Daily Archives: August 15, 2014

Đại tướng Hoa Kỳ: Việt Nam hãy hoàn toàn yên tâm…

Đại tướng Hoa Kỳ: Việt Nam hãy

hoàn toàn yên tâm…

Chí Quân – theo Trí Thức Trẻ | 15/08/2014 08:13

Đại tướng Martin Dempsey Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ tại Hà Nội

(Soha.vn) – Đại tướng Martin Dempsey nhấn mạnh các nước, trong đó có Hoa Kỳ đều có trách nhiệm duy trì hòa bình, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không trong khu vực.

Chiều 14/8/2014, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tiếp Đại tướng Martin Dempsey, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ đang có chuyến thăm làm việc 4 ngày tại Việt Nam theo lời mời của Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Đây là chuyến thăm đầu tiên của Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ đến Việt Nam kể từ năm 1975.

Hoan nghênh chuyến thăm làm việc tại Việt Nam và đánh giá cao kết quả cuộc Hội đàm giữa Đại tướng Martin Dempsey và Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ cũng như những thỏa thuận mà hai bên đạt được, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng chuyến thăm sẽ là một đóng góp quan trọng cho sự phát triển quan hệ đối tác toàn diện đang tiến triển tốt đẹp giữa hai nước.

Cho rằng tiềm năng và lĩnh vực hợp tác giữa hai bên còn rất lớn, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định Việt Nam mong muốn cùng Hoa Kỳ, 2 bên nỗ lực đưa quan hệ 2 nước tiếp tục phát triển trên tất cả các lĩnh vực ngày càng thiết thực hiệu quả, từ chính trị – ngoại giao; kinh tế, thương mại đầu tư, đến văn hóa, giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu cũng như an ninh – quốc phòng, vì lợi ích của hai nước và đóng góp vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực cũng như trên thế giới.

Thủ tướng nhất trí và ủng hộ việc tiếp tục triển khai 5 nội dung hợp tác quốc phòng mà hai bên đã thỏa thuận, trong đó có hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh như khắc phục hậu quả chất da cam/dioxin, rà phá bom mìn còn sót lại; hợp tác trong lĩnh vực đào tạo tiếng Anh cho sỹ quan quân đội Việt Nam; hợp tác và hỗ trợ Việt Nam tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc, sớm dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam cũng như nhiều lĩnh vực hợp tác thiết thực, cụ thể khác.

Bày tỏ vinh dự cá nhân và tự hào là Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ đầu tiên đến thăm Việt Nam, Đại tướng Martin Dempsey khẳng định chuyến thăm của ông là một cam kết đối với hòa bình và ổn định trong khu vực và mong muốn của Hoa Kỳ trở thành đối tác tốt của Việt Nam.

Đại tướng Martin Dempsey hoàn toàn chia sẻ với đánh giá rằng hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, nhất là ở Biển Đông và Hoa Đông đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi những đòi hỏi phi lý và hành động xác lập chủ quyền dựa trên sức mạnh đơn phương. Điều này không chỉ đe dọa Việt Nam, các nước ASEAN mà còn đe dọa tới lợi ích của các nước, trong đó có Hoa Kỳ.

Đại tướng Martin Dempsey cho rằng Hoa Kỳ và các nước trong khu vực có những mối quan tâm chung và những quan ngại được nêu ra là có cơ sở khi một nước lớn muốn định hình khu vực này theo ý đồ của họ. Ông Martin Dempsey cũng nhấn mạnh rằng các nước, trong đó có Hoa Kỳ đều có trách nhiệm duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không trong khu vực; ủng hộ việc giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982, không đơn phương sử dụng sức mạnh, sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực.

Việt Nam và các nước trong khu vực hoàn toàn yên tâm rằng Hoa Kỳ sẽ luôn nhắc lại quan điểm này” – Đại tướng Martin Dempsey nói.

Đại tướng Martin Dempsey cho biết ông đã có những cuộc thảo luận rất hiệu quả với phía Việt Nam về những vấn đề quan tâm chung cũng như việc thúc đẩy quan hệ đối tác. Ông khẳng định Hoa Kỳ cam kết hợp tác quốc phòng với Việt Nam trong 5 lĩnh vực đã thỏa thuận; cam kết chặt chẽ và nỗ lực cùng với Việt Nam giải quyết hậu quả chiến tranh và coi đây là vấn đề mà Hoa Kỳ coi trọng và ưu tiên.

Hoa Kỳ cũng ủng hộ Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc; mong muốn hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực an ninh hàng hải và giúp Việt Nam giải quyết những thách thức về bảo vệ chủ quyền trên biển; đồng thời cho biết phía Hoa Kỳ sẽ tìm ra lộ trình và cách thức để sớm dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam.

Hiện số lượng những người trong chính phủ, quốc hội, giới ngoại giao và quân đội ủng hộ dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam ngày càng lớn” – Đại tướng Martin Dempsey cho biết.

Đại tướng Martin Dempsey bày tỏ tin tưởng Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ cùng nhau hợp tác tốt và hiệu quả trong thời gian tới, đồng thời cảm ơn sự đón tiếp nồng nhiệt và ấm áp của người dân và quân đội Việt Nam dành cho Đoàn.

 

Advertisements
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Hệ thống phòng không tối tân của Israel được VN quan tâm

Hệ thống phòng không tối tân của

Israel được VN quan tâm

Bạch Dương – theo Trí Thức Trẻ | 15/08/2014 07:15

(Soha.vn) – Thời gian gần đây có một số thông tin từ trong và ngoài nước cho rằng Việt Nam đang tỏ ý quan tâm đặc biệt tới hệ thống phòng không tối tân SPYDER do Israel sản xuất.

SPYDER (Surface-to-air PYthon and DERby) là một hệ thống tên lửa phòng không tầm ngắn và tầm trung tiên tiến do Công ty Thiết bị quốc phòng Rafael của Israel nghiên cứu và phát triển.

Hệ thống được thiết kế để tiêu diệt các mục tiêu đường không như máy bay, tên lửa hành trình, UAV… trong mọi thời gian và điều kiện thời tiết, SPYDER có khả năng phản ứng rất nhanh trước các mối đe dọa, toàn bộ các thành phần của hệ thống được đặt trên khung gầm xe tải Tatra có tính việt dã cao do Cộng hòa Czech sản xuất. Trong ảnh: xe mang phóng tự hành của tổ hợp SPYDER-SR

SPYDER nằm trong xu thế trang bị tên lửa không đối không cho hệ thống phòng không mặt đất và hạm tàu đang rất thịnh hành trên thế giới, có thể kể ra đây vài ví dụ như RIM-7 Sea Sparrow, VL MICA hay SL-AMRAAM…

Hệ thống SPYDER hiện có 2 biến thể là tầm ngắn SPYDER-SR và tầm trung SPYDER-MR, sử dụng 2 loại tên lửa đánh chặn Python-5 và Derby cũng do Công ty Rafale chế tạo.

Python-5 là loại tên lửa không đối không tầm ngắn có chế độ đặc biệt “Lock on after lauch – Khóa mục tiêu sau khi phóng” thông qua 1 camera hồng ngoại kết hợp với 1 cảm biến quang điện tích hợp vào đầu dò, đây là cấu hình chưa từng có ở các loại tên lửa không đối không khác. Khi phóng từ trên không, Python-5 có tầm bắn 20 km, tốc độ Mach 4 và mang theo đầu đạn nặng 11 kg.

Trong khi đó Derby (hay còn được gọi là Alto) là loại tên lửa không đối không tầm trung được thiết kế để không chiến ngoài tầm nhìn, về cơ bản thì Derby chính là tên lửa Python-4 mở rộng với đầu dò radar chủ động. Khi phóng từ trên không Derby có tầm bắn 50 km, tốc độ Mach 4 và mang theo đầu đạn nặng 23 kg.

Đối với phiên bản SPYDER-SR, tên lửa được phóng đi từ bệ phóng nghiêng với tầm bắn tối đa 15 km, tối thiểu 1 km, độ cao tấn công mục tiêu từ 20 m đến 9 km. Radar dẫn đường cho hệ thống SPYDER-SR là Elta EL/M 2106 ATAR 3D.

Còn với phiên bản SPYDER-MR, tên lửa được gắn thêm bộ phận khởi tốc ở đuôi (như trong hình 1) và phóng đi từ bệ phóng thẳng đứng với tầm bắn tối đa 35 km và trần bay diệt mục tiêu là 16 km. Ngoài ra hệ thống SPYDER-MR còn được trang bị radar IAI/Elta MF-STAR thế hệ mới có tính năng cao hơn Elta EL/M 2106.

Thành phần của một tổ hợp SPYDER tiêu chuẩn gồm có 1 xe chỉ huy và điều khiển, 6 xe mang phóng tự hành với tổng số 24 đạn tên lửa, 1 xe tiếp đạn trang bị cần cẩu và 1 xe đảm bảo kỹ thuật.

Hệ thống SPYDER đã được Israel xuất khẩu cho Gruzia (1 hệ thống), Ấn Độ (18 hệ thống với 108 bệ phóng cùng 750 tên lửa Python-5 và 750 tên lửa Derby), Peru (1 hệ thống với 6 xe phóng) và Singapore (2 hệ thống với 12 bệ phóng, đi kèm 75 tên lửa Python-5 và 75 tên lửa Derby). Hiện có rất nhiều dự đoán cho rằng Việt Nam chính là khách hàng tiếp theo ở khu vực Đông Nam Á của hệ thống phòng không tối tân SPYDER do Israel sản xuất. Trong ảnh: hệ thống SPYDER-SR bắn tên lửa Derby.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Vì nƯỚc, vì ĐẠo quên mình.

Lịch Sử PG Hòa Hảo

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai

Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Fb Trần Huỳnh Duy Thức – Nhà hoạt động từ thiện và tôn giáo Mai Thị Dung, một nông dân cắt lúa, sinh năm 1969, đang tiếp tục bị hành hạ trong tù khi thụ án 11 năm sau 2 lần bị kết án.
Cùng chồng là ông Võ Văn Bửu, bà Mai Thị Dung – tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo – đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình, tuyệt thực cho các tín hữu đồng đạo, phản đối nhà cầm quyền CSVN tịch thu các cơ sở giáo hội và đàn áp tự do tôn giáo.
Bất chấp gia đình có hai người con dưới tuổi thành niên, ngày 5 tháng 8 năm 2005, công an Việt Nam bắt giữ cả hai vợ chồng Mai Thi Dung và Võ Văn Bửu. Ngày 19 tháng 9 năm 2005, Tòa án tỉnh An Giang kết án bà Mai Thị Dung 6 năm tù và chồng bà 7 năm vì tội “gây rối trật tự công cộng”. Trước đó không lâu, ông Võ Văn Bửu vừa mãn hạn tù 3 năm cũng vì tội danh tương tự.
Trong tù, bà Mai Thị Dung kiên trì tổ chức các lễ Phật. Vì lẽ đó, ngày 22 tháng 7 năm 2008, nhà cầm quyền đã phạt thêm 5 năm tù về tội “chống đối nhân viên công lực”, nâng tổng án tù mà bà Dung phải chịu lên 11 năm.
Suốt thời gian ở tù, mặc dù bệnh nặng, bà Mai Thị Dung luôn bị hành hạ, bị cấm nói chuyện với các tù nhân – bởi thái độ bất hợp tác với cai tù trong việc “ký biên bản nhận tội”. Bà từng tuyệt thực trong tù để phản đối ngược đãi và yêu cầu được đưa đi điều trị. Chỉ một ngày sau khi bà tuyệt thực, hôm mùng 2 tháng 10 năm 2013, từ trại giam Xuân Lộc – Đồng Nai, bà bị chuyển ra Bắc cùng với một tù nhân lương tâm khác vừa được trả tự do là Đỗ thị Minh Hạnh trên quãng đường 1700 km với chân tay bị xích còng nên đã nhiều lần ngất xỉu trong xe thùng bịt kín.
Hiện bà đang bị giam tại Phân trại 3 Thanh Xuân, xã Mỹ Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Nội với tình trạng sức khỏe nguy kịch trong điều kiện tù khắc nghiệt. Bà mắc nhiều chứng bệnh tim, gan, mật, dạ dày, chỉ có thể di chuyển bằng cách bò lê trên nền sàn vì không thể đứng vững – theo những gì chồng bà chứng kiến trong lần thăm cuối năm 2013. Ông Võ Văn Bửu đã ra tù vào tháng 8 năm 2012, sau khi đã thi hành án 7 năm tù giam.
Nhà cầm quyền Việt Nam xem Phật Giáo Hòa Hảo là kẻ thù. Phần lớn các hoạt động của giáo hội phải thực hiện bí mật. Nếu không, luôn có đông đảo an ninh chìm nổi theo dõi, bao vây, phá rối để có cớ bắt bớ những người tham gia lễ lạc.
11 tháng 7 năm 2014
 
Vietnam Human Rights News
vietnamhumanrightsnews@gmail.com
Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Cần Thơ: CA khủng bố buổi lễ cầu an cho mẹ cô Đỗ Thị Minh Hạnh

Cần Thơ: CA khủng bố buổi lễ cầu an cho mẹ cô Đỗ Thị Minh Hạnh

CA sắc phục sách nhiễu những người đến tham dự lễ cầu an cho bà Trần Thị Ngọc Minh

Một buổi lễ cầu an cho bà Trần Thị Ngọc Minh, mẹ ruột cô Đỗ Thị Minh Hạnh đã nhanh chóng bị hàng trăm công an khủng bố và quấy phá vào sáng ngày 5/8/2014 tại Cần Thơ.

