Monthly Archives: June 2014

Nhà thầu Trung Quốc lại trúng gói thầu xây cao tốc Bắc-Nam

Nhà thầu Trung Quốc lại trúng gói thầu xây cao tốc Bắc-Nam

(Tin tức thời sự) – Công ty công trình giao thông tỉnh Giang Tô, Trung Quốc vừa trúng gói thầu A3 dự án xây dựng đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi.

Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) và Công ty công trình giao thông tỉnh Giang Tô đã ký hợp đồng gói thầu có giá trị 1.362,6 tỷ đồng nói trên.

Được biết, dự án đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi là một phần của tuyến đường bộ cao tốc Bắc – Nam, có chiều dài hơn 139 km, trong đó gồm 131,5 km cao tốc và 8,02 km đoạn tuyến nối với QL1A. Dự án được thiết kế theo tiêu chuẩn cao tốc 4 làn xe, bề rộng mặt đường 26 mét, vận tốc thiết kế đạt 120km/h. Tổng mức đầu tư của dự án là 27.968 tỷ đồng.

Lễ ký hợp đồng với nhà thầu gói thầu xây lắp A3, cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi
Lễ ký hợp đồng với nhà thầu gói thầu xây lắp A3, cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi

Gói thầu A3 thuộc Hợp phần vay vốn của Ngân hàng Thế giới, đi qua địa phận tỉnh Bình Sơn, Quảng Ngãi dài 10,6 km, được xây dựng theo quy mô đường cao tốc 4 làn xe.

Ngoài phần đường, các hạng mục chính của gói thầu A3 gồm việc xây dựng 3 cầu dài 1,03 km; 14 cống hộp dân sinh, 28 cống thoát nước với tổng khối lượng đất đá đào đắp trên 1,6 triệu m3; hơn 220.000 cấp phối đá dăm; trên 111.000 tấn bê tông nhựa các loại.

Việc ký kết hợp đồng trên diễn ra trong bối cảnh Bộ Giao thông Vận tải vừa chỉ mặt các nhà thầu ngoại năng lực kém, trong đó nhiều công ty của Trung Quốc cũng bị xướng tên.

Thực tế nhà thầu năng lực kém thể hiện ở việc dự án kéo dài gây đội vốn, chậm tiến độ…

Mới đây, Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng đã nói thẳng: “Nếu không tích cực đẩy nhanh tiến độ, Bộ GTVT sẽ “cấm cửa” các nhà thầu này tham gia vào những dự án giao thông khác của Việt Nam”.

Nhà thầu Trung Quốc năng lực kém: Ai thẳng tay loại bỏ?

 

Trong khi đó, VEC là nhà thầu liên tiếp để xảy ra các sai phạm nghiêm trọng tại cao tốc TP.HCM – Long Thành và cao tốc Cầu Giẽ-Ninh Bình.

Kiểm toán Nhà nước đã yêu cầu xử lý VEC trong vụ ‘rút ruột’ cao tốc TP.HCM – Long Thành. Ông Phạm Hồng Quang, Phó tổng giám đốc VEC, Giám đốc Ban quản lý dự án cao tốc Lê Mạnh Hùng và Phó giám đốc Ban Ngô Tấn Quang đã bị kỷ luật khiển trách.

Tại cao tốc Cầu Giẽ-Ninh Bình, VEC mắc hàng loạt sai phạm, đặc biệt là đội vốn công trình 2.500 tỷ đồng.

An Thái

Advertisements
Categories: Tin Trong Nước | Leave a comment

Công đoàn độc lập tại Việt Nam: Đề nghị về mô hình tổ chức và phương thức phát triển

Công đoàn độc lập tại Việt Nam: Đề nghị về mô hình tổ chức và phương thức phát triển

Nhà báo Trần Quang Thành phỏng vấn Tiến sĩ Phạm Chí Dũng

Trong buổi họp của 16 hội đoàn xã hội dân sự tại chùa Liên Trì (Sài Gòn) ngày 5/6 vừa qua, vấn đề hình thành công đoàn độc lập tại Việt Nam đã được đưa ra như là một nhu cầu thiết yếu hiện nay. Tại sao trong lúc đất nước đang có nhiều vấn đề nóng bỏng khác mà lại đề cập đến vấn đề này ? Nếu đó là nhu cầu của hiện tại thì mô hình sẽ như thế nào, phương thức phát triển ra sao ? Song song đó là vấn đề tổ chức và vấn đề nhân sự cũng cần phải được đặt ra để giải quyết. Đây là những điều được Tiến sĩ Phạm Chí Dũng trình bày trong cuộc phỏng vấn của nhà báo Trần Quang Thành. Mời quý vị cùng nghe.

(Audio PV TS Phạm Chí Dũng)

– Trần Quang Thành: Xin chào Tiến sỹ Phạm Chí Dũng. Mấy hôm nay các tổ chức xã hội dân sự trong nước trong một cuộc họp  bàn thảo tình hình đất nước có đề xuất vấn đề là cần phải có một công đoàn độc lập ra đời để đấu tranh bảo vệ các quyền lợi của người lao động, đặc biệt là của công nhân. Ông có thể cho biết nội dung tuyên bố được không ?

 – Tiến sỹ Phạm Chí Dũng: Tuyên bố này xuất phát từ 16 hội đoàn dân sự độc lập tại chùa Liên Trì quận 2 vào ngày 5/6/2014. Đây là lần đầu tiên ở Việt nam từ năm 1975 đến nay diễn ra một hội nghị được coi là Diên hồng giữa các hội đoàn dân sự độc lập. Điều đó cho thấy động thái tương đối mở và thống nhất giữa các hội đoàn dân sự độc lập và của xã hội dân sự ở Việt Nam.

Chúng ta thấy từ đầu năm 2013 khi khởi xướng bằng Phong trào kiến nghị 72 và sau đó phát sinh hàng loạt tổ chức dân sự độc lập, thì đây là điểm nhấn đáng chú ý về tính thống nhất khá cao của các nhóm dân sự độc lập để hướng tới một vấn đề hết sức thiết thực đối với tình hình xã hội Việt Nam hiện nay, đó là làm thế nào để bảo vệ quyền lợi cho người công nhân khi Tổng liên đoàn lao động Việt nam đã không thể bảo đảm được điều đó suốt bao nhiêu năm qua.

 – TQT: Hiện tình đất nước có rất nhiều vấn đề cần phải bàn, cần phải tiến hành lúc này. Tại sao chúng ta lại đặt vấn đề công đoàn độc lập?

 – PCD: Việt Nam có 5 triệu công nhân, là một con số rất đáng kể tạo ra sức sống cho nền kinh tế nước nhà. Nhưng nếu không biết huy động sức sống đó thì có thể làm cho nó bị hủy diệt. Trong những năm vừa qua có thể nói đời sống người công nhân rất thấp. Chúng tôi có những thống kê ước tính là ít nhất là từ 2011 đến nay mặt bằng giá cả ở Việt Nam đã tăng vọt từ 2-3 lần, trong khi đó mức thu nhập của người công nhân lại giảm đi từ 25-30% khiến đời sống của công nhân rất khó khăn. Anh có thể nhận ra là từ Tết 2011 đến 2012, đặc biệt năm 2013 và Tết 2014 công nhân thậm chí không có tiền mua vé tàu về quê ăn tết. Có hàng trăm ngàn công nhân phải ở lại các khu nhà trọ, không dám ra đường vì không có tiền. Cũng có hàng chục ngàn doanh nghiệp không có tiền để trả lương cho công nhân. Ở nhiều doanh nghiệp khác công nhân phải làm việc từ 10-12 tiếng đồng hồ một ngày và liên tục 6 ngày/tuần nhưng thu nhập chỉ ở mức 3-4 triệu/tháng, đây là mức sống khá thấp không đủ trang trải mà thậm chí còn bị nợ lương. Nếu tình trạng nợ lương xảy ra thường xuyên thì thu nhập người công nhân giảm đi còn 2 triệu, thậm chí có nơi chỉ còn 1,5 triệu/tháng thôi thì làm sao có thể sống được?

Tình hình đó làm phát sinh các cuộc đình công, lãn công liên tục của các công nhân, đặc biệt là khu vực phía Nam, ở Bình Dương, ở TP.HCM và một số nơi khác. Trong khi hầu như không lo được về những bổ trợ cho mức thu nhập của người công nhân thì Tổng liên đoàn lao động Việt Nam lại cũng chưa từng giải quyết bất kỳ một cuộc đình công nào của công nhân. Theo quy định thì mỗi cuộc đình công đều phải thông báo cho công đoàn để họ giải quyết, nhưng trước đây từng có trường hợp công nhân làm đơn xin phép công đoàn cơ sở để được đình công nhưng tất cả những đơn đó đều được cho vào ngăn kéo và không hề có cuộc đình công nào được cho phép.

Số lượng các cuộc đình công từ 2006 đến nay tăng lên liên tục. Từ 2007 sau khi Việt Nam tham gia vào WTO là cơ hội để làm cho đời sống công nhân tăng cao, nhưng các cuộc đình công vẫn tăng lên, và cho đến năm 2013 thì đã tăng đến gần 1.000 cuộc đình công. Trong khi đó các quan chức của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam vẫn ung dung hưởng thụ 2% trên quỹ lương của doanh nghiệp (cũng có thể coi là quỹ lương của công nhân). Liên đoàn lao động thực thi trách nhiệm một khâu trung gian và chỉ bảo vệ cho quyền lợi của giới chủ và giới quan chức mà thôi, họ không có một chút ngắm nghía tới quyền lợi của người công nhân.

Đó là lý do tại sao quyền lợi của người công nhân cần phải được bảo vệ. Nếu quyền lợi của họ không được bảo vệ bằng các cơ quan nhà nước thì phải có những tổ chức dân sự độc lập đứng ra tổ chức những chuyện này. Kinh nghiệm tổ chức những chuyện này đã có quá nhiều ở Mỹ, ở các nước phương Tây, ở Bắc Âu, họ đã lo được nhiều cho người công nhân. Trong những năm suy thoát vừa qua ở Mỹ cũng có chính sách là người công nhân có thời gian nghỉ  việc đến 18 tháng và  được trợ cấp đến 70%, ở Bắc Âu còn cao hơn nữa, phụ nữ có thai được nghỉ tới 2 năm và được trợ cấp gần 100% lương. Trong khi đó ở Việt Nam xảy ra tình trạng thậm chí chỉ đi vệ sinh cũng phải làm đơn xin phép, nghỉ không phép không có khoản bổ trợ nào… Cho thấy cần phải có tổ chức dân sự độc lập đứng ra như những tổ chức phi chính phủ ở Bắc Âu hỗ trợ đời sống cho công nhân, hỗ trợ tư vấn pháp luật và cả phương pháp đấu tranh sao cho ôn hòa mà vẫn có kết quả.

 – TQT: Hiện các tổ chức xã hội dân sự ra tuyên bố thành lập công đoàn độc lập, có nghĩa là công đoàn độc lập đó đã sẵn sàng ra đời hay chưa?

 – PCD: Trong hoàn cảnh Việt Nam gần 40 năm qua chịu sự chỉ đạo một chiều và áp chế với tất cả các tổ chức độc lập, đang hoàn toàn sẵn sàng ra đời một tổ chức độc lập về công đoàn. Hiện điều kiện và cơ hội đang tới, một trong những cơ hội đó là Hiệp định hợp tác kinh tế thương mại xuyên Thái bình dương TPP mà Việt Nam đang lấp ló gần cửa cho đến cuối năm nay. Một trong những điều kiện then chốt mà TPP đặt ra là phải thành lập công đoàn độc lập để bảo vệ quyền lợi của người công nhân. Theo tôi biết thì vào cuối 2013 Việt Nam đã bắt đầu đáp ứng một số thỏa thuận với Hoa Kỳ và phương Tây về công đoàn độc lập. Cụ thể là họ đưa ra 2 phương án. Một là họ sẽ mở rộng quyền tự chủ hay còn gọi là “tự trị’ của công đoàn các cấp cơ sở với sự tham gia của người công nhân nhiều hơn ở các cấp cơ sở địa phương. Hai là họ xin một thời gian ân hạn khoảng 5 năm để thực hiện cải cách về hệ thống công đoàn, cũng giống thời hạn mà họ từng xin với vấn đề cải cách kinh tế để tham gia và hiệp định TPP vào 2013. Đó là cơ sở quan trọng cho thấy đây là điều kiện để có thể bắt đầu hình thành tổ chức công đoàn độc lập ở Việt Nam.

Mặc dù chỉ là bước đầu và chưa có gì cho thấy sẽ có kết quả khả quan, nhưng người công nhân Việt Nam đã có lợi do sự hình thành ban đầu của xã hội dân sự. Xã hội dân sự có thể hình thành một vài tổ chức tư vấn về công đoàn độc lập cho công nhân, cụ thể là vấn đề pháp lý và thứ nữa là tư vấn phương pháp đấu tranh, và tốt hơn nữa là có thể hỗ trợ cho công nhân một phần về vật chất, bảo đảm mức sống hàng ngày và có thể cho một số phương tiện để đấu tranh.

 – TQT: Dư luận cho rằng ở Việt Nam hiện nay đã xuất hiện một số tổ chức công đoàn độc lập như Hiệp hội công nông, Lao động Việt… Phải chăng những tổ chức đó làm tiền thân cho một công đoàn độc lập hay chúng ta phải thành lập một công đoàn độc lập thực sự ?

– PCD: Tôi vẫn đánh giá những tổ chức như vậy là tiền thân của hoạt động công đoàn độc lập ở Việt Nam. Những tổ chức này được thành lập từ những năm 2007-2008, trong đó có vai trò của những người như LS Lê Thị Công Nhân. Nhưng mà đó vẫn là những năm rất khó khăn. Có lẽ phải chờ đến thời gian này, khi mà những tổ chức xã hội dân sự manh nha hình thành và bắt đầu gần được chấp nhận bởi nhà nước, thì có lẽ hoạt động của các tổ chức như Công nông, Lao động Việt hay những tổ chức sau đó mới có thể theo bài bản. Nhưng cũng giống như các tổ chức công đoàn độc lập, các tổ chức này cần phải gắn kết với nhau thật chặt chẽ, có sự thống nhất với nhau về mục đích, về phương pháp đấu tranh, về khu vực hoạt động, làm sao để không giẫm chân chồng chéo lên nhau, thống nhất với nhau về quan điểm. Và một điều quan trọng nữa là không bị mua chuộc.

 – TQT: Vậy phải làm sao để có một tổ chức công đoàn vững mạnh tiêu biểu cho quyền lợi hợp pháp của công nhân? Theo ông, chúng ta phải tiến hành theo mô hình nào hay là dựa trên cơ sở của những công đoàn sẵn có thì chúng ta phát triển ra những công đoàn độc lập khác?

 – PCD: Có hai cách. Cách thứ nhất là tự phát. Hiện nay một số tổ chức xã hội dân sự đang đề nghị xây dựng một ủy ban hỗ trợ cho công đoàn độc lập về phương pháp đấu tranh về pháp luật. Cách thứ hai là nên chờ cho tới khi Việt Nam tham gia chính thức vào TPP và chấp nhận điều kiện về thành lập công đoàn độc lập của phương Tây và Hoa Kỳ.

Nhưng theo tôi thì việc gì cần làm thì phải làm ngay thôi. Ngay bây giờ cần có một ủy ban hỗ trợ về công đoàn độc lập, xây dựng một tổ chức phi chính phủ theo mô hình những tổ chức công đoàn độc lập lớn nhất Hoa Kỳ. Họ đã có kinh nghiệm rồi, họ có phương pháp đấu tranh bài bản và thực ra họ đã là một tổ chức có tính chi phối rất mạnh không chỉ đối với giới công nhân mà đối với cả giới chính khách trong Quốc hội của Hoa Kỳ. Tôi nghĩ là nên bắt đầu ngay từ bây giờ, tất cả những nơi nào có thể thành lập được các tổ chức công đoàn độc lập hay hỗ trợ công đoàn độc lập thì nên thành lập ngay, và cần có một cái khung nhà để cho người công nhân thấy hình dáng của ngôi nhà, từ đó họ sẽ tham gia. Và khi có một ủy ban hỗ trợ công đoàn độc lập thì những người công nhân có tinh thần đấu tranh nhất sẽ tìm đến ủy ban đó đề nghị phối hợp và nhận sự hỗ trợ, khi ấy có thể bắt tay làm việc với nhau.

 – TQT: Như vậy theo Tiến sỹ Phạm Chí Dũng thì hiện nay muốn thành lập một công đoàn độc lập ở Việt Nam thì việc đầu tiên là phải thành lập một ủy ban như Tiến sỹ vừa nói. Nhưng trên thực tế hiện nay thì một số tổ chức đã hình thành, họ khẳng định họ là công đoàn độc lập rồi. Vậy chúng ta có nên tiến hành phối hợp các tổ chức đó với nhau hay thế nào?

 – PCD: Tôi cho là vẫn nên tiến hành, bởi vì dù là tổ chức đó đã hình thành trong quá khứ nhưng họ cũng chỉ là theo dõi hoặc là đảm trách một vài khu vực nhỏ nào đó thôi chứ chưa phải tất cả các vùng miền của đất nước. Trong khi đó hoạt động đình công của công nhân và lợi ích của công nhân bị xâm hại xảy ra ở rất nhiều vùng miền, khu vực trên đất nước ta. Ngay cả những khu vực biên giới phía Bắc hay phía Nam – Cà Mau vẫn có thể hình thành những tổ chức công đoàn độc lập mà không phụ thuộc vào những tổ chức trước đây. Nhưng tốt nhất là những tổ chức công đoàn độc lập trước đây nên ngồi lại với những tổ chức công đoàn độc lập mới để cùng tìm một tiếng nói chung, như vậy hiệu quả hoạt động sẽ tốt hơn.

 – TQT: Ai sẽ góp phần để đứng ra họp mặt tất cả những tổ chức đang hình thành để tạo nên một tổ chức công đoàn vững mạnh?

 – PCD: Tôi nghĩ là không ít người có tâm huyết và có trình độ sẽ làm việc này. Đó là Đỗ Thị Minh Hạnh như chúng ta đã biết, trước đây là một nhà đấu tranh nhân quyền cho công nhân. Cùng với Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, họ đã tạo ra một bộ ba về đấu tranh cho công đoàn độc lập đầu tiên ở Việt Nam và có kết quả đặc biệt là trong những cuộc đình công của công nhân giày Mỹ Phong. Như vậy nếu Đỗ Thị Minh Hạnh với Đoàn Huy Chương và Nguyễn Hoàng Quốc Hùng được trả tự do trong thời gian tới theo như một thỏa thuận nào đó giữa nhà nước Việt Nam với nhà nước Hoa Kỳ, thì đó là một tín hiệu tốt cho thấy không những nhà nước Việt Nam  cần phải chấp nhận sự tồn tại sự hình thành xã hội dân sự mà còn chấp nhận cả tính độc lập và tính hợp pháp, hợp lý của công đoàn độc lập, cũng như những nhân tố hoạt động cho công đoàn độc lập. Đó chính là điều kiện để xây dựng những lãnh đạo công đoàn độc lập cho phong trào công đoàn độc lập của Việt Nam trong tương lai.

– TQT : Xin cảm ơn Tiến sỹ Phạm Chí Dũng

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Thư cảnh báo của nhà báo Phạm Chí Dũng Về dấu hiệu giới đấu tranh dân chủ có thể bị đầu độc

Thư cảnh báo của nhà báo Phạm Chí Dũng Về dấu hiệu giới đấu tranh dân chủ có thể bị đầu độc

Nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng

Anh Phạm Chí Dũng

Người Trung Quốc xưa có câu “quân tử phòng thân”. Người “quân tử” không phải bây giờ mà từ xa xưa đã phải sống trong sự đe dọa, bất an, nhất là trong hoàn cảnh đất nước loạn lạc. Tuy nhiên sự “bất an” dưới thời phong kiến còn kém xa sự bất an thời xã hội chủ nghĩa, nơi người ta coi mạng người như hòn sỏi. Cho nên, lời kêu gọi cảnh giác của nhà báo Phạm Chí Dũng không bao giờ thừa. Đây chính là sự “phòng thân” sáng suốt của người quân tử thời nay vậy!

Bauxite Việt Nam

 

Đã và đang xuất hiện những dấu hiệu nguy hiểm tính mạng đối với những người đấu tranh dân chủ và chống Trung Quốc. Gần đây, một số nhân chứng cho biết đã bị ngộ độc chỉ sau một ngày được “người lạ” mời nước uống. Hiện trường tình nghi bị đầu độc như thế có thể diễn ra ở sân bay, ở một số địa điểm giải trí và ẩm thực, thậm chí không loại trừ ngay tại đồn công an.

Tháng 5/2014, ngay sau cuộc biểu tình phản đối giàn khoan HD 981 của Trung Quốc, hàng ngàn công nhân ở một nhà máy tại miền Bắc đã phải nhập viện do bị ngộ độc. Dấu hiệu đầu độc tập thể cũng có thể biến thành đầu độc cá nhân vào bất cứ khi nào cá nhân đó lơ đãng hoặc cả tin.

Khá thường là dưới danh nghĩa “người ái mộ”, một số kẻ xấu bụng có thể tìm cách tặng quà (thực phẩm, kẹo bánh, nước ngọt…) cho bạn và gia đình bạn. Cũng đã có hiện tượng “người lạ” tặng sữa cho con cái của bạn. Một trường hợp đặc biệt khác là bạn được tặng thuốc uống, và đó có thể là phương cách nhanh nhất và hữu hiệu nhất làm cho bạn bị vô hiệu hóa, nếu bản chất vụ việc là thật sự đen tối.

Tất nhiên, chúng ta không thể và không có quyền nghi ngờ lòng tốt của những người dành cho chúng ta mối thiện cảm chân thành. Tuy nhiên, chúng ta đang phải tồn tại và tranh đấu trong một thể chế chính trị khó lường, cùng các thủ đoạn độc địa vô cùng tận của Bắc Kinh nhằm triệt hạ giới bất đồng chính kiến ở cả Trung Quốc lẫn Việt Nam.

Sau cái chết quá khó để minh bạch dư luận của Thứ trưởng Bộ Công an Phạm Quý Ngọ vào đầu năm 2014; sau vụ bạo loạn ở Bình Dương, Đồng Nai vào tháng 5/2014 mà dư luận thật sự nghi ngờ về bàn tay Trung Quốc có thể lũng đoạn một bộ phận quan chức nào đó trong chính quyền Việt Nam, không có gì là không thể xảy ra.

Riêng với giới đấu tranh dân chủ và bất đồng chính kiến không một tấc sắt trong tay, vũ khí phòng vệ của họ chỉ là tiếng nói trung thực trên các diễn đàn trong nước và quốc tế. Giờ đây và trong những năm tới, tai họa có thể ập xuống đầu họ bất cứ lúc nào, trong bất cứ hoàn cảnh nào. Vì thế họ hãy cần phải cảnh giác không chỉ với hiện tượng côn đồ, mà với cả những dấu hiệu có vẻ vô hình như thói quen ăn uống ở những nơi công cộng, thói quen dùng thuốc tây y và đông y, thói quen nhận quà từ những người đã biết rõ và đương nhiên cả những người chưa biết rõ…

Thư cảnh báo này cũng bày tỏ mong mỏi nhận được sự cảm thông và tha thứ của những người quen và những người dân quan tâm đến sự an nguy của chúng tôi.

 

Ngày 25 tháng 6 năm 2014

Nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng

 

Tác giả gửi BVN

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Biển Đông nổi sóng:Chiến lược ‘hòa bình chủ động’ của Việt Nam

Biển Đông nổi sóng:Chiến lược ‘hòa bình chủ động’ của Việt Nam

(Bình luận quân sự) – Việt Nam phải chủ động tham gia vào các cơ chế quốc tế về an ninh, chính trị mới có đủ sức mạnh bảo vệ hòa bình như mong muốn.

 Hữu nghị viễn vông và nền hòa bình kiểu Trung Quốc

Tân Hoa xã đã đưa ra “4 không” trước chuyến đi của Dương Khiết Trì sang Việt Nam cùng với thông điệp cứng rắn, không thiện chí, trong các sai phạm của Trung Quốc trên Biển Đông:  “Thứ nhất, không được đánh giá thấp quyết tâm và năng lực bảo vệ của Trung Quốc với các đảo trên Nam Hải (Biển Đông; Thứ hai, không được sử dụng các tư liệu mà Việt Nam tự nhận là “tư liệu lịch sử” để gây hiểu lầm cho cộng đồng quốc tế và dư luận Việt Nam về chủ quyền ở Tây Sa, Nam Sa (Hoàng Sa, Trường Sa); Thứ ba, không được lôi kéo các nước khác can thiệp vào Nam Hải; Cuối cùng là không được phá bỏ mối quan hệ Việt Trung sau 20 năm bình thường hóa quan hệ”.

 Đương nhiên, thái độ, giọng điệu láo xược của đại Hán khi chưa bị “no đòn” qua giới truyền thông Trung Quốc (như Tân Hoa xã nêu trên…) và các học giả, tướng lĩnh khi “chưa thấy quan tài…” thì Việt Nam đã nghe quen tai từ lâu và chúng ta không cần quan tâm.

Quốc hội: Trung Quốc có ý đồ lấn chiếm Biển Đông

Vấn đề rất quan trọng ở đây là chúng ta nghe, hiểu, để biết được “nền hòa bình Trung-Việt” là nền hòa bình kiểu gì, mối quan hệ hữu nghị Việt-Trung là hữu nghị kiểu gì…để căn cứ vào thế, lực của chúng ta hiện nay đến đâu mà phấn đấu gìn giữ hay dứt khoát loại bỏ.

