Monthly Archives: July 2014

VN giữa trật tự thế giới mới

VN giữa trật tự thế giới mới

Cập nhật: 09:47 GMT – thứ hai, 28 tháng 7, 2014

Trung Quốc và Nga thường đồng ý với nhau về các vấn đề ngoại giao

Câu hỏi tôi muốn đặt lại để suy nghĩ trong bài này là: Có phải một trật tự thế giới mới đang trong tiến trình hình thành với cuộc tranh hùng quyền lực toàn cầu kiểu mới giữa ba tay chơi quyền lực quốc tế siêu cường Mỹ, đại cường Nga, đại cường Trung Quốc là nội dung chính của nó?

Sự sụp đổ của đế quốc Nga Xô đã dẫn đến sự thay thế của “một trật tự thế giới lưỡng cực” (với cuộc tranh hùng bá chủ thế giới tay đôi Mỹ – Nga) bằng “một trật tự thế giới nhất cực” (với sự lãnh đạo hoàn cầu của siêu cường Mỹ). Nhưng sự “trỗi dậy” nhanh chóng của Trung Quốc dưới sự lãnh đạo có viễn kiến của Đặng Tiểu Bình và những lãnh tụ kế nghiệp cũng như sự phục hồi quyền lực nội tại của Nga dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Vladimir Putin đã góp phần tạo dựng điều kiện cho sự hình thành một trật tự thế giới mới.

Nhưng một câu hỏi liên hệ khác cũng đã được đặt ra: Cơ cấu nội tại của trật tự thế giới mới sẽ là một trật tự thế giới nhất cực hay một trật tự thế giới lưỡng cực hay một trật tự thế giới tam cực hay một trật tự thế giới đa cực?

Mặc dù câu hỏi chính trị quan trọng này vẫn còn là một vấn đề tranh cãi nặng tính chất học đường, tôi cho rằng “một trật tự thế giới mới” đang hình thành có nhiều khả năng sẽ là một trật tự thế giới tam cực. Nhưng nó lại được đặt trên căn bản một cơ cấu đa khối quốc gia với nhiều loại hình quan hệ khác nhau cùng nhiều hệ thống trục xoay quyền lực đa dạng đang nối kết tất cả các khu vực chiến lược trên thế giới lại với nhau.

Thuật ngữ “một thế giới tam cực” được dùng để chỉ sự tái định vị trí quyền lực chân vạc của Nga – Mỹ – Trung Quốc trong những cuộc đọ sức tranh hùng tay ba tương lai nhằm mục đích bá chủ thiên hạ cũng như việc theo đuổi những mục đích quốc gia thực tế (đó là duy trì phát triển mở rộng quyền lực quốc gia và lợi ích dân tộc trong quan hệ khối – khu vực – toàn cầu) mà không được che đậy dưới những chiêu bài ý thức hệ lý tưởng cao siêu như xưa.

Nếu nhìn từ quan điểm văn hoá chính trị thì Hoa Kỳ thuộc loại văn minh hiện đại và đang chuyển mình sang loại hình văn minh mới hậu hiện đại. Nhưng ngược lại, văn hoá chính trị của Nga cũng như văn hoá chính trị Trung Quốc vẫn còn thuộc vào loại hình văn minh tiền hiện đại. Thí dụ, Nga và Trung Quốc vẫn còn coi trọng giá trị sở hữu đất đai và biển đảo và không ngần ngại sử dụng những “thủ đoạn” tiền hiện đại như đã xảy ra tại Crimea và Biển Đông.

Đây là loại tâm lý và chính sách thuộc chủ nghĩa thuộc địa kiểu cũ hay chủ nghĩa đế quốc kiểu cũ chứ không phải chủ nghĩa đế quốc kiểu mới như Mỹ vì dân tộc Mỹ đã trải qua hơn 200 trăm phát triển văn minh kỹ thuật hiện đại.

Liệu mô hình “một thế giới tam cực” với nội dung cuộc tranh hùng tay ba Nga – Mỹ – Trung có giống như loại kịch bản “Tam Quốc Chí” hay “The Good, the Bad and the Ugly” (cuốn phim nổi tiếng cao bồi Mỹ 1966)? Ai là “The Good” (Loại Thiện)? Ai là “The Bad” (Loại Ác)? Ai là “The Ugly” (Loại Xấu Xí)? Ai sẽ là kẻ chiến thắng sau cùng?

Siêu Cường Mỹ

Mỹ cố gắng duy trì vị trí lãnh đạo ở châu Á

Mỹ muốn tiếp tục duy trì ngôi vị “siêu cường” của mình theo kiểu “vương đạo” với chính sách xây dựng quan hệ song phương đối tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc vì vẫn xem Nga là “đối thủ chính” của mình (vì an ninh khu vực Đông Âu và Trung Đông). Con số khổng lồ trên 562 tỷ đôla buôn bán thương mại hai chiều Mỹ – Trung năm 2013 nói lên sự quan trọng kinh tế giữa hai nước khi ta so sánh với con số 203 tỷ đôla mậu dịch hai chiều Mỹ – Nhật cùng năm.

Nhưng đối với vấn đề an ninh toàn bộ khu vực châu Á-Thái Bình Dương thì Mỹ đã quyết định “cầm chân Tàu” với chiến lược “Xoay Trục sang châu Á-Thái Bình Dương” vì Trung Quốc lại được xem là “đối thủ chính” trong quan hệ chiến lược đối trọng Mỹ – Trung. Mỹ đã tiến qua giai đoạn triển khai chính sách “Xoay Trục sang châu Á-Thái Bình Dương” cũng như khuyến khích vai trò quân sự mới của Nhật trong chính sách cân bằng quyền lực tại khu vực chiến lược này trước “sự trỗi dậy” đáng ngờ của Trung Quốc. Cuộc tranh hùng Mỹ – Trung đang chuyển thành cuộc tranh hùng khu vực Nhật – Trung.

Đây là vài nghi vấn chiến lược: Việt Nam sẽ chọn đứng chiến tuyến nào trong cuộc tranh hùng tay ba Mỹ – Nhật – Trung? Ai mới thực là “kỳ phùng địch thủ hoàn cầu” của Mỹ trong tương lai: Nga hay Trung Quốc? Mục đích chiến lược mới của Mỹ là gì khi tiếp tục chính sách nuôi dưỡng con sư tử Tàu?

Đại cường Nga – Giấc mơ hồi sinh

Nga lại muốn vươn lên giành lại cái ghế siêu cường một thời oanh liệt đã qua cũng như phục hồi lại cái đế quốc Xô Viết đã mất của mình để có thể có được một ngôi vị siêu cường thật sự trong quan hệ tranh hùng tay ba kiểu mới.

Vì thế, Tổng thống Putin phải chặn đứng ngay chính sách xâm nhập “lót ổ” của Âu Mỹ tại Ukraine bằng cách tiến chiếm bán đảo Crimea của Ukraine (giống kịch bản Trung Quốc chiếm Biển Đông) cũng như kéo Trung Quốc về phe Nga bằng cách đẩy mạnh các loại hình quan hệ song phương lên cao điểm mới (rềnh rang nhất mặc dù bị Trung Quốc chơi trò chơi buôn bán “áp giá” là việc ký kết hiệp thương khí đốt khổng lồ gần đây).

Nhưng đối với sự lo sợ của Nga, Trung Quốc lại là “một địch thủ khó lường” vì Trung Quốc đang từng bước xâm nhập mạnh vào nền kinh tế lạc hậu nhưng giàu tài nguyên thiên nhiên của các nước Trung Á (thuộc đế quốc Xô Viết cũ) cũng như dân Tàu đang du nhập mạnh vào khu vực rộng lớn đầy tiềm năng Tây Bá Lợi Á (Siberia).

Nga lo sợ Bắc Kinh đang dòm ngó “miếng mồi ngon” không những vì diện tích Siberia khổng lồ, phong phú về tài nguyên nhưng dân chúng lại nghèo khổ.

Giấc mơ Hoa Tộc

Trung Quốc đang làm tất cả những gì cần phải làm trong khuôn khổ mô hình phát triển “Tứ Hiện Đại” để có thể nhanh chóng thực hiện cho kỳ được cái “giấc mơ siêu cường” bao đời ấp ủ của mình. Trung Quốc đã và đang thành công với chính sách “hiện đại kinh tế” của mình và triển vọng sẽ vượt qua cả siêu cường Mỹ để trở thành quốc gia có “nền kinh tế lớn nhất thế giới”.

Chính sách hiện đại quân sự đang làm cho các nước láng giềng lo ngại không những vì Trung Quốc đang “dành đất chiếm biển” và thiết lập “vùng trời bất khả xâm phạm” tại biển Đông Á mà còn đổ tiền vào quốc sách phát triển kỹ nghệ quốc phòng. Theo công bố của Lầu Năm Góc, năm 2013 Trung Quốc đã chi hơn 145 tỷ đôla. Nhưng theo học viện Stockholm International Peace Institute (SIPRI), con số đã lên đến 188 tỷ đôla. Con số thật có thể còn cao hơn nhiều.

Bắc Kinh tỏ ra rất khôn khéo trong những kế hoạch khai thác quan hệ đối kháng Nga – Mỹ để thủ lợi cũng như xây dựng những hệ thống giao thông đường bộ (như tái thiết lập the Con Đường Tơ Lụa) lẫn cái mà nhà báo Mỹ Robert D. Kaplan gọi là “Đế Chế Đại Dương Nẩy Mầm Trung Quốc” nhằm nối liền Trung Quốc với khu vực Trung Đông và châu Phi. Vì thế, Biển Đông và Đông Nam Á được những lãnh tụ Bắc Kinh xem như tối quan trọng đối với chiến lược xây dựng “Đế Chế Đại Dương” vì chúng sẽ nối liền biển Đông Á với Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương thành một trục giao thông hàng hải (cũng như một loại lãnh thổ đại dương khổng lồ của Trung Quốc).

Vì thế, ngoài mục đích khai thác tài nguyên biển (như dầu lửa), việc chiếm trọn Biển Đông có thể được xem như là bước chiến lược đầu tiên mà Trung Quốc tiến hành để xây dựng một loại “Trân Châu Cảng” cho Hạm Đội Nam Hải. Từ đó, Trung Quốc sẽ dần tiến chiếm toàn bộ Đông Nam Á nhằm thành lập “khu vực ảnh hưởng đầu tiên của Trung Quốc” để kiểm soát trục vận chuyển đường biển Đông Tây và để phóng chiếu sức mạnh quyền lực khu vực cũng như trên thế giới.

Lựa chọn của Việt Nam?

Việt Nam sẽ là một trong các hội viên hùng mạnh nhất của Asean?

Nếu lịch sử chính trị thế giới đang chuyển động với cuộc tranh hùng kiểu mới tay ba toàn cầu Mỹ – Nga – Trung và cuộc tranh hùng tay đôi khu vực Nhật – Trung, thì sự lựa chọn chiến tuyến lịch sử mới của Việt Nam phải như thế nào?

Việt Nam cần phải làm gì để không trở thành một nạn nhân bi thảm đáng thương như đã từng xảy ra trong quá khứ mà là một tay chơi quyền lực thế giới nặng ký trên chính trường quốc tế?

Những sự lựa chọn mới của Việt Nam có thể được diễn tả bằng 8 chữ vàng sau đây nếu Việt Nam thấy chuyển hướng toàn diện là một sự cần thiết để tìm một sinh lộ mới cho dân tộc đi tới: Tây Tiến – Đông Kết – Bắc Hẹn – Nam Hòa.

“Tây Tiến” nghĩa là Việt Nam phải tiến thẳng vào nền kinh tế Mỹ – Nhật -châu Âu để phát triển và làm giàu. Nước Mỹ phải là đất dụng võ của Việt Nam và phải là một thành trì kiên cố cho sứ mạng dựng nước và giữ nước lâu dài của Việt Nam.

Những sự lựa chọn mới của Việt Nam có thể được diễn tả bằng 8 chữ vàng sau đây nếu Việt Nam thấy chuyển hướng toàn diện là một sự cần thiết để tìm một sinh lộ mới cho dân tộc đi tới: Tây Tiến – Đông Kết – Bắc Hẹn – Nam Hòa.

“Đông Kết” nghĩa là Việt Nam phải nhanh chóng tiến tới việc thiết lập một hệ thống đồng minh nhất tâm tứ trụ mà trong đó quan hệ đồng minh Việt – Mỹ và Việt – Nhật sẽ là trục xoay quyền lực đầu tiên trong quan hệ đối trọng với Trung Quốc. Để thoả mãn một số yêu sách của Mỹ và mặc cả những bao thầu lớn với Mỹ trong tương lai, Việt Nam nên cho Mỹ thuê quân cảng Cam Ranh và lập một lộ trình xây dựng những thể chế dân chủ. Đây là con đường sống.

“Bắc Hẹn” nghĩa là Việt Nam sẽ tạm đoạn tuyệt với Trung Quốc giống như Mao và Đặng đã làm khi bắt tay với Mỹ và phớt tỉnh với Nga để dốc toàn lực vào quốc sách xây dựng kinh tế trong vòng 60 năm tới (2015-2075) rồi mới “tái xuất giang hồ” làm ăn tại hai nước bạn “đồng chí” năm xưa này cũng như các nước khác trên thế giới sau khi Việt Nam đã trở thành một “trung cường”.

“Nam Hòa” nghĩa là Việt Nam sẽ hoà với tất cả các quốc gia dân tộc trên thế giới (trừ Trung Quốc trong giai đoạn hiện tại) nhưng lấy đại hòa với các nước Đông Nam Á làm trọng. Vì sau 60 năm phát triển Việt Nam sẽ là một trong những nước hội viên hùng mạnh nhất để bảo vệ và lãnh đạo ASEAN thành một khối liên minh thống nhất trong quan hệ đối trọng với các nước đại cường và siêu cường trên thế giới.

Nhưng để làm được những việc này, Việt Nam đang cần những nhà lãnh đạo có viễn kiến.

Bất cứ thời đại nào trong bất cứ một xã hội nào, dân chủ hay phi dân chủ, một nhân vật hay một lãnh tụ bình thường, nhưng yêu nước thương dân, đều có những mưu lược phi thường để xuất hiện làm một nhà lãnh đạo quốc gia có viễn kiến, tự nhận sứ mạng xoay chuyển càn khôn cứu dân độ thế.

Ai sẽ xuất hiện để trở thành một nhà lãnh đạo Việt Nam chân chính như thế? Ai sẽ là nhân vật bình thường vươn lên từ “vũng lầy quyền lực” Đảng Cộng sản hiện nay, giống như một vầng thái dương hừng lửa, để làm nên đại nghiệp huy hoàng cho quốc gia dân tộc?

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, đang giảng dạy ở San Jose State University, Hoa Kỳ.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

ĐỨC THẦY LÂM NẠN TẠI ĐỐC-VÀNG

ĐỨC THẦY LÂM NẠN TẠI ĐỐC-VÀNG

LONG XUYÊN ngày 21 tháng 3 năm 1865

(20/03/2011) (Xem: 14308)

 

Kính gởi Ông NGÔ-XUÂN và Quí vị Đồng Bào Thủ Đô

 

SAIGON

 

Kính thưa Ông cùng Quý-vị,

 

Tiếp nhận được thơ ông cùng quý vị gởi đến tôi đề ngày 29 tháng 3 năm 1965 vào lúc 14 giờ

 

Vội biên thư hồi đáp cho ông cùng quý vị để tường:

 

Muốn đáp lại những thạnh tình chiếu cố ấy, mặc dù tôi rất kém khả năng hiểu biết nhưng, đứng về cương vị một môn-nhơn đệ tử của Đức Huỳnh Giáo Chủ thì nhiều hay ít cũng am tường về giáo lý của Ngài.

 

Trân trọng xin hồi đáp cùng quý vị, với phạm vi hiểu biết của tôi, còn những điều cao siêu thì xin nhường lời cho các bậc cao minh giảng giải. Riêng tôi có vài lời thiện cảm sau đây, dù không được thỏa mãn, kính mong quý vị niệm tình tha thứ.

 

–        Hỏi: Tại sao có danh từ Phật-Giáo Hòa-Hảo?

 

–        Đáp: Thưa quý vị, trải qua những năm tìm tòi học đạo, chính tôi đã thường nghe Đức Thầy tôi có giải đáp trong những khi thuyết pháp vào lúc mà Đức Thầy tôi thực hiện trong lời sấm tiên tri: “Chừng ơn trên ban bố lục thông Thầy sẽ được Tây Đông du thuyết”.

 

Quả thật như lời đúng vào năm 1945 Đức Thầy tôi có dịp đi du thuyết (khuyến nông) khắp 21 tỉnh, thì cũng có nhiều đồng bào chất vấn giống như những câu hỏi của quý vị đấy?

 

Vậy xin mạng phép dựa vào những câu giải đáp của Đức Thầy tôi và luôn tiện ghi lại nơi đây để ông cùng quý vị rõ:

 

“Phật Giáo là giáo pháp của nhà Phật, mà tôi là đệ tử trung thành của Đức Phật Thích Ca mâu ni, còn Hòa Hảo là danh từ quê hương của tôi. (Lời Đức Thầy)

 

Sau đây tôi xin phụ họa với ý nghĩa mà không ngoài giáo pháp của Đức Thầy tôi đã truyền dạy, trong 14 giòng khoáng thủ theo lối văn bát ngôn trường thiêng.

 

PHẬT vốn tánh từ bi vô lượng chí

GIÁO pháp khai nhiệm lý khắp nhơn gian

HÓA đồng trong sanh chúng hiệp nhứt tràng

HẢO ý nguyện vạn ban giai hướng thiện

LÀ sứ mệnh thừa vâng nơi Kim-điện

DANH một đời bốn biển lẫn sơn thanh

TỪ khởi nguyên căn thiện sẵn trời danh

QUÊ quán cổ kim sanh miền Linh-Địa

HƯƠNG xuất hiện thơm mùi Trung-Tín-Nghĩa

CỦA Tiên Rồng trau trỉa được nên công

ĐỨC cao siêu ban rãi thuận muôn lòng

HUỲNH đạt đạo lục thông tri tiền hậu

GIÁO thọ sắc Thế-Tôn, lời nguyền tấu

CHỦ tâm thành roi dấu Vình Trường Miên.

 

Kính thưa Ông cùng Quý vị,

 

Còn những điểm như: Mục-đích, Tôn-chỉ, thân thế và cách hành đạo của Đức Thầy tôi thì xin hẹn lại cùng quý vị, tôi sẽ hồi đáp trong tập sắp xuất bản của tực đề là “TÌM HIỂU GIÁO LÝ PHẬT GIÁO HÒA HẢO” chắc chắn quý vị sẽ được hài lòng.

 

Trước khi gác bút, và không còn lời lẽ cho hơn để được đáp tạ với nhân tình cao quí của quí vị cho vừa.

 

Nơi đây tôi chỉ đặt cả tâm thành khẩn nguyện Đức Phật Từ Bi gia hộ cho toàn thể quý vị cùng bửu quyến cũng như tất cả nhơn gian đều được hưởng mọi phước lành, để gọi lòng thiện cảm giữa tôi cùng quý vị.

 

Trân trọng kính chào

 

LÊ-THÀNH-LẠC

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Post navigation

Leave a Reply

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Năm 2013 Nửu Ước Đại Địa Khu Pháp Hội Giảng Pháp Lý Hồng Chí

Năm 2013 Nửu Ước Đại Địa Khu

Pháp Hội Giảng Pháp

Lý Hồng Chí
Ngày 19 tháng 5 năm 2013

(Mọi người đứng dậy nhiệt liệt vỗ tay)

Mọi người khỏe!  (Tất cả đệ tử:  Sư Phụ khỏe!  Tiếp tục vỗ tay.)  A, đây là chúng ta mấy năm này mở Pháp Hội lần này là lớn nhất đó.  (Vỗ tay) Người đến so ra khá nhiều, tôi nghe nói Đại Lục cũng có một số người đến.  Pháp Hội của đệ tử Đại Pháp mà, là đệ tử Đại Pháp trong tu luyện hỗ tương xúc tiến một cái hoàn cảnh tốt nhất.  Thông qua giao lưu của Pháp Hội, mọi người tìm ra được thiếu sót, cũng thấy được sở trường của người khác, khiến nó phát dương quang đại.

Làm người tu luyện thực chất không có gương mẫu.  Mỗi cá nhân cũng đang tu chính mình, mỗi cá nhân đều phải được đi con đường của chính mình, không có tham chiếu.   Chỉ có một điểm, chính là chư vị làm sao tuân theo Pháp đi làm.  Mỗi cá nhân đều có thể hội của chính mình, mỗi cá nhân đều có cảm thụ khác nhau, rất khó nói mỗi cá nhân gặp đến vấn đề đều có được nhận thức một thứ; đều có nhắm vào phương thức và phương pháp thọ lý một thứ, rất khó, tại vì phương thức tư duy với tư tưởng nguồn nguyên lai là rất phức tạp.  Mỗi cá nhân từ trường cửu đến đây hình thành các loại các thứ quan niệm, đối với sự vật có nhận thức khác nhau, cảm thụ của chính mình; tình cảm, tất cả những thứ phương phương diện diện cấu thành ra nhận thức của chính mình, với lãnh ngộ của chính mình; đặc điểm của nhận thức, đó đều rất phức tạp, cho nên rất khó tìm ra hai người có cá tính một thứ.  Người khác làm thế nào tôi thì làm thế đó là học trên bề mặt, thực chất rất khó giống nhau.

