Daily Archives: May 30, 2014

Đức Huỳnh Phú Sổ bất tử . PGHH Muôn-Năm . Tinh Thần PGHH bất-diệt

PGHH bất-diệt

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔvà Phật Giáo Thời Ðại 

Lê Hiếu Liêm

 

Chương một: Dẫn nhập Việt Nam và Phật Giáo đầu thế kỷ hai mươi. 

 

Đầu thế kỷ 20, tư tưởng Nho Giáo, thống trị độc tôn đất nước từ Thời Hồ Quý Ly, nhà Lê và nhà Nguyễn suốt 400 năm, hoàn toàn sụp đổ. Tư tưởng Phật Giáo, ngự trị vinh quang trong thời đại Lý Trần từ thế kỷ thứ 11 đến cuối thế kỷ 14, suy đồi tận gốc. Tư tưởng Tây Phương và tôn giáo của nó, Thiên Chúa Giáo La Mã, bị đại đa số trí thức và nhân dân coi như sản phẩm và công cụ của chế độ Thuộc Địa và thực dân Pháp nên vẫn không được chấp nhận. Ý thức hệ Cộng Sản cũng như các tư tưởng mới khác chưa ra đời. Cả một khoảng trống tư tưởng, cũng có nghĩa là một khoảng trống tôn giáo và chính trị, to lớn bao trùm trên một nước Việt Nam bị nô lệ, bóc lột, áp bức, lạc hậu và nghèo đói. Nhưng đây cũng là môi trường lý tưởng cho sự ra đời của những tư tưởng mới, những tôn giáo mới, những chính đảng mới và những phong trào mới: Phong trào Đông Du và Việt Nam Duy Tân Hội của Phan Bội Châu từ năm 1904,Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can và các nhà Nho tiến bộ năm 1907, tư tưởng dân quyền và dân chủ của Phan Chu Trinh suốt hai mươi năm (1905-1925), phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội cùng năm, Việt Nam Quang Phục Hội năm 1912, cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ và ở Huế năm 1916 của Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, vua Duy Tân…, phong trào Hội Kín ở miền Nam năm 1913-1916 lan rộng khắp Lục Tỉnh và cuộc tấn công Sài Gòn năm 1916. Các hoạt động này đã liên tục diễn ra từ đầu thế kỷ 20 đến cuối đệ nhất thế chiến.

Tuy nhiên mãi đến đầu thập njiên 20 Việt Nam mới thật sự thức dậy với sự ra đời Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng Chí Hội và Tân Việt Cách Mạng Đảng năm 1925, Đạo Cao Đài năm 1926, Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927, Cuộc khởi nghĩa Yên Bái và sự ra đời của Đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930 và phong trào Sô Viết Nghệ Tỉnh 1930-1931.

 

Trong thời gian sôi động này, từ 1925 trở đi, Phật Giáo cũng đã thức dậy. Từ năm 1923, thiền sư Khánh Hòa và thiền sư Thiện Chiếu đã thành lập, tại chùa Long Hòa ở Trà Vinh, Hội Lục Hòa Liên Hiệp với mục đích vận động thành lập một Hội Phật Giáo Việt Nam toàn quốc để chấn hưng Phật Giáo. Thiền sư Thiện Chiếu, khác hẳn tất cả tăng sĩ Phật Giáo đương thời, là một tăng sĩ có tân học. Ông đã đi ra Trung và Bắc vận động thống nhất Phật Giáo năm 1927 nhưng bất thành.

Năm 1928 thiền sư Khánh Hòa xây dựng Thích Học Đường và Phật Học Thư Xã tại Chùa Linh Sơn, Sài Gòn và năm 1929 Ông cho ấn hành tạp chí Viên Âm, tập san Phật Học đầu tiên bằng quốc ngữ tại Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Xoài Hột, Mỹ Tho. Cùng thời, thiền sư Thiện Chiếu xuất bản một tạp chí Phật Học nhắm vào giới thanh niên trí thức lấy tên là Phật Hòa Tân Thanh Niên, đặt tòa soạn tại chùa Chúc Thọ ở Gia Định.

 

Năm 1931 thiền sư Khánh Hòa cùng nhiều tăng sĩ và cư sĩ thành lập Hội Phật Học đầu tiên tại Việt Nam, lấy tên là Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học và thiền sư Từ Phong được mời làm Chánh Hội Trưởng. Hội ra tờ Từ Bi Âm năm 1932. Thiền sư Khánh Hòa, cùng người cộng sự thân tín là thiền sư Thiện Chiếu đã đóng vai trò tiền phong khai mở phong trào chấn hưng Phật Giáo và hiện đại hóa Phật Giáo, chuyển động sâu rộng lịch sử Phật Giáo và lịch sử Việt Nam trong suốt 65 năm qua.

Tại miền Trung, thiền sư Giác Tiên mở Phật Học Đường  tại chùa Trúc Lâm năm 1929 và ủy thác cho đệ tử là bác sĩ Lê Đình Thám thành lập Hội An Nam Phật Học năm 1932. Hội quy tụ đông đảo những danh tăng và cư sĩ trí thức tại miền Trung. Cư sĩ Lê Đình Thám được bầu làm Hội Trưởng và vua Bảo Đại được mời làm Hội Trưởng Danh Dự. Hội ra tạp chí Phật Học Viên Âm năm 1933. Năm 1934, thiền sư Giác Tiên, cư sĩ Lê Đình Thám… đã thành lập Trường An Nam Phật Học, trong đó có mở cấp Đại Học Phật Giáo. Đặc biệt hơn nữa là Hội đã phát động phong trào “Chỉnh Lý Tăng Già” rất quyết liệt để loại trừ ra khỏi tăng già những thành phần phạm giới, bất xứng. Chính nhờ những nổ lực cấp tiến này mà Phật Giáo miền Trung đã đóng được một vai trò quan trọng trong những thập niên sau đó.

Năm 1934 các thiền sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo cùng với giới cư sĩ trí thức tên tuổi tại Hà Nội như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Dương Bá Trạc, Trần Văn Giáp, Nguyễn Năng Quốc, Nguyễn Hữu Kha, Bùi Kỷ, Lê Dư… thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội, bầu cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm hội trưởng và suy tôn thiền sư Thanh Hanh làm Thiền Gia Pháp Chủ. Đặc biệt là trong buổi lễ suy tôn Pháp Chủ này, cư sĩ Trần Trọng Kim đã thuyết pháp về đề tài; “Thập Nhị Nhân Duyên”. Hội ra tạp chí Đuốc Tuệ năm 1935 và phát triển mạnh mẽ khắp miền Bắc (Nguyễn Lang, Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, q 3, t 51-173).

Đặc tính của cả ba Hội Phật Học tại ba miền là vai trò nổi bật của giới trí thức cư sĩ, là thuần túy Phật học và sinh hoạt Phật sự. Thời điểm 1925-1945 là thời điểm chuẩn bị trong kiên nhẫn và thầm lặng. Các hội Phật Học đã làm đúng chức năng và vai trò lịch của mình, một cách khiêm tốn, từ đống gạch vụn đổ nát của nền Phật học và Phật Giáo Việt nam trong thời Thực Dân Pháp thống trị.

Trong thời kỳ này xuất hiện những con người đặc biệt, xuất sắc và những tư tưởng mạnh mẽ, quyết liệt, trong Phật Giáo cũng như ngoài Phật Giáo. Từ đầu thập niên 30, tư tưởng Phật Hộc của Thích Thiện Chiếu đã là những quả bom chấn động. Và năm 1939 Huỳnh Phú Sổ xuất hiện làm một cuộc cách mạng tôn giáo, cải cách toàn bộ và triệt để Phật Giáo chưa từng có trong hai ngàn năm lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Miền Nam, một vùng đất lạ lùng và kỳ diệu…

 

An Hòa Tự

Phan Chu Trinh từ Pháp trở về Sài Gòn năm 1925, đất nước bùng lên những làn sóng tư tưởng dân quyền và dân chủ. Ông khẳng định phải tìm nguyên nhân mất nước trong sự mất đạo đức, mất luân lý, trong bài diễn thuyết Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây, và ông cũng khẳng định chế độ quân chủ chuyên chế là nguyên nhân chính làm mất nước trong bài thuyết giảng Quân Trị Chủ Nghĩa và Dân Trị Chủ Nghĩa tại Sài Gòn năm 1925. Ông mất năm sau đó và đám tang ông cùng với cuộc vận động ân xá nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã khơi bùng phong trào yêu nước và yêu tự do dân chủ trên toàn quốc, đặc biệt là trong giới thanh niên.

Nhưng dữ dội, bốc lửa và sấm sét trong tư tưởng yêu nước chống thực dân cũng như tư tưởng tự do dân chủ, trong thời này, chỉ có Nguyễn An Ninh là đi xa nhất, quyết liệt nhất. Là một thanh niên miền Nam,Ông đi du học ở Pháp và trở về nước với bằng cử nhân Luật. Lợi dụng quy chế thuộc địa của Nam Kỳ, nơi mà báo chí bằng tiếng Pháp được tự do, không bị kiểm duyệt, Ông ra tờ La Cloche fèlèe (Tiếng Chuông Rè) từ năm 1923 đến năm 1926. Ông tự xưng tờ báo của Ông là “cơ quan tuyên truyền tư tưởng Pháp”, lấy tư tưởng của kẻ xâm lăng để đập những nhát búa tạ vào chế độ Thực Dân, đồng thời tờ báo cũng tự nhận là “cơ quan chuẩn bị cho tương lai dân tộc”. Thật là độc đáo và tuyệt vời.