Từ năm 1949 đến năm 1979, quan hệ “hữu nghị” Việt-Trung đã quá rõ trong sách trắng “30 năm quan hệ Việt Nam-Trung Quốc”. Và từ đó đến nay sự “hữu nghị” của Việt Nam-Trung Quốc cũng quá rõ dù chưa viết thành sách. Vậy, một nền hòa bình trên nền tảng của mối quan hệ “hữu nghị” như thế sẽ là một nền hòa bình kiểu gì?

Hai tàu chấp pháp Trung Quốc chiếc thì phun vòi rồng, chiếc thì đâm húc tàu KN Việt Nam trên Biển Đông. Hành động “hữu nghị” kiểu đại Hán!

Hai tàu chấp pháp Trung Quốc chiếc thì phun vòi rồng, chiếc thì đâm húc tàu Kiểm Ngư Việt Nam trên Biển Đông. Hành động “hữu nghị” kiểu đại Hán?

Tư tưởng đại Hán này của Trung Quốc chúng ta được biết qua “4 không” nêu trên là qua báo chí, nhưng chưa hết, chắc chắn sẽ còn phát tiết qua cấp “vĩ mô” mà người dân không được nghe, không biết…nhưng như thế là đã quá đủ cho một nhận thức.

Thế trận tự hình thành và ngày càng nóng trên Biển Đông

Thủ tướng Việt Nam tuyên bố: “…Việt Nam luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó”. Đây là tuyên bố mà dân tộc Việt đã phải kiên trì, chờ đợi, là tuyên bố mà đồng bào Việt Nam, nhân dân Việt Nam ai cũng hiểu sâu sắc nhất mà không cần giải thích, không cần thông tư, nghị định hướng dẫn nào hết. Không nghi ngờ gì nữa, dân tộc Việt đã kết thành một khối.

Có thể nói đây là một tuyên bố khẳng định tính minh bạch, ý chí và nguyện vọng, nguyên tắc nhất quán của Việt Nam trong mối quan hệ với Trung Quốc-một nước lớn láng giềng đầy duyên nợ.

Đừng có đặt vấn đề tại sao không phải là trước đây mà để đến tận bây giờ, bởi vì, nếu như đó là một cuộc cách mạng, một sự thay đổi…thì tất cả đều phải có sự chuẩn bị về lượng, có đủ lượng mới thay đổi được chất, phải có “giọt nước cuối cùng” để chuyển hóa… Cho nên, tuyên bố của Thủ tướng Việt Nam đã xuất phát từ cơ sở vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, từ thế và lực của Việt Nam trong khả năng giữ vững nền độc lập tự chủ, khả năng xây dựng, duy trì một “nền hòa bình chủ động”…trong tình thế “giọt nước cuối cùng làm tràn ly” là giàn khoan Hải Dương 981 đã ngang ngược bất chấp hạ đặt trong thềm lục địa sâu trong EEZ của Việt Nam. Đó chính là thời cơ là vận nước đã đến.

Đã đến lúc Việt Nam phải chấp nhận “phẫu thuật” khối u dù phải đau và tốn kém.

Phải, không đau sao được khi nhìn một quả dưa hấu mà trâu bò ăn không hết ở cửa khẩu phía Bắc, không đau sao được khi những quả vải đỏ au của người dân đang nghẹn chật con đường, không đau sao được khi lúa của người nông dân bị mua với giá rẻ…Đau lắm, tốn kém lắm, nhưng phải “phẫu thuật” để chúng ta sẽ có một cơ thể khỏe mạnh, tự chủ…để con tim Việt Nam không bao giờ ứa máu như đã từng trước hình ảnh của “Vòng tròn bất tử Gạc Ma”.

Láng giềng hữu nghị và hòa bình chủ động

Việt Nam chỉ không chấp nhận một quan hệ “hữu nghị viễn vông” nhưng rất hoan nghênh mối quan hệ láng giềng hữu nghị với Trung Quốc. Mối quan hệ hữu nghị thực sự phải là: tôn trong độc lập, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, hợp tác phát triển đôi bên cùng có lợi.

Đương nhiên, nền hòa bình dựa trên nền tảng hữu nghị như vậy mới thực sự bền vững cho 2 dân tộc.

Trung Quốc là nước lớn, là cường quốc, là quốc gia có “núi liền núi, sông liền sông” với Việt Nam. Việt Nam muốn hòa bình (với Trung Quốc), nhưng bản chất của Trung Quốc là không thay đổi là bành trướng, cậy mạnh, để thôn tính Biển Đông thì không bao giờ có được mối quan hệ hữu nghị láng giềng thực chất và đúng chuẩn quốc tế.

Việt Nam yêu chuộng hòa bình nhưng để có được một nền hòa bình không lệ thuộc thì chỉ còn cách là phải thực hiện chiến lược “hòa bình chủ động”.

Hòa bình chủ động là gì? Đó là, về đối nội phải tăng cường sức mạnh răn đe ngăn ngừa chiến tranh, về đối ngoại là sự chủ động tham gia vào các cơ chế quốc tế về kinh tế đồng thời quan trọng hơn, là về cả an ninh lẫn chính trị.

Nền hòa bình chủ động chúng ta có được là bằng sức mạnh răn đe ngăn ngừa chiến tranh, là ý chí, khả năng giáng trả kẻ thù để bảo vệ nó. Khác với nền hòa bình chủ động, nền hòa bình thụ động chỉ có được chỉ bằng sự nhân nhượng, đổi chác lợi ích.

Hãy xem Nhật Bản. Trên lý thuyết, được bảo vệ dưới cái ô an ninh của Mỹ, nước Nhật khó bị đe dọa, nhưng sự trỗi dậy của Trung Quốc cùng với các yêu sách chủ quyền hung hăng từ Bắc Kinh khiến cho nước Nhật chắc chắn không bao giờ chấp nhận một vai trò thụ động và chỉ trông chờ vào người Mỹ, ngay dù Mỹ là đồng minh, huống chi, thụ động trông chờ vào Trung Quốc-đối tượng tác chiến trực tiếp?

Mối quan hệ Nhật Bản-Ấn Độ, Nhật Bản-Úc, Nhật Bản-Philipines, Indonesia, Việt Nam để tiến hành “hòa bình chủ động” với Trung Quốc đã và đang chứng tỏ điều đó.

Trong khi đó, Việt Nam không có ô an ninh nào, nói cách khác là Việt Nam chưa tham gia vào một “cơ chế” an ninh, chính trị nào trong khu vực. Nếu sức mạnh (tổng hợp) răn đe ngăn ngừa chiến tranh hạn chế, chưa đủ sức làm cho kẻ thù phải trả giá đắt không chịu đựng nổi thì một nền hòa bình, nếu có, với Trung Quốc cũng chỉ là thụ động mà thôi, không thể khác được, trừ phi Trung Quốc thay đổi bản chất.

 Bởi vậy dứt khoát Việt Nam phải xây dựng một chiến lược “Hòa bình chủ động” trong tình hình Trung Quốc đang ngày càng trắng trợn, hung hăng thôn tính Biển Đông như hiện nay nếu như muốn có một nền hòa bình đúng nghĩa, đúng chuẩn quốc tế.

  • Lê Ngọc Thống
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Bắc Kinh không được phép áp đặt’

Bắc Kinh không được phép áp đặt’

Cập nhật: 13:47 GMT – thứ năm, 26 tháng 6, 2014

Ông Trương Tấn Sang nói Việt Nam sẽ có cách ‘trả nợ’ Trung Quốc của riêng mình

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nói rằng Việt Nam ‘mang ơn’ Trung Quốc trong quá khứ thì sẽ trả theo cách của mình, chứ Bắc Kinh không được phép áp đặt, báo Dân Trí đưa tin.

Trong buổi tiếp xúc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc TP Hồ Chí Minh, ông Sang nói đã đọc rất kỹ công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng và không thấy nó thừa nhận “Hoàng Sa-Trường Sa là của Trung Quốc”. Chủ tịch nước Việt Nam cũng cho rằng chủ quyền được “luật pháp quốc tế thừa nhận” thì “phải giữ gìn”.

“Năm nay không xong thì năm tới, mười năm này không xong thì mười năm sau, đời ta không xong thì đến đời con cháu, phải dứt khoát như vậy. Trước sau như một, vấn đề chủ quyền là thiêng liêng, bất khả xâm phạm,” Tuổi trẻ dẫn lời chủ tịch nước nói.

Đại biểu của TP Hồ Chí Minh, ông Huỳnh Tấn Mẫm nói “hữu nghị là không còn” và đề nghị kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế. Ông Mẫm cũng nói lấy làm tiếc vì Quốc hội không ra nghị quyết về biển Đông, báo Dân trí đưa tin.

Trong buổi gặp mặt, chuẩn đô đốc hải quân Việt Nam Lê Kế Lâm đặt nghi vấn là Trung Quốc “đưa ra chiêu bài đồng chí tốt, bạn bè tốt, láng giềng tốt, đối tác tốt”, nhưng thực chất “không có cái gì tốt đối với chúng ta cả”.

‘20 tỷ đô ODA và 100 tỷ đô tín dụng?’

Trước sau như một, vấn đề chủ quyền là thiêng liêng, bất khả xâm phạm.

Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang

Thiếu tướng Lâm cũng đưa ra thông tin là Trung Quốc dùng 20 tỷ đô la Viện trợ Phát triển Chính thức (ODA) và 100 tỷ đô la tín dụng để “nhử mồi” Việt Nam. Hiện không rõ ông Lâm lấy số liệu ở đâu.

Trả lời chất vấn của đại biểu quốc hội về nợ vay từ Bắc Kinh đầu tháng Sáu, bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng từng nói “số liệu này không ảnh hưởng lớn nhưng có tính nhạy cảm” và “xin được trả lời trực tiếp với đại biểu sau”.

Theo số liệu của Cục Đầu tư Nước ngoài, thuộc bộ Kế hoạch-Đầu tư, lũy kế tổng vốn đầu tư FDI của Trung Quốc tại Việt Nam cho đến tháng 6/2014 là hơn bảy tỷ đô la, xếp thứ chín trong danh sách các nhà đầu tư tại Việt Nam.

Báo Đất Việt trích nguồn báo cáo của bộ Kế hoạch-Đầu tư cho biết ODA của Trung Quốc vào Việt Nam là 380 triệu đô la trong vòng 10 năm.

Tuy vậy, VnExpress trích số liệu của Ủy ban Tài chính và Ngân sách Quốc hội tính đến năm 2010 nói 90% các dự án tổng thầu EPC (phương thức chìa khoá trao tay, tức bên thầu thực hiện tòa bộ dự án và ‘trao chìa khóa’ công trình cho đối tác khi hoàn thành) của Việt Nam do nhà thầu Trung Quốc đảm nhiệm, trong đó có 30 dự án trọng điểm quốc gia và nhiều dự án “tỷ đô” của ngành điện.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

‘Đại cục’ và ván cờ cân não Biển Đông

‘Đại cục’ và ván cờ cân não Biển Đông

Cập nhật: 08:33 GMT – thứ năm, 26 tháng 6, 2014

Ông Dương Khiết Trì (trái) nói về ‘đại cục’ khi Việt Nam

Dương Khiết Trì đã rời Hà Nội nhưng không rõ ‘đại cục’ mà ông nói nói với các nhà lãnh đạo Việt Nam có ở lại.

Tới Hà Nội, ông Dương nói ‘rất coi trọng quan hệ với Việt Nam’ và muốn khuyên nhủ ‘đứa con lạc lối’ hãy trở về, theo lời lẽ trên báo Trung Quốc.

Rõ ràng Bắc Kinh không có ý nhượng bộ về giàn khoan nhưng lại không muốn cái giàn khoan đó đẩy Hà Nội ra khỏi vòng cương tỏa của mình.

Một lần nữa, ông Dương lại nhắc nhở Hà Nội về đại cục.

Vẫn là đồng chí?

Ông Dương đến Việt Nam với tư cách đại diện cho Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trước truyền thông quốc tế, cả chủ lẫn khách đều gọi nhau là ‘đồng chí’.

Nhưng đã lôi nhau ra nói trước mắt bàn dân thiên hạ thì còn đồng chí nỗi gì?

Các nhà lãnh đạo Việt Nam có thể sợ mất tình cảm với Trung Quốc chứ Trung Quốc thì rất thẳng thừng.

Khi chính thức tung ra các bằng chứng cho thấy chính quyền Bắc Việt từng ‘thừa nhận Tây Sa của Trung Quốc’, cốt là để Việt Nam khó ăn khó nói trước quốc tế, các nhà lãnh đạo Trung Quốc hẳn phải hiểu họ đẩy nhà chức trách Việt Nam vào thế khó trước người dân của họ.

Đã thủ sẵn ‘đồ chơi’ trong tay, họ đợi khi Việt Nam lên tiếng quyết liệt về chủ quyền Hoàng Sa thì mới tung ra để Việt Nam muối mặt.

Trong cuộc đấu cân não trên Biển Đông, Trung Quốc đang làm chủ tình hình. Họ điềm tĩnh, xem tình hình và ra đòn chính xác.

Trong khi đó thì Việt Nam chạy vạy khắp nơi, thậm chí nhờ đến sự lên tiếng của những nước như Ai Cập và Chile.

