Daily Archives: August 2, 2014

Có hay không một thỏa hiệp bán nước?

Friday, August 1, 2014

Có hay không một thỏa hiệp bán nước?

QLB

MỘT VỊ THIẾU TƯỚNG YÊU CẦU TÔNG KẾT CUỘC CHIẾN 1979 – 1984 VÀ CÔNG KHAI THỎA HIỆP THÀNH ĐÔ.

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc
                                                            Hà Nội ngày 20 tháng 07 năm 2014
 Kính gửi : Đ/C Tổng Bí thư  BCHTW Đảng
Các đ/c Uỷ viên Bộ Chính Trị
Các đ/c Uỷ viên Ban Bí thư TW Đảng
Các đ/c ủy viên Trung ương Đảng khóa XI.
Tôi là: Lê Duy Mật – Thiếu tướng – Nguyên Phó Tư lệnh – Tham mưu trưởng Quân khu 2 và Tư lệnh Mặt trận 1979-1984 (Hà Giang) thay mặt một số đảng viên xin được nêu thắc mắc và kiến nghị như sau:

Cuộc chiến tranh biên giới 1979 – 1984 cũng là một trong những cuộc chiến đẫm máu vô cùng đau thương trong lịch sử nước ta. Đây là cuộc chiến tương tự các cuộc chiến Bạch Đằng,Chi Lăng, Đống Đa, nhưng tại sao đã qua 30 năm mà cuộc chiến này vẫn không được tổng kết, đúc rút kinh nghiệm phục vụ cho mục tiêu bảo vệ Tổ quốc cấp thiết trước mắt, Việc tổng kết này vô cùng cần thiết và sẽ rất hữu ích khi mà đối tượng chiến đấu vẫn là một, khi mà quân xâm lựợc đang cận kề chứ không xa xôi như trong các cuộc chiến chống Pháp, chống Mỹ. Bên cạnh đó các chính sách đối với gia đình liệt sĩ và những người chống xâm lược năm 1979 – 1984, chúng tôi đã nhiều lần đề nghị nhưng vẫn không được giải quyết ,mà chỉ có những lời hứa hẹn xuông.

Phải chăng có một nguyên nhân mà chúng tôi săp nêu lên sau đây.

Chúng ta đều biết mọi tiêu cực trong xã hội hiện nay từ Trung Quốc gây ra, khiến cho nước ta sản xuất lẹt đẹt, lạc hậu, đã thế, họ lại còn có những lời sỉ nhục đôi với cả dân tộc ta: “Việt Nam là con hoang, loại vô liêm sỉ, phải cho thêm vài bài học”. Vậy mà, lãnh đạo ta không hề có một phản ứng nào!

Rồi khi bọn xấu trà trộn trong đám biểu tình được xúi giục phá phách gần 1000 nhà máy của Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Trung Quốc, thì công an lúc đó làm ngơ, sau đó mới xuất hiện, chỉ xử lý qua loa và xin lỗi xin đền bù thiệt hại cho họ. Trong khi đó Tung Quốc đâm phá gần 30 tàu, thuyền của chúng ta thì không quyết liệt đòi bồi thường, mà chỉ “nhẹ nhàng” lên án.
Khi có hiện tượng bất thường nho nhỏ về dân sự thì lập tức nửa đêm đại sứ của Việt Nam ở Bắc Kinh bị gọi đến để nhận thư phản kháng, còn khi Trung Quốc gây hại cho ta thì chỉ có cán bộ Bộ Ngoại giao Việt Nam đến gặp cơ quan Lãnh sự Trung Quốc tại Hà Nội để giao công hàm phản kháng .

Lạ lùng nhất là tỉnh ủy Quảng Đông mà lại ngang nhiên gửi công văn cho Bộ Ngoại giao Việt Nam yêu cầu phải thực hiện 16 việc phải làm. Một thái đọ trịch thượng ,coi thường nước ta rất vô lễ mà ta vẫn chịu đựng.

Trung Quốc tự tiện cho giàn khoan vào xâm nhập lãnh hải Việt Nam bất chấp mọi ý kiến phản đối của nhân dân ta và dư luận các nước lên án. Khi rút đi, họ tuyên bố là do họ đã xong việc. Trung Quốc làm như vậy mà ta vẫn khen Trung Quốc là bạn tốt,16 chữ vàng và 4 tốt. Đến nỗi dư luận thế giới cũng phải ngạc nhiên về thái độ quá ư nhu nhược của chúng ta.

Ngạc nhiên hơn là Nhà nước đàn áp những người biểu tình chống xâm lược ở trong nước mà chỉ khuyến khích biểu tình ở nước ngoài.

Chẳng lẽ một dân tộc Việt Nam anh hùng đã ba lần chiến thắng Nguyên Mông, đã có Điện Biên phủ lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu mà nay lại hèn kém như vậy sao! Chúng tôi cho rằng nguyên nhân sâu xa là ở Thỏa hiệp Thành Đô ngày 4/9/1990 của một số vị lãnh đạo. Chúng tôi chưa rõ thực hư thế nào mà chỉ biết sau này những hiện tượng tiêu cực xảy ra đã thể hiện nội dung của bản Thỏa hiệp đó. Xin trích một đoạn Thỏa hiệp Thành Đô: “ Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố gắng hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị vốn lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh , như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây….

     Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên , và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020)  để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.”. (Hết trích)  (1) .

Vì vậy, chúng tôi yêu cầu trong hội nghị TW này Bộ chính trị , Ban Bí thư cần công bố các văn bản của Thỏa hiệp Thành Đô, để chứng minh thực hư thế nào. Nếu Thỏa hiệp Thành Đô là đúng như vậy thì rõ ràng là một bản thỏa hiệp rất nguy hiểm cho đất nước như là phản bội Tổ Quốc.  Vì vậy, chúng tôi đề nghị Hội nghị TW xem xét và ra tuyên bố phản bác bản thỏa hiệp đó, chấn chỉnh lại tổ chức, kỷ luật những người đã ký và những người thực hiện sau này. Có như vậy Đảng ta mới thực sự là một Đảng chân chính, dám nhận khuyết điểm, dám công khai khuyết điểm như Bác Hồ đã nói: “Một Đảng mà không dám nhận khuyết điểm, công khai khuyết điểm là một Đảng hỏng”.
Theo điều lệ Đảng (điều 3 khoản 3), Đảng là của nhân dân lao động, Đảng của toàn thể đảng viên vì vậy chúng tôi có quyền yêu cầu phải công khai các hoạt động của những người lãnh đạo để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra như trong các Nghị quyết TW đã đề ra .

Trên đây là những kiến nghị tâm huyết và bức xúc của đảng viên. Tôi mong rằng: Bộ chính trị, Ban bí thư nên tôn trọng ý kiến của các đảng viên cơ sở và thực hiện các việc nói trên .Tóm lại là :

1-    Tổng kết cuộc chiến tranh chống quân xâm lược năm 1979, thực hiện chính sách qui tập mồ mả ghi công các anh hùng liệt sĩ trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược cũng như bao cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc trước đây của dân tộc ta, tổ chức kỷ niệm trọng thể hàng năm.

2-     Công khai bản Thỏa hiệp Thành Đô tháng 9/1990 để toàn dân, toàn Đảng biết được thực hư và ra tuyên bố để giải thích các hiện tượng tiêu cực. Thỏa hiệp Thành Đô là thứ ung nhọt đang di căn khắp cơ thể đất nước ta .

Nguy cơ mất nước đang là sự thật, mong các đồng chí có lương tâm, vì sự nghiệp của tổ quốc mà thực hiện cho được. Nếu ở Hội nghị Trung ương X này không ra được bản tuyên bố thì yêu cầu đưa vào chương trình Đại hội Đảng bất thường hoặc Đại hội 12 .

Chúng tôi chờ mong hồi đáp của các đồng chí.

Kính

Thiếu tướng Lê Duy Mật 

———————–

(1)Theo tin của Tân hoa xã Trung Quốc và báo Hoàn cầu Trung Quốc

———————————–

Giặc đã ùa vào nhà Việt Nam

“…toàn dân Việt Nam không hề biết đến cuộc chiến bỉ ổi này, một cuộc chiến khốc liệt nhất trong lịch sử Việt Nam, đến đỗi núi xương trắng của tuổi xanh phơi cao ngất trời, sông suối máu đỏ chảy xiết hơn mùa nước lũ, thấu sương mù, khí lạnh cả bầu trời cao nguyên Lão Sơn…”

 

Xương trắng phơi cao ngất trời

 

Chiều ngày 21/9/1987, quân báo Trung Cộng đưa tin chiến thuật giao quân tại núi 255, khởi hành vào lúc 17 giờ chiều nay, đến 4 giờ sáng hôm sau vào địa chỉ cao điểm 1509. Đoàn quân phải băng qua nhiều đồi rừng núi, đôi khi gặp chướng ngại vật như bãi mìn hay phục kích của bộ đội Việt Nam, thời gian lộ trình 10 giờ, và dài hơn 30 km.

 

Tôi vui mừng được Hải Âu (海鸥DF-1, Lữ đoàn 38, trinh sát biệt lập) giới thiệu tháp tùng, cùng đi trong đoàn giao quân này. Tại điểm tập trung, những người lính Trung Cộng không có cử chỉ oai hùng mang khí thế quân nhân, trên mặt của họ lộ rõ sự sợ hải. Họ than phiền rằng:

 

‒ Hôm nay có đến 1509, ngày mai không về.

 

Trái lại, tôi cầu mong được đến nơi nguy hiểm nhất để tìm hiểu diễn biến chiến tranh. Tuy nhiên, tôi có đôi điều suy nghĩ cảnh giác:

 

‒ Hy vọng họ không phát hiện thân phận, hay vì một nguyên nhân nào đó, cố ý đưa tôi vào chỗ chết không tên tuổi (mồ tập thể của binh sĩ tử vong).

 

Nhưng rồi tôi lại tự nhũ:

 

‒ Thây kệ, sống chết phú cho tự nhiên, cứ đi rồi hãy biết mọi sự kiện của chiến tranh, có thế cuộc đời mới thâm trầm.

 

Trong lúc tâm sự với vài quân nhân và sĩ quan, họ cho biết:

 

‒ Chiến trường cao điểm 1509 Lão Sơn quá khốc liệt, bất cứ người lính nào đã đến đó đều chuẩn bị “rửa chân lên bàn thờ”. Ngày đêm tiếng súng, bom đạn kêu gọi tên từng người, trong đầu lúc nào cũng mênh mang tuyệt vọng, xem mạng sống đang đứng trước “mành treo trước gió”. Tâm lý binh sĩ không còn sức chiến đấu, quân Trung Quốc vì sợ chết cho nên đào ngũ cả Trung đoàn trước khi “cối xay thịt người” hoạt động. Quân Việt Nam cũng không kém. Sự kiện này cho thấy cả hai quân đội Việt Nam-Trung Quốc chiến đấu không vì lý tưởng cao cả nào hết!

 

Tôi không ngại ngùng đối với chiến trường cao điểm 1509 Lão Sơn, dù trước đó đã có chuẩn bị tinh thần chấp nhận sống chết không hẹn ngày mai. Một điều khác mà tôi tâm niệm hệ trọng hơn là dân Việt cần phải giáp mặt miền đất linh thiên của Tổ quốc để nhận diện Trung Cộng khát máu xâm lăng đất Việt. Đảng CSVN đã rước voi về “giày xéo quê  hương mả Tổ”.

Trên đường giao quân, trong đêm tối tăm, chân bước xào xạc lá rừng, không ngừng theo dòng người phía trước. Từ xa vọng lại tiếng súng lúc dồn dập lúc ngắt khoãng. Nếu không may gặp phục kích trên đường di chuyển thì ít nhất cũng được làm thây ma chứng kiến cuộc giao tranh của binh sĩ Việt Nam vì tổ quốc của họ. Trên đường đi có nỗi sợ hãi, rồi cũng mất biến để lấy lại bình tỉnh, từ đó ý tưởng nguy hiểm thoáng qua bộ nhớ, tự lòng lấy quyết định niềm tin vẫn sống mãnh liệt hơn, dù gian nan, trong chuyến đi này do chính mình tự nguyện.

Đoàn giao quân di chuyển trong đêm, khí hậu lạnh, sương khuya xuống ướt đầm cả áo mưa nilông, những bước chân âm thầm, cứ thế theo mệnh lệnh đi tới, đôi lúc di chuyển dồn dập, trèo đồi, lội suối. Tôi đi trong đêm không quen nên bị vấp té mấy lần, trầy đầu gối và tay, cũng may có Hải Âu (海鸥 DF-1. Lữ đoàn 38, trinh sát) mang hộ cái ba-lô máy ảnh. Đến 2 giờ đêm mới biết, đoàn quân di chuyển vào biên giới Vân Nam, sau đó chuyển xuống hướng Tây Nam vào lại Hà Giang, còn 4 giờ nữa đến cao điểm 1509, thảo này lộ trình dài dằng dặc 39 km.

Chiến tranh Việt-Trung ngày 2/4/1984, tại biên giới Thanh Thủy-Vị Xuyên-Hà Giang, Việt Nam bị mất những cao điểm chiến lược quan trọng nhất: 1509, 772, 226, 468, 685, 233, 1200.
Chiến trường Lão Sơn đẫm máu, đốt cháy biết bao tuổi thanh xuân, nhưng không giữ được phần đất của Tổ quốc Việt Nam. Nguồn: THX.

Tôi hỏi Hải Âu (海鸥 DF-1, Lữ đoàn 38, trinh sát):

– Có phải muốn an toàn cho đoàn quân nên đánh một vòng xa, hay sợ quân đội Việt Nam phục kích chứ gì ?

– Câu hỏi của anh chính đáng, xem ra đã trả lời được một nửa, phần còn lại của vấn đề kỹ thuật. Khi giao quân cần phải đủ quân số, chiến thuật giao quân theo phong cách bí mật của nó, trong đêm anh không thấy và không biết. Chiều hôm qua đoàn quân chỉ có 2 Trung đoàn, hiện giờ quân số 6 trung đoàn (Sư đoàn), binh sĩ di chuyển chậm chạp, lý do chờ cánh quân đến từ Côn Minh (昆明), cũng để dưỡng quân khi lâm trận còn sức chiến đấu.

Sáu Trung đoàn quân Trung Cộng đã đến địa danh biên giới Lão Sơn, Thanh Thủy, Vị Xuyên, Hà Giang thuộc lãnh thổ Việt Nam. Trung Quốc gọi chiến trường này là phản công Laoshan. Cuộc giao quân an toàn, ém quân vào chiến lũy dưới lưng núi 1509, chờ sĩ quan quân báo và trinh sát các trạm chốt phiá hướng Tây Bắc và Nam, mở ba cửa bằng mìn Claymore, rồi mới di chuyển quân lên cao điểm 1509.

Không ngờ, buổi trưa ngày 22/9/1987, tại cao điểm 772. Bộ đội Việt Nam mở cuộc giao tranh trước. Lúc đầu ai cũng tưởng rằng kẹo đồng nhỏ lai rai cho vui, một lúc sau đạn pháo trút xuống tới tấp, chiến sự trở nên khốc liệt.

Giao quân chưa nhập căn cứ 1509 đã bị quân Việt Nam chận trước yết hầu đánh tan tác 6 Trung đoàn của quân Trung Quốc. Tướng Thích Kiến Quốc (戚建国) nhận được lệnh gom quân, đánh vào dãy đồi thuộc huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, gần cột mốc biên giới số 13, và phản công đánh lên ngọi núi bình độ 1200.

Thiếu tướng Thích Kiến Quốc (戚建国) chỉ huy đánh trận cao điển 1200 Đông sông Lô. Nguồn: Quân Ủy trung ương đảng CS Trung Quốc (CPC).

Địa hình cao nguyên Lão Sơn, thiên nhiên cấu trúc hiểm trở, kết nối 72 ngọn núi, chạy từ Tây sang Đông, ngọn núi cao có bình độ 1800 mét tọa lạc hướng Tây, giáp ranh với núi bình độ 1200 mét về hướng Đông. Ngọn núi ác liệt 1200 phía Đông sông Lô, quân Trung Quốc gọi tên Giả Âm Sơn (Zheyin Shan – 者阴山). Tất cả các cuộc giao tranh khác tại Vị Xuyên đều diễn ra ở phía Tây sông Lô lãnh thổ Việt Nam. Sau đợt pháo kích ác liệt, Thiếu tướng Thích Kiến Quốc (戚建国) đưa quân vượt sông Lô, giao quân trên chiến trường cho quân đoàn 16 thuộc Quân khu Nam Kinh, phản công đánh chiếm lại núi 1200.

Lực lượng phòng ngự của Việt Nam bao gồm bộ binh của Sư đoàn 313, và pháo binh Lữ đoàn 168 trấn thủ yếu ớt, một lần nữa chấp nhận bại trận, rút lui khỏi ngọn núi 1200, và các đồi núi lân cận, như đồi 233, 685, 468. Ngoài ra quân Trung Quốc còn được tiếp binh tại ấp “Na La”, tại gần đồi 468 hướng về phía Việt Nam. Nguồi suối Thanh Thủy ở phía Nam rất quan trọng cho phép sự thành bại trên chiến trường, cửa ngõ của cao điểm 1509, bao quanh bởi rừng núi vách đá dựng đứng hiểm trở, muốn chiếm những vị trí chiến lược trên phải làm chủ ấp “Na La”.

Trong cuộc chiến Lão Sơn, có những lúc tưởng chừng phòng thủ kiên cố, súng bắn không tới, có thể chiến thắng nhờ sức mạnh vũ khí và chiến thuật biển người. Nhưng chiến trường Lão Sơn thường biến động bất ngờ làm đảo lộn mọi chiến thuật bởi “cỗ máy xay thịt người” mỗi ngày ăn trên 42 binh sĩ của hai bên, đạn bom không kể. Những cao điểm liên tục đổi chủ, Việt Nam-Trung Quốc không bên nào cầm chắc chiến thắng thuộc về mình, ví dụ những cao điểm 1509, 772, 233, 1200 (Zheyin Shan), 1030 (Đông Sơn) C211 v.v… Buổi sáng chiến thắng, buổi trưa chiến bại. Hôm nay đình chiến, ngày mai khởi chiến, từng giờ phòng thủ, từng phút thất thủ, cả hai đọ pháo triền miên đã 3 năm (1984-1987). Vẫn chưa ai tự hào chiến thắng Lão Sớn.

Tạm thời Trung Quốc chiếm được 72 ngọn núi trong lãnh thổ của Việt Nam, người ta thường biết đến nhiều nhất những ngọn núi đã từng hao binh, tổn tướng, gồm núi Si Cà Lá hay Núi Bạc (Giả Âm Sơn-Zheyin Shan) thuộc hướng phía Đông sông Lô, núi 772 ở phía Tây sông Lô, cao điểm 1509, 1250, 1030, 1200, C211, 267, 277, 255, 251, 505, chạy dọc tuyến biên giới Việt Nam-Trung Quốc dài khoảng 11km. Ngoài ra còn có hai (2) ngọn núi 685 và 468, nằm sâu trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2km, bị quân Trung Quốc chiếm cứ. [1]

Có đi đến đây, mới biết một số bí mật về danh tánh tướng lãnh của Trung Quốc chưa hề được tiết lộ trong chiến tranh biên giới Việt Nam-Trung Quốc. Trên cơ sở chiến trường Lão Sơn quân đội Trung Quốc phối trí Tổng tư lệnh chỉ huy chiến trường bởi Đại tướng Dương Đắc Chí (杨得志- Yang Dezhi). Bỗng nhiên vào ngày 12/5/1948, Dương Đắc Chí bị bệnh trầm kha, Bộ quốc phòng Trung Quốc (PLO) ủy nhiệm quyền Tư lệnh cho Thượng Tướng Trương Chí Tú (張銍秀) [2] tiếp tục kế hoạch xăm lăng biên giới Lão Sơn. Đến nay đảng CSVN vẫn chưa biết gì nhiều về Trương Chí Tú. Đương sự mới chính thủ phạm thay mặt đảng CS Trung Quốc xâm lược Việt Nam.

 

Thượng Tướng Trương Chí Tú (張銍秀  Zhang Zhi Xiu)- Tư lệnh chiến trường Lão Sơn. Nguồn: Tân Hoa Xã phóng viên Lưu Vệ Binh 新华社记者刘卫兵

Vài suy nghĩ những cuộc chiến

Trong cuộc chiến tại biên giới Việt Nam năm 1979, Trung Quốc đánh giá sai sức mạnh và quyết tâm của lực lượng dân quân vũ trang của Việt Nam. Trong cuốc chiến quần đảo Falkland, Argentina đánh giá sai sức mạnh và quyết tâm của Vương quốc Anh. Trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh, Saddam đánh giá sai sức mạnh và quyết tâm của Hoa Kỳ. Trong cuộc chiến Lão Sơn, đảng CSVN bí mật thu hồi vũ khí của lực lượng dân quân vũ trang tỉnh Lào Cai và Hà Giang. Đại tướng Văn Tiến Dũng bí mật nối tay cho tên giặc Thượng Tướng Trương Chí Tú (張銍秀), Trung Quốc đánh giá sai binh sĩ Việt Nam, cuộc chiến kéo co 16 năm (1984-1990) . [3]

Trong tầm nhìn của Quốc tế, chiến tranh biên giới Lão Sơn không phải là quy mô, nhưng đổ máu quá nhiều, cả Việt Nam-Trung Quốc cùng chấp nhận mấy chục ngàn binh sĩ thương vong. Chiến lược Trung Quốc đánh giá cuộc chiến tranh năm 1979 không hoàn thành. Tiếp theo, một lần nữa Trung Quốc mở cuộc chiến tranh biên giới Việt Nam vào năm 1984-1990. Nhìn về mặt quân sự, Trung Quốc đổi chiến thắng bằng sự lãng phí khí lực quốc gia, khí tài và sinh mạng binh sĩ quá nhiều. Trung Quốc không còn cách nào để ứng xử với nhân dân trước tình thế mà đảng đã tuyên bố “tự vệ”, chỉ còn phương sách cuối cùng chủ động tấn công hầu che lấp sự tội phạm chiến tranh của Đặng Tiểu Bình.

Trái lại, đảng CSVN lại không nghĩ vậy. Họ đã để mất biên giới nhưng vẫn to miệng tuyên bố:

‒ Bảo vệ quê hương, đánh bại láng giềng phương Bắc mạnh mẽ, cuộc chiến tranh này chống lại xâm lược.

Thực chất không thể biện minh được, đảng CSVN đã bại trận từ khi có Hồ Chí Minh, chú ý cướp chính quyền, tráo trở lòng tin, tuyên truyền đề cao sức mạnh của đảng đứng trên Tổ quốc Việt Nam, che khuất nỗi thất bại ê chề lớn nhất của đảng, nhà nước CS không bảo vệ được biên giới phía Bắc Việt Nam vào năm 1979.

Cuộc chiến biên giới Lão Sơn kéo dài 16 năm (1984-1990), hầu như đảng CSVN á khẩu không bao giờ công bố và đề cập đến, toàn dân Việt Nam không hề biết đến cuộc chiến bỉ ổi này, một cuộc chiến khốc liệt nhất trong lịch sử Việt Nam, đến đỗi núi xương trắng của tuổi xanh phơi cao ngất trời, sông suối máu đỏ chảy xiết hơn mùa nước lũ, thấu sương mù, khí lạnh cả bầu trời cao nguyên Lão Sơn!

Sự thật chiến tranh biên giới Việt Nam-Trung Quốc do những nhà lãnh đạo của hai đảng đã thông qua kế hoạch và trả giá trước, họ xem thường sự sống còn của hai dân tộc Việt˗Trung. Họ tạo ra những công tác chính trị, người ngoài cuộc không thể đơn giản nhận thấy đước. Tuy nhiên cũng lộ ra những kẽ hở không hợp lý, riêng đảng CSVN đưa ra quá nhiều lý thuyết mỵ dân, chen vào đó những âm mưu thỏa thuận với Trung Cộng, trước khi thôn tính Việt Nam phải đi qua ngã ngoại giao và sau đó tạo ra chiến tranh biến nó thành một sự cố hợp lý.

Mặt khác, đảng CSVN ém nhẹm chiến tranh biên giới đối với nhân dân Việt Nam và trắng trợn bán nước, chấp nhận bản địa hình tổng quát biên giới, từ Tây Bắc đến Đông Nam và vịnh Bắc Bộ chiều dài 1.600 km, điểm hẹp nhất là 50 km.

Theo địa hình bí mật về bản đồ Việt Nam, có ghi rõ chứng từ đảng CS bán nước:

‒ Trung Quốc tự do khai thác đồng bằng sông Hồng miền Bắc, miền Nam có đồng bằng sông Cửu Long và miền núi Bắc-Nam, kể cả núi ven biển của ba miền Việt Nam.

Trung Quốc đánh giá địa hình miền Nam Việt Nam dễ bị tấn công và cực kỳ khó phòng thủ, cho phép Trung Quốc chiếm hoàn toàn vùng cao nguyên phía Tây, thứ đến khi cần lấy trung tâm vùng cán xoong, có thể dễ dàng cắt đứt Bắc-Nam và chia thành hai phần, đặc biệt đảo Hải Nam như một cái lưỡi búa thứ hai, đập tan miền Trung Việt Nam. Về chính trị có đôi phần bất lợi, nếu Trung Quốc mạnh tay quá, tất nhiên người Việt Nam sẽ kịp thời phản đối. Cho nên đảng CSVN thay Trung Cộng thực hiện kỹ thuật “mềm mỏng” để làm vải thưa che mắt nhân dân Việt Nam.

Một sĩ quan trinh sát Lữ đoàn 38, cho biết:

‒ Về cơ bản, nhân dân Trung Hoa không bao giờ muốn có chiến tranh với Việt Nam, chỉ có lãnh đạo đảng CS Bắc Kinh hành động điên rồ bành trướng. Người CS chỉ biết củng cố thế lực, quyền, tiền, sinh lý ngoài ra không có nhân bản, đạo đức và Tổ quốc chung của đồng sinh.

Chiến tranh toàn tuyến 11km năm 1984 đến năm 1990, chính thức Trung Quốc xâm chiếm toàn vùng biên giới Lão Sơn 38 km, từ Tây sông Lô có điểm núi ký hiệu C211 thuộc tỉnh Lào Cai đến Đông sông Lô có núi 1509 thuộc thị trấn Vị Xuyên tỉnh Hà Giang, hai địa danh trên được gọi “cối xay thịt người”, những điểm đỏ còn lại Bộ Tổng tham mưu chỉ huy quân sự của Quân đoàn trong lãnh thổ Việt Nam. Nguồn: Cục bản đồ quân sự Quân Ủy trung ương đảng CS Trung Quốc (CPC). Cung cấp tư liệu: Ký giả Cát Thuần.

Những tư lệnh, tham mưu trưởng của tập đoàn quân sự Trung Cộng phối trí bổ túc chỉ huy, tham chiến tại biên giới cao nguyên Lão Sơn tỉnh Lào Cai và Hà Giang.

Bộ quốc phòng Trung Cộng phối trí lại những tướng lãnh tham chiến tại biên giới Lão Sơn Việt Nam. Nguồn: Quân Ủy trung ương đảng CS Trung Quốc.

Thượng Tướng Trương Chí Tú (張銍秀) cho biết:

‒ Trung Quốc, muốn bóp chết “Đông Dương Liên đoàn”, hoàn toàn không muốn có kẻ thù nào khác, đảng CS Việt Nam không nên tiếp tục chọn trạng thái chiến tranh, như năm 1979 Trung Quốc đã “dạy cho Việt Nam một bài học” và ngày nay 1984 chúng tôi có quyền phản công “tự vệ”.

Trước và sau chiến tranh 1979-1984, Trung Cộng tuyên truyền rộng khắp cả nước, tác động vào lòng tự ái dân tộc Hán, mục đích hướng dẫn người dân đi thẳng đến chiến trường biên giới chỉ để “phản công tự vệ không xâm lược Việt Nam”. Một lần nữa người dân Trung Hoa bị đảng CSTH lừa đảo ” tự vệ không xâm lược Việt Nam”.

Thực chất Trung Cộng xua quân đi xâm lược xứ người, tuyên truyền “tự vệ” hết ngày này qua ngày khác, từ đó ngấm vào máu người dân Hán lúc nào không ai biết, cứ thế làm thân ma, dâng hiến cho Bắc Kinh, Trung Cộng tuyên truyền theo chiến thuật “nước chảy đá mòn” nói mãi rồi ai cũng nghĩ là thật, kể cả sách giáo khoa cũng nhồi sọ học sinh, báo chí hướng dẫn dư luận đi theo con đường Bắc Kinh muốn bành trướng!
Huỳnh Tâm

Advertisements
Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Sự kiện ngày 02/08/1964: Bài học thời sự nóng trên Biển Đông

Sự kiện ngày 02/08/1964: Bài học

thời sự nóng trên Biển Đông

theo Báo Đất Việt | 02/08/2014 08:45

Đừng nghi ngờ Việt Nam có dám đánh hay không dám đánh để bảo vệ chủ quyền mà vấn đề là giới hạn sự chịu đựng của Việt Nam đến đâu.

Đêm 31-7-1964, tàu khu trục USS Maddox của Hải quân Mỹ vượt qua vĩ tuyến 17 và ngược lên phía Bắc, tiến vào vùng biển Quảng Bình, sau đó tiếp tục đi sâu vào vùng biển Nghệ An để điều tra hệ thống bố phòng của Hải quân Việt Nam ở ven biển miền Trung. Tàu USS Maddox có lúc đã vào gần bờ tới 5-6 hải lý khiến cho các đài quan sát có thể nhìn rõ số hiệu 731 qua ống nhòm.

Sáng 1-8, tàu USS Maddox bắn vào Hòn Mê, Đèo Ngang của Việt Nam.

Trước sự ngang ngược, khiêu khích trắng trợn, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam, ngày 2/8/1964, 3 tàu phóng lôi của Hải quân Việt Nam xuất kích tấn công…

Đây là trận hải chiến đầu tiên của Hải quân non trẻ Việt Nam vớiHạm đội 7 Hải quân Mỹ trên Biển Đông.

Kết quả là, sau khi đối đầu với một ý chí quật cường, hành động dũng cảm quyết liệt, quyết tử cho tổ quốc quyết sinh, tàu khu trục USS Maddox đã phải rút chạy ra khỏi vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam.

Và, chiến dịch ném bom của Không quân Mỹ vào miền Bắc Việt Nam, một chiến dịch ném bom hung bạo, ác liệt nhất trong lịch sử, hòng đưa dân tộc Việt trở về “thời kỳ đồ đá” mở màn.

Sự kiện ngày 02/8/1964 nói lên điều gì?

Về so sánh lực lượng: Nếu như nói rằng lúc đó, so sánh về lực lượng không quân và hải quân, Mỹ hùng mạnh như thế nào thì không cần đặt ra con số, chỉ biết rằng, Việt Nam chẳng có gì để so sánh với Mỹ. Vùng trời, vùng biển Việt Nam bị Mỹ khống chế, Mỹ như “múa gậy vườn hoang”.

Về tình thế: Mỹ đã lập sẵn kế hoạch và chuẩn bị đầy đủ mọi cơ sở vật chất, kỹ thuật để ném bom miền Bắc Việt Nam. Vấn đề là cần có cớ để ra tay và tàu khu trục USS Maddox được giao thực hiện nhiệm vụ đó và hành động như đã nói trên.

Quyết định của Việt Nam: Hà Nội quá rõ âm mưu này nhưng vẫn quyết định tấn công vào Maddox. Thực ra, đánh đuổi tàu Maddox ra khỏi vùng biển chủ quyền hay thậm chí đánh chìm nó với Việt Nam không phải là điều gì quá cần kíp, hệ trọng, mang tính sống còn, bởi lẽ, tàu Maddox trong cuộc đối đầu sắp tới của Việt Nam và Mỹ trên bầu trời miền Bắc, chỉ là “con tép riu”, là chuyện nhỏ. Cả miền Bắc Việt Nam phải đối đầu với cuộc tấn công của không lực Mỹ, của hạm đội 7 Hải quân Mỹ mới là hệ trọng, mới là chuyện vô cùng lớn mang tính sống còn.

Việt Nam quyết định tấn công tàu Maddox là vì không thể kéo dài thời gian hòa bình cho miền Bắc được nữa mà buộc phải chấp nhận cuộc đối đầu đó.

Điều rút ra từ quyết định của Việt Nam là, thứ nhất, về quan điểm quân sự, Hải quân Việt Nam dám đánh bất cứ lực lượng Hải quân nào dù về lý thuyết là không ai dám. Thứ hai, về quan điểm chính trị, đụng đến chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ thì dù có bị trở về “thời kỳ đồ đá”, dù phải hy sinh tất cả, dân tộc Việt cũng không bao giờ khuất phục, quyết bảo vệ toàn vẹn giang sơn.

“Dám đánh”, “Không khuất phục trước bất cứ kẻ thù xâm lược nào”…là tính cách, là nét văn hóa, đã trở thành bản chất, truyền thống, gen di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác của dân tộc Việt, quân đội Việt.

Sự chịu đựng của Việt Nam là có giới hạn.

Tình hình Biển Đông thời gian qua và đặc biệt khi Trung Quốc hạ đặtgiàn khoan Hải Dương 981 sâu trong EEZ và thềm lục địa Việt Nam, thì lịch sử có vẻ như lặp lại nhưng hơi trớ trêu khi Mỹ và Trung Quốc đổi vai cho nhau.

Mỹ ủng hộ Việt Nam, yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan trở về nguyên trạng trước ngày 1/5 thì Trung Quốc lại đang thực thi chiến lược “phi quân sự” để xâm hại chủ quyền, quyền chủ quyền biển đảo của Việt Nam với một hành động hung hăng, bất chấp có tính chất khiêu khích trắng trợn, nguy hiểm, trên vùng EEZ sâu trong thềm lục địa Việt Nam.. Sự nguy hiểm đến mức một tính toán sai lầm, thiếu kiềm chế của 2 bên thì sẽ gây ra xung đột quân sự lớn.

Trung Quốc đang “nắn gân” và thử thách quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam.

Thành phần hiếu chiến, “diều hâu” và các học giả quá khích ở Trung Quốc cứ mở miệng là dạy cho nước này, nước kia một bài học, chắc chẳng quan tâm đến sự kiện ngày 02/8 cách đây 50 năm về trước trên vịnh Bắc Bộ. Nên nhớ rằng, sự kiện ngày 02/8/1964 đến nay vẫn tươi nguyên giá trị cho bất cứ kẻ nào có ý đồ xâm lược biển đảo Việt Nam.

Đừng nghi ngờ Việt Nam có dám đánh hay không dám đánh để bảo vệ chủ quyền mà vấn đề là giới hạn của sự chịu đựng Việt Nam đến đâu.

Trong lịch sử giữ nước hiện đại, tính đến thời điểm này, chưa lúc nào dân tộc Việt có một quân đội hùng mạnh như vậy. Đã không còn cảnh “gậy tre, chông tre, chống lại sắt thép của quân thù”. Mặc dù vũ khí hiện đại số lượng không nhiều, nhưng chất lượng và địa thế thuận lợi…quân đội Việt Nam đủ sức đương đầu với kẻ thù xâm lược. Do vậy, nếu phải đánh giặc thì đây là lần đánh giặc “nhàn” nhất trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc.

Dám đánh là quyền tự vệ chính đáng, bắt buộc, của dân tộc trước quân xâm lược. Dám đánh có nghĩa như lời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định rằng, từ “lo sợ” không có trong tư duy quân sự Việt Nam.

Sự chuẩn bị sẵn sàng từ tổ chức, xây dựng, bố trí lực lượng của Quân đội Việt Nam đã chứng tỏ không những Quân đội Việt Nam dám đánh mà còn biết đánh để khiến cho kẻ thù phải trả giá đắt.

Sự giáng trả trực tiếp đòn chiến lược của hạm đội tàu ngầm Việt Nam với kẻ xâm lược là không tránh khỏi.

Sự giáng trả trực tiếp đòn chiến lược của hạm đội tàu ngầm Việt Nam với kẻ xâm lược là không tránh khỏi.

Vậy thì đâu là giới hạn chịu đựng của Việt Nam?

Việt Nam yêu chuộng hòa bình, quyết không bỏ qua một cơ hội hòa bình nào dù là mỏng manh, vì thế, khi quyết tâm xâm lược của kẻ thù không từ bỏ, bóng dáng của chiến tranh hiện hữu khiến không còn một cơ hội nào cho hòa bình, đó chính là giới hạn chịu đựng cuối cùng của Việt Nam.

Sẽ có người đặt ra câu hỏi trong tình hình căng thẳng hiện nay giữa Việt Nam và Trung Quốc thì khi nào Việt Nam “không có một cơ hội nào cho hòa bình”?

Đây là một câu hỏi có tính thời sự mà rất nhiều gười quan tâm, nhưng không đúng đối tượng, bởi lẽ, dân tộc Việt, bao đời nay luôn luôn không biết trả lời cho câu hỏi này. Tại sao ư? Nếu như trước tháng 12 năm 1946, nhiều người hỏi rằng, Việt Nam muốn hòa bình nên đã nhân nhượng, vậy nhân nhượng đến bao giờ? Bằng hành động lấn tới với một quyết tâm xâm lược Việt Nam, thì, “lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời đã chính thức kết thúc sự nhân nhượng. Vậy thì ai trả lời câu hỏi này đã rõ, chính là người Pháp.

Vì thế, câu trả lời này muốn biết thì hãy hỏi nhà cầm quyền Bắc Kinh. Họ sẽ có câu trả lời nếu như quyết tâm chiếm biển đảo của Việt Nam là không thể thay đổi, khi họ đã leo lên nấc thang cuối cùng.

Tất nhiên, quyết tâm xâm lược là một chuyện, kết quả ra sao lại là chuyện khác. Nếu như Thoát Hoan biết phải chui vào ống đồng, Liễu Thăng biết cửa ải Chi Lăng bị rơi đầu…thì chẳng kẻ nào dám quyết tâm xâm lược Việt Nam. Nhưng, đáng tiếc, đó là một căn bệnh di truyền của những kẻ luôn cậy thế hung hăng, ngang ngược rất dễ bị tái phát.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

LỜI THÚ TỘI KINH HOÀNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Friday, August 1, 2014

LỜI THÚ TỘI KINH HOÀNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Từ trái qua phải. Lý Bằng, Giang Trạch Dân (nắm tay Nguyễn Văn Linh), Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng (chắp tay)
Từ trái qua phải. Lý Bằng, Giang Trạch Dân (nắm tay Nguyễn Văn Linh), Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng (chắp tay)
Trúc Giang MN

1* Mở bài

Ngày thứ bảy, 31 tháng 5, 2014 đài BBC đưa tin như sau:
Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam nói quan hệ Việt-Trung vẫn “phát triển tốt đẹp” và so sánh xung đột hiện nay trên Biển Đông với ‘mâu thuẫn gia đình’.

Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh

Ông Thanh nói:”Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi.” (Phùng Quang Thanh)
Ông Thanh ví cuộc tranh chấp như mâu thuẩn trong một gia đình rất đúng. Về mâu thuẩn gia đình thì Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và phái đoàn của đảng CSVN đã xin cho Việt Nam được làm một khu tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương Bắc Kinh, và đã được “Phía Trung Quốc đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để đảng CSVN giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc “gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”. (Hết trích)
Mâu thuẩn trong đại gia đình các dân tộc Trung Quốc là hiện thực, Tây Tạng và Tân Cương là một chứng minh cụ thể.
GS Carl Thayer cho biết: “Giới chức Việt Nam thường có thói quen nói chung chung và không đi vào cụ thể”, do đó ta có thể nhận ra ‘mâu thuẫn gia đình’ nằm trong đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.
“Một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu”. Đó là lời xác nhận của một cán bộ Việt Cộng cao cấp thuộc Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam, Nguyễn Cơ Thạch, Bộ trưởng Ngoại giao, đã tuyên bố sau Hội nghị Thành Đô, Tứ Xuyên năm 1990.
Nguyễn Cơ Thạch tuyên bố như thế thì có thể tin tưởng được Hội nghị Thành Đô đã đưa Việt Nam vào thời kỳ Bắc thuộc. Đó là đại sự của quốc gia cho nên ông không có thể nói chơi cho vui miệng, vì lời nói có ảnh hưởng đến cuộc đời và sự nghiệp chính trị của ông. Bị mất chức.
Bài nầy nêu những bằng chứng cụ thể để chứng minh hoạt động của hai bên Việt-Trung trong chương trình 30 năm về mọi mặt gọi là “đại cuộc”, và ngụy trang bằng cụm từ “16 chữ vàng”
Do kinh nghiệm ở hai khu tự trị Tây Tạng và Tân Cương, chính quyền trung ương ở Bắc Kinh đã kiềm chế CSVN bằng cách đã cấy sinh tử phù và đặt chiếc vòng kim cô lên đầu CSVN cho nên những tên Hán ngụy hiện nay như cá nằm trên thớt, vô phương cục cựa.
Giang Trạch Dân đã cho CSVN thời gian 30 năm để tiến hành sự kiện vĩ đại đối với Việt Nam cho nên gọi đó là “đại cuộc” và việc thực hiện chương trình 30 năm nằm trong khuôn khổ “16 chữ vàng”. Vì thế cứ mỗi lần có tranh chấp thì Bắc Kinh khuyên nhũ Việt Cộng hãy vì “đại cuộc”, và CSVN luôn luôn cam kết thực hiện 16 chữ vàng.
Tuyên bố của Phùng Quang Thanh thật đúng là lời thú tội kinh hoàng đối với người Việt trong nước.
Cho dù Wikileaks không tiết lộ, xem như không có biên bản đó, thì xuyên qua những hành động mà đảng CSVN đã thể hiện và nhiều người đã xác nhận đó là hành động bán nước.
2* Đảng Cộng Sản Việt Nam xin được làm một khu tự trị trực thuộc

Bắc Kinh

Hàng trước từ trái sang: 1) Hoàng Bích Sơn, trưởng ban đối ngoại T.Ư., (3)Phạm Văn Đồng,                          (4) Nguyễn Văn Linh (bên phải Giang Trạch Dân),  5) Giang Trạch Dân (áo xám đứng giữa), 6) Lý Bằng, 7) Đỗ Mười, 9) Hồng Hà (bìa phải)

Wikileaks xác định văn kiện đó là một trong 3,100 bức điện thư lưu trữ tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tài liệu chi tiết như sau:
“Biên bản buổi họp kín giữa Nguyễn Văn Linh , Tổng Bí Thư đảng CSVN, Đỗ Mười, Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng, đại diện phía Việt Nam, và Giang Trạch Dân, TBT/CSTQ, Lý Bằng, Thủ tướng, đã họp 2 ngày từ 3 và 4-9-1990, tại Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc ”.
“Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ Nghĩa Cộng Sản, đảng Cộng Sản và nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung Ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng, Quảng Tây”.
 
“Phía Trung Quốc đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để đảng CSVN “giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc TrungQuốc”. (Hết trích)
 3* Bí mật của chương trình 30 năm sát nhập Việt Nam vào Trung Cộng
Hội nghị tái lập bang giao giữa hai nước được tổ chức công khai vào hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 tại Thành Đô, Tứ Xuyên, nhưng nội dung CSVN xin được sát nhập vào đại gia đình các dân tộc Trung Quốc là bí mật.
Cho mãi đến khi Wikileaks phổ biến tài liệu mật đó thì người Việt ở nước ngoài mới biết đến, nhưng đối với đa số người trong nước thì nó vẫn còn là một bí mật. Vì thế, để lừa bịp nhân dân Việt Nam, chương trình 30 năm mà hai đảng Cộng Sản nầy thực hiện được ngụy trang dưới những từ ngữ mỹ miều như “đại cuộc”, “phương châm 16 chữ vàng”, “hợp tác chiến lược toàn diện”, “Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác toàn diện”…
Những cụm từ nêu trên là cái nhãn hiệu che giấu chương trình 30 năm ở Thành Đô.
Wikileaks không phải là căn bản để đánh giá, nó không phải là bằng chứng, cho nên có nó hay không có nó không quan trọng, mà hành động cụ thể là CSVN thi hành đối với Trung Cộng mới chính là bằng chứng bán nước. Hành động bán nước của đảng CSVN được xác định qua những hành động cụ thể một cách chính thức bằng những văn bản của những tuyên bố chung và hành động mà Đảng CSVN đã làm.
4* Sự ra đời của “16 chữ vàng”
  1. 1. Bước mở đầu
Tháng 11 năm 1991, sau hội nghị Thành Đô, lãnh đạo cao cấp hai đảng, hai nước liên tiếp thăm viếng lẫn nhau. Sự giao lưu, hợp tác giữa hai bên về các lãnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật, văn hoá… được mở rộng, nâng lên tầm cao là bước đầu của việc hội nhập.
Trung Cộng cho biết con đường hợp nhất của hai nước vô cùng thuận lợi vì đó là những đặc thù về địa lý tự nhiên, chế độ chính trị, văn hoá, xã hội và vận mệnh của hai dân tộc, của hai đảng được xem như một.
“Sơn thủy tương liên, Lý tưởng tương thông, Văn hóa tương đồng, Vận mệnh tương quan”
Việt Trung tuy hai mà một, tương nhập là lẻ tất yếu và hợp tình, hợp lý.
4.2. Trung Cộng khởi tạo phương châm 16 chữ vàng
Tiếp tục thúc đẩy tiến trình bí mật 30 năm Thành Đô, Giang Trạch Dân đưa ra chiêu bài để ngụy trang là phương châm 16 chữ vàng. Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu nhất trí ngay và cam kết luôn luôn thực hiện với quyết tâm cao độ để hoàn thành “đại cuộc” đó.
Thế là phương châm 16 chữ vàng ra đời từ đó. Bản tuyên bố chung về 16 chữ vàng chính thức được Giang Trạch Dân và Lê Khả Phiêu ký vào tháng 2 năm 1999.
16 chữ vàng:
Láng giềng hữu nghị (mục lân hữu hảo), hợp tác toàn diện (Toàn diện hợp tác), ổn định lâu dài (Trường kỳ ổn định), hướng tới tương lai (Diện hướng vị lai).
Tháng 11 năm 2000 khi tân Tổng bí thư Nông Đức Mạnh sang diện kiến thì Giang Trạch Dân nhắc đến và nhấn mạnh, phương châm 16 chữ vàng là cái khung chỉ đạo căn bản và nhất quán để Việt Nam phát triển quan hệ với Bắc Kinh. Cũng giống như những người tiền nhiệm, Nông Đức Mạnh hạ quyết tâm thực hiện nội dung của 16 chữ vàng.
5* Thực hiện chương trình 30 năm trên cơ sở 16 chữ vàng
  1. 1. Nội dung chương trình
Chương trình 30 năm Thành Đô được các đời Tổng bí thư CSVN ký kết qua những bản tuyên bố chung về hợp tác toàn diện để Việt Nam hội đủ điều kiện sát nhập vào đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.
Hợp tác toàn diện về các mặt:
  • Việc quản lý đảng, quản lý nhà nước thông qua những cuộc thăm viếng của các lãnh đạo cao cấp hai bên.
  • Giao lưu về các mặt: chính trị, kinh tế thương mại, quân sự, văn hóa, hữu nghị nhân dân…từng bước nâng lên tầm cao mới sẵn sàng cho ý nguyện hội nhập theo tinh thần của hội nghị Thành Đô năm 1990.
  1. 2. Những bước cụ thể đã được thực hiện
  1. 2.1. Hợp tác toàn diện về việc quản lý đảng và quản lý nhà nước
Các lãnh đạo cao cấp của đảng và nhà nước hai bên liên tục có những cuộc viếng thăm quan trọng, không ngừng vun đắp quan hệ hợp tác toàn diện, từng bước nâng lên tầm cao mới để đáp ứng “nguyện vọng của nhân dân hai nước” là hội nhập vào đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.
1). Những lãnh đạo Trung Cộng sang thăm Việt Nam
Từ tháng 11 năm 1992 đến năm 2013 đã có 8 lãnh đạo cao cấp Trung Cộng đến thăm và làm việc với lãnh đạo đảng CSVN.
Thủ tướng Lý Bằng (tháng 11 năm 1992). Chủ tịch Quốc hội Kiều Thạch Đàng (tháng 11, 1994 và tháng 3, 2002). Chủ tịch nước Giang Trạch Dân (tháng 6, 1996). Thủ tướng Chu Dung Cơ (tháng 11, 1996). Thủ tướng Ôn Gia Bảo (tháng 12, 1996).
Từ 31-10 đến 2-11-2005 Hồ Cẩm Đào kinh lý Việt Nam. Đó là chuyến viếng thăm cao cấp nhất, đầy đủ cương vị: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quân ủy TW, là bước ngoặt quan trọng thúc đẩy Việt Nam hội nhập vào Trung Quốc.
Sau đó là viếng thăm của Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Quốc Cường. Ngoài ra còn có nhiều lãnh đạo cấp thấp tới lui rộn rịp.
2). Về phía lãnh đạo Việt Nam sang chầu thiên triều
Tất cả những Tổng bí thư, chủ tịch nước, Chủ tịch quốc hội và thủ tướng đều phải qua diện kiến lãnh đạo Trung Cộng. Tổng bí thư, chủ tịch nước đều phải ký những bản Tuyên bố chung xác định quyết tâm thúc đẩy, hợp tác toàn diện trên phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt mà thực chất là hoàn tất chương trình 30 Thành Đô, sát nhập vào “đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”.
Ngoài những bản tuyên bố chung, Việt Nam bị bắt buộc phải thành lập “Ủy Ban Chỉ Đạo Hợp Tác Toàn Diện” để làm việc một cách cụ thể với Ủy ban Hợp tác Toàn diện của Trung Cộng.

Phiên họp lần thứ tư, phiên họp lần thứ 5 Ủy ban Chỉ đạo Hợp Tác Toàn Diện

Vì sao phải thành lập ủy ban chỉ đạo hợp tác toàn diện? Một quốc gia độc lập chỉ cần xác định chính sách ngoại giao là đủ. Khi cần thì ký những hiệp ước, những thỏa thuận riêng biệt cho mỗi vấn đề.

Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh (phải) và thượng tướng Mã Hiểu Thiên

Việt Trung hợp tác toàn diện về quốc phòng

  1. 2.2. Hợp tác toàn diện về kinh tế với Bắc Kinh
1). Thiết lập những nguyên tắc luật pháp căn bản về kinh tế
Năm 2005, trong số 44 hiệp định và thỏa thuận về kinh tế và thương mại, Việt Nam và Trung Cộng đã có 20 văn bản thỏa thuận làm căn bản pháp lý trong quan hệ giữa Việt Nam với các địa phương bên Trung Cộng. Đó là: Hiệp định thương mại, Hiệp định mua bán vùng biên giới, Hiệp định thành lập Ủy Ban Việt-Trung về kinh tế và thương mại.
Hiệp định giao thông đường sắt cao tốc và đường bộ, đường hàng không để lưu thông hàng hóa giữa địa phương với trung ương Bắc Kinh.
Từ ngày 1-1-2004 Việt Nam và Trung Cộng thực hiện bãi bỏ thuế xuất, nhập khẩu. Các cặp cửa khẩu hai bên đã được khai thông tạo điều kiện cho hàng hoá lưu thông tự do, mở ra một thời kỳ giao lưu hàng hóa không biên giới giữa hai bên.
2). Kinh tế Việt Nam đã lệ thuộc vào chính quyền trung ương Bắc Kinh

Hợp tác toàn diện về kinh tế thương mại

  1. Về đầu tư xây dựng
Nhà thầu Trung Cộng hầu như thắng thầu hầu hết những công trình quan trọng với loại thầu trọn gói EPC, còn gọi là “hợp đồng trọn gói” hay “hợp đồng chìa khoá trao tay”. EPC là Engineering , Procurement and Construction. (Thiết kế, mua sắn, xây dựng).
Hiện nay có 90% gói thầu EPC được giao cho Trung Cộng thực hiện, bao gồm những dự án lớn và quan trọng về năng lượng (nhà máy điện), kim loại, hoá chất…điều nầy cho biết Việt Nam đã lệ thuộc vào Trung Cộng rồi.
b. Trung Cộng chiếm lĩnh thị trường Việt Nam

Tại hầu hết các chợ lớn như Đồng Xuân, chợ Hôm, chợ Ngã Tư Sở, chợ Xanh, chợ Long Biên, chợ Ninh Hiệp… tràn lan các mặt hàng Trung Quốc

Hàng hóa độc hại Trung Quốc chiếm lĩnh thị trường Việt Nam

Thương lái Trung Cộng xâm nhập vào các vùng sâu, dùng thủ thuật giá, mua những thứ như cây tràm cỗ ở Quảng Ngãi, và những thứ không biết để làm gì, nhưng đã để lại những tác hại vô cùng to lớn. Đó là đánh phá thị trường VN.
Nông sản, thực phẩm, hàng công nghiệp giá rẻ, mà không được kiểm soát về chất lượng, vệ sinh, an toàn, thậm chí có những mặt hàng Trung Cộng mà dán nhãn sản xuất ở VN. Nhiều trường hợp dán cờ Trung Cộng trên các sản phẩm bày bán ở các siêu thị VN.
Hàng hóa rẻ tiền của Trung Cộng chiếm lĩnh thị trường Việt Nam, giết chết các công ty trung bình và nhỏ trong nước, đưa đến công nhân thất nghiệp.
  1. Nhập siêu của Việt Nam chứng tỏ lệ thuộc kinh tế
Năm 2013, Việt Nam nhập khẩu hàng hóa Trung Cộng (TC)  36tỷ 960 triệu USD, trong khi đó xuất khẩu chỉ có 13tỷ 960 triệu USD. Đó là nhập siêu. Sự chênh lệch về cán cân mậu dịch nầy khiến cho VN phụ thuộc vào TC.
TS Lê Đăng Doanh nêu nhận xét: “Mức nhập siêu to lớn nầy gây sức ép rất nặng khiến cho VN phụ thuộc vào TC: mất ngoại tệ, mất thị trường trong nước, công nhân mất việc. Khi người dân mua hàng hóa TC đồng nghĩa với việc trả lương cho công nhân nước nầy”.
  1. 2.3. Hợp tác toàn diện về văn hóa giáo dục
          1). Việt Nam cam kết giáo dục nhân dân về 16 chữ vàng và 4 tốt
Ngày 21-2-2013, Nguyễn Thiện Nhân, ủy viên BCT dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao sang Bắc Kinh. Hai bên đã ký một thỏa thuận hợp tác toàn diện cho giai đoạn 5 năm từ 2014-2019.
Nguyễn Thiện Nhân, cựu Bộ trưởng Bộ Giáo dục, cam kết, với tư cách Chủ tịch Ủy ban Trung Ương Mặt Trận Tổ quốc VN (MT/TQ/VN), ông sẽ vận động quần chúng nhân dân thực hiện tốt 16 chữ vàng và 4 tốt để hoàn thành tốt thoả thuận của hai bên từ khi bình thường hóa năm 1990. Ông Nhân cho biết MT/TQ/VN sẽ triển khai chức năng và nhiệm vụ mới trong Hiến pháp 2013 là “giám sát phản biện xã hội” để tăng cường hiểu biết của nhân dân Việt Nam với nhân dân Trung Quốc.
Việt Nam sẽ thực hiện Cung Văn hoá Việt-Trung tại Hà Nội. Trong 15 năm, kể từ 2005 Việt Nam đã cử hơn 100 đoàn đại biểu văn hóa trên các lãnh vực: báo chí, âm nhạc, điện ảnh, kịch nghệ, truyền hình sang tham quan học hỏi và trình diễn ở Bắc Kinh.
2). Giáo dục thanh niên

Chủ tịch Ủy ban TƯ MTTQ Việt Nam (Nguyễn Thiện Nhân) và Bí thư Thứ nhất TƯ Đoàn Đoàn    TNCS Hồ Chí Minh Nguyễn Đắc Vinh giao lưu với các đại biểu thanh niên hai nước

1 2
Hữu nghị giữa hai đoàn thanh niên khu tự trị VN & Trung Quốc
Theo một hiệp định, mỗi năm Trung Cộng cấp 130 suất học bổng cho sinh viên VN, đồng thời VN chỉ cấp 15 học bổng cho sinh viên Trung Cộng, có nghĩa là Bắc Kinh đào tạo cán bộ tương lai cho họ.
Việt Nam đưa những đoàn thanh niên sang thăm viếng, hợp tác hữu nghị với thanh niên sắc tộc của các khu tự trị. Nổi bật nhất là Liên hoan thanh niên VN-TQ được tổ chức vào ngày 26-11-2013, 3,000 thanh niên do Nguyễn Thiện Nhân hướng dẫn tham dự liên hoan. Trong diễn văn, ông Nhân cho biết: “Đây là dịp để thế hệ trẻ hai nước kết chặt quan hệ hai đảng, hai nước, không ngừng đơm hoa kết trái, vun đắp tình hữu nghị của hai dân tộc”.
Định hướng dư luận, Lập Viện Khổng Tử, nằm trong hợp tác văn hoá giáo dục cho thanh niên.
16 chữ vàng và 4 tốt là chiêu bài ngụy trang cho chương trình 30 năm để VN hội nhập vào đại gia đình các dân tộc Trung Quốc, nói thẳng ra là chương trình bán nước của đảng CSVN.
  1. 2.4. Trung Cộng di dân vào Việt Nam
Bọn Tàu khựa vào Việt Nam không cần Visa nhập cảnh, nên tự do đi luông tuồng như đi vào Tây Tạng, Tân Cương, Mãn Châu, Nội Mông. Bọn họ đã có mặt trên khắp hang cùng ngỏ hẻm của đất nước Việt Nam. Trong 65 khu chế xuất, khu công nghiệp, không nơi nào vắng bóng người Hoa cả.
Chúng chiếm đóng các vị trí chiến lược, từ việc thuê đất 306,000  hecta trong 50 năm với giá rẻ mạt ở biên giới phía Bắc, từ Bauxite Tây Nguyên đến Cà Mau, có thể thành lập nhiều sư đoàn của đạo quân thứ năm với những công nhân, mà thực chất là binh sĩ, tình báo, đặc công. Họ nắm trong tay những bản đồ vị trí các nhà máy điện, nhà máy quốc phòng, cơ xưởng…
Những người di dân tạo lập thành những khu riêng biệt của người Hoa mà công an Việt Nam không được vào đó để kiểm soát.
1). Khu phố Tàu Bình Dương

Trung tâm thương mại Đông Đô Đại Phố (Chữ Tàu trên cổng vào)

Tờ Việt Báo tại hải ngoại có bài viết tựa đề: “Cờ Trung Quốc treo rợp Bình Dương: Dân Việt có nguy cơ mất đất”
Theo bài báo thì “Cờ Trung Cộng treo tưng bừng tại Bỉnh Dương để mừng Quốc Khánh lần thứ 90 của Trung Cộng bởi vì người Hoa đang cư ngụ đông đảo ở Phố Tàu nơi đây.
Một bài viết có tựa đề “Phố người Hoa, Rừng người Hoa, sòng bạc người Hoa,…và người Hoa” còn đưa ra quan ngại rằng “trong một tương lai không xa, con cháu người VN sẽ không còn được sống trên quê hương mình”.
Bài báo viết tiếp:
“Sau Casino của người Hoa ở Đà Nẳng chỉ dành cho người nước ngoài, lại đến khu phố dành riêng cho người Hoa ở Bình Dương, nơi mà người Việt cũng không được bén mảng tới. Vậy trong tương lai, người Việt sẽ chỉ được sử dụng một phạm vi bao nhiêu bởi vì, biển, rừng, đô thị đều có bóng dáng của người Hoa.
Phố Tàu là khu vực riêng biệt của cộng đồng người Hoa, người Việt khó chen chân vào. Phố Tàu ở Bình Dương mang tên Trung Tâm Thương Mại Đông Đô Đại Phố, trong đó có một trường Đại học quốc tế Miền Đông, một bịnh viện 1,000 giường, một khu phức hợp: thể thao, hội nghị, tiệc cưới, một sân golf, các cửa hiệu thương mại và một khu giải trí.
Bọn Tàu khựa sinh hoạt theo phong tục tập quán của họ và luật pháp Việt Nam bị bỏ ra ngoài. Nhân viên công lực VN không được vào kiểm tra cần thiết để nắm quyền kiểm soát khu vực.
Ngay cả nghĩa địa người Hoa ở Việt Nam cũng là một khu vực riêng biệt bất khả xâm phạm. Vậy hỏi quyền lực quốc gia còn đâu nữa?
6* Những bản tuyên bố chung của lãnh đạo CSVN
  1. 1. Thỏa thuận 4 điểm của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh
Ngày 22-8-2006, Nông Đức Mạnh sang Bắc Kinh thúc đẩy tăng cường quan hệ toàn diện và nhất trí với Hồ Cẩm Đào 4 khía cạnh:
Thứ nhất. Lãnh đạo cao cấp hai bên phải duy trì “quan hệ gần gũi” thông qua những cuộc viếng thăm cấp cao.
Thứ hai. Quan hệ kinh tế thương mại phải được nâng lên nấc thang cao mới, cụ thể hơn.
Thứ ba. Vấn đề lãnh thổ phải luôn luôn đạt được “sự đồng thuận”, bảo đảm ổn định lâu dài. (Nếu đồng thuận thì ổn định)
Thứ tư. Hai bên thống nhất về chính sách ngoại giao, quốc phòng để có nền tảng phát triển bền vững và hữu nghị.
Năm 2009, tỉnh Hải Nam và Việt Nam nhất trí hợp tác toàn diện về chiến lược quân sự.
 (Tại sao một quốc gia lại phải hợp tác với một tỉnh của quốc gia khác?)
  1. 2. Bản tuyên bố chung của Nguyễn Phú Trọng và Hồ Cẩm Đào ngày 15-10-2011
  2. Hai bên đã thông báo cho nhau về tình hình mỗi Đảng, mỗi nước.
  3. Phía Việt Nam nhiệt liệt chúc mừng 90 năm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc vui mừng trước những thành tựu mang tính lịch sử dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
  4. Hai bên đã nhìn lại và tổng kết 20 năm kể từ khi bình thường hóa quan hệ (1990), khẳng định tình hữu nghị đời đời Việt-Trung là tài sản quý báu chung của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, cần được không ngừng củng cố, phát triển, truyền mãi cho các thế hệ mai sau.( Thôn tính tương lai)
  5. 3. Bản tuyên bố chung của Trương Tấn Sang
Trong bản tuyên bố chung ngày 21-6-2013 được ký bởi Trương Tấn Sang và Tập Cận Bình, có đoạn ghi như sau:
Dân sự: Đào tạo nhân dân, văn hóa, giáo dục, y tế, sản xuất, chế biến. Khai thác lãnh thổ, lãnh hải, đất liền, biên giới, cửa khẩu, biển Đông, rừng núi, đầu tư, khoa học, công nghệ, kinh tế, thương mại, môi trường, nông nghiệp, ngư nghiệp, dầu khí, giao thông, vận tải và du lịch.
Chính trị: Xây dựng nguồn máy đảng, và nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tham vấn chính phủ, ban tuyên giáo, ban đối ngoại trung ương, ban lý luận, đào tạo hữu nghị quân, dân, cán chính cao cấp.
Quân sự: Quân đội, quốc phòng, khí tài, an ninh, ngoại giao.
Kế hoạch toàn diện qui định mỗi bộ phận đặt đường dây nóng tự quản và kết nối quản trị Bắc Kinh.
(Đường dây nóng tự quản với Bắc Kinh là nhận lịnh trực tiếp từ chính quyền trung ương ở Bắc Kinh)
Ngoài ra, đảng CS và nhà nước Việt Nam, ưu tiên để 4 tỉnh phía Nam Trung Quốc, như Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam được hưởng đặc quyền khai thác toàn diện trên 7 tỉnh biên giới của Việt Nam, như Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh. Người Trung Quốc được hưởng qui chế “bất xâm phạm” từ khi có mặt tại Việt Nam để thi hành công tác khai thác toàn diện trên lưng người Việt Nam.
“Hai bên nhất trí tăng cường hơn nữa sự hợp tác giữa các tỉnh, khu vực của hai nước, nhất là giữa 7 tỉnh của Việt Nam: Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, hợp tác toàn diện với 4 khu tự trị của Trung Quốc gồm có: Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Vân Nam”.
Trước hết Trung Cộng muốn Việt Nam hội nhập với 4 khu tự trị để trở thành 5 khu tự trị gồm có: Mãn, Tạng, Hồi, Mông và khu tự trị mới là Việt Nam. Và cờ Trung Cộng trở thành 6 ngôi sao mà VN đã dùng để chào mừng Tập Cận Bình vừa qua.
Thực tế là chỉ có 3 tỉnh của Trung Cộng mà đòi hợp tác toàn diện với 7 tỉnh Việt Nam, tạo điều kiện dễ dàng và hợp pháp cho thương lái, nhân viên Trung Cộng được đi khắp mọi nơi để nắm tình hình các mặt, biết rõ địa hình địa vật, đường đi lối về, tài nguyên, khoáng sản, đặc sản để khi cần thì xử dụng.
Trên Facebook, nhà bình luận Trần Trung Đạo nêu nhận xét như sau: “Đọc bản tuyên bố chung mới thấy số phận chùm gởi của CSVN phụ thuộc sâu xa vào cây cổ thụ già Cộng Sản Trung Quốc đến mức độ nào. Sự khiếp nhược và ươn hèn thể hiện rõ đến mức chỉ trong một văn bản 8 điểm mà có tổng cộng 29 lần “nhất trí”.
7* Cộng Sản Việt Nam bị cấy sinh tử phù
Trung Cộng đang nắm trong tay những con bài tẩy bằng văn bản chính thức đã được các lãnh đạo CSVN ký và cam kết thi hành. Công hàm bán nước Phạm Văn Đồng chỉ là con bài thứ nhất mà thôi. Những lá bài khác như biên bản bí mật ở Thành Đô năm 1990 và những bản tuyên bố chung đã được ký kết như đã nêu trên.
Thiên la địa võng đã bày ra để khống chế và trừng trị Hán ngụy Việt Nam nếu phản chủ. Các vị trí chiến lược chủ yếu như rừng đầu nguồn, Lào, Campuchia, Tây Nguyên, hệ thống giao thông cao tốc xuyên Việt…và những sư đoàn của đạo quân thứ năm dưới lớp áo công nhân, thương nhân…khiến cho số phận của lãnh đạo CSVN thê thảm như con cá nằm trên tấm thớt của Trung Cộng.
Khi Tập Cận Bình niệm thần chú thì bộ tứ “hùng dũng sang trọng” vừa ôm đầu vừa gật đầu lia lịa.
8* Vì sao Trung Cộng không muốn đưa nội vụ ra tòa án quốc tế?
Ngày 2-6-2014 báo South China Morning Post tường thuật rằng ngày 1-6-2014 Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh cho biết Hà Nội vẫn chưa quyết định bao giờ sẽ yêu cầu toà án trọng tài quốc tế phân xử tranh chấp, nhưng nói đó là tùy thuộc vào hành động của Trung Quốc.
Trước đó, Nguyễn Tấn Dũng cũng cho biết là VN đã chuẩn bị bằng chứng cho hồ sơ pháp lý nầy, nhưng mọi việc sẽ do Bộ Chính Trị quyết định.
Ông Trần Công Trục, nguyên Trưởng Ban Biên giới Chính phủ lại lên tiếng là kiện chẳng ăn thua gì.
Có thể dùng câu “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm” để biết bản chất của CSVN trong vấn đề nầy.
Vì sao Trung Cộng không muốn nội vụ được đưa ra toà án quốc tế?
Không phải TC sợ bị thua kiện, vì họ đã có khả năng vô hiệu hóa vụ kiện 100% bởi quyền phủ quyết ở HĐ/BA/LHQ, mà cũng không phải vì Trung Cộng sợ dư luận quốc tế, vì nếu sợ thì đã không làm ngang tàng như thế..
Điều mà Trung Cộng mong muốn là “những mâu thuẩn trong gia đình” phải để gia đình giải quyết. Tập quán Á Đông là nếu đưa chuyện nội bộ gia đình ra ngoài thì chẳng khác gì “vạch áo cho người xem lưng”. Điều Trung Cộng muốn là Việt Nam phải là một trong đại gia đình các dân tộc Trung Quốc mà Nguyễn Văn Linh đã lặn lội từ Hà Nội đến Thành Đô để thỉnh cầu hồi năm 1990.
Đây là phép thử, xem CSVN có đủ can đảm để thoát ra đại gia đình các dân tộc TQ đó không?
Nếu quan sát kỹ những tuyên bố của Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Chí Vịnh và Trần Công Trục nêu trên, thì có thể đoán được lãnh đạo CSVN vẫn còn hèn nhát, vì không dám phản chủ, nên chỉ dám nói mà không dám làm. Hơn nữa Việt Cộng đã bị cấy sinh tử phù và niền chiếc vòng kim cô lên đầu rồi thì chẳng còn hành động can đảm nào nữa cả.
Hãy chờ xem!
9* Kết luận
Giả sử như Wikileaks không tiết lộ biên bản bí mật ở hội nghi Thành Đô năm 1990, hoặc xem như không có nó, thì những hành động của đảng CSVN cũng đã bị lên án là bán nước, hèn nhát vì đã đặt đất nước, dân tộc Việt Nam dưới tay bọn Trung Cộng. Sự thật hiển nhiên đó không thể chối cãi được.
Việt Nam đã lệ thuộc vào Trung Cộng từ lâu rồi. Ông Vương Gia Thụy, Trưởng ban Đối ngoại Trung Cộng, đã nêu những bằng chứng cho thấy Việt Nam đã được sát nhập vào Trung Cộng, như sau: “Việt Nam và Trung Quốc đã hợp tác chiến lược toàn diện. Cơ chế xã hội giống hệt nhau. Con đường phát triển tương tự như một. Quan hệ hai nhà nước ổn định và cùng một mục đích phát triển chấn hưng sự nghiệp Xã Hội Chủ Nghĩa”.
Đảng CSVN là tội đồ của dân tộc. Hãy đối chiếu với di chúc của vua Trần Nhân Tông thì thấy rõ ngay. Nhà vua di chúc: “Cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không để lọt vào tay kẻ khác. Ta để lời nhắn nhũ nầy như là một lời di chúc cho muôn đời con cháu về sau” (Vua Trần Nhân Tông)
“Các vua Hùng có công dựng nước. Đức Trần Hưng Đạo có công giữ nước để bác cháu ta tha hồ bán nước!”.
Trúc Giang
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Lịch Sử PG Hòa Hảo

Lịch Sử PG Hòa Hảo

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Fb Trần Huỳnh Duy Thức – Nhà hoạt động từ thiện và tôn giáo Mai Thị Dung, một nông dân cắt lúa, sinh năm 1969, đang tiếp tục bị hành hạ trong tù khi thụ án 11 năm sau 2 lần bị kết án.
Cùng chồng là ông Võ Văn Bửu, bà Mai Thị Dung – tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo – đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình, tuyệt thực cho các tín hữu đồng đạo, phản đối nhà cầm quyền CSVN tịch thu các cơ sở giáo hội và đàn áp tự do tôn giáo.
Bất chấp gia đình có hai người con dưới tuổi thành niên, ngày 5 tháng 8 năm 2005, công an Việt Nam bắt giữ cả hai vợ chồng Mai Thi Dung và Võ Văn Bửu. Ngày 19 tháng 9 năm 2005, Tòa án tỉnh An Giang kết án bà Mai Thị Dung 6 năm tù và chồng bà 7 năm vì tội “gây rối trật tự công cộng”. Trước đó không lâu, ông Võ Văn Bửu vừa mãn hạn tù 3 năm cũng vì tội danh tương tự.
Trong tù, bà Mai Thị Dung kiên trì tổ chức các lễ Phật. Vì lẽ đó, ngày 22 tháng 7 năm 2008, nhà cầm quyền đã phạt thêm 5 năm tù về tội “chống đối nhân viên công lực”, nâng tổng án tù mà bà Dung phải chịu lên 11 năm.
Suốt thời gian ở tù, mặc dù bệnh nặng, bà Mai Thị Dung luôn bị hành hạ, bị cấm nói chuyện với các tù nhân – bởi thái độ bất hợp tác với cai tù trong việc “ký biên bản nhận tội”. Bà từng tuyệt thực trong tù để phản đối ngược đãi và yêu cầu được đưa đi điều trị. Chỉ một ngày sau khi bà tuyệt thực, hôm mùng 2 tháng 10 năm 2013, từ trại giam Xuân Lộc – Đồng Nai, bà bị chuyển ra Bắc cùng với một tù nhân lương tâm khác vừa được trả tự do là Đỗ thị Minh Hạnh trên quãng đường 1700 km với chân tay bị xích còng nên đã nhiều lần ngất xỉu trong xe thùng bịt kín.
Hiện bà đang bị giam tại Phân trại 3 Thanh Xuân, xã Mỹ Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Nội với tình trạng sức khỏe nguy kịch trong điều kiện tù khắc nghiệt. Bà mắc nhiều chứng bệnh tim, gan, mật, dạ dày, chỉ có thể di chuyển bằng cách bò lê trên nền sàn vì không thể đứng vững – theo những gì chồng bà chứng kiến trong lần thăm cuối năm 2013. Ông Võ Văn Bửu đã ra tù vào tháng 8 năm 2012, sau khi đã thi hành án 7 năm tù giam.
Nhà cầm quyền Việt Nam xem Phật Giáo Hòa Hảo là kẻ thù. Phần lớn các hoạt động của giáo hội phải thực hiện bí mật. Nếu không, luôn có đông đảo an ninh chìm nổi theo dõi, bao vây, phá rối để có cớ bắt bớ những người tham gia lễ lạc.
11 tháng 7 năm 2014
 
Vietnam Human Rights News
vietnamhumanrightsnews@gmail.com
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Post navigation

Leave a Reply

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

ĐỨC THẦY LÂM NẠN TẠI ĐỐC-VÀNG

ĐỨC THẦY LÂM NẠN TẠI ĐỐC-VÀNG

LONG XUYÊN ngày 21 tháng 3 năm 1865

(20/03/2011) (Xem: 14308)

 

Kính gởi Ông NGÔ-XUÂN và Quí vị Đồng Bào Thủ Đô

 

SAIGON

 

Kính thưa Ông cùng Quý-vị,

 

Tiếp nhận được thơ ông cùng quý vị gởi đến tôi đề ngày 29 tháng 3 năm 1965 vào lúc 14 giờ

 

Vội biên thư hồi đáp cho ông cùng quý vị để tường:

 

Muốn đáp lại những thạnh tình chiếu cố ấy, mặc dù tôi rất kém khả năng hiểu biết nhưng, đứng về cương vị một môn-nhơn đệ tử của Đức Huỳnh Giáo Chủ thì nhiều hay ít cũng am tường về giáo lý của Ngài.

 

Trân trọng xin hồi đáp cùng quý vị, với phạm vi hiểu biết của tôi, còn những điều cao siêu thì xin nhường lời cho các bậc cao minh giảng giải. Riêng tôi có vài lời thiện cảm sau đây, dù không được thỏa mãn, kính mong quý vị niệm tình tha thứ.

 

–        Hỏi: Tại sao có danh từ Phật-Giáo Hòa-Hảo?

 

–        Đáp: Thưa quý vị, trải qua những năm tìm tòi học đạo, chính tôi đã thường nghe Đức Thầy tôi có giải đáp trong những khi thuyết pháp vào lúc mà Đức Thầy tôi thực hiện trong lời sấm tiên tri: “Chừng ơn trên ban bố lục thông Thầy sẽ được Tây Đông du thuyết”.

 

Quả thật như lời đúng vào năm 1945 Đức Thầy tôi có dịp đi du thuyết (khuyến nông) khắp 21 tỉnh, thì cũng có nhiều đồng bào chất vấn giống như những câu hỏi của quý vị đấy?

 

Vậy xin mạng phép dựa vào những câu giải đáp của Đức Thầy tôi và luôn tiện ghi lại nơi đây để ông cùng quý vị rõ:

 

“Phật Giáo là giáo pháp của nhà Phật, mà tôi là đệ tử trung thành của Đức Phật Thích Ca mâu ni, còn Hòa Hảo là danh từ quê hương của tôi. (Lời Đức Thầy)

 

Sau đây tôi xin phụ họa với ý nghĩa mà không ngoài giáo pháp của Đức Thầy tôi đã truyền dạy, trong 14 giòng khoáng thủ theo lối văn bát ngôn trường thiêng.

 

PHẬT vốn tánh từ bi vô lượng chí

GIÁO pháp khai nhiệm lý khắp nhơn gian

HÓA đồng trong sanh chúng hiệp nhứt tràng

HẢO ý nguyện vạn ban giai hướng thiện

LÀ sứ mệnh thừa vâng nơi Kim-điện

DANH một đời bốn biển lẫn sơn thanh

TỪ khởi nguyên căn thiện sẵn trời danh

QUÊ quán cổ kim sanh miền Linh-Địa

HƯƠNG xuất hiện thơm mùi Trung-Tín-Nghĩa

CỦA Tiên Rồng trau trỉa được nên công

ĐỨC cao siêu ban rãi thuận muôn lòng

HUỲNH đạt đạo lục thông tri tiền hậu

GIÁO thọ sắc Thế-Tôn, lời nguyền tấu

CHỦ tâm thành roi dấu Vình Trường Miên.

 

Kính thưa Ông cùng Quý vị,

 

Còn những điểm như: Mục-đích, Tôn-chỉ, thân thế và cách hành đạo của Đức Thầy tôi thì xin hẹn lại cùng quý vị, tôi sẽ hồi đáp trong tập sắp xuất bản của tực đề là “TÌM HIỂU GIÁO LÝ PHẬT GIÁO HÒA HẢO” chắc chắn quý vị sẽ được hài lòng.

 

Trước khi gác bút, và không còn lời lẽ cho hơn để được đáp tạ với nhân tình cao quí của quí vị cho vừa.

 

Nơi đây tôi chỉ đặt cả tâm thành khẩn nguyện Đức Phật Từ Bi gia hộ cho toàn thể quý vị cùng bửu quyến cũng như tất cả nhơn gian đều được hưởng mọi phước lành, để gọi lòng thiện cảm giữa tôi cùng quý vị.

 

Trân trọng kính chào

 

LÊ-THÀNH-LẠC

Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Post navigation

Leave a Reply

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Chương 2: Pháp Xâm Lược Và Cuộc Kháng Chiến Của Dân Tộc Vn

Chương 2: Pháp Xâm Lược Và Cuộc Kháng Chiến Của Dân Tộc Vn

(Xem: 93347)
  • Vài Nét Về Tác Giả – Nguyễn Long Thành Nam
  • PHẦN I: BỐI CẢNH LỊCH SỬ
  • PHẦN II BỬU SƠN KỲ HƯƠNG
  • PHẦN III : PHẬT GIÁO HÒA HẢO
  • PHẦN IV : PHẬT GIÁO HÒA HẢO VÀ CÁCH MẠNG
  • PHẦN V: SAU KHI ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ RA ĐI
  • PHẦN VI: CÁC CHẾ ĐỘ VIỆT NAM ĐỐI VỚI PGHH
  • PHỤ LỤC I
  • PHỤ LỤC II
Tiến trình Tây phương xâm nhập Ðông phương có thể xem là khởi đầu từ chuyến đi phương Ðông của Marco Polo (1275-1292). Tây phương sang Ðông phương trước hết là các giáo sĩ với mục đích truyền đạo. Sau đó là các tổ hợp tư bản đến với mục đích trục lợi thương mại. Vào cuối thế kỷ 18, các đế quốc Tây phương tranh giành lẫn nhau để chiếm thuộc địa. Ngọn gió thổi từ Tây phương đến Ðông phương đã đem vào Á Châu luồng văn minh duy lý và cơ khí, tạo những thay đổi lớn lao về văn hóa, kinh tế và xã hội tại khu vực này.Tiếng đại bác đầu tiên của hai chiến hạm Pháp là La Gloire và La Victorieuse bắn vào lãnh thổ Việt Nam (Ðà Nẵng) năm 1847, báo hiệu ý đồ thực dân xâm lược của đế quốc Pháp, dùng quân lực đánh chiếm Ðông Dương, song hành với hành động tương tự của các đế quốc Tây phương khác: Anh, Hòa Lan, Bồ Ðào Nha, Y Pha Nho, tại Á Châu. Lúc đó là năm thứ 7 triều vua Thiệu Trị, cũng là năm đầu tiên triều vua Tự Ðức, 800 quả đạn đại bác đã làm thiệt hại mấy ngàn sinh mạng Việt Nam, mở đầu cho một giai đoạn rất nhiều bi thương của dân tộc này.

Vì những khó khăn nội bộ của nước Pháp, cho nên mãi đến năm 1856, Hoàng đế Nã Phá Luân III mới lấy quyết định thực sự cử binh đánh chiếm Việt Nam. Ngày 26-9-1856, chiến hạm Catinat nã đại bác vào Ðà Nẵng. Chiến thuật xâm lược của Pháp nhằm chiếm lấy miền Nam trước hết, để làm đầu cầu quân sự chính trị tiến dần ra Bắc, Trung Việt, Cao Miên và Ai Lao, bằng ngoại giao, quân sự nhưng chính yếu là sức mạnh của quân đội. Năm 1862, quân Pháp chiếm xong ba tỉnh miền Ðông, và đến 1867 chiếm thêm ba tỉnh miền Tây Nam Việt, rồi sau đó tiến ra miền Bắc. Cuộc xâm lăng này hoàn thành năm 1887, sau khi Pháp đã dàn xếp với Trung Hoa, ký kết hiệp ước Thiên Tân giữa Patenôtre và Lý Hồng Chương 27-4-1885, theo đó Trung Hoa công nhận cuộc bảo hộ của nước Pháp tại Việt Nam (*) .

Tuy rằng quân Pháp đã chiếm được toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, nhưng đó không phải là một cuộc xâm lược dễ dàng. Quân đội Pháp tuy hùng hậu và có ưu thế võ khí, nhưng đã phải chịu rất nhiều thiệt hại để đối phó với sức đề kháng mãnh liệt và dẻo dai của quân và dân Việt Nam, ròng rã suốt ba mươi năm, từ 1860 đến 1887. Ấy là chưa kể nỗ lực ngoại giao của Pháp thỏa hiệp quyền lợi với triều đình Mãn Thanh qua hiệp ước Thiên Tân, nhằm tạo tình trạng hòa hoãn với Trung Quốc, để khỏi phải bận tâm đến sự can thiệp của Trung Quốc, mà dồn nỗ lực vào hành động quân sự đánh chiếm Việt Nam.

Năm 1887 là thời điểm mà quân Pháp cho là đã hoàn thành cuộc xâm lược quân sự tại Việt Nam, và cũng năm đó Pháp thực hiện công cuộc thống nhứt bộ máy cai trị thuộc địa, đặt viên toàn quyền đầu tiên điều khiển bộ máy thống trị Ðông Dương. Tuy nhiên, sự đề kháng của dân tộc Việt Nam không chấm dứt ở thời điểm 1887, mà còn tiếp tục suốt từ đó cho đến khi Pháp phải chính thức ra đi, rời khỏi vị trí quyền lực tại Việt Nam, năm 1956.

Ðây là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, người Việt Nam không chấp nhận uy quyền thống trị của thực dân Pháp, đã kết thành những phong trào liên tục tranh đấu đòi lại chủ quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam.

Trong lịch sử nhơn loại, những cuộc xâm chiếm thuộc địa thường dễ dàng thành công ở giai đoạn đầu, giai đoạn đánh chiếm bằng quân sự, nhưng lại gặp nhiều khó khăn chật vật ở giai đoạn sau. Ðó là giai đoạn đề kháng văn hóa của dân tộc bị trị đối phó với ngoại bang thống trị. Tiến trình xâm chiếm và thống trị của Pháp tại Việt Nam, cũng không thoát khỏi quy luật lịch sử đó.

Giai đoạn đầu, với khoa học chiến tranh tiến bộ và võ khí tân tiến của thế kỷ 19, quân đội Pháp đã có ưu thế để chiến thắng tại Việt Nam. Quân lực của triều đình và của các tổ chức nhân dân võ trang kháng chiến, tuy chiến đấu dũng cảm, hy sinh cao độ, với lòng yêu nước nhiệt thành, nhưng vì yếu thế về võ khí, và chưa có kiến thức mới để ứng phó hữu hiệu với khoa học chiến tranh cơ giới của Tây phương, cho nên rốt cuộc đã phải thất bại về quân sự.

Sau cuộc trường kỳ kháng chiến gần 40 năm (1856-1895), tuy rằng các phong trào kháng chiến võ trang còn hoạt động lẻ tẻ ở các địa phương, quân đội Pháp đã làm chủ được tình hình quân sự trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. (Ghi chú: 1856 chiến hạm Pháp bắn vào Ðà Nẵng, và 1895, phong trào văn thân kháng chiến Phan Ðình Phùng tan rã).

Sau giai đoạn chiến thắng quân sự, bộ máy thống trị Pháp tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn phức tạp hơn trong việc đối phó với cuộc đề kháng muôn hình vạn trạng, không công khai, không chiến lũy, mà âm thầm, kín đáo, bí mật, bền bỉ dẻo dai, diễn ra thường trực trong tâm lý và thái độ của người dân Việt. Tinh thần ái quốc, khát vọng tự do, ý thức độc lập thấm nhuần sâu xa trong tâm hồn người dân Việt từ mấy ngàn năm lịch sử, không thể nào bị dập tắt hay bóp chết một cách dễ dàng giống như sự chiến thắng của một quân đội mạnh đối với một quân lực yếu thế. Sức mạnh vật chất không thể tiêu diệt được những tình cảm phi vật chất. Cố nhiên, khi Pháp dùng võ lực, nhà tù, luật lệ khắc nghiệt, khủng bố đàn áp để đối phó, thì người Việt phải lui bước trước sức mạnh. Nhưng đó chỉ là bước lui tạm thời, để khi có cơ hội nào đó, một biến cố xảy ra, là lập tức tiềm lực đề kháng lại bộc phát nổ bùng mãnh liệt, không lường trước được.

1- PHONG TRÀO VĂN THÂN CẦN VƯƠNG KHÁNG PHÁP

Các tổ chức kháng Pháp phát sanh trước hết tại Nam Việt, ngay từ lúc quân đội xâm lược Pháp đặt chân lên lãnh thổ Việt Nam năm 1860. Phong trào phát khởi tại miền Ðông, sau đó lan rộng khắp Nam Việt rồi khắp nước Việt Nam. Ðó là phản ứng chung của dân tộc chống ngoại xâm, hễ quân Pháp chiếm cứ nơi nào, là tổ chức kháng Pháp lập tức phát sanh tại nơi đó.

Ðặc tính căn bản chung của các phong trào này là Văn thân Cần Vương. Nghĩa là các tổ chức kháng Pháp được lãnh đạo bởi giới Văn thân, tức giới Sĩ phu Nho học đã từng đóng vai trò lãnh đạo hướng dẫn quần chúng. Giới sĩ phu quy tụ dân chúng nổi dậy đánh Pháp để phục hồi uy quyền triều đình, tức là nhà vua Việt Nam (cần vương). Về mặt tư tưởng, giới sĩ phu thấm nhuần Nho giáo, đặt mối tương quan quân thần lên trên hết (Tam cương: Quân thần, Phụ tử, Phu thê) xem nhà Vua là biểu tượng quốc gia, và trung quân đồng nghĩa với ái quốc. Về mặt xã hội, giới sĩ phu được dân chúng kính trọng, nghe theo, phần đông truyền bá giáo dục trong vùng, cho nên khi dựng cờ khởi nghĩa chống Pháp, họ có khả năng huy động quần chúng tham gia. Ðương nhiên các phong trào kháng Pháp thời kỳ đầu tiên cho tới cuối thế kỷ 19, đều do giới sĩ phu lãnh đạo và mang tư tưởng phục vụ triều đình, có mục đích đánh đuổi Pháp, để tái lập chế độ quân chủ truyền thống.

Từ 1860 đến 1885, nhiều tổ chức khởi nghĩa chống Pháp đã xuất hiện, trong đó lịch sử Việt Nam ghi nhận các tổ chức sau đây có tầm quan trọng cao hơn hết:

Nguyễn Trung Trực 1860-1868, Trương Công Ðịnh 1861-1864, Nguyễn Hữu Huân 1863-1868, Võ Duy Dương 1865-1866, Trần Văn Thành 1865-1873, Ðinh Công Tráng 1866-1867, Nguyễn Thiện Thuật 1885-1889, Phan Ðình Phùng 1885-1895, Hoàng Hoa Thám 1887-1913.

Tất cả những lãnh tụ kháng Pháp này đã thất bại, mặc dù họ đã chiến đấu rất dũng cảm. Lý do thất bại là: lần đầu tiên binh sĩ Việt Nam phải đương đầu với một lực lượng quân sự địch khác hẳn với tất cả quân đội địch mà họ đã phải đương đầu trong lịch sử, như quân Trung Hoa, Chiêm Thành, Chân Lạp. Ðiều kiện chiến trường, võ khí, chiến thuật, và trình độ tiến hóa trước kia không có sự cách biệt quá đáng giữa các địch thủ Á Châu, trên các chiến trường Á Châu. Còn Pháp là một địch thủ hoàn toàn xa lạ, với khoa học chiến tranh khác, phương pháp chiến đấu khác, và các loại võ khí cơ giới tiến bộ rất xa so với võ khí cổ điển thô sơ của Việt Nam…

Do đó, tương quan lực lượng trong cuộc chiến đấu này trên phương diện khí giới tiến bộ, rất chênh lệch và có hại cho kháng chiến Việt Nam. Mặc dù đã đạt những thắng lợi ngoại hạng với võ khí yếu kém, như những trận đánh chìm tầu Pháp tại Nhựt Tảo hay hạ đồn Pháp tại Kiên Giang do lãnh tụ Nguyễn Trung Trực chỉ huy, nhưng rốt cuộc các lãnh tụ kháng chiến đã bị Pháp bắt giết hay tử trận, vẹn danh kẻ yêu nước, sau khi đã xả thân đem nhiệt tình và dõng cảm để cố bù đắp sự thua thiệt về võ khí, sự thất thế về lực lượng quân sự so với quân Pháp.

Phong trào Văn thân Cần vương kháng Pháp được xem như đã chấm dứt sau khi nhà lãnh tụ Cần vương nổi tiếng trong lịch sử là Phan Ðình Phùng tạ thế năm 1895. Cũng từ đây, theo sự phân định của các nhà biên khảo Việt sử, tư tưởng Cần vương bắt đầu phai lạt trong bối cảnh xã hội mới, nhường chỗ cho tư tưởng canh tân hướng về quốc gia dân tộc, hơn là sống chết vì Vua.

2- GIAI ÐOẠN QUÁ ÐỘ: CÁCH MẠNG CHUYỂN HƯỚNG CANH TÂN

Mặc dầu sau 1895, vẫn còn những nỗ lực lẻ tẻ của các tổ chức võ trang kháng Pháp, và phong trào Cần vương Hoàng Hoa Thám khởi đầu năm 1887 tại Bắc Việt cũng còn tồn tại cho đến 1910, nhưng người Việt Nam đã bắt đầu có những nhận thức mới, trước một hoàn cảnh mới, để chuyển cách mạng giải phóng dân tộc sang khuynh hướng mới, hình thức tổ chức mới, phương pháp hành động mới. Tạm gọi là khuynh hướng canh tân.

Thực tế trước mắt đã cho thấy rằng các phong trào Cần vương thất bại bởi thua kém võ khí, và nếu tiếp tục kháng chiến trong những điều kiện cũ, sẽ phải khó khăn hơn. Bấy giờ quân đội Pháp đã củng cố vị thế và kiểm soát được tình hình, có hy sinh thêm nữa dưới hình thức chiến đấu thuần túy quân sự, mà không có cải tiến về võ trang và phương pháp cũng sẽ đành thất bại thêm mà thôi.

Xã hội Việt Nam trong hai thập niên đầu của thế kỷ 20 tất nhiên du nhập ảnh hưởng của tư tưởng và văn minh tây phương, qua sự hiện diện của người Pháp tại Ðông Dương, và sự mở rộng chân trời kiến thức của người Việt trước hoàn cảnh mới của thế giới. Giới sĩ phu yêu nước cũng ý thức trào lưu tiến hóa về vật chất và thay đổi về tư tưởng. Trong bối cảnh một xã hội đang chuyển hướng đó, tư tưởng trung quân tuyệt đối và quân quyền truyền thống mờ nhạt đi, các quan niệm về dân chủ, tự do manh nha và phát triển. Cho nên chính giới sĩ phu Nho học, trong vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam, cũng tự họ thay đổi khuynh hướng cách mạng, từ chủ trương quân chủ tuyệt đối, sang quân chủ lập hiến như gương nước Nhựt.

Do đó, một số sĩ phu Việt Nam tìm cách xuất dương, sang Nhựt Bổn và Trung Hoa (Tăng Bạt Hổ, Phan Bội Châu, Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể,…) với ba mục đích: tìm mua võ khí mới, tìm sự yểm trợ bên ngoài, và tổ chức đưa thanh niên Việt ra ngoại quốc để học hỏi văn minh tiến bộ mới (đào luyện nhân tài). Hai tổ chức quan trọng nhứt trong giai đoạn này là Ðông Du (xuất dương) và Ðông kinh Nghĩa thục (tại Hà Nội).

Nhìn ra bên ngoài thế giới, người Việt có ý thức cách mạng và chính trị, nhận thấy các biến cố mới xảy ra giữa Nhật Bổn và Trung Hoa (năm 1885 Trung Hoa phải nhượng đảo Ðài Loan cho Nhựt cai trị trong những điều kiện thua thiệt) giữa Nhựt Bổn và nước Nga trong trận hải chiến 1904-1905 (Nga thất bại). Hai biến cố này như những tia sáng mới khích lệ người Việt Nam đi theo tấm gương canh tân của nước Nhựt trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Thêm vào đó, cuộc cách mạng dân quyền Tân Hợi 1911 tại Trung Hoa, rồi cuộc cách mạng tháng 10-1917 tại Nga, chấm dứt các chế độ quân chủ, là những động lực thúc đẩy khuynh hướng cách mạng của người Việt phải tiến tới bằng những bước canh tân mạnh dạn hơn nữa. Ðệ nhứt thế chiến 1914-1918 đã đưa một số khá nhiều thanh niên Việt sang tham chiến tại Âu Châu trong hàng ngũ quân đội Pháp, lớp người này đã đem về Việt Nam một số nhận xét về nếp sinh hoạt, về tư tưởng mà họ đã hấp thụ trong không khí tự do dân chủ tại nước Pháp và Âu châu. Các tư tưởng gia Ðông phương Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu đề xướng cuộc canh tân mạnh mẽ cho xã hội Á Châu, cũng tạo ảnh hưởng khá sâu rộng đối với các sĩ phu Việt Nam.

Các biến chuyển kể trên, đồng thời với các sinh hoạt giáo dục và kinh tế xã hội trong chế độ cai trị của người Pháp, đã tạo nên trong xã hội Việt Nam một lớp người mới, về tư tưởng cũng như về vị trí xã hội. Lớp người này được xem như lớp tiểu tư sản kiểu Tây Âu, hấp thụ tư tưởng văn minh Tây phương, với kiến thức và suy luận duy lý, đã bước những bước dài hơn và mạnh hơn là chủ trương canh tân giới hạn của giới sĩ phu nho học. Ðây là lớp thanh niên Việt Nam mới, đã dứt khoát từ bỏ chủ trương cách mạng cần vương, đi thẳng vào con đường dân chủ hóa. Cũng từ thời kỳ này, vai trò của giới sĩ phu nho học chỉ còn giới hạn ở vị trí lãnh đạo tinh thần, như những bó đuốc lịch sử và những tấm gương hy sinh vì nước. Chính giới trí thức tân học sau này sẽ trở thành lớp lãnh đạo công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc trong một bối cảnh xã hội mới.

3- GIAI ÐOẠN CANH TÂN: CÁCH MẠNG VỚI Ý THỨC DÂN TỘC DÂN CHỦ

Bắt đầu vào thập niên 30, người Việt Nam yêu nước ý thức rằng họ tham gia cách mạng không phải để phục hồi chế độ quân quyền, cũng không phải vì lòng trung thành với Thiên tử (vua chúa), mà chính là để phục vụ quốc gia và dân tộc, và để thiết lập một chế độ tự do dân chủ trong một nước Việt Nam độc lập. Tuy ý niệm quân chủ lập hiến vẫn còn phần nào giá trị trong nếp suy nghĩ của quần chúng trong một nước có truyền thống quân chủ lâu đời, nhưng phần đông giới thanh niên đều biểu lộ khuynh hướng dân chủ tự do rất rõ rệt và mạnh mẽ.

Một khuynh hướng cực đoan cũng phát sinh trong giới trí thức tân học. Ðó là lớp người hướng về chủ thuyết Mác xít, vì họ cho rằng Nga Sô sẽ giúp họ chống lại đế quốc tư bản. Số người này đã lựa chọn con đường đi vào hệ thống cộng sản quốc tế, dựa vào Nga Sô Viết để chống Pháp, đuổi Pháp, rồi sau đó thực hiện một cuộc cách mạng vô sản tại Việt Nam, trong tiến trình vô sản hóa thế giới.

Trong giai đoạn này, khởi đầu từ thập niên 30, nhiều tổ chức cách mạng Việt Nam đã xuất hiện, và một số còn tồn tại đến bây giờ.

Nam Ðồng Thư Xã (1927) sau trở thành Việt Nam Quốc Dân Ðảng, với cuộc nổi dậy lịch sử tại Yên Báy, do lãnh tụ Nguyễn Thái Học cầm đầu (10-2-1930), 13 chiến sĩ VNQDÐ bị Pháp hành quyết.

Ðại Việt Quốc Dân Ðảng thành lập năm 1941 bởi lãnh tụ Trương Tử Anh, ông bị Cộng sản hạ sát năm 1946.

Ðại Việt Duy Dân Ðảng thành lập năm 1942, bởi lãnh tụ Lý Ðông A. Ông mất tích trong đợt khủng bố tại Hòa Bình năm 1946, Cộng sản hạ sát nhiều cán bộ của đảng này.

Việt Nam Phục Quốc Hội, thành lập bởi Kỳ ngoại hầu Cường Ðể, đã tấn công vị trí quân sự Pháp tại Lạng Sơn năm 1940, lãnh tụ Trần Trung Lập bị giết. Kỳ ngoại hầu Cường Ðể tạ thế năm 1951 tại Ðông Kinh (Nhựt).

Ðông Dương Cộng Sản Ðảng thành lập năm 1930 do Hồ Chí Minh, dựa vào hệ thống Cộng sản đệ tam quốc tế Nga Sô, để đoạt thắng lợi đấu tranh tại Việt Nam. Ðảng này đã cai trị miền Bắc Việt Nam từ 1954 đến 1975, và cai trị toàn bộ Việt Nam sau 30-4-1975.

Phật Giáo Hòa Hảo, một tôn giáo cách mạng thành lập năm 1939 tại miền Nam Việt Nam, do Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ, và sau này thành lập thêm chánh đảng Việt Nam Dân Chủ Xã Hội (1946). Năm 1947, Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ bị Cộng sản ám hại và vắng mặt từ thời điểm đó.

Cao Ðài Giáo, một tôn giáo cách mạng khác thành lập tại miền Nam, sau 1928, bởi ông Ngô Văn Chiêu, và sau đó được chỉ đạo bởi Hộ Pháp Phạm Công Tắc. Ông bị Pháp bắt và đày biệt xứ tại Madagascar, rồi sau này từ trần tại Cao Miên trong giai đoạn đi lưu vong thời chế độ Ngô Ðình Diệm.

Ngoài các tổ chức cách mạng trên đây được xem là vẫn tiếp tục hoạt động và tồn tại từ khi thành lập đến ngày nay, còn có nhiều nhóm tranh đấu khác có tầm vóc giới hạn và đời sống ngắn ngủi hơn, như: Việt Nam Nghĩa Ðoàn, Việt Nam Hưng Quốc (1925), Việt Nam Thanh niên Cách mạng, Tân Việt Cách Mạng Ðảng (1925), Phạm Hồng Thái, Trịnh Văn Căn… Trong Nam Việt có các phong trào Thiên Ðịa Hội, đảng Việt Nam Quốc Gia Ðộc Lập, đảng Lập Hiến, nhóm Ðệ Tứ, tổ chức Bình Xuyên… đều đã có đóng góp vào công cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp để giải phóng dân tộc. Các tổ chức này ngày nay đã không còn hoạt động và hiện diện như một chánh đảng hay tổ chức nữa, tuy rằng vẫn còn những cá nhân bảo tồn danh nghĩa. Nhưng tất cả đều như các mảnh vụn trong kiến trúc Cách mạng Việt Nam, bị nghiền nát bởi khủng bố đàn áp của thực dân, cộng sản và các chế độ cộng hòa sau 1954.

Trong giai đoạn canh tân này, các tổ chức cách mạng áp dụng hình thức tổ chức, phương pháp và chiến thuật đấu tranh khác với giai đoạn Cần vương. Hình thức tổ chức có tính cách dân chủ, và tập thể chỉ huy, thay vì lãnh tụ chế như trước kia. Phương pháp đấu tranh bây giờ đa dạng, chớ không chỉ có võ trang kháng chiến. Các tổ chức này vận dụng lực lượng quần chúng vào đấu tranh, tham gia biểu tình chống đối, sử dụng hiệu lực văn hóa vào công tác tuyên truyền cách mạng, hoặc nêu lên các yêu sách công khai, hoặc tổ chức bí mật ám sát phá hoại địch… Về chiến thuật, các tổ chức đấu tranh này đưa dần phong trào cách mạng từ các hình thức chính trị sang cách mạng, từ ôn hòa sang bạo lực, từ phản đối bất hợp tác sang võ trang kháng chiến… Ðây cũng là những phương pháp và chiến thuật đấu tranh thích hợp với từng hoàn cảnh mới, và một phần được du nhập vào Việt Nam qua các sách vở và kinh nghiệm Tây phương.

4- HAI KHUYNH HƯỚNG QUỐC GIA VÀ QUỐC TẾ

Ðiều quan trọng nảy sanh trong giai đoạn này và sẽ chi phối lâu dài tương lai nước Việt Nam, là sự manh nha của hai khuynh hướng dị biệt và đối nghịch trong hàng ngũ cách mạng chống lại thực dân Pháp. Tuy rằng mỗi tổ chức cách mạng đều theo chủ thuyết riêng, nhưng nói chung, tất cả đều nêu lên mục tiêu là đòi chủ quyền độc lập quốc gia, cho nên tất cả các tổ chức cách mạng này được xếp hạng chung vào một khối quen gọi là Khối Quốc Gia. Duy có một tổ chức tự tách mình ra khỏi Khối Quốc Gia, để đi theo hệ thống quốc tế của cộng sản chủ nghĩa, với mục tiêu tối hậu không phải là độc lập quốc gia, mà là vô sản hóa toàn thế giới. Ðó là Ðông Dương Cộng Sản Ðảng do Hồ Chí Minh thành lập năm 1930, dựa vào Mạc Tư Khoa, và được Nga Sô yểm trợ.

Với chiêu bài chống đế quốc tư bản thực dân để giải phóng các dân tộc nhược tiểu bị trị , Nga Sô đã làm cho một số người Việt Nam tin theo và dựa vào Mạc Tư Khoa để thực hiện cách mạng. Ngược lại, những chiến sĩ cách mạng Việt Nam trong Khối Quốc Gia lại cho rằng đảng Cộng sản Ðông Dương nằm trong hệ thống quốc tế của Nga Sô, chỉ nêu mục tiêu giải phóng dân tộc làm bình phong để trá hình mà vận dụng quần chúng, gây tạo uy thế, trong một giai đoạn chiến lược.

Sự khác biệt chủ trương đường lối này tiềm tàng trong lúc đầu sau đó từ tháng 9-1945, nổ bùng thành cuộc xung đột mãnh liệt giữa hai khuynh hướng Quốc gia và Quốc tế vào đầu thập niên 50, và trở thành đối nghịch sắt máu dưới hình thức chiến tranh thực sự khi chánh phủ Hồ Chí Minh thi hành chánh sách đàn áp đối lập từ tháng 8-1945.

Sự bùng nổ Ðệ nhị thế chiến vào tháng 9-1939 là cơ hội thuận tiện cho dân tộc Việt Nam phát động va tăng gia nỗ lực cách mạng giải phóng dân tộc. Quân đội Nhựt Bổn đến Ðông Dương, và nước Việt Nam bị đặt vào tình thế một cổ hai tròng dưới sự cai trị của hai đế quốc: Pháp và Nhựt. Tình trạng này kéo dài đến 9-3-1945, quân đội Nhựt lật đổ bộ máy quyền lực Pháp tại Ðông Dương, tạo cơ hội duy nhất cho Hoàng đế Bảo Ðại tuyên bố Việt Nam Ðộc Lập, sau trên 80 năm Pháp thuộc. Tuy nhiên, Nhựt Bổn cũng không có thiện chí thực sự trả độc lập cho dân tộc Việt Nam cho nên bộ máy quân phiệt Nhựt vẫn nắm quyền thống trị, trong khi chánh phủ độc lập đầu tiên do thủ tướng Trần Trọng Kim cầm đầu không có thực quyền, mặc dầu đó là một nội các gồm những nhà trí thức khoa bảng nổi tiếng thời đó, tuy giàu lòng yêu nước, nhưng yếu kém ý thức chánh trị, không nhận thức được hiểm họa cộng sản, do đó đã để cho Việt Minh, không nhận thức được hiểm họa cộng sản, do đó đã để cho Việt Minh cướp mất cả chánh quyền lẫn cái thế chủ động.

Chỉ năm tháng sau, Nhựt hoàng đầu hàng Ðồng minh, Ðệ nhị thế chiến chấm dứt, toàn dân Việt Nam đồng loạt đứng dậy đòi độc lập thật sự. Ðây là cao điểm của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, được mệnh danh là Cách mạng Tháng Tám (1945). Nhưng cũng từ đó, khởi đầu những khó khăn khủng khiếp và đau khổ trường kỳ cho dân tộc Việt Nam.

Từ bên ngoài, đạo quân viễn chinh Pháp đã lên đường sang tái chiếm Ðông Dương. Từ bên trong, đảng Cộng sản Ðông Dương áp dụng kỹ thuật và thủ đoạn đã được huấn luyện nghiên cứu từ Mạc Tư Khoa, để chiếm đoạt quyền bính lãnh đạo, thể hiện vào chiến thuật hai mặt: Một mặt Hồ Chí Minh thỏa hiệp với Pháp chấp nhận quân đội viễn chinh Pháp của tướng Leclerc đổ bộ lên Bắc Việt hầu đánh đổi lấy sự công nhận của chánh phủ Pháp để Hồ Chí Minh có tư cách đại diện chánh thức quốc gia Việt Nam; và mặt khác, dựa vào vị thế chánh quyền, đảng Cộng sản Ðông Dương thi hành kế hoạch tiêu diệt các tổ chức và lãnh tụ cách mạng nào không đồng ý với đường lối của họ. Những nạn nhân đầu tiên của chánh sách tiêu diệt đối lập này là các tổ chức Phật Giáo Hòa Hảo, Cao Ðài, Ðệ Tứ, Quốc gia Ðộc lập Ðảng trong miền Nam, và các chánh đảng Việt Nam Cách Mạng Ðồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt và Duy Dân Ðảng ở miền Bắc, tất cả đều đã bị Cộng sản khủng bố và sát hại rất khắc nghiệt.

Từ đó về sau mối mâu thuẫn giữa hai khuynh hướng Quốc gia và Quốc tế trong hàng ngũ cách mạng chống Pháp tại Việt Nam trở thành một cuộc chiến tranh ý thức hệ, không còn chỉ giới hạn trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, mà càng ngày càng mở rộng ra để trở thành cuộc tranh chấp quốc tế giữa Hoa Kỳ tiêu biểu cho khối Tư bản và Thế giới Tự do, và bên kia là Nga Sô cầm đầu khối Cộng sản quốc tế.

Với sự can thiệp quốc tế, cuộc chiến tại Việt Nam khởi đầu là chiến tranh chống thực dân xâm lược Pháp, với mục tiêu độc lập quốc gia, sau này biến thái thành một cuộc thế giới chiến tranh tuy giới hạn về địa dư, nhưng liên hệ mật thiết đến quyền lợi chiến lược của các siêu cường và các khối quyền lực quốc tế.

Trong khi hầu hết những cuộc tranh đấu giải phóng dân tộc của các nước nhược tiểu bị trị từ trước đệ nhị thế chiến, đã đưa các dân tộc này đến độc lập và hòa bình khi chủ quyền đất nước đã được lấy lại, thì cuộc chiến tại Việt Nam vẫn còn tiếp tục, cho mãi đến ngày nay, mà vẫn chưa thấy có viễn tượng của sự chấm dứt. Nếu kể từ 22-9-1940 là ngày quân đội Nhựt tràn từ Quảng Tây sang Lạng Sơn, khởi đầu không khí chiến tranh trên lãnh thổ Việt Nam, cho đến thời điểm 1987 này, thì cuộc chiến Việt Nam đã kéo dài gần nửa thế kỷ rồi. Một điều rất rõ ràng được rút ra trong sự so sánh Việt Nam với các quốc gia bị trị trước đệ nhị thế chiến, là: tại Việt Nam đã xảy ra hai cuộc chiến tranh cách mạng: Khởi đầu là cách mạng giải phóng dân tộc, nhưng sau đó là chiến tranh do Mốt Cu và Hà Nội kéo dài thêm để thực hiện cách mạng vô sản quốc tế.

Và đó chính là thảm trạng của dân tộc Việt Nam.