Ngoài việc phê bình kịch liệt, thẳng tay chính sách và chế độ thực dân, Ông cổ võ cho việc đào tạo một tầng lớp thanh niên Việt Nam tân học, có văn hóa, có lý tưởng, có chí khí, có năng lực và có tổ chức vàÔng tuyệt đối tin vào sức mạnh và vào tương lai của nhân dân Việt Nam. Ông chủ trương một nước Việt Nam thống nhất từ Nam chí Bắc và trở về lịch sử dân tộc để tìm niềm tin và sức mạnh. Ông hô hào, khi chỉ mới ngoài 20 tuổi, “Chẳng những phải duy trì những giấc mộng vĩ đại, mà còn phải tổ chức thành một nhóm quan trọng để chuẩn bị cho tương lai”. Không những tư tưởng táo bạo, độc đáo, mới lạ, kiến thức của Ông cũng rất uyên bác. Khi Thống Đốc Nam Kỳ tuyên bố: “Xứ này không cần trí thức”. Ông đã viết bài trả lời bốc lửa: “… Những thảm khổ của chúng ta ngày nay, còn gì nữa, đúng là do tổ tiên của chúng ta đã sờ mó vào cây kiến thức. Hạng trí thức đã làm đảo lộn thế giới, làm hư hỏng hạnh phúc của thế giới. Hãy nguyền rủa tên tuổi của Prométhé, kẻ đã lấy trộm chút lửa của Trời. Hãy nguyền rủa con người đã bày ra cái ná cao su cho trẻ con bắn đá vào trán ông khổng lồ… Trí Tuệ, đó là cái tai hại. Trí tuệ, đó là con rắn cuốn quanh thân cây đã làm cho chúng ta vĩnh viễn mất cõi thiên đường… Nói đến vai trò giáo dục, vai trò văn minh của các ông chủ xứ Đông Dương này, thưa các ông, điều ấy làm ta mỉm cười… Người ta đã quỳ lụy bái phục những vị “đem ánh sáng tới”, những vị “làm điều kỳ diệu ở Ấu Châu”… Cái gì kỳ diệu? Thực ra cái kỳ diệu đó là, chỉ trong một thời gian ngắn thôi, người ta đã có thể làm cho trình độ trí thức của người Nam đã thấp đi lại càng rơi vào chỗ cực kỳ dốt nát. Cái kỳ diệu đó là người ta đã có thể, trong một thời gian ngắn như thế, xô đẩy một dân tộc có tư tưởng dân chủ, ngã nhào vào tình trạng nô lệ hoàn toàn“. (Trần Văn Giàu, Sự Phát Triển Của Tư Tưởng ở Việt Nam Từ Thế Kỷ 19 đến Cách Mạng Tháng Tám, q2, t 311).

Nguyễn An Ninh cũng là một trong những nhà trí thức tân học đầu tiên nghiên cứu Phật Học và hoàn thành một tác phẩm Phật Học quan trọng, cuốn “Phê Bình Phật Giáo”. Sau thời kỳ hoạt động sôi nổi từ 1923 đến 1926, Nguyễn An Ninh bị ở tù trong thời gian 1926-1927, sau đó Ông về nghiên cứu Phật Giáo. Trên bàn làm việc của Ông, có một cái chuông, một cái mõ, Ông cạo trọc đầu và đi chân không.Ông nghiên cứu Phật Giáo qua tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và các hoạt động Phật Giáo trong nước. Cuốn Phê Bình Phật Giáo xuất bản năm 1937 là kết quả của sự nghiên cứu này. Tựa đề của cuốn sách, 70 năm sau cũng không có ai dám viết một cuốn sách Phật Học có tựa đề thách thức và can đảm như vậy. Mục đích và phương pháp luận còn mới lạ, táo bạo hơn, đó là “so sánh Phật Giáo với thời đại của nó để chỉ chỗ hay, chỗ đúng hơn của nó đối với các thuyết khác và so sánh Phật Giáo với thời đại này để chỉ sai lầm của Phật Giáo“. Tác phẩm này được giới trí thức, giới chính trị cũng như giới Phật Giáo chú ý đặc biệt.

Nhưng không gây sóng gió và tranh luận suốt nhiều năm trời như những tác phẩm của Thích Thiện Chiếu.Đối với Tăng, Ni, Phật Tử thập niên 30, những tư tưởng Phật Học của Thích Thiện Chiếu là những tiếng sét ngang tai. Ngày nay đọc lại, chắc chắn quý vị tăng sĩ, cư sĩ và Phật Tử cũng không khỏi giựt mình, chấn động và suy nghĩ. Những tư tưởng này, được viết từ thập niên 30, ngày nay, cuối thập niên 90, vẫn còn mới, còn táo bạo, còn chứa đầy sức nặng của đá tảng và sức nổ của sấm sét. Thích Thiện Chiếu là tinh hoa sáng chói của Phật Giáo trong thập niên 20, 30. Ông đã đi tiền phong trong mọi lãnh vực chấn hưng và hiện đại hóa Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ 20 này.

Ta phải đứng trên một đỉnh núi cao, mới hy vọng nhìn thấy những cái gì chưa ai nhìn thấy, những cái gì nằm khuất sau dãy núi cao. đó có thể là những dãy núi cao hơn, hay là một đại dương mênh mông hay là một bình nguyên rực rỡ. Thích Thiện Chiếu là một ngọn núi cao của Phật học và Phật Giáo Việt Nam trước đệ nhị thế chiến. Ta hãy đứng trên đỉnh núi cao ngất, hùng tráng này để nhìn rõ một đỉnh núi cao ngất, hùng vĩ khác, là Cư sĩ, Bồ Tát, Giáo Chủ Huỳnh Phù Sổ.

|Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10|TK|

[BHH430] [PGHH] [THƯ VIỆN PGHH]

About these ads

Occasionally, some of your visitors may see an advertisement here.

Tell me more | Dismiss this message

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo |
Categories: Uncategorized | Leave a comment

Trước con cù China manh động và…nhiều hơn thế nữa

Trước con cù China manh động và…nhiều hơn thế nữa

Hà Hưng Quốc, Ph.D (Danlambao) – 

“Một ngày nào đó chúng ta có thể phát hiện chính xác lý do tại sao phía Trung Quốc quyết định triển khai giàn khoan cùng đội tàu đi kèm đến chỗ đó vào thời điểm này. Chúng ta biết rất ít về cách mà những quyết định như thế được đưa ra.” (Nguồn: Dân Luận. Trung Quốc Tính Toán Sai Trong Vụ Giàn Khoan của Bill Hayton do Huỳnh Phan chuyển ngữ).

Những dòng này của Bill Hayton cho thấy thế giới đang thắc mắc cái gì mới là lý do thực sự bên sau động thái của Trung Cộng vào những ngày gần đây. Chờ đến một ngày nào đó trong tương lai mới phát hiện chính xác lý do thì có thể đã quá muộn, cho Việt Nam nói riêng và cho toàn vùng ĐNA nói chung.
Trung Cộng muốn trỗi dậy và thật sự hóa rồng thì cần phải có khả năng ra tới biển xanh biểu dương sức mạnh. Hiện giờ thì Trung Cộng vẫn còn là con Cù China manh động đang bị nhốt trong ao. Động thái mạnh mẽ của Trung Cộng trong những năm gần đây không có gì là khó hiểu. Tất cả và bằng mọi giá Trung Cộng phải đột phá để mở ra một thông đạo từ ao nhà tới biển xanh và một hành lang chiến lược bảo đảm an ninh cho Cù China. Đó là cốt lõi của vấn đề. Đó là tầng nền tảng của các tầng chiến lược Trung Cộng đã và đang thực hiện. Đó là trả lời cho câu hỏi “Trung Cộng thực sự muốn gì ở Biển Đông?”
Chỉ có điều khó hiểu là tại sao Trung Cộng lại chọn vào thời điểm này và đặt giàn khoan tại vị trí đó với một đội tàu bảo vệ giàn khoan, một lực lượng hùng hậu có thể nói là chưa từng có từ sau thế chiến.
Để mở được con đường ra biển xanh và chủ động an ninh cho con đường chiến lược này, Trung Cộng nhất định phải thâu tóm bán đảo Đông Dương trong tay. Với những diễn biến gần đây, và với tin tức tình báo có độ khả tín cao, có thể dự đoán là Trung Cộng đang lặng lẽ tiến hành một trục liên minh quân sự Hoa-Lào-Miên-Thái. Liên Minh này sẽ là lưỡi dao cắt đôi vòng đai tiếp cận Trung Quốc nhằm phá chiến lược “bao vây tiếp cận” của Hoa Kỳ.
Nếu đúng như dự đoán, và nếu họ thành công, Trung Cộng không những sẽ thao túng bán đảo Đông Dương mà còn kiểm soát toàn bộ Nam Hải, Vịnh Thái Lan, một phần biển Andaman, uy hiếp Việt Nam từ mọi phía và hội đủ yếu tố chiến lược để có thể triển khai chiến tranh toàn vùng.
Trung Cộng đã nắm trọn Campuchia trong tay sau khi đã nhổ đi những nhân vật quan trọng thân cận Việt Nam. Đặc biệt là từ sau tai nạn máy bay ngày 9 tháng 11 năm 2008 giết chết Hok Lundy, Tư Lệnh Cảnh Sát Campuchia, và Sok Sa Em, Phó Tư Lệnh Quân Đội Campuchia, thì chính quyền Hunsen đã công khai trở mặt với Việt Nam và không che dấu thế liên minh với Trung Cộng. Tuy TT Hunsen từng là “gà nhà” của Việt Nam nhưng quan hệ đó đã rạn nứt và xấu dần kể từ 2002.
Và trong lúc cả thế giới hướng về Biển Đông dõi theo “China’s Mobil National Territory” HD 981 neo trong lãnh hải Việt Nam và lo lắng về những hậu quả tiêu cực của động thái trên thì Trung Cộng lặng lẽ thu tóm nước Lào, một đồng minh trung thành với Việt Nam. Bốn nhân vật chóp bu do Việt Nam đào tạo đã tử vong trong một tai nạn máy bay ngày 17 tháng 5 năm 2014, ngay sau khi Thường Vạn Toàn, Ủy Viên Bộ Chính Trị và là Bộ Trưởng Quốc Phòng của Trung Cộng, ghé thăm Lào. Cái chết của họ cũng là cái chết của “Việt – Lào hai nước chúng ta, Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”. Tuy cần một thời gian nữa mới thấy rõ hậu quả của sự việc nhưng có thể nói ngay bây giờ rằng Lào đã chính thức rớt vào tay Trung Cộng.
Cũng cần nhắc lại là ngày 25 tháng 5 năm 1998 cũng đã từng xảy ra một tai nạn máy bay quân sự tại Xiêng Khoảng, Lào gây tử vong cho 20 sĩ quan Việt Nam trong đó có 5 tướng lĩnh và 5 đại tá: Đào Trọng Lịch, Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng, Thứ Trưởng Quốc Phòng, UVTV Đảng Ủy Quân Sự Trung Ương; Trần Tất Thanh, Trung Tướng Tư Lệnh QK2; Trần Minh Thiệt, Thiếu Tướng Phó Tư Lệnh kiêm Tham Mưu Trưởng QK5; Phạm Minh Thanh, Thiếu Tướng Cục Trưởng Cục Nhà Trường, Bộ Tổng Tham Mưu; Thiếu Tướng Vũ Xuân Thủy; Đại Tá Hoàng Bình Quân; Đại Tá Lai Thế Cường Đại Tá Cao Tiến Lãm, Đại Tá Ngô Quang Vinh, Đại Tá Lê Văn Hân. Nhìn chung họ là những sĩ quan giàu kinh nghiệm chiến trường và nhiều người từng là sĩ quan chỉ huy chống quân xâm lăng Trung Cộng tại mặt trận Vị Xuyên, Hà Giang.
Một tai nạn rơi máy bay khác (không nhớ ngày tháng năm) đã giết chết đoàn cán bộ cao cấp vài chục người của QĐNDVN trong chuyến công tác viếng thăm bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng. Và cách đây không lâu (không nhớ ngày tháng năm) một máy bay bị rơi trên đường trở về đất liền trong chuyến công tác ủy lạo chiến sĩ Trường Sa. Tai nạn này đã giết chết rất nhiều sĩ quan tham mưu cao cấp của Quân Khu 5.
Dĩ nhiên không phải là những sự cố ngẫu nhiên. Lại càng không phải là tình cờ khi tất cả nạn nhân đều là những sĩ quan giàu kinh nghiệm đang trấn giữ trọng địa sinh tử của Việt Nam. Tuy là không thể trưng ra bằng chứng cụ thể (và dù có bằng chứng cụ thể thì cũng không được phép công bố) phương pháp “tai nạn rơi máy bay” dùng để thủ tiêu tập thể giới chức quân sự mà Trung Cộng muốn trừ khử là phương tiện hiệu quả và dễ thực hiện hơn hết.
Thái Lan cũng không nằm ngoài tầm tay khuynh đảo của Trung Cộng. Mới đây Thái Lan đã đồng ý để cho Trung Cộng tiến hành xây dựng con kinh đào Kra Isthmus. Theo bản tin ngày 13 tháng 3 năm 2014 của Menafn – SinoCast Daily Business Beat via COMTEX và ngày 14 tháng 3 năm 2014 của Global Time, một tập hợp đa công ty của Trung Cộng đã khởi công, trong đó có Sany Heavy Industry Co., Ltd., Xuzhou Construction Machinery Group Co., Ltd. và Guangxi Liugong Machinery Co., Ltd.. Về mặt kinh tế con kinh đào chiến lược này chắc chắn sẽ mang lợi ích đến cho nhiều quốc gia, ngoại trừ những quốc gia hưởng lợi lớn từ kinh đào Malacca. Nhưng về mặt an ninh toàn vùng, một khi kinh đào Kra đã được đào xong và nằm trong tay của Trung Cộng thì nó lại là một tai họa. Nếu như Thái Lan trong những ngày tới cũng rớt vào bàn tay của Trung Cộng thì coi như lộ đồ thâu tóm bán đảo Đông Dương đã thực hiện xong.
Hành lang chiến lược của Trung Quốc đang hình thành và càng lúc càng hiện rõ.
Tại Koh Kong —một tỉnh duyên hải của Campuchia nằm cạnh Tháí Lan và hướng ra vịnh, một địa điểm chiến lược— Campuchia đã giao 36 ngàn hecta đất, bằng một nửa diện tích của Singapore, cho Tập Đoàn Phát Triển Liên Hợp Thiên Tân (Union Group) với thời gian 99 năm, dài hơn một đời người, để xây một “Ankor Watt trên biển” với dự án Botum Sakok hơn 3 tỉ USD cộng thêm gần 10 ngàn hecta đất cho dự án xây đập thủy điện. Một tiền đồn biển của Trung Cộngđang mọc lên trên đất Campuchia, áp sát biên giới Thái Lan. Đúng như nhân viên kiểm lâm đã từng ngăn chận phóng viên Reuters đi vào vùng đất này đã nói: “Đây là Trung Quốc.”
Tại Bokor —một cao nguyên có độ cao trên một ngàn mét nằm sát biên giới Việt Nam nhìn ra vịnh Tháí Lan và Biển Đông, cách cảng Kampongson 90 km, với những cao điểm quân sự và quân cảng xung quanh như cao điểm 144, 146, 162… và quân cảng Ream— Vườn Quốc Gia Bokor, còn có tên là Preah Monivong National Park, đã bán cho Chinese Corp. Bên trong khuôn viên của Bokor, tập đoàn quốc doanh Sinohydro của Trung Cộng đã xây đập thủy điện Kamchay, nhấn chìm hai ngàn hecta rừng. Trong quá khứ những giàn radar đã từng được đặt trên đỉnh Bokor. Nơi đây cũng từng là thành trì của Miên Đỏ. Không ai biết được hiện giờ Trung Cộng đã cài đặt gì ở những nơi được khoanh vùng “của người Trung Quốc.” Những giàn radar? Những giàn tên lửa? Những căn cứ bí mật? Một điều chắc chắn Bokor đang/sẽ là một tiền đồn biển của Trung Cộng mọc lên trên đất Campuchia, áp sát biên giới Việt Nam.
Một nhà máy sản xuất sắt thép và một tuyến đường sắt 400 km nối liền khu vực sản xuất thép trong tỉnh Preah Vihear đến hải cảng Koh Kong, kinh phí trên 11 tỉ USD, cũng đã được ký kết giữa Tập Đoàn Sắt, Thép và Hầm Mỏ Campuchia với Tập Đoàn Đường Sắt Trung Quốc. Đồng thời các công ty Trung Cộng cũng lên kế hoạch xây một tuyến đường sắt cao tốc 400 km từ đất Lào lên hướng Vân Nam và đang thu xếp để ký hợp đồng xây một tuyến đường sắt khác với Thái Lan. Một tuyến đường chiến lược nối liền Vân Nam/ Côn Minh tới vịnh Thái Lan và nam Biển Đông đang hình thành. Thêm vào đó là QL78 dài 120 km, nối liền Vân Nam với Thượng Lào, xuống Đông Bắc Campuchia, tới cảng Kompongsom nam Campuchia, và nối với Tây Nguyên của Việt Nam ra tới biển. “Để thực hiện kế hoạch mở đường xuống vùng biển phía Nam, Bắc Kinh đang củng cố ba tuyến đường bộ từ biên giới Vân Nam xuống Vịnh Bengal và Vịnh Thái Lan. Tuyến thứ nhất từ Côn Minh đến Mandalay (Miến Điện), tuyến đường thứ hai từ Côn Minh đến Chiang Rai (Thái Lan) băng ngang tiểu bang Shan của Miến Điện, tuyến đường thứ ba cũng từ Côn Minh đến Chiang Rai (Thái Lan) nhưng qua các tỉnh Luang Nam Tha va Bokeo trên lãnh thổ Lào.” (Nguồn: Sách Lược Mở Đường Xuống Phương Nam Của Trung Quốc. Nguyễn Văn Huy, 26/2/2012).
 
“Từ năm 1995, Bắc Kinh tiến hành đề án xây dựng 5 Vùng Kinh tế đặc biệt, gọi tắt là SEZ (Special Economic Zone) hay Khu chế xuất, và 14 Thành phố Hải cảng Mở, hay OCC (Open Coastal Cities), dọc các bờ biển…. Bắc Kinh đã thành công trong việc gán ghép các tỉnh Quảng Châu, Vân Nam vào tiểu vùng sông Mêkông để tạo thành một khu vực kinh tế lớn hơn, rộng 2,6 triệu km2 với 326 triệu dân. Từ đó đến nay, Trung Quốc trở thành quốc gia đầu tàu lãnh đạo tiểu vùng hạ lưu sông Mêkông.” (Nguồn: Sách Lược Mở Đường Xuống Phương Nam Của Trung Quốc. Nguyễn Văn Huy, 26/2/2012).
Như ông Chheang Vannarith, Giám Đốc Cambodian Institute for Cooperation and Peace, nhận xét “đối với Trung Quốc đây là vấn đề chiến lược, vì ở đằng sau là các vấn đề Biển Đông và cả Ấn Độ Dương.”
Những náo nhiệt ở mặt Biển Đông, thực có và hư có, là một phần trong chiến sách trá ngụy để Trung Cộng thuận lợi tiến hành âm mưu nắm lấy đường không-địa dọc hành lang Đông Dương để một mặt (a) an ninh thủy lộ cho Cù China ra biển hóa rồng, còn một mặt khác là (b) chuẩn bị cho chiến tranh thôn tính trong tương lai.
Trong lúc đang viết bài này thì đọc thấy tin tức cho biết quân đội Thái vừa làm một cuộc đảo chánh nhanh gọn. Ngoài việc nền dân chủ non trẻ của Thái Lan bị bức tử, tương lai của Thái Lan còn tùy thuộc vào thế lực nào đứng sau chống lưng cho tướng lĩnh và động lực thực sự của họ. “Thái Lan, một quốc gia dân chủ mà Bắc Kinh đang tìm cách lôi kéo vào quỹ đạo ảnh hưởng. Những xáo trộn chính trị gần đây tại Thái Lan nằm trong kế hoạch hoạch này.” (Nguồn: Sách Lược Mở Đường Xuống Phương Nam Của Trung Quốc. Nguyễn Văn Huy, 26/2/2012). Những ngày tới Thái Lan sẽ còn phải đối diện với một chuỗi bảo bùng trước mặt!
Đồng thời cũng có tin tức cho biết là Trung Cộng đang tập trung 300 ngàn quân sát biên giới Việt Nam. Rất nhiều người lo ngại Trung Cộng sẽ tấn công trên đất liền. Theo nhận định cá nhân, không tin rằng Trung Cộng sẽ không làm vậy hoặc ít ra là chưa đến lúc. Giao chiến trên mặt biển hoặc xua chiến hạm chiếm lấy một vài cứ điểm quân sự của Việt Nam ngoài biển có khả năng cao hơn và có lợi hơn cho Trung Cộng.
Nếu họ tấn công Việt Nam như năm 1979 thì người ta có phần nào nhẹ nhõm vì nó cho thấy Trung Cộng vẫn chưa đủ bản lĩnh. Một cuộc chiến như vậy chỉ làm hao xương máu vô ích và không mở rộng toàn vùng. Trên đất liền Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội hơn để chống trả và chiến thắng Trung Quốc.
Ngược lại, nếu chỉ động binh doạ nạt và là một phần của chiến sách trá ngụy nhằm kéo sự quan sát của thế giới theo hướng họ muốn để rảnh tay thực hiện ý đồ lớn hơn mới là điều thực sự đáng lo ngại vừa lâu vừa dài. Và trong vòng vài năm nữa, khi đã thực hiện xong liên minh quân sự Hoa-Lào-Miên-Thái, nếu Trung Cộng manh động châm ngòi chiến tranh hoặc xua quân thôn tính thì đó mới là cuộc chiến tốn nhiều xương máu và nhấn chìm toàn vùng trong khủng hoảng.
Trên thực tế Trung Cộng có thể thành công trong nỗ lực hình thành một liên minh quân sự Hoa-Lào-Miên-Thái cắt đôi vòng đai bao vây tiếp cận của Hoa Kỳ. Đồng thời cũng có thể chính sự hung hãn của Trung Cộng sẽ giúp cho một liên minh quân sự của ĐNA ra đời, đặc biệt là liên minh quân sự của các quốc gia Thái Lan, Nam Dương, Mã Lai, Việt Nam và Phi Luật Tân.
Một khi Trung Cộng đã không thể độc chiếm Biển Đông thì chắc chắn không một quốc gia nào khác có thể. Nếu đã thế tại sao các quốc gia đang tranh chấp lãnh hãi (loại trừ Trung Cộng) không cùng nhau khai khác tài nguyên tại những vùng tranh chấp và dùng nguồn lợi để thành lập quỹ Bảo An Biển Đông? Nếu đã đạt được sự đồng thuận, liên minh có thể dùng nguồn lợi còn nằm dưới biển làm “thế chấp” để “mướn” từ nhiều cường quốc trên thế giới trong thời gian nhanh nhất “khí tài tuần tra và an ninh biển” để trang bị cho lực lượng liên quân? Và có lẽ đây là giải pháp mà Trung Cộng sợ nhất vì tính chính danh của nó và vì Trung Cộng không còn sự chọn lựa nào khác ngoài con đường “trỗi dậy trong hòa bình” và “không thể” tiếp tục manh động với lân bang.
 