Một tuần sau đó, Việt Nam phản đòn bằng cách tập hợp báo chí quốc tế tại Hà Nội để trưng ra bằng chứng chủ quyền của mình.

Việt Nam chưa chính thức giải thích về ‘bằng chứng mới’ TQ đưa ra

Tuy nhiên, nếu người Việt xem việc chính quyền Quảng Đông nói Hoàng Sa không thuộc quyền quản lý của họ hồi năm 1898 là bằng chứng thuyết phục về chủ quyền của Việt Nam bao nhiêu thì dân Trung Quốc cũng nghĩ công hàm Phạm Văn Đồng đã làm sáng tỏ chủ quyền của họ bấy nhiêu.

Đó là chưa nói Quảng Đông chỉ là chính quyền một tỉnh còn văn bản chính thức do thủ tướng ký có đầy đủ giá trị pháp lý của một quốc gia.

Mà không chỉ một văn bản này, Trung Quốc còn nói với thế giới rằng ‘các chính quyền liên tục của Việt Nam trước năm 1974 (Bắc Việt) luôn thừa nhận Tây Sa là của Trung Quốc’.

Bắc Kinh thừa hiểu đây là ‘tình đoàn kết vô sản’ của Hà Nội đối với họ vào lúc đó. Nhưng họ vẫn thừa cơ chộp lấy để biến thành con dao đâm lại Hà Nội.

Có điều các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã đặt lợi ích quốc gia dân tộc của họ lên trên hết, còn chính quyền Bắc Việt chỉ nên tự trách mình đã không tỉnh táo như họ mà thôi.

Với lại, do Đảng Cộng sản Việt Nam toàn quyền lãnh đạo không có ai phản biện nên những sai lầm nghiêm trọng như thế này vẫn không bị phát hiện và ngăn chặn.

Nhưng lần này, đòn nặng tay của Trung Quốc dường như đã làm Hà Nội bừng tỉnh.

Chừng mấy năm trước, ai có thể nghĩ rằng sẽ có ngày chính quyền Hà Nội trân trọng Việt Nam Cộng hòa ‘đã giữ chủ quyền’ và nhờ ‘đế quốc Mỹ’ lên án người ‘đồng chí’ Trung Quốc?

Tương quan lực lượng

Dẫu sao đi nữa toàn bộ hệ thống chính trị Việt Nam đã được huy động ở mức độ chưa từng thấy để đấu tranh với Trung Quốc.

Trung ương Đảng, Quốc hội, Thủ tướng và mới đây là Chủ tịch nước đều đã lên tiếng. Các nhà ngoại giao Việt Nam tranh thủ mọi diễn đàn; đại sứ tại các nước cũng được huy động; họp báo quốc tế liên tục ở Hà Nội; hệ thống truyền thông đưa tin Biển Đông hàng ngày; còn trên thực địa tàu chấp pháp Việt Nam không ngày nào không đối đầu với tàu Trung Quốc.

Tuy nhiên trước một đất nước khổng lồ, tiềm lực hùng mạnh, quyết tâm vô bờ thì cơ hội Việt Nam đến đâu?

Người Việt Nam ai cũng rất yêu nước. Nhưng lòng yêu nước không phải của riêng người Việt.

Người dân Trung Quốc vốn một lòng tin sắt đá vào chủ quyền Tây Sa, Nam Sa cũng sẽ sẵn sàng hy sinh cho Tổ quốc của họ.

Việt Nam có lịch sử ngàn năm chống lại phong kiến phương Bắc nhưng hai trận hải chiến với Trung Quốc trong thế kỷ trước, cả Bắc Việt hay Nam Việt Nam đều thua.

Trung Quốc đã có kế hoạch chiếm Biển Đông từ lâu

Khi Trung Quốc vẽ cái lưỡi bò đó để ôm hết Biển Đông trước mặt Việt Nam, rõ ràng họ đã quá coi thường người dân Việt.

Có mặt ở Việt Nam cách nay không lâu, tôi đã nghe từ radio phát bài vọng cổ ‘Nam quốc sơn hà nam đế cư’ ở một tỉnh miền Tây; tôi đã thấy một sạp bán dừa ven đường ở Sài Gòn dán khẩu hiệu đòi Trung Quốc rút giàn khoan; tôi cũng nghe nỗi bức xúc với Trung Quốc từ một bà nội trợ mà trước giờ chỉ quan tâm đến đề đóm…

Luật pháp và lợi ích

Riêng về lý lẽ chủ quyền, tôi nghĩ nếu Trung Quốc có chủ quyền đàng hoàng thì họ nên đấu tranh ngay thẳng để mọi người tâm phục khẩu phục thay vì cứ dùng thủ đoạn.

Để đối phó với Trung Quốc, con đường thông qua luật pháp quốc tế dường như là con đường khả dĩ nhất của Việt Nam hiện nay.

Thế nhưng lý lẽ và luật pháp liệu có bằng lợi ích quốc gia?

Luật pháp quốc tế ở đâu khi người dân Crimea tự ý trưng cầu dân ý sáp nhập vào Nga trong khi vùng đất này không chỉ của riêng người dân Crimea mà còn là một phần lãnh thổ của Ukraine?

Vậy mà khi đưa ra Liên Hiệp Quốc nhiều nước không phản đối. Việt Nam nằm trong số đó dù cũng không ủng hộ.

Vậy làm sao Việt Nam có thể mong chờ các nước ủng hộ ‘lẽ phải’ của mình khi mà nước nào cũng chỉ vì lợi ích của mình mà thôi?

Về phía Việt Nam, cả thủ tướng lẫn chủ tịch nước đều đề cập đến dùng ‘biện pháp pháp lý’. Chủ tịch Trương Tấn Sang trong phát biểu mới đây nói là sẽ sử dụng ‘khi cần thiết’.

Người dân Trung Quốc vốn một lòng tin sắt đá vào chủ quyền Tây Sa, Nam Sa cũng sẽ sẵn sàng hy sinh cho Tổ quốc của họ

Cùng lúc có dư luận ở Việt Nam đang sốt ruột muốn biết ‘khi cần thiết’ là lúc nào?

Khi công khai nói về biện pháp pháp lý, một mặt Hà Nội muốn cảnh báo Bắc Kinh họ có một con bài sẵn sàng chơi với Trung Quốc, mặt khác họ muốn trấn an người dân trong nước chính quyền có thể bảo vệ được chủ quyền.

Tuy nhiên, chính quyền có đủ thứ để cân nhắc chứ không nghĩ đơn giản như người dân.

Có đảm bảo thắng kiện? Có hiệu quả không? Hậu quả trong quan hệ với Trung Quốc?

Các chuyên gia đã chỉ ra dù Việt Nam có thắng kiện thì cũng không thể làm gì được cái giàn khoan. Trong khi đó, một khi đã đưa nhau ra tòa thì hai nước sẽ khó nói chuyện với nhau được nữa và Việt Nam sẽ hứng chịu thiệt hại từ những đòn trả đũa của Trung Quốc như họ đã làm với Philippines.

Với lại, dù là kiện về chủ quyền Hoàng Sa hay kiện giàn khoan thì Trung Quốc đều có vũ khí lợi hại là công hàm 1958 để nói rằng cả quần đảo và vùng biển họ khoan dầu đều ‘không tranh chấp’.

Giả sử Việt Nam mà thua kiện thì không biết lòng dân phẫn nộ với chính quyền đến mức nào?

Philippines đã có các cuộc diễn tập hải quân với Hoa Kỳ

Một chuyên gia về Biển Đông của Việt Nam, thạc sỹ Hoàng Việt nói với tôi trong một cuộc phỏng vấn rằng ông không dám chắc về ‘khả năng thắng của Việt Nam’ vì đây là vấn đề ‘cực kỳ phức tạp’.

Các nước có quan tâm?

Các nước chỉ can thiệp khi họ có lợi ích trực tiếp trong tranh chấp Biển Đông.

Khi Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa và một phần Trường Sa, lúc đó Mỹ, Nga có lợi ích gì mà bảo vệ Việt Nam? Trong khi đó họ vừa cải thiện quan hệ với Trung Quốc.

Tuy nhiên, hiện nay các nước đều lo sợ tranh chấp Biển Đông leo thang thành xung đột thì tuyến đường hàng hải quan trọng sẽ bị gián đoạn.

Và liệu Trung Quốc có đảm bảo cho tàu bè qua lại nếu Biển Đông nằm hoàn toàn dưới sự kiểm soát của họ?

Với nữa, một nước lớn có tham vọng lớn như Trung Quốc làm chủ được Biển Đông thì họ có dừng ở đó không?

Mỹ đã nhiều lần lên tiếng về tự do hàng hải – rõ ràng nhằm vào mục tiêu độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc.

Trong tình hình hiện nay, chỉ cần sơ sẩy một bước nữa, Việt Nam có nguy cơ mất hết.

Nếu sau này dù Việt Nam hay Trung Quốc để mất biển đảo vào tay đối phương thì oan tương sẽ kéo dài không dứt và hai dân tộc láng giềng sẽ hận thù nhau mãi không thôi.

Sẽ là viễn cảnh đau lòng nếu cuộc sống yên bình của người dân hiền lành, lương thiện, chăm chỉ tạo dựng hạnh phúc cho bản thân và gia đình ở hai nước lâm vào cảnh tan nát.

Muốn hóa giải can qua rất cần sự thấu hiểu lẫn nhau của người dân hai nước.

Người Trung Quốc thấu được nỗi uất ức của người dân Việt Nam còn người Việt Nam hiểu được niềm tin chủ quyền của người dân Trung Quốc mạnh mẽ như thế nào.

Trước mắt, cả Việt Nam và Trung Quốc đều không có lợi ích gì trong một cuộc xung đột trên Biển Đông nhưng về lâu dài khi lợi ích của hai bên đi đến chỗ quyết không thể nhượng bộ thì một cuộc đối đầu quân sự xem ra khó tránh khỏi.

Mời quý vị xem thêm các bài trên trang BấmDiễn đàn BBC.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Giải tán đảng cộng sản để thoát Trung cộng (Phần II) – Cái giá phải trả cho sự mờ ám và dối trá của Hồ Chí Minh

Giải tán đảng cộng sản để thoát Trung cộng (Phần II) – Cái giá phải trả cho sự mờ ám và dối trá của Hồ Chí Minh

