Daily Archives: August 10, 2014

Đắm say với bức tranh đồng quê An Giang

Đắm say với bức tranh đồng quê An

Giang

Vẻ đẹp của An Giang dịu dàng, quyến rũ dễ làm say đắm lòng người khi đến đây. Mời bạn cùng chiêm ngưỡng những khung ảnh tuyệt vời về An Giang qua con mắt của một phượt thủ.

Là một phần của vùng Tứ giác Long Xuyên, hàng năm An Giang hiển nhiên là một trong những tỉnh miền Tây chịu sự ảnh hưởng rất lớn của nước lũ đổ về. Vùng đất hào sảng đặc trưng miền Tây này còn chứa đựng trong lòng nó một nền văn hóa Óc Eo độc đáo, là cơ sở để tìm hiểu về một vương quốc Phù Nam đã từng rực rỡ trong quá khứ.

Tôi đến An Giang vào những ngày mưa tầm tã, vì những lời rủ rê nhiệt tình và chân thành của bạn bè, vì những bức ảnh tuyệt đẹp về những cánh đồng vàng ươm mùa thu hoạch, và vì sự quyến rũ ngọt ngào của hương thốt nốt thơm nồng…Và An Giang hiện ra, giản dị và rực rỡ, hào sảng và nhiệt thành, hơn cả những gì tôi mong đợi..

An Giang, thốt nốt, vẻ đẹp

An Giang vào mùa mưa, và chúng tôi đều chuẩn bị tâm lý đón những trận mưa tầm tã giữa hè. Tuy nhiên, có một sự may mắn nào đó, vì vùng đất tuyệt vời này đón chúng tôi bằng màu trời xanh ngọc bích, bằng những cụm mây trắng vờn quanh những dãy núi cao vời vợi, bằng ánh nắng chói chang vàng ruộm những cánh đồng bát ngát…

Từ Long Xuyên, chúng tôi chạy về Tri Tôn, hướng về những cánh đồng lúa với một màu vàng ruộm mùa thu hoạch và lác đác xanh ngát lúa trổ đòng. Vi vu trên những con đường thênh thang, phơi phới với mây trời mênh mông và những cánh đồng, lại càng thấy yêu quê hương tươi đẹp hơn.

An Giang, thốt nốt, vẻ đẹp

Điểm đến đầu tiên là cánh đồng Tà Pạ (cách thị trấn Tri Tôn khoảng 1 km). Nhìn từ trên cao, Tà Pạ như một tấm thảm xanh ngút ngàn màu lúa non, lác đác điểm tô bằng những ngọn thốt nốt cao vút. Thời diểm chúng tôi đến, Tà Pạ đã qua mùa thu hoạch, và người dân ở đây cũng đã cấy xong vụ mới. Mạ non xanh ngát, tuy nhiên vì quá mới nên chưa xanh đều, chưa bắt mắt…

An Giang, thốt nốt, vẻ đẹp

Ở An Giang nói riêng, và miền Tây nói chung có một thông lệ khá đặc biệt về việc trồng lúa, cũng được xem là một nét văn hóa đặc sắc của nên nông nghiệp lúa nước có từ lâu đời. Đó là tập quán “làm ruộng vần công”, mỗi khi cày cấy thường tập hợp cùng nhau làm hết thửa ruộng này đến thửa ruộng khác. Chính vì người nông dân Khmer vẫn còn giữ tập quán đó, mà những cánh đồng ở Tà Pạ mang một sắc thái lạ lùng. Gần đến mùa thu hoạch, cánh đồng sẽ chuyển thành nhiều mảng màu rực rỡ: màu xanh mượt màu của lúa đang ngậm đồng, màu vàng nhạt của lúa vừa trổ hạt, màu vàng tươi rạng rỡ của lúa sắp vào vụ gặt, màu vàng đậm trĩu hạt của những khoảnh ruộng đang mùa thu hoạch, và cả màu nâu sạm loang lổ của gốc rạ lởm chởm, chơ vơ…

An Giang, thốt nốt, vẻ đẹp

Từ trên nhìn xuống, cánh đồng Tà Pạ tuy chưa mượt mà và nhiều màu sắc, nhưng cũng đủ làm say lòng khách lãng du, nhất là những ai mê nhìn cuộc sống qua con mắt của máy ảnh. Núi Tà Pạ, một ngọn núi đá hoa cương đã từng bị khai thác một cách ồ ạt và triệt để nên một phần ngọn núi trở thành lởm chởm với nhiều hình thù độc đáo khác nhau. Chính vì bị đào bới quá nhiều, nên dần tạo thành một số hồ nước nhỏ, soi bóng các mỏm đá hoa cương, tạo thành một bức tranh sơn thủy hết sức kỳ vĩ.

An Giang, thốt nốt, vẻ đẹp

Bức họa đồng quê tất nhiên sẽ kém vui, thiếu sinh động nếu không có hình ảnh chân chất của người An Giang. Với hơn 2,2 triệu người, An Giang là tỉnh có đông dân số nhất ĐBSCL, trong đó người Khmer chiếm đến 3.9%, tập trung chủ yếu ở 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên. Trong chuyến đi này, chúng tôi được anh Hậu dẫn vào một ngôi chùa Khmer vào đúng ngày rằm. Chùa chiền không chỉ là nơi thờ tự mà còn là một điểm sinh hoạt văn hóa, một loại hình trường học cho thanh thiếu niên bản xứ…

An Giang, thốt nốt, vẻ đẹp

An Giang, thốt nốt, vẻ đẹp

Điểm đến tiếp theo trong ngày hôm đó là hồ Soài So, nhưng tiếc thay, trong chương trình nạo vét hay nâng cấp gì đấy, hồ Soài So bị hút cạn khô nước, máy kéo máy ủi quật tung cả cái hồ lên. Thế là cả đám tiu nghỉu vòng xe đi tiếp.

Nhân cũng xin nói một chút về hồ Soài So và núi Tô. Có dung tích khoảng 400.000 m3 nước, hồ Soài So nằm yên lặng dưới chân núi Tô, bao quanh là cây lá xanh rờn, tạo thành một không gian sơn thủy hữu tình hiếm có. Ngoài việc để phục vụ du lịch, hồ nước rộng gần 5 ha này còn là nguồn nước sinh hoạt của bà con xung quanh. Điểm độc đáo của hồ Soài So không chỉ là không gian tĩnh lặng giữa núi rừng, mà là những cây thốt nốt mọc giữa hồ, soi bóng xuống lòng hồ phẳng lặng, đẹp đến nao lòng…

May mắn, tôi đã từng đến hồ Soài So cách đây một năm, sau những cơn mưa rào nặng hạt, hồ Soài So hiện ra trong lành, mơn mởn, cảm giác mát lạnh giữa một vùng cây cối xanh um…

An Giang, thốt nốt, vẻ đẹp

An Giang, cảnh sắc dễ làm ngây ngất lòng người, và thức ăn mang phong vị vùng đất trù phú miền Tây này còn để lại nhiều ấn tượng. Nếu đến Châu Đốc, xin đừng bỏ qua món bún cá đặc trưng, khác hẳn những nơi khác. Trong một buổi chiều lắc rắc mưa, ngồi cạnh nhau húp xì xụp tô bún nóng hổi, nước dùng trong vắt, ngọt thanh, vị cá đồng bùi bùi… quả thật chẳng món gì bằng. Nếu có đi ngang Tri Tôn, hãy ghé lại quán ven đường và thử món bánh canh Vĩnh Trung nhiều hương vị phong phú, cũng có thể thử một chút lạp bò thơm lừng, cháy xèo xèo trên bếp than… Ngon tuyệt!

An Giang, vùng đất của những cây thốt nốt lô nhô cao chót vót, nên hiển nhiên bạn phải thử một ly nước thốt nốt ngọt lịm, mát rượi trong buổi trưa nắng oi nồng. Vị thơm ngát và ngọt thanh của nước thốt nốt, miếng cơm thốt nốt dẻo dẻo cùng cái mát lạnh của nước đá, làm tan đi mọi cảm giác oi bức khó chịu giữa trưa hè ngột ngạt…

Nhưng, sự tuyệt vời nhất (theo ý tôi) chính là về An Giang đúng mùa lũ, mùa cá đổ đồng, và hãy thưởng thức món canh chua cá linh nấu bông điên điển, bạn sẽ cảm nhận được hết phong cách rặt-miền-Tây trong bữa cơm ngon miệng.

An Giang, thốt nốt, vẻ đẹp
Lạp bò, một trong những đặc sản An Giang.
An Giang, thốt nốt, vẻ đẹp
Thốt nốt, không thể bỏ qua khi đến An Giang.

Nước lũ về miền Tây không hề giống lũ lụt miền Trung. Nước về miền Tây hiền hòa và bao la lắm, có lẽ nước cũng hiểu được bụng dạ người đồng bằng, giản dị và hào sảng. Có thể mùa lũ gây nhiều thiệt hại, nhiều phiền toái, khó khăn đó, nhưng bà con miền Tây thương mến con nước như chính mảnh đất mà họ đang sống. Đơn giản vì con nước về chính là món quà mà sông mẹ bao la chở nặng về bồi đắp cho ảnh đất quê nhà…

(Theo Zing)

Advertisements
Categories: Cảnh-Đẹp | Leave a comment

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai

Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Fb Trần Huỳnh Duy Thức – Nhà hoạt động từ thiện và tôn giáo Mai Thị Dung, một nông dân cắt lúa, sinh năm 1969, đang tiếp tục bị hành hạ trong tù khi thụ án 11 năm sau 2 lần bị kết án.
Cùng chồng là ông Võ Văn Bửu, bà Mai Thị Dung – tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo – đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình, tuyệt thực cho các tín hữu đồng đạo, phản đối nhà cầm quyền CSVN tịch thu các cơ sở giáo hội và đàn áp tự do tôn giáo.
Bất chấp gia đình có hai người con dưới tuổi thành niên, ngày 5 tháng 8 năm 2005, công an Việt Nam bắt giữ cả hai vợ chồng Mai Thi Dung và Võ Văn Bửu. Ngày 19 tháng 9 năm 2005, Tòa án tỉnh An Giang kết án bà Mai Thị Dung 6 năm tù và chồng bà 7 năm vì tội “gây rối trật tự công cộng”. Trước đó không lâu, ông Võ Văn Bửu vừa mãn hạn tù 3 năm cũng vì tội danh tương tự.
Trong tù, bà Mai Thị Dung kiên trì tổ chức các lễ Phật. Vì lẽ đó, ngày 22 tháng 7 năm 2008, nhà cầm quyền đã phạt thêm 5 năm tù về tội “chống đối nhân viên công lực”, nâng tổng án tù mà bà Dung phải chịu lên 11 năm.
Suốt thời gian ở tù, mặc dù bệnh nặng, bà Mai Thị Dung luôn bị hành hạ, bị cấm nói chuyện với các tù nhân – bởi thái độ bất hợp tác với cai tù trong việc “ký biên bản nhận tội”. Bà từng tuyệt thực trong tù để phản đối ngược đãi và yêu cầu được đưa đi điều trị. Chỉ một ngày sau khi bà tuyệt thực, hôm mùng 2 tháng 10 năm 2013, từ trại giam Xuân Lộc – Đồng Nai, bà bị chuyển ra Bắc cùng với một tù nhân lương tâm khác vừa được trả tự do là Đỗ thị Minh Hạnh trên quãng đường 1700 km với chân tay bị xích còng nên đã nhiều lần ngất xỉu trong xe thùng bịt kín.
Hiện bà đang bị giam tại Phân trại 3 Thanh Xuân, xã Mỹ Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Nội với tình trạng sức khỏe nguy kịch trong điều kiện tù khắc nghiệt. Bà mắc nhiều chứng bệnh tim, gan, mật, dạ dày, chỉ có thể di chuyển bằng cách bò lê trên nền sàn vì không thể đứng vững – theo những gì chồng bà chứng kiến trong lần thăm cuối năm 2013. Ông Võ Văn Bửu đã ra tù vào tháng 8 năm 2012, sau khi đã thi hành án 7 năm tù giam.
Nhà cầm quyền Việt Nam xem Phật Giáo Hòa Hảo là kẻ thù. Phần lớn các hoạt động của giáo hội phải thực hiện bí mật. Nếu không, luôn có đông đảo an ninh chìm nổi theo dõi, bao vây, phá rối để có cớ bắt bớ những người tham gia lễ lạc.
11 tháng 7 năm 2014
 
Vietnam Human Rights News
vietnamhumanrightsnews@gmail.com
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

PHẢI CÔNG BỐ CÁC THỎA THUẬN Ở THÀNH ĐÔ CHO NHÂN DÂN BIẾT

PHẢI CÔNG BỐ CÁC THỎA THUẬN Ở THÀNH ĐÔ CHO NHÂN DÂN BIẾT

Nguyễn Đăng Quang

Cách đây 24 năm, ngày 3 và 4/9/1990, tại Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc) đã diễn ra cuộc họp thượng đỉnh giữa lãnh đạo Đảng Cộng sản và Nhà nước hai nước Trung Quốc và Việt Nam. Tham dự cuộc gặp,  phía TQ, dẫn đầu là Giang Trạch Dân – TBT Đảng CSTQ, và Lý Bằng – Thủ tướng Quốc vụ viện nước CHND Trung Hoa. Dẫn đầu đoàn VN là Nguyễn Văn Linh – TBT Đảng CSVN và Đỗ Mười, lúc đó là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (tức Thủ tướng Chính phủ) nước CHXHCN Việt Nam. Thành viên thứ ba của đoàn VN là Phạm Văn Đồng – Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng. Tháp tùng đoàn VN đến Thành Đô có 3 cán bộ cấp cao là Hồng Hà – Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, Hoàng Bích Sơn – Trưởng Ban đối ngoại Trung ương và Đinh Nho Liêm – Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Trên chuyên cơ đưa đoàn VN từ sân bay Nội Bài đi Thành Đô còn có cả Trương Đức Duy – Đại sứ đặc mệnh toàn quyền TQ tại VN. Song điều đặc biệt đáng chú ý là Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch không có tên trong danh sách tham dự cuộc họp này.

ngày 3 và 4/9/1990, tại Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc) đã diễn ra cuộc họp thượng đỉnh giữa lãnh đạo Đảng Cộng sản và Nhà nước hai nước Trung Quốc và Việt Nam.

ngày 3 và 4/9/1990, tại Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc) đã diễn ra cuộc họp thượng đỉnh giữa lãnh đạo Đảng Cộng sản và Nhà nước hai nước Trung Quốc và Việt Nam.

Trong cuộc gặp thượng đỉnh này tại Thành Đô, hai bên đã ký kết một văn bản thỏa thuận gọi là “Kỷ yếu Hội nghị” để chính thức bình thường hóa quan hệ hai nước và cùng nhau thực hiện những thỏa thuận vừa đạt được giữa lãnh đạo hai Đảng và hai Nhà nước. Cuộc gặp thượng đỉnh này cũng như nội dung thỏa thuận của Hội nghị Thành Đô từ đó cho đến nay vẫn luôn nằm trong bí mật và cho đến tận hôm nay – mặc dù 24 năm đã qua – nó vẫn chưa được chính thức công bố cho nhân dân VN cũng như các nước liên quan và cộng đồng quốc tế được biết!

Hội nghị Thành Đô diễn ra trong bối cảnh quốc tế như thế nào?

Trước hết không thể không nói là cuộc thảm sát Thiên An Môn tại Bắc Kinh ngày 4/6/1989. Gần 2 tháng trước đó, từ giữa tháng 4/1989, hàng ngày có hàng chục ngàn, có hôm lên đến cả trăm ngàn sinh viên và thanh niên thay nhau tổ chức biểu tình ngồi và nằm để chiếm quảng trường Thiên An Môn. Họ giương cao các khẩu hiệu chống tham nhũng, ủng hộ cải cách và đòi tự do, dân chủ. Với bản chất khát máu và phi nhân tính, thay vì đối thoại để có một giải pháp ôn hòa, nhà cầm quyền TQ đã sử dụng lực lượng quân đội với hàng trăm xe tăng mờ sáng ngày 4/6/1989 tràn vào quảng trường Thiên An Môn tàn sát dã man người biểu tình trong tay không một tấc sắt và là đồng bào ruột thịt của mình! Xe tăng nghiền nát hàng ngàn thanh niên sinh viên, máu chảy lênh láng khắp quảng trường! Cả thế giới bàng hoàng! Mỹ và phương Tây cùng các nước tiến bộ trên toàn thế giới đồng thanh lên án, tố cáo, trừng phạt và cô lập Trung Quốc. Nhà cầm quyền cộng sản Trung Hoa kể từ khi thành lập (1949) đến nay chưa khi nào lại bị thế giới nguyền rủa và cô lập như lúc này. Đây là vết nhơ ngàn đời khó rửa đối với chính quyền cộng sản Trung Quốc!

Ngoài ra, một sự kiện lịch sử không thể không nói, đó là hàng loạt các ĐCS và hệ thống XHCN nối tiếp nhau tan rã và sụp đổ ở Đông Âu. Bắt đầu từ cuối năm 1989 cho đến đầu năm 1990, chế độ XHCN ở 6 nước cộng sản Đông Âu lần lượt và dồn dập sụp đổ: Đầu tiên là Ba Lan (6/1989), tiếp đến là Hungary (10/1989), rồi đến Đông Đức (11/1989), tiếp theo là Tiệp Khắc (12/1989), sau đó là Rumani (12/1989), và tiếp đến là Bulgary(1/1990). Muộn hơn là Albany (3/1991), rồi đến Nam Tư (6/1991) và cuối cùng là Liên bang Cộng hòa XHCN Xô viết tức Liên Xô (19/8/1991). Chỉ trước đấy không lâu, vào đầu tháng 10/1989, lãnh đạo các ĐCS và các nước XHCN “anh em” còn tụ tập nhau ở Berlin để cùng nhau tham dự Lễ kỷ niệm 40 năm Quốc khánh CHDC Đức (7/10/1989) và bàn việc bảo vệ, giữ vững chế độ XHCN trên thế giới. Đoàn Việt Nam do TBT Nguyễn Văn Linh dẫn đầu sang Berlin tham dự lễ kỷ niệm này, nhưng chỉ đúng một tháng sau khi về đến Hà Nội thì bức tường Berlin đổ sụp. Erich  Honecker – TBT Đảng kiêm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước CHDC Đức – bị lật đổ. Còn lãnh tụ Nikolai Ceaucescu của Đảng và Nhà nước Rumani, sau khi dự lễ kỷ niệm 40 năm Quốc khánh CHDC Đức, khi trở về Bucarest ông còn kịp tổ chức “thành công” Đại hội lần thứ 14  Đảng Cộng sản Rumani (cuối tháng 11/1989) và tất nhiên ông được bầu lại làm TBT thêm một nhiệm kỳ 5 năm nữa! Nhưng chỉ một tháng sau – ngày 20/12/1989 – khi vừa chân ướt chân ráo về đến thủ đô Bucarest sau 2 ngày đi thăm chính thức nước Cộng hòa Hồi giáo Iran thì Ceaucescu bị truy bắt, cả 2 vợ chồng phải chạy trốn khỏi thủ đô và sau đó đều bị bắt và bị một tòa án quân sự tuyên tử hình về tội diệt chủng và tham nhũng, rồi cả hai nhanh chóng bị mang ra hành quyết vào rạng sáng ngày 25/12/1989. Theo cuốn hồi ký “Hồi ức và suy nghĩ” của nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trần Quang Cơ thì Nikolai Ceaucescu “là người trong thời gian ở Berlin xem ra tâm đầu ý hợp với TBT Nguyễn Văn Linh trong việc bàn chuyện tâm huyết cứu vãn sự nghiệp XHCN thế giới đang lâm nguy”. Nhiều nguồn tin khác còn nói chính trong lần gặp nhau ở Berlin này, hai vị lãnh đạo của Việt Nam và Rumani đã đồng ý là năm sau (1990) sẽ cùng đứng ra đồng tổ chức một cuộc Hội nghị toàn cầu các đảng cộng sản và công nhân nhằm xiết chặt đoàn kết và khẳng định xu thế tất thắng của Chủ nghĩa Xã hội trên phạm vi toàn thế giới! Những sự kiện dồn dập nói trên ở Đông Âu nối tiếp xảy ra chỉ trong vòng không đến một năm khiến TBT Nguyễn Văn Linh và Lãnh đạo Đảng VN bồn chồn và vô cùng lo lắng, đứng ngồi không yên!

Nắm bắt được tâm trạng hoảng hốt, lo lắng của lãnh đạo Đảng và Nhà nước VN và biết chắc được lãnh đạo VN sẽ sẵn sàng nhân nhượng để khôi phục lại quan hệ với Đảng và Nhà nước với TQ nhằm có đồng minh và chỗ dựa trong việc bảo vệ Đảng và chế độ XHCN tại VN, Trung Nam Hải quyết định hành động! Đặng Tiểu Bình, Cố vấn tối cao kiêm Chủ tịch Quân ủy Trung ương ĐCSTQ – kẻ đã xua 600.000 quân  tràn qua 6 tỉnh biên giới phía Bắc để xâm lược nước ta 10 năm trước  (tháng 2/1979 ) – cùng các lãnh đạo chóp bu khác ở Trung Nam Hải nhận định đây là cơ hội quí hơn vàng để  thực hiện quỷ kế chia rẽ, lừa gạt và phân hóa nội bộ VN nhằm đưa Ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước VN nằm trọn trong quỹ đạo phụ thuộc toàn diện vào Cộng sản Trung Quốc! Chúng đưa ra chiêu trò cực kỳ thâm hiểm là gợi ý tổ chức một cuộc hội nghị thượng đỉnh giữa lãnh đạo hai Đảng và Nhà nước để cải thiện và bình thường hóa quan hệ Việt Nam -Trung Quốc nhằm bảo vệ thành quả cách mạng và bảo vệ CNXH ở mỗi nước! Cơ quan được giao thực hiện quỷ kế này không ai khác chính là Hoa Nam Tình báo. Cơ quan tình báo này thừa biết, nếu thông qua kênh ngoại giao chính thức là Bộ Ngoại giao thì chắc chắn quỷ kế này sẽ bị bại lộ và nhiều khả năng sẽ bất thành, bởi vì ở Bộ Ngoại giao có Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, Thứ trưởng Trần Quang Cơ và Trợ lý Ngoại trưởng Vũ Khoan là 3 nhà lãnh đạo rất am hiểu và luôn cảnh giác cao độ với mọi âm mưu, thủ đoạn của Trung Quốc. Do vậy phải tránh BNG và phải đi đường vòng. Đường vòng này đã được Hoa Nam Tình báo xác định từ trước là  Ban Đối ngoại Trung ương và Bộ Quốc phòng!

Trương Đức Duy (sinh năm 1930 tại Quảng Đông, là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền TQ tại VN từ tháng 4/1989 đến 3/1993, nói tiếng Việt giỏi như người Việt, người vốn không xa lạ gì với cơ quan an ninh VN) được giao trực tiếp thực hiện kế hoạch này. Chỉ chưa đầy hai tháng sau khi được cử giữ chức Đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại Việt Nam, Trương Đức Duy đã thực hiện một bước đi ngoạn mục là qua mặt và phớt lờ Bộ Ngoại giao, trực tiếp liên hệ và tiếp xúc với hai cơ quan nói trên của VN là nơi vốn Trương đã có sẵn các mối quan hệ đặc biệt từ khi ông ta còn là phiên dịch kiêm Bí thư thứ ba rồi thứ nhất Sứ quán TQ ở Hà nội 20 năm về trước. Trương Đức Duy đã được sắp xếp dễ dàng gặp Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh 3 lần trong vòng chưa đầy 3 tháng (trưa 6/6, chiều 20/8 và sáng 29/8/1989), gặp TBT Nguyễn Văn Linh 3 lần (ngày 5/6, tối 22/8 và chiều 29/8/1989). Những lần Trương đến Bộ Quốc phòng hay Ban Đối ngoại Trung ương gặp lãnh đạo VN, xe Trương thường không cắm cờ và đi vào cửa phụ, Trương không mang theo phiên dịch và thư ký ghi chép và ông ta cũng yêu cầu phía ta không bố trí phiên dịch và thư ký, những cuộc gặp đó chỉ có 2 người: 1 chủ và 1 khách!

Đương nhiên, Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch không được biết trước những cuộc gặp này, mà chỉ được thông báo sau khi đã diễn ra, thậm chí có những cuộc gặp ông còn không được cho biết, mặc dù ông đang là Uỷ viên Bộ chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Phó Thủ tướng) kiêm Bộ trưởng Ngoại giao!