Trung Cộng có được ngày hôm nay là do chính chính sách Strategic Engagement của Hoa Kỳ đã kéo nó lên từ đáy vực của nghèo đói và lạc hậu. Đương nhiên là Hoa Kỳ phải trù liệu có một ngày “nếu như Trung Cộng trỗi dậy không bằng con đường hợp tác và hòa bình thì…”Chính vì trù liệu này mà Hoa Kỳ mới có những vòng đai “bao vây tiếp cận” và vòng đai “bao vây phi tiếp cận” phòng khi bất trắc.
Một yếu tố khác càng quan trọng hơn là Hoa Kỳ biết rất rõ nồi cơm của mình trong thể kỷ 21 và về sau nằm ở Pacific Rim. Hoa Kỳ sẽ không để cho bất cứ một nước nào đá mình ra khỏi vùng và giật lấy nồi cơm đó. Nó trở thành là vấn đề sống chết của Hoa Kỳ. Tất cả những hoài nghi về ý chí của Hoa Kỳ “đến để rồi bỏ đi” là không cần thiết.
Nếu như, chỉ là nếu như, Trung Cộng tham vọng và ngông cuồng đến độ cả gan khởi động một cuộc chiến tranh thôn tính, đối đầu vũ lực với Hoa Kỳ, thì điều gì sẽ xảy ra? Đáp án đã bày rõ trên thế cuộc phân bố quân sự. Vòng đai bao vây phi tiếp cận sẽ khóa chặt. Liên quân Anh, Mỹ, Nhật, Hàn, Phi, Úc cộng một số quốc gia trong ASEAN sẽ rút gân Cù China, như Na Tra đã làm với cha con Long Vương Biển Đông.
Căn cứ theo hiện tình thì Nga đang bắt tay với Trung Quốc. Nhưng hai quốc gia nương tựa vào nhau chống lại Hoa Kỳ không có nghĩa là một đồng minh chiến lược, lại càng không phải là một liên minh quân sự. Nó chỉ cho thấy Nga đang đuối sức trước quả đấm phong tỏa kinh tế của Hoa Kỳ nên dẹp tự tôn để nhờ đến sự trợ giúp của Trung Quốc. Nó cũng cho thấy luôn sự mong manh của nền kinh tế Nga vì hẹp nền và thiếu sinh lực.
Với tình trạng yếu ớt như vậy thì Nga càng không muốn giúp cho Trung Cộng trỗi dậy và gây nguy hại cho chính Nga. Không, sẽ không có liên quân Nga-Hoa. Nói cho cùng, nếu có chiến tranh toàn vùng không chừng Nga sẽ liên quân với Anh, Mỹ đánh bại Trung Cộng. Hai siêu cường Nga-Mỹ tuy có giành nhau địa bàn ảnh hưởng nhưng không dại dột hủy diệt nhau và rất hiểu ý nhau trong những ván bài chia chác quyền lợi. Còn Cù China chưa học được cách hành xử có trách nhiệm của một siêu cường mà đã nôn nóng vung quả đấm của siêu cường lại quá ham hố và tự tin vượt giới hạn cho nên trở thành nguy hiểm. Vì vậy, có một ngày Cù China sẽ trở thành là mồi nhậu nếu cứ tiếp tục manh động.
Hoa Kỳ là một quốc gia có chiều dầy kinh nghiệm về sự trỗi dậy và đã từng lần lượt quật ngã tất cả siêu cường trong quá trình trỗi dậy và chống trỗi dậy. Do đó, mọi đánh giá và và chọn lựa chiến lược của các quốc gia trong vùng nên hiểu rõ về Hoa Kỳ và cần cân nhắc cẩn trọng.
Nam Hàn và Nhật Bản là hai quốc gia đã nhờ cây dù quân sự của Hoa Kỳ che chở nên đã không hao tốn kinh phí mà còn rảnh tay rảnh trí tập trung toàn lực vào việc xây dựng kinh tế và đã trở thành là cường quốc trong một thời gian ngắn. Sự chọn lựa đúng của một quốc gia trong vùng không những giúp cơ hội cho đất nước đó mà còn giúp duy trì hòa bình lâu dài cho toàn vùng.
Chính sách ba không trong một bối cảnh tốt thì có thể là một chính sách khôn ngoan. Nhưng với bối cảnh đang vận hành hiện nay và những dự đoán cho tương lai, chính sách ba không có thể được diễn dịch là không bạn, không lối thoát và không tương lai.
Hy vọng là Việt Nam cho mình một cơ hội tốt và tích cực đóng góp vào nỗ lực duy trì hòa bình.
Categories: Biển Đông | Leave a comment

Trung Quốc muốn gì từ giàn khoan HD 981 và đường băng ở đảo Gạc ma?

Trung Quốc muốn gì từ giàn khoan HD 981 và đường băng ở đảo

Gạc ma?

Giàn khoan Hải Dương - 981 của Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt nam. (14/05/2014)

Philippines mới đây cáo buộc Trung Quốc đang cho xây dựng một đường băng trên đảo Gạc Ma thuộc khu vực quần đảo Trường Sa đang tranh chấp với các nước khác. Hành động này diễn ra trong lúc Trung Quốc cũng đang đặt giàn khoan HD 981 tại gần khu vực quần đảo Hoàng Sa mà Việt Nam đòi chủ quyền. Những hành động này đã gây quan ngại cho các nước đang gây quan ngại trong khu vực.
Xây dựng ở Gạc Ma đe dọa an ninh khu vực?
Cáo buộc hôm 13 tháng 5 vừa qua của Philippines liên quan đến việc Trung Quốc tiến hành xây dựng một đường băng trên bãi Gạc Ma ở quần đảo Trường Sa mà cả Việt nam và Philippines đều đòi chủ quyền là cáo buộc gần đây nhất liên quan đến hành động của Trung Quốc ở biển Đông sau vụ giàn khoan 981 gần quần đảo Hoàng Sa. Đây là hành động khiến những chuyên gia về biển Đông lo ngại cho an ninh khu vực.

Thạc sĩ luật Hoàng Việt, chuyên gia về biển Đông của Việt Nam nhận định:

Theo tôi thì Trung Quốc làm vậy để củng cố vị thế của Trung Quốc trên đảo. Cái quan trọng là hành động đó của Trung Quốc dẫn đến phá vỡ duy trì nguyên trạng ở Trường Sa. Cái tình hình Hoàng sa căng thẳng rồi nhưng tình hình Trường Sa còn phức tạp hơn nữa vì nó liên quan đến 5 nước 6 bên. Nhưng mà Trung Quốc khuấy động ở Trường Sa ở bãi Gạc ma bằng cách xây một cái đảo nhân tạo thì nó phá vỡ nguyên trạng và dẫn đến các kịch bản. Kịch bản thứ nhất là tất cả các quốc gia trong tranh chấp sẽ cũng làm tương tự như  Trung Quốc. Và hành động giống như sự kiện giàn khoan thì có thể Trung Quốc sẽ lập lại trên vùng Trường Sa và sự đụng độ trên Trường Sa sẽ rất căng thẳng, và điều đó dẫn đến đe dọa lớn cho hòa bình an ninh khu vực cũng như của toàn bộ châu Á.

… TQ khuấy động ở Trường Sa ở bãi Gạc ma bằng cách xây một cái đảo nhân tạo thì nó phá vỡ nguyên trạng và dẫn đến các kịch bản. Kịch bản thứ nhất là tất cả các quốc gia trong tranh chấp sẽ cũng làm tương tự như TQ.

