Daily Archives: June 7, 2014

Hội thảo làm thế nào để “Thoát Trung”?

Hội thảo làm thế nào để “Thoát Trung”?

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2014-06-07
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này
photo5-305.jpg

Các vị học giả và người dân tham dự Buổi hội thảo “Thoát Trung” hôm thứ năm ngày 5 tháng 6 tại 53 đường Nguyễn Du thành phố Hà Nội.

Courtesy Nguyễn Xuân Diện Blog

 

 

Buổi hội thảo “Thoát Trung” hôm thứ năm ngày 5 tháng 6 vừa qua do Quĩ Văn Hóa Phan Chu Trinh và Nhà Xuất Bản Trí Thức tổ chức, đã qui tụ một số đông học giả, trí thức và đặc biệt nhiều người trẻ đến với vấn đề làm thế nào để thoát ra khỏi tầm ảnh hưởng của Trung Quốc, đất nước đang gây khó khăn cho Việt Nam về nhiều mặt mà nhất là vụ hạ đặt giàn khoan HD 981 từ tháng trước.

Nhiều người hưởng ứng

Buổi hội thảo ngày 5 tháng 6 diễn ra tại 53 đường Nguyễn Du thành phố Hà Nội, được coi là diễn đàn của giáo sư Chu Hảo và Quĩ Văn Hóa Phan Chu Trinh.

Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng, nguyên đại sứ Việt Nam tại Hòa Lan, nguyên trưởng nhóm Tư Vấn Lãnh Đạo Bộ Ngoại Giao, nói rằng buổi hội thảo “Thoát Trung” này là một sự kiện đặc biệt:

“Sở dĩ nó đặc biệt vì ngày cả cái đề tài đã gây tranh luận, chưa bao giờ có chuyện là có người đứng cả dưới sân, chúng tôi đã phải chuyển từ tầng ba lên tầng bốn. Người đến rất đa dạng, những vị trí thức hàng đầu, đặc biệt lần này rất đông đảo các sinh viên học sinh. Sự hưởng ứng của mọi người nói lên cái bức xúc, cái khát vọng của mọi người Việt Nam muốn được có thông tin, muốn được biết thông tin trong những ngày nước sôi lửa bỏng này.

Tiến sĩ Giáp Văn Dương là diễn giả chính, giáo sư Trần Ngọc Vương, tiến sĩ Minh và tôi là người phản biện.”

Sự hưởng ứng của mọi người nói lên cái bức xúc, cái khát vọng của mọi người VN muốn được có thông tin, muốn được biết thông tin trong những ngày nước sôi lửa bỏng này.
-TS Đinh Hoàng Thắng

Thoát Trung, theo tiến sĩ Giáp Văn Dương, là một đề tài rộng lớn, sâu sắc, liên quan đến nhiều lãnh vực từ kinh tế, chính trị, xã hội, triết học, tư tưởng… mà nếu chỉ bàn có một buổi thì không thể nói hết được.

Nhìn vấn đề từ góc độ là thoát những ảnh hưởng tiêu cực từ Trung Quốc, diễn giả Giáp Văn Dương cho rằng thoát Trung ở đây không phải là bài Trung, càng không phải là chống Trung. Ông nói một đất nước như Việt Nam với lịch sử với tiền nhân như đã biết thì Việt Nam đã quá gắn bó với văn minh Trung Hoa, quá gắn bó với tư tưởng Trung Hoa mà trên thức tế nền văn minh đó có rất nhiều điều hay đẹp cần nghiên cứu cần học hỏi.

Còn cái mà Việt Nam cần thoát ra ở đây, cần bài ở đây, tiến sĩ Giáp Văn Dương khẳng định, chính là bài cái tư tưởng bành trướng, bá quyền, nước lớn của ban lãnh đạo đảng cộng sản Trung Quốc. Nói một cách khác, buổi hội thảo không bàn đến tình hữu nghị với nhân dân Trung Quốc, không bàn đến những giá trị tư tưởng hay giá trị văn minh của nền học thuật Trung Hoa.

Về quan điểm của diễn giả Giáp Văn Dương, tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng, nhận xét:

“Tiến sĩ Giáp Văn Dương là một PhD candidate còn rất trẻ, tôi cho rằng Giáp Văn Dương có một bước rất trưởng thành, bởi vì cách đây năm 2011 thì lúc bấy giờ anh đã nhấn mạnh những vấn đề cấp bách của nhu cầu phải thoát Trung. Từ 2011 đến giờ, nghĩa là sau 4 năm, với 3 tiên đề và 7 trụ cột mà anh nêu lên như là bảy biện pháp để thoát Trung thì tiến sĩ Giáp Văn Dương đã xây dựng được một luận án để thoát Trung. Tóm lại, kết luận của diễn giả chính là nêu lên được một luận án để thoát Trung.”

 

photo7-250.jpg
TS Phạm Gia Minh (trái) và Tiến sĩ Giáp Văn Dương tại Buổi hội thảo “Thoát Trung” hôm thứ năm ngày 5 tháng 6 ở Hà Nội. Courtesy Nguyễn Xuân Diện Blog.

 

Trong tư cách người phản biện, tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng khẳng định khát vọng thoát Trung và quyết tâm thoát Trung đặt ra lúc này là đúng lúc:

“Nhưng với bối cảnh hiện nay thì nó vẫn là một nhiệm vụ phải nói là đội đá vá trời. Tôi cho rằng những người đang thúc đẩy chuyện này chính là người đang đội đá vá trời. Bảy cái trụ cột mà tiến sĩ Giáp Văn Dương nêu ra thì hôm nay cũng đã có nhiều người nêu lên trong hội thảo, là chỉ cần một trong hai hay ba trụ cột trong đấy: kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, xã hội công dân… chưa chắc đã được nhà nước hoan nghênh. Ba cái trụ cột đấy nếu mà làm được thì Việt Nam có thể bước lên trên con đường phát triển, và ý của tiến sĩ Giáp Văn Dương là muốn thoát Trung thì phải phát triển, muốn thoát Trung là Việt Nam phải tiếp cận đến ngưỡng của các nước phát triển. Còn nếu chúng ta lạc hậu nghèo nàn nghèo đói thì mãi mãi thoát Trung chỉ là một giấc mơ.”

Sau khi trình bày ý nghĩa tiêu cực trong phần phản biện của mình, ông Đinh Hoàng Thắng chuyển sang mặt tích cực liên quan thời điểm mà Trung Quốc đặt giàn khoan HD 981:

“Ngay như chiều qua là Trung Quốc đe dọa sẽ đặt HD 982 hiện nay đang ở cảng Đại Liên mà sắp tới đây sẽ đặt tiếp. Thế thì tôi nói rằng động cơ nào đằng sau việc Trung Quốc đặt giàn khoan và tôi gợi một ý để có thể suy nghĩ tích cực về vấn đề thoát Trung. Đó là hãy xem trả lời phỏng vấn ở trên báo Tuổi Trẻ của Phùng đại tướng nói về cảng Cam Ranh, hãy xem những tin cũng trên báo chí lề phải khi nói về dự án Phú Quốc. Đây là những sự kiện riêng lẻ nhưng mà đối lại đây chính là hướng thoát Trung rất tích cực, rất thực tiễn.”

Có thể thay đổi?

Lên tiếng tại buổi hội thảo, giáo sư Trần Ngọc Vương, Đại Học Quốc Gia Hà Nội, nhấn mạnh rằng sự lệ thuộc, sự ràng buộc vào Trung Quốc không phải là định mệnh của dân tộc của cộng đồng Việt:

“Nghĩa là điều đó có thể thay đổi được, bằng chứng là trong các nước gọi là đồng văn truyền thống như Nhật Bản như Hàn Quốc thì người ta đã thoát khỏi cái sự ràng buộc ấy một cách ngoạn mục để trở thành những nước công nghiệp phát triển hoặc là những nước có trình độ kỹ thuật cũng như văn hóa rất cao. Cho nên chuyện bị lệ thuộc vào Trung Quốc quyết không phải là đinh mệnh của Việt Nam.

Thoát đầu tiên là thoát khỏi cái dã tâm của giới cầm quyền Trung Hoa chứ không phải tình hữu nghị hoặc là quan hệ giữa hai cộng đồng láng giềng, hai chuyện đó khác nhau.
-GS Trần Ngọc Vương

Đấy là ý thứ nhất. Ý thứ hai, thoát Trung là thoát cái gì? Văn minh Trung Quốc là một nền văn minh có sức sống dẻo dai nhất trong lịch sử nhân loại cùng với nền văn minh Ấn Độ, có những thành tựu rất là kỳ vĩ. Chúng ta cũng không đặt vấn đề thoát khỏi cái đó, không quay lưng lại với nó. Đây không phải là bài Trung nhưng cái cần thoát ra thì đầu tiên tôi khẳng định thoát ra khỏi cái dã tâm của giới cầm quyền Trung Quốc trong toàn bộ lịch sử. Cái xứ sở ngày nay là Việt Nam, cho đến tận ngày nay chưa bao giờ giới cầm quyền trên đất Trung Hoa, kể cả giới cầm quyền cộng sản, muốn có bên cạnh mình một quốc gia phát triển bình đẳng ngang tầm chứ chưa nói là vượt trội với Trung Quốc.

Tôi cho rằng cái thoát đầu tiên là thoát khỏi cái dã tâm của giới cầm quyền Trung Hoa chứ không phải tình hữu nghị hoặc là quan hệ giữa hai cộng đồng láng giềng, hai chuyện đó khác nhau.”

Mỗi một người Việt Nam, giáo sư Trần Ngọc Vương cả quyết, phải chống chọi lại âm mưu đồng hóa của giới cầm quyền Trung Quốc.

“Cho nên ý thứ ba mà tôi nói đến thoát Trung là thoát khỏi cái chất Trung Hoa ở trong mỗi người Việt Nam, thí dụ cái tâm lý “Nam Nhân Bắc Hướng”, ở phương Nam nhưng bị tuyên truyền rằng cội nguồn của anh giá trị của anh ở phương Bắc.”

Với câu hỏi liệu điều ông đang trình bày có dễ thay đổi không, giáo sư Trần Ngọc Vương phân tích rằng tất cả nằm trong ý chí khẳng định cái nguồn gốc thực sự của mình:

“Những thiết kế tư tưởng, những thiết kế quyền lực trong đó có những cái hướng theo Trung Hoa nhiều quá thì đánh mất bản tính và điều kiện kiến tạo nhân dạng hay căn cước của mình.

Tham dự buổi hội thảo thoát Trung do Quĩ Văn Hoa Phân Chu Trinh và Nhà Xuất Bản Trí Thức tổ chức, tiến sĩ Nguyễn Quang A thuộc nhóm chủ trương Diễn Đàn Các Xã Hội Dân Sự, phát biểu ông tâm đắc với việc làm của hai tổ chức xã hội dân sự này:

“Có nhiều ý kiến khác nhau nhưng điểm mấu chốt có cùng với nhau là không một cách nào khác để thoát khỏi ảnh hưởng tiêu cực của Trung Quốc từ xa xưa cho đến bây giờ bằng cách phải tự thoát được khỏi sự suy nghĩ của chính mình.”

Điều quan trọng nhất rút ra được từ buổi hội thảo này, tiến sĩ Nguyển Quang A kết luận, một chính thể dân chủ và đa nguyên thì mới mong thoát được tầm ảnh hưởng xấu của Trung Quốc.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Thật hay dối

Thật hay dối

Nguyễn Trọng Vĩnh

Đọc những lời gan ruột của tác giả bài viết dưới đây,có lẽ một số người sẽ sốc và buồn.Mới đây thôi, sau những phát biểu hùng hồn của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đã có kha khá cây bút hớn hở tung hô.Mà không tung hô sao được – những lời lẽ của Thủ tướng đã nói thay triệu triệu con dân nước Việt đang sôi sục căm phẫn bè lũ bành trướng Đại Hán tiếp tục cướp đất cướp biển của ta. Ấy thế nhưng hình như ngôn hành chưa tương hợp nên đã hơn một tháng qua triệu triệu con tim lại vẫn đang nín thở chờ đợi một hành độngcụ thể nào đó từ đấng cao minh đặng tìm ra lối thoát cho hiện tình đất nước. Và “trong khi chờ Gôđô” (En atttendant Godot), vị lão thành cách mạng Nguyễn Trọng Vĩnh đã đưa ra mấy câu hỏi thật khó trả lời.

Bauxite Việt Nam

Trong nhiệm kỳ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ông đã để cho tham nhũng phát triển tràn lan, thất thoát hàng nghìn tỷ của Nhà nước từ những tập đoàn kinh tế quốc doanh do ông trực tiếp quản lý, đã để cho bán rừng, bán bãi biển, cho thuê dài hạn các địa bàn xung yếu về quốc phòng như các cảng Vũng Áng, Cửa Việt, để cho nợ xấu ngân hàng quá lớn. Ông đã vay nợ chồng chất, “chắt, chút” chúng ta phải trả đến bao giờ cho hết. Ông đã cưỡng chế, đàn áp nông dân, thu hồi đất cho những tư bản địa ốc, đã bắt bớ đàn áp những người bất đồng chính kiến, yêu cầu dân quyền, dân chủ. Ông tăng đủ thứ giá: xăng, dầu, điện, nước, viện phí, học phí… gây ra tình trạng xã hội người nghèo thì lầm than, kẻ giàu bất chính thì phè phỡn, và còn nhiều vấn đề nữa.

Có thể nói trong nhiệm kỳ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: kinh tế suy thoái, xã hội xuống cấp, văn hóa đạo đức suy đồi, đất nước tụt hậu rất xa, không khí xã hội ngột ngạt.

Thế mà, khi Trung Quốc đưa giàn khoan vào lấn chiếm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của chúng ta, trong khi dự Hội nghị VEF ở Philippines, ông Dũng đã nói được câu: “Cả dân tộc Việt Nam phản đối việc làm sai trái này của Trung Quốc… chúng tôi kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của mình…”. Trả lời phỏng vấn của các nhà báo, Thủ tướng phát biểu được một câu khá hay: “Chúng tôi mong muốn có hòa bình, hữu nghị, nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ vùng biển và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ thứ hòa bình hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó”.

Câu phát biểu này của ông Dũng làm tôi ngạc nhiên, tự hỏi mình mà cũng là hỏi ông Dũng:Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thức tỉnh tinh thần dân tộc rồi ư? Lòng yêu nước trong ông đã trỗi dậy rồi ư? Nếu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thật quyết tâm chống xâm lược, ly khai khỏi chủ nghĩa Đại Hán thì nhân dân và tôi sẽ bỏ qua những sai trái trước đây, hợp tác với Thủ tướng (Thủ tướng cũng gắn bó với dân) để bảo vệ độc lập chủ quyền của Tổ quốc, phát huy ý chí tự chủ, tự cường.

Hay là những lời nói trên đây của Thủ tướng Dũng chỉ là mỵ dân và nhằm thu hút phiếu bầu trong Đại hội 12 sắp tới, sau khi có vị thế rồi, lại quay lưng, thực hiện độc tài, nhiều tăng, nhiều cấm, lại đàn áp?

Nếu những lời nói trên là thật lòng thì Thủ tướng hãy thực hiện dân chủ, hãy trả tự do cho những tù nhân lương tâm, tập hợp mọi chính kiến, mọi tầng lớp, cá nhân yêu nước thành một khối đại đoàn kết dân tộc để chống xâm lược, bảo vệ chủ quyền đất nước, Thủ tướng phải vượt quyền Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng quá thân Trung Quốc và luôn mê mẩn tôn sùng“16 chữ và 4 tốt”, kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế.

Các luật sư quốc tế cũng như trong nước đã phân tích ưu thế của Việt Nam về chính nghĩa, về các chứng cứ lịch sử và pháp lý và đây là thời cơ thuận lợi, dư luận thế giới ủng hộ ta. Dù Trung Quốc sợ không tham dự và tuyên bố không thi hành phán quyết của Tòa án, chúng ta vẫn thu được thắng lợi chính trị. Thủ tướng phải tăng cường lực lượng quốc phòng đồng thời phải kết thân với Mỹ, Ấn, Nhật mặc dù chúng ta không chủ trương đối đầu quân sự với Trung Quốc./.

 

N. T. V.

Tác giả gửi cho BVN.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Thảo luận về giải pháp lấy lại Hoàng Sa liên quan đến Công hàm Phạm Văn Đồng

Thảo luận về giải pháp lấy lại Hoàng Sa liên quan đến Công hàm Phạm Văn Đồng

Sau khi Bauxite Việt Nam đăng bài Xóa bỏ tai họa công thư Phạm Văn Đồng 1958 của nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai, chúng tôi nhận được bài của anh Hà Sĩ Phu bàn về cách thoát khỏi sự ràng buộc của Công hàm này, và thư của anh Dương Danh Huy nhắc lại một bài anh đã công bố liên quan đến Công hàm Phạm Văn Đồng. Nhận thấy cả hai bài đều có ích cho nhận thức của chúng ta, Bauxite Việt Nam xin đăng để rộng đường dư luận.