5- NHẬN XÉT VỀ ƯU THẾ CỦA CỘNG SẢN TẠI VIỆT NAM

Hầu hết các thuộc địa cũ của Pháp ngày nay đã độc lập và hòa bình, ngoại trừ Việt Nam vẫn triền miên trong chiến tranh và đang là một trong những quốc gia nghèo khổ nhứt thế giới. Dù có biện bạch cách nào cũng không thể phủ nhận nguyên nhân chính yếu là do đảng Cộng Sản của ông Hồ Chí Minh đã nhìn mục tiêu độc lập quốc gia chỉ là một chặng đường trên lộ trình vô sản hóa thế giới, do đó mà ông phải tiếp tục chiến tranh để đạt mục tiêu chiến lược tối hậu của Cộng sản quốc tế.

Dân tộc Việt Nam tham gia cách mạng với mục tiêu chủ quyền độc lập, nhưng ông Hồ Chí Minh đã lợi dụng lòng yêu nước đó để phục vụ cho mục tiêu riêng của đảng Cộng Sản.

Cựu Tổng thống Huê Kỳ Richard Nixon trình bày về chiến lược quốc tế liên hệ đến Việt Nam, trong cuốn sách No More Vietnams đã viết như sau:

Quốc gia Việt Nam phải được độc lập. Trong hai thập niên 1920 và 1930, sự thù ghét chế độ thuộc địa đi đôi với ý thức sâu xa về quốc gia dân tộc, kết hợp thành gốc rễ của phong trào chống Pháp. Quan điểm thời trang cho rằng riêng đảng Cộng sản của Hồ Chí Minh tranh đấu cho độc lập, thực ra chỉ là quan điểm mơ hồ.

Ðệ nhị Thế chiến là một khúc quanh lịch sử. Sự việc Nhật Bổn chiếm lãnh vùng Ðông Nam Á đã làm tan vỡ hào quang của quyền lực thực dân Tây phương. Ngay khi nền độc lập quốc gia đến trong tầm tay, thì Hồ chí Minh tàn nhẫn tiêu diệt các tổ chức chánh trị đối lập. Trong thời kỳ đệ nhị thế chiến, họ Hồ đã cẩn thận tính toán trước những bước đi để sau này nắm lấy chính quyền. Khi Ðệ nhị Thế chiến vừa chấm dứt, cơ hội đến, họ Hồ áp dụng thủ đoạn nham hiểm và tàn độc để tiêu diệt những phần tử đối lập nào có tổ chức võ trang. Khi Nhựt Bổn đầu hàng, Hồ Chí Minh nhanh chân nhảy thẳng vào chiếm khoảng trống quyền lực… (*)

Học giả D.G.E. Hall đã khẳng định quy trách cho chánh sách thiển cận và ngoan cố của Pháp như là nguyên nhân chính yếu tạo nên ưu thế và sức mạnh của Cộng sản tại Ðông Dương:

Ðiều bất hạnh là chính sự ngoan cố của Pháp đã tạo ra tình huống đó. Trong khi cộng sản ở các quốc gia khác đã thất bại, và không còn hấp dẫn đối với đa số quần chúng, thì riêng tại Ðông Pháp, Cộng sản lại ưu thắng, chiếm được quyền lãnh đạo trên các đảng phái yêu nước. Nguyên nhân duy nhất là thái độ ngoan cố của Pháp… (**)

Một tác giả khác đã biểu lộ quan điểm tổng kết tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam như sau:

Thật vậy, Việt Nam là một trường hợp đặc biệt, nhưng dân tộc Việt Nam là một dân tộc bất hạnh nhứt thế giới. Trong khi các dân tộc khác ở Ðông Nam Á đã thoát khỏi ách thống trị của thực dân và đã trở thành các quốc gia độc lập thịnh vượng, thì Việt Nam vẫn tiếp tục đau khổ trong chiến tranh trường kỳ. Ðó là sự bất hạnh toàn diện và lớn lao. Về địa lý chánh trị, Việt Nam là một quốc gia bị khổng lồ Trung Quốc liên tục uy hiếp, suốt từ năm 111 trước Tây lịch, cho đến thế kỷ 17, Việt Nam đã trải qua biết bao hy sinh lớn lao để tự vệ và bảo tồn đơn vị quốc gia.

Ðiều bất hạnh thứ hai là do định mệnh lịch sử, Việt Nam bị thống trị bởi thực dân Pháp, một đế quốc thiển cận và tham tàn nhứt. Ðệ nhị Thế chiến chấm dứt là cơ hội chung, các đế quốc đều chấp nhận trả chủ quyền độc lập cho các thuộc địa, chỉ riêng có Pháp là ngoan cố, đem chiến hạm và quân đội viễn chinh đến tái lập quyền lực thuộc địa tại Việt Nam, như đã làm ở thế kỷ 19. Vì tham vọng quyền lợi, Pháp đã bắt tay với quỷ Satan, tức hợp tác với tay sai của Mạc Tư Khoa, thay vì phải hợp tác với dân tộc Việt Nam. Qua thương thuyết và hiệp ước, Pháp tạo cho Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam vị thế chánh thống nắm quyền cai trị Việt Nam; nhờ ưu thế chánh quyền mà Hồ Chí Minh đã tiêu diệt các lãnh tụ cách mạng quốc gia, để rồi sau đó lại quay mặt đánh Pháp.

Cố bám lấy thế chủ động, Pháp xoay qua điều đình với những giới đối lập Hồ Chí Minh, trong một giải pháp quốc gia, nhưng vẫn nuôi dưỡng âm mưu đen tối đầu cơ cả hai phe quốc gia và cộng sản, để thủ lợi riêng cho đế quốc Pháp. Thực dân Pháp không bao giờ thực tâm muốn trả chủ quyền độc lập cho dân tộc Việt Nam. Thái độ đó của Pháp đã làm suy yếu uy tín của những người Việt ái quốc theo khuynh hướng quốc gia, đưa dần đến thất bại quân sự tại chiến trường Ðiện Biên Phủ và sau hết đưa đến việc ký kết hiệp định Giơ neo 1954, Pháp trao cho Hồ Chí Minh toàn quyền thống trị miền Bắc Việt Nam, làm bàn đạp để tiến chiếm toàn bộ lãnh thổ năm 1975.

Ðiều bất hạnh sau cùng của Việt Nam là đồng minh Hoa Kỳ. Nhơn danh đại cường quốc lãnh đạo bảo vệ thế giới tự do, Huê Kỳ lại đã hành động thiếu tư tưởng và thiếu quyết tâm của cấp lãnh đạo. Cho nên sau bao nhiêu xương máu hy sinh để bảo vệ tiền đồn cho thế giới tự do, bỗng nhiên Việt Nam bị đồng minh Huê Kỳ bỏ rơi, vì lúc đó Huê Kỳ đã thay đổi mục tiêu chiến lược, hy sinh Việt Nam cho quyền lợi riêng của Hoa kỳ. Lịch sử lại một lần nữa tái diễn: Việt Nam lại trở thành nạn nhân của quyền lợi chiến lược siêu cường, trong lịch sử hiện đại cũng giống như trong thời trung cổ xưa kia.

Rốt cuộc ngày 30-4-1975, thiết giáp xa Nga Sô cán sập cửa dinh Ðộc Lập tại Sàigòn. Ðối với Huê Kỳ, một trang sử Việt Nam đã lật qua, một giai đoạn cuộc chiến Việt Nam chấm dứt. Và giai đoạn mới bắt đầu, đây là lúc hàn gắn những vết thương chiến tranh, hòa giải dân tộc, tái thiết quốc gia, thực hiện các nguyện vọng của người dân. Nhưng đó lại không phải là mục tiêu của đảng Cộng sản Việt Nam. Ðảng này không nghĩ đến nền độc lập quốc gia mà còn phải tiến lên mục tiêu vô sản hóa thế giới, cho nên chưa cho dân tộc Việt Nam được sống hòa bình và tái thiết.

Trên 10 năm đã đi qua, vẫn chưa có độc lập hòa bình, và câu nói không có gì quý hơn độc lập tự do của Hồ Chí Minh rõ ràng chỉ là chiêu bài giai đoạn lừa phỉnh dân tộc Việt.

Với chánh quyền trong tay đảng Cộng sản, dân tộc Việt Nam tiếp tục sống trong chiến tranh và nghèo đói thêm. Biết đến bao giờ cuộc cách mạng của dân tộc Việt Nam đạt đến mục tiêu Tự do và Ðộc lập?

Hãy nghe thêm một người Pháp nhận xét về chánh sách sai lầm của chánh phủ Pháp tại Việt Nam, với sự khẳng định rằng chính Pháp đã làm cho Việt Nam mất vào tay Cộng sản. Linh mục Seitz, đến truyền đạo tại Việt Nam từ 1937, đã nêu ra các nhận xét sau đây để trả lời câu hỏi ÀÀTại sao chiến tranh Việt Nam kéo dài lâu như vậy, và tại sao Cộng sản thắng thế?

Không thể hiểu được thảm kịch ngày nay của dân tộc Việt Nam, nếu không tìm hiểu các nguyên nhân xa xưa của cuộc chiến tại đó.

Trước khi lãnh nhiệm vụ sang Việt Nam, tôi có tham dự tuần lễ hội thảo đề tài Àchánh sách thuộc địá, và nhớ rằng lập trường của giáo hội Pháp là ÀMọi chánh sách thuộc địa đều thống trị được một thời gian mà thôi và đều phải kết thúc với sự trưởng thành của dân tộc bị trị. Cũng giống như Lyautey đã nói: ÀMột thuộc địa được cai trị tốt đương nhiên phải đạt sự trưởng thành, nếu không được thế là do chánh sách cai trị sai lầm vậý. (Une colonie bien administrée évolue nécessairement vers son émancipation, sinon cest qúelle est mal administrée.)

Năm 1937, tôi đến Việt Nam, thuộc địa Pháp đang tiến mạnh, nhưng điều đầu tiên tôi cảm nhận là Àchúng ta, một cường quốc thực dân, đã không làm đúng bổn phận hướng dẫn thuộc địa đến trưởng thành.

Chúng ta đã không khám phá và lượng giá được lòng ái quốc nồng nhiệt, sâu xa và khả kính đang sôi sục trong trái tim người Việt, để mà có một chánh sách thích nghi và cấp thiết. Giai tầng trí thức Việt Nam đã có những người xuất thân ở các đại học danh tiếng (Polytechnique, Centrale) của Pháp, nhưng khi hồi hương họ bị bạc đãi như thuộc cấp chớ không được xem như những trí thức lãnh đạo xứ sở họ. Ðó là chính chúng ta đã đào luyện họ thành những địch thủ tương lai. Những người Việt ái quốc trí thức đó, nuôi nấng nguyện vọng xứ sở mình được độc lập, nhưng trong tình huống bị chúng ta đối xử bạc đãi như thế, thử hỏi họ phải hướng về đâu? Hướng về chánh quốc, vô ích thôi! Sau Ðệ nhứt Thế chiến 1914-1918, những trí thức trẻ của Việt Nam đã tìm hướng về Cộng sản quốc tế sau cách mạng tháng 10-1917 tại Nga.

Từ thời điểm (thập niên 1920) Hồ Chí Minh bỏ Paris sang Moscow, đến khi ông ta nắm chánh quyền tại Hànội 1945, dẫn đến sự toàn chiếm Việt Nam 1975, tôi đã sống gần 40 năm tại xứ này, và có thể tóm luận rằng nguyên nhân sâu xa chính là do lỗi của Pháp đã bất chấp tinh thần ái quốc tiềm tàng trong trái tim người Việt, cho nên hậu quả là nền độc lập quốc gia Việt Nam mà Pháp không chịu trao trả đúng cách đúng lúc, đương nhiên phải bị cưỡng chiếm lại bằng chiến tranh. Chúng ta không biết ủng hộ chánh nghĩa của người Việt, thì tất có kẻ khác đóng vai trò đó. Chính là Cộng sản.

Ðó là tình huống đã xảy ra: lòng ái quốc, và lý tưởng dân tộc của người Việt đã bị Cộng sản chụp lấy. Nga Sô đào luyện cán bộ cách mạng bằng tư tưởng Mác-xít, rồi yểm trợ các nhu cầu vật chất (tiền bạc, võ khí) cho đám cán bộ đó nắm quyền hành tại Việt Nam, củng cố từng giai đoạn để tiến chiếm toàn bộ Việt Nam năm 1975. Ðó là kết quả của một giai đoạn bành trướng chủ nghĩa Cộng sản trên nửa thế kỷ vừa qua.

Bây giờ nước Pháp ngoái nhìn lại lịch sử vừa qua để thấy rằng sau thảm kịch Việt Nam, đến Algérie, chúng ta mới tỉnh ngộ để trả độc lập cho 11 thuộc địa tại Châu Phi. Ðúng là Àcon người vẫn là kẻ tập sự, và sự đau thương chính là ông thầy dạý (LHomme est un apprenti, la douleur est son maitre.)

Những điều trình bày sơ lược trên đây về giai đoạn lịch sử từ khi Pháp đến xâm chiếm Việt Nam đến khi Cộng sản toàn chiếm lãnh thổ Việt Nam (1856-1975: 110 năm) đưa ra ánh sáng một số điểm căn bản sau đây:

1. Giai đoạn 90 năm (1856-1945) dân tộc Việt Nam âm thầm chịu đựng chánh sách thống trị tham lam và tàn bạo của thực dân Pháp, nhưng vẫn đề kháng liên tiếp.

2. Giai đoạn kế tiếp 30 năm (1945-1975) dân tộc Việt Nam toàn bộ nổi dậy, chiến đấu chống lại chủ trương tái chiếm thuộc địa của Pháp, nhưng rốt cuộc vẫn chỉ là dịch chủ tái nô: thực dân Pháp ra đi (1955) đế quốc Nga thay thế đặt toàn bộ lãnh thổ Việt Nam trong hệ thống Cộng sản Quốc tế (1975).

3. Tuy thực dân Pháp chấm dứt thế lực thống trị Việt Nam từ 1955, nhưng Pháp vẫn là một nguyên nhân của sự toàn chiếm Việt Nam 1975 bởi cộng sản, do chánh sách sai lầm đối với dân tộc Việt Nam và do chủ trương cấu kết với Cộng Sản Việt Nam từ 1946 để mưu đồ tái lập chế độ tân thuộc địa tại Việt Nam.

4. Tuy công cuộc tranh đấu giải phóng đất nước Việt Nam đến nay chưa thành công, và chánh nghĩa của dân tộc Việt Nam đã bị thực dân và cộng sản tiếm đoạt, nhưng dân tộc Việt đã chứng tỏ trước thế giới ý chí quật cường bất khuất của một dân tộc anh hùng, qua cuộc chiến đấu bảo vệ quyền tự tồn tự chủ chống lại 1,050 năm đô hộ của Trung Hoa, trên 100 năm đô hộ của Pháp, và tiếp tục chống chủ trương đô hộ của đế quốc Nga Sô.

5. Tuy nhiên, ý chí quật cường bất khuất của dân tộc Việt Nam, mặc dầu đã được xem như yếu tố tinh thần căn bản của dân tộc Việt để tự tồn tự chủ từ giai đoạn lập quốc qua bao lần xâm lược của khổng lồ Trung Hoa, đã không đủ để quyết định thắng lợi từ khi các đế quốc Tây phương sang chiếm thuộc địa Á Châu.

Bởi vì từ đây Việt Nam phải đối phó một loại xâm lược quốc tế mới lạ, khác hẳn tương quan song phương trước kia giữa Trung Hoa và Việt Nam trong hoàn cảnh một thế giới khép kín, không có sự liên kết và can thiệp quốc tế.

Từ khi các đế quốc Tây phương chia nhau làm chủ các thuộc địa Á Châu, vận mệnh các dân tộc bị trị không những bị chi phối bởi chính đế quốc thống trị, mà còn bởi các áp lực quốc tế khác, chia chác quyền lợi, ảnh hưởng. Tương quan quốc tế càng ngày càng càng trở nên đa dạng, đa phương, phức tạp, chằng chịt thành những sợi dây trói buộc các nước nhỏ trong các tình trạng yếu kém thất thế, mất chủ động. Thế giới chia ra từng khối, các siêu cường quốc và cường quốc trao đổi quyền lợi, qua phân ảnh hưởng, thỏa hiệp hay đối nghịch nhau, tạo ra sức ép thường xuyên với các áp lực chính trị, quân sự, tài chánh, kinh tế, đè nặng và chi phối vận mệnh các quốc gia nhỏ yếu.

Thực tại thế giới từ thế kỷ 19 tới nay là như vậy, tuy rõ ràng là bất công, nhưng đã trở nên một quy luật của mối tương quan thế giới. Các cường quốc có uy thế chi phối, thế giới ngày nay sức mạnh võ khí và kinh tế ưu thắng hơn sức mạnh tinh thần, cho nên Việt Nam đã lâm vào hoàn cảnh bi thảm nhứt, bất hạnh nhứt so với mọi quốc gia Á Châu, với một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc kéo dài đã trên nửa thế kỷ, mà vẫn chưa thấy có hy vọng chấm dứt, chủ quyền quốc gia vẫn bị ngoại bang chi phối và xã hội suy thoái trong cảnh nghèo đói thê thảm.

Ðể kết luận phần này: dân tộc Việt Nam chẳng may bị lọt vào ách thống trị của thực dân Pháp, cho nên đã phải chịu đựng giai đoạn thống khổ đau thương cho đến nay đã trên một thế kỷ.

Tổ chức Phật Giáo Hòa Hảo, đề tài nghiên cứu biên khảo của cuốn sách này, với số lượng quần chúng đông đảo khoảng hai triệu tín đồ, đương nhiên là một thành phần hoạt động trong suốt tiến trình đấu tranh chống Pháp, chống Cộng, như sẽ được trình bày trong các chương sau đây.

GỬI Ý KIẾN
Tên của bạn
Email của bạn
Đánh giá (tùy ý)
Nhập những ký tự ở hình bên vào ô bên dưới.
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Đi thăm cha và chuyện kể trong tù

Đi thăm cha và chuyện kể trong tù

Tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Lía
Nguyễn Ngọc Lụa – Buổi sáng hôm 18/7, gia đình chúng tôi, là thân nhân của tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Lía, có chuyến đi xuống trại giam Xuân Lộc, Đồng Nai cùng với gia đình tù nhân lương tâm Bùi Văn Trung, cha tôi bị bắt tù 2 lần, lần đầu vào năm 2003 với mức án là 3 năm chỉ vì cha tôi là một tín đồ Phật giáo Hòa Hảo và hoạt động để phát triển tôn giáo, lần thứ 2 ông bị bắt tiếp vào năm 2011 với án 4 năm 6 tháng theo điều 258.

Đợi đến 9h sáng, viên công an mới vào kiểm tra giấy chứng minh nhân dân, rồi sau đó lại chờ họ đưa tất cả chúng tôi vào xe đi về hướng trại giam. Đến nơi thì vừa lúc cơn mưa lớn trút xuống đột ngột.
Vừa thấy cha, cả gia đình mừng vui, mẹ tôi thì đã không kiềm được và đã bật khóc khi cha hỏi thăm về bà nội ngay khi gặp. Cha nói chuyện phải dùng máy trợ thính nên nghe câu được câu mất.
Cha tôi hỏi viên công an đứng kế bên về tờ giấy mà viên giám thị trại giam mới vừa lấy của cha, tờ giấy mà ông ghi những ý chính để nói với gia đình chúng tôi, vì giờ trí nhớ không được tốt nên ông phải ghi ra để nói hết tất cả những điều muốn nói trong thời gian ít ỏi quý báu này. Khi lấy tờ giấy của ông, giám thị trại giam bảo để họ xem xét các ý trong đó và sẽ đưa lại ngay, nhưng trong suốt giờ thăm gặp ngắn ngủi, cha đã nhiều lần nhắc nhở và lên tiếng bảo họ trả lại. Nhưng họ chỉ bảo rằng họ đang xem, và cứ thế cho đến hết giờ thăm gặp, họ vẫn chưa xem xong tờ giấy.
Cha tôi dặn dò từng người anh em tôi kỹ lưỡng, rằng không được tin những gì Cộng sản hứa hay nói gì, vì từ trước đến nay họ đã hứa rất nhiều nhưng toàn dối trá nói một đằng làm một nẻo, Cộng sản là loại ăn cháo đá bát bất nhân bất nghĩa.
Từ lần thăm nuôi trước đến nay, cha tôi có viết gửi về nhà 3 lá thư nhưng khi ông hỏi lại, thì ở nhà chỉ nhận được 1 lá. Và ở gia đình có viết cho cha 1 lá nhưng cha cũng không được nhận. Và một điều bất công nữa là các phạm nhân ở đây thì có thể điện về nhà nhưng riêng ông thì không được. Cha bảo chúng tôi rằng chỉ có ở Việt Nam mới có tình trạng giấu nhẹm thư tù nhân tôn giáo như thế này, cũng như gây khó khăn trong việc giao tiếp, thăm nuôi từ bên ngoài hòng làm sụt giảm ý chí họ cũng như cô lập họ trong 4 bức tường giam
Cha kể cho chúng tôi biết người tù giam phòng kề bên vừa mới ra đi vì căn bệnh AIDS, ông bảo thêm rằng riêng tháng vừa rồi có đến 3 người chết vì căn bệnh này trong cùng một trại giam. Làm tôi nhớ đến lời anh Huỳnh Minh Trí, người cũng đã vừa mới chết vì căn bệnh AIDS, theo anh Trí là chứng nhân, anh nói có cả thấy 14 người đã chết vì AIDS mà anh biết cho đến khi ra rù. Tôi không khỏi lo lắng cho cha mình có tránh được căn bệnh mà chính quyền đã chủ tâm luôn muốn hại những tù nhân lương tâm như thế này không?
Cha bảo họ đối xử với những phạm nhân đã nổi loạn tại trại giam K1, Xuân Lộc, Đồng Nai lần trước rất dã man, họ đánh đập tàn nhẫn những người đó, thậm trí họ quỳ lạy van xin nhưng những đòn trừng phạt vẫn lạnh lùng nện xuống. Sau đó là biệt giam họ, đồng thời tăng án lên gấp đôi bản án họ đã lãnh nhận trước đó
Vậy đó, khi họ ngược đãi tù nhân, những người tù đã vùng lên khỏi song sắt để phản đối lại, hầu mong tình trạng nhà tù được tốt hơn, thì sau đó số phận những tù nhân không được cải thiện hơn mà lại bì trù dập thê thảm như vậy.
Mỗi sáng và tối cha tôi đọc Sấm Giảng Thi Văn của Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ cho nhiều người nghe và kể những lời vàng ngọc của Đức Thầy răn dạy người đời làm lành lánh dữ, ông khuyến khích những người phạm nhân ăn chay và Niệm Phật để nhận được sự giải thoát khỏi những gian khổ và thoát khỏi mọi tội lỗi vì do mình gây ra . Chúng bảo ông làm những việc bao đồng đó nữa thì ông sẽ bị biệt giam, cha vẫn kiên quyết giảng về Phật Giáo Hòa Hảo vì cha biết được rằng họ rất có nhu cầu và khao khát vấn đề tâm linh nơi ngục tù này.
Một lần ông bị chúng bắt biệt giam vì giúp đỡ một người bệnh nặng chung phòng, chú ấy ngoài 60 tuổi án chung thân, có thức ăn gì cha tôi điều chia phần chú vì hơn 7 năm gia đình không lại thăm nuôi, trong người mang nhiều chứng bệnh nặng lại bị mất 1 chân, nên đi lại rất khó khăn vì thế việc vệ sinh cá nhân diễn ra trong một túi nylon, nên cha tôi vì lòng thương người cùng chung cảnh tù thường giúp chú đi bỏ túi nylon, nhưng không ngờ cán bộ trại giam lại phản đối cha về hành động giúp đỡ này, nhưng cha vẫn tiếp tục làm điều đúng lương tâm khi họ bỏ mặc chú ấy, vậy là họ biệt giam cha tôi, nhưng ông đấu tranh và cầm trong tay cục đá tuyên bố sẽ đập đầu chết nếu họ không thôi biệt giam, vì lo sợ cha tôi chết nên họ đành phải nhượng bộ.
Đây đúng là những sự vi phạm nhân quyền rất trắng trợn của chính sách đối đãi tù nhân của chính quyền. mà chính họ đã ký kết với quốc tế về các công ước về đối xử với tù nhân
Tôi bỗng thấy cha trầm tư và u buồn vì ông biết nhà tù là nơi để răn dạy con người để họ có cơ hội trở lại thành người tốt, và dù họ là phạm nhân nhưng họ vẫn rất cần tình yêu thương để giúp họ dần tái nhập lại cuộc sống sau sai phạm nhưng thật tiếc, tù ở Việt Nam chỉ trù dập những tù nhân và nhất là loại trừ những tù nhân lương tâm và tôn giáo như ông bằng cách gián tiếp đẩy người tù vào những căn bệnh như AIDS, lao và nhiễm độc thực phẩm dẫn đến ung thư
Tôi để ý thấy 2 viên công an ngồi ghi chép cách rất tỉ mỉ và liếng thoáng lại lời của những người chúng tôi và cha tôi, cứ như thể ghi lại những lời nói hớ hên quá sự cho phép của họ để làm bằng chứng tội phạm vậy.
Nhưng ông vẫn nói bằng một tinh thần kiên quyết và thoải mái về những sai trái của trại giam, của những cai ngục, ông cho gia đình biết về tình trạng sức khỏe cũng như cách đối xử của cán bộ trại giam : ông đang bị giam chung phòng với những người bị lao phổi rất nặng và những người bị HIV, nguy cơ bị lây nhiễm của cha là rất cao. Cha tôi có bệnh Tim và Cao huyết áp nhiều năm nay và những thương tật như Điếc một tai , gãy xươn Vai cùng xươn Sườn do bàn tay ác độc của cộng sản gây ra khi còn ở ngoài. Lúc trái gió trở trời vết thương đó hoành hành đau nhức dữ dội, ông yêu cầu được khám chúng điều ngó lơ,ông luôn phản đối bằng cách kêu la đập cửa phòng giam, chúng nhượng bộ. Gia đình có gởi thuốc vào mỗi khi bệnh cha biến chứng, qua sự kiểm soát của trại giam, chúng đã không đưa đến tay cha tôi mặc cho cha nằm chờ căn bệnh dày vò nhưng họ bảo” chưa chết lo gì”.
Ước mong giới tranh đấu trong cũng như hải ngoại sẽ lưu tâm, vận động mạnh mẽ hơn cho tình trạng nhà tù tại Việt Nam, và hy vọng sẽ nhớ đến cha tôi trong những lần vận động cho nhân quyền và tự do tôn giáo để cha sẽ sớm trở về chữa bệnh và đoàn tụ cùng cùng gia đình.
Cuộc thăm nuôi ít ỏi của gia đình nhanh chóng qua đi, cán bộ trại giam nhanh chân đưa cha tôi vào, gia đình đành chia tay ông, anh em chúng tôi đã dặn cha cứ hãy viết thư về cho gia đình, họ có không gửi cũng chẳng sao, chỉ thể hiện sự bất lương của họ cho mọi người biết chế độ độc tài thối nát của Cộng sản. Chúng tôi từ biệt cha lần cuối vừa lúc cơn mưa vừa tạnh hạt.
 
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

ĐỨC THẦY LÂM NẠN TẠI ĐỐC-VÀNG

LONG XUYÊN ngày 21 tháng 3 năm 1865

(20/03/2011) (Xem: 14308)

 

Kính gởi Ông NGÔ-XUÂN và Quí vị Đồng Bào Thủ Đô

 

SAIGON

 

Kính thưa Ông cùng Quý-vị,

 

Tiếp nhận được thơ ông cùng quý vị gởi đến tôi đề ngày 29 tháng 3 năm 1965 vào lúc 14 giờ

 

Vội biên thư hồi đáp cho ông cùng quý vị để tường:

 

Muốn đáp lại những thạnh tình chiếu cố ấy, mặc dù tôi rất kém khả năng hiểu biết nhưng, đứng về cương vị một môn-nhơn đệ tử của Đức Huỳnh Giáo Chủ thì nhiều hay ít cũng am tường về giáo lý của Ngài.

 

Trân trọng xin hồi đáp cùng quý vị, với phạm vi hiểu biết của tôi, còn những điều cao siêu thì xin nhường lời cho các bậc cao minh giảng giải. Riêng tôi có vài lời thiện cảm sau đây, dù không được thỏa mãn, kính mong quý vị niệm tình tha thứ.

 

–        Hỏi: Tại sao có danh từ Phật-Giáo Hòa-Hảo?

 

–        Đáp: Thưa quý vị, trải qua những năm tìm tòi học đạo, chính tôi đã thường nghe Đức Thầy tôi có giải đáp trong những khi thuyết pháp vào lúc mà Đức Thầy tôi thực hiện trong lời sấm tiên tri: “Chừng ơn trên ban bố lục thông Thầy sẽ được Tây Đông du thuyết”.

 

Quả thật như lời đúng vào năm 1945 Đức Thầy tôi có dịp đi du thuyết (khuyến nông) khắp 21 tỉnh, thì cũng có nhiều đồng bào chất vấn giống như những câu hỏi của quý vị đấy?

 

Vậy xin mạng phép dựa vào những câu giải đáp của Đức Thầy tôi và luôn tiện ghi lại nơi đây để ông cùng quý vị rõ:

 

“Phật Giáo là giáo pháp của nhà Phật, mà tôi là đệ tử trung thành của Đức Phật Thích Ca mâu ni, còn Hòa Hảo là danh từ quê hương của tôi. (Lời Đức Thầy)

 

Sau đây tôi xin phụ họa với ý nghĩa mà không ngoài giáo pháp của Đức Thầy tôi đã truyền dạy, trong 14 giòng khoáng thủ theo lối văn bát ngôn trường thiêng.

 

PHẬT vốn tánh từ bi vô lượng chí

GIÁO pháp khai nhiệm lý khắp nhơn gian

HÓA đồng trong sanh chúng hiệp nhứt tràng

HẢO ý nguyện vạn ban giai hướng thiện

LÀ sứ mệnh thừa vâng nơi Kim-điện

DANH một đời bốn biển lẫn sơn thanh

TỪ khởi nguyên căn thiện sẵn trời danh

QUÊ quán cổ kim sanh miền Linh-Địa

HƯƠNG xuất hiện thơm mùi Trung-Tín-Nghĩa

CỦA Tiên Rồng trau trỉa được nên công

ĐỨC cao siêu ban rãi thuận muôn lòng

HUỲNH đạt đạo lục thông tri tiền hậu

GIÁO thọ sắc Thế-Tôn, lời nguyền tấu

CHỦ tâm thành roi dấu Vình Trường Miên.

 

Kính thưa Ông cùng Quý vị,

 

Còn những điểm như: Mục-đích, Tôn-chỉ, thân thế và cách hành đạo của Đức Thầy tôi thì xin hẹn lại cùng quý vị, tôi sẽ hồi đáp trong tập sắp xuất bản của tực đề là “TÌM HIỂU GIÁO LÝ PHẬT GIÁO HÒA HẢO” chắc chắn quý vị sẽ được hài lòng.

 

Trước khi gác bút, và không còn lời lẽ cho hơn để được đáp tạ với nhân tình cao quí của quí vị cho vừa.

 

Nơi đây tôi chỉ đặt cả tâm thành khẩn nguyện Đức Phật Từ Bi gia hộ cho toàn thể quý vị cùng bửu quyến cũng như tất cả nhơn gian đều được hưởng mọi phước lành, để gọi lòng thiện cảm giữa tôi cùng quý vị.

 

Trân trọng kính chào

 

LÊ-THÀNH-LẠC

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Fb Trần Huỳnh Duy Thức – Nhà hoạt động từ thiện và tôn giáo Mai Thị Dung, một nông dân cắt lúa, sinh năm 1969, đang tiếp tục bị hành hạ trong tù khi thụ án 11 năm sau 2 lần bị kết án.
Cùng chồng là ông Võ Văn Bửu, bà Mai Thị Dung – tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo – đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình, tuyệt thực cho các tín hữu đồng đạo, phản đối nhà cầm quyền CSVN tịch thu các cơ sở giáo hội và đàn áp tự do tôn giáo.
Bất chấp gia đình có hai người con dưới tuổi thành niên, ngày 5 tháng 8 năm 2005, công an Việt Nam bắt giữ cả hai vợ chồng Mai Thi Dung và Võ Văn Bửu. Ngày 19 tháng 9 năm 2005, Tòa án tỉnh An Giang kết án bà Mai Thị Dung 6 năm tù và chồng bà 7 năm vì tội “gây rối trật tự công cộng”. Trước đó không lâu, ông Võ Văn Bửu vừa mãn hạn tù 3 năm cũng vì tội danh tương tự.
Trong tù, bà Mai Thị Dung kiên trì tổ chức các lễ Phật. Vì lẽ đó, ngày 22 tháng 7 năm 2008, nhà cầm quyền đã phạt thêm 5 năm tù về tội “chống đối nhân viên công lực”, nâng tổng án tù mà bà Dung phải chịu lên 11 năm.
Suốt thời gian ở tù, mặc dù bệnh nặng, bà Mai Thị Dung luôn bị hành hạ, bị cấm nói chuyện với các tù nhân – bởi thái độ bất hợp tác với cai tù trong việc “ký biên bản nhận tội”. Bà từng tuyệt thực trong tù để phản đối ngược đãi và yêu cầu được đưa đi điều trị. Chỉ một ngày sau khi bà tuyệt thực, hôm mùng 2 tháng 10 năm 2013, từ trại giam Xuân Lộc – Đồng Nai, bà bị chuyển ra Bắc cùng với một tù nhân lương tâm khác vừa được trả tự do là Đỗ thị Minh Hạnh trên quãng đường 1700 km với chân tay bị xích còng nên đã nhiều lần ngất xỉu trong xe thùng bịt kín.
Hiện bà đang bị giam tại Phân trại 3 Thanh Xuân, xã Mỹ Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Nội với tình trạng sức khỏe nguy kịch trong điều kiện tù khắc nghiệt. Bà mắc nhiều chứng bệnh tim, gan, mật, dạ dày, chỉ có thể di chuyển bằng cách bò lê trên nền sàn vì không thể đứng vững – theo những gì chồng bà chứng kiến trong lần thăm cuối năm 2013. Ông Võ Văn Bửu đã ra tù vào tháng 8 năm 2012, sau khi đã thi hành án 7 năm tù giam.
Nhà cầm quyền Việt Nam xem Phật Giáo Hòa Hảo là kẻ thù. Phần lớn các hoạt động của giáo hội phải thực hiện bí mật. Nếu không, luôn có đông đảo an ninh chìm nổi theo dõi, bao vây, phá rối để có cớ bắt bớ những người tham gia lễ lạc.
11 tháng 7 năm 2014
 
Vietnam Human Rights News
vietnamhumanrightsnews@gmail.com
Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Kẻ bạo quyền thể hiện sự yếu… hèn!

Kẻ bạo quyền thể hiện sự yếu… hèn!
Ngày 15 – 07 – 2014 đoàn PGHHTT – Miền Tây tổ chức chuyến đi thăm Đỗ thị Minh Hạnh sau khi ra tù, khi chiếc xe chưa kịp lăn bánh hành trình thì công an tỉnh Đồng Tháp đã đến đe doạ và cảnh báo người trưởng đoàn và các tín đồ PGHHTT rằng nếu có đi Đà Lạt không được ghé nhà của Đỗ thị Minh Hạnh, công an họ bắt phải hứa điều mà họ áp đặt.
Lúc 05 giờ sáng 15 – 07 đoàn PGHHTT đã đến nhà Đỗ Thị Minh Hạnh, tất cả mọi người rất vui mừng khi gặp lại cô gái nhỏ nhắn nhưng rất can đảm trong đấu tranh, và mặc dù phải chịu trải qua bao nhiêu cảnh đoạ đày, đánh đập trong chốn lao tù!… nhưng kẻ bạo quyền CSVN không thể nào dập tắt được ý chí và lòng yêu nước của Minh Hạnh.
Minh Hạnh kể lại những chuyện ở trong tù và mỗi khi có ai hỏi đến chị Mai thị Dung, Hạnh kể lại những bệnh tật của chị Dung… Hạnh bật khóc!… vì quá thương xót cho người đồng cảnh còn ở lại với những ngày tháng khó khăn…
Đến 8h45 (cùng ngày 15/07) có 02 công an mặc sắc phục đến kiểm tra và yêu cầu mọi người đưa CMND để đăng ký tạm trú… nhưng điều nực cười là tất cả mọi người không ai có dự định ở lại qua đêm vì đoàn quá đông lên đến 20 người. Đây là một cái cớ của CA Di Linh có mặt nhằm đe doạ, sách nhiễu những người đến thăm Minh Hạnh. Khi bị ông Đỗ Ty (Ba của Hạnh) và vài người trong đoàn chất vấn, 02 CA lúng túng mới chịu ra về vì không hiểu biết về Luật cư Trú… hoặc bị thượng cấp của mình xúi bậy, làm càn… nên đành phải bẽ mặt trước mọi người.

 

Những kẻ tay sai đáng tội nghiệp!
Sau chuyến thăm Đỗ Thị Minh Hạnh, đoàn chia tay gia đình ông Đỗ Ty, chia ra làm 02 nhóm (vì xe không đủ chổ ngồi) để đi Đà Lạt viếng chùa Tuyền Lâm. Nhóm đi xe 16 chỗ cũng có khoảng 8 tên mật vụ bám theo, nhóm thứ 2 đi xe đò cũng có 8 tên đi 04 xe HonDa bám sát trên đoạn đường từ Di Linh – Đà Lạt. Lúc đến chùa Tuyền Lâm thì bọn chúng rất đông… Khi thấy chúng tôi đưa máy ảnh lên thì cả bọn lại giấu mặt và tản ra… Cứ thế, bọn chúng lảng vảng suốt ngày như một kẻ đang toan tính điều gì đó đen tối.
Nhóm chúng tôi là ba người gồm Đức, Hạnh và Lụa rẽ về Lạc Dương để Cho Minh Hạnh đến thắp nhang và viếng mộ của Bà Ngoại đã mất cách đây 02 năm khi Hạnh còn ở trong tù, bọn mật vụ cũng bám chặt chúng tôi cho đến khi cả 03 chúng tôi ra chợ Đà Lạt… họ cũng lẽo đẽo theo sau. Minh Hạnh liền nghĩ ra cách cho các anh mật vụ bài học… để chứng minh cho các anh CA mật vụ biết là chưa được đào tạo bài bản lắm, khi đi vào khúc quanh trong chợ bỗng nhiên Hạnh và 03 người liền quay đầu đột ngột!! làm cho anh mật vụ bị “lộ cờ” lúng túng. Hạnh liền nhìn mặt anh ta cười vui vẻ nói rằng “này người anh em kia đi theo tôi cũng có vẻ mệt mỏi lắm phải không? – nếu có thể, mời anh vào uống cafe cùng chúng tôi nhé!“,  tên mật vụ kia đôi mắt đờ ra vì đã thấy một Minh Hạnh rất hồn nhiên vui tính, anh ta bịt kín khẩu trang… nhưng cũng cảm nhận được đôi mắt của anh ta đang ngạc nhiên vì lời mời của Minh Hạnh, rồi từ đó anh mật vụ này cũng dần biến mất… sau đó để thay thế một tên khác mặc bộ đồ đen, bịt kín khẩu trang màu trắng đi bộ theo chúng tôi lòng vòng trong công viên.
Đúng là những kẻ làm tay sai đáng tội nghiệp!! Có cái “mác” công an, trong khi đó cơm cha áo mẹ ròng suốt từ lúc lên sáu, thêm 12 năm đến 16 năm ăn học trường lớp rồi trở thành chiến sĩ công an mà chỉ chuyên đi rình rập hãm hại người yêu nước nhằm để bảo vệ cho một đảng CSVN độc tài tàn bạo.
Các anh công an có biết rằng những đồng lương mà các anh đang có được đều là tiền thuế của dân, là mồ hôi, là nước mắt của bao người… Nếu chế độ CSVN không còn tồn tại thì các anh vẫn được phục vụ trong màu áo công an, quân đội hay cán bộ nhân viên chức trong cơ quan nhà nước của Việt Nam, các anh được trọng dụng trong thể chế Tự Do – Dân Chủ, Quốc Hội do Dân cử Dân bầu. Lúc bấy giờ thì đồng lương của các anh mới đích thực là chân chính và phục vụ nhân dân.
Đa số những người đấu tranh chúng tôi đều có cảm nhận rằng, CA mật vụ được đảng CSVN bố trí theo dõi hoặc làm điều gì trái với lương tâm, chúng tôi cũng xem các anh là những nạn nhân vì cơm áo, gạo, tiền… đáng thương hơn là đáng ghét.
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Fb Trần Huỳnh Duy Thức – Nhà hoạt động từ thiện và tôn giáo Mai Thị Dung, một nông dân cắt lúa, sinh năm 1969, đang tiếp tục bị hành hạ trong tù khi thụ án 11 năm sau 2 lần bị kết án.
Cùng chồng là ông Võ Văn Bửu, bà Mai Thị Dung – tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo – đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình, tuyệt thực cho các tín hữu đồng đạo, phản đối nhà cầm quyền CSVN tịch thu các cơ sở giáo hội và đàn áp tự do tôn giáo.
Bất chấp gia đình có hai người con dưới tuổi thành niên, ngày 5 tháng 8 năm 2005, công an Việt Nam bắt giữ cả hai vợ chồng Mai Thi Dung và Võ Văn Bửu. Ngày 19 tháng 9 năm 2005, Tòa án tỉnh An Giang kết án bà Mai Thị Dung 6 năm tù và chồng bà 7 năm vì tội “gây rối trật tự công cộng”. Trước đó không lâu, ông Võ Văn Bửu vừa mãn hạn tù 3 năm cũng vì tội danh tương tự.
Trong tù, bà Mai Thị Dung kiên trì tổ chức các lễ Phật. Vì lẽ đó, ngày 22 tháng 7 năm 2008, nhà cầm quyền đã phạt thêm 5 năm tù về tội “chống đối nhân viên công lực”, nâng tổng án tù mà bà Dung phải chịu lên 11 năm.
Suốt thời gian ở tù, mặc dù bệnh nặng, bà Mai Thị Dung luôn bị hành hạ, bị cấm nói chuyện với các tù nhân – bởi thái độ bất hợp tác với cai tù trong việc “ký biên bản nhận tội”. Bà từng tuyệt thực trong tù để phản đối ngược đãi và yêu cầu được đưa đi điều trị. Chỉ một ngày sau khi bà tuyệt thực, hôm mùng 2 tháng 10 năm 2013, từ trại giam Xuân Lộc – Đồng Nai, bà bị chuyển ra Bắc cùng với một tù nhân lương tâm khác vừa được trả tự do là Đỗ thị Minh Hạnh trên quãng đường 1700 km với chân tay bị xích còng nên đã nhiều lần ngất xỉu trong xe thùng bịt kín.
Hiện bà đang bị giam tại Phân trại 3 Thanh Xuân, xã Mỹ Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Nội với tình trạng sức khỏe nguy kịch trong điều kiện tù khắc nghiệt. Bà mắc nhiều chứng bệnh tim, gan, mật, dạ dày, chỉ có thể di chuyển bằng cách bò lê trên nền sàn vì không thể đứng vững – theo những gì chồng bà chứng kiến trong lần thăm cuối năm 2013. Ông Võ Văn Bửu đã ra tù vào tháng 8 năm 2012, sau khi đã thi hành án 7 năm tù giam.
Nhà cầm quyền Việt Nam xem Phật Giáo Hòa Hảo là kẻ thù. Phần lớn các hoạt động của giáo hội phải thực hiện bí mật. Nếu không, luôn có đông đảo an ninh chìm nổi theo dõi, bao vây, phá rối để có cớ bắt bớ những người tham gia lễ lạc.
11 tháng 7 năm 2014
 
Vietnam Human Rights News
vietnamhumanrightsnews@gmail.com
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Vì nƯỚc, vì ĐẠo quên mình.

Vì nƯỚc, vì ĐẠo quên mình.

Người viết Bạch Thư Tuyệt Mệnh.

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

TÂM THƯ VỀ NGÀY ĐẠI LỄ

TÂM THƯ VỀ NGÀY ĐẠI LỄ

 

Kính thưa quý đồng đạo và quý đồng bào,

 

Năm nay, Hội Đồng Trị Sự Trung Ương xin kính mời quý vị tham dự Đại Lễ Kỷ Niệm 75 Năm Đức Huỳnh Giáo Chủ Khai Sáng Phật Giáo Hòa Hảo, được tổ chức tại Hội Quán số 12432 đường Euclid, bên cạnh ngã tư đường Lampson, thành phố Garden Grove.

 

Nhân dịp thiêng liêng trọng đại này, chúng tôi muốn cùng quý vị ôn nhuần lời dạy của Đức Thầy và ưu tư của chúng ta.

 

                    Trả nợ thế nghĩa ân trọn vẹn

                    Cảnh non bồng kỳ hẹn ngày kia

 

Đây là lời của Đức Huỳnh Giáo Chủ.

 

Nợ thế tức là nợ đời, nợ Tứ Ân mà ta đã thọ trong kiếp sống. Vì vậy, ta có bổn phận phải đền trả, bởi vì ta đã thọ nhận vay mượn nó từ thuở bé thơ cho đến lúc thành nhân.

 

Cái công ơn cha mẹ nuôi nấng đẻ đau, 9 tháng cưu mang, 3 năm bú mớm. Rồi ân tấc đất ngọn rau tạo nên kiếp sống này. Ân được dìu dắt về tâm linh đạo đức, còn ân về Đồng Bào và Nhân Loại nữa. Cho nên ta có trách nhiệm phải cố gắng đền đáp một cách tận tình. Ta sẽ tu không thành nếu nợ đời chúng ta không trả, dù có muốn hay không thì cũng phải:

 

                    Tu đền nợ thế cho rồi

                    Thì sau mới được đứng ngồi tòa sen

 

*

 

                    Thấy dân thấy nước nghĩ mà đau

                    Quyết rứt cà sa khoát chiến bào

                    Đuổi bọn xâm lăng gìn đất nước

                    Ngọn cờ Độc Lập phất phơ cao.

 

Con đường cứu nước với chương trình Dân Chủ Xã Hội tiên tiến được Đức Huỳnh Giáo Chủ mở ra là một sinh lộ thực tiễn cho dân tộc Việt. Trước hiểm họa xâm lấn của Trung Cộng, một quốc nạn có thể đưa đến diệt vong, mộtBiển Đông sôi sục như chảo dầu, một biển lửa sắp bùng cháy, kể cả trên đất liền, hiệu ứng với lời tiên tri của Tứ Thánh Tam Hoàng Thơ, đặc biệt là của Đức Huỳnh Giáo Chủ:

 

                    Đất Bắc Kỳ sao quá ruộng sâu

                    Tàu Man đến đó giăng câu đặt lờ

 

Hay là:

 

                    Mặt nước biển lô nhô lặn hụp

                    Chim đua bay cá lại tranh mồi

                    Ngọn thủy triều nô nức sục sôi

                    Bầu trái đất một phen luân chuyển.

 

Để cảnh tỉnh cho những đầu óc nô lệ Tàu cộng, ngay từ năm 1946 khi trả lời cho cụ Phạm Thiều (đại diện Việt Minh) mời Đức Thầy tham chánh, bằng những lời thơ xin trích ra đây 2 câu của cụ Phạm Thiều:

 

                    Sao còn lãnh đạm với đồng bang

                    Toan trút cho ai gánh trị an

 

Đức Thầy đáp họa:

 

                    Nhìn xem Trung quốc khách lân bang

                    Cứ cố xỏ ngầm sao trị an?

 

Và đặc biệt với hai câu như một lời cảnh tỉnh:

 

                    Ngàn năm Bắc địch dày bừa

                    Mà còn đứng dậy tống đưa quân thù.

 

Hỡi những đầu óc mông muội hãy tỉnh thức mau lên kẻo trễ.

 

Kính thưa quý đồng hương, quý đồng đạo,

 

Chúng ta sẽ kỷ niệm ngày Đức Thầy bị cộng sản ám hại, tức là ngày Đức Thầy Thọ Nạn Đốc Vàng, chúng ta đang tổ chức Đại Lễ Kỷ Niệm lần thứ 75 ngày Đức Thầy khai sáng Đạo Phật Giáo Hòa Hảo. Không những tưởng niệm công đức mở đạo cứu đời của Ngài, mà còn tưởng nhớ đến công lao cứu dân cứu nước khi Đức Thầy dấn thân vào con đường đấu tranh chống Pháp để giành Độc Lập qua các Mặt Trận và Phong Trào do Đức Huỳnh Giáo Chủ thành lập hay cộng tác. Nhất là Ngài đã thành lập chánh đảng Việt Nam Dân Chủ Xã Hội.

 

Để tưởng nhớ đến công đức của một vị Phật đã lâm phàm giáo dân độ chúng, đưa muôn người thoát khỏi biển mê sông khổ mà quy về chơn tâm thật tánh để đạt đến cảnh hạnh phúc bình an, tâm linh giác ngộ, như Ngài đã từng bày tỏ:

 

                    Huyền pháp thâm trầm thơm bất tuyệt

                    Vô Vi chánh Đạo hỡi người ơi.

 

Hay một hoài bão chưa thành khi non sông còn dưới ách nông nô độc tài toàn trị. Một đất nước phú cường, một chế độ không độc tài không cộng sản chưa thực hiện được, thì Đức Thầy đã vắng mặt.

 

                    Nước non tan vỡ bởi vì đâu

                    Riêng một ta mang nặng mối sầu

                    Lòng những hiến thân mưu độc lập

                    Nào hay tai họa áp bên lầu.

 

                    *

 

                    Bên lầu tiếng súng nổ vang tai

                    Trời đất phụ chi kẻ trí tài

                    Mưu quốc hóa ra người phản quốc

                    Ngàn thu mối hận dễ nào phai.

 

Kính thưa quý vị,

 

Thư vắn tình dài, chúng ta có thể nghe tiếp hay chia sẻ tâm sự của nhau vào dịp Kỷ Niệm lần thứ 75 ngày Đức Thầy khai sáng Đạo sẽ được Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo tổ chức vào ngày Chủ Nhật 29 tháng 6 năm 2014, lúc 2 giờ chiều tại Hội Quán số 12432 đường Euclid, góc Lampson và Euclid.

 

Một lần nữa xin nhắc lại, ở góc đường Euclid và Lampson, quý vị sẽ thấy trên nóc Hội Quán có treo cờ và biểu ngữ tung bay phất phới, thì đó là địa điểm chào mừng quan khách.

 

Xin quý đồng đạo và đồng hương coi đây là thơ mời chính thức phổ biến sâu rộng trên làn sóng truyền hình và truyền thanh cũng như trên báo chí và internet.

 

Với lòng vô cùng trân trọng và tri ân, sự hiện diện của quý vị là niềm khích lệ lớn lao đối với chúng tôi trên bước đường tầm cầu chân lý, đồng thời phụng sự hữu hiệu cho dân tộc và đạo pháp.

 

Ban Tổ Chức Đại Lễ trân trọng kính mời.

 

 

TM Hội Đồng Trị Sự Trung Ương và Ban Tổ Chức Đại Lễ Kỷ Niệm.

 

– Tiến Sĩ Lê Phước Sang, Hội Trưởng HĐTSTƯ. Trưởng Ban Tổ Chức Đại Lễ. Cell: 832-397-9813.

 

– Huyền Tâm Huỳnh Long Giang, Tổng Vụ Trưởng Phổ Thông Giáo Lý. Tổng Thư Ký Ban Tổ Chức Đại Lễ. Cell:714-720-5271

 

Xin lưu ý: Đậu xe trên đường Lampson hay những địa điểm thuận tiện gần đó.

 

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

LỜI KÊU GỌI

LỜI KÊU GỌI

BẢO VỆ CHỦ QUYỀN ĐẤT NƯỚC

TRƯỚC HÀNH ĐỘNG XÂM LẤN CỦA TRUNG QUỐC

_______

– Quý vị Lãnh đạo Tinh thần các Tôn giáo.

– Quý vị Lãnh đạo các Đảng phái, Cộng đồng, Đoàn thể Việt Nam hải ngoại.

– Quý vị Cựu Quân nhân QLVNCH và Sĩ quan, Binh lính Quân đội Nhân dân Việt Nam.

– Toàn thể Quý Đồng hương và Đồng bào cùng anh chị Thanh niên Sinh viên Việt Nam

Kính thưa Quý vị,

Ngày 1 tháng 5 năm 2014 vừa qua, nhà cầm quyền Trung Quốc đã ngang ngược đưa giàn

khoan dầu HD-981 và nhiều tàu kể cả chiến hạm vào hoạt động tại khu vực thuộc lô dầu khí

143, hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, chỉ cách bờ

biển nước ta khoảng 120 hải lý, không xa khu vực mà Tập đoàn Exxon Mobil đã phát hiện

trử lượng lớn khí đốt (gas). Theo truyền thông quốc tế đây là giàn khoan nước sâu lớn nhất

và tân tiến nhất trị giá hàng tỷ đôla của Trung Quốc, dài 114m, rộng 90m, cao 136m, có thể

hoạt động ở độ sâu 3.000m. Đây không phải là lần đầu tiên xảy ra chuyện Trung Quốc gây

hấn Việt Nam liên quan đến việc tìm kiếm năng lượng, nhưng là lần đầu tiên Trung Quốc thực

hiện hoạt động khai thác dầu mỏ tại vùng nước thuộc tuyên bố chủ quyền của Việt Nam.

Trong quá khứ, năm 1974 Trung Quốc đã xâm chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa từ quyền

quản lý của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và một số đảo đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa

của Việt Nam năm 1988 rồi hung hăng tuyên bố chủ quyền lãnh hải, quyền khai thác các tài

nguyên lòng biển trong chiến lược mở rộng quyền, chủ quyền của Bắc Kinh tại Biển Đông và

cái gọi là “đường lưởi bò chín đoạn”.

Kính thưa quý vị, là người Việt Nam, ai trong chúng ta cũng nhận rõ chưa bao giờ đất nước

mình lại lâm vào tình trạng cực kỳ bi thảm, nguy khốn như hiện nay: Bên trong thì thượng

tầng lãnh đạo phe phái tranh giành sát phạt nhau, kinh tế tuột dốc, văn hóa đạo lý suy đồi, xã

hội hỗn loạn vô kỷ cương. Ngoại bang với sự tiếp tay của tham quan nội địa, đã xâm nhập sâu

vào lãnh thổ Việt, thành lập những phố, những làng người Trung Quốc loang lỗ khắp cùng đất

nước; Bên ngoài thì hải quân, hải tuần Trung Quốc vây bắt, khủng bố, ức hiếp ngư dân Việt.

Họ ngang nhiên xâm lấn đưa giàn khoan vào sâu trong vùng biển kinh tế Việt Nam như chỗ

không người; Họ còn xây căn cứ, xua tàu chiến, lăm le nuốt trọn cả vùng biển trời, hải đảo của

chúng ta. Quả thật vận mệnh tổ quốc Việt Nam như con thuyền chông chênh vô chủ.

