Daily Archives: June 16, 2014

Vietnamese government continues to violate the right to religious freedom of Hoa Hao Buddhists

Vietnamese government continues to violate the right to religious freedom of Hoa Hao Buddhists

Trần Thị Nga * Translate by Jasmine Tran (Danlambao) – Each year, the 18th of the fifth lunar month marks the Founding Anniversary of Hoa Hao Buddhism by the Prophet Huynh Phu So. This is one of the three main annual holy events of the Hoa Hao Church.

On the 12th of June (the 15th of the fifth lunar month) 2014, three days before the Founding Anniversary, the Communist government arranged police and hired thugs to surround, threaten, and oppress Hoa Hao followers at their own houses. They were forced into submission, and thus were unable to organize the celebration, let alone to participate in it.
Trần Thanh Giang, who is a Hoa Hao follower residing at 50/1A Chợ Mới town (Chợ Mới district, An Giang province) has been intimidated and menaced at his own house, leaving him unable to leave for food or the bathroom (as he has no onsite toilet facilities).
Võ Văn Bửu, Tám Luốt and Sáu Sóc (from Master Năm Liêm’s Quang Minh Pagoda) were encircled by police and thugs too; however, they were able to leave for food under the control of 5 or 6 police.
In Chợ Mới An Giang district, Tống Văn Chính’s house has been completely surrounded and blocked by securities and thugs, with no one allowed in or out. It was the place chosen by the Hoa Hao followers in recent years to celebrate the Founding Anniversary on the 15th of the Fifth lunar month.
Tống Văn Chính speaks about the police force surrounding his house:
People from the area where police installed the guard-posts over the Hoa Hao Buddhists’ families reported what they had heard from police: “This comes from an order of the Ministry of Public Security. They want to stop the Hoa Hao Buddhists from organising the Founding Anniversary of Hoa Hao Buddhism as the Party and the Government are afraid that Hoa Hao Buddhists could use this holy event to demonstrate their patriotism, and protest against the Chinese invasion in Vietnam.”
Vietnam’s fate is in danger as China has already invaded its sea and islands. The cowardly Vietnamese government, fearful of its invader, did not act to protect the country or its people. Instead, they gathered thousands of police and thugs to harass their citizens, isolating them, threatening them, violating their rights to religious freedom; only to prevent these citizens from protesting against the Chinese invader?
12 June 2014 (15th of the Fifth lunar month)
 
Trần Thị Nga

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Đại sứ Trung Quốc tố cáo Hà Nội từ năm 1974 trở về trước luôn nhìn nhận Hoàng Sa – Trường Sa thuộc về của TQ

Đại sứ Trung Quốc tố cáo Hà Nội từ năm 1974 trở về trước luôn nhìn nhận Hoàng Sa – Trường Sa thuộc về của TQ

Ngoc Nhi Nguyen (Danlambao) dịch – Đây là phần dịch toàn văn bài nói chuyện của đại sứ TQ tại UNCLOS:
Tuyên bố của Đại sứ Wang Min tại cuộc họp thứ 24 của các quốc gia của UNCLOS Theo Chương trình mục “Báo cáo của Tổng thư ký theo Điều 319 của UNCLOS”.
2014/06/13
Kính thưa Ngài Chủ tịch,
Phái đoàn Trung Quốc cám ơn ông Tổng thư ký đã cung cấp cho những báo cáo và thông tin phong phú theo Điều 319 của UNCLOS. Báo cáo phản ánh sự tiến bộ trong công việc của Cơ quan đáy biển quốc tế, Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa và Tòa án Quốc tế về Luật Biển và cho chúng tôi một bản cập nhật về những phát triển mới nhất và những thách thức trong lĩnh vực quốc tế liên quân đến các vấn đề hàng hải và luật biển kể từ khi luật này của UNCLOS có hiệu lực.
Thưa Ngài Chủ tịch,
Ngày hôm nay, 20 năm sau khi có luật pháp hữu hiệu của UNCLOS, ba tính năng chính hiển nhiên trong UNCLOS khi nhìn từ góc độ lịch sử, cụ thể là, UNCLOS là một tập thể chung, cân bằng và đang được phát triển.
UNCLOS là một tập thể chung. Các phần khác nhau của Công ước liên quan chặt chẽ và do đó Công ước cần được xem xét trong toàn bộ. Các bên Nhà nước được yêu cầu phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình một cách toàn diện theo UNCLOS trong khi thực hiện các quyền quy định.
UNCLOS phải được cân bằng. Đó là một thỏa thuận đạt được sau các cuộc đàm phán suốt gần một thập kỷ dài. Có sự cân bằng các lợi ích khác nhau. Do đó, lợi ích khác nhau cần được xem xét một cách công bằng khi giải thích và áp dụng Công ước.
UNCLOS đang được phát triển. Công ước là kết quả của sự phát triển của luật biển, nhưng chính bản thân nó đang không ngừng phát triển. Chúng ta nên được hướng dẫn bởi các nguyên tắc cơ bản của Công ước và đáp ứng với các vấn đề tồn tại và những thách thức khác nhau để từng bước thúc đẩy sự phát triển của luật biển.
Một sự hiểu biết chính xác và sự cam kết dựa trên các tính năng nêu trên có thể giúp chúng ta một cách chính xác để xem xét và thực hiện Công ước một cách đúng đắn.
Thưa Ngài Chủ tịch,
Hội nghị của các quốc gia không phải là nơi để thảo luận về các vấn đề song phương. Tuy nhiên, Việt Nam và Philippines bây giờ đã có những cáo buộc không cơ sở chống lại Trung Quốc, khiến chúng tôi không có lựa chọn mà để đối phó với họ để đảm bảo một sự hiểu biết chính xác về những gì đã xảy ra.
Trước hết, vào ngày 2 tháng năm 2014, giàn khoan HYSY 981 của công ty Trung Quốc bắt đầu hoạt động khoan dầu bên trong vùng tiếp giáp lãnh hải của quần đảo Tây Sa của Trung Quốc nhằm thăm dò dầu khí. Việt Nam đã gửi một số lượng lớn các tàu, bao gồm cả những người có vũ trang, đến chỗ giàn khoan phá rối một cách bất hợp pháp và mạnh mẽ làm gián đoạn các hoạt động của Trung Quốc trong hơn 1400 lần. Những gì Việt Nam làm đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Trung Quốc, quyền chủ quyền và quyền tài phán, hiển nhiên vi phạm pháp luật quốc tế có liên quan, trong đó có UNCLOS, làm suy yếu sự tự do và an toàn hàng hải ở các vùng biển liên quan, và làm hư hỏng hòa bình và ổn định khu vực. Vào giữa tháng, với sự thông đồng của chính phủ Việt Nam, hàng ngàn người Việt biểu tình ngoài vòng pháp luật , phá hoại và chống lại các công ty nước ngoài, bao gồm cả những người Trung Quốc, ở Việt Nam, khiến cho bốn công dân Trung Quốc bị giết dã man và hơn 300 người khác bị thương, và gây thiệt hại tài sản nặng nề. Đến nay, Việt Nam vẫn chưa đáp ứng nhu cầu chính đáng của chúng tôi. Những lời nói dối không bao giờ có thể làm lu mờ sự thật, cũng không thể công khai lạm dụng pháp lý làm cái vỏ bọc che đậy cho các hoạt động bất hợp pháp. Những gì Việt Nam cần phải làm bây giờ là phải tôn trọng chủ quyền của Trung Quốc, quyền chủ quyền và quyền tài phán, ngay lập tức ngừng tất cả các hình thức cản trở làm gián đoạn các hoạt động của Trung Quốc và thu hồi tất cả các tàu và nhân viên trong khu vực, để giảm bớt căng thẳng và khôi phục lại yên bình trên biển càng sớm càng tốt.
Thứ hai, quần đảo Tây Sa là một phần vốn có của lãnh thổ Trung Quốc, và là thuộc thẩm quyền có hiệu lực của chính phủ Trung Quốc. Không có tranh chấp về nó. Tất cả các chính phủ của Việt Nam trước 1974 đã chính thức thừa nhận quần đảo Tây Sa là một phần lãnh thổ của Trung Quốc từ thời cổ đại. Bây giờ chính phủ Việt Nam trở ngược lại tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Tây Sa của Trung Quốc. Tổ tiên chúng tôi nói với chúng tôi, “tin cậy là hết sức quan trọng trong quan hệ nhà nước với nhà nước“. Và trong luật pháp quốc tế, có một nguyên tắc cơ bản được gọi là không phủ nhận. Việt Nam không được tráo trở với những lời hứa của mình, nói một điều ngày hôm nay và phủ nhận nó vào ngày mai. Chúng tôi muốn hỏi, làm thế nào Việt Nam có thể được tin cậy của cộng đồng quốc tế và làm thế nào các cam kết quốc tế của Việt Nam có thể được thực hiện nghiêm túc trong tương lai?
Đối với tất cả các cáo buộc sai lầm của Philippines đối với Trung Quốc, chúng tôi phải chỉ ra rằng nguyên nhân gốc rễ của tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines trong biển Nam Trung Hoa là chiếm đóng bất hợp pháp của Philippines về một số hòn đảo và rạn san hô của quần đảo Nam Sa của Trung Quốc. Philippines nỗ lực để hợp pháp hóa hành vi xâm phạm và hành động khiêu khích của mình bằng cách kéo Trung Quốc vào tố tụng với trọng tài. Philippines cũng đang cố gắng để giành chiến thắng bằng sự cảm thông của quốc tế và hỗ trợ thông qua sự lừa dối. Đây là những gì vấn đề là trong bản chất. Căn cứ các quy định của UNCLOS, chính phủ Trung Quốc đưa ra tuyên bố vào năm 2006, không bao gồm các tranh chấp về phân định biển và chủ quyền lãnh thổ thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc. Là một nước có chủ quyền và một nhà nước thành viên của UNCLOS, Trung Quốc có quyền theo luật quốc tế để làm điều này. Trung Quốc không chấp nhận việc làm sai trái của Philippines. Điều này hoàn toàn dựa trên các quy định của luật pháp quốc tế. Và vị thế của Trung Quốc sẽ không thay đổi.
Về vùng biển Ren’ai Reef, những gì Philippines nên làm là tôn trọng cam kết của mình và ngay lập tức kéo tàu căn cứ bất hợp pháp của mình đi để có được sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế.
Đảo Hoàng Nham là một phần cố hữu của lãnh thổ Trung Quốc. Không có tranh chấp về việc này. Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi trong vùng đảo Chigua Reef, Huayang Reef, hải đảo và các rạn san hô khác. Xây dựng của Trung Quốc trên các đảo và rạn san hô và các biện pháp để bảo tồn tài nguyên sinh vật, bao gồm một lệnh cấm đánh bắt cá, trong vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc liên quan đến việc này cũng nằm trong chủ quyền của Trung Quốc.
Trung Quốc đánh giá cao những nỗ lực của phần lớn các nước ASEAN để duy trì hòa bình và ổn định khu vực. Chúng tôi sẽ tiếp tục làm việc với các nước ASEAN để có hành động đúng về DOC, thúc đẩy hợp tác thiết thực, tăng cường tin cậy lẫn nhau và cùng nhau duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông.
Cảm ơn ông Chủ tịch
 