Thông tin do Nhóm Phóng viên Phật giáo Hòa Hảo Thuần Túy gửi đi cho biết, đây là buổi lễ nhằm mục đích cầu an cho bà Trần Thị Ngọc Minh, người mẹ hiện đang hết sức nguy kịch sau một thời gian dài đi khắp thế giới đòi trả tự do cho con gái mình là Đỗ Thị Minh Hạnh.

Dưới sự chỉ đạo của cụ Lê Quang Liêm, Hội Trưởng Trung Ương Giáo Hội Phật giáo Hòa Hảo Thuần Túy, buổi lễ dự định sẽ được tổ chức tại tư gia ông Phan Tấn Hòa và bà Nguyễn Thị Ngọc Lan tại Phường Thới An, Quận Ô Môn, Thành phố Cần Thơ.
Ngay từ sáng sớm, hàng trăm công an đã lập tức được huy động nhằm quấy phá và đàn áp những người đến tham dự buổi lễ cầu an.
Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan, Hội Trưởng Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo Thuần Túy tại TP. Cần Thơ kể lại:
“Sáng sớm ngày 5-8-2014, công an đủ sắc phục và cả thường phục hằng trăm tên, đứng rải rác 2 bên đường khoảng 1 cây số ở hai đầu đường dẫn vào nhà. Họ ngăn chận không cho các tín đồ PGHH địa phương đến tham dự buổi lễ cầu an. Đồng thời tại khắp các ngõ đường, bến đò ở khu vực Phường Thới An đều có công an ngăn chận phái đoàn các tỉnh đến”.
Bản tin do Nhóm Phóng viên Phật giáo Hòa Hảo Thuần Túy trích lời các nhân chứng bị CA sách nhiễu nói:
Ông Hà Văn Duy Hồ, Tổng Đoàn Trưởng Đoàn Thanh Niên PGHH Yêu Nước nói: “Tôi cùng với ông Tống Văn Chín, Hội Trưởng PGHH Thuần Túy tỉnh An Giang  và một số người khác vừa mới đến cầu Tầm Vu thuộc phường Thới An, TP Cần Thơ liền bị lực lượng cảnh sát giao thông chận xe xét hỏi giấy tờ. Sau đó lực lượng an ninh Quận Ô Môn không cho phái đoàn vào nơi tổ chức lễ cầu an với lý do nơi đó mất an ninh”.
“Ông Nguyễn Ngọc Tân, Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Truyền Thông PGHH Thuần Túy từ phía bờ Vĩnh Long sang bến đó Thới An thì bị cảnh sát giao thông xét giấy tờ, ông Tân đã lấy máy điện thoại chụp hình thì liền bị bọn an ninh mật vụ cướp lấy điện thoại có hình ảnh trong máy”, ông Quách Hồng Phúc đi cùng ông Tân cho biết.
Ngoài ra nhiều phái đoàn ở các nơi khác đều bị chận tại nhà. Điển hình là ông Nguyễn Văn Điền, Phó Hội Trưởng Trung Ương PGHH Thuần Túy vừa ra khỏi nhà khoảng 100 mét thì bị công an xã Tân Phước, công an Huyện Lai Vung và công an tỉnh Đồng Tháp chận lại, dùng lời lẽ đe dọa và cấm không cho ông đi.
Hôm 25/7/2014, sau một thời gian dài đi khắp nới kêu cứu cho con, bà Trần Thị Ngọc Minh đã lâm bệnh nặng và được đưa đi cấp cứu tại bệnh tại bệnh viện AHK nước Áo.
Gia đình Đỗ Thị Minh Hạnh sau đó đã ngỏ lời thỉnh cầu các chức sắc và tín đồ PGHH Thuần Túy cầu an cho mẹ mình nhưng buổi lễ đã không thể diễn ra, các Trị Sự Viên PGHH Thuần Túy bị ngăn cản và cấm đoán không cho dự lễ.
“Trong thời gian chưa đầy một tháng, Giáo Hội PGHH Thuần Túy đã nhiều lần bị sách nhiễu, ngăn chận không cho đi lại, hội họp, không cho thực hiện quyền tín ngưỡng. Việt Nam không xứng đáng là thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền LHQ”, Ông Nguyễn Ngọc Tân Tổng Vụ Trưởng Truyền Thông PGHH Thuần Túy khẳng định.

Theo Nhóm Phóng viên Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Cô bé Việt Nam nhớ rõ chuyện từ…ba kiếp trước

Cô bé Việt Nam nhớ rõ chuyện từ…ba kiếp trước

Kính mừng ngày báo hiếu, Thùy Trang xin đặt hết toàn tâm toàn ý về Mẹ, gửi đến anh chị còn Mẹ hay mất mẹ, lời chân tâm của đứa con. Bé Như Ý là tựu trung cho tình cảm thiêng liêng của chúng ta đang nghĩ về Mẹ mà Thùy Trang muốn gửi gấm đến anh chị.<br />
—————–</p>
<p>Cô bé Việt Nam nhớ rõ chuyện từ…ba kiếp trước</p>
<p>Nguyễn Thị Như Ý (11 tuổi, An Giang) từ nhỏ đã nổi tiếng là một hiện tượng “vô tiền khoáng hậu” bởi khả năng thuyết giảng trước đám đông và am hiểu Phật giáo thượng thừa.</p>
<p>Ngay từ lúc sinh ra, Như Ý đã có những biểu hiện khác thường. Hơn 3 tuổi, dù nói chưa tròn tiếng, bé tiếp tục thể hiện khả năng am hiểu sâu sắc Phật đạo nói chung và tư tưởng Phật giáo Hòa Hảo nói riêng, khiến giới đồng đạo phải sửng sốt. Đặc biệt, Như Ý có thể tự tin đứng trước đám đông, thuyết giảng thông suốt hàng giờ đồng hồ về một chủ đề nào đó mà không bối rối, lặp từ. Người ta bảo, bé có nhân duyên tiền kiếp đối với đạo Phật.</p>
<p>Chị Nguyễn Thị Cam (33 tuổi, mẹ ruột bé Như Ý) kể: “Khi được hơn 3 tuổi, Như Ý đã nói chuyện như một người trưởng thành, giống hệt một tu sĩ tinh thông đạo pháp”.</p>
<p>Trong một lần nói chuyện với mẹ mình, Như Ý có nói rằng: “Con chỉ “mượn mẹ” để đầu thai xuống kiếp này tu thêm mà thôi. Kiếp trước của con là một người sinh ra có cha mẹ giàu sang, song con chỉ muốn đi tu mà không được song thân chấp thuận, con buồn tủi lắm, không dễ như cha mẹ bây giờ. Kiếp thứ hai, con được làm một nữ tu sĩ, sống được 50 tuổi nhưng vì tu chưa đắc đạo nên kiếp này con về lại nhân gian để tu tiếp, mong rằng sẽ truyền bá sâu rộng chốn nhân gian hơn nữa, con người hòa hợp, không tranh giành đặc lợi mà giúp đỡ lẫn nhau”.</p>
<p>Cũng theo chị Cam, một lần khác Như Ý không nghe lời khuyên răn của cha mẹ nên chị mắng, không ngờ bé cười rồi cất lời: “Con là một người khác chứ không phải là con mẹ đâu ạ, kiếp này con chỉ mượn cha mẹ để lên đây tu thành thêm kiếp đạo dang dở của con thôi”.</p>
<p>Với độ am hiểu đạo giáo tinh thông, thuyết giảng thu phục lòng người, Như Ý nhanh chóng được đông đảo phật tử biết đến, nhiều ngôi chùa trong giáo hội đã mời Như Ý về thuyết giảng, nói chuyện.</p>
<p>Cho đến nay, bé đã đăng đàn hằng trăm buổi nói chuyện, có thể thuyết giảng nhiều chủ đề khác nhau về đạo Phật, khiến cả những nhà nghiên cứu đạo pháp phải thán phục.</p>
<p><span class='embed-youtube' style='text-align:center; display: block;'><span class="embed-youtube" style="text-align:center; display: block;"><iframe class='youtube-player' type='text/html' width='470' height='295' src='https://www.youtube.com/embed/BEd4b6xXVZ8?version=3&rel=1&fs=1&autohide=2&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&wmode=transparent' allowfullscreen='true' style='border:0;'></iframe></span></span></p>
<p><span class='embed-youtube' style='text-align:center; display: block;'><span class="embed-youtube" style="text-align:center; display: block;"><iframe class='youtube-player' type='text/html' width='470' height='295' src='https://www.youtube.com/embed/uVhLXaI0iOQ?version=3&rel=1&fs=1&autohide=2&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&wmode=transparent' allowfullscreen='true' style='border:0;'></iframe></span></span></p>
<p>st” width=”199″ height=”200″ /></p></div>
<p><b><i><a href=QLB
Thùy Trang –  Kính mừng ngày báo hiếu, Thùy Trang xin đặt hết toàn tâm toàn ý về Mẹ, gửi đến anh chị còn Mẹ hay mất mẹ, lời chân tâm của đứa con. Bé Như Ý là tựu trung cho tình cảm thiêng liêng của chúng ta đang nghĩ về Mẹ mà Thùy Trang muốn gửi gấm đến anh chị.

—————–
Cô bé Việt Nam nhớ rõ chuyện từ…ba kiếp trước
Nguyễn Thị Như Ý (11 tuổi, An Giang) từ nhỏ đã nổi tiếng là một hiện tượng “vô tiền khoáng hậu” bởi khả năng thuyết giảng trước đám đông và am hiểu Phật giáo thượng thừa.
Ngay từ lúc sinh ra, Như Ý đã có những biểu hiện khác thường. Hơn 3 tuổi, dù nói chưa tròn tiếng, bé tiếp tục thể hiện khả năng am hiểu sâu sắc Phật đạo nói chung và tư tưởng Phật giáo Hòa Hảo nói riêng, khiến giới đồng đạo phải sửng sốt. Đặc biệt, Như Ý có thể tự tin đứng trước đám đông, thuyết giảng thông suốt hàng giờ đồng hồ về một chủ đề nào đó mà không bối rối, lặp từ. Người ta bảo, bé có nhân duyên tiền kiếp đối với đạo Phật.

Chị Nguyễn Thị Cam (33 tuổi, mẹ ruột bé Như Ý) kể: “Khi được hơn 3 tuổi, Như Ý đã nói chuyện như một người trưởng thành, giống hệt một tu sĩ tinh thông đạo pháp”.

Trong một lần nói chuyện với mẹ mình, Như Ý có nói rằng: “Con chỉ “mượn mẹ” để đầu thai xuống kiếp này tu thêm mà thôi. Kiếp trước của con là một người sinh ra có cha mẹ giàu sang, song con chỉ muốn đi tu mà không được song thân chấp thuận, con buồn tủi lắm, không dễ như cha mẹ bây giờ. Kiếp thứ hai, con được làm một nữ tu sĩ, sống được 50 tuổi nhưng vì tu chưa đắc đạo nên kiếp này con về lại nhân gian để tu tiếp, mong rằng sẽ truyền bá sâu rộng chốn nhân gian hơn nữa, con người hòa hợp, không tranh giành đặc lợi mà giúp đỡ lẫn nhau”.

Cũng theo chị Cam, một lần khác Như Ý không nghe lời khuyên răn của cha mẹ nên chị mắng, không ngờ bé cười rồi cất lời: “Con là một người khác chứ không phải là con mẹ đâu ạ, kiếp này con chỉ mượn cha mẹ để lên đây tu thành thêm kiếp đạo dang dở của con thôi”.

Với độ am hiểu đạo giáo tinh thông, thuyết giảng thu phục lòng người, Như Ý nhanh chóng được đông đảo phật tử biết đến, nhiều ngôi chùa trong giáo hội đã mời Như Ý về thuyết giảng, nói chuyện.

Cho đến nay, bé đã đăng đàn hằng trăm buổi nói chuyện, có thể thuyết giảng nhiều chủ đề khác nhau về đạo Phật, khiến cả những nhà nghiên cứu đạo pháp phải thán phục.

http://youtu.be/BEd4b6xXVZ8

http://youtu.be/uVhLXaI0iOQ

Lịch Sử PG Hòa Hảo

Lịch Sử PG Hòa Hảo

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Fb Trần Huỳnh Duy Thức – Nhà hoạt động từ thiện và tôn giáo Mai Thị Dung, một nông dân cắt lúa, sinh năm 1969, đang tiếp tục bị hành hạ trong tù khi thụ án 11 năm sau 2 lần bị kết án.
Cùng chồng là ông Võ Văn Bửu, bà Mai Thị Dung – tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo – đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình, tuyệt thực cho các tín hữu đồng đạo, phản đối nhà cầm quyền CSVN tịch thu các cơ sở giáo hội và đàn áp tự do tôn giáo.
Bất chấp gia đình có hai người con dưới tuổi thành niên, ngày 5 tháng 8 năm 2005, công an Việt Nam bắt giữ cả hai vợ chồng Mai Thi Dung và Võ Văn Bửu. Ngày 19 tháng 9 năm 2005, Tòa án tỉnh An Giang kết án bà Mai Thị Dung 6 năm tù và chồng bà 7 năm vì tội “gây rối trật tự công cộng”. Trước đó không lâu, ông Võ Văn Bửu vừa mãn hạn tù 3 năm cũng vì tội danh tương tự.
Trong tù, bà Mai Thị Dung kiên trì tổ chức các lễ Phật. Vì lẽ đó, ngày 22 tháng 7 năm 2008, nhà cầm quyền đã phạt thêm 5 năm tù về tội “chống đối nhân viên công lực”, nâng tổng án tù mà bà Dung phải chịu lên 11 năm.
Suốt thời gian ở tù, mặc dù bệnh nặng, bà Mai Thị Dung luôn bị hành hạ, bị cấm nói chuyện với các tù nhân – bởi thái độ bất hợp tác với cai tù trong việc “ký biên bản nhận tội”. Bà từng tuyệt thực trong tù để phản đối ngược đãi và yêu cầu được đưa đi điều trị. Chỉ một ngày sau khi bà tuyệt thực, hôm mùng 2 tháng 10 năm 2013, từ trại giam Xuân Lộc – Đồng Nai, bà bị chuyển ra Bắc cùng với một tù nhân lương tâm khác vừa được trả tự do là Đỗ thị Minh Hạnh trên quãng đường 1700 km với chân tay bị xích còng nên đã nhiều lần ngất xỉu trong xe thùng bịt kín.
Hiện bà đang bị giam tại Phân trại 3 Thanh Xuân, xã Mỹ Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Nội với tình trạng sức khỏe nguy kịch trong điều kiện tù khắc nghiệt. Bà mắc nhiều chứng bệnh tim, gan, mật, dạ dày, chỉ có thể di chuyển bằng cách bò lê trên nền sàn vì không thể đứng vững – theo những gì chồng bà chứng kiến trong lần thăm cuối năm 2013. Ông Võ Văn Bửu đã ra tù vào tháng 8 năm 2012, sau khi đã thi hành án 7 năm tù giam.
Nhà cầm quyền Việt Nam xem Phật Giáo Hòa Hảo là kẻ thù. Phần lớn các hoạt động của giáo hội phải thực hiện bí mật. Nếu không, luôn có đông đảo an ninh chìm nổi theo dõi, bao vây, phá rối để có cớ bắt bớ những người tham gia lễ lạc.
11 tháng 7 năm 2014
 
Vietnam Human Rights News
vietnamhumanrightsnews@gmail.com

Leave a Reply

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

ĐỨC THẦY LÂM NẠN TẠI ĐỐC-VÀNG

ĐỨC THẦY LÂM NẠN TẠI ĐỐC-VÀNG

LONG XUYÊN ngày 21 tháng 3 năm 1865

(20/03/2011) (Xem: 14308)

 

Kính gởi Ông NGÔ-XUÂN và Quí vị Đồng Bào Thủ Đô

 

SAIGON

 

Kính thưa Ông cùng Quý-vị,

 

Tiếp nhận được thơ ông cùng quý vị gởi đến tôi đề ngày 29 tháng 3 năm 1965 vào lúc 14 giờ

 

Vội biên thư hồi đáp cho ông cùng quý vị để tường:

 

Muốn đáp lại những thạnh tình chiếu cố ấy, mặc dù tôi rất kém khả năng hiểu biết nhưng, đứng về cương vị một môn-nhơn đệ tử của Đức Huỳnh Giáo Chủ thì nhiều hay ít cũng am tường về giáo lý của Ngài.

 

Trân trọng xin hồi đáp cùng quý vị, với phạm vi hiểu biết của tôi, còn những điều cao siêu thì xin nhường lời cho các bậc cao minh giảng giải. Riêng tôi có vài lời thiện cảm sau đây, dù không được thỏa mãn, kính mong quý vị niệm tình tha thứ.

 

–        Hỏi: Tại sao có danh từ Phật-Giáo Hòa-Hảo?

 

–        Đáp: Thưa quý vị, trải qua những năm tìm tòi học đạo, chính tôi đã thường nghe Đức Thầy tôi có giải đáp trong những khi thuyết pháp vào lúc mà Đức Thầy tôi thực hiện trong lời sấm tiên tri: “Chừng ơn trên ban bố lục thông Thầy sẽ được Tây Đông du thuyết”.

 

Quả thật như lời đúng vào năm 1945 Đức Thầy tôi có dịp đi du thuyết (khuyến nông) khắp 21 tỉnh, thì cũng có nhiều đồng bào chất vấn giống như những câu hỏi của quý vị đấy?

 

Vậy xin mạng phép dựa vào những câu giải đáp của Đức Thầy tôi và luôn tiện ghi lại nơi đây để ông cùng quý vị rõ:

 

“Phật Giáo là giáo pháp của nhà Phật, mà tôi là đệ tử trung thành của Đức Phật Thích Ca mâu ni, còn Hòa Hảo là danh từ quê hương của tôi. (Lời Đức Thầy)

 

Sau đây tôi xin phụ họa với ý nghĩa mà không ngoài giáo pháp của Đức Thầy tôi đã truyền dạy, trong 14 giòng khoáng thủ theo lối văn bát ngôn trường thiêng.

 

PHẬT vốn tánh từ bi vô lượng chí

GIÁO pháp khai nhiệm lý khắp nhơn gian

HÓA đồng trong sanh chúng hiệp nhứt tràng

HẢO ý nguyện vạn ban giai hướng thiện

LÀ sứ mệnh thừa vâng nơi Kim-điện

DANH một đời bốn biển lẫn sơn thanh

TỪ khởi nguyên căn thiện sẵn trời danh

QUÊ quán cổ kim sanh miền Linh-Địa

HƯƠNG xuất hiện thơm mùi Trung-Tín-Nghĩa

CỦA Tiên Rồng trau trỉa được nên công

ĐỨC cao siêu ban rãi thuận muôn lòng

HUỲNH đạt đạo lục thông tri tiền hậu

GIÁO thọ sắc Thế-Tôn, lời nguyền tấu

CHỦ tâm thành roi dấu Vình Trường Miên.

 

Kính thưa Ông cùng Quý vị,

 

Còn những điểm như: Mục-đích, Tôn-chỉ, thân thế và cách hành đạo của Đức Thầy tôi thì xin hẹn lại cùng quý vị, tôi sẽ hồi đáp trong tập sắp xuất bản của tực đề là “TÌM HIỂU GIÁO LÝ PHẬT GIÁO HÒA HẢO” chắc chắn quý vị sẽ được hài lòng.

 

Trước khi gác bút, và không còn lời lẽ cho hơn để được đáp tạ với nhân tình cao quí của quí vị cho vừa.

 

Nơi đây tôi chỉ đặt cả tâm thành khẩn nguyện Đức Phật Từ Bi gia hộ cho toàn thể quý vị cùng bửu quyến cũng như tất cả nhơn gian đều được hưởng mọi phước lành, để gọi lòng thiện cảm giữa tôi cùng quý vị.

 

Trân trọng kính chào

 

LÊ-THÀNH-LẠC

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Chương 2: Pháp Xâm Lược Và Cuộc Kháng Chiến Của Dân Tộc Vn

Chương 2: Pháp Xâm Lược Và Cuộc Kháng Chiến Của Dân Tộc Vn

(Xem: 93347)
  • Vài Nét Về Tác Giả – Nguyễn Long Thành Nam
  • PHẦN I: BỐI CẢNH LỊCH SỬ
  • PHẦN II BỬU SƠN KỲ HƯƠNG
  • PHẦN III : PHẬT GIÁO HÒA HẢO
  • PHẦN IV : PHẬT GIÁO HÒA HẢO VÀ CÁCH MẠNG
  • PHẦN V: SAU KHI ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ RA ĐI
  • PHẦN VI: CÁC CHẾ ĐỘ VIỆT NAM ĐỐI VỚI PGHH
  • PHỤ LỤC I
  • PHỤ LỤC II
Tiến trình Tây phương xâm nhập Ðông phương có thể xem là khởi đầu từ chuyến đi phương Ðông của Marco Polo (1275-1292). Tây phương sang Ðông phương trước hết là các giáo sĩ với mục đích truyền đạo. Sau đó là các tổ hợp tư bản đến với mục đích trục lợi thương mại. Vào cuối thế kỷ 18, các đế quốc Tây phương tranh giành lẫn nhau để chiếm thuộc địa. Ngọn gió thổi từ Tây phương đến Ðông phương đã đem vào Á Châu luồng văn minh duy lý và cơ khí, tạo những thay đổi lớn lao về văn hóa, kinh tế và xã hội tại khu vực này.Tiếng đại bác đầu tiên của hai chiến hạm Pháp là La Gloire và La Victorieuse bắn vào lãnh thổ Việt Nam (Ðà Nẵng) năm 1847, báo hiệu ý đồ thực dân xâm lược của đế quốc Pháp, dùng quân lực đánh chiếm Ðông Dương, song hành với hành động tương tự của các đế quốc Tây phương khác: Anh, Hòa Lan, Bồ Ðào Nha, Y Pha Nho, tại Á Châu. Lúc đó là năm thứ 7 triều vua Thiệu Trị, cũng là năm đầu tiên triều vua Tự Ðức, 800 quả đạn đại bác đã làm thiệt hại mấy ngàn sinh mạng Việt Nam, mở đầu cho một giai đoạn rất nhiều bi thương của dân tộc này.Vì những khó khăn nội bộ của nước Pháp, cho nên mãi đến năm 1856, Hoàng đế Nã Phá Luân III mới lấy quyết định thực sự cử binh đánh chiếm Việt Nam. Ngày 26-9-1856, chiến hạm Catinat nã đại bác vào Ðà Nẵng. Chiến thuật xâm lược của Pháp nhằm chiếm lấy miền Nam trước hết, để làm đầu cầu quân sự chính trị tiến dần ra Bắc, Trung Việt, Cao Miên và Ai Lao, bằng ngoại giao, quân sự nhưng chính yếu là sức mạnh của quân đội. Năm 1862, quân Pháp chiếm xong ba tỉnh miền Ðông, và đến 1867 chiếm thêm ba tỉnh miền Tây Nam Việt, rồi sau đó tiến ra miền Bắc. Cuộc xâm lăng này hoàn thành năm 1887, sau khi Pháp đã dàn xếp với Trung Hoa, ký kết hiệp ước Thiên Tân giữa Patenôtre và Lý Hồng Chương 27-4-1885, theo đó Trung Hoa công nhận cuộc bảo hộ của nước Pháp tại Việt Nam (*) .

Tuy rằng quân Pháp đã chiếm được toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, nhưng đó không phải là một cuộc xâm lược dễ dàng. Quân đội Pháp tuy hùng hậu và có ưu thế võ khí, nhưng đã phải chịu rất nhiều thiệt hại để đối phó với sức đề kháng mãnh liệt và dẻo dai của quân và dân Việt Nam, ròng rã suốt ba mươi năm, từ 1860 đến 1887. Ấy là chưa kể nỗ lực ngoại giao của Pháp thỏa hiệp quyền lợi với triều đình Mãn Thanh qua hiệp ước Thiên Tân, nhằm tạo tình trạng hòa hoãn với Trung Quốc, để khỏi phải bận tâm đến sự can thiệp của Trung Quốc, mà dồn nỗ lực vào hành động quân sự đánh chiếm Việt Nam.

Năm 1887 là thời điểm mà quân Pháp cho là đã hoàn thành cuộc xâm lược quân sự tại Việt Nam, và cũng năm đó Pháp thực hiện công cuộc thống nhứt bộ máy cai trị thuộc địa, đặt viên toàn quyền đầu tiên điều khiển bộ máy thống trị Ðông Dương. Tuy nhiên, sự đề kháng của dân tộc Việt Nam không chấm dứt ở thời điểm 1887, mà còn tiếp tục suốt từ đó cho đến khi Pháp phải chính thức ra đi, rời khỏi vị trí quyền lực tại Việt Nam, năm 1956.

Ðây là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, người Việt Nam không chấp nhận uy quyền thống trị của thực dân Pháp, đã kết thành những phong trào liên tục tranh đấu đòi lại chủ quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam.

Trong lịch sử nhơn loại, những cuộc xâm chiếm thuộc địa thường dễ dàng thành công ở giai đoạn đầu, giai đoạn đánh chiếm bằng quân sự, nhưng lại gặp nhiều khó khăn chật vật ở giai đoạn sau. Ðó là giai đoạn đề kháng văn hóa của dân tộc bị trị đối phó với ngoại bang thống trị. Tiến trình xâm chiếm và thống trị của Pháp tại Việt Nam, cũng không thoát khỏi quy luật lịch sử đó.

Giai đoạn đầu, với khoa học chiến tranh tiến bộ và võ khí tân tiến của thế kỷ 19, quân đội Pháp đã có ưu thế để chiến thắng tại Việt Nam. Quân lực của triều đình và của các tổ chức nhân dân võ trang kháng chiến, tuy chiến đấu dũng cảm, hy sinh cao độ, với lòng yêu nước nhiệt thành, nhưng vì yếu thế về võ khí, và chưa có kiến thức mới để ứng phó hữu hiệu với khoa học chiến tranh cơ giới của Tây phương, cho nên rốt cuộc đã phải thất bại về quân sự.

Sau cuộc trường kỳ kháng chiến gần 40 năm (1856-1895), tuy rằng các phong trào kháng chiến võ trang còn hoạt động lẻ tẻ ở các địa phương, quân đội Pháp đã làm chủ được tình hình quân sự trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. (Ghi chú: 1856 chiến hạm Pháp bắn vào Ðà Nẵng, và 1895, phong trào văn thân kháng chiến Phan Ðình Phùng tan rã).

Sau giai đoạn chiến thắng quân sự, bộ máy thống trị Pháp tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn phức tạp hơn trong việc đối phó với cuộc đề kháng muôn hình vạn trạng, không công khai, không chiến lũy, mà âm thầm, kín đáo, bí mật, bền bỉ dẻo dai, diễn ra thường trực trong tâm lý và thái độ của người dân Việt. Tinh thần ái quốc, khát vọng tự do, ý thức độc lập thấm nhuần sâu xa trong tâm hồn người dân Việt từ mấy ngàn năm lịch sử, không thể nào bị dập tắt hay bóp chết một cách dễ dàng giống như sự chiến thắng của một quân đội mạnh đối với một quân lực yếu thế. Sức mạnh vật chất không thể tiêu diệt được những tình cảm phi vật chất. Cố nhiên, khi Pháp dùng võ lực, nhà tù, luật lệ khắc nghiệt, khủng bố đàn áp để đối phó, thì người Việt phải lui bước trước sức mạnh. Nhưng đó chỉ là bước lui tạm thời, để khi có cơ hội nào đó, một biến cố xảy ra, là lập tức tiềm lực đề kháng lại bộc phát nổ bùng mãnh liệt, không lường trước được.

1- PHONG TRÀO VĂN THÂN CẦN VƯƠNG KHÁNG PHÁP

Các tổ chức kháng Pháp phát sanh trước hết tại Nam Việt, ngay từ lúc quân đội xâm lược Pháp đặt chân lên lãnh thổ Việt Nam năm 1860. Phong trào phát khởi tại miền Ðông, sau đó lan rộng khắp Nam Việt rồi khắp nước Việt Nam. Ðó là phản ứng chung của dân tộc chống ngoại xâm, hễ quân Pháp chiếm cứ nơi nào, là tổ chức kháng Pháp lập tức phát sanh tại nơi đó.

Ðặc tính căn bản chung của các phong trào này là Văn thân Cần Vương. Nghĩa là các tổ chức kháng Pháp được lãnh đạo bởi giới Văn thân, tức giới Sĩ phu Nho học đã từng đóng vai trò lãnh đạo hướng dẫn quần chúng. Giới sĩ phu quy tụ dân chúng nổi dậy đánh Pháp để phục hồi uy quyền triều đình, tức là nhà vua Việt Nam (cần vương). Về mặt tư tưởng, giới sĩ phu thấm nhuần Nho giáo, đặt mối tương quan quân thần lên trên hết (Tam cương: Quân thần, Phụ tử, Phu thê) xem nhà Vua là biểu tượng quốc gia, và trung quân đồng nghĩa với ái quốc. Về mặt xã hội, giới sĩ phu được dân chúng kính trọng, nghe theo, phần đông truyền bá giáo dục trong vùng, cho nên khi dựng cờ khởi nghĩa chống Pháp, họ có khả năng huy động quần chúng tham gia. Ðương nhiên các phong trào kháng Pháp thời kỳ đầu tiên cho tới cuối thế kỷ 19, đều do giới sĩ phu lãnh đạo và mang tư tưởng phục vụ triều đình, có mục đích đánh đuổi Pháp, để tái lập chế độ quân chủ truyền thống.

Từ 1860 đến 1885, nhiều tổ chức khởi nghĩa chống Pháp đã xuất hiện, trong đó lịch sử Việt Nam ghi nhận các tổ chức sau đây có tầm quan trọng cao hơn hết:

Nguyễn Trung Trực 1860-1868, Trương Công Ðịnh 1861-1864, Nguyễn Hữu Huân 1863-1868, Võ Duy Dương 1865-1866, Trần Văn Thành 1865-1873, Ðinh Công Tráng 1866-1867, Nguyễn Thiện Thuật 1885-1889, Phan Ðình Phùng 1885-1895, Hoàng Hoa Thám 1887-1913.

Tất cả những lãnh tụ kháng Pháp này đã thất bại, mặc dù họ đã chiến đấu rất dũng cảm. Lý do thất bại là: lần đầu tiên binh sĩ Việt Nam phải đương đầu với một lực lượng quân sự địch khác hẳn với tất cả quân đội địch mà họ đã phải đương đầu trong lịch sử, như quân Trung Hoa, Chiêm Thành, Chân Lạp. Ðiều kiện chiến trường, võ khí, chiến thuật, và trình độ tiến hóa trước kia không có sự cách biệt quá đáng giữa các địch thủ Á Châu, trên các chiến trường Á Châu. Còn Pháp là một địch thủ hoàn toàn xa lạ, với khoa học chiến tranh khác, phương pháp chiến đấu khác, và các loại võ khí cơ giới tiến bộ rất xa so với võ khí cổ điển thô sơ của Việt Nam…

Do đó, tương quan lực lượng trong cuộc chiến đấu này trên phương diện khí giới tiến bộ, rất chênh lệch và có hại cho kháng chiến Việt Nam. Mặc dù đã đạt những thắng lợi ngoại hạng với võ khí yếu kém, như những trận đánh chìm tầu Pháp tại Nhựt Tảo hay hạ đồn Pháp tại Kiên Giang do lãnh tụ Nguyễn Trung Trực chỉ huy, nhưng rốt cuộc các lãnh tụ kháng chiến đã bị Pháp bắt giết hay tử trận, vẹn danh kẻ yêu nước, sau khi đã xả thân đem nhiệt tình và dõng cảm để cố bù đắp sự thua thiệt về võ khí, sự thất thế về lực lượng quân sự so với quân Pháp.

Phong trào Văn thân Cần vương kháng Pháp được xem như đã chấm dứt sau khi nhà lãnh tụ Cần vương nổi tiếng trong lịch sử là Phan Ðình Phùng tạ thế năm 1895. Cũng từ đây, theo sự phân định của các nhà biên khảo Việt sử, tư tưởng Cần vương bắt đầu phai lạt trong bối cảnh xã hội mới, nhường chỗ cho tư tưởng canh tân hướng về quốc gia dân tộc, hơn là sống chết vì Vua.

2- GIAI ÐOẠN QUÁ ÐỘ: CÁCH MẠNG CHUYỂN HƯỚNG CANH TÂN

Mặc dầu sau 1895, vẫn còn những nỗ lực lẻ tẻ của các tổ chức võ trang kháng Pháp, và phong trào Cần vương Hoàng Hoa Thám khởi đầu năm 1887 tại Bắc Việt cũng còn tồn tại cho đến 1910, nhưng người Việt Nam đã bắt đầu có những nhận thức mới, trước một hoàn cảnh mới, để chuyển cách mạng giải phóng dân tộc sang khuynh hướng mới, hình thức tổ chức mới, phương pháp hành động mới. Tạm gọi là khuynh hướng canh tân.

Thực tế trước mắt đã cho thấy rằng các phong trào Cần vương thất bại bởi thua kém võ khí, và nếu tiếp tục kháng chiến trong những điều kiện cũ, sẽ phải khó khăn hơn. Bấy giờ quân đội Pháp đã củng cố vị thế và kiểm soát được tình hình, có hy sinh thêm nữa dưới hình thức chiến đấu thuần túy quân sự, mà không có cải tiến về võ trang và phương pháp cũng sẽ đành thất bại thêm mà thôi.

Xã hội Việt Nam trong hai thập niên đầu của thế kỷ 20 tất nhiên du nhập ảnh hưởng của tư tưởng và văn minh tây phương, qua sự hiện diện của người Pháp tại Ðông Dương, và sự mở rộng chân trời kiến thức của người Việt trước hoàn cảnh mới của thế giới. Giới sĩ phu yêu nước cũng ý thức trào lưu tiến hóa về vật chất và thay đổi về tư tưởng. Trong bối cảnh một xã hội đang chuyển hướng đó, tư tưởng trung quân tuyệt đối và quân quyền truyền thống mờ nhạt đi, các quan niệm về dân chủ, tự do manh nha và phát triển. Cho nên chính giới sĩ phu Nho học, trong vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam, cũng tự họ thay đổi khuynh hướng cách mạng, từ chủ trương quân chủ tuyệt đối, sang quân chủ lập hiến như gương nước Nhựt.

Do đó, một số sĩ phu Việt Nam tìm cách xuất dương, sang Nhựt Bổn và Trung Hoa (Tăng Bạt Hổ, Phan Bội Châu, Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể,…) với ba mục đích: tìm mua võ khí mới, tìm sự yểm trợ bên ngoài, và tổ chức đưa thanh niên Việt ra ngoại quốc để học hỏi văn minh tiến bộ mới (đào luyện nhân tài). Hai tổ chức quan trọng nhứt trong giai đoạn này là Ðông Du (xuất dương) và Ðông kinh Nghĩa thục (tại Hà Nội).

Nhìn ra bên ngoài thế giới, người Việt có ý thức cách mạng và chính trị, nhận thấy các biến cố mới xảy ra giữa Nhật Bổn và Trung Hoa (năm 1885 Trung Hoa phải nhượng đảo Ðài Loan cho Nhựt cai trị trong những điều kiện thua thiệt) giữa Nhựt Bổn và nước Nga trong trận hải chiến 1904-1905 (Nga thất bại). Hai biến cố này như những tia sáng mới khích lệ người Việt Nam đi theo tấm gương canh tân của nước Nhựt trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Thêm vào đó, cuộc cách mạng dân quyền Tân Hợi 1911 tại Trung Hoa, rồi cuộc cách mạng tháng 10-1917 tại Nga, chấm dứt các chế độ quân chủ, là những động lực thúc đẩy khuynh hướng cách mạng của người Việt phải tiến tới bằng những bước canh tân mạnh dạn hơn nữa. Ðệ nhứt thế chiến 1914-1918 đã đưa một số khá nhiều thanh niên Việt sang tham chiến tại Âu Châu trong hàng ngũ quân đội Pháp, lớp người này đã đem về Việt Nam một số nhận xét về nếp sinh hoạt, về tư tưởng mà họ đã hấp thụ trong không khí tự do dân chủ tại nước Pháp và Âu châu. Các tư tưởng gia Ðông phương Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu đề xướng cuộc canh tân mạnh mẽ cho xã hội Á Châu, cũng tạo ảnh hưởng khá sâu rộng đối với các sĩ phu Việt Nam.

Các biến chuyển kể trên, đồng thời với các sinh hoạt giáo dục và kinh tế xã hội trong chế độ cai trị của người Pháp, đã tạo nên trong xã hội Việt Nam một lớp người mới, về tư tưởng cũng như về vị trí xã hội. Lớp người này được xem như lớp tiểu tư sản kiểu Tây Âu, hấp thụ tư tưởng văn minh Tây phương, với kiến thức và suy luận duy lý, đã bước những bước dài hơn và mạnh hơn là chủ trương canh tân giới hạn của giới sĩ phu nho học. Ðây là lớp thanh niên Việt Nam mới, đã dứt khoát từ bỏ chủ trương cách mạng cần vương, đi thẳng vào con đường dân chủ hóa. Cũng từ thời kỳ này, vai trò của giới sĩ phu nho học chỉ còn giới hạn ở vị trí lãnh đạo tinh thần, như những bó đuốc lịch sử và những tấm gương hy sinh vì nước. Chính giới trí thức tân học sau này sẽ trở thành lớp lãnh đạo công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc trong một bối cảnh xã hội mới.

3- GIAI ÐOẠN CANH TÂN: CÁCH MẠNG VỚI Ý THỨC DÂN TỘC DÂN CHỦ

Bắt đầu vào thập niên 30, người Việt Nam yêu nước ý thức rằng họ tham gia cách mạng không phải để phục hồi chế độ quân quyền, cũng không phải vì lòng trung thành với Thiên tử (vua chúa), mà chính là để phục vụ quốc gia và dân tộc, và để thiết lập một chế độ tự do dân chủ trong một nước Việt Nam độc lập. Tuy ý niệm quân chủ lập hiến vẫn còn phần nào giá trị trong nếp suy nghĩ của quần chúng trong một nước có truyền thống quân chủ lâu đời, nhưng phần đông giới thanh niên đều biểu lộ khuynh hướng dân chủ tự do rất rõ rệt và mạnh mẽ.

Một khuynh hướng cực đoan cũng phát sinh trong giới trí thức tân học. Ðó là lớp người hướng về chủ thuyết Mác xít, vì họ cho rằng Nga Sô sẽ giúp họ chống lại đế quốc tư bản. Số người này đã lựa chọn con đường đi vào hệ thống cộng sản quốc tế, dựa vào Nga Sô Viết để chống Pháp, đuổi Pháp, rồi sau đó thực hiện một cuộc cách mạng vô sản tại Việt Nam, trong tiến trình vô sản hóa thế giới.

Trong giai đoạn này, khởi đầu từ thập niên 30, nhiều tổ chức cách mạng Việt Nam đã xuất hiện, và một số còn tồn tại đến bây giờ.

Nam Ðồng Thư Xã (1927) sau trở thành Việt Nam Quốc Dân Ðảng, với cuộc nổi dậy lịch sử tại Yên Báy, do lãnh tụ Nguyễn Thái Học cầm đầu (10-2-1930), 13 chiến sĩ VNQDÐ bị Pháp hành quyết.

Ðại Việt Quốc Dân Ðảng thành lập năm 1941 bởi lãnh tụ Trương Tử Anh, ông bị Cộng sản hạ sát năm 1946.

Ðại Việt Duy Dân Ðảng thành lập năm 1942, bởi lãnh tụ Lý Ðông A. Ông mất tích trong đợt khủng bố tại Hòa Bình năm 1946, Cộng sản hạ sát nhiều cán bộ của đảng này.

Việt Nam Phục Quốc Hội, thành lập bởi Kỳ ngoại hầu Cường Ðể, đã tấn công vị trí quân sự Pháp tại Lạng Sơn năm 1940, lãnh tụ Trần Trung Lập bị giết. Kỳ ngoại hầu Cường Ðể tạ thế năm 1951 tại Ðông Kinh (Nhựt).

Ðông Dương Cộng Sản Ðảng thành lập năm 1930 do Hồ Chí Minh, dựa vào hệ thống Cộng sản đệ tam quốc tế Nga Sô, để đoạt thắng lợi đấu tranh tại Việt Nam. Ðảng này đã cai trị miền Bắc Việt Nam từ 1954 đến 1975, và cai trị toàn bộ Việt Nam sau 30-4-1975.

Phật Giáo Hòa Hảo, một tôn giáo cách mạng thành lập năm 1939 tại miền Nam Việt Nam, do Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ, và sau này thành lập thêm chánh đảng Việt Nam Dân Chủ Xã Hội (1946). Năm 1947, Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ bị Cộng sản ám hại và vắng mặt từ thời điểm đó.

Cao Ðài Giáo, một tôn giáo cách mạng khác thành lập tại miền Nam, sau 1928, bởi ông Ngô Văn Chiêu, và sau đó được chỉ đạo bởi Hộ Pháp Phạm Công Tắc. Ông bị Pháp bắt và đày biệt xứ tại Madagascar, rồi sau này từ trần tại Cao Miên trong giai đoạn đi lưu vong thời chế độ Ngô Ðình Diệm.

Ngoài các tổ chức cách mạng trên đây được xem là vẫn tiếp tục hoạt động và tồn tại từ khi thành lập đến ngày nay, còn có nhiều nhóm tranh đấu khác có tầm vóc giới hạn và đời sống ngắn ngủi hơn, như: Việt Nam Nghĩa Ðoàn, Việt Nam Hưng Quốc (1925), Việt Nam Thanh niên Cách mạng, Tân Việt Cách Mạng Ðảng (1925), Phạm Hồng Thái, Trịnh Văn Căn… Trong Nam Việt có các phong trào Thiên Ðịa Hội, đảng Việt Nam Quốc Gia Ðộc Lập, đảng Lập Hiến, nhóm Ðệ Tứ, tổ chức Bình Xuyên… đều đã có đóng góp vào công cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp để giải phóng dân tộc. Các tổ chức này ngày nay đã không còn hoạt động và hiện diện như một chánh đảng hay tổ chức nữa, tuy rằng vẫn còn những cá nhân bảo tồn danh nghĩa. Nhưng tất cả đều như các mảnh vụn trong kiến trúc Cách mạng Việt Nam, bị nghiền nát bởi khủng bố đàn áp của thực dân, cộng sản và các chế độ cộng hòa sau 1954.

Trong giai đoạn canh tân này, các tổ chức cách mạng áp dụng hình thức tổ chức, phương pháp và chiến thuật đấu tranh khác với giai đoạn Cần vương. Hình thức tổ chức có tính cách dân chủ, và tập thể chỉ huy, thay vì lãnh tụ chế như trước kia. Phương pháp đấu tranh bây giờ đa dạng, chớ không chỉ có võ trang kháng chiến. Các tổ chức này vận dụng lực lượng quần chúng vào đấu tranh, tham gia biểu tình chống đối, sử dụng hiệu lực văn hóa vào công tác tuyên truyền cách mạng, hoặc nêu lên các yêu sách công khai, hoặc tổ chức bí mật ám sát phá hoại địch… Về chiến thuật, các tổ chức đấu tranh này đưa dần phong trào cách mạng từ các hình thức chính trị sang cách mạng, từ ôn hòa sang bạo lực, từ phản đối bất hợp tác sang võ trang kháng chiến… Ðây cũng là những phương pháp và chiến thuật đấu tranh thích hợp với từng hoàn cảnh mới, và một phần được du nhập vào Việt Nam qua các sách vở và kinh nghiệm Tây phương.

4- HAI KHUYNH HƯỚNG QUỐC GIA VÀ QUỐC TẾ

Ðiều quan trọng nảy sanh trong giai đoạn này và sẽ chi phối lâu dài tương lai nước Việt Nam, là sự manh nha của hai khuynh hướng dị biệt và đối nghịch trong hàng ngũ cách mạng chống lại thực dân Pháp. Tuy rằng mỗi tổ chức cách mạng đều theo chủ thuyết riêng, nhưng nói chung, tất cả đều nêu lên mục tiêu là đòi chủ quyền độc lập quốc gia, cho nên tất cả các tổ chức cách mạng này được xếp hạng chung vào một khối quen gọi là Khối Quốc Gia. Duy có một tổ chức tự tách mình ra khỏi Khối Quốc Gia, để đi theo hệ thống quốc tế của cộng sản chủ nghĩa, với mục tiêu tối hậu không phải là độc lập quốc gia, mà là vô sản hóa toàn thế giới. Ðó là Ðông Dương Cộng Sản Ðảng do Hồ Chí Minh thành lập năm 1930, dựa vào Mạc Tư Khoa, và được Nga Sô yểm trợ.

Với chiêu bài chống đế quốc tư bản thực dân để giải phóng các dân tộc nhược tiểu bị trị , Nga Sô đã làm cho một số người Việt Nam tin theo và dựa vào Mạc Tư Khoa để thực hiện cách mạng. Ngược lại, những chiến sĩ cách mạng Việt Nam trong Khối Quốc Gia lại cho rằng đảng Cộng sản Ðông Dương nằm trong hệ thống quốc tế của Nga Sô, chỉ nêu mục tiêu giải phóng dân tộc làm bình phong để trá hình mà vận dụng quần chúng, gây tạo uy thế, trong một giai đoạn chiến lược.

Sự khác biệt chủ trương đường lối này tiềm tàng trong lúc đầu sau đó từ tháng 9-1945, nổ bùng thành cuộc xung đột mãnh liệt giữa hai khuynh hướng Quốc gia và Quốc tế vào đầu thập niên 50, và trở thành đối nghịch sắt máu dưới hình thức chiến tranh thực sự khi chánh phủ Hồ Chí Minh thi hành chánh sách đàn áp đối lập từ tháng 8-1945.

Sự bùng nổ Ðệ nhị thế chiến vào tháng 9-1939 là cơ hội thuận tiện cho dân tộc Việt Nam phát động va tăng gia nỗ lực cách mạng giải phóng dân tộc. Quân đội Nhựt Bổn đến Ðông Dương, và nước Việt Nam bị đặt vào tình thế một cổ hai tròng dưới sự cai trị của hai đế quốc: Pháp và Nhựt. Tình trạng này kéo dài đến 9-3-1945, quân đội Nhựt lật đổ bộ máy quyền lực Pháp tại Ðông Dương, tạo cơ hội duy nhất cho Hoàng đế Bảo Ðại tuyên bố Việt Nam Ðộc Lập, sau trên 80 năm Pháp thuộc. Tuy nhiên, Nhựt Bổn cũng không có thiện chí thực sự trả độc lập cho dân tộc Việt Nam cho nên bộ máy quân phiệt Nhựt vẫn nắm quyền thống trị, trong khi chánh phủ độc lập đầu tiên do thủ tướng Trần Trọng Kim cầm đầu không có thực quyền, mặc dầu đó là một nội các gồm những nhà trí thức khoa bảng nổi tiếng thời đó, tuy giàu lòng yêu nước, nhưng yếu kém ý thức chánh trị, không nhận thức được hiểm họa cộng sản, do đó đã để cho Việt Minh, không nhận thức được hiểm họa cộng sản, do đó đã để cho Việt Minh cướp mất cả chánh quyền lẫn cái thế chủ động.

Chỉ năm tháng sau, Nhựt hoàng đầu hàng Ðồng minh, Ðệ nhị thế chiến chấm dứt, toàn dân Việt Nam đồng loạt đứng dậy đòi độc lập thật sự. Ðây là cao điểm của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, được mệnh danh là Cách mạng Tháng Tám (1945). Nhưng cũng từ đó, khởi đầu những khó khăn khủng khiếp và đau khổ trường kỳ cho dân tộc Việt Nam.

Từ bên ngoài, đạo quân viễn chinh Pháp đã lên đường sang tái chiếm Ðông Dương. Từ bên trong, đảng Cộng sản Ðông Dương áp dụng kỹ thuật và thủ đoạn đã được huấn luyện nghiên cứu từ Mạc Tư Khoa, để chiếm đoạt quyền bính lãnh đạo, thể hiện vào chiến thuật hai mặt: Một mặt Hồ Chí Minh thỏa hiệp với Pháp chấp nhận quân đội viễn chinh Pháp của tướng Leclerc đổ bộ lên Bắc Việt hầu đánh đổi lấy sự công nhận của chánh phủ Pháp để Hồ Chí Minh có tư cách đại diện chánh thức quốc gia Việt Nam; và mặt khác, dựa vào vị thế chánh quyền, đảng Cộng sản Ðông Dương thi hành kế hoạch tiêu diệt các tổ chức và lãnh tụ cách mạng nào không đồng ý với đường lối của họ. Những nạn nhân đầu tiên của chánh sách tiêu diệt đối lập này là các tổ chức Phật Giáo Hòa Hảo, Cao Ðài, Ðệ Tứ, Quốc gia Ðộc lập Ðảng trong miền Nam, và các chánh đảng Việt Nam Cách Mạng Ðồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt và Duy Dân Ðảng ở miền Bắc, tất cả đều đã bị Cộng sản khủng bố và sát hại rất khắc nghiệt.

Từ đó về sau mối mâu thuẫn giữa hai khuynh hướng Quốc gia và Quốc tế trong hàng ngũ cách mạng chống Pháp tại Việt Nam trở thành một cuộc chiến tranh ý thức hệ, không còn chỉ giới hạn trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, mà càng ngày càng mở rộng ra để trở thành cuộc tranh chấp quốc tế giữa Hoa Kỳ tiêu biểu cho khối Tư bản và Thế giới Tự do, và bên kia là Nga Sô cầm đầu khối Cộng sản quốc tế.

Với sự can thiệp quốc tế, cuộc chiến tại Việt Nam khởi đầu là chiến tranh chống thực dân xâm lược Pháp, với mục tiêu độc lập quốc gia, sau này biến thái thành một cuộc thế giới chiến tranh tuy giới hạn về địa dư, nhưng liên hệ mật thiết đến quyền lợi chiến lược của các siêu cường và các khối quyền lực quốc tế.

Trong khi hầu hết những cuộc tranh đấu giải phóng dân tộc của các nước nhược tiểu bị trị từ trước đệ nhị thế chiến, đã đưa các dân tộc này đến độc lập và hòa bình khi chủ quyền đất nước đã được lấy lại, thì cuộc chiến tại Việt Nam vẫn còn tiếp tục, cho mãi đến ngày nay, mà vẫn chưa thấy có viễn tượng của sự chấm dứt. Nếu kể từ 22-9-1940 là ngày quân đội Nhựt tràn từ Quảng Tây sang Lạng Sơn, khởi đầu không khí chiến tranh trên lãnh thổ Việt Nam, cho đến thời điểm 1987 này, thì cuộc chiến Việt Nam đã kéo dài gần nửa thế kỷ rồi. Một điều rất rõ ràng được rút ra trong sự so sánh Việt Nam với các quốc gia bị trị trước đệ nhị thế chiến, là: tại Việt Nam đã xảy ra hai cuộc chiến tranh cách mạng: Khởi đầu là cách mạng giải phóng dân tộc, nhưng sau đó là chiến tranh do Mốt Cu và Hà Nội kéo dài thêm để thực hiện cách mạng vô sản quốc tế.

Và đó chính là thảm trạng của dân tộc Việt Nam.

5- NHẬN XÉT VỀ ƯU THẾ CỦA CỘNG SẢN TẠI VIỆT NAM

Hầu hết các thuộc địa cũ của Pháp ngày nay đã độc lập và hòa bình, ngoại trừ Việt Nam vẫn triền miên trong chiến tranh và đang là một trong những quốc gia nghèo khổ nhứt thế giới. Dù có biện bạch cách nào cũng không thể phủ nhận nguyên nhân chính yếu là do đảng Cộng Sản của ông Hồ Chí Minh đã nhìn mục tiêu độc lập quốc gia chỉ là một chặng đường trên lộ trình vô sản hóa thế giới, do đó mà ông phải tiếp tục chiến tranh để đạt mục tiêu chiến lược tối hậu của Cộng sản quốc tế.

Dân tộc Việt Nam tham gia cách mạng với mục tiêu chủ quyền độc lập, nhưng ông Hồ Chí Minh đã lợi dụng lòng yêu nước đó để phục vụ cho mục tiêu riêng của đảng Cộng Sản.

Cựu Tổng thống Huê Kỳ Richard Nixon trình bày về chiến lược quốc tế liên hệ đến Việt Nam, trong cuốn sách No More Vietnams đã viết như sau:

Quốc gia Việt Nam phải được độc lập. Trong hai thập niên 1920 và 1930, sự thù ghét chế độ thuộc địa đi đôi với ý thức sâu xa về quốc gia dân tộc, kết hợp thành gốc rễ của phong trào chống Pháp. Quan điểm thời trang cho rằng riêng đảng Cộng sản của Hồ Chí Minh tranh đấu cho độc lập, thực ra chỉ là quan điểm mơ hồ.

Ðệ nhị Thế chiến là một khúc quanh lịch sử. Sự việc Nhật Bổn chiếm lãnh vùng Ðông Nam Á đã làm tan vỡ hào quang của quyền lực thực dân Tây phương. Ngay khi nền độc lập quốc gia đến trong tầm tay, thì Hồ chí Minh tàn nhẫn tiêu diệt các tổ chức chánh trị đối lập. Trong thời kỳ đệ nhị thế chiến, họ Hồ đã cẩn thận tính toán trước những bước đi để sau này nắm lấy chính quyền. Khi Ðệ nhị Thế chiến vừa chấm dứt, cơ hội đến, họ Hồ áp dụng thủ đoạn nham hiểm và tàn độc để tiêu diệt những phần tử đối lập nào có tổ chức võ trang. Khi Nhựt Bổn đầu hàng, Hồ Chí Minh nhanh chân nhảy thẳng vào chiếm khoảng trống quyền lực… (*)

Học giả D.G.E. Hall đã khẳng định quy trách cho chánh sách thiển cận và ngoan cố của Pháp như là nguyên nhân chính yếu tạo nên ưu thế và sức mạnh của Cộng sản tại Ðông Dương:

Ðiều bất hạnh là chính sự ngoan cố của Pháp đã tạo ra tình huống đó. Trong khi cộng sản ở các quốc gia khác đã thất bại, và không còn hấp dẫn đối với đa số quần chúng, thì riêng tại Ðông Pháp, Cộng sản lại ưu thắng, chiếm được quyền lãnh đạo trên các đảng phái yêu nước. Nguyên nhân duy nhất là thái độ ngoan cố của Pháp… (**)

Một tác giả khác đã biểu lộ quan điểm tổng kết tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam như sau:

Thật vậy, Việt Nam là một trường hợp đặc biệt, nhưng dân tộc Việt Nam là một dân tộc bất hạnh nhứt thế giới. Trong khi các dân tộc khác ở Ðông Nam Á đã thoát khỏi ách thống trị của thực dân và đã trở thành các quốc gia độc lập thịnh vượng, thì Việt Nam vẫn tiếp tục đau khổ trong chiến tranh trường kỳ. Ðó là sự bất hạnh toàn diện và lớn lao. Về địa lý chánh trị, Việt Nam là một quốc gia bị khổng lồ Trung Quốc liên tục uy hiếp, suốt từ năm 111 trước Tây lịch, cho đến thế kỷ 17, Việt Nam đã trải qua biết bao hy sinh lớn lao để tự vệ và bảo tồn đơn vị quốc gia.

Ðiều bất hạnh thứ hai là do định mệnh lịch sử, Việt Nam bị thống trị bởi thực dân Pháp, một đế quốc thiển cận và tham tàn nhứt. Ðệ nhị Thế chiến chấm dứt là cơ hội chung, các đế quốc đều chấp nhận trả chủ quyền độc lập cho các thuộc địa, chỉ riêng có Pháp là ngoan cố, đem chiến hạm và quân đội viễn chinh đến tái lập quyền lực thuộc địa tại Việt Nam, như đã làm ở thế kỷ 19. Vì tham vọng quyền lợi, Pháp đã bắt tay với quỷ Satan, tức hợp tác với tay sai của Mạc Tư Khoa, thay vì phải hợp tác với dân tộc Việt Nam. Qua thương thuyết và hiệp ước, Pháp tạo cho Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam vị thế chánh thống nắm quyền cai trị Việt Nam; nhờ ưu thế chánh quyền mà Hồ Chí Minh đã tiêu diệt các lãnh tụ cách mạng quốc gia, để rồi sau đó lại quay mặt đánh Pháp.

Cố bám lấy thế chủ động, Pháp xoay qua điều đình với những giới đối lập Hồ Chí Minh, trong một giải pháp quốc gia, nhưng vẫn nuôi dưỡng âm mưu đen tối đầu cơ cả hai phe quốc gia và cộng sản, để thủ lợi riêng cho đế quốc Pháp. Thực dân Pháp không bao giờ thực tâm muốn trả chủ quyền độc lập cho dân tộc Việt Nam. Thái độ đó của Pháp đã làm suy yếu uy tín của những người Việt ái quốc theo khuynh hướng quốc gia, đưa dần đến thất bại quân sự tại chiến trường Ðiện Biên Phủ và sau hết đưa đến việc ký kết hiệp định Giơ neo 1954, Pháp trao cho Hồ Chí Minh toàn quyền thống trị miền Bắc Việt Nam, làm bàn đạp để tiến chiếm toàn bộ lãnh thổ năm 1975.

Ðiều bất hạnh sau cùng của Việt Nam là đồng minh Hoa Kỳ. Nhơn danh đại cường quốc lãnh đạo bảo vệ thế giới tự do, Huê Kỳ lại đã hành động thiếu tư tưởng và thiếu quyết tâm của cấp lãnh đạo. Cho nên sau bao nhiêu xương máu hy sinh để bảo vệ tiền đồn cho thế giới tự do, bỗng nhiên Việt Nam bị đồng minh Huê Kỳ bỏ rơi, vì lúc đó Huê Kỳ đã thay đổi mục tiêu chiến lược, hy sinh Việt Nam cho quyền lợi riêng của Hoa kỳ. Lịch sử lại một lần nữa tái diễn: Việt Nam lại trở thành nạn nhân của quyền lợi chiến lược siêu cường, trong lịch sử hiện đại cũng giống như trong thời trung cổ xưa kia.

Rốt cuộc ngày 30-4-1975, thiết giáp xa Nga Sô cán sập cửa dinh Ðộc Lập tại Sàigòn. Ðối với Huê Kỳ, một trang sử Việt Nam đã lật qua, một giai đoạn cuộc chiến Việt Nam chấm dứt. Và giai đoạn mới bắt đầu, đây là lúc hàn gắn những vết thương chiến tranh, hòa giải dân tộc, tái thiết quốc gia, thực hiện các nguyện vọng của người dân. Nhưng đó lại không phải là mục tiêu của đảng Cộng sản Việt Nam. Ðảng này không nghĩ đến nền độc lập quốc gia mà còn phải tiến lên mục tiêu vô sản hóa thế giới, cho nên chưa cho dân tộc Việt Nam được sống hòa bình và tái thiết.

Trên 10 năm đã đi qua, vẫn chưa có độc lập hòa bình, và câu nói không có gì quý hơn độc lập tự do của Hồ Chí Minh rõ ràng chỉ là chiêu bài giai đoạn lừa phỉnh dân tộc Việt.

Với chánh quyền trong tay đảng Cộng sản, dân tộc Việt Nam tiếp tục sống trong chiến tranh và nghèo đói thêm. Biết đến bao giờ cuộc cách mạng của dân tộc Việt Nam đạt đến mục tiêu Tự do và Ðộc lập?

Hãy nghe thêm một người Pháp nhận xét về chánh sách sai lầm của chánh phủ Pháp tại Việt Nam, với sự khẳng định rằng chính Pháp đã làm cho Việt Nam mất vào tay Cộng sản. Linh mục Seitz, đến truyền đạo tại Việt Nam từ 1937, đã nêu ra các nhận xét sau đây để trả lời câu hỏi ÀÀTại sao chiến tranh Việt Nam kéo dài lâu như vậy, và tại sao Cộng sản thắng thế?

Không thể hiểu được thảm kịch ngày nay của dân tộc Việt Nam, nếu không tìm hiểu các nguyên nhân xa xưa của cuộc chiến tại đó.

Trước khi lãnh nhiệm vụ sang Việt Nam, tôi có tham dự tuần lễ hội thảo đề tài Àchánh sách thuộc địá, và nhớ rằng lập trường của giáo hội Pháp là ÀMọi chánh sách thuộc địa đều thống trị được một thời gian mà thôi và đều phải kết thúc với sự trưởng thành của dân tộc bị trị. Cũng giống như Lyautey đã nói: ÀMột thuộc địa được cai trị tốt đương nhiên phải đạt sự trưởng thành, nếu không được thế là do chánh sách cai trị sai lầm vậý. (Une colonie bien administrée évolue nécessairement vers son émancipation, sinon cest qúelle est mal administrée.)

Năm 1937, tôi đến Việt Nam, thuộc địa Pháp đang tiến mạnh, nhưng điều đầu tiên tôi cảm nhận là Àchúng ta, một cường quốc thực dân, đã không làm đúng bổn phận hướng dẫn thuộc địa đến trưởng thành.

Chúng ta đã không khám phá và lượng giá được lòng ái quốc nồng nhiệt, sâu xa và khả kính đang sôi sục trong trái tim người Việt, để mà có một chánh sách thích nghi và cấp thiết. Giai tầng trí thức Việt Nam đã có những người xuất thân ở các đại học danh tiếng (Polytechnique, Centrale) của Pháp, nhưng khi hồi hương họ bị bạc đãi như thuộc cấp chớ không được xem như những trí thức lãnh đạo xứ sở họ. Ðó là chính chúng ta đã đào luyện họ thành những địch thủ tương lai. Những người Việt ái quốc trí thức đó, nuôi nấng nguyện vọng xứ sở mình được độc lập, nhưng trong tình huống bị chúng ta đối xử bạc đãi như thế, thử hỏi họ phải hướng về đâu? Hướng về chánh quốc, vô ích thôi! Sau Ðệ nhứt Thế chiến 1914-1918, những trí thức trẻ của Việt Nam đã tìm hướng về Cộng sản quốc tế sau cách mạng tháng 10-1917 tại Nga.

Từ thời điểm (thập niên 1920) Hồ Chí Minh bỏ Paris sang Moscow, đến khi ông ta nắm chánh quyền tại Hànội 1945, dẫn đến sự toàn chiếm Việt Nam 1975, tôi đã sống gần 40 năm tại xứ này, và có thể tóm luận rằng nguyên nhân sâu xa chính là do lỗi của Pháp đã bất chấp tinh thần ái quốc tiềm tàng trong trái tim người Việt, cho nên hậu quả là nền độc lập quốc gia Việt Nam mà Pháp không chịu trao trả đúng cách đúng lúc, đương nhiên phải bị cưỡng chiếm lại bằng chiến tranh. Chúng ta không biết ủng hộ chánh nghĩa của người Việt, thì tất có kẻ khác đóng vai trò đó. Chính là Cộng sản.

Ðó là tình huống đã xảy ra: lòng ái quốc, và lý tưởng dân tộc của người Việt đã bị Cộng sản chụp lấy. Nga Sô đào luyện cán bộ cách mạng bằng tư tưởng Mác-xít, rồi yểm trợ các nhu cầu vật chất (tiền bạc, võ khí) cho đám cán bộ đó nắm quyền hành tại Việt Nam, củng cố từng giai đoạn để tiến chiếm toàn bộ Việt Nam năm 1975. Ðó là kết quả của một giai đoạn bành trướng chủ nghĩa Cộng sản trên nửa thế kỷ vừa qua.

Bây giờ nước Pháp ngoái nhìn lại lịch sử vừa qua để thấy rằng sau thảm kịch Việt Nam, đến Algérie, chúng ta mới tỉnh ngộ để trả độc lập cho 11 thuộc địa tại Châu Phi. Ðúng là Àcon người vẫn là kẻ tập sự, và sự đau thương chính là ông thầy dạý (LHomme est un apprenti, la douleur est son maitre.)

Những điều trình bày sơ lược trên đây về giai đoạn lịch sử từ khi Pháp đến xâm chiếm Việt Nam đến khi Cộng sản toàn chiếm lãnh thổ Việt Nam (1856-1975: 110 năm) đưa ra ánh sáng một số điểm căn bản sau đây:

1. Giai đoạn 90 năm (1856-1945) dân tộc Việt Nam âm thầm chịu đựng chánh sách thống trị tham lam và tàn bạo của thực dân Pháp, nhưng vẫn đề kháng liên tiếp.

2. Giai đoạn kế tiếp 30 năm (1945-1975) dân tộc Việt Nam toàn bộ nổi dậy, chiến đấu chống lại chủ trương tái chiếm thuộc địa của Pháp, nhưng rốt cuộc vẫn chỉ là dịch chủ tái nô: thực dân Pháp ra đi (1955) đế quốc Nga thay thế đặt toàn bộ lãnh thổ Việt Nam trong hệ thống Cộng sản Quốc tế (1975).

3. Tuy thực dân Pháp chấm dứt thế lực thống trị Việt Nam từ 1955, nhưng Pháp vẫn là một nguyên nhân của sự toàn chiếm Việt Nam 1975 bởi cộng sản, do chánh sách sai lầm đối với dân tộc Việt Nam và do chủ trương cấu kết với Cộng Sản Việt Nam từ 1946 để mưu đồ tái lập chế độ tân thuộc địa tại Việt Nam.

4. Tuy công cuộc tranh đấu giải phóng đất nước Việt Nam đến nay chưa thành công, và chánh nghĩa của dân tộc Việt Nam đã bị thực dân và cộng sản tiếm đoạt, nhưng dân tộc Việt đã chứng tỏ trước thế giới ý chí quật cường bất khuất của một dân tộc anh hùng, qua cuộc chiến đấu bảo vệ quyền tự tồn tự chủ chống lại 1,050 năm đô hộ của Trung Hoa, trên 100 năm đô hộ của Pháp, và tiếp tục chống chủ trương đô hộ của đế quốc Nga Sô.

5. Tuy nhiên, ý chí quật cường bất khuất của dân tộc Việt Nam, mặc dầu đã được xem như yếu tố tinh thần căn bản của dân tộc Việt để tự tồn tự chủ từ giai đoạn lập quốc qua bao lần xâm lược của khổng lồ Trung Hoa, đã không đủ để quyết định thắng lợi từ khi các đế quốc Tây phương sang chiếm thuộc địa Á Châu.

Bởi vì từ đây Việt Nam phải đối phó một loại xâm lược quốc tế mới lạ, khác hẳn tương quan song phương trước kia giữa Trung Hoa và Việt Nam trong hoàn cảnh một thế giới khép kín, không có sự liên kết và can thiệp quốc tế.

Từ khi các đế quốc Tây phương chia nhau làm chủ các thuộc địa Á Châu, vận mệnh các dân tộc bị trị không những bị chi phối bởi chính đế quốc thống trị, mà còn bởi các áp lực quốc tế khác, chia chác quyền lợi, ảnh hưởng. Tương quan quốc tế càng ngày càng càng trở nên đa dạng, đa phương, phức tạp, chằng chịt thành những sợi dây trói buộc các nước nhỏ trong các tình trạng yếu kém thất thế, mất chủ động. Thế giới chia ra từng khối, các siêu cường quốc và cường quốc trao đổi quyền lợi, qua phân ảnh hưởng, thỏa hiệp hay đối nghịch nhau, tạo ra sức ép thường xuyên với các áp lực chính trị, quân sự, tài chánh, kinh tế, đè nặng và chi phối vận mệnh các quốc gia nhỏ yếu.

Thực tại thế giới từ thế kỷ 19 tới nay là như vậy, tuy rõ ràng là bất công, nhưng đã trở nên một quy luật của mối tương quan thế giới. Các cường quốc có uy thế chi phối, thế giới ngày nay sức mạnh võ khí và kinh tế ưu thắng hơn sức mạnh tinh thần, cho nên Việt Nam đã lâm vào hoàn cảnh bi thảm nhứt, bất hạnh nhứt so với mọi quốc gia Á Châu, với một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc kéo dài đã trên nửa thế kỷ, mà vẫn chưa thấy có hy vọng chấm dứt, chủ quyền quốc gia vẫn bị ngoại bang chi phối và xã hội suy thoái trong cảnh nghèo đói thê thảm.

Ðể kết luận phần này: dân tộc Việt Nam chẳng may bị lọt vào ách thống trị của thực dân Pháp, cho nên đã phải chịu đựng giai đoạn thống khổ đau thương cho đến nay đã trên một thế kỷ.

Tổ chức Phật Giáo Hòa Hảo, đề tài nghiên cứu biên khảo của cuốn sách này, với số lượng quần chúng đông đảo khoảng hai triệu tín đồ, đương nhiên là một thành phần hoạt động trong suốt tiến trình đấu tranh chống Pháp, chống Cộng, như sẽ được trình bày trong các chương sau đây.

GỬI Ý KIẾN
Tên của bạn
Email của bạn
Đánh giá (tùy ý)
Nhập những ký tự ở hình bên vào ô bên dưới.
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Đi thăm cha và chuyện kể trong tù

Đi thăm cha và chuyện kể trong tù

Tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Lía
Nguyễn Ngọc Lụa – Buổi sáng hôm 18/7, gia đình chúng tôi, là thân nhân của tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Lía, có chuyến đi xuống trại giam Xuân Lộc, Đồng Nai cùng với gia đình tù nhân lương tâm Bùi Văn Trung, cha tôi bị bắt tù 2 lần, lần đầu vào năm 2003 với mức án là 3 năm chỉ vì cha tôi là một tín đồ Phật giáo Hòa Hảo và hoạt động để phát triển tôn giáo, lần thứ 2 ông bị bắt tiếp vào năm 2011 với án 4 năm 6 tháng theo điều 258.

Đợi đến 9h sáng, viên công an mới vào kiểm tra giấy chứng minh nhân dân, rồi sau đó lại chờ họ đưa tất cả chúng tôi vào xe đi về hướng trại giam. Đến nơi thì vừa lúc cơn mưa lớn trút xuống đột ngột.
Vừa thấy cha, cả gia đình mừng vui, mẹ tôi thì đã không kiềm được và đã bật khóc khi cha hỏi thăm về bà nội ngay khi gặp. Cha nói chuyện phải dùng máy trợ thính nên nghe câu được câu mất.
Cha tôi hỏi viên công an đứng kế bên về tờ giấy mà viên giám thị trại giam mới vừa lấy của cha, tờ giấy mà ông ghi những ý chính để nói với gia đình chúng tôi, vì giờ trí nhớ không được tốt nên ông phải ghi ra để nói hết tất cả những điều muốn nói trong thời gian ít ỏi quý báu này. Khi lấy tờ giấy của ông, giám thị trại giam bảo để họ xem xét các ý trong đó và sẽ đưa lại ngay, nhưng trong suốt giờ thăm gặp ngắn ngủi, cha đã nhiều lần nhắc nhở và lên tiếng bảo họ trả lại. Nhưng họ chỉ bảo rằng họ đang xem, và cứ thế cho đến hết giờ thăm gặp, họ vẫn chưa xem xong tờ giấy.
Cha tôi dặn dò từng người anh em tôi kỹ lưỡng, rằng không được tin những gì Cộng sản hứa hay nói gì, vì từ trước đến nay họ đã hứa rất nhiều nhưng toàn dối trá nói một đằng làm một nẻo, Cộng sản là loại ăn cháo đá bát bất nhân bất nghĩa.
Từ lần thăm nuôi trước đến nay, cha tôi có viết gửi về nhà 3 lá thư nhưng khi ông hỏi lại, thì ở nhà chỉ nhận được 1 lá. Và ở gia đình có viết cho cha 1 lá nhưng cha cũng không được nhận. Và một điều bất công nữa là các phạm nhân ở đây thì có thể điện về nhà nhưng riêng ông thì không được. Cha bảo chúng tôi rằng chỉ có ở Việt Nam mới có tình trạng giấu nhẹm thư tù nhân tôn giáo như thế này, cũng như gây khó khăn trong việc giao tiếp, thăm nuôi từ bên ngoài hòng làm sụt giảm ý chí họ cũng như cô lập họ trong 4 bức tường giam
Cha kể cho chúng tôi biết người tù giam phòng kề bên vừa mới ra đi vì căn bệnh AIDS, ông bảo thêm rằng riêng tháng vừa rồi có đến 3 người chết vì căn bệnh này trong cùng một trại giam. Làm tôi nhớ đến lời anh Huỳnh Minh Trí, người cũng đã vừa mới chết vì căn bệnh AIDS, theo anh Trí là chứng nhân, anh nói có cả thấy 14 người đã chết vì AIDS mà anh biết cho đến khi ra rù. Tôi không khỏi lo lắng cho cha mình có tránh được căn bệnh mà chính quyền đã chủ tâm luôn muốn hại những tù nhân lương tâm như thế này không?
Cha bảo họ đối xử với những phạm nhân đã nổi loạn tại trại giam K1, Xuân Lộc, Đồng Nai lần trước rất dã man, họ đánh đập tàn nhẫn những người đó, thậm trí họ quỳ lạy van xin nhưng những đòn trừng phạt vẫn lạnh lùng nện xuống. Sau đó là biệt giam họ, đồng thời tăng án lên gấp đôi bản án họ đã lãnh nhận trước đó
Vậy đó, khi họ ngược đãi tù nhân, những người tù đã vùng lên khỏi song sắt để phản đối lại, hầu mong tình trạng nhà tù được tốt hơn, thì sau đó số phận những tù nhân không được cải thiện hơn mà lại bì trù dập thê thảm như vậy.
Mỗi sáng và tối cha tôi đọc Sấm Giảng Thi Văn của Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ cho nhiều người nghe và kể những lời vàng ngọc của Đức Thầy răn dạy người đời làm lành lánh dữ, ông khuyến khích những người phạm nhân ăn chay và Niệm Phật để nhận được sự giải thoát khỏi những gian khổ và thoát khỏi mọi tội lỗi vì do mình gây ra . Chúng bảo ông làm những việc bao đồng đó nữa thì ông sẽ bị biệt giam, cha vẫn kiên quyết giảng về Phật Giáo Hòa Hảo vì cha biết được rằng họ rất có nhu cầu và khao khát vấn đề tâm linh nơi ngục tù này.
Một lần ông bị chúng bắt biệt giam vì giúp đỡ một người bệnh nặng chung phòng, chú ấy ngoài 60 tuổi án chung thân, có thức ăn gì cha tôi điều chia phần chú vì hơn 7 năm gia đình không lại thăm nuôi, trong người mang nhiều chứng bệnh nặng lại bị mất 1 chân, nên đi lại rất khó khăn vì thế việc vệ sinh cá nhân diễn ra trong một túi nylon, nên cha tôi vì lòng thương người cùng chung cảnh tù thường giúp chú đi bỏ túi nylon, nhưng không ngờ cán bộ trại giam lại phản đối cha về hành động giúp đỡ này, nhưng cha vẫn tiếp tục làm điều đúng lương tâm khi họ bỏ mặc chú ấy, vậy là họ biệt giam cha tôi, nhưng ông đấu tranh và cầm trong tay cục đá tuyên bố sẽ đập đầu chết nếu họ không thôi biệt giam, vì lo sợ cha tôi chết nên họ đành phải nhượng bộ.
Đây đúng là những sự vi phạm nhân quyền rất trắng trợn của chính sách đối đãi tù nhân của chính quyền. mà chính họ đã ký kết với quốc tế về các công ước về đối xử với tù nhân
Tôi bỗng thấy cha trầm tư và u buồn vì ông biết nhà tù là nơi để răn dạy con người để họ có cơ hội trở lại thành người tốt, và dù họ là phạm nhân nhưng họ vẫn rất cần tình yêu thương để giúp họ dần tái nhập lại cuộc sống sau sai phạm nhưng thật tiếc, tù ở Việt Nam chỉ trù dập những tù nhân và nhất là loại trừ những tù nhân lương tâm và tôn giáo như ông bằng cách gián tiếp đẩy người tù vào những căn bệnh như AIDS, lao và nhiễm độc thực phẩm dẫn đến ung thư
Tôi để ý thấy 2 viên công an ngồi ghi chép cách rất tỉ mỉ và liếng thoáng lại lời của những người chúng tôi và cha tôi, cứ như thể ghi lại những lời nói hớ hên quá sự cho phép của họ để làm bằng chứng tội phạm vậy.
Nhưng ông vẫn nói bằng một tinh thần kiên quyết và thoải mái về những sai trái của trại giam, của những cai ngục, ông cho gia đình biết về tình trạng sức khỏe cũng như cách đối xử của cán bộ trại giam : ông đang bị giam chung phòng với những người bị lao phổi rất nặng và những người bị HIV, nguy cơ bị lây nhiễm của cha là rất cao. Cha tôi có bệnh Tim và Cao huyết áp nhiều năm nay và những thương tật như Điếc một tai , gãy xươn Vai cùng xươn Sườn do bàn tay ác độc của cộng sản gây ra khi còn ở ngoài. Lúc trái gió trở trời vết thương đó hoành hành đau nhức dữ dội, ông yêu cầu được khám chúng điều ngó lơ,ông luôn phản đối bằng cách kêu la đập cửa phòng giam, chúng nhượng bộ. Gia đình có gởi thuốc vào mỗi khi bệnh cha biến chứng, qua sự kiểm soát của trại giam, chúng đã không đưa đến tay cha tôi mặc cho cha nằm chờ căn bệnh dày vò nhưng họ bảo” chưa chết lo gì”.
Ước mong giới tranh đấu trong cũng như hải ngoại sẽ lưu tâm, vận động mạnh mẽ hơn cho tình trạng nhà tù tại Việt Nam, và hy vọng sẽ nhớ đến cha tôi trong những lần vận động cho nhân quyền và tự do tôn giáo để cha sẽ sớm trở về chữa bệnh và đoàn tụ cùng cùng gia đình.
Cuộc thăm nuôi ít ỏi của gia đình nhanh chóng qua đi, cán bộ trại giam nhanh chân đưa cha tôi vào, gia đình đành chia tay ông, anh em chúng tôi đã dặn cha cứ hãy viết thư về cho gia đình, họ có không gửi cũng chẳng sao, chỉ thể hiện sự bất lương của họ cho mọi người biết chế độ độc tài thối nát của Cộng sản. Chúng tôi từ biệt cha lần cuối vừa lúc cơn mưa vừa tạnh hạt.
 
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

ĐỨC THẦY LÂM NẠN TẠI ĐỐC-VÀNG

LONG XUYÊN ngày 21 tháng 3 năm 1865

(20/03/2011) (Xem: 14308)

 

Kính gởi Ông NGÔ-XUÂN và Quí vị Đồng Bào Thủ Đô

 

SAIGON

 

Kính thưa Ông cùng Quý-vị,

 

Tiếp nhận được thơ ông cùng quý vị gởi đến tôi đề ngày 29 tháng 3 năm 1965 vào lúc 14 giờ

 

Vội biên thư hồi đáp cho ông cùng quý vị để tường:

 

Muốn đáp lại những thạnh tình chiếu cố ấy, mặc dù tôi rất kém khả năng hiểu biết nhưng, đứng về cương vị một môn-nhơn đệ tử của Đức Huỳnh Giáo Chủ thì nhiều hay ít cũng am tường về giáo lý của Ngài.

 

Trân trọng xin hồi đáp cùng quý vị, với phạm vi hiểu biết của tôi, còn những điều cao siêu thì xin nhường lời cho các bậc cao minh giảng giải. Riêng tôi có vài lời thiện cảm sau đây, dù không được thỏa mãn, kính mong quý vị niệm tình tha thứ.

 

–        Hỏi: Tại sao có danh từ Phật-Giáo Hòa-Hảo?

 

–        Đáp: Thưa quý vị, trải qua những năm tìm tòi học đạo, chính tôi đã thường nghe Đức Thầy tôi có giải đáp trong những khi thuyết pháp vào lúc mà Đức Thầy tôi thực hiện trong lời sấm tiên tri: “Chừng ơn trên ban bố lục thông Thầy sẽ được Tây Đông du thuyết”.

 

Quả thật như lời đúng vào năm 1945 Đức Thầy tôi có dịp đi du thuyết (khuyến nông) khắp 21 tỉnh, thì cũng có nhiều đồng bào chất vấn giống như những câu hỏi của quý vị đấy?

 

Vậy xin mạng phép dựa vào những câu giải đáp của Đức Thầy tôi và luôn tiện ghi lại nơi đây để ông cùng quý vị rõ:

 

“Phật Giáo là giáo pháp của nhà Phật, mà tôi là đệ tử trung thành của Đức Phật Thích Ca mâu ni, còn Hòa Hảo là danh từ quê hương của tôi. (Lời Đức Thầy)

 

Sau đây tôi xin phụ họa với ý nghĩa mà không ngoài giáo pháp của Đức Thầy tôi đã truyền dạy, trong 14 giòng khoáng thủ theo lối văn bát ngôn trường thiêng.

 

PHẬT vốn tánh từ bi vô lượng chí

GIÁO pháp khai nhiệm lý khắp nhơn gian

HÓA đồng trong sanh chúng hiệp nhứt tràng

HẢO ý nguyện vạn ban giai hướng thiện

LÀ sứ mệnh thừa vâng nơi Kim-điện

DANH một đời bốn biển lẫn sơn thanh

TỪ khởi nguyên căn thiện sẵn trời danh

QUÊ quán cổ kim sanh miền Linh-Địa

HƯƠNG xuất hiện thơm mùi Trung-Tín-Nghĩa

CỦA Tiên Rồng trau trỉa được nên công

ĐỨC cao siêu ban rãi thuận muôn lòng

HUỲNH đạt đạo lục thông tri tiền hậu

GIÁO thọ sắc Thế-Tôn, lời nguyền tấu

CHỦ tâm thành roi dấu Vình Trường Miên.

 

Kính thưa Ông cùng Quý vị,

 

Còn những điểm như: Mục-đích, Tôn-chỉ, thân thế và cách hành đạo của Đức Thầy tôi thì xin hẹn lại cùng quý vị, tôi sẽ hồi đáp trong tập sắp xuất bản của tực đề là “TÌM HIỂU GIÁO LÝ PHẬT GIÁO HÒA HẢO” chắc chắn quý vị sẽ được hài lòng.

 

Trước khi gác bút, và không còn lời lẽ cho hơn để được đáp tạ với nhân tình cao quí của quí vị cho vừa.

 

Nơi đây tôi chỉ đặt cả tâm thành khẩn nguyện Đức Phật Từ Bi gia hộ cho toàn thể quý vị cùng bửu quyến cũng như tất cả nhơn gian đều được hưởng mọi phước lành, để gọi lòng thiện cảm giữa tôi cùng quý vị.

 

Trân trọng kính chào

 

LÊ-THÀNH-LẠC

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Fb Trần Huỳnh Duy Thức – Nhà hoạt động từ thiện và tôn giáo Mai Thị Dung, một nông dân cắt lúa, sinh năm 1969, đang tiếp tục bị hành hạ trong tù khi thụ án 11 năm sau 2 lần bị kết án.
Cùng chồng là ông Võ Văn Bửu, bà Mai Thị Dung – tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo – đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình, tuyệt thực cho các tín hữu đồng đạo, phản đối nhà cầm quyền CSVN tịch thu các cơ sở giáo hội và đàn áp tự do tôn giáo.
Bất chấp gia đình có hai người con dưới tuổi thành niên, ngày 5 tháng 8 năm 2005, công an Việt Nam bắt giữ cả hai vợ chồng Mai Thi Dung và Võ Văn Bửu. Ngày 19 tháng 9 năm 2005, Tòa án tỉnh An Giang kết án bà Mai Thị Dung 6 năm tù và chồng bà 7 năm vì tội “gây rối trật tự công cộng”. Trước đó không lâu, ông Võ Văn Bửu vừa mãn hạn tù 3 năm cũng vì tội danh tương tự.
Trong tù, bà Mai Thị Dung kiên trì tổ chức các lễ Phật. Vì lẽ đó, ngày 22 tháng 7 năm 2008, nhà cầm quyền đã phạt thêm 5 năm tù về tội “chống đối nhân viên công lực”, nâng tổng án tù mà bà Dung phải chịu lên 11 năm.
Suốt thời gian ở tù, mặc dù bệnh nặng, bà Mai Thị Dung luôn bị hành hạ, bị cấm nói chuyện với các tù nhân – bởi thái độ bất hợp tác với cai tù trong việc “ký biên bản nhận tội”. Bà từng tuyệt thực trong tù để phản đối ngược đãi và yêu cầu được đưa đi điều trị. Chỉ một ngày sau khi bà tuyệt thực, hôm mùng 2 tháng 10 năm 2013, từ trại giam Xuân Lộc – Đồng Nai, bà bị chuyển ra Bắc cùng với một tù nhân lương tâm khác vừa được trả tự do là Đỗ thị Minh Hạnh trên quãng đường 1700 km với chân tay bị xích còng nên đã nhiều lần ngất xỉu trong xe thùng bịt kín.
Hiện bà đang bị giam tại Phân trại 3 Thanh Xuân, xã Mỹ Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Nội với tình trạng sức khỏe nguy kịch trong điều kiện tù khắc nghiệt. Bà mắc nhiều chứng bệnh tim, gan, mật, dạ dày, chỉ có thể di chuyển bằng cách bò lê trên nền sàn vì không thể đứng vững – theo những gì chồng bà chứng kiến trong lần thăm cuối năm 2013. Ông Võ Văn Bửu đã ra tù vào tháng 8 năm 2012, sau khi đã thi hành án 7 năm tù giam.
Nhà cầm quyền Việt Nam xem Phật Giáo Hòa Hảo là kẻ thù. Phần lớn các hoạt động của giáo hội phải thực hiện bí mật. Nếu không, luôn có đông đảo an ninh chìm nổi theo dõi, bao vây, phá rối để có cớ bắt bớ những người tham gia lễ lạc.
11 tháng 7 năm 2014
 
Vietnam Human Rights News
vietnamhumanrightsnews@gmail.com
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

5 “hổ lớn” nối gót Chu Vĩnh Khang là ai?

5 “hổ lớn” nối gót Chu Vĩnh Khang là ai?

QLB

Dân Việt
“Tống hổ” Chu Vĩnh Khang vào cũi chỉ là bước khởi đầu để Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vây bắt nhiều “hổ” khác, thậm chí cả những con “rồng” phía sau?

Ở Trung Quốc, có một “luật bất thành văn” là các ủy viên thường vụ Bộ chính trị Đảng Cộng sản không bị điều tra, kể cả sau khi nghỉ hưu. Tuy nhiên, sau vụ Bạc Hy Lai và nay là vụ cựu trùm an ninh Chu Vĩnh Khang bị tống giam vì tội tham nhũng, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đang chứng tỏ, chiến dịch “đả hộ diệt ruồi” của ông sẵn sàng phá vỡ mọi luật lệ.

5 “hổ” nối gót Chu Vĩnh Khang?

Truyền thông Trung Quốc loan tin, cơ quan điều tra trung ương sẽ còn tiếp tục “vây bắt” những con hổ khác, thậm chí còn to hơn cả Chu Vĩnh Khang. Nhiều nhà quan sát nhận định, Chủ tịch Tập Cận Bình có thể đang nhắm vào một mục tiêu lớn hơn, con “rồng” phía sau con hổ Chu – cựu Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân.
Nghi ngờ này càng được củng cố sau khi Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Trung Quốc cử một đội điều tra hùng hậu đến Thượng Hải, “trung tâm” quyền lực của ông Giang Trạch Dân ngay sau khi thông báo điều tra Chu Vĩnh Khang. Mọi vây cánh của ông Giang bị liệt vào tầm ngắm. Theo  Epoch Times, 5 nhân vật sau đây dễ nối gót ông Chu Vĩnh Khang “lên thớt” nhất  trong thời gian sắp tới:

Tăng Khánh Hồng

Có nhiều tin đồn trong giới truyền thông Trung Quốc rằng, ngày 12.7, cựu phó Chủ tịch Trung Quốc, Tăng Khánh Hồng, nhân vật quan trọng thứ 2 trong phe cánh của cựu chủ tịch Giang Trạch Dân đã bị bắt giữ ở Thiên Tân và đang bị điều tra bí mật.

Nguyên Phó Chủ tịch Trung Quốc Tăng Khánh Hồng.

Tăng Khánh Hồng từng là cánh tay phải của cựu Chủ tịch Trạch Dân khi ông Giang ở đỉnh cao quyền lực. Ông Tăng giúp củng cố phe cánh của cựu Chủ tịch Giang bằng cách đưa thân tín vào các vị trí lãnh đạo quan trọng và giúp chủ tịch Giang hoàn thiện triết lý chính trị Ba đại diện.

Từng là Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc giai đoạn 1999-2002, rồi nhanh chóng leo lên chức Phó chủ tịch nước từ 2003 đến 2008, trong giai đoạn này, ông Tăng được coi là nhân vật quyền lực số 2 tại Trung Quốc.

Đến năm 2009, ông Tăng Khánh Hồng (lúc đó đã nghỉ hưu) dính vào bê bối rút ruột công trình hàng triệu USD của con trai còn các đồng minh của ông này như Bạc Hy Lai và Chu Vĩnh Khang bị “đánh lên bờ xuống ruộng” và cuối cùng bị tống vào tù.

Giả Khánh Lâm

Ngày 11.7, truyền thông Trung Quốc rộ tin Giả Khánh Lâm, cựu Chủ tịch Hội nghị Hiệp thương, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc bị bắt giam.

Cựu Chủ tịch Hội Hiệp thương Giả Khanh Lâm.

Ông Giả Khánh Lâm từng là đồng nghiệp của cựu Chủ tịch Giang ở Sở Công nghiệp Máy móc trong giai đoạn 1960-1970. Sau khi ông Giang trở thành Chủ tịch Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1993, ông Giả được đề bạt làm Thị trưởng Bắc Kinh năm 1996. Năm 1997, ông này nhanh chóng trở thành ủy viên trong Bộ Chính trị quyền lực.

Ông Giả Khánh Lâm từng dính vào vụ bê bối buôn lậu lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc với số tiền lên tới 27 tỉ nhân dân tệ (hơn 4 tỉ USD). Tuy nhiên, nhờ sự “che chở” của cựu Chủ tịch Giang Trạch Dân mà ông Giả thoát tội. Ông Giả Khánh Lâm còn là chân tay đắc lực của cựu Chủ tịch Giang trong vụ dẹp yên nhóm Pháp Luân Công ở Trung Quốc.

Lý Trường Xuân

Lý Trường Xuân vốn là nhân vực quyền lực thứ 2 ở tỉnh Hà Nam, Trung Quốc những năm 1990-1992. Sau khi chiếm được lòng tin của cựu Chủ tịch Giang Trạch Dân, ông này nhanh chóng thăng chức và leo cao trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Nguyên trưởng ban tuyên giáo Lý Trường Xuân.

Ông Giang đề bạt ông Lý vào Ủy ban Thường trực Bộ Chính trị năm 2002 với chức vụ Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương. Ở vị trí này, ông Lý Trường Xuân cùng với Chu Vĩnh Khang là hai tay chân đắc lực trong chiến dịch đàn áp nhóm Pháp Luân Công.

Trong thời kỳ đỉnh cao quyền lực, ông Lý Trường Xuân luôn nằm trong top 5 nhân vật quyền lực nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Từ năm 2012, ông Lý đau đầu vì các vụ bê bối tham nhũng quan đến các con ông này bị phanh phui.

La Cán

Ông La Cán từng là Bộ trưởng Bộ Lao Động năm 1998 sau đó leo lên chức  Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị trong giai đoạn 1998-2007. Ông La chính là một trong những “công thần” của cựu Chủ tịch Giang Trạch Dân.

Ông La Hán (ngồi giữa).

Năm 2003, ông La từng bị “dính phốt” khi cáo buộc trình lên Tòa án Quốc gia Tây Ban Nha tố cáo, Chủ tịch Giang Trạch Dân và ông La Cán về tội diệt chủng và tội tra tấn khác.

Ngô Bang Quốc

Ông Ngô Bang Quốc cũng là nhân vật được cựu Chủ tịch Giang Trạch Dân “sủng ái” và nâng đỡ khi còn làm Phó Bí thư thành ủy Thượng Hải. Sau đó, ông Ngô nhanh chóng leo lên các chức cao hơn trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc như Bí thư Thành ủy Thượng Hải và Phó Thủ tướng kiêm ủy viên Bộ Chính trị năm 2002. Năm 2003, ông Ngô trở thành Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc và mới nghỉ hưu vào năm 2013.

Nguyên Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc Ngô Bang Quốc.

Theo nhiều báo cáo, gia đình ông Ngô từng kiếm được cả trăm tỉ nhân dân tệ nhờ được cựu Chủ tịch Giang Trạch Dân “sủng ái”. Con cái trong nhà ông Ngô cũng nhờ hơi cha mà kiếm được bộn tiền bởi các phi vụ làm ăn hay nhận thầu dự án. Sau vụ bê bối của Bạc Hy Lai năm 2012, truyền thông Trung Quốc mới bắt đầu râm ran các tin đồn về những vụ tham nhũng của gia đình họ Ngô.

Chuyên gia về Trung Quốc Shi Zangshan cho rằng: “Trong thời điểm nhạy cảm này xuất hiện nhiều thông tin không hay về ông Ngô Bang Quốc. Có vẻ như đảng Cộng sản Trung Quốc đang muốn xem ông Ngô chọn theo phe nào? Nếu ông Ngô đưa ra lựa chọn sai lầm, có lẽ số phận ông cũng kết thúc tương tự như Chu Vĩnh Khang”.

Dân Việt
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Ý kiến đề xuất đối với việc chuẩn bị và tiến hành Đại hội Đảng lần thứ XII

Ý kiến đề xuất đối với việc chuẩn bị và tiến

hành Đại hội Đảng lần thứ XII

Nguyễn Trọng Vĩnh

Rất mong có dân chủ thực sự đối với văn kiện cũng như vấn đề nhân sự.

Trong kiểm điểm tình hình, rất mong Đảng thể hiện tinh thần thực sự cầu thị dám nhìn thẳng vào yếu kém và sai lầm.

I. Đề nghị tập trung kiểm điểm sâu 2 lĩnh vực: Kinh tế xã hội và Quốc phòng là 2 lĩnh vực có nhiều vấn đề.

1. Về kinh tế xã hội: Bên cạnh một số mặt làm được, yếu kém và thiệt hại rất nhiều, hