trên bản đồ dầu khí của Việt Nam[i] để thăm dò dầu khí theo quyết định của Chủ tịch nước và Tổng bí thư ĐCS Trung quốc Tập Cận Bình. Nhưng trong các cuộc gặp cấp cao trước đây hai bên đều thề thốt không bên nào được phép làm xấu tình hình đi. Từ sau Hội nghị bí mật ở Thành đô (Trung quốc) đầu tháng 9.1990 ĐCSVN đã coi ĐCS Trung quốc là đồng minh tin cậy nhất, và chính ông Trọng đã coi Tập Cận Bình là “Bạn” chân tình.
Như vậy với việc dựng giàn khoan HD 981 ngay trong thềm lục địa VN đồng thời dùng gần 100 tầu chiến, phi cơ, các tầu hải giám hộ tống HD 981 ngay trên thềm lục địa VN từ 1.5, nhà cầm quyền Bắc kinh đã xâm lấn ngang ngược lãnh thổ, tài nguyên, đồng thời vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của VN. Sự kiện này chứng minh hiển nhiên là Tập Cận Bình đã coi thường các thỏa thuận với Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang và Nguyễn Tấn Dũng…
Nhưng từ diễn văn khai mạc và bế mạc của Nguyễn Phú Trọng, tới các thông cáo hoạt động từng ngày của Hội nghị tuyệt nhiên không có một đoạn nào công khai kết án hành động xâm lược trắng trợn và vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của VN từ phía Bắc kinh.[ii] Như vậy là Nguyễn Phú Trọng, người cầm đầu chế độ toàn trị, đã đặt “tình bạn” với Tập Cận Bình trên quyền lợi của đất nước, trên danh dự của tổ quốc? Hay sự nhu nhược và tham quyền-tiền của nhóm cầm đầu trong Bộ chính trị đã bắt họ phải câm miệng? Vậy căn cứ ngay trên Điều lệ Đảng, Cương lĩnh Chính trị 2011 và Hiến pháp 2013. ông Trọng và những người có quyền lực nhất trong Bộ chính trị có còn đủ tư cách và uy tín lãnh đạo đất nước nữa không?
Giải pháp cho đặt giàn khoan HD 981 trên thềm lục địa VN đã được Bắc kinh chuẩn bị từ lâu
Giàn khoan dầu HD 981 là một giàn khoan khổng lồ, có trọng tải 31,000 tấn, dài 114 m, rộng 90 m, cao 137.8 m.[iii] Vì thế theo sự tính toán của nhiều chuyên viên quốc tế, muốn di chuyển giàn khoan khổng lồ này một đoạn đường xa cả ngàn cây số thì phải cần nhiều tuần lễ.[iv] Nói một cách khác, đưa giàn khoan này vào hoạt động ngay trên thềm lục địa VN đã được giới cầm quyền cao nhất Bắc kinh quyết định xong từ lâu, vấn đề còn lại chỉ là vào thời điểm nào thì Bắc kinh có thể ra tay hành động thuận lợi nhất mà thôi.
Từ đầu năm 2014 Bắc kinh đã chuẩn bị dư luận quốc tế, đồng thời nắn bóp gân và định hướng tư tưởng cùng thái độ của nhóm cầm đầu Hà nội cho kế hoạch này của họ:
– Ngay từ đầu tháng 1 Bắc kinh đã ra lệnh cho tầu bè quốc tế muốn đánh cá và thăm dò tài nguyên trong khu vực “đường lưỡi bò” ở biển Đông phải xin phép và chịu sự kiểm soát của hải quân Trung quốc. Cùng lúc họ còn bắn tin cho thế giới biết, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Quốc gia về biên giới-lãnh thổ Bộ Ngoại giao Việṭ Nam sang Bắc kinh̃ tiến hành “vòng tham vấn thứ nhất về cùng khai thác trên biển giữa hai nước Trung-Việt”.[v] Qua đó họ muốn để dư luận quốc tế coi như chuyện đã xong trong hai việc: 1. Khu vực “đường lưỡi bò” do Bắc kinh từ định ra và chiếm tới 3 triệu km2 ở biển Đông là thuộc chủ quyền của Trung quốc. 2. Nhà cầm quyền Hà nội đã thỏa thuận các quyết định này của Bắc kinh, nên mới cử phái đoàn sang Bắc kinh thảo luận lần thứ nhất về việc “cùng khai thác trên biển”.
– Giữa tháng 1.2014 trong cuộc điện đàm qua đường giây nóng Tập Cận Bình đã thành công trong việc bắt Nguyễn Phú Trọng phải thực hiện tiêu chí mà cấp cao hai bên đã thỏa thuận từ đầu thập niên 90 là “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”. Vì thế đã không để thanh niên và trí thức VN được quyền tổ chức các buổi lễ kỉ niệm 40 năm Bắc kinh xâm chiếm Hoàng sa của VN (19.1.1974-19.1.2014) và 35 năm chiến tranh biến giới phía Bắc (17.2.1979-17.2.2014).[vi]
– Cũng theo chiều hướng đó, cuối năm 2013 Bắc kinh cũng đã thành công trong việc bắt nhóm cầm đầu CSVN cấm báo chí được phổ biến các nhận định hay tuyên bố bất lợi cho Bắc kinh, dù đó là của người cầm đầu chính phủ. Ngày 30.12.13 một số báo lề đảng đã nhắc lại tuyên bố nẩy lửa của Nguyễn Tấn Dũng tại cuộc gặp với Hội nghiên cứu Lịch sử VN là:
“Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cho biết, hiện Bộ Ngoại giao đang lên kế hoạch kỷ niệm 40 năm sự kiện (1974) Trung quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam và 35 năm sự kiện tháng 2 năm 1979 – chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc.”[vii]
Nhưng chỉ ngày hôm sau các bài này đã bị bóc đi, Nguyễn Tấn Dũng nín thinh!
– Trước đó hai tuần tại Hội nghị ngành Ngoại giao lần 28 Nguyễn Phú Trọng đã công khai cho biết, các quyết định về đường lối đối ngoại, quốc phòng, an ninh, chủ quyền và độc lập.. “đều phải tập trung vào một đầu mối dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị và Ban Bí thư”.Nói khác, quyết định cuối cùng là TBT Nguyễn Phú Trọng:
Kiên định nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối và thống nhất quản lý hoạt động đối ngoại. Thống nhất quản lý đối ngoại cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh… là một yêu cầu vừa lâu dài, cơ bản, vừa có tính thời sự cấp bách. Theo tinh thần đó, mọi quyết định và hoạt động đối ngoại, nhất là những vấn đề liên quan đến sự ổn định và phát triển của đất nước, đến độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh và danh dự quốc gia, đều phải tập trung vào một đầu mối dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị và Ban Bí thư” [viii]
– Từ tháng 2 cuộc khủng hoảng ở Ukraine trở nên cực kì trầm trọng với việc TT Putin bất chấp Hiệp ước An ninh và Hợp tác Âu châu cũng như Công pháp quốc tế đã sát nhập bán đảo Krim của Ukraine vào Nga. Mĩ và EU phải tập trung toàn bộ để giải quyết cuộc khủng hoảng này ở Âu châu. Bắc kinh đã thấy đây là thời điểm thuận lợi nên đã âm thầm thực hiện kế hoạch di chuyển giàn khoan HD 981 xuống biển Đông và hoàn thành việc này chỉ ít ngày sau chuyến thăm 4 nước Á châu của TT Mĩ Obama vào cuối tháng 4 là Nhật, Nam Hàn, Mã lai Á và Phi luật tân.[ix]
HNTU9 hoàn toàn im lặng trước cuộc xâm lấn ngang ngược của Bắc kinh
Trong vai trò của một đảng độc quyền cai trị và tự khoác cho minh độc tôn lãnh đạo đất nước thì đúng ra người đứng đầu đảng là Nguyễn Phú Trọng phải thông báo ngay và đầy đủ về hành động xâm lấn của Bắc kinh từ ngày 1.5 khi giàn khoan khủng HD 981 tiến vào thềm lục địa VN với sự hộ tống và bảo vệ của gần trăm tầu chiến, phi cơ, tầu hải giám… của Trung quốc. Vì đây là trách nhiệm của người cầm đầu chế độ.
Trong các diễn văn khai mạc và bế mạc ông Trọng đã không thông báo cho nhân dân và cũng không cho thảo luận ở HNTU 9 họp suốt trong một tuần. Mãi hai ngày trước ngày khai mạc HNTU 9 báo chí chế độ toàn trị mới đưa tin Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã điện đàm với người đồng nhiệm Trung quốc để kết án hành động xâm lấn này. Ngày 13.5 tờ NewYork Times đã cho biết, Nguyễn Phú Trọng đã tìm cách điện đàm với Tập Cận Bình và đề nghị sẵn sàng sang Bắc kinh để giải quyết cuộc tranh chấp này. Nhưng Tập Cận Bình đã nhất mực từ chối đề nghị của ông Trọng.[x] Tuy nhiên các việc làm này ông Trọng cũng không thông tin trực tiếp cho nhân dân và trong Đảng! Ém nhẹm như vậy có phải sợ mất lòng họ Tập? Hay sợ rằng nhân dân sẽ phê bình sự bất lực và nhu nhược? Trong diễn văn khai mạc ngày 8.5 tuyệt nhiên không thấy Nguyễn Phú Trọng nhắc một lần nào biến cố thời sự cực kì quan trọng và nguy hiểm này. Mãi tới ngày 11.5 ông mới để Nguyễn Tấn Dũng kết án Bắc kinh tại Hội nghị Cấp cao Asean ở thủ đô Miến điện.[xi] Nhưng trong Thông cáo chung kết thúc của Hội nghị này đã không kết án Trung quốc mà chỉ khuyên các bên giải quyết êm thắm cuộc tranh chấp.[xii] Có phải vì các nước trong Asean không tin cậy lẫn nhau hay chính vì nhiều nước đã thấy rõ thái độ mập mờ với Bắc kinh của ngay người cầm đầu chế độ toàn trị VN trong HNTU 9?
Sau khi hàng ngàn người biểu tình ngày Chủ nhật 11.5 ở Hà nội, Sài gòn và nhiều thành phố khác kết án sự xâm lấn của Bắc kinh và đòi Bắc kinh phải rút giàn khoan HD 981 ngay ra khỏi thềm lục địa VN, tứ trụ triều đình toàn trị Trọng-Sang-Dũng-Hùng cũng không lên tiếng ủng hộ, trái lại còn cho công an chìm nổi phá rối và mua chuộc, tìm cách biến các cuộc biểu tình này thành ủng hộ đường lối của chế độ![xiii] Trong diễn văn dài bế mạc HNTU 14.5 Nguyễn Phú Trọng chỉ nhắc vỏn vẹn hai lần tới biển Đông, lần đầu sơ qua, mãi lần hai mới nói “tình hình Biển Đông hiện đang diễn biến rất phức tạp, nghiêm trọng”…Nhưng tuyệt nhiên ông ta tránh không đả động tới diễn biến nghiêm trọng như thế nào và nước nào là thủ phạm gây ra tình trạng nghiêm trọng hiện nay trên biển Đông. Nghĩa là Nguyễn Phú Trọng vẫn không dám nêu đích danh nhà cầm quyền Bắc kinh ra kết án! Mãi phần cuối của Thông báo HNTU 9 mới nhắc tới điểm này. Nhưng lời lẽ hé lộ ra thật rất lạ lùng:
“Ban Chấp hành Trung ương theo dõi sát tình hình, nghe báo cáo của các cơ quan chức năng về việc thực hiện các chủ trương, giải pháp của ta phản đối, đấu tranh đòi phía Trung Quốc phải dừng việc đặt giàn khoan thăm dò dầu khí Hải Dương 981 trong vùng biển nước ta…” [xiv]
Qua đó cho thấy, dù là cơ quan cao nhất của Đảng giữa hai nhiệm kì, nhưng tại HNTU 9 Ban chấp hành trung ương cũng chỉ được “nghe báo cáo” của các cơ quan cấp dưới, nhưng tuyệt nhiên không có thảo luận gì!
Trước tình hình nghiêm trọng đất nước đang bị xâm lăng, nhưng HNTU 9 đã không thảo luận mà chỉ tập trung vào việc chuẩn bị tổ chức Đại hội 12 làm thế nào để tiếp tục giữ độc quyền cho ĐCS. Còn về chính sách văn hóa thì HNTU 9 vẫn lập lại những khẩu hiệu rỗng tuyếch và răn đe trừng trị “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong Đảng và ngăn cấm các hoạt động văn hóa và báo chí lề dân, như việc hủy bỏ luận văn “Vị trí kẻ bên lề: Thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa” của chị Đỗ Thị Thoan [xv] và bắt giam nhiều Blogger gần đây đang gây bất bình trong nhiều giới ở trong và ngoài nước và dư luận quốc tế kết án nghiêm khắc!:
“Chủ động đấu tranh phòng, chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trên lĩnh vực văn hóa. Quản lý tốt hơn việc sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet. Ngăn chặn có hiệu quả tình trạng một bộ phận báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ hoạt động không đúng tôn chỉ, mục đích, sa đà vào những thông tin, sản phẩm lệch lạc, thị hiếu tầm thường. Tích cực đấu tranh với những biểu hiện lai căng, những sản phẩm độc hại, những hành vi phi văn hóa, phản văn hoá…”[xvi]