Đại sứ Wang của Trung Quốc .
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Hồ Chí Minh: Con khủng long ba đầu, chín đuôi

Hồ Chí Minh: Con khủng long ba đầu, chín đuôi

Trần Đức Thảo những lời trăng trối
Phan Thanh Tâm (Danlambao) – Đã có nhiều tác giả tây ta viết về nhân vật Hồ Chí Minh (HCM) riêng cuốn Trần Đức Thảo Những Lời Trăng Trối là cuốn rất đặc biệt vì sách đã “phân tích sư thật về những hành động khủng khiếp” của họ Hồ bởi một triết gia “lỗi lạc của Việt Nam và thế giới”. Năm 1951 ông bỏ Paris về bưng, qua ngả Mạc Tư Khoa, tham gia kháng chiến chống Pháp; đã từng “trải nghiệm gian khổ trong chiến tranh, trong cách mạng” suốt 40 năm. Nhà triết học họ Trần trước khi mất đã khẳng định, Marx đã gây ra mọi sai lầm và tội ác. Ông còn nói, chính “cuồng vọng lãnh tụ” đã khiến “ông cụ” là một con người “cực kỳ vị kỷ, bất chấp những chuẩn mực của lương tri, của đạo lý”. Theo ông, đây là “một Tào Tháo muôn mặt của muôn đời” và “là một con khủng long ba đầu, chin đuôi”.
Lời trối trăng của nhà triết học Trần Đức Thảo cho biết, “nếu không dám khui ra những sai trái lịch sử của “ông cụ”, không dám đưa ra ánh sáng tội lỗi của Marx thì không bao giờ thoát ra được tình trạng bế tắc chính trị độc hại như hiện nay ở nước ta”. Theo ông, quá khứ cách mạng của Việt Nam đã tích tụ quá nặng đầy những di sản xấu. Quyển sách dày 427 trang là những lời tâm sự sống động của một nhà tư tưởng giúp độc giả hiểu rõ nguồn gốc của thảm kịch đang bao phủ lên thân phận dân tộc, lên đất nước ta. Ông cảnh báo xã hội Việt Nam “đang bị ung thối bởi căn bệnh xảo trá, căn bệnh thủ đoạn của đảng”. Ông bị tống đi ra khỏi quê hương vĩnh viễn với cái vé đi một chiều, bị đuổi khỏi Sài Gòn, buộc phải đi Pháp, không được trở về Hà nôi.
Trong cuốn sách, nhà triết học Trần Đức Thảo (1917-1993) đã vạch ra rằng, về lâu về dài, càng thấy ba chọn lựa của “cụ Hồ” mang tính sinh tử với đất nước và dân tộc, đã để lại di sản vô cùng trầm trọng: “chọn chủ nghĩa xã hội của Marx để xây dưng chế độ, chọn chiến tranh xóa hiệp định hòa bình để bành trướng xã hội chủ nghĩa và thống nhất đất nước, chọn Mao và đảng Cộng sản Trung Quốc làm đồng minh, đồng chí”. Sách có 16 chương, một chương chỉ để giải mã lãnh tụ; nhưng ở chương nào HCM cũng được đề cập tới. Ông xác nhận, hễ nói tới thảm kịch VN thì “không thể không nhăc tới ông cụ”. Cố giáo sư quả quyết, ‘phải nói thẳng ra là Mao đã trực tiếp bẻ lái “ông cụ”; và “Trung Quốc muốn nhuộm đỏ Việt Nam theo đúng màu đỏ đậm của Trung Quốc”.
Đãi ngộ hay bạc đãi
Triết gia Trần Đức Thảo (TĐT), nổi tiếng về hiện tượng luận, từng tranh cãi với Jean-Paul Sartre được đảng Cọng Sản Pháp vận động để được cho về xứ nhằm phục vụ cách mạng vì “tôi có những nghiên cưú sâu rộng cuộc cách mạng tháng 10 ở Nga và có vốn hiểu biết vững chắc tư tưởng của Karl Marx”. Khi về tới quê hương “tôi bị vỡ mặt và vỡ mộng”; bị nghi là “siêu gián điệp trí thức”. Tên tuổi ông, một thời danh tiếng trời Âu chìm hẳn. Năm 1991 ông “bị đẩy trở lại Paris”. Thế nhưng, sau khi qua đời ngày 24/4/1993, nhà cầm quyền Hà nội lại truy tặng ông huy chưong Độc Lập; ca tụng ông là nhà triết học lớn của thế kỷ. Họ còn cho rằng “”tư tưởng HCM” đã có ảnh hưởng với nhà triết học số một Việt Nam và lúc sinh thời đảng, nhà nước rất mực trọng đãi ông.
Có thật thế không? Trong chương Đãi ngộ hay bạc đãi, ông nói, những chức vị mà người ta ban cho, “che dấu một đối xử nghiệt ngã và tồi tệ”. Ông cho biết, sự có mặt của ông trong một số sinh hoạt chỉ là “bù nhìn đứng giữa ruộng dưa”. Sự thật “họ chỉ để cho sống; cho tôi khỏi chết đói; chỉ toàn là bạc đãi”. Nhà triết học phân trần, chúng bắt “tôi phải gắng mà học tập nhân dân nghĩa là phải cúi đầu tuyệt đối vâng, nghe lời đảng”. Ông tiết lộ, tuy có chức phó giám đốc trường Đại Học Văn Khoa Sư Phạm nhưng “chưa hề được tham dự bàn bạc gì vào việc tổ chức, điều khiển, ngay cả ý kiến giảng dạy cũng không hề có”. Sự có mặt của ông trong các buổi họp hay đi theo các phái đoàn thanh tra là chỉ để “giới thiệu có thạc sĩ triết bên tây về ủng hộ cách mạng”.
Những điều nói đó phù hợp với bài báo của nhà thơ Phùng Quán Chuyện vui về triết gia Trần Đức Thảo đăng trên báo Tiền phong ngày 11/5/1993: nhờ cái chết của nhà tư tưởng lớn này qua các báo mà rất nhiều người trong nước được biết rằng đất nước chúng ta đã từng sinh ra một triết gia tầm cỡ quốc tế. Ông ta sang tận bên Tây mà chết. Khi sống ở trong nước thì lôi thôi nhếch nhác hơn cả mấy anh công nhân móc cống. Mùa rét thì áo bông sù sụ, mùa nực thì bà ba nâu bạc phếch, quần ống cao ống thấp, chân dép cao su đứt quai, đầu mũ lá sùm sụp, cưỡi cái xe đạp “Pơ-giô con vịt” mà mấy bà đồng nát cũng chê. Thật đúng như anh hề làm xiếc! Mặt cứ vác lên trời, đạp xe thỉnh thoảng lại tủm tỉm cười một mình, một anh dở người”.
Mưu thần chước quỷ
Nhiều người tự hỏi bị đối xử cay đắng như vậy sao “bác Thảo lại hay có lúc bật cười như điên”; và bị chung quanh chê bai, chế giễu “bác là người khùng”? TĐT cho hay, ông bắt đầu “hết cười rồi lại khóc” sau khi tham gia đợt thì hành cải cách ruộng đất ở huyện Chuyên Hóa, tỉnh Tuyên Quang năm 1953. Lương tri trỗi dậy khi thấy lãnh đạo “chọn con đường hành động nặng tính cuồng tín, dã man”. Ông nói, “chẳng thà là thằng khùng hơn làm thằng đểu, thằng ác, thằng lưu manh”. Về giai thoại TĐT đi chăn bò, theo ông, đó là một sự xấu hổ cho cả nước. Làm nhục một trí thức là lối hành xử của một chính quyền man rợ, bị ảnh hưởng Trung Quốc, buộc họ phải học thuộc lòng câu “trí thức không bằng cục phân” của Mao.