Nguoiduatin (Danlambao) – Đã hơn một tháng, Tàu cộng cắm dàn khoan xâm lược vào lãnh hải VIỆT NAM. Thái độ giữ nước của cầm quyền cộng sản chẳng những không làm người dân an lòng trông đợi vào “Sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của đảng cộng sản” bằng những lời rêu rao của người phát ngôn thuộc bộ ngoại giao cộng sản, mà tạo ra sự bất an và căm phẫn trong lòng người VN, cả trong và ngoài nước.
Khoảng một tháng, sau sự việc Phật Tử Lê Thị Tuyết Mai ((67 tuổi, ngụ tại 253/1 đường Bùi Đình Túy, phường 24, quận Bình Thạnh. Sài Gòn) tự thiêu để phản đối dàn khoan HD 981 của Tàu cộng, được tuyên giáo cộng sản định hướng dư luận, bà Mai tự thiêu trước Dinh Độc Lập vì bế tắc cuộc sống (!?), nay đến ông Hoàng Thu, cựu sĩ quan QLVNCH tự thiêu ngay tại nước Mỹ cũng cùng chí hướng phản đối dàn khoan xâm lược HD 981 của Tàu cộng, phải rút khỏi lãnh hải VN.
Và để lên tiếng trước khi tuyên giáo cộng sản dùng những cái lổ phun chữ “bẻ lái” cựu sĩ quan pháo binh QLVNCH Hoàng Thu tự thiêu vì bệnh tật hoặc “bế tắc” cuộc sống tại Mỹ.(?)
Gia đình ông Hoàng Thu đã kịp thời lên tiếng “Buổi sáng xảy ra sự việc, ông đã nói lời từ giã với bà vợ, sau đó mọi người trong gia đình không biết gì thêm. Người con gái ghi nhận gần đây khi xem tin tức về Biển Đông, ông tỏ ra rất tức giận.” Và ông Hoàng Thu dù cao tuổi, sức khỏe vẫn khá tốt cũng như rất tỉnh táo khi chào từ biệt vợ con “Bà ở lại trông chừng mấy đứa nhỏ. Tôi đi nghe”. Ông bình thản bước sang thế giới bên kia với thông điệp rất rõ ràng “Hai Yang 981 phải rời khỏi hải phận VN – Anh hùng tử chí hùng bất tử!”
VNCH đã mất nước 39 năm, thế mà vẫn còn đó những cựu quân nhân chấp nhận hy sinh để chứng minh sự bất khuất trước giặc ngoại xâm Tàu cộng và cả giặc nội xâm Việt cộng như chính Lê Duẫn thú nhận khi xua quân xâm lược Miền Nam VNCH “Ta đánh đây là đánh cho Liên sô và TQ”. Nếu lòng yêu nước chính nghĩa đứng dưới lá cờ vàng truyền thống của dân tộc VN qua hàng ngàn năm lịch sử, tạo ra những người can đảm bất kể tuổi tác, sẵn sàng Vị Quốc Vong Thân, thì đảng cộng sản với chủ thuyết hoang tưởng và phi nghĩa tạo ra những kẻ hèn nhát trước giặc ngoại xâm, nhưng rất “anh hùng” đàn áp người dân tay không tất sắt, khi họ biểu tình chống Tàu cộng xâm lược. Đó là thứ “Anh hùng đầy trước ngõ…*” Mà cộng sản thường rêu rao khi cướp được Miền Nam. (Đừng nghe những gì cộng sản nói – Hãy nhìn những gì cộng sản làm. Cố TT VNCH Nguyễn văn Thiệu).
Lời nói của thủ tướng cộng sản Nguyễn Tấn Dũng, có thể kiện Trung cộng ra LHQ cũng chẳng khác gì lời hứa “lớn họng” chống tham nhũng của ông ở nhiệm kỳ một. Và ông PTT cộng sản Phạm Bình Minh yêu cầu Trung cộng rút dàn khoan, cũng như “ánh mắt mang hình viên đạn” của Phạm Bình Minh khi gặp tên giặc Tàu Dương Khiết Trì, suy cho cùng chỉ là hàng nhái “trích xuất” từ cái băng nhão nhoẹt của tuyên giáo cộng sản. Nhục nhã hơn nữa, báo chí Tàu cộng còn chỉ đích danh đảng cộng sản tại VN là “Đứa con hoang đàng”. Thật ra, Tàu cộng miệt thị Việt cộng cũng đúng mà cũng sai.
Đúng: Việt cộng là đứa con hoang của QTCS, đứng đầu là Hồ Chí Minh (Staline từng gọi HCM là con người ở hang), chỉ muốn dẫn dắt dân tộc VN đến thế giới đại đồng hoang tưởng, mà cái gốc CNCS đã là cặn bã, tội ác chống loài người, kết quả HCM đã giết hàng triệu người VN trong 24 năm hắn cầm quyền**. Và để cho công bằng thì cũng không nên quên tên tội đồ dân tộc Võ Nguyên Giáp chỉ đứng sau Hồ Chí Minh.
Sai: vì Tàu cộng tuy khéo léo mượn chữ “Đứa con hoang đàng” trong Thánh Kinh Công Giáo để miệt thị đàn em, vừa làm méo mó hình ảnh Tôn giáo với bản chất vô thần của chúng. Bởi câu chuyện “Đứa con hoang đàng” kết thúc có hậu, người con hoang đàng trở về với đại gia đình ruột thịt của ông.
Với đảng cộng sản, chúng chỉ muốn trở về “đất mẹ” của chúng ở bên Tàu qua Hiệp ước Thành Đô 1990 dù có thể chúng cũng là người VN. Lời của thi nô Tố Hữu vẫn còn di họa đến tận ngày nay “Bên đây biên giới là nhà – Bên kia biên giới cũng là quê hương” hay của Chế Lan Viên “Bác Mao chẳng ở đâu xa – Bác Hồ ta đó chính là bác Mao”, Tổ quốc của HCM/CS không phải là VIỆT NAM mà là QTCS như chính hắn thú nhận, hoặc như câu nói đưa đẩy của vợ Lê Duẫn “Nhờ TQ giữ hộ giùm Hoàng Sa của VNCH 1974”, có bao giờ đảng cộng sản muốn trở về với dân tộc VN đâu, mà gọi chúng là “Đứa con hoang đàng”? Nếu còn chút tình, là người VN với nhau, cùng máu đỏ da vàng, gọi cho đúng bản chất sự việc, thì đảng cộng sản tại VN là “nghịch tử” của dân tộc, đứa con hoang đàng nhất trong dòng sử Việt, tính từ Hồ Chí Minh. Và nghiệt ngã hơn nữa, khốn nạn cho dân tộc VN hơn nữa, nếu cái xác trong lăng (dù xác thật hay giả) là hình tượng của tên giặc Tàu Hồ Tập Chương.
Trở lại với dàn khoan Tàu cộng xâm lược. Việt cộng chỉ mới lên tiếng có thể kiện Tàu cộng ra LHQ, chỉ mới dừng lại ở lời nói thôi, bởi chúng chưa chắc dám thực hiện, thì Tàu cộng đã hành động kiện Việt cộng ta tòa án quốc tế. Nước nào sẽ bênh vực Việt Nam trước sự xâm lược trắng trợn của Tàu cộng? Xin thưa là, chưa thấy nước nào thật sự bênh vực VN, khi cầm quyền cộng sản còn độc tài toàn trị, và bằng chứng duy nhất tương đối có giá trị lúc này đối với Tàu cộng, không có gì khác ngoài công hàm Phạm Văn Đồng. Tính cho đến giờ phút này, VN chỉ nhận được lời khuyên nơi cộng đồng quốc tế là hãy kềm chế có tính cách ngoại giao, và Mỹ thí cho 18 triệu đô la để “tăng cường” CSB cộng sản có sức chịu đựng tàu của Trung cộng đâm ngang hông. Suy cho cùng, chỉ là sự tranh chấp giữa hai đảng cộng sản, Tàu cộng và Việt cộng, các nước có muốn can thiệp vào biển đông cũng chỉ vì lợi ích của nước họ, đảng cộng sản có kêu gọi quốc tế lên tiếng ủng hộ là bằng thừa. Chính tuyên bố của tên bộ trưởng quốc phòng cộng sản Phùng Quang Thanh đã đóng mọi cánh cửa can thiệp của QT để có thể ủng hộ VN là “VN không hợp tác với bất kỳ nước nào để chống lại nước thứ ba”. Có thể xem lời nói của tướng cộng sản Phùng Quang Thanh không khác gì một tên thái thú Tàu chính hiệu.
Đảng cộng sản có “lớn họng” phủ nhận công hàm Phạm Văn Đồng, hay như ông giáo sư “viện minh triết HCM” nói thẳng đó là hành động phản quốc. Điều đó là đúng, nhưng chưa đủ. Sẽ là không công bằng khi kết tội Phạm Văn Đồng phản quốc (?) mà bỏ qua chính phạm Hồ Chí Minh, người đã chỉ đạo Phạm Văn Đồng ký công hàm bán nước ngày 14 Tháng 09 Năm 1958 thừa nhận Hoàng Sa – Trường Sa là của giặc Tàu theo bản tuyên bố về lãnh hải của cộng sản Bắc Kinh. Trong các chính thể dân chủ thật sự, việc thủ tướng hay tổng thống qua mặt Quốc Hội là chuyện động trời, sẽ phải đối mặt với búa rìu dư luận và cả sự phẫn nộ của người dân. Ai trả tiền thì người đó có quyền, chẳng có thể chế nào có thể vận hành nếu không có tiền thuế của dân. Điều khác biệt là trong các chế độ cộng sản, không riêng gì VN, chỉ trích nhà nước là trọng tội, ngay cả khi có bằng chứng cộng sản bán nước, may mắn sống sót thì cũng nhiều năm tù khổ sai như Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, tệ hơn như thầy giáo Đinh Đăng Định biết trước mình có thể sẽ chết vì thủ đoạn hèn hạ của đảng cộng sản. Đầu độc Tù Nhân Lương Tâm, hành hạ tra tấn dưới mọi hình thức cả tinh thần và thể chất. Tội ác Hồ Chí Minh và đảng cộng sản được thể hiện rất rõ qua hàng loạt bài viết của tác giả Đặng Chí Hùng“Những sự thật không thể chối bỏ – Những sự thật cần phải biết” cho thấy đảng cộng sản không đủ tư cách lãnh đạo cũng như không có lý do để giành độc quyền lãnh đạo, đảng cộng sản phải trao trả quyền tự quyết vận mệnh đất nước, dân tộc về tay Nhân Dân, phải giải tán đảng cộng sản để thoát Trung cộng, mới có thể lấy lại những phần lãnh thổ và lãnh hải bị Tàu cộng cướp đoạt với sự tiếp tay của Hồ Chí Minh cộng sản. Ngày nào đảng cộng sản còn tồn tại, ngày đó VN còn nghèo đói tụt hậu, và nguy hiểm hơn là mất nước và diệt vong.
Ps:
Với tư cách thường dân, nhân chứng sống qua hai chế độ VNCH và VC, không phải cựu quân nhân QLVNCH, phản hồi bài viết của tác giả Sương Đêm trên báo lề đảng. 
Trích: “LUẬN ĐIỆU TRÁO TRỞ CỦA DÂN LÀM BÁO”:
 
Năm 1930, Đảng Cộng Sản Việt Nam được thành lập và đã lãnh đạo nhân dân ta đi hết thắng lợi này tới thắng lợi khác. Đánh đuổi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn đất nước, đem lại cuộc sống ấm no và hạnh phúc cho nhân dân.
 
Còn VNCH là gì? Đó là loại bù nhìn, là tay sai của Mỹ, được Mỹ lập nên ở Miền nam Việt Nam trong những năm 1955-1975. Các quan chức cấp cao Việt Nam Cộng hòa cũng đã công nhận sự lệ thuộc của họ vào Hoa Kỳ. Nguyễn Văn Thiệu- Tổng thống Việt Nam Cộng hòa đã từng phát biểu: “Nếu Mỹ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau 3 giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi dinh Độc Lập!” Việt Nam Cộng Hòa đã thay Mỹ tiến hành không biết bao nhiêu tội ác đối với nhân dân Miền Nam Việt Nam thời kì đó. Chúng ta có thể hình dung tội ác của Việt Nam Cộng Hòa bằng “nhà tù nhiều hơn trường học”, “giết bất kì thứ gì chuyển động”, “lê la máy chém”… những tội ác ấy, chắc hẳn dân tộc Việt Nam sẽ không bao giờ quên!” 
Ngưng trích.
Trước tiên xin trả lời cho tác giả Sương Đêm về việc “HCM cộng sản có công dẫn đắt dân tộc đi từ hết thắng lợi này đến thắng lợi khác…” Và rằng có công đánh đuổi thực dân Pháp v.v…
Lịch sử chứng minh Hồ Chí Minh chẳng những không chống Pháp mà còn trải thảm rước Pháp trở lại Đông Dương (1), và để dấu cái đuôi cộng sản, cũng như phản ứng của các đảng phái đối lập, khi HCM/CS chưa đủ sức tiêu diệt họ, các đảng phái đối lập không cộng sản bị tận diệt ngay sau khi HCM/CS cướp chính phủ Trần Trọng Kim. HCM/CS đã dựng lên ngày 19 tháng 05 là sinh nhật HCM để treo cờ rước Pháp trở lại VN, sau khi Mỹ từ chối lời đề nghị viện trợ vì biết rõ HCM là tên cộng sản. (2) kết luận, HCM/CS không dẫn dắt dân tộc đến thắng lợi mà đẩy cả dân tộc sập hầm tai vạ cộng sản. (3) Hàng trăm ngàn dân lành chết thảm trong cải cách ruộng đất (CCRĐ) cũng bởi sự cuồng tín và sự tham tàn của HCM vì CNCS. Hai bức thư HCM gởi Staline xin chỉ thị giết dân cũng như xin vũ khí của Nga để tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Miền nam VN được cục lưu trữ quốc gia Nga công bố là bằng chứng tội ác diệt chủng của HCM/CS không thể chối cãi (4).
Tác giả Sương Đêm viết rằng VNCH là tay sai “Đế quốc Mỹ”? Lối tuyên truyền theo kiểu ngậm máu phun VNCH, thường dân chúng tôi không lạ, nhất là từ khi có Internet. Đảng viên cộng sản nên chịu khó đọc HCM toàn tập, tập II, sách do tuyên giáo ấn hành, trong đó có đoạn viết HCM làm công ăn lương của QTCS, và như thượng dẫn, hai bức thư HCM gởi Staline… Xác nhận HCM chính là tay sai QTCS, cụ thể là Nga – Tàu, và đảng cộng sản chưa bao giờ có thể tự đứng vững trên chính đôi chân của chính nó, dù thời chiến hay thời bình nếu không có đàn anh cộng sản chống lưng, điển hình như kinh tế VN hiện tại hoàn toàn lệ thuộc vào Tàu cộng, một trong những lý do đảng cộng sản tại VN “Thà mất nước hơn mất đảng”. Thể hiện tính vong bản cùng cực của chúng, như Trường Chinh đấu tố giết chính cha mẹ ruột của hắn chỉ vì tinh thần QTCS.
Về việc phục hồi chính thể VNCH. Tại sao không? Nếu VNCH đủ tư cách và uy tín trên trường quốc tế tố cáo hành vi xâm lược của Tàu cộng, đòi lại Hoàng Sa – Trường Sa của VN với đầy đủ chứng cứ pháp lý theo công pháp quốc tế và phân định rạch ròi thù và bạn, không như đảng cộng sản bị Tàu xâm lược thậm chí nhục mạ, mà mồm đảng cộng sản vẫn tung hê 16 chữ vàng, bốn tốt hoang tưởng, hay ít ra cũng nên phục hồi chính sách giáo dục nhân bản và khai phóng của VNCH, gìn giữ truyền thống văn hóa của người VN vẫn tốt hơn ngàn lần tuổi trẻ chỉ biết duy nhất mỗi thứ lịch sử đảng, cùng hình tượng giả trá HCM. Để đánh giá một đất nước có tiến bộ bộ hay không, hãy nhìn vào dân trí và đời sống của toàn dân trong đất nước đó. Hơn 3/4 thế kỷ HCM và đảng cộng sản xây dựng XHCN, có khi nào tự hỏi: Thời nào Dân Việt Sướng Nhất?
Kẻ viết bài này viết những điều mắt thấy tai nghe, không bị ai nhồi sọ hay viết theo cảm tính “Yêu nên tốt ghét nên xấu”, sự thật phải luôn được tôn trọng, viết phải đi đôi với dẫn chứng, không thể viết như tác giả Sương Đêm rằng “Tội ác VNCH” mà không một dòng dẫn chứng “Tội ác VNCH” thể hiện tại đâu, lúc nào trong thời chiến? Với tư cách là nhân chứng sống sót, tồn tại qua hai chế độ VNCH và cộng sản xin khẳng định ngắn gọn: TIN CỘNG SẢN LÀ TỰ SÁT. Các kiến nghị + yêu cầu với đảng cộng sản là vô nghĩa, chỉ là sự giả trá kệch cởm của những người tự cho mình là trí thức mà không biết nhục là gì.
Hình phạt cho tên cộng sản nói láo là khi nó đưa tay lên thề rằng nó nói láo, người ta cũng không tin mặc dù nó nói thật.
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