Tóm lại, mặc dù Bắc kinh đã xâm phạm ngang ngược vùng biển VN trước và trong thời gian HNTU 9 họp; tức là lãnh thổ, chủ quyền và độc lập đang bị đe dọa nghiêm trọng, nhưng tuyệt nhiên Ban chấp hành Trung ương tại HNTU 9 đã không được phép bàn tới vấn đề nóng bỏng và cực kì hệ trọng tới tương lai đất nước. Sự kiện này lại chứng minh một lần nữa rất rõ ràng là, vì quyền-tiền nên cả phe bảo thủ lẫn các nhóm lợi ích từ Bộ chính trị tới Trung ương đảng đã thỏa hiệp ngầm với nhau và không giám đưa việc xâm lấn của Bắc kinh ra thảo luận công khai trong HNTU 9. Vì họ lo sợ rằng, đưa vấn đề này ra thảo luận trong HNTU 9 thì chẳng khác gì cởi áo cho người xem lưng và số phận của chế độ và cả chính họ không biết sẽ đi về đâu! Vì hầu hết 16 ủy viên Bộ chính trị đều đã từng phất cao ngọn cờ “16 chữ vàng” và “4 tốt” của Bắc kinh, nếu nay đem chính sách với Bắc kinh ra thảo luận sẽ khơi sâu thêm sự phân hóa và kình chống giữa các phe và làm trò cười trước nhân dân VN và dư luận quốc tế!
Các hành động xâm lấn từng bước của Bắc kinh biển biển Đông thành cái hồ của Trung quốc
Giàn khoan HD 981 đang đứng sừng sững ngang ngược trong hải phận VN chỉ là một chuỗi các chuẩn bị và hành động xâm lấn có tính toán từ lâu của Bắc kinh. Bất chấp thỏa thuận giữa cấp cao của hai bên là không được làm căng thẳng tình hình biển Đông, nhưng trong nhiềm năm qua nhằm thực hiện mục tiêu biến biển Đông thành cái ao của Trung quốc và từ đó thực hiện “Giấc mơ vĩ đại của Trung quốc”[xvii] mà chính Tập Cận Bình đã tuyên bố toạc ra sau khi làm Tổng bí thư ĐCSTrung quốc và Chủ tịch Trung quốc.
Chỉ liệt kê một số hành động xâm lấn có tính toán của Bắc kinh trong vài năm trở lại đây:
– Cho các tầu hải quân Trung quốc ba lần xâm phạm hải phận VN và phá các hoạt động kinh tế VN trong năm 2011.
– Lập căn cứ quân sự và cho các đơn vị quân đội Trung quốc đóng thường trú ở Hoàng sa.
– Tháng 7. 2012 cho lập thành phố Tam sa trong đó có quần đảo Hoàng sa, nơi đang có tranh chấp với VN, thành cơ sở hành chánh mới của Trung quốc, nghĩa là mặc nhiên coi Hoàng sa là lãnh thổ của Trung quốc.
– Các chiến hạm Trung quốc thường xuyên tuần tra trên khu vực đang có tranh chấp với VN và nhiều nước Đông nam Á.
– Cho cả ngàn tầu đánh cá Trung quốc ồ ạt xuống biển Đông đánh cá dưới sự hộ tống của hải quân Trung quốc.
– Trong khi đó nhiều tầu đánh cá và ngư dân VN đã bị các tầu hải quân Trung quốc săn đuổi, bắn phá và gây thiệt mạng cũng như thương tích.
– Đầu năm nay còn leo thang thêm với việc ra lệnh tầu ngoại quốc đánh cá và thăm dò trong khu vực “lưỡi bò” phải xin phép Trung quốc, như nói ở phần đầu.
– Áp lực với giới cầm đầu CSVN cấm các cuộc biểu tình của nhân dân VN chống chính sách bành trướng của Bắc kinh và ngăn cản các lễ kỉ niệm 19.1 và 17.2.; áp lực với nhóm cầm đầu Hà nội cấm báo chí viết bài không có lợi cho Bắc kinh và bắt giam nhiều Blogger từng tố cáo sự xâm lấn của Bắc kinh.
Bắc kinh đã thành công vì nhóm cầm đầu CSVN mang nặng bệnh tâm lí tự ti mặc cảm, thái độ cúi đầu và tư tưởng sai lầm lạc hậu
Câu hỏi trung tâm ở đây là, làm sao Bắc kinh đã có thể tự do hoành hành xâm lấn biển Đông như chỗ không có chủ trong các năm qua? Muốn giải đáp câu hỏi này thì cần biết rõ, những người cầm đầu chế độ toàn trị CSVN đã đối xử như thế nào với giới lãnh đạo Bắc kinh, sáng suốt hay u mê, can đảm hay nhu nhược? Đứng về phía nhân dân hay o bế Bắc kinh? Ở đây chỉ liệt kê một số hoạt động của họ trong vài năm gần đây:
– Năm 2010 khi tình hình biển Đông ngày càng căng thẳng, khi đó với tư cách Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đã tuyên bố trước UBTVQuốc hội là “Tình hình biển Đông không có gì mới” [xviii] và cấm không cho Quốc hội được đưa vấn đề biển Đông ra thảo luận.
– Để vận động cho chuyến thăm ra mắt Bắc kinh vào tháng 10.2011với tư cách tân TBT, mùa hè 2011 Nguyễn Phú Trọng đã phái hai Thứ trưởng Quốc phòng sang uốn lưỡi lấy lòng phương Bắc. Trong khi Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng quốc phòng và phụ trách đối ngoại, đã tuyên bố “Một thực tế hiển nhiên là Trung quốc cam kết không lấy đất, lấy biển của Việt Nam.” [xix] Còn Tướng Ngô Xuân Lịch, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị, thì hứa với Bắc kinh “Việt Nam không có ý định quốc tế hóa các vấn đề tranh chấp trên Biển Đông. Vấn đề tranh chấp giữa hai nước thì do hai nước giải quyết.” [xx]
– Trong khi tình hình biển Đông tiếp tục căng thẳng, trước chính sách xâm lấn của Bắc kinh khiến Phi luật tân đã phải kiện Trung quốc tại Tòa án quốc tế, nhưng vì sợ Bắc kinh nên Hà nội không dám ủng hộ Phi luật tân, một thành viên trong Asean. Giữa khi ấy Nguyễn Tấn Dũng đã huyênh hoang tại cuộc hội thảo quốc tế “Đối thoại Shangri-La” vào cuối tháng 5 đầu tháng 6 tại Singapore vẫn còn nuôi “Xây dựng lòng tin chiến lược vì hòa bình, hợp tác, thịnh vượng” với Bắc kinh. Làm thế có khác nào trao trứng cho ác! [xxi]
– Giữa tháng 12.2013 khi về HN dự Hội nghị Ngoại giao do Nguyễn Phú Trọng chủ trì, Đại sứ VN tại Trung quốc Nguyễn Văn Thơ cũng theo chiều hướng tùng phục như vậy đã nói với báo chí về chính sách ngoại giao trước sau của Hà nội với Bắc kinh là “Chúng ta không có hai lòng.” [xxii] Nghĩa là theo chủ trương trung thần bất sự nhị quân, coi Trung quốc là thiên triều, còn VN là thuộc quốc như thời phong kiến vài thế kỉ trước!
Những lời tuyên bố vừa ngênh ngang vừa ngờ ngệch trên của những người cầm đầu Đảng, Chính phủ hay những người có trách nhiệm về quốc phòng, ngoại giao đã cho thấy thái độ ươn hèn và những quan điểm cực kì sai lầm về các ý đồ và chính sách của Bắc kinh… Nó bắt nguồn từ tư duy cực kì lạc hậu và tâm lí tự ti mặc cảm của giới lãnh đạo toàn trị còn sót lại từ thời phong kiến. Đặc biệt bệnh tâm lí tự ti mặc cảm đối với phương Bắc trở thành căn bệnh nặng của Nguyễn Phú Trọng. Ông tỏ ra rất hãnh diện khi được người cầm trịch ở Bắc kinh chú ý và tự khen với thái độ vui như con nít ngay trước hội nghị quan trọng của Đảng. Ông Trọng coi việc Hồ Cẩm Đào khi ấy là Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước đã cử đặc phái viên sang mừng Nguyễn Phú Trọng được cử làm Tổng bí thư (1.2011) là một niềm hãnh diện lớn:
“Chưa bao giờ ngay sau Đại hội, một số đảng anh em như… Đảng Cộng sản Trung quốc cử đặc phái viên của Tổng bí thư, Chủ tịch nước sang gặp Tổng bí thư ta để trực tiếp chúc mừng thành công của Đại hội”! [xxiii]
Từ tâm lí tự ti mặc cảm với phương Bắc, cho nên sung sướng và hãnh diện được kết “bạn” với Bắc kinh là logic rất biện chứng của ông Trọng. Điều này Nguyễn Phú Trọng đã nói rõ trước mặt cả hơn ngàn cán bộ trung và cao cấp tại Hội nghị Cán bộ toàn quốc ngày 27.2.2012. Khi nhắc tới các nhà lãnh đạo Bắc kinh, ông Trọng luôn luôn tỏ vẻ kính trọng, như “BẠN thường nhấn mạnh, không để bị “Tây hóa, tha hóa, thoái hóa!” [xxiv] Một điều bạn bảo, hai điều bạn khuyên, sự cung kính như thế có khác nào như thái độ coi đó như những lời bố dậy bảo!
Cho nên không lạ, khi người đứng đầu giữ thái độ khúm núm và tự ti như vậy, coi Bắc kinh như thiên triều ngày xưa, thì chẳng trách những người dưới quyền cũng quị lụy như vậy, đồng thời còn ra tay ru ngủ cả toàn Trung ương đảng và quân đội! Chính vì vậy nên Bắc kinh đã được đằng chân lân đằng đầu. Việc Bắc kinh cho cả gần trăm tầu chiến, phi cơ quân sự, hải giám hộ tống giàn khoan khủng HD 981 vào sâu trong thềm lục địa VN hiện nay rõ ràng là hậu quả tất yếu của thái độ nhu nhược và cực kì sai lầm của Nguyễn Phú Trọng và những người cầm đầu chế độ toàn trị.
Đối với Bắc kinh thì quị lụy cúi đầu, cùng “xây dựng lòng tin chiến lược”, nhưng với nhân dân, thanh niên và trí thức VN thì Nguyễn Phú Trọng lại khinh thường, ngạo mạn. Khi nhiều trí thức, nhân sĩ từ trong Đảng tới ngoài xã hội tố cáo việc sửa đổi Hiến pháp giả vờ, Nguyễn Phú Trọng đã rất hách dịch kết án họ là “suy thoái đạo đức”. Cũng vẫn giữ cách phách lối đó, trong HNTU 9 Nguyễn Phú Trọng đã đe dọa những người dân chủ và cả những đảng viên tiến bộ:
“Chủ động đấu tranh phòng, chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trên lĩnh vực văn hóa. Quản lý tốt hơn việc sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet…”
Còn người cầm đầu chính phủ Nguyễn Tấn Dũng không bỏ lỡ một cơ hội nào để tung hô dân chủ, bảo vệ chủ quyền; nhưng chỉ là trò đánh trống bỏ dùi, làm người bán dạo ở đường phố, ưu tiên đầu tiên vẫn là quyền tiền và gia đình, trước sau vẫn khinh thường trí thức và đàn áp những người dân chủ!
***
Nói tóm lại, việc Bắc kinh ngang ngược cho cả gần 100 tầu chiến, phi cơ, tầu hải giảm và kiểm ngư hộ tống giàn khoan đầu khủng HD 981 vào sâu trong thềm lục địa của VN từ 1.5 và việc Tập Cận Bình quyết liệt từ chối lời yêu cầu của Nguyễn Phú Trọng sang Bắc kinh thảo luận đã cho thấy sự phá sản toàn bộ trong chính sách với Trung quốc của nhóm cầm đầu chế độ toàn trị CSVN. Mặc dù VN ngày nay xét cả về diện tích, dân số và tài nguyên là nước trung bình cả trong khu vực lẫn thế giới. Cả thế giới đang bước vào thời đại toàn cầu hóa cả trong kinh tế lẫn chính trị và kỉ nguyên thông tin điện tử đang có sức mạnh đánh tan đêm tối độc tài và tiến vào quĩ đạo dân chủ. Nhưng nhóm cầm đầu chế độ toàn trị ở VN tới nay vẫn chưa nhận ra được và cũng không dám nhìn nhận những sai lầm và cực kì nguy hiểm cho đất nước trong chính sách với Bắc kinh của họ. Vì thế đã dẫn tới sự phá sản toàn bộ của chính sách này. Biến cố HD 981 là một điểm cao mới chứng minh sự phá sản này.
Sự phá sản chính sách đối với Trung quốc nằm chính ngay trong đầu của những lãnh đạo CSVN. Do tư duy cực kì bảo thủ coi ý thức hệ CS… cao hơn lợi ích của dân tộc, nên họ nhận định hoàn toàn sai lầm về ý đồ của Bắc kinh. Tâm lí tự ti mặc cảm đã khiến họ sẵn sàng thần phục và quỵ lụy Bắc kinh như thời phong kiến. Trong khi ấy đối với nhân dân thì họ chỉ tính lừa đảo, khinh thường trí thức và thanh niên, đàn áp những người dân chủ và đang tăng cường trấn áp cả những đảng viên tiến vộ, biết quí lòng tự trọng!
Họ đòi quyền cao tuyệt đối cho Đảng trong mọi lãnh vực, trong đó có chính sách đối ngoại. Nay chính sách với Bắc kinh đã hoàn toàn thất bại và phá sản, nhưng họ không nhận trách nhiệm. Không những thế họ lại còn không cho Trung ương đảng thảo luận về những nguy cơ của đất nước, không cho nhân dân – đi đầu là trí thức, thanh niên- được quyền biểu tình ôn hòa chống lại sự xâm lấn của Bắc kinh. Như thế vài người đứng đầu trong Bộ chính trị đã trở thành siêu độc tài và đang củng cố quyền lực với việc thực hiện câu nói của Mao Trạch Đông: Trí thức chỉ như cục phân, nhân dân như cỏ dại!
17.5.2014