Bauxite Việt Nam

Bàn về hai cách thoát khỏi Công hàm 1958

Hà Sĩ Phu

Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai đã “đóng đanh” bức Công hàm Phạm Văn Đồng 1958 bằng những chứng cứ trên giấy trắng mực đen như sau:

– Thực chất của công hàm đó là “công khai tuyên bố thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, là “rất tai hại, rất phản động”, “là một tai họa cho Việt Nam”, là “có tác hại phản quốc phải hủy bỏ”.

– Đó là một CÔNG HÀM cấp nhà nước (hình bên), giữa hai đại diện cao nhất của hai chính phủ, vì thế không thể tùy tiện hạ thấp tầm quan trọng của công hàm này thành một “công thư”,coi văn bản này “không có giá trị, vì anh không thể đem cho cái không phải quyền của anh”. Tác giả cho thấy cách lập luận nhằm hủy bỏ tầm quan trọng của một Công hàm như vậy là “hời hợt”, chỉ là “cãi chày cãi cối”, là “vô trách nhiệm”!

– Vì vậy. để hủy bỏ được công hàm tai hại ấy, tác giả thấy phải đưa ra một giải pháp khác là “Quốc Hội mới của CHXHCN VN phải phủ quyết cái công thư phản động ấy”.

Đấy là những kết luận dứt khoát dựa trên những chứng cứ không thể chối cãi. Nhưng một khi đã công nhận những kết luận ấy không thể không tiếp tục đặt ra những câu hỏi khác và bàn thêm về hai cách giải thoát khỏi Công hàm 1958 ấy cho thật cặn kẽ.

1/ Một Công hàm đã bán chủ quyền, đã “phản động, phản quốc” như vậy thì tác giả của Công hàm ấy, cá nhân cũng như tập thể, cần được phán xét ra sao, chịu trách nhiệm thế nào với hậu thế, với sự tồn vong của đất nước? Bài học rút ra là gì?

2/ Thoát khỏi Công hàm 1958 bằng cách nào?

Mọi người đều thấy Công hàm 1958 là sự ràng buộc nguy hiểm nên đều thấy phải tìm cách thoát khỏi Công hàm đó. Nhưng tùy thuộc mục đích ưu tiên bảo vệ đất nước hay ưu tiên bảo vệ chế độ mà phát sinh hai kiểu thoát hiểm.

– Muốn bảo vệ cái nền móng, bảo vệ thể chế, sợ dứt dây động rừng thì lái cho thiên hạ quên đi tầm quan trọng của Công hàm đó, hạ thấp tính chính thống và tính pháp lý của Công hàm, coi Công hàm là thứ chẳng đáng quan tâm. Song ngụy biện kiểu này chỉ để tự che mắt mình và che mắt dân, chứ không thể cãi được với kẻ xâm lược tinh quái đã “nắm đằng chuôi”, và cũng không thuyết phục được công lý quốc tế khách quan. Thật vậy, ai có thể tưởng tượng một Thủ tướng lại dễ dãi đến mức quyết định “cho” nước láng giềng một phần lãnh thổ của Tổ quốc chỉ vì nghĩ rằng phần lãnh thổ ấy đang thuộc phần quản lý của đồng bào mình ở miền Nam thì cứ việc “cho” cũng chẳng hại gì? Trong khi vị Thủ tướng này luôn nhắc lời Chủ tịch Hồ Chí Minh, người chịu trách nhiệm cao nhất bấy giờ, rằng “Tổ quốc Việt Nam là một,… chân lý ấy không bao giờ thay đổi” kia mà? Thêm nữa, đã tâm niệm “Tổ quốc Việt Nam là một” thì khi Trung Quốc chiếm mất Hoàng Sa năm 1974 phải hiểu là một phần Tổ quốc của mình bị xâm lược (dù đồng bào nửa nước bên kia đang quản lý), sao không có một lời phản đối bọn xâm lược. lại phấn khởi vui mừng vì một vùng biển đảo của Tổ quốc đã vào tay nước bạn để nước bạn giữ cho? Thật tiếu lâm, khôi hài đến chảy nước mắt.

– Tóm lại là cố gắng vô hiệu Công hàm 1958 kiểu này không có giá trị thực tế gì, rất dễ bị đối phương bẻ gãy. Nếu kiện ra Liên Hiệp Quốc, chỉ một Công hàm Phạm Văn Đồng đủ làm cho Việt Nam đuối lý (chưa cần đến những hiệp ước nhượng bộ, đầu hàng về sau mà Trung Quốc đã thủ sẵn trong tay). Khi Trung Quốc đã chốt được tính pháp lý chính danh của Công hàm 1958 thì mặc nhiên đã vô hiệu được tất cả những chứng cứ lịch sử trước 1958 và cả những tranh cãi sau 1958 đến nay. Chính phủ Việt Nam cũng biết vậy nên cứ trì hoãn không dám kiện Trung Quốc, viện lý do rất “đạo đức” là sợ làm đổ mất “bát nước đầy” (cái bát nước hữu nghị mà phía Trung Quốc đã phóng uế vào!). Kiểu chống đỡ lúng túng này chỉ bởi vì ưu tiên bảo vệ chế độ, bắt Tổ quốc phải hy sinh cho chế độ.

– Vậy phải thoát khỏi Công hàm 1958 bằng cách khác, “bằng một tuyên bố công khai có giá trị pháp lý cao hơn” ví dụ “Quốc hội mới của CHXHCN VN phải phủ quyết cái công thư phản động ấy” như bác Nguyễn Khắc Mai đề xuất. Giải pháp này có hiệu quả đến đâu? Vấn đề là một chính phủ với tư cách hậu duệ kế tục của chính phủ Phạm Văn Đồng – Hồ Chí Minh thì đương nhiên có trách nhiệm thi hành những tuyên bố của chính phủ hợp pháp trước đây đã ký, Trung Quốc có quyền đòi hỏi theo luật như vậy, điều Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký thì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có trách nhiệm thực hiện, một khi ông Thủ tướng sau đã nguyện kế tục sự nghiệp của ông Thủ tướng trước. Chỉ còn một cách: Muốn khước từ thi hành Công hàm Phạm Văn Đồng 1958 buộc Chính quyền Việt Nam hiện nay phải nhân danh nhân dân Việt Nam tuyên bố khước từ và tẩy chay những sai lầm “phản động, phản quốc” của chế độ cũ, lập chế độ mới. Liệu cái Quốc hội Cộng sản hiện nay có dám cắt đứt cái mạch máu huyết thống này để kiến tạo một quyết định thoát Cựu, thoát Trung, ích nước lợi nhà như vậy không?

Khó khăn cốt lõi vẫn ở chỗ: Muốn thoát Hán, mà bước một là thoát khỏi Công hàm phản quốc 1958, chỉ có cách phải giải Cộng, thoát Cộng!

3/ Thoát Cộng được lợi những gì?

Trong thực tiễn Việt Nam hiện nay nói thoát Cựuthoát Cộng hay “vượt qua chính mình” thực ra cùng một nghĩa, tuy “vượt qua chính mình” là cách nói dễ nghe hơn, nhưng tôi xin được dùng chữ thoát Cộngvì đúng thực chất nhất.

Nếu giữ chủ nghĩa Cộng sản thì phải gánh chịu những tai hại gì?

– Toàn bộ kế hoạch “đô hộ Việt Nam kiểu mới” mấy chục năm nay của Trung Cộng được thiết kế trên hai chữ Cộng sản, giữ cái nền Cộng sản là giúp cho mưu đồ Hán hóa có một ưu thế ở tầm chiến lược.

– Giữ Cộng sản thì Việt Nam bị ràng buộc bởi quá khứ đầy nợ nần và lầm lỡ, khó thoát ra, chẳng hạn như công hàm 1958, cam kết Thành Đô, các ký kết thời Lê Khả Phiêu, thời Nông Đức Mạnh, thời Nguyễn Phú Trọng…

– Còn giữ Cộng sản thì quan hệ ràng buộc Trung-Việt như quan hệ giữa “thú dữ và con mồi” cứ thít chặt lại, trong khi các khối đoàn kết để kháng cự thì bị lỏng ra, ví dụ giới lãnh đạo thì bị chia thành phái thân Tàu và nhóm lợi ích, lãnh đạo thì ngày càng đối lập với dân, quốc nội với hải ngoại vẫn còn cách biệt, các liên kết Việt Mỹ, Việt Âu, Việt ASEAN… đều bị yếu tố Cộng sản hạn chế một phần, không thể thanh thoát… Như thế lấy đâu ra sức mạnh?

Trái lại, chỉ cần thoát Cộng thì tất cả những trở ngại trên sẽ được giải tỏa, đặc biệt là toàn bộ dân Việt khắp nơi khắp chốn tự nhiên sẽ ôm lấy nhau mà reo hò, không cần bất cứ một nghị quyết “hòa hợp hòa giải” nào hết, niềm mơ ước một hội nghị Diên Hồng từ đó mới có cơ sở để mở ra, nếu không thì Diên Hồng mãi mãi chỉ là một lời hô hào suông, không có thực chất.

4/ Thoát Cộng dễ hay khó?

– Sẽ quá khó, quá gay go, nếu Đảng Cộng sản cứ ôm lấy vinh quang quá khứ và lợi quyền hiện tại khiến cho Đảng ngày càng xa dân, đối lập với dân, mỗi động tác dân chủ hóa, dẫu còn ở mức độ “cải lương” thôi cũng đã là một cuộc cọ xát nảy lửa, đã xảy ra bắt bớ cầm tù, nói gì đến sự đổi mới thể chế, đổi mới hệ thống?

– Nhưng không, sẽ vô cùng dễ dàng nếu Đảng biết “tự vượt qua mình”, lấy lợi ích dân tộc trên hết mà vượt trên quá khứ, chuyển sang nền dân chủ đa nguyên như các nước tiên tiến thì Đảng có mất chỉ mất cái danh hão mà được tất cả. Chẳng những không ai chỉ trích quá khứ nữa làm gì, mà các vị cầm quyền còn được nhân dân yêu quý và biết ơn thật sự, không còn tình trạng “thấy mặt là tắt tivi” như bấy lâu nay. Về tinh thần đã thanh thỏa như vậy, về vật chất cũng cơ bản được đảm bảo; có phải nhân dân đã từng bắn tiếng rằng nếu người lãnh đạo biết đổi mới để cứu nước, thoát Hán thì dân sẵn sàng độ lượng cho tận hưởng bổng lộc đấy thôi? Triển vọng xán lạn ấy có thể lắm chứ, sao lại không?

Quả bóng cứu dân cứu nước hiện đang trong chân người cầm quyền, dân rất mong mỏi những người cầm quyền biết xử lý thông minh, khôn ngoan, ích nước lợi nhà. Chỉ trừ trường hợp chẳng may, đợi mãi, vô vọng (chẳng hạn như tiền đạo họ Phùng cứ sút mãi bóng vào lưới nhà) thì tất nhiên dân phải đứng dậy giành quả bóng về chân mình mà xử lý theo đúng ý nguyện của dân, để “nâng thuyền hay lật thuyền” như quy luật của muôn đời mà Nguyễn Trãi đã diễn tả bằng một hình ảnh lưu danh bất hủ…

H.S.P. (2-6-2014)

Tác giả gửi BVN.

 ***

Lấy lại Hoàng Sa: Những điều bất khả thi

Dương Danh Huy, nhà nghiên cứu về Biển Đông

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Tình hình Biển Đông hôm nay 7/6:Trung Quốc xây đảo nhân tạo tại Trường Sa

Tình hình Biển Đông hôm nay 7/6:Trung

Quốc xây đảo nhân tạo tại Trường Sa

Sự kiện: Tình hình Biển Đông

(VietQ.vn) – Tình hình Biển Đông hôm nay 7/6, Trung Quốc đang xem xét việc xây dựng một hòn đảo nhân tạo tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam, chứng tỏ sự thay đổi của Bắc Kinh từ phòng thủ sang tấn công.
Tin tức liên quan:

Tình hình Biển Đông hôm nay 7/6:Trung Quốc xây đảo nhân tạo tại Trường Sa

Trung Quốc đang xem xét việc mở rộng cơ sở lớn nhất của mình tại Bãi Chữ Thập thành một hòn đảo nhân tạo, với cả đường băng và hải cảng, để thúc đẩy mạnh mẽ sức mạnh quân sự ở Biển Đông, một học giả và một chuyên gia hải quân Trung Quốc cho hay.

Bãi Chữ Thập (tên tiếng Anh là Fiery Cross Reef), thuộc quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam), bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép kể từ năm 1988.Theo giới phân tích, kế hoạch mở rộng Bãi Chữ Thập, nếu được phê chuẩn, sẽ là một dấu hiệu nữa cho thấy sự thay đổi về chiến lược của Trung Quốc nhằm giải quyết các tranh chấp chủ quyền kéo dài từ vị thế phòng thủ sang tấn công. Đây cũng được xem là một bước đi tiến tới việc thiết lập vùng nhận dạng phòng không ở Biển Đông.

UNESCO bày tỏ quan ngại về tình hình biển Đông

Trong bối cảnh các diễn biến gần đây ở Biển Đông đang thu hút sự chú ý của thế giới đối với Trung Quốc, các nhà phân tích đã cảnh báo rằng việc cải tạo Bãi Chữ Thập có thể làm gia tăng căng thẳng trong quan hệ giữa Bắc Kinh và các quốc gia láng giềng.

Tuyên bố của UNESCO nêu rõ: “Cùng với Tổng thư ký Liên hợp quốc, UNESCO bày tỏ quan ngại trước sự gia tăng căng thẳng trong khu vực và đề nghị các bên liên quan hết sức kiềm chế, giải quyết tranh chấp một cách hòa bình thông qua đối thoại và tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có Hiến chương Liên hợp quốc”.

Cùng ngày, OIF (Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ) cũng bày tỏ quan ngại sâu sắc về tình hình căng thẳng tại Biển Đông, kêu gọi các bên liên quan kiềm chế và giải quyết các vấn đề liên quan đến chủ quyền bằng con đường hòa bình, trên cơ sở tuân thủ chặt chẽ luật pháp quốc tế.

Tình hình Biển Đông : “Không thể giải quyết song phương được nữa”

Trong cuộc trao đổi của phóng viên báo Đời sống pháp luật với PGS, TS Nguyễn Bá Diến – Chủ tịch Hội đồng Viện Nghiên cứu Khoa học biển và Hải đảo, Chủ nhiệm Bộ môn Luật Quốc tế (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội), Giám đốc Trung tâm Luật biển và Hàng hải Quốc tế nhận định: “Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan trên vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam lần này thì theo tôi không thể giải quyết song phương được nữa”

tình hình Biển Đông mới nhất:Trung Quốc xây đảo nhân tạo tại Trường Sa

PGS, TS Nguyễn Bá Diến

– Là một người nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực luật quốc tế, luật biển và luật hàng hải, quan điểm của ông như thế nào về phương án Việt Nam khởi kiện Trung Quốc để giải quyết tranh chấp chủ quyền?

– Như chúng ta đã biết, trong các phát biểu của mình, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhấn mạnh: Việt Nam đang cân nhắc các phương án để bảo vệ mình, kể cả phương án đấu tranh pháp lý, theo luật pháp quốc tế.

– Vậy theo ông, đã đến thời điểm thích hợp để Việt Nam tiến hành khởi kiện Trung Quốc chưa?

– Quyết định khởi kiện và thời điểm khởi kiện Trung Quốc phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tình hình chính trị, kinh tế, quân sự trong nước, quan hệ ngoại giao, tình hình bối cảnh quốc tế, thái độ của Trung Quốc, việc chuẩn bị hồ sơ, nhân lực kiện…Căn cứ vào những hành động gây hấn của Trung Quốc trong thời gian qua, căn cứ vào những dã tâm của họ trong bao nhiêu năm qua thì vào thời điểm này, Việt Nam hoàn toàn có thể khởi kiện Trung Quốc.

Chúng ta vẫn kiên trì chủ trương giải quyết song phương các vấn đề với Trung Quốc. Nhưng có lẽ chỉ nên song phương trong các vấn đề về kinh tế, thương mại… Riêng với vấn đề chủ quyền biển đảo, Hoàng Sa, Trường Sa, giải quyết tranh chấp Biển Đông, trường hợp cụ thể là vụ Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan trên vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam lần này thì theo tôi không thể giải quyết song phương được nữa.

– Nếu Việt Nam kiện Trung Quốc ra Tòa án quốc tế, chúng ta sẽ kiện để buộc Trung Quốc rút giàn khoan trái phép ra khỏi vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam hiện nay hay đòi lại quần đảo Hoàng Sa?