TÂM THƯ VỀ NGÀY ĐẠI LỄ

TÂM THƯ VỀ NGÀY ĐẠI LỄ

TÂM THƯ VỀ NGÀY ĐẠI LỄ   Kính thưa quý đồng đạo và quý đồng bào,   Năm nay, Hội Đồng Trị Sự Trung Ương xin kính mời quý vị tham dự Đại Lễ Kỷ Niệm 75 Năm Đức Huỳnh Giáo Chủ Khai Sáng Phật Giáo Hòa Hảo, được tổ chức tại Hội Quán số 12432 đường Euclid, bên cạnh ngã tư đường Lampson, thành phố Garden Grove.   Nhân dịp thiêng liêng trọng đại này, chúng tôi muốn cùng quý vị ôn nhuần lời dạy của Đức Thầy và ưu tư của chúng ta.                       Trả nợ thế nghĩa ân trọn vẹn                     Cảnh non bồng kỳ hẹn ngày kia   Đây là lời của Đức Huỳnh Giáo Chủ.   Nợ thế tức là nợ đời, nợ Tứ Ân mà ta đã thọ trong kiếp sống. Vì vậy, ta có bổn phận phải đền trả, bởi vì ta đã thọ nhận vay mượn nó từ thuở bé thơ cho đến lúc thành nhân.   Cái công ơn cha mẹ nuôi nấng đẻ đau, 9 tháng cưu mang, 3 năm bú mớm. Rồi ân tấc đất ngọn rau tạo nên kiếp sống này. Ân được dìu dắt về tâm linh đạo đức, còn ân về Đồng Bào và Nhân Loại nữa. Cho nên ta có trách nhiệm phải cố gắng đền đáp một cách tận tình. Ta sẽ tu không thành nếu nợ đời chúng ta không trả, dù có muốn hay không thì cũng phải:                       Tu đền nợ thế cho rồi                     Thì sau mới được đứng ngồi tòa sen   *                       Thấy dân thấy nước nghĩ mà đau                     Quyết rứt cà sa khoát chiến bào                     Đuổi bọn xâm lăng gìn đất nước                     Ngọn cờ Độc Lập phất phơ cao.   Con đường cứu nước với chương trình Dân Chủ Xã Hội tiên tiến được Đức Huỳnh Giáo Chủ mở ra là một sinh lộ thực tiễn cho dân tộc Việt. Trước hiểm họa xâm lấn của Trung Cộng, một quốc nạn có thể đưa đến diệt vong, một Biển Đông sôi sục như chảo dầu, một biển lửa sắp bùng cháy, kể cả trên đất liền, hiệu ứng với lời tiên tri của Tứ Thánh Tam Hoàng Thơ, đặc biệt là của Đức Huỳnh Giáo Chủ:                       Đất Bắc Kỳ sao quá ruộng sâu                     Tàu Man đến đó giăng câu đặt lờ   Hay là:                       Mặt nước biển lô nhô lặn hụp                     Chim đua bay cá lại tranh mồi                     Ngọn thủy triều nô nức sục sôi                     Bầu trái đất một phen luân chuyển.   Để cảnh tỉnh cho những đầu óc nô lệ Tàu cộng, ngay từ năm 1946 khi trả lời cho cụ Phạm Thiều (đại diện Việt Minh) mời Đức Thầy tham chánh, bằng những lời thơ xin trích ra đây 2 câu của cụ Phạm Thiều:                       Sao còn lãnh đạm với đồng bang                    Toan trút cho ai gánh trị an   Đức Thầy đáp họa:                      Nhìn xem Trung quốc khách lân bang                     Cứ cố xỏ ngầm sao trị an?   Và đặc biệt với hai câu như một lời cảnh tỉnh:                      Ngàn năm Bắc địch dày bừa                     Mà còn đứng dậy tống đưa quân thù.   Hỡi những đầu óc mông muội hãy tỉnh thức mau lên kẻo trễ.   Kính thưa quý đồng hương, quý đồng đạo,   Chúng ta sẽ kỷ niệm ngày Đức Thầy bị cộng sản ám hại, tức là ngày Đức Thầy Thọ Nạn Đốc Vàng, chúng ta đang tổ chức Đại Lễ Kỷ Niệm lần thứ 75 ngày Đức Thầy khai sáng Đạo Phật Giáo Hòa Hảo. Không những tưởng niệm công đức mở đạo cứu đời của Ngài, mà còn tưởng nhớ đến công lao cứu dân cứu nước khi Đức Thầy dấn thân vào con đường đấu tranh chống Pháp để giành Độc Lập qua các Mặt Trận và Phong Trào do Đức Huỳnh Giáo Chủ thành lập hay cộng tác. Nhất là Ngài đã thành lập chánh đảng Việt Nam Dân Chủ Xã Hội.   Để tưởng nhớ đến công đức của một vị Phật đã lâm phàm giáo dân độ chúng, đưa muôn người thoát khỏi biển mê sông khổ mà quy về chơn tâm thật tánh để đạt đến cảnh hạnh phúc bình an, tâm linh giác ngộ, như Ngài đã từng bày tỏ:                       Huyền pháp thâm trầm thơm bất tuyệt                     Vô Vi chánh Đạo hỡi người ơi.   Hay một hoài bão chưa thành khi non sông còn dưới ách nông nô độc tài toàn trị. Một đất nước phú cường, một chế độ không độc tài không cộng sản chưa thực hiện được, thì Đức Thầy đã vắng mặt.                       Nước non tan vỡ bởi vì đâu                     Riêng một ta mang nặng mối sầu                    Lòng những hiến thân mưu độc lập                     Nào hay tai họa áp bên lầu.                       *                       Bên lầu tiếng súng nổ vang tai                     Trời đất phụ chi kẻ trí tài                     Mưu quốc hóa ra người phản quốc                     Ngàn thu mối hận dễ nào phai.   Kính thưa quý vị,   Thư vắn tình dài, chúng ta có thể nghe tiếp hay chia sẻ tâm sự của nhau vào dịp Kỷ Niệm lần thứ 75 ngày Đức Thầy khai sáng Đạo sẽ được Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo tổ chức vào ngày Chủ Nhật 29 tháng 6 năm 2014, lúc 2 giờ chiều tại Hội Quán số 12432 đường Euclid, góc Lampson và Euclid.   Một lần nữa xin nhắc lại, ở góc đường Euclid và Lampson, quý vị sẽ thấy trên nóc Hội Quán có treo cờ và biểu ngữ tung bay phất phới, thì đó là địa điểm chào mừng quan khách.   Xin quý đồng đạo và đồng hương coi đây là thơ mời chính thức phổ biến sâu rộng trên làn sóng truyền hình và truyền thanh cũng như trên báo chí và internet.   Với lòng vô cùng trân trọng và tri ân, sự hiện diện của quý vị là niềm khích lệ lớn lao đối với chúng tôi trên bước đường tầm cầu chân lý, đồng thời phụng sự hữu hiệu cho dân tộc và đạo pháp.   Ban Tổ Chức Đại Lễ trân trọng kính mời.     TM Hội Đồng Trị Sự Trung Ương và Ban Tổ Chức Đại Lễ Kỷ Niệm.   – Tiến Sĩ Lê Phước Sang, Hội Trưởng HĐTSTƯ. Trưởng Ban Tổ Chức Đại Lễ. Cell: 832-397-9813.   – Huyền Tâm Huỳnh Long Giang, Tổng Vụ Trưởng Phổ Thông Giáo Lý. Tổng Thư Ký Ban Tổ Chức Đại Lễ. Cell: 714-720-5271   Xin lưu ý: Đậu xe trên đường Lampson hay những địa điểm thuận tiện gần đó.

About these ads

Occasionally, some of your visitors may see an advertisement here.

Tell me more | Dismiss this message

Categories: Sinh Hoạt của HĐTSTƯ | Leave
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Mua điện gấp 3 giá thường: Kẻ nào nối giáo cho Trung Quốc?

Mua điện gấp 3 giá thường: Kẻ nào nối giáo cho Trung Quốc?

Phạm Chí Dũng

Phản nghịch!

Khác hẳn với làn sóng “thủy triều đỏ Trung Hoa” những năm trước, con sóng cuồng bạo tàn dập mang tên HD 981 vào năm nay đã làm rách toạc đáy con thuyền chính trị Việt Nam vốn đã mục nát, khiến bục tung những khoảng tối tăm bẩn thỉu bị khuất tất lâu ngày.

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), từng được một tờ báo Anh vinh phong là “cậm ấm hư hỏng” do người mẹ đỡ đầu của nó là Bộ Công thương, là tiếp dẫn ngoan ngoãn vô song cho chiến dịch tiếp tay cho Trung Quốc đến mức phản nghịch tình dân tộc.

Đất Việt – tờ báo của Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam và là một trong những xung kích phản biện vượt qua sợ hãi nhất trong hệ thống truyền thông nhà nước – mới đây đã cùng với GS TS Đặng Đình Đào – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội – hé lộ một “bí mật quốc gia”: từ nhiều năm qua, EVN đã mua điện từ các doanh nghiệp Trung Quốc với giá gấp đến 3 lần mức thông thường của doanh nghiệp Việt Nam.

Thậm chí, EVN mua điện của Trung Quốc với giá cao cả ở thời điểm nguồn cung cấp trong nước dồi dào, vin vào lý do vì hợp đồng mua điện với Trung Quốc được ký từ năm 2005 và chính thức mua điện từ 2009. Thái độ kinh doanh bất chấp này đã bất chấp một thực tế là trong thời gian gần đây, nguồn điện trong nước được tăng cường nhiều hơn, nhiều nhà máy điện ngoài EVN chưa huy động hết công suất, có thời điểm điện dư thừa, giá lại rẻ hơn nhiều giá điện Trung Quốc bán cho Việt Nam. Nhưng bởi lối hành xử đầy ngờ vực, EVN đã cố tâm mua điện trong nước với giá chỉ bằng 1/3 giá mua điện của Trung Quốc, kèm theo các điều kiện rất khắt khe.

Đến năm 2013, giới chuyên gia phản biện độc lập đã không còn giữ nổi bình thản: một lượng lớn điện thương phẩm mua từ Trung Quốc với giá cao và có xu hướng tăng nhanh những năm gần đây đã làm méo mó quá nhiều thị trường điện.

Cơ chế độc quyền vong bản đã phát triển đến mức trong khi nhiều doanh nghiệp sản xuất điện của Việt Nam sẵn sàng chịu lỗ để hòa lưới điện, khi suốt từ năm 2011 khi báo chí Việt Nam dồn dập phẫn nộ trực chỉ vào trách nhiệm của EVN về quan điểm “người Việt dùng hàng Trung”, doanh nghiệp thuộc loại độc trị theo cung cách thời chủ nghĩa tư bản dã man này vẫn quay mặt làm ngơ với hình ảnh tàu Bình Minh bị Trung Quốc cắt cáp và ngư dân Việt bị người “đồng chí tốt” đẩy vào vòng khốn quẫn ngay trên vùng biển quê hương.

Bởi từ một góc nhìn khác, ai cũng biết Trung Quốc sở hữu khối doanh nghiệp có biệt tài “quà cáp” hẩu nhất thế giới.

 

Ai phải bù lỗ và gánh nợ?

Ở Việt Nam, EVN là một trong những dẫn chứng sống động và dối trá nhất về việc người ta đã mượn lý thuyết kinh tế chỉ huy thời chiến để trục lợi như thế nào vào thời bình. Trong điều kiện nền chính trị độc đảng, thủ đoạn lợi dụng càng trở nên thâm ý hơn. Độc quyền và đặc lợi cũng vì thế đồng nghĩa với tội đồ, đối với nền kinh tế và đời sống dân sinh.