 

Categories: Nhan dinh | Leave a comment

China có muốn đánh Việt Nam vào thời điểm tháng 5/2014 này không?

China có muốn đánh Việt Nam vào thời điểm tháng 5/2014 này không?

Hoàng Mai

Đây là một bài dự đoán tình thế, thực tế có diễn ra như tác giả nhận định hay không là điều còn phải xem xét, cân nhắc rất nhiều mặt. Xin đăng lên để rộng đường dư luận.

Bauxite Việt Nam

Câu trả lời đơn giản là: CÓ!

Sau đây là những nhận định để có câu trả lời trên:

1. Để thực hiện được “đường lưỡi bò” thì buộc China phải dùng chiến tranh xâm lược; bởi vì không ngẫu nhiên các nước có tranh chấp với China lại giao biển đảo cho China. Như vậy, sớm hay muộn, chiến tranh giữa China với láng giềng trên Biển Đông buộc phải xẩy ra. China sẽ ra tay khi họ xét thấy “thế và thời” đã đủ chín mùi đối với họ.

2. Tập Cận Bình là người có tham vọng. Kể từ ngày được bầu là TBT và kiêm Chủ tịch nước (15/11/2012), ông ta đã thực hiện một loạt các biện pháp chống tham nhũng, ngay cả những người giữ chức vụ cấp cao nhất cũng không được an toàn, như Bạc Hy Lai, Chu Vĩnh Khang….; không chỉ thể hiện quyền lực, mà ông ta thực sự muốn thể hiện bản lĩnh trong việc thực hiện chủ thuyết của ông ta, đó là “Giấc mơ Trung Hoa”, hay “Phục hưng Trung Hoa”.

3. Sau hơn 30 năm đổi mới (từ 1978), China bây giờ là nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới. Những chi phí khổng lồ đầu tư cho quốc phòng liên tục trong nhiều năm, trong mưu đồ cạnh tranh với Mỹ về quân sự, nay Bắc Kinh cũng tự tin để khẳng định vai trò của mình trước thế giới. Riêng so sánh tương quan lực lượng quân sự với Việt Nam, thì China gấp hàng chục, thậm chí có lĩnh vực hơn hàng trăm lần. Nhân Dân Trung Quốc đang có một tinh thần Đại Hán rất cao, có đến 80% dân cư mạng China là muốn “dạy cho Việt Nam một bài học nữa”.

Về mặt này, có nghĩa là China đang rất tự tin về sức mạnh của mình, và rất muốn gây chiến.

Nội bộ China cũng đang rất bất ổn, việc gây chiến tranh bên ngoài lãnh thổ cũng là để giảm áp lực trong nước, hướng lòng dân ra ngoài lãnh thổ.

4. Bằng biện pháp “lạt mềm buộc chặt”, kể từ HỘI NGHỊ THÀNH ĐÔ, tháng 9/1990 đến nay, Bắc Kinh đã làm cho Việt Nam phụ thuộc họ về mọi mặt (kinh tế, chính trị, ngoại giao). Về kinh tế: Chỉ riêng năm 2013, “mức nhập siêu đối với thị trường này đã lên tới 23,8 tỷ USD”(1); như vậy, có thể suy đoán, chỉ riêng nhập siêu thôi (tích lũy các năm cộng lại), thì Việt Nam còn nợ China khoảng 50-70 tỷ USD, chưa kể khoản cho vay đầu tư ưu đãi khoảng 20-30 tỷ USD nữa. China cho rằng, nếu chiến tranh xẩy ra, thì kinh tế Việt Nam sẽ sụp đổ, và kéo theo cả thể chế. Và đây là lý do quan trọng để China không ngừng tăng sức ép, buộc lãnh đạo Việt Nam phải nhượng bộ hết cái này sang cái khác, trong nhiều năm liên tục. Nay là lúc Việt Nam đang yếu nhất, nếu không ra tay, thì nếu có một biến cố nào đó thay đổi thể chế ở Việt Nam theo hướng dân chủ, thân Mỹ thì China đã bỏ mất cơ hội nghìn năm mới có một này.

Như vậy, quyết đánh Việt Nam trong lúc nước Việt yếu nhất sẽ là thượng sách. Khả năng dành thắng lợi đã hơn 60%.

5. Là cường quốc kinh tế, China hiện nay quan hệ và tài trợ, cho vay với hầu hết các nước trên thế giới; Bắc Kinh cho rằng, việc các nước phản đối China trong trường hợp China gây chiến với Việt Nam sẽ là thấp nhất.

6. Mâu thuẫn nội bộ, một tập thể Bộ Chính trị yếu đang đưa đất nước Việt Nam đến rối loạn, phân rã.

Trong bài viết “Bắt cá nhiều tay và không chốn dung thân”(2), nhà báo Phạm Chí Dũng đã viết: “… Tình hình đó đang phát triển nhanh đến mức mà một số giới quan sát cho rằng trong thời gian tới, Bộ Chính trị Việt Nam có thể bỏ mặc cho người Hán muốn làm gì thì làm ở khu vực biển Đông”.

Trong một diễn biến hôm qua, bài phát biểu tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 9, vào chiều 14/5/2014, của ông TBT Nguyễn Phú Trọng có đoạn:

“Đặc biệt là tình hình Biển Đông hiện đang diễn biến phức tạp, nghiêm trọng, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải hết sức tỉnh táo, sáng suốt, tăng cường đoàn kết, cả nước một lòng, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước”. 

Không khó để nhận ra từ lời phát biểu trên đây của ông Trọng, ẩn sâu trong lời phát biểu là thể hiện sự buông xuôi. Phải chăng, vì nguồn lực kinh tế suy kiệt, trong khi bạn bè thực tâm của Việt Nam lúc này chẳng có ai cả (mặc dù các nước có quan hệ “đối tác chiến lược” đã gần đến 10 nước); cho nên phải tính bài “giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước”. Một khi giặc đã vào nhà rồi mà vẫn giữ quan điểm như vậy, thì phải hiểu đó là gì?

Rõ ràng, Bắc Kinh thừa khôn ranh để hiểu rằng, toàn bộ BCT Việt Nam đang nghĩ gì, và họ sẽ không bỏ qua cơ hội này.

7. Mâu thuẫn giữa Nhân Dân và Chính quyền là chưa từng có trong lịch sử.

Việc bắt bớ bỏ tù những người yêu nước trong nhiều năm qua, và việc dân oan khiếu kiện ở khắp cả nước trả lời cho nhận định này. Một đất nước như thế, thì không thể là một đất nước mạnh, và giặc ngoại xâm lợi dụng để xâm lăng là chuyện dễ thấy.

8. Quan tham bị Bắc Kinh mua chuộc.

Bằng nhiều hình thức, người Tàu đã mua chuộc được rất nhiều quan tham ở Việt Nam ở tất cả các Bộ, ngành và địa phương; kể cả là ở cấp cao nhất. Cho China vào khai thác bauxite tại Tây Nguyên là một ví dụ.

Phải có sự chỉ đạo từ cấp cao, thì China mới trúng thầu đến 90% công trình trọng điểm quốc gia. Tương tự như thế, China mới thuê được đất trồng rừng 50 năm; thuê Cảng Vũng Áng đến 70 năm v.v.; Riêng tỉnh Quảng Ninh còn muốn cho thuê 120 năm, thật là không còn gì để nói nữa!

Báo chí đưa tin, có đến 60% các mỏ khoáng sản ở miền Bắc là do người Tàu đứng sau, cho thấy họ đang làm chủ nền khai thác mỏ của Việt Nam, lĩnh vực kinh tế chủ yếu của Việt Nam hiện nay.

Bọn người Tàu đã trà trộn khắp nơi ở Việt Nam. Ngay tại Hà Nội, các cuộc biểu tình trước đây có đám người Tàu, mà người biểu tình chụp ảnh được. Việc để người Tàu có mặt khắp nơi ở Việt Nam, một mối nguy hiểm không thể lường hết được.

Có thể nói, Bắc Kinh đang chờ cơ hội để ra tay xâm lược Việt Nam bằng quân sự trong thời gian tới.

Với việc đưa giàn khoan HD-981 vào sâu trong thềm lục địa Việt Nam, Bắc Kinh thực sự đã tuyên bố chiến tranh. Và với danh dự nước lớn và tầm quan trọng của sự kiện, thì không bao giờ Bắc Kinh rút ra khỏi vị trí đó, trừ việc bị quốc tế cấm vận (điều này không thể xẩy ra).

Với quan điểm “giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước”, thì xem như Việt Nam đã chấp nhận bỏ cuộc đối với HD-981, đúng như nhà báo Phạm Chí Dũng đã viết trên đây, ngoại trừ một diễn biến khác ngoài sự dự đoán của nhiều người.