– Thực ra, như chúng ta đều nhận thấy, việc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 nằm trong âm mưu rất sâu và rất xa của Trung Quốc. Không chỉ xâm phạm vùng biển thuộc thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam mà Trung Quốc còn đang thực hiện âm mưu “hợp pháp hóa” việc họ chiếm đóng trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Bởi vậy, lần này, nếu chúng ta buộc họ rút giàn khoan ra khỏi vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam thì chúng ta làm được 2 việc: một là ngăn chặn họ thò bàn chân vào rất sâu thềm lục địa của chúng ta và xa hơn nữa là chúng ta từng bước ngăn chặn tham vọng mà lâu nay họ đang thực hiện, phá tan việc Trung Quốc đang cố hiện thực hóa “đường lưỡi bò” nuốt toàn bộ Biển Đông.

Vân Anh (Tổng hợp Dân trí, Đspl, Baomoi)

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Việt Nam cần gấp một cuộc cách mạng giáo dục toàn diện

Việt Nam cần gấp một cuộc cách mạng giáo dục toàn diện

Gia Minh, PGĐ Ban Việt Ngữ RFA
2014-06-06
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này
Hoc-sinh-tan-truong-1-3058.jpg

Học sinh trường trung học Trần Phú – Hoàn Kiếm ở Hà Nội, ảnh chụp hôm 15/09/2011.

RFA PHOTO

 

 

Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn giảng dạy tại Đại học Bách Khoa Grenoble của Pháp vào ngày 10 tháng 5 vừa qua tham dự Bàn tròn về Giáo dục chủ đề ‘Những nguyên lý căn bản về giáo dục Việt Nam’ do Hội Khoa học và Chuyên gia Việt Nam tổ chức.

Sau khi tham dự hội thảo về giáo sư dành cho biên tập viên Gia Minh của Đài Á Châu cuộc nói chuyện về các vấn đề liên quan giáo dục Việt Nam.

Triết lý giáo dục Pháp – Việt

Gia Minh: Giáo sư vừa tham dự Bàn tròn về giáo dục ở Paris với chủ đề: những nguyên lý căn bản của giáo dục Việt Nam. Giáo sư cũng đã giảng dạy hàng chục năm ở Việt Nam và ở Pháp, vậy Giáo sư có thể trình bày triết lý giáo dục của hai nước không?

GS Nguyễn Khắc Nhẫn: Vâng, tôi được hân hạnh tham dự *Bàn tròn về giáo dục do AVSE tổ chức tại Paris ngày 10/5/2014.

Cho phép tôi, do sự ảnh hưởng của văn hóa Pháp tại Việt Nam và sự tương đồng của hai nền giáo dục, được bắt đầu bằng việc nhắc lại triết lý của giáo dục Pháp.

Mỗi hệ thống giáo dục là kết quả của một nền văn hóa và lịch sử nên không thể đem ra so sánh một cách hời hợt.

Triết lý giáo dục Pháp:

Có thể nói rằng những nguyên lý giáo dục của Pháp bắt nguồn từ cuộc cách mạng 1789. Từ đó nhiều luật lệ đã được ban hành.

Các giá trị về nền cộng hòa trong trường học được phổ biến qua các khái niệm sau đây:

Tự do “liberté” (về tư tưởng, phát biểu và di chuyển).

Bình đẳng “égalité” (cùng có quyền như nhau về dân sự, kinh tế và xã hội: học tập, công việc, sức khỏe).

Bác ái “fraternité” (đối với những người cùng xứ sở và với loài người nói chung ở phạm vi toàn cầu).

Theo Hiến pháp ngày 27/10/1946, nhà nước đảm bảo quyền bình đẳng của trẻ em và người lớn về học tập, đào tạo nghể và văn hóa. Việc tổ chức hệ thống giáo dục công cộng miễn phí và phi tôn giáo ở mọi cấp độ là trách nhiệm của nhà nước.

Tính phi tôn giáo (laïcité) có nghĩa rằng nhà trường phải được bảo vệ chống áp lực của các tổ chức tôn giáo, chính trị hay kinh tế. Có tính bắt buộc và phục vụ tất cả mọi người, nhà trường không thể trở thành con tin của một chính phủ hay một đảng phái chính trị nào, của nhà thờ hay các quyền lợi thương mãi.

Chương trình của các trường cấp 1, cấp 2 và cấp 3 có tính quốc gia, cũng như bằng cấp được phát ra. Trường học của nền cộng hòa phải dân chủ và bình đẳng.

Điều luật định hướng năm 2013 tái khẳng định cam kết của nhà nước trong việc cung cấp cho trẻ em, trong suốt giai đoạn giáo dục bắt buộc (15 tuổi) một trình độ văn hóa cao, do sự thu thập được một khối  kiến thức cơ bản chung.

Tính hỗn hợp (mixité) và bình đẳng giữa nam và nữ được khuyến khích.

Theo luật giáo dục, các trường ở mọi cấp với nhiệm vụ chuyển tải và giúp đỡ việc tiếp nhận các phương pháp làm việc và kiến thức, phải nhấn mạnh trách nhiệm dân sự và sự tôn trọng quyền công dân.

Ba nhiệm vụ chính của trường học là: dạy dỗ, giáo dục và đào tạo.

Dạy dỗ chính là truyền đạt những kiến thức mang tính khách quan và duy lý để giúp học sinh hiểu được xã hội và thế giới. Mục tiêu của dạy dỗ là nhằm tạo ra một con người có khả năng tự suy nghĩ và tự hành động. Chỉ có văn hóa mới có thể cung cấp những hình mẫu cần thiết cho sự phát triển của học sinh.

Nhà trường quy tụ những mối liên hệ quý báu giữa các thế hệ, thông qua kiến thức, kinh nghiệm và giá trị từ những người đi trước. Quá trình truyền đạt sự hiểu biết đó đảm bảo sự tiến bộ của xã hội, đồng thời đóng góp vào sự khai phóng của thế hệ trẻ.

Giáo dục trẻ em chính là chuẩn bị để cho trẻ em sống trong xã hội. Jean-Jacques Rousseau nói rằng chúng là động vật duy nhất có thể giáo dục được. Việc nuôi dạy trẻ em, tất nhiên, là trách nhiệm của cha mẹ, nhưng nhà trường cũng có nhiệm vụ tiếp tục và hoàn thiện nó.

Nhiệm vụ của giáo dục là xã hội hóa trẻ em, đưa các em hòa nhập vào văn hóa thế giới với những chuẩn mực và giá trị của nó.

Giáo dục trẻ em là phát triển khả năng của chúng về mặt trí tuệ, khoa học, nghệ thuật và thể chất. Khi trưởng thành, các em sẽ là những con người độc lập, tự chủ và có trách nhiệm đạo đức. Nhờ những kĩ năng học được từ nhà trường, các em sẽ có thể hòa nhập vào đời sống kinh tế và xã hội bằng cách hướng đến các nghề nghiệp mà mỗi em đã tự lựa chọn.

“Khi sinh ra, chúng ta còn yếu, chúng ta cần sức mạnh, chúng ta thiếu tất cả, chúng ta cần sự hỗ trợ, chúng ta thiếu sự hiểu biết, chúng ta cần sự suy xét. Tất cả những gì mà chúng ta không có lúc sinh ra mà chúng ta lại cần là rất lớn là được giáo dục mang đến.” (Jean -Jacques Rousseau).

Đào tạo một công dân có khả năng thực hiện những lựa chọn sáng suốt về chính trị là bổn phận của nhà trường. Nhà trường nên lưu ý học sinh cần quan tâm đến các môn địa lý, lịch sử, khuyến khích học sinh tham gia vào các cuộc tranh luận về văn hóa, khoa học hay chính trị với sự tò mò hiểu biết để sẵn sàng đảm nhận những trách nhiệm một cách nghiêm chỉnh.

Làm chủ các hành động và suy nghĩ của mình, sinh viên sẽ là một con người tự do. Sự tự chủ của mỗi cá nhân đi đôi với một đầu óc sáng suốt.

Sinh viên phải có tinh thần phê phán, độc lập, hành xử có trách nhiệm phù hợp với các giá trị dân chủ và lợi ích chung.

Để đào tạo được một con người theo đúng nghĩa của nó, giáo dục phải cho phép sự phát triển đầy đủ về mặt nhân cách của mỗi cá nhân. Tục ngữ có câu: “Trồng cỏ phải tính từng tuần, trồng cây từng tháng, trồng người hàng thế kỷ.”

Mỗi cá nhân phải có sự tự do suy nghĩ. Sự phân loại và lựa chọn kiến thức của “một đầu óc sáng suốt hơn là một đầu óc đầy ắp” (Montaigne) sẽ được thực hiện dễ dàng hơn nhờ sự trau dồi về khả năng suy xét.

Khi các sinh viên trở thành nhà doanh nghiệp, họ phải tránh những quyết định vội vã, thiếu suy xét bởi “khoa học không lương tâm là sự băng hoại của tâm hồn.” (Rabelais).

Trong một thế giới số và đa văn hóa, nhà trường có khả năng và trách nhiệm vun đắp sự hiểu biết rộng rãi những nền văn hóa khác nhau, nhằm khắc sâu những giá trị về lòng độ lượng và sự hỗ trợ lẫn nhau. Những thói quen, phong tục, truyền thống, biểu tượng của mỗi quốc gia phải được tôn trọng. Các nền văn hóa biểu hiện sự phong phú và giàu có của tất cả các dân tộc.

Triết lý giáo dục Việt Nam:

 

sach_giao_khoa_doi_moi_tu_2018-250.jpg
Một học sinh đang đọc sách Lịch Sử và Địa Lý, ảnh minh họa. Photo courtesy of vtc.

 

Tôi biết rõ triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng hòa vì tôi đã có dịp giảng dạy 8 năm trời ở hai Trường Cao đẳng Điện học và Cao đẳng Công chánh của Trung Tâm Quốc gia Kỹ thuật Sàigòn  (nay là Đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh).

Năm 1958, tại hội nghị quốc gia về giáo dục, những nguyên tắc căn bản sau đây đã được đề nghị và chấp thuận: dân tộc, nhân văn và khai phóng.

Năm 1967, Việt Nam Cộng hòa đã sáng suốt ghi vào Hiến pháp các nguyên tắc trên.

Thú thật tôi chưa hiểu được triết lý giáo dục của nước ta hiện nay là gì?

Nếu áp dụng đứng đắn những nguyên tắc thì tại sao ta đã cải tổ nền giáo dục nhiều lần, trong 20 năm qua, mà nay vẫn chưa có kết quả mong đợi? Thực tế  những cải tổ đã thực hiện thiếu tầm nhìn chiến lược và không có định hướng rõ ràng.

Ta có thể đặt ngay câu hỏi: phải chăng sự tắc nghẽn ở đây là do những ràng buộc chính trị?

Gần đây, nhiều chỉ thị quan trọng của nhà nước đã được đưa ra, nhưng chưa phải là căn bản để có thể gọi là triết lý giáo dục:

-Cải thiện chất lượng và hiệu quả của giáo viên.

-Phát triển khả năng tư duy và lập luận của học sinh, thay vì ưu tiên học thuộc các kiến thức sách vở.

-Học đi đôi với hành.

-Kết hợp giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội.

-Phối hợp những phương pháp và mức giảng dạy khác nhau.

-Nâng cao tri thức thế hệ trẻ.

-Đào tạo đội ngũ đảm bảo chất lượng cho nhu cầu  kinh tế và xã hội.

-Theo sát sự tiến bộ của khoa học và kĩ nghệ.

-Năng động và có đầu óc rộng mở.

-Đóng góp vào việc bảo vệ quốc gia.

-Quan tâm đến chất lượng hơn là số lượng trong việc đào tạo.

-Hướng ra xã hội và thế giới.

Tôi có cảm tưởng là chúng ta không chú trọng đến những suy nghĩ của nhà giáo dục Jean- Jacques Rousseau, một trong những triết gia có uy tín nhất nhì của thế kỷ Khai sáng. Tác phẩm của ông mang tên Emile (hay De l’Education, 1762), nổi tiếng khắp thế giới, xuất hiện trong chương trình học của trẻ em Nhật Bản. Điều đáng mừng là Emile cũng đã được dịch ra tiếng Việt.

Theo Rousseau, điều quan trọng chính là phương pháp chứ không phải là kiến thức sách vở. Học sinh phải tự tin, tự do, tự chủ, độc lập trong suy nghĩ và không có định kiến. Với một tinh thần rộng mở, học sinh phải sử dụng tư duy của mình, chứ không phải của người khác. Chính bản thân mỗi học sinh phải tự tìm hiểu để khám phá sự thật. Phải tôn trọng thiên nhiên, con người và yêu chuộng hòa bình. Không tự kiêu, học sinh phải có lòng đồng cảm và sẵn sàng bảo vệ người khác. Là con người tự do, học sinh không chấp nhận bất kì sức ép nào về chính trị hay tôn giáo.

Thầy giáo, trong khả năng có thể, có trách nhiệm khai thác những tiềm năng của mỗi học sinh một cách riêng biệt, tùy theo tính cách và hoàn cảnh gia đình từng em. Nó thể hiện một sự theo dõi mang tính cá nhân nhằm đảm bảo một sự cân bằng, sự phát triển hài hòa và nảy nở của học sinh.

Tất nhiên, điều đó cũng không dễ thực hiện ở nước ta, khi mà lớp học bị quá tải!

Nếu chúng ta xem tâm điểm của hệ thống giáo dục là học sinh, thì nên đặt ra những câu hỏi căn bản sau:

1-Tại sao phải học?

2-Học cái gì?

3-Học thế nào?

Câu hỏi số 1 có lẽ là quan trọng nhất. Trên thực tế, điều này phụ thuộc vào người đặt ra câu hỏi: cha mẹ, giáo viên hay học sinh?

Trẻ em thường nói học để kiếm việc làm nuôi sống gia đình. Xin mạn phép nhắc lại đây câu trả lời đơn giản và tinh tế của Unesco: học để biết, để làm, để sống chung và để tự vun đắp.

Cho đến nay, Bộ Giáo dục tập trung vào câu hỏi thứ 2 và coi nhẹ hai câu hỏi kia.

Gần đây, thông báo về đề án soạn lại sách giáo khoa phổ thông, mà chi phí ước tính khoảng 1,7 tỉ đôla, đã làm xôn xao dư luận. Bộ Giáo dục phủ nhận thông tin này và cho rằng con số khổng lồ bao gồm cả cơ sở và nhiều trang thiết bị khác nhau. Làm lại sách giáo khoa một cách đột ngột, mà không đợi một cuộc cải tổ sâu rộng chương trình giảng dạy, thực sự là một lãng phí lớn lao về thời gian và tiền bạc. Bộ Giáo dục giữ độc quyền trong việc phát hành sách giáo khoa có thể xem như ta  coi thường hay không có triết lý giáo dục? Cách đây vài năm, lần đầu tiên, nhà giáo Phạm Toàn đã có can đảm và sáng kiến cho ra đời một bộ sách giáo khoa tư nhân (lớp 1 của Nhóm Cánh Buồm).

Thầy giáo có trách nhiệm giúp học sinh trả lời tốt câu hỏi số 3: muốn thành công, học sinh phải học tập một cách khôn ngoan, nhiệt tình, có phương pháp, kỉ luật, chặt chẽ, đều đặn và tập trung.

Từ lúc còn thơ ấu mãi đến nay, tôi luôn đam mê đèn sách. Tôi hoan hô GS Ngô Bảo Châu đã từng khuyến khích sinh viên nên có sự đam mê để có kết quả mỹ mãn.

Thành tích trong lĩnh vực giáo dục

Gia Minh: Việt Nam đã đạt được những thành tích gì trong lĩnh vực giáo dục thưa GS?

GS Nguyễn Khắc Nhẫn: Nước ta rất tự hào và vinh dự khi gần đây nhận được kết quả tốt trong bảng xếp hạng PISA (Program for International Student Assessement) năm 2012. PISA, do nhà toán học người Đức, Andreas Schleicher, khởi xướng từ năm 2000, có mục đích đánh giá năng lực học sinh giải quyết những vấn đề thực tế trong cuộc sống. Các bài kiểm tra dành cho trẻ em 15 tuổi bao gồm đọc, toán và khoa học. Vừa qua, tờ báo Anh, “The Guardian” đăng một lá thư của 100 nhà giáo ở các nước Mỹ, Anh, Thụy Điển, Nouvelle -Zélande, lên tiếng công kích PISA. Họ cho rằng PISA, chịu ảnh hưởng của thị trường, thu hẹp vai trò giáo dục trẻ em, coi trọng kinh tế hơn văn hóa.