Với trường hợp EVN, đó chính là tội ác.

Năm 2011, vào lúc nền kinh tế Việt Nam dợm chân vào suy thoái, sự đổ bể của hai thị trường chứng khoán và bất động sản đã kéo theo một phát minh không tiền khoáng hậu kể từ thời mở cửa 1990: những doanh nghiệp nhà nước đặc trưng bởi chủ thuyết “giá chỉ có tăng chứ không giảm” như EVN và Petrolimex (Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam) đã tạo thành cặp song sinh có chung hậu môn. Hàng loạt chiến dịch đầu tư trái ngành của các tập đoàn này vào chứng khoán, bất động sản và bảo hiểm rốt cuộc đã tích đọng gánh nợ đến trên 40.000 tỷ đồng.

Trong suốt ba năm qua, toàn bộ số nợ nần đó đã được EVN và Petrolimex tuồn qua tuyến đại tràng để đổ lên đầu người dân đóng thuế.

Nhưng cũng trong suốt ba năm qua, bất chấp những đợt tăng giá điện vô tội vạ của EVN, đã không có bất cứ cuộc kiểm tra nào được làm tới nơi tới chốn. Tất cả những dấu hiệu khuất lấp về tài chính và số lương “nghèo khổ” ít nhất vài chục triệu đồng theo đầu người ở tập đoàn này mà dư luận bức xúc từ năm 2011, đã hầu như không bị cơ quan chủ quản của EVN là Bộ Công thương phản cảm. Không những thế, những lãnh đạo cao nhất của Bộ Công thương như ông Vũ Huy Hoàng vẫn không ngơi nghỉ một chiến dịch khác: PR cho “cậu ấm hư hỏng” của mình.

Đó là một dạng PR không mới, nhưng lại chỉ được dư luận người dân Việt đặt tên chính thức từ năm 2012: PR chính sách. Chủ thể của hoạt động này chính là cái tên “nhóm thân hữu” – một chủ đề mà chưa một ủy viên bộ chính trị nào đủ can đảm hay liêm sỉ để mổ xẻ trước bàn dân thiên hạ.

Cũng không quá khó hiểu là những động thái PR chính sách đã xuất hiện không ít lần, kể cả ở cấp Chính phủ.

Nhóm thân hữu, về bản chất, lại có mối quan hệ ruột rà và móc xích giữa các chính khách ở các cấp khác nhau, từ dưới lên và từ trên xuống. Trong từng trải của người dân Việt Nam, thực tế sinh tồn của các doanh nghiệp lệ thuộc vào chính sách từ nhiều năm qua đã chứng tỏ một nguyên tắc bất thành văn: chỉ có chính sách mới tạo ra được lợi nhuận; để đến lượt mình, lợi nhuận phải quay lại “nuôi” chính sách.

Cũng là “nuôi” các chính khách.

Công nghệ “giết sống”

Giá xăng dầu và điện lực phi mã tất yếu dẫn đến lạm phát đội mồ sống dậy. Trong thực tế, chỉ số tiêu dùng CPI bị tác động không nhỏ và lập tức kích hoạt hàng loạt đợt tăng giá của hàng tiêu dùng, thực phẩm, giá vận tải hành khách và hàng hóa, giá nhà trọ…, làm khốn khó hơn cho đời sống công nhân và dân nghèo vốn đã quá khó khăn.

Đời sống dân sinh ấy cũng liên đới quá đỗi hữu cơ với ít nhất 80% lực lượng vũ trang và gần 3 triệu công chức viên chức nhà nước. Vài năm gần đây, ngay cả cảnh sát giao thông còn bị “đói” thì giới nhân viên an ninh không than thở mới là chuyện lạ.

Thế nhưng đối mặt với tất cả những trớ trêu và nghịch lý tận cùng ấy, lãnh đạo Bộ Công Thương vẫn hầu như khóa khẩu, trong khi vài ba viên chức cấp vụ của bộ này vẫn cố gắng “an dân” bằng thuyết minh việc tăng giá xăng dầu và điện không ảnh hưởng nhiều đến CPI.

Nhưng vào năm 2013, một cuộc thanh tra của Thanh tra chính phủ đã phát hiện trong bảng giá thành của mình, EVN đã hạch toán cả các công trình xây bể bơi, sân tennis và biệt thự vào giá bán điện. Giá bán điện lại được phổ cập cho mặt bằng dân trí thấp kém trong dân chúng. Và thêm một lần nữa, người ta có được bằng chứng về cái được coi là “trận đánh đẹp” của EVN: cuộc chiến bù lỗ vào dân.

Sau khi tăng giá liên tục trong ba năm qua, nợ ngân hàng của EVN đã được rút bớt. Nhưng chỉ là bớt một ít. Với hơn 30.000 tỷ đồng thất bát từ đầu tư trái ngành, EVN luôn phải đối mặt với tương lai phá sản nếu không thanh toán được cho các chủ nợ.

Trong khi đó, một con số lần đầu tiên được công bố là EVN chính là doanh nghiệp vay nợ ngân hàng lớn nhất Việt Nam, với hơn 118.000 tỷ đồng. Đây là mức dư nợ lớn nhất mà hệ thống ngân hàng dành ưu ái cho một tập đoàn nhà nước.

Với nợ nần khổng lồ và số lỗ do đầu tư trái ngành, người ta ước tính EVN phải tăng giá điện liên tục đến năm 2017-2018 thì mới may ra “hòa vốn”.

Thế nhưng cái điểm hòa vốn ăn thịt lẫn nhau ấy lại có thể khiến những người dân nghèo nhất phải quyên sinh. Bởi theo nguyên lý từ thời tư bản dã man, nếu doanh nghiệp độc quyền có được lợi nhuận, nhân dân chắc chắn phải mất đi phần lớn thu nhập của mình; còn nếu doanh nghiệp độc quyền hòa vốn, nhân dân phải chịu lỗ hoặc phá sản.

Không chỉ mất tài sản, người dân còn phải trả giá bằng cả sinh mạng bởi lối hành xử vô lương tâm của những quan chức độc quyền nhà nước. Vụ xả lũ đồng loạt của 15 nhà máy thủy điện ở miền Trung vào cuối năm 2013 đã “giết sống” đến năm chục mạng người nghèo nơi rốn lũ.

Tất cả đều biết cấp trên trực tiếp của các nhà máy thủy điện là EVN, còn thủ trưởng trực tiếp của EVN là Bộ Công thương. Tuy nhiên sau vụ “giết sống” trên, nhiều phóng viên báo chí quốc doanh đành nuốt nhục vì bị cơ quan tuyên giáo “chặn họng”. Nhân quả là đã không có bất kỳ một quan chức vô cảm và vô trách nhiệm nào phải đối mặt với vành móng ngựa, mặc dù chính vào lúc người dân chết chìm trong nước lũ xả trắng mênh mông, Bộ trưởng công thương Vũ Huy Hoàng còn bận “công du “ ở nước ngoài.

Tán tận lương tâm chắc chắn là từ ngữ hiển thị đầy đủ nhất tâm địa của các doanh nghiệp độc quyền và những quan chức “tận Trung” trong những năm suy thoái kinh tế qua. Kinh tế càng xuống dốc, đời sống người dân càng túng quẫn, thái độ sống chết mặc bay càng lên ngôi, chủ nghĩa thực dụng, lợi nhuận và vong quốc càng “hiển thánh”.

Tận Trung: Kẻ nào nối giáo?

Hãy trở về với câu chuyện tán tận lương tâm dân tộc khi EVN mua điện Trung Quốc cao gấp 3 lần giá bình thường.

Một lần nữa, báo chí nhà nước bùng lên câu hỏi: Những ràng buộc có nghi vấn trong hợp đồng mua bán điện với Trung Quốc và sự cố Hiệp Hòa liên quan tới việc sử dụng thiết bị Trung Quốc mới đây khiến dư luận đặt nghi ngờ về sự hiện diện quá lớn của Trung Quốc trong ngành điện Việt Nam. Phải lý giải điều này như thế nào, khi mà thiết bị Trung Quốc vốn bị coi là chất lượng kém, bãi rác công nghệ của thế giới? Liệu có thể đặt nghi vấn về lợi ích nhóm trong việc này?

Ông Đặng Đình Đào – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển khẳng định: Với tình trạng độc quyền như EVN hiện nay và thiếu minh bạch trong kinh doanh trên thị trường điện ở Việt Nam, trách nhiệm trong việc này trước hết là do chính cơ chế quản lý kiểu bộ chủ quản lâu nay không được thay đổi, tiếp đó là các cơ quan quản lý nhà nước trong ngành điện mà cụ thể là Bộ Công thương và cả EVN trong tổ chức và quản lý điện Việt Nam. Mấu chốt của vấn đề phải là nhanh chóng xóa bỏ tình trạng độc quyền của EVN, chấm dứt tình trạng một tay nắm cả mua bán, phân phối, điều độ…

Nhưng xem ra, những câu hỏi trên vẫn còn quá hiền lành trong bối cảnh quyền tự do báo chí vẫn trong “bước đi đầu tiên của thời kỳ đầu tiên của giai đoạn quá độ” ở Việt Nam.

Bởi trong tận cùng của bản chất, tán tận lương tâm quan chức và hậu quả của nó không thể không liên quan đến trách nhiệm của giới lãnh đạo chính phủ, những người đã im lặng hoặc “bật đèn xanh” cho EVN gây nên các chiến dịch tăng giá quốc nội và giảm giá quốc ngoại.

Sau ba năm kể từ lúc các chiến dịch “thủ ác” được kích phát dồn dập và bất chấp oán thán dân tình, kẻ tội đồ EVN đã có đủ thời gian chứng tỏ nó có năng lực gây ra tội ác ghê gớm đến thế nào, kể cả thành tích nối giáo ngoại xâm kinh tế.

Không chỉ bị lên án dữ dội bởi dư luận trong nước, khối u độc quyền doanh nghiệp quốc doanh ở Việt Nam còn bị nhiều chính phủ xã hội dân sự trên thế giới và các tổ chức quốc tế chỉ trích kịch liệt, bởi hiện trạng bệnh hoạn đó đi ngược lại với những cam kết về “xóa độc quyền và hoàn thiện nền kinh tế thị trường” mà Chính phủ Việt Nam đã hùng dũng cam kết trước cộng đồng quốc tế.

Hiện trạng bệnh hoạn trên lại không thể xa cách với bản thông điệp đầu năm 2014 của người đứng đầu chính phủ. Đã sáu tháng trôi qua, cam kết “xóa độc quyền” của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã không còn mang tăm hơi nào của một thứ quyết tâm sủi bọt.

P.C.D.

Tác giả gửi BVN

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Nhà báo Phạm Chí Dũng hội luận với giáo sư Carl Thayer và người Việt ở Úc

gày 14/6/2014, một cuộc hội luận về chủ đề TPP và Biển Đông đã được Đài SBTN Úc châu tổ chức. Tham gia cuộc hội luận này có giáo sư Carl Thayer của Học viện quốc phòng Úc, đại diện cộng đồng người Việt ở đất nước những chú chuột túi Kangaroo, và nhà báo Phạm Chí Dũng từ dân tộc đang phải hứng chịu tủi nhục bởi Trung Quốc.

Dưới đây là phần diễn đạt của nhà báo Phạm Chí Dũng trong tương tác với các vấn đề đặt ra từ người điều phối chương trình SBTN – luật sư Nguyễn Văn Thân – và các diễn giả khác.

– LS Nguyễn Văn Thân: Chúng tôi xin trân trọng đón chào TS Phạm Chí Dũng là một nhà báo tự do ở Việt Nam, và tuy câu hỏi đặt ra là thái độ của người Việt hải ngoại nên như thế nào đối với khuynh hướng thương thảo của nhà nước CHXHCN Việt Nam hiện nay về vấn đề TPP, tuy nhiên chúng tôi muốn được lắng nghe ý kiến của nhà báo Phạm Chí Dũng, là đối với anh thì các cộng đồng người Việt hải ngoại nên có thái độ như thế nào và vấn đề Việt Nam thương thảo để vào TPP gồm những phần nào ?

– TS Phạm Chí Dũng: Tôi nói với quý vị về cảm nhận của tôi là một người trong nước. Theo tôi, có thể là ngay trong năm nay, vào khoảng tháng 9, tháng 10 sẽ có những tín hiệu mới về vấn đề TPP, tức nhà nước Việt Nam có thể được tham gia vào TPP một cách đặc cách chứ không phải theo cách bình thường. Những vấn đề được đặt ra vào năm 2013 và lời hứa của ông Barack Obama – tổng thống Hoa kỳ – về khả năng sớm nhất để Việt Nam có thể tham gia vào TPP, theo tôi chỉ là một lời hứa không có thời hạn cụ thể, và năm 2013 đã kết thúc mà vẫn không có tín hiệu nào cho thấy Việt Nam có thể tham gia vào TPP.

