Daily Archives: July 11, 2014

Thượng viện Mỹ nhất trí thông qua Nghị quyết về Biển Đông

Thượng viện Mỹ nhất trí thông qua Nghị

quyết về Biển Đông

Ngày 10/7, với toàn bộ phiếu thuận, Thượng viện Mỹ đã nhất trí thông qua Nghị quyết mang mã số S.RES.412 về Biển Đông yêu cầu Trung Quốc quay lại nguyên trạng trước ngày 1/5/2014.

Thượng viện Mỹ nhất trí thông qua Nghị quyết về Biển Đông
Tàu cá ĐNa 90152 bị tàu Trung Quốc tấn công đâm chìm trên vùng biển Việt Nam. (Ảnh: Trần Lê Lâm/TTXVN)
Theo phóng viên TTXVN tại Washington, Nghị quyết S.RES.412 được một số thượng nghị sỹ có ảnh hưởng bảo trợ như Chủ tịch thường trực Thượng viện Patrick Leahy; Thượng nghị sỹ John McCain; Thượng nghị sỹ Robert Menendez; Chủ tịch Ủy ban đối ngoại Thượng viện Benjamin Cardin; Thượng nghị sỹ James Risch; Thượng nghị sỹ Marco Rubio; Thượng nghị sỹ Dianne Feinstein và Thượng nghị sỹ John Cronyn.
Nghị quyết khẳng định sự ủng hộ của chính phủ Mỹ đối với quyền tự do hàng hải, sử dụng các vùng biển và không phận ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương theo đúng quy định của luật pháp quốc tế.
Nghị quyết nêu rõ mặc dù không phải là một bên có yêu sách ở Biển Đông nhưng Mỹ là một cường quốc châu Á-Thái Bình Dương, có lợi ích quốc gia trong việc khuyến khích và ủng hộ các quốc gia trong khu vực hợp tác với nhau để giải quyết các tranh chấp bằng con đường ngoại giao và hòa bình; phản đối việc cưỡng bức, hù dọa, đe dọa hoặc sử dụng vũ lực.
Nghị quyết nhấn mạnh tầm quan trọng sống còn của tuyến hàng hải qua Biển Đông, cho rằng việc gia tăng các hoạt động tuần tra và đưa ra các quy định đối với các vùng biển và không phận có tranh chấp ở Biển Đông đang làm gia tăng căng thẳng cũng như nguy cơ đối đầu.
Nghị quyết S.RES.412 liệt kê một loạt hành động của Trung Quốc vi phạm luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS).
Cụ thể, ngày 1/5 vừa qua, Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC), với sự tháp tùng của hơn 25 tàu, đã hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 (Haiyang Shiyou-981) tại lô 143, cách bờ biển Việt Nam 120 hải lý.
Sau đó, Trung Quốc điều động thêm hơn 80 tàu, trong đó có 7 tàu quân sự, và sử dụng máy bay trực thăng, vòi rồng để ngăn chặn hoặc có những hành động đe dọa, nhiều lần cố tình đâm húc tàu của Việt Nam. Trung Quốc cũng thiết lập vùng bất khả xâm phạm xung quanh giàn khoan Hải Dương-981…
Nghị quyết cho rằng các yêu sách lãnh thổ và hành động trên đây của Trung Quốc là không thể biện minh theo luật pháp quốc tế như đã được nêu rõ trong UNCLOS và là một hành động đơn phương nhằm thay đổi nguyên trạng bằng vũ lực, vi phạm Tuyên bố về cách ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC) mà Trung Quốc đã ký với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 2002.
Nghị quyết cũng lên án việc cưỡng chế, sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực gây cản trở các hoạt động hàng hải, hối thúc chính phủ Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương-981 cùng các lực lượng ra khỏi các vị trí hiện nay, ngay lập tức trả mọi việc trở về nguyên trạng trước ngày 1/5/2014.
Liên quan đến căng thẳng ở biển Hoa Đông, Nghị quyết S.RES.412 chỉ trích việc Trung Quốc đơn phương áp đặt Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) ở vùng biển này từ ngày 23/11/2013, coi đây là hành động vi phạm công ước về hàng không dân dụng, gây căng thẳng quan hệ với các nước trong khu vực như Nhật Bản và Hàn Quốc.
Theo TTXVN/VIETNAM+
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Chùm ảnh Đức Dalai Lama thăm Nhật Bản

Tin Tức Tôn Giáo |
Chùm ảnh Đức Dalai Lama thăm Nhật Bản
Minh Nguyên
đăng ngày 21/11/2013

– Trong chuyến viếng thăm và hoằng pháp tại Nhật Bản vào ngày 16-11, Đức Dalai Lama đã đến thăm Viện công nghệ Chiba, ở Tsudanuma, Nhật Bản, nơi nghiên cứu chuyên sâu về khoa học công nghệ của Nhật Bản, cho ra đời nhiều sản phẩm khoa học, công nghệ thông minh cho thế giới.