14.5.2014

H.M.

Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Giải pháp cho đảng CSVN để bảo vệ chủ quyền quốc gia

Giải pháp cho đảng CSVN để bảo vệ chủ quyền quốc gia

LS Nguyễn Văn Đài, gửi RFA từ Hà Nội
2014-05-16
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này
000_Hkg9817100-600.jpg

Tàu hải giám Trung Quốc (màu trắng, phía sau) ngay sát tàu Việt Nam trên Biển Đông hôm 14/5/2014

AFP photo

Phần I: Chiến lược bành trướng của Trung Quốc

Trung Quốc có tiềm lực kinh tế, quân sự rất hùng hậu. GDP và chi phí quân sự đều đứng thứ hai trên thế giới. Nền kinh tế luôn đòi hỏi nguồn nguyên, nhiên liệu rất lớn cho sự phát triển. Bởi vậy, việc tìm kiếm các nguồn nguyên, nhiên liệu luôn được ưu tiên trong chính sách bành trướng của Trung Quốc.

Chúng ta hãy cùng suy xét xem quốc gia nào trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương là mục tiêu bành trướng đầu tiên của Trung Quốc?

Nhìn lên phía Bắc của Trung Quốc là một nước Nga hùng mạnh về quân sự và rất cứng rắn trong vấn đề chủ quyền quốc gia. Hải quân Nga không nhân nhượng mà đã nổ sung vào tàu cá của TQ khi xâm phạm lãnh hải của họ. TQ còn thua kém Nga rất nhiều về tiềm lực quân sự. Do vậy, TQ không thể bành trướng sang nước Nga.

Nhìn sang phía Đông là Hàn Quốc và Nhật Bản, Đài Loan. Họ đều hùng mạnh về kinh tế, quân sự và là đồng minh của Mỹ. Mỹ có hiệp ước an ninh với Nhật và Hàn, có luật về bảo vệ Đài Loan. TQ không thể bành trướng về phía Đông.

Nhìn sang phía Tây là các nước Trung Á, là vùng đệm chiến lược của Nga. Tiếp đó là Afganistan, quân Mỹ và Nato đang đóng quân ở đó. Tiếp đến Pakistan đang là đồng minh của TQ. Còn Ấn Độ là cường quốc kinh tế, quân sự, là đối thủ ngang sức của TQ. Tiếp theo là Miến Điện, đang là đồng minh, đối tác tốt của TQ. Nhưng tương lai, Miến Điện có thể là đồng minh của Mỹ và phương Tây.

Phía Nam là Philippines và Việt Nam. Philippines có hiệp ước an ninh với Mỹ và là đồng minh lâu năm của Mỹ. TQ không thể tùy tiện mà bành trướng sang Philippines.

Việt Nam có biển Đông với trữ lượng dầu khí, khoáng sản và thủy hải sản dồi dào. Kinh tế kém phát triển và phụ thuộc nhiều vào TQ về nguồn nguyên liệu. Chi phí quốc phòng chỉ bằng 1/30 của TQ. Lực lượng hải quân và không quân chỉ bằng 1/3 hạm đội Nam Hải của TQ. Việt Nam không có đồng minh để có thể giúp đỡ quân sự, chuyên gia quân sự, hậu cần, thông tin tình báo,… nếu sảy ra xung đột. Chính quyền và đảng CS cầm quyền thì tham nhũng, nhu nhược và không đoàn kết, đánh mất niềm tin và sự ủng hộ của nhân dân.

Bởi vậy, Việt Nam là mục tiêu yếu nhất và dễ nhất trong chiến lược bành trướng của TQ. Và thực tiễn đã, đang và sẽ chứng minh điều này.

Chiến lược bành trướng của TQ đối với VN

Hiện tại và tương lai, Trung Quốc không sử dụng quân sự để tấn công đánh chiếm các đảo của VN ở quần đảo Trường Sa trước. Mà TQ đang và sẽ tiếp tục sử dụng chiến thuật lấn chiếm từng bước vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của VN. Họ tiếp tục sử dụng lực lượng quân sự, bán quân sự, dân sự với số lượng áp đảo để tiếp tục duy trì và đặt các dàn khoan mới. Mỗi năm, họ có thể đặt từ 2-3 dàn khoan và từng bước lấn chiếm cho tới khi hết các vùng biển có tiềm năng dầu khí của VN.

Các giải pháp đối phó của VN:

Việt Nam chỉ đưa các lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư ra thực thi công vụ, thì chẳng khác gì con muỗi cắn vào mông con voi. Chỉ tự thiệt hại về kinh tế, tài sản, thương vong về người mà trong khi TQ vẫn tiếp tục lấn chiếm.

Việt Nam sử dụng quan hệ ngoại giao để kêu gọi và được cả thế giới ủng hộ, lên tiếng, thì đó cũng chỉ là những phát ngôn, tuyên bố chính trị, ngoại giao. TQ vẫn trơ mặt mà tiếp tục lấn chiếm. Lợi ích quốc gia về kinh tế, chính trị, an ninh của họ vẫn quan trọng hơn. Các nước khác dù ghét TQ nhưng vẫn là đối tác kinh tế của họ.

Việt Nam kiện TQ ra các tòa án quốc tế và thắng kiện. VN cũng không đủ sức mạnh để dùng các phán quyết, bản án đã thắng đó để thi hành án, thực thi phán quyết với TQ. Thắng kiện nhưng không đòi lại được chủ quyền lãnh hải quốc gia.

Cuối cùng là Việt Nam phải dùng giải pháp quân sự để bảo vệ chủ quyền lãnh hải quốc gia. VN  không có đồng minh và tiềm lực quân sự lại thua kém TQ. TQ sẽ mượn cớ VN dùng vũ lực giải quyết tranh chấp, TQ sẽ uy hiếp trên đất liền và dùng toàn bộ sức mạnh tiêu diệt lực lượng quân sự của VN trên biển, đánh chiếm toàn bộ quần đảo Trường Sa. Lúc đó, người VN muốn rửa chân ở biển cũng phải xin phép TQ. Việt Nam không thể một mình, đơn phương dùng giải pháp quân sự với TQ.

Vậy, giải pháp nào để VN có thể bảo vệ được chủ quyền lãnh hải quốc gia của mình?

Phần II: Giải pháp cho đảng CSVN để bảo vệ chủ quyền lãnh hải quốc gia.

Muốn bảo vệ được chủ quyền lãnh hải quốc gia, muốn phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế và trở thành một quốc gia hùng mạnh về kinh tế, quân sự. Việt Nam phải xây dựng được các mối quan hệ đồng minh chiến lược. Từ đó VN có đủ sức mạnh về quân sự cùng với sự giúp đỡ của các đồng minh thì mới có thể bảo vệ được chủ quyền quốc gia.

Lựa chọn quốc gia để xây dựng mối quan hệ đồng minh: Có hai quốc gia mà VN có thể lựa chọn để xây dựng mối quan hệ đồng minh.

Thứ nhất là Nga, nhưng Nga đang sa lầy ở Ukraine, bị Mỹ và các nước phương Tây bao vây, cấm vận. Mâu thuẫn, tranh chấp giữa Nga với Mỹ và các nước phương Tây sẽ còn kéo dài. Bởi vậy, Nga rất cần TQ để buôn bán, làm ăn. Đồng thời, Nga cũng cần TQ trong các liên kết chính trị, kinh tế để đối phó với phương Tây. Do vậy, Nga không bao giờ muốn làm phật lòng TQ để xây dựng quan hệ đồng minh với VN chống TQ. Thực tế, từ khi TQ xâm lược VN trên biển Đông, Nga chưa lên tiếng để bênh vực cho VN. Thậm chí, Nga còn mong TQ và VN có mâu thuẫn, chiến tranh với nhau để Nga bán vũ khí và làm TQ suy yếu một phần.

Chắc chắn, Nga sẽ không bao giờ đồng ý xây dựng mối quan hệ đồng minh với VN.

Thứ hai là Mỹ, Mỹ luôn luôn muốn VN đứng về phía Mỹ, cùng chia sẻ mối quan tâm và lợi ích trên biển Đông. Nước Mỹ với tiềm lực kinh tế, quân sự hùng mạnh của họ, Mỹ hoàn toàn có đủ khả năng không chỉ giúp VN phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế. Mà còn bán vũ khí, viện trợ vũ khí, cung cấp thông tin tình báo, hỗ trợ hậu cần, huấn luyện,…. Giúp VN có đủ năng lực đối phó với TQ trên biển Đông.

Khi VN đã xây dựng được quan hệ đồng minh với Mỹ, thì VN sẽ dễ dàng trong việc xây dựng  quan hệ đồng minh với Nhật, Hàn Quốc, Úc, Canada, các nước phương Tây và Nato. Từ đó VN sẽ nhanh chóng phát triển về kinh tế, tăng cường tiềm lực quốc phòng đủ sức bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Làm sao để xây dựng mối quan hệ đồng minh với Mỹ?

Trở ngại lớn nhất và duy nhất là vấn đề nhân quyền và dân chủ. Nước Mỹ chỉ có thể xây dựng mối quan hệ đồng minh với một nước VN dân chủ và tôn trọng nhân quyền.

Vậy muốn xây dựng được quan hệ đồng minh với Hoa Kỳ để có thể bảo vệ được chủ quyền quốc gia và phát triển kinh tế đất nước. Đảng CSVN phải thả hết tù chính trị, cải thiện và tôn trọng các quyền con người. Công nhận và cho phép các tổ chức chính trị, đảng phái chính trị thành lập và hoạt động bình đẳng. Sửa đổi Hiến pháp, luật bầu cử và tiến hành bầu cử tự do, công bằng.

Làm được điều này, đảng CSVN không chỉ xây dựng được quan hệ đồng minh chiến lược với Hoa Kỳ. Mà còn hòa hợp, hòa giải dân tộc và đoàn kết được tất cả người Việt Nam ở trong cũng như ngoài nước trong việc xây dựng, phát triển kinh tế và bảo vệ Tổ quốc.

Giải pháp duy nhất mà VN có thể bảo vệ được chủ quyền quốc gia đó là đảng CSVN phải cải thiện và tôn trọng nhân quyền, dân chủ hóa xã hội. Xây dựng các mối quan hệ đồng minh chiến lược với Hoa Kỳ và các cường quốc phương Tây.

Hà Nội, ngày 14-5-2014

*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Ts. Cù Huy Hà Vũ: Xóa bỏ độc tài mới giữ được nước!

Ts. Cù Huy Hà Vũ: Xóa bỏ độc tài mới giữ được nước!

Việt-Long phỏng vấn Ts. Cù Huy Hà Vũ
2014-05-16
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này
cu-vu-3

Ts. Cù Huy Hà Vũ: đảng Cộng sản Việt Nam! Hãyvì lợi ích của dân tộc, tiến hành những bước khẩn cấp dân chủ hóa chế độ…

RFA photo

 

Việt-Long: Ông nhận định ra sao về chính sách của Trung Quốc đối với Việt Nam?

Ts. Cù Huy Hà Vũ: Không phải riêng tôi mà tất cả mọi người Việt Nam đều rõ chính sách của Trung Quốc đối với biển Đông nói chung và với Việt Nam nói riêng.  Từ hằng nghìn năm nay Việt Nam luôn là mục tiêu xâm lược của nhà cầm quyền Trung Quốc. Bao nhiêu triều đại của nước ta đã phải chống chọi với các triều đại Trung Hoa trong suốt chiều dài lịch sử hai nước. Điều này thì ai cũng rõ.

Bây giờ tại sao Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD-981 vào thời điểm này? Có rất nhiều lý do. Thứ nhất, đó là sự tiếp tục chính sách bành trướng mà nhà cầm quyền Cộng Sản Trung Quốc kế thừa từ các triều đại phong kiến trước đây của Trung Hoa. Vấn đề thứ hai là Trung Quốc luộn tận dụng cái gọi là “liên thông tư tưởng”, cái gọi là “đồng chí Cộng Sản” với nhà cầm quyền Việt Nam để ép nhà cầm quyền Cộng Sản Việt nam nhường đất đai. Nếu không nhường, Trung Quốc sẵn sàng dùng vũ lực đánh chiếm. Họ biết rằng hiện nay cái thế của Việt Nam nói chung, hay cái thế của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam là vô cùng yếu, cực kỳ yếu, rất cô đơn trong thế giới ngaày nay.