Vả lại mà, tôi yêu cầu mỗi cá nhân phải được Viên Mãn chính mình.  Ngồi tại đây đều là người tu luyện, Pháp Hội mà, học viên mới cũng không ít, Sư Phụ không phải nói quá huyền với chư vị, đó không phải tùy tùy tiện tiện xuống một cái sinh mệnh thì trở thành đệ tử Đại Pháp được đâu.  Sinh mệnh của vũ trụ vô lượng vô kế, chuyện to như vậy, rất có thể đó đều là Vương đến, thế thì tại đi trên con đường của chính mình; trên uy đức của chính mình chứng ngộ, đó nhất định phải có quá trình nhận thức của chính mình đã đi qua; quá trình tu luyện, có mang nhân tố, đặc điểm của chính mình, cho nên mỗi cá nhân đều phải đi cho được con đường của chính mình.  Những năm gần đây, tại trong đệ tử Đại Pháp không kể xuất hiện tình huống gì, tại trong tu luyện xuất hiện nhận thức khác nhau, hoặc là tại trên phối hợp chư vị giữa hỗ tương có cách nghĩ khác nhau, kỳ thực với cái này cũng có quan hệ.

Đương nhiên mà, tiết mục trong Đại Pháp phải làm cái gì, tận lượng phải bỏ xuống những gì của chính mình đi hoàn thành trong tiết mục chuyện phải làm, đó là đệ nhất vị, cho nên phải phối hợp.  Nhưng tại trong hoàn thành có mang đặc điểm của phương pháp thọ lý của chính mình, biểu hiện tại trong tu luyện đi con đường của mình, một điểm này Sư Phụ là thừa nhận, cũng là không được phản đối, đương nhiên mỗi cá nhân cũng đi làm như vậy.  Chư vị đều giống như một cái mô hình đổ ra giống y hệt như nhau, đó là không thể được.  Cho nên chư vị sẽ gặp ma nạn, tại trên đường tu luyện mỗi cá nhân vấp vấp ngã ngã, không kể đi là con đường thế nào, khó khăn, gồ gề, đều là vì chứng đắc Quả Vị của chính mình, chứng thực con đường đó Viên Mãn tối hậu của chính mình với thành quả của chính mình.

Chư vị tại trong quá trình tu luyện gặp đến nạn nhiều như vậy, gặp đến quan ải nhiều như vậy, đồng thời, tại trong bức hại đi qua rồi cái tuồng này nên nói là chưa hề có trên lịch sử mà.  Mọi người biết, tín đồ Cơ Đốc tuy nhiên bị áp hại 300 năm, Phật Giáo cũng gặp đến 5 lần Pháp nạn, lúc đầu khi Phật Thích Ca Mâu Ni với Bà La Môn Giáo nguyên thủy cũng có phát sinh sung đột rất lớn, nhưng cũng không bằng Trung Cộng tà Đảng ác độc, đó là cựu thế lực tại cao tầng khống chế làm đó.  Nhân loại xã hội chính là cái chính cái tà đồng thời tồn tại, cái tốt cái xấu đồng thời tồn tại, cái thiện cái ác đồng thời tồn tại, nó là một cái bình hằng quan hệ.  Không có thiện nè, người cũng không biết cái gì là ác; không có ác nè, người cũng không biết cái gì là thiện.  Trong tu luyện có được thiện rồi, thì người có được một cái tiêu chuẩn; có được ác rồi, thì người tu luyện biết làm sao đi đạt đến tiêu chuẩn.  Đó thì thúc đẩy được người tu luyện tại trong quá trình tu luyện được hoàn thiện chính mình, đó chính là thế gian đề ra cấp cho tu luyện giả một cái điều kiện và hoàn cảnh trọng yếu để đề cao sinh mệnh, đó chính là khi mới khai sáng xã hội nhân loại thì đã định xuống rồi, muốn tu luyện nhất định phải làm như vậy.  Cựu thế lực đã lợi dụng loại đặc điểm này của thế gian, đem nó tuyệt đối hóa rồi.

Loại đặc điểm này của người thế gian cũng là trong bất cứ không gian nào của vũ trụ đều không tồn tại cái hiện tượng này, chỉ có tại xã hội nhân loại có thiện ác cùng ở trong hoàn cảnh thì mới có biểu hiện của loại đột xuất này, cho nên mới khiến người tu luyện được.  Đương nhiên còn không kể những thứ này, còn có mê nè, khổ nè, còn có tình nè, vân vân những thứ nhân tố này.  Cựu thế lực chính là lợi dụng một điểm này làm ra cái trường cho rằng khảo nghiệm đại áp hại đệ tử Đại Pháp, dùng lời của chúng nói cũng là vì viên mãn để đệ tử Đại Pháp được Viên Mãn.  Đương nhiên mà, Sư Phụ trước kia thường hay giảng cho chư vị, tôi nói tôi không đồng ý; không thừa nhận cựu thế lực an bài cái bộ này, tôi có phương pháp của tôi cứu độ chúng sinh, tôi cũng là mang theo những thứ tôi muốn làm đến nữa, nhưng cựu thế lực ở đằng sau lưng cũng làm một bộ những thứ của nó.  Cũng giống tôi vừa mới giảng, giáo đồ Cơ Đốc bị áp hại; giáo đồ Phật Giáo bị áp hại, vân vân những thứ chuyện này, chúng cảm thấy đó chính là một con người đi hướng Viên Mãn; trở thành một vị Giác Giả, con đường thì phải đi, phải làm được như vậy, nếu đi những con đường khác đều làm không được.  Tôi dùng Pháp lý càng cao chỉ ra cách làm loại này nhắm vào đối với đệ tử Đại Pháp là tà ác can nhiễu, nó lại nói “Chúng tôi chỉ biết làm như vậy.”

Phật Pháp đó không phải nói vạn năng sao?  Ai cũng không nghĩ đến tôi dùng một cái nghệ thuật diễn xuất đem người cứu được rồi.  Đó cũng là chúng nghĩ không ra.

Phật Pháp là vạn năng đó.  Tại trong xã hội người thường tu luyện, đó cũng là chúng không có nghĩ ra được.

Thế thì tôi muốn làm cái phương thức là gì đây?

Cái vũ trụ này đều không tốt rồi, chúng sinh đều có nghiệp lực cực đại, Jê-su giảng người là có tội đó, kỳ thực dùng lời của Phật Giáo giảng chính là người tại trong sinh hoạt không ngừng đang tạo nghiệp sản sinh cái nghiệp tội, chính là mọi người tại luân hồi chuyển sinh dài đăng đẳng; đời đời kiếp kiếp thiếu xuống rất nhiều nợ nghiệp.  Người không chừng tại một đời nào đó đi lính rồi; giết người rồi, hoặc là làm qua đồ tể, hoặc là tại trong sinh hoạt bắt nạt qua ai, hoặc là đã từng làm rồi những chuyện không tốt.  Kỳ thực người người đều đã biến thành như thế rồi, nghiệp lực đầy thân, cái cơ bản xã hội đều là thế này rồi.  Sinh mệnh cao tầng đều không phù hợp tiêu chuẩn nữa, thậm chí bản thân tiêu chuẩn đều biến hóa luôn, đến hôm nay một bước này.  Thế thì nếu muốn khiến số chúng sinh này đều được cứu, mọi người hãy suy nghĩ, thông qua cái biện pháp đó của chúng căn bản làm không được, thực hiện cũng chứng minh căn bản làm không được.  Chúng cũng biết, cho nên chúng cũng hoàn toàn không muốn bảo nhiều người như vậy được cứu.  Tại trong quá khứ tiên đoán, chư vị đều nghe thấy được rồi, một vạn lưu “một ngàn”, cái gì “mười hộ thừa một hộ” nè, các loại các thứ tiên đoán cũng đang nói câu chuyện này.  Thì nói đi, nó không muốn bảo người chân chính được cứu, chỉ muốn lưu xuống cái chúng cho rằng còn được thôi.  Kỳ thực nè, chúng sinh đều là bình đẳng cả.  Tại trong chuỗi ngày dài đăng đẳng, sinh mệnh không phù hợp tiêu chuẩn nữa; bại hoại rồi, tất cả đều không được nữa, là vì bản thân vũ trụ này chỉ có trí tuệ lớn như thế thôi, gọi “thành, trú, hoại, diệt”.  Mà cái thành trú hoại diệt này chư vị không đem nó cải biến được, chúng sinh thì sẽ tại trong thành trú hoại diệt đó biến thành không tốt.  Vũ trụ tại thời ban đầu sinh thành, chúng sinh bản tính với Đạo, với Pháp của vũ trụ là tương đồng; tại giai đoạn của trú đó, chính là thời kỳ so khá tốt, chính là đạo đức quy phạm tầng tầng đều phù hợp tiêu chuẩn của vũ trụ; khi bị hoại thì bắt đầu đi xuống đường dốc rồi, thì phong tục thế gian ngày càng hạ rồi; khi diệt đó thì không được nữa, cuối cùng chư vị không được để nó thúi xuống luôn, phải làm sao đây, giải thể.  Giải thể hết rồi thì cái gì đều không còn nữa, trong vũ trụ tất cả sinh mệnh với vật thể đều không tồn tại nữa, thế muốn có thì tái tạo.  Chính là một chuyện như vậy.  Cho nên cái thứ căn bản này mà không cải biến, thì chúng sinh họ sẽ tại trong thành trú hoại diệt đó phát sinh biến hóa.

Rốt cuộc nói ra là tội của ai đây?  Nếu muốn tôi nói à, tội của ai cũng không phải.  Tại vũ trụ trong đặc tính thành trú hoại diệt chúng sinh thì sẽ như vậy, đó là vì trí tuệ của vũ trụ không đủ.  Cho nên thì tôi đang nghĩ, biện pháp tốt nhất chính là tất cả sinh mệnh thiện giải!  Không kể ai thiếu nợ ai rồi, ai cũng chớ đòi nữa, tại vì ai nấy đều có tội.  Mọi người đều không đi đòi nợ đó nữa, giữa tương hỗ đều tại trong Chính Pháp dùng thiện báo đem nó giải quyết được, đi hướng vị lai, đó quá tốt đẹp đi!  (Vỗ tay nhiệt liệt)  Chúng sinh nhất định sẽ hoan hỉ, mọi người đều sẽ vui mừng, đó chính là khi ban đầu tôi muốn làm đó.

Nhưng cựu thế lực nó đem tất cả cải biến hết rồi, chế tạo ra một màn ma nạn đến, vả lại là tà ác trên lịch sử chưa từng có.  Mọi người hãy suy nghĩ, cắt sống nội tạng nhân thể, tại trước cổ La Mã đối với giáo đồ Cơ Đốc khi bức hại tà ác nhất cũng không có tà ác đến loại trình độ này, hung ác nhất chẳng qua là đem người xử tử thôi.  Tại trên tinh cầu này tà ác lớn nhất, chính là đệ tử Đại Pháp tại trong màn bức hại này đã nhận chịu đó; đã đối diện với tà ác loại này, tại trong trường bức hại này tất cả biểu hiện ra cái tà ác đó.  Cựu thế lực cảm thấy, chúng mày đều là đến từ tầng thứ cao như vậy, chúng mày đều là chứng quả vị lớn như vậy; thành vương lớn như vậy, đối với chúng mày mà dùng phương thức ma nạn nhỏ, dùng phương thức tà ác không tương đẳng như vậy, tu được lên trên sao?  Chúng đều là một bộ lôgic này.

Chư vị biết Pháp của Sư Phụ giảng, tuy nhiên nội hàm cử đại, bề mặt lại trực bạch; cạn bạch phi thường.   Tôi nói lý bạch ngôn bạch làm mê đảo được chúng sinh, kỳ thực tôi chỉ nhắm chúng nó sinh mệnh cao tầng.  Trên lịch sử người đều đang nói, tương lai khi cứu người là chẳng phải Pháp rất khó đắc; cơ hội rất khó đắc.  Quá khứ không chỉ thế nhân đều đang nói, Thần đều nghĩ như vậy: khi cuối cùng cái Pháp đó muốn truyền, cuối cùng khi muốn đến cứu độ chúng sinh, thế thì cơ duyên đó nhất định khó đắc phi thường, khó ngộ phi thường, phải được rất thông minh thì mới ngộ đến được, chịu rất nhiều khổ mới tìm đến được.  Mọi người hãy suy nghĩ, nếu là như vậy, đó công bằng sao?  Không công bằng.  Đó rất nhiều đến Đại Giác Giả, đến tới trên thế gian, không chừng chuyển sinh thành người tàn phế nào đó, không chừng nó là tai điếc mắt hoa đó, tuổi tác lớn rồi.  Đó đối với họ công bằng sao?  Đó không công bằng.  Cho nên Sư Phụ truyền cái Pháp là cạn bạch nhất, chúng trái lại mà không tin tưởng đâu, tại trên một điểm này biểu hiện ra còn không bằng thế nhân nữa.

Lý bạch, ngôn bạch, hầu như không có mê.  Tôi nói lần này truyền Pháp đối với chúng sinh tuyệt đối bình đẳng.  Tôi nói cửa lớn là mở ra hết rồi, mở đến không còn cửa nữa, kỳ thực chính là cái đạo lý này.  Nhưng đối với cựu thế lực mà nói, chúng còn là một mạch làm với những chuyện chúng đã làm.  Đương nhiên mà, hiện tại chúng đã minh bạch rồi, biết được chúng làm tất cả này chính là chúng tự mình hủy diệt mình, tất cả chúng đã làm cũng là cựu thế lực càng cao tầng mượn dùng thứ này hủy diệt bao quát cả số sinh mệnh tội lớn bên dưới chúng, tại vì một cái tội ác lớn nhất chính là chúng cải biến đi cái tôi muốn làm đó.  Không kể thế nào đi nữa, cái trường bức hại mà tạo nên tất cả này đều đã dần dần sẽ qua đi, là không thể vãn hồi rồi, chúng quy trả không hết được.  Đó là đối với vũ trụ Chính Pháp cái can nhiễu.

Tội ác quá lớn rồi.

Ngồi tại đây đa số là đệ tử Đại Pháp hải ngoại, kỳ thực đệ tử Đại Pháp ở Đại Lục Trung Quốc đó mới là chủ thể, tại vì trên lịch sử các cái thời kỳ các cái Vương của các dân tộc đều chuyển sinh đến Trung Quốc đi rồi, vả lại trên tầng thứ cao xuống đó; càng cao tầng thứ đến cũng đều chuyển sinh đến Trung Quốc đi rồi.

Ngoại hình của người sẽ bị quan niệm của người mà cải biến.  Trung Cộng tà Đảng phá hoại văn hóa truyền thống Trung Quốc, vả lại là cái văn hóa bán Thần, văn hóa tiếp cận nhất với Thần, mọi người xem Shen Yun có cái cảm giác này mà, đồng thời tà Đảng đã nhồi vào một loại lý luận đấu tranh cực kỳ tà ác, giữa người với người biến thành hỗ tương tranh, đấu.  Hiện tại người Trung Quốc tự mình cũng biết, chỉ cần người Trung Quốc ở một chỗ, bất kể tại nơi nào, đều hỗ tương đánh; rất nhiều người của dân tộc khác cảm thấy, người Trung Quốc tại sao “không đoàn kết”?  Kỳ thực đó là có nguyên nhân rất thâm tầng.  Cựu thế lực chính là muốn đem nó làm loạn, chính là phải làm đến loại thành độ này.  Làm loạn như vậy, xem chư vị tu làm sao.  Chư vị gốc đến cao, chư vị đại biểu nhiều sinh mệnh mà, Quả Vị viên mãn lớn mà, cho nên thì bảo Trung Quốc loạn như vậy.  Tại trong loại hoàn cảnh này tu được ra chúng tôi mới thừa nhận, tu không ra là nhân phẩm quá kém đó.  Tại trong hoàn cảnh tà như vậy tu ra chúng tôi mới thừa nhận.  Đó chính là chúng làm đó.  Tương đối mà nói, ngoại trừ tại Trung Quốc Đại Lục còn chưa có tà ác như vậy; tại Trung Quốc trong hoàn cảnh đó không có so đối, người tự mình không biết mà biến thành như vậy rồi.  Đệ tử Đại Pháp cũng có rất nhiều người không tinh tấn, cũng không biết kiểm điểm, giữa hỗ tương tại trong văn hóa Đảng cũng là như vậy quấy lại quấy đi.

Không kể thế nào đi nữa, tất cả đều đi đến cuối rổi.  Tà ác muốn tái tổ chức một trường bức hại tà ác như vậy nó đã không có cái lực lượng này nữa, tại vì nhân tố tà ác đó là cựu thế lực từ rất nhiều không gian làm đến đó, cũng vì áp hại lần này mà chuẩn bị số nhân tố tà ác đó, những thứ loạn bậy xị bạ đều có, hiện tại đa số đã bị tiêu hủy rồi, cho nên nhìn lên đi hoàn cảnh càng ngày càng khoan lỏng rồi.  Nhưng chỉ cần nó chưa kết thúc, tà ác đó vẫn là tà ác, thì giống như thuốc độc, nó chính là thuốc độc, chư vị muốn nó không độc, nó làm không được, cho nên mọi người không được khinh thường, tại trên tu luyện tận lực chớ bảo cựu thế lực dùi vào chỗ trống.  Chuyện tối hậu Sư Phụ xem xem làm thế nào.

Làm một người tu luyện, không kể thế nào đi nữa, tại vì chư vị là người đang đi trên con đường Thần, mọi người biết, người đang đi trên con đường Thần, họ với sinh mệnh phổ thông, với người bình thường, đó chính là có phân biệt.  Nhưng mà, chư vị lại là tại trong người thường tu luyện, trên hành vi, thậm chí với ăn mặc, cử chỉ của chư vị nói chuyện đều với người thường không có gì phân biệt: Chỉ có một điểm lớn nhất khác nhau, gặp đến mâu thuẩn; gặp đến bất cứ chuyện gì chư vị phải được hướng nội tâm của chính mình đi tìm nguyên nhân: Phải chăng vì tôi đã làm sai cái gì?  Phải chăng vì vấn đề của tôi tạo thành chuyện này quanh co?  Đó là với người thường duy nhất minh hiển khác biệt.  Đương nhiên mà, điểm này cũng sẽ biểu hiện trên hành vi người.  Người thường sẽ cảm thấy người này khí chất không một thứ mà, cảm thấy đệ tử Đại Pháp rất thiện nè, nguyện ý muốn tiếp xúc với đệ tử Đại Pháp, tại vì cũng là người tu luyện, chu vi trường là thuần thiện đó, mà người thường họ thì không có đâu.  Một điểm này là khác nhau, người cũng sẽ cảm thụ được.

Đó cũng chính là nói, đệ tử Đại Pháp tuy nhiên là người tu luyện, nhìn lên với người thường rất khó phân khai ra, càng thêm là tại trong người thường tu luyện, vả lại là tại trong một cái hoàn cảnh phức tạp như vậy tu luyện, thế thì đối với người tu luyện mà nói, đó thì rất khó.  Tôi nhớ lại khi chư vị bắt đầu đắc Pháp, mọi người hễ thấy được cái Pháp này, đặc biệt là tôi nói trong ba bộ phận học viên hai cái bộ phận đầu đó, sau khi thấy được Pháp thật là cái tâm tình đó, thực tại quá vui mừng rồi, quá tốt rồi!  Rốt cuộc tìm được rồi!  Người chờ đợi ngàn vạn năm luân hồi, chẳng phải vì cái này sao?  Khi đó sinh mệnh chỗ thâm sâu cảm thụ khiến chư vị nhân tâm gì đều bỏ xuống được, hạ quyết tâm nhất định phải tu tốt chính mình.  Cái tâm tình phấn khởi đó khiến người tinh tấn.  Nhưng thời gian hễ dài dần dần thì không có cảm giác đó nữa, cái tính lười của người mà, các loại quan niệm của người, tại trên xã hội trước mặt hiện tượng tạp loạn, đối với người cũng thành ra các loại can nhiễu thu hút, cho nên có câu nói gọi “Như sơ tu luyện, Viên Mãn phải thành.”  Có người thường thường nói với Sư Phụ: A! Té ra khi con hễ đọc Pháp, cái tầng thứ đó đề cao cũng nhanh, khi đang đọc sách những thứ nhận thức không ngừng hiển hiện ra, tại sao hiện tại không có cái cảm giác này nữa vậy?  Thế mọi người tự mình nghĩ xem, chư vị có “tu luyện như sơ”  không?

Kỳ thực kỳ đầu tôi giảng qua lời nói này, tôi nói làm người đệ tử Đại Pháp mà giảng, khi đó bao quát học viên mới, chư vị chỉ cần đi tu, rất nhanh thì đem chư vị đẩy đến chỗ.   Đẩy đến chỗ nào đây?  Đẩy đến chư vị từ nơi nào đến, thì đẩy đến cao như thế, thời gian rất ngắn thì đẩy đến chỗ rồi, nhân thể trên bề mặt không có phát sinh biến hóa lớn như vậy.  Chư vị muốn được có năng lực biểu hiện lớn như vậy, thì phải có được chính niệm mạnh như vậy, thì mới khởi tác dụng lớn như vậy; chính niệm của chư vị cũng phải thuần tịnh đến thành độ loại đó, chư vị mới khởi được tác dụng lớn như thế.