Tại đây, Đức Dalai Lama đã được nghe giới thiệu một số công trình, sản phẩm công nghệ của viện và ngài có buổi chia sẻ với cán bộ công nhân viên của Viện.

Dalailama (1).jpg

Dalailama (2).jpg

Dalailama (3).jpg
Đức Dalai Lama và Peter Yarrow sau khi ông ta biểu diễn
bản nhạc ‘Never Give Up’ tại Viện công nghệ Chiba

Dalailama (5).jpg
Đức Dalai Lama và nhà báo-nhà văn Yoshiko Sakurai tại Viện công nghệ Chiba

Dalailama (6).jpg

Vào ngày 17-11, Đức Dalai Lama đã tham gia vào cuộc đối thoại với một số nhà khoa học của Nhật Bản về vấn đề vũ trụ, cuộc sống và giáo dục tại khách sạn Okura.

Dalailama (8).jpg

Dalailama (9).jpg

Ngày 18-11, Đức Dalai Lama đến thăm trường Yakumo, một trường nữ sinh tại Tokyo. Tại đây, Đức Dalai Lama đã chia sẻ và giao lưu với các nữ sinh.

Dalailama (10).jpg

Dalailama (11).jpg

Dalailama (12).jpg

Dalailama (13).jpg

Dalailama (14).jpg
Đức Dalai Lama và hiệu trưởng của trường Yakumo

Ngày 19-11, ngài đến thăm chùa Zojoji, Tokyo và chia sẻ với chư tăng và quý vị trong ban quản lý của chùa.

Dalailama (15).jpg

Dalailama (16).jpg

Dalailama (17).jpg

Vào ngày 21-11, Đức Dalai Lama sẽ có buổi chia sẻ trước công chúng về chủ đề: “Chuyển sang một thế kỷ thứ 21 hòa bình” tại khách sạn Century.

Vào ngày 23-11, Đức Dalai Lama sẽ có buổi nói chuyện về “Ý nghĩa của nghệ thuật và văn hóa” tại trường Đại học Kyoto Seika.

Dalailama (18).jpg

Dalailama (19).jpg

Ngày 24-11, Đức Dalai Lama sẽ tham gia vào một cuộc đối thoại với bà Banana Yoshimoto về “tôn giáo và nghệ thuật” tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế.

Ngày 25-11, Đức Dalai Lama sẽ có buổi pháp thoại với công chúng về đề tài “Hãy sử dụng tốt nhất trí tuệ của Phật giáo vào trong cuộc sống hàng ngày” tại hội trường Ryogoku Kokugikan.

Minh Nguyên tổng hợp

Categories: Sinh Hoạt Tôn Giáo | Leave a comment

Thông điệp Đại lễ Vesak LHQ 2014 của Đức Dalai Lama

Thông điệp Đại lễ Vesak LHQ 2014 của Đức Dalai Lama
Minh Nguyên chuyển ngữ
đăng ngày 01/05/2014
Tôi xin gửi lời chào trân trọng nhất đến quý vị đại biểu tham dự lễ kỷ niệm và Hội nghị Phật giáo quốc tế lần thứ 11 trong ngày Đại lễ Vesak LHQ năm 2014, do Giáo hội Phật giáo Việt Nam đăng cai tổ chức.
image

Đối với người con Phật trên toàn thế giới thì Đại lễ Vesak không chỉ là dịp để chúng ta kỷ niệm ngày Đản sinh, Thành đạo và Nhập diệt của Đức Phật mà còn nhắc nhở bản thân chúng ta về tầm quan trọng của việc vận dụng những lời dạy cao quý của Ngài vào trong cuộc sống.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã chứng ngộ đạo quả Vô thượng Bồ-đề và đã truyền bá Chánh pháp tại Ấn Độ cách đây hơn hai ngàn năm, nhưng những lời dạy của Ngài vẫn còn tươi mới và rất thiết thực đối với xã hội hiện tại, chẳng hạn như việc mọi người ngày càng ý thức về tầm quan trọng của sự bất bạo động. Tính khả dụng của giáo lý bất bạo động không chỉ giới hạn trong mối quan hệ giữa người với người mà còn có thể vận dụng vào trong việc bảo vệ sinh thái, bảo vệ môi trường và cả trong mối quan hệ giữa con người với những loài sinh vật khác đang sống chung trên hành tinh này. Vì thế, bất bạo động có thể được vận dụng hàng ngày trong cuộc sống của chúng ta, bất kể chúng ta thuộc địa vị hay hoàn cảnh nào.