Trong hoàn cảnh ấy, vì hệ lụy trong guồng máy đảng trị, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam

mãi loay quay yếu ớt chống chỏi, mong cầu hòa nhưng không hiệu quả với kẻ xâm lược

phương Bắc. Tình đồng chí Quốc tế Cộng sản không những không giúp được Cộng sản Hà

Nội thoát khỏi con quái vật đói khát Bắc Kinh mà lại còn gây thêm khó khăn khi chống đở.

Giữa cảnh Tổ Quốc lâm nguy, dù vô cùng bất bình phẫn nộ trước thái độ khiếp nhược của nhà

đương trị Việt Nam nhưng không thể vì vậy mà đành tâm để mặc cho lãnh thổ, lãnh hải nước

nhà rơi vào tay giặc nên sau khi tiếp xúc, thảo luận, lắng nghe tâm ý của nhiều vị lãnh đạo các

tôn giáo, đảng phái, cộng đồng, đoàn thể khắp nơi – chúng tôi gồm những cá nhân người Việt

đang tạm cư tại nhiều nước trên thế giới thuộc mọi thành phần dân tộc Việt Nam quyết định

phát động “Phong Trào Bảo Toàn Trường Sa, Đòi Lại Hoàng Sa” vận động toàn dân Việt

Nam trong và ngoài nước cùng đứng lên bảo vệ non sông, chống quân xâm lược Trung Quốc.

Mục tiêu của Phong trào là:

Thứ nhất: Tố cáo hành động xâm lăng Hoàng Sa và xâm lấn Trường Sa thuộc Việt Nam của

nhà cầm quyền Trung Quốc trước công luận Quốc tế.

Thứ Hai: Kiên quyết bác bỏ đòi hỏi ngang ngược và phi lý của nhà cầm quyền Bắc Kinh về

cái gọi là “chủ quyền lãnh hải Đường lưỡi bò” và kêu gọi Liên Hiệp Quốc cùng các quốc

gia trên thế giới chính thức phủ nhận giá trị về tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh và xác định

Quyền Tự Do Lưu Thông Trên Biển Đông.

Thứ Ba: Vinh danh, tri ơn những anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống, anh dũng hy sinh tại Hoàng

Sa và Trường Sa để bảo vệ chủ quyền đất nước.

Thứ Tư: Sát cánh cùng với nhân dân trong nước, đòi hỏi nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam

phải cởi bỏ sự lệ thuộc chính trị, đứng dậy công khai cùng với Philippines và các nước khác

khởi kiện nhà cầm quyền Trung Quốc về những hành động xâm lược tại Hoàng Sa, Trường Sa

và những vi phạm trên Biển Đông.

Thứ Năm: Kêu gọi nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đặt quyền lợi của Tổ Quốc lên trên,

sáng suốt và can đảm mở ra sinh lộ mới cho đất nước, chuyển đổi và xây dựng một chế độ dân

chủ hợp lòng dân. Cùng với mọi thành phần dân tộc trong và ngoài nước xây dựng thế đoàn

kết lớn, khơi mở nội lực dân tộc để bảo toàn lãnh thổ, lãnh hải, triệt tiêu mọi âm mưu đồng

hóa Việt Nam của Trung Quốc.

Thứ Sáu: Khẩn thiết kêu gọi đồng bào, nhất là anh chị em thanh niên, sinh viên Việt Nam

quốc nội và hải ngoại cùng dấy lên một phong trào yêu nước bảo vệ và dành lại chủ quyền

Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam.

Kính thưa Quý Vị,

Không ai yêu nước Việt Nam bằng người Việt Nam và cũng không ai cứu được nước Việt

Nam nếu người Việt Nam không muốn đứng lên tự cứu. Trong nhận thức đó, bằng tất cả

quyết tâm và vì quyền lợi tối thượng của dân tộc, chúng tôi tha thiết mong được sự đồng cảm,

ủng hộ và tham gia “Phong Trào Bảo Toàn Trường Sa, Đòi Lại Hoàng Sa”.

Trân trọng cám ơn Quý Vị và kính chào “Đoàn Kết – Quyết Thắng”.

Hoa Kỳ, ngày 09 tháng 5 năm 2014

Thay mặt nhóm chủ trương

 

_______________

Nguyễn Văn Nam

Tổng Bí Thư

Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

TÂM THƯ VỀ NGÀY ĐẠI LỄ

TÂM THƯ VỀ NGÀY ĐẠI LỄ

 

Kính thưa quý đồng đạo và quý đồng bào,

 

Năm nay, Hội Đồng Trị Sự Trung Ương xin kính mời quý vị tham dự Đại Lễ Kỷ Niệm 75 Năm Đức Huỳnh Giáo Chủ Khai Sáng Phật Giáo Hòa Hảo, được tổ chức tại Hội Quán số 12432 đường Euclid, bên cạnh ngã tư đường Lampson, thành phố Garden Grove.

 

Nhân dịp thiêng liêng trọng đại này, chúng tôi muốn cùng quý vị ôn nhuần lời dạy của Đức Thầy và ưu tư của chúng ta.

 

                    Trả nợ thế nghĩa ân trọn vẹn

                    Cảnh non bồng kỳ hẹn ngày kia

 

Đây là lời của Đức Huỳnh Giáo Chủ.

 

Nợ thế tức là nợ đời, nợ Tứ Ân mà ta đã thọ trong kiếp sống. Vì vậy, ta có bổn phận phải đền trả, bởi vì ta đã thọ nhận vay mượn nó từ thuở bé thơ cho đến lúc thành nhân.

 

Cái công ơn cha mẹ nuôi nấng đẻ đau, 9 tháng cưu mang, 3 năm bú mớm. Rồi ân tấc đất ngọn rau tạo nên kiếp sống này. Ân được dìu dắt về tâm linh đạo đức, còn ân về Đồng Bào và Nhân Loại nữa. Cho nên ta có trách nhiệm phải cố gắng đền đáp một cách tận tình. Ta sẽ tu không thành nếu nợ đời chúng ta không trả, dù có muốn hay không thì cũng phải:

 

                    Tu đền nợ thế cho rồi

                    Thì sau mới được đứng ngồi tòa sen

 

*

 

                    Thấy dân thấy nước nghĩ mà đau

                    Quyết rứt cà sa khoát chiến bào

                    Đuổi bọn xâm lăng gìn đất nước

                    Ngọn cờ Độc Lập phất phơ cao.

 

Con đường cứu nước với chương trình Dân Chủ Xã Hội tiên tiến được Đức Huỳnh Giáo Chủ mở ra là một sinh lộ thực tiễn cho dân tộc Việt. Trước hiểm họa xâm lấn của Trung Cộng, một quốc nạn có thể đưa đến diệt vong, mộtBiển Đông sôi sục như chảo dầu, một biển lửa sắp bùng cháy, kể cả trên đất liền, hiệu ứng với lời tiên tri của Tứ Thánh Tam Hoàng Thơ, đặc biệt là của Đức Huỳnh Giáo Chủ:

 

                    Đất Bắc Kỳ sao quá ruộng sâu

                    Tàu Man đến đó giăng câu đặt lờ

 

Hay là:

 

                    Mặt nước biển lô nhô lặn hụp

                    Chim đua bay cá lại tranh mồi

                    Ngọn thủy triều nô nức sục sôi

                    Bầu trái đất một phen luân chuyển.

 

Để cảnh tỉnh cho những đầu óc nô lệ Tàu cộng, ngay từ năm 1946 khi trả lời cho cụ Phạm Thiều (đại diện Việt Minh) mời Đức Thầy tham chánh, bằng những lời thơ xin trích ra đây 2 câu của cụ Phạm Thiều:

 

                    Sao còn lãnh đạm với đồng bang

                    Toan trút cho ai gánh trị an

 

Đức Thầy đáp họa:

 

                    Nhìn xem Trung quốc khách lân bang

                    Cứ cố xỏ ngầm sao trị an?

 

Và đặc biệt với hai câu như một lời cảnh tỉnh:

 

                    Ngàn năm Bắc địch dày bừa

                    Mà còn đứng dậy tống đưa quân thù.

 

Hỡi những đầu óc mông muội hãy tỉnh thức mau lên kẻo trễ.

 

Kính thưa quý đồng hương, quý đồng đạo,

 

Chúng ta sẽ kỷ niệm ngày Đức Thầy bị cộng sản ám hại, tức là ngày Đức Thầy Thọ Nạn Đốc Vàng, chúng ta đang tổ chức Đại Lễ Kỷ Niệm lần thứ 75 ngày Đức Thầy khai sáng Đạo Phật Giáo Hòa Hảo. Không những tưởng niệm công đức mở đạo cứu đời của Ngài, mà còn tưởng nhớ đến công lao cứu dân cứu nước khi Đức Thầy dấn thân vào con đường đấu tranh chống Pháp để giành Độc Lập qua các Mặt Trận và Phong Trào do Đức Huỳnh Giáo Chủ thành lập hay cộng tác. Nhất là Ngài đã thành lập chánh đảng Việt Nam Dân Chủ Xã Hội.

 

Để tưởng nhớ đến công đức của một vị Phật đã lâm phàm giáo dân độ chúng, đưa muôn người thoát khỏi biển mê sông khổ mà quy về chơn tâm thật tánh để đạt đến cảnh hạnh phúc bình an, tâm linh giác ngộ, như Ngài đã từng bày tỏ:

 

                    Huyền pháp thâm trầm thơm bất tuyệt

                    Vô Vi chánh Đạo hỡi người ơi.

 

Hay một hoài bão chưa thành khi non sông còn dưới ách nông nô độc tài toàn trị. Một đất nước phú cường, một chế độ không độc tài không cộng sản chưa thực hiện được, thì Đức Thầy đã vắng mặt.

 

                    Nước non tan vỡ bởi vì đâu

                    Riêng một ta mang nặng mối sầu

                    Lòng những hiến thân mưu độc lập

                    Nào hay tai họa áp bên lầu.

 

                    *

 

                    Bên lầu tiếng súng nổ vang tai

                    Trời đất phụ chi kẻ trí tài

                    Mưu quốc hóa ra người phản quốc

                    Ngàn thu mối hận dễ nào phai.

 

Kính thưa quý vị,

 

Thư vắn tình dài, chúng ta có thể nghe tiếp hay chia sẻ tâm sự của nhau vào dịp Kỷ Niệm lần thứ 75 ngày Đức Thầy khai sáng Đạo sẽ được Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo tổ chức vào ngày Chủ Nhật 29 tháng 6 năm 2014, lúc 2 giờ chiều tại Hội Quán số 12432 đường Euclid, góc Lampson và Euclid.

 

Một lần nữa xin nhắc lại, ở góc đường Euclid và Lampson, quý vị sẽ thấy trên nóc Hội Quán có treo cờ và biểu ngữ tung bay phất phới, thì đó là địa điểm chào mừng quan khách.

 

Xin quý đồng đạo và đồng hương coi đây là thơ mời chính thức phổ biến sâu rộng trên làn sóng truyền hình và truyền thanh cũng như trên báo chí và internet.

 

Với lòng vô cùng trân trọng và tri ân, sự hiện diện của quý vị là niềm khích lệ lớn lao đối với chúng tôi trên bước đường tầm cầu chân lý, đồng thời phụng sự hữu hiệu cho dân tộc và đạo pháp.

 

Ban Tổ Chức Đại Lễ trân trọng kính mời.

 

 

TM Hội Đồng Trị Sự Trung Ương và Ban Tổ Chức Đại Lễ Kỷ Niệm.

 

– Tiến Sĩ Lê Phước Sang, Hội Trưởng HĐTSTƯ. Trưởng Ban Tổ Chức Đại Lễ. Cell: 832-397-9813.

 

– Huyền Tâm Huỳnh Long Giang, Tổng Vụ Trưởng Phổ Thông Giáo Lý. Tổng Thư Ký Ban Tổ Chức Đại Lễ. Cell:714-720-5271

 

Xin lưu ý: Đậu xe trên đường Lampson hay những địa điểm thuận tiện gần đó.

 

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Đức Huỳnh Phú Sổ bất tử . PGHH Muôn-Năm . Tinh Thần PGHH bất-diệt

Đức Huỳnh Phú Sổ bất tử . PGHH Muôn-Năm . Tinh Thần

PGHH bất-diệt

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔvà Phật Giáo Thời ÐạiLê Hiếu Liêm

 

Chương một: Dẫn nhập Việt Nam và Phật Giáo đầu thế kỷ hai mươi. 

Đầu thế kỷ 20, tư tưởng Nho Giáo, thống trị độc tôn đất nước từ Thời Hồ Quý Ly, nhà Lê và nhà Nguyễn suốt 400 năm, hoàn toàn sụp đổ. Tư tưởng Phật Giáo, ngự trị vinh quang trong thời đại Lý Trần từ thế kỷ thứ 11 đến cuối thế kỷ 14, suy đồi tận gốc. Tư tưởng Tây Phương và tôn giáo của nó, Thiên Chúa Giáo La Mã, bị đại đa số trí thức và nhân dân coi như sản phẩm và công cụ của chế độ Thuộc Địa và thực dân Pháp nên vẫn không được chấp nhận. Ý thức hệ Cộng Sản cũng như các tư tưởng mới khác chưa ra đời. Cả một khoảng trống tư tưởng, cũng có nghĩa là một khoảng trống tôn giáo và chính trị, to lớn bao trùm trên một nước Việt Nam bị nô lệ, bóc lột, áp bức, lạc hậu và nghèo đói. Nhưng đây cũng là môi trường lý tưởng cho sự ra đời của những tư tưởng mới, những tôn giáo mới, những chính đảng mới và những phong trào mới: Phong trào Đông Du và Việt Nam Duy Tân Hội của Phan Bội Châu từ năm 1904,Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can và các nhà Nho tiến bộ năm 1907, tư tưởng dân quyền và dân chủ của Phan Chu Trinh suốt hai mươi năm (1905-1925), phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội cùng năm, Việt Nam Quang Phục Hội năm 1912, cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ và ở Huế năm 1916 của Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, vua Duy Tân…, phong trào Hội Kín ở miền Nam năm 1913-1916 lan rộng khắp Lục Tỉnh và cuộc tấn công Sài Gòn năm 1916. Các hoạt động này đã liên tục diễn ra từ đầu thế kỷ 20 đến cuối đệ nhất thế chiến.

Tuy nhiên mãi đến đầu thập njiên 20 Việt Nam mới thật sự thức dậy với sự ra đời Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng Chí Hội và Tân Việt Cách Mạng Đảng năm 1925, Đạo Cao Đài năm 1926, Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927, Cuộc khởi nghĩa Yên Bái và sự ra đời của Đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930 và phong trào Sô Viết Nghệ Tỉnh 1930-1931.

 

Trong thời gian sôi động này, từ 1925 trở đi, Phật Giáo cũng đã thức dậy. Từ năm 1923, thiền sư Khánh Hòa và thiền sư Thiện Chiếu đã thành lập, tại chùa Long Hòa ở Trà Vinh, Hội Lục Hòa Liên Hiệp với mục đích vận động thành lập một Hội Phật Giáo Việt Nam toàn quốc để chấn hưng Phật Giáo. Thiền sư Thiện Chiếu, khác hẳn tất cả tăng sĩ Phật Giáo đương thời, là một tăng sĩ có tân học. Ông đã đi ra Trung và Bắc vận động thống nhất Phật Giáo năm 1927 nhưng bất thành.

Năm 1928 thiền sư Khánh Hòa xây dựng Thích Học Đường và Phật Học Thư Xã tại Chùa Linh Sơn, Sài Gòn và năm 1929 Ông cho ấn hành tạp chí Viên Âm, tập san Phật Học đầu tiên bằng quốc ngữ tại Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Xoài Hột, Mỹ Tho. Cùng thời, thiền sư Thiện Chiếu xuất bản một tạp chí Phật Học nhắm vào giới thanh niên trí thức lấy tên là Phật Hòa Tân Thanh Niên, đặt tòa soạn tại chùa Chúc Thọ ở Gia Định.

 

Năm 1931 thiền sư Khánh Hòa cùng nhiều tăng sĩ và cư sĩ thành lập Hội Phật Học đầu tiên tại Việt Nam, lấy tên là Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học và thiền sư Từ Phong được mời làm Chánh Hội Trưởng. Hội ra tờ Từ Bi Âm năm 1932. Thiền sư Khánh Hòa, cùng người cộng sự thân tín là thiền sư Thiện Chiếu đã đóng vai trò tiền phong khai mở phong trào chấn hưng Phật Giáo và hiện đại hóa Phật Giáo, chuyển động sâu rộng lịch sử Phật Giáo và lịch sử Việt Nam trong suốt 65 năm qua.

Tại miền Trung, thiền sư Giác Tiên mở Phật Học Đường  tại chùa Trúc Lâm năm 1929 và ủy thác cho đệ tử là bác sĩ Lê Đình Thám thành lập Hội An Nam Phật Học năm 1932. Hội quy tụ đông đảo những danh tăng và cư sĩ trí thức tại miền Trung. Cư sĩ Lê Đình Thám được bầu làm Hội Trưởng và vua Bảo Đại được mời làm Hội Trưởng Danh Dự. Hội ra tạp chí Phật Học Viên Âm năm 1933. Năm 1934, thiền sư Giác Tiên, cư sĩ Lê Đình Thám… đã thành lập Trường An Nam Phật Học, trong đó có mở cấp Đại Học Phật Giáo. Đặc biệt hơn nữa là Hội đã phát động phong trào “Chỉnh Lý Tăng Già” rất quyết liệt để loại trừ ra khỏi tăng già những thành phần phạm giới, bất xứng. Chính nhờ những nổ lực cấp tiến này mà Phật Giáo miền Trung đã đóng được một vai trò quan trọng trong những thập niên sau đó.

Năm 1934 các thiền sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo cùng với giới cư sĩ trí thức tên tuổi tại Hà Nội như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Dương Bá Trạc, Trần Văn Giáp, Nguyễn Năng Quốc, Nguyễn Hữu Kha, Bùi Kỷ, Lê Dư… thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội, bầu cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm hội trưởng và suy tôn thiền sư Thanh Hanh làm Thiền Gia Pháp Chủ. Đặc biệt là trong buổi lễ suy tôn Pháp Chủ này, cư sĩ Trần Trọng Kim đã thuyết pháp về đề tài; “Thập Nhị Nhân Duyên”. Hội ra tạp chí Đuốc Tuệ năm 1935 và phát triển mạnh mẽ khắp miền Bắc (Nguyễn Lang, Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, q 3, t 51-173).

Đặc tính của cả ba Hội Phật Học tại ba miền là vai trò nổi bật của giới trí thức cư sĩ, là thuần túy Phật học và sinh hoạt Phật sự. Thời điểm 1925-1945 là thời điểm chuẩn bị trong kiên nhẫn và thầm lặng. Các hội Phật Học đã làm đúng chức năng và vai trò lịch của mình, một cách khiêm tốn, từ đống gạch vụn đổ nát của nền Phật học và Phật Giáo Việt nam trong thời Thực Dân Pháp thống trị.

Trong thời kỳ này xuất hiện những con người đặc biệt, xuất sắc và những tư tưởng mạnh mẽ, quyết liệt, trong Phật Giáo cũng như ngoài Phật Giáo. Từ đầu thập niên 30, tư tưởng Phật Hộc của Thích Thiện Chiếu đã là những quả bom chấn động. Và năm 1939 Huỳnh Phú Sổ xuất hiện làm một cuộc cách mạng tôn giáo, cải cách toàn bộ và triệt để Phật Giáo chưa từng có trong hai ngàn năm lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Miền Nam, một vùng đất lạ lùng và kỳ diệu…

 

An Hòa Tự

Phan Chu Trinh từ Pháp trở về Sài Gòn năm 1925, đất nước bùng lên những làn sóng tư tưởng dân quyền và dân chủ. Ông khẳng định phải tìm nguyên nhân mất nước trong sự mất đạo đức, mất luân lý, trong bài diễn thuyết Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây, và ông cũng khẳng định chế độ quân chủ chuyên chế là nguyên nhân chính làm mất nước trong bài thuyết giảng Quân Trị Chủ Nghĩa và Dân Trị Chủ Nghĩa tại Sài Gòn năm 1925. Ông mất năm sau đó và đám tang ông cùng với cuộc vận động ân xá nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã khơi bùng phong trào yêu nước và yêu tự do dân chủ trên toàn quốc, đặc biệt là trong giới thanh niên.

Nhưng dữ dội, bốc lửa và sấm sét trong tư tưởng yêu nước chống thực dân cũng như tư tưởng tự do dân chủ, trong thời này, chỉ có Nguyễn An Ninh là đi xa nhất, quyết liệt nhất. Là một thanh niên miền Nam,Ông đi du học ở Pháp và trở về nước với bằng cử nhân Luật. Lợi dụng quy chế thuộc địa của Nam Kỳ, nơi mà báo chí bằng tiếng Pháp được tự do, không bị kiểm duyệt, Ông ra tờ La Cloche fèlèe (Tiếng Chuông Rè) từ năm 1923 đến năm 1926. Ông tự xưng tờ báo của Ông là “cơ quan tuyên truyền tư tưởng Pháp”, lấy tư tưởng của kẻ xâm lăng để đập những nhát búa tạ vào chế độ Thực Dân, đồng thời tờ báo cũng tự nhận là “cơ quan chuẩn bị cho tương lai dân tộc”. Thật là độc đáo và tuyệt vời.

Ngoài việc phê bình kịch liệt, thẳng tay chính sách và chế độ thực dân, Ông cổ võ cho việc đào tạo một tầng lớp thanh niên Việt Nam tân học, có văn hóa, có lý tưởng, có chí khí, có năng lực và có tổ chức vàÔng tuyệt đối tin vào sức mạnh và vào tương lai của nhân dân Việt Nam. Ông chủ trương một nước Việt Nam thống nhất từ Nam chí Bắc và trở về lịch sử dân tộc để tìm niềm tin và sức mạnh. Ông hô hào, khi chỉ mới ngoài 20 tuổi, “Chẳng những phải duy trì những giấc mộng vĩ đại, mà còn phải tổ chức thành một nhóm quan trọng để chuẩn bị cho tương lai”. Không những tư tưởng táo bạo, độc đáo, mới lạ, kiến thức của Ông cũng rất uyên bác. Khi Thống Đốc Nam Kỳ tuyên bố: “Xứ này không cần trí thức”. Ông đã viết bài trả lời bốc lửa: “… Những thảm khổ của chúng ta ngày nay, còn gì nữa, đúng là do tổ tiên của chúng ta đã sờ mó vào cây kiến thức. Hạng trí thức đã làm đảo lộn thế giới, làm hư hỏng hạnh phúc của thế giới. Hãy nguyền rủa tên tuổi của Prométhé, kẻ đã lấy trộm chút lửa của Trời. Hãy nguyền rủa con người đã bày ra cái ná cao su cho trẻ con bắn đá vào trán ông khổng lồ… Trí Tuệ, đó là cái tai hại. Trí tuệ, đó là con rắn cuốn quanh thân cây đã làm cho chúng ta vĩnh viễn mất cõi thiên đường… Nói đến vai trò giáo dục, vai trò văn minh của các ông chủ xứ Đông Dương này, thưa các ông, điều ấy làm ta mỉm cười… Người ta đã quỳ lụy bái phục những vị “đem ánh sáng tới”, những vị “làm điều kỳ diệu ở Ấu Châu”… Cái gì kỳ diệu? Thực ra cái kỳ diệu đó là, chỉ trong một thời gian ngắn thôi, người ta đã có thể làm cho trình độ trí thức của người Nam đã thấp đi lại càng rơi vào chỗ cực kỳ dốt nát. Cái kỳ diệu đó là người ta đã có thể, trong một thời gian ngắn như thế, xô đẩy một dân tộc có tư tưởng dân chủ, ngã nhào vào tình trạng nô lệ hoàn toàn“. (Trần Văn Giàu, Sự Phát Triển Của Tư Tưởng ở Việt Nam Từ Thế Kỷ 19 đến Cách Mạng Tháng Tám, q2, t 311).

Nguyễn An Ninh cũng là một trong những nhà trí thức tân học đầu tiên nghiên cứu Phật Học và hoàn thành một tác phẩm Phật Học quan trọng, cuốn “Phê Bình Phật Giáo”. Sau thời kỳ hoạt động sôi nổi từ 1923 đến 1926, Nguyễn An Ninh bị ở tù trong thời gian 1926-1927, sau đó Ông về nghiên cứu Phật Giáo. Trên bàn làm việc của Ông, có một cái chuông, một cái mõ, Ông cạo trọc đầu và đi chân không.Ông nghiên cứu Phật Giáo qua tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và các hoạt động Phật Giáo trong nước. Cuốn Phê Bình Phật Giáo xuất bản năm 1937 là kết quả của sự nghiên cứu này. Tựa đề của cuốn sách, 70 năm sau cũng không có ai dám viết một cuốn sách Phật Học có tựa đề thách thức và can đảm như vậy. Mục đích và phương pháp luận còn mới lạ, táo bạo hơn, đó là “so sánh Phật Giáo với thời đại của nó để chỉ chỗ hay, chỗ đúng hơn của nó đối với các thuyết khác và so sánh Phật Giáo với thời đại này để chỉ sai lầm của Phật Giáo“. Tác phẩm này được giới trí thức, giới chính trị cũng như giới Phật Giáo chú ý đặc biệt.

Nhưng không gây sóng gió và tranh luận suốt nhiều năm trời như những tác phẩm của Thích Thiện Chiếu.Đối với Tăng, Ni, Phật Tử thập niên 30, những tư tưởng Phật Học của Thích Thiện Chiếu là những tiếng sét ngang tai. Ngày nay đọc lại, chắc chắn quý vị tăng sĩ, cư sĩ và Phật Tử cũng không khỏi giựt mình, chấn động và suy nghĩ. Những tư tưởng này, được viết từ thập niên 30, ngày nay, cuối thập niên 90, vẫn còn mới, còn táo bạo, còn chứa đầy sức nặng của đá tảng và sức nổ của sấm sét. Thích Thiện Chiếu là tinh hoa sáng chói của Phật Giáo trong thập niên 20, 30. Ông đã đi tiền phong trong mọi lãnh vực chấn hưng và hiện đại hóa Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ 20 này.

Ta phải đứng trên một đỉnh núi cao, mới hy vọng nhìn thấy những cái gì chưa ai nhìn thấy, những cái gì nằm khuất sau dãy núi cao. đó có thể là những dãy núi cao hơn, hay là một đại dương mênh mông hay là một bình nguyên rực rỡ. Thích Thiện Chiếu là một ngọn núi cao của Phật học và Phật Giáo Việt Nam trước đệ nhị thế chiến. Ta hãy đứng trên đỉnh núi cao ngất, hùng tráng này để nhìn rõ một đỉnh núi cao ngất, hùng vĩ khác, là Cư sĩ, Bồ Tát, Giáo Chủ Huỳnh Phù Sổ.

|Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10|TK|

[BHH430] [PGHH] [THƯ VIỆN PGHH]

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY HIỆU TRIỆU

SÀI GÒN: PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY KÊU GỌI BIỂU TÌNH CHỦ NHẬT 18-5-2014 LÚC 8 GIỜ SÁNG

SÀI GÒN: PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY KÊU

GỌI BIỂU TÌNH CHỦ NHẬT 18-5-2014 LÚC 8 GIỜ

SÁNG

HLTL TRONG NƯỚCTÔN GIÁO5/14/2014

 

PHẬT GIÁO HÒA HẢO

THUẦN TÚY

HIỆU TRIỆU

Hỡi anh em trong nhà Nam Việt!

Nhớ nước ta hùng liệt thuở xưa.

Ngàn năm Bắc địch vày bừa,

Mà còn đứng dậy tống đưa quân thù.

Tiếng roi lại bình Ngô sát Đát,

Sử xanh còn ngào ngạt hương thơm. . .

 

Là con Hồng cháu Lạc, chúng ta làm sao quên được những trang sử bi thảm ngàn năm Bắc thuộc Trung Quốc đã giày xéo quê hương yêu quí của chúng ta, chà đạp lên đời sống của Dân tộc ta.

 

Những tấm gương sáng rạng ngời của tiền nhân ta: Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê là những trang sử oai hùng oanh liệt lưu lại cho chúng ta nhớ đến bổn phận thiêng liêng: BẢO VỆ TỔ QUỐC.

 

Nay, Tàu cộng lúc nào cũng nuôi tham vọng thôn tính nước ta, ngang ngược chiếm đảo, chiếm biển, chiếm đất, khai thác beauxit Tây Nguyên. . . rồi giờ đây lại đặt khoan dầu ở Biển Đông  một cách khiêu khích, coi 90 triệu đồng bào chúng ta như cỏ rác. . .

 

Vậy thì ta hãy hiệp bè,

Cùng nhau đoàn kết đặng khoe sức hùng.

Khắp Bắc Nam đùng đùng một trận,

Ấy mới mong quốc vận phục hồi.

Trước là dẹp lũ cộng bồi,

Sau đưa quốc tặc qui hồi Diêm cung.

Nếu nay chẳng vẫy vùng cương quyết,

Thì ắt là tiêu diệt giống nòi. . .

 

Đồng bào ơi!

Chúng ta hãy mạnh mẽ xuống đường để đả đảo Tàu cộng, đả đảo những kẻ mãi quốc cầu vinh, biểu dương tinh thần kiên cường yêu nước. 

 

ĐEM MÁU XƯƠNG ĐỔI LẤY TỰ DO.

 

Ngày xuống đường là ngày Chủ nhật 18-5-2014 vào lúc 8 giờ sáng. Địa điểm tập trung: Công viên 30-4 cạnh nhà thờ Đức Bà.

 

Với tư cách Hội Trưởng Trung Ương PGHH Thuần Túy, tôi tha thiết kêu gọi 7 triệu tín hữu PGHH toàn quốc, nhất là ở Miền Tây HÃY MẠNH MẼ TÍCH CỰC THAM GIA CÁC CUỘC BIỂU TÌNH CỦA ĐỒNG BÀO CHỐNG Tàu cộng. 

 

VIỆT NAM ĐỘC LẬP MUÔN NĂM.

Ngày 14 tháng 5 năm 2014.

TM Giáo Hội PGHH Thuần Túy.

Hội Trưởng Trung Ương

 

 

LÊ QUANG LIÊM

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

PGHH – CẢNH BÁO KHẨN CẤP

PGHH – CẢNH BÁO KHẨN CẤP

 

PHẬT GIÁO HÒA HẢO
THUẦN TÚY
————————-
CẢNH BÁO KHẨN CẤP

Theo một nguồn tin đáng tin cậy cho biết là trong cuộc biểu tình sáng chủ nhật 18-5-2014, đám tay sai của Tàu cộng ở VN sẽ tổ chức nhiều toán xã hội đen trà trộn vào những người biểu tình rồi gây những việc náo loạn bất hợp pháp như vừa xảy ra ở Bình Dương và một vài nơi khác.

Âm mưu này biến những cuộc biểu tình chính nghĩa biến thành những hành động ô tạp bất hợp pháp nhằm mục đích:

a- Làm giảm uy tín phong trào chống Tàu cộng đang biểu dương và phát triển mạnh mẽ.

b- Tạo cho nhà cầm quyền cộng sản có cơ hội muốn bắt ai thì bắt, vàng thau lẫn lộn, dựa vào lý do an ninh trấn áp thành phần lãnh đạo phong trào chống Tàu cộng, dập tắt phong trào càng sớm càng tốt.

Trong tinh thần kiên cường bảo vệ đất nước, chúng ta vẫn tiến hành cuộc biểu tình nhưng phải hết sức dè dặt và thận trọng đối với những phần tử bất chính cùng đứng trong hàng ngũ biểu tình với chúng ta. Nếu có dấu hiệu sẽ xảy ra cuộc hỗn loạn thì ta phải tự giải tán đừng để bọn tay sai của Tàu cộng thừa cơ lợi dụng.

Ngày 16 tháng 5 năm 2014.

TM Giáo Hội PGHH Thuần Túy

Hội Trưởng Trung Ương

LÊ QUANG LIÊM

Tin liên quan 
SÀI GÒN: PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY KÊU GỌI BIỂU TÌNH CHỦ NHẬT 18-5-2014 LÚC 8 GIỜ SÁNG

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

PGHH: Bạch Thư Tuyệt Mệnh của Tín đồ Nguyễn thị Ngọc Lan

PGHH: Bạch Thư Tuyệt Mệnh của Tín đồ Nguyễn thị

Ngọc Lan

HLTL TRONG NƯỚC4/01/2013

PHẬT GIÁO HÒA HẢO (năm đạo thứ 74)

 

BẠCH THƯ TUYỆT MỆNH

 

Kính gởi:

– Ủy Hội Nhân Quyền Quốc Tế HĐBA LHQ.

– Cộng  Đồng Nhân Loại yêu chuộng: Hòa bình, Công Lý, Nhân quyền: tự do Tôn Giáo, tự do Dân Chủ trên thế giới.

– Các cơ quan truyền thông quốc tế.

– Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước.

– Đảng cầm quyền CS Việt Nam.

 

Tôi tên là: Nguyễn thị Ngọc Lan sinh năm 1956 thường trú số nhà 128/2 khu vực Thới Trinh A, phường Thới An quận Ô Môn TP CT. Nhân vào mùa xuân ĐẠO NẠN: 25/ tháng 02 và QUỐC NẠN: 30/ 04, kỷ niệm hằng năm trên đất nước Việt Nam. Tôi một tín đồ PGHH xin kính gởi bức: BẠCH THƯ TUYỆT MỆNH nầy đến với mọi người để chia sẻ lý tưởng và tâm tư nguyện vọng tha thiết của tôi, có nội dung như sau:

 

1- Phật Giáo Hòa Hảo là một tôn giáo Việt Nam, sinh ra và phát triển từ lòng dân tộc, Đức Giáo Chủ: Huỳnh Phú Sổ là người Việt Nam, khai sinh năm 1919 và lớn lên đến năm 1939, Ngài được 19 tuổi đã mở đạo tại làng Hòa Hảo và cho đến  ngày 25 tháng hai nhuần năm đinh hợi, thì Thọ Nạn tại rạch Đốc Vàng, cũng chính trên dãi đất Việt Nam nầy, lúc ấy Ngài được 27 tuổi. Có thể khẳng định cuộc đời và sự nghiệp Đức Huỳnh Giáo Chủ và tôn giáo PGHH đã gắn liền dòng sinh mệnh của dân tộc và tổ quốc Việt Nam.Với một nền giáo lý căn bản là: Học Phật Tu Nhân. Học Phật là học theo công hạnh của Phật. “Phật tu cách nào đắc đạo rồi dạy ta, ta phải làm theo cách nấy”. Còn Tu Nhân là đền đáp bốn trọng ân,1- Ân Tổ Tiên Cha Mẹ, 2- Ân Đất Nước, 3- Ân Tam Bảo, 4- Ân Đồng Bào và Nhân Loại, trong đó Ân Đất Nước, được đặt trước Ân Tam Bảo.

 

Để thực thi nghĩa vụ công dân lúc nước nhà bị họa xăm lăng đô hộ “nước mất đâu dễ ngồi an”. Với một ý chí ưu việt kế thừa truyền thống Đức Trần Nhân Tông, “Tăng sĩ quyết chùa am bế cửa, Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha. Đền xong nợ nước thù nhà, Thiền môn trở gót Phật Đà nam mô”, Đức Huỳnh Giáo Chủ với 02 triệu tín đồ, năm 1945 Ngài đã cổ súy khối tín đồ cùng toàn dân đứng lên đánh đuổi xăm lăng, giành lại độc lập cho đất nước… Là Đấng Giáo Chủ một Tôn Giáo phát xuất tại Việt Nam, và là thủ lãnh Đảng Việt Nam Dân Chủ Xã Hội: Đã chủ trương “toàn dân chính trị” thế tất Đảng chống độc tài bất cứ hình thức nào”, đã đối lập lại chủ nghĩa ngoại lai vô thần độc tài của lãnh tụ vong bản Hồ Chí Minh, một đệ tử của CNCSQT, núp với chiêu bài:Việt Minh. Cướp được chính quyền từ đức vua Bảo Đại, Việt Minh CS đã thủ tiêu những người thuộc các Đảng phái quốc gia chân chính, cụ thể chính là Đức Huỳnh Giáo Chủ PGHH đã bị ám hại trong một cuộc họp hòa giải do Việt Minh tổ chức vào ngày 25 tháng Hai nhuần năm Đinh Hợi, nhằm ngày 16-04-1947, và đoàn thể PGHH đã trở thành nạn nhân của VMCS. Với vô số những nấm mồ chôn tập thể, khắp nơi thuộc vùng ĐBSCL, đến nay vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Việt Minh CS đã khiến cho tinh thần đoàn kết dân tộc lúc bấy giờ bị tan rã, tạo cơ hội cho Pháp tái chiếm Việt Nam lần thứ hai.

 

Sau biến cố ngày 30-04-1975, miền nam Việt Nam bị CSBV cưỡng chiếm, các tôn giáo bị giải thể, nhất là tôn giáo PGHH. Bởi ý thức hệ của chủ nghĩa CS và trong quá khứ có những cuộc tàn sát đẫm máu đối với PGHH, ĐCSVN cầm quyền đã tìm mọi cách để triệt tiêu PGHH. Giáo Lý bị tịch thu hũy bỏ, các cơ sở thờ tự của đạo bị quản lý chiếm dụng, các chức sắc của đạo bị đưa đi trại tù “học tập cải tạo”. Nhiều người đã chết rũ trong lao lý, hay ra tù chỉ thời gian ngắn là chết, vì bị khảo hình hoặc bị đầu độc, do tính chất bạo lực bất khoan dung của chế độ CS.

 

Năm 1999, do sự đấu tranh đòi hỏi không ngừng từ trong nước, cùng cộng đồng người Việt hải ngoại và sức ép của cộng động quốc tế về Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo tại Việt Nam. Nhà cầm quyền CS với ý đồ “dùng PGHH để diệt PGHH”. Ngày 26-05-1999, Họ đã dàn dựng tấm bình phong để dối lừa công luận gồm: Ban Đại DiệnPGHH quốc doanh, làm tay sai công cụ để hợp pháp hóa vai trò thủ tiêu mọi truyền thống, lịch sử, di tích quý báu của PGHH, nhất là ngày lễ thiêng liêng trọng đại 25 tháng 02 hằng năm, ngày mà VMCS đã ám hại ĐHGC, (cho đến nay vẫn bị cấm ngăn, khủng bố, triệt hạ tín đồ hành lễ).

 

Để đấu tranh bảo vệ Đạo Pháp, đòi quyền Tự Do Tôn Giáo cho các tôn giáo Việt Nam nói chung, PGHH nói riêng, bằng chủ trương “ôn hòa bất bạo động,” người tín đồ PGHH thuần túy, đã bị nhà cầm quyền CS đàn áp, khủng bố rất dã man, vì quyết bảo vệ Đạo Pháp, bảo vệ những truyền thống quý báu không bị triệt tiêu, nhiều người đã quyết hy sinh quyền lợi gia đình và thân mạng, bằng cách Tự Thiêu, hay phải vào tù để phản đối sự đàn áp, và đòi quyền TỰ DO TÔN GIÁO với nhà cầm quyền CSVN, cho đến nay vẫn tiếp diễn không ngừng.

 

2- Kể từ khi có ĐCSVN do ông Hồ Chí Minh làm lãnh tụ. Suốt 69 năm cầm quyền miền bắc, 38 năm cầm quyền miền nam, ĐCS đã gây ra biết bao là tội ác với dân tộc Việt Nam. Khởi động chiến tranh đã làm tang tốc đau thương cho người dân hai miền Nam, Bắc phải nhà tan cửa nát, hàng ba triệu người đã tốn hao sinh mạng vì bị chết chóc, mang thương tật, do đạn bom để lại. Khi không có chiến tranh, ĐCS cầm quyền đã cướp đoạt tài sản đất đai nhà cửa nhân dân, và giết người bằng khẩu hiệu, chính sách bần cùng hóa nhân dân “trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, tróc tận rể”, cải cách ruộng đất, nhân văn giai phẩm, học tập cải tạo, đánh đổ tư bản, cải tạo công thương nghiệp, đưa dân tập trung vùng kinh tế mới, làm kiệt quệ nguồn tài lực của quốc dân, trong thời kỳ gọi là “bao cấp”.

 

Bước sang thời kỳ “mở cửa”, đảng viên cộng sản có đầy đủ mọi quyền lực, dựa giẫm trên luật pháp, hưởng lợi ích nhóm với nhiều dịch vụ thương mại, nhận hối lộ bất chính, đồng lõa bao che, chia chác, tha hồ nhũng lạm bóc lột, đục khoét ngân sách quốc dân, gây nợ nần chồng chất lên đầu cổ người dân Việt Nam cần cù lao động. Tệ tham nhũng nầy, đến nay đã trở thành quốc nạn. Bị đối xử áp bức bất công, số Dân Oan bị cướp mất tài sản đất đai nhà cửa, đi khiếu kiện kêu oan nhiều năm, nhà cầm quyền vẫn không cứu xét, vô gia cư, cuộc sống đói nghèo lê la khắp nơi cầu thực.

 

Phụ nữ Việt Nam phải đi làm dâu hay làm nô lệ, bán dâm cho người ngoại quốc để kiếm tiền, mong “xóa đói giảm nghèo” cho gia đình người thân. Trẻ em nghèo đói thất học, lao động, bán vé số, ăn xin vất vưỡn đọa đày trong cuộc sống độ nhựt vv và vv.

 

Một thể chế độc đảng bất công, nên sanh nhiều tệ nạn hoành hành, đã đẩy người dân xuống tận cùng vực thẳm của sự khổ đau. Tự do Dân Chủ, tự do Tôn Giáo bị áp đặt cấm đoán khắc khe. Nhà tù CS đã cầm giam vô số những người bất đồng chính kiến, chỉ vì cất lên tiếng nói đòi quyền Tự do Tôn Giáo, đòi quyền tự do Dân Chủ.

 

Nói tóm lại từ khi ĐCS cầm quyền cho đến nay, với một chủ nghĩa ngoại lai vô thần, độc tài chuyên chế, triệt tiêu Tôn Giáo, xây dựng quyền lợi trên xương máu của nhân dân, đã tạo nên một xã hội Việt Nam đau thương, đầy máu và nước mắt, phẩm chất đạo đức suy đồi, tham quan đầy dẫy, bất công áp bức lộng hành, đói nghèo tuộc hậu. Tất cả đã hiện bày mà không một ai có lương tri mà không thấy biết. Và sự ám ảnh trước mắt: Là nguy cơ bị mất nước, dân tộc Việt Nam sắp làm nô lệ cho bọn bành trướng Tàu phù do ĐCSVN nhiều lần đã âm thầm ký kết thỏa hiệp hiến dâng Tổ Quốc. (Công hàm của Thủ Tướng Phạm văn Đồng đã chứng minh điều nầy).

 

Là người tín đồ PGHH phụng hành giáo pháp TỨ ÂN. Nhân mùa Quốc Nạn 30/04/1975, ngày CS miền Bắc cưỡng chiếm miền Nam, và lễ kỷ niệm 25/02 âl hàng năm ngày ĐHGC PGHH vắng mặt, do VMCS âm mưu hãm hại, suốt 37 năm qua ngày lễ kỷ niệm nầy luôn bị nhà cầm quyền cấm ngăn và khũng bố tín đồ PGHH không cho hành lễ. Nay trước thảm cảnh lầm than: Đạo Pháp ngữa nghiêng, Quốc phá Gia vong của đồng bào và tổ quốc Việt Nam. Lòng đầy bi xót, tôi xin kính gởi bức Bạch Thư Tuyệt Mệnh nầy đến với các tổ chức, cơ quan Nhân Quyền, dân chủ trên thế giới, mong  có biện pháp hữu hiệu cứu giúp. Bằng con tim khát vọng, muốn cho toàn thể đồng bào Việt Nam thân thương của tôi có một cuộc sống thật sự được: ĐỘC LẬP, TỰ DO, ẤM NO HẠNH PHÚC, và CÔNG BẰNG XÃ HỘI, mà suốt 69 năm qua, dân tộc Việt Nam chúng tôi đã bị chế độ vô thần, độc tài CSVN cưỡng đoạt. Để biểu lộ thành ý trên, tôi nguyện đốt lên ngọn Đuốc thân, để phản đối chính sách đàn áp Tôn Giáo, và Dân chủ bị kềm kẹp, góp phần cùng toàn dân tháo toan ách nạn cộng sản, kiến tạo lại một xã hội văn minh Việt Nam Mới mà Nhân Quyền phải được thực thi một cách đầy đủ.

 

Và riêng các Đảng viên, ĐCS cầm quyền, những điều tôi nêu trên của chế độ cầm quyền cộng sản là hoàn toàn đúng sự thật. Và tôi dám chắc một điều, đảng các vị là tác nhân, nên các vị hiểu rõ hơn ai hết, nhưng không thể thừa nhận sự thật trên, cụ thể như chính Sử gia kiêm ĐBQH Dương Trung Quốc đã phát biểu “có những sự thật không thể nói ra”. Vì sự thật đó chính là sai trái là lỗi lầm, là tội đồ của Dân Tộc. Vì đã đặc quyền lợi đảng trên tổ quốc và đồng bào, quên cội nguồn dân tộc, tôn thờ một chủ nghĩa CSQT, cam tâm làm tay sai, hiến dâng tổ quốc cho bọn bành trướng giặc Tàu, đưa dân tộc đến chổ khốn khổ, đói nghèo, lạc hậu, và cùm gông trong nô lệ.

 

Tôi chân thành tha thiết cầu mong quý vị hãy nghĩ đến tình ruột thịt, nghĩa đồng bào, da vàng, “giọt máu cùng đỏ, giọt nước mắt cùng mặn”. Dân tộc ta đã chịu đựng quá nhiều điều lầm than cơ cực và mất mát do ĐCSVN gây ra. Xin hãy thức tỉnh, tìm về lịch sử. Đức Vua Hùng đã có công dựng nước, các bậc Tiền Nhân bao đời đã có công giữ nước đem máu đào tắm gội giang san “thà làm quỷ nước Nam, quyết không nô lệ làm vương hầu phương bắc”. Họ đã hy sinh viết nên những trang lịch sử, độc lập vẻ vang oanh liệt cho nòi giống. Ý chí quật cường bất khuất, niềm kiêu hãnh vốn có của Tổ Tiên Hồng Lạc với một nền Văn Hiến quý báu hơn bốn ngàn năm lịch sử, mang đậm đà bản sắc của dân tộc, đã bao lần đập tan mộng xâm lăng, tham tàn bành trướng trước một kẻ thù khổng lồ phương bắc.

 

– Hãy vì nền độc lập, chủ quyền của quốc gia dân tộc Việt Nam không bị Tàu hóa.

– Hãy vì tương lai phồn vinh, thịnh vượng của quê hương Việt Nam.

– Hãy vì sự tự do, ấm no hạnh phúc, công bằng xã hội cho đồng bào Việt Nam.

 

Nay con thuyền Tổ Quốc Việt Nam sắp bị diệt vong trước phong ba bão táp: áp bức, đói nghèo, nô lệ giặc xâm lăng. Các vị là người lèo lái vận mệnh, hãy chuyển đổi phương hướng, tránh cho đồng bào cuộc tương tàn tương sát đẫm máu, tiến tới  hòa hợp hòa giải dân tộc, y như Miến Điện đã thực hiện một cách tuyệt vời. Hãy cùng nhau tuyên bố:

 

1-      Giải thể đảng Cộng Sản, trả quyền làm chủ cho nhân dân.

2-      Trả tự do cho các tù nhân Tôn Giáo và Chính Trị.

3-      Trưng cầu dân ý, có tổ chức nhân quyền quốc tế giám sát.

4-      Tiến hành bầu cử quốc hội lập hiến, bao gồm cá nhân, các đảng phái tham gia.

5-      Xây dựng Hiến Pháp Việt Nam, nhân quyền, dân chủ theo đúng tinh thần HĐBA LHQ.

 

Có được như thế, Tổ Quốc và đồng  bào Việt Nam mới thoát khỏi thảm họa diệt vong trước kẻ thù phương bắc, cùng chung xây dựng xã hội Dân Giàu Nước Mạnh, và Quý vị sẽ trở thành ân nhân của đại gia đình Việt Nam. Trang lịch sử tên tuổi quý vị muôn thu mãi chói ngời. Bằng ngược lại, tốc độ vận hành bánh xe Nhân Quyền, dân chủ Việt Nam sẽ nghiền nát, mà không một quyền lực nào có thể kềm hãm được. Tất cả mọi thứ vật chất của việc làm phi nhân phi nghĩa lẫn danh dự, sẽ không còn và bị đào thải xuống vũng bùn nhơ bẩn nghìn thu./.

 

Phật Giáo Hòa Hảo trường tồn bất diệt.

Tổ Quốc Việt Nam đời đời bền vững.

Nòi Giống Lạc Hồng tự do dân chủ, văn minh, ấm no hạnh phúc muôn năm.

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam Mô A Di Đà Phật.

Nam Mô Đại Từ Đại Bi Kim Sơn Phật.

 

Cần Thơ ngày   01  tháng 04 năm 2013.

Người viết Bạch Thư Tuyệt Mệnh.

 

 

Nguyễn Thị Ngọc Lan.