Nhà tư tưởng họ Trần nhận xét, Cộng Sản Việt Nam rất sùng bái Trung Quốc, ‘cứ như là con đẻ của đảng Cộng sản Trung Quốc”. Là một nhà triết học, có thói quen tìm hiểu, đánh giá lại, ông thấy “nước ta trồng cây tư tưởng của Marx, cho tới nay cây đó chỉ cho toàn quả đắng”. Chính “cái thực tại tàn nhẫn khi chứng kiến sự đau khổ của con người bị kềm kẹp bởi ý thức hệ” khiến ông muốn “đặt lại vấn đề từ học thuyết”. Triết gia TĐT nói, nhiều lãnh tụ “từ lầu đài tư tưởng Marx bước ra đã trở thành những ác quỉ”. Theo ông, “quỉ ấy là ý thức đấu tranh giai cấp”; là thứ “vi rut” tư tưởng độc hại vô cùng; nó phá hoại xã hội, nó thúc đẩy con người đam mê tìm thắng lợi, bằng đủ thứ quỉ kế, để mưu đồ củng cố cho chế độ độc tài, độc đảng.
Theo nhà triết học số một của Việt Nam, “ông cụ” là một nhà ảo thuật chính trị đại tài: lúc thì biến có thành không, lúc thì biến không thành có”. Đúng là “mưu thần chước quỉ” chuyên hành động muôn hướng, muôn mặt, “trí trá còn hơn huyền thoại Tào Tháo trong cổ sử Trung Quốc!” Bác Hồ đánh lừa dư luận Âu Mỹ, khi chép lời nói đầu bản tuyên bố độc lập của Mỹ; đánh lừa các đảng trong nước khi thành lập chính phủ đại đoàn kết và mời cựu hoàng Bảo Đại làm cố vấn. Vài tháng sau, Võ Nguyên Giáp dẹp bỏ; coi họ là phản động; đẩy Bảo Đại sang Côn Minh. “Ông cụ” còn được triết gia TĐT gọi là một nhà chính trị “thần sầu quỉ khốc” khi “ông cụ” khôn khéo mưu tìm sự tiến cử của Mao để được đưa về xứ làm lãnh đạo duy nhất phong trào cách mạng Việt Nam.
Cố Giáo sư TĐT kể lại rằng, biết mình bị Đệ Tam Quốc Tế tức Liên Sô loại đuổi khéo về Viễn Đông và biết Mao là thủ lãnh các phong trào cộng sản ở Châu Á, “ông cụ” vào làm việc cho Bát Lộ Quân, tuyên thệ gia nhập đảng Cộng sản Trung Quốc; được Mao rất ưu ái. Nhờ vậy, “ông cụ” từng bước loại bỏ tất cả đối thủ Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn văn Cừ… để rồi vươn lên làm Tổng Bí Thư kiêm chủ tịch nước năm 1945. Dù sự tấn phong “ông cụ” ở các đại hội Ma Cao và Hồng Kông bị phản ứng của các khu uỷ, xử uỷ và của “Đê Tam” nhưng nhờ Mao dàn xếp nên đã qua mặt những sự phản đối này vì họ là những kẻ đã từng nhận được sự nâng đỡ của cộng sản Trung Quốc. Triết gia họ Trần nói thêm, “ông cụ” luôn luôn là người biết chụp bắt cơ hội”.
Huyền thoại “bác Hồ”
Vẫn theo nhà tư tưởng TĐT, các nhà nghiên cứu nước ngoài khi viết về HCM họ bị chói lòa bởi những huyền thoại về “ông cụ” của bộ máy tuyên truyền; họ xử dụng sản phẩm chính thống của đảng thì làm sao họ hiểu hết được mặt thật của họ Hồ. Ông nói, có một thứ tư liệu rất chính gốc, bộc lộ rõ cái cuồng vọng lãnh tụ của “ông cụ”; nó chi phối từ nội tâm. Đó là những tên giả chính “cụ Hồ” đã tự đặt cho mình. Muốn tìm hiểu cặn kẻ, phải phân tách những chuyện biến tư tưởng qua từng giai đoạn đổi tên, đổi họ; từ những cái tên “Tất Thành”, rồi “Vương”, rồi là “Ái Quốc”, chót hết là “Chí Minh”. Đấy là những biểu hiện của một thứ bệnh tâm thần, khao khát danh vọng. HCM chỉ thành lãnh tụ cách mạng sau khi không được cho vào học Trường Thuộc Địa để ra là quan.
Nhà triết học nói thêm rằng, một người tự viết sách đề cao mình, như cuốn “Những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ chủ tịch” và “Vừa đi đường vừa kể chuyện” thì không thể là một người vì nước vì dân được. “Ông cụ” đã tạo ra một thời chính trị điên đảo. Ngoài ra, đám quần thần chung quanh “ông cụ”, không tha thứ cho ai dám tỏ ra ngang hàng với “Người”. Họ tôn vinh “ông cụ” làm bác, làm cha dân tộc. Tạ Thu Thâu chết mất xác vì câu nói “ngoài bắc có cụ, trong nam có tôi”. TĐT cho biết, năm 1946 gặp “ông cụ” trong một buổi chiêu đãi ở Paris, ông đã bất ngờ trước lời khước từ: “cách mạng chưa cần tới chú đâu” của HCM; khi ông tự ý nắm tay “ông cụ” ngỏ lời: “Tôi muốn về nước cùng cụ xây dựng thành công một mô hình cách mạng tốt đẹp tại quê hương”.
Dù thế, triết gia vẫn nhờ bạn bè phương tây giúp ông được về nước tham gia kháng chiến. Nhờ vậy, ông có cơ hội quan sát một Hà nội và Sài Gòn đang bị lột xác theo sự phát triển của chủ nghĩa xã hội. Một giai cấp thống trị mới đang hình thành. Càng quan sát nhà tư tưởng TĐT càng thấy huyền thoại về “bác Hồ” là tác phẩm của “cả một công trình nghệ thuật hóa trang cao độ”. Cái gì có giá trị là của bác, của đảng. Họ công kênh “ông cụ” lên làm bậc thần, bậc thánh. Theo TĐT, “phải hít thở cái không khí” thờ kính, phục tùng lãnh tụ mới có thể hiểu phần nào những “phương pháp tâm lý tinh vi” tôn sùng HCM. Ông nhấn mạnh, “bác Hồ” chỉ có thể coi như mẫu mực thành đạt về chính trị; “không thể nào là mẫu mực về mặt đạo đức”; vì cách sống muôn mặt của bác đâu phải là gương sáng.
Nhà triết học bị kết tội “cầm đầu âm mưu chống đảng” vì hai bài viết trên Nhân Văn Giai Phẩm (NVGP), do một số anh em văn nghệ trẻ chủ xướng. Ông cho biết, nếu không có mấy nhà trí thức Pháp đứng đầu là Sartre “tận tình quan tâm, chăm sóc” đến ông thì với mấy tội: tự ý nắm tay bác năm 1946 đòi cùng về nước làm cách mạng; từ chối lên án bố mẹ khi khai lý lịch; muốn đấu lý với cố vấn Trung Quốc lúc làm đội viên cải cách ruông đất và vụ NVGP, ông có thể “dễ chết như chơi”. Năm 1952 triết gia được dẫn đi chào “Bác”. Ban lễ tân dặn ông bốn điều cần nhớ: phải đứng xa “Người” ba mét, chỉ lại gần khi “Người” ra lệnh; không được nói leo, chỉ trả lời câu hỏi; không được chào trước; không được nói tôi phải xưng bằng cháu, gọi “Người” bằng “bác.
Chư hầu ngoan ngoãn
Theo sự chiêm nghiệm của triết gia TĐT thì HCM chưa đọc kỹ học thuyết sách vở của Marx, “tư duy sổi nên chưa tiêu hóa được”; nhưng lại “đọc thuộc lòng cuốn “Le Prince” của Machiavel”, cuốn chỉ bày tận dụng mọi thứ để người ta sùng bái. “Ông cụ” luôn luôn chứng tỏ một bề ngoài nặng lý trí đến vô cảm; không thiết tha với gia đình; không có bạn hữu thân tình. “Ông cụ” rất ghét cánh Tây học. Trong vòng thân cận, chỉ có toàn hầu cận ít học được ”ông cụ” đào tạo để phục tùng; rồi sau đề bạt lên làm lớn. “Ông cụ” làm thơ là “do cuồng vọng chính trị”, là để “ca ngợi mình” và “hô hào quyết chiến”. Nhà triết học này còn cho rằng, trên thân phận HCM có một bóng ma quái nó đè. Đó là “ bóng ma đế quốc bành trướng vô cùng độc đoán, lấn át của Mao.”