Mọi người biết, một vị thần tiên, di động một cái núi không là gì hết, dời dời núi cũng rất dễ dàng.  Nhưng mà, vị thần tiên đó họ là không có nhân tâm.  Họ hoàn toàn là quan niệm của Thần, loại trạng thái đó của Thần.  Mang theo nhân tâm làm được đến không?  Tuyệt đối làm không được.  Có cái người tu luyện thì làm được đến, có cái làm không được, đối với vấn đề đó chính là chính niệm túc và không túc.  Chính niệm chân chính  thuần tịnh đến loại thành độ đó mới được.

Có người nói: “Tôi cảm thấy chính tôi rất thuần tịnh”, kỳ thực không phải, mang theo tạp niệm rất nhiều, mang theo những thứ nuôi thành ở hậu thiên rất nhiều đó.  Thậm chí chư vị cảm thấy một niệm đơn đơn giản giản, có thể cái cơ điểm, khởi nhân tố, những thứ phụ mang theo đều là không thuần đó.  Người tu luyện tại trong tu luyện trường kỳ muốn nhất trực bảo trì được chính niệm rất mạnh, bảo trì khi đó tâm cảnh đắc Pháp như sơ; cái tâm thái thuần tịnh lúc sơ kỳ đó, đó chính là quá tài giỏi rồi, Thần đó thấy được đều sẽ nói chư vị tài giỏi quá.  Nhưng rất khó, tại vì kỳ đầu khi tôi truyền Pháp thì biết được chư vị trong tu luyện sẽ có nhân tâm can nhiễu, nếu không tôi cũng không viết các bài văn chương trong Tinh Tấn Yếu Chỉ nhiều như vậy, trong tu luyện không ngừng đang tu chỉnh, đốc thúc mọi người, bảo mọi người tại trong tu luyện gặp đến vấn đề.  Tôi biết được sẽ xuất hiện những thứ vấn đề này.  Tại quá khứ trong tu luyện mà không phải đệ tử Đại Pháp cũng là một thứ, đều có tồn tại vấn đề này.  Ai được tu luyện như sơ, đó nhất định Viên Mãn.

Đương nhiên mà, làm đệ tử Đại Pháp mà nói, tại xã hội người thường trong hoàn cảnh đó tu luyện, can nhiễu đó là rất lớn.  Sư Phụ thấy được điểm này rồi, tuy nhiên chư vị phương thức tu luyện là người trước chưa hề có qua, nhưng đạt đến tiêu chuẩn là nghiêm khắc đó, chư vị tại trong Chuyển Pháp Luân cũng đọc đến rồi.  Tu luyện phải được chân chính giống cái mẫu người tu luyện, căn bản nhất chư vị phải thường thường bảo trì một cái chính niệm thanh tịnh, được tại các loại hoàn cảnh phức tạp, gặp đến mâu thuẩn khác nhau, hoặc là đột nhiên xuất hiện chuyện gì đó trong vấn đề, được giống như người tu luyện một thứ đi đối đãi nó, đó mới được.

Đương nhiên rất khó làm được, đúng không?  Cho nên thì mới biểu hiện ra đệ tử Đại Pháp tại trong quá trình tu luyện loại trạng thái phức tạp đó đến.  Có cái tu được tốt, có cái tu được không tốt, có cái biểu hiện thế này, có cái biểu hiện thế kia.  Mọi người biết, còn có xuất hiện đệ tử Đại Pháp qua đời nữa.  Đương nhiên là làm người, nào được không chết người sao?  Một cái thành phố lớn số mục nhâu khẩu tử vong hằng ngày còn rất lớn nữa, “sinh lão bệnh tử” đó chính là quy luật của người.  Một cái nhân quần lớn như vậy, mấy ngàn vạn đệ tử Đại Pháp, đều nói không chết, đều là trong tinh tấn thực tu, không lười tu luyện giả, đó chính là kỳ tích đó, đó đã phá cái mê rồi.  Chính vì có kẻ không tinh tấn, cho nên mới xuất ra vấn đề.  Tại vì dù sao là nhân quần tu luyện, phần trăm tử vong là tương đương thấp.  Vả lại cựu thế lực vì làm loạn cái hoàn cảnh này, cái nói mà khảo nghiệm người, xem chư vị nhận thức đối với cái Pháp này là thật đó, giả đó, chư vị tin tưởng hay không tin tưởng, cho nên nó có ý làm như thật thật giả giả bảo người thấy không rõ.

Loạn đến thành độ gì đây?  Ví dụ, nói có đệ tử Đại Pháp, một nhà người đều rất tinh tấn, người khác cũng nhìn thấy: Ô! Đó rất tốt, thậm chí có người thì hướng theo họ học, xem họ tu làm sao chính mình cũng tu như vậy.  Tôi nói người tu luyện không có gương mẫu, đem ai xem thành gương mẫu không phải chính mình nhận thức Pháp thì sẽ tạo thành vấn đề.  Cựu thế lực có thể cho rằng chư vị xem họ tu; mà không phải chính mình đi nhận thức Pháp, đó thì rất có thể để họ qua đời.  Đương nhiên mà, đệ tử Đại Pháp mà, qua đời đó đều là Viên Mãn, khẳng định đó, tại vì một người thường trong khi chư vị giảng chân tướng đều được đem họ cứu rồi thậm chí được quy vị nữa, huống chi một người tu luyện Đại Pháp đây?  Vả lại là cựu thế lực tạo thành không bình thường mà rời thế, đương nhiên đắc Viên Mãn rồi.

Cựu thế lực đem chuyện này làm thành như vậy, nó chính là dùng cái thủ pháp ác độc đó đi khảo nghiệm người khác, thông qua chuyện này khảo nghiệm người.  Làm sao đây?  Chư vị cho rằng tu được tốt được, nó chết rồi, chư vị còn tin tưởng hay không tin tưởng?  Những thứ chuyện này phát sinh rất nhiều lần rồi, rất nhiều đệ tử Đại Pháp đều đã có kinh nghiệm rồi, đều biết thủ đoạn của cựu thế lực rồi.  Nhưng từ trên yêu cầu của Sư Phụ nói, tu luyện cũng là nghiêm túc đó, một con người thành Thần, không phải ngồi đó uống nước trà, đọc đọc sách thì được thành Thần rồi.  Tại trên con đường chân chính tu lên được, thì mới được đó.

Tại trong tu luyện, tại vì tu luyện giả không phải cứ được từ bắt đầu đến cuối đều bảo trì tâm thái một thứ, như hỏa tiển một thứ hướng lên trên đi, trong tinh tấn sung thực tầng thứ khác nhau của mình, cho nên thì sẽ xuất hiện trạng thái khác nhau.  Cựu thế lực cũng sẽ đem cái hoàn cảnh này làm loạn, khảo nghiệm nhân tâm, vân vân những thứ chuyện này.  Còn không kể những thứ đó, dẫn chứng rất nhiều, tại Trung Quốc Đại Lục đó thì càng không cần nói nữa.  Trong áp hại tà ác biểu hiện, đó là cựu thế lực an bài cái bộ thủ pháp này.  Mục đích của nó là khiến sự an bài của chúng làm thành, khiến chúng cho rằng, số đệ tử Đại Pháp mà được thì tu thành Viên Mãn, nhưng chúng không kể chư vị ai được Viên Mãn; ai không được Viên Mãn, nó chỉ kể tại trong áp hại trường này đem kẻ được thì Viên Mãn; đem cái chúng muốn làm thì làm thành.

Trong áp hại tôi cũng đang quan sát tỉ mỉ, có số học viên thật là còn không tiếp thụ giáo huấn.  Vừa mới từ sở lao động thả ra, tâm hiển thị của họ lại đến nữa, nhân tâm lại lên lại rồi, một người thường gặp đến chuyện gì cũng phải được có cái giáo huấn, tư khảo tư khảo nhiều; người tu luyện càng phải tìm ra được, bị cựu thế lực dùi chỗ trống nguyên nhân tại trong nơi nào đây, phải tra tìm được vấn đề của chính mình.  Những thứ chuyện này tôi tại trên Pháp Hội không nói nhiều nữa, tình huống của Đại Lục cũng rất phức tạp, các loại các thứ nhân tâm, các loại các thứ mâu thuẩn, tại trong hoàn cảnh phức tạp đó mà thiên biến vạn hóa.  Nhất định phải chân chính tra tìm chính mình; ít bị cựu thế lực dùi chỗ trống.

Dưới đây tôi lại nói nói những vấn đề khác.

Mọi người biết gần đây đài truyền hình NTD tiết mục của đệ tử Đại Pháp làm giảng rõ chân tướng có một ít thay đổi.  Tôi cảm thấy đó đều là rất bình thường.  Rất nhiều học viên đều đang nghị luận.  Đệ tử Đại Pháp phải làm được chuyện; tiết mục giảng rõ chân tướng làm tốt, có biện pháp tốt, chủ ý tốt, thế thì cứ làm như vậy, đó đều là bình thường đó.  Nhưng có số học viên nè, bình thường làm không được tốt +lắm, thậm chí khi bình thường đối với người phụ trách trước còn có ý kiến, đến khi này họ lại đi bợ đỡ.  Người phụ trách trước này vốn tâm tình rất bình tịnh, tôi trước đó đã với họ chào hỏi rồi; nói qua câu chuyện này, có người lại đi thuyết tam đạo tứ nữa: Chúng ta đâu có không tốt như vậy, tại sao nói đổi người thì đổi liền?  (Sư Phụ cười) Đương nhiên rồi, người tu luyện không phải một thứ, tôi đối với người phụ trách trước vừa nói họ cũng liền minh bạch rồi.

Thì nói người tu luyện mà, Sư Phụ muốn mọi người làm cái việc làm sao đối đãi, tất nhiên Sư Phụ bảo làm như vậy rồi, phải nhất định có đạo lý.  Chư vị không phải đến để trợ Sư chính Pháp sao?  Tại sao không chiếu theo Sư Phụ muốn làm mà đi phối hợp; viên dung, trái lại còn đi làm những cái không nên làm?  Nói ít lời không nên nói?   Chư vị là người tu luyện sao?  Chư vị là đệ tử của tôi sao?  Chư vị còn gọi tôi là Sư Phụ sao?

Kỳ thực chư vị hãy nghĩ xem, vừa rồi chư vị đang bàn Shen Yun, nói thành công của Shen Yun.  Trước kia tôi giảng qua, tôi nói lịch sử xã hội nhân loại tại năm 1999 năm đó thì kết thúc rồi.  Khi người ta tại năm 2000 ăn mừng, tôi thì đang nghĩ, tôi nói diện minh bạch của con người chúc mừng.  Đi qua được cái niên đại này, còn có hy vọng tồn tại, thực sự là phải ăn mừng.  Nhưng thời gian được không ngừng duy trì như thế xuống mãi sao?  Duy trì tiếp xuống sao?  Nếu như một quả táo chính thúi rồi, còn để đó chưng bày, đó được không?  Trên đó vòi bò đầy, tán phát ra khí vị thúi, còn để bày ở đó sao?  Cuối cùng còn có thời gian dài bao lâu?  Người ta tại thời kỳ đoạn lịch sử này đều nghị luận câu chuyện này, cũng chính là nói, người ta đều đang lo âu.  Nếu muốn tôi nói nè, tôi đối với đệ tử Đại Pháp sớm đã giảng qua, tôi nói chính vì vũ trụ đang chính Pháp, ở đây thành ra hạt tâm của chính Pháp, trong đó có vô số đệ tử Đại Pháp ở đây chứng thực Pháp, thì đẩy dời ra cái thời gian này.  Thế thì cũng chính là nói, đó là Đại Pháp đem nó lưu tiếp xuống.  Lưu lại làm gì đây?  Lại cho người một lần cơ hội nữa, lưu lại bảo đệ tử Đại Pháp ở nơi đây cứu người.  Chớ đừng chỉ xem chúng ta tại nơi đây một mặt thừa chịu ma nạn.

Có học viên nói, tôi thì thừa chịu thừa chịu.  Thừa chịu gì đây?!  Dưới tình huống càng khó hơn, chư vị phải được đi làm tốt ba chuyện.  Đi cứu độ chúng sinh, đó là trách nhiệm của đệ tử Đại Pháp!  Viên Mãn của đệ tử Đại Pháp tuyệt đối không phải Viên Mãn cá nhân, nhất định tại trong cứu độ chúng sinh, dẫn dắt vô số chúng sinh Viên Mãn.  Mỗi cá nhân đều là!  (Vỗ tay) Thế tất nhiên là như vậy, mọi người hãy suy nghĩ, chúng ta tại thời kỳ lịch sử này chẳng phải nên hát vai chính sao?

Sư Phụ dẫn lĩnh mọi người làm Shen Yun thực tế là làm gương cho mọi người.  Tôi đem Shen Yun làm thành buổi trình diễn đệ nhất trên thế giới, ít nhất tại trong lĩnh vực văn nghệ; trong lĩnh vực nghệ thuật, Shen Yun hát ra vai chính rồi.  Thế thì những tiết mục khác làm sao đây?  Chư vị đối với chính mình làm ra một ít thành tích, rất chiêm chiêm tự hỉ, chư vị đã hát vai chính rồi sao?  Chư vị kể cả vai phụ còn chưa hát lên được, có người còn hát vai cười nữa!  Đó là đệ tử Đại Pháp nên làm hay không?  Là Sư Phụ bảo chư vị làm như vậy đó hả?  Chúng ta có người đang nói, “Chúng tôi hiện tại vốn không đủ đâu, tiết mục làm không ra.”  Đó là chư vị làm chưa tốt, chư vị không chân chính đem nó xem như những chuyện phải làm của đệ tử Đại Pháp; đi làm một cái xí nghiệp chân chính.   Một cái truyền thông tính cách thế giới vốn xoay chuyển không có bao nhiêu tỷ đều không phải là đại công ty lớn.   Đương nhiên lời nói ra khẳng định có người có áp lực rồi.  Tôi không phải nói chư vị không làm đến điểm này thì không được nữa.  Tôi chỉ là từ trên đạo lý mà nói cái chuyện này, chúng ta nên làm như vậy mới được.

Dung lượng của số người tại sao nhỏ như vậy?  Vấn đề nghĩ đến làm sao nhỏ như vậy?  Nếu như chư vị làm cái truyền thông chân chính đứng vững ở xã hội chủ lưu, thực sự thành ra công ty truyền thông toàn thế giới, mọi người hãy nghĩ, phanh phui tà ác, đem nhân loại dẫn đạo hướng chính diện, đó khởi được tác dụng có bao lớn đây?  Đó cứu độ chúng sinh cái lực độ nên có bao lớn?  Chư vị chưa làm đến, thường thường chỉ mong thông tin người thường làm chút gì cho chúng ta!  Thông tin người thường thì không làm cho chư vị, tại vì nó không phải đệ tử Đại Pháp làm đó.  Là chư vị đang chứng thực Pháp, không phải người thường chứng thực Pháp.  Chính là chuyện như vậy.  Có lúc chư vị muốn bảo người thường thông tin làm chút đỉnh gì đó, họ liền làm trái lại với chư vị, có phải không?

Lại nói nói thêm vấn đề của Shen Yun.  Rất nhiều học viên đối với Shen Yun có cái cách nghĩ, cảm thấy Sư Phụ dẫn làm những tiết mục.  Kỳ thực Sư Phụ là làm cái gương cho mọi người, càng nhiều sự tình là chư vị đi làm.  Nhưng Shen Yun một bước một bước làm thế nào tôi là có tính toán rồi.

Bắt đầu là một cái đoàn thể nghệ thuật, đặc biệt là tại Mỹ Quốc, chúng tôi là dùng thân phận của người Hoa, là dân tộc thiểu số, nếu muốn khai mở cục diện xã hội này, đó nói sao dễ vậy đây.  Đây chính là nghệ thuật đoàn của Mỹ Quốc, cũng phải được trải qua mấy chục năm ảnh hưởng mới đi ra được, thế thì chúng ta phải làm sao?  Cho nên Sư Phụ bảo rất nhiều người đệ tử Đại Pháp ở các nơi đều tham gia vào, bảo mọi người tích cực phối hợp, khiến Shen Yun ảnh hưởng làm to, đó là một cái nguyên danh đó.

Còn có một cái chính là chất lượng của tiết mục nhất định được bảo chứng, cho nên đối với tôi xem trực tiếp quan trọng nhất là hiệu quả của khán giả.  Làm người biên đạo họ sẽ đứng tại góc độ vũ điệu nhìn hiệu quả, họ rất khó đi tưởng tượng khán giả làm sao thấy cái vấn đề này.  Làm một người chỉ huy nhạc đoàn, họ sẽ đem trung tâm bỏ trên nhạc đoàn biểu hiện.  Thế thì người làm cho ánh sáng; âm thanh, họ đều xem trọng cách nghĩ của chính mình.   Tôi không, tôi là trực tiếp xem tổng thể hiệu quả cho khán giả, thậm chí tại trong các cái hoàn tiết mục cộng với phân lượng phải đích đáng, bảo chứng khiến toàn cái diễn xuất cho khán giả hiệu quả là cái gì.

Cho nên tiết mục chất lượng hễ lên, lại cộng thêm học viên các nơi phối hợp, lại là người tu luyện đang làm, tất cả biểu hiện ra đều là thuần thiện thuần mỹ, vả lại có mang năng lượng chính diện cường đại của người tu luyện, bản thân đệ tử Đại Pháp chính là đến cứu độ chúng sinh, cho nên đệ tử Đại Pháp làm cái gì đều không được làm không, đều được vì chịu trách nhiệm cứu người, đương nhiên tại trong diễn xuất này biểu hiện đều là đột xuất phi thường.  Tại trên sân khấu rất nhiều khán giả đều cảm thấy được; thấy trên sân khấu cũng có Thần đang làm.  Kỳ thực đệ tử Đại Pháp làm những thứ tiết mục khác cũng một thứ, chính là phải thực sự làm cho tốt.  Thời gian ngắn ngắn trong vài năm, đem Shen Yun danh tiếng làm được rất to.

Kỳ thực Shen Yun năm thứ nhất thì đã đánh dội lên rồi, người ta khi đó thì đã nói đó là một cái kỳ tích rồi.  Tôi vốn là muốn một năm làm hai buổi diễn xuất, một cái là kỳ quang, “Giáng Sinh”, chính là lễ Giáng Sinh làm một buổi diễn xuất, năm mới Trung Quốc làm một buổi diễn xuất, mỗi năm làm hai lần tiết mục khác nhau.   Sau này do vì quá bận đi, làm không nổi, hiện tại chỉ làm một buổi trình diễn thôi.   Ngắn ngủi trong mấy năm, ảnh hưởng thì làm ra rồi.  Cái này với phối hợp của đệ tử Đại Pháp, nhân tố của phương phương diện diện đều có liên quan đến.

Tôi với người phụ trách của đài truyền hình nói, tin tức thông tin nếu không chú trọng bồi dưởng nhân viên chuyên nghiệp hóa, chất lượng chư vị làm không lên nổi, trình độ chuyên nghiệp hóa cũng không đủ, đó điều không được, làm một cái đại hình công ty truyền thông đó là nhất định phải chú trọng đến.

Khi làm Shen Yun tôi có nghĩ, nếu muốn khiến Shen Yun trở thành là đệ nhất, thì trước hết phải bồi dưởng diễn viên, cho nên tôi liền mở trường, triệt để giải quyết vấn đề của diễn viên.  Chúng ta rất nhanh, thời gian ngắn ngắn thì đem diễn viên hồi huấn ra rồi.  Khi đó kỹ thuật còn chưa cao như vậy, hiện tại là càng ngày càng cao, rất nhiều diễn viên đều thành ra vũ đạo diễn viên nhất lưu quốc tế, (Vỗ tay) cho nên mới có hiệu quả diễn xuất như vậy; trình độ chuyên nghiệp hóa của phương diện khác càng ngày càng cao.  Đương nhiên mà, đoàn nhạc Shen Yun cũng đang phát sinh cải thiện lớn, tôi cũng muốn khiến nhạc đoàn thành ra nhất lưu thế giới.  (Vỗ tay) Tôi nói được thì phải làm được, (Sư Phụ cười)  (vỗ tay) chính đang nổ lực đây.  Năm ngoái ba cái đoàn nhạc chúng ta hợp lại làm một buổi trình diễn nhạc đoàn giao hưởng, trình diễn tại Nửu Ước, Carnegie Hall, rất thành công, thành viên đoàn nhạc cũng là tiếng tăm bội tăng.  Nhạc đoàn cũng nhất định đánh dội được.

Thực sự tôi làm Shen Yun, chính là để cho các cái tiết mục xem Sư Phụ làm sao làm.  Vả lại, tôi còn có một cái tính toán, tại vì học viên ở các nơi trong quảng cáo Shen Yun dùng số người quá nhiều, ảnh hưởng đến tiết mục khác, cái chuyện này phải cải biến.  Hiện tại đã cải biến được rất nhiều rồi, năm ngoái đến năm này buổi trình diễn thì không dùng người nhiều như vậy nữa, rất nhiều địa phương đã dùng rất ít rồi.  Khu vục Nửu Ước tôi đã bảo là tận lượng ít dùng, thế thì chư vị nói mấy ngàn người đi đẩy vé, rốt cuộc cả uy đức cũng không có nữa, khán giả đến có bao nhiêu người đâu?  Có số khu vực thì chỉ có ba hay bốn người thì làm được vài xuất rồi, vả lại là đầy rạp, cái uy đức này chư vị xem bao lớn.  Cho nên tương lai sẽ càng ngày càng dùng ít người.  Hơn nữa hiện tại thống kê ra một lần, mọi nơi đều là tình huống này, 80% trở lên khán giả đều là thấy quảng cáo mà đến, cho nên chúng ta chỉ cần lượng ít người, đem quảng cáo làm tốt một chút, thì được rồi.  Từ từ sẽ làm như vậy.