Trung Quốc đã chuẩn bị phương án chiến tranh với Việt Nam ngay sau vụ đặt giàn khoan. Không phải bây giờ tôi mới nói, mà từ tháng ba năm 2010 tôi đã phân tích rất rõ là Trung Quốc sẵn sàng dùng vũ lực để thôn tính lãnh thổ Việt Nam thì Việt Nam bắt buộc phải tìm đồng minh, cụ thể là các cường quốc quân sự, để chống lưng cho Việt Nam, vì Việt Nam không thể tiến hành chiến tranh mà không có sự chống lưng của các cường quốc khác.

Tôi đã nói trong giai đoạn chống thực dân Pháp, Việt Nam đã có sự ủng hộ rất tích cực của Liên Xô, Trung Quốc. Đến giai đoạn chiến tranh việt nam vừa qua, mà tôi gọi là cuộc nội chiến, có sự tham gia của Mỹ, Việt Nam có thể tiến hành chiến tranh đi đến thống nhất Việt Nam, cũng nhờ có sự chống lưng của Liên Xô và Trung Quốc, cụ thể với những vũ khí và các phương tiện hậu cần. Đến năm 1979 khi Trung Quốc Cộng Sản đánh người em thân thiết Việt Nam Cộng Sản thì Việt Nam Cộng Sản cũng phải dựa vào một đồng minh Cộng Sản khác là Liên Xô, một cường quốc.

Như vậy xét về

viet-long-cuhuyhavu
Việt-Long: Hoa Kỳ từng bắt tay Trung Quốc và bỏ VNCH, nay có trở lại cứu Việt Nam Cộng Sản không?

lịch sử Việt Nam không thể chống lại hay giành chiến thắng trong các cuộc chiến tranh với các cường quốc quân sự khác mà không có ai chống lưng cho mình. Vậy thì trong tình hình hiện nay, để có thể chống lại sự thôn tính lãnh thổ của Trung Quốc, tôi thấy chỉ có thể có Mỹ là nước duy nhất trên thế giới có đủ sức mạnh quân sự, kinh tế, và cả chính trị. 

Chính vì thế, vào tháng 7 tháng 8 năm 2010 khi tiếp tục trả lời phỏng vấn của đài Tiếng Nói Hoa Kỳ, tôi khẳng định: “đồng hành quân sự với Hoa Kỳ là mệnh lệnh của thời đại”

Việt-Long: Có nhiều ý kiến trong nước cũng muốn chống Trung Quốc nhưng không muốn liên minh, liên kết với Hoa Kỳ. Câu hỏi là trước khi có những biện pháp liên quan đến quân sự, có thể dùng những biện pháp ngoại giao hay pháp lý nào đó đối với Trung Quốc được không?

Ts. Cù Huy Hà Vũ: Tôi khẳng đinh rằng đối với một cường quốc mà nay có thể  nói là cường quốc số 2 trên thế giới, không có biện pháp ngoại giao, chính trị, pháp luật nào, kể cả công pháp quốc tế có thể nhổ được giàn khoan của Trung Quốc ra khỏi vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam, có thể ngăn cản Trung Quốc sử dụng vũ lực tiếp tục đánh chiếm nốt quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Cho nên việc đảng Cộng sản, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam nói là dựa vào luật biển quốc tế, vào bản tuyên bố về ứng xử trên biển Đông mà Trung Quốc đã ký với các nước ASEAN, chỉ là những thứ để mị dân. Trên thực tế người ta hiểu rõ rằng không một lời nói nào, kể cả bằng ngoại giao, kể cả bằng chính trị, kể cả đưa ra tòa án quốc tế – tôi chưa muốn nói đến chuyện Trung Quốc không nhìn nhận thì cũng không giải quyết được trong thủ tục tòa án quốc tế – mà giải quyết được vấn đề.

Nó chỉ làm mất đi thời gian vô cùng quý báu, vô cùng cấp thiết vô cùng khẩn cấp để tìm ngay một lực lượng hỗ trợ thực tế cho Việt Nam để bảo vệ lãnh thổ cho Việt Nam. Đó là liên minh quân sự với Hoa Kỳ…

Việt-Long: Nhưng Hoa Kỳ đã từng bắt tay với Trung Quốc và bỏ Việt Nam Cộng Hòa, thì liệu bây giờ Hoa Kỳ có trở lại cứu Việt Nam Cộng Sản hay không?

Ts. Cù Huy Hà Vũ: Mỗi tình thế lịch sử lại khác nhau. Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, mục đích của Hoa Kỳ là đúng, vừa là đúng vừa có cái không đúng. Đúng là tìm cách chống chủ nghĩa Cộng Sản, thiết lập một chế độ dân chủ. Đó là cái đúng. Nhưng sự không hiểu biết, hay cái sai lầm, là không biết tới chủ nghĩa dân tộc Việt Nam, là tính thống nhất của người Việt Nam.

Người Việt Nam dù Nam hay Bắc cũng đều muốn nước mình thống nhất thành một khối. Lịch sử Việt Nam đã chứng minh từ thời 12 sứ quân đã có ông Đinh Bộ Lĩnh thống nhất thành nước Đại Cồ Việt. Qua đến nhiều đời sau, những thời kỳ chia cắt như Trịnh Nguyễn phân tranh, cũng được nhà Tây Sơn thống nhất, rồi nhà Tây Sơn ba anh em chia ba cõi, thì nhà Nguyễn của chúa Nguyễn Phúc Ánh cũng thống nhất lại dưới triều vua Gia Long. Việt Nam luôn luôn phải thống nhất, đó là điều người Mỹ không thấu đáo.

Điểm thứ hai, người Mỹ ở xứ dân chủ Mỹ chỉ cho phép chính phủ tiến hành những cuộc chiến tranh nhất định vì những mục tiêu của Hoa Kỳ. Nhưng nếu cuộc chiến tranh kéo dài quá thì sự kiên nhẫn mất đi. Và cần nói Mỹ không chỉ bắt tay với Trung Quốc mà cả với Liên Xô, để nhờ các nước lớn bảo đảm cho nền độc lập của VNCH, nhưng không thành…

Việt-Long: Liệu bây giờ Mỹ có sẵn lòng đối đầu quân sự với Trung Quốc để bảo vệ cho nước Việt Nam ngày nay không?

Ts. Cù Huy Hà Vũ: Tôi nghĩ nếu Mỹ và Việt Nam có liên minh quân sự thì đương nhiên Mỹ dám đối đầu quân sự với Trung Quốc, nhưng Trung Quốc không dám đối đầu quân sự với Mỹ, Trung Quốc không dám đối đầu quân sự với Mỹ. Có nhiều lý do. Lý do thứ nhất, về mặt hải quân, và các thiết bị chiến tranh trên biển, thì Trung Quốc mạnh hơn Việt Nam hằng chục lần thôi, chứ so với Mỹ thì chưa đâu vào đâu cả. Đánh nhau có Mỹ tham chiến thì Trung Quốc sau khi bị đánh bại tan tác chắc lại phải mua vũ khí của Mỹ! … mà lúc đó Mỹ bán hay không lại là chuyện khác. Đấy là về mặt quân sự.

Cái thứ hai, hiện giờ Mỹ giữ của Trung Quốc hơn 1 nghìn tỉ đô la trái phiếu mà Trung Quốc mua của chính phủ Mỹ; đối đầu quân sự với Mỹ là tính chuyện đốt hơn nghìn tỷ đô la rồi đấy!  Người Trung Quốc là người rất giỏi về nguyên tắc chung về kinh doanh. Họ không bao giờ muốn mất tiền. Nơi nào đầu tư là chỉ muốn sinh lãi, không bao giờ muốn mất tiền cả. Vậy tôi nói, cả về khía cạnh quân sự và kinh tế, Trung Quốc không dám, chứ không nói là thử, Trung Quốc không dám đối đầu quân sự với Mỹ.

Và tôi nói chỉ cần Mỹ liên minh quân sự với Việt Nam thôi, thì Việt Nam có thể, bằng khả năng được Mỹ hỗ trợ, kể cả những thiết bị chiến tranh quan trọng, thì có thể nhổ cái giàn khoan, thậm chí trong tương lai còn có thể thu hồi quần đảo Hoàng Sa. Tôi nói rằng một khi Mỹ liên minh quân sự với Việt Nam thì chúng ta, những người Việt Nam trong và ngoài nước, có niềm tin rằng lãnh thổ của chúng ta không những được bảo toàn  mà còn có khả năng được thu hồi những phần nào bị Trung Quốc cướp mất.

Còn cái giá phải trả, là mất cái đảng Cộng sản Việt Nam, thì tôi không cho đó là cái giá… Chỉ có đất nước tồn tại mãi, quốc gia tồn tại mãi, nếu biết giữ chứ không biết giữ mà đầu hàng thì mất hết, chứ không thể tồn tại mãi. Về nguyên tắc thì quốc gia tồn tại nhưng các chính thể, chế độ chính trị thì sẽ được thời gian loại trừ để tìm chế độ chính trị nào thích hợp nhất. Và tất nhiên cho đến giờ thì tôi cũng như tuyệt đại đa số trên thế giới đều thấy rằng chỉ có chế độ cộng hòa dân chủ, có sự cạnh tranh của nhiều đảng phái

dr-cu-vu
Ts. Cù Huy Hà Vũ: … thả ngay những người bất đồng chính kiến, xóa bỏ toàn bộ những hệ thống pháp luật đàn áp con người…

với nhau thì mới tồn tại. 

Vậy đảng Cộng sản Việt Nam hay ban lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam chừng nào còn coi mình là người Việt Nam thì phải biết, theo tôi là tốt nhất phải biết nên đứng ra tổ chức cuộc tổng tuyển cử tự do, kêu gọi tất cả mọi xu hướng xã hội, các lực lượng chính trị Việt Nam ra dự cuộc bầu cử này.

Tất nhiên tôi không đòi hỏi phải bỏ đi cái đảng Cộng sản, mà họ vẫn có quyền tồn tại như một đảng chính trị ở Việt Nam và tranh đua trong cuộc bầu cử có quốc tế giám sát để đảm bảo sự công bằng.  Tôi thấy đó là chuyện tốt nhất và cũng tránh cho đảng Cộng sản Việt Nam bị đào thải một cách đau đớn.như tôi đã từng tuyên bố nhiều lần.

Một khi người dân muốn thay đổi chế độ một cách hoà bình mà đảng Cộng sản không nghe thì chỉ còn một cách khác là thay đổi bằng bạo lực thì bắt buộc (ĐCS) sẽ phải sụp đổ trong máu thì lúc ấy… Bản thân tôi không mong muốn chuyện đấy. Ý muốn cá nhân không mong muốn nhưng thực tế sẽ là câu trả lời. Vì thế một lần nữa ở đây, tôi kêu gọi:

“ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HÃY VÌ LỢI ÍCH CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM, HÃY VÌ LỢI ÍCH CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM MÀ TIẾN HÀNH NHỮNG BƯỚC ĐI KHẨN CẤP NGAY TỨC KHẮC ĐỂ DÂN CHỦ HÓA CHẾ ĐỘ.

TRƯỚC HẾT HÃY TRẢ TỰ DO CHO TẤT CẢ CHO NHỮNG NGƯỜI BẤT ĐỒNG CHÍNH KIẾN, XÓA BỎ TOÀN BỘ NHỮNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT ĐÀN ÁP CON NGƯỜI, BẮT ĐẦU TIẾN HÀNH TỔ CHỨC BẦU CỬ DÂN CHỦ ĐA ĐẢNG.

TRÊN CƠ SỞ ĐÓ, HOA KỲ, LÀ QUỐC GIA DUY NHẤT TRÊN THẾ GIỚI HIÊN NAY, CÓ THỂ GIÚP VIỆT NAM BẢO VỆ THÀNH CÔNG LÃNH THỔ TRƯỚC SỰ XÂM LƯỢC CỦA TRUNG QUỐC.”