Mục đích của cuộc sống là để có được hạnh phúc. Với tư cách là một người đệ tử Phật, tôi nhận thấy rằng thái độ của chúng ta chính là yếu tố có sức ảnh hưởng mạnh nhất trong việc hướng tới mục đích đó. Để thay đổi những điều kiện bên ngoài, dù cho những điều kiện ấy liên quan đến môi trường hay các mối quan hệ với người khác, thì chúng ta phải thay đổi từ bên trong bản thân mình. Sự bình an nội tâm chính là mấu chốt của vấn đề. Với sự bình an nội tâm, bạn có thể đối mặt với những khó khăn bằng sự bình tĩnh và có lý trí, trong khi đó bạn vẫn giữ được niềm hạnh phúc nội tại. Những lời dạy về tâm từ bi, về sự tử tế, lòng khoan dung, về bất bạo động, về giáo lý duyên sinh, và cả những phương pháp giúp tịnh hóa tâm thức chính là nguồn cội của sự bình an nội tâm.

Tôi nghĩ rằng Phật giáo có vai trò quan trọng trong thế giới hiện đại của chúng ta; giáo lý duyên khởi trong Phật giáo có sự tương thích mật thiết với những khái niệm cơ bản của khoa học hiện đại. Chúng ta có thể nghĩ về Phật giáo trong mối quan hệ của ba phạm trù chính, đó là triết học, khoa học và tôn giáo. Phần tôn giáo là những giới luật và những pháp môn tu mà chỉ có người đệ tử Phật quan tâm đến, còn triết lý về duyên khởi trong Phật giáo và khoa học Phật giáo về tâm thức và những cảm xúc của con người thì có lợi ích rất lớn đối với tất cả mọi người.

Như chúng ta biết, khoa học hiện đại đã phát triển một sự hiểu biết rất tinh vi về thế giới vật chất, bao gồm cả những hoạt động tinh tế của cơ thể và não bộ. Còn khoa học Phật giáo thì tập trung vào việc phát triển sự hiểu biết cặn kẽ và thiết yếu về nhiều khía cạnh của tâm thức và cảm xúc của con người, đây là những lĩnh vực  còn khá mới mẻ đối với khoa học hiện đại. Do đó, bản thân khoa học và Phật giáo đều có những kho kiến thức rất quan trọng và có thể bổ sung cho nhau. Tôi tin rằng, sự kết hợp của hai phương pháp tiếp cận này sẽ tạo tiềm lực lớn cho những khám phá làm phong phú hơn về vật chất, về đời sống tình cảm và sự thanh bình của xã hội chúng ta.

Trong hơn 50 năm qua, cộng đồng đa dạng của Phật giáo trên thế giới chỉ có một ý niệm mơ hồ về sự tồn tại của nhau và không mấy quan tâm đến những điểm tương đồng với nhau. Bởi vì những lời dạy của Đức Phật đã được bắt rễ tại những vùng đất khác nhau và đã có những biến đổi nhất định về phong cách mà ở đó lời Phật dạy đã được thực hành và gìn giữ một cách tự nhiên.

Tuy nhiên, tôi tin rằng đã đến lúc chúng ta có thể giao tiếp cởi mở với nhau; suy cho cùng thì những truyền thống Phật giáo khác nhau của chúng ta đều là những chi nhánh được mọc ra từ một gốc, một thân cây. Vì thế, tôi hy vọng là trong lần quy tụ này, chư vị tôn túc của Phật giáo, quý vị đại biểu hãy nắm lấy cơ hội này để phát huy và mở rộng sự giao tiếp trong chính chúng ta để cho cộng đồng Phật giáo của chúng ta có thể được hợp nhất, từ đó chúng ta sẽ đóng góp hiệu quả hơn cho hạnh phúc của nhân loại và sự bình an của tâm hồn trên toàn thế giới.

(đã ấn ký)
(Minh Nguyên chuyển ngữ)

Categories: Tài-liệu Tu-Học | Leave a comment

Việt Nam đối diện trách nhiệm lịch sử to lớn

Việt Nam đối diện trách nhiệm lịch sử to lớn
Thái Văn Cầu
đăng ngày 06/07/2014

Việt Nam đang thật sự đối diện với một trách nhiệm to lớn mà lịch sử giao phó đó là sử dụng luật pháp quốc tế để duy trì hoà bình trong một khu vực trọng yếu của thế giới.