Vừa rồi giảng là hai cái vấn đề cụ thể này.  Tôi vừa rồi nghe nói ở Đại Lục còn đến một bộ phận học viên.  Có số học viên trước kia nghe qua tôi giảng Pháp, Đại Lục học viên tuyệt đa số chưa nghe qua tôi giảng Pháp, thấy Sư Phụ một lần hầu như là rất khó, thế thì tôi sẽ giảng nhiều thêm một chút.  (Nhiệt liệt vỗ tay)

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Đức Đạt Lai Lạt Ma Ăn Trưa Với Đông Đảo Ngôi Sao Lừng Danh Hollywood

Đức Đạt Lai Lạt Ma Ăn Trưa Với Đông Đảo

Ngôi Sao Lừng Danh Hollywood

22/03/201412:00 SA(Xem: 5893)
Đức Đạt Lai Lạt Ma ăn trưa
với đông đảo ngôi sao lừng danh Hollywood
Tâm Phương

richard_gereTrong chuyến thăm và giảng pháp tại Hoa Kỳ trong lần này, đầu năm 2014, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã gặp tổng thống Mỹ Barack Obama, mở đầu cuộc họp Thượng Viện bằng buổi cầu nguyện Phật giáo (và đây là sự khởi đầu lịch sử), gặp gỡ chủ tịch Hạ Viện John Boehner, và trưởng nhóm thiểu số của Hạ Viện là bà Nancy Pelosi.

Thế nhưng, có một cuộc gặp gỡ khác cũng tạo chú ý lớn là bữa ăn trưa tại trung tâm Khoa Học của California do Lourdes Foundation tổ chức với sự tham dự của rất đông minh tinh màn bạc, ca sĩ, nhạc sĩ, diễn viên và giới truyền thông nổi tiếng của Trung tâm điện ảnh Hollywood lừng danh của thế giới như: Sharon Stone, Larry King, Anna Kendrick, Lupita Nyong’o, Amber Heard, Eva Longoria, Naomi Watts, Jeremy Renner, Jim Carrey, Nikki Reed, Joshua Jackson, Malin Akerman, Christina Hendricks, Rosario Dawson, Sandra Oh, Amber Valletta, Joanna Krupa and Lisa Vanderpump…

Hàng trăm nghệ sĩ đã tham dự mà trên đây chỉ là một số ngôi sao tiêu biểu.

Nữ minh tinh Sharon Stone giới thiệu ngài “Chúng con biết ơn ngài vô hạn về tất cả những điều thiện lành mà ngài đã thực hiện” và cô đã gọi ngài là “nhân vật của tất cả mọi mùa”.

Vua truyền hình Larry King, cựu bình luận gia nổi tiếng của đài truyền hình CNN, thì giới thiệu phóng viên truyền hình Ann Curry, và Ann Curry phỏng vấn ngài tại chỗ, mà buổi phỏng vấn bắt đầu với hai nghệ sĩ David Foster và Eric Benet cùng bắt giọng cho mọi nghệ sĩ cất lên ca khúc “Tất cả những gì mà thế giới bây giờ cần đến chính là Tình Yêu” (What the World Needs Now Is Love) một tác phẩm của nhạc sĩ Burt Bacharach.

Cái gì trong túi vãi của ngài?

Các nghệ sĩ cũng tò mò muốn biết trong túi vãi mà ngài mang theo trong hành trình quốc tế là những thứ gì? Và ngài đã đồng ý để tiết lộ.

Ngài tiết lộ rằng đó là hai thanh kẹo chocolate loại nhỏ hiệu Toblerones, một bàn chải đánh răng, một hàn thử biểu, hai cặp kính và một tượng điêu khắc Đức Phật vào thế kỷ 11 được gói lại. Tài tử Sharon Stone muốn xem nhưng ngài từ chối.

Khi được hỏi về tuổi tác, thì ngài nói là “Tôi cảm thấy trẻ trung hơn tuổi thật của tôi, cảm giác trẻ trung không ảnh hưởng gì đến tuổi thật sự cả.” Năm nay ngài 78 tuổi.

Sau lần gặp gỡ này, các nghệ sĩ đã Twitter những lời ca ngợi ngài hết lòng.

Dưới đây là những lời trích từ Twitter:

– Nữ diễn viên Lisa Vanderpump viết: “Tranh luận là tốt cho tiến bộ, nhưng khi gặp phải con chó quá lớn (ám chỉ ngài Đạt Lai Lạt Ma) thì tôi bỏ chạy.”

– Nhà truyền thông vĩ đại Larry King viết: “Ngài thật là một con người đáng nễ!” Cuộc phỏng vấn Đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ phát vào ngày 10 tháng 3. Hy vọng chúng tôi sẽ có clip này để xem cùng qúy vị.

– Nữ diễn viên Eva Longoria: “Thế giới cần nhiều tấm lòng từ bi hơn”.

– Diễn viên Jim Carrey: “Thật là một tình yêu may mắn tràn ngập hồn tôi. Ngài quả thật là một linh hồn ngọt ngào.”

– Nữ người mẫu Ba Lan Joanna Krupa: “Cầu nguyện cho mọi người đều có tầm nhìn giống như Đức Đạt Lai Lạt Ma. Thế giới của chúng ta sẽ được tràn ngập sự tử tế và lòng từ bi, chứ không phải hận thù và ghen ghét.”

Thế giới nghệ sĩ tại Hollywood lâu nay vẫn thần tượng và tôn sùng ngài.

Tâm Phương (PTVN)

Dưới đây là chùm ảnh của báo Hollywood Stars:

selfie--anaomi-and-lama--alama-with-sharon-stone--alama-with-eva--alama-and-larry--a0227-krupa-dalai-lama-1

Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

Trúng tên lửa Israel, bé gái Palestine bị ném lên không trung

Trúng tên lửa Israel, bé gái Palestine bị ném

lên không trung

Thứ Bảy, 21:08  26/07/2014

(NLĐO) – Cô bé 2 tuổi người Palestine bị ném thẳng lên không trung và tiếp đất bằng mặt do ảnh hưởng của một vụ nổ tên lửa của Israel trong cuộc xung đột dải Gaza.

Bé Naama bị thương nặng ở vùng mặt

Bé Naama bị thương nặng ở vùng mặt

Bé Naama Abu Al-Foul, 2 tuổi, đang chơi bên ngoài nhà tại thành phố Gaza, một quả tên lửa từ phía Israel đã phát nổ ngay gần đó ném bay cô bé lên cao. Tại thời điểm xảy ra vụ việc, bố của Naama – ông Fadi Foul đang đứng ngay gần đó nhưng người đàn ông này hoàn toàn bất lực khi nhìn con gái rơi trở lại mặt đất và “hạ cánh” bằng mặt.

Ông Foul xúc động kể lại: “Naama bị ném lên không trung, sau đó rơi xuống khá mạnh. Gương mặt của con bé đầy máu và lúc đó tôi nghĩ: “Tôi mất con gái tôi rồi. Naama đã chết”. May mắn thay, cô bé vẫn còn sống, chỉ bị chấn động và bị thương ở hai mắt. Sau đó, cô bé tỉnh lại và điều đầu tiên cô bé nói sau cơn chấn động mạnh là “ya Allah”(có nghĩa là Chúa ơi).

Mẹ của Naama – bà Donia – đang mang thai, đã ngất xỉu khi nhìn thấy gương mặt đầy máu của con gái. Ngay sau khi chắc chắn vợ mình vẫn an toàn và Naama còn sống, ông Foul với những vết thương do mảnh đạn gây ra trên vai và chân lại cuống cuồng đi tìm cô con gái Habiba, 1 tuổi, đang vô cùng khiếp sợ nhưng may mắn đã tìm được một chỗ nấp an toàn.

Hàng xóm của gia đình ông Foul vội vã đến giúp đỡ và điên cuồng tìm kiếm một xe cứu thương. Thế nhưng khu vực này của thành phố Gaza bị tàn phá nặng nề nên không một xe cứu thương nào có thể tiếp cận. Ông Foul đành phải bế cô con gái nhỏ bé với gương mặt đầy máu chạy ra đường tìm kiếm một chiếc xe.

Naama được đưa vào bệnh viện Shifa trên một chiếc xe bình thường và không có bất kỳ dụng cụ nào để sơ cứu. Cô bé được đưa vào một phòng bệnh trẻ em và khóc lóc trong đau đớn. Lúc đầu cô bé không thể mở mắt và trạng thái mù đột ngột khiến cô bé hoảng sợ và hoang mang. Bốn ngày sau, ngày 24-7, cô bé mới có thể mở mắt lần đầu sau tai nạn.

Tức giận vì những gì xảy ra với gia đình mình, ông Foul bức xúc: “Con em tôi có bắn rocket vàoIsrael không? Cái gì đã làm con gái tôi bị tổn thương như thế này?”

12 giờ ngừng bắn nhân đạo tại Gaza

Ngày 26-7, người dân Palestine đồng loạt đổ ra đường để thu gom thi thể người chết và trở về nhà tìm kiếm lương thực trong thời gian “12 giờ ngừng bắn nhân đạo” trong thỏa thuận của Quân đội Israel và các tay súng Hamas.

12 giờ ngừng bắn bắt đầu từ 8 giờ địa phương (12 giờ Việt Nam) ngày 26-7. Tại quận Shejaiya, chưa đến 8 giờ người dân đã tràn về bất chấp cảnh báo không nên làm như vậy. Tại Beit Hanoun, tiếng rền rĩ than khóc đến não lòng của những người phụ nữ vang khắp nơi khi các nhân viên y tế lôi ra những thi thể dưới đống đổ nát sau cuộc không kích của Israel. Gần Khan Younis, 18 thành viên trong một gia đình đã chết vì pháo kích ngay trước thỏa thuận ngừng bắn.

Tại thành phố Gaza, trong ngày 26-7, ít nhất 60 thi thể đã được tìm thấy và đưa tới nhà xác bệnh viện Shifa. Nhiều khả năng còn không ít thi thể bị chôn vùi chưa được tìm thấy. Mùi hôi thối của các xác chết đang phân hủy bao trùm khắp các con phố.

Các quan chức cho biết, ít nhất 940 người Palestine đã thiệt mạng và 5.870 người bị thương kể từ khi cuộc xung đột Israel-Hamas bắt đầu vào ngày 8 – 7. Trong khi đó, phía Israel cũng đã có 38 người thiệt mạng.

 

Linh San (Theo Reuters, BBC, Telegraph)
Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

Khi nào giàn khoan quay lại?

Khi nào giàn khoan quay lại?

Blogger Nguyễn Ngọc Già gửi RFA
2014-07-23
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này
Ảnh chụp giàn khoan HD 981 ngày 28 tháng 5, 2014

Ảnh chụp giàn khoan HD 981 ngày 28 tháng 5, 2014

AFP

Có thể không phải một mà một số giàn khoan sẽ đồng loạt quay lại biển Đông trong thời gian nào đó?

Cũng có thể biểu tượng “bá chủ” châu Á không chỉ là giàn khoan mà thay vào đó, những “vật thể” khác trong các động thái khác, với những biểu hiện ngang ngược không hề thua kém, hoặc “êm đềm” và “trầm tĩnh” hơn?

Dù sao, đưa “biểu tượng” giàn khoan quay lại, tạm coi là… “điển hình bành trướng” trong cục diện, biển ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với nhiều quốc gia, để nói về mưu đồ thôn tính của nhà cầm quyền Bắc Kinh, không tính riêng VN, mà còn cả Asean với một tương lai trăm năm, toàn cầu cũng đều biết [1]: “…chẳng có gì ngạc nhiên nếu Trung Quốc cũng đòi chủ quyền trên Mặt trăng và các hành tinh này” như Chủ tịch Thượng viện Philippines Juan Ponce Enrile nhận định hóm hỉnh lại không kém mỉa mai về lòng dạ tham lam vô bờ bến của nhà cầm quyền Bắc Kinh.

Phải chăng có TPP dính líu?

Nhiều lý do được đưa ra, khi giàn khoan 981 được Bắc Kinh kéo ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam: thời tiết, kinh tế, áp lực ngoại giao thế giới v.v…

Đài RFA cho biết, một trong những hồ nghi có thể xem là tác nhân trực tiếp [2]: “…Vậy thì Trung Quốc kéo giàn khoan đi có phải là theo thỏa thuận với Việt Nam? Theo thỏa thuận như vậy nghĩa là Việt Nam đã chịu nhượng bộ một điều nào đó chăng? Hay là Việt Nam đã hứa hẹn không liên minh với nước khác để chống Trung Quốc?…”

Dù sao, nhà báo Việt Long vẫn đề nghị độc giả nên xem tất cả lý giải đều là suy luận và nên cảnh giác trước việc “rút giàn khoan”, dù tất cả có thể tạm “thở phào… nửa hơi”.

Trong 12 quốc gia tham gia đàm phán TPP, chỉ riêng có nước CHXHCNVN theo chế độ độc tài toàn trị và là “đàn em”, dù không phải đáng tin cậy lắm, nhưng có thể điều khiển được theo ý Bắc Kinh muốn.

“Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” của nhà cầm quyền Việt Nam gần như bị Trung Cộng chi phối và phá hoại hầu hết trên nhiều loại thị trường, cùng với hàng trăm ngàn người Hoa và các “biệt khu” trải dài khắp Trung – Nam – Bắc và luôn nhận được nhiều ưu ái, thiên vị từ trung ương cho chí các địa phương Việt Nam.

Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” của nhà cầm quyền VN gần như bị Trung Cộng chi phối và phá hoại hầu hết trên nhiều loại thị trường, cùng với hàng trăm ngàn người Hoa và các “biệt khu” trải dài khắp Trung-Nam-Bắc và luôn nhận được nhiều ưu ái, thiên vị từ trung ương cho chí các địa phương Việt Nam

Trang Dân Luận có bài [3]: “Book Hunter Club – TPP là mối đe dọa lớn với tự do thông tin trên Internet”, trong có đoạn: “…Cuối năm 2013, Foreign Policy, một tờ báo đại diện cho một nhóm có mong muốn thay đổi chính sách ngoại giao của Mỹ, đã treo giải thưởng 70 nghìn $ cho Wikileaks nếu website này có thể lấy được bản thảo đang được thảo luận của Hiệp định TPP và công bố cho công chúng…”.

Bài viết nêu trên nhằm chỉ ra mối nguy hại về việc thông tin bị bưng bít. Dù ban đầu TPP khuyến khích tất cả các tổ chức NGO tham gia góp ý và xây dựng cũng như việc đàm phán dựa trên tinh thần tự do và đa phương, tuy nhiên [3] “…sau khi dự thảo SOPA bị công luận chỉ trích dữ dội và không được thông qua, các dự thảo luật quốc tế như TPP đã thay đổi phương thức đàm phán: đàm phán song phương và bí mật”.

Dù Hoa Kỳ “bật đèn xanh” [4] vào tháng năm 2013, dường như nước CHNDTH chưa mặn mà tham gia vào TPP.

Nhận định về “đèn xanh” đã bật lên, giáo sư nổi tiếng (tại Trung Quốc) – Zhang Yunling của Viện Khoa học Xã hội nói [4]: “Mỹ có thể không thực sự hoan nghênh việc Trung Quốc tham gia vào TPP bởi quy mô khổng lồ của thị trường nước này sẽ làm suy yếu vị thế của Mỹ trong việc định hình các quy tắc thương mại mới trong TPP” – Một nhận định khá kiêu căng.

Không có gì ngạc nhiên với những lời của Shang Yunling, nếu như chúng ta biết ngạn ngữ “dò đá qua sông”. Ngạn ngữ này thường chỉ ra những người, dù cẩn trọng nhưng kém tự tin vào bản lĩnh và tri thức, dù có thể họ rất giàu có nhưng không có đủ tính can trường, hào sảng. Thường những người như thế, họ ít khi chịu và dám trả giá, nếu như họ không thấy “chắc ăn”, bởi một khi trượt chân là nước lũ cuốn họ mất tăm, vì thế, đẩy người khác “dò đá” giữa “lòng sông” mà ngay cả họ cũng không rõ “nông sâu” thế nào là điều họ tự cho phép được làm, đặc biệt đối với những kẻ đã lỡ nhận “ân huệ” – từ họ – đó trở thành trách nhiệm buộc phải chu tất? Đây là “đặc tính” của những người sẵn sàng hưởng thành quả, trong khi bất chấp “sinh mạng” kẻ nhận “ân huệ” đang phải trả giá thay.

Cho đến khi câu chuyện “mua thông tin” với giá 70.000 USD được công bố, nhiều người mới hiểu ra TPP không nhất thiết phải là sân chơi bình đẳng và công khai, thuần túy trên lĩnh vực kinh tế.

Chẳng lẽ thông tin được “treo giá bèo” như thế, Bắc Kinh không quan tâm (?).

Phải chăng còn có lý do nào khác, ngoài nội dung thượng dẫn, làm cho quá trình đàm phán TPP buộc phải “rút vào hoạt động bí mật” mà trang Foreign Policy đòi mua nội dung bản thảo đang được bàn luận?

Như vậy, nối tiếp những ý kiến của nhà báo Việt Long, câu hỏi có thể kéo dài thêm ra: “Theo thỏa thuận như vậy nghĩa là Việt Nam đã chịu nhượng bộ một điều nào đó chăng? Nhượng bộ đó, có phải liên quan đến quá trình đàm phán gia nhập TPP của Việt Nam? Nhượng bộ đó như là Việt Nam trở thành hình thức gần giống như một dạng“nội ứng” cho Trung cộng?”

Những động thái khả nghi?

Thế giới đã thay đổi quá nhiều, bởi kinh tế không những gắn liền với chính trị mà không thể không đề cập đến các thủ đoạn cần thiết, trong việc hợp tác làm ăn sao cho có thể cắt được “cái đuôi” dài loằng ngoằng, vô nghĩa, đầy vướng víu mà nền “kinh tế thị trường” vốn dĩ không tài nào dung chứa được.

Vài tháng qua, lần lượt một số tù nhân lương tâm được thả: Cù Huy Hà Vũ, Vi Đức Hồi, Nguyễn Tiến Trung, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hữu Cầu cho đến Đinh Đăng Định (chết vì ung thư với nghi vấn bị CS đầu độc trong tù), nếu không tính ông Huỳnh Anh Trí được thả vào cuối năm ngoái (vừa qua đời vị bệnh AIDS, nhiễm virus HIV trong tù).

Điều này làm một số người hồ hỡi gọi là “đợt thả tù nhân lương tâm lớn nhất” tính từ 1975 và động thái đó coi như “một chân đã đặt vào TPP”. Những nhận định có vẻ trên mức lạc quan.

 

Theo thỏa thuận như vậy nghĩa là Việt Nam đã chịu nhượng bộ một điều nào đó chăng? Nhượng bộ đó, có phải liên quan đến quá trình đàm phán gia nhập TPP của Việt Nam? Nhượng bộ đó như là Việt Nam trở thành hình thức gần giống như một dạng “nội ứng” cho Trung cộng?

Song song đó, một vài tổ chức xã hội dân sự vừa được xem như hoạt động công khai với sự “làm ngơ” từ phía cầm quyền, cùng một số nhà hoạt động xã hội như: nghệ sĩ Kim Chi, Tô Oanh, Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Đình Hà v.v… mới đây từ Mỹ trở về, có vẻ như “an toàn” cho đến nay, sau khi một số người khác bị ngăn cấm xuất ngoại theo lời mời của quốc tế.

Có vẻ những dẫn giải nói trên được xem như “thành tâm chính trị” của nhà cầm quyền Việt Nam đối với quyền lập hội và tự do ngôn luận, tự do báo chí – một số đòi hỏi từ quốc tế khi VN muốn gia nhập TPP?

TPP, theo những sơ khởi chính đòi hỏi mà nhiều người biết: quyền lập hội độc lập không chịu sự chi phối từ ĐCSVN, các doanh nghiệp bình đẳng hoạt động, đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ, các nguyên vật liệu phục vụ xuất nhập khẩu phải xuất phát trong nội khối TPP v.v… những yếu tố như thế có đến mức cần giấu kỹ trong bàn thảo?

Sau khi giàn khoan được kéo đi, trong những lời từ phía cầm quyền Việt Nam, nhiều người chú ý đến phát ngôn của ông Lê Hoài Trung – Đại sứ, trưởng phái đoàn Thường trực Việt Nam tại Liên Hợp Quốc [5]: “Việt Nam sẵn sàng xem xét những khả năng hợp tác với Trung Quốc trong hoạt động thăm dò dầu mỏ trên Biển Đông, nhưng với điều kiện những hoạt động này không vi phạm chủ quyền các quốc gia trong khu vực”. Lời phát ngôn từ một viên chức ngoại giao cấp cao chứng tỏ hai chế độ độc tài toàn trị vẫn “thắm tình hữu nghị” với “vận mệnh tương quan” (?).

Chiếu theo phát biểu [6] của ông Trần Duy Hải – Phó chủ nhiệm Ủy ban Biên giới quốc gia, khi nói về công hàm 1958: “…không thể cho ai thứ mà bạn chưa có quyền sở hữu, quản lý được…”, nhà cầm quyền Trung Quốc có thể “đáp từ” Lê Hoài Trung: “Nước CHNDTH chúng tôi không quan tâm đến “thiện chí” của Việt Nam, bởi quý vị không có khả năng hợp tác cái mà quý vị không sở hữu và không quản lý” (?).