Trong số 65 nước tham gia cuộc đánh giá này, Việt Nam được xếp thứ 17, trên Pháp (thứ 25) và Mỹ (thứ 36). Hàn Quốc và Thượng Hải thuộc top 5. Những nước này, cũng như Nhật Bản và Đài Loan, xem giáo dục gần như một tôn giáo. Họ không có cách tiếp cận lãng mạn của Rousseau mà trường học trước hết phải giúp trẻ em tự tạo cho mình một bản sắc riêng, có được sự độc lập và khai phóng. Ở Hàn Quốc, đó là một nền “giáo dục của bóng tối – éducation de l’ombre”, với những “bà mẹ khắc nghiệt – mamans helicopters”. Áp lực quá mạnh và thường xuyên làm những trẻ em bị căng thẳng, chán nản và suy nhược (dépression). Thật buồn và đáng tiếc là chúng ta bất lực trước tỉ lệ tự tử rất cao đối với những trẻ em Hàn Quốc và Nhật Bản trong độ tuổi từ 15 đến 25.

Những kết quả tốt của ta với PISA, trên thực tế, đã che khuất sự suy giảm chất lượng và sự mong manh của hệ thống giáo dục nước nhà.

Điều đáng khuyến khích là vừa qua tổ chức URAP (University Ranking by Academic Performance) đã công nhận Đại học Bách khoa Hà Nội, đứng đầu trong các trường đại học Việt Nam và đứng thứ 1.932 trong số 3.000 trường đại học trên thế giới và thứ 650 trong khu vực châu Á, trong danh sách xếp hạng 2013-2014. Trường thứ hai lọt vào danh sách là Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, đứng thứ 1.963 trên thế giới và 662 ở châu Á.

Mỗi năm ta hãnh diện khi được tin có vài sinh viên ưu tú Việt Nam đoạt huy chương vàng hay bạc ở các kỳ thi Olympiades. Chúng ta càng hãnh diện hơn nữa với huy chương Fields 2010 của Giáo sư Ngô Bảo Châu, một ngôi sao chiếu sáng đường đi cho nhiều thế hệ sinh viên của đất nước.

Nhưng một con én không làm được mùa xuân!

Gia Minh: Vậy thì lời giải của bài toán giáo dục Việt Nam là gì, thưa GS?

GS Nguyễn Khắc Nhẫn: Theo ý kiến của nhiều giáo sư và phụ huynh học sinh, giáo dục Việt Nam đang bị khủng hoảng trầm trọng. GS Hoàng Tụy và GS Bùi Trọng Liễu cùng nhiều chuyên gia có uy tín, thường xuyên lên tiếng kêu gọi cải tổ, nhưng đến nay vẫn chưa thấy gì mới!

 

hoc-sinh-250
Thí sinh trong giờ thi môn Văn tốt nghiệp THPT 2013. Photo courtesy of vov.

 

Nếu xét đến sự chậm trễ cần phải bắt kịp và những thay đổi to lớn phải thực hiện, tôi thiết tưởng chỉ một cuộc cách mạng giáo dục toàn diện mới cứu vãn được tình thế.

Tất nhiên, muốn xoay chuyển một bộ máy vô cùng phức tạp như Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam không phải là dễ. Mặt khác, Bộ Giáo dục lại không có toàn quyền quản lý vì ở trên đầu có Bộ Chính trị!

Như ở Pháp, cải tổ phải bắt đầu từ nền móng, từ bậc mẫu giáo và tiểu học.

Trẻ em mệt mỏi vì chương trình quá tải. Tại Việt Nam, hầu hết các lớp ở mỗi cấp, việc đi học thêm ở ngoài trường, làm tăng cao một cách nguy hiểm sự căng thẳng và lo âu của học sinh. Đối với bậc tiểu học và trung học, ta nên giảm nhẹ chương trình bằng cách xóa bỏ một phần nội dung.

Phụ huynh, cũng như giáo viên, phải đặc biệt quan tâm đến sức khỏe của con em (ăn uống, vệ sinh, thể thao, âm nhạc, nghệ thuật …) Không thể để sách vở và các kì thi đè nặng trên đầu trẻ em. Sức khỏe, là “một tinh thần minh mẫn trong một cơ thể tráng kiện” (Homère). Chúng ta có xu hướng coi nhẹ sức khỏe và ít chú trọng đến sự cân bằng về thể xác và tinh thần của học sinh.

Thầy giáo, hay quên rằng trí óc thông minh của trẻ em được xây dựng từ khi mới ra đời, phải có kiến thức căn bản về vấn đề này. Những phát minh gần đây trong khoa học thần kinh cần được lưu ý đến. Từ mẫu giáo lên đến đại học, những kiến thức về khoa học xã hội và nhân văn rất cần thiết cho việc xây dựng những công dân tự do. Chính Jules Ferry đã đưa giáo dục đạo đức và công dân vào giảng dạy tại Pháp vào năm 1882, thực hiện giáo dục tiểu học phi tôn giáo và bắt buộc từ 6 đến 13 tuổi: “Một giáo viên tiểu học, trong lúc dạy cách đọc và viết, cũng đồng thời dạy những quy tắc căn bản của đời sống tinh thần là một việc dĩ nhiên”.

Hệ thống giáo dục Pháp, được xem như thiếu bình đẳng, đã không ngăn được sự lãng phí về dân chủ và kinh tế từ nhiều năm. Khoảng 20% trẻ em vào cấp 2 không nắm được những kiến thức căn bản và 150.000 thanh niên học xong không có việc làm do thiếu trình độ.

Nhà chức trách Việt Nam, cũng như Pháp, có xu hướng biện minh sự xuống cấp vì thiếu ngân sách hay số lượng giáo viên. Tòa Kiểm toán (Cour des Comptes) của Pháp gần đây đã tuyên bố rằng nguyên nhân thật ra là nằm ở vấn đề quản lý các phương tiện hiện có của Bộ Giáo dục. Chương trình dự kiến tuyển dụng thêm 60.000 giáo viên ở Pháp vì thế phải được xem xét lại.

Ở Việt Nam, từ năm 1987, số lượng các đại học và trường cao đẳng đã tăng 5 lần, lượng sinh viên tăng 13 lần, trong khi lượng giảng viên chỉ tăng 3 lần. Hình như, vào năm 2020, dự kiến sẽ có khoảng 4,5 triệu sinh viên? Để so sánh, chỉ riêng đối với các đại học, tại Pháp năm 2013 có 87 000 giảng viên cho 1,5 triệu sinh viên. Việt Nam có 51000 giảng viên cho 1,45 triệu sinh viên (con số năm 2011). Nền kinh tế của ta không thể chịu đựng lâu dài sự tăng trưởng quá nhanh các trường đại học thiếu điều kiện mà dần dần làm giảm uy tín bằng cấp Việt Nam.

Cuộc chạy đua điên rồ về số lượng đặt ra vấn đề hết sức nghiêm trọng về chất lượng, kể cả đối với sinh viên tốt nghiệp và đội ngũ giảng viên.

Liệu có khả thi khi ta muốn đào tạo 20.000 tiến sĩ và đưa một đại học của Việt Nam vào top 200 theo bảng xếp hạng của Shangaï vào năm 2020? Tất nhiên, những tiêu chuẩn của bảng xếp hạng này không phải là không bị chỉ trích, nhưng ta quên rằng ở đây, phần nghiên cứu có vai trò quan trọng hơn phần giảng dạy.

Việt Nam trước hết phải thành lập các phòng thí nghiệm đầy đủ trang bị tối tân ở các đại học và trường lớn, tuyển lựa và đào tạo những giáo sư và nhà nghiên cứu tài giỏi, khuyến khích hợp tác chủ động và tích cực giữa các trường đại học, viện nghiên cứu và công nghiệp trước khi chạy theo các bảng xếp hạng quốc tế.

Dù sao ta cũng đừng quên rằng sức cạnh tranh của một quốc gia được xây dựng rất sớm từ bậc mẫu giáo.

Trong quá trình toàn cầu hóa, cuộc chiến tranh kinh tế phụ thuộc vào thông minh (intelligence), sáng tạo (innovation) và viễn tượng (anticipation). Nhiều cuộc cách mạng đang diễn ra: số ( cloud computing, big data…), năng lựợng (smart grid, năng lượng mới). Khoa học mỗi ngày vạch trần sự ngu dốt của nhân loại. Tiến bộ kỹ thuật đi nhanh như gió, không chờ đợi ta cải tổ đâu!

Gia Minh: Giảng dạy trên mạng bắt đầu đựợc phổ biến ở nhiều nước. Xin GS cho biết sự lợi hại của cuộc cách mạng số này?

GS Nguyễn Khắc Nhẫn: Bộ đại học và nghiên cứu Pháp vừa khai trương một chương trình quốc gia về MOOC (Massive Open Online Courses). Chương trình sẽ chứa các bài giảng và các khóa đào tạo trên mạng có cấp bằng hay chứng nhận. Khoảng sáu chục MOOC đã được thống kê và con số này sẽ không ngừng tăng lên.

Giáo dục bị tác động mạnh bởi cuộc cách mạng số. Quan hệ giữa kiến thức và cá nhân bị xáo trộn. Giảng đường không phải hoàn toàn biến mất nhưng phương pháp giảng dạy truyền thống không còn phù hợp. Sinh viên đọc các bài giảng ở nhà trước khi đến hỏi thầy giáo và thảo luận với bạn bè. Trên mạng, không ai thúc ép được ai. Mỗi người tự biết tại sao họ tìm đến đó. Một vài giáo sư đã nghĩ đến một trường đại học “dạng đám mây” mở và toàn cầu.

Nhiều chủ tịch các trường đại học lớn của Mỹ cho rằng môn học trên mạng cũng có giá trị giáo dục ngang bằng môn học tại giảng đường. Đâu là tài sản trí tuệ của MOOC? Làm sao phát bằng?

Rồi đây, tiếp thu kiến thức sẽ có tính dân chủ và toàn cầu. Phương pháp giảng dạy số sẽ mang lại cơ hội lớn lao cho giảng viên, sinh viên, chủ doanh nghiệp và người làm việc.

Giảng dạy trên mạng đang phát triển mạnh, tạo nên sự hứng khởi và, tất nhiên, cả những lo ngại. Trong các campus, các giảng đường sẽ trở thành nơi làm việc nhóm và tranh luận. Sự trau dồi kiến thức sẽ diễn ra một cách cô lập, từ phòng khách ở nhà, và áp dụng sẽ được thực hiện theo nhóm xung quanh một giáo sư ở trường. Đó là cách giảng dạy được đổi ngược (lớp học xoay ngược). Giáo sư giúp sinh viên trực tiếp thu nhận kiến thức. Sinh viên cũng thay đổi cách suy nghĩ. Họ đến lớp không phải để ghi chép mà để được giải thích những điều mà họ chưa hiểu ở nhà.

Những địa chỉ nổi tiếng nhất đó là:  Coursera, Khan Academy và edX. Trang Coursera, thành lập năm 2012 tại Mỹ, cung cấp các môn học miễn phí của chừng sáu mươi trường đại học nổi tiếng (MIT, Princeton, Berkeley, Stanford…) thu hút nhiều người hơn cả Facebook và Twitter trong năm đầu tiên. Ba triệu rưỡi sinh viên đã đăng kí, không trả đồng nào, và được tiếp xúc với những giáo sư giỏi nhất. Tại sao phải tiêu tốn hàng chục ngàn đô la để kiếm tấm bằng MBA ở Harvard?

Chi phí sẽ rẻ hơn rất nhiều so với các trường đại học lớn ở Mỹ. Sinh viên được học miễn phí nhưng phải trả tiền để thi, chứng nhận đậu và giảng dạy trực tiếp. Mô hình kinh tế còn đang xem xét. Các trường đại học phải sát nhập với nhau. Harvard với khoảng quyên góp là 32,7 tỉ đô la đã phải liên kết với MIT để tạo ra edX.

MOOC thay đổi nghề nghiệp của giảng viên và đòi hỏi chi phí đắt! Cần phải có một đội ngũ để bước vào MOOC. Giáo sư có năng lực vẫn chưa đủ, phải chọn diễn viên giỏi (bài giảng trên vidéo), thiết kế mỹ thuật và tiếp thị web tốt.

Chỉ trong vòng 1 năm, 350 bài giảng miễn phí trên mạng, chủ yếu là của Mỹ, đã thu hút được khoảng 5 triệu sinh viên trên toàn cầu.

Và đây là sự phân bố theo số lượng các trường đại học trên mạng vào 15/5/2013:

Mỹ (44), Âu châu (14), Châu Á, Úc và Trung đông (7), Canada (2), Mexico (2).

Dự án đại học trên mạng, Minerva của Mỹ, khai giảng vào 2015, sẽ có nhiều đại diện trên thế giới. Nó sẽ tạo ra một mô hình giảng dạy mới, ít thụ động hơn hiện nay rất nhiều. Theo Larry Summers, chủ tịch danh dự của Harvard, ngày nay thật khó hình dung được MOOC sẽ cách mạng hóa giáo dục như thế nào.

Không rõ Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đã ý thức đúng mức cuộc cách mạng về phương pháp giảng dạy số và sự dân chủ hóa kiến thức chưa? Kế hoạch dài hạn MOOC của ta đến đâu rồi?

Điểm yếu hệ thống giáo dục Việt Nam

Gia Minh: Hệ thống giáo dục Việt Nam có những điểm yếu gì thưa GS?

GS Nguyễn Khắc Nhẫn: Danh sách sau đây liệt kê những điểm yếu trong các mắt xích của hệ thống giáo dục của ta thể hiện khối lượng công việc to lớn đang chờ đợi chính quyền:

Tổ chức và quản lý:

-Khó khăn trong việc quản lý cùng chung một bộ Giáo dục với nhiều bậc: đại học, trung học và tiểu học.

-Thiếu tầm nhìn chiến lược lâu dài.

-Trang thiết bị (đặc biệt là tin học) ở các trường phổ thông và đại học quá cũ và không đủ.

-Thiếu lớp học và phòng thí nghiệm.

-Nhiều lớp quá tải.

-Nhiều ràng buộc chính trị.

-Hành chính nặng nề, quan liêu.

-Nhiều sách giáo khoa đã lỗi thời.

-Lãng phí thời gian và tiền bạc do quá nhiều kì thi (ví dụ thi THPT và vào đại học).

-Sự gia tăng phi lý số trường đại học và cao đẳng.

-Thiếu cơ quan hướng dẫn học sinh và sinh viên.

-Chạy theo số lượng mà không quan tâm đến chất lượng trong nhiều lĩnh vực.

-Khó khăn và chậm trễ trong việc tổ chức phương pháp giảng dạy trên mạng (MOOC).

Giáo viên:

-Mức lương giáo viên quá thấp.

-Giáo viên phải giảng dạy ở nhiều trường hay phải làm thêm nghề khác để sống.

-Tỷ lệ giáo viên chán nản muốn đổi nghề khá cao.

-Trình độ và năng lực có hạn của một số giáo viên trẻ tuổi.

-Sự bảo thủ của một phần đội ngũ giáo viên.

Học sinh và sinh viên:

-Một phần chương trình phổ thông và đại học lạc hậu.

-Chương trình bậc tiểu học và trung học quá nặng.

-Nhiều môn học thuộc lòng và nhồi sọ.

-Chỉ lo chạy theo thành tích, bằng cấp.

-Đào tạo quá nhu cầu cử nhân và kĩ sư.

-Sinh viên lo sợ vì nạn thất nghiệp trầm trọng.

-Đào tạo cao đẳng và đào tạo nghề bị xem nhẹ.

-Quyền tự chủ quá ít của lãnh đạo các trường  phổ thông cũng như đại học.

-Học sinh căng thẳng, mệt mỏi về thể chất lẫn tinh thần.

-Học phí cao.

-Quan hệ kém giữa đại học, nghiên cứu và doanh nghiệp.

-Thiếu chỗ cho sinh viên tập sự và thực tập.

-Giảng dạy, tranh luận về xã hội, dân chủ, đạo đức, tự do ngôn luận hạn chế.

-Ảnh hưởng xấu của tham nhũng và bất công.

-Thái độ thụ động và quá dè dặt của học sinh, sinh viên đối với thầy giáo.

Nhiều nước, trong đó có Pháp, cũng có một số điểm yếu nêu trên. Tuy nhiên Bộ Giáo dục Pháp có khả năng cải tổ nhanh hơn so với ta vì không chịu ảnh hưởng trực tiếp của áp lực đảng phái hay chính trị.

Gia Minh: Xin GS cho biết những trắc trở và vài đề nghị đóng góp nhiệt tình của GS trong cuộc cách mạng giáo dục Việt Nam.

GS Nguyễn Khắc Nhẫn: Đức Phật đã dạy: “Tài sản lớn nhất của đời  người là Trí tuệ và Sức khỏe”

John Rawls, GS Đại học Harvard cũng đã từng tuyên bố: “Giáo dục là chìa khóa của tất cả các vấn đề kinh tế và xã hội”  Dân ta trẻ trung và năng động. Thanh niên thiếu nữ hiếu học và thông minh. Đó là tài sản vô giá của nước nhà.