Thạc sĩ luật Hoàng Việt

Nói với báo giới tại Manila hôm 13 tháng 5, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Philippines, Charles Jose khẳng định Trung Quốc đã chuyển vật liệu lên bãi này trong vài tuần gần đây. Ông này nói bằng hành động này, Trung Quốc đã vi phạm tuyên bố của các bên trên biển Đông gọi tắt là DOC. Phía Philippines cũng cho biết, dựa trên các hình ảnh vệ tinh của hải quân Philippines, Trung Quốc đang chuẩn bị xây dựng một đường băng tại đây.

Vị trí của giàn khoan HD 981 trong thềm lục địa của Việt Nam. RFA files:UNCLOS-CIA
Vị trí của giàn khoan HD 981 trong thềm lục địa của Việt Nam. RFA files:UNCLOS-CIA


Phía Trung Quốc mặc dù không cho biết đang xây dựng gì trên đó nhưng trong cuộc họp báo thường kỳ tại Bắc Kinh hôm 15 tháng 5 vừa qua, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh nói rằng Trung Quốc có chủ quyền không tranh cãi đối với quần đảo Trường Sa và vùng nước tiếp giáp. Vì vậy tất cả những xây dựng do Trung Quốc tiến hành trên bãi Gạc Ma hoàn toàn là thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

Gạc Ma là bãi đá từng do Việt Nam kiểm soát cho đến khi bị mất vào tay của Trung Quốc vào năm 1988 sau một trận hải chiến ngắn khiến gần 70 thủy thủ Việt Nam tử nạn.

Tờ Hoàn Cầu Thời báo của Trung Quốc hôm 25 tháng 5 có bài viết cho biết Bắc Kinh đang chuẩn bị xây dựng một đảo nhân tạo tại khu vực quần đảo Trường Sa. Theo tờ báo này thì việc xây dựng sẽ do Viện Nghiên cứu và thiết kế tàu thứ 9 của Trung Quốc có trụ sở ở Thượng hải thực hiện và có nhiều khả năng là ngay trên bãi Gạc Ma. Cũng theo tờ báo này thì các cơ sở được xây dựng trên bãi sẽ bao gồm sân bay, cảng biển, được sử dụng để làm tăng khả năng đáp ứng nhanh của tàu chiến Trung Quốc. Hiện tại, đảo nhân tạo sẽ đóng vai trò như một nơi cung cấp cho các tàu cá của Trung Quốc ngoài biển Đông với nhà nghỉ, tòa nhà văn phòng, sân vận động và thậm chí cả nông trại.

Theo dõi cách đi của Trung Quốc từ lúc chiếm Hoàng Sa năm 74 rồi nhảy ra Scarborough của Philippines, rồi xuống đây, rồi cắm giàn khoan dưới này thì có thể là ông dương Đông kích Tây tức là ông tập trung dư luận ở đây thì ông ngồi xây dựng đường băng, sân bay vì căn cứ ở Gạc Ma rất quan trọng.

Tiến sĩ  Đinh Hoàng Thắng

Theo tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng, thành viên nhóm Minh Triết nghiên cứu biển Đông, hai hành động gần đây của Trung Quốc là rất nguy hiểm:

Nếu chị theo dõi cách đi của Trung Quốc từ lúc chiếm Hoàng  Sa năm 74 rồi nhảy ra Scarborough của Philippines, rồi xuống đây, rồi cắm giàn khoan dưới này thì có thể là ông dương Đông kích Tây tức là ông tập trung dư luận ở đây thì ông ngồi xây dựng đường băng, sân bay vì căn cứ ở Gạc Ma rất quan trọng. Tôi nghĩ là nó nguy hiểm nhưng tiếc là mình không có nhiều thông tin, có ai được đến đó đâu mà chỉ theo dõi vệ tinh mới biết được.

Hai tàu Trung quốc tàu được ghi nhận tại vùng biển Gạc Ma gồm 1 tàu hộ vệ tên lửa và 1 tàu vận tải đổ bộ.(tháng 5, 2014) (Source news.china.com)
Hai tàu Trung quốc tàu được ghi nhận tại vùng biển Gạc Ma gồm 1 tàu hộ vệ tên lửa và 1 tàu vận tải đổ bộ.(tháng 5, 2014) (Source news.china.com)



Tuy nhiên tờ The Diplomat hôm 15 tháng 5 trích lời chuyên gia Richard Bitzinger thuộc trường nghiên cứu quốc tế Rajaratnam ở Singapore, thì cho rằng việc xây dựng một đường băng ở bãi Gạc Ma là quá nhỏ để có thể có bất cứ ảnh hưởng nào về mặt chiến lược. Trước đó cả Philippines và Đài Loan cũng đã cho xây dựng đường băng tại đảo Thị tứ do Philippines kiểm soát và đảo Ba bình hiện do Đài Loan kiểm soát.

Tham vọng của Trung Quốc

Tuy nhiên, cũng có lo ngại cho rằng Trung Quốc có thể đi xa hơn là việc xây dựng một đường băng tại bãi Gạc Ma. Thạc si luật Hoàng Việt cho rằng có nhiều khả năng Trung Quốc sẽ cho xây dựng một đảo nhân tạo với căn cứ quân sự như tờ Hoàn Cầu Thời báo đã nói đến. Ông nói:
Nếu họ làm một đảo nhân tạo lớn thì có nguy cơ họ sẽ xây dựng căn cứ quân sự trên đó. Nếu Trung Quốc có căn cứ quân sự và với thói quen, hành động và tham vọng, và quy luật họ đang sử dụng thì chắc chắn nó sẽ gây ra nhiều vấn đề tiềm ẩn mà trong đó cuộc chạy đua vũ trang, căng thẳng trong khu vực Trường sa đó sẽ dâng lên rất nhiều.

Về lâu về dài họ sẽ làm vì mục tiêu của họ là chiếm được vùng biển Đông tức là kế hoạch nước sâu của họ đưa ra từ năm 1982 từ thời ông Lưu Hoa Thanh, theo đó họ phát triển mạnh, họ phải vươn từ chuỗi đảo thứ nhất mà biển đông là nằm trong chuỗi đảo thứ hai, và từ chuỗi đảo thứ hai và họ vươn ra Ấn Độ dương và TBD và đe dọa vị trí của Mỹ

Thạc sĩ Hoàng Việt

Theo Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng, việc xây dựng trên bãi Gạc Ma của Trung Quốc là nằm trong một chiến lược lâu dài thực hiện giấc mộng Trung Hoa, trở thành một cường quốc biển của Trung Quốc trong tương lai:

Đây là đường đi ra của Trung Quốc từ căn cứ Hải Nam xuống Hoàng Sa, rồi xuống sâu dưới này, tức là Trung Quốc đã tính một lối ra để thực hiện giấc mộng Trung Hoa, cường quốc biển, cường quốc đại dương. Cái này nó nằm trong âm mưu đó cho nên rất khoát là nguy hiểm.
Thạc sĩ Hoàng Việt nhận định nếu Trung Quốc thực sự xây dựng một căn cứ quân sự tại đây, thì điều này có nghĩa là Trung Quốc đang thực hiện việc chinh phục chuỗi đảo thứ nhất để vươn ra Thái Bình Dương:

Tôi nghĩ về lâu về dài họ sẽ làm vì mục tiêu của họ là chiếm được vùng biển Đông tức là kế hoạch nước sâu của họ đưa ra từ năm 1982 từ thời ông lưu Hoa thanh, theo đó họ phát triển mạnh, họ phải vươn từ chuỗi đảo thứ nhất mà biển đông là nằm trong chuỗi đảo thứ hai, và từ chuỗi đảo thứ hai và họ vươn ra Ấn Độ dương và Thái Bình dương và đe dọa vị trí của Hoa Kỳ.

Chuỗi đảo thứ nhất mà Trung Quốc muốn vượt qua kéo dài từ Hàn Quốc đến Philippines tức là bao gồm khu vực biển Đông. Chuỗi đảo thứ hai kéo dài từ đảo Honshu của Nhật, đi qua quần đảo Ogasawara, quần đảo Mariana, và quần đảo Palau. Trong hệ thống ‘mắt xích  Thái Bình Dương’ do chuỗi đảo hợp thành, Nhật Bản và Hàn Quốc là trung tâm của mắt xích. Đây cũng là những đồng minh quan trọng của Mỹ tại khu vực châu Á Thái Bình Dương.

Đô đốc Lưu Hoa Thanh của Trung Quốc từ năm 1982 đã đề xuất Trung Quốc cần kiểm soát chuỗi đảo thứ nhất và thứ hai vào năm 2010 và 2020. Hải quân của Trung Quốc cần sẵn sàng đón nhận những thách thức của quân đội Mỹ tại Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ dương vào năm 2040 và biển Hoa Đông sẽ trở thành sân sau của hải quân quân đội nhân dân Trung Quốc trong thời gian không xa.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

VN cần ‘bà con xa’ hay ‘láng giềng gần’?

VN cần ‘bà con xa’ hay ‘láng giềng gần’?

QLB

Phạm Chí Dũng

Quan hệ Việt Nam và Trung Quốc đang căng thẳng vì vụ giàn khoan
Không phải ngẫu nhiên và cũng chưa có gì chứng tỏ thiện ý khi An Ninh Thủ Đô vừa có bài “Các nghị sĩ hối thúc chính quyền Mỹ cứng rắn trước hành động nguy hiểm của Trung Quốc”.

Trang báo thường chiếm một vị trí xứng đáng trong danh mục bán chỉ định của báo đảng và luôn công kích phong trào dân chủ nhân quyền trong nước cùng “sự can thiệp thô bạo và trắng trợn của Mỹ vào Việt Nam” gần đây đã bộc lộ nỗi âu lo lẫn sốt ruột không thể che giấu: hơn bao giờ hết, giới lãnh đạo Việt Nam lại cần đến “bà con xa” hơn là “láng giềng gần”.

Lo âu và rối loạn

Công tâm mà xét, phép thử Bắc Kinh mang tên giàn khoan Haiyang Shiyou 981 ở biển Đông chỉ trong hai tuần lễ đã mang lại một hiệu nghiệm chưa từng có: toàn bộ đời sống chính trị và cả tâm thế xã hội Việt Nam bị rối loạn.