Vẫn theo TĐT, ý thức hệ xã hội chủ nghĩa chỉ là một phương cách giam hãm các dân tộc chư hầu với cái tên đẹp “khối các nước xã hội chủ nghĩa anh em” nhưng thực chất là một đế quốc đỏ; nó kềm kẹp các dân tộc nhược tiểu quanh nó. Đó “chỉ là thứ liên minh ma quái, quỉ quyệt, giả dối”; muốn biến “nước ta thành một chư hầu ngoan ngoãn”. “Ông cụ” vì tham vọng quyền lực từ ý chí muốn học ra làm quan nhưng không được nên đã lấy học thuyết “giai cấp đấu tranh” làm kim chỉ nam để tạo cơ hội thành danh, thành lãnh tụ. Nhà triết học nói, để nắm vững quyền lực “ông cụ” phải thủ vai ông thánh, ông thần”, từ bỏ cả vợ con, mất đi tính người, thẳng tay tiêu diệt những kẻ có tài. Lại thêm, Mao đã cài chung quanh “ông cụ” một đám cực kỳ cuồng tín.
Trong chương “Hai chuyến di chuyển đổi đời” của cuốn sách, nhà triết học họ Trần cho biết, ông được rời cảnh “sống như bị giam lỏng ở Hà nội” để vào Sài Gòn ở là nhờ sự vận động của một số đồng chí trí thức Nam Bộ. “Sài Gòn đã làm tôi bàng hoàng tới cùng cực. Khang trang và hiện đại; đâu có đói khổ vì bị Mỹ Ngụy kềm kẹp. Miền Nam đã có một mức độ dân chủ rõ rệt. Miền bắc bị tư tưởng Mac-Lenine làm nẩy sinh những chính sách đầy sai lầm. Sĩ quan của “bộ đội cụ Hồ” đã có “thái độ thô bạo, ứng xử thô bỉ” khi nhục mạ, gọi Dương văn Minh là mày, và bắt cả nhóm phải đứng cúi đầu.” Đấy là những lời thố lộ của TDT mà nhà văn Tri Vũ Phan Ngọc Khuê đã viết lại qua các cuốn băng thu những điều ông tâm sự với một số bạn trong sáu tháng cuối đời ông ở Paris.
Nhà triết học còn thú nhận Trần Dần và Trịnh Công Sơn là hai người đã thúc đẩy ông phải thoát khỏi thái độ hèn nhát đã ngự trị trong đầu óc trí thức và văn nghệ sĩ Hà nội; giới này đã ứng xử đồng lõa với tội ác của cách mạng. Người thứ nhất là Trần Dần lúc ông ta mời viết cho NVGP. Người thứ hai là các bài hát của họ Trịnh. Ngoài ra, những ai từng sống ở Sài Gòn sau 1975, nếu đọc chương “Vẫn chưa được giải phóng” đều nhận thấy những mô tả của triết gia về Hà nội năm 1954 rất giống Sài Gòn sau 30/4/75: “cả con người và xã hội ở đây đã không hề được giải phóng” và thật là “vô lý và nhục nhã” khi so sánh với chế độ cũ. Ông nhận xét: tư hữu kiểu cũ do làm cần cù, tích lũy mà có được; tư hữu kiểu mới do chiếm đoạt bằng chữ ký và quyền lực.
Cao vọng hơn “bác Hồ”
Được gợi hứng bởi môi trường miền Nam, trong vòng 10 ngày TĐT hoàn thành một tập sách nhỏ “Con người và chủ nghĩa lý luận không có con người”. Đây là văn bản phản bác giáo điều, được đón nhận như một bông hoa lạ. Chẳng bao lâu sách bị cấm phổ biến. Giới cựu kháng chiến và nhiều trí thức khác còn ở lại trong nước tấp nập tới làm quen với nhà triết học để nghe những “lời tiên tri” là “cách mạng đã biến chất để tư bản man rợ tràn ngập”. Trung Ương thấy số người “phức tạp” đến gặp “bác Thảo” càng ngày càng đông, nên Đảng đã quyết định “anh phải ra đi”. Nhà triết học than “thôi thì đành mang thân xác ra xứ người”. Qua Pháp, tuy đã một thời vang danh ở Paris, ông vẫn “lâm cảnh sống nay lo mai”, và còn bị Toà đại sứ theo dõi kiểm soát chặt chẽ.
Trong cài xui có cái may. Nhà văn Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê nhờ những lúc nhà triết học bán chữ để kiếm sống qua các buổi thuyết trình ở kinh đô ánh sáng mà đã làm quen thân với ông, được nghe ông tâm sự. Quyển sách ghi lại nỗi hối hận đã thiêu đốt ông vào lúc hoàng hôn của cuộc đời. Nhà văn cho hay ông “sẵn sàng trao mấy cuốn băng cho những ai muốn nghiên cứu về TĐT”. Trong sách nhà triết học có lần đã khẳng định: “tôi có tham vọng cao hơn của “bác Hồ” nhiều lắm”. Đấy là xây dựng “một lâu đài tư tưởng trong đó toàn thể nhân loại đều thể hiện rõ quyền sống của mình, quyền dân chủ bằng lá phiếu của mình”. Nhưng mộng đó không thành, triết gia lừng danh một thời trời Âu bị đột tử. Chúng ta mất đi “một kho tàng trải nghiệm về chiến tranh, về cách mạng”.
Người chủ trương Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ, Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích cho biết việc tái bản cuốn sách là để phục hồi danh dự một nhà tư tưởng lớn của Việt Nam. Trong lời bạt ông viết, “cuộc đời TĐT xem như cuộc đời tan nát vì “cách mạng” mà ông chọn phục vụ vào năm 1951 nên mọi sự trở nên vỡ lở. Cuộc đời đó có thể xem như một bài học –“an object lesson”- với những ai để cho tình cảm, lý tưởng che mờ đi lý trí, kinh nghiệm. Không những ông mất vợ, không có đời sống gia đình, không có tự do trong bóng tối làm những việc ông muốn làm cho quê hương đất nước của ông. Sự nghiệp triết học của ông là một sự nghiệp dang dở.” Sách được xuất bản lần đầu với số lượng ít; tên gốc là Nỗi hối hận lúc hoàng hôn chỉ để thăm dò ý kiến thân hữu.
Những ai yêu “bác Hồ”, những ai coi HCM là tên tội đồ hay các nhà khoa bảng, các học giả, các ông bà phản chiến và những ai còn nghĩ đến nước Việt nên đọc cuốn này. Cho tới nay chưa có tác giả nào trên thế giới – ngoại trừ triết gia TĐT- nêu ra được, thật sáng tỏ, những điều vô cùng bi thảm trong thời cách mạng; vì ông đã trải nghiệm 40 năm trong cuộc. Ngoài ra, ông bà nào giỏi tiếng Tây tiếng Mỹ nên dịch sách ra cho thế giới biết thêm về HCM, kẻ đã lừa mọi người từ Âu sang Á; khiến nhà tư tưởng số một Việt Nam TĐT phải nói thẳng rằng, Napoléon, Hitler cũng có tâm thức tự cao tự đại nhưng “không gian trá đến mức tinh quái” để có những “hành động muôn hướng, muôn mặt, trí trá còn hơn cả huyền thoại Tào Tháo trong cổ sử Trung Quốc!”.
Saint Paul, 6/2014
Categories: Nhan dinh | Leave a comment