Tới nay đã có 21- 22 vòng đàm phán. Vòng đàm phán vừa qua cũng chỉ giải quyết một số khúc mắc giữa Nhật Bản và Mỹ, trong khi đó Việt Nam được đặt ra như một tiêu điểm. Theo ông Trần Quốc Khánh, thứ trưởng Bộ Công Thương trong đoàn đàm phán phía Việt Nam, sau khi ở Mỹ về thì ông Khánh có nói là Việt Nam là một trường hợp khó khăn. Một khi Bộ Công thương là một thành phần thường trực của phái đoàn Việt Nam ở TTP mà đã nhận xét như vậy thì có lẽ Việt Nam là một trường hợp khó khăn nhất. Điều khó khăn nhất có lẽ là vấn đề mà như anh Paul Huy Nguyễn và Bác sỹ Nguyễn Mạnh Tiến vừa nói, đây chính là vấn đề dân chủ và nhân quyền. Ông Tom Malinowski trưởng phái đoàn đàm phán của Hoa kỳ trong đối thoại Việt Mỹ vừa rồi tại Washington đã nói nhân quyền là một ưu tiên đặc biệt, ưu tiên cao nhất trong quá trình làm việc giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Như vậy dân chủ nhân quyền là vấn đề luôn được ưu tiên trong đàm phán TPP.

Vấn đề thứ hai là như giáo sư Carl Thayer đã nói là vấn đề cải cách kinh tế. Hiện nay Việt Nam đang tái lập lại tiến trình cải cách khoảng 20.000-30.000 doanh nghiệp nhà nước, tức là phải tiến hành cổ phần hóa 20.000-30.000 doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên thế độc quyền của doanh nghiệp nhà nước thì cho đến nay vẫn chưa giải quyết được một chút nào. Muốn cải cách kinh tế thì trước hết phải cải cách từ độc quyền sang sự đa dạng về quyền năng trong các doanh nghiệp. Hiện Việt Nam đang có các doanh nghiệp độc quyền về các ngành điện, nước, xăng dầu, nhưng đến nay chưa có bất kỳ thay đổi nào. Vừa qua giá các mặt hàng này vẫn liên tục tăng, trở thành vấn nạn đối với dân chúng, kể cả những người làm cho nhà nước và cả những người trong lực lượng vũ trang. Một khi Việt Nam chưa thể đáp ứng được những điều kiện này thì rất khó cho Việt Nam, dù có được đặc cách để vào TPP thì khả năng đối ứng của cách doanh nghiệp Việt Nam đối với đối tác nước ngoài vẫn khó khăn.

– LS Nguyễn Văn Thân: Xin được hỏi TS Phạm Chí Dũng, thái độ Việt Nam sẽ như thế nào? Liệu Việt Nam sẽ tiếp tục đu dây giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ và những bước kế tiếp của nhà cầm quyền Việt Nam sẽ như thế nào? Như luật sư Lưu Tường Quang vừa nói, họ sẽ vẫn không nghiêng hẳn về phía Hoa Kỳ hay họ sẽ tìm cách để thoát Trung như nhiều người trong nước đã thảo luận về vấn đề này trong mấy ngày qua?

– TS Phạm Chí Dũng: Tôi cho là chính sách đu dây của Việt Nam giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đã xuất phát từ thời điểm tháng 5-2013 khi diễn ra cuộc gặp thượng đỉnh giữa ông Barack Obama và ông Tập Cận Bình, từ đó Việt Nam có chính sách đu dây, đi hàng hai giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Cũng từ thời điểm đó, ta thấy việc gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông giảm hẳn, nửa cuối năm 2013 hầu như không có sự gây hấn mạnh mẽ quyết liệt nào ở khu vực Biển Đông, và mối tình Việt Nam – Trung Quốc có thể nói khá là nồng ấm. Thời gian ấy, sau khi ông Trương Tấn Sang đến Bắc Kinh, báo chí Việt Nam có thể nói là tô hồng lắm, liên tục ra rả nói về 16 chữ vàng và người bạn 4 tốt như thế nào với Trung Quốc, ngược hẳn với tình hình hiện nay khi người ta không nói đến 16 chữ vàng nữa, không nói về 4 tốt nữa và các tờ báo đảng kiên định nhất như Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Công An Nhân Dân… im lặng, không nói một tý nào về 16 chữ vàng, thậm chí là ra rả phê phán Trung Quốc.

Thời điểm tháng 5-2014 cần được coi là chấm dứt một năm đu dây của Việt Nam giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Chúng tôi – những người bất đồng chính kiến, những người dân chủ – có nói chuyện và thảo luận với nhau thế này: rất cảm ơn Trung Quốc, rất cảm ơn giàn khoan HD 981 vì họ đã mang một món quà từ trên trời rơi xuống, làm cho cộng đồng người Việt Nam trong nước cũng như ngoài nước có thêm sự liên đới với nhau, lần đầu tiên có sự khơi dậy. Tôi kể cho quý vị một câu chuyện nhỏ thế này, cách đây hai tuần lễ lần đầu tiên chúng tôi có 16 hội đoàn dân sự độc lập đã tụ họp nhau tại chùa Liên Trì quận 2 ở Sài Gòn một cách thành công và không bị ngăn cản đáng kể. Các lực lượng an ninh lên đến hàng trăm người nhưng họ đứng vòng ngoài không can thiệp trực tiếp. Đây là một cuộc họp đầu tiên của xã hội dân sự tại Việt Nam mà không bị ngăn trở đáng kể, trong khi vào năm 2013 chuyện đó khó xảy ra, còn từ năm 2012 trở về trước chuyện này đã không thể xảy ra.

Vì vậy tôi cho rằng vấn đề TPP, vấn đề an ninh biển Đông là có gắn kết liên đới với nhau rất mật thiết, cùng với các vấn đề mà TPP đặt ra như dân chủ nhân quyền, vấn đề biểu tình, vấn đề lao động cho tới vấn đề mà GS Carl Thayer đặt ra là cải cách kinh tế, cho đến vấn đề vũ khí sát thương, kể cả vấn đề về chuyến đi được hứa hẹn của tổng thống Obama đến Việt Nam…, tất cả các vấn đề đều có tính liên đới với nhau. Tất cả các vấn đề ấy dường như làm cho nhà nước Việt Nam dịu đi một chút trong đối sách đối với giới dân chủ và bất đồng chính kiến.

Cũng là lần đầu tiên phái đoàn của Liên minh châu Âu tổ chức được một cuộc hội thảo với một số tổ chức dân sự độc lập tại Việt Nam, ngay tại Hà Nội mà không bị ngăn cấm. Chuyện đó trước đây chưa hề xảy ra, cho thấy một đối sách dường như kiềm chế của Hà Nội đối với giới dân chủ và bất đồng chính kiến. Có vẻ nhà nước Việt Nam đang trở lại giai đoạn cuối 2006, đầu 2007 khi Việt Nam gần được chấp thuận tham gia vào Tổ chức thương mại quốc tế WTO, cũng là giai đoạn huy hoàng của kinh tế Việt Nam, rồi sau đó Việt Nam cũng được dỡ bỏ khỏi Danh sách cần quan tâm đặc biệt về nhân quyền và tôn giáo (CPC) của Mỹ.

Như vậy hiện nay tình hình đang lặp lại, và nhà nước Việt Nam không chỉ là đu dây quốc tế, mà tôi cho đó là một sự đi dây kể cả với giới bất đồng chính kiến và dân chủ trong nước. Vừa qua luật sư Trần Vũ Hải ở Hà Nội có kể cho mọi người biết là có những vị khách cao cấp trong chính quyền đến đặt vấn đề với anh và có thể cả với một vài người khác nữa về khả năng tạo ra một nhóm độc lập về luật sư để có thể kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế. Đó cũng là những chuyện trước đây chưa hề xảy ra. Tại sao nhà nước lại có sự “hàm ơn” hay một thiện chí bất ngờ như vậy đối với những người bất đồng chính kiến mà trước đó họ vẫn chỉ lăm le muốn bắt? Tôi đặt ra vấn đề đó để cho thấy là đã có một sự chuyển đổi, và điều đó trả lời câu hỏi của LS Nguyễn Văn Thân là sắp tới nhà nước Việt Nam sẽ làm gì.

Tôi cho là sắp tới họ sẽ không thể đi dây giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ được nữa, vì sự kiện giàn khoan HD 981 đã là một dấu ấn, một thách thức không chỉ đối với Hoa Kỳ mà ngay trong vấn đề nội bộ của Việt Nam, tạo ra một xu thế làm cho những người có khuynh hướng gần gũi hơn với phương Tây và Hoa Kỳ phải quyết đoán, dứt khoát hơn. Có lẽ tôi không cần nói ra nhiều thì mọi người cũng đoán được đó là những ai. Trong thời gian vừa qua những người như ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, những người như ông bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh đã chịu lên tiếng một chút so với trước là không có một chút nào đối với Trung Quốc. Một khi xu hướng trong nội bộ ngả về phương Tây rõ hơn thì xu hướng thân Trung Quốc sẽ bị hạn chế phần nào đó, nhưng chỉ là hạn chế phần nào chứ không có nghĩa là biến mất, bởi một số vụ bạo loạn xảy ra ở Bình Dương như một số đồn đoán cho thấy là có sự lũng đoạn khá lớn của những lực lượng tình báo ở đâu đó mà người ta cho là Hoa Nam, cho là có bàn tay của Bắc Kinh đã đi sâu trong nội bộ Việt Nam.

Nhà nước Việt Nam sắp tới không chỉ phải đối phó về đối ngoại, không chỉ là về Biển Đông mà còn phải đối phó cả trên đất liền nữa. Tôi xin nhắc lại vấn đề một kịch bản mà GS Carl Thayer đặt ra trên đài BBC tiếng Việt, là nếu chiến tranh Việt Nam và Trung Quốc xảy ra thì thứ nhất sẽ xảy ra trong một thời gian ngắn, thứ hai là quy mô nhỏ nhưng mà nó sẽ diễn ra không chỉ trên Biển Đông mà còn trên đất liền. Tôi đồng ý quan điểm của GS Carl Thayer về điều đó. Khả năng mà Trung Quốc có thể gây chiến với chúng ta hiện nay dù ở quy mô nhỏ thì sẽ ở xung quanh khu vực Trường Sa và Hoàng Sa, và có thể diễn tại một mảng nhỏ ở biên giới phía Bắc mà có thể gây sát thương cho bộ đội Việt Nam.

Tôi xin tổng kết lại bằng một  nghiên cứu của tôi từ năm 2011 đến giờ là bất kỳ lần nào Việt Nam có động thái gần gũi với phương Tây và Hoa Kỳ thì lập tức là Trung Quốc gây hấn, và đã diễn ra từ 2011 đến nay ít nhất là 6 lần. Cứ mỗi lần có một chuyến đi hoặc có động tác chìa tay ra của phương Tây đối với Việt Nam và Việt Nam đối ứng lại thì lập tức trên biển Đông lại có chuyện. Đó là một quy luật mà tôi cho là đối với lịch sử Trung Hoa là quy luật vĩnh viễn, rất khó mà có thể thoát Trung trọn vẹn như là câu hỏi của anh Nguyễn Văn Thân đặt ra.

Cần thoát Trung như thế nào? Trước hết là vấn đề kinh tế, chúng ta nhập siêu quá nhiều từ 23-24 tỷ USD như đã phân tích. Thứ hai là về ảnh hưởng chính trị, và thứ ba – vấn đề lớn nhất – là thoát Trung về mặt văn hóa. Hiện nay tư tưởng thoát Trung mới chỉ nhấp nhá manh nha khởi động chứ chưa thật sự đóng góp cụ thể cho chiến lược thoát Trung của đất nước. Muốn thoát Trung, chúng ta phải có một ý thức hệ chính trị đủ mạnh, đủ độc lập. Với những ý thức hệ ngổn ngang như hiện nay, tôi không biết là có thể làm được điều gì.

Vấn đề còn lại là cộng đồng người Việt Nam ở Úc và các nước khác có thể làm gì để giúp cho chúng tôi – những người ở trong nước. Tôi nghe câu hỏi này khá nhiều lần, và chúng tôi xin nói rằng một sự ủng hộ tinh thần chia sẻ mà hôm nay chúng ta ngồi với nhau thế này đã là quý, là tốt, và chúng tôi cũng chưa biết là sẽ cần gì hơn nữa. Nhưng bất kỳ một chế độ chính trị nào ở Việt Nam, kể cả những chế độ sau chế độ này vẫn cần đến xã hội dân sự, và chúng ta đang góp một bàn tay xây dựng xã hội dân chủ và xã hội dân sự cho Việt Nam. Điều cần thiết là sự kết nối của các tổ chức dân sự trong nước với cộng đồng người Việt hải ngoại. Một trong những điều cần khắc phục lớn nhất của chúng ta là làm sao bỏ bớt tật xấu của người Việt đó là sự đố kỵ ganh ghét và nói xấu lẫn nhau.

P.C.D

Tác giả gửi BVN

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.