“Kỳ án” biểu tình bạo loạn ở Bình Dương có lẽ đã làm cho phần lớn giới chính khách Hà Nội, vốn còn so đo tính toán trong trò chơi đu dây giữa Bắc Kinh và Washington, phải giật mình.

Lần đầu tiên từ sau cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc 1979 đến nay, những người làm công tác tình báo của Việt Nam chắc hẳn phải quá nặng lòng với câu hỏi: làm thế nào và sẽ ra sao khi những dấu hiệu của lực lượng “thân Trung” đã và sẽ nổi lên quyết liệt đến mức sống mái trên mảnh đất thường được xem là “ao làng” của Bắc Kinh?

Phép thử Bắc Kinh cũng đã chứng tỏ được xung lực ứng nghiệm của nó: ngay khi nội trị Việt Nam rối loạn, lời cầu cứu của Hà Nội đã không còn được cộng đồng quốc tế đáp từ như trước đây.

Nếu quả đúng với thâm ý của Trung Nam Hải và đòn nhúng tay hiểm ác của họ, cuộc bạo loạn đốt phá lan rộng dữ dội ở Bình Dương và hàng loạt cái chết của công nhân Trung Quốc ở Hà Tĩnh đã làm cho hình ảnh một Việt Nam “ổn định chính trị và xã hội” trở nên phai tàn rất nhanh trong cảm nhận của thế giới.

Hệ quả kéo theo không tránh khỏi là làn sóng đầu tư nước ngoài vào quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp thực tế có thể lên đến 20% này đang có nguy cơ bị chựng lại.

Cùng lúc, làn sóng thoái vốn của nhiều doanh nghiệp Trung Quốc, Đài Loan và vài nước khác lại có chiều hướng xung kích.

Rồi như một hiệu lệnh đồng loạt, nhiều dấu hiệu cho thấy quân đội Trung Quốc đang thầm lặng di chuyển áp sát biên giới phía Bắc. Vài ngày gần đây đã thổi nhẹ loạt đồn đoán về một cuộc chiến tranh có thể nổ ra vào bất cứ thời điểm nào…

Cầu cứu

Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden và Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường

Phản ứng của phương Tây ra sao? Vào đúng thời điểm kỷ niệm bốn chục năm quan hệ Việt – Pháp, giới ngoại giao Paris vẫn giữ đúng chuẩn mực văn hóa, và vấn đề mà họ có vẻ quan tâm nhất cũng chính là chủ đề “xây dựng văn hóa” mà Ban chấp hành trung ương đảng cộng sản Việt Nam miên man bàn thảo trong hội nghị trung ương 9, cho dù ngay cạnh hội nghị này là mối hiểm họa bất cần văn minh của người anh em “núi liền núi, sông liền sông”.

Trong khi đó, với tính khí lạnh lẽo sương mù vốn có, người Anh càng khó mặn mà với một khu vực mà họ chẳng có ích lợi gì ngoài cú vồ hụt Nam Kỳ vào năm 1946.

Chưa có bất cứ tín hiệu cứu sinh nào từ Tây Âu, Hà Nội chỉ còn trông chờ vào chính sách “xoay trục” sang châu Á – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ.

Thế nhưng điều lạ lùng là sau thành công kéo tỷ lệ thất nghiệp từ 9,9% năm 2009 xuống chỉ còn 6,3% vào đầu năm nay, chính quyền Obama lại dường như chọn hướng tiếp tục phát huy thắng lợi này, cũng là để tạo dựng uy tín cho ứng cử viên đảng Dân chủ trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng vài năm tới, thay vì dành mối chú tâm cho một địa chỉ vẫn bị đánh giá “độ tin cậy giữa hai quốc gia là rất thấp”.

Thực tế, chỉ vài tiếng nói của vài nghị sĩ Mỹ không đủ làm cho gió lặng trên biển Đông bạc sóng bởi vòi rồng Trung quốc. Thậm chí đến lúc này, một nghị sĩ Mỹ còn nói thẳng: “Việt Nam không hẳn là bạn của Hoa Kỳ”.

Có lẽ nhiều năm sau, câu nói đó sẽ đi vào lịch sử, nếu so đo với chính sách “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước” và gần 10 “đối tác chiến lược toàn diện” trên danh mục của Hà Nội tới nay, trong đó Bắc Kinh luôn tiến chiếm vị trí số 1.

Tình thế nan nguy chưa từng có như thế chắc chắn đã khiến cho đảng cầm quyền, chính phủ và quốc hội Việt Nam không còn thể thờ ơ với vận mệnh dân tộc và sinh mạng chính trị của họ.

Như một hiệu lệnh đồng loạt, trong khi Quốc hội khai mạc kỳ họp giữa năm bằng một tuyên bố có từ “Trung Quốc” và do đó khác về bản chất với cả hai bài diễn văn khơi mào và kết thúc hội nghị trương ương 9 của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng ít ngày trước đó, Phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh Liên hiệp quốc cũng bắt đầu ban bố một tuyên cáo về “Trung Quốc đe dọa nghiêm trọng hòa bình”.

Nhưng đáng kể nhất là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, chính khách cao cấp tỏ ra có tiếng nói “thoát Trung” mạnh mẽ nhất trong hàng ngũ lãnh đạo đảng cho đến giờ.

Nhân chuyến dự Diễn đàn kinh tế thế giới Đông Á ở Philippines, Thủ tướng Dũng đã có vẻ khiến Bắc Kinh phải đôi chút lo ngại về một liên minh quân sự giữa hai quốc gia – nạn nhân của chính sách bành trướng biển khơi và “vùng chủ quyền lãnh thổ di động”.

Dường như là lần đầu tiên, ông Dũng tuyên bố công khai ở nước ngoài về “mối đe dọa của Trung Quốc”.

Nhưng có một chi tiết rất đáng chú ý: nước ngoài đó lại là Philippines – quốc gia vừa đạt được hiệp ước tương trợ quốc phòng với Mỹ trong chuyến công du Manila của ông Barak Obama cuối tháng 4/2014.

Điều an ủi có lẽ là duy nhất cho sự thất vọng của Hà Nội là dù sao cú ra tay đầy tính toán của Trung Quốc tại Biển Đông cũng bắt buộc những người bảo thủ ở Việt Nam phải nhìn lại một quy luật kinh điển: trong hai cái xấu, hãy lựa chọn cái nào đỡ xấu hơn.

‘Độ tin cậy rất thấp’

EU cho rằng Việt Nam chưa thật sự tiến bộ về nhân quyền

Vốn thường bị lên án là ‘sen đầm quốc tế” cùng chính sách “diễn biến hòa bình”, nhưng ít nhất người Mỹ đã chưa từng biểu lộ ý chí xâm lăng bằng mọi giá như Trung Quốc tại ít nhất khu vực biển Đông.

Thậm chí ngược lại, Mỹ và phương Tây lại đang có trong tay cái bánh mà Việt Nam quá thèm muốn để xử lý khủng hoảng kinh tế – xã hội: Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) – điều mà Trung Quốc không hề có; hoặc chỉ là cán cân xuất siêu của Đại Hán vào Việt Nam tăng chẵn 100 lần trong hơn 10 năm qua.

Tâm lý người Việt “ngả vào vòng tay phương Tây” cũng bởi thế đang có chiều hướng đột biến so với mối nghi kỵ đậm chất “thù địch” như trước đây.

Rất nhiều khả năng là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và một phần lớn còn lại, nếu không muốn nói là tất cả, giới lãnh đạo Hà Nội đang rất mong đợi giữa họ với Washington sẽ thiết lập được một bản hiệp ước quân sự nào đó, nhằm ngay lập tức tạo thành “lá chắn biển Đông” trước cơn thủy triều đỏ rực thèm khát của Bắc Kinh.

Philippines lại chính là một bài học quá cận kề đối với Việt Nam. Chỉ ba năm trước, vùng lãnh hải của quốc gia nhỏ bé này còn liên tục bị Trung Quốc đe dọa xâm lấn và chiếm đảo.

Thế nhưng cùng với mối quan hệ khắng khít với Washington và hạm đội 7, lần đầu tiên người Phi đã dám kiện gã khổng lồ Trung Quốc ra tòa án quốc tế. Cũng cho đến nay, hải quân Trung Quốc hoàn toàn chưa dám động binh – hành động chẳng tương xứng chút nào với tuyên bố “nhổ nước bọt” của họ trước đây.

Bài học quốc tế đã sẵn có và kinh nghiệm cũng không thiếu. Nhưng câu hỏi hóc búa đối với Hà Nội là làm thế nào họ chinh phục được “bà con xa” vào lúc này, khi “độ tin cậy giữa hai quốc gia là rất thấp”?

Không chỉ “thấp” về mối quan hệ “đối tác toàn diện” mà chưa hề mang hơi hướng “chiến lược” nào, những gì mà một chính quyền thường hứa hẹn “luôn quan tâm và bảo đảm các quyền con người” lại chẳng thể cảm hóa được Quốc hội và do đó là chính phủ Mỹ.

Ngược hẳn với tuyên bố “Việt Nam đã thực hiện hơn 80% khuyến nghị về nhân quyền của Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc” của một trong những nhân vật được coi là ứng viên cho chức vụ thủ tướng Việt Nam trong tương lai không xa – Phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh, giới chính khách Liên minh châu Âu lại mát mẻ rằng có đến 85% khuyến nghị của các quốc gia đã chưa hề được Hà Nội đụng chạm đến.

Lời trần tình chua cay này được nêu ra trong một cuộc hội thảo về Kiểm điểm định kỳ phổ quát về nhân quyền Việt Nam diễn ra mới đây tại Hà Nội.

Bà con xa?

Minh chứng hùng hồn và gần gũi nhất cho chủ đề nhân quyền Việt Nam lại vừa xảy đến vào ngày Chủ nhật 18/5/2014, khi cuộc biểu tình ôn hòa phản đối Trung Quốc can thiệp vào biển Đông của người dân Hà Nội, Sài Gòn và Vinh đã bị chính quyền các nơi đàn áp thô bạo.