Việt-Long: Cám ơn ông Cù Huy Hà Vũ đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn hôm nay. Kính chào quý vị.

 

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Người Tân Cương giữa Trung Quốc và Việt Nam

Người Tân Cương giữa Trung Quốc và Việt Nam

Kính Hòa, phóng viên RFA
2014-05-15
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này
vietnamnet.vn-600.jpg

Trao trả những người Duy Ngô Nhĩ tại cửa khẩu Bắc Phong Sinh hôm 18/4/2014

Courtesy of vietnamnet.vn

 

Những sự kiện dồn dập đến từ phương bắc ảnh hưởng mạnh mẽ đến Việt Nam trong suốt một tuần qua. Một sự việc khác, nhỏ hơn và xảy ra trước đó, là những người Tân Cương chạy sang Việt Nam tị nạn bị trả về Trung Quốc. Câu chuyện dù không lớn nhưng cũng phản ánh tính phức tạp của quan hệ Việt Nam và Trung Quốc. Diễn đàn bạn trẻ xin đến cùng các bạn nghe đài với chủ đề này, với sự góp mặt của các bạn trẻ Việt Nam sống ở Đài Loan, Trung Quốc và có bạn đã từng sống ở Tân Cương.

Kính Hòa: Tham gia diễn đàn của chúng ta hôm nay có bạn Nguyễn Tường và Ray từ Đài Loan, bạn Như Ý từ Việt Nam nhưng hiện đang làm việc ở Malaysia. Các bạn biết rằng vừa qua có một nhóm người Duy Ngô Nhĩ vượt biên qua Việt Nam rồi bị trả về Trung Quốc, có một cuộc chạm súng xảy ra và có người chết. Ở đây chúng ta có bạn Như Ý từng du học ở Bắc Kinh và đã từng sống ở Tân Cương cũng như biết về những người dân ở đó. Chúng ta xin nhường lời đầu tiên cho bạn Như Ý.

Như Ý: Bắt đầu từ thời Mao Trạch Đông đưa quân chiếm Tân Cương và Tây Tạng từ cuối những năm 50, đầu những năm 60, cho đến nay chính phủ Trung Quốc không ngừng đưa người Hán lên vùng Tân cương, thực hiện chính sách đồng hóa và chiếm lĩnh vùng đất chiến lược này. Người Tân cương cảm thấy bị dạt ra ngoài lề, văn hóa và truyền thống của họ bị đe dọa. Đầu thế kỷ 20 dân số Tân cương chỉ là 5 triệu, bây giờ đến 15 triệu mà có đến 10 triệu người Hán. Các chính sách phát triển vùng Tân cương của chính phủ trung ương Trung Quốc làm cho người Tân cương cảm thấy không được lợi ích gì cả, mà chỉ thấy mình bị dạt ra bên lề.

Theo tôi thấy là trong chuyện này chính phủ Việt Nam vì tình đồng chí anh em đã xé bỏ hoàn toàn các công ước về người tị nạn.
– Như Ý, Việt Nam

Kính Hòa: Bên cạnh đó thì hình như còn vấn đề tôn giáo, vì chính phủ Trung Quốc dường như cảm thấy không thoải mái lắm với đạo Hồi của người Tân cương?

Như Ý: Không chỉ là đạo Islam mà tất cả các đạo khác, bất kể là đạo Phật, đại Lão, hay đạo Thiên chúa thì chính phủ Trung Quốc không hoan nghênh tính độc lập của các tôn giáo. Ở Trung Quốc muốn sinh hoạt một tôn giáo nào đấy thì anh phải sinh hoạt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng cộng sản.

Nguyễn Tường: Mình cũng muốn bổ sung thêm về những xung đột và bất ổn tại Tân cương, chính sách đồng hóa và khai thác của người Hán hay của đảng cộng sản đối với vùng Tân cương là do cái vị trí địa chính trị của nó. Trung Quốc cần nhiều năng lượng và khoáng sản để phát triển, thiếu dầu thô. Gần đây chính phủ Trung Quốc xây dựng những đường huyết mạch về năng lượng qua vùng Tân cương để nối Kazakstan để lấy dầu thô, rồi khí đốt từ Turmenistan.

Trung Quốc còn muốn xây dựng con đường tương tự con đường tơ lụa như hồi xưa nối châu Âu với châu Á, đặc biệt là Trung Quốc. Con đường này ngắn hơn nhiều so với đường biển. Do đó Trung Quốc tăng cường kiểm soát, dẫn đến sự xung đột sắc tộc giữa những người Duy Ngô Nhĩ, những người ở vùng này, với người Hán. Cảm thấy bị đe dọa họ mới chạy qua biên giới của mình, mà không chỉ biên giới của mình mà họ còn qua Thái Lan và các nước xung quanh. Nhưng mà chính phủ của mình đã hành xử không được đẹp với người tị nạn.

Ngay cả khi bộ đội biên phòng của mình bị bắn chết mà mình lại trao trả họ tức thì, cho nên em thấy không bình thường. Thông tin em biết được như vậy từ báo chí, có nguyên nhân sâu xa gì nữa thì em cũng mong các bạn cho biết thêm.

Ray: Em còn được biết là khu vực Tân cương là nơi Trung Quốc thử nghiệm vũ khí hạt nhân, tàn phá khu vực sinh sống của người Tân cương rất nghiêm trọng.

Kính Hòa: Bạn Như Ý sống ở Mã Lai, một Quốc gia Hồi giáo thì bạn thấy rằng tin về người Tân cương được truyền qua bên đó như thế nào?

Ít ra cũng phải lưu giữ người ta một thời gian, điều tra, có việc gì thì tính sau. Đằng này mình coi những người tị nạn như một sự phiền toái, nên họ trao trả ngay. Em thấy vấn đề nhân đạo ở đây rất là không ổn.
– Nguyễn Tường, Đài Loan

Như Ý: Cũng có tin tức trên báo nhưng không nhiều lắm. Vì thưc ra không có quan hệ chủng tộc giữa những người Tân cương theo Hồi giáo và Mã Lai. Người Mã Lai không để ý lắm những tin tức loại này, vì thực ra quan hệ giữa chính phủ Mã Lai và chính phủ Trung Quốc hiện nay khá là mật thiết.

Kính Hòa: Tức là chính phủ Mã Lai cũng không muốn làm phật lòng Trung Quốc về vấn đề người Tân cương?

Như Ý: Đúng rồi.

Kính Hòa: Khi sự việc này bùng nổ thì có nhiều ý kiến phê bình chính phủ Việt Nam không đúng đắn trong vấn đề người tị nạn, các bạn thấy thế nào?

Ray: Các chính phủ như Nga, Ấn độ, Mông cổ có các chính sách cởi mở hơn, tốt đẹp hơn cho những người Duy Ngô Nhĩ này. Khi họ vượt biên như vậy qua Việt Nam thì cách hành xử của mình không được tốt đẹp cho lắm. Nó ảnh hưởng tới quan hệ giữa Việt Nam và các nước phương Tây nữa, khiến cho mình bị đặt dấu hỏi.

Như Ý: Theo tôi thấy là trong chuyện này chính phủ Việt Nam vì tình đồng chí anh em đã xé bỏ hoàn toàn các công ước về người tị nạn.

Kính Hòa: Nói cách khác là Việt Nam cũng e ngại Trung Quốc nên hành xử một cách thẳng tay như vậy đối với những người Duy Ngô Nhĩ?

Nguyễn Tường: Cái đó đúng.

Ray: Cái đó đúng một phần, nhưng theo em được biết thì hình như vào năm 2004, có một nhóm công dân Bắc Hàn xin tị nạn ở Nam Hàn thì chính phủ mình không trao trả họ lại cho Bắc Hàn, và được phía Nam Hàn rất hoan nghênh. Em nghĩ chắc có lý do kinh tế nữa.

 

bps2-5301-1397878580-250.jpg
Phía VN trao trả những người Duy Ngô Nhĩ về lại TQ hôm 18/4/2014. Courtesy of vietnamnet.vn

 

Kính Hòa: Kính tế là thế nào?

Ray: Vì Nam Hàn đầu tư vào Việt Nam rất là nhiều.

Nguyễn Tường: Em đồng ý với Ray nhưng xin bổ sung về khía cạnh nhân bản và con người một chút. Chính quyền chúng ta không có nhân bản và con người. Những người này vượt biên qua Việt Nam mà người ta không lưu giữ để điều tra. Không như Thái Lan, họ cũng bắt giữ những người nhập cư trái phép hay là tị nạn chính trị từ Tân cương, nhưng mà họ theo các công ước Quốc tế về quyền con người, quyền tị nạn chính trị. Ít ra cũng phải lưu giữ người ta một thời gian, điều tra, có việc gì thì tính sau. Đằng này mình coi những người tị nạn như một sự phiền toái, nên họ trao trả ngay. Em thấy vấn đề nhân đạo ở đây rất là không ổn.

Như Ý: Chỉ bổ sung về thái độ của chính phủ Việt Nam trong chuyện này bằng một chữ thôi, đó là hèn.

Hình như vào năm 2004, có một nhóm công dân Bắc Hàn xin tị nạn ở Nam Hàn thì chính phủ mình không trao trả họ lại cho Bắc Hàn, và được phía Nam Hàn rất hoan nghênh. Em nghĩ chắc có lý do kinh tế nữa.
– Ray, Đài Loan

Ray: Trong chuyện này có những sự nhạy cảm nên thực ra cũng khó. Công dân Bắc Hàn thì giải quyết dễ hơn, em nghĩ lý do ở đây là chính trị.

Kính Hòa: Nhân đây cũng xin thông tin với các bạn là khi sự việc nổ ra, tôi có liên lạc với một số nhà báo ở Việt Nam thì được biết là lúc đầu báo đã đưa tin về những người mang tên Duy Ngô Nhĩ, nhưng sau đó chỉ vài tiếng đồng hồ thì bị rút xuống.

Ray: Vâng, em nghĩ là chính trị.

Như ý: Chủ yếu là chính trị.

Nguyễn Tường: Chính trị là một mà cái tính nhân đạo là hai. Nếu họ nhân đạo hơn thì họ xử lý một cách con người hơn, nhân văn hơn, không đến nỗi phải đổ máu như thế.

Kính Hòa: Như Ý có biết gì thêm để cho chúng ta và các bạn nghe đài biết thêm về quan hệ của người Tân cương trong lòng Trung Quốc?

Nhứ Ý: Người Hán ở Trung Quốc cho rằng người Tân cương là những người nhận được sự ưu đãi từ chính phủ trung ương nhưng lại không biết điều, dưới mắt người Hán thì người Tân cương là những người nổi loạn.

Kính Hòa: Hai bạn ở Đài Loan cho biết là người Đài loan họ nhìn những vấn đề các sắc tộc bên trong Trung Quốc như thế nào?

Ray: Họ rất quan tâm vì có những người nghĩ tới kịch bản là khi các khu tự trị bên trong Trung Quốc có bạo loạn thì cũng là lúc Đài loan tuyên bố độc lập. Em nghĩ là những xung đột đã có từ thời Tưởng Giới Thạch rồi. Nhưng cũng có một ông giáo sư dạy em lại ủng hộ các chính sách của chính phủ Bắc Kinh hiện nay.

Như Ý: Thời Quốc Dân Đảng thì các khu tự trị có quyền tự trị cao hơn. Đạt lai lạt ma hay những người khác đứng đầu các khu tự trị có quyền hơn trên cái vùng của họ. Chứ không phải như bây giờ tất cả đều được cai trị dưới bàn tay sắt của đảng cộng sản. Hai thời kỳ hoàn toàn khác nhau.

Nguyễn Tường: Về góc nhìn của người Đài loan thì em không trả lời được nhưng nên nhớ rằng Đài loan và một nơi có tự do dân chủ, thông tin rất là tốt. Họ chịu ảnh hưởng từ những luồng tư tưởng đến từ Mỹ và châu Âu chứ không chỉ có những cái ảnh hưởng tuyên truyền của Trung Quốc.

Như Ý: Hiện nay thì ở Đài Loan người ta có các phong trào chống nhà máy hạt nhân, chống hiệp định thương mại với Trung Quốc.