Do đó phát biểu của viên đại sứ Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc hoặc lời của ông thủ tướng: “Yêu cầu Trung Quốc không đưa giàn khoan trở lại vùng biển Việt Nam”, những tưởng không có “giá trị” đáng kể đối với những người đã gọi mình là “đứa con hoang” và kêu gọi hãy mau mau quay về “đoàn tụ gia đình” (?!).

 

Chẳng ai cho không ai mà không kèm điều kiện gì. Ngay cả dù đó là “người anh em chí cốt” nhưng hành động trên thực tế gần bảy mươi năm qua, chưa bao giờ người Việt Nam thấy một kiểu gì đó như là “tình cho không biếu không”

“Giả mù sa mưa” là điều có thể lý giải cho những phát ngôn đôi bên như thế (?).

Nếu thành công và nếu thất bại?

Nước CHXHCNVN rất thèm muốn tham gia vào TPP là điều khó chối cãi. Vậy, giới cầm quyền Việt Nam xem như có 2 trường hợp: thành công hoặc thất bại.

Trường hợp thất bại, có lẽ đó là điều mà không mấy người cộng sản muốn nhìn thấy. Người ta bảo, một khi thất bại trong việc tham gia TPP, xu hướng CSVN càng nghiêng dốc thẳng về Trung Cộng. Việt Nam lúc đó, có thể nhanh chóng trở thành một khu tự trị thuộc Tàu với thời gian không xa lắm.

Trường hợp thành công, cũng theo dư luận, giới cầm quyền Việt Nam sẽ nhích lại gần Mỹ và phương Tây hơn. Tình trạng tự do – dân chủ – nhân quyền sẽ dần cởi mở, bớt ngột ngạt hơn. Điều này cũng có nghĩa Việt Nam sẽ dần thoát khỏi sự “chỉ đạo” của Trung cộng để trở thành một quốc gia độc lập về mọi mặt. Lúc bấy giờ, có thể nghĩ đến viễn cảnh tươi sáng trong một ngày không xa. Không biết số người mà tin tưởng mãnh liệt vào điều này, có khi nào nghĩ về một “con chip” đã được cấy vào “hệ thống TPP”, một khi nước CHXHCNVN được chấp nhận kết nạp vào đấy?

Khi người cộng sản thành công với TPP, giá mua thông tin 70.000 USD, trở nên vô nghĩa và tỏ ra không cần thiết?

Một khi nước CHXHCNVN thành công khi gia nhập TPP, ngoài việc cải thiện bộ máy quản lý cũng như thay đổi các chính sách, các bộ luật  dân sự và kinh tế khác, điều quan trọng nhất, chắc rằng họ cần số vốn lớn, nhằm đáp ứng các yêu cầu và các chuẩn mực theo quy định TPP?

Trong số báo Tuổi Trẻ ra ngày 26/6/2014, Chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm – ủy viên Ủy ban MTTQVNTP đặt câu hỏi với chủ tịch nước Trương Tấn Sang [7]: “…Trung Quốc đưa ra “miếng mồi” 20 tỉ USD ODA và 100 tỉ USD tín dụng. Bên cạnh đó họ nói không ràng buộc về chính trị nhưng thực chất như thế nào?”. Câu hỏi không thấy nhận được hồi đáp từ ông Sang.

Chẳng ai cho không ai mà không kèm điều kiện gì. Ngay cả dù đó là “người anh em chí cốt” nhưng hành động trên thực tế gần bảy mươi năm qua, chưa bao giờ người Việt Nam thấy một kiểu gì đó như là “tình cho không biếu không”.

Kết

Công hàm 1958, hội nghị Thành Đô và những cam kết quan trọng (giữa hai nhà nước không phải do dân bầu lên) ảnh hưởng đến tồn vong dân tộc, gây hiểm họa rất lớn cho Tổ quốc Việt Nam, người CSVN còn dám qua mặt cả dân tộc, giấu đút riêng để tự tung tự tác ký. Những nội dung dù quan trọng trong TPP, so ra không thể nào sánh nổi về sự suy vong Tổ quốc, lệ thuộc ngoại bang.

Người ta cũng tin một chân lý: không có gì mà người cộng sản không dám làm.

Có lẽ, “thao quang dưỡng hối” vẫn còn đắc dụng, cho đến khi kết quả TPP được chính thức hoàn thành với kết quả Việt Nam vào được hay không?

Nguyễn Phú Trọng bị Tập Cận Bình từ chối tiếp đón như chỉ dấu một “phế nhân” không còn sử dụng được? Phải chăng từ đó, Nguyễn Tấn Dũng bỗng trở nên đắc dụng hơn với tư cách điều khiển toàn bộ nền kinh tế Việt Nam? Học thuyết “mèo trắng mèo đen” của Đặng Tiểu Bình vẫn còn đó.

Ông Phạm Chí Dũng trả lời [8] phỏng vấn đài SBTN hôm 14/6/2014: “…có thể là ngay trong năm nay, vào khoảng tháng 9, tháng 10 sẽ có những tín hiệu mới về vấn đề TPP, tức nhà nước Việt Nam có thể được tham gia vào TPP một cách đặc cách chứ không phải theo cách bình thường…”. Đó là một nhận xét đáng lưu tâm.

Gọi tên cho đúng bản chất của mọi hiện tượng, sự vật chưa bao giờ là dễ dàng. Chỉ duy, nếu “nhà nước” Việt Nam được gia nhập chính thức vào TPP, chưa chắc người Việt Nam hưởng lợi ích nào đó mà các quốc gia: Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ  có vẻ đều nằm trong bàn tay của… nhà cầm quyền Trung Quốc với “con chip” đã được cấy thành công?

Ngoài Việt Nam, không rõ các quốc gia khác (tham gia trong TPP) có biết thành ngữ : “Nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà”?

Nói cách khác, thành công hay thất bại khi nước CHXHCNVN gia nhập TPP sẽ trở thành tác nhân quan trọng nhất đối với việc kéo giàn khoan rầm rộ quay lại biển Đông, hoặc giả,  được thể hiện bằng hình thức “êm đềm” và “bền bỉ”  nào đó, nó vẫn biểu lộ Bắc Kinh không bao giờ từ bỏ cuồng vọng thôn tính cả vùng Asean mà các nhà quan sát đều đồng thuận gọi bằng tên “tằm ăn dâu” – một ý nghĩa không thể phù hợp hơn, khi xét về “chiến tranh kinh tế”?

Dù thành công hay thất bại khi gia nhập TPP, ông Nguyễn Tấn Dũng chỉ còn không đầy hai năm để “làm nên lịch sử”. Vấn đề đặt ra, đó có phải là “lịch sử” như “cái thùng rác” để phi tang quá khứ, như đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc mô tả?

Chỉ e ngại, quyết định thành bại không phải đến từ nỗ lực của giới cầm quyền Việt Nam, nếu như học thuyết “mèo trắng mèo đen” và thành ngữ “nuôi ong tay áo” bị phát hiện sớm?

Nguyễn Ngọc Già
*Nội dung bài viết nhất thiết không phản ảnh quan điểm của RFA.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Rùng mình cô gái bị vứt xác dưới ao “nửa đêm về báo mộng”?

Rùng mình cô gái bị vứt xác dưới ao “nửa

đêm về báo mộng”?

06:30 AM, 26-07-2014

 

(ĐSPL) – Cô gái Võ Thị Minh D. nghi bị gã trai tàn độc sát hại với thủ đoạn man rợ, phi tang xác ngay tại ao cá chỉ cách nhà  vài bước chân suốt nhiều ngày liền không ai phát hiện, khiến dư luận bàng hoàng.
Bên cạnh đó, những thông tin đồn thổi về việc cô gái chết oan “về báo mộng” cho mẹ càng khiến vụ án thêm phần bí hiểm.
Kỳ lạ chuyện người phụ nữ đi phăm phăm về phía hiện trường án mạng
Vào sáng 16/7, một người dân trong khi đi kiếm măng rừng đã phát hiện một xác chết nổi lềnh bềnh trên mặt nước.

Rùng mình cô gái bị vứt xác dưới ao "nửa đêm về báo mộng"? - Ảnh 1

Thi thể cô gái được phát hiện dưới ao
Thông tin được lan truyền đi khiến cho nhiều người dân hiếu kỳ khi biết chuyện đổ về hiện trường ngày một đông. Sự việc nhanh chóng được người dân trình báo lên cơ quan công an khu vực gần nhất để kịp thời xử lý. Nạn nhân xấu số được xác định là chị Võ Thị Minh D. (30 tuổi, ngụ ấp Hòa Thành, xã Ngọc Định, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai). Qua khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, bước đầu cơ quan công an kết luận nạn nhân chết trong tình trạng bị chém nhiều nhát vào hai bên háng, phía sau gáy bị giập do vật cứng đập vào, các ngón tay phải bị gãy, trước ngực có một vết đâm sâu. Thi thể bị buộc chặt vào một khung sắt to, nặng, bị chìm dưới áo thời gian dài, trong tình trạnh phân hủy mạnh.
Theo chỉ dẫn của người dân tại đây, PV báo Đời sốngPháp luật tiếp cận với người phụ nữ đi lấy măng vô tình phát hiện xác chết.
Vẫn chưa hết bàng hoàng giây phút một mình đối mặt với xác chết, chị Lê Thị Hồng Đ. nhớ lại: “Vào khoảng 9h sáng 16/7, tôi đang ngồi chơi ở nhà hàng xóm, bỗng dưng thấy trong người nóng ran, khó chịu lạ thường nhưng không thấy biểu hiện đau đớn gì cả nên tôi liền đứng dậy đi về. Thấy bụi tre đằng xa, sẵn trong tay cầm con dao tôi đi lại coi có măng không. Nhưng không hiểu sao càng đi tôi càng cảm thấy ruột gan nóng lạ thường. Dường như lúc này có một ai đó xui khiến, tôi không đi tới chỗ bụi tre mà cứ chui rúc qua hàng loạt bụi gai góc nhằm hướng bờ ao cỏ dại mọc um tùm cao hơn đầu người mà đi. Tới nơi, nhìn ra phía ao tôi thấy có cái gì đó nổi lềnh bềnh rất đáng sợ”.

Rùng mình cô gái bị vứt xác dưới ao "nửa đêm về báo mộng"? - Ảnh 2

Khung sắt buộc đè lên người nạn nhân D..
“Quan sát kỹ thì phát hiện có cánh tay người co quắp, hai chân duỗi thẳng. Tôi như chết đứng trong giây lát không tin nổi vào mắt mình. Hoảng hồn tôi chạy thục mạng ra đường gọi thêm ông Lê Văn Mạnh (ngụ ấp Hòa Thành) vào kiểm chứng lại một lần nữa xem là mình có nhầm hay không. Lấy hết can đảm, tôi dẫn ông Mạnh quay lại hiện trường. Sau một hồi lâu cả hai đứng quan sát thì khẳng định đó đúng là xác người chết“, chị Đ. cho biết thêm. Ông Mạnh cũng cho hay: “Khi lực lượng công an đến tiến hành trục với thi thể, điều khiến tất cả những ai có mặt chứng kiến sự việc phải giật mình, bởi thi thể nạn nhân bị buộc chặt vào một khung sắt đặc, trọng lượng lớn đè lên người, phần khuôn mặt của nạn nhân bị phân huỷ mạnh”. Sau nhiều giờ đồng hồ khám nghiệp pháp y, nạn nhân được gia đình nhận dạng trong đau đớn đem thi thể về lo hậu sự.
Theo thông tin bên lề mà PV tìm hiểu được từ những người dân nơi đây, vào khoảng 3h sáng, ngày 4/7 (ngày nạn nhân mất tích) nhiều người nghe thấy tiếng chó sủa dữ dội trong khoảng thời gian dài phát ra từ khu vực ao bỏ hoang. Tuy nhiên, khu vực này thường xuyên xảy ra tình trạng bọn bắt chó hoành hành nên cũng không mấy ai để ý đến sự việc.
Hung thủ là kẻ đã đeo bám và từng đến nhà nạn nhân?

Sau nhiều năm làm lụng vất vả, bóp bụng chi tiêu trong một thời gian dài thế nhưng cuộc sống của vợ chồng ông Võ Phước Minh ngụ ấp Hòa Thành, xã Ngọc Định vẫn giậm chân tại chỗ. Trong khi đó con cái ngày một trưởng thành phải có chút ít vốn liếng giắt lưng để bước vào đời lập nghiệp. Sau nhiều đêm suy nghĩ, vợ chồng ông Minh quyết định dốc hết toàn bộ vốn liếng để dành, cộng thêm vay mượn bà còn họ hàng mua  xe về chở khách chạy tuyến từ huyện Định Quán (tỉnh Đồng Nai) – TP. HCM, hy vọng cuộc sống khấm khá hơn.  Với bản tính chịu khó đi sớm về khuya, phục vụ khách tận tình nên cuộc sống gia đình ông cũng đỡ vất vả phần nào. Những chuyến xe xuất bến mặc dù có khi nhiều khách, khi vắng khách nhưng những ngày tháng đó gia đình ông luôn vui vẻ, hạnh phúc, ngập tràn tiếng cười.
Thế nhưng, cuộc sống bình dị, thanh thảnh đó giờ đây đã không còn khi tai ương ấp đến gia đình ông. Một sự mất mát, một nỗi đau tột cùng, còn gì đau đớn hơn khi phải chứng kiến cảnh đứa con gái xinh đẹp, ngoan hiền bị sát hại dã man ngay tại chính ngôi nhà của mình. Nét mặt u buồn, ngồi thẫn thờ trước di ảnh của người con gái, cố lấy lại bình tĩnh trong giây lát, ông Minh chia sẻ: “Con gái tôi chết thảm quá cô chú ạ. Nằm phơi xác hơn mười ngày trời ngay cái ao sau nhà mà gia đình tôi không hề hay biết. Khổ thân nó, sống làm việc quần quật từ sáng tinh mơ đến tối mịt mới về, đến lúc chết cũng đau đớn thê thảm quá”.

Rùng mình cô gái bị vứt xác dưới ao "nửa đêm về báo mộng"? - Ảnh 3

Bố mẹ nạn nhân đau buồn trước cái chết của D.
Liên quan đến cái chết bi ai của con gái mình, ông Minh cho biết thêm: “Trước đó, ngày 3/7, con gái tôi từ trên phà bước xuống đi về nhà. Trên bờ có một thanh nhiên đi xe gắn máy đứng chặn phía trước, một mực bắt con gái tôi leo lên xe của nó. Con gái tôi không chịu cứ thế luồn đường khác đi, đối tượng thanh niên này lại vụt lên phía trước tiếp tục chặn lại. Lúc này, có nhiều người đi đường nhìn thấy, nên tên này chạy xe theo sau con gái tôi. Một lúc sau, tôi về nhà, lúc này người thanh niên đó đang ở đây, tên là Nhân có đến chơi vài lần trước đó. Thấy con gái vẫn bình thường, tôi dặn đi tắm, nghỉ ngơi lấy sức mai đi làm sớm rồi đi lo công việc của mình”.
“Sáng sớm ngày hôm sau, đến giờ xe chạy tôi gọi điện thoại cho con gái dậy đi làm nhưng không thấy trả lời. Nghĩ có lẽ con bé mệt nên có ý cho nó ở nhà nghỉ nên tôi đi ngay cho kịp giờ xuất phát. Nhưng lạ thay, khi hết ngày làm việc gia đình tôi về nhà không thấy bóng dáng D. đâu, không có cách nào liên lạc được. Liên tiếp là nhiều ngày sau đó đã tìm đủ các nơi, thậm chí báo cáo lên công an nhưng vẫn bặt vô âm tín. Gọi điện thoại vào số máy của D. chỉ nhận được tin nhắn hồi âm là con đang đi chơi với bạn chưa về được”, ông Minh tiếp câu chuyện.
Người cha đau khổ kể tiếp câu chuyện: “Càng về sau gia đình càng lo lắng hơn khi gọi cho D. là giọng của một nam thanh niên tên Nhân (chưa rõ lai lịch – PV) vang lên, với lý do là D. đang đi chợ, đang đi khám bệnh khiến gia đình cảm thấy bất an vô cùng. Thậm chí, nhiều đêm ngủ say, vợ tôi nằm mơ thấy con gái về báo mộng cho mẹ ra ao phía sau nhà tìm xác?! Nghĩ con gái tôi là đứa hiền lành, những tin nhắn mà nó nhắn về hàng ngày thì làm gì có chuyện khủng khiếp đó. Thật không ngờ con gái tôi nằm ngâm nước, phơi sương, thi thể phân hủy ngay sau nhà mà không ai biết”.
Chứng kiến hình ảnh ông bố, bà mẹ dáng kham khổ, lam lũ, đầu tóc bạc trắng ngồi khóc ngất trước quan tài người con gái khiến PV cảm thấy khóe mắt cay cay. Một sự việc có lẽ khiến PV không thể nào quên được tại đám tang của cô gái trẻ này, khi PV nói lời từ biệt, quay đầu xe ra về, cảnh tượng ông Minh chạy với theo, đứng trước đầu xe khóc nấc lên thành từng tiếng: “Gia đình tôi thật sự kiệt quệ lắm rồi! Không biết khi nào mới có thể  vực dậy được sau nỗi đau, mất mát to lớn này. Các cô, chú là những người làm công tác truyền thông, những tình tiết gia đình tôi cung cấp tình nghi đối tượng sát hại con gái tôi là có cơ sở. Mong rằng các thông tin mà chúng tôi cung cấp sớm đến được với cơ quan chức năng để con gái tôi chết được phần nào thanh thản”.
Đối tượng tình nghi đã bị bắt giữ
Trao đổi với PV về vụ việc, một đại diện cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đồng Nai cho biết, đây là một vụ án mạng giết người, giấu xác phi tang đặc biệt nghiêm trọng. Hiện đối tượng trong diện tình nghi đã bị cơ quan công an bắt giữ, phục vụ công tác điều tra. Kết quả điều tra, đơn vị sẽ thông báo trong thời gian sớm nhất.
HỒ NAM

 

 

Categories: Tin Trong Nước | Leave a comment

Rủi ro gì từ ‘đặc khu kinh tế’ Vũng Áng?

Rủi ro gì từ ‘đặc khu kinh tế’ Vũng Áng?

Cập nhật: 09:46 GMT – thứ năm, 26 tháng 6, 2014

Giới quan sát nói khu kinh tế Vũng Áng có ý nghĩa quốc phòng quan trọng

Giới chuyên gia cho rằng Việt Nam sẽ đối mặt với những nguy cơ tiềm ẩn nếu phê chuẩn dự thảo đặc khu kinh tế ở Vũng Áng của tập đoàn Formosa.

Hôm 25/6, lãnh đạo một chi nhánh tại Việt Nam của Formosa – tập đoàn có 100% vốn Đài Loan, đã gửi văn bản đến chính phủ Việt Nam đề nghị thành lập một đặc khu kinh tế ở Vũng Áng để phục vụ cho việc xây dựng cảng nước sâu Sơn Dương và các ngành công nghiệp liên quan như gang thép, điện, theo truyền thông trong nước.

Đề xuất được gửi đi từ ông Dương Hồng Chí Lý, Tổng giám đốc Hưng Nghiệp Formosa, yêu cầu chính quyền Việt Nam có các cơ chế ưu đãi cho đặc khu như bảo hộ ngành thép, ưu đãi thuế.

Bên cạnh đó, Formosa cũng đề nghị được xây căn hộ để cho thuê hoặc bán lại cho nhân viên và thành lập các cơ sở hậu cần như bệnh viện, trường học trong đặc khu.

Phía Việt Nam vẫn chưa có phản hồi chính thức về yêu cầu này.

Trong tin đăng ngày 25/6, báo điện tử VnExpress dẫn lời ông Ngô Đình Vân, Phó trưởng ban quản lý khu kinh tế Vũng Áng, nói đề xuất của Formosa “quá mới” và không thể giải quyết “ngày một ngày hai”.

VN bồi thường bạo động

Bộ Tài chính ngày 23/6 cho biết đã thực hiện hoàn thuế với các doanh nghiệp bị thiệt hại với tổng số tiền 487 tỷ đồng (khoảng 23 triệu đôla).

Trong đó, TP. Hồ Chí Minh hoàn thuế gần ba tỷ đồng cho hai doanh nghiệp, và Hà Tĩnh hoàn thuế giá trị gia tăng với số tiền lên đến 483 tỷ đồng.

Trước đó vào ngày 22/6, bộ này cũng cho biết bảo hiểm đã ‘tạm bồi thường’ hơn 165 tỷ đồng (7,8 triệu đô la) cho các doanh nghiệp bị thiệt hại ở Đồng Nai và Bình Dương.

Cụ thể, 114,7 tỷ đồng là tiền ‘bồi thường bước đầu’ cho 113 doanh nghiệp ở Bình Dương, trong khi 35 doanh nghiệp bị thiệt hại được tạm ứng 39,65 tỷ đồng ở Đồng Nai. Trong đó, 30 doanh nghiệp Đài Loan nhận 38,5 tỷ đồng, hai doanh nghiệp Trung Quốc nhận 700 triệu đồng, và ba doanh nghiệp Việt Nam nhận tạm ứng 400 triệu đồng.

Ngoài ra, chính quyền tỉnh Bình Dương còn cho biết đã hỗ trợ bằng tiền lên đến 287 tỷ đồng (13,5 triệu đôla) cho 37 doanh nghiệp trong ngày 18/6.