TS Hà Vũ: ‘TQ chiếm nốt Trường Sa, chính thể VN thay đổi mới có liên minh quân sự Việt-Mỹ’

TS Hà Vũ: ‘TQ chiếm nốt Trường Sa, chính thể VN thay đổi mới có liên minh quân sự Việt-Mỹ’

Trà Mi (VOA) – Một nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng, xuất thân từ một gia đình ‘công thần’ với đảng cộng sản Việt Nam, cho rằng bao giờ Trung Quốc chiếm nốt Trường Sa, chính thể Việt Nam thay đổi, mới có thể có liên minh quân sự giữa Việt Nam với Hoa Kỳ.

Nhận định của Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ được đưa ra giữa bối cảnh tranh chấp Biển Đông tiếp tục leo thang với giàn khoan 981 Trung Quốc đưa vào khu vực Việt Nam có tuyên bố chủ quyền, làm khơi dậy những tranh luận về khả năng Việt Nam liên minh quân sự với Mỹ để đối phó với sự xâm lược từ Bắc Kinh.

Việt-Mỹ có thể đồng hành quân sự với nhau hay không và lợi-hại của việc này ra sao? Đó cũng là nội dung cuộc trao đổi giữa Trà Mi VOA Việt ngữ hôm nay với Tiến sĩ luật Hà Vũ, người cách đây 4 năm từng tuyên bố rằng ‘Đồng hành quân sự với Mỹ là mệnh lệnh thời đại để bảo vệ chủ quyền trước sự lấn lướt của Trung Quốc’ vì ‘chỉ có Mỹ với tư cách cường quốc duy nhất trên thế giới sẵn sàng đối mặt với Trung Quốc về quân sự’ mới có thể giúp Việt Nam ‘giải bài toán an ninh lãnh thổ.’
Con trai cố thi sĩ Cù Huy Cận cũng là người đã nhiều lần kiến nghị giới lãnh đạo Việt Nam tăng cường quan hệ với Hoa Kỳ để bảo vệ chủ quyền quốc gia trước hiểm họa bành trướng của Trung Quốc.
VOA: Theo ông, với tình hình hiện nay, về phía Mỹ, chuyện ‘đồng hành quân sự’ với Việt Nam có khả thi?
TS Hà Vũ: Hoàn toàn khả thi. Mỹ với tư cách siêu cường thế giới có lợi ích toàn cầu thì mọi xung đột quân sự trên thế giới đều ảnh hưởng tới quyền lợi của Mỹ, ảnh hưởng tới bối cảnh hợp tác của Mỹ với các nước. Cho nên, bắt buộc Mỹ phải quan tâm đặc biệt là hiện nay Trung Quốc đã thể hiện quá rõ ràng hành động xâm chiếm lãnh thổ của các nước ở Đông Á.
VOA: Khả thi, nhưng thiện chí của Mỹ trong chuyện ‘đồng hành quân sự’ với Việt Nam ra sao? Với cách phản ứng của Mỹ trước các hành động của Trung Quốc trên Biển Đông hiện nay dừng lại ở mức ‘lên tiếng phản đối’ và ‘bày tỏ quan ngại’, người ta nghi ngờ khả năng Mỹ tiến gần hơn với Việt Nam để ‘tái cân bằng lực lượng’ ở Châu Á là chưa mấy tích cực. Ý kiến ông thế nào?
TS Hà Vũ: Mọi người không hiểu đúng chính sách của Mỹ. Mỹ đặc biệt quan tâm đến ổn định ở Đông Á và tình hình Biển Đông nói riêng. Các hành vi gây xung đột của Trung Quốc, đương nhiên Mỹ phải đặc biệt quan tâm vì nó làm gián đoạn đường lưu chuyển của quốc tế. Thế nhưng, việc sẵn sàng can dự từ phía Mỹ để giúp Việt Nam bảo vệ chủ quyền phải có điều kiện, phải có hiệp ước liên minh quân sự.
VOA: Liệu Mỹ có sẵn sàng đánh đổi những quyền lợi về thương mại-quân sự với bạn hàng rất lớn là Trung Quốc để đi bảo vệ những nước nhỏ hơn trong khu vực?
TS Hà Vũ: Không phải lúc nào quan hệ với nước lớn cũng đè bẹp quan hệ với nước nhỏ. Ở đây còn có vấn đề chính nghĩa. Nếu chỉ thấy Trung Quốc là nước rất lớn mua hàng hóa của mình mà mặc kệ Trung Quốc muốn làm gì làm, thì đến lúc nào đó, chính sách chỉ trọng đồng tiền sẽ dẫn đến việc Trung Quốc dùng sức mạnh quân sự dẹp tan quyền lợi của Mỹ. Việc Mỹ ủng hộ Việt Nam về mặt quân sự chống lại xâm lược Trung Quốc cũng chính là bảo vệ quyền lợi của Mỹ, không chỉ bảo vệ đường giao thông hàng hải ở Đông Á mà còn để khẳng định với Trung Quốc rằng phải chấm dứt ngay những hành động phiêu lưu quân sự. Tóm lại, Mỹ nhất thiết phải ủng hộ Việt Nam. Nhưng Mỹ chỉ có thể ký hiệp định liên minh quân sự với một nước có chế độ chính trị, nếu không hoàn toàn thân thiện, thì cũng không thù địch. Mỹ luôn có chính sách chống lại chủ nghĩa cộng sản vì đó là chủ nghĩa vô nhân, xâm hại những quyền căn bản của con người. Bây giờ Việt Nam vẫn duy trì chế độ chống lại con người ấy mà Mỹ lại ủng hộ chế độ đó thì không khác gì phản lại lý tưởng vì con người của mình, phản lại các giá trị nhân bản của Mỹ và của thế giới. 