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

BẠCH THƯ SỐ 1 Và Số 2 PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY

BẠCH THƯ SỐ 1 Và Số 2 PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY

  BẠCH THƯ SỐ 1 Và Số 2 PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY CỦNG CỐ GIÁO QUYỀN-THỐNG NHẤT GIÁO HỘI-XIỂN DƯƠNG GIÁO PHÁP ————————–                           THÔNG BẠCH Kính gởi: Toàn thể tín hữu PGHH thân mến trong và ngoài nước, NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT. NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT. Thưa chư tín hữu, Nhân danh Hội Trưởng Trung Ương PGHH Thuần Túy, tôi có lời khen ngợi tòan thể Trị Sự Viên trong Giáo Hội và một số tín hữu đã phát huy mạnh mẽ ý chí kiên cường bất khuất trước sức đàn áp thô bạo của nhà cầm quyền cộng sản quyết tâm ngăn chận chúng ta tổ chức ngày Đại Lễ 25/2 âl , kỷ niệm Đức Huỳnh Giáo Chủ bị việt minh cộng sản ám hại. Giáo Hội PGHH Thuần Túy chúng ta đã biểu dương được tinh thần “TẬN TRUNG VỚI ĐẠO, TẬN HIẾU VỚI THẦY” một cách anh dũng bất chấp hiểm nguy sinh tử trước nhãn quan quốc nội và nhãn quan quốc tế rằng: PGHH không phải là con giun mà cộng sản muốn gày xéo thế nào cũng được. Thực ra, đứng trên phương diện thực tế khách quan, việc tổ chức lễ kỷ niệm là một phong tục thiêng liêng của nhân gian, bất luận giai cấp nào, tôn giáo nào, cả đình miểu am cốc đều có quyền tổ chức, không một quyền lực nào có quyền ngăn trở. Trên đất nước VN có bao nhiêu tôn giáo, có bao nhiêu đình miểu am cốc cũng đều được tự do tổ chức lễ kỷ niệm, chỉ duy nhất có PGHH là không được hưởng quyền này . Đó là chứng cứ hiển nhiên cho thấy rằng đảng csVN vẫn quyết tâm tiêu diệt PGHH, vì sao csVN muốn tiêu diệt PGHH? Vì PGHH tôn trọng Ân Tổ Tiên Cha Mẹ còn cs thì vô gia đình . . . Vì PGHH tôn trọng Ân Đất Nước còn cs thì vô tổ quốc . . . Vì PGHH tôn trọng Ân Tam Bảo (Phật,Pháp,Tăng) còn cs thì vô tôn giáo . . . Vì PGHH là một tôn giáo dân tộc, sinh ra từ lòng dân tộc, lớn lên trong khí thiêng sông núi của Tổ Quốc nên phải sống cùng Tổ Quốc và Dân Tộc và cũng phải chết vì Dân Tộc và Tổ Quốc. Đó là một chướng ngại to lớn trên con đường “xích hóa” VN của đảng csVN nên csVN phải triệt tiêu PGHH cho bằng được. Lần này nhà cầm quyền cs đã sử dụng trên 1.000 công an, bộ đội cơ động, có cả xã hội đen, xe vòi rồng, xe bít bùng, v.v. . . để đàn áp PGHH. Cái cảnh cs đàn áp thê thảm xảy ra tại nhà ông Nguyễn Văn Vinh đã chứng tỏ rõ ràng những hành động đó vừa vô nhân đạo, vừa vô liêm sĩ, vừa thô bạo, vừa tàn ác không còn tình người và người. – Đánh một bà già 82 tuổi (bà Trần Thị Xinh) rồi lột quần áo bỏ nằm trần truồng lõa lồ dưới đất là một hành động rừng rú không thấy có trong lịch sử loài người. – Đánh bà Võ Thị Gấm (vợ cố Hà Hải, người bị chết vì cs ngược đãi trong tù) 82 tuổi, gãy tay phải nhập viện . – Đánh đập 20 tín đồ PGHH bất tỉnh rồi lục soát ai có cà rá thì lấy cà rá, ai có giây chuyền thí lấy dây chuyền, ai có vòng vàng thì lấy vòng vàng, ai có tiền thì lấy tiền. Lấy tiền tất cả hơn 100 triệu đồng là tiền của anh em tín đồ PGHH dành dụm đóng góp để chẩn bần tín đồ nghèo trong dịp lễ. Ôi! Quang vinh thay cho đảng csVN, đánh người bất tỉnh để cướp của như thế ấy là hành động còn rừng rú hơn những toán thổ phỉ ! ! ! – Đóng chốt trước nhà trên 50 gia đình Trị Sự Viên lãnh đạo Giáo Hội PGHH Thuần Túy, “nội bất xuất, ngoại bất nhập” trong nhà có ai bịnh hoạn bất thường cũng không được đi ra khỏi nhà để chữa trị, nằm chờ chết. Với tín đồ PGHH nông dân chất phác, tay lấm chân bùn, trong tay không một tất sắt mà nhà cầm quyền cs đã sử dụng hằng ngàn công an để đàn áp thật là oai hùng, trong lúc quỳ lạy cúi đầu dâng đất (6 tỉnh phía Bắc) dâng biển, dâng đảo, dâng khai thác bauxit Tây Nguyên cho Tàu cộng . . . Các ông lãnh đạo đảng csVN ơi! Các ông có thấy hổ thẹn không? Thưa chư tín hửu PGHH thân mến, Cuộc đối đầu với cs , nhất là cuộc tuyệt thực tại gia của chúng ta lần này, người tín đồ PGHH đã biểu dương tinh thần bất khuất, ý chí kiên cường để bảo vệ đạo pháp, để bảo vệ quyền làm người của con người . . . Cuộc tuyệt thực đã đi đến ngày thứ tư, tôi xét thấy cũng dã đủ rồi, chúng ta phải bảo tồn sức khỏe của chúng ta để tiếp tục tiến bước trên con đường đấu tranh giải thể đảng cộng sản VN, tay nắm tay, sức chung sức, lòng chung lòng với toàn dân đế xây dựng một nước VN: Tự Do, Dân Chủ, Hòa Bình và Thịnh Vượngthật sự xứng đáng là con Hồng cháu Lạc với truyền thống 4.000 năm văn hiến. Tôi xin long trọng tuyên bố CHẤM DỨT CUỘC TUYỆT THỰC  kể từ hôm nay: ngày 27-3-2014. PHẬT đạo sáng ngời ánh bửu linh, GÍAO truyền chánh pháp tạo thanh bình. HÒA đồng nhơn loại an thiên hạ, HẢO hợp thời cơ độ chúng sanh. TRƯỜNG thuyết Tu Nhân đời thạnh trị, TỒN tâm Học Phật , đạo quang vinh. BẤT câu tăng tục chơn như pháp, DIỆT khổ qua bờ đến cõi thanh. – ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ VẠN TUẾ. – PGHH TRƯỜNG TỒN BẤT DIỆT. Ngày 27 tháng 3 năm 2014. TM Giáo Hội PGHH Thuần Túy. Hội Trưởng Trung Ương LÊ QUANG LIÊM———————————– PHẬT GIÁO HÒA HẢO  THUẦN TÚY CỦNG CỐ GIÁO QUYỀN-THỐNG NHẤT GIÁO HỘI-XIỂN DƯƠNG GIÁO PHÁP                                         BẠCH THƯ SỐ 2 Kính gởi: – Ông Nguyễn Phú Trọng. – Ông Trương Tấn Sang. – Ông Nguyễn Sinh Hùng. – Ông Nguyễn Tấn Dũng. Thế là cuộc điều động hằng ngàn công an, bộ đội cơ động, xã hội đen, xe vòi rồng, xe bít bùng, v.v. . . để chận đứng PGHH tổ chức ngày lễ kỷ niệm Đức Huỳnh Giáo Chủ bị việt minh cộng sản ám hại . . . các ông đã đạt một chiến thắng vô cùng vẽ vang, chiến thắng  một nhóm tín đồ PGHH vốn là nông dân chất phác, tay lấm chân bùn trong tay không một tất sắt. Thật quang vinh thay cho đảng csVN quang vinh? Lại càng quang vinh hơn với những hành động oai hùng mang tính rừng rú: a- Đánh một bà già 82 tuổi (bà Trần Thị Xinh) bị ngất xỉu rồi lột hết quần áo để bà nằm trần truồng lõa lồ đưới đất. Hành động oai hùng này có lẽ đệ tử các ông đã hành sử đúng theo đường lối của đảng csVN quang vinh! Và oai hùng này không thấy có trong lịch sử loài người. b- Đánh bà Võ Thị Gấm 82 tuổi bị gãy tay phải đi cấp cứu ở bịnh viện Châu Thành, An Giang. c- Đánh đập ngất xỉu 20 tín đồ PGHH đang chuẩn bị cuộc lễ rồi lục soát lấy hết nữ trang tiền bạc. Số tiền này lên đến trên 100 triệu là tiền của anh chị em tín đồ PGHH dành dụm đóng góp để chẩn bần cho tín đồ nghèo trong dịp lễ. Thật quang vinh thay hành động sở trường cố hữu của đảng csVN dù những toán thổ phỉ cũng phải cúi đầu thán phục ! d- Đóng chốt trước cửa nhà toàn bộ chức sắc lãnh đạo của Giáo Hội PGHH Thuần Túy và “nội bất xuất, ngoại bất nhập” dù trong nhà có ai bịnh hoạn cũng không được ra khỏi nhà để chữa bịnh, nằm chờ chết. Điển hình như trường hợp của ông Nguyễn Văn Thơ ở Xã Tân Hòa (Đồng Tháp) trong ngày 23-3-2014 . . . trường hợp của ông Nguyễn Văn Vinh ở Xã Long Giang (An Giang) trong những ngày từ 20 đến 25-3-2014 . . . Trường hợp của ông Nguyễn Văn Điền ở Xã Tân Phước (Đồng Tháp) trong ngày 22-3-2014 . . . Trường hợp của anh Nguyễn Ngọc Tân ở Bình Minh (Vĩnh Long) trong ngày 23-3-2014 . . . v.v. . . Đây là hảnh động nhân đạo mà Tần Thỉ Hoàng có sống lại cũng phải cúi đầu thán phục ! Và đây cũng là một chứng minh cụ thể chính sách nhất quán tôn trọng nhân quyền, tôn trọng Tự Do Tôn Giáo mà Thứ Trưởng Hà Kim Ngọc, trưởng đoàn VN đã báo cáo trong Đại Hội Nhân Quyền kiểm điểm định kỳ toàn cầu về Nhân Quyền tại Geneve (Thụy Sĩ) ngày 5-2-2014. Bức Bạch Thư này tôi chỉ điểm sơ lược lại một số hành động của đoàn đệ tử các ông để các ông tự chiêm nghiệm chính sách của các ông như vậy có quá đáng hay không? Có trắng trợn chà đạp Nhân Quyền, có trằng trợn chà đạp Tự Do Tôn Giáo hay không? Vì tôi tin rằng các ông, dù sao,  cũng còn chút ít lương tâm để cân nhắc ĐIỀU LÀNH, ĐIỀU ÁC. Rõ ràng với đồng bào nhân dân trong nước các ông đã hành sử một chính sách độc tài toàn trị, chà đạp nhân dân đến xương tàn cốt rụi, còn với ngoại bang thì các ông chuyên dối trá để cầu viện . . . nhất là với tàu cộng thì các ông quỳ mọp để dâng đất (6 tỉnh phía Bắc) dâng biển dâng đảo, dâng khai thác bauxit Tây Nguyên , v.v. . . và v.v. . . Tôi mong các ông hãy tự kiểm điểm sửa sai để cho toàn dân còn được hưởng vài hạt cơm rơi . . . một vài manh áo rách. QUAY LẠI ẮT THẤY BỜ. Ngày 28 tháng 3 năm 2014 Cư Sĩ LÊ QUANG LIÊM

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Đức Huỳnh Phú Sổ bất tử . PGHH Muôn-Năm . Tinh Thần PGHH bất-diệt

Đức Huỳnh Phú Sổ bất tử . PGHH Muôn-

Năm . Tinh Thần PGHH bất-diệt

Lịch Sử PG Hòa Hảo

Vietnamese government continues to violate the right to religious freedom of Hoa Hao Buddhists

Vietnamese government continues to violate the right to religious freedom of Hoa Hao Buddhists

Trần Thị Nga * Translate by Jasmine Tran (Danlambao) – Each year, the 18th of the fifth lunar month marks the Founding Anniversary of Hoa Hao Buddhism by the Prophet Huynh Phu So. This is one of the three main annual holy events of the Hoa Hao Church.

On the 12th of June (the 15th of the fifth lunar month) 2014, three days before the Founding Anniversary, the Communist government arranged police and hired thugs to surround, threaten, and oppress Hoa Hao followers at their own houses. They were forced into submission, and thus were unable to organize the celebration, let alone to participate in it.
Trần Thanh Giang, who is a Hoa Hao follower residing at 50/1A Chợ Mới town (Chợ Mới district, An Giang province) has been intimidated and menaced at his own house, leaving him unable to leave for food or the bathroom (as he has no onsite toilet facilities).
Võ Văn Bửu, Tám Luốt and Sáu Sóc (from Master Năm Liêm’s Quang Minh Pagoda) were encircled by police and thugs too; however, they were able to leave for food under the control of 5 or 6 police.
In Chợ Mới An Giang district, Tống Văn Chính’s house has been completely surrounded and blocked by securities and thugs, with no one allowed in or out. It was the place chosen by the Hoa Hao followers in recent years to celebrate the Founding Anniversary on the 15th of the Fifth lunar month.
Tống Văn Chính speaks about the police force surrounding his house:
People from the area where police installed the guard-posts over the Hoa Hao Buddhists’ families reported what they had heard from police: “This comes from an order of the Ministry of Public Security. They want to stop the Hoa Hao Buddhists from organising the Founding Anniversary of Hoa Hao Buddhism as the Party and the Government are afraid that Hoa Hao Buddhists could use this holy event to demonstrate their patriotism, and protest against the Chinese invasion in Vietnam.”
Vietnam’s fate is in danger as China has already invaded its sea and islands. The cowardly Vietnamese government, fearful of its invader, did not act to protect the country or its people. Instead, they gathered thousands of police and thugs to harass their citizens, isolating them, threatening them, violating their rights to religious freedom; only to prevent these citizens from protesting against the Chinese invader?
12 June 2014 (15th of the Fifth lunar month)
 
Trần Thị Nga

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Đức Huỳnh Phú Sổ bất tử . PGHH Muôn-Năm . Tinh Thần PGHH bất-diệt

Đức Huỳnh Phú Sổ bất tử . PGHH Muôn-Năm . Tinh

Thần PGHH bất-diệt

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔvà Phật Giáo Thời ÐạiLê Hiếu Liêm 

Chương một: Dẫn nhập Việt Nam và Phật Giáo đầu thế kỷ hai mươi.Đầu thế kỷ 20, tư tưởng Nho Giáo, thống trị độc tôn đất nước từ Thời Hồ Quý Ly, nhà Lê và nhà Nguyễn suốt 400 năm, hoàn toàn sụp đổ. Tư tưởng Phật Giáo, ngự trị vinh quang trong thời đại Lý Trần từ thế kỷ thứ 11 đến cuối thế kỷ 14, suy đồi tận gốc. Tư tưởng Tây Phương và tôn giáo của nó, Thiên Chúa Giáo La Mã, bị đại đa số trí thức và nhân dân coi như sản phẩm và công cụ của chế độ Thuộc Địa và thực dân Pháp nên vẫn không được chấp nhận. Ý thức hệ Cộng Sản cũng như các tư tưởng mới khác chưa ra đời. Cả một khoảng trống tư tưởng, cũng có nghĩa là một khoảng trống tôn giáo và chính trị, to lớn bao trùm trên một nước Việt Nam bị nô lệ, bóc lột, áp bức, lạc hậu và nghèo đói. Nhưng đây cũng là môi trường lý tưởng cho sự ra đời của những tư tưởng mới, những tôn giáo mới, những chính đảng mới và những phong trào mới: Phong trào Đông Du và Việt Nam Duy Tân Hội của Phan Bội Châu từ năm 1904,Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can và các nhà Nho tiến bộ năm 1907, tư tưởng dân quyền và dân chủ của Phan Chu Trinh suốt hai mươi năm (1905-1925), phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội cùng năm, Việt Nam Quang Phục Hội năm 1912, cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ và ở Huế năm 1916 của Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, vua Duy Tân…, phong trào Hội Kín ở miền Nam năm 1913-1916 lan rộng khắp Lục Tỉnh và cuộc tấn công Sài Gòn năm 1916. Các hoạt động này đã liên tục diễn ra từ đầu thế kỷ 20 đến cuối đệ nhất thế chiến.

Tuy nhiên mãi đến đầu thập njiên 20 Việt Nam mới thật sự thức dậy với sự ra đời Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng Chí Hội và Tân Việt Cách Mạng Đảng năm 1925, Đạo Cao Đài năm 1926, Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927, Cuộc khởi nghĩa Yên Bái và sự ra đời của Đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930 và phong trào Sô Viết Nghệ Tỉnh 1930-1931.

 

Trong thời gian sôi động này, từ 1925 trở đi, Phật Giáo cũng đã thức dậy. Từ năm 1923, thiền sư Khánh Hòa và thiền sư Thiện Chiếu đã thành lập, tại chùa Long Hòa ở Trà Vinh, Hội Lục Hòa Liên Hiệp với mục đích vận động thành lập một Hội Phật Giáo Việt Nam toàn quốc để chấn hưng Phật Giáo. Thiền sư Thiện Chiếu, khác hẳn tất cả tăng sĩ Phật Giáo đương thời, là một tăng sĩ có tân học. Ông đã đi ra Trung và Bắc vận động thống nhất Phật Giáo năm 1927 nhưng bất thành.

Năm 1928 thiền sư Khánh Hòa xây dựng Thích Học Đường và Phật Học Thư Xã tại Chùa Linh Sơn, Sài Gòn và năm 1929 Ông cho ấn hành tạp chí Viên Âm, tập san Phật Học đầu tiên bằng quốc ngữ tại Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Xoài Hột, Mỹ Tho. Cùng thời, thiền sư Thiện Chiếu xuất bản một tạp chí Phật Học nhắm vào giới thanh niên trí thức lấy tên là Phật Hòa Tân Thanh Niên, đặt tòa soạn tại chùa Chúc Thọ ở Gia Định.

 

Năm 1931 thiền sư Khánh Hòa cùng nhiều tăng sĩ và cư sĩ thành lập Hội Phật Học đầu tiên tại Việt Nam, lấy tên là Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học và thiền sư Từ Phong được mời làm Chánh Hội Trưởng. Hội ra tờ Từ Bi Âm năm 1932. Thiền sư Khánh Hòa, cùng người cộng sự thân tín là thiền sư Thiện Chiếu đã đóng vai trò tiền phong khai mở phong trào chấn hưng Phật Giáo và hiện đại hóa Phật Giáo, chuyển động sâu rộng lịch sử Phật Giáo và lịch sử Việt Nam trong suốt 65 năm qua.

Tại miền Trung, thiền sư Giác Tiên mở Phật Học Đường  tại chùa Trúc Lâm năm 1929 và ủy thác cho đệ tử là bác sĩ Lê Đình Thám thành lập Hội An Nam Phật Học năm 1932. Hội quy tụ đông đảo những danh tăng và cư sĩ trí thức tại miền Trung. Cư sĩ Lê Đình Thám được bầu làm Hội Trưởng và vua Bảo Đại được mời làm Hội Trưởng Danh Dự. Hội ra tạp chí Phật Học Viên Âm năm 1933. Năm 1934, thiền sư Giác Tiên, cư sĩ Lê Đình Thám… đã thành lập Trường An Nam Phật Học, trong đó có mở cấp Đại Học Phật Giáo. Đặc biệt hơn nữa là Hội đã phát động phong trào “Chỉnh Lý Tăng Già” rất quyết liệt để loại trừ ra khỏi tăng già những thành phần phạm giới, bất xứng. Chính nhờ những nổ lực cấp tiến này mà Phật Giáo miền Trung đã đóng được một vai trò quan trọng trong những thập niên sau đó.

Năm 1934 các thiền sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo cùng với giới cư sĩ trí thức tên tuổi tại Hà Nội như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Dương Bá Trạc, Trần Văn Giáp, Nguyễn Năng Quốc, Nguyễn Hữu Kha, Bùi Kỷ, Lê Dư… thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội, bầu cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm hội trưởng và suy tôn thiền sư Thanh Hanh làm Thiền Gia Pháp Chủ. Đặc biệt là trong buổi lễ suy tôn Pháp Chủ này, cư sĩ Trần Trọng Kim đã thuyết pháp về đề tài; “Thập Nhị Nhân Duyên”. Hội ra tạp chí Đuốc Tuệ năm 1935 và phát triển mạnh mẽ khắp miền Bắc (Nguyễn Lang, Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, q 3, t 51-173).

Đặc tính của cả ba Hội Phật Học tại ba miền là vai trò nổi bật của giới trí thức cư sĩ, là thuần túy Phật học và sinh hoạt Phật sự. Thời điểm 1925-1945 là thời điểm chuẩn bị trong kiên nhẫn và thầm lặng. Các hội Phật Học đã làm đúng chức năng và vai trò lịch của mình, một cách khiêm tốn, từ đống gạch vụn đổ nát của nền Phật học và Phật Giáo Việt nam trong thời Thực Dân Pháp thống trị.

Trong thời kỳ này xuất hiện những con người đặc biệt, xuất sắc và những tư tưởng mạnh mẽ, quyết liệt, trong Phật Giáo cũng như ngoài Phật Giáo. Từ đầu thập niên 30, tư tưởng Phật Hộc của Thích Thiện Chiếu đã là những quả bom chấn động. Và năm 1939 Huỳnh Phú Sổ xuất hiện làm một cuộc cách mạng tôn giáo, cải cách toàn bộ và triệt để Phật Giáo chưa từng có trong hai ngàn năm lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Miền Nam, một vùng đất lạ lùng và kỳ diệu…

 

An Hòa Tự

Phan Chu Trinh từ Pháp trở về Sài Gòn năm 1925, đất nước bùng lên những làn sóng tư tưởng dân quyền và dân chủ. Ông khẳng định phải tìm nguyên nhân mất nước trong sự mất đạo đức, mất luân lý, trong bài diễn thuyết Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây, và ông cũng khẳng định chế độ quân chủ chuyên chế là nguyên nhân chính làm mất nước trong bài thuyết giảng Quân Trị Chủ Nghĩa và Dân Trị Chủ Nghĩa tại Sài Gòn năm 1925. Ông mất năm sau đó và đám tang ông cùng với cuộc vận động ân xá nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã khơi bùng phong trào yêu nước và yêu tự do dân chủ trên toàn quốc, đặc biệt là trong giới thanh niên.

Nhưng dữ dội, bốc lửa và sấm sét trong tư tưởng yêu nước chống thực dân cũng như tư tưởng tự do dân chủ, trong thời này, chỉ có Nguyễn An Ninh là đi xa nhất, quyết liệt nhất. Là một thanh niên miền Nam,Ông đi du học ở Pháp và trở về nước với bằng cử nhân Luật. Lợi dụng quy chế thuộc địa của Nam Kỳ, nơi mà báo chí bằng tiếng Pháp được tự do, không bị kiểm duyệt, Ông ra tờ La Cloche fèlèe (Tiếng Chuông Rè) từ năm 1923 đến năm 1926. Ông tự xưng tờ báo của Ông là “cơ quan tuyên truyền tư tưởng Pháp”, lấy tư tưởng của kẻ xâm lăng để đập những nhát búa tạ vào chế độ Thực Dân, đồng thời tờ báo cũng tự nhận là “cơ quan chuẩn bị cho tương lai dân tộc”. Thật là độc đáo và tuyệt vời.

Ngoài việc phê bình kịch liệt, thẳng tay chính sách và chế độ thực dân, Ông cổ võ cho việc đào tạo một tầng lớp thanh niên Việt Nam tân học, có văn hóa, có lý tưởng, có chí khí, có năng lực và có tổ chức vàÔng tuyệt đối tin vào sức mạnh và vào tương lai của nhân dân Việt Nam. Ông chủ trương một nước Việt Nam thống nhất từ Nam chí Bắc và trở về lịch sử dân tộc để tìm niềm tin và sức mạnh. Ông hô hào, khi chỉ mới ngoài 20 tuổi, “Chẳng những phải duy trì những giấc mộng vĩ đại, mà còn phải tổ chức thành một nhóm quan trọng để chuẩn bị cho tương lai”. Không những tư tưởng táo bạo, độc đáo, mới lạ, kiến thức của Ông cũng rất uyên bác. Khi Thống Đốc Nam Kỳ tuyên bố: “Xứ này không cần trí thức”. Ông đã viết bài trả lời bốc lửa: “… Những thảm khổ của chúng ta ngày nay, còn gì nữa, đúng là do tổ tiên của chúng ta đã sờ mó vào cây kiến thức. Hạng trí thức đã làm đảo lộn thế giới, làm hư hỏng hạnh phúc của thế giới. Hãy nguyền rủa tên tuổi của Prométhé, kẻ đã lấy trộm chút lửa của Trời. Hãy nguyền rủa con người đã bày ra cái ná cao su cho trẻ con bắn đá vào trán ông khổng lồ… Trí Tuệ, đó là cái tai hại. Trí tuệ, đó là con rắn cuốn quanh thân cây đã làm cho chúng ta vĩnh viễn mất cõi thiên đường… Nói đến vai trò giáo dục, vai trò văn minh của các ông chủ xứ Đông Dương này, thưa các ông, điều ấy làm ta mỉm cười… Người ta đã quỳ lụy bái phục những vị “đem ánh sáng tới”, những vị “làm điều kỳ diệu ở Ấu Châu”… Cái gì kỳ diệu? Thực ra cái kỳ diệu đó là, chỉ trong một thời gian ngắn thôi, người ta đã có thể làm cho trình độ trí thức của người Nam đã thấp đi lại càng rơi vào chỗ cực kỳ dốt nát. Cái kỳ diệu đó là người ta đã có thể, trong một thời gian ngắn như thế, xô đẩy một dân tộc có tư tưởng dân chủ, ngã nhào vào tình trạng nô lệ hoàn toàn“. (Trần Văn Giàu, Sự Phát Triển Của Tư Tưởng ở Việt Nam Từ Thế Kỷ 19 đến Cách Mạng Tháng Tám, q2, t 311).

Nguyễn An Ninh cũng là một trong những nhà trí thức tân học đầu tiên nghiên cứu Phật Học và hoàn thành một tác phẩm Phật Học quan trọng, cuốn “Phê Bình Phật Giáo”. Sau thời kỳ hoạt động sôi nổi từ 1923 đến 1926, Nguyễn An Ninh bị ở tù trong thời gian 1926-1927, sau đó Ông về nghiên cứu Phật Giáo. Trên bàn làm việc của Ông, có một cái chuông, một cái mõ, Ông cạo trọc đầu và đi chân không.Ông nghiên cứu Phật Giáo qua tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và các hoạt động Phật Giáo trong nước. Cuốn Phê Bình Phật Giáo xuất bản năm 1937 là kết quả của sự nghiên cứu này. Tựa đề của cuốn sách, 70 năm sau cũng không có ai dám viết một cuốn sách Phật Học có tựa đề thách thức và can đảm như vậy. Mục đích và phương pháp luận còn mới lạ, táo bạo hơn, đó là “so sánh Phật Giáo với thời đại của nó để chỉ chỗ hay, chỗ đúng hơn của nó đối với các thuyết khác và so sánh Phật Giáo với thời đại này để chỉ sai lầm của Phật Giáo“. Tác phẩm này được giới trí thức, giới chính trị cũng như giới Phật Giáo chú ý đặc biệt.

Nhưng không gây sóng gió và tranh luận suốt nhiều năm trời như những tác phẩm của Thích Thiện Chiếu.Đối với Tăng, Ni, Phật Tử thập niên 30, những tư tưởng Phật Học của Thích Thiện Chiếu là những tiếng sét ngang tai. Ngày nay đọc lại, chắc chắn quý vị tăng sĩ, cư sĩ và Phật Tử cũng không khỏi giựt mình, chấn động và suy nghĩ. Những tư tưởng này, được viết từ thập niên 30, ngày nay, cuối thập niên 90, vẫn còn mới, còn táo bạo, còn chứa đầy sức nặng của đá tảng và sức nổ của sấm sét. Thích Thiện Chiếu là tinh hoa sáng chói của Phật Giáo trong thập niên 20, 30. Ông đã đi tiền phong trong mọi lãnh vực chấn hưng và hiện đại hóa Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ 20 này.

Ta phải đứng trên một đỉnh núi cao, mới hy vọng nhìn thấy những cái gì chưa ai nhìn thấy, những cái gì nằm khuất sau dãy núi cao. đó có thể là những dãy núi cao hơn, hay là một đại dương mênh mông hay là một bình nguyên rực rỡ. Thích Thiện Chiếu là một ngọn núi cao của Phật học và Phật Giáo Việt Nam trước đệ nhị thế chiến. Ta hãy đứng trên đỉnh núi cao ngất, hùng tráng này để nhìn rõ một đỉnh núi cao ngất, hùng vĩ khác, là Cư sĩ, Bồ Tát, Giáo Chủ Huỳnh Phù Sổ.

|Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10|TK|

[BHH430] [PGHH] [THƯ VIỆN PGHH]

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

SÀI GÒN: PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY KÊU GỌI BIỂU TÌNH CHỦ NHẬT 18-5-2014 LÚC 8 GIỜ SÁNG

SÀI GÒN: PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY KÊU

GỌI BIỂU TÌNH CHỦ NHẬT 18-5-2014 LÚC 8 GIỜ

SÁNG

HLTL TRONG NƯỚCTÔN GIÁO5/14/2014

 

PHẬT GIÁO HÒA HẢO

THUẦN TÚY

HIỆU TRIỆU

Hỡi anh em trong nhà Nam Việt!

Nhớ nước ta hùng liệt thuở xưa.

Ngàn năm Bắc địch vày bừa,

Mà còn đứng dậy tống đưa quân thù.

Tiếng roi lại bình Ngô sát Đát,

Sử xanh còn ngào ngạt hương thơm. . .

 

Là con Hồng cháu Lạc, chúng ta làm sao quên được những trang sử bi thảm ngàn năm Bắc thuộc Trung Quốc đã giày xéo quê hương yêu quí của chúng ta, chà đạp lên đời sống của Dân tộc ta.

 

Những tấm gương sáng rạng ngời của tiền nhân ta: Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê là những trang sử oai hùng oanh liệt lưu lại cho chúng ta nhớ đến bổn phận thiêng liêng: BẢO VỆ TỔ QUỐC.

 

Nay, Tàu cộng lúc nào cũng nuôi tham vọng thôn tính nước ta, ngang ngược chiếm đảo, chiếm biển, chiếm đất, khai thác beauxit Tây Nguyên. . . rồi giờ đây lại đặt khoan dầu ở Biển Đông  một cách khiêu khích, coi 90 triệu đồng bào chúng ta như cỏ rác. . .

 

Vậy thì ta hãy hiệp bè,

Cùng nhau đoàn kết đặng khoe sức hùng.

Khắp Bắc Nam đùng đùng một trận,

Ấy mới mong quốc vận phục hồi.

Trước là dẹp lũ cộng bồi,

Sau đưa quốc tặc qui hồi Diêm cung.

Nếu nay chẳng vẫy vùng cương quyết,

Thì ắt là tiêu diệt giống nòi. . .

 

Đồng bào ơi!

Chúng ta hãy mạnh mẽ xuống đường để đả đảo Tàu cộng, đả đảo những kẻ mãi quốc cầu vinh, biểu dương tinh thần kiên cường yêu nước. 

 

ĐEM MÁU XƯƠNG ĐỔI LẤY TỰ DO.

 

Ngày xuống đường là ngày Chủ nhật 18-5-2014 vào lúc 8 giờ sáng. Địa điểm tập trung: Công viên 30-4 cạnh nhà thờ Đức Bà.

 

Với tư cách Hội Trưởng Trung Ương PGHH Thuần Túy, tôi tha thiết kêu gọi 7 triệu tín hữu PGHH toàn quốc, nhất là ở Miền Tây HÃY MẠNH MẼ TÍCH CỰC THAM GIA CÁC CUỘC BIỂU TÌNH CỦA ĐỒNG BÀO CHỐNG Tàu cộng. 

 

VIỆT NAM ĐỘC LẬP MUÔN NĂM.

Ngày 14 tháng 5 năm 2014.

TM Giáo Hội PGHH Thuần Túy.

Hội Trưởng Trung Ương

 

 

LÊ QUANG LIÊM

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

PGHH – CẢNH BÁO KHẨN CẤP

PGHH – CẢNH BÁO KHẨN CẤP

 

PHẬT GIÁO HÒA HẢO
THUẦN TÚY
————————-
CẢNH BÁO KHẨN CẤP

Theo một nguồn tin đáng tin cậy cho biết là trong cuộc biểu tình sáng chủ nhật 18-5-2014, đám tay sai của Tàu cộng ở VN sẽ tổ chức nhiều toán xã hội đen trà trộn vào những người biểu tình rồi gây những việc náo loạn bất hợp pháp như vừa xảy ra ở Bình Dương và một vài nơi khác.

Âm mưu này biến những cuộc biểu tình chính nghĩa biến thành những hành động ô tạp bất hợp pháp nhằm mục đích:

a- Làm giảm uy tín phong trào chống Tàu cộng đang biểu dương và phát triển mạnh mẽ.

b- Tạo cho nhà cầm quyền cộng sản có cơ hội muốn bắt ai thì bắt, vàng thau lẫn lộn, dựa vào lý do an ninh trấn áp thành phần lãnh đạo phong trào chống Tàu cộng, dập tắt phong trào càng sớm càng tốt.

Trong tinh thần kiên cường bảo vệ đất nước, chúng ta vẫn tiến hành cuộc biểu tình nhưng phải hết sức dè dặt và thận trọng đối với những phần tử bất chính cùng đứng trong hàng ngũ biểu tình với chúng ta. Nếu có dấu hiệu sẽ xảy ra cuộc hỗn loạn thì ta phải tự giải tán đừng để bọn tay sai của Tàu cộng thừa cơ lợi dụng.

Ngày 16 tháng 5 năm 2014.

TM Giáo Hội PGHH Thuần Túy

Hội Trưởng Trung Ương

LÊ QUANG LIÊM

Tin liên quan 
SÀI GÒN: PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY KÊU GỌI BIỂU TÌNH CHỦ NHẬT 18-5-2014 LÚC 8 GIỜ SÁNG

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

PGHH: Bạch Thư Tuyệt Mệnh của Tín đồ Nguyễn thị Ngọc Lan

PGHH: Bạch Thư Tuyệt Mệnh của Tín đồ Nguyễn thị

Ngọc Lan

HLTL TRONG NƯỚC4/01/2013

PHẬT GIÁO HÒA HẢO (năm đạo thứ 74)

 

BẠCH THƯ TUYỆT MỆNH

 

Kính gởi:

– Ủy Hội Nhân Quyền Quốc Tế HĐBA LHQ.

– Cộng  Đồng Nhân Loại yêu chuộng: Hòa bình, Công Lý, Nhân quyền: tự do Tôn Giáo, tự do Dân Chủ trên thế giới.

– Các cơ quan truyền thông quốc tế.

– Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước.

– Đảng cầm quyền CS Việt Nam.

 

Tôi tên là: Nguyễn thị Ngọc Lan sinh năm 1956 thường trú số nhà 128/2 khu vực Thới Trinh A, phường Thới An quận Ô Môn TP CT. Nhân vào mùa xuân ĐẠO NẠN: 25/ tháng 02 và QUỐC NẠN: 30/ 04, kỷ niệm hằng năm trên đất nước Việt Nam. Tôi một tín đồ PGHH xin kính gởi bức: BẠCH THƯ TUYỆT MỆNH nầy đến với mọi người để chia sẻ lý tưởng và tâm tư nguyện vọng tha thiết của tôi, có nội dung như sau:

 

1- Phật Giáo Hòa Hảo là một tôn giáo Việt Nam, sinh ra và phát triển từ lòng dân tộc, Đức Giáo Chủ: Huỳnh Phú Sổ là người Việt Nam, khai sinh năm 1919 và lớn lên đến năm 1939, Ngài được 19 tuổi đã mở đạo tại làng Hòa Hảo và cho đến  ngày 25 tháng hai nhuần năm đinh hợi, thì Thọ Nạn tại rạch Đốc Vàng, cũng chính trên dãi đất Việt Nam nầy, lúc ấy Ngài được 27 tuổi. Có thể khẳng định cuộc đời và sự nghiệp Đức Huỳnh Giáo Chủ và tôn giáo PGHH đã gắn liền dòng sinh mệnh của dân tộc và tổ quốc Việt Nam.Với một nền giáo lý căn bản là: Học Phật Tu Nhân. Học Phật là học theo công hạnh của Phật. “Phật tu cách nào đắc đạo rồi dạy ta, ta phải làm theo cách nấy”. Còn Tu Nhân là đền đáp bốn trọng ân,1- Ân Tổ Tiên Cha Mẹ, 2- Ân Đất Nước, 3- Ân Tam Bảo, 4- Ân Đồng Bào và Nhân Loại, trong đó Ân Đất Nước, được đặt trước Ân Tam Bảo.

 

Để thực thi nghĩa vụ công dân lúc nước nhà bị họa xăm lăng đô hộ “nước mất đâu dễ ngồi an”. Với một ý chí ưu việt kế thừa truyền thống Đức Trần Nhân Tông, “Tăng sĩ quyết chùa am bế cửa, Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha. Đền xong nợ nước thù nhà, Thiền môn trở gót Phật Đà nam mô”, Đức Huỳnh Giáo Chủ với 02 triệu tín đồ, năm 1945 Ngài đã cổ súy khối tín đồ cùng toàn dân đứng lên đánh đuổi xăm lăng, giành lại độc lập cho đất nước… Là Đấng Giáo Chủ một Tôn Giáo phát xuất tại Việt Nam, và là thủ lãnh Đảng Việt Nam Dân Chủ Xã Hội: Đã chủ trương “toàn dân chính trị” thế tất Đảng chống độc tài bất cứ hình thức nào”, đã đối lập lại chủ nghĩa ngoại lai vô thần độc tài của lãnh tụ vong bản Hồ Chí Minh, một đệ tử của CNCSQT, núp với chiêu bài:Việt Minh. Cướp được chính quyền từ đức vua Bảo Đại, Việt Minh CS đã thủ tiêu những người thuộc các Đảng phái quốc gia chân chính, cụ thể chính là Đức Huỳnh Giáo Chủ PGHH đã bị ám hại trong một cuộc họp hòa giải do Việt Minh tổ chức vào ngày 25 tháng Hai nhuần năm Đinh Hợi, nhằm ngày 16-04-1947, và đoàn thể PGHH đã trở thành nạn nhân của VMCS. Với vô số những nấm mồ chôn tập thể, khắp nơi thuộc vùng ĐBSCL, đến nay vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Việt Minh CS đã khiến cho tinh thần đoàn kết dân tộc lúc bấy giờ bị tan rã, tạo cơ hội cho Pháp tái chiếm Việt Nam lần thứ hai.

 

Sau biến cố ngày 30-04-1975, miền nam Việt Nam bị CSBV cưỡng chiếm, các tôn giáo bị giải thể, nhất là tôn giáo PGHH. Bởi ý thức hệ của chủ nghĩa CS và trong quá khứ có những cuộc tàn sát đẫm máu đối với PGHH, ĐCSVN cầm quyền đã tìm mọi cách để triệt tiêu PGHH. Giáo Lý bị tịch thu hũy bỏ, các cơ sở thờ tự của đạo bị quản lý chiếm dụng, các chức sắc của đạo bị đưa đi trại tù “học tập cải tạo”. Nhiều người đã chết rũ trong lao lý, hay ra tù chỉ thời gian ngắn là chết, vì bị khảo hình hoặc bị đầu độc, do tính chất bạo lực bất khoan dung của chế độ CS.

 

Năm 1999, do sự đấu tranh đòi hỏi không ngừng từ trong nước, cùng cộng đồng người Việt hải ngoại và sức ép của cộng động quốc tế về Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo tại Việt Nam. Nhà cầm quyền CS với ý đồ “dùng PGHH để diệt PGHH”. Ngày 26-05-1999, Họ đã dàn dựng tấm bình phong để dối lừa công luận gồm: Ban Đại DiệnPGHH quốc doanh, làm tay sai công cụ để hợp pháp hóa vai trò thủ tiêu mọi truyền thống, lịch sử, di tích quý báu của PGHH, nhất là ngày lễ thiêng liêng trọng đại 25 tháng 02 hằng năm, ngày mà VMCS đã ám hại ĐHGC, (cho đến nay vẫn bị cấm ngăn, khủng bố, triệt hạ tín đồ hành lễ).

 

Để đấu tranh bảo vệ Đạo Pháp, đòi quyền Tự Do Tôn Giáo cho các tôn giáo Việt Nam nói chung, PGHH nói riêng, bằng chủ trương “ôn hòa bất bạo động,” người tín đồ PGHH thuần túy, đã bị nhà cầm quyền CS đàn áp, khủng bố rất dã man, vì quyết bảo vệ Đạo Pháp, bảo vệ những truyền thống quý báu không bị triệt tiêu, nhiều người đã quyết hy sinh quyền lợi gia đình và thân mạng, bằng cách Tự Thiêu, hay phải vào tù để phản đối sự đàn áp, và đòi quyền TỰ DO TÔN GIÁO với nhà cầm quyền CSVN, cho đến nay vẫn tiếp diễn không ngừng.

 

2- Kể từ khi có ĐCSVN do ông Hồ Chí Minh làm lãnh tụ. Suốt 69 năm cầm quyền miền bắc, 38 năm cầm quyền miền nam, ĐCS đã gây ra biết bao là tội ác với dân tộc Việt Nam. Khởi động chiến tranh đã làm tang tốc đau thương cho người dân hai miền Nam, Bắc phải nhà tan cửa nát, hàng ba triệu người đã tốn hao sinh mạng vì bị chết chóc, mang thương tật, do đạn bom để lại. Khi không có chiến tranh, ĐCS cầm quyền đã cướp đoạt tài sản đất đai nhà cửa nhân dân, và giết người bằng khẩu hiệu, chính sách bần cùng hóa nhân dân “trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, tróc tận rể”, cải cách ruộng đất, nhân văn giai phẩm, học tập cải tạo, đánh đổ tư bản, cải tạo công thương nghiệp, đưa dân tập trung vùng kinh tế mới, làm kiệt quệ nguồn tài lực của quốc dân, trong thời kỳ gọi là “bao cấp”.

 

Bước sang thời kỳ “mở cửa”, đảng viên cộng sản có đầy đủ mọi quyền lực, dựa giẫm trên luật pháp, hưởng lợi ích nhóm với nhiều dịch vụ thương mại, nhận hối lộ bất chính, đồng lõa bao che, chia chác, tha hồ nhũng lạm bóc lột, đục khoét ngân sách quốc dân, gây nợ nần chồng chất lên đầu cổ người dân Việt Nam cần cù lao động. Tệ tham nhũng nầy, đến nay đã trở thành quốc nạn. Bị đối xử áp bức bất công, số Dân Oan bị cướp mất tài sản đất đai nhà cửa, đi khiếu kiện kêu oan nhiều năm, nhà cầm quyền vẫn không cứu xét, vô gia cư, cuộc sống đói nghèo lê la khắp nơi cầu thực.

 

Phụ nữ Việt Nam phải đi làm dâu hay làm nô lệ, bán dâm cho người ngoại quốc để kiếm tiền, mong “xóa đói giảm nghèo” cho gia đình người thân. Trẻ em nghèo đói thất học, lao động, bán vé số, ăn xin vất vưỡn đọa đày trong cuộc sống độ nhựt vv và vv.

 

Một thể chế độc đảng bất công, nên sanh nhiều tệ nạn hoành hành, đã đẩy người dân xuống tận cùng vực thẳm của sự khổ đau. Tự do Dân Chủ, tự do Tôn Giáo bị áp đặt cấm đoán khắc khe. Nhà tù CS đã cầm giam vô số những người bất đồng chính kiến, chỉ vì cất lên tiếng nói đòi quyền Tự do Tôn Giáo, đòi quyền tự do Dân Chủ.

 

Nói tóm lại từ khi ĐCS cầm quyền cho đến nay, với một chủ nghĩa ngoại lai vô thần, độc tài chuyên chế, triệt tiêu Tôn Giáo, xây dựng quyền lợi trên xương máu của nhân dân, đã tạo nên một xã hội Việt Nam đau thương, đầy máu và nước mắt, phẩm chất đạo đức suy đồi, tham quan đầy dẫy, bất công áp bức lộng hành, đói nghèo tuộc hậu. Tất cả đã hiện bày mà không một ai có lương tri mà không thấy biết. Và sự ám ảnh trước mắt: Là nguy cơ bị mất nước, dân tộc Việt Nam sắp làm nô lệ cho bọn bành trướng Tàu phù do ĐCSVN nhiều lần đã âm thầm ký kết thỏa hiệp hiến dâng Tổ Quốc. (Công hàm của Thủ Tướng Phạm văn Đồng đã chứng minh điều nầy).

 

Là người tín đồ PGHH phụng hành giáo pháp TỨ ÂN. Nhân mùa Quốc Nạn 30/04/1975, ngày CS miền Bắc cưỡng chiếm miền Nam, và lễ kỷ niệm 25/02 âl hàng năm ngày ĐHGC PGHH vắng mặt, do VMCS âm mưu hãm hại, suốt 37 năm qua ngày lễ kỷ niệm nầy luôn bị nhà cầm quyền cấm ngăn và khũng bố tín đồ PGHH không cho hành lễ. Nay trước thảm cảnh lầm than: Đạo Pháp ngữa nghiêng, Quốc phá Gia vong của đồng bào và tổ quốc Việt Nam. Lòng đầy bi xót, tôi xin kính gởi bức Bạch Thư Tuyệt Mệnh nầy đến với các tổ chức, cơ quan Nhân Quyền, dân chủ trên thế giới, mong  có biện pháp hữu hiệu cứu giúp. Bằng con tim khát vọng, muốn cho toàn thể đồng bào Việt Nam thân thương của tôi có một cuộc sống thật sự được: ĐỘC LẬP, TỰ DO, ẤM NO HẠNH PHÚC, và CÔNG BẰNG XÃ HỘI, mà suốt 69 năm qua, dân tộc Việt Nam chúng tôi đã bị chế độ vô thần, độc tài CSVN cưỡng đoạt. Để biểu lộ thành ý trên, tôi nguyện đốt lên ngọn Đuốc thân, để phản đối chính sách đàn áp Tôn Giáo, và Dân chủ bị kềm kẹp, góp phần cùng toàn dân tháo toan ách nạn cộng sản, kiến tạo lại một xã hội văn minh Việt Nam Mới mà Nhân Quyền phải được thực thi một cách đầy đủ.

 

Và riêng các Đảng viên, ĐCS cầm quyền, những điều tôi nêu trên của chế độ cầm quyền cộng sản là hoàn toàn đúng sự thật. Và tôi dám chắc một điều, đảng các vị là tác nhân, nên các vị hiểu rõ hơn ai hết, nhưng không thể thừa nhận sự thật trên, cụ thể như chính Sử gia kiêm ĐBQH Dương Trung Quốc đã phát biểu “có những sự thật không thể nói ra”. Vì sự thật đó chính là sai trái là lỗi lầm, là tội đồ của Dân Tộc. Vì đã đặc quyền lợi đảng trên tổ quốc và đồng bào, quên cội nguồn dân tộc, tôn thờ một chủ nghĩa CSQT, cam tâm làm tay sai, hiến dâng tổ quốc cho bọn bành trướng giặc Tàu, đưa dân tộc đến chổ khốn khổ, đói nghèo, lạc hậu, và cùm gông trong nô lệ.

 

Tôi chân thành tha thiết cầu mong quý vị hãy nghĩ đến tình ruột thịt, nghĩa đồng bào, da vàng, “giọt máu cùng đỏ, giọt nước mắt cùng mặn”. Dân tộc ta đã chịu đựng quá nhiều điều lầm than cơ cực và mất mát do ĐCSVN gây ra. Xin hãy thức tỉnh, tìm về lịch sử. Đức Vua Hùng đã có công dựng nước, các bậc Tiền Nhân bao đời đã có công giữ nước đem máu đào tắm gội giang san “thà làm quỷ nước Nam, quyết không nô lệ làm vương hầu phương bắc”. Họ đã hy sinh viết nên những trang lịch sử, độc lập vẻ vang oanh liệt cho nòi giống. Ý chí quật cường bất khuất, niềm kiêu hãnh vốn có của Tổ Tiên Hồng Lạc với một nền Văn Hiến quý báu hơn bốn ngàn năm lịch sử, mang đậm đà bản sắc của dân tộc, đã bao lần đập tan mộng xâm lăng, tham tàn bành trướng trước một kẻ thù khổng lồ phương bắc.

 

– Hãy vì nền độc lập, chủ quyền của quốc gia dân tộc Việt Nam không bị Tàu hóa.

– Hãy vì tương lai phồn vinh, thịnh vượng của quê hương Việt Nam.

– Hãy vì sự tự do, ấm no hạnh phúc, công bằng xã hội cho đồng bào Việt Nam.

 

Nay con thuyền Tổ Quốc Việt Nam sắp bị diệt vong trước phong ba bão táp: áp bức, đói nghèo, nô lệ giặc xâm lăng. Các vị là người lèo lái vận mệnh, hãy chuyển đổi phương hướng, tránh cho đồng bào cuộc tương tàn tương sát đẫm máu, tiến tới  hòa hợp hòa giải dân tộc, y như Miến Điện đã thực hiện một cách tuyệt vời. Hãy cùng nhau tuyên bố:

 

1-      Giải thể đảng Cộng Sản, trả quyền làm chủ cho nhân dân.

2-      Trả tự do cho các tù nhân Tôn Giáo và Chính Trị.

3-      Trưng cầu dân ý, có tổ chức nhân quyền quốc tế giám sát.

4-      Tiến hành bầu cử quốc hội lập hiến, bao gồm cá nhân, các đảng phái tham gia.

5-      Xây dựng Hiến Pháp Việt Nam, nhân quyền, dân chủ theo đúng tinh thần HĐBA LHQ.

 

Có được như thế, Tổ Quốc và đồng  bào Việt Nam mới thoát khỏi thảm họa diệt vong trước kẻ thù phương bắc, cùng chung xây dựng xã hội Dân Giàu Nước Mạnh, và Quý vị sẽ trở thành ân nhân của đại gia đình Việt Nam. Trang lịch sử tên tuổi quý vị muôn thu mãi chói ngời. Bằng ngược lại, tốc độ vận hành bánh xe Nhân Quyền, dân chủ Việt Nam sẽ nghiền nát, mà không một quyền lực nào có thể kềm hãm được. Tất cả mọi thứ vật chất của việc làm phi nhân phi nghĩa lẫn danh dự, sẽ không còn và bị đào thải xuống vũng bùn nhơ bẩn nghìn thu./.

 

Phật Giáo Hòa Hảo trường tồn bất diệt.

Tổ Quốc Việt Nam đời đời bền vững.

Nòi Giống Lạc Hồng tự do dân chủ, văn minh, ấm no hạnh phúc muôn năm.

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam Mô A Di Đà Phật.

Nam Mô Đại Từ Đại Bi Kim Sơn Phật.

 

Cần Thơ ngày   01  tháng 04 năm 2013.

Người viết Bạch Thư Tuyệt Mệnh.

 

 

Nguyễn Thị Ngọc Lan.

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

BẠCH THƯ SỐ 1 Và Số 2 PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY

H THƯ SỐ 1 Và Số 2 PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY

BẠCH THƯ SỐ 1 Và Số 2 PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY

  BẠCH THƯ SỐ 1 Và Số 2 PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY CỦNG CỐ GIÁO QUYỀN-THỐNG NHẤT GIÁO HỘI-XIỂN DƯƠNG GIÁO PHÁP ————————–                           THÔNG BẠCH Kính gởi: Toàn thể tín hữu PGHH thân mến trong và ngoài nước, NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT. NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT. Thưa chư tín hữu, Nhân danh Hội Trưởng Trung Ương PGHH Thuần Túy, tôi có lời khen ngợi tòan thể Trị Sự Viên trong Giáo Hội và một số tín hữu đã phát huy mạnh mẽ ý chí kiên cường bất khuất trước sức đàn áp thô bạo của nhà cầm quyền cộng sản quyết tâm ngăn chận chúng ta tổ chức ngày Đại Lễ 25/2 âl , kỷ niệm Đức Huỳnh Giáo Chủ bị việt minh cộng sản ám hại. Giáo Hội PGHH Thuần Túy chúng ta đã biểu dương được tinh thần “TẬN TRUNG VỚI ĐẠO, TẬN HIẾU VỚI THẦY” một cách anh dũng bất chấp hiểm nguy sinh tử trước nhãn quan quốc nội và nhãn quan quốc tế rằng: PGHH không phải là con giun mà cộng sản muốn gày xéo thế nào cũng được. Thực ra, đứng trên phương diện thực tế khách quan, việc tổ chức lễ kỷ niệm là một phong tục thiêng liêng của nhân gian, bất luận giai cấp nào, tôn giáo nào, cả đình miểu am cốc đều có quyền tổ chức, không một quyền lực nào có quyền ngăn trở. Trên đất nước VN có bao nhiêu tôn giáo, có bao nhiêu đình miểu am cốc cũng đều được tự do tổ chức lễ kỷ niệm, chỉ duy nhất có PGHH là không được hưởng quyền này . Đó là chứng cứ hiển nhiên cho thấy rằng đảng csVN vẫn quyết tâm tiêu diệt PGHH, vì sao csVN muốn tiêu diệt PGHH? Vì PGHH tôn trọng Ân Tổ Tiên Cha Mẹ còn cs thì vô gia đình . . . Vì PGHH tôn trọng Ân Đất Nước còn cs thì vô tổ quốc . . . Vì PGHH tôn trọng Ân Tam Bảo (Phật,Pháp,Tăng) còn cs thì vô tôn giáo . . . Vì PGHH là một tôn giáo dân tộc, sinh ra từ lòng dân tộc, lớn lên trong khí thiêng sông núi của Tổ Quốc nên phải sống cùng Tổ Quốc và Dân Tộc và cũng phải chết vì Dân Tộc và Tổ Quốc. Đó là một chướng ngại to lớn trên con đường “xích hóa” VN của đảng csVN nên csVN phải triệt tiêu PGHH cho bằng được. Lần này nhà cầm quyền cs đã sử dụng trên 1.000 công an, bộ đội cơ động, có cả xã hội đen, xe vòi rồng, xe bít bùng, v.v. . . để đàn áp PGHH. Cái cảnh cs đàn áp thê thảm xảy ra tại nhà ông Nguyễn Văn Vinh đã chứng tỏ rõ ràng những hành động đó vừa vô nhân đạo, vừa vô liêm sĩ, vừa thô bạo, vừa tàn ác không còn tình người và người. – Đánh một bà già 82 tuổi (bà Trần Thị Xinh) rồi lột quần áo bỏ nằm trần truồng lõa lồ dưới đất là một hành động rừng rú không thấy có trong lịch sử loài người. – Đánh bà Võ Thị Gấm (vợ cố Hà Hải, người bị chết vì cs ngược đãi trong tù) 82 tuổi, gãy tay phải nhập viện . – Đánh đập 20 tín đồ PGHH bất tỉnh rồi lục soát ai có cà rá thì lấy cà rá, ai có giây chuyền thí lấy dây chuyền, ai có vòng vàng thì lấy vòng vàng, ai có tiền thì lấy tiền. Lấy tiền tất cả hơn 100 triệu đồng là tiền của anh em tín đồ PGHH dành dụm đóng góp để chẩn bần tín đồ nghèo trong dịp lễ. Ôi! Quang vinh thay cho đảng csVN, đánh người bất tỉnh để cướp của như thế ấy là hành động còn rừng rú hơn những toán thổ phỉ ! ! ! – Đóng chốt trước nhà trên 50 gia đình Trị Sự Viên lãnh đạo Giáo Hội PGHH Thuần Túy, “nội bất xuất, ngoại bất nhập” trong nhà có ai bịnh hoạn bất thường cũng không được đi ra khỏi nhà để chữa trị, nằm chờ chết. Với tín đồ PGHH nông dân chất phác, tay lấm chân bùn, trong tay không một tất sắt mà nhà cầm quyền cs đã sử dụng hằng ngàn công an để đàn áp thật là oai hùng, trong lúc quỳ lạy cúi đầu dâng đất (6 tỉnh phía Bắc) dâng biển, dâng đảo, dâng khai thác bauxit Tây Nguyên cho Tàu cộng . . . Các ông lãnh đạo đảng csVN ơi! Các ông có thấy hổ thẹn không? Thưa chư tín hửu PGHH thân mến, Cuộc đối đầu với cs , nhất là cuộc tuyệt thực tại gia của chúng ta lần này, người tín đồ PGHH đã biểu dương tinh thần bất khuất, ý chí kiên cường để bảo vệ đạo pháp, để bảo vệ quyền làm người của con người . . . Cuộc tuyệt thực đã đi đến ngày thứ tư, tôi xét thấy cũng dã đủ rồi, chúng ta phải bảo tồn sức khỏe của chúng ta để tiếp tục tiến bước trên con đường đấu tranh giải thể đảng cộng sản VN, tay nắm tay, sức chung sức, lòng chung lòng với toàn dân đế xây dựng một nước VN: Tự Do, Dân Chủ, Hòa Bình và Thịnh Vượngthật sự xứng đáng là con Hồng cháu Lạc với truyền thống 4.000 năm văn hiến. Tôi xin long trọng tuyên bố CHẤM DỨT CUỘC TUYỆT THỰC  kể từ hôm nay: ngày 27-3-2014. PHẬT đạo sáng ngời ánh bửu linh, GÍAO truyền chánh pháp tạo thanh bình. HÒA đồng nhơn loại an thiên hạ, HẢO hợp thời cơ độ chúng sanh. TRƯỜNG thuyết Tu Nhân đời thạnh trị, TỒN tâm Học Phật , đạo quang vinh. BẤT câu tăng tục chơn như pháp, DIỆT khổ qua bờ đến cõi thanh. – ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ VẠN TUẾ. – PGHH TRƯỜNG TỒN BẤT DIỆT. Ngày 27 tháng 3 năm 2014. TM Giáo Hội PGHH Thuần Túy. Hội Trưởng Trung Ương LÊ QUANG LIÊM———————————– PHẬT GIÁO HÒA HẢO  THUẦN TÚY CỦNG CỐ GIÁO QUYỀN-THỐNG NHẤT GIÁO HỘI-XIỂN DƯƠNG GIÁO PHÁP                                         BẠCH THƯ SỐ 2 Kính gởi: – Ông Nguyễn Phú Trọng. – Ông Trương Tấn Sang. – Ông Nguyễn Sinh Hùng. – Ông Nguyễn Tấn Dũng. Thế là cuộc điều động hằng ngàn công an, bộ đội cơ động, xã hội đen, xe vòi rồng, xe bít bùng, v.v. . . để chận đứng PGHH tổ chức ngày lễ kỷ niệm Đức Huỳnh Giáo Chủ bị việt minh cộng sản ám hại . . . các ông đã đạt một chiến thắng vô cùng vẽ vang, chiến thắng  một nhóm tín đồ PGHH vốn là nông dân chất phác, tay lấm chân bùn trong tay không một tất sắt. Thật quang vinh thay cho đảng csVN quang vinh? Lại càng quang vinh hơn với những hành động oai hùng mang tính rừng rú: a- Đánh một bà già 82 tuổi (bà Trần Thị Xinh) bị ngất xỉu rồi lột hết quần áo để bà nằm trần truồng lõa lồ đưới đất. Hành động oai hùng này có lẽ đệ tử các ông đã hành sử đúng theo đường lối của đảng csVN quang vinh! Và oai hùng này không thấy có trong lịch sử loài người. b- Đánh bà Võ Thị Gấm 82 tuổi bị gãy tay phải đi cấp cứu ở bịnh viện Châu Thành, An Giang. c- Đánh đập ngất xỉu 20 tín đồ PGHH đang chuẩn bị cuộc lễ rồi lục soát lấy hết nữ trang tiền bạc. Số tiền này lên đến trên 100 triệu là tiền của anh chị em tín đồ PGHH dành dụm đóng góp để chẩn bần cho tín đồ nghèo trong dịp lễ. Thật quang vinh thay hành động sở trường cố hữu của đảng csVN dù những toán thổ phỉ cũng phải cúi đầu thán phục ! d- Đóng chốt trước cửa nhà toàn bộ chức sắc lãnh đạo của Giáo Hội PGHH Thuần Túy và “nội bất xuất, ngoại bất nhập” dù trong nhà có ai bịnh hoạn cũng không được ra khỏi nhà để chữa bịnh, nằm chờ chết. Điển hình như trường hợp của ông Nguyễn Văn Thơ ở Xã Tân Hòa (Đồng Tháp) trong ngày 23-3-2014 . . . trường hợp của ông Nguyễn Văn Vinh ở Xã Long Giang (An Giang) trong những ngày từ 20 đến 25-3-2014 . . . Trường hợp của ông Nguyễn Văn Điền ở Xã Tân Phước (Đồng Tháp) trong ngày 22-3-2014 . . . Trường hợp của anh Nguyễn Ngọc Tân ở Bình Minh (Vĩnh Long) trong ngày 23-3-2014 . . . v.v. . . Đây là hảnh động nhân đạo mà Tần Thỉ Hoàng có sống lại cũng phải cúi đầu thán phục ! Và đây cũng là một chứng minh cụ thể chính sách nhất quán tôn trọng nhân quyền, tôn trọng Tự Do Tôn Giáo mà Thứ Trưởng Hà Kim Ngọc, trưởng đoàn VN đã báo cáo trong Đại Hội Nhân Quyền kiểm điểm định kỳ toàn cầu về Nhân Quyền tại Geneve (Thụy Sĩ) ngày 5-2-2014. Bức Bạch Thư này tôi chỉ điểm sơ lược lại một số hành động của đoàn đệ tử các ông để các ông tự chiêm nghiệm chính sách của các ông như vậy có quá đáng hay không? Có trắng trợn chà đạp Nhân Quyền, có trằng trợn chà đạp Tự Do Tôn Giáo hay không? Vì tôi tin rằng các ông, dù sao,  cũng còn chút ít lương tâm để cân nhắc ĐIỀU LÀNH, ĐIỀU ÁC. Rõ ràng với đồng bào nhân dân trong nước các ông đã hành sử một chính sách độc tài toàn trị, chà đạp nhân dân đến xương tàn cốt rụi, còn với ngoại bang thì các ông chuyên dối trá để cầu viện . . . nhất là với tàu cộng thì các ông quỳ mọp để dâng đất (6 tỉnh phía Bắc) dâng biển dâng đảo, dâng khai thác bauxit Tây Nguyên , v.v. . . và v.v. . . Tôi mong các ông hãy tự kiểm điểm sửa sai để cho toàn dân còn được hưởng vài hạt cơm rơi . . . một vài manh áo rách. QUAY LẠI ẮT THẤY BỜ. Ngày 28 tháng 3 năm 2014 Cư Sĩ LÊ QUANG LIÊM

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Người viết Bạch Thư Tuyệt Mệnh.

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

TÂM THƯ VỀ NGÀY ĐẠI LỄ

TÂM THƯ VỀ NGÀY ĐẠI LỄ

 

Kính thưa quý đồng đạo và quý đồng bào,

 

Năm nay, Hội Đồng Trị Sự Trung Ương xin kính mời quý vị tham dự Đại Lễ Kỷ Niệm 75 Năm Đức Huỳnh Giáo Chủ Khai Sáng Phật Giáo Hòa Hảo, được tổ chức tại Hội Quán số 12432 đường Euclid, bên cạnh ngã tư đường Lampson, thành phố Garden Grove.

 

Nhân dịp thiêng liêng trọng đại này, chúng tôi muốn cùng quý vị ôn nhuần lời dạy của Đức Thầy và ưu tư của chúng ta.

 

                    Trả nợ thế nghĩa ân trọn vẹn

                    Cảnh non bồng kỳ hẹn ngày kia

 

Đây là lời của Đức Huỳnh Giáo Chủ.

 

Nợ thế tức là nợ đời, nợ Tứ Ân mà ta đã thọ trong kiếp sống. Vì vậy, ta có bổn phận phải đền trả, bởi vì ta đã thọ nhận vay mượn nó từ thuở bé thơ cho đến lúc thành nhân.

 

Cái công ơn cha mẹ nuôi nấng đẻ đau, 9 tháng cưu mang, 3 năm bú mớm. Rồi ân tấc đất ngọn rau tạo nên kiếp sống này. Ân được dìu dắt về tâm linh đạo đức, còn ân về Đồng Bào và Nhân Loại nữa. Cho nên ta có trách nhiệm phải cố gắng đền đáp một cách tận tình. Ta sẽ tu không thành nếu nợ đời chúng ta không trả, dù có muốn hay không thì cũng phải:

 

                    Tu đền nợ thế cho rồi

                    Thì sau mới được đứng ngồi tòa sen

 

*

 

                    Thấy dân thấy nước nghĩ mà đau

                    Quyết rứt cà sa khoát chiến bào

                    Đuổi bọn xâm lăng gìn đất nước

                    Ngọn cờ Độc Lập phất phơ cao.

 

Con đường cứu nước với chương trình Dân Chủ Xã Hội tiên tiến được Đức Huỳnh Giáo Chủ mở ra là một sinh lộ thực tiễn cho dân tộc Việt. Trước hiểm họa xâm lấn của Trung Cộng, một quốc nạn có thể đưa đến diệt vong, mộtBiển Đông sôi sục như chảo dầu, một biển lửa sắp bùng cháy, kể cả trên đất liền, hiệu ứng với lời tiên tri của Tứ Thánh Tam Hoàng Thơ, đặc biệt là của Đức Huỳnh Giáo Chủ:

 

                    Đất Bắc Kỳ sao quá ruộng sâu

                    Tàu Man đến đó giăng câu đặt lờ

 

Hay là:

 

                    Mặt nước biển lô nhô lặn hụp

                    Chim đua bay cá lại tranh mồi

                    Ngọn thủy triều nô nức sục sôi

                    Bầu trái đất một phen luân chuyển.

 

Để cảnh tỉnh cho những đầu óc nô lệ Tàu cộng, ngay từ năm 1946 khi trả lời cho cụ Phạm Thiều (đại diện Việt Minh) mời Đức Thầy tham chánh, bằng những lời thơ xin trích ra đây 2 câu của cụ Phạm Thiều:

 

                    Sao còn lãnh đạm với đồng bang

                    Toan trút cho ai gánh trị an

 

Đức Thầy đáp họa:

 

                    Nhìn xem Trung quốc khách lân bang

                    Cứ cố xỏ ngầm sao trị an?

 

Và đặc biệt với hai câu như một lời cảnh tỉnh:

 

                    Ngàn năm Bắc địch dày bừa

                    Mà còn đứng dậy tống đưa quân thù.

 

Hỡi những đầu óc mông muội hãy tỉnh thức mau lên kẻo trễ.

 

Kính thưa quý đồng hương, quý đồng đạo,

 

Chúng ta sẽ kỷ niệm ngày Đức Thầy bị cộng sản ám hại, tức là ngày Đức Thầy Thọ Nạn Đốc Vàng, chúng ta đang tổ chức Đại Lễ Kỷ Niệm lần thứ 75 ngày Đức Thầy khai sáng Đạo Phật Giáo Hòa Hảo. Không những tưởng niệm công đức mở đạo cứu đời của Ngài, mà còn tưởng nhớ đến công lao cứu dân cứu nước khi Đức Thầy dấn thân vào con đường đấu tranh chống Pháp để giành Độc Lập qua các Mặt Trận và Phong Trào do Đức Huỳnh Giáo Chủ thành lập hay cộng tác. Nhất là Ngài đã thành lập chánh đảng Việt Nam Dân Chủ Xã Hội.

 

Để tưởng nhớ đến công đức của một vị Phật đã lâm phàm giáo dân độ chúng, đưa muôn người thoát khỏi biển mê sông khổ mà quy về chơn tâm thật tánh để đạt đến cảnh hạnh phúc bình an, tâm linh giác ngộ, như Ngài đã từng bày tỏ:

 

                    Huyền pháp thâm trầm thơm bất tuyệt

                    Vô Vi chánh Đạo hỡi người ơi.

 

Hay một hoài bão chưa thành khi non sông còn dưới ách nông nô độc tài toàn trị. Một đất nước phú cường, một chế độ không độc tài không cộng sản chưa thực hiện được, thì Đức Thầy đã vắng mặt.

 

                    Nước non tan vỡ bởi vì đâu

                    Riêng một ta mang nặng mối sầu

                    Lòng những hiến thân mưu độc lập

                    Nào hay tai họa áp bên lầu.

 

                    *

 

                    Bên lầu tiếng súng nổ vang tai

                    Trời đất phụ chi kẻ trí tài

                    Mưu quốc hóa ra người phản quốc

                    Ngàn thu mối hận dễ nào phai.

 

Kính thưa quý vị,

 

Thư vắn tình dài, chúng ta có thể nghe tiếp hay chia sẻ tâm sự của nhau vào dịp Kỷ Niệm lần thứ 75 ngày Đức Thầy khai sáng Đạo sẽ được Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo tổ chức vào ngày Chủ Nhật 29 tháng 6 năm 2014, lúc 2 giờ chiều tại Hội Quán số 12432 đường Euclid, góc Lampson và Euclid.

 

Một lần nữa xin nhắc lại, ở góc đường Euclid và Lampson, quý vị sẽ thấy trên nóc Hội Quán có treo cờ và biểu ngữ tung bay phất phới, thì đó là địa điểm chào mừng quan khách.

 

Xin quý đồng đạo và đồng hương coi đây là thơ mời chính thức phổ biến sâu rộng trên làn sóng truyền hình và truyền thanh cũng như trên báo chí và internet.

 

Với lòng vô cùng trân trọng và tri ân, sự hiện diện của quý vị là niềm khích lệ lớn lao đối với chúng tôi trên bước đường tầm cầu chân lý, đồng thời phụng sự hữu hiệu cho dân tộc và đạo pháp.

 

Ban Tổ Chức Đại Lễ trân trọng kính mời.

 

 

TM Hội Đồng Trị Sự Trung Ương và Ban Tổ Chức Đại Lễ Kỷ Niệm.

 

– Tiến Sĩ Lê Phước Sang, Hội Trưởng HĐTSTƯ. Trưởng Ban Tổ Chức Đại Lễ. Cell: 832-397-9813.

 

– Huyền Tâm Huỳnh Long Giang, Tổng Vụ Trưởng Phổ Thông Giáo Lý. Tổng Thư Ký Ban Tổ Chức Đại Lễ. Cell:714-720-5271

 

Xin lưu ý: Đậu xe trên đường Lampson hay những địa điểm thuận tiện gần đó.

 

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Vì nƯỚc, vì ĐẠo quên mình.

Người viết Bạch Thư Tuyệt Mệnh.

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

TÂM THƯ VỀ NGÀY ĐẠI LỄ

TÂM THƯ VỀ NGÀY ĐẠI LỄ

 

Kính thưa quý đồng đạo và quý đồng bào,

 

Năm nay, Hội Đồng Trị Sự Trung Ương xin kính mời quý vị tham dự Đại Lễ Kỷ Niệm 75 Năm Đức Huỳnh Giáo Chủ Khai Sáng Phật Giáo Hòa Hảo, được tổ chức tại Hội Quán số 12432 đường Euclid, bên cạnh ngã tư đường Lampson, thành phố Garden Grove.

 

Nhân dịp thiêng liêng trọng đại này, chúng tôi muốn cùng quý vị ôn nhuần lời dạy của Đức Thầy và ưu tư của chúng ta.

 

                    Trả nợ thế nghĩa ân trọn vẹn

                    Cảnh non bồng kỳ hẹn ngày kia

 

Đây là lời của Đức Huỳnh Giáo Chủ.

 

Nợ thế tức là nợ đời, nợ Tứ Ân mà ta đã thọ trong kiếp sống. Vì vậy, ta có bổn phận phải đền trả, bởi vì ta đã thọ nhận vay mượn nó từ thuở bé thơ cho đến lúc thành nhân.

 

Cái công ơn cha mẹ nuôi nấng đẻ đau, 9 tháng cưu mang, 3 năm bú mớm. Rồi ân tấc đất ngọn rau tạo nên kiếp sống này. Ân được dìu dắt về tâm linh đạo đức, còn ân về Đồng Bào và Nhân Loại nữa. Cho nên ta có trách nhiệm phải cố gắng đền đáp một cách tận tình. Ta sẽ tu không thành nếu nợ đời chúng ta không trả, dù có muốn hay không thì cũng phải:

 

                    Tu đền nợ thế cho rồi

                    Thì sau mới được đứng ngồi tòa sen

 

*

 

                    Thấy dân thấy nước nghĩ mà đau

                    Quyết rứt cà sa khoát chiến bào

                    Đuổi bọn xâm lăng gìn đất nước

                    Ngọn cờ Độc Lập phất phơ cao.

 

Con đường cứu nước với chương trình Dân Chủ Xã Hội tiên tiến được Đức Huỳnh Giáo Chủ mở ra là một sinh lộ thực tiễn cho dân tộc Việt. Trước hiểm họa xâm lấn của Trung Cộng, một quốc nạn có thể đưa đến diệt vong, mộtBiển Đông sôi sục như chảo dầu, một biển lửa sắp bùng cháy, kể cả trên đất liền, hiệu ứng với lời tiên tri của Tứ Thánh Tam Hoàng Thơ, đặc biệt là của Đức Huỳnh Giáo Chủ:

 

                    Đất Bắc Kỳ sao quá ruộng sâu

                    Tàu Man đến đó giăng câu đặt lờ

 

Hay là:

 

                    Mặt nước biển lô nhô lặn hụp

                    Chim đua bay cá lại tranh mồi

                    Ngọn thủy triều nô nức sục sôi

                    Bầu trái đất một phen luân chuyển.

 

Để cảnh tỉnh cho những đầu óc nô lệ Tàu cộng, ngay từ năm 1946 khi trả lời cho cụ Phạm Thiều (đại diện Việt Minh) mời Đức Thầy tham chánh, bằng những lời thơ xin trích ra đây 2 câu của cụ Phạm Thiều:

 

                    Sao còn lãnh đạm với đồng bang

                    Toan trút cho ai gánh trị an

 

Đức Thầy đáp họa:

 

                    Nhìn xem Trung quốc khách lân bang

                    Cứ cố xỏ ngầm sao trị an?

 

Và đặc biệt với hai câu như một lời cảnh tỉnh:

 

                    Ngàn năm Bắc địch dày bừa

                    Mà còn đứng dậy tống đưa quân thù.

 

Hỡi những đầu óc mông muội hãy tỉnh thức mau lên kẻo trễ.

 

Kính thưa quý đồng hương, quý đồng đạo,

 

Chúng ta sẽ kỷ niệm ngày Đức Thầy bị cộng sản ám hại, tức là ngày Đức Thầy Thọ Nạn Đốc Vàng, chúng ta đang tổ chức Đại Lễ Kỷ Niệm lần thứ 75 ngày Đức Thầy khai sáng Đạo Phật Giáo Hòa Hảo. Không những tưởng niệm công đức mở đạo cứu đời của Ngài, mà còn tưởng nhớ đến công lao cứu dân cứu nước khi Đức Thầy dấn thân vào con đường đấu tranh chống Pháp để giành Độc Lập qua các Mặt Trận và Phong Trào do Đức Huỳnh Giáo Chủ thành lập hay cộng tác. Nhất là Ngài đã thành lập chánh đảng Việt Nam Dân Chủ Xã Hội.

 

Để tưởng nhớ đến công đức của một vị Phật đã lâm phàm giáo dân độ chúng, đưa muôn người thoát khỏi biển mê sông khổ mà quy về chơn tâm thật tánh để đạt đến cảnh hạnh phúc bình an, tâm linh giác ngộ, như Ngài đã từng bày tỏ:

 

                    Huyền pháp thâm trầm thơm bất tuyệt

                    Vô Vi chánh Đạo hỡi người ơi.

 

Hay một hoài bão chưa thành khi non sông còn dưới ách nông nô độc tài toàn trị. Một đất nước phú cường, một chế độ không độc tài không cộng sản chưa thực hiện được, thì Đức Thầy đã vắng mặt.

 

                    Nước non tan vỡ bởi vì đâu

                    Riêng một ta mang nặng mối sầu

                    Lòng những hiến thân mưu độc lập

                    Nào hay tai họa áp bên lầu.

 

                    *

 

                    Bên lầu tiếng súng nổ vang tai

                    Trời đất phụ chi kẻ trí tài

                    Mưu quốc hóa ra người phản quốc

                    Ngàn thu mối hận dễ nào phai.

 

Kính thưa quý vị,

 

Thư vắn tình dài, chúng ta có thể nghe tiếp hay chia sẻ tâm sự của nhau vào dịp Kỷ Niệm lần thứ 75 ngày Đức Thầy khai sáng Đạo sẽ được Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo tổ chức vào ngày Chủ Nhật 29 tháng 6 năm 2014, lúc 2 giờ chiều tại Hội Quán số 12432 đường Euclid, góc Lampson và Euclid.

 

Một lần nữa xin nhắc lại, ở góc đường Euclid và Lampson, quý vị sẽ thấy trên nóc Hội Quán có treo cờ và biểu ngữ tung bay phất phới, thì đó là địa điểm chào mừng quan khách.

 

Xin quý đồng đạo và đồng hương coi đây là thơ mời chính thức phổ biến sâu rộng trên làn sóng truyền hình và truyền thanh cũng như trên báo chí và internet.

 

Với lòng vô cùng trân trọng và tri ân, sự hiện diện của quý vị là niềm khích lệ lớn lao đối với chúng tôi trên bước đường tầm cầu chân lý, đồng thời phụng sự hữu hiệu cho dân tộc và đạo pháp.

 

Ban Tổ Chức Đại Lễ trân trọng kính mời.

 

 

TM Hội Đồng Trị Sự Trung Ương và Ban Tổ Chức Đại Lễ Kỷ Niệm.

 

– Tiến Sĩ Lê Phước Sang, Hội Trưởng HĐTSTƯ. Trưởng Ban Tổ Chức Đại Lễ. Cell: 832-397-9813.

 

– Huyền Tâm Huỳnh Long Giang, Tổng Vụ Trưởng Phổ Thông Giáo Lý. Tổng Thư Ký Ban Tổ Chức Đại Lễ. Cell:714-720-5271

 

Xin lưu ý: Đậu xe trên đường Lampson hay những địa điểm thuận tiện gần đó.

 

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

LỜI KÊU GỌI

LỜI KÊU GỌI

BẢO VỆ CHỦ QUYỀN ĐẤT NƯỚC

TRƯỚC HÀNH ĐỘNG XÂM LẤN CỦA TRUNG QUỐC

_______

– Quý vị Lãnh đạo Tinh thần các Tôn giáo.

– Quý vị Lãnh đạo các Đảng phái, Cộng đồng, Đoàn thể Việt Nam hải ngoại.

– Quý vị Cựu Quân nhân QLVNCH và Sĩ quan, Binh lính Quân đội Nhân dân Việt Nam.

– Toàn thể Quý Đồng hương và Đồng bào cùng anh chị Thanh niên Sinh viên Việt Nam

Kính thưa Quý vị,

Ngày 1 tháng 5 năm 2014 vừa qua, nhà cầm quyền Trung Quốc đã ngang ngược đưa giàn

khoan dầu HD-981 và nhiều tàu kể cả chiến hạm vào hoạt động tại khu vực thuộc lô dầu khí

143, hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, chỉ cách bờ

biển nước ta khoảng 120 hải lý, không xa khu vực mà Tập đoàn Exxon Mobil đã phát hiện

trử lượng lớn khí đốt (gas). Theo truyền thông quốc tế đây là giàn khoan nước sâu lớn nhất

và tân tiến nhất trị giá hàng tỷ đôla của Trung Quốc, dài 114m, rộng 90m, cao 136m, có thể

hoạt động ở độ sâu 3.000m. Đây không phải là lần đầu tiên xảy ra chuyện Trung Quốc gây

hấn Việt Nam liên quan đến việc tìm kiếm năng lượng, nhưng là lần đầu tiên Trung Quốc thực

hiện hoạt động khai thác dầu mỏ tại vùng nước thuộc tuyên bố chủ quyền của Việt Nam.

Trong quá khứ, năm 1974 Trung Quốc đã xâm chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa từ quyền

quản lý của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và một số đảo đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa

của Việt Nam năm 1988 rồi hung hăng tuyên bố chủ quyền lãnh hải, quyền khai thác các tài

nguyên lòng biển trong chiến lược mở rộng quyền, chủ quyền của Bắc Kinh tại Biển Đông và

cái gọi là “đường lưởi bò chín đoạn”.

Kính thưa quý vị, là người Việt Nam, ai trong chúng ta cũng nhận rõ chưa bao giờ đất nước

mình lại lâm vào tình trạng cực kỳ bi thảm, nguy khốn như hiện nay: Bên trong thì thượng

tầng lãnh đạo phe phái tranh giành sát phạt nhau, kinh tế tuột dốc, văn hóa đạo lý suy đồi, xã

hội hỗn loạn vô kỷ cương. Ngoại bang với sự tiếp tay của tham quan nội địa, đã xâm nhập sâu

vào lãnh thổ Việt, thành lập những phố, những làng người Trung Quốc loang lỗ khắp cùng đất

nước; Bên ngoài thì hải quân, hải tuần Trung Quốc vây bắt, khủng bố, ức hiếp ngư dân Việt.

Họ ngang nhiên xâm lấn đưa giàn khoan vào sâu trong vùng biển kinh tế Việt Nam như chỗ

không người; Họ còn xây căn cứ, xua tàu chiến, lăm le nuốt trọn cả vùng biển trời, hải đảo của

chúng ta. Quả thật vận mệnh tổ quốc Việt Nam như con thuyền chông chênh vô chủ.

Trong hoàn cảnh ấy, vì hệ lụy trong guồng máy đảng trị, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam

mãi loay quay yếu ớt chống chỏi, mong cầu hòa nhưng không hiệu quả với kẻ xâm lược

phương Bắc. Tình đồng chí Quốc tế Cộng sản không những không giúp được Cộng sản Hà

Nội thoát khỏi con quái vật đói khát Bắc Kinh mà lại còn gây thêm khó khăn khi chống đở.

Giữa cảnh Tổ Quốc lâm nguy, dù vô cùng bất bình phẫn nộ trước thái độ khiếp nhược của nhà

đương trị Việt Nam nhưng không thể vì vậy mà đành tâm để mặc cho lãnh thổ, lãnh hải nước

nhà rơi vào tay giặc nên sau khi tiếp xúc, thảo luận, lắng nghe tâm ý của nhiều vị lãnh đạo các

tôn giáo, đảng phái, cộng đồng, đoàn thể khắp nơi – chúng tôi gồm những cá nhân người Việt

đang tạm cư tại nhiều nước trên thế giới thuộc mọi thành phần dân tộc Việt Nam quyết định

phát động “Phong Trào Bảo Toàn Trường Sa, Đòi Lại Hoàng Sa” vận động toàn dân Việt

Nam trong và ngoài nước cùng đứng lên bảo vệ non sông, chống quân xâm lược Trung Quốc.

Mục tiêu của Phong trào là:

Thứ nhất: Tố cáo hành động xâm lăng Hoàng Sa và xâm lấn Trường Sa thuộc Việt Nam của

nhà cầm quyền Trung Quốc trước công luận Quốc tế.

Thứ Hai: Kiên quyết bác bỏ đòi hỏi ngang ngược và phi lý của nhà cầm quyền Bắc Kinh về

cái gọi là “chủ quyền lãnh hải Đường lưỡi bò” và kêu gọi Liên Hiệp Quốc cùng các quốc

gia trên thế giới chính thức phủ nhận giá trị về tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh và xác định

Quyền Tự Do Lưu Thông Trên Biển Đông.

Thứ Ba: Vinh danh, tri ơn những anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống, anh dũng hy sinh tại Hoàng

Sa và Trường Sa để bảo vệ chủ quyền đất nước.

Thứ Tư: Sát cánh cùng với nhân dân trong nước, đòi hỏi nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam

phải cởi bỏ sự lệ thuộc chính trị, đứng dậy công khai cùng với Philippines và các nước khác

khởi kiện nhà cầm quyền Trung Quốc về những hành động xâm lược tại Hoàng Sa, Trường Sa

và những vi phạm trên Biển Đông.

Thứ Năm: Kêu gọi nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đặt quyền lợi của Tổ Quốc lên trên,

sáng suốt và can đảm mở ra sinh lộ mới cho đất nước, chuyển đổi và xây dựng một chế độ dân

chủ hợp lòng dân. Cùng với mọi thành phần dân tộc trong và ngoài nước xây dựng thế đoàn

kết lớn, khơi mở nội lực dân tộc để bảo toàn lãnh thổ, lãnh hải, triệt tiêu mọi âm mưu đồng

hóa Việt Nam của Trung Quốc.

Thứ Sáu: Khẩn thiết kêu gọi đồng bào, nhất là anh chị em thanh niên, sinh viên Việt Nam

quốc nội và hải ngoại cùng dấy lên một phong trào yêu nước bảo vệ và dành lại chủ quyền

Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam.

Kính thưa Quý Vị,

Không ai yêu nước Việt Nam bằng người Việt Nam và cũng không ai cứu được nước Việt

Nam nếu người Việt Nam không muốn đứng lên tự cứu. Trong nhận thức đó, bằng tất cả

quyết tâm và vì quyền lợi tối thượng của dân tộc, chúng tôi tha thiết mong được sự đồng cảm,

ủng hộ và tham gia “Phong Trào Bảo Toàn Trường Sa, Đòi Lại Hoàng Sa”.

Trân trọng cám ơn Quý Vị và kính chào “Đoàn Kết – Quyết Thắng”.

Hoa Kỳ, ngày 09 tháng 5 năm 2014

Thay mặt nhóm chủ trương

 

_______________

Nguyễn Văn Nam

Tổng Bí Thư

Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

TÂM THƯ VỀ NGÀY ĐẠI LỄ

TÂM THƯ VỀ NGÀY ĐẠI LỄ

 

Kính thưa quý đồng đạo và quý đồng bào,

 

Năm nay, Hội Đồng Trị Sự Trung Ương xin kính mời quý vị tham dự Đại Lễ Kỷ Niệm 75 Năm Đức Huỳnh Giáo Chủ Khai Sáng Phật Giáo Hòa Hảo, được tổ chức tại Hội Quán số 12432 đường Euclid, bên cạnh ngã tư đường Lampson, thành phố Garden Grove.

 

Nhân dịp thiêng liêng trọng đại này, chúng tôi muốn cùng quý vị ôn nhuần lời dạy của Đức Thầy và ưu tư của chúng ta.

 

                    Trả nợ thế nghĩa ân trọn vẹn

                    Cảnh non bồng kỳ hẹn ngày kia

 

Đây là lời của Đức Huỳnh Giáo Chủ.

 

Nợ thế tức là nợ đời, nợ Tứ Ân mà ta đã thọ trong kiếp sống. Vì vậy, ta có bổn phận phải đền trả, bởi vì ta đã thọ nhận vay mượn nó từ thuở bé thơ cho đến lúc thành nhân.

 

Cái công ơn cha mẹ nuôi nấng đẻ đau, 9 tháng cưu mang, 3 năm bú mớm. Rồi ân tấc đất ngọn rau tạo nên kiếp sống này. Ân được dìu dắt về tâm linh đạo đức, còn ân về Đồng Bào và Nhân Loại nữa. Cho nên ta có trách nhiệm phải cố gắng đền đáp một cách tận tình. Ta sẽ tu không thành nếu nợ đời chúng ta không trả, dù có muốn hay không thì cũng phải:

 

                    Tu đền nợ thế cho rồi

                    Thì sau mới được đứng ngồi tòa sen

 

*

 

                    Thấy dân thấy nước nghĩ mà đau

                    Quyết rứt cà sa khoát chiến bào

                    Đuổi bọn xâm lăng gìn đất nước

                    Ngọn cờ Độc Lập phất phơ cao.

 

Con đường cứu nước với chương trình Dân Chủ Xã Hội tiên tiến được Đức Huỳnh Giáo Chủ mở ra là một sinh lộ thực tiễn cho dân tộc Việt. Trước hiểm họa xâm lấn của Trung Cộng, một quốc nạn có thể đưa đến diệt vong, mộtBiển Đông sôi sục như chảo dầu, một biển lửa sắp bùng cháy, kể cả trên đất liền, hiệu ứng với lời tiên tri của Tứ Thánh Tam Hoàng Thơ, đặc biệt là của Đức Huỳnh Giáo Chủ:

 

                    Đất Bắc Kỳ sao quá ruộng sâu

                    Tàu Man đến đó giăng câu đặt lờ

 

Hay là:

 

                    Mặt nước biển lô nhô lặn hụp

                    Chim đua bay cá lại tranh mồi

                    Ngọn thủy triều nô nức sục sôi

                    Bầu trái đất một phen luân chuyển.

 

Để cảnh tỉnh cho những đầu óc nô lệ Tàu cộng, ngay từ năm 1946 khi trả lời cho cụ Phạm Thiều (đại diện Việt Minh) mời Đức Thầy tham chánh, bằng những lời thơ xin trích ra đây 2 câu của cụ Phạm Thiều:

 

                    Sao còn lãnh đạm với đồng bang

                    Toan trút cho ai gánh trị an

 

Đức Thầy đáp họa:

 

                    Nhìn xem Trung quốc khách lân bang

                    Cứ cố xỏ ngầm sao trị an?

 

Và đặc biệt với hai câu như một lời cảnh tỉnh:

 

                    Ngàn năm Bắc địch dày bừa

                    Mà còn đứng dậy tống đưa quân thù.

 

Hỡi những đầu óc mông muội hãy tỉnh thức mau lên kẻo trễ.

 

Kính thưa quý đồng hương, quý đồng đạo,

 

Chúng ta sẽ kỷ niệm ngày Đức Thầy bị cộng sản ám hại, tức là ngày Đức Thầy Thọ Nạn Đốc Vàng, chúng ta đang tổ chức Đại Lễ Kỷ Niệm lần thứ 75 ngày Đức Thầy khai sáng Đạo Phật Giáo Hòa Hảo. Không những tưởng niệm công đức mở đạo cứu đời của Ngài, mà còn tưởng nhớ đến công lao cứu dân cứu nước khi Đức Thầy dấn thân vào con đường đấu tranh chống Pháp để giành Độc Lập qua các Mặt Trận và Phong Trào do Đức Huỳnh Giáo Chủ thành lập hay cộng tác. Nhất là Ngài đã thành lập chánh đảng Việt Nam Dân Chủ Xã Hội.

 

Để tưởng nhớ đến công đức của một vị Phật đã lâm phàm giáo dân độ chúng, đưa muôn người thoát khỏi biển mê sông khổ mà quy về chơn tâm thật tánh để đạt đến cảnh hạnh phúc bình an, tâm linh giác ngộ, như Ngài đã từng bày tỏ:

 

                    Huyền pháp thâm trầm thơm bất tuyệt

                    Vô Vi chánh Đạo hỡi người ơi.

 

Hay một hoài bão chưa thành khi non sông còn dưới ách nông nô độc tài toàn trị. Một đất nước phú cường, một chế độ không độc tài không cộng sản chưa thực hiện được, thì Đức Thầy đã vắng mặt.

 

                    Nước non tan vỡ bởi vì đâu

                    Riêng một ta mang nặng mối sầu

                    Lòng những hiến thân mưu độc lập

                    Nào hay tai họa áp bên lầu.

 

                    *

 

                    Bên lầu tiếng súng nổ vang tai

                    Trời đất phụ chi kẻ trí tài

                    Mưu quốc hóa ra người phản quốc

                    Ngàn thu mối hận dễ nào phai.

 

Kính thưa quý vị,

 

Thư vắn tình dài, chúng ta có thể nghe tiếp hay chia sẻ tâm sự của nhau vào dịp Kỷ Niệm lần thứ 75 ngày Đức Thầy khai sáng Đạo sẽ được Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo tổ chức vào ngày Chủ Nhật 29 tháng 6 năm 2014, lúc 2 giờ chiều tại Hội Quán số 12432 đường Euclid, góc Lampson và Euclid.

 

Một lần nữa xin nhắc lại, ở góc đường Euclid và Lampson, quý vị sẽ thấy trên nóc Hội Quán có treo cờ và biểu ngữ tung bay phất phới, thì đó là địa điểm chào mừng quan khách.

 

Xin quý đồng đạo và đồng hương coi đây là thơ mời chính thức phổ biến sâu rộng trên làn sóng truyền hình và truyền thanh cũng như trên báo chí và internet.

 

Với lòng vô cùng trân trọng và tri ân, sự hiện diện của quý vị là niềm khích lệ lớn lao đối với chúng tôi trên bước đường tầm cầu chân lý, đồng thời phụng sự hữu hiệu cho dân tộc và đạo pháp.

 

Ban Tổ Chức Đại Lễ trân trọng kính mời.

 

 

TM Hội Đồng Trị Sự Trung Ương và Ban Tổ Chức Đại Lễ Kỷ Niệm.

 

– Tiến Sĩ Lê Phước Sang, Hội Trưởng HĐTSTƯ. Trưởng Ban Tổ Chức Đại Lễ. Cell: 832-397-9813.

 

– Huyền Tâm Huỳnh Long Giang, Tổng Vụ Trưởng Phổ Thông Giáo Lý. Tổng Thư Ký Ban Tổ Chức Đại Lễ. Cell:714-720-5271

 

Xin lưu ý: Đậu xe trên đường Lampson hay những địa điểm thuận tiện gần đó.

 

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Đức Huỳnh Phú Sổ bất tử . PGHH Muôn-Năm . Tinh Thần PGHH bất-diệt

Đức Huỳnh Phú Sổ bất tử . PGHH Muôn-Năm . Tinh Thần

PGHH bất-diệt

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔvà Phật Giáo Thời ÐạiLê Hiếu Liêm

 

Chương một: Dẫn nhập Việt Nam và Phật Giáo đầu thế kỷ hai mươi. 

Đầu thế kỷ 20, tư tưởng Nho Giáo, thống trị độc tôn đất nước từ Thời Hồ Quý Ly, nhà Lê và nhà Nguyễn suốt 400 năm, hoàn toàn sụp đổ. Tư tưởng Phật Giáo, ngự trị vinh quang trong thời đại Lý Trần từ thế kỷ thứ 11 đến cuối thế kỷ 14, suy đồi tận gốc. Tư tưởng Tây Phương và tôn giáo của nó, Thiên Chúa Giáo La Mã, bị đại đa số trí thức và nhân dân coi như sản phẩm và công cụ của chế độ Thuộc Địa và thực dân Pháp nên vẫn không được chấp nhận. Ý thức hệ Cộng Sản cũng như các tư tưởng mới khác chưa ra đời. Cả một khoảng trống tư tưởng, cũng có nghĩa là một khoảng trống tôn giáo và chính trị, to lớn bao trùm trên một nước Việt Nam bị nô lệ, bóc lột, áp bức, lạc hậu và nghèo đói. Nhưng đây cũng là môi trường lý tưởng cho sự ra đời của những tư tưởng mới, những tôn giáo mới, những chính đảng mới và những phong trào mới: Phong trào Đông Du và Việt Nam Duy Tân Hội của Phan Bội Châu từ năm 1904,Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can và các nhà Nho tiến bộ năm 1907, tư tưởng dân quyền và dân chủ của Phan Chu Trinh suốt hai mươi năm (1905-1925), phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội cùng năm, Việt Nam Quang Phục Hội năm 1912, cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ và ở Huế năm 1916 của Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, vua Duy Tân…, phong trào Hội Kín ở miền Nam năm 1913-1916 lan rộng khắp Lục Tỉnh và cuộc tấn công Sài Gòn năm 1916. Các hoạt động này đã liên tục diễn ra từ đầu thế kỷ 20 đến cuối đệ nhất thế chiến.

Tuy nhiên mãi đến đầu thập njiên 20 Việt Nam mới thật sự thức dậy với sự ra đời Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng Chí Hội và Tân Việt Cách Mạng Đảng năm 1925, Đạo Cao Đài năm 1926, Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927, Cuộc khởi nghĩa Yên Bái và sự ra đời của Đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930 và phong trào Sô Viết Nghệ Tỉnh 1930-1931.

 

Trong thời gian sôi động này, từ 1925 trở đi, Phật Giáo cũng đã thức dậy. Từ năm 1923, thiền sư Khánh Hòa và thiền sư Thiện Chiếu đã thành lập, tại chùa Long Hòa ở Trà Vinh, Hội Lục Hòa Liên Hiệp với mục đích vận động thành lập một Hội Phật Giáo Việt Nam toàn quốc để chấn hưng Phật Giáo. Thiền sư Thiện Chiếu, khác hẳn tất cả tăng sĩ Phật Giáo đương thời, là một tăng sĩ có tân học. Ông đã đi ra Trung và Bắc vận động thống nhất Phật Giáo năm 1927 nhưng bất thành.

Năm 1928 thiền sư Khánh Hòa xây dựng Thích Học Đường và Phật Học Thư Xã tại Chùa Linh Sơn, Sài Gòn và năm 1929 Ông cho ấn hành tạp chí Viên Âm, tập san Phật Học đầu tiên bằng quốc ngữ tại Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Xoài Hột, Mỹ Tho. Cùng thời, thiền sư Thiện Chiếu xuất bản một tạp chí Phật Học nhắm vào giới thanh niên trí thức lấy tên là Phật Hòa Tân Thanh Niên, đặt tòa soạn tại chùa Chúc Thọ ở Gia Định.

 

Năm 1931 thiền sư Khánh Hòa cùng nhiều tăng sĩ và cư sĩ thành lập Hội Phật Học đầu tiên tại Việt Nam, lấy tên là Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học và thiền sư Từ Phong được mời làm Chánh Hội Trưởng. Hội ra tờ Từ Bi Âm năm 1932. Thiền sư Khánh Hòa, cùng người cộng sự thân tín là thiền sư Thiện Chiếu đã đóng vai trò tiền phong khai mở phong trào chấn hưng Phật Giáo và hiện đại hóa Phật Giáo, chuyển động sâu rộng lịch sử Phật Giáo và lịch sử Việt Nam trong suốt 65 năm qua.

Tại miền Trung, thiền sư Giác Tiên mở Phật Học Đường  tại chùa Trúc Lâm năm 1929 và ủy thác cho đệ tử là bác sĩ Lê Đình Thám thành lập Hội An Nam Phật Học năm 1932. Hội quy tụ đông đảo những danh tăng và cư sĩ trí thức tại miền Trung. Cư sĩ Lê Đình Thám được bầu làm Hội Trưởng và vua Bảo Đại được mời làm Hội Trưởng Danh Dự. Hội ra tạp chí Phật Học Viên Âm năm 1933. Năm 1934, thiền sư Giác Tiên, cư sĩ Lê Đình Thám… đã thành lập Trường An Nam Phật Học, trong đó có mở cấp Đại Học Phật Giáo. Đặc biệt hơn nữa là Hội đã phát động phong trào “Chỉnh Lý Tăng Già” rất quyết liệt để loại trừ ra khỏi tăng già những thành phần phạm giới, bất xứng. Chính nhờ những nổ lực cấp tiến này mà Phật Giáo miền Trung đã đóng được một vai trò quan trọng trong những thập niên sau đó.

Năm 1934 các thiền sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo cùng với giới cư sĩ trí thức tên tuổi tại Hà Nội như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Dương Bá Trạc, Trần Văn Giáp, Nguyễn Năng Quốc, Nguyễn Hữu Kha, Bùi Kỷ, Lê Dư… thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội, bầu cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm hội trưởng và suy tôn thiền sư Thanh Hanh làm Thiền Gia Pháp Chủ. Đặc biệt là trong buổi lễ suy tôn Pháp Chủ này, cư sĩ Trần Trọng Kim đã thuyết pháp về đề tài; “Thập Nhị Nhân Duyên”. Hội ra tạp chí Đuốc Tuệ năm 1935 và phát triển mạnh mẽ khắp miền Bắc (Nguyễn Lang, Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, q 3, t 51-173).

Đặc tính của cả ba Hội Phật Học tại ba miền là vai trò nổi bật của giới trí thức cư sĩ, là thuần túy Phật học và sinh hoạt Phật sự. Thời điểm 1925-1945 là thời điểm chuẩn bị trong kiên nhẫn và thầm lặng. Các hội Phật Học đã làm đúng chức năng và vai trò lịch của mình, một cách khiêm tốn, từ đống gạch vụn đổ nát của nền Phật học và Phật Giáo Việt nam trong thời Thực Dân Pháp thống trị.

Trong thời kỳ này xuất hiện những con người đặc biệt, xuất sắc và những tư tưởng mạnh mẽ, quyết liệt, trong Phật Giáo cũng như ngoài Phật Giáo. Từ đầu thập niên 30, tư tưởng Phật Hộc của Thích Thiện Chiếu đã là những quả bom chấn động. Và năm 1939 Huỳnh Phú Sổ xuất hiện làm một cuộc cách mạng tôn giáo, cải cách toàn bộ và triệt để Phật Giáo chưa từng có trong hai ngàn năm lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Miền Nam, một vùng đất lạ lùng và kỳ diệu…

 

An Hòa Tự

Phan Chu Trinh từ Pháp trở về Sài Gòn năm 1925, đất nước bùng lên những làn sóng tư tưởng dân quyền và dân chủ. Ông khẳng định phải tìm nguyên nhân mất nước trong sự mất đạo đức, mất luân lý, trong bài diễn thuyết Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây, và ông cũng khẳng định chế độ quân chủ chuyên chế là nguyên nhân chính làm mất nước trong bài thuyết giảng Quân Trị Chủ Nghĩa và Dân Trị Chủ Nghĩa tại Sài Gòn năm 1925. Ông mất năm sau đó và đám tang ông cùng với cuộc vận động ân xá nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã khơi bùng phong trào yêu nước và yêu tự do dân chủ trên toàn quốc, đặc biệt là trong giới thanh niên.

Nhưng dữ dội, bốc lửa và sấm sét trong tư tưởng yêu nước chống thực dân cũng như tư tưởng tự do dân chủ, trong thời này, chỉ có Nguyễn An Ninh là đi xa nhất, quyết liệt nhất. Là một thanh niên miền Nam,Ông đi du học ở Pháp và trở về nước với bằng cử nhân Luật. Lợi dụng quy chế thuộc địa của Nam Kỳ, nơi mà báo chí bằng tiếng Pháp được tự do, không bị kiểm duyệt, Ông ra tờ La Cloche fèlèe (Tiếng Chuông Rè) từ năm 1923 đến năm 1926. Ông tự xưng tờ báo của Ông là “cơ quan tuyên truyền tư tưởng Pháp”, lấy tư tưởng của kẻ xâm lăng để đập những nhát búa tạ vào chế độ Thực Dân, đồng thời tờ báo cũng tự nhận là “cơ quan chuẩn bị cho tương lai dân tộc”. Thật là độc đáo và tuyệt vời.

Ngoài việc phê bình kịch liệt, thẳng tay chính sách và chế độ thực dân, Ông cổ võ cho việc đào tạo một tầng lớp thanh niên Việt Nam tân học, có văn hóa, có lý tưởng, có chí khí, có năng lực và có tổ chức vàÔng tuyệt đối tin vào sức mạnh và vào tương lai của nhân dân Việt Nam. Ông chủ trương một nước Việt Nam thống nhất từ Nam chí Bắc và trở về lịch sử dân tộc để tìm niềm tin và sức mạnh. Ông hô hào, khi chỉ mới ngoài 20 tuổi, “Chẳng những phải duy trì những giấc mộng vĩ đại, mà còn phải tổ chức thành một nhóm quan trọng để chuẩn bị cho tương lai”. Không những tư tưởng táo bạo, độc đáo, mới lạ, kiến thức của Ông cũng rất uyên bác. Khi Thống Đốc Nam Kỳ tuyên bố: “Xứ này không cần trí thức”. Ông đã viết bài trả lời bốc lửa: “… Những thảm khổ của chúng ta ngày nay, còn gì nữa, đúng là do tổ tiên của chúng ta đã sờ mó vào cây kiến thức. Hạng trí thức đã làm đảo lộn thế giới, làm hư hỏng hạnh phúc của thế giới. Hãy nguyền rủa tên tuổi của Prométhé, kẻ đã lấy trộm chút lửa của Trời. Hãy nguyền rủa con người đã bày ra cái ná cao su cho trẻ con bắn đá vào trán ông khổng lồ… Trí Tuệ, đó là cái tai hại. Trí tuệ, đó là con rắn cuốn quanh thân cây đã làm cho chúng ta vĩnh viễn mất cõi thiên đường… Nói đến vai trò giáo dục, vai trò văn minh của các ông chủ xứ Đông Dương này, thưa các ông, điều ấy làm ta mỉm cười… Người ta đã quỳ lụy bái phục những vị “đem ánh sáng tới”, những vị “làm điều kỳ diệu ở Ấu Châu”… Cái gì kỳ diệu? Thực ra cái kỳ diệu đó là, chỉ trong một thời gian ngắn thôi, người ta đã có thể làm cho trình độ trí thức của người Nam đã thấp đi lại càng rơi vào chỗ cực kỳ dốt nát. Cái kỳ diệu đó là người ta đã có thể, trong một thời gian ngắn như thế, xô đẩy một dân tộc có tư tưởng dân chủ, ngã nhào vào tình trạng nô lệ hoàn toàn“. (Trần Văn Giàu, Sự Phát Triển Của Tư Tưởng ở Việt Nam Từ Thế Kỷ 19 đến Cách Mạng Tháng Tám, q2, t 311).

Nguyễn An Ninh cũng là một trong những nhà trí thức tân học đầu tiên nghiên cứu Phật Học và hoàn thành một tác phẩm Phật Học quan trọng, cuốn “Phê Bình Phật Giáo”. Sau thời kỳ hoạt động sôi nổi từ 1923 đến 1926, Nguyễn An Ninh bị ở tù trong thời gian 1926-1927, sau đó Ông về nghiên cứu Phật Giáo. Trên bàn làm việc của Ông, có một cái chuông, một cái mõ, Ông cạo trọc đầu và đi chân không.Ông nghiên cứu Phật Giáo qua tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và các hoạt động Phật Giáo trong nước. Cuốn Phê Bình Phật Giáo xuất bản năm 1937 là kết quả của sự nghiên cứu này. Tựa đề của cuốn sách, 70 năm sau cũng không có ai dám viết một cuốn sách Phật Học có tựa đề thách thức và can đảm như vậy. Mục đích và phương pháp luận còn mới lạ, táo bạo hơn, đó là “so sánh Phật Giáo với thời đại của nó để chỉ chỗ hay, chỗ đúng hơn của nó đối với các thuyết khác và so sánh Phật Giáo với thời đại này để chỉ sai lầm của Phật Giáo“. Tác phẩm này được giới trí thức, giới chính trị cũng như giới Phật Giáo chú ý đặc biệt.

Nhưng không gây sóng gió và tranh luận suốt nhiều năm trời như những tác phẩm của Thích Thiện Chiếu.Đối với Tăng, Ni, Phật Tử thập niên 30, những tư tưởng Phật Học của Thích Thiện Chiếu là những tiếng sét ngang tai. Ngày nay đọc lại, chắc chắn quý vị tăng sĩ, cư sĩ và Phật Tử cũng không khỏi giựt mình, chấn động và suy nghĩ. Những tư tưởng này, được viết từ thập niên 30, ngày nay, cuối thập niên 90, vẫn còn mới, còn táo bạo, còn chứa đầy sức nặng của đá tảng và sức nổ của sấm sét. Thích Thiện Chiếu là tinh hoa sáng chói của Phật Giáo trong thập niên 20, 30. Ông đã đi tiền phong trong mọi lãnh vực chấn hưng và hiện đại hóa Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ 20 này.

Ta phải đứng trên một đỉnh núi cao, mới hy vọng nhìn thấy những cái gì chưa ai nhìn thấy, những cái gì nằm khuất sau dãy núi cao. đó có thể là những dãy núi cao hơn, hay là một đại dương mênh mông hay là một bình nguyên rực rỡ. Thích Thiện Chiếu là một ngọn núi cao của Phật học và Phật Giáo Việt Nam trước đệ nhị thế chiến. Ta hãy đứng trên đỉnh núi cao ngất, hùng tráng này để nhìn rõ một đỉnh núi cao ngất, hùng vĩ khác, là Cư sĩ, Bồ Tát, Giáo Chủ Huỳnh Phù Sổ.

|Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10|TK|

[BHH430] [PGHH] [THƯ VIỆN PGHH]

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY HIỆU TRIỆU

SÀI GÒN: PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY KÊU GỌI BIỂU TÌNH CHỦ NHẬT 18-5-2014 LÚC 8 GIỜ SÁNG

SÀI GÒN: PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY KÊU

GỌI BIỂU TÌNH CHỦ NHẬT 18-5-2014 LÚC 8 GIỜ

SÁNG

HLTL TRONG NƯỚCTÔN GIÁO5/14/2014

 

PHẬT GIÁO HÒA HẢO

THUẦN TÚY

HIỆU TRIỆU

Hỡi anh em trong nhà Nam Việt!

Nhớ nước ta hùng liệt thuở xưa.

Ngàn năm Bắc địch vày bừa,

Mà còn đứng dậy tống đưa quân thù.

Tiếng roi lại bình Ngô sát Đát,

Sử xanh còn ngào ngạt hương thơm. . .

 

Là con Hồng cháu Lạc, chúng ta làm sao quên được những trang sử bi thảm ngàn năm Bắc thuộc Trung Quốc đã giày xéo quê hương yêu quí của chúng ta, chà đạp lên đời sống của Dân tộc ta.

 

Những tấm gương sáng rạng ngời của tiền nhân ta: Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê là những trang sử oai hùng oanh liệt lưu lại cho chúng ta nhớ đến bổn phận thiêng liêng: BẢO VỆ TỔ QUỐC.

 

Nay, Tàu cộng lúc nào cũng nuôi tham vọng thôn tính nước ta, ngang ngược chiếm đảo, chiếm biển, chiếm đất, khai thác beauxit Tây Nguyên. . . rồi giờ đây lại đặt khoan dầu ở Biển Đông  một cách khiêu khích, coi 90 triệu đồng bào chúng ta như cỏ rác. . .

 

Vậy thì ta hãy hiệp bè,

Cùng nhau đoàn kết đặng khoe sức hùng.

Khắp Bắc Nam đùng đùng một trận,

Ấy mới mong quốc vận phục hồi.

Trước là dẹp lũ cộng bồi,

Sau đưa quốc tặc qui hồi Diêm cung.

Nếu nay chẳng vẫy vùng cương quyết,

Thì ắt là tiêu diệt giống nòi. . .

 

Đồng bào ơi!

Chúng ta hãy mạnh mẽ xuống đường để đả đảo Tàu cộng, đả đảo những kẻ mãi quốc cầu vinh, biểu dương tinh thần kiên cường yêu nước. 

 

ĐEM MÁU XƯƠNG ĐỔI LẤY TỰ DO.

 

Ngày xuống đường là ngày Chủ nhật 18-5-2014 vào lúc 8 giờ sáng. Địa điểm tập trung: Công viên 30-4 cạnh nhà thờ Đức Bà.

 

Với tư cách Hội Trưởng Trung Ương PGHH Thuần Túy, tôi tha thiết kêu gọi 7 triệu tín hữu PGHH toàn quốc, nhất là ở Miền Tây HÃY MẠNH MẼ TÍCH CỰC THAM GIA CÁC CUỘC BIỂU TÌNH CỦA ĐỒNG BÀO CHỐNG Tàu cộng. 

 

VIỆT NAM ĐỘC LẬP MUÔN NĂM.

Ngày 14 tháng 5 năm 2014.

TM Giáo Hội PGHH Thuần Túy.

Hội Trưởng Trung Ương

 

 

LÊ QUANG LIÊM

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

PGHH – CẢNH BÁO KHẨN CẤP

PGHH – CẢNH BÁO KHẨN CẤP

 

PHẬT GIÁO HÒA HẢO
THUẦN TÚY
————————-
CẢNH BÁO KHẨN CẤP

Theo một nguồn tin đáng tin cậy cho biết là trong cuộc biểu tình sáng chủ nhật 18-5-2014, đám tay sai của Tàu cộng ở VN sẽ tổ chức nhiều toán xã hội đen trà trộn vào những người biểu tình rồi gây những việc náo loạn bất hợp pháp như vừa xảy ra ở Bình Dương và một vài nơi khác.

Âm mưu này biến những cuộc biểu tình chính nghĩa biến thành những hành động ô tạp bất hợp pháp nhằm mục đích:

a- Làm giảm uy tín phong trào chống Tàu cộng đang biểu dương và phát triển mạnh mẽ.

b- Tạo cho nhà cầm quyền cộng sản có cơ hội muốn bắt ai thì bắt, vàng thau lẫn lộn, dựa vào lý do an ninh trấn áp thành phần lãnh đạo phong trào chống Tàu cộng, dập tắt phong trào càng sớm càng tốt.

Trong tinh thần kiên cường bảo vệ đất nước, chúng ta vẫn tiến hành cuộc biểu tình nhưng phải hết sức dè dặt và thận trọng đối với những phần tử bất chính cùng đứng trong hàng ngũ biểu tình với chúng ta. Nếu có dấu hiệu sẽ xảy ra cuộc hỗn loạn thì ta phải tự giải tán đừng để bọn tay sai của Tàu cộng thừa cơ lợi dụng.

Ngày 16 tháng 5 năm 2014.

TM Giáo Hội PGHH Thuần Túy

Hội Trưởng Trung Ương

LÊ QUANG LIÊM

Tin liên quan 
SÀI GÒN: PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY KÊU GỌI BIỂU TÌNH CHỦ NHẬT 18-5-2014 LÚC 8 GIỜ SÁNG

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

PGHH: Bạch Thư Tuyệt Mệnh của Tín đồ Nguyễn thị Ngọc Lan

PGHH: Bạch Thư Tuyệt Mệnh của Tín đồ Nguyễn thị

Ngọc Lan

HLTL TRONG NƯỚC4/01/2013

PHẬT GIÁO HÒA HẢO (năm đạo thứ 74)

 

BẠCH THƯ TUYỆT MỆNH

 

Kính gởi:

– Ủy Hội Nhân Quyền Quốc Tế HĐBA LHQ.

– Cộng  Đồng Nhân Loại yêu chuộng: Hòa bình, Công Lý, Nhân quyền: tự do Tôn Giáo, tự do Dân Chủ trên thế giới.

– Các cơ quan truyền thông quốc tế.

– Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước.

– Đảng cầm quyền CS Việt Nam.