Nguyễn Tường: Đúng rồi người ta quan tâm đến các vấn đề nội tại của người ta nhiều hơn.

Kính Hòa: Cám ơn ba bạn đã tham gia diễn đàn hôm nay. Hy vọng gặp lại trong các chương trình lần sau.

Categories: Tin Trong Nước | Leave a comment

Ba miền VN biểu tình lớn chống TQ

Ba miền VN biểu tình lớn chống TQ

Cập nhật: 11:52 GMT – chủ nhật, 11 tháng 5, 2014

Biểu tình lớn nổ ra sáng Chủ nhật 11/5 tại cả ba miền Bắc Trung Nam để phản đối hành động Trung Quốc mang giàn khoan vào vùng kinh tế đặc quyền của Việt Nam.

Con số người tham gia được nói lên tới hàng nghìn ở cả nước.

Báo điện tử Vnexpress đưa tin dòng người biểu tình ở Hà Nội sáng 11/5 ước tính lên đến hơn 1000 người.

Đoàn biểu tình đã có mặt từ sáng sớm trước tòa đại sứ Trung Quốc với các khẩu hiệu viết bằng cả tiếng Anh và tiếng Trung.

Tại TP.HCM, 54 nhân sỹ trí thức bao gồm những gương mặt quen thuộc như Giáo sư Tương Lai, bác sỹ Huỳnh Tấn Mẫm, sáng 11/5 cũng đã chủ trì một buổi mít-tinh trước Nhà Hát Lớn.

Trong những người xuống đường, còn có các cựu công chức nhà nước, trong đó có những gương mặt quen thuộc như ông Đặng Văn Khoa, ủy viên Ủy ban MTTQ TP.HCM.

Ông Khoa được Vietnamnet dẫn lời nói “quan trọng nhất trong việc bảo vệ chủ quyền vẫn là lòng dân. Khi mọi người cùng đồng lòng thì nhất định sẽ bảo vệ được đất nước, giang sơn mà cha ông ta đã xây dựng”.

Giáo sư Tương Lai phát biểu tại buổi mít-tinh sáng 11/5 trước Nhà Hát Lớn

 

Đông đảo người dân đã đổ về Nhà Hát Lớn, TP.HCM

 

Ông Đặng Văn Khoa được nhiều người biết đến nhờ những phát biểu thắng thắn chỉ trích sai phạm của giới công chức

 

Trao đổi với BBC từ Thành phố Hồ Chí Minh hôm 11/5, nhà thơ Đỗ Trung Quân, người tham gia vào cuộc tập hợp, tuần hành chống hành động của Trung Quốc trên Biển Đông, kể lại những điều mà ông đã nghe thấy trong cuộc biểu tình sáng nay như sau:

“Trên đường tôi gia nhập vào đoàn biểu tình tôi thấy có một công nhân vệ sinh đẩy xe quét rác đứng lại nói chuyện với một chiến sỹ bảo vệ lãnh sự quán cũng là người Việt. Anh nói rằng ‘Họ như thế là đã đụng đến Tổ quốc’.”

“Một chị đi nhặt bao ny lông và bán vé số cũng nói rằng phải vậy thôi vì nó quá lắm rồi.”

“Tôi nhận ra được Trung Quốc đã đụng đến vấn đề thiêng liêng nhất của Việt Nam đó là vấn đề đất nước,” nhà thơ nói.

Theo tường thuật của VnExpress, sáng 11/5 nắng nóng gay gắt, nhưng người Đà Nẵng vẫn tập trung tại công viên Bạch Đằng, dưới chân cầu Rồng.

Thông tin do cư dân mạng đăng tải cho biết đoàn người biểu tình đã diễu đến trước UBND thành phố trước khi giải tán vào tầm 10 giờ.

Đây là một trong những lần hiếm hoi một cuộc biểu tình nổ ra ở Đà Nẵng

 

Theo một số phản ánh từ TP.HCM, các đường chính dẫn đến tòa lãnh sự Trung Quốc đã bị chặn sau cuộc biểu tình hôm 10/5, vốn đã được báo chí trong nước đăng tải rộng rãi.

Tuy nhiên, đông đảo người biểu tình vẫn đứng trước rào chắn của lực lượng an ninh, với quốc kỳ Việt Nam và các khẩu hiệu phản đối Trung Quốc.

Các đường chính dẫn đến tòa lãnh sự Trung Quốc ở TP.HCM đều bị chặn

 

Một người dân sống ở quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh, nói với BBC với điều kiện giấu tên rằng cuộc biểu tình chống hành động của Trung Quốc vào sáng 11/5 ở thành phố Hồ Chí Minh diễn ra ‘thuận lợi’, ‘không bị cấm cản’ và ‘không có ai bị bắt’.

Theo lời người này kể do sáng Chủ nhật trên đường phố xe cộ đông đúc nên chỉ có cảnh sát điều tiết giao thông để những người biểu tình tuần hành thuận lợi và đoạn đường trước Lãnh sự quán Trung Quốc được công an bảo vệ để tránh người biể̉u tình tiếp cận.

Tuy nhiên, theo quan sát của người này thì cũng có nhiều công an có mặt để theo dõi những người mà họ cho là khả nghi để phòng khi cuộc biểu tình chống Trung Quốc chuyển thành chống chế độ.

Theo lời kể của anh này thì anh có gặp một người phụ nữ trong đám đông biểu tình bức xúc trước thái độ mà bà cho là ‘bán nước’ của chính quyền.

Tuy nhiên, trong số những khẩu hiệu được hô trong cuộc biểu tình không có khẩu hiệu chống chính quyền, theo lời nhân chứng giấu tên này.

“Có một số người có tâm lý dè dặt. Khi tôi rủ họ đi biểu tình thì họ không dám đi vì sợ ra đến đó sẽ bị dính vào biểu tình chống chế độ,” ông nói.

“Nếu chỉ biểu tình phản đối Trung Quốc thôi thì không sao.”

Một cuộc biểu tình cũng đã diễn ra trước tòa lãnh sự Trung Quốc sáng 10/5

 

Tân Hoa Xã nói về hội nghị thượng đỉnh ASEAN ở Miến Điện:

Hôm thứ Bảy các bộ trưởng ngoại giao ASEAN đã bày tỏ’quan ngại sâu sắc’ về các diễn biến ở Biển Nam Trung Hoa và kêu gọi có giải pháp hòa bịnh.

Các bộ trưởng ASEAN khẳng định lại tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và tự do hàng hải, hàng không trong vùng biển Nam Trung Hoa(SCS) cũng như Nguyên tắc sáu điểm về SCS cùng Tuyên bố chung tại Hội nghị thượng đỉnh A SEAn- Trung Quốc nhân kỉ niệm 10 năm Tuyên bố ứng xử của các bên tại vùng biển Nam Trung Hoa (DOC).

Hôm thứ Sáu, Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc bà Hoa Xuân Oánh đã nhắc lại Trung Quốc đặt giàn khoan ở Tây Sa, nơi không hề có tranh chấp, Tân Hoa Xã nói.

Người biểu tình hô vang các khẩu hiệu khẳng định chủ quyền trước tòa đại sứ Trung Quốc

 

BBC News, London: Hiệp hội các nước Đông Nam Á họp thượng đỉnh lần đầu tại Miến Điện đã kêu gọi Trung Quốc cùng Việt Nam chấm dứt đối đầu ngoài Biển Đông và giải quyết tranh chấp một cách hòa bình.

Theo phóng viên Bill Hayton của BBC News (11/5), tuần trước Trung Quốc đã cho một giàn khoan dầu vào vùng biển mà Việt Nam cũng tyên bố chủ quyền và khiến nổ ra các vụ va chạm nhiều ngày liền giữa các tàu của lực lượng phòng vệ bờ biển hai bên.

Các tổ chức dân sự cũng kêu gọi trả tự do cho những người từng tham gia chống Trung Quốc đang bị bỏ tù

 

Bản tin của hãng thông tấn Mỹ AP vừa được phát đi viết: “Việt Nam cho phép hàng trăm người tập hợp la ó phía ngoài Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội vào Chủ nhật ngày 11/5 để phản đối việc Trung Quốc đưa giàn khoan ra vùng biển có tranh chấp trên Biển Đông.”

“Các nhà lãnh đạo chuyên chế của Việt Nam kiểm soát các cuộc tập hợp của quần chúng rất chặt chẽ do lo sợ những người biểu tình chống chính quyền. Nhưng lần này dường như họ phải nhường bước trước sự phẫn nộ của quần chúng.”

AP dẫn lời một luật sư có tên là Nguyễn Xuân Hiền nói: “Chúng tôi đều phẫn nộ trước hành động của Trung Quốc.”

“Chúng tôi phải đến đây để người Trung Quốc có thể hiểu được sư phẫn nộ của chúng tôi,” ông nói với AP.

Một số nhân viên bên trong tòa đại sứ Trung Quốc được cho là đã quay phim, chụp hình người biểu tình

 

Theo AP thì đây là cuộc biểu tình lớn nhất ở Việt Nam sau sự cố tàu thăm dò của Việt Nam bị phía Trung Quốc cắt cáp hồi năm 2011. Khi đó, chính quyền Việt Nam cho phép biểu tình trong một vài tuần nhưng sau đó đã dùng biện pháp trấn áp khi các cuộc tập hợp này chĩa mùi dùi vào phía chính quyền.

Theo miêu tả của AP thì trong cuộc biểu tình hôm Chủ nhật 11/5 có diễn giả đứng trên xe cảnh sát lên án hành động của Trung Quốc, đài truyền hình nhà nước có mặt tại chỗ ghi lại diễn biến và có những người tung khẩu hiệu ghi: “Chúng tôi hoàn toàn tin tưởng vào Đảng, Chính phủ và Quân đội nhân dân.”

“Một số người biểu tình rõ ràng là người của chính quyền, trong khi nhiều người khác là những người dân thường phẫn nộ trước hành động của Trung Quốc. Một số nhà hoạt động quyết định không tham gia vì có sự dính líu của Nhà nước,” bản tin viết.

Từ Sài Gòn, blogger Huỳnh Ngọc Chênh cho rằng nay đã là thời điểm Đảng và nhà nước Việt Nam phải dựa vào nhân dân mới có thể đối phó được với Trung Quốc trong vụ giàn khoan đang gây ra đối đầu căng thẳng giữa hai nước.

“Đến lúc nhà nước cũng phải cần đến sự ủng hộ của nhân dân, do vậy cũng không còn ngăn cấm như hồi xưa nữa, hồi xưa bất cứ những phát biểu nào, biểu hiện nào tự phát của nhân dân đều bị nhà nước cấm đoán khi đụng tới Trung Quốc,” nguyên Thư ký Tòa soạn báo thanh niên giải thích sự thay đổi đột ngột của chính quyền.

“Nhưng bây giờ nhà nước nghĩ rằng phải dựa vào nhân dân, cho nên báo chí bắt đầu cũng được cho phép nói, và cụ thể là chiều nay tại Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh, đã cho luật sư đoàn tổ chức một cuộc mít-tinh chống lại xâm lấn của Trung Cộng.”

Ông Trần Tiến Đức, nguyên Vụ trưởng Ủy ban Dân số và Kế hoạch hóa Gia đình Việt Nam đã có bình luận với BBC về động thái được cho là thay đổi 180 độ của chính quyền đối với các cuộc phản đối Trung Quốc do người dân tự động tổ chức, hay còn gọi là ‘biểu tình tự phát’.

“Theo ý kiến của tôi, chắc chắn việc người dân được biểu tình một cách tương đối là tự do, mà không bị lực lượng an ninh hoặc công an ngăn cấm, thì chắc chắn đó là có chủ trương của nhà nước,” , nói.

“Một số nguồn tin người ta nói rằng là (chính quyền) không ngăn cản mà cũng không khuyến khích, tôi nghĩ rằng trước tình hình như thế này, nếu bây giờ các ông ấy ngăn cản người dân đi biểu tình, biểu thị lòng yêu nước.

“Biểu thị thái độ lên án đối với sự xâm lược trắng trợn của Trung Cộng đối với chủ quyền, đối với toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Việt Nam, thì các ông ấy sẽ bộc lộ ngay cái bộ mặt là những kẻ bán nước,

“Trước tình hình như thế này, nếu bây giờ các ông ấy ngăn cản người dân đi biểu tình, biểu thị lòng yêu nước, biểu thị thái độ lên án đối với sự xâm lược trắng trợn của Trung Cộng đối với chủ quyền, đối với toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Việt Nam, thì các ông ấy sẽ bộc lộ ngay cái bộ mặt là những kẻ bán nước.”

“Và chắc chắn là các ông ấy không muốn để cho người dân lên án như vậy.”

Tác giả “Bên Thắng Cuộc” cũng xuống đường

 

Nhà báo Huy Đức viết trên Facebook: Có quá nhiều lời kêu gọi, vậy sáng nay, chủ nhật 11-5-2014, chúng ta nên đi theo lối nào? – Nhiều bạn trẻ hỏi tôi. Tôi nghĩ, bạn có thể đọc hay không đọc những lời kêu gọi ấy, thậm chí, bạn có thể nghe hoặc không nghe nói đến “đèn xanh” của Chính quyền; nhưng, bạn chỉ nên bước ra khỏi nhà khi biết trong lòng mình nghĩ gì.

Chỉ khi chúng ta nhận ra đất nước cần gì ở mình trong tình thế này; biết mình có thể đóng góp được gì và đặc biệt biết những việc mình đang làm là để thỏa tâm nguyện của chính mình thì mới nên Xuống Đường!

Nhà văn Nguyễn Quang Vinh viết trên Facebook: Những hình ảnh xuống đường của nhân dân, nhân sĩ, trí thức, cựu chiến binh ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng….cảm động đến trào nước mắt.

Tổ Quốc tôi như một con tàu, dũng mãnh, can trường, xông thẳng ra biển lớn

Nhà thơ, nhà văn Thái Bá Tân viết trên Facebook:

Sơn hà đang nguy biến.
Kẻ thù đã kề bên.
Chúng ta, con dân Việt,
Hãy nhất tề đứng lên.

Mỗi người theo một cách
Yêu đất nước của mình.
Nhưng không ai được phép
Thờ ơ và vô tình.

Thêm về tin này

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

TUYÊN BỐ CHUNG CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ VỀ CÁC CUỘC BIỂU TÌNH CỦA CÔNG NHÂN CHỐNG TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC

TUYÊN BỐ CHUNG CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ VỀ CÁC CUỘC BIỂU TÌNH CỦA CÔNG NHÂN CHỐNG TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC

Trong những ngày vừa qua, hàng vạn công nhân trên cả nước đã tự tổ chức biểu tình chống việc nhà cầm quyền Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào khu vực quần đảo Hoàng Sa, xâm phạm chủ quyền của đất nước ta. Hành động dũng cảm đó thể hiện lòng yêu nước thiết tha tiềm tàng trong nhân dân ta nói chung và tầng lớp công nhân Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, do thiếu các công đoàn thật sự đại diện cho quyền lợi của công nhân, một số cuộc biểu tình không được tổ chức chặt chẽ đã bị kẻ gian lợi dụng, kích động; chúng gây ra những hành động cực đoan như đập phá nhà máy, thậm chí bạo động gây thương vong, gây rối loạn xã hội.

Hiện tượng này làm bộc lộ hai khuyết điểm căn bản của xã hội Việt Nam hiện nay:

1) Các quyền tự do căn bản của người dân – như tự do tư tưởng và tôn giáo, tự do ngôn luận và báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do biểu tình,… đã không được thực thi. Đảng CSVN và Chính phủ tìm mọi cách để ngăn cản các cuộc biểu tình – kể cả biểu tình để thể hiện lòng yêu nước, chống lại âm mưu xâm lược của ngoại bang; nhưng đến khi cần đến tiếng nói của người dân thì lại có những hoạt động khiến ai cũng hoài nghi rằng một mặt ngầm cho phép, mặt khác lại tìm cách khống chế và lèo lái các cuộc biểu tình theo hướng ca ngợi đảng cầm quyền.

2) Lực lượng công nhân tại Việt Nam hiện nay chưa có cơ quan đại diện đủ uy tín và năng lực để bảo vệ cho quyền lợi của họ. Trong thực tế, hầu hết các cuộc đình công trong thời gian qua đều do công nhân tự phát đấu tranh. Quyền đình công chỉ là một thứ quyền mang tính “hình thức”, có trên giấy tờ chứ không có trong thực tế. Đời sống công nhân cơ cực, khi bị bóc lột không có ai lo toan, khi bị đàn áp cũng không có tổ chức nào đứng ra bảo vệ.

Nối tiếp lời kêu gọi do ông Huỳnh Tấn Mẫm khởi xướng ngày 14-5-2014 vừa qua, chúng tôi thiết tha kêu gọi toàn thể các anh chị em công nhân trong tất cả các nhà máy – dù thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp người Việt hay người ngoại quốc, hãy cùng nhau hợp lực để đưa cuộc đấu tranh yêu nước của các bạn đi đúng hướng, bảo đảm cho cuộc đấu tranh diễn tiến một cách ôn hòa, bất bạo động. Cần xác định hướng đi đúng đắn hiện nay là chống âm mưu xâm lược của Trung Hoa cộng sản, kết hợp với đòi các quyền lợi chính đáng cho công nhân. Về phương thức đấu tranh, để đạt được hiệu quả cao nhất, vừa phải đấu tranh kiên trì, có tổ chức, vừa phải đề phòng sự kích động từ bên ngoài, không để xảy ra các hành vi manh động hay bạo động nhằm tránh gây tổn thất cho xã hội hoặc gây thiệt hại cho chính quyền lợi của tầng lớp công nhân.

Chúng tôi đề nghị các bạn công nhân hãy sát cánh cùng tất cả các giới, các tầng lớp khác trong cuộc đấu tranh chung nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia, giành lại các quyền tự do căn bản cho người dân. Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ các bạn trong việc đòi hỏi Đảng CSVN và Chính phủ tạo điều kiện để thực thi quyền đình công cũng như quyền thành lập các công đoàn độc lập, nghĩa là các công đoàn do chính công nhân bầu ra, có đủ tư cách để đại diện cho quyền lợi của mình. Chúng tôi cũng đặc biệt ghi ơn sự hy sinh của những người đã chịu cảnh tù đày vì đã đấu tranh cho quyền lợi của công nhân. Hy vọng rằng trong một ngày không xa, những con người tiên phong đó sẽ được trả tự do vô điều kiện và được xã hội vinh danh một cách xứng đáng.

Sự đoàn kết của lực lượng công nhân trong cả nước nhất định sẽ giành được thắng lợi. Chúng tôi nguyện sẽ liên đới, sát cánh cùng tất cả các bạn trong cuộc đấu tranh chính nghĩa đó. Dân tộc Việt Nam nhất định sẽ trường tồn! Tổ quốc Việt Nam nhất định sẽ đứng vững trước mọi phong ba bão táp!

Ngày 15 tháng 5 năm 2014

Diễn đàn Xã hội Dân sự

Bauxite Việt Nam

Nhóm Thân hữu Đà Lạt

Ban Vận động Văn đoàn Độc lập Việt Nam

Hội Anh em Dân chủ

Hội đồng Liên tôn

Tăng đoàn Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất

Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam

Hiệp hội Đoàn kết Công nông Việt Nam

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Hồi đánh nhau ở Điện Biên Phủ tên tôi là Phạm Quế Dương

Hồi đánh nhau ở Điện Biên Phủ tên tôi là Phạm Quế Dương

Phạm Quế Dương

Tám giờ sáng ngày 7 tháng 5, Nguyễn Thanh Giang gọi điện thoại hỏi: “Đài Tiếng nói Việt Nam vừa phát bài kể về trận đánh Điện Biên Phủ, nghe giọng nói giống anh nhưng Đài lại giới thiệu là đại tá Phạm Tiến Phúc, thế là thế nào anh nhỉ? Có đúng là anh không?”. Tôi trả lời ngay: “Đúng là tôi đấy. Khi phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam đến hỏi và ghi âm lời kể của tôi về chiến dịch Điện Biên Phủ họ đều gọi tôi là bác Quế Dương. Phạm Tiến Phúc chỉ là tên hồi nhỏ ở nhà gọi tôi. Tên khai sinh của tôi đã là Phạm Quế Dương. Từ khi đi học, ở trường, trong quân đội, lúc đánh Điện Biên Phủ, trong giấy tờ cũng như trong sinh hoạt mọi người đều gọi tôi là Phạm Quế Dương. Không biết sao họ lại lôi ra được cái tên cúng cơm của tôi ra nhỉ”.

Nguyễn Thanh Giang hài hước: “Thế là ngày xưa Đảng huy động máu và mồ hôi của anh ra góp vào chiến thắng Điện Biên Phủ. Bây giờ Đảng bắt anh cởi truồng ra đi tuyên truyền cho Điện Biên Phủ rồi!”.

Tôi tỏ ra không hiểu. Nguyễn Thanh Giang cười và giải thích: “Thì đấy, Phạm Quế Dương có chiến đấu ở Điện Biên Phủ đâu. Cái thằng cu Phạm Tiến Phúc đấy chứ”.

Mấy hôm sau bạn trẻ, bạn già, người gọi điện, người đến thăm, hàn huyên dãi dề khiến những ký ức sâu xa trong tôi bỗng trỗi dậy:

Tôi tham gia Thiếu niên tiền phong của Việt Minh từ tháng 4/1945. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, tháng 9-45 tôi đã tham gia quân đội, khi ấy còn gọi là Đội Giải phóng quân ở Hà Nội. Vào Đảng ngày 9 tháng 8 năm 1948, khi ấy mới 17 tuổi. Đi đánh Pháp, tháng 12-1946 đã bị thương ở vai nhưng vẫn tiếp tục tham gia nhiều trận. Chiến dịch Hòa Bình, là cán bộ trung đội pháo binh 75 li, đánh trận Tu Vũ tôi lại bị thương ở chân. Đến 1953-1954 tham gia chiến dịch Tây Bắc đánh ở Thượng Lào.

Khi Pháp nhảy dù Điện Biên Phủ, được điều về làm chính trị viên phó đại đội 827, tiểu đoàn 394, đoàn cao xạ pháo 367.

Sau trận mở màn chiến thắng Him Lam, tiến vào bảo vệ đồi Độc lập, trận địa ngay giữa cánh đồng nên luôn bị máy bay Pháp oanh tạc.

Sáng 18-3-1954 bom địch thả đúng giữa trận địa. Đại đội trưởng, đại đội phó hy sinh, chính trị viên đại đội bị thương. Đại đội có 4 khẩu đội thì bị phá 3 khẩu đội, còn mỗi 1 khẩu. Tôi hô: “Các đảng viên Cộng sản tiến lên, còn 1 khẩu cũng tiếp tục bắn”.

Mấy ngày sau, được bổ sung 3 khẩu và đầy đủ anh em chiến sĩ. Tôi được đề bạt chính trị viên đại đội. Diệt xong đồn Bản Kéo, chúng tôi tiến dần sát vào Mường Thanh theo sự phát triển của vòng vây bao quanh trận địa Pháp. Đại đội tôi có Tô Vĩnh Diện lấy thân mình hy sinh chèn pháo nên thường được gọi là đại đội Tô Vĩnh Diện, bắn rơi 3 máy bay Pháp. Sau này, nhiều sách báo viết về trận 18-3 của đại đội tôi.

Đài Tiếng nói Việt Nam không dám nêu tên chính thức của tôi thì cần thông cảm vì năm 2003 tôi thấy bản tin nội bộ của Ban Văn hóa Tư tưởng Trung ương Đảng đã gọi tôi là “phản động” chỉ vì khi ấy tôi có viết bài tranh luận với báo An ninh Thế giới bênh vực Lê Chí Quang, Nguyễn Vũ Bình, Phạm Hồng Sơn bị tù vì đấu tranh đòi tự do, dân chủ, nhân quyền.

Hà Nội, 8.5.2014

P.Q.D

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.