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ đến đài VOA để dự cuộc phỏng vấn (Ảnh: Khải Nguyễn)
“Trong ban lãnh đạo đảng cộng sản hiện nay không có phe thân Tây hay phe thân Tàu, mà chỉ có một phe quyết giữ cho được độc tài của đảng cộng sản để cướp bóc hơn nữa tài sản của nhân dân và quốc gia.”
Cù Huy Hà Vũ
VOA: Quan hệ Việt-Mỹ lâu nay vẫn có những rào cản. Với cuộc đối thoại nhân quyền vừa diễn ra tháng rồi và tình hình Biển Đông hiện nay, ông dự kiến sẽ trông thấy những điều gì sắp tới?
TS Hà Vũ: Để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, Việt Nam tất yếu phải liên minh quân sự với Mỹ. Muốn vậy, Việt Nam phải từ bỏ chế độ độc tài, phải trao lại quyền làm chủ đất nước cho người dân thông qua bầu cử công khai, tự do, có sự giám sát của Liên hiệp quốc. Mỹ trong cuộc đối thoại nhân quyền tháng 5 qua đã đòi hỏi Việt Nam cải thiện nhân quyền, trả tự do cho các nhà bất đồng chính kiến và hủy các căn cứ pháp lý dựa vào đó bỏ tù họ. Việt Nam cũng đã có những cam kết sẽ cải thiện. Đây không phải là vấn đề nhân nhượng mà là cái thế bắt buộc Việt Nam phải cải thiện nhân quyền. Vì nếu không, những thứ khác sẽ ách tắc, từ việc gia nhập Hiệp định tự do thương mại TPP cho đến sự hỗ trợ từ Mỹ chống xâm lược từ Trung Quốc. Tuy nhiên, tôi cảnh báo rằng cộng sản Việt Nam nói không đi đôi mà thậm chí còn ngược lại với hành động. Họ cam kết điều này điều kia với Mỹ và Liên hiệp quốc với tính chất thủ đoạn, chiến thuật câu giờ để chế độ cộng sản tồn tại được lúc nào hay lúc nấy. Cho nên, tôi thật sự hoàn toàn không tin tưởng vì hiện nay đảng cộng sản Việt Nam vẫn đặt lợi ích của họ lên trên lợi ích dân tộc.
VOA: Nhiều người nói trong nội bộ đảng vẫn chưa thống nhất được chính sách thân Tây hay thân Tàu vì giữa lúc Bộ Ngoại giao kêu gọi Mỹ ‘có hành động mạnh mẽ hơn’ để bảo vệ hòa bình Biển Đông thì Bộ Quốc phòng, tại Đối thoại Shangri-la, nói quan hệ Việt-Trung nhìn chung tốt đẹp và rằng ngay trong gia đình còn có xích mích huống chi là các nước láng giềng, va chạm là điều khó tránh khỏi.
TS Hà Vũ: Trong ban lãnh đạo đảng cộng sản hiện nay không có phe thân Tây hay phe thân Tàu, mà chỉ có một phe quyết giữ cho được độc tài của đảng cộng sản để cướp bóc hơn nữa tài sản của nhân dân và quốc gia. Tuy nhiên, trong cách hành xử họ có sự phân công. Bên đảng tập trung vào chuyện hòa hiếu với Trung Quốc. Bên nhà nước thì tìm cách kéo sự can thiệp của phương Tây giúp giải tỏa phần nào tâm lý người dân trước hành vi xâm lược của Trung Quốc vì hiện giờ người dân vô cùng phẫn nộ trước các chính sách của nhà nước đối với Trung Quốc.
VOA: Theo ông, không có phe thân Tây hay thân Tàu trong nội bộ đảng, chỉ có một phe thân lợi ích của chính họ mà thôi. Vậy những điều kiện như thế nào cần và đủ để giới lãnh đạo Việt Nam bắt buộc phải thay đổi vì quyền lợi đất nước?
TS Hà Vũ: Điều kiện để họ thay đổi là Trung Quốc tiến tới xâm lược nốt quần đảo còn lại là Trường Sa. Trong trường hợp đó, nhân dân và quân đội Việt Nam sẽ phải có hành động chính thức buộc đảng cộng sản từ bỏ quyền lực của mình, lập chính phủ mới hoàn toàn của dân. Chính phủ đó lúc ấy mới có thể đặt vấn đề liên minh quân sự với Mỹ và chỉ trong trường hợp đó Mỹ mới có thể giúp Việt Nam về mặt quân sự để bảo toàn lãnh thổ của Việt Nam ở Biển Đông.
VOA: Có người cho rằng nếu Việt Nam nghiêng về Trung Quốc thì mất Biển Đông, mất chủ quyền; nhưng nghiêng về Mỹ thì tự biến mình thành tuyến đầu chống Trung Quốc, đẩy dân tộc vào nguy cơ xung đột chiến tranh và nhiều rủi ro với Trung Quốc. Ý kiến ông ra sao?
TS Hà Vũ: Ý kiến đó hoàn toàn sai lầm. Trong quan hệ quốc tế ngày nay là bảo vệ quyền lợi của nhau chứ không phải liên kết với nhau để chống lại hay xâm hại quyền lợi của nước khác.
VOA: Từ kinh nghiệm của Việt Nam với Mỹ trong quá khứ, cũng có người lo ngại rằng kết thân với Mỹ, trong trường hợp nào đó, khi quyền lợi của Mỹ ngả nghiêng về một hướng khác thì Việt Nam cũng có thể bị bỏ rơi một lần nữa.
TS Hà Vũ: Tôi không nghĩ như vậy. Khi Việt Nam và Mỹ thật sự cần đến nhau thì không có khái niệm Mỹ bỏ rơi Việt Nam hay ngược lại. Nếu chế độ độc tài của đảng cộng sản Việt Nam được giải thể thì Mỹ chắc chắn sẽ coi Việt Nam không những là nước bạn, mà còn là nước có thể hợp tác trong mọi lĩnh vực để cùng nhau phát triển.
VOA: Xin chân thành cảm ơn ông đã dành thời gian cho cuộc trao đổi này.

Trà Mi

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Trung Quốc la làng khi Hải quân Việt Nam-Philipines giao lưu

Trung Quốc la làng khi Hải quân Việt Nam-Philipines giao lưu

(Bình luận quân sự) – Trung Quốc đang lo sợ Nhật Bản-Việt Nam và Philipines liên thủ với nhau trên Biển Đông

Cách đây 43 năm, tháng 4/1971, vào lúc cao điểm của Chiến tranh Lạnh và chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ bị phá sản tại miền Nam Việt Nam thì cả thế giới kinh ngạc khi đội tuyển bóng bàn Mỹ được đối thủ không đội trời chung Trung Quốc mời tới thi đấu ở Bắc Kinh.

Đội bóng bàn của Mỹ cùng các phóng viên tháp tùng đã trở thành những mũi tên đầu tiên xuyên thủng bức tường thù địch giữa hai quốc gia, tạo điều kiện cho chuyến thăm lịch sử của tổng thống Mỹ khi đó là Richard Nixon 10 tháng sau đó.

Giàn khoan Hải Dương 981: Trung Quốc có dám liều…thẻ đỏ?

Trong lịch sử, chưa bao giờ thể thao được sử dụng làm công cụ thúc đẩy ngoại giao một cách hiệu quả đến vậy. Và, thế giới đặt tên cho sự kiện này biệt danh “ngoại giao bóng bàn”.

Mao và R.Nixon. Cú bắt tay đầy máu nhân dân Việt Nam

Mao và R.Nixon. Cú bắt tay đầy máu nhân dân Việt Nam

‘Ngoại giao bóng bàn’ nhuốm máu nhân dân Việt Nam

Mười tháng sau trận “đấu bóng bàn”, thế giới đã chứng kiến cú bắt tay của Chủ tịch Mao và Richard Nixon tại Trung Quốc. Một “Thông cáo chung Thượng Hải” mà Trung Quốc ký với Mỹ ngày 28/02/1972 ra đời. Theo đó có 3 nội dung cần quan tâm, nói là quan tâm bởi vì 3 nội dung này Mỹ và Trung Quốc đều “thỏa thuận trên lưng nhân dân Việt Nam”:

Biển Đông nóng: Giàn khoan di chuyển, Mỹ bảo rút ngay

Thứ nhất, Trung Quốc cam kết không can thiệp quân sự vào Đông Dương, đổi lại Hoa Kỳ cam kết cùng Trung Quốc chống bá quyền Liên Xô.

Thứ hai, Trung Quốc chấp nhận kiềm chế Việt Nam, đổi lại, Hoa Kỳ hạn chế, đi đến triệt tiêu các căn cứ quân sự, và quân đội Hoa Kỳ tại Đài Loan.

Thứ ba, Trung Quốc chấp nhận để Hoa Kỳ giữ nguyên chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, không ủng hộ việc thành lập Chính phủ Liên hiệp miền Nam sau khi có Hiệp định về hòa bình ở Việt Nam, đổi lại, Hoa Kỳ ủng hộ Trung Quốc giữ ghế thành viên cố định tại Hội đồng Bảo an liên hợp quốc, thay Đài Loan. (Thực chất duy trì tình trạng chia cắt 2 miền Nam-Bắc Việt Nam)

Như vậy, đến đây, Bắc Việt Nam chỉ còn Liên Xô và Mỹ “chỉ còn việc nhìn về Mátxcơva để nghiền nát Việt Nam”.

Rõ ràng Trung Quốc đã “bán đứng Việt Nam” để thu được một món lợi rất lớn mà bằng khả năng Trung Quốc, họ không bao giờ có được. Ai mang ơn ai?

Nhưng Mỹ bị mắc 2 sai lầm nghiêm trọng dẫn đến bị “hố” trong “Thông cáo Thượng Hải”:

Một là, Mỹ không hiểu dân tộc Việt. Việt Nam từ cổ chí kim, đối với Trung Quốc, sách lược có thể mềm dẻo nhưng chưa bao giờ khuất phục Trung Quốc mà luôn luôn thực hiện một nguyên tắc bất di bất dịch “độc lập dân tộc”. Mỹ chẳng hiểu gì về lịch sử hơn 4000 năm giữ nước của Việt Nam, dân tộc này đánh nhau liên miên với ai chẳng lẽ vì điều khác sao?.

Hai là, Trung Quốc lúc đó chẳng ghê gớm gì như Mỹ tưởng. Trung Quốc có muốn cũng không thể giúp gì cho Việt Nam bắn rơi B52 và thậm chí nếu như Mỹ lúc đó đem B52 rải thảm ở Bắc Kinh thì đó mới là nơi biến thành “thời kỳ đồ đá” chứ không phải Hà Nội.

Rốt cuộc, đánh giá 3 nội dung trong Thông cáo Thượng Hải ta thấy, nội dung thứ nhất, Mỹ được lợi hơn Trung Quốc, vì không cam kết thì Mỹ vẫn chống Liên Xô, còn Trung Quốc thì việc chống Liên Xô hay Nga bây giờ là vấn đề tất yếu, Mỹ không cần khuyến khích, nhắc nhở.

Nội dung thứ hai thì cả hai đều có lợi, đã có kết quả như mong muốn. Trung Quốc chỉ cần cắt giảm viện trợ hoặc gây khó khăn cho Việt Nam khi tiếp nhận hàng viện trợ từ Liên Xô thì coi như là kiềm chế sự tấn công của Bắc Việt. Điều này nằm trong tầm tay của 2 bên mà không phụ thuộc vào Việt Nam có muốn hay không.

Nội dung thứ ba thì Trung Quốc và Mỹ đều thất bại trong âm mưu duy trì tình trạng chia cắt 2 miền Nam-Bắc Việt Nam. Đương nhiên rồi, vì quyết định không phải do ý muốn chủ quan của Trung-Mỹ mà là do dân tộc Việt Nam quyết định.

Trong nội dung này, nếu như không xảy ra “vấn đề Linebacker 2” thì có vẻ như Trung Quốc được lợi lớn là “Hoa Kỳ ủng hộ Trung Quốc giữ ghế thành viên cố định tại Hội đồng Bảo an liên hợp quốc, thay Đài Loan”.

Thực ra với nội dung này, Mỹ, Trung không cần phải thỏa thuận vì cả hai có cùng một mục đích giống nhau. Vậy thì cái lợi thu được của Mỹ trong nội dung này nằm ở đâu? Nó nằm ở đây: Trung Quốc “im lặng” cho Mỹ muốn làm gì ở miền Bắc Việt Nam thì làm, miễn sao miền Bắc Việt Nam dưới trận đòn của Mỹ sẽ kiệt quệ không còn khả năng thống nhất 2 miền, Trung Quốc dễ sai khiến, tạo lợi thế cân bằng cho miền Nam Việt Nam khi Mỹ rút.

Đúng như lời của Tổng bí thư Lê Duẩn khi nói thẳng vào mặt Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai: “Tôi không biết các anh bàn soạn gì với nhau, tôi chỉ biết chắc chắn rằng sắp tới nhân dân Việt Nam sẽ đổ máu nhiều hơn…”

Và cái gì phải đến đã đến, chiến dịch Linbacker 2, tội ác cuối cùng, tàn bạo nhất, sau cuộc “ngoại giao bóng bàn” của Trung-Mỹ đã được tiến hành với 12 ngày đêm trên bầu trời Hà Nội.

Không phải ai cũng như Trung Quốc!

Hơn ai hết, Trung Quốc quá rõ sự phản bội, sự độc ác của mình trong việc hành xử với Việt Nam sau sự kiện “ngoại giao bóng bàn” nên họ lại “suy bụng ta ra bụng người” khi tức tối lu loa lên rằng “Giao lưu thể thao, bóng chuyền giữa Hải quân 2 nước Việt Nam và Philipines trên đảo Trường Sa là “trò hề, bịp bợm”…Giá như là “trò hề, bịp bợm” đi nữa thì vẫn tốt hơn ngàn lần “phản bội, độc ác vô lương tâm” thưa bà Hoa Xuân Oánh (Bộ NG Trung Quốc).

Biển Đông không phải là “ao nhà” của Trung Quốc.

Biển Đông không phải là “ao nhà” của Trung Quốc!

Trong tình hình Biển Đông căng thẳng bởi sự hung hăng, ngang ngược của Trung Quốc ngày càng leo thang căng thẳng. Trung Quốc “lấy thịt đè người”, trắng trợn, bất chấp luật pháp quốc tế, cậy mạnh để chiếm đoạt Biển Đông thì việc Hải quân Việt Nam, Philipines đồn trú trên quần đảo Trường Sa giao lưu thể thao để chứng tỏ dù có tranh chấp thì Việt Nam, Philipines đều cùng nhau giải quyết bằng biện pháp hòa bình, không cậy mạnh để ăn cướp như Trung Quốc đã làm.

Đằng sau việc “giao lưu thí đấu bóng bàn” của Trung Quốc là sự mặc cả quyền lợi của mình với Mỹ trên lưng Việt Nam, nhuốm máu nhân dân Việt Nam, còn đằng sau giao lưu bóng chuyền Việt-Phi là thông điệp hòa bình, hữu nghị, là mô hình hợp tác giải quyết bất đồng bằng hòa bình tránh xung đột trên Biển Đông.

Trung Quốc đang lo sợ Nhật Bản-Việt Nam và Philipines liên thủ với nhau trên Biển Đông nên Hoàn Cầu thời báo hét to để bớt sợ “sức mạnh ba nước cũng không kiềm chế được Trung Quốc”.

Trung Quốc đang sợ khi Cam Ranh và Subic liên thủ thì sẽ như cái “xiên thịt”, xiên ngang vào lưỡi bò của Trung Quốc.

Trung Quốc đang lo sợ Cam Ranh Subic liên thủ sẽ như một “eo biển” mà qua được nó cũng không phải dễ dàng cho dòng hàng hóa khổng lồ của Trung Quốc trên Biển Đông.

Những điều này liệu có xảy ra không khi Trung Quốc đang cậy mạnh đe dọa sử dụng vũ lực với Việt Nam và Philipines? Khi đã và đang xâm hại đến chủ quyền biển đảo của Việt Nam và Philipines ngày càng ngang ngược và bất chấp?

Giả sử có xảy ra thì cũng là điều tự nhiên, là nhu cầu của cuộc sống, nó tốt, đàng hoàng, minh bạch gấp vạn lần sự “phản bội, độc ác vô lương tâm” thưa bà Hoa Xuân Oánh.

  • Lê Ngọc Thống
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Tọa đàm về tình hình Biển Đông tại Hà Nội

Tọa đàm về tình hình Biển Đông tại Hà Nội

Gia Minh, PGĐ Ban Việt ngữ RFA
2014-06-14
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này
IMG_2411_VDWZ-305.jpg

Cuộc tọa đàm liên quan tình hình Biển Đông do Trung Tâm Minh Triết Việt Nam tổ chức vào chiều thứ bảy 14 tháng 6 năm 2014.

Courtesy TT Minh Triết Việt

 

 

Trung Tâm Minh Triết Việt Nam vào chiều thứ bảy 14 tháng 6 tiến hành tổ chức cuộc tọa đàm liên quan tình hình Biển Đông. Những điểm đáng chú ý của cuộc tọa đàm này là gì?

Nhấn mạnh đến vấn đề Gạc Ma

Dư luận trong nước suốt hơn một tháng qua chú trọng phần lớn đến việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan khủng Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Trong khi đó thông tin được nói là đáng tin cậy từ phía Philippines cho biết Trung Quốc cũng đang triển khai cải tạo đất và tiến hành công tác xây dựng tại các bãi đá Gạc Ma, Châu Viên, Tư Nghĩa, Ga Ven, Én Đất thuộc quần đảo Trường Sa.

Điểm nhấn của cuộc tọa đàm lần này là trình bày vấn đề bãi đá Gạc Ma nơi mà Trung Quốc tấn công giết chết 64 binh sĩ của Việt Nam vào năm 1988. Giám đốc Trung Tâm Minh Triết Việt, ông Nguyễn Khắc Mai, nói về điều này:

“Thật ra cái đinh của vấn đề là Gạc Ma, vị trí Gạc Ma hiện nay. Thứ hai hành động sai trái của Trung Quốc là đánh chiếm Gạc Ma năm 88 như thế nào, và nói rõ họ vi phạm luật pháp quốc tế như thế nào. Thứ ba những hoạt động của Trung Quốc hiện nay ở Gạc Ma, thứ tư là tình hình nguy hiểm khi Trung Quốc làm một chốt quân sự tại đó. Một sân bay, căn cứ quân sự ở đó sẽ nguy hiểm cho Việt Nam, đối với an ninh hàng hải… Chủ quyền của Việt Nam và khu vực thế nào. Thành thử ở đây vấn đề Gạc Ma là một vấn đề rất lớn.

Đúng là có lệnh ở trên là không được chủ động nổ súng trước, thế nhưng không có nghĩa là khi mà đồng đội của mình bị Trung Quốc giết, đâm mà không có hành động đáp trả.
-Thiếu tướng Lê Mã Lương

Cái yếu của Trung Quốc năm 88 là sau khi họ đã ký kết Công ước Luật biển của Liên Hiệp Quốc năm 82, trong đó có điều 2 khoản 4 cấm dùng vũ lực quân sự để giải quyết những tranh chấp. Họ đã vi phạm điều này. Mình nói rõ họ là một thành viên Liên Hiệp Quốc, là một nước lớn, lại là thành viên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc mà lại trắng trợn chà đạp lên công ước mà họ ký. Đó là điều cần phải nói rõ.”

Thiếu tướng Lê Mã Lương, anh hùng lực lượng vũ trang, nguyên giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, tại cuộc tọa đàm cũng nói lại cho rõ thông tin cho rằng các chiến sĩ Việt Nam tại Gạc Ma vào thời điểm năm 1988 khi bị tấn công đã không dũng cảm chiến đấu chống lại Trung Quốc. Ông trình bày:

 

Tàu HQ-604 của Việt Nam bị TQ bắn đang chìm tại phía Tây Nam bãi Gạc Ma ngày 14 tháng 3 năm 1988
Tàu HQ-604 của Việt Nam bị TQ bắn đang chìm tại phía Tây Nam bãi Gạc Ma ngày 14 tháng 3 năm 1988. RFA screen capture

 

“Tôi muốn làm rõ hơn trận chiến Gạc Ma ngày 14 tháng 3 năm 1988 vì có những thông tin bị nhiễu. Đúng là có lệnh ở trên là không được chủ động nổ súng trước, thế nhưng không có nghĩa là khi mà đồng đội của mình bị Trung Quốc giết, đâm mà không có hành động đáp trả dù loại vũ khí trong tay ‘nhẹ’ hơn, không hiện đại bằng Trung Quốc và đó là cuộc chiến không cân sức.”

Theo thiếu tướng Lê Mã Lương thì lúc đó Việt Nam không bất ngờ về cuộc tấn công của phía Trung Quốc. Ông nêu ra lý do:

“Đô đốc Hải quân Giáp Văn Cương suốt từ cuối năm 87 đến đầu năm 88 đã ra Trường Sa rất nhiều lần và có những chỉ đạo rất kịp thời như cắm cờ trên các bãi đá của Việt Nam và đưa các lực lượng công binh hải quân ra xây dựng một số đảo mà trong đó có ba đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao. Bộ đội Việt Nam đã có kế hoạch đề xuất rất sớm. Thế nhưng do chênh lệch lực lượng nên bộ đội Việt Nam chịu một tổn thất rất lớn, đây cũng là một bài học. Và nhìn từ góc độ nào đó thì đây cũng là một nỗi đau cho hải quân nói riêng và quân đội Việt Nam nói chung.”

Nêu rõ bản chất của Trung Quốc

Cuộc tọa đàm trình bày lại cuộc chiến ngắn ngủi Gạc Ma với sự tổn thất 64 nhân mạng bộ đội công binh hải quân và ba tàu chiến hồi năm 1988 và thực tế hiện nay Trung Quốc đang cải tạo đất xây dựng nơi chiếm đóng hồi năm 1988 thành một căn cứ quân sự. Đây là điều cần được lên tiếng đánh động cho mọi người thấy như lời của ông Nguyễn Khắc Mai:

“Nếu liên kết sự kiện giàn khoan và Gạc Ma lại thì thấy âm mưu và hành động rất thâm hiểu của Trung Quốc rất nguy hiểm với an ninh khu vực và của Việt Nam; cho nên phải đánh động dư luận này.”

Thiếu tướng Lê Mã Lương sau khi trình bày lại cho rõ cuộc chiến Gạc Ma đã đưa ra 5 kết luận. Theo ông này chủ trương độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc là nhất quán từ trước đến nay. Khi chưa đủ mạnh thì Bắc Kinh chưa ra tay, còn nay khi họ thấy lực có thể tiến hành đến đâu thì họ xuất chiêu đến đó. Ông nhấn mạnh:

Nếu liên kết sự kiện giàn khoan và Gạc Ma lại thì thấy âm mưu và hành động rất thâm hiểu của Trung Quốc rất nguy hiểm với an ninh khu vực và của Việt Nam.
-Ô. Nguyễn Khắc Mai

“Những người Việt Nam yêu nước hiểu rõ vấn đề với Trung Quốc phải thể hiện quan điểm không còn là bạn bè, không còn là đồng chí cho nên ’16 chữ vàng, 4 tốt’ đối với những người Việt Nam yêu nước không còn có ý nghĩa gì hết. Với Trung Quốc chỉ là một nước láng giềng, chỉ là một đối tác. Và làm rõ chuyện đó thì tình hình Việt Nam sẽ khác đi vì bây giờ là cơ hội để Việt Nam có thể nhận ra giá trị lịch sử, nhìn lại những quan hệ, kể cả những bang giao với Trung Quốc. Đây là cơ hội rất tốt.”

Hành động

Ông Nguyễn Trung, cựu đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, cựu thành viên Ban Nghiên cứu của nguyên thủ tướng Phan Văn Khải, cũng là một diễn giả của cuộc tọa đàm cho biết thêm về mục đích của hoạt động mà ông tham gia như sau:

“Chủ yếu để ủng hộ cuộc đấu tranh của chính phủ Việt Nam hiện nay yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan của họ về nước. Chủ yếu là điều đó và chúng tôi cũng chuẩn bị một tuyên bố nhằm thứ nhất lên án hành động của Trung Quốc và những sai trái của họ. Thứ hai biểu thị sự ủng hộ của cả nước đối với cuộc đấu tranh của chính phủ hiện thời trong việc bảo vệ chủ quyền, kể cả phải dùng biện pháp pháp lý quốc tế. Nhưng điểm cuối cùng là kêu gọi dư luận thế giới ủng hộ của đấu tranh của Việt Nam.

Theo ông Nguyễn Khắc Mai cuộc tọa đàm cũng nhằm mục tiêu thông tin đầy đủ tất cả mọi khía cạnh liên quan.

Đối với nhiều người dân Việt Nam, các vấn đề lịch sử như cuộc chiến Gạc Ma đến nay họ mới được biết rõ vì cơ quan chức năng không thông tin đầy đủ cho dân chúng biết. Nay những tổ chức như Trung Tâm Minh Triết đang nỗ lực góp phần bạch hóa những phần tối của lịch sử bị cố tình làm khuất đi.

 

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Blog at WordPress.com.