Điều gì ảnh hưởng đến tranh chấp?

Trong thời gian qua, những nước trong khu vực như Philippines, Malaysia, Indonesia, Việt Nam… đã có nhữnng biến chuyển quan trọng xung quanh các tranh chấp trên biển Đông.

Với Philippines, sau một thời gian đối thoại hoà bình để giải quyết tranh chấp, trước lập trường không thay đổi của Trung Quốc, vào cuối tháng 1/2013, Philippines quyết định khởi kiện Trung Quốc ra Toà án Trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS.

Cuối tháng 2/2014, Francis Jardeleza, luật sư phụ trách tư vấn cho chính phủ Philippines về vụ kiện, kêu gọi Việt Nam và Malaysia tham gia vào vụ kiện. Một tháng sau lời kêu gọi, Philippines chính thức trình hồ sơ pháp lý gần 4.000 trang lên Toà án Trọng tài theo đúng quy trình.[1]

Tại Malaysia, vào tháng 3/2013, các tàu chiến Trung Quốc lần đầu tiên xuất hiện ở bãi cạn James, sâu vào trong EEZ của Malaysia, cách bờ biển bang Sarawak chỉ 43 hải lý. Đây là điểm cực Nam trong “đường lưỡi bò” của Trung Quốc. Trong khoảng 6 tháng sau, Malaysia triển khai kế hoạch thành lập một căn cứ hải quân mới ở thị trấn lớn nhất của bang Sarawak để đối phó với đe doạ của Trung Quốc.[2]

Từ đầu thập niên 1990 cho đến gần đây, Indonesia là nước không có tranh chấp biển đảo với Trung Quốc. Indonesia giữ vị thế trung lập và đóng vai trò trung gian trong hoà giải giữa các bên. Sau khi ký kết “Tuyên bố về ứng xử” (DOC) với những giới hạn của nó năm 2002, trong gần một thập niên qua, Indonesia cùng các nước ASEAN khác soạn thảo “Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông” (COC) mang tính ràng buộc hơn là DOC. Nỗ lực này không nhận được phản ứng tích cực của Trung Quốc.

 

Hoàng sa, Việt Nam, biển Đông, Trung Quốc, COC, DOC, tranh chấp lãnh thổ
Nguồn tư liệu cổ do tác giả cung cấp

 

Vào giữa tháng 4/2014, Indonesia thay đổi vị thế trung lập khi tuyên bố nước này quyết định tăng cường lực lượng quân sự ở quần đảo Natuna trước sự kiện “đường lưỡi bò” của Trung Quốc bao gồm cả lãnh hải của Indonesia.[3]

Về phía Việt Nam, từ đầu thập niên 2000 cho đến nay, Trung Quốc hàng năm ngang nhiên tuyên bố lệnh cấm đánh cá trên vùng biển của Việt Nam. Không những thế, Trung Quốc còn liên tục gây thiệt hại tài sản và nhân mạng cho ngư dân của Việt Nam.[4]

Vào đầu tháng 10/2011, trước sự chứng kiến của lãnh đạo hai đảng, Việt Nam và Trung Quốc ký kết thỏa thuận nhằm giải quyết vấn đề trên biển “thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị”.[5]

Vào cuối tháng 11/2011, lãnh đạo chính phủ Việt Nam lần đầu tiên đề cập đến sự kiện Trung Quốc sử dụng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa năm 1974.[6]

Trước sự leo thang gây hấn, khiêu khích, và vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế của Trung Quốc, vào cuối tháng 4/2013, lãnh đạo Việt Nam cũng lần đầu tiên đề cập đến luật pháp quốc tế như một công cụ để giải quyết tranh chấp với Trung Quốc.[7]

 

Hoàng sa, Việt Nam, biển Đông, Trung Quốc, COC, DOC, tranh chấp lãnh thổ
Nguồn tư liệu cổ do tác giả cung cấp

 

Đầu tháng 5/2014, khi ngang nhiên đặt giàn khoan Hải Dương 981 sâu vào trong EEZ của Việt Nam, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, Trung Quốc chính thức cho Việt Nam và quốc tế biết rằng các cam kết của Trung Quốc với Việt Nam, bao gồm thoả thuận ký năm 2011, về giải quyết tranh chấp biển đảo trên Biển Đông bằng “đối thoại hoà bình” hoàn toàn không có giá trị.[8]

Trong gần 40 năm nay, Việt Nam không ngừng kêu gọi Trung Quốc đối thoại hoà bình để giải quyết tranh chấp Hoàng Sa-Trường Sa.