Các doanh nghiệp bị thiệt hại cũng được gia hạn nộp đối với số thuế còn nợ, với giá trị gần 214 tỷ đồng (10,5 triệu đôla).

Hiện chưa có con số chính thức về thiệt hại kinh tế của các doanh nghiệp sau bạo động.

Động thái mới nhất diễn ra hơn một tháng sau khi các cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Tĩnh leo thang thành bạo động, khiến nhiều cơ sở của doanh nghiệp nước ngoài, trong đó có khu công trường của Formosa Plastics, bị hư hại.

Vào cuối tháng Năm, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã cam kết Hà Nội sẽ có biện pháp đồng bộ để hỗ trợ doanh nghiệp nước ngoài sau khi chính phủ Đài Bắc đã yêu cầu Hà Nội bồi thường thiệt hại cho các doanh nghiệp Đài Loan bị ảnh hưởng.

Những hỗ trợ đó bao gồm miễn giảm thuế, miễn giảm tiền thuê đất, và trợ giúp về vấn đề lao động.

Đài Loan cho biết vụ bạo loạn ảnh hưởng đến 425 doanh nghiệp nước này, trong đó 25 doanh nghiệp bị thiệt hại nặng nề.

Tổng giá trị thiệt hại ước tính dao động trong khoảng 150-500 triệu đôla, và các thiệt hại kinh tế có liên quan là một tỷ đôla.

Khu công nghiệp Vũng Áng, dù là nơi hoạt động của nhiều doanh nghiệp có vốn Đài Loan, nhưng lại sử dụng một lượng lớn lao động Trung Quốc.

Hồi tháng Năm, Bắc Kinh đã cử tàu đến Hà Tĩnh sơ tán hàng nghìn công dân ra khỏi Việt Nam sau các vụ bạo động.

‘Yêu cầu rất cao’

Trung Quốc đã sơ tán hàng nghìn công dân ra khỏi Việt Nam sau các vụ bạo động

Trả lời BBC ngày 26/6, kinh tế gia Lê Đăng Doanh cho rằng đề nghị của Formosa là “rất cao so với các tiêu chuẩn quốc tế bình thường và cao hơn hẳn khung pháp luật của Việt Nam”.

“Formosa đưa ra yêu cầu này sau vụ đụng độ ở Vũng Áng. Đó là điều đáng xem xét”, ông nói.

“Cần phải rất thận trọng vì nếu chấp nhận yêu cầu này của Formosa thì các doanh nghiệp khác cũng lại theo gương Formosa đề ra những yêu cầu tương tự.”

“Lúc đó thì chính phủ Việt Nam sẽ phải nhân nhượng và cấp những ưu đãi quá đáng.”

Ông khẳng định việc thành lập đặc khu kinh tế “không có lợi gì cho Việt Nam” ngoài việc Formosa sẽ tiếp tục dự án đầu tư hiện nay.

“Tôi cho rằng cần sự giám định, phân tích độc lập, nghiêm túc, không nên dễ dàng chịu sức ép này của Formosa.”

‘Cắt đôi Việt Nam’

Ông Doanh cũng nói về mặt quốc phòng, Vũng Áng “là một địa điểm hết sức nhạy cảm”.

“Ở trên mạng Trung Quốc đã lưu hành kịch bản tấn công Việt Nam trong 32 ngày, trong đó nói Trung Quốc sẽ đánh vào miền trung, chia cắt Việt Nam ra.”

“Vũng Áng hay Quảng Trị là những vùng hẹp nhất trên đất liền của Việt Nam, vì vậy tôi hy vọng những nhà chiến lược quốc phòng của Việt Nam sẽ quan tâm và thận trọng trước những yêu cầu này.”

Trong một cuộc phỏng vấn gần đây với BBC, chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành cũng cảnh báo về những nguy cơ nảy sinh từ việc Việt Nam cho Trung Quốc thuê hàng chục cây số dọc bờ biển Hà Tĩnh và vùng cửa khẩu Vũng Áng.

Vũng Áng hay Quảng Trị là những vùng hẹp nhất trên đất liền của Việt Nam, vì vậy tôi hy vọng những nhà chiến lược quốc phòng của Việt Nam sẽ quan tâm và thận trọng trước những yêu cầu nà

Kinh tế gia Lê Đăng Doanh

“Từ Vũng Áng ngó qua Hải Nam không bao xa, nếu ngày nào đó, Trung Quốc đưa một hạm đội từ Hải Nam sang Vũng Áng thì cả Vịnh Bắc Bộ sẽ không giao thông được nước ngoài, không giao thông được với miền Nam Việt Nam, bị biến thành một cái hồ riêng của Trung Quốc”, ông nói.

“Hạm đội trên biển của Trung Quốc đã rất mạnh rồi, nếu bây giờ họ có một điểm tựa trên đất liền nữa thì đó sẽ là nguy cơ rất lớn.”

Căng thẳng trên Biển Đông gia tăng từ khi Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng biển mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền.

Cục Hải sự Trung Quốc gần đây thông báo đã dịch chuyển giàn khoan Nam Hải số 9 đến gần cửa vào Vịnh Bắc Bộ.

Cơ quan này cũng cho biết Trung Quốc sẽ sớm đưa thêm ba giàn khoan khác vào hoạt động trên Biển Đông.

Categories: Tin Trong Nước | Leave a comment

Chương 2: Pháp Xâm Lược Và Cuộc Kháng Chiến Của Dân Tộc Vn

Chương 2: Pháp Xâm Lược Và Cuộc Kháng Chiến Của Dân Tộc Vn

(Xem: 93347)
  • Vài Nét Về Tác Giả – Nguyễn Long Thành Nam
  • PHẦN I: BỐI CẢNH LỊCH SỬ
  • PHẦN II BỬU SƠN KỲ HƯƠNG
  • PHẦN III : PHẬT GIÁO HÒA HẢO
  • PHẦN IV : PHẬT GIÁO HÒA HẢO VÀ CÁCH MẠNG
  • PHẦN V: SAU KHI ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ RA ĐI
  • PHẦN VI: CÁC CHẾ ĐỘ VIỆT NAM ĐỐI VỚI PGHH
  • PHỤ LỤC I
  • PHỤ LỤC II
Tiến trình Tây phương xâm nhập Ðông phương có thể xem là khởi đầu từ chuyến đi phương Ðông của Marco Polo (1275-1292). Tây phương sang Ðông phương trước hết là các giáo sĩ với mục đích truyền đạo. Sau đó là các tổ hợp tư bản đến với mục đích trục lợi thương mại. Vào cuối thế kỷ 18, các đế quốc Tây phương tranh giành lẫn nhau để chiếm thuộc địa. Ngọn gió thổi từ Tây phương đến Ðông phương đã đem vào Á Châu luồng văn minh duy lý và cơ khí, tạo những thay đổi lớn lao về văn hóa, kinh tế và xã hội tại khu vực này.

Tiếng đại bác đầu tiên của hai chiến hạm Pháp là La Gloire và La Victorieuse bắn vào lãnh thổ Việt Nam (Ðà Nẵng) năm 1847, báo hiệu ý đồ thực dân xâm lược của đế quốc Pháp, dùng quân lực đánh chiếm Ðông Dương, song hành với hành động tương tự của các đế quốc Tây phương khác: Anh, Hòa Lan, Bồ Ðào Nha, Y Pha Nho, tại Á Châu. Lúc đó là năm thứ 7 triều vua Thiệu Trị, cũng là năm đầu tiên triều vua Tự Ðức, 800 quả đạn đại bác đã làm thiệt hại mấy ngàn sinh mạng Việt Nam, mở đầu cho một giai đoạn rất nhiều bi thương của dân tộc này.

Vì những khó khăn nội bộ của nước Pháp, cho nên mãi đến năm 1856, Hoàng đế Nã Phá Luân III mới lấy quyết định thực sự cử binh đánh chiếm Việt Nam. Ngày 26-9-1856, chiến hạm Catinat nã đại bác vào Ðà Nẵng. Chiến thuật xâm lược của Pháp nhằm chiếm lấy miền Nam trước hết, để làm đầu cầu quân sự chính trị tiến dần ra Bắc, Trung Việt, Cao Miên và Ai Lao, bằng ngoại giao, quân sự nhưng chính yếu là sức mạnh của quân đội. Năm 1862, quân Pháp chiếm xong ba tỉnh miền Ðông, và đến 1867 chiếm thêm ba tỉnh miền Tây Nam Việt, rồi sau đó tiến ra miền Bắc. Cuộc xâm lăng này hoàn thành năm 1887, sau khi Pháp đã dàn xếp với Trung Hoa, ký kết hiệp ước Thiên Tân giữa Patenôtre và Lý Hồng Chương 27-4-1885, theo đó Trung Hoa công nhận cuộc bảo hộ của nước Pháp tại Việt Nam (*) .

Tuy rằng quân Pháp đã chiếm được toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, nhưng đó không phải là một cuộc xâm lược dễ dàng. Quân đội Pháp tuy hùng hậu và có ưu thế võ khí, nhưng đã phải chịu rất nhiều thiệt hại để đối phó với sức đề kháng mãnh liệt và dẻo dai của quân và dân Việt Nam, ròng rã suốt ba mươi năm, từ 1860 đến 1887. Ấy là chưa kể nỗ lực ngoại giao của Pháp thỏa hiệp quyền lợi với triều đình Mãn Thanh qua hiệp ước Thiên Tân, nhằm tạo tình trạng hòa hoãn với Trung Quốc, để khỏi phải bận tâm đến sự can thiệp của Trung Quốc, mà dồn nỗ lực vào hành động quân sự đánh chiếm Việt Nam.

Năm 1887 là thời điểm mà quân Pháp cho là đã hoàn thành cuộc xâm lược quân sự tại Việt Nam, và cũng năm đó Pháp thực hiện công cuộc thống nhứt bộ máy cai trị thuộc địa, đặt viên toàn quyền đầu tiên điều khiển bộ máy thống trị Ðông Dương. Tuy nhiên, sự đề kháng của dân tộc Việt Nam không chấm dứt ở thời điểm 1887, mà còn tiếp tục suốt từ đó cho đến khi Pháp phải chính thức ra đi, rời khỏi vị trí quyền lực tại Việt Nam, năm 1956.

Ðây là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, người Việt Nam không chấp nhận uy quyền thống trị của thực dân Pháp, đã kết thành những phong trào liên tục tranh đấu đòi lại chủ quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam.

Trong lịch sử nhơn loại, những cuộc xâm chiếm thuộc địa thường dễ dàng thành công ở giai đoạn đầu, giai đoạn đánh chiếm bằng quân sự, nhưng lại gặp nhiều khó khăn chật vật ở giai đoạn sau. Ðó là giai đoạn đề kháng văn hóa của dân tộc bị trị đối phó với ngoại bang thống trị. Tiến trình xâm chiếm và thống trị của Pháp tại Việt Nam, cũng không thoát khỏi quy luật lịch sử đó.

Giai đoạn đầu, với khoa học chiến tranh tiến bộ và võ khí tân tiến của thế kỷ 19, quân đội Pháp đã có ưu thế để chiến thắng tại Việt Nam. Quân lực của triều đình và của các tổ chức nhân dân võ trang kháng chiến, tuy chiến đấu dũng cảm, hy sinh cao độ, với lòng yêu nước nhiệt thành, nhưng vì yếu thế về võ khí, và chưa có kiến thức mới để ứng phó hữu hiệu với khoa học chiến tranh cơ giới của Tây phương, cho nên rốt cuộc đã phải thất bại về quân sự.

Sau cuộc trường kỳ kháng chiến gần 40 năm (1856-1895), tuy rằng các phong trào kháng chiến võ trang còn hoạt động lẻ tẻ ở các địa phương, quân đội Pháp đã làm chủ được tình hình quân sự trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. (Ghi chú: 1856 chiến hạm Pháp bắn vào Ðà Nẵng, và 1895, phong trào văn thân kháng chiến Phan Ðình Phùng tan rã).

Sau giai đoạn chiến thắng quân sự, bộ máy thống trị Pháp tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn phức tạp hơn trong việc đối phó với cuộc đề kháng muôn hình vạn trạng, không công khai, không chiến lũy, mà âm thầm, kín đáo, bí mật, bền bỉ dẻo dai, diễn ra thường trực trong tâm lý và thái độ của người dân Việt. Tinh thần ái quốc, khát vọng tự do, ý thức độc lập thấm nhuần sâu xa trong tâm hồn người dân Việt từ mấy ngàn năm lịch sử, không thể nào bị dập tắt hay bóp chết một cách dễ dàng giống như sự chiến thắng của một quân đội mạnh đối với một quân lực yếu thế. Sức mạnh vật chất không thể tiêu diệt được những tình cảm phi vật chất. Cố nhiên, khi Pháp dùng võ lực, nhà tù, luật lệ khắc nghiệt, khủng bố đàn áp để đối phó, thì người Việt phải lui bước trước sức mạnh. Nhưng đó chỉ là bước lui tạm thời, để khi có cơ hội nào đó, một biến cố xảy ra, là lập tức tiềm lực đề kháng lại bộc phát nổ bùng mãnh liệt, không lường trước được.

1- PHONG TRÀO VĂN THÂN CẦN VƯƠNG KHÁNG PHÁP

Các tổ chức kháng Pháp phát sanh trước hết tại Nam Việt, ngay từ lúc quân đội xâm lược Pháp đặt chân lên lãnh thổ Việt Nam năm 1860. Phong trào phát khởi tại miền Ðông, sau đó lan rộng khắp Nam Việt rồi khắp nước Việt Nam. Ðó là phản ứng chung của dân tộc chống ngoại xâm, hễ quân Pháp chiếm cứ nơi nào, là tổ chức kháng Pháp lập tức phát sanh tại nơi đó.

Ðặc tính căn bản chung của các phong trào này là Văn thân Cần Vương. Nghĩa là các tổ chức kháng Pháp được lãnh đạo bởi giới Văn thân, tức giới Sĩ phu Nho học đã từng đóng vai trò lãnh đạo hướng dẫn quần chúng. Giới sĩ phu quy tụ dân chúng nổi dậy đánh Pháp để phục hồi uy quyền triều đình, tức là nhà vua Việt Nam (cần vương). Về mặt tư tưởng, giới sĩ phu thấm nhuần Nho giáo, đặt mối tương quan quân thần lên trên hết (Tam cương: Quân thần, Phụ tử, Phu thê) xem nhà Vua là biểu tượng quốc gia, và trung quân đồng nghĩa với ái quốc. Về mặt xã hội, giới sĩ phu được dân chúng kính trọng, nghe theo, phần đông truyền bá giáo dục trong vùng, cho nên khi dựng cờ khởi nghĩa chống Pháp, họ có khả năng huy động quần chúng tham gia. Ðương nhiên các phong trào kháng Pháp thời kỳ đầu tiên cho tới cuối thế kỷ 19, đều do giới sĩ phu lãnh đạo và mang tư tưởng phục vụ triều đình, có mục đích đánh đuổi Pháp, để tái lập chế độ quân chủ truyền thống.

Từ 1860 đến 1885, nhiều tổ chức khởi nghĩa chống Pháp đã xuất hiện, trong đó lịch sử Việt Nam ghi nhận các tổ chức sau đây có tầm quan trọng cao hơn hết:

Nguyễn Trung Trực 1860-1868, Trương Công Ðịnh 1861-1864, Nguyễn Hữu Huân 1863-1868, Võ Duy Dương 1865-1866, Trần Văn Thành 1865-1873, Ðinh Công Tráng 1866-1867, Nguyễn Thiện Thuật 1885-1889, Phan Ðình Phùng 1885-1895, Hoàng Hoa Thám 1887-1913.

Tất cả những lãnh tụ kháng Pháp này đã thất bại, mặc dù họ đã chiến đấu rất dũng cảm. Lý do thất bại là: lần đầu tiên binh sĩ Việt Nam phải đương đầu với một lực lượng quân sự địch khác hẳn với tất cả quân đội địch mà họ đã phải đương đầu trong lịch sử, như quân Trung Hoa, Chiêm Thành, Chân Lạp. Ðiều kiện chiến trường, võ khí, chiến thuật, và trình độ tiến hóa trước kia không có sự cách biệt quá đáng giữa các địch thủ Á Châu, trên các chiến trường Á Châu. Còn Pháp là một địch thủ hoàn toàn xa lạ, với khoa học chiến tranh khác, phương pháp chiến đấu khác, và các loại võ khí cơ giới tiến bộ rất xa so với võ khí cổ điển thô sơ của Việt Nam…

Do đó, tương quan lực lượng trong cuộc chiến đấu này trên phương diện khí giới tiến bộ, rất chênh lệch và có hại cho kháng chiến Việt Nam. Mặc dù đã đạt những thắng lợi ngoại hạng với võ khí yếu kém, như những trận đánh chìm tầu Pháp tại Nhựt Tảo hay hạ đồn Pháp tại Kiên Giang do lãnh tụ Nguyễn Trung Trực chỉ huy, nhưng rốt cuộc các lãnh tụ kháng chiến đã bị Pháp bắt giết hay tử trận, vẹn danh kẻ yêu nước, sau khi đã xả thân đem nhiệt tình và dõng cảm để cố bù đắp sự thua thiệt về võ khí, sự thất thế về lực lượng quân sự so với quân Pháp.

Phong trào Văn thân Cần vương kháng Pháp được xem như đã chấm dứt sau khi nhà lãnh tụ Cần vương nổi tiếng trong lịch sử là Phan Ðình Phùng tạ thế năm 1895. Cũng từ đây, theo sự phân định của các nhà biên khảo Việt sử, tư tưởng Cần vương bắt đầu phai lạt trong bối cảnh xã hội mới, nhường chỗ cho tư tưởng canh tân hướng về quốc gia dân tộc, hơn là sống chết vì Vua.

2- GIAI ÐOẠN QUÁ ÐỘ: CÁCH MẠNG CHUYỂN HƯỚNG CANH TÂN

Mặc dầu sau 1895, vẫn còn những nỗ lực lẻ tẻ của các tổ chức võ trang kháng Pháp, và phong trào Cần vương Hoàng Hoa Thám khởi đầu năm 1887 tại Bắc Việt cũng còn tồn tại cho đến 1910, nhưng người Việt Nam đã bắt đầu có những nhận thức mới, trước một hoàn cảnh mới, để chuyển cách mạng giải phóng dân tộc sang khuynh hướng mới, hình thức tổ chức mới, phương pháp hành động mới. Tạm gọi là khuynh hướng canh tân.

Thực tế trước mắt đã cho thấy rằng các phong trào Cần vương thất bại bởi thua kém võ khí, và nếu tiếp tục kháng chiến trong những điều kiện cũ, sẽ phải khó khăn hơn. Bấy giờ quân đội Pháp đã củng cố vị thế và kiểm soát được tình hình, có hy sinh thêm nữa dưới hình thức chiến đấu thuần túy quân sự, mà không có cải tiến về võ trang và phương pháp cũng sẽ đành thất bại thêm mà thôi.

Xã hội Việt Nam trong hai thập niên đầu của thế kỷ 20 tất nhiên du nhập ảnh hưởng của tư tưởng và văn minh tây phương, qua sự hiện diện của người Pháp tại Ðông Dương, và sự mở rộng chân trời kiến thức của người Việt trước hoàn cảnh mới của thế giới. Giới sĩ phu yêu nước cũng ý thức trào lưu tiến hóa về vật chất và thay đổi về tư tưởng. Trong bối cảnh một xã hội đang chuyển hướng đó, tư tưởng trung quân tuyệt đối và quân quyền truyền thống mờ nhạt đi, các quan niệm về dân chủ, tự do manh nha và phát triển. Cho nên chính giới sĩ phu Nho học, trong vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam, cũng tự họ thay đổi khuynh hướng cách mạng, từ chủ trương quân chủ tuyệt đối, sang quân chủ lập hiến như gương nước Nhựt.

Do đó, một số sĩ phu Việt Nam tìm cách xuất dương, sang Nhựt Bổn và Trung Hoa (Tăng Bạt Hổ, Phan Bội Châu, Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể,…) với ba mục đích: tìm mua võ khí mới, tìm sự yểm trợ bên ngoài, và tổ chức đưa thanh niên Việt ra ngoại quốc để học hỏi văn minh tiến bộ mới (đào luyện nhân tài). Hai tổ chức quan trọng nhứt trong giai đoạn này là Ðông Du (xuất dương) và Ðông kinh Nghĩa thục (tại Hà Nội).

Nhìn ra bên ngoài thế giới, người Việt có ý thức cách mạng và chính trị, nhận thấy các biến cố mới xảy ra giữa Nhật Bổn và Trung Hoa (năm 1885 Trung Hoa phải nhượng đảo Ðài Loan cho Nhựt cai trị trong những điều kiện thua thiệt) giữa Nhựt Bổn và nước Nga trong trận hải chiến 1904-1905 (Nga thất bại). Hai biến cố này như những tia sáng mới khích lệ người Việt Nam đi theo tấm gương canh tân của nước Nhựt trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Thêm vào đó, cuộc cách mạng dân quyền Tân Hợi 1911 tại Trung Hoa, rồi cuộc cách mạng tháng 10-1917 tại Nga, chấm dứt các chế độ quân chủ, là những động lực thúc đẩy khuynh hướng cách mạng của người Việt phải tiến tới bằng những bước canh tân mạnh dạn hơn nữa. Ðệ nhứt thế chiến 1914-1918 đã đưa một số khá nhiều thanh niên Việt sang tham chiến tại Âu Châu trong hàng ngũ quân đội Pháp, lớp người này đã đem về Việt Nam một số nhận xét về nếp sinh hoạt, về tư tưởng mà họ đã hấp thụ trong không khí tự do dân chủ tại nước Pháp và Âu châu. Các tư tưởng gia Ðông phương Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu đề xướng cuộc canh tân mạnh mẽ cho xã hội Á Châu, cũng tạo ảnh hưởng khá sâu rộng đối với các sĩ phu Việt Nam.

Các biến chuyển kể trên, đồng thời với các sinh hoạt giáo dục và kinh tế xã hội trong chế độ cai trị của người Pháp, đã tạo nên trong xã hội Việt Nam một lớp người mới, về tư tưởng cũng như về vị trí xã hội. Lớp người này được xem như lớp tiểu tư sản kiểu Tây Âu, hấp thụ tư tưởng văn minh Tây phương, với kiến thức và suy luận duy lý, đã bước những bước dài hơn và mạnh hơn là chủ trương canh tân giới hạn của giới sĩ phu nho học. Ðây là lớp thanh niên Việt Nam mới, đã dứt khoát từ bỏ chủ trương cách mạng cần vương, đi thẳng vào con đường dân chủ hóa. Cũng từ thời kỳ này, vai trò của giới sĩ phu nho học chỉ còn giới hạn ở vị trí lãnh đạo tinh thần, như những bó đuốc lịch sử và những tấm gương hy sinh vì nước. Chính giới trí thức tân học sau này sẽ trở thành lớp lãnh đạo công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc trong một bối cảnh xã hội mới.

3- GIAI ÐOẠN CANH TÂN: CÁCH MẠNG VỚI Ý THỨC DÂN TỘC DÂN CHỦ

Bắt đầu vào thập niên 30, người Việt Nam yêu nước ý thức rằng họ tham gia cách mạng không phải để phục hồi chế độ quân quyền, cũng không phải vì lòng trung thành với Thiên tử (vua chúa), mà chính là để phục vụ quốc gia và dân tộc, và để thiết lập một chế độ tự do dân chủ trong một nước Việt Nam độc lập. Tuy ý niệm quân chủ lập hiến vẫn còn phần nào giá trị trong nếp suy nghĩ của quần chúng trong một nước có truyền thống quân chủ lâu đời, nhưng phần đông giới thanh niên đều biểu lộ khuynh hướng dân chủ tự do rất rõ rệt và mạnh mẽ.

Một khuynh hướng cực đoan cũng phát sinh trong giới trí thức tân học. Ðó là lớp người hướng về chủ thuyết Mác xít, vì họ cho rằng Nga Sô sẽ giúp họ chống lại đế quốc tư bản. Số người này đã lựa chọn con đường đi vào hệ thống cộng sản quốc tế, dựa vào Nga Sô Viết để chống Pháp, đuổi Pháp, rồi sau đó thực hiện một cuộc cách mạng vô sản tại Việt Nam, trong tiến trình vô sản hóa thế giới.

Trong giai đoạn này, khởi đầu từ thập niên 30, nhiều tổ chức cách mạng Việt Nam đã xuất hiện, và một số còn tồn tại đến bây giờ.

Nam Ðồng Thư Xã (1927) sau trở thành Việt Nam Quốc Dân Ðảng, với cuộc nổi dậy lịch sử tại Yên Báy, do lãnh tụ Nguyễn Thái Học cầm đầu (10-2-1930), 13 chiến sĩ VNQDÐ bị Pháp hành quyết.

Ðại Việt Quốc Dân Ðảng thành lập năm 1941 bởi lãnh tụ Trương Tử Anh, ông bị Cộng sản hạ sát năm 1946.

Ðại Việt Duy Dân Ðảng thành lập năm 1942, bởi lãnh tụ Lý Ðông A. Ông mất tích trong đợt khủng bố tại Hòa Bình năm 1946, Cộng sản hạ sát nhiều cán bộ của đảng này.

Việt Nam Phục Quốc Hội, thành lập bởi Kỳ ngoại hầu Cường Ðể, đã tấn công vị trí quân sự Pháp tại Lạng Sơn năm 1940, lãnh tụ Trần Trung Lập bị giết. Kỳ ngoại hầu Cường Ðể tạ thế năm 1951 tại Ðông Kinh (Nhựt).

Ðông Dương Cộng Sản Ðảng thành lập năm 1930 do Hồ Chí Minh, dựa vào hệ thống Cộng sản đệ tam quốc tế Nga Sô, để đoạt thắng lợi đấu tranh tại Việt Nam. Ðảng này đã cai trị miền Bắc Việt Nam từ 1954 đến 1975, và cai trị toàn bộ Việt Nam sau 30-4-1975.

Phật Giáo Hòa Hảo, một tôn giáo cách mạng thành lập năm 1939 tại miền Nam Việt Nam, do Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ, và sau này thành lập thêm chánh đảng Việt Nam Dân Chủ Xã Hội (1946). Năm 1947, Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ bị Cộng sản ám hại và vắng mặt từ thời điểm đó.

Cao Ðài Giáo, một tôn giáo cách mạng khác thành lập tại miền Nam, sau 1928, bởi ông Ngô Văn Chiêu, và sau đó được chỉ đạo bởi Hộ Pháp Phạm Công Tắc. Ông bị Pháp bắt và đày biệt xứ tại Madagascar, rồi sau này từ trần tại Cao Miên trong giai đoạn đi lưu vong thời chế độ Ngô Ðình Diệm.

Ngoài các tổ chức cách mạng trên đây được xem là vẫn tiếp tục hoạt động và tồn tại từ khi thành lập đến ngày nay, còn có nhiều nhóm tranh đấu khác có tầm vóc giới hạn và đời sống ngắn ngủi hơn, như: Việt Nam Nghĩa Ðoàn, Việt Nam Hưng Quốc (1925), Việt Nam Thanh niên Cách mạng, Tân Việt Cách Mạng Ðảng (1925), Phạm Hồng Thái, Trịnh Văn Căn… Trong Nam Việt có các phong trào Thiên Ðịa Hội, đảng Việt Nam Quốc Gia Ðộc Lập, đảng Lập Hiến, nhóm Ðệ Tứ, tổ chức Bình Xuyên… đều đã có đóng góp vào công cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp để giải phóng dân tộc. Các tổ chức này ngày nay đã không còn hoạt động và hiện diện như một chánh đảng hay tổ chức nữa, tuy rằng vẫn còn những cá nhân bảo tồn danh nghĩa. Nhưng tất cả đều như các mảnh vụn trong kiến trúc Cách mạng Việt Nam, bị nghiền nát bởi khủng bố đàn áp của thực dân, cộng sản và các chế độ cộng hòa sau 1954.

Trong giai đoạn canh tân này, các tổ chức cách mạng áp dụng hình thức tổ chức, phương pháp và chiến thuật đấu tranh khác với giai đoạn Cần vương. Hình thức tổ chức có tính cách dân chủ, và tập thể chỉ huy, thay vì lãnh tụ chế như trước kia. Phương pháp đấu tranh bây giờ đa dạng, chớ không chỉ có võ trang kháng chiến. Các tổ chức này vận dụng lực lượng quần chúng vào đấu tranh, tham gia biểu tình chống đối, sử dụng hiệu lực văn hóa vào công tác tuyên truyền cách mạng, hoặc nêu lên các yêu sách công khai, hoặc tổ chức bí mật ám sát phá hoại địch… Về chiến thuật, các tổ chức đấu tranh này đưa dần phong trào cách mạng từ các hình thức chính trị sang cách mạng, từ ôn hòa sang bạo lực, từ phản đối bất hợp tác sang võ trang kháng chiến… Ðây cũng là những phương pháp và chiến thuật đấu tranh thích hợp với từng hoàn cảnh mới, và một phần được du nhập vào Việt Nam qua các sách vở và kinh nghiệm Tây phương.

4- HAI KHUYNH HƯỚNG QUỐC GIA VÀ QUỐC TẾ

Ðiều quan trọng nảy sanh trong giai đoạn này và sẽ chi phối lâu dài tương lai nước Việt Nam, là sự manh nha của hai khuynh hướng dị biệt và đối nghịch trong hàng ngũ cách mạng chống lại thực dân Pháp. Tuy rằng mỗi tổ chức cách mạng đều theo chủ thuyết riêng, nhưng nói chung, tất cả đều nêu lên mục tiêu là đòi chủ quyền độc lập quốc gia, cho nên tất cả các tổ chức cách mạng này được xếp hạng chung vào một khối quen gọi là Khối Quốc Gia. Duy có một tổ chức tự tách mình ra khỏi Khối Quốc Gia, để đi theo hệ thống quốc tế của cộng sản chủ nghĩa, với mục tiêu tối hậu không phải là độc lập quốc gia, mà là vô sản hóa toàn thế giới. Ðó là Ðông Dương Cộng Sản Ðảng do Hồ Chí Minh thành lập năm 1930, dựa vào Mạc Tư Khoa, và được Nga Sô yểm trợ.

Với chiêu bài chống đế quốc tư bản thực dân để giải phóng các dân tộc nhược tiểu bị trị , Nga Sô đã làm cho một số người Việt Nam tin theo và dựa vào Mạc Tư Khoa để thực hiện cách mạng. Ngược lại, những chiến sĩ cách mạng Việt Nam trong Khối Quốc Gia lại cho rằng đảng Cộng sản Ðông Dương nằm trong hệ thống quốc tế của Nga Sô, chỉ nêu mục tiêu giải phóng dân tộc làm bình phong để trá hình mà vận dụng quần chúng, gây tạo uy thế, trong một giai đoạn chiến lược.

Sự khác biệt chủ trương đường lối này tiềm tàng trong lúc đầu sau đó từ tháng 9-1945, nổ bùng thành cuộc xung đột mãnh liệt giữa hai khuynh hướng Quốc gia và Quốc tế vào đầu thập niên 50, và trở thành đối nghịch sắt máu dưới hình thức chiến tranh thực sự khi chánh phủ Hồ Chí Minh thi hành chánh sách đàn áp đối lập từ tháng 8-1945.

Sự bùng nổ Ðệ nhị thế chiến vào tháng 9-1939 là cơ hội thuận tiện cho dân tộc Việt Nam phát động va tăng gia nỗ lực cách mạng giải phóng dân tộc. Quân đội Nhựt Bổn đến Ðông Dương, và nước Việt Nam bị đặt vào tình thế một cổ hai tròng dưới sự cai trị của hai đế quốc: Pháp và Nhựt. Tình trạng này kéo dài đến 9-3-1945, quân đội Nhựt lật đổ bộ máy quyền lực Pháp tại Ðông Dương, tạo cơ hội duy nhất cho Hoàng đế Bảo Ðại tuyên bố Việt Nam Ðộc Lập, sau trên 80 năm Pháp thuộc. Tuy nhiên, Nhựt Bổn cũng không có thiện chí thực sự trả độc lập cho dân tộc Việt Nam cho nên bộ máy quân phiệt Nhựt vẫn nắm quyền thống trị, trong khi chánh phủ độc lập đầu tiên do thủ tướng Trần Trọng Kim cầm đầu không có thực quyền, mặc dầu đó là một nội các gồm những nhà trí thức khoa bảng nổi tiếng thời đó, tuy giàu lòng yêu nước, nhưng yếu kém ý thức chánh trị, không nhận thức được hiểm họa cộng sản, do đó đã để cho Việt Minh, không nhận thức được hiểm họa cộng sản, do đó đã để cho Việt Minh cướp mất cả chánh quyền lẫn cái thế chủ động.

Chỉ năm tháng sau, Nhựt hoàng đầu hàng Ðồng minh, Ðệ nhị thế chiến chấm dứt, toàn dân Việt Nam đồng loạt đứng dậy đòi độc lập thật sự. Ðây là cao điểm của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, được mệnh danh là Cách mạng Tháng Tám (1945). Nhưng cũng từ đó, khởi đầu những khó khăn khủng khiếp và đau khổ trường kỳ cho dân tộc Việt Nam.

Từ bên ngoài, đạo quân viễn chinh Pháp đã lên đường sang tái chiếm Ðông Dương. Từ bên trong, đảng Cộng sản Ðông Dương áp dụng kỹ thuật và thủ đoạn đã được huấn luyện nghiên cứu từ Mạc Tư Khoa, để chiếm đoạt quyền bính lãnh đạo, thể hiện vào chiến thuật hai mặt: Một mặt Hồ Chí Minh thỏa hiệp với Pháp chấp nhận quân đội viễn chinh Pháp của tướng Leclerc đổ bộ lên Bắc Việt hầu đánh đổi lấy sự công nhận của chánh phủ Pháp để Hồ Chí Minh có tư cách đại diện chánh thức quốc gia Việt Nam; và mặt khác, dựa vào vị thế chánh quyền, đảng Cộng sản Ðông Dương thi hành kế hoạch tiêu diệt các tổ chức và lãnh tụ cách mạng nào không đồng ý với đường lối của họ. Những nạn nhân đầu tiên của chánh sách tiêu diệt đối lập này là các tổ chức Phật Giáo Hòa Hảo, Cao Ðài, Ðệ Tứ, Quốc gia Ðộc lập Ðảng trong miền Nam, và các chánh đảng Việt Nam Cách Mạng Ðồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt và Duy Dân Ðảng ở miền Bắc, tất cả đều đã bị Cộng sản khủng bố và sát hại rất khắc nghiệt.

Từ đó về sau mối mâu thuẫn giữa hai khuynh hướng Quốc gia và Quốc tế trong hàng ngũ cách mạng chống Pháp tại Việt Nam trở thành một cuộc chiến tranh ý thức hệ, không còn chỉ giới hạn trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, mà càng ngày càng mở rộng ra để trở thành cuộc tranh chấp quốc tế giữa Hoa Kỳ tiêu biểu cho khối Tư bản và Thế giới Tự do, và bên kia là Nga Sô cầm đầu khối Cộng sản quốc tế.

Với sự can thiệp quốc tế, cuộc chiến tại Việt Nam khởi đầu là chiến tranh chống thực dân xâm lược Pháp, với mục tiêu độc lập quốc gia, sau này biến thái thành một cuộc thế giới chiến tranh tuy giới hạn về địa dư, nhưng liên hệ mật thiết đến quyền lợi chiến lược của các siêu cường và các khối quyền lực quốc tế.

Trong khi hầu hết những cuộc tranh đấu giải phóng dân tộc của các nước nhược tiểu bị trị từ trước đệ nhị thế chiến, đã đưa các dân tộc này đến độc lập và hòa bình khi chủ quyền đất nước đã được lấy lại, thì cuộc chiến tại Việt Nam vẫn còn tiếp tục, cho mãi đến ngày nay, mà vẫn chưa thấy có viễn tượng của sự chấm dứt. Nếu kể từ 22-9-1940 là ngày quân đội Nhựt tràn từ Quảng Tây sang Lạng Sơn, khởi đầu không khí chiến tranh trên lãnh thổ Việt Nam, cho đến thời điểm 1987 này, thì cuộc chiến Việt Nam đã kéo dài gần nửa thế kỷ rồi. Một điều rất rõ ràng được rút ra trong sự so sánh Việt Nam với các quốc gia bị trị trước đệ nhị thế chiến, là: tại Việt Nam đã xảy ra hai cuộc chiến tranh cách mạng: Khởi đầu là cách mạng giải phóng dân tộc, nhưng sau đó là chiến tranh do Mốt Cu và Hà Nội kéo dài thêm để thực hiện cách mạng vô sản quốc tế.

Và đó chính là thảm trạng của dân tộc Việt Nam.

5- NHẬN XÉT VỀ ƯU THẾ CỦA CỘNG SẢN TẠI VIỆT NAM

Hầu hết các thuộc địa cũ của Pháp ngày nay đã độc lập và hòa bình, ngoại trừ Việt Nam vẫn triền miên trong chiến tranh và đang là một trong những quốc gia nghèo khổ nhứt thế giới. Dù có biện bạch cách nào cũng không thể phủ nhận nguyên nhân chính yếu là do đảng Cộng Sản của ông Hồ Chí Minh đã nhìn mục tiêu độc lập quốc gia chỉ là một chặng đường trên lộ trình vô sản hóa thế giới, do đó mà ông phải tiếp tục chiến tranh để đạt mục tiêu chiến lược tối hậu của Cộng sản quốc tế.

Dân tộc Việt Nam tham gia cách mạng với mục tiêu chủ quyền độc lập, nhưng ông Hồ Chí Minh đã lợi dụng lòng yêu nước đó để phục vụ cho mục tiêu riêng của đảng Cộng Sản.

Cựu Tổng thống Huê Kỳ Richard Nixon trình bày về chiến lược quốc tế liên hệ đến Việt Nam, trong cuốn sách No More Vietnams đã viết như sau:

Quốc gia Việt Nam phải được độc lập. Trong hai thập niên 1920 và 1930, sự thù ghét chế độ thuộc địa đi đôi với ý thức sâu xa về quốc gia dân tộc, kết hợp thành gốc rễ của phong trào chống Pháp. Quan điểm thời trang cho rằng riêng đảng Cộng sản của Hồ Chí Minh tranh đấu cho độc lập, thực ra chỉ là quan điểm mơ hồ.

Ðệ nhị Thế chiến là một khúc quanh lịch sử. Sự việc Nhật Bổn chiếm lãnh vùng Ðông Nam Á đã làm tan vỡ hào quang của quyền lực thực dân Tây phương. Ngay khi nền độc lập quốc gia đến trong tầm tay, thì Hồ chí Minh tàn nhẫn tiêu diệt các tổ chức chánh trị đối lập. Trong thời kỳ đệ nhị thế chiến, họ Hồ đã cẩn thận tính toán trước những bước đi để sau này nắm lấy chính quyền. Khi Ðệ nhị Thế chiến vừa chấm dứt, cơ hội đến, họ Hồ áp dụng thủ đoạn nham hiểm và tàn độc để tiêu diệt những phần tử đối lập nào có tổ chức võ trang. Khi Nhựt Bổn đầu hàng, Hồ Chí Minh nhanh chân nhảy thẳng vào chiếm khoảng trống quyền lực… (*)

Học giả D.G.E. Hall đã khẳng định quy trách cho chánh sách thiển cận và ngoan cố của Pháp như là nguyên nhân chính yếu tạo nên ưu thế và sức mạnh của Cộng sản tại Ðông Dương:

Ðiều bất hạnh là chính sự ngoan cố của Pháp đã tạo ra tình huống đó. Trong khi cộng sản ở các quốc gia khác đã thất bại, và không còn hấp dẫn đối với đa số quần chúng, thì riêng tại Ðông Pháp, Cộng sản lại ưu thắng, chiếm được quyền lãnh đạo trên các đảng phái yêu nước. Nguyên nhân duy nhất là thái độ ngoan cố của Pháp… (**)

Một tác giả khác đã biểu lộ quan điểm tổng kết tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam như sau:

Thật vậy, Việt Nam là một trường hợp đặc biệt, nhưng dân tộc Việt Nam là một dân tộc bất hạnh nhứt thế giới. Trong khi các dân tộc khác ở Ðông Nam Á đã thoát khỏi ách thống trị của thực dân và đã trở thành các quốc gia độc lập thịnh vượng, thì Việt Nam vẫn tiếp tục đau khổ trong chiến tranh trường kỳ. Ðó là sự bất hạnh toàn diện và lớn lao. Về địa lý chánh trị, Việt Nam là một quốc gia bị khổng lồ Trung Quốc liên tục uy hiếp, suốt từ năm 111 trước Tây lịch, cho đến thế kỷ 17, Việt Nam đã trải qua biết bao hy sinh lớn lao để tự vệ và bảo tồn đơn vị quốc gia.

Ðiều bất hạnh thứ hai là do định mệnh lịch sử, Việt Nam bị thống trị bởi thực dân Pháp, một đế quốc thiển cận và tham tàn nhứt. Ðệ nhị Thế chiến chấm dứt là cơ hội chung, các đế quốc đều chấp nhận trả chủ quyền độc lập cho các thuộc địa, chỉ riêng có Pháp là ngoan cố, đem chiến hạm và quân đội viễn chinh đến tái lập quyền lực thuộc địa tại Việt Nam, như đã làm ở thế kỷ 19. Vì tham vọng quyền lợi, Pháp đã bắt tay với quỷ Satan, tức hợp tác với tay sai của Mạc Tư Khoa, thay vì phải hợp tác với dân tộc Việt Nam. Qua thương thuyết và hiệp ước, Pháp tạo cho Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam vị thế chánh thống nắm quyền cai trị Việt Nam; nhờ ưu thế chánh quyền mà Hồ Chí Minh đã tiêu diệt các lãnh tụ cách mạng quốc gia, để rồi sau đó lại quay mặt đánh Pháp.

Cố bám lấy thế chủ động, Pháp xoay qua điều đình với những giới đối lập Hồ Chí Minh, trong một giải pháp quốc gia, nhưng vẫn nuôi dưỡng âm mưu đen tối đầu cơ cả hai phe quốc gia và cộng sản, để thủ lợi riêng cho đế quốc Pháp. Thực dân Pháp không bao giờ thực tâm muốn trả chủ quyền độc lập cho dân tộc Việt Nam. Thái độ đó của Pháp đã làm suy yếu uy tín của những người Việt ái quốc theo khuynh hướng quốc gia, đưa dần đến thất bại quân sự tại chiến trường Ðiện Biên Phủ và sau hết đưa đến việc ký kết hiệp định Giơ neo 1954, Pháp trao cho Hồ Chí Minh toàn quyền thống trị miền Bắc Việt Nam, làm bàn đạp để tiến chiếm toàn bộ lãnh thổ năm 1975.

Ðiều bất hạnh sau cùng của Việt Nam là đồng minh Hoa Kỳ. Nhơn danh đại cường quốc lãnh đạo bảo vệ thế giới tự do, Huê Kỳ lại đã hành động thiếu tư tưởng và thiếu quyết tâm của cấp lãnh đạo. Cho nên sau bao nhiêu xương máu hy sinh để bảo vệ tiền đồn cho thế giới tự do, bỗng nhiên Việt Nam bị đồng minh Huê Kỳ bỏ rơi, vì lúc đó Huê Kỳ đã thay đổi mục tiêu chiến lược, hy sinh Việt Nam cho quyền lợi riêng của Hoa kỳ. Lịch sử lại một lần nữa tái diễn: Việt Nam lại trở thành nạn nhân của quyền lợi chiến lược siêu cường, trong lịch sử hiện đại cũng giống như trong thời trung cổ xưa kia.

Rốt cuộc ngày 30-4-1975, thiết giáp xa Nga Sô cán sập cửa dinh Ðộc Lập tại Sàigòn. Ðối với Huê Kỳ, một trang sử Việt Nam đã lật qua, một giai đoạn cuộc chiến Việt Nam chấm dứt. Và giai đoạn mới bắt đầu, đây là lúc hàn gắn những vết thương chiến tranh, hòa giải dân tộc, tái thiết quốc gia, thực hiện các nguyện vọng của người dân. Nhưng đó lại không phải là mục tiêu của đảng Cộng sản Việt Nam. Ðảng này không nghĩ đến nền độc lập quốc gia mà còn phải tiến lên mục tiêu vô sản hóa thế giới, cho nên chưa cho dân tộc Việt Nam được sống hòa bình và tái thiết.

Trên 10 năm đã đi qua, vẫn chưa có độc lập hòa bình, và câu nói không có gì quý hơn độc lập tự do của Hồ Chí Minh rõ ràng chỉ là chiêu bài giai đoạn lừa phỉnh dân tộc Việt.

Với chánh quyền trong tay đảng Cộng sản, dân tộc Việt Nam tiếp tục sống trong chiến tranh và nghèo đói thêm. Biết đến bao giờ cuộc cách mạng của dân tộc Việt Nam đạt đến mục tiêu Tự do và Ðộc lập?

Hãy nghe thêm một người Pháp nhận xét về chánh sách sai lầm của chánh phủ Pháp tại Việt Nam, với sự khẳng định rằng chính Pháp đã làm cho Việt Nam mất vào tay Cộng sản. Linh mục Seitz, đến truyền đạo tại Việt Nam từ 1937, đã nêu ra các nhận xét sau đây để trả lời câu hỏi ÀÀTại sao chiến tranh Việt Nam kéo dài lâu như vậy, và tại sao Cộng sản thắng thế?

Không thể hiểu được thảm kịch ngày nay của dân tộc Việt Nam, nếu không tìm hiểu các nguyên nhân xa xưa của cuộc chiến tại đó.

Trước khi lãnh nhiệm vụ sang Việt Nam, tôi có tham dự tuần lễ hội thảo đề tài Àchánh sách thuộc địá, và nhớ rằng lập trường của giáo hội Pháp là ÀMọi chánh sách thuộc địa đều thống trị được một thời gian mà thôi và đều phải kết thúc với sự trưởng thành của dân tộc bị trị. Cũng giống như Lyautey đã nói: ÀMột thuộc địa được cai trị tốt đương nhiên phải đạt sự trưởng thành, nếu không được thế là do chánh sách cai trị sai lầm vậý. (Une colonie bien administrée évolue nécessairement vers son émancipation, sinon cest qúelle est mal administrée.)

Năm 1937, tôi đến Việt Nam, thuộc địa Pháp đang tiến mạnh, nhưng điều đầu tiên tôi cảm nhận là Àchúng ta, một cường quốc thực dân, đã không làm đúng bổn phận hướng dẫn thuộc địa đến trưởng thành.

Chúng ta đã không khám phá và lượng giá được lòng ái quốc nồng nhiệt, sâu xa và khả kính đang sôi sục trong trái tim người Việt, để mà có một chánh sách thích nghi và cấp thiết. Giai tầng trí thức Việt Nam đã có những người xuất thân ở các đại học danh tiếng (Polytechnique, Centrale) của Pháp, nhưng khi hồi hương họ bị bạc đãi như thuộc cấp chớ không được xem như những trí thức lãnh đạo xứ sở họ. Ðó là chính chúng ta đã đào luyện họ thành những địch thủ tương lai. Những người Việt ái quốc trí thức đó, nuôi nấng nguyện vọng xứ sở mình được độc lập, nhưng trong tình huống bị chúng ta đối xử bạc đãi như thế, thử hỏi họ phải hướng về đâu? Hướng về chánh quốc, vô ích thôi! Sau Ðệ nhứt Thế chiến 1914-1918, những trí thức trẻ của Việt Nam đã tìm hướng về Cộng sản quốc tế sau cách mạng tháng 10-1917 tại Nga.

Từ thời điểm (thập niên 1920) Hồ Chí Minh bỏ Paris sang Moscow, đến khi ông ta nắm chánh quyền tại Hànội 1945, dẫn đến sự toàn chiếm Việt Nam 1975, tôi đã sống gần 40 năm tại xứ này, và có thể tóm luận rằng nguyên nhân sâu xa chính là do lỗi của Pháp đã bất chấp tinh thần ái quốc tiềm tàng trong trái tim người Việt, cho nên hậu quả là nền độc lập quốc gia Việt Nam mà Pháp không chịu trao trả đúng cách đúng lúc, đương nhiên phải bị cưỡng chiếm lại bằng chiến tranh. Chúng ta không biết ủng hộ chánh nghĩa của người Việt, thì tất có kẻ khác đóng vai trò đó. Chính là Cộng sản.

Ðó là tình huống đã xảy ra: lòng ái quốc, và lý tưởng dân tộc của người Việt đã bị Cộng sản chụp lấy. Nga Sô đào luyện cán bộ cách mạng bằng tư tưởng Mác-xít, rồi yểm trợ các nhu cầu vật chất (tiền bạc, võ khí) cho đám cán bộ đó nắm quyền hành tại Việt Nam, củng cố từng giai đoạn để tiến chiếm toàn bộ Việt Nam năm 1975. Ðó là kết quả của một giai đoạn bành trướng chủ nghĩa Cộng sản trên nửa thế kỷ vừa qua.

Bây giờ nước Pháp ngoái nhìn lại lịch sử vừa qua để thấy rằng sau thảm kịch Việt Nam, đến Algérie, chúng ta mới tỉnh ngộ để trả độc lập cho 11 thuộc địa tại Châu Phi. Ðúng là Àcon người vẫn là kẻ tập sự, và sự đau thương chính là ông thầy dạý (LHomme est un apprenti, la douleur est son maitre.)

Những điều trình bày sơ lược trên đây về giai đoạn lịch sử từ khi Pháp đến xâm chiếm Việt Nam đến khi Cộng sản toàn chiếm lãnh thổ Việt Nam (1856-1975: 110 năm) đưa ra ánh sáng một số điểm căn bản sau đây:

1. Giai đoạn 90 năm (1856-1945) dân tộc Việt Nam âm thầm chịu đựng chánh sách thống trị tham lam và tàn bạo của thực dân Pháp, nhưng vẫn đề kháng liên tiếp.

2. Giai đoạn kế tiếp 30 năm (1945-1975) dân tộc Việt Nam toàn bộ nổi dậy, chiến đấu chống lại chủ trương tái chiếm thuộc địa của Pháp, nhưng rốt cuộc vẫn chỉ là dịch chủ tái nô: thực dân Pháp ra đi (1955) đế quốc Nga thay thế đặt toàn bộ lãnh thổ Việt Nam trong hệ thống Cộng sản Quốc tế (1975).

3. Tuy thực dân Pháp chấm dứt thế lực thống trị Việt Nam từ 1955, nhưng Pháp vẫn là một nguyên nhân của sự toàn chiếm Việt Nam 1975 bởi cộng sản, do chánh sách sai lầm đối với dân tộc Việt Nam và do chủ trương cấu kết với Cộng Sản Việt Nam từ 1946 để mưu đồ tái lập chế độ tân thuộc địa tại Việt Nam.

4. Tuy công cuộc tranh đấu giải phóng đất nước Việt Nam đến nay chưa thành công, và chánh nghĩa của dân tộc Việt Nam đã bị thực dân và cộng sản tiếm đoạt, nhưng dân tộc Việt đã chứng tỏ trước thế giới ý chí quật cường bất khuất của một dân tộc anh hùng, qua cuộc chiến đấu bảo vệ quyền tự tồn tự chủ chống lại 1,050 năm đô hộ của Trung Hoa, trên 100 năm đô hộ của Pháp, và tiếp tục chống chủ trương đô hộ của đế quốc Nga Sô.

5. Tuy nhiên, ý chí quật cường bất khuất của dân tộc Việt Nam, mặc dầu đã được xem như yếu tố tinh thần căn bản của dân tộc Việt để tự tồn tự chủ từ giai đoạn lập quốc qua bao lần xâm lược của khổng lồ Trung Hoa, đã không đủ để quyết định thắng lợi từ khi các đế quốc Tây phương sang chiếm thuộc địa Á Châu.

Bởi vì từ đây Việt Nam phải đối phó một loại xâm lược quốc tế mới lạ, khác hẳn tương quan song phương trước kia giữa Trung Hoa và Việt Nam trong hoàn cảnh một thế giới khép kín, không có sự liên kết và can thiệp quốc tế.

Từ khi các đế quốc Tây phương chia nhau làm chủ các thuộc địa Á Châu, vận mệnh các dân tộc bị trị không những bị chi phối bởi chính đế quốc thống trị, mà còn bởi các áp lực quốc tế khác, chia chác quyền lợi, ảnh hưởng. Tương quan quốc tế càng ngày càng càng trở nên đa dạng, đa phương, phức tạp, chằng chịt thành những sợi dây trói buộc các nước nhỏ trong các tình trạng yếu kém thất thế, mất chủ động. Thế giới chia ra từng khối, các siêu cường quốc và cường quốc trao đổi quyền lợi, qua phân ảnh hưởng, thỏa hiệp hay đối nghịch nhau, tạo ra sức ép thường xuyên với các áp lực chính trị, quân sự, tài chánh, kinh tế, đè nặng và chi phối vận mệnh các quốc gia nhỏ yếu.

Thực tại thế giới từ thế kỷ 19 tới nay là như vậy, tuy rõ ràng là bất công, nhưng đã trở nên một quy luật của mối tương quan thế giới. Các cường quốc có uy thế chi phối, thế giới ngày nay sức mạnh võ khí và kinh tế ưu thắng hơn sức mạnh tinh thần, cho nên Việt Nam đã lâm vào hoàn cảnh bi thảm nhứt, bất hạnh nhứt so với mọi quốc gia Á Châu, với một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc kéo dài đã trên nửa thế kỷ, mà vẫn chưa thấy có hy vọng chấm dứt, chủ quyền quốc gia vẫn bị ngoại bang chi phối và xã hội suy thoái trong cảnh nghèo đói thê thảm.

Ðể kết luận phần này: dân tộc Việt Nam chẳng may bị lọt vào ách thống trị của thực dân Pháp, cho nên đã phải chịu đựng giai đoạn thống khổ đau thương cho đến nay đã trên một thế kỷ.

Tổ chức Phật Giáo Hòa Hảo, đề tài nghiên cứu biên khảo của cuốn sách này, với số lượng quần chúng đông đảo khoảng hai triệu tín đồ, đương nhiên là một thành phần hoạt động trong suốt tiến trình đấu tranh chống Pháp, chống Cộng, như sẽ được trình bày trong các chương sau đây.

GỬI Ý KIẾN
Tên của bạn
Email của bạn
Đánh giá (tùy ý)
Nhập những ký tự ở hình bên vào ô bên dưới.
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Quốc phòng / Bình luận quân sự

ASEAN thêm lựa chọn, Nga trả giá cho “chiến lược nước đôi”?

(Bình luận quân sự) – Nhật Bản, Ấn Độ tham gia xuất khẩu vũ khí với thị trường tiềm năng là Đông Nam Á. Trong khi khu vực này đang là thị trường béo bở của Nga

Thị trường vũ khí Đông Nam Á

Một vài năm trở lại đây, các quốc gia trong ASEAN liên tiếp nâng cao chi phí quốc phòng của mình và đầu tư mua sắm hàng loạt vũ khí nhằm nâng cao sức mạnh quân đội của mình.

Vì sao ASEAN, một khu vực tập trung nhiều quốc gia có nền kinh tế bình thường phải chi tiêu nhiều cho quốc phòng như vậy? Bởi lẽ, 4/10 thành viên của khối này có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc, và sự gia tăng sức mạnh cũng như các hành động đơn phương ngang ngược mà Bắc Kinh biểu diễn thời gian qua đã khiến họ suy nghĩ đến những tình huống xấu nhất.

Kỳ I: Nga “ngồi trên đống lửa” khi Nhật, Ấn xuất khẩu vũ khí?

Không riêng những quốc gia có tranh chấp, những quốc gia không tranh chấp cũng bắt đầu có cảm giác “ngồi trên đống lửa” khi không có gì chắc chắn Bắc Kinh sẽ chỉ dừng lại ở 80% Biển Đông mà tha không động đến vùng biển chủ quyền của họ.

Không có gì khó hiểu khi một loạt các vũ khí hiện đại hiện diện tại các nước thuộc khu vực này, trong đó, không quân, hải quân  được đầu tư hơn lục quân.

Về hải quân, họ ưu tiên tiếp cận các lớp tàu chiến cỡ nhỏ, linh hoạt, cơ động và mang theo nhiều trang bị có thể phục vụ việc diệt hạm và chống ngầm, có khả năng tác chiến trong vùng biển chủ quyền của mình. Về không quân, họ chú trọng đến các chiến đấu cơ có khả năng tác chiến không đối không, không đối hải, được trang bị vũ khí có khả năng diệt hạm nhanh chóng, dứt điểm, các radar cảnh báo sớm…

Có thể thấy, Đông Nam Á đang tập trung tài chính để hướng quân đội mình theo mô hình phòng thủ chủ động, và đối thủ của họ được xác định là những tập đoàn sức mạnh lớn, đa dạng từ tàu nổi, tàu ngầm, thậm chí là cả tàu sân bay của Trung Quốc.

Máy bay Su-30MK2 của không quân Việt Nam được mua từ Nga
Máy bay Su-30MK2 của không quân Việt Nam được mua từ Nga

Còn nhớ, cách đây khoảng 10 năm, người Nga đã dự đoán chính xác tình hình của Đông Nam Á hiện tại và có một chiến lược định hướng phát triển dài hơi.

Cho đến nay, họ bắt đầu được hưởng thành quả từ sự phán đoán đó khi trong hàng ngũ của các quốc gia Đông Nam Á, vũ khí Nga mang màu sắc chủ đạo.

Tuy nhiên, các nhà sản xuất vũ khí Nga đang bị đe dọa nghiêm trọng khi mật ít ruồi nhiều, một Đông Nam Á ngày càng nóng đã thu hút thêm nhiều nhà đầu tư, tiêu biểu như Mỹ, Hàn Quốc, và nay thêm hai tay chơi rất mới: Nhật Bản, Ấn Độ.

Vì sao vũ khí Nga gặp thời và gặp… khó?

Vì sao vũ khí của Nga được ưa chuộng ở ASEAN? Thứ nhất là yếu tố nắm bắt thị trường như đã nói ở trên. Thứ hai, không phải ASEAN không muốn mua vũ khí của nước khác, mà họ không thể mua. Ai cũng hiểu rằng thị trường vũ khí thế giới bị chi phối bởi hai “ông lớn” Nga – Mỹ.

Tuy nhiên, để mua được vũ khí sát thương của Mỹ, các quốc gia Đông Nam Á phải đáp ứng nhiều điều kiện đi kèm liên quan đến chính trị, xã hội, kinh tế… Và điều này là một trong những rào cản lớn nhất để ASEAN có thể tiếp xúc được với những loại vũ khí từ thái cực thứ hai này.

Chiến hạm Gepard 2.9 được Việt Nam mua và biên chế với tên gọi chiến hạm Đinh Tiên Hoàng
Chiến hạm Gepard 2.9 được Việt Nam mua của Nga và biên chế với tên gọi chiến hạm Đinh Tiên Hoàng

Với tình hình như hiện nay, sắp tới, có thể Nga sẽ không còn đất diễn ở khu vực này. Thứ nhất, về yếu tố nắm bắt thị trường, ASEAN vẫn cần những mẫu vũ khí như vậy, nhưng không chỉ mình Nga biết nghiên cứu thị trường.

Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản, ông Itsunori Onodera trong cuộc trao đổi với một số nhà thầu công nghiệp nặng, công nghiệp quốc phòng đã nhấn mạnh, khi quyết định xuất khẩu vũ khí, thị trường được lựa chọn chính là Đông Nam Á. “Bởi Nhật Bản biết các quốc gia này cần gì, vũ khí của họ dùng để chống lại ai” – ông Onodera đã nói như vậy.

Trung Quốc thèm khát Su-35 hiện đại của Nga và đang rất gần với bản hợp đồng mua số lượng lớn loại chiến đấu cơ này
Trung Quốc thèm khát Su-35 hiện đại của Nga và đang rất gần với bản hợp đồng mua số lượng lớn loại chiến đấu cơ này

Còn Ấn Độ, họ sẽ chỉ bán vũ khí cho những quốc gia thân thiện với mình, đồng nghĩa đối đầu với kẻ thù của Ấn Độ là Trung Quốc.

Trung Quốc một lần nữa được nhắc đến trong câu chuyện vũ khí này, thậm chí còn là vấn đề then chốt. Bởi kẻ đẩy ASEAN vào cuộc chi tiêu tốn kém này chính là Trung Quốc.

Trong khi đó, Nga lại là quốc gia bơm máu tiếp sức cho sức mạnh quân sự của gã khổng lồ tham lam này nhiều và tận tụy hơn cả.

Nếu xảy ra giao tranh chớp nhoáng, khi hai vũ khí đều là kiếm thì kẻ nào dùng kiếm giỏi hơn kẻ đó sẽ thắng. Nhưng đối đầu với một cuộc chiến tổng lực, chất lượng ngang nhau nhưng đối phương lợi thế số lượng, thắng thua đã rõ cho các quốc gia ASEAN dùng vũ khí của Nga.

Chiến đấu cơ tàng hình ATD-X của Nhật Bản (bên trái) sẽ được sản xuất hàng loạt để thay thế tiêm kích F-2 lỗi thời và rất có thể sẽ có phiên bản xuất khẩu.
Chiến đấu cơ tàng hình ATD-X của Nhật Bản (màu trắng đỏ) sẽ được sản xuất hàng loạt để thay thế tiêm kích F-2 lỗi thời và rất có thể sẽ có phiên bản xuất khẩu.

Trung Quốc chính là tử huyệt của Nga khi họ đang chơi ván cờ hai mang trên thị trường vũ khí Đông Nam Á. Nhưng thế độc tôn ấy sẽ dần mất đi khi Nhật Bản và Ấn Độ tham gia vào thị trường này sâu sắc hơn. Nếu không mua được vũ khí Mỹ, các nước ASEAN hoàn toàn mua được vũ khí của Nhật Bản, bởi họ phát triển trên nền tảng công nghệ Mỹ.

Nếu muốn giá rẻ, hiệu quả, họ có thể mua của Ấn Độ. Bởi Ấn Độ đã tuyên bố tham vọng đánh bại Trung Quốc trên thị trường vũ khí bởi chất lượng ngang nhau nhưng giá thành chỉ bằng 1/3, 1/4. Tức là Trung Quốc bắn vào ta 1 quả tên lửa, ta có thể trả lại 3 quả tương đương. Xét về bài toán kinh tế và thế lấy ít địch nhiều, rõ ràng vũ khí của Ấn Độ đang là một món hời đầy quyến rũ.

Nhưng trên hết, cả Ấn Độ và Nhật Bản sản xuất vũ khí dựa trên nguyên tắc khắc chế Trung Quốc. Hay nói cách khác, họ và ASEAN đang chung đối thủ.

Còn xét về yếu tố chính trị, lịch sử, Ấn Độ là một nước giữ đường lối trung lập. Họ có mối giao hảo truyền thống và tốt đẹp với Đông Nam Á. Còn Nhật Bản bằng những nỗ lực khắc phục hậu quả chiến tranh, có lẽ cũng đã ân đền oán trả đầy đủ với các quốc gia khu vực này.

Thậm chí, quyền phòng vệ tập thể của Nhật Bản vừa được thông qua còn hứa hẹn một sự hợp tác chắc chắn và đảm bảo hơn bất kỳ hợp đồng vũ khí nào với các quốc gia Đông Nam Á có thiện chí với họ.

Từ đó để thấy, dù Nga còn đang giữ thế thượng phong trong cuộc canh tranh thị trường vũ khí Đông Nam Á. Nhưng ưu thế đó sẽ sớm kết thúc nếu Nga tiếp tục chơi trò nước đôi với Trung Quốc và Đông Nam Á.

Kỳ III: Vì sao Mỹ bật đèn xanh cho Nhật xuất khẩu vũ khí?

Đỗ Minh Tú

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Blog at WordPress.com.