Tôi cảm thông với TS Giáp Văn Dương khi ông tỏ tâm tình trong bài “Người Việt trẻ tự đốt đuốc mà đi” đăng trên vnexpress 23/5/2014: “Vì không phải ai khác, mà chính người Việt trẻ mới là cứu tinh của đất nước….Tôi không thấy được sự lan tỏa của một tuổi trẻ tự do phóng khoáng, sự rực sáng của khát vọng…Không gì xót xa hơn khi nhìn thấy những người Việt trẻ ốm yếu, còi cọc hơn so với bạn bè đồng lứa năm châu.” Tôi cũng đau lòng mỗi khi nghĩ đến sức khỏe của học sinh và sinh viên ở quê hương, quanh năm ngày đêm đèn sách, ôn đi ôn lại  để thi cử!

Nhân tài ở trong nước cũng như ở ngoại quốc không thiếu. Chúng ta có thể tự hào về những thành tích của những sinh viên xuất sắc và những giáo sư hay chuyên gia Việt Nam giàu kinh nghiệm và có uy tín trên thế giới. Điều đáng tiếc là ta chưa có chiến lược khai thác đúng mức tiềm năng vô cùng quý báu này để nâng cao chất lượng giáo dục và góp phần xây dựng xứ sở. Tại sao Trung Quốc, Ấn Độ , Hàn Quốc thành công trong việc kêu gọi trí thức ở hải ngoại về nước họ công tác? Lý do có phải, ngoài chế độ chính trị, có vấn đề điều kiện làm việc, thiếu đối tượng muốn hợp tác chặc chẽ và cách đối xử không cởi mở của một số người có trách nhiệm trong nước?

Có người hỏi tại sao ta dư tiến sĩ mà giáo dục đào tạo vẫn xuống dốc? Phải chăng vì thừa lượng mà thiếu chất? Tiến sĩ mà không có kĩ sư và thợ chuyên môn thì nhà máy cũng sụp đổ. Cái bệnh đáng lo ngại của ta là quá coi trọng cấp bằng tiến sĩ, làm hạ giá môt cách phi lý những cấp bằng khác.

Ở đầu bài, tôi trình bày triết lý giáo dục của Pháp không ngoài mục đích để Bộ Giáo dục và Đào tạo của ta so sánh hai hệ thống. Pháp cũng có nhiều điểm yếu đang được cải tổ. Nhưng ta nên đặt câu hỏi tại sao trình độ văn hóa dân chúng Pháp được thiên hạ đề cao?

Triết lý giáo dục của một nước chỉ cần một hai câu ngắn gọn. Bổn phận của phụ huynh và nhà giáo là làm sao cho các học sinh hiểu rõ ý nghĩa và giá trị của những khái niệm và đức tính sau đây: tổ quốc, dân tộc, xã hội, con người, đạo đức, bác ái, cao thượng, hiếu thảo, gia đình, sức khỏe, hạnh phúc, hòa bình, tôn trọng tín ngưỡng, tự do, độc lập, đoàn kết, sự thật, công bằng, khoan hồng, khiêm tốn, liêm chính, đam mê, nhân văn, khoa học, giải phóng, khai phóng, môi trường, phát triển xanh, phát triển bền vững, kinh tế dương “économie positive” (Jacques Attali)…

“Tiên học lễ, hậu học văn” là một nguyên lý có từ xưa đáng được học sinh trọn đời ghi nhớ, nhưng từ lễ  phải được hiểu sâu rộng hơn so với nghĩa đơn giản là lễ phép. Tài phải đi đôi với đức.

Theo tôi, mặc dù đã ban hành những nguyên tắc giáo dục ngay từ lúc ra đời, Unesco nên lập một danh sách xếp hạng, dựa trên sự áp dụng đứng đắn triết lý giáo dục của mỗi nước. Nếu chỉ biết hãnh diện với bản xếp hạng PISA hay Shangaï và ồ ạt chạy đua, như Trung quốc, theo mức tăng trưởng kinh tế, dưới sự độc tài của thị trường toàn cầu, bất chấp ô nhiễm CO2 hay phóng xạ, thảm họa thay đổi khí hậu, bệnh tật, hay chiến tranh, thì sau này, các thế hệ con cháu sẽ trách móc chúng ta không biết dạy dỗ và đào tạo chúng nên người.

Tôi hi vọng rằng cuộc cách mạng giáo dục của ta sẽ được thực hiện nhanh chóng và trong điều kiện tốt nhất có thể.

Cần phải tiến hành gấp, với một chương trình cải tổ chặt chẽ, tìm mọi cách hạn chế những xáo trộn và tối thiểu chi phí. Giai đoạn quá độ phải có thời gian giới hạn.

Xây dựng một kế hoạch giáo dục ở tầm vĩ mô như thế cần phải suy xét lại về mặt xã hội và áp dụng phương pháp quản lý tối ưu.

Nếu người có trách nhiệm và quyền hành cao nhất của đất nước ra lệnh cho Chính phủ và các cấp lãnh đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo phải từ bỏ sự áp đặt quan điểm chính trị cho tất cả các trường và đại học thì cuộc cách mạng mới thành công được?

Ở Việt Nam, nguyên tắc không can thiệp chính trị, vì quyền lợi quốc gia và tương lai của những thế hệ trẻ, thật sự quan trọng hơn ngàn lần so với những nguyên lý giáo dục căn bản tốt nhất trên thế giới.

Gia Minh: Xin cám ơn GS Nguyễn Khắc Nhẫn.

Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn Nguyên Giám đốc Trường Cao đẳng Điện học và Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Sài Gòn. Cố vấn Kinh tế, Dự báo, Chiến lược EDF Paris. Giáo sư Viện Kinh tế Chính sách Năng lượng Grenoble. Giáo sư Trường Đại học Bách khoa Grenoble.

_____

Tài liệu tham khảo:

Tôi xin chân thành cám ơn các Tác giả, Trang web, Đài phát thanh, Báo chí có tên sau đây:

Sư Cô Tran Thi Dung, Hoang Xuan Han, Ngo Bao Chau, Hoang Tuy, Nguyen Khac Vien, Nguyen Ngoc, Bui Trong Lieu, Pham Xuan Yem, Nguyen Thi Binh, Pham Minh Hac, Giap Van Duong, Vo Van Thuan, Chu Hao, Trinh Xuan Thuan, Tran Thanh Van, Nguyen Khac Ung, Vo Quang Yen, Nguyen Quoc Vuong, Luong Hoai Nam, Nguyen Bach Ngoc, Nguyen Quang Duy, Tran Ngoc Vuong, Chu Mong Long, Pham Toan, Ho Ngoc Dai, Van Nhu Cuong, Tran Quoc Duong, Duong Thien Tong, Phong Tran, Phan Xi Pang, Nguyen Xuan Han , Nguyen Manh Hung…( Tôi rất tiếc và xin lỗi không thể ghi hết tên của rất nhiều Tác giả đã đóng góp vào việc xây dựng nền giáo dục của đất nước, từ hàng chục năm nay)

vietrfi.fr, rfa.org/vietnamese, bbc.co.uk/vietnamese, ugvf.org, bantuvanvp.org, diendan.org, viet-studies.org, boxitvn.net, thdlvnhn.net/btol, Truong Cao dang dien hoc.org, vietsciences.free.fr, vnexpress.net, vietnamnet.vn, baodaiviet.vn, cand.com.vn, dantri.com.vn, tuoi tre online.

Louis Néel, Cédric Villani, Geneviève Fioraso, Vincent Peillon, René Pauthenet, Michel Poloujadoff, Jean- Marie Martin, Jacques Percebois, Patrick Criqui, Jean-Marie Chevalier,  Stanislas Dehaene, Catherine Boyer, Serge Herreman, Patrick Ghrenassia,  Le Monde.

Nguyen Khac Nhan: Hội nghị tư vấn chuyên đề về cải tổ giáo dục Đại học Việt Nam, 17-19/2/ 1994, TP Hồ Chí Minh.

nguyenkhacnhan.blogspot.fr: Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài lần thứ nhất, Hànội 20- 24/11/2009 ;  Louis Néel, Nobel Vật lý, một Giáo sư lý tưởng – Grenoble – INP và sự hợp tác với Việt Nam, Grenoble 8/1/2011).

*Bàn tròn AVSE (Association Vietnamienne des Scientifiques et Experts )

Tôi cũng thành thật cảm tạ GS Nguyễn Đức Khương, Chủ tịch Hội Khoa học và Chuyên gia Việt Nam và TS Nguyễn Thúy Phượng, đã tổ chức thành công Bàn tròn về Giáo dục Việt Nam ở Trung tâm kinh tế Sorbonne Paris ngày 10/5/2014.

(Bàn tròn gồm có các chuyên gia Roger-François Gauthier, Luisa Lombardi và các GS Ha Duong Tuong, Le Van Cuong, Lai Ngoc Diep, Nguyen Khac Nhan).

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Nỗi sợ hãi của Đảng và Nhà nước Việt Nam

Nỗi sợ hãi của Đảng và Nhà nước Việt Nam

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2014-06-06
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này
thien-an-mon-vne-305B.jpg

Bài báo đánh dấu 25 năm sự kiện Thiên An Môn trên báo mạng VNExpress trước khi bị gỡ xuống hôm 4/6/2014.

RFA Screen Capture

 

 

Trong bối cảnh Trung Quốc xâm lấn chủ quyền Việt Nam hạ đặt giàn khoan HD 981 đã hơn một tháng, ngày 4/6/2014 hàng loạt thông tin và hình ảnh kinh hoàng đánh dấu 25 năm sự kiện Thiên An Môn trên các báo mạng đã đồng loạt bị gỡ xuống.

Nhận định về sự kiện này, TS Nguyễn Quang A thuộc nhóm chủ trương Diễn đàn Xã hội dân sự phát biểu:

“Rất ngạc nhiên trong việc báo chí đưa tin về một sự thực đã xảy ra đúng một phần tư thế kỷ và người ta không bịa đặt bất kể cái gì, mà cảnh sát tư tưởng ở Việt Nam, tức bên tuyên giáo của đảng cộng sản lệnh cho các báo đã đăng phải rút bài đó xuống. Điều đó chứng tỏ rằng những thế lực trong Đảng Cộng sản Việt Nam còn gắn rất chặt với Trung Quốc. Tôi tin chắc chắn là họ nghe theo lệnh của Bắc Kinh để họ làm như vậy.”

Thái độ của nhà cầm quyền VN

Tin ghi nhận các báo điện tử như VnExpress, Thanh Niên, Người Lao Động, Tiền Phong, Giáo Dục và nhiều trang mạng khác đã phải gỡ bỏ những bài về vụ thảm sát Thiên An Môn 4/6/1989. Bức ảnh 200.000 người biểu tình đòi dân chủ ở Quảng trường Thiên An Môn đầy ấn tượng, hoặc hình ảnh hàng trăm xe tăng mở trận càn giải tán người biểu tình, hình ảnh xác người chết chồng chất trên xe tải, xe kéo, trên đường phố dường như đã chỉ xuất hiện được trong một khoảng thời gian ngắn, sau đó người đọc không còn truy cập được nữa.

Nhận định về sự kiện báo chí Việt Nam bị gỡ bài và hình ảnh vụ thảm sát Thiên An Môn, nhà báo Nguyễn Quốc Thái nguyên Tổng Thư Ký báo Doanh Nghiệp từ Saigon phát biểu:

Sự kiện Thiên An Môn sau 25 năm được nhớ lại, nhắc lại và đưa trên báo chí và bị gỡ xuống là một điều cần phải suy nghĩ về sự chọn lựa và thái độ của nhà cầm quyền VN trong quan hệ với TQ.
-Nguyễn Quốc Thái

“Vụ Thiên An Môn là một vết nhơ trong lịch sử của Trung Quốc. Những người Trung Quốc tử tế và có lương tâm khi nhớ lại sự kiện này họ đều xấu hổ. Xấu hổ vì văn minh của loài người bị chà đạp, tự do của con người đã bị phỉ nhổ một cách tàn tệ. Việc báo chí Việt Nam mà không đưa được lâu dài thời lượng về vụ Thiên An Môn, tôi nghĩ rằng có thể vì nhà cầm quyền Việt Nam vẫn nói đó là tình hữu nghị giữa hai nước. Nhưng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói là không thể có sự hữu nghị viển vông. Sự kiện Thiên An Môn sau 25 năm được nhớ lại, nhắc lại và đưa trên báo chí và bị gỡ xuống là một điều cần phải suy nghĩ về sự chọn lựa và thái độ của nhà cầm quyền Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc.”

Bên cạnh việc sợ mất lòng Trung Quốc, có những ý kiến cho rằng Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam lo ngại hình ảnh hàng trăm ngàn người biểu tình đòi dân chủ ở Thiên An Môn và bị đập tan bằng vũ lực, còn có thể tác động lên phong trào biểu tình vừa phản kháng Trung Quốc vừa đòi dân quyền ở Việt Nam. Nhà báo Nguyễn Quốc Thái nhận định:

“Ông nghĩ là những hình ảnh đó che dấu được nhân dân Việt Nam sao? Không một tờ báo, không một mạng truyền thông nào đưa hình ảnh đó lên thì từ 25 năm qua những hình ảnh đó vẫn không rời khỏi tâm trí người Việt Nam yêu tự do và dân chủ. Tôi không nghĩ đưa hình ảnh đó lên hay không đưa hình ảnh đó lên là một sự lựa chọn khôn khéo của nhà cầm quyền. Bởi vì nhà cầm quyền biết rằng không thể nào che dấu được hình ảnh bi tráng đó ở quảng trường Thiên An Môn cách đây 25 năm, nghĩ rằng những hình ảnh đó được chuyển tải lại trong lúc này thì không thích hợp với tình hình ở Việt Nam. Tôi nghĩ suy nghĩ đó là một suy nghĩ non nớt.”

Không tuân thủ hiến pháp?

 

thien-an-mon-vne-250B.jpg
Màn hình sau khi chính quyền Việt Nam cho gỡ Bài báo đánh dấu 25 năm sự kiện Thiên An Môn trên báo mạng VNExpress hôm 4/6/2014. RFA Screen Capture.

 

Một ngày sau thời điểm 25 năm sự kiện Thiên An Môn mà báo chí bị gỡ bài, chiều 5/6/2014 Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức họp báo quốc tế ở Hà Nội để cập nhật tình hình Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế thềm lục địa Việt Nam kéo dài đã hơn 1 tháng. Người phát ngôn Lê hải Bình cho biết phía Trung Quốc vẫn tiếp tục và có hành vi hung hăng hơn và cũng đưa ra những luận điệu sai trái về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Tại cuộc họp báo, các giới chức Việt Nam đã trả lời vòng vo câu hỏi của các nhà báo nước ngoài, về việc chính quyền ngăn cản người dân biểu tình phản kháng Trung Quốc. Ông Lê Hải Bình phủ nhận việc này và nói rằng người dân Việt Nam hoàn toàn có quyền biểu thị lòng yêu nước của mình theo đúng qui định pháp luật. Khi được hỏi thế nào là biểu tình đúng pháp luật ông Lê Hải Bình nói rằng Việt Nam có những qui định pháp luật về biểu tình.

Nhận định về vấn đề vừa nêu TS Nguyễn Quang A từ Hà Nội phát biểu:

“Sở dĩ mà họ phải nói lắt léo như vậy là vì họ không dám thừa nhận rằng họ không muốn có bất kể một cuộc biểu tình nào. Trong khi quyền biểu tình được hiến định rành rành từ các Hiến pháp trước chứ không phải chỉ từ Hiến pháp bây giờ. Thay vì họ phải ra Luật để tạo điều kiện cho người dân được biểu tình một cách văn minh thì họ không làm như vậy. Họ ra một Nghị định mà Nghị định ấy thực sự là cấm biểu tình, họ gọi là tụ tập đông người. Như vậy lỗi hoàn toàn thuộc về nhà cầm quyền họ đã coi thường người dân, coi thường quyền của người dân. Họ đã không làm được chức năng chính của họ là tuân thủ Hiến pháp tuy rằng còn chưa ra gì do chính họ thông qua.”

Đáp câu hỏi của chúng tôi, nghĩ gì về những lời tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình xác định là nhà nước không cấm dân chúng biểu tình, khi mà cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc dự kiến vào ngày 18/12014 đã bị dẹp từ trong trứng nước. Nhà báo Nguyễn Quốc Thái thuộc nhóm nhân sĩ trí thức TP.HCM, người từng tham gia nhiều cuộc biểu tình phản kháng Trung Quốc và bị trấn áp phát biểu:

“Tôi không nhắc đến ngày 18/1/2014 hôm đó không có một cuộc biểu tình nào xảy ra ở Việt Nam, bởi vì trước đó nhà nước đã dùng tất cả các phương tiện truyền thông sẵn có trong tay và cơ quan an ninh khuyến cáo nhân dân không xuống đường vào ngày đó. Nhưng những cuộc xuống đường trước ngày 18/1/2014 và trong ba năm trở lại đây không có một cuộc biểu tình chống Trung Quốc nào được lực lượng an ninh của Việt Nam yểm trợ cả. Chắc ông có thể nhìn thấy cảnh những người biểu tình bị đàn áp đánh đập, thậm chí chưa đi biểu tình cũng bị đàn áp đánh đập như cá nhân tôi chẳng hạn. Như vậy nói không có đàn áp người biểu tình là nói dối nhân dân. Bởi nhân dân họ chứng kiến những người xuống đường bị đàn áp, bị đánh đậy bị bắt giữ, hà cớ gì phải chối những điều mình đã dám làm, thiếu một sự dũng cảm đó là điều đáng khinh.”