Theo Wang Hanling (Vương Hàn Lĩnh), học giả Trung Quốc, quan điểm của Trung Quốc  là: “Không có gì để đàm phán cả… Chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa của Trung Quốc chưa bao giờ là đề tài tranh chấp và Việt Nam đã thừa nhận điều này trong quá khứ. Thảo luận về nỗ lực hợp tác bảo vệ tài nguyên, tìm kiếm cứu nạn và các việc khác là một chuyện, chủ quyền của Trung Quốc là một chuyện khác”.

Lập trường của Trung Quốc về Hoàng Sa không thể nào dứt khoát hay rõ ràng hơn: Hoàng Sa là của Trung Quốc. Họ còn ngang ngược đề nghị Việt Nam “gác tranh chấp, cùng khai thác” ở Trường Sa, ở khu vực biển đảo của Việt Nam.[9]

Bước đột phá trong tranh chấp Biển Đông

Với diện tích hơn 3,5 triệu km2, Biển Đông là một phần của Biển Thái Bình Dương, tiếp cận với lãnh hải của Việt Nam, Trung Quốc, vùng lãnh thổ Đài Loan, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, và Singapore.

Trong thời đại toàn cầu hoá kinh tế, Biển Đông không những quan trọng với các nước tiếp cận mà còn cực kỳ quan trọng với nhiều nước đã và đang phát triển khác trên thế giới.

Hàng năm có hơn 5.300 tỷ dollar mậu dịch quốc tế đi ngang qua Biển Đông trong đó 1.200 tỷ dollar mậu dịch là của Mỹ. Số lượng mậu dịch này đóng góp vào con số thâm hụt thương mại của Mỹ với Trung Quốc, với gần 320 tỷ dollar trong năm 2013, chiếm 3,5% GDP của Trung Quốc hay gấp đôi GDP của Việt Nam trong cùng năm.[12]

Do vị thế chiến lược của hai quần đảo này, Việt Nam năng động, tích cực trình bày cho thế giới thấy rõ rằng, Hoàng Sa-Trường Sa đóng vai trò then chốt trong “đường lưỡi bò” của Trung Quốc trên Biển Đông.

Khi sử dụng luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc, Việt Nam không chỉ giải quyết vấn đề chủ quyền lãnh hải giữa riêng hai nước mà còn giúp mang lại an ninh và ổn định cho tất cả các nước phụ thuộc vào giao thông hàng hải ngang qua một khu vực quan trọng hàng đầu thế giới và có diện tích rộng bằng một phần ba diện tích nước Mỹ.

Cách hành xử như trên chứng minh mạnh mẽ cho thế giới thấy rằng Việt Nam là một nước tôn trọng luật pháp và có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế.

 

Hoàng sa, Việt Nam, biển Đông, Trung Quốc, COC, DOC, tranh chấp lãnh thổ

 

Để tạo đột phá trong bế tắc và để tranh thủ thuận lợi hiện có, xét từ góc độ luật pháp quốc tế, chứng cứ lịch sử và tình hình khu vực như đề cập trong bài, Việt Nam nên công khai kêu gọi Trung Quốc đồng ý để các toà án quốc tế giải quyết tranh chấp Biển Đông.

Trung Quốc có quan toà đại diện trong Toà án Quốc tế và Toà án Luật Biển; Trung Quốc luôn luôn khẳng định trước dư luận thế giới là họ có đầy đủ bằng chứng lịch sử và pháp lý hậu thuẫn cho đòi hỏi chủ quyền “đường lưỡi bò” nói chung và quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa nói riêng.

Nếu Trung Quốc muốn chứng minh họ cũng là nước tôn trọng luật pháp và có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, nếu khẳng định của Trung Quốc về chủ quyền dựa trên cơ sở sự thật, khó có bất cứ lý do chính đáng nào khác cho Trung Quốc viện dẫn để từ chối vai trò giải quyết tranh chấp giữa các nước mà Toà án Quốc tế hành xử hữu hiệu trong hơn 60 năm nay.[13]

Việt Nam đang thật sự đối diện với một trách nhiệm to lớn mà lịch sử giao phó đó là sử dụng luật pháp quốc tế để duy trì hoà bình trong một khu vực trọng yếu của thế giới.

Thái Văn Cầu

Chuyên gia Khoa học Không gian, Hoa Kỳ

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Blog at WordPress.com.