Các hãng tin quốc tế lập tức loan tin “Bắt bớ diễn ra khắp nơi, những người biểu thị lòng yêu nước bị đánh đập dã man…”

Rất tương đồng với ý nghĩa của gần hai chục cuộc đàn áp biểu tình ôn hòa chống Trung Quốc từ giữa năm 2011 đến nay, cuộc đàn áp gần nhất ở Việt Nam đã bộc lộ một sai lầm chính trị đủ lớn của chính quyền: không còn phân biệt nổi đâu là biểu tình quá khích và đâu là biểu tình ôn hòa.

Một sai lầm bị đại đa số nhân dân cho là vong quốc và sẽ góp thêm lòng nhiệt tình vào tình thế mất nước.

Chính sai lầm mang tính hệ thống trên đang và sẽ dồn đẩy giới cầm quyền Việt Nam vào ngõ cụt: Làm thế nào để nếu chiến tranh Trung – Việt nổ ra, mà tương lai này trở nên khá dễ đoán trong 2-3 năm tới, chính quyền Việt Nam có thể ít nhất huy động được dân chúng xuống đường biểu thị “chính nghĩa”, trước khi nói đến một cuộc tổng động viên nào đó, mà không bị người dân quay lưng bởi quá khứ trấn áp biểu tình không khoan nhượng?

Làm thế nào để Hà Nội vớt vát chút niềm tin quốc tế trong bối cảnh họa xâm lăng đang cận kề và mối họa mất nước hoàn toàn không xa xôi?

Và thực tế hơn rất nhiều lần là làm thế nào để Việt Nam có được “lá chắn biển Đông”, nếu chính quyền bảo thủ của quốc gia này vẫn không thể chấp nhận những khái niệm cơ bản nhất về giá trị nhân quyền, như một bài học rất giá trị khác – Miến Điện – đã tích lũy từ ba năm qua và thật ứng với câu tục ngữ Việt Nam “Bà con xa hơn láng giềng gần”?

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của nhà báo tự do Phạm Chí Dũng từ Saigon

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Vợ TBT Lê Duẩn nói công hàm Phạm Văn Đồng ‘giao TQ quản lý Hoàng Sa’

Vợ TBT Lê Duẩn nói công hàm Phạm Văn Đồng ‘giao TQ quản lý

Hoàng Sa’

https://www.youtube.com/watch?v=kQOs5NO_yno&feature=player_embedded


 CTV Danlambao – Trong cuộc phỏng vấn với đài BBC vào năm 2008, phu nhân cố tổng bí thư Lê Duẩn là bà Bảy Vân khẳng định ông Phạm Văn Đồng đã ký vào một ‘văn bản’ có nội dung ‘giao cho Trung Quốc quản lý Hoàng Sa’.

Bà Bảy Vân tên thật Nguyễn Thụy Nga, là vợ thứ hai của ông Lê Duẩn. Sau năm 1975, bà Bảy Vân từng giữ chức vụ Phó tổng Biên Tập báo Sài Gòn Giải Phóng.
Trích đoạn phỏng vấn của BBC vào tháng 8/2008:
Phóng viên Xuân Hồng, BBC: Thưa bà, nếu ông nhà (Lê Duẩn – Chú thích) còn sống, bà có nghĩ Trung Quốc có thể chiếm được Hoàng Sa và Trường Sa hay không?
Bà Nguyễn Thụy Nga (Bảy Vân): Tui cũng hổng biết. Nhưng mà hồi đó, hổng có ý kiến anh Ba [Lê Duẩn] là nó chiếm hết luôn cả Trường Sa rồi. Nhưng mà ảnh bảo phải ra đóng cho được ở Trường Sa.
Thì lúc đó là… Y lấy cái thế là trước kia ông Phạm Văn Đồng có ký một cái văn bản, coi như là ngụy nó đóng ở đó, cho nên giao cho Trung Quốc quản lý Hoàng Sa. Coi như là Phạm Văn Đồng có ký tên.
Thì bây giờ, Trung Quốc nó nói cái đó là khỏi bàn, bởi vì đã có văn bản ký rối. Nhưng mà hổng phải, cái đó trong tình anh em, nghĩa là để cho ổng [Trung Quốc] làm trong khi mình chưa làm thôi. Vì mình còn đánh ở trong này, đâu có lực đâu mà làm ngoài đó.
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Khi lính của đảng “ta” nhận quân xâm lược là thầy…

Khi lính của đảng “ta” nhận quân xâm lược là thầy…

CTV Danlambao – Giặc đến nhà đàn bà phải đánh. Khựa cướp nhà đảng ta đi học. Học ai? học thầy Khựa. Học gì? Học cách bắn bắn súng nước trên biển và bắn súng thật vào dân Việt đứng lên chống Tàu cộng xâm lược!? Đây là một trong những hành động cúi đầu khòm lưng nhất quán từ trên xuống dưới của “quân đội nhân dân đít tàu” của đảng “ta” trong thời gian qua khi Tàu cộng đã nhiều lần xâm lược VN. Xin đăng lại để mọi người “tỏ tường”.
22 sĩ quan cấp cao quân đội tập huấn tại Trung Quốc
Ngày 6/6/2013, Đoàn cán bộ chính trị cao cấp của Quân đội Nhân dân Việt Nam sẽ sang Trung Quốc tham gia khóa học 15 ngày, trong khuôn khổ Đề án 165 của Ban Tổ chức Trung ương và thỏa thuận hợp tác quốc phòng giữa 2 nước.
Đoàn gồm 22 tướng lĩnh, sĩ quan cấp cao là cán bộ chủ trì công tác Đảng, công tác chính trị tại các đơn vị cấp chiến lược, chiến dịch toàn quân, được đào tạo cơ bản, có nhiều kinh nghiệm thực tiễn và là nguồn quy hoạch cho nhiệm kỳ tới.
Sáng 5/6, tại Đoàn 871, trung tướng Nguyễn Văn Động, Cục trưởng Cục Cán bộ thay mặt thủ trưởng Tổng cục Chính trị giao nhiệm vụ cho đoàn cán bộ chính trị cao cấp sang học tập tại Học viện Chính trị Tây An, Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc.
Các đại biểu dự Lễ giao nhiệm vụ và thành viên 
Đoàn cán bộ chính trị đi học Trung Quốc. Ảnh: QĐND.
Hằng năm, Bộ Quốc phòng cử hàng trăm cán bộ đến các nước để giao lưu, trao đổi, tập huấn, đào tạo nhằm tiếp thu những thành quả khoa học, kỹ thuật và học hỏi kinh nghiệm, kiến thức mới của các nước trên thế giới. Tiếp theo Đề án 165 của Ban Tổ chức Trung ương, đây là đoàn cán bộ quân đội thứ 6 được cử sang tập huấn, học tập tại Trung Quốc kể từ năm 2009.
Trung tướng Nguyễn Văn Động yêu cầu tất cả cán bộ được cử đi học cần phải nghiêm túc quán triệt mục đích, yêu cầu, ý nghĩa, tầm quan trọng của khóa học. Ông nhấn mạnh: “Các cán bộ được cử đi học đợt này cần phải nghiên cứu sâu lý luận, tiếp thu kinh nghiệm thực tiễn của bạn để về nước vận dụng một cách sáng tạo, khoa học vào quá trình thực hiện nhiệm vụ của đơn vị mình. Từng thành viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục mọi khó khăn, đoàn kết, giúp đỡ nhau trong suốt quá trình học tập để đạt được kết quả tốt nhất”.
Cục trưởng Động cũng lưu ý, trong quá trình học tập phải tôn trọng pháp luật của nước bạn, nghiêm chỉnh chấp hành những quy định của cơ sở đào tạo, giữ vững tư thế, lễ tiết, tác phong, hình ảnh đẹp của cán bộ, sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, góp phần thắt chặt mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị giữa hai Đảng, hai Nhà nước, quân đội và nhân dân hai nước.
Theo chương trình khóa học, đoàn cán bộ chính trị cấp cao của Quân đội Nhân dân Việt Nam sẽ nghiên cứu 10 chuyên đề về các vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác Đảng, công tác chính trị của Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc.
Theo Quân đội Nhân dân 
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Học giả Việt Nam tiếc thông điệp Obama đến muộn

Học giả Việt Nam tiếc thông điệp Obama đến muộn

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2014-05-30
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này
p052814ps-0321-305.jpg

Tổng thống Barack Obama phát biểu tại Học viện quân sự West Point, New York, ngày 28 tháng 5 năm 2014.

White House Photo/Pete Souza

Hoa Kỳ sẵn sàng đáp trả sự gây hấn của Trung Quốc trên Biển Đông, lời cảnh báo do Tổng thống Barack Obama đưa ra hôm 28/5 tại Học viện quân sự West Point (New York) được báo chí Việt Nam nhanh chóng chuyển tải. Phải chăng Việt Nam trông đợi sự ủng hộ của Hoa Kỳ và liệu việc này có giúp Việt Nam thoát khỏi hoàn cảnh đơn độc trong cuộc đấu không cân xứng với kẻ xâm lược phương Bắc.

Một tín hiệu rất tốt

Trong câu chuyện với Nam Nguyên vào tối 29/5/2014, Thạc sĩ Hoàng Việt, giảng viên luật quốc tế trường Đại học Luật TP.HCM, thành viên Quỹ nghiên cứu Biển Đông đã trả lời câu hỏi là bản thân ông đón nhận tuyên bố của Tổng thống Obama như thế nào:

“Cá nhân tôi cho rằng, đó là một tín hiệu rất tốt. Và nếu Hoa Kỳ đã có những tiếng nói mạnh mẽ hơn như vậy, nếu Hoa Kỳ đưa ra sớm từ đầu thì có lẽ đã ngăn chặn được sự leo thang của Trung Quốc như thời gian vừa rồi. Và tôi đã từng nói, trên thế giới này để kiềm chế được tham vọng của Trung Quốc đối với các vùng biển, trong đó đặc biệt là Biển Đông thì chỉ có một quốc gia có thể làm được đó là Hoa Kỳ. Vì Hoa Kỳ có uy tín và khả năng, cũng như kinh nghiệm phát triển cường quốc biển  của mình. Hoa Kỳ đủ sức và chỉ có Hoa Kỳ có thể ngăn chặn tham vọng của Trung Quốc ở vùng Biển Đông này.”

Trả lời cùng một câu hỏi được chúng tôi nêu ra,  TS Phạm Chí Dũng nhà bình luận độc lập hiện sống và làm việc ở Sài Gòn nhận định:

Đó là một tín hiệu rất tốt. Và nếu Hoa Kỳ đã có những tiếng nói mạnh mẽ hơn như vậy, nếu Hoa Kỳ đưa ra sớm từ đầu thì có lẽ đã ngăn chặn được sự leo thang của TQ.
-Thạc sĩ Hoàng Việt

“Tôi nghĩ là rất nhiều người Việt Nam ủng hộ chuyện này và họ còn thấy sự thực lòng của Mỹ nữa. Còn về quyền lợi của Mỹ thì rõ ràng Tổng thống Obama cần hành động như vậy, không thể hành động khác được. Vì nếu hành động khác thì nó không thuận chính sách xoay trục về Châu Á Thái Bình Dương của Mỹ. Cho tới lúc này ít nhất một hành động mà Mỹ cần thể hiện là tăng cường vai trò hạm đội 7 trên khu vực Biển Đông, để ngăn chặn ảnh hưởng bành trướng mở rộng của Trung Quốc, đó là vấn đề mà hiện nay người Mỹ đang phải đối mặt. Giàn khoan HD 981 mặc dù là một câu chuyện rất nhỏ nhưng là một thách thức gián tiếp mà tôi cho là cả trực tiếp đối với chính quyền Mỹ về tất cả những gì gọi là chính sách bảo vệ quyền lợi và công dân Mỹ ở ngoài biên giới Mỹ.”

Thông tấn xã Việt Nam cũng nhanh chóng đưa tin về điều gọi là ‘Mỹ ủng hộ Việt Nam khá mạnh mẽ trong vấn đề Biển Đông. Hãng thông tấn chính thức này đã trích nhận định của GS Nguyễn Mạnh Hùng, chuyên ngành quan hệ quốc tế của Đại học George Mason tiểu bang Virginia Hoa Kỳ. GS Nguyễn Mạnh Hùng nói rằng: “Quan điểm  của chính quyền Mỹ  trước vấn đề Biển Đông như vậy là rõ ràng và nên được đặt trong bối cảnh chính quyền ông Obama thời gian qua đã liên tục nêu quan ngại trước các hành động của Trung Quốc.”

Học giả Hoàng Việt thành viên Quỹ nghiên cứu Biển Đông giải thích rõ hơn về việc tại sao ông lại tiếc về việc thời điểm mà ông cho là khá chậm khi phía Hoa Kỳ thể hiện quan điểm mạnh mẽ và cụ thể hơn về vấn đề Biển Đông:

“Trong suốt thời gian vừa rồi chính quyền Hoa Kỳ vẫn có những phản đối, nhưng là những phản đối ở mức độ vừa phải và chỉ dừng lại ở những tuyên bố mang tính chất lo ngại thôi. Chính vì vậy Trung Quốc cho là họ toàn quyền giống như một ông chủ ở một vùng hoang vu ở Châu Á này và Trung Quốc có thể quyết định muốn làm gì cũng được. Chính vì vậy dẫn tới hàng loạt những căng thẳng do Trung Quốc gây ra. Cho nên, nếu phía Hoa Kỳ như Tổng thống Obama phát biểu ở Học viện West Point cho thấy một tiếng nói phản đối mạnh mẽ từ phiá Hoa Kỳ, thì điều này sẽ làm cho Trung Quốc phải chùn tay.”

hd981-3-250
Tàu Trung Quốc (bên phải) sử dụng vòi rồng để tấn công tàu tuần tra của Việt Nam và cũng liên tiếp húc vào tàu VN trong vùng biển tranh chấp ở Biển Đông hôm 2 tháng 5, 2014. AFP PHOTO.

Tuyên bố của Tổng thống Obama về Biển Đông được đưa ra vào ngày 28/5 trong bối cảnh Việt Nam đã chịu trận 28 ngày, đã thất bại trong việc đẩy giàn khoan Hải Dương 981 ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của mình. Cùng ngày 28/5 Trung Quốc đã hoàn tất việc di chuyển giàn khoan chếch lên phía đông bắc 23 hải lý, gần đảo Tri Tôn hơn nhưng vẫn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế thềm lục địa Việt Nam. Trung Quốc còn xác nhận họ đã hoàn tất khoan thăm dò ở vị trí cũ, nay bước sang giai đoạn hai. Với tình hình này việc Việt Nam mất biển đã thể hiện và không loại trừ việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan dầu khí ở bất cứ chỗ nào trên vùng biển Việt Nam. TS Phạm Chí Dũng từ Sài Gòn nhận định:

“Thứ nhất giàn khoan 981 là bước đi đầu tiên trong chiến dịch gây hấn của Trung Quốc và lấn chiếm từng hải lý một trên vũng lãnh thổ của Việt Nam. Thứ hai một viên tướng về hưu của Trung Quốc đã từng tuyên bố rằng Trung Quốc có thể kéo 100 giàn khoan lại sát với HD 981 vào vùng biển Việt Nam mà không cần phải dè dặt gì. Và thứ ba tôi nghĩ là nhà nước Việt Nam họ đã quá đuối trong việc này, gần 4 tuần sau khi sự khởi động dịch chuyển giàn khoan HD 981 từ Hải Nam vào Việt Nam mà không có một phản ứng gì đáng kể. Cho tới nay tất cả những điều nói ra là kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế như Philippines làm thì cũng chưa tới đâu cả. Tôi không hiểu nhà nước Việt Nam, các hội đồng cố vấn các giáo sư họ đang tính toán điều gì, đó chính là điều tôi từng viết “nhu nhược là nguồn cơn của tội lỗi và đớn hèn là căn nguyên của mất nước.”

Việt Nam cứ mãi kiềm chế?

Gần 4 tuần sau khi chủ quyền trên vùng biển duyên hải Việt Nam bị Trung Quốc xâm phạm Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu 3 nhóm giải pháp cụ thể về biển Đông. Nhưng theo giới quan sát chính trị, thì nó hoàn toàn không có gì mới so với những gì mà chính quyền Việt Nam đã thể hiện.

Hầu hết báo chí Việt Nam đưa tin này và báo mạng VnEconomy gọi là thông điệp của Thủ tướng với 3 nhóm giải pháp cụ thể về biển Đông. Tờ báo tóm gọn lời Thủ tướng: “Kiên quyết đấu tranh với Trung Quốc trên biển Đông, nhưng vẫn giữ quan hệ ngoại giao, kinh tế bình thường, tuyệt đối lên án các hành vi kích động, bài trừ người Hoa.”

Nếu Việt Nam cứ mãi kiềm chế như thế này mà không đẩy được cái giàn khoan của Trung Quốc ra thì có nguy cơ là Việt Nam ở vào thế yếu.
-Thạc sĩ Hoàng Việt

Như vậy người Việt Nam kiên trì thực hiện chấp pháp trên vùng biển của mình và sẽ không bao giờ sử dụng vũ lực. Điều gì sau cùng sẽ xảy ra, nếu lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư Việt Nam vẫn mãi chịu trận trước vành đai bảo vệ giàn khoan của hơn 100 tàu Trung Quốc vũ trang. Nhà nghiên cứu biển đông Hoàng Việt nhận định:

“Một bên là Việt nam vẫn hết sức kiềm chế để không bị rơi vào cái bẫy của Trung Quốc đang giăng ra. Trung Quốc muốn Việt Nam sử dụng vũ lực trước thì Trung Quốc sẽ có cớ để đáp trả ngay, Việt Nam vẫn cố hết sức để kiềm chế vấn đề đó. Tuy nhiên nếu Việt Nam cứ mãi kiềm chế như thế này mà không đẩy được cái giàn khoan của Trung Quốc ra thì có nguy cơ là Việt Nam ở vào thế yếu, Trung Quốc cho rằng họ thành công trong việc này và nó sẽ tạo thành một tiền lệ để Trung Quốc tiếp tục làm trong tương lai.

Về lâu về dài, một mặt Việt Nam vẫn lên tiếng kêu gọi cộng đồng quốc tế ngăn chặn tham vọng của Trung Quốc, cũng giống như buộc Trung Quốc phải xuống thang trong cuộc gây căng thẳng này. Mặt thứ hai thì làm sao Việt Nam phải xây dựng được nội lực của mình, trong đó các đội tàu như cảnh sát biển, kiểm ngư có đủ sức mạnh để mà có thể đương đầu với các lực lương của Trung Quốc thì lúc đó Việt Nam mới có thể bảo vệ được vùng biển của mình.”

Đấu tranh trên thực địa là một trong 3 giải pháp bảo vệ chủ quyền ở biển Đông mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng công bố hôm 29/5/2014 tại Hà Nội, hai giải pháp còn lại là đấu tranh trên mặt trận ngoại giao và đấu tranh bằng con đường dư luận.

Đấu tranh trên thực địa thì Thủ tướng chỉ đạo các tàu chấp pháp Việt Nam phải luôn có mặt tại vị trí mới của giàn khoan Trung Quốc cản phá và đẩy đuổi tàu trung Quốc hoạt động trái phép. Ông Nguyễn Tấn Dũng cho biết hơn 30 tàu của lực lượng chấp Việt Nam đã bị tàu Trung Quốc đâm va, gây hỏng hóc. Ông Thủ tướng cũng cảnh báo sẽ còn có va chạm nhiều nữa, nhưng ông chỉ đạo lực lượng chấp pháp Việt Nam phải kiên quyết và cố gắng kiềm chế.

Khi nói về giải pháp đấu tranh trên thực địa, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không hề hứa hẹn đóng thêm tàu lớn hơn, mạnh hơn để trang bị cho lực lượng chấp pháp, cũng như gia tăng ngân sách để tăng cường đội ngũ tiền phương này. Vậy thì làm thế nào mà lực lượng cảnh sát biển, lực lượng kiểm ngư Việt Nam có thể đối đầu lực lượng tàu ngư chính, hải giám, hải sự hùng mạnh của Trung Quốc. Hỏi như thế tất nhiên đã có câu trả lời.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.