Họ đã coi thường người dân, coi thường quyền của người dân. Họ đã không làm được chức năng chính của họ là tuân thủ Hiến pháp tuy rằng còn chưa ra gì do chính họ thông qua.
-TS Nguyễn Quang A

Tại cuộc họp báo ngày 5/6 tại Hà Nội, trả lời câu hỏi của hãng thông tấn nước ngoài là phía Việt Nam có kỳ vọng vào Mỹ sẽ đóng vai trò hỗ trợ Việt Nam bảo vệ chủ quyền của mình. Người phát ngôn Lê Hải Bình đáp lời rằng: “Việc duy trì ổn định, an ninh và an toàn hàng hải của khu vực là lợi ích, là nghĩa vụ của tất cả quốc gia liên quan trong và ngoài khu vực.

Mỹ là cường quốc của thế giới, cùng với cộng đồng quốc tế, Mỹ cũng có tiếng nói nhằm ổn định an ninh khu vực. Chúng tôi mong muốn Mỹ có hành động mạnh mẽ hơn, đóng góp vào an ninh, an toàn hàng hải khu vực, giải quyết tranh chấp của khu vực thông qua luật pháp quốc tế.”

Có mặt trong cuộc họp báo ông Trần Duy Hải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới Quốc gia khi trả lời bao chí đã hàm ý cho thấy ít có khả năng Việt Nam khởi động biện pháp lý đối với Trung Quốc. Ông Hải nói các vụ kiện quốc tế đều rất phức tạp, nếu chủ tàu Đà Nẵng kiện Trung Quốc là vụ án dân sự. Nhưng vụ giàn khoan liên quan đến chủ quyền, cần chọn phương án nào tối ưu nhất bảo vệ quyền lợi đất nước.

Nhận định về vấn đề vừa nêu, TS Nguyễn Quang A từ Hà Nội phát biểu:

“Cũng tương tự như chuyện về Thiên An Môn, tôi nghĩ rằng chắc chắn phải có ý kiến của Bắc Kinh thì người ta mới run sợ và người ta bảo báo chí phải rút xuống. Có lẽ cũng tương tự như thế Bắc Kinh như ông tướng Vịnh đã nói, Bắc Kinh nhiều lần yêu cầu Việt Nam là không được đưa ra kiện. Tôi không hiểu giữa Bắc Kinh và Hà Nội có những điều gì ngầm với nhau hay không và có thể có cái gì đó mà họ dọa là họ sẽ đưa ra, thì có thể rất là mất mặt…Và chần chừ ngày nào về việc khởi kiện Trung Quốc thì Việt nam thực sự đầu hàng từ ngày đó.”

Công luận Việt Nam đang đặt câu hỏi với đảng Cộng sản và nhà nước về các biện pháp tiếp theo mà cho đến nay chưa hé lộ. Vì đã hơn 5 tuần lễ, Trung Quốc vẫn duy trì giàn khoan trong vùng biển chủ quyền Việt Nam, đã khoan thăm dò và dịch chuyển đến vị trí khác vẫn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam. Người dân lo ngại nhịn nhục mãi, coi chừng chẳng còn tàu kiểm ngư, tàu cảnh sát biển nào lành lặn mà chấp pháp trên biển.

Giới học giả và trí thức nói rằng, những biện pháp tiếp theo có gì bí mật đâu mà không thể công bố, hay nó cũng bí mật như thỏa thuận Thành Đô 1990 giữa hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc. Bí mật gì ghê gớm đến vậy, khiến Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch lúc đó từng phải thốt lên: “Một thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã khởi sự.”

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

TÂM THƯ VỀ NGÀY ĐẠI LỄ

TÂM THƯ VỀ NGÀY ĐẠI LỄ

 

Kính thưa quý đồng đạo và quý đồng bào,

 

Năm nay, Hội Đồng Trị Sự Trung Ương xin kính mời quý vị tham dự Đại Lễ Kỷ Niệm 75 Năm Đức Huỳnh Giáo Chủ Khai Sáng Phật Giáo Hòa Hảo, được tổ chức tại Hội Quán số 12432 đường Euclid, bên cạnh ngã tư đường Lampson, thành phố Garden Grove.

 

Nhân dịp thiêng liêng trọng đại này, chúng tôi muốn cùng quý vị ôn nhuần lời dạy của Đức Thầy và ưu tư của chúng ta.

 

                    Trả nợ thế nghĩa ân trọn vẹn

                    Cảnh non bồng kỳ hẹn ngày kia

 

Đây là lời của Đức Huỳnh Giáo Chủ.

 

Nợ thế tức là nợ đời, nợ Tứ Ân mà ta đã thọ trong kiếp sống. Vì vậy, ta có bổn phận phải đền trả, bởi vì ta đã thọ nhận vay mượn nó từ thuở bé thơ cho đến lúc thành nhân.

 

Cái công ơn cha mẹ nuôi nấng đẻ đau, 9 tháng cưu mang, 3 năm bú mớm. Rồi ân tấc đất ngọn rau tạo nên kiếp sống này. Ân được dìu dắt về tâm linh đạo đức, còn ân về Đồng Bào và Nhân Loại nữa. Cho nên ta có trách nhiệm phải cố gắng đền đáp một cách tận tình. Ta sẽ tu không thành nếu nợ đời chúng ta không trả, dù có muốn hay không thì cũng phải:

 

                    Tu đền nợ thế cho rồi

                    Thì sau mới được đứng ngồi tòa sen

 

*

 

                    Thấy dân thấy nước nghĩ mà đau

                    Quyết rứt cà sa khoát chiến bào

                    Đuổi bọn xâm lăng gìn đất nước

                    Ngọn cờ Độc Lập phất phơ cao.

 

Con đường cứu nước với chương trình Dân Chủ Xã Hội tiên tiến được Đức Huỳnh Giáo Chủ mở ra là một sinh lộ thực tiễn cho dân tộc Việt. Trước hiểm họa xâm lấn của Trung Cộng, một quốc nạn có thể đưa đến diệt vong, mộtBiển Đông sôi sục như chảo dầu, một biển lửa sắp bùng cháy, kể cả trên đất liền, hiệu ứng với lời tiên tri của Tứ Thánh Tam Hoàng Thơ, đặc biệt là của Đức Huỳnh Giáo Chủ:

 

                    Đất Bắc Kỳ sao quá ruộng sâu

                    Tàu Man đến đó giăng câu đặt lờ

 

Hay là:

 

                    Mặt nước biển lô nhô lặn hụp

                    Chim đua bay cá lại tranh mồi

                    Ngọn thủy triều nô nức sục sôi

                    Bầu trái đất một phen luân chuyển.

 

Để cảnh tỉnh cho những đầu óc nô lệ Tàu cộng, ngay từ năm 1946 khi trả lời cho cụ Phạm Thiều (đại diện Việt Minh) mời Đức Thầy tham chánh, bằng những lời thơ xin trích ra đây 2 câu của cụ Phạm Thiều:

 

                    Sao còn lãnh đạm với đồng bang

                    Toan trút cho ai gánh trị an

 

Đức Thầy đáp họa:

 

                    Nhìn xem Trung quốc khách lân bang

                    Cứ cố xỏ ngầm sao trị an?

 

Và đặc biệt với hai câu như một lời cảnh tỉnh:

 

                    Ngàn năm Bắc địch dày bừa

                    Mà còn đứng dậy tống đưa quân thù.

 

Hỡi những đầu óc mông muội hãy tỉnh thức mau lên kẻo trễ.

 

Kính thưa quý đồng hương, quý đồng đạo,

 

Chúng ta sẽ kỷ niệm ngày Đức Thầy bị cộng sản ám hại, tức là ngày Đức Thầy Thọ Nạn Đốc Vàng, chúng ta đang tổ chức Đại Lễ Kỷ Niệm lần thứ 75 ngày Đức Thầy khai sáng Đạo Phật Giáo Hòa Hảo. Không những tưởng niệm công đức mở đạo cứu đời của Ngài, mà còn tưởng nhớ đến công lao cứu dân cứu nước khi Đức Thầy dấn thân vào con đường đấu tranh chống Pháp để giành Độc Lập qua các Mặt Trận và Phong Trào do Đức Huỳnh Giáo Chủ thành lập hay cộng tác. Nhất là Ngài đã thành lập chánh đảng Việt Nam Dân Chủ Xã Hội.

 

Để tưởng nhớ đến công đức của một vị Phật đã lâm phàm giáo dân độ chúng, đưa muôn người thoát khỏi biển mê sông khổ mà quy về chơn tâm thật tánh để đạt đến cảnh hạnh phúc bình an, tâm linh giác ngộ, như Ngài đã từng bày tỏ:

 

                    Huyền pháp thâm trầm thơm bất tuyệt

                    Vô Vi chánh Đạo hỡi người ơi.

 

Hay một hoài bão chưa thành khi non sông còn dưới ách nông nô độc tài toàn trị. Một đất nước phú cường, một chế độ không độc tài không cộng sản chưa thực hiện được, thì Đức Thầy đã vắng mặt.

 

                    Nước non tan vỡ bởi vì đâu

                    Riêng một ta mang nặng mối sầu

                    Lòng những hiến thân mưu độc lập

                    Nào hay tai họa áp bên lầu.

 

                    *

 

                    Bên lầu tiếng súng nổ vang tai

                    Trời đất phụ chi kẻ trí tài

                    Mưu quốc hóa ra người phản quốc

                    Ngàn thu mối hận dễ nào phai.

 

Kính thưa quý vị,

 

Thư vắn tình dài, chúng ta có thể nghe tiếp hay chia sẻ tâm sự của nhau vào dịp Kỷ Niệm lần thứ 75 ngày Đức Thầy khai sáng Đạo sẽ được Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo tổ chức vào ngày Chủ Nhật 29 tháng 6 năm 2014, lúc 2 giờ chiều tại Hội Quán số 12432 đường Euclid, góc Lampson và Euclid.

 

Một lần nữa xin nhắc lại, ở góc đường Euclid và Lampson, quý vị sẽ thấy trên nóc Hội Quán có treo cờ và biểu ngữ tung bay phất phới, thì đó là địa điểm chào mừng quan khách.

 

Xin quý đồng đạo và đồng hương coi đây là thơ mời chính thức phổ biến sâu rộng trên làn sóng truyền hình và truyền thanh cũng như trên báo chí và internet.

 

Với lòng vô cùng trân trọng và tri ân, sự hiện diện của quý vị là niềm khích lệ lớn lao đối với chúng tôi trên bước đường tầm cầu chân lý, đồng thời phụng sự hữu hiệu cho dân tộc và đạo pháp.

 

Ban Tổ Chức Đại Lễ trân trọng kính mời.

 

 

TM Hội Đồng Trị Sự Trung Ương và Ban Tổ Chức Đại Lễ Kỷ Niệm.

 

– Tiến Sĩ Lê Phước Sang, Hội Trưởng HĐTSTƯ. Trưởng Ban Tổ Chức Đại Lễ. Cell: 832-397-9813.

 

– Huyền Tâm Huỳnh Long Giang, Tổng Vụ Trưởng Phổ Thông Giáo Lý. Tổng Thư Ký Ban Tổ Chức Đại Lễ. Cell:714-720-5271

 

Xin lưu ý: Đậu xe trên đường Lampson hay những địa điểm thuận tiện gần đó.

Categories: Hội Đồng Trung Ương | Leave a comment

Phân công cho giáo su Le Quý An,

Phân công cho giáo su Le Quý An,

Inbox
x

Sang Lephuoc

May 31 (6 days ago)

to Annuocmiaviendongme
Thưa Giáo sư Lê Quý An,

1. Với tư cách Hội Trưởng HDTSTU, sau khi đã tham khảo  và suy nghĩ , tôi trân trong đề cử GS Lê Quý An giữ các nhiệm vụ quan trọng sau đây : a/ Tổng vu trưởng Văn Hóa, Giáo Duc và Thanh Niên – để tổ chức, lựa chọn nhân sự và thực hiện các chương trinh hoạt động thật tích cực và hửu hiệu. Không một xã hội nào và quốc gia nào có thể tiến bộ và thành công, nếu như không hết sức quan tâm đến Văn Hoá, Giáo Dục và Thanh Niên. Đó là lý do tại sao Cụ Hội Trưởng Lương Trong Tường va toản bộ lãnh đạo HDTSTU cùng với đại hội        toàn quóc PGHH đã bầu cử Lê Phước Sang làm Tổng Vụ Trưởng Văn Hoá Giáo Dục và Thanh Niên đồng thời Viện Trửoung Viện Đại Hoc Hoà Hảo. Và LPS đã cố gắng hết sức để thành công. Tôi tự thấy có trách nhiệm phải giữ vị trí TỔNG VỤ TRƯỞNG DANH DỰ để tiếp tay yểm trợ GS Tổng vụ Trưởng Lẹ Quý An.
                 b/ Chủ Tịch Uỷ Ban Đặc Nhiệm để sẵn sàng đảm đương những công cuộc lớn lao trọng đại bất thần HDTSTU xét thấy là phải lo tjực hiện cho bằng được. để giúp PGHH.
                 c/ Cố vấn HDTSTU, GHPGHH và Cố Vấn Cho Cô Khuyến Nguyễn, Chủ Tich Ủy Ban Điều Phối để điều hành và phối hợp các nổ lực của HDTSTU để tạo dựng thành công cho HDTSTU. Xin nói rõ: HDTSTU, GHPGHH gồm nhiều chức sắc – được chia ra làm hai bộ phận. Bộ phận mang danh nghĩa chỉ đạo tinh thần gồm có Hội Trưởng Le Phước Sang Nghị Sĩ; Đệ Nhứt Phó Hội Hội Trưởng Dương Minh Quang, Dân Biểu, trách nhiệm khuýen khích va thúc dẩy anh chi em; Chủ Tich Hội Đồng Cố Vấn Đặc Biệt Dương Thanh Tồn, Dân Biểu, phụ trách các vấn đề Chánh Sách, Chủ tịch Hội Đồng Kế Hoach và Phát Triển, Thạc sĩ Nguyễn Tấn Lạc; Bộ Phân còn lai của HDTSTU có trách nhiệm suy nghĩ, ưu tư và ấn định các công việc phải hoàn thành để chu toàn sứ mạng của HDTSTU…Dựa vào những kinh nghiêm sinh hoạt đã qua  mà HDTSTU thấy có nhu cầu cải sửa và thăng tiến, sau khi  tham khảo rộng rãi và suy xét kỷ lưỡng, tôi quyết định thành lập Ủy Ban Điều Phối và đề cử Cô Khuyến Nguyễn làm Chủ Tịch Ủy Ban nầy. Đồng đạo Huyền Tâm, Tổng Vụ Trưởng Phổ Thông Giáo Lý, Chánh Thơ Ký HDTSTU, Tổng Thơ Ký Ban Tổ Chức Đại Lễ Kỹ Niệm 75 năm của PGHH được đề cử làm Tổng Thơ Ký  cho Ủy Ban Điều Phối để tiếp giúp Chủ Tịch Khuyến Nguyễn trong mọi nhu cầu giáo sự, nhứt là trong viêc liên lạc với dồng đạo và chức sấc PGHH trong Quốc Nội và tại Hải Ngoại
Hội trưởng Le PhuocSang có trách nhiem thường xuyên liên lac chặc chẻ với từng chức sắc và toàn thể chức sắc HDTSTU, có trách nhiệm trực tiếp yểm trợ Chủ Tich Khuyến Nguyễn  để làm cho Ủy Ban Điều Phối HDTSTU,GHPGHH được thành cong tốt đẹp.
Mong rằng Giáo Sư Lê Quý An thành công trong nhiêm vụ. Trong thoi72 gian tổ chức Đại Lễ Kỷ Niệm 75vnam của PGHH, HDTSTU yêu cầu  GS Lê Quý An dồn ưu tiên cao cấp nhứt để vận động tài chánh và vận đông  nhân sự tham dự Đại Lễ cho thật đông đảo.. Yêu cầu Giáo sư Lê Quý An và TTK huyền Tâm thật chăc chẹ với nhau để ủng hổ Chủ Tịch Khuyên Nguyễn cùng Ban Tổ Chức đạt được kết quả như monh muốn .
lephuocsang
TS Lê phước Sang
Hội truởng HĐTSTƯ GH-PGHH
————————————————
12432 Euclid Street, Garden Grove, CA 92840
832-397-9813 & (714) 584-7778 (xin để lại message) 
Categories: Hội Đồng Trị Sư | Leave a comment

Lý Quang Diệu viết về Hoa Kỳ

TS. LêPhước Sang

Hội truởng HĐTSTƯ GH-PGHH

————————————————

12432 Euclid Street, Garden Grove, CA 92840

832-397-9813 & (714) 584-7778 (xin để lại message)

2014-06-06 8:52 GMT-07:00 Philip Ho <nhatquang36@yahoo.com>:

Lý Quang Diệu viết về Hoa Kỳ
Biên dịch: Nguyễn Việt Vân Anh
Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

 

Chỉ có kẻ ngu mới chống Hoa Kỳ
LQD



HOA KỲ: Nhiều trở ngại nhưng vẫn giữ vị trí số 1

Cân bằng quyền lực đang chuyển đổi. Về phía châu Á của Thái Bình Dương, theo thời gian Hoa Kỳ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc gây ảnh hưởng. Mọi chuyện sẽ không còn như trước. Địa lý là điểm mấu chốt trong trường hợp này. Trung Quốc có lợi thế hơn vì nằm trong khu vực và có khả năng phô trương sức mạnh dễ dàng hơn ở châu Á. Đối với Hoa Kỳ, gây ảnh hưởng từ cách xa 8.000 dặm là một điều hoàn toàn khác. Sự bất bình đẳng về ý chí, hậu cần và chi phí là rất đáng kể. Chỉ riêng dân số của Trung Quốc, 1,3 tỉ người, so với 314 triệu người Mỹ, cũng góp phần vào khó khăn của Hoa Kỳ. Nhưng sự chuyển giao quyền lực sẽ không xảy ra một sớm một chiều do ưu thế vượt bậc của Hoa Kỳ về công nghệ. Người Trung Quốc dù có thể chế tạo tàu sân bay nhưng vẫn không thể đuổi kịp người Mỹ một cách nhanh chóng về công nghệ tàu sân bay với sức chứa 5.000 quân và đầu máy hạt nhân. Nhưng cuối cùng, những bất lợi của Hoa Kỳ do khoảng cách địa lý dần sẽ mang tính quyết định. Hoa Kỳ sẽ phải điều chỉnh thế đứng của mình và chính sách của họ trong khu vực này.