 

Tôi tên là: Nguyễn thị Ngọc Lan sinh năm 1956 thường trú số nhà 128/2 khu vực Thới Trinh A, phường Thới An quận Ô Môn TP CT. Nhân vào mùa xuân ĐẠO NẠN: 25/ tháng 02 và QUỐC NẠN: 30/ 04, kỷ niệm hằng năm trên đất nước Việt Nam. Tôi một tín đồ PGHH xin kính gởi bức: BẠCH THƯ TUYỆT MỆNH nầy đến với mọi người để chia sẻ lý tưởng và tâm tư nguyện vọng tha thiết của tôi, có nội dung như sau:

 

1- Phật Giáo Hòa Hảo là một tôn giáo Việt Nam, sinh ra và phát triển từ lòng dân tộc, Đức Giáo Chủ: Huỳnh Phú Sổ là người Việt Nam, khai sinh năm 1919 và lớn lên đến năm 1939, Ngài được 19 tuổi đã mở đạo tại làng Hòa Hảo và cho đến  ngày 25 tháng hai nhuần năm đinh hợi, thì Thọ Nạn tại rạch Đốc Vàng, cũng chính trên dãi đất Việt Nam nầy, lúc ấy Ngài được 27 tuổi. Có thể khẳng định cuộc đời và sự nghiệp Đức Huỳnh Giáo Chủ và tôn giáo PGHH đã gắn liền dòng sinh mệnh của dân tộc và tổ quốc Việt Nam.Với một nền giáo lý căn bản là: Học Phật Tu Nhân. Học Phật là học theo công hạnh của Phật. “Phật tu cách nào đắc đạo rồi dạy ta, ta phải làm theo cách nấy”. Còn Tu Nhân là đền đáp bốn trọng ân,1- Ân Tổ Tiên Cha Mẹ, 2- Ân Đất Nước, 3- Ân Tam Bảo, 4- Ân Đồng Bào và Nhân Loại, trong đó Ân Đất Nước, được đặt trước Ân Tam Bảo.

 

Để thực thi nghĩa vụ công dân lúc nước nhà bị họa xăm lăng đô hộ “nước mất đâu dễ ngồi an”. Với một ý chí ưu việt kế thừa truyền thống Đức Trần Nhân Tông, “Tăng sĩ quyết chùa am bế cửa, Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha. Đền xong nợ nước thù nhà, Thiền môn trở gót Phật Đà nam mô”, Đức Huỳnh Giáo Chủ với 02 triệu tín đồ, năm 1945 Ngài đã cổ súy khối tín đồ cùng toàn dân đứng lên đánh đuổi xăm lăng, giành lại độc lập cho đất nước… Là Đấng Giáo Chủ một Tôn Giáo phát xuất tại Việt Nam, và là thủ lãnh Đảng Việt Nam Dân Chủ Xã Hội: Đã chủ trương “toàn dân chính trị” thế tất Đảng chống độc tài bất cứ hình thức nào”, đã đối lập lại chủ nghĩa ngoại lai vô thần độc tài của lãnh tụ vong bản Hồ Chí Minh, một đệ tử của CNCSQT, núp với chiêu bài:Việt Minh. Cướp được chính quyền từ đức vua Bảo Đại, Việt Minh CS đã thủ tiêu những người thuộc các Đảng phái quốc gia chân chính, cụ thể chính là Đức Huỳnh Giáo Chủ PGHH đã bị ám hại trong một cuộc họp hòa giải do Việt Minh tổ chức vào ngày 25 tháng Hai nhuần năm Đinh Hợi, nhằm ngày 16-04-1947, và đoàn thể PGHH đã trở thành nạn nhân của VMCS. Với vô số những nấm mồ chôn tập thể, khắp nơi thuộc vùng ĐBSCL, đến nay vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Việt Minh CS đã khiến cho tinh thần đoàn kết dân tộc lúc bấy giờ bị tan rã, tạo cơ hội cho Pháp tái chiếm Việt Nam lần thứ hai.

 

Sau biến cố ngày 30-04-1975, miền nam Việt Nam bị CSBV cưỡng chiếm, các tôn giáo bị giải thể, nhất là tôn giáo PGHH. Bởi ý thức hệ của chủ nghĩa CS và trong quá khứ có những cuộc tàn sát đẫm máu đối với PGHH, ĐCSVN cầm quyền đã tìm mọi cách để triệt tiêu PGHH. Giáo Lý bị tịch thu hũy bỏ, các cơ sở thờ tự của đạo bị quản lý chiếm dụng, các chức sắc của đạo bị đưa đi trại tù “học tập cải tạo”. Nhiều người đã chết rũ trong lao lý, hay ra tù chỉ thời gian ngắn là chết, vì bị khảo hình hoặc bị đầu độc, do tính chất bạo lực bất khoan dung của chế độ CS.

 

Năm 1999, do sự đấu tranh đòi hỏi không ngừng từ trong nước, cùng cộng đồng người Việt hải ngoại và sức ép của cộng động quốc tế về Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo tại Việt Nam. Nhà cầm quyền CS với ý đồ “dùng PGHH để diệt PGHH”. Ngày 26-05-1999, Họ đã dàn dựng tấm bình phong để dối lừa công luận gồm: Ban Đại DiệnPGHH quốc doanh, làm tay sai công cụ để hợp pháp hóa vai trò thủ tiêu mọi truyền thống, lịch sử, di tích quý báu của PGHH, nhất là ngày lễ thiêng liêng trọng đại 25 tháng 02 hằng năm, ngày mà VMCS đã ám hại ĐHGC, (cho đến nay vẫn bị cấm ngăn, khủng bố, triệt hạ tín đồ hành lễ).

 

Để đấu tranh bảo vệ Đạo Pháp, đòi quyền Tự Do Tôn Giáo cho các tôn giáo Việt Nam nói chung, PGHH nói riêng, bằng chủ trương “ôn hòa bất bạo động,” người tín đồ PGHH thuần túy, đã bị nhà cầm quyền CS đàn áp, khủng bố rất dã man, vì quyết bảo vệ Đạo Pháp, bảo vệ những truyền thống quý báu không bị triệt tiêu, nhiều người đã quyết hy sinh quyền lợi gia đình và thân mạng, bằng cách Tự Thiêu, hay phải vào tù để phản đối sự đàn áp, và đòi quyền TỰ DO TÔN GIÁO với nhà cầm quyền CSVN, cho đến nay vẫn tiếp diễn không ngừng.

 

2- Kể từ khi có ĐCSVN do ông Hồ Chí Minh làm lãnh tụ. Suốt 69 năm cầm quyền miền bắc, 38 năm cầm quyền miền nam, ĐCS đã gây ra biết bao là tội ác với dân tộc Việt Nam. Khởi động chiến tranh đã làm tang tốc đau thương cho người dân hai miền Nam, Bắc phải nhà tan cửa nát, hàng ba triệu người đã tốn hao sinh mạng vì bị chết chóc, mang thương tật, do đạn bom để lại. Khi không có chiến tranh, ĐCS cầm quyền đã cướp đoạt tài sản đất đai nhà cửa nhân dân, và giết người bằng khẩu hiệu, chính sách bần cùng hóa nhân dân “trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, tróc tận rể”, cải cách ruộng đất, nhân văn giai phẩm, học tập cải tạo, đánh đổ tư bản, cải tạo công thương nghiệp, đưa dân tập trung vùng kinh tế mới, làm kiệt quệ nguồn tài lực của quốc dân, trong thời kỳ gọi là “bao cấp”.

 

Bước sang thời kỳ “mở cửa”, đảng viên cộng sản có đầy đủ mọi quyền lực, dựa giẫm trên luật pháp, hưởng lợi ích nhóm với nhiều dịch vụ thương mại, nhận hối lộ bất chính, đồng lõa bao che, chia chác, tha hồ nhũng lạm bóc lột, đục khoét ngân sách quốc dân, gây nợ nần chồng chất lên đầu cổ người dân Việt Nam cần cù lao động. Tệ tham nhũng nầy, đến nay đã trở thành quốc nạn. Bị đối xử áp bức bất công, số Dân Oan bị cướp mất tài sản đất đai nhà cửa, đi khiếu kiện kêu oan nhiều năm, nhà cầm quyền vẫn không cứu xét, vô gia cư, cuộc sống đói nghèo lê la khắp nơi cầu thực.

 

Phụ nữ Việt Nam phải đi làm dâu hay làm nô lệ, bán dâm cho người ngoại quốc để kiếm tiền, mong “xóa đói giảm nghèo” cho gia đình người thân. Trẻ em nghèo đói thất học, lao động, bán vé số, ăn xin vất vưỡn đọa đày trong cuộc sống độ nhựt vv và vv.

 

Một thể chế độc đảng bất công, nên sanh nhiều tệ nạn hoành hành, đã đẩy người dân xuống tận cùng vực thẳm của sự khổ đau. Tự do Dân Chủ, tự do Tôn Giáo bị áp đặt cấm đoán khắc khe. Nhà tù CS đã cầm giam vô số những người bất đồng chính kiến, chỉ vì cất lên tiếng nói đòi quyền Tự do Tôn Giáo, đòi quyền tự do Dân Chủ.

 

Nói tóm lại từ khi ĐCS cầm quyền cho đến nay, với một chủ nghĩa ngoại lai vô thần, độc tài chuyên chế, triệt tiêu Tôn Giáo, xây dựng quyền lợi trên xương máu của nhân dân, đã tạo nên một xã hội Việt Nam đau thương, đầy máu và nước mắt, phẩm chất đạo đức suy đồi, tham quan đầy dẫy, bất công áp bức lộng hành, đói nghèo tuộc hậu. Tất cả đã hiện bày mà không một ai có lương tri mà không thấy biết. Và sự ám ảnh trước mắt: Là nguy cơ bị mất nước, dân tộc Việt Nam sắp làm nô lệ cho bọn bành trướng Tàu phù do ĐCSVN nhiều lần đã âm thầm ký kết thỏa hiệp hiến dâng Tổ Quốc. (Công hàm của Thủ Tướng Phạm văn Đồng đã chứng minh điều nầy).

 

Là người tín đồ PGHH phụng hành giáo pháp TỨ ÂN. Nhân mùa Quốc Nạn 30/04/1975, ngày CS miền Bắc cưỡng chiếm miền Nam, và lễ kỷ niệm 25/02 âl hàng năm ngày ĐHGC PGHH vắng mặt, do VMCS âm mưu hãm hại, suốt 37 năm qua ngày lễ kỷ niệm nầy luôn bị nhà cầm quyền cấm ngăn và khũng bố tín đồ PGHH không cho hành lễ. Nay trước thảm cảnh lầm than: Đạo Pháp ngữa nghiêng, Quốc phá Gia vong của đồng bào và tổ quốc Việt Nam. Lòng đầy bi xót, tôi xin kính gởi bức Bạch Thư Tuyệt Mệnh nầy đến với các tổ chức, cơ quan Nhân Quyền, dân chủ trên thế giới, mong  có biện pháp hữu hiệu cứu giúp. Bằng con tim khát vọng, muốn cho toàn thể đồng bào Việt Nam thân thương của tôi có một cuộc sống thật sự được: ĐỘC LẬP, TỰ DO, ẤM NO HẠNH PHÚC, và CÔNG BẰNG XÃ HỘI, mà suốt 69 năm qua, dân tộc Việt Nam chúng tôi đã bị chế độ vô thần, độc tài CSVN cưỡng đoạt. Để biểu lộ thành ý trên, tôi nguyện đốt lên ngọn Đuốc thân, để phản đối chính sách đàn áp Tôn Giáo, và Dân chủ bị kềm kẹp, góp phần cùng toàn dân tháo toan ách nạn cộng sản, kiến tạo lại một xã hội văn minh Việt Nam Mới mà Nhân Quyền phải được thực thi một cách đầy đủ.

 

Và riêng các Đảng viên, ĐCS cầm quyền, những điều tôi nêu trên của chế độ cầm quyền cộng sản là hoàn toàn đúng sự thật. Và tôi dám chắc một điều, đảng các vị là tác nhân, nên các vị hiểu rõ hơn ai hết, nhưng không thể thừa nhận sự thật trên, cụ thể như chính Sử gia kiêm ĐBQH Dương Trung Quốc đã phát biểu “có những sự thật không thể nói ra”. Vì sự thật đó chính là sai trái là lỗi lầm, là tội đồ của Dân Tộc. Vì đã đặc quyền lợi đảng trên tổ quốc và đồng bào, quên cội nguồn dân tộc, tôn thờ một chủ nghĩa CSQT, cam tâm làm tay sai, hiến dâng tổ quốc cho bọn bành trướng giặc Tàu, đưa dân tộc đến chổ khốn khổ, đói nghèo, lạc hậu, và cùm gông trong nô lệ.

 

Tôi chân thành tha thiết cầu mong quý vị hãy nghĩ đến tình ruột thịt, nghĩa đồng bào, da vàng, “giọt máu cùng đỏ, giọt nước mắt cùng mặn”. Dân tộc ta đã chịu đựng quá nhiều điều lầm than cơ cực và mất mát do ĐCSVN gây ra. Xin hãy thức tỉnh, tìm về lịch sử. Đức Vua Hùng đã có công dựng nước, các bậc Tiền Nhân bao đời đã có công giữ nước đem máu đào tắm gội giang san “thà làm quỷ nước Nam, quyết không nô lệ làm vương hầu phương bắc”. Họ đã hy sinh viết nên những trang lịch sử, độc lập vẻ vang oanh liệt cho nòi giống. Ý chí quật cường bất khuất, niềm kiêu hãnh vốn có của Tổ Tiên Hồng Lạc với một nền Văn Hiến quý báu hơn bốn ngàn năm lịch sử, mang đậm đà bản sắc của dân tộc, đã bao lần đập tan mộng xâm lăng, tham tàn bành trướng trước một kẻ thù khổng lồ phương bắc.

 

– Hãy vì nền độc lập, chủ quyền của quốc gia dân tộc Việt Nam không bị Tàu hóa.

– Hãy vì tương lai phồn vinh, thịnh vượng của quê hương Việt Nam.

– Hãy vì sự tự do, ấm no hạnh phúc, công bằng xã hội cho đồng bào Việt Nam.

 

Nay con thuyền Tổ Quốc Việt Nam sắp bị diệt vong trước phong ba bão táp: áp bức, đói nghèo, nô lệ giặc xâm lăng. Các vị là người lèo lái vận mệnh, hãy chuyển đổi phương hướng, tránh cho đồng bào cuộc tương tàn tương sát đẫm máu, tiến tới  hòa hợp hòa giải dân tộc, y như Miến Điện đã thực hiện một cách tuyệt vời. Hãy cùng nhau tuyên bố:

 

1-      Giải thể đảng Cộng Sản, trả quyền làm chủ cho nhân dân.

2-      Trả tự do cho các tù nhân Tôn Giáo và Chính Trị.

3-      Trưng cầu dân ý, có tổ chức nhân quyền quốc tế giám sát.

4-      Tiến hành bầu cử quốc hội lập hiến, bao gồm cá nhân, các đảng phái tham gia.

5-      Xây dựng Hiến Pháp Việt Nam, nhân quyền, dân chủ theo đúng tinh thần HĐBA LHQ.

 

Có được như thế, Tổ Quốc và đồng  bào Việt Nam mới thoát khỏi thảm họa diệt vong trước kẻ thù phương bắc, cùng chung xây dựng xã hội Dân Giàu Nước Mạnh, và Quý vị sẽ trở thành ân nhân của đại gia đình Việt Nam. Trang lịch sử tên tuổi quý vị muôn thu mãi chói ngời. Bằng ngược lại, tốc độ vận hành bánh xe Nhân Quyền, dân chủ Việt Nam sẽ nghiền nát, mà không một quyền lực nào có thể kềm hãm được. Tất cả mọi thứ vật chất của việc làm phi nhân phi nghĩa lẫn danh dự, sẽ không còn và bị đào thải xuống vũng bùn nhơ bẩn nghìn thu./.

 

Phật Giáo Hòa Hảo trường tồn bất diệt.

Tổ Quốc Việt Nam đời đời bền vững.

Nòi Giống Lạc Hồng tự do dân chủ, văn minh, ấm no hạnh phúc muôn năm.

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam Mô A Di Đà Phật.

Nam Mô Đại Từ Đại Bi Kim Sơn Phật.

 

Cần Thơ ngày   01  tháng 04 năm 2013.

Người viết Bạch Thư Tuyệt Mệnh.

 

 

Nguyễn Thị Ngọc Lan.

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

BẠCH THƯ SỐ 1 Và Số 2 PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY

BẠCH THƯ SỐ 1 Và Số 2 PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY

  BẠCH THƯ SỐ 1 Và Số 2 PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY CỦNG CỐ GIÁO QUYỀN-THỐNG NHẤT GIÁO HỘI-XIỂN DƯƠNG GIÁO PHÁP ————————–                           THÔNG BẠCH Kính gởi: Toàn thể tín hữu PGHH thân mến trong và ngoài nước, NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT. NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT. Thưa chư tín hữu, Nhân danh Hội Trưởng Trung Ương PGHH Thuần Túy, tôi có lời khen ngợi tòan thể Trị Sự Viên trong Giáo Hội và một số tín hữu đã phát huy mạnh mẽ ý chí kiên cường bất khuất trước sức đàn áp thô bạo của nhà cầm quyền cộng sản quyết tâm ngăn chận chúng ta tổ chức ngày Đại Lễ 25/2 âl , kỷ niệm Đức Huỳnh Giáo Chủ bị việt minh cộng sản ám hại. Giáo Hội PGHH Thuần Túy chúng ta đã biểu dương được tinh thần “TẬN TRUNG VỚI ĐẠO, TẬN HIẾU VỚI THẦY” một cách anh dũng bất chấp hiểm nguy sinh tử trước nhãn quan quốc nội và nhãn quan quốc tế rằng: PGHH không phải là con giun mà cộng sản muốn gày xéo thế nào cũng được. Thực ra, đứng trên phương diện thực tế khách quan, việc tổ chức lễ kỷ niệm là một phong tục thiêng liêng của nhân gian, bất luận giai cấp nào, tôn giáo nào, cả đình miểu am cốc đều có quyền tổ chức, không một quyền lực nào có quyền ngăn trở. Trên đất nước VN có bao nhiêu tôn giáo, có bao nhiêu đình miểu am cốc cũng đều được tự do tổ chức lễ kỷ niệm, chỉ duy nhất có PGHH là không được hưởng quyền này . Đó là chứng cứ hiển nhiên cho thấy rằng đảng csVN vẫn quyết tâm tiêu diệt PGHH, vì sao csVN muốn tiêu diệt PGHH? Vì PGHH tôn trọng Ân Tổ Tiên Cha Mẹ còn cs thì vô gia đình . . . Vì PGHH tôn trọng Ân Đất Nước còn cs thì vô tổ quốc . . . Vì PGHH tôn trọng Ân Tam Bảo (Phật,Pháp,Tăng) còn cs thì vô tôn giáo . . . Vì PGHH là một tôn giáo dân tộc, sinh ra từ lòng dân tộc, lớn lên trong khí thiêng sông núi của Tổ Quốc nên phải sống cùng Tổ Quốc và Dân Tộc và cũng phải chết vì Dân Tộc và Tổ Quốc. Đó là một chướng ngại to lớn trên con đường “xích hóa” VN của đảng csVN nên csVN phải triệt tiêu PGHH cho bằng được. Lần này nhà cầm quyền cs đã sử dụng trên 1.000 công an, bộ đội cơ động, có cả xã hội đen, xe vòi rồng, xe bít bùng, v.v. . . để đàn áp PGHH. Cái cảnh cs đàn áp thê thảm xảy ra tại nhà ông Nguyễn Văn Vinh đã chứng tỏ rõ ràng những hành động đó vừa vô nhân đạo, vừa vô liêm sĩ, vừa thô bạo, vừa tàn ác không còn tình người và người. – Đánh một bà già 82 tuổi (bà Trần Thị Xinh) rồi lột quần áo bỏ nằm trần truồng lõa lồ dưới đất là một hành động rừng rú không thấy có trong lịch sử loài người. – Đánh bà Võ Thị Gấm (vợ cố Hà Hải, người bị chết vì cs ngược đãi trong tù) 82 tuổi, gãy tay phải nhập viện . – Đánh đập 20 tín đồ PGHH bất tỉnh rồi lục soát ai có cà rá thì lấy cà rá, ai có giây chuyền thí lấy dây chuyền, ai có vòng vàng thì lấy vòng vàng, ai có tiền thì lấy tiền. Lấy tiền tất cả hơn 100 triệu đồng là tiền của anh em tín đồ PGHH dành dụm đóng góp để chẩn bần tín đồ nghèo trong dịp lễ. Ôi! Quang vinh thay cho đảng csVN, đánh người bất tỉnh để cướp của như thế ấy là hành động còn rừng rú hơn những toán thổ phỉ ! ! ! – Đóng chốt trước nhà trên 50 gia đình Trị Sự Viên lãnh đạo Giáo Hội PGHH Thuần Túy, “nội bất xuất, ngoại bất nhập” trong nhà có ai bịnh hoạn bất thường cũng không được đi ra khỏi nhà để chữa trị, nằm chờ chết. Với tín đồ PGHH nông dân chất phác, tay lấm chân bùn, trong tay không một tất sắt mà nhà cầm quyền cs đã sử dụng hằng ngàn công an để đàn áp thật là oai hùng, trong lúc quỳ lạy cúi đầu dâng đất (6 tỉnh phía Bắc) dâng biển, dâng đảo, dâng khai thác bauxit Tây Nguyên cho Tàu cộng . . . Các ông lãnh đạo đảng csVN ơi! Các ông có thấy hổ thẹn không? Thưa chư tín hửu PGHH thân mến, Cuộc đối đầu với cs , nhất là cuộc tuyệt thực tại gia của chúng ta lần này, người tín đồ PGHH đã biểu dương tinh thần bất khuất, ý chí kiên cường để bảo vệ đạo pháp, để bảo vệ quyền làm người của con người . . . Cuộc tuyệt thực đã đi đến ngày thứ tư, tôi xét thấy cũng dã đủ rồi, chúng ta phải bảo tồn sức khỏe của chúng ta để tiếp tục tiến bước trên con đường đấu tranh giải thể đảng cộng sản VN, tay nắm tay, sức chung sức, lòng chung lòng với toàn dân đế xây dựng một nước VN: Tự Do, Dân Chủ, Hòa Bình và Thịnh Vượngthật sự xứng đáng là con Hồng cháu Lạc với truyền thống 4.000 năm văn hiến. Tôi xin long trọng tuyên bố CHẤM DỨT CUỘC TUYỆT THỰC  kể từ hôm nay: ngày 27-3-2014. PHẬT đạo sáng ngời ánh bửu linh, GÍAO truyền chánh pháp tạo thanh bình. HÒA đồng nhơn loại an thiên hạ, HẢO hợp thời cơ độ chúng sanh. TRƯỜNG thuyết Tu Nhân đời thạnh trị, TỒN tâm Học Phật , đạo quang vinh. BẤT câu tăng tục chơn như pháp, DIỆT khổ qua bờ đến cõi thanh. – ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ VẠN TUẾ. – PGHH TRƯỜNG TỒN BẤT DIỆT. Ngày 27 tháng 3 năm 2014. TM Giáo Hội PGHH Thuần Túy. Hội Trưởng Trung Ương LÊ QUANG LIÊM———————————– PHẬT GIÁO HÒA HẢO  THUẦN TÚY CỦNG CỐ GIÁO QUYỀN-THỐNG NHẤT GIÁO HỘI-XIỂN DƯƠNG GIÁO PHÁP                                         BẠCH THƯ SỐ 2 Kính gởi: – Ông Nguyễn Phú Trọng. – Ông Trương Tấn Sang. – Ông Nguyễn Sinh Hùng. – Ông Nguyễn Tấn Dũng. Thế là cuộc điều động hằng ngàn công an, bộ đội cơ động, xã hội đen, xe vòi rồng, xe bít bùng, v.v. . . để chận đứng PGHH tổ chức ngày lễ kỷ niệm Đức Huỳnh Giáo Chủ bị việt minh cộng sản ám hại . . . các ông đã đạt một chiến thắng vô cùng vẽ vang, chiến thắng  một nhóm tín đồ PGHH vốn là nông dân chất phác, tay lấm chân bùn trong tay không một tất sắt. Thật quang vinh thay cho đảng csVN quang vinh? Lại càng quang vinh hơn với những hành động oai hùng mang tính rừng rú: a- Đánh một bà già 82 tuổi (bà Trần Thị Xinh) bị ngất xỉu rồi lột hết quần áo để bà nằm trần truồng lõa lồ đưới đất. Hành động oai hùng này có lẽ đệ tử các ông đã hành sử đúng theo đường lối của đảng csVN quang vinh! Và oai hùng này không thấy có trong lịch sử loài người. b- Đánh bà Võ Thị Gấm 82 tuổi bị gãy tay phải đi cấp cứu ở bịnh viện Châu Thành, An Giang. c- Đánh đập ngất xỉu 20 tín đồ PGHH đang chuẩn bị cuộc lễ rồi lục soát lấy hết nữ trang tiền bạc. Số tiền này lên đến trên 100 triệu là tiền của anh chị em tín đồ PGHH dành dụm đóng góp để chẩn bần cho tín đồ nghèo trong dịp lễ. Thật quang vinh thay hành động sở trường cố hữu của đảng csVN dù những toán thổ phỉ cũng phải cúi đầu thán phục ! d- Đóng chốt trước cửa nhà toàn bộ chức sắc lãnh đạo của Giáo Hội PGHH Thuần Túy và “nội bất xuất, ngoại bất nhập” dù trong nhà có ai bịnh hoạn cũng không được ra khỏi nhà để chữa bịnh, nằm chờ chết. Điển hình như trường hợp của ông Nguyễn Văn Thơ ở Xã Tân Hòa (Đồng Tháp) trong ngày 23-3-2014 . . . trường hợp của ông Nguyễn Văn Vinh ở Xã Long Giang (An Giang) trong những ngày từ 20 đến 25-3-2014 . . . Trường hợp của ông Nguyễn Văn Điền ở Xã Tân Phước (Đồng Tháp) trong ngày 22-3-2014 . . . Trường hợp của anh Nguyễn Ngọc Tân ở Bình Minh (Vĩnh Long) trong ngày 23-3-2014 . . . v.v. . . Đây là hảnh động nhân đạo mà Tần Thỉ Hoàng có sống lại cũng phải cúi đầu thán phục ! Và đây cũng là một chứng minh cụ thể chính sách nhất quán tôn trọng nhân quyền, tôn trọng Tự Do Tôn Giáo mà Thứ Trưởng Hà Kim Ngọc, trưởng đoàn VN đã báo cáo trong Đại Hội Nhân Quyền kiểm điểm định kỳ toàn cầu về Nhân Quyền tại Geneve (Thụy Sĩ) ngày 5-2-2014. Bức Bạch Thư này tôi chỉ điểm sơ lược lại một số hành động của đoàn đệ tử các ông để các ông tự chiêm nghiệm chính sách của các ông như vậy có quá đáng hay không? Có trắng trợn chà đạp Nhân Quyền, có trằng trợn chà đạp Tự Do Tôn Giáo hay không? Vì tôi tin rằng các ông, dù sao,  cũng còn chút ít lương tâm để cân nhắc ĐIỀU LÀNH, ĐIỀU ÁC. Rõ ràng với đồng bào nhân dân trong nước các ông đã hành sử một chính sách độc tài toàn trị, chà đạp nhân dân đến xương tàn cốt rụi, còn với ngoại bang thì các ông chuyên dối trá để cầu viện . . . nhất là với tàu cộng thì các ông quỳ mọp để dâng đất (6 tỉnh phía Bắc) dâng biển dâng đảo, dâng khai thác bauxit Tây Nguyên , v.v. . . và v.v. . . Tôi mong các ông hãy tự kiểm điểm sửa sai để cho toàn dân còn được hưởng vài hạt cơm rơi . . . một vài manh áo rách. QUAY LẠI ẮT THẤY BỜ. Ngày 28 tháng 3 năm 2014 Cư Sĩ LÊ QUANG LIÊM

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Đức Huỳnh Phú Sổ bất tử . PGHH Muôn-Năm . Tinh Thần PGHH bất-diệt

Đức Huỳnh Phú Sổ bất tử . PGHH Muôn-

Năm . Tinh Thần PGHH bất-diệt

Lịch Sử PG Hòa Hảo

Vietnamese government continues to violate the right to religious freedom of Hoa Hao Buddhists

Vietnamese government continues to violate the right to religious freedom of Hoa Hao Buddhists

Trần Thị Nga * Translate by Jasmine Tran (Danlambao) – Each year, the 18th of the fifth lunar month marks the Founding Anniversary of Hoa Hao Buddhism by the Prophet Huynh Phu So. This is one of the three main annual holy events of the Hoa Hao Church.

On the 12th of June (the 15th of the fifth lunar month) 2014, three days before the Founding Anniversary, the Communist government arranged police and hired thugs to surround, threaten, and oppress Hoa Hao followers at their own houses. They were forced into submission, and thus were unable to organize the celebration, let alone to participate in it.
Trần Thanh Giang, who is a Hoa Hao follower residing at 50/1A Chợ Mới town (Chợ Mới district, An Giang province) has been intimidated and menaced at his own house, leaving him unable to leave for food or the bathroom (as he has no onsite toilet facilities).
Võ Văn Bửu, Tám Luốt and Sáu Sóc (from Master Năm Liêm’s Quang Minh Pagoda) were encircled by police and thugs too; however, they were able to leave for food under the control of 5 or 6 police.
In Chợ Mới An Giang district, Tống Văn Chính’s house has been completely surrounded and blocked by securities and thugs, with no one allowed in or out. It was the place chosen by the Hoa Hao followers in recent years to celebrate the Founding Anniversary on the 15th of the Fifth lunar month.
Tống Văn Chính speaks about the police force surrounding his house:
People from the area where police installed the guard-posts over the Hoa Hao Buddhists’ families reported what they had heard from police: “This comes from an order of the Ministry of Public Security. They want to stop the Hoa Hao Buddhists from organising the Founding Anniversary of Hoa Hao Buddhism as the Party and the Government are afraid that Hoa Hao Buddhists could use this holy event to demonstrate their patriotism, and protest against the Chinese invasion in Vietnam.”
Vietnam’s fate is in danger as China has already invaded its sea and islands. The cowardly Vietnamese government, fearful of its invader, did not act to protect the country or its people. Instead, they gathered thousands of police and thugs to harass their citizens, isolating them, threatening them, violating their rights to religious freedom; only to prevent these citizens from protesting against the Chinese invader?
12 June 2014 (15th of the Fifth lunar month)
 
Trần Thị Nga

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Đức Huỳnh Phú Sổ bất tử . PGHH Muôn-Năm . Tinh Thần PGHH bất-diệt

Đức Huỳnh Phú Sổ bất tử . PGHH Muôn-Năm . Tinh

Thần PGHH bất-diệt

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔvà Phật Giáo Thời ÐạiLê Hiếu Liêm 

Chương một: Dẫn nhập Việt Nam và Phật Giáo đầu thế kỷ hai mươi.Đầu thế kỷ 20, tư tưởng Nho Giáo, thống trị độc tôn đất nước từ Thời Hồ Quý Ly, nhà Lê và nhà Nguyễn suốt 400 năm, hoàn toàn sụp đổ. Tư tưởng Phật Giáo, ngự trị vinh quang trong thời đại Lý Trần từ thế kỷ thứ 11 đến cuối thế kỷ 14, suy đồi tận gốc. Tư tưởng Tây Phương và tôn giáo của nó, Thiên Chúa Giáo La Mã, bị đại đa số trí thức và nhân dân coi như sản phẩm và công cụ của chế độ Thuộc Địa và thực dân Pháp nên vẫn không được chấp nhận. Ý thức hệ Cộng Sản cũng như các tư tưởng mới khác chưa ra đời. Cả một khoảng trống tư tưởng, cũng có nghĩa là một khoảng trống tôn giáo và chính trị, to lớn bao trùm trên một nước Việt Nam bị nô lệ, bóc lột, áp bức, lạc hậu và nghèo đói. Nhưng đây cũng là môi trường lý tưởng cho sự ra đời của những tư tưởng mới, những tôn giáo mới, những chính đảng mới và những phong trào mới: Phong trào Đông Du và Việt Nam Duy Tân Hội của Phan Bội Châu từ năm 1904,Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can và các nhà Nho tiến bộ năm 1907, tư tưởng dân quyền và dân chủ của Phan Chu Trinh suốt hai mươi năm (1905-1925), phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội cùng năm, Việt Nam Quang Phục Hội năm 1912, cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ và ở Huế năm 1916 của Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, vua Duy Tân…, phong trào Hội Kín ở miền Nam năm 1913-1916 lan rộng khắp Lục Tỉnh và cuộc tấn công Sài Gòn năm 1916. Các hoạt động này đã liên tục diễn ra từ đầu thế kỷ 20 đến cuối đệ nhất thế chiến.

Tuy nhiên mãi đến đầu thập njiên 20 Việt Nam mới thật sự thức dậy với sự ra đời Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng Chí Hội và Tân Việt Cách Mạng Đảng năm 1925, Đạo Cao Đài năm 1926, Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927, Cuộc khởi nghĩa Yên Bái và sự ra đời của Đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930 và phong trào Sô Viết Nghệ Tỉnh 1930-1931.

 

Trong thời gian sôi động này, từ 1925 trở đi, Phật Giáo cũng đã thức dậy. Từ năm 1923, thiền sư Khánh Hòa và thiền sư Thiện Chiếu đã thành lập, tại chùa Long Hòa ở Trà Vinh, Hội Lục Hòa Liên Hiệp với mục đích vận động thành lập một Hội Phật Giáo Việt Nam toàn quốc để chấn hưng Phật Giáo. Thiền sư Thiện Chiếu, khác hẳn tất cả tăng sĩ Phật Giáo đương thời, là một tăng sĩ có tân học. Ông đã đi ra Trung và Bắc vận động thống nhất Phật Giáo năm 1927 nhưng bất thành.

Năm 1928 thiền sư Khánh Hòa xây dựng Thích Học Đường và Phật Học Thư Xã tại Chùa Linh Sơn, Sài Gòn và năm 1929 Ông cho ấn hành tạp chí Viên Âm, tập san Phật Học đầu tiên bằng quốc ngữ tại Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Xoài Hột, Mỹ Tho. Cùng thời, thiền sư Thiện Chiếu xuất bản một tạp chí Phật Học nhắm vào giới thanh niên trí thức lấy tên là Phật Hòa Tân Thanh Niên, đặt tòa soạn tại chùa Chúc Thọ ở Gia Định.

 

Năm 1931 thiền sư Khánh Hòa cùng nhiều tăng sĩ và cư sĩ thành lập Hội Phật Học đầu tiên tại Việt Nam, lấy tên là Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học và thiền sư Từ Phong được mời làm Chánh Hội Trưởng. Hội ra tờ Từ Bi Âm năm 1932. Thiền sư Khánh Hòa, cùng người cộng sự thân tín là thiền sư Thiện Chiếu đã đóng vai trò tiền phong khai mở phong trào chấn hưng Phật Giáo và hiện đại hóa Phật Giáo, chuyển động sâu rộng lịch sử Phật Giáo và lịch sử Việt Nam trong suốt 65 năm qua.

Tại miền Trung, thiền sư Giác Tiên mở Phật Học Đường  tại chùa Trúc Lâm năm 1929 và ủy thác cho đệ tử là bác sĩ Lê Đình Thám thành lập Hội An Nam Phật Học năm 1932. Hội quy tụ đông đảo những danh tăng và cư sĩ trí thức tại miền Trung. Cư sĩ Lê Đình Thám được bầu làm Hội Trưởng và vua Bảo Đại được mời làm Hội Trưởng Danh Dự. Hội ra tạp chí Phật Học Viên Âm năm 1933. Năm 1934, thiền sư Giác Tiên, cư sĩ Lê Đình Thám… đã thành lập Trường An Nam Phật Học, trong đó có mở cấp Đại Học Phật Giáo. Đặc biệt hơn nữa là Hội đã phát động phong trào “Chỉnh Lý Tăng Già” rất quyết liệt để loại trừ ra khỏi tăng già những thành phần phạm giới, bất xứng. Chính nhờ những nổ lực cấp tiến này mà Phật Giáo miền Trung đã đóng được một vai trò quan trọng trong những thập niên sau đó.

Năm 1934 các thiền sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo cùng với giới cư sĩ trí thức tên tuổi tại Hà Nội như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Dương Bá Trạc, Trần Văn Giáp, Nguyễn Năng Quốc, Nguyễn Hữu Kha, Bùi Kỷ, Lê Dư… thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội, bầu cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm hội trưởng và suy tôn thiền sư Thanh Hanh làm Thiền Gia Pháp Chủ. Đặc biệt là trong buổi lễ suy tôn Pháp Chủ này, cư sĩ Trần Trọng Kim đã thuyết pháp về đề tài; “Thập Nhị Nhân Duyên”. Hội ra tạp chí Đuốc Tuệ năm 1935 và phát triển mạnh mẽ khắp miền Bắc (Nguyễn Lang, Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, q 3, t 51-173).

Đặc tính của cả ba Hội Phật Học tại ba miền là vai trò nổi bật của giới trí thức cư sĩ, là thuần túy Phật học và sinh hoạt Phật sự. Thời điểm 1925-1945 là thời điểm chuẩn bị trong kiên nhẫn và thầm lặng. Các hội Phật Học đã làm đúng chức năng và vai trò lịch của mình, một cách khiêm tốn, từ đống gạch vụn đổ nát của nền Phật học và Phật Giáo Việt nam trong thời Thực Dân Pháp thống trị.

Trong thời kỳ này xuất hiện những con người đặc biệt, xuất sắc và những tư tưởng mạnh mẽ, quyết liệt, trong Phật Giáo cũng như ngoài Phật Giáo. Từ đầu thập niên 30, tư tưởng Phật Hộc của Thích Thiện Chiếu đã là những quả bom chấn động. Và năm 1939 Huỳnh Phú Sổ xuất hiện làm một cuộc cách mạng tôn giáo, cải cách toàn bộ và triệt để Phật Giáo chưa từng có trong hai ngàn năm lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Miền Nam, một vùng đất lạ lùng và kỳ diệu…

 

An Hòa Tự

Phan Chu Trinh từ Pháp trở về Sài Gòn năm 1925, đất nước bùng lên những làn sóng tư tưởng dân quyền và dân chủ. Ông khẳng định phải tìm nguyên nhân mất nước trong sự mất đạo đức, mất luân lý, trong bài diễn thuyết Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây, và ông cũng khẳng định chế độ quân chủ chuyên chế là nguyên nhân chính làm mất nước trong bài thuyết giảng Quân Trị Chủ Nghĩa và Dân Trị Chủ Nghĩa tại Sài Gòn năm 1925. Ông mất năm sau đó và đám tang ông cùng với cuộc vận động ân xá nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã khơi bùng phong trào yêu nước và yêu tự do dân chủ trên toàn quốc, đặc biệt là trong giới thanh niên.

Nhưng dữ dội, bốc lửa và sấm sét trong tư tưởng yêu nước chống thực dân cũng như tư tưởng tự do dân chủ, trong thời này, chỉ có Nguyễn An Ninh là đi xa nhất, quyết liệt nhất. Là một thanh niên miền Nam,Ông đi du học ở Pháp và trở về nước với bằng cử nhân Luật. Lợi dụng quy chế thuộc địa của Nam Kỳ, nơi mà báo chí bằng tiếng Pháp được tự do, không bị kiểm duyệt, Ông ra tờ La Cloche fèlèe (Tiếng Chuông Rè) từ năm 1923 đến năm 1926. Ông tự xưng tờ báo của Ông là “cơ quan tuyên truyền tư tưởng Pháp”, lấy tư tưởng của kẻ xâm lăng để đập những nhát búa tạ vào chế độ Thực Dân, đồng thời tờ báo cũng tự nhận là “cơ quan chuẩn bị cho tương lai dân tộc”. Thật là độc đáo và tuyệt vời.

Ngoài việc phê bình kịch liệt, thẳng tay chính sách và chế độ thực dân, Ông cổ võ cho việc đào tạo một tầng lớp thanh niên Việt Nam tân học, có văn hóa, có lý tưởng, có chí khí, có năng lực và có tổ chức vàÔng tuyệt đối tin vào sức mạnh và vào tương lai của nhân dân Việt Nam. Ông chủ trương một nước Việt Nam thống nhất từ Nam chí Bắc và trở về lịch sử dân tộc để tìm niềm tin và sức mạnh. Ông hô hào, khi chỉ mới ngoài 20 tuổi, “Chẳng những phải duy trì những giấc mộng vĩ đại, mà còn phải tổ chức thành một nhóm quan trọng để chuẩn bị cho tương lai”. Không những tư tưởng táo bạo, độc đáo, mới lạ, kiến thức của Ông cũng rất uyên bác. Khi Thống Đốc Nam Kỳ tuyên bố: “Xứ này không cần trí thức”. Ông đã viết bài trả lời bốc lửa: “… Những thảm khổ của chúng ta ngày nay, còn gì nữa, đúng là do tổ tiên của chúng ta đã sờ mó vào cây kiến thức. Hạng trí thức đã làm đảo lộn thế giới, làm hư hỏng hạnh phúc của thế giới. Hãy nguyền rủa tên tuổi của Prométhé, kẻ đã lấy trộm chút lửa của Trời. Hãy nguyền rủa con người đã bày ra cái ná cao su cho trẻ con bắn đá vào trán ông khổng lồ… Trí Tuệ, đó là cái tai hại. Trí tuệ, đó là con rắn cuốn quanh thân cây đã làm cho chúng ta vĩnh viễn mất cõi thiên đường… Nói đến vai trò giáo dục, vai trò văn minh của các ông chủ xứ Đông Dương này, thưa các ông, điều ấy làm ta mỉm cười… Người ta đã quỳ lụy bái phục những vị “đem ánh sáng tới”, những vị “làm điều kỳ diệu ở Ấu Châu”… Cái gì kỳ diệu? Thực ra cái kỳ diệu đó là, chỉ trong một thời gian ngắn thôi, người ta đã có thể làm cho trình độ trí thức của người Nam đã thấp đi lại càng rơi vào chỗ cực kỳ dốt nát. Cái kỳ diệu đó là người ta đã có thể, trong một thời gian ngắn như thế, xô đẩy một dân tộc có tư tưởng dân chủ, ngã nhào vào tình trạng nô lệ hoàn toàn“. (Trần Văn Giàu, Sự Phát Triển Của Tư Tưởng ở Việt Nam Từ Thế Kỷ 19 đến Cách Mạng Tháng Tám, q2, t 311).

Nguyễn An Ninh cũng là một trong những nhà trí thức tân học đầu tiên nghiên cứu Phật Học và hoàn thành một tác phẩm Phật Học quan trọng, cuốn “Phê Bình Phật Giáo”. Sau thời kỳ hoạt động sôi nổi từ 1923 đến 1926, Nguyễn An Ninh bị ở tù trong thời gian 1926-1927, sau đó Ông về nghiên cứu Phật Giáo. Trên bàn làm việc của Ông, có một cái chuông, một cái mõ, Ông cạo trọc đầu và đi chân không.Ông nghiên cứu Phật Giáo qua tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và các hoạt động Phật Giáo trong nước. Cuốn Phê Bình Phật Giáo xuất bản năm 1937 là kết quả của sự nghiên cứu này. Tựa đề của cuốn sách, 70 năm sau cũng không có ai dám viết một cuốn sách Phật Học có tựa đề thách thức và can đảm như vậy. Mục đích và phương pháp luận còn mới lạ, táo bạo hơn, đó là “so sánh Phật Giáo với thời đại của nó để chỉ chỗ hay, chỗ đúng hơn của nó đối với các thuyết khác và so sánh Phật Giáo với thời đại này để chỉ sai lầm của Phật Giáo“. Tác phẩm này được giới trí thức, giới chính trị cũng như giới Phật Giáo chú ý đặc biệt.

Nhưng không gây sóng gió và tranh luận suốt nhiều năm trời như những tác phẩm của Thích Thiện Chiếu.Đối với Tăng, Ni, Phật Tử thập niên 30, những tư tưởng Phật Học của Thích Thiện Chiếu là những tiếng sét ngang tai. Ngày nay đọc lại, chắc chắn quý vị tăng sĩ, cư sĩ và Phật Tử cũng không khỏi giựt mình, chấn động và suy nghĩ. Những tư tưởng này, được viết từ thập niên 30, ngày nay, cuối thập niên 90, vẫn còn mới, còn táo bạo, còn chứa đầy sức nặng của đá tảng và sức nổ của sấm sét. Thích Thiện Chiếu là tinh hoa sáng chói của Phật Giáo trong thập niên 20, 30. Ông đã đi tiền phong trong mọi lãnh vực chấn hưng và hiện đại hóa Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ 20 này.

Ta phải đứng trên một đỉnh núi cao, mới hy vọng nhìn thấy những cái gì chưa ai nhìn thấy, những cái gì nằm khuất sau dãy núi cao. đó có thể là những dãy núi cao hơn, hay là một đại dương mênh mông hay là một bình nguyên rực rỡ. Thích Thiện Chiếu là một ngọn núi cao của Phật học và Phật Giáo Việt Nam trước đệ nhị thế chiến. Ta hãy đứng trên đỉnh núi cao ngất, hùng tráng này để nhìn rõ một đỉnh núi cao ngất, hùng vĩ khác, là Cư sĩ, Bồ Tát, Giáo Chủ Huỳnh Phù Sổ.

|Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10|TK|

[BHH430] [PGHH] [THƯ VIỆN PGHH]

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

SÀI GÒN: PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY KÊU GỌI BIỂU TÌNH CHỦ NHẬT 18-5-2014 LÚC 8 GIỜ SÁNG

SÀI GÒN: PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY KÊU

GỌI BIỂU TÌNH CHỦ NHẬT 18-5-2014 LÚC 8 GIỜ

SÁNG

HLTL TRONG NƯỚCTÔN GIÁO5/14/2014

 

PHẬT GIÁO HÒA HẢO

THUẦN TÚY

HIỆU TRIỆU

Hỡi anh em trong nhà Nam Việt!

Nhớ nước ta hùng liệt thuở xưa.

Ngàn năm Bắc địch vày bừa,

Mà còn đứng dậy tống đưa quân thù.

Tiếng roi lại bình Ngô sát Đát,

Sử xanh còn ngào ngạt hương thơm. . .

 

Là con Hồng cháu Lạc, chúng ta làm sao quên được những trang sử bi thảm ngàn năm Bắc thuộc Trung Quốc đã giày xéo quê hương yêu quí của chúng ta, chà đạp lên đời sống của Dân tộc ta.

 

Những tấm gương sáng rạng ngời của tiền nhân ta: Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê là những trang sử oai hùng oanh liệt lưu lại cho chúng ta nhớ đến bổn phận thiêng liêng: BẢO VỆ TỔ QUỐC.

 

Nay, Tàu cộng lúc nào cũng nuôi tham vọng thôn tính nước ta, ngang ngược chiếm đảo, chiếm biển, chiếm đất, khai thác beauxit Tây Nguyên. . . rồi giờ đây lại đặt khoan dầu ở Biển Đông  một cách khiêu khích, coi 90 triệu đồng bào chúng ta như cỏ rác. . .

 

Vậy thì ta hãy hiệp bè,

Cùng nhau đoàn kết đặng khoe sức hùng.

Khắp Bắc Nam đùng đùng một trận,

Ấy mới mong quốc vận phục hồi.

Trước là dẹp lũ cộng bồi,

Sau đưa quốc tặc qui hồi Diêm cung.

Nếu nay chẳng vẫy vùng cương quyết,

Thì ắt là tiêu diệt giống nòi. . .

 

Đồng bào ơi!

Chúng ta hãy mạnh mẽ xuống đường để đả đảo Tàu cộng, đả đảo những kẻ mãi quốc cầu vinh, biểu dương tinh thần kiên cường yêu nước. 

 

ĐEM MÁU XƯƠNG ĐỔI LẤY TỰ DO.

 

Ngày xuống đường là ngày Chủ nhật 18-5-2014 vào lúc 8 giờ sáng. Địa điểm tập trung: Công viên 30-4 cạnh nhà thờ Đức Bà.

 

Với tư cách Hội Trưởng Trung Ương PGHH Thuần Túy, tôi tha thiết kêu gọi 7 triệu tín hữu PGHH toàn quốc, nhất là ở Miền Tây HÃY MẠNH MẼ TÍCH CỰC THAM GIA CÁC CUỘC BIỂU TÌNH CỦA ĐỒNG BÀO CHỐNG Tàu cộng. 

 

VIỆT NAM ĐỘC LẬP MUÔN NĂM.

Ngày 14 tháng 5 năm 2014.

TM Giáo Hội PGHH Thuần Túy.

Hội Trưởng Trung Ương

 

 

LÊ QUANG LIÊM

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

PGHH – CẢNH BÁO KHẨN CẤP

PGHH – CẢNH BÁO KHẨN CẤP

 

PHẬT GIÁO HÒA HẢO
THUẦN TÚY
————————-
CẢNH BÁO KHẨN CẤP

Theo một nguồn tin đáng tin cậy cho biết là trong cuộc biểu tình sáng chủ nhật 18-5-2014, đám tay sai của Tàu cộng ở VN sẽ tổ chức nhiều toán xã hội đen trà trộn vào những người biểu tình rồi gây những việc náo loạn bất hợp pháp như vừa xảy ra ở Bình Dương và một vài nơi khác.

Âm mưu này biến những cuộc biểu tình chính nghĩa biến thành những hành động ô tạp bất hợp pháp nhằm mục đích:

a- Làm giảm uy tín phong trào chống Tàu cộng đang biểu dương và phát triển mạnh mẽ.

b- Tạo cho nhà cầm quyền cộng sản có cơ hội muốn bắt ai thì bắt, vàng thau lẫn lộn, dựa vào lý do an ninh trấn áp thành phần lãnh đạo phong trào chống Tàu cộng, dập tắt phong trào càng sớm càng tốt.

Trong tinh thần kiên cường bảo vệ đất nước, chúng ta vẫn tiến hành cuộc biểu tình nhưng phải hết sức dè dặt và thận trọng đối với những phần tử bất chính cùng đứng trong hàng ngũ biểu tình với chúng ta. Nếu có dấu hiệu sẽ xảy ra cuộc hỗn loạn thì ta phải tự giải tán đừng để bọn tay sai của Tàu cộng thừa cơ lợi dụng.

Ngày 16 tháng 5 năm 2014.

TM Giáo Hội PGHH Thuần Túy

Hội Trưởng Trung Ương

LÊ QUANG LIÊM

Tin liên quan 
SÀI GÒN: PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY KÊU GỌI BIỂU TÌNH CHỦ NHẬT 18-5-2014 LÚC 8 GIỜ SÁNG

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

PGHH: Bạch Thư Tuyệt Mệnh của Tín đồ Nguyễn thị Ngọc Lan

PGHH: Bạch Thư Tuyệt Mệnh của Tín đồ Nguyễn thị

Ngọc Lan

HLTL TRONG NƯỚC4/01/2013

PHẬT GIÁO HÒA HẢO (năm đạo thứ 74)

 

BẠCH THƯ TUYỆT MỆNH

 

Kính gởi:

– Ủy Hội Nhân Quyền Quốc Tế HĐBA LHQ.

– Cộng  Đồng Nhân Loại yêu chuộng: Hòa bình, Công Lý, Nhân quyền: tự do Tôn Giáo, tự do Dân Chủ trên thế giới.

– Các cơ quan truyền thông quốc tế.

– Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước.

– Đảng cầm quyền CS Việt Nam.

 

Tôi tên là: Nguyễn thị Ngọc Lan sinh năm 1956 thường trú số nhà 128/2 khu vực Thới Trinh A, phường Thới An quận Ô Môn TP CT. Nhân vào mùa xuân ĐẠO NẠN: 25/ tháng 02 và QUỐC NẠN: 30/ 04, kỷ niệm hằng năm trên đất nước Việt Nam. Tôi một tín đồ PGHH xin kính gởi bức: BẠCH THƯ TUYỆT MỆNH nầy đến với mọi người để chia sẻ lý tưởng và tâm tư nguyện vọng tha thiết của tôi, có nội dung như sau:

 

1- Phật Giáo Hòa Hảo là một tôn giáo Việt Nam, sinh ra và phát triển từ lòng dân tộc, Đức Giáo Chủ: Huỳnh Phú Sổ là người Việt Nam, khai sinh năm 1919 và lớn lên đến năm 1939, Ngài được 19 tuổi đã mở đạo tại làng Hòa Hảo và cho đến  ngày 25 tháng hai nhuần năm đinh hợi, thì Thọ Nạn tại rạch Đốc Vàng, cũng chính trên dãi đất Việt Nam nầy, lúc ấy Ngài được 27 tuổi. Có thể khẳng định cuộc đời và sự nghiệp Đức Huỳnh Giáo Chủ và tôn giáo PGHH đã gắn liền dòng sinh mệnh của dân tộc và tổ quốc Việt Nam.Với một nền giáo lý căn bản là: Học Phật Tu Nhân. Học Phật là học theo công hạnh của Phật. “Phật tu cách nào đắc đạo rồi dạy ta, ta phải làm theo cách nấy”. Còn Tu Nhân là đền đáp bốn trọng ân,1- Ân Tổ Tiên Cha Mẹ, 2- Ân Đất Nước, 3- Ân Tam Bảo, 4- Ân Đồng Bào và Nhân Loại, trong đó Ân Đất Nước, được đặt trước Ân Tam Bảo.

 

Để thực thi nghĩa vụ công dân lúc nước nhà bị họa xăm lăng đô hộ “nước mất đâu dễ ngồi an”. Với một ý chí ưu việt kế thừa truyền thống Đức Trần Nhân Tông, “Tăng sĩ quyết chùa am bế cửa, Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha. Đền xong nợ nước thù nhà, Thiền môn trở gót Phật Đà nam mô”, Đức Huỳnh Giáo Chủ với 02 triệu tín đồ, năm 1945 Ngài đã cổ súy khối tín đồ cùng toàn dân đứng lên đánh đuổi xăm lăng, giành lại độc lập cho đất nước… Là Đấng Giáo Chủ một Tôn Giáo phát xuất tại Việt Nam, và là thủ lãnh Đảng Việt Nam Dân Chủ Xã Hội: Đã chủ trương “toàn dân chính trị” thế tất Đảng chống độc tài bất cứ hình thức nào”, đã đối lập lại chủ nghĩa ngoại lai vô thần độc tài của lãnh tụ vong bản Hồ Chí Minh, một đệ tử của CNCSQT, núp với chiêu bài:Việt Minh. Cướp được chính quyền từ đức vua Bảo Đại, Việt Minh CS đã thủ tiêu những người thuộc các Đảng phái quốc gia chân chính, cụ thể chính là Đức Huỳnh Giáo Chủ PGHH đã bị ám hại trong một cuộc họp hòa giải do Việt Minh tổ chức vào ngày 25 tháng Hai nhuần năm Đinh Hợi, nhằm ngày 16-04-1947, và đoàn thể PGHH đã trở thành nạn nhân của VMCS. Với vô số những nấm mồ chôn tập thể, khắp nơi thuộc vùng ĐBSCL, đến nay vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Việt Minh CS đã khiến cho tinh thần đoàn kết dân tộc lúc bấy giờ bị tan rã, tạo cơ hội cho Pháp tái chiếm Việt Nam lần thứ hai.

 

Sau biến cố ngày 30-04-1975, miền nam Việt Nam bị CSBV cưỡng chiếm, các tôn giáo bị giải thể, nhất là tôn giáo PGHH. Bởi ý thức hệ của chủ nghĩa CS và trong quá khứ có những cuộc tàn sát đẫm máu đối với PGHH, ĐCSVN cầm quyền đã tìm mọi cách để triệt tiêu PGHH. Giáo Lý bị tịch thu hũy bỏ, các cơ sở thờ tự của đạo bị quản lý chiếm dụng, các chức sắc của đạo bị đưa đi trại tù “học tập cải tạo”. Nhiều người đã chết rũ trong lao lý, hay ra tù chỉ thời gian ngắn là chết, vì bị khảo hình hoặc bị đầu độc, do tính chất bạo lực bất khoan dung của chế độ CS.

 

Năm 1999, do sự đấu tranh đòi hỏi không ngừng từ trong nước, cùng cộng đồng người Việt hải ngoại và sức ép của cộng động quốc tế về Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo tại Việt Nam. Nhà cầm quyền CS với ý đồ “dùng PGHH để diệt PGHH”. Ngày 26-05-1999, Họ đã dàn dựng tấm bình phong để dối lừa công luận gồm: Ban Đại DiệnPGHH quốc doanh, làm tay sai công cụ để hợp pháp hóa vai trò thủ tiêu mọi truyền thống, lịch sử, di tích quý báu của PGHH, nhất là ngày lễ thiêng liêng trọng đại 25 tháng 02 hằng năm, ngày mà VMCS đã ám hại ĐHGC, (cho đến nay vẫn bị cấm ngăn, khủng bố, triệt hạ tín đồ hành lễ).

 

Để đấu tranh bảo vệ Đạo Pháp, đòi quyền Tự Do Tôn Giáo cho các tôn giáo Việt Nam nói chung, PGHH nói riêng, bằng chủ trương “ôn hòa bất bạo động,” người tín đồ PGHH thuần túy, đã bị nhà cầm quyền CS đàn áp, khủng bố rất dã man, vì quyết bảo vệ Đạo Pháp, bảo vệ những truyền thống quý báu không bị triệt tiêu, nhiều người đã quyết hy sinh quyền lợi gia đình và thân mạng, bằng cách Tự Thiêu, hay phải vào tù để phản đối sự đàn áp, và đòi quyền TỰ DO TÔN GIÁO với nhà cầm quyền CSVN, cho đến nay vẫn tiếp diễn không ngừng.

 

2- Kể từ khi có ĐCSVN do ông Hồ Chí Minh làm lãnh tụ. Suốt 69 năm cầm quyền miền bắc, 38 năm cầm quyền miền nam, ĐCS đã gây ra biết bao là tội ác với dân tộc Việt Nam. Khởi động chiến tranh đã làm tang tốc đau thương cho người dân hai miền Nam, Bắc phải nhà tan cửa nát, hàng ba triệu người đã tốn hao sinh mạng vì bị chết chóc, mang thương tật, do đạn bom để lại. Khi không có chiến tranh, ĐCS cầm quyền đã cướp đoạt tài sản đất đai nhà cửa nhân dân, và giết người bằng khẩu hiệu, chính sách bần cùng hóa nhân dân “trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, tróc tận rể”, cải cách ruộng đất, nhân văn giai phẩm, học tập cải tạo, đánh đổ tư bản, cải tạo công thương nghiệp, đưa dân tập trung vùng kinh tế mới, làm kiệt quệ nguồn tài lực của quốc dân, trong thời kỳ gọi là “bao cấp”.

 

Bước sang thời kỳ “mở cửa”, đảng viên cộng sản có đầy đủ mọi quyền lực, dựa giẫm trên luật pháp, hưởng lợi ích nhóm với nhiều dịch vụ thương mại, nhận hối lộ bất chính, đồng lõa bao che, chia chác, tha hồ nhũng lạm bóc lột, đục khoét ngân sách quốc dân, gây nợ nần chồng chất lên đầu cổ người dân Việt Nam cần cù lao động. Tệ tham nhũng nầy, đến nay đã trở thành quốc nạn. Bị đối xử áp bức bất công, số Dân Oan bị cướp mất tài sản đất đai nhà cửa, đi khiếu kiện kêu oan nhiều năm, nhà cầm quyền vẫn không cứu xét, vô gia cư, cuộc sống đói nghèo lê la khắp nơi cầu thực.

 

Phụ nữ Việt Nam phải đi làm dâu hay làm nô lệ, bán dâm cho người ngoại quốc để kiếm tiền, mong “xóa đói giảm nghèo” cho gia đình người thân. Trẻ em nghèo đói thất học, lao động, bán vé số, ăn xin vất vưỡn đọa đày trong cuộc sống độ nhựt vv và vv.

 

Một thể chế độc đảng bất công, nên sanh nhiều tệ nạn hoành hành, đã đẩy người dân xuống tận cùng vực thẳm của sự khổ đau. Tự do Dân Chủ, tự do Tôn Giáo bị áp đặt cấm đoán khắc khe. Nhà tù CS đã cầm giam vô số những người bất đồng chính kiến, chỉ vì cất lên tiếng nói đòi quyền Tự do Tôn Giáo, đòi quyền tự do Dân Chủ.

 

Nói tóm lại từ khi ĐCS cầm quyền cho đến nay, với một chủ nghĩa ngoại lai vô thần, độc tài chuyên chế, triệt tiêu Tôn Giáo, xây dựng quyền lợi trên xương máu của nhân dân, đã tạo nên một xã hội Việt Nam đau thương, đầy máu và nước mắt, phẩm chất đạo đức suy đồi, tham quan đầy dẫy, bất công áp bức lộng hành, đói nghèo tuộc hậu. Tất cả đã hiện bày mà không một ai có lương tri mà không thấy biết. Và sự ám ảnh trước mắt: Là nguy cơ bị mất nước, dân tộc Việt Nam sắp làm nô lệ cho bọn bành trướng Tàu phù do ĐCSVN nhiều lần đã âm thầm ký kết thỏa hiệp hiến dâng Tổ Quốc. (Công hàm của Thủ Tướng Phạm văn Đồng đã chứng minh điều nầy).

 

Là người tín đồ PGHH phụng hành giáo pháp TỨ ÂN. Nhân mùa Quốc Nạn 30/04/1975, ngày CS miền Bắc cưỡng chiếm miền Nam, và lễ kỷ niệm 25/02 âl hàng năm ngày ĐHGC PGHH vắng mặt, do VMCS âm mưu hãm hại, suốt 37 năm qua ngày lễ kỷ niệm nầy luôn bị nhà cầm quyền cấm ngăn và khũng bố tín đồ PGHH không cho hành lễ. Nay trước thảm cảnh lầm than: Đạo Pháp ngữa nghiêng, Quốc phá Gia vong của đồng bào và tổ quốc Việt Nam. Lòng đầy bi xót, tôi xin kính gởi bức Bạch Thư Tuyệt Mệnh nầy đến với các tổ chức, cơ quan Nhân Quyền, dân chủ trên thế giới, mong  có biện pháp hữu hiệu cứu giúp. Bằng con tim khát vọng, muốn cho toàn thể đồng bào Việt Nam thân thương của tôi có một cuộc sống thật sự được: ĐỘC LẬP, TỰ DO, ẤM NO HẠNH PHÚC, và CÔNG BẰNG XÃ HỘI, mà suốt 69 năm qua, dân tộc Việt Nam chúng tôi đã bị chế độ vô thần, độc tài CSVN cưỡng đoạt. Để biểu lộ thành ý trên, tôi nguyện đốt lên ngọn Đuốc thân, để phản đối chính sách đàn áp Tôn Giáo, và Dân chủ bị kềm kẹp, góp phần cùng toàn dân tháo toan ách nạn cộng sản, kiến tạo lại một xã hội văn minh Việt Nam Mới mà Nhân Quyền phải được thực thi một cách đầy đủ.

 

Và riêng các Đảng viên, ĐCS cầm quyền, những điều tôi nêu trên của chế độ cầm quyền cộng sản là hoàn toàn đúng sự thật. Và tôi dám chắc một điều, đảng các vị là tác nhân, nên các vị hiểu rõ hơn ai hết, nhưng không thể thừa nhận sự thật trên, cụ thể như chính Sử gia kiêm ĐBQH Dương Trung Quốc đã phát biểu “có những sự thật không thể nói ra”. Vì sự thật đó chính là sai trái là lỗi lầm, là tội đồ của Dân Tộc. Vì đã đặc quyền lợi đảng trên tổ quốc và đồng bào, quên cội nguồn dân tộc, tôn thờ một chủ nghĩa CSQT, cam tâm làm tay sai, hiến dâng tổ quốc cho bọn bành trướng giặc Tàu, đưa dân tộc đến chổ khốn khổ, đói nghèo, lạc hậu, và cùm gông trong nô lệ.

 

Tôi chân thành tha thiết cầu mong quý vị hãy nghĩ đến tình ruột thịt, nghĩa đồng bào, da vàng, “giọt máu cùng đỏ, giọt nước mắt cùng mặn”. Dân tộc ta đã chịu đựng quá nhiều điều lầm than cơ cực và mất mát do ĐCSVN gây ra. Xin hãy thức tỉnh, tìm về lịch sử. Đức Vua Hùng đã có công dựng nước, các bậc Tiền Nhân bao đời đã có công giữ nước đem máu đào tắm gội giang san “thà làm quỷ nước Nam, quyết không nô lệ làm vương hầu phương bắc”. Họ đã hy sinh viết nên những trang lịch sử, độc lập vẻ vang oanh liệt cho nòi giống. Ý chí quật cường bất khuất, niềm kiêu hãnh vốn có của Tổ Tiên Hồng Lạc với một nền Văn Hiến quý báu hơn bốn ngàn năm lịch sử, mang đậm đà bản sắc của dân tộc, đã bao lần đập tan mộng xâm lăng, tham tàn bành trướng trước một kẻ thù khổng lồ phương bắc.

 

– Hãy vì nền độc lập, chủ quyền của quốc gia dân tộc Việt Nam không bị Tàu hóa.

– Hãy vì tương lai phồn vinh, thịnh vượng của quê hương Việt Nam.

– Hãy vì sự tự do, ấm no hạnh phúc, công bằng xã hội cho đồng bào Việt Nam.

 

Nay con thuyền Tổ Quốc Việt Nam sắp bị diệt vong trước phong ba bão táp: áp bức, đói nghèo, nô lệ giặc xâm lăng. Các vị là người lèo lái vận mệnh, hãy chuyển đổi phương hướng, tránh cho đồng bào cuộc tương tàn tương sát đẫm máu, tiến tới  hòa hợp hòa giải dân tộc, y như Miến Điện đã thực hiện một cách tuyệt vời. Hãy cùng nhau tuyên bố:

 

1-      Giải thể đảng Cộng Sản, trả quyền làm chủ cho nhân dân.

2-      Trả tự do cho các tù nhân Tôn Giáo và Chính Trị.

3-      Trưng cầu dân ý, có tổ chức nhân quyền quốc tế giám sát.

4-      Tiến hành bầu cử quốc hội lập hiến, bao gồm cá nhân, các đảng phái tham gia.

5-      Xây dựng Hiến Pháp Việt Nam, nhân quyền, dân chủ theo đúng tinh thần HĐBA LHQ.

 

Có được như thế, Tổ Quốc và đồng  bào Việt Nam mới thoát khỏi thảm họa diệt vong trước kẻ thù phương bắc, cùng chung xây dựng xã hội Dân Giàu Nước Mạnh, và Quý vị sẽ trở thành ân nhân của đại gia đình Việt Nam. Trang lịch sử tên tuổi quý vị muôn thu mãi chói ngời. Bằng ngược lại, tốc độ vận hành bánh xe Nhân Quyền, dân chủ Việt Nam sẽ nghiền nát, mà không một quyền lực nào có thể kềm hãm được. Tất cả mọi thứ vật chất của việc làm phi nhân phi nghĩa lẫn danh dự, sẽ không còn và bị đào thải xuống vũng bùn nhơ bẩn nghìn thu./.

 

Phật Giáo Hòa Hảo trường tồn bất diệt.

Tổ Quốc Việt Nam đời đời bền vững.

Nòi Giống Lạc Hồng tự do dân chủ, văn minh, ấm no hạnh phúc muôn năm.

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam Mô A Di Đà Phật.

Nam Mô Đại Từ Đại Bi Kim Sơn Phật.

 

Cần Thơ ngày   01  tháng 04 năm 2013.

Người viết Bạch Thư Tuyệt Mệnh.

 

 

Nguyễn Thị Ngọc Lan.

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

BẠCH THƯ SỐ 1 Và Số 2 PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY

H THƯ SỐ 1 Và Số 2 PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY

BẠCH THƯ SỐ 1 Và Số 2 PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY

  BẠCH THƯ SỐ 1 Và Số 2 PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY CỦNG CỐ GIÁO QUYỀN-THỐNG NHẤT GIÁO HỘI-XIỂN DƯƠNG GIÁO PHÁP ————————–                           THÔNG BẠCH Kính gởi: Toàn thể tín hữu PGHH thân mến trong và ngoài nước, NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT. NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT. Thưa chư tín hữu, Nhân danh Hội Trưởng Trung Ương PGHH Thuần Túy, tôi có lời khen ngợi tòan thể Trị Sự Viên trong Giáo Hội và một số tín hữu đã phát huy mạnh mẽ ý chí kiên cường bất khuất trước sức đàn áp thô bạo của nhà cầm quyền cộng sản quyết tâm ngăn chận chúng ta tổ chức ngày Đại Lễ 25/2 âl , kỷ niệm Đức Huỳnh Giáo Chủ bị việt minh cộng sản ám hại. Giáo Hội PGHH Thuần Túy chúng ta đã biểu dương được tinh thần “TẬN TRUNG VỚI ĐẠO, TẬN HIẾU VỚI THẦY” một cách anh dũng bất chấp hiểm nguy sinh tử trước nhãn quan quốc nội và nhãn quan quốc tế rằng: PGHH không phải là con giun mà cộng sản muốn gày xéo thế nào cũng được. Thực ra, đứng trên phương diện thực tế khách quan, việc tổ chức lễ kỷ niệm là một phong tục thiêng liêng của nhân gian, bất luận giai cấp nào, tôn giáo nào, cả đình miểu am cốc đều có quyền tổ chức, không một quyền lực nào có quyền ngăn trở. Trên đất nước VN có bao nhiêu tôn giáo, có bao nhiêu đình miểu am cốc cũng đều được tự do tổ chức lễ kỷ niệm, chỉ duy nhất có PGHH là không được hưởng quyền này . Đó là chứng cứ hiển nhiên cho thấy rằng đảng csVN vẫn quyết tâm tiêu diệt PGHH, vì sao csVN muốn tiêu diệt PGHH? Vì PGHH tôn trọng Ân Tổ Tiên Cha Mẹ còn cs thì vô gia đình . . . Vì PGHH tôn trọng Ân Đất Nước còn cs thì vô tổ quốc . . . Vì PGHH tôn trọng Ân Tam Bảo (Phật,Pháp,Tăng) còn cs thì vô tôn giáo . . . Vì PGHH là một tôn giáo dân tộc, sinh ra từ lòng dân tộc, lớn lên trong khí thiêng sông núi của Tổ Quốc nên phải sống cùng Tổ Quốc và Dân Tộc và cũng phải chết vì Dân Tộc và Tổ Quốc. Đó là một chướng ngại to lớn trên con đường “xích hóa” VN của đảng csVN nên csVN phải triệt tiêu PGHH cho bằng được. Lần này nhà cầm quyền cs đã sử dụng trên 1.000 công an, bộ đội cơ động, có cả xã hội đen, xe vòi rồng, xe bít bùng, v.v. . . để đàn áp PGHH. Cái cảnh cs đàn áp thê thảm xảy ra tại nhà ông Nguyễn Văn Vinh đã chứng tỏ rõ ràng những hành động đó vừa vô nhân đạo, vừa vô liêm sĩ, vừa thô bạo, vừa tàn ác không còn tình người và người. – Đánh một bà già 82 tuổi (bà Trần Thị Xinh) rồi lột quần áo bỏ nằm trần truồng lõa lồ dưới đất là một hành động rừng rú không thấy có trong lịch sử loài người. – Đánh bà Võ Thị Gấm (vợ cố Hà Hải, người bị chết vì cs ngược đãi trong tù) 82 tuổi, gãy tay phải nhập viện . – Đánh đập 20 tín đồ PGHH bất tỉnh rồi lục soát ai có cà rá thì lấy cà rá, ai có giây chuyền thí lấy dây chuyền, ai có vòng vàng thì lấy vòng vàng, ai có tiền thì lấy tiền. Lấy tiền tất cả hơn 100 triệu đồng là tiền của anh em tín đồ PGHH dành dụm đóng góp để chẩn bần tín đồ nghèo trong dịp lễ. Ôi! Quang vinh thay cho đảng csVN, đánh người bất tỉnh để cướp của như thế ấy là hành động còn rừng rú hơn những toán thổ phỉ ! ! ! – Đóng chốt trước nhà trên 50 gia đình Trị Sự Viên lãnh đạo Giáo Hội PGHH Thuần Túy, “nội bất xuất, ngoại bất nhập” trong nhà có ai bịnh hoạn bất thường cũng không được đi ra khỏi nhà để chữa trị, nằm chờ chết. Với tín đồ PGHH nông dân chất phác, tay lấm chân bùn, trong tay không một tất sắt mà nhà cầm quyền cs đã sử dụng hằng ngàn công an để đàn áp thật là oai hùng, trong lúc quỳ lạy cúi đầu dâng đất (6 tỉnh phía Bắc) dâng biển, dâng đảo, dâng khai thác bauxit Tây Nguyên cho Tàu cộng . . . Các ông lãnh đạo đảng csVN ơi! Các ông có thấy hổ thẹn không? Thưa chư tín hửu PGHH thân mến, Cuộc đối đầu với cs , nhất là cuộc tuyệt thực tại gia của chúng ta lần này, người tín đồ PGHH đã biểu dương tinh thần bất khuất, ý chí kiên cường để bảo vệ đạo pháp, để bảo vệ quyền làm người của con người . . . Cuộc tuyệt thực đã đi đến ngày thứ tư, tôi xét thấy cũng dã đủ rồi, chúng ta phải bảo tồn sức khỏe của chúng ta để tiếp tục tiến bước trên con đường đấu tranh giải thể đảng cộng sản VN, tay nắm tay, sức chung sức, lòng chung lòng với toàn dân đế xây dựng một nước VN: Tự Do, Dân Chủ, Hòa Bình và Thịnh Vượngthật sự xứng đáng là con Hồng cháu Lạc với truyền thống 4.000 năm văn hiến. Tôi xin long trọng tuyên bố CHẤM DỨT CUỘC TUYỆT THỰC  kể từ hôm nay: ngày 27-3-2014. PHẬT đạo sáng ngời ánh bửu linh, GÍAO truyền chánh pháp tạo thanh bình. HÒA đồng nhơn loại an thiên hạ, HẢO hợp thời cơ độ chúng sanh. TRƯỜNG thuyết Tu Nhân đời thạnh trị, TỒN tâm Học Phật , đạo quang vinh. BẤT câu tăng tục chơn như pháp, DIỆT khổ qua bờ đến cõi thanh. – ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ VẠN TUẾ. – PGHH TRƯỜNG TỒN BẤT DIỆT. Ngày 27 tháng 3 năm 2014. TM Giáo Hội PGHH Thuần Túy. Hội Trưởng Trung Ương LÊ QUANG LIÊM———————————– PHẬT GIÁO HÒA HẢO  THUẦN TÚY CỦNG CỐ GIÁO QUYỀN-THỐNG NHẤT GIÁO HỘI-XIỂN DƯƠNG GIÁO PHÁP                                         BẠCH THƯ SỐ 2 Kính gởi: – Ông Nguyễn Phú Trọng. – Ông Trương Tấn Sang. – Ông Nguyễn Sinh Hùng. – Ông Nguyễn Tấn Dũng. Thế là cuộc điều động hằng ngàn công an, bộ đội cơ động, xã hội đen, xe vòi rồng, xe bít bùng, v.v. . . để chận đứng PGHH tổ chức ngày lễ kỷ niệm Đức Huỳnh Giáo Chủ bị việt minh cộng sản ám hại . . . các ông đã đạt một chiến thắng vô cùng vẽ vang, chiến thắng  một nhóm tín đồ PGHH vốn là nông dân chất phác, tay lấm chân bùn trong tay không một tất sắt. Thật quang vinh thay cho đảng csVN quang vinh? Lại càng quang vinh hơn với những hành động oai hùng mang tính rừng rú: a- Đánh một bà già 82 tuổi (bà Trần Thị Xinh) bị ngất xỉu rồi lột hết quần áo để bà nằm trần truồng lõa lồ đưới đất. Hành động oai hùng này có lẽ đệ tử các ông đã hành sử đúng theo đường lối của đảng csVN quang vinh! Và oai hùng này không thấy có trong lịch sử loài người. b- Đánh bà Võ Thị Gấm 82 tuổi bị gãy tay phải đi cấp cứu ở bịnh viện Châu Thành, An Giang. c- Đánh đập ngất xỉu 20 tín đồ PGHH đang chuẩn bị cuộc lễ rồi lục soát lấy hết nữ trang tiền bạc. Số tiền này lên đến trên 100 triệu là tiền của anh chị em tín đồ PGHH dành dụm đóng góp để chẩn bần cho tín đồ nghèo trong dịp lễ. Thật quang vinh thay hành động sở trường cố hữu của đảng csVN dù những toán thổ phỉ cũng phải cúi đầu thán phục ! d- Đóng chốt trước cửa nhà toàn bộ chức sắc lãnh đạo của Giáo Hội PGHH Thuần Túy và “nội bất xuất, ngoại bất nhập” dù trong nhà có ai bịnh hoạn cũng không được ra khỏi nhà để chữa bịnh, nằm chờ chết. Điển hình như trường hợp của ông Nguyễn Văn Thơ ở Xã Tân Hòa (Đồng Tháp) trong ngày 23-3-2014 . . . trường hợp của ông Nguyễn Văn Vinh ở Xã Long Giang (An Giang) trong những ngày từ 20 đến 25-3-2014 . . . Trường hợp của ông Nguyễn Văn Điền ở Xã Tân Phước (Đồng Tháp) trong ngày 22-3-2014 . . . Trường hợp của anh Nguyễn Ngọc Tân ở Bình Minh (Vĩnh Long) trong ngày 23-3-2014 . . . v.v. . . Đây là hảnh động nhân đạo mà Tần Thỉ Hoàng có sống lại cũng phải cúi đầu thán phục ! Và đây cũng là một chứng minh cụ thể chính sách nhất quán tôn trọng nhân quyền, tôn trọng Tự Do Tôn Giáo mà Thứ Trưởng Hà Kim Ngọc, trưởng đoàn VN đã báo cáo trong Đại Hội Nhân Quyền kiểm điểm định kỳ toàn cầu về Nhân Quyền tại Geneve (Thụy Sĩ) ngày 5-2-2014. Bức Bạch Thư này tôi chỉ điểm sơ lược lại một số hành động của đoàn đệ tử các ông để các ông tự chiêm nghiệm chính sách của các ông như vậy có quá đáng hay không? Có trắng trợn chà đạp Nhân Quyền, có trằng trợn chà đạp Tự Do Tôn Giáo hay không? Vì tôi tin rằng các ông, dù sao,  cũng còn chút ít lương tâm để cân nhắc ĐIỀU LÀNH, ĐIỀU ÁC. Rõ ràng với đồng bào nhân dân trong nước các ông đã hành sử một chính sách độc tài toàn trị, chà đạp nhân dân đến xương tàn cốt rụi, còn với ngoại bang thì các ông chuyên dối trá để cầu viện . . . nhất là với tàu cộng thì các ông quỳ mọp để dâng đất (6 tỉnh phía Bắc) dâng biển dâng đảo, dâng khai thác bauxit Tây Nguyên , v.v. . . và v.v. . . Tôi mong các ông hãy tự kiểm điểm sửa sai để cho toàn dân còn được hưởng vài hạt cơm rơi . . . một vài manh áo rách. QUAY LẠI ẮT THẤY BỜ. Ngày 28 tháng 3 năm 2014 Cư Sĩ LÊ QUANG LIÊM

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Vấn nạn bức cung nhục hình ở VN

Vấn nạn bức cung nhục hình ở VN

Luật sư Ngô Ngọc Trai

 

Ông Nguyễn Thanh Chấn đã phải chịu oan ức trong nhiều năm

Trong vụ án oan của ông Nguyễn Thanh Chấn, ông này đã phải khai nhận một tội mà mình không hề phạm. Vậy ông Chấn có phải đã bị bức cung nhục hình hay không, và có câu hỏi là lấy đâu ra chứng cứ chứng minh hành vi bức cung nhục hình?

Quy định của luật

Hiện chưa có con số thống kê cụ thể nhưng có thể hình dung số lượng các vụ án có tình trạng bức cung nhục hình ở Việt Nam là vô cùng lớn. Số trường hợp bị nhục hình thì không dám chắc nhưng nạn bức cung có khả năng xảy ra ở 100% các vụ án.

Vấn nạn bức cung phổ biến lớn rộng như thế không phải do một vài sai phạm nghiệp vụ mà nó có nguyên nhân từ chính sự cho phép của luật. Điều này có vẻ vô lý, luật nào cho phép được bức cung? Nhưng sự thực đúng là như thế.

Bộ Luật Tố tụng Hình sự đã quy định nghiêm cấm mọi hình thức truy bức nhục hình, tức là chỉ chấp nhận những lời khai tự nguyện. Nếu bị cáo không tự nguyện khai báo thì thôi, không được sử dụng bất kỳ thủ pháp nghiệp vụ nào buộc người ta phải khai, vì luật cấm mọi hình thức truy bức.

Nhưng Bộ Luật Hình sự lại có điều luật xử phạt tù đối với hành vi từ chối khai báo, theo đó Điều 308 quy định về tội từ chối khai báo đã viết rằng: “Người nào từ chối khai báo hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do chính đáng thì có thể bị phạt tù từ ba tháng đến một năm”.

Lý do chính đáng ở đây là gì? Để tự bảo vệ tính mệnh và tự do của mình có phải là một lý do chính đáng không? Trường hợp nào mà bị cáo chẳng có lý do chính đáng là tự bảo vệ mình? Như thế thì trường hợp nào bị cáo cũng phải có quyền từ chối khai báo chứ?

Tại sao bị cáo lại phải nói ra những điều mà nó chính là chứng cứ để người ta kết tội lại mình? Có ai là người tự nguyện trong việc này?

Dọa nạt bỏ tù người ta nếu không chịu tự nguyện khai báo, đó chẳng phải là một hình thức bức cung thì là gì?

Như thế, chính quy định của luật đã tạo ra tình trạng bức cung nhục hình. Quy định như thế đã tạo cho điều tra viên tính hợp pháp về mặt luật pháp để bức cung, và giải thoát cho họ mặc cảm tội lỗi về mặt đạo đức nếu có. Và đó là lý do vì sao vấn nạn bức cung phổ biến ở hầu như 100% các vụ án.

Vấn đề của năng lực

Dương Chí Dũng

Bị cáo Dương Chí Dũng cũng từng tố cáo trước Tòa mình bị bức cung

Quy định của luật lệch lạc như thế không phải nhà làm luật không biết, mà họ có lý do để duy trì điểm mâu thuẫn vô lý đó.

Sự vô lý của luật thực ra là hệ quả phản ánh thực tế năng lực thực thi pháp luật của hệ thống tư pháp Việt Nam. Về mặt nghiệp vụ nếu không buộc được bị can khai báo thì điều tra viên không có đủ khả năng để xét đoán sự việc và điều tra nghi phạm.

Hoạt động điều tra là lần theo manh mối dấu vết tội phạm, mà muốn làm được điều này thì phải có khả năng xét đoán, ngoài ra cần có trang thiết bị máy móc hiện đại phục vụ cho công tác điều tra.

Nhưng ở Việt Nam thì cả hai vấn đề này đều thiếu, điều tra viên thì kém năng lực, thế mạnh chủ yếu dựa vào việc áp chế người khác, thể hiện qua việc bắt bớ giam cầm, bức cung nhục hình buộc phải khai nhận. Về mặt trang thiết bị máy móc thì có lẽ cũng còn thiếu sự đầu tư nhất định.

Vì tình hình thực tế như vậy cho nên khi soạn luật người ta đã lần lựa đưa vào hay bỏ ra các quy định như thế nào để phù hợp với năng lực thực tế của cơ quan điều tra.

Tức là nhà làm luật đã không được tự do thoải mái đứng hẳn về phía các chế định pháp lý văn minh tiến bộ.

Hệ quả là có những quy định luật mang tính nửa vời, vừa tỏ ra tiến bộ, nhưng xét kỹ lại là lổng hổng.

Tại sao luật không quy định bị cáo được quyền giữ im lặng và chỉ đồng ý khai báo khi có sự tham gia của luật sư bào chữa, như vậy sẽ đảm bảo tiệt nọc tình trạng bức cung nhục hình? Mà lại chỉ quy định nghiêm cấm mọi hình thức truy bức nhục hình, trong khi cả hai lối quy định cũng chỉ nhằm một mục đích là đảm bảo những lời khai phải là tự nguyện?

Hệ thống tư pháp Việt Nam có nhiều lỗ hổng có thể bị lợi dụng?

Đây là một chế định pháp lý văn minh tiến bộ để bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân, không thể không đưa vào luật. Nhưng các nhà làm luật đã sử dụng xảo thuật để vừa tỏ ra tôn trọng chân giá trị vừa tìm cách đáp ứng đòi hỏi thực tế của hoạt động điều tra trong khi giải thoát cho mình khỏi mặc cảm tội lỗi ở khâu làm luật.

Các nhà soạn luật hẳn đã tự biện minh rằng, chúng tôi đã quy định nghiêm cấm mọi hình thức bức cung nhục hình rồi, còn thực hiện như thế nào là do thực tế và đó là trách nhiệm của cơ quan điều tra.

Họ đã bỏ qua tình hình thực tế về điều kiện giam giữ người và quy trình làm việc không bị giám sát của cơ quan điều tra. Thực tế như vậy cộng hưởng với quy định lập lờ nửa vời của luật đã dẫn đến vấn nạn bức cung nhục hình phổ biến rộng khắp.

Cho nên vấn nạn bức cung nhục hình phải giải quyết ở khâu soạn luật chứ không chỉ giải quyết ở khâu thực thi pháp luật.

Các nhà soạn luật cũng tìm cách để xoa dịu hậu quả của tình trạng bức cung nhục hình bằng cách đưa vào chế định rằng nếu thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải sẽ được đánh giá là tình tiết giảm nhẹ để giảm mức án cho bị cáo.

Việc này cũng giúp lấp liếm đi tình trạng bức cung của cơ quan điều tra. Có những vụ án bị cáo ban đầu chối bay chối biến, sau khi bị bức cung nhục hình thì đã khai nhận hành vi phạm tội, đến khi xét xử lại được đánh giá là thành khẩn khai báo và được giảm án.

Biết bao nhiêu vụ án đã như vậy, nhưng chẳng mấy ai thắc mắc là vì đâu bị cáo thay đổi lời khai từ chối tội sang nhận tội.

Vấn đề niềm tin

Ngô Thanh Kiều là nạn nhân của nạn bức cung nhục hìnhcủa công an

Vấn nạn bức cung nhục hình không chỉ phản ánh năng lực trình độ của cán bộ điều tra mà nó còn phản ánh nhận thức lệch lạc của những người giải quyết án, bao gồm cả kiểm sát viên, thẩm phán, luật sư.

Ở Việt Nam lâu nay người ta đặt rất nặng vấn đề chứng cứ và yêu cầu việc xử án phải theo chứng cứ. Nhận thức này xem qua thì cho đó là lối làm việc khách quan khoa học đảm bảo tính chắc chắn và thực ra thì việc đòi hỏi phải có chứng cứ là tốt và đương nhiên.

Nhưng nó sẽ là sai lầm nếu coi chứng cứ là vấn đề duy nhất khi giải quyết một vụ án.

Trong vụ oan sai của ông Nguyễn Thanh Chấn, khi nêu ra vấn đề cần xử lý các điều tra viên về tội bức cung nhục hình thì có ý kiến thắc mắc là lấy đâu ra chứng cứ chứng minh việc bức cung nhục hình?

Đây thực ra là một nhận thức sai lệch nghiêm trọng của không chỉ người dân mà cả các chuyên gia về luật, mà từ đó góp phần tạo nên vấn nạn bức cung nhục hình.

Chúng ta biết rằng chứng cứ nhằm để chứng minh, chứng minh nhằm để thuyết phục, vậy nếu sự việc đã đủ sức thuyết phục rồi, sự thật đã hiển nhiên rồi thì không cần phải chứng minh nữa và không cần chứng cứ.

Ông Chấn nếu không bị bức cung nhục hình thì tại sao lại nhận một tội mà mình không hề phạm? Mà cái tội đó nào có nhẹ nhàng gì, nếu bố ông Chấn không phải là liệt sĩ nên ông Chấn được giảm án thì có lẽ ông đã bị tử hình rồi.

Việc ông Chấn bị bức cung nhục hình là điều không còn có thể tranh cãi nữa.

Mặc dù không hề có chứng cứ nhưng chúng ta có thể xác quyết bằng niềm tin.

Niềm tin nội tâm

Nguyễn Thân Thảo Thành nhận mức án nhẹ trong vụ án làm chết Ngô Thanh Kiều

Trong lĩnh vực tư pháp có một khái niệm là “niềm tin nội tâm”. Niềm tin này là cơ sở xét đoán của mọi người tham gia vào hoạt động xét xử. Cả điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, luật sư đều phải dựa vào niềm tin nội tâm để xét đoán sự việc.

Bởi vì tất cả những người này dù thế nào đi nữa thì họ cũng không phải là bị cáo, họ không thể chắc chắn bị cáo có phải là hung thủ hay không. Cho nên khi quy kết buộc tội hay bào chữa gỡ tội chỉ có thể dựa vào niềm tin nội tâm.

Niềm tin nội tâm được tạo thành từ những hiểu biết về vụ án thông qua các tài liệu chứng cứ, qua nghiên cứu hiện trường, hồ sơ vụ án, thông tin về nhân thân bị cáo …

Ở Việt Nam lâu nay, khi xét xử người ta ít sử dụng đến niềm tin nội tâm, và khái niệm niềm tin nội tâm chỉ nằm gọn hạn hẹp trong các nghiên cứu về học thuật. Lý do có lẽ vì niềm tin là thành tố có tính tôn giáo trong khi chính thể hiện tại là vô thần.

Thay vì xét xử dựa vào niềm tin nội tâm trong đó chứng cứ chỉ là một thành tố tạo thành (ngoài chứng cứ còn cần trình độ kinh nghiệm để tạo nên niềm tin xét đoán), việc xét xử hiện nay đặt nặng vào chứng cứ, chứng cứ thế nào không quan trọng, miễn là phải có chứng cứ.

Nếu giải quyết án cứ phải có chứng cứ rõ ràng thì chỉ cần một người phán quyết là đủ, cần gì phải hội đồng nhiều người, và cũng chỉ cần một lần xét xử là được cần gì phải qua hai cấp?

Cái lối xét xử đặt nặng chứng cứ mà không dựa vào niềm tin nội tâm sẽ không lý giải được là dựa vào đâu mà người ta có thể tuyên án trong khi vụ án có cả chứng cứ kết tội và chứng cứ gỡ tội.

Vì nhận thức như thế nên trong lối làm việc người ta phải tìm ra bằng được chứng cứ. Luật cũng phụ họa cho việc này khi bỏ qua đòi hỏi về tính khách quan đã quy định lời khai của bị can cũng là chứng cứ.

Và khi gặp khó khăn trong các lối điều tra khác thì dễ dàng nhất là tiến hành bắt giam bức cung buộc bị can phải khai báo.

Đó là lý do vì sao tình trạng bức cung nhục hình tràn lan như hiện nay.

 

N.N.T

Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Phạm Chí Dũng: Vì sao ông Phạm Quang Nghị diện kiến chính giới Mỹ?

Phạm Chí Dũng: Vì sao ông Phạm Quang Nghị diện kiến chính giới Mỹ?

Thụy My

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng.

Chuyến đi Mỹ của Ngoại trưởng Việt Nam Phạm Bình Minh theo lời mời của Hoa Kỳ, nhất là sau sự kiện Trung Quốc ngang nhiên đưa giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tại Hoàng Sa, được nhiều người chờ đợi nhưng mãi vẫn không thấy động tĩnh gì. Trong khi mới đây lại bất ngờ có tin ông Phạm Quang Nghị, ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội viếng thăm nước Mỹ.

Có dư luận cho rằng bên cạnh xu hướng mở rộng về phía phương Tây, chuyến đi của nhân vật này còn nhằm nâng cao uy tín trong cuộc chạy đua giành ngôi thứ tại Đại hội Đảng lần thứ 12 sắp tới.

Chúng tôi đã đặt câu hỏi về vấn đề trên với nhà bình luận Phạm Chí Dũng ở Saigon.

RFI : Thân chào nhà bình lun Phm Chí Dũng. Anh có nhn đnh như thế nào v chuyến đi Mkhá bt ng ca ông Phm Quang Ngh ?

Nhà bình lun Phm Chí Dũng : Đúng ra là ông Phạm Bình Minh đã được đi Mỹ vào tháng 5/2014, sau vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc và sau lời mời cấp tốc của ông John Kerry, Ngoại trưởng Hoa Kỳ. Nhưng điều ngạc nhiên là hơn hai tháng qua, ông Phạm Bình Minh đã chẳng đi đâu cả, thay vào đó là một ủy viên Bộ Chính trị, cấp cao hơn hẳn so với ông. Chỉ có điều là người cùng họ với ông Phạm Bình Minh lại không hề đảm trách công việc ngoại giao, mà lại là người của khối Đảng.

Người ta dễ suy luận, có thể đây là quan hệ chỉ giữa các đảng chính trị với nhau thôi, mà không phải thực hiện công việc ngoại giao thường thấy như ông Phạm Bình Minh. Có lẽ là càng không phải giải quyết một vấn đề gì thuộc về mối quan hệ xung khắc ở Biển Đông, mà Hoa Kỳ là một thành tố tham gia cùng với Việt Nam.

RFI : Nếu như vy, chuyến đi này theo anh có mc đích gì ?

Người ta đang cân nhắc về một số mục đích của ông Phạm Quang Nghị. Vì đây là một sự xuất hiện đột ngột và khá kỳ lạ – theo dư luận là như vậy. Sự xuất hiện của ông Phạm Quang Nghị trong bối cảnh này đã dấy lên hàng loạt câu hỏi, cũng như cách đây đúng một năm, vào tháng 7/2013 sự xuất hiện tương đối bất ngờ của ông Trương Tấn Sang ở Nhà Trắng. Nhưng dù sao đó cũng là một cuộc gặp chính thức với Tổng thống Barack Obama.

Còn lần này thì có lẽ ông Phạm Quang Nghị đến chỉ với một tư cách ẩn giấu nào đó, vì chuyến đi của ông thực hiện từ ngày 21/7, nhưng đến hơn hai ngày sau báo chí Việt Nam mới đưa tin, và cũng chỉ đưa tin một cách dè dặt. Trong khi đó, báo chí nước ngoài gần như không thông tin về chuyến công du của ông Phạm Quang Nghị. Điều đó gợi cho người ta những câu hỏi là ông Phạm Quang Nghị với vai trò gì và với những mục tiêu như thế nào ?

Theo tôi, có lẽ chuyến đi của ông nằm trong bối cảnh ông Phạm Bình Minh chưa được đi Mỹ, và mới cách đây một tháng đã diễn ra chuyến đi đến Hà Nội của Dương Khiết Trì – ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc.

Điều này cho thấy có lẽ những người bên Đảng đã thấy rằng, đến lúc này họ phải nâng cao tinh thần và vai trò của họ: vai trò Đảng lãnh đạo toàn diện, chứ không phải là Chính phủ. Chính phủ chỉ đóng vai trò quản lý, và nhân dân cùng lắm chỉ là vai trò « làm chủ » mà thôi. Còn trên hết, cao hơn tất cả vẫn là Đảng.

Lý do thứ hai theo dư luận, hiện nay mối quan hệ Việt Nam và Mỹ dường như đang xích lại gần nhau. Đặc biệt là sau những vụ xung đột giữa Trung Quốc và Việt Nam tại Biển Đông, làm cho ngay cả những người bảo thủở Hà Nội cũng phải nhận ra rằng họ không thể trông chờ quá nhiều vào Trung Quốc, vào « Thiên triều ». Họ cần có một cánh tay hỗ trợ nào đó từ phía phương Tây, và Mỹ chính là một quốc gia năng nổ, tích cực nhất về việc này.

Chúng ta đã biết là vào trung tuần tháng Bảy, Thượng nghị viện Mỹ đã biểu quyết nhất trí đến 100% bản nghị quyết số 412, yêu cầu Trung Quốc trở về nguyên trạng trước thời điểm tháng 5/2014. Trước đó, phát biểu tại trường đại học quân sự West Point, Tổng thống Barack Obama cũng đã nói thẳng khả năng Mỹ có thể điều binh lực tới khu vực Biển Đông, nếu tại đây xảy ra xung đột.

Điều đó cho thấy chỉ có Mỹ mới có thể là một đối tác chiến lược hoặc một đối tác quân sự hỗ trợ cho Việt Nam trong hoàn cảnh này. Nó tác động đến tâm lý những người bảo thủở Hà Nội. Chính vì vậy, họ đã quyết định đi Mỹ.

Nhưng không phải ông Nguyễn Phú Trọng đi Mỹ, mà là ông Phạm Quang Nghị.  Tôi cũng muốn nhắc lại, trong năm 2013 ông Nguyễn Phú Trọng chưa hề đặt chân đến Mỹ mà chỉ có ông Trương Tấn Sang gặp Tổng thống Barack Obama. Và ông Nguyễn Tấn Dũng được coi là có một chuyến đi đàm phán về TPP tại New York với Bộ trưởng Thương mại Mỹ. Trong khi đó ông Nguyễn Phú Trọng chỉ đến Thái Lan để thăm hỏi, làm việc với nữ Thủ tướng Yingluck – hiện nay đã bị truất quyền, và đến một trường đại học Thái Lan để nhận tấm bằng danh dự về chính trị học mà thôi.

Chính vì thế, bên Đảng có lẽ thấy cần phải nâng cao vai trò của họ, và đã quyết định để ông Phạm Quang Nghị đi – ông cũng là một người được coi là ứng cử viên sáng giá cho cương vị Tổng bí thư. Ông Phạm Quang Nghị đi Mỹ, cũng là ra mắt chính giới Mỹ – ít nhất là có một chút diện kiến.

RFI : Chúng ta va đt gi thiết chuyến đi này có liên h ti vn đ Bin Đông hay nhm nâng tm các nhân vt trong đng, nhưng nếu theo dõi thì người ta thy các chính khách M mà ông Phm Quang Ngh tiếp xúc không phi là cao cp lm…

Đúng là như vậy. Có một điều đáng tiếc cho ông Phạm Quang Nghị là ông đã không được gặp chính Ngoại trưởng Mỹ trong chuyến đi lần này, ít nhất là cho tới giờ phút này. Thay vào đó, chỉ có Thứ trưởng Ngoại giao Wendy Sherman tới gặp ông Nghị để chào và chuyển lời thăm hỏi của ông John Kerry.

Tại Washington, ông Phạm Quang Nghị đã có những cuộc làm việc với Cố vấn cao cấp của Ngoại trưởng John Kerry là ông Thomas Shannon, và một Phó cố vấn an ninh quốc gia phụ trách đối ngoại là ông Tony Blinken. Có lẽ nhân vật cao cấp nhất mà ông Phạm Quang Nghị có được cuộc tiếp xúc là Chủ tịch thường trực Thượng viện Mỹ Patrick Leahy và Thượng nghị sĩ John McCain.

Như vậy, không có người đồng cấp nào ở Mỹ gặp ông Phạm Quang Nghị, như những nhân vật mà ông đã gặp ở Bắc Kinh cách đây mười tháng.

Tôi muốn nhắc lại, tháng Chín năm ngoái tại Trung Nam Hải, ông Phạm Quang Nghị đã được tiếp thân mật bởi Trương Cao Lệ, ủy viên thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc kiêm Phó thủ tướng Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Và ông Phạm Quang Nghị còn hội đàm với ủy viên Bộ Chính trị kiêm Bí thư Thành ủy Bắc Kinh Quách Kim Long. Khi đó, cả Trương Cao Lệ lẫn Quách Kim Long đều ca tụng là «Đng và Chính ph Trung Quc hết sc coi trng phát trin quan h hu ngh hp tác vi Vit Nam», «đánh giá cao s phát trin mi trong quan h hai Đng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước trong thi gian qua».

Chỉ có điều, ông Phạm Quang Nghị là một người rất kín tiếng. Tất cả những vụ việc mà khi ông Chủ tịch Thượng viện Mỹ Patrick Leahy cũng như Thượng nghị sĩ John McCain nêu ra như chủ đề chính về Biển Đông, thì nghe nói là ông Phạm Quang Nghị đã không trả lời, hoặc né tránh. Và ở đây thì cũng vậy thôi.

Chúng ta biết là ở Việt Nam, những vụ tàu Trung Quốc cố tình đâm va, gây hấn với ngư dân Việt, ông Phạm Quang Nghị đã gần như không hề lên tiếng. Người ta có cảm giác ông không chỉ là một nhân vật kín tiếng, mà còn là nhân vật «nín » tiếng. Điều đó hoàn toàn không có lợi cho ông, ít nhất trong mối tương quan so sánh với ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Việt Nam.

Vì dù sao ông Nguyễn Tấn Dũng vào tháng 11/2011 còn ra trước Quốc hội, để gióng lên được một tiếng nói – dù là tiếng nói nhỏ nhoi và sau đó không làm gì cả. Đó là việc cần phải có một bản nghị quyết về Biển Đông về bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, cũng như cần có Luật Biểu tình. Và vào tháng 5/2014 tại Manila, Philippines, ông cũng đã đề cập một cách bóng gió tới điều được gọi là «tình hu ngh vin vông» đối với Trung Quốc.  Mặc dù sau đó chưa thấy hành động gì tiếp theo, nhưng dù sao vẫn còn hơn các ủy viên Bộ Chính trị khác.

RFI : Tóm li chuyến đi ca ông Phm Quang Ngh ln này có th đưa ra mt thông đip như thếnào, theo anh ?

Có một dấu hiệu đáng chú ý như thế này. Ông Phạm Quang Nghị dù chỉ là một ủy viên Bộ Chính trịthường, và chỉ là Bí thư Thành ủy Hà Nội, nhưng những vấn đề ông đề cập trong chuyến đi này với Thượng viện Mỹ, với Thượng nghị sĩ John McCain, lại mang tầm cỡ mà tôi có cảm giác như của một nguyên thủ quốc gia. Đề cập tới những vấn đề của quốc gia, chứ không phải của thành phố Hà Nội.

Chẳng hạn như mở rộng thị trường cho hàng hóa do Việt Nam sản xuất, hay là hạ rào cản thương mại, khuyến khích đầu tư vào Việt Nam, và đề nghị Mỹ thừa nhận kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Chúng ta để ý là đề nghịthừa nhận là nền kinh tế thị trường trước đây chỉ có ông Trương Tấn Sang và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề cập với giàn Bộ trưởng Thương mại Mỹ và những người đồng cấp.

Ngoài ra ông Phạm Quang Nghị trong buổi làm việc với Viện Dân chủ Quốc gia và Viện Cộng hòa Quốc tế của Hoa Kỳ, cũng được mô tả là đã «nêu bt ý nghĩa ca quan h Đi tác toàn din gia hai nước, theo tinh thn Tuyên b chung Vit Nam – M, trong đó hai nước cam kết tôn trng đc lp, ch quyn, toàn vn lãnh th và th chế chính tr ca nhau và khuyến khích các cuc đi thoi và trao đi gia các cơ quan Đng ca hai nước».

Báo chí Việt Nam tả khá trọng thị thế này : «Trên tinh thn đó, ông (Phm Quang Ngh) hoan nghênh nhng bước đi ban đu nhm tìm hiu, nghiên cu kh năng trao đi gia Đng Cng sn Vit Nam vi các đng tham chính M trong thi gian ti».

Như vậy là khẩu khí và những vấn đề mà ông Phạm Quang Nghị đề cập là khẩu khí giống như của một nguyên thủ, và có thể còn cao hơn nữa: là một Tổng bí thư Đảng. Điều đó cũng phù hợp với dư luận hiện nay, cho rằng ông đang là một ứng cử viên sáng giá cùng với ông Nguyễn Tấn Dũng cho chức vụ Tổng bí thư tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 12 vào năm 2016 sắp tới.

Nếu việc này diễn ra, có lẽ mối quan hệ với giới chính khách Mỹ sẽ tạo thuận lợi cho ông Phạm Quang Nghị. Và có thể thấy chuyến đi này cho dù ông Nghị không tiếp xúc trực tiếp được Bộ trưởng Ngoại giao, và càng không được diện kiến Tổng thống hay Phó tổng thống Hoa Kỳ, nhưng ông cũng đã có buổi ra mắt đối với chính giới Mỹ. Ít nhất cũng để họ biết ông là ai, và một ứng viên cho cương vị Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam là người như thế nào.

RFI Như vy dù không được chính thc thông báo trước, nhưng có th coi đây là mt nhân vt cao cp đu tiên trong đng Cng sn Vit Nam tiếp xúc vi Hoa Kỳ, trong khi các cuc gp gtrước đây thường ch t phía Chính ph ?

Hoàn toàn đúng. Khi phân công một nhân vật trong Bộ Chính trị, tất nhiên người ta có thể tính tới cương vị Chủ tịch nước hoặc Thủ tướng – cũng là những ủy viên Bộ Chính trị, tất nhiên là cao cấp hơn Bí thư Thành ủy Hà Nội. Nhưng tại sao lại là ông Phạm Quang Nghị đi, mà không phải là ông Trương Tấn Sang hay ông Nguyễn Tấn Dũng ?

Điều đó gợi ra một ý: ông Phạm Quang Nghị có thể được coi là một «thái tử đảng» trong thời gian sắp tới. Và ông Nguyễn Phú Trọng đã chọn ông Phạm Quang Nghị thay vì ông Phạm Bình Minh để đi Mỹ, nhằm giới thiệu, ra mắt chính giới Mỹ.

Thứ nữa trên bình diện chung, có thể khiến chúng ta hình dung là bối cảnh đang dần chuyển biến. Thậm chí sắp tới có thể có những bước chuyển biến tương đối đột biến về mặt chính trị. Như thế càng cho thấy là Việt Nam đang dần dần âm thầm thực hiện một chính sách «xoay trục» sang phương Tây. Đặc biệt là sau sự  kiện giàn khoan Hải Dương 981, lộ rõ ý đồ thôn tính của Trung Quốc đối với Việt Nam.

Vì ngay cả những người bảo thủ Việt Nam cũng đang phải tính tới việc dựa vào Mỹ. Mặc dù họ không dám tuyên bố chính thức ra, nhưng hành động của họ cho thấy điều đó. Và có một điểm thú vị thế này: chúng tôi có cảm giác như là bối cảnh Việt Nam đang gần giống những gì mà Miến Điện đã trải qua vào cuối năm 2010 bước sang năm 2011.

RFI : Anh có cho là Vit Nam cũng s chuyn đi như Miến Đin đã làm, dù ch mt phn ?

Chúng ta biết là cuối năm 2010, ông Thein Sein đã trở thành Tổng thống dân sự đầu tiên của Miến Điện. Đến năm 2011, ông đã phóng thích nữ lãnh tụ đối lập của đảng Liên đoàn Quốc gia Vì dân chủ, bà Aung San Suu Kyi. Và sau đó Miến Điện trải qua hàng loạt biến đổi, thậm chí được coi là những biến đổi ngoạn mục, dân chủ hóa, mở rộng.

Gần đây nhất Miến Điện vừa chính thức hủy bỏ một dự án lên tới 20 tỉ đô la của Trung Quốc – một dự án đường sắt chạy tới tận Côn Minh, bởi áp lực dư luận từ người dân trong nước quá lớn.

Có một chút hy vọng là xu hướng chính trị Việt Nam đang chuyển đổi dần như xu hướng của Miến Điện trong những năm qua. Mặc dù độ trễ chuyển đổi của Việt Nam so với Miến Điện là khoảng ba năm, nhưng bắt đầu từ bây giờ vẫn còn kịp !

Nếu chính quyền Than Shwe ở Miến Điện trước đây thấy rằng dứt khoát phải chuyển đổi – và Than Shwe đã ủy nhiệm cho Thein Sein làm việc đó, nếu không thì đất nước sẽ tan hoang, nội chiến, nền kinh tế sẽ sụp đổ – thì những người cộng sản, tôi muốn nhấn mạnh là những người cộng sản bảo thủở Việt Nam, có lẽ cũng đang nhận ra điều đó.

Thậm chí nhận ra một cách sâu sắc. Rằng tất cả những vấn nạn, những hệ quả của xã hội Việt Nam, nền kinh tế Việt Nam và sẽ dắt dây tới nền chính trị Việt Nam, rất có thể sẽ sụp đổ trong những năm tới nếu không thay đổi. Chính vì vậy, có lẽ là họ đang nghiên cứu kịch bản Miến Điện. Làm thế nào để có một sự chuyển đổi yên bình, không đổ máu, mà họ vẫn giữ được quyền lực. Tất cả vẫn còn hầu như y nguyên, chỉ chia bớt cho dân chúng một số quyền dân chủ nào đó.

Và nếu điều đó được thực hiện – tôi giả thiết là được thực hiện với vai trò của ông Phạm Quang Nghị chẳng hạn – thì dù sao cũng có thể coi đó là một tín hiệu tích cực. Như thế, chuyến đi Mỹ lần này của ông là tiền đề cho những dấu hiệu tích cực sau này.

Mặc dù chưa thể nói là những người cộng sản bảo thủở Việt Nam họ đã thực sự hồi tâm hay thành tâm, trước tất cả những việc cần phải làm cho dân chủ hóa đất nước sắp tới. Nhưng dù sao theo tôi, trong giai đoạn vài năm tới với những dấu hiệu đã chuyển biến từ bây giờ, sẽ là cơ hội cho dân chủ, nhân quyền và xã hội dân sựở Việt Nam.

RFI : Có l khi đem giàn khoan đến Hoàng Sa, h qu mà Bc Kinh không ng là vic Vit Nam « xoay trc » ?

Tất cả cần cô đọng ở một câu thôi: «Cám ơn giàn khoan Hi Dương 981 !»

RFI : Xin rt cm ơn nhà bình lun Phm Chí Dũng đã vui lòng nhn tr li phng vn ca RFI Vit ng hôm nay.

T.M

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Blog at WordPress.com.