Nhớ lại, vào một tối đầu Thu 1987 tại New York, Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch có nói riêng với người viết bài này khi ông dẫn đầu phái đoàn CHXHCN Việt Nam sang dự Khóa họp thứ 42 Đại hội đồng LHQ:“Họ công khai ra điều kiện cho lãnh đạo ta là “Nếu VN thực tâm muốn cải thiện và bình thường hóa quan hệ với TQ thì việc đầu tiên VN phải làm là loại bỏ Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch”.  Vâng, có lẽ tất cả các cán bộ đối ngoại ở BNG hoặc ở các cơ quan đại diện ngoại giao VN ở nước ngoài trong khoảng thời kỳ 1987-1990 đều được biết đòi hỏi cực kỳ ngang ngược và trịch thượng này của TQ! Nhiều cán bộ trung cao cấp của Bộ Ngoại giao hồi đó còn trao đổi ở chốn riêng tư với nhau: “Lần này thủ trưởng của chúng ta có lẽ khó thoát khỏi là “vật tế thần!”.  Tôi thật không ngờ và rất buồn là ngay sau Hội nghị Thành Đô, Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch – “kiến trúc sư của nền ngoại giao Việt Nam” – một chiến lược gia tài ba, một nhà lãnh đạo có kiến thức uyên thâm và tầm nhìn xa trông rộng, một nhà ngoại giao sắc sảo và quả quyết, người mà nhiều chính khách phương Tây rất khâm phục và kính nể, lại phải sớm rời khỏi mọi chức vụ (Ủy viên BCT, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao) và bị loại khỏi danh sách đề cử vào BCHTW khóa VII! Chỉ trước đấy không lâu, ngay đầu năm 1990, ông còn được dự kiến làm Thủ tướng nếu ông Võ Văn Kiệt lên làm Tổng Bí thư ở Đại hội VII.

Việc ông bị loại bỏ khỏi tất cả các chức vụ lãnh đạo Đảng và Nhà nước có phải là một trong các điều kiện mà TQ đã buộc ta phải chấp nhận ở Hội nghị Thành Đô hay không, là một điều không khó để chứng minh. Còn về câu nói  “Thế là một thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã bắt đầu!”  có phải là ý kiến nhận định và đánh giá về kết quả Hội nghị Thành Đô của Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch hay không? Ông nói câu này khi nào, với ai và trong bối cảnh nào thì chưa thấy có nguồn tin nào khẳng định. Khi phải thôi chức Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao ở tuổi tròn “thất thập” (1991), tuy bị sốc, nhưng sức khỏe về trí lực và thể lực của ông vẫn còn rất tốt. Ông vẫn được Bộ Chính trị giao công tác mới là chủ trì tổng kết công tác ngoại giao, nghiên cứu kinh tế thế giới và chiến lược đối ngoại cho đến khi ông mất (năm 1998). Chính trong thời gian này ông đã hoàn chỉnh cuốn hồi ký mà ông đã khởi bút viết ngay sau khi Hội nghị Paris về VN kết thúc (1973). Cuốn hồi ký này nói về  những năm tháng vinh quang, những khoảnh khắc bực tức, nóng giận và cay đắng trong cuộc đời 60 năm hoạt động cách mạng trong đó có 44 năm làm công tác ngoại giao của ông. Chắc chắn là nhiều bí mật đối ngoại của Nhà nước cũng như của riêng ông sẽ được “bật mí” một khi cuốn hồi ký này được công bố!

Gần 1/4 thế kỷ đã trôi qua kể từ Hội nghị Thành Đô, nhiều thành viên đoàn VN tham dự hội nghị này không còn nữa, nhưng hậu quả để lại của cuộc gặp này là khôn lường, gây ra những thiệt hại to lớn và nguy hiểm cho đất nước và nhân dân ta ở hầu hết các lĩnh vực: từ chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, văn hóa – giáo dục, chủ quyền đất nước, chính trị nội bộ đến vấn đề an ninh quốc gia trên phạm vi toàn lãnh thổ, từ biên giới phía Bắc cho đến các tỉnh miền Tây Nam bộ, từ biển Đông vào đến các tỉnh ven biển và giáp với biên giới Lào và Campuchia, và đặc biệt là vùng Tây Nguyên chiến lược. Không thể thống kê hết những vấn đề nói trên, chỉ xin đề cập đến một vài sự việc nổi cộm sau:

1- Từ sau Hội nghị Thành Đô, cuộc chiến tranh xâm lược của TQ ở 6 tỉnh biên giới phía Bắc nước ta (17/2/1979) không được nhắc đến nữa, thậm chí những hoạt động của người dân tưởng niệm và vinh danh các liệt sĩ hy sinh trong cuộc chiến này hoặc các cuộc biểu tình yêu nước chống TQ xâm phạm biển đảo và sát hại ngư dân ta đều bị ngăn cấm và đàn áp.

Hơn 35 năm đã trôi qua, tại sao cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, chống xâm lược bành trướng phương Bắc này cũng như việc TQ dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa (1974) và đảo Gạc Ma của ta ở Trường Sa (1988)  không được tổng kết và đưa vào lịch sử và sách giáo khoa để giáo dục lòng yêu nước cho học sinh, sinh viên và thanh niên ta?

2- Tại sao ta cho phép hoặc không ngăn chặn việc TQ thuê hàng trăm ngàn héc ta rừng đầu nguồn ở các tỉnh biên giới chiến lược phía Bắc với thời hạn lâu dài 50-70 năm?

 

3- Một khu vực có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng, rất nhạy cảm về mặt an ninh – quốc phòng là Tây Nguyên (Ai kiểm soát Tây Nguyên thì có thể khống chế được toàn bộ bán đảo Đông Dương!) thì TQ lại dễ dàng được phép đưa hàng ngàn công nhân vào đây để thực hiện dự án bauxite đầy nghi ngờ và tranh cãi không những về an ninh – quốc phòng mà cả về hậu quả sinh thái – môi trường, cũng như về hiệu quả kinh tế – xã hội, mặc dù có hàng ngàn cựu cán bộ lãnh đạo, nhân sĩ trí thức và các nhà khoa học lên tiếng kiến nghị Bộ Chính trị, Quốc hội và Nhà nước dừng dự án này!

4- Tại sao các công ty TQ lại trúng đến 80-90% các gói thầu trọn gói EPC (thiết kế – mua sắm – xây dựng) trong các dự án về KT-XH, đặc biệt là các dự án nhiệt điện, và tại sao ta chấp nhận hàng chục ngàn lao động phổ thông TQ (có phép và không phép) vào thực hiện các dự án này? Tại sao ta lại để cho thương nhân và các doanh nghiệp TQ tự tung tự tác trên khắp lãnh thổ của ta, lừa đảo nông dân ta, lũng đoạn và phá hoại nền kinh tế đất nước ta một cách dễ dàng như chốn không người như vậy?

 

5- Gần đây TQ ngang ngược và trắng trợn hạ đặt giàn khoan Haiyang Shiyou 981 để khoan thăm dò dầu khí sâu trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của VN mà ta lại không dám nhân cơ hội này kiện TQ ra trước tòa án quốc tế như Philippines đã làm? Do ta chưa chuẩn bị kịp hồ sơ pháp lý hay vì một nguyên nhân nào khác? Trong vụ giàn khoan này TQ đã không chỉ chà đạp luật pháp và chủ quyền của VN mà còn vi phạm thô bạo Công ước Luật biển 1982 (UNCLOS) của LHQ. Dư luận rộng rãi trên toàn thế giới phản đối, lên án TQ và đồng tình, ủng hộ VN. Rất tiếc ta lại không tận dụng thời cơ và lợi thế này để vạch mặt bọn “vừa ăn cướp vừa la làng”! Trung Quốc không chỉ ngang ngược mà họ còn phi lý và trịch thượng nữa! Qua hãng thông tấn chính thức Tân Hoa Xã, họ đưa ra “4 yêu sách VN không được làm”trong đó họ đề cập xa gần và bóng gió đến thỏa thuận Thành Đô 1990!
– v.v.

Xung quanh Hội nghị thượng đỉnh và các thỏa thuận mà VN đã ký với TQ ở Thành Đô có nhiều phân tích, đánh giá, nhận định, thông tin trái chiều, thậm chí cả những đồn thổi nguy hiểm, bất lợi về mặt dư luận… làm người dân hoang mang, bán tín bán nghi, không biết đâu là hư, đâu là thực! Mọi hiện tượng trên sẽ chấm dứt một khi Đảng và Nhà nước báo cáo cho toàn dân biết sự thật về mối quan hệ Việt – Trung, đặc biệt là các thỏa thuận mà lãnh đạo ta đã ký với TQ ở Thành Đô.

Là chủ nhân ông của đất nước, nhân dân có quyền được biết và phải được biết về những vấn đề trọng đại của quốc gia, trong đó có sự thật về quan hệ VN – TQ trong những năm qua, đặc biệt là các thỏa thuận đã ký với TQ ở Hội nghị Thành Đô năm 1990. Hơn nữa, Điều 4 Hiến pháp 2013 đã ghi  rất rõ: “ĐCSVN… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội… Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”. Do vậy việc lãnh đạo Đảng và Nhà nước báo cáo cho toàn dân biết sự thật về mối bang giao Việt – Trung và các thỏa thuận đã ký với TQ ở Thành Đô là một việc nên làm, cần làm và phải được làm vì điều này chỉ có lợi cho Nhân dân và Đất nước.
            Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI sẽ sớm nhóm họp Hội nghị Trung ương lần thứ 10 trong thời gian tới  để duyệt xét mối quan hệ VN – TQ và đưa ra các quyết sách liên quan. Nhân dân rất kỳ vọng một trong các quyết sách này là Đảng sẽ báo cáo cho toàn dân biết sự thực về mối quan hệ với TQ trong 1/4 thế kỷ qua trong đó có các thỏa thuận mà lãnh đạo Đảng ta đã ký với TQ ở Hội nghị Thành Đô năm 1990 kèm theo một lời tạ lỗi chân thành! Nếu đúng thì đây sẽ là một trong các quyết định dũng cảm, hợp lòng dân và quan trọng nhất trong lịch sử tồn tại của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hà Nội, 3/8/2014

N.Đ.Q.

Tác giả gửi BVN

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

NGHĨ SAO VỀ NHỮNG GIÀN HD-98…x KHÔNG GÂY ỒN ÀO TRÊN LÃNH THỔ VÀ LÃNH HẢI VIỆT NAM

NGHĨ SAO VỀ NHỮNG GIÀN HD-98…x KHÔNG GÂY ỒN ÀO TRÊN LÃNH THỔ VÀ LÃNH HẢI VIỆT NAM

Hà Giang

Sau khi Tàu Cộng đặt cái gọi là giàn HD-981, công luận ồn ào hẳn lên, không chỉ báo chí lề trái, mà cả báo chí lề phải cũng vào cuộc, cáo buộc rằng Tàu Cộng vi phạm này vi phạm nọ, dân chúng bất bình sôi sục, nhiều người lên tiếng đấu tranh đòi phải kiện Tàu Cộng ra các tòa án quốc tế, vân vân và vân vân.

Còn Đảng ta thì nín thinh.

Tôi thấy tức cười về sự ồn ào đó.

Vì tôi ngẫm nghĩ, có những chỗ rộng … mênh mông bể sở, lớn gấp hàng tỷ lần cái giàn HD-981, nằm chềnh ềnh giữa những cứ điểm chiến lược hiểm yếu trên đất nước ta đang tồn tại êm thấm… Chẳng thấy ai nói gì…

Công luận lên án cái giàn HD-981 là “bất hợp pháp”. Vậy những chỗ bọn Tàu Cộng đã và đang cắm chốt … “rất hợp pháp” thì sao?

Tôi nảy ra sáng kiến lẳng lặng làm thân với các vị đương kim tỉnh ủy viên, thường vụ tỉnh ủy phụ trách ngạch tuyên huấn, vì nghe tin các vị này có đặc quyền ra vào những nơi tôi tạm gọi là “Tô giới” của Tàu Cộng. Đó là những vùng rừng đầu nguồn cho Tàu Cộng thuê 50 năm. Đó là những công trình Tàu Cộng thắng thầu. Đó là những cảng biển nước sâu mà Đảng ta đã cho Tàu Cộng thuê 50 năm, 70 năm. Tất cả đang là những công trường vĩ đại, đang được chúng xây dựng những doanh nghiệp khổng lồ, mà ai đến đây cũng đinh ninh một cảm giác, là chúng đang chuẩn bị cho một cuộc “an cư” và “lạc nghiệp” vĩnh viễn trên đất nước này.

Tôi đã thành công. Tôi được ngồi xe cùng các vị tỉnh ủy viên, rồi thường vụ tỉnh ủy dẫn đạo ra vào thoải mái những nơi mà hạng người Việt “phó thường dân” như tôi không bao giờ được lân la tới. Tôi được tận mắt nhìn, được hỏi, được xem những gì bọn xâm lược Tàu Cộng đang mặc sức tung hoành trên đất nước thấm đầy máu thịt của cha ông chúng ta.

Tôi phải gọi đó là những “Tô giới”. Vì đó là những vùng có thể gọi chính xác là “nhượng địa”, được các nhà lãnh đạo Đảng thỏa thuận cho thuê 50 năm, 70 năm, Tàu Cộng tự do tung hoành mà người Việt không được bén mảng, trừ trường hợp như tôi, có “sáng kiến” tìm cách bám đuôi được các vị có hàm vị cao trong Đảng.

Tôi nói “Lãnh đạo Đảng thỏa thuận”, là vì đây là câu hỏi tôi đặt ra ở tất cả những nơi tôi đến. Câu hỏi của tôi với các đồng chí tỉnh ủy, rất thẳng thắn, là “Báo chí lề trái, lề phải lên án các đồng chí ăn tiền của nước ngoài, rồi tự tiện cho thuê đất, thuê rừng, thuê biển, … Có đúng thực như thế không? Hay là các đồng chí được Bộ Chính trị cho phép”.

Câu trả lời nhất quán mà tôi thường xuyên nhận được là: “Chúng tôi đâu dám lộng quyền! Đều được phép của Bộ Chính trị. Các dự án đều được các đồng chí ấy phê chuẩn cả đấy”.

Ảnh chỉ có tính chất minh hoạ. Nguồn ảnh: http://clbnbtd.blogspot.com/2009/04/bauxite-tan-rai-gioi-tau-tren-cao.html

Thì ra tất cả những tô giới của Tàu Cộng mà tôi được đến trên đất nước chúng ta đều được quyết định từ Bộ Chính trị. Những nơi tôi chưa đến được thì tôi không có thông tin, không dám nói. Còn Bộ Chính trị cụ thể là ai, thì tôi thấy cũng không cần hỏi sâu thêm nữa. Vả lại, tôi tự thấy đến đây là đủ, vì tôi suy luận: Đảng có nguyên tắc tổ chức rất nghiêm ngặt về tập trung dân chủ. Như vậy, người quyết định cuối cùng phải là tổng bí thư, mà tổng bí thư nhiệm kỳ này là ông Nguyễn Phú Trọng. Như vậy ông Nguyễn Phú Trọng chắc là người gánh chịu trách nhiệm trước lịch sử dân tộc về những thỏa thuận các tô giới, các nhượng địa với quân xâm lược Tàu Cộng.

Tôi tự thấy mình nghĩ như thế là đúng, bởi vì tôi nhớ lại, hồi mới nổi lên cái vụ ông tổng bí thư Nông Đức Mạnh ba lần ký trao Tây Nguyên cho Tàu Cộng, báo chí lên án Chính phủ đã chấp nhận những dự án đầu tư của Tàu Cộng vào Tây Nguyên, … và họ phỏng vấn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, thì được ông Dũng nhiều lần khẳng định rất dứt khoát: “Đây là chủ trương lớn của Đảng ta”. Thủ tướng khôn thật. Quy hết trách nhiệm cho Đảng. Mà ông quy như vậy đâu có sai. Ông thủ tướng đúng đấy: Ký kết các nhượng địa cho Tàu Cộng là chủ trương lớn của Đảng ta.

Đến đây tôi thật sự lúng túng. Trong các hội nghị chi bộ tất cả các đảng viên đều được “đả thông tư tưởng” là phải tin tưởng tuyệt đối vào các chủ trương của Đảng. Vì vậy, chúng ta chỉ còn biết tin tưởng vào chủ trương trao các tô giới và các vùng nhượng địa cho bọn xâm lược Tàu Cộng của Đảng ta!

Tôi thành thật bộc bệch tâm tư lo ngại vẩn vơ về việc quân xâm lược Tàu Cộng ngày càng lấn tới … với các đồng chí tỉnh ủy viên và thường vụ tỉnh ủy mà tôi được may mắn bám đuôi, tôi nhận ra những điều thú vị nữa, mà tôi muốn chia sẻ với các bạn bè gần xa.

Đến bất cứ khu nhượng địa nào, tôi đều nhận ra có rất nhiều dự án đầu tư, không chỉ của các nhà đầu tư Tàu Cộng, mà có cả các nhà đầu tư Hàn Quốc, Đài Loan và một số nước khác. Hỏi sâu vào các dự án, chúng ta còn được biết, các chủ đầu tư này có rất nhiều đối tác từ Úc, Malaysia, Singapore, vân vân và vân vân… Rồi công nhân nước ngoài chỉ chiếm 5%, còn lại là người Việt Nam hết… Thế là các đồng chí tuyên huấn được dịp trấn an tôi: “Đấy nhá! Ông thấy chưa? Bạn làm ăn nghiêm túc, và 95% công nhân là người Việt mà, … có như người ta làm ồn ào trên công luận đâu!”

Nhưng mà … có một điều tôi không thấy vị nào nói đến, là những nơi Tàu Cộng cắm chốt đều rất hiểm yếu về địa quân sự. Khi chúng tạo ra sự biến ở đâu đó thì xe tăng và chiến hạm của chúng tự do hoành hành như đi vào chỗ không người… Vì những nơi đó đang thuộc quyền kiểm soát của chúng.

Còn một điều nữa, mà một kẻ ngây thơ nhất về tình báo cũng có thể nghĩ đến: Bao nhiêu phần trăm các nhà đầu tư mang nhãn Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore, … là người do tình báo Hoa Nam cài cắm? Không biết được!

Ảnh chỉ có tính chất minh hoạ. Nguồn ảnh: http://clbnbtd.blogspot.com/2009/04/bauxite-tan-rai-gioi-tau-tren-cao.html

Rồi còn một điều tôi không cũng thấy một công ty “bạn” nào nói đến, như ở Tây Nguyên, hiện đã có mặt trên một số lượng lớn những tên “bạn” tráng đinh Tàu Cộng, trong đó chỉ một ngàn tên là lao động có phép. Tất cả các khu nhượng địa khác đều chịu chung số phận. Trong tất cả các cuộc tiếp xúc mà các đồng chí tỉnh ủy dẫn tôi đến, không thấy ở đâu nói về đạo quân vô phép này. Chúng đang quậy phá khắp nơi trên đất nước chúng ta, chúng còn gieo rắc bừa bãi cái … ADN Hán chủng vào bụng các cô gái nghèo Việt Nam. Chỉ cần chưa đến một trăm ngàn là chúng gieo được một mầm Hán Tặc trên cơ thể các cô gái Việt… Chúng đang chuẩn bị cho một cuộc trưng cầu ý dân vào vài mươi năm sau, để những đứa con hoang đàng trở về với tổ quốc Đại Hán vĩ đại, như ở Crưm người Đại Nga đã làm, … để thôn tính dần đất nước này vào tay Tàu Cộng, như lời ông quan Thiên triều Dương Khiết Trì xấc xược lên mặt răn dạy những đứa con hoang đàng trong bè lũ Trần Ích Tắc và Lê Chiêu Thống đang cắt dần đất, biển, rừng và hiến dâng các cỗ máy sinh thêm nòi giống cho bọn xâm lăng.

H.G.

Tác giả gửi BVN

Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Asean muốn ‘kiềm chế ở Biển Đông’

Asean muốn ‘kiềm chế ở Biển Đông’

Cập nhật: 15:00 GMT – chủ nhật, 10 tháng 8, 2014
Hội nghị Asean

Tuyên bố chung Asean hôm 10/8 nhấn mạnh kiềm chế xung đột trên Biển Đông.

Asean hối thúc các bên liên quan trong các tranh chấp trên Biển Đông có các hành động kiềm chế, tránh phức tạp hóa tình hình, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng trong cam kết chung giữa Trung Quốc với Asean, theo thông báo chung của tổ chức này.

Hôm 10/8/2014, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 47 (AMM-47) nhóm họp ở thủ đô Myanmar Nay Pyi Taw đã ra thông cáo chung trong đó có các nội dung kể trên.

Thông cáo công bố trên trang mạng chính thức của BấmAseanhôm Chủ Nhật cho hay các Bộ trưởng ngoại giao ASEAN ‘quan ngại sâu sắc’ về những diễn biến gần đây làm gia tăng căng thẳng ở Biển Đông và khẳng định lại ‘tầm quan trọng’ của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh biển cũng như tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông.

Văn bản có đoạn nói khối này “thúc giục các bên liên quan thực hiện kiềm chế và tránh các hành động gây phức tạp tình hình và làm phương hại đến hòa bình, ổn định và an ninh ở Biển Đông;

Thúc giục các bên liên quan thực hiện kiềm chế và tránh các hành động gây phức tạp tình hình và làm phương hại đến hòa bình, ổn định và an ninh ở Biển Đông; Giải quyết tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực

Tuyên bố chung hôm 10/8/2014

“Giải quyết tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, bao gồm đối thoại thân thiện, tham vấn và thương lượng, phù hợp với các nguyên tắc được công nhận của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS)”.

Trước đó, Ngoại trưởng Hoa Kỳ, John Kerry đã thúc đẩy một thỏa thuận nhằm chấm dứt tất cả các hành động có thể gây rủi ro làm ‘bùng nổ thêm’ các quan hệ trong khu vực, sau khi đã xảy ra nhiều đụng độ căng thẳng trên Biển Đông trong năm nay, theo AFP.

Tuy nhiên Washington nói trong khi thúc đẩy việc ‘đóng băng các hành động thù địch’ ở vùng biển vốn diễn ra các tranh chấp, căng thẳng giữa Bắc Kinh và một số quốc gia láng giềng là thành viên Asean, Hoa Kỳ không muốn ‘đối đầu’ với Trung Quốc về các chiến lược của nước này trong khu vực.

‘Không muốn đối đầu’

Hãng tin Pháp hôm Chủ Nhật trích lời một quan chức cao cấp trong chính quyền Hoa Kỳ nói:

Ngoại trưởng Kerry

Ngoại trưởng Mỹ Kerry kêu gọi các bên ‘đóng băng thù địch’ và ‘căng thẳng’ ở khu vực.

“Chúng tôi không muốn đối đầu với Trung Quốc. Nhưng chúng tôi có một số lợi ích và nguyên tắc thúc đẩy chúng tôi ở trong khu vực vốn có sự khác biệt với Trung Quốc.”

Bản Tuyên bố chung của các ngoại trưởng Asean hôm Chủ Nhật cũng tái khẳng định các cam kết đối với những nguyên tắc nêu trong bản Tuyên bố Nguyên tắc 6 điểm về Biển Đông (2012) của các ngoại trưởng Asean, Tuyên bố chung năm 2012 của Hội nghị Cấp cao ASEAN-Trung Quốc lần thứ 15 về Kỷ đánh dấu 10 năm Tuyên bố Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), và Tuyên bố ngày 10/5/2014 của các ngoại trưởng ASEAN về những diễn biến gần đây trên Biển Đông.

Trung Quốc chắc chắn sẽ hành động kiên quyết và rõ ràng nếu ‘bị khiêu khích trên Biển Đông

Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị

Tuyên bố chung cho hay các ngoại trưởng nhấn mạnh thêm nữa “tầm quan trọng về cam kết chung của các nước thành viên ASEAN và Trung Quốc đối với hòa bình, ổn định, an ninh hàng hải, tin cậy lẫn nhau trong khu vực, và sự cần thiết tạo lập các điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết hòa bình các tranh chấp”.

‘Tăng cường tham vấn’

Khối này cho hay nhất trí tăng cường trao đổi tham vấn với Trung Quốc về các cơ chế, biện pháp đảm bảo, tăng cường thực hiện đầy đủ, hiệu quả DOC về tổng thể và đàm phán thực chất nhằm sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

Thông cáo hôm Chủ Nhật cũng cũng ghi nhận báo cáo tiến độ thực hiện Tuyên bố DOC đệ trình các ngoại trưởng ASEAN-Trung Quốc.

Và khối này cũng giao các quan chức làm việc với Trung Quốc hoàn tất mục tiêu, cấu trúc và cụ thể hóa các cấu phần của COC, bao gồm các thành tố ‘thúc đẩy lòng tin’ và ‘ngăn chặn, quản lý các sự cố’.

Ngoại trưởng Kerry và ngoại trưởng Vương Nghị

Trung Quốc tiếp tục tỏ ra ‘cứng rắn’ về Biển Đông, trong khi Hoa Kỳ muốn giảm tải căng thẳng.

Trước đó, đáp lại quan điểm của Hoa Kỳ, hôm 9/8, ngoại trưởng Trung Quốc, Vương Nghị, có mặt tại Diễn đàn An ninh khu vực ARF giữa Asean và các đối tác nói rằng nước ông chắc chắn ‘sẽ hành động kiên quyết và rõ ràng’ nếu ‘bị khiêu khích trên Biển Đông.’

Tuyên bố của ông Vương được cho là thể hiện lập trường cứng rắn trước đề xuất muốn thúc đẩy ‘đóng băng căng thẳng’ của phía Mỹ.

Trong khi đó, Asean thông qua thông báo chung có vẻ đã nhất trí cần kiềm chế xung đột, căng thẳng và nhấn mạnh hợp tác, đối thoại thông qua các biện pháp ngoại giao, hòa bình và tuân thủ luật pháp quốc tế, cùng các thỏa thuận được tôn trọng ở khu vực.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.