Chính quyền Obama tuyên bố vào năm 2011 rằng Hoa Kỳ dự định tiếp cận khu vực châu Á-Thái Bình Dương với một trọng tâm mới. Họ gọi đây là Sự Xoay Trục về Châu Á. Trên tờ Foreign Policy, ngoại trưởng Hillary Clinton giải thích tư duy đằng sau chính sách mới này như sau: “Các thị trường mở ở châu Á là những cơ hội chưa từng thấy đối với Hoa Kỳ về đầu tư, thương mại và tiếp cận với các công nghệ tiên tiến… Về mặt chiến lược, việc gìn giữ hoà bình và an ninh ở khắp khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ngày càng trở nên thiết yếu đối với sự tiến bộ trên toàn cầu, dù là thông qua bảo vệ tự do hàng hải trên Biển Đông, chống lại việc phổ biến vũ khí hạt nhân ở Bắc Triều Tiên hay đảm bảo sự minh bạch trong các hoạt động quân sự của các nước lớn trong khu vực.” Vào tháng 4 năm 2012, 200 lính thuỷ đánh bộ Mỹ đầu tiên đã được triển khai tới Darwin, Úc trong một phần nỗ lực nhằm tăng cường hiện diện của Hoa Kỳ trong khu vực.

Nhiều quốc gia Châu Á chào đón cam kết mới này từ người Mỹ. Trong nhiều năm, sự hiện diện của Hoa Kỳ là một nhân tố quan trọng giúp ổn định khu vực. Kéo dài sự hiện diện này sẽ giúp duy trì ổn định và an ninh. Kích thước của Trung Quốc có nghĩa là cuối cùng chỉ có Hoa Kỳ – kết hợp với Nhật Bản và Hàn Quốc, đồng thời hợp tác với các quốc gia ASEAN – mới có thể đối trọng lại được nước này.

Tuy nhiên, chúng ta còn phải xem liệu người Mỹ có thể biến ý định thành cam kết trong lâu dài được hay không. Ý định là một mặt, tài trí và khả năng là một mặt khác. Hiện nay Hoa Kỳ có quân ở Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Guam. (Người Philippines đã không khôn ngoan khi mời người Mỹ rời khỏi vịnh Subic vào năm 1992. Họ quên mất hậu quả về lâu dài của hành động này và bây giờ họ bảo rằng “Hãy làm ơn quay lại.”) Người Mỹ tin rằng họ có sẵn một dàn xếp quân sự trong khu vực cho phép họ cân bằng lại được với hải quân Trung Quốc. Hơn nữa, vì các vùng nước trong khu vực tương đối nông, người Mỹ có thể theo dõi hoạt động của các tàu thuyền Trung Quốc, kể cả tàu ngầm. Nhưng liệu lợi thế này có thể kéo dài được bao lâu? Một trăm năm? Không thể nào. Năm mươi năm? Không chắc. Hai mươi năm? Có thể. Rốt cuộc, cân bằng quyền lực có thể thực hiện được hay không còn phải chờ vào nền kinh tế Hoa Kỳ trong một vài thập niên tới. Cần có một nền kinh tế vững mạnh thì mới có thể phô trương quyền lực – đầu tư xây dựng tàu chiến, tàu sân bay và các căn cứ quân sự.

Khi cuộc chiến tranh giành quyền bá chủ trên Thái Bình Dương giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc diễn ra, những quốc gia nhỏ hơn ở châu Á bắt buộc phải thích ứng với cục diện mới. Thucydides đã từng viết rằng “kẻ mạnh làm những gì mà họ có thể và kẻ yếu phải chịu đựng những gì họ phải chịu đựng”. Các quốc gia nhỏ hơn ở châu Á có thể không phải có một kết cục bi thảm như thế, nhưng bất cứ góc nhìn hiện thực chủ nghĩa nào về sự suy giảm ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại Châu Á Thái Bình Dương đều sẽ khiến các quốc gia phải điều chỉnh chiến lược đối ngoại của mình. Người ta sẽ phải quan tâm hơn đến những gì người Trung Quốc thích hoặc không thích khi Trung Quốc ngày càng lớn mạnh về kinh tế lẫn quân sự. Nhưng điều quan trọng không kém là không để cho Trung Quốc hoàn toàn thống trị. Cuối cùng, tôi không cho rằng viễn cảnh người Trung Quốc hất cẳng hoàn toàn người Mỹ ra khỏi Tây Thái Bình Dương có thể diễn ra.

Ví dụ như Việt Nam, là một trong những quốc gia không an tâm nhất về sự bành trướng sức mạnh của Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình ra lệnh tấn công miền Bắc Việt Nam vào năm 1979 để trả đũa việc Việt Nam can thiệp vào Campuchia. Đặng phá hủy một vài làng mạc và thị trấn rồi sau đó rút lui, chỉ nhằm đưa ra một lời cảnh cáo với người Việt: “Tôi có thể tiến thẳng vào và tiếp quản Hà Nội.” Đây không phải là bài học mà người Việt có thể quên được. Một chiến lược có lẽ đã được chính phủ Việt Nam bàn đến là làm thế nào để có thể bắt đầu thiết lập các mối quan hệ an ninh lâu dài với người Mỹ.

Tôi cũng cảm thấy rất tiếc rằng sự thay đổi cân bằng quyền lực đang diễn ra vì tôi cho rằng Hoa Kỳ là một cường quốc hoà bình. Họ chưa bao giờ tỏ ra hung hãn và họ không có ý đồ chiếm lãnh thổ mới. Họ đưa quân đến Việt Nam không phải vì họ muốn chiếm Việt Nam. Họ đưa quân đến bán đảo Triều Tiên không phải vì họ muốn chiếm bắc hay nam Triều Tiên. Mục tiêu của các cuộc chiến tranh đó là chống lại chủ nghĩa cộng sản. Họ đã muốn ngăn chủ nghĩa cộng sản lan tràn trên thế giới. Nếu như người Mỹ không can thiệp và tham chiến ở Việt Nam lâu dài như họ đã làm, ý chí chống cộng ở các nước Đông Nam Á khác chắc đã giảm sút, và Đông Nam Á có thể đã sụp đổ như một ván cờ domino dưới làn sóng đỏ. Nixon đã giúp cho miền Nam Việt Nam có thời gian để xây dựng lực lượng và tự chiến đấu. Nam Việt Nam đã không thành công, nhưng khoảng thời gian gia tăng đó giúp Đông Nam Á phối hợp hành động với nhau và tạo dựng nền tảng cho sự phát triển của ASEAN.

Singapore khá thoải mái với sự hiện diện của người Mỹ. Chúng ta không biết Trung Quốc sẽ quyết đoán hay hung hăng như thế nào. Vào năm 2009 khi tôi nói chúng ta phải cân bằng lực lượng với Trung Quốc, họ dịch từ đó sang tiếng Trung thành “kìm hãm”. Điều này làm nổi lên một làn sóng phẫn nộ trong cư dân mạng Trung Quốc. Họ cho rằng làm sao tôi lại dám nói như thế trong khi tôi là người Hoa. Họ quá là nhạy cảm. Thậm chí sau khi tôi giải thích rằng tôi không hề sử dụng từ “kìm hãm”, họ vẫn không hài lòng. Đấy là bề mặt của một thứ quyền lực thô và còn non trẻ.

Trong cục diện đang thay đổi này, chiến lược chung của Singapore là đảm bảo rằng mặc dù chúng ta lợi dụng bộ máy tăng trưởng thần kì của Trung Quốc, chúng ta sẽ không cắt đứt với phần còn lại của thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ. Singapore vẫn quan trọng với người Mỹ. Singapore nằm ở vị trí chiến lược ở trung tâm của một khu vực quần đảo, nơi mà người Mỹ không thể bỏ qua nếu muốn duy trì ảnh hưởng ở Châu Á – Thái Bình Dương. Và mặc dù chúng ta xúc tiến các mối quan hệ với người Trung Quốc, họ cũng không thể cản chúng ta có các mối quan hệ kinh tế, xã hội, văn hoá và an ninh bền chặt với Hoa Kỳ. Người Trung Quốc biết rằng họ càng gây áp lực với các quốc gia Đông Nam Á thì các quốc gia này càng thân Mỹ hơn. Nếu người Trung Quốc muốn đưa tàu chiến đến viếng thăm cảng của Singapore khi có nhu cầu, như là người Mỹ đang làm, chúng ta sẽ chào đón họ. Nhưng chúng ta sẽ không ngả về phía nào bằng cách chỉ cho phép một bên và cấm đoán bên kia. Đây là một lập trường mà chúng ta có thể tiếp tục duy trì trong một thời gian dài.

Chúng ta còn liên kết với phần còn lại của thế giới thông qua ngôn ngữ. Chúng ta may mắn được người Anh cai trị và họ để lại di sản là tiếng Anh. Nếu như chúng ta bị người Pháp cai trị, như người Việt, chúng ta phải quên đi tiếng Pháp trước khi học tiếng Anh để kết nối với thế giới. Đó chắc hẳn là một sự thay đổi đầy đau đớn và khó khăn. Khi Singapore giành được độc lập vào năm 1965, một nhóm trong Phòng Thương Mại người Hoa gặp tôi để vận động hành lang cho việc chọn tiếng Hoa làm quốc ngữ. Tôi nói với họ rằng: “Các ông phải bước qua tôi trước đã.” Gần 5 thập niên đã trôi qua và lịch sử đã cho thấy rằng khả năng nói tiếng Anh để giao tiếp với thế giới là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong câu chuyện tăng trưởng của Singapore. Tiếng Anh là ngôn ngữ của cộng đồng quốc tế. Đế quốc Anh đã truyền bá thứ ngôn ngữ này ra khắp thế giới, nên khi người Mỹ tiếp quản, đó là một sự chuyển đổi dễ dàng sang tiếng Anh kiểu Mỹ. Đây cũng là một lợi thế rất lớn đối với người Mỹ khi trên toàn thế giới đã có nhiều người nói và hiểu ngôn ngữ của họ.

Khi sự trỗi dậy của Trung Quốc tiếp diễn, Singapore có thể nâng cao chuẩn mực tiếng Hoa trong nhà trường để cho học sinh của chúng ta có một lợi thế, nếu họ chọn làm việc hoặc giao thương với Trung Quốc. Nhưng tiếng Hoa vẫn sẽ là ngôn ngữ thứ hai, vì thậm chí nếu GDP của Trung Quốc có vượt qua Hoa Kỳ, họ cũng không thể cho chúng ta được mức sống mà chúng ta đang hưởng thụ ngày nay. Đóng góp của Trung Quốc vào GDP của chúng ta ít hơn 20%. Phần còn lại của thế giới sẽ giúp Singapore duy trì phát triển và đạt được thịnh vượng – không chỉ là người Mỹ, mà còn là người Anh, người Đức, người Pháp, người Hà Lan, người Úc, vv…. Các nước này giao dịch kinh doanh bằng tiếng Anh, không phải tiếng Trung. Sẽ là rất ngu ngốc nếu chúng ta xem xét chọn tiếng Trung làm ngôn ngữ làm việc tại bất kì thời điểm nào trong tương lai, khi mà chính người Hoa cũng rất cố gắng học tiếng Anh từ khi mẫu giáo cho đến bậc đại học.

Cuộc cạnh tranh cuối cùng

Hoa Kỳ không phải đang trên đà suy thoái. Uy tín của Hoa Kỳ đã chịu nhiều tổn thất do việc đóng quân lâu dài và lộn xộn tại Iraq và Afghanistan cũng như do cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng. Nhưng những sử gia giỏi nhìn nhận sẽ chỉ ra rằng một Hoa Kỳ dường như yếu đi và trì trệ đã từng phục hồi ra khỏi những tình huống còn tệ hại hơn. Đất nước Hoa Kỳ đã đối mặt nhiều thử thách lớn trong những thời kỳ chưa xa: cuộc Đại Suy thoái, chiến tranh Việt nam, thời kì trỗi dậy của các cường quốc công nghiệp hậu chiến như Nhật Bản và Đức. Mỗi lần như vậy, Hoa Kỳ đã tìm thấy ý chí và sức mạnh để phục hồi vị trí dẫn đầu cùa mình. Hoa Kỳ đã áp đảo. Nó sẽ thực hiện được điều này một lần nữa.

Thành công của Hoa Kỳ nằm ở nền kinh tế năng động, được duy trì không chỉ bằng khả năng đặc biệt sản xuất ra cùng một thứ với chi phí ít hơn mà còn là liên tục đổi mới sáng tạo – tức là sáng chế ra một mặt hàng hay dịch vụ hoàn toàn mới mà thế giới sớm cảm thấy hữu dụng và đáng khát khao. Chiếc iPhone, iPad, Microsoft, Internet – tất cả đều được tạo ra ở Hoa Kỳ chứ không phải nơi nào khác. Người Trung Quốc có thể có nhiều nhân tài so với người Mỹ, nhưng sao họ không có những phát minh tương tự? Rõ ràng họ thiếu một sự sáng tạo mà người Mỹ sở hữu. Và tia sáng đó cho thấy người Mỹ thỉnh thoảng thể có sáng tạo đột phá thay đổi cục diện, điều cho họ vị trí dẫn đầu.

Thậm chí nếu những người theo thuyết suy thoái đúng, và thật là Hoa Kỳ đang trên đà xuống dốc, ta phải nhớ rằng đây là một nước lớn và cần có một thời gian dài thì mới suy thoái. Nếu Singapore là một nước lớn, tôi sẽ chẳng lo lắng lắm nếu chúng ta chọn chính sách sai lầm, vì hậu quả sẽ xuất hiện chậm. Nhưng chúng ta là một nước nhỏ và một quyết định sai lầm có thể gây hậu quả kinh khủng trong một thời gian ngắn. Mặt khác, Hoa Kỳ như là một con tàu chở dầu lớn. Họ sẽ không thể chuyển hướng nhanh như một chiếc thuyền. Nhưng tôi tin rằng các cá nhân tin vào thuyết suy thoái đã sai lầm. Hoa Kỳ sẽ không suy thoái. So sánh tương đối với Trung Quốc, Hoa Kỳ có thể ít uy lực hơn. Có thể khả năng phô diễn sức mạnh ở Tây Thái Bình Dương của Hoa Kỳ bị ảnh hưởng và có thể Hoa Kỳ không thể sánh với Trung Quốc về dân số và GDP, nhưng lợi thế chính yếu của Hoa Kỳ – sự năng động của họ – sẽ không biến mất. Hoa Kỳ, nếu đem ra so sánh đến giờ, là một xã hội sáng tạo hơn. Và khi mà trong lòng nội bộ nước Mỹ đang có một cuộc tranh luận về việc liệu họ có đang xuống dốc hay không thì đó là một dấu hiệu tốt. Điều đó có nghĩa rằng họ không ngủ quên trên đỉnh cao.

Tại sao tôi lại tin vào thành công về dài hạn của Hoa Kỳ?

Đầu tiên, Hoa Kỳ là một xã hội thu hút đến độ mà Trung Quốc khó lòng bì kịp. Mỗi năm, hàng nghìn người nhập cư đầy tham vọng và có trình độ được cho phép vào Hoa Kỳ, định cư và trở nên thành công trong nhiều lĩnh vực. Những người nhập cư này sáng tạo và thường mạo hiểm hơn, nếu không thì họ đã chẳng rời khỏi quê hương của mình làm gì. Họ cung cấp một nguồn ý tưởng dồi dào và tạo nên một chất men nào đó trong lòng xã hội Mỹ, một sức sống mà ta không thể tìm thấy ở Trung Quốc. Hoa Kỳ sẽ không thành công được đến như vậy nếu như không có người nhập cư. Trong hàng thế kỉ, Hoa Kỳ thu hút nhân tài từ châu Âu. Ngày hôm nay, họ thu hút nhân tài từ châu Á – người Ấn, người Hoa, người Hàn, người Nhật và thậm chí là người Đông Nam Á. Vì Hoa Kỳ có thể dung nạp người nhập cư, giúp họ hoà nhập và cho họ một cơ hội công bằng để đạt được giấc mơ Mỹ, luôn có một nguồn chảy tài năng hướng vào Hoa Kỳ và đổi lại Hoa Kỳ có được công nghệ mới, sản phẩm mới và cách làm ăn mới.

Trung Quốc và những quốc gia khác rồi sẽ phải tiếp thu vài phần của mô hình thu hút nhân tài của Hoa Kỳ phù hợp với hoàn cảnh của mình. Họ phải đi tìm người tài để xây dựng các doanh nghiệp. Đây là cuộc cạnh tranh tối hậu. Đây là thời đại mà chúng ta không còn có các cuộc đua quân sự giữa các cường quốc vì họ biết rằng họ sẽ huỷ hoại nhau bằng cách ấy. Đây sẽ là cuộc cạnh tranh về kinh tế và kĩ thuật và tài năng là nhân tố chính.

Hoa Kỳ là một xã hội thu hút và giữ chân được nhân tài. Họ chiêu dụ được những tài năng bậc nhất từ Châu Á. Hãy nhìn vào số lượng người Ấn trong các ngân hàng và trường đại học của họ — lấy ví dụ như Vikram Pandit, cựu CEO của Citibank. Nhiều người Singapore chọn lựa ở lại Hoa Kỳ sau khi du học. Đó là lí do mà tôi ủng hộ việc cho sinh viên học bổng đi du học Anh, vì tôi chắc rằng họ sẽ trở về Singapore. Ở Anh, bạn không ở lại vì bạn không được chào đón. Và vì nền kinh tế của Anh không năng động như Mỹ, ở đấy có ít công ăn việc làm hơn.

Một lí do tại sao Trung Quốc sẽ luôn kém hiệu quả hơn trong việc thu hút nhân tài chính là ngôn ngữ. Tiếng Hoa khó học hơn tiếng Anh nhiều. Nói tiếng Hoa rất khó nếu như không học từ nhỏ. Đây là ngôn ngữ đơn âm tiết và mỗi từ có tới 4 hay 5 thanh. Khi mà bạn không biết tiếng thì bạn không thể giao tiếp. Đây là một rào cản rất lớn. Đây là kinh nghiệm bản thân tôi. Tôi đã vật lộn trong suốt 50 năm và đến giờ mặc dù tôi có thể nói tiếng Hoa và viết theo kiểu bính âm (pinyin), nhưng tôi vẫn không thể hiểu được tiếng Hoa một cách thành thục như người bản ngữ. Đấy là tôi đã rất cố gắng. Trung Quốc trở nên hùng cường vào tương lai không thay đổi sự thật cơ bản là tiếng Hoa là một ngôn ngữ cực kì khó học. Có bao nhiêu người đến Trung Quốc, ở lại và làm việc ngoại trừ những người Hoa, người Châu Âu và người Mỹ trở thành những chuyên gia nghiên cứu Trung Quốc? Người Trung Quốc cố gắng truyền bá ngôn ngữ của mình ra nước ngoài bằng việc xây dựng các Viện Khổng Tử trên toàn thế giới, nhưng kết quả không được tốt lắm. Người ta vẫn đến Hội đồng Anh và những cơ sở của Hoa Kỳ. Chính phủ Hoa Kỳ thậm chí không cần phải cố gắng. Một thời họ có Trung tâm Dịch vụ Thông tin Hoa Kỳ, nhưng đã bị đóng cửa vì không cần thiết nữa. Đã có hàng loạt ấn phẩm, chương trình truyền hình và phim ảnh làm công việc đó. Nên về quyền lực mềm thì Trung Quốc không thể thắng.

Một nguồn lực khác mang lại sức cạnh tranh cho Hoa Kỳ là nhiều trung tâm xuất sắc cạnh tranh lẫn nhau khắp cả nước. Ở bờ Đông có Boston, New York, Washington, và ở bờ Tây có Berkeley, San Francisco, và ở miền Trung nước Mỹ thì có Chicago và Texas. Bạn sẽ thấy sự đa dạng và mỗi trung tâm lại cạnh tranh với nhau, không ai nhường ai. Khi người Texas thấy rằng mình có nhiều dầu mỏ, James Baker – cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ và là người Texas – đã cố gắng thành lập một trung tâm ở Houston để cạnh tranh với Boston hoặc New York. Jon Huntsman, cựu đại sứ Hoa Kỳ ở Singapore và Trung Quốc và là bạn của tôi, là một ví dụ khác. Gia đình ông có tiền sử bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Vì vậy khi ông thừa hưởng gia tài từ cha, ông mang những nhà khoa học giỏi nhất trong lĩnh vực ung thư tuyến tiền liệt về quê nhà ông là bang Utah để nghiên cứu vấn đề này.

Mỗi trung tâm tin rằng mình tốt như các trung tâm còn lại, chỉ cần tiền và nhân tài, điều có thể kiếm được. Không ai cảm thấy phải tuân theo Washington hay New York. Nếu bạn có tiền, bạn có thể xây dựng một trung tâm mới. Bởi vì khía cạnh này, có sự đa dạng trong xã hội và một tinh thần cạnh tranh cho phép sản sinh ra những ý tưởng và sản phẩm mới hữu ích dài lâu. Trung Quốc thì lại chọn một cách tiếp cận khác. Người Trung Quốc tin rằng khi trung ương mạnh thì Trung Quốc sẽ giàu mạnh. Đây là một thái độ cứng nhắc, yêu cầu mọi người phải tuân theo một trung tâm duy nhất. Mọi người phải hành quân theo cùng một điệu trống. Ngay cả Anh và Pháp đều không thể cạnh tranh với Hoa Kỳ về mặt này. Ở Pháp ai là nhân tài cuối cùng đều vào các viện đại học nghiên cứu lớn. Ở Anh thì đó là Oxbridge (Đại học Oxford và Đại học Cambridge). Những quốc gia này tương đối nhỏ, gọn vì vậy cũng đồng bộ hơn.

Kể từ cuối thập niên 1970 cho đến thập niên 1980, Hoa Kỳ mất vị trí dẫn đầu nền công nghiệp về tay những nền kinh tế mới phục hồi như Nhật Bản và Đức. Họ bị vượt mặt về đồ điện tử, thép, hoá dầu và ngành công nghiệp xe hơi. Đây là những ngành công nghiệp sản xuất quan trọng huy động nhiều nhân công, kể cả những người lao động phổ thông được các công đoàn bảo vệ. Ở một số nước châu Âu, các công đoàn chống đối các cải cách lao động bằng việc đe dọa tiến hành các hành động công nghiệp có thể mang lại tổn thất nghiêm trọng trong ngắn hạn. Nhưng ở Mỹ điều ngược lại đã xảy ra. Các tập đoàn áp dụng những biện pháp thay đổi khó khăn nhưng cần thiết. Họ giảm qui mô, giảm biên chế và cải tiến năng suất qua việc sử dụng công nghệ, trong đó có công nghệ thông tin (IT). Nền kinh tế Hoa Kỳ trỗi dậy trở lại. Các doanh nghiệp mới được mở ra để giúp các công ty tối ưu hoá hệ thống IT của mình, như là Microsoft, Cisco và Oracle. Sau một khoảng thời gian điều chỉnh đầy đau đớn, các công ty có thể tạo ra nhiều việc làm mới trả lương tốt hơn. Họ không thích thú với nhưng công việc lỗi thời mà Trung Quốc, Ấn Độ hay Đông Âu có thể làm được. Họ thấy được một tương lai mà của cải không phải được tạo ra bởi việc chế tạo đồ dùng hay xe hơi, mà bằng sức mạnh trí óc, sức sáng tạo, tính nghệ thuật, kiến thức và bản quyền trí tuệ. Hoa Kỳ đã trở lại cuộc chơi. Họ giành lại được vị trí là nền kinh tế phát triển nhanh nhất trong các nước đã phát triển. Tôi thật sự khâm phục sự năng động và tin thần khởi nghiệp của người Mỹ.

Bạn tiếp tục chứng kiến điều đó ngay lúc này đây. Người Mỹ vận hành một hệ thống gọn gàng hơn và có sức cạnh tranh hơn. Họ có nhiều bằng sáng chế hơn. Họ luôn cố gắng tạo được thứ gì đó mới hoặc làm điều gì đó tốt hơn. Tất nhiên, điều này cũng có một cái giá của nó. Chỉ số thất nghiệp của Hoa Kỳ lên xuống như một cái yoyo. Ở thời kì suy thoái, chỉ số thất nghiệp từ 8 đến 10 phần trăm là chuyện hiển nhiên. Kết quả là một tầng lớp dưới hình thành. Giữa những xa hoa, lấp lánh, các cửa hàng đẹp đẽ ở New York, bạn cũng có thể dễ dàng thấy người Mỹ vô gia cư nằm trên vệ đường. Họ không có gì ngoài tấm áo khoác thân và miếng thùng carton để nằm ngủ. Một số người, kể cả nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Paul Krugman, đã lên án khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn ở xã hội Mỹ.

Điều này có chấp nhận được không? Tôi không thể nói được. Có những tổ chức tôn giáo và từ thiện giúp đỡ. Một số thành lập những quán ăn tình thương cho người thất nghiệp, vv…. Nhưng mà bạn không thể vừa muốn có chiếc bánh trong tay, vừa muốn ăn nó. Nếu bạn muốn tạo nên sự cạnh tranh mà Hoa Kỳ đang có, bạn không thể tránh được việc tạo nên khoảng cách đáng kể giữa tầng đỉnh và tầng đáy, và không thể tránh khỏi việc tạo nên một tầng lớp dưới. Nếu như bạn chọn một nhà nước phúc lợi, như châu Âu sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, bạn tự nhiên sẽ không còn năng động.

Cuối cùng, Hoa Kỳ có một nền văn hoá tôn vinh những người dám tự làm tự chịu. Khi họ thành công, họ được ngưỡng mộ như là một nhà khởi nghiệp tài năng và có được sự công nhận và vị trí xã hội họ đáng được hưởng. Khi họ thất bại thì điều này được coi là một giai đoạn tạm thời, tự nhiên và cần thiết để rốt cuộc thành công. Vì vậy họ có thể đứng lên và bắt đầu lại. Nền văn hoá này khác với Anh, một xã hội tĩnh hơn – nơi mà mọi người biết vị trí phù hợp của mình. Nước Anh rất mang tính châu Âu về điểm này. Người Anh từng có nhiều khám phá vĩ đại – máy hơi nước, máy kéo sợi và động cơ điện. Họ cũng có nhiều giải Nobel khoa học. Nhưng rất ít khám phá trong số này của họ trở nên thành công về mặt thương mại. Tại sao lại như thế? Những năm dài của 2 thế kỉ đế chế đã hình thành một xã hội nơi mà giới thượng lưu cũ và những quý tộc có ruộng đất được kính trọng. Giới nhà giàu mới bị xem thường. Các sinh viên trẻ ưu tú mơ ước trở thành luật sư, bác sĩ và trí thức – những người được ngưỡng mộ vì trí tuệ và đầu óc của họ hơn là lao động cực nhọc hoặc lao động tay chân. Hoa Kỳ thì lại khác, là một xã hội mới không có khoảng cách tầng lớp. Mọi người đều ngưỡng mộ việc làm giàu – và muốn trở nên giàu có. Đây là một động lực rất lớn để tạo nên các công ty mới và của cải. Thậm chí ở các công ty của Mỹ, người trẻ có tiếng nói lớn hơn ở các cuộc họp, và sức trẻ của họ được định hướng để giúp công ty trở nên sáng tạo hơn.

Thứ Sáu, ngày 30 tháng 5 năm 2014
danquyenvn.blogspot
Nguồn: Lý quang Diệu (2013)

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Thưa Bác Sĩ Trúc Xuân, Chủ Tịch Thiên Phước Viện,

TS. LêPhước Sang

Hội truởng HĐTSTƯ GH-PGHH
————————————————
12432 Euclid Street, Garden Grove, CA 92840
832-397-9813 & (714) 584-7778 (xin để lại message)
———- Forwarded message ———-
From: Sang Lephuoc <lephuocsang.pghh@gmail.com>
Date: 2014-06-03 18:26 GMT-07:00
Subject: LêPhước Sang
To: thienphuocvien@yahoo.com

Thưa Bác Sĩ Trúc Xuân, Chủ Tịch Thiên Phước Viện,
1.Tiếp theo điện đàm với Bác Sĩ sáng nay, tôi trân trọng viết thơ nầy kính mòi Bác sĩ và Phu quân cùng với một Phái Đoàn thật hùng hậu của Thiên Phước Vién và Bạn Hữu vui lòng đến tham dự Đại Lễ Kỷ Niệm 75 năm Đức Huỳnh Giáo Chủ khai sáng đạo PGHH, năm nay tổ chức tại Trụ Sổ Trung Ương, số 12432 Euclid St, Garden Grove,CA 92840, gần ngả tư đường Lampson,, cell832-397-9813 và 714-720-5271, vào ngày chủ nhựt,29 tháng 6-2014 lúc 2 pm
2.Nhớ lại những đức tánh  từ thiện va bao dung rộng rãi của Bác Sĩ trước kia, khi chúng ta làm việc chung với nhau, nhân danh là Hội Trưởng HDTSTU, GHPGHH, với tám chín triệu đồng đao PGHH tai Miền Tây Nam Bộ,để tỏ lòng kínt trong, tin cậy va ngưỡng mộ, tôi xin mong mỏi rằng Bác Sĩ Trúc Xuân vui lòng nhân làm Cố Vấn Danh Dự Hội Đồng Trị Sự Trung Ương GHPGHH. Tôi nhớ ơn PGHH trước 1975, đã hết lòng yểm trợ cho tôi đắc cử Dân Biểu Quốc Hôi Lập Hiến với số phiếu cao nhứt toàn quốc, đắc cử Thượng Nghi Sĩ vói số phiếu cao nhứt tại Miền Tây tức là phiếu của PGHH trong Vùng IV Chiến Thuật, hết lòng yểm trợ tôi làm Tổng Trửơg, Phụ Tá Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ chuyên trách phần Giáo Dục, Canh Nông và Y Tế, đề cử tôi là Tổng Vụ Trưởng Văn Hoá Giáo Dục và Thanh Niên, Viện Trưởng Viện đại Học Hòa Hảo, Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trin Binh Viện  Nguỹen Trung Trực với thuốc men va ngân sách đủ để điều trị cho 500 binh nhân nội trú và vô số binh nhân ngoai trú…Tôi tự thấy có bổn phận phải làm hết sức mình để đền ôn cho hơn 8 triệu đồng đạo PGHH. Tôi tin tưởng rằng Bác Sĩ Trúc Xuân sẽ có thể chỉ dẫn cho tôi và gíup đỏ tôi trong nổ lực nầy.
With highest respects, highest admiration, deepest appreciation and deepest gratitude,
lephuocsang
Ts LêPhước Sang
Hội truởng HĐTSTƯ GH-PGHH, Trưởng Ban Tổ Chức Đại Lễ
Cô Khuyến Nguyễn, Chủ Tịch Ủy Ban Điều Hành Va Phối Họp HDTSTU, GHPGHH
Phó Trưởng Ban  Tổ Chúc Đại Lễ Kỷ Niêm.
Huyền Tâm, Chánh Thơ Ký HDTSTU, Tổng Thô Ký Ban Tổ Chức Đại Lễ Kỹ Niệm kiêm Tổng Thô Ký Ủy Ban Điều Hành và Phối Hop HDTSTU,GHPGHH 
 
————————————————
12432 Euclid Street, Garden Grove, CA 92840
832-397-9813 & (714) 584-7778 (xin để lại message)
Categories: Hội Đồng Trị Sư | Leave a comment

Blog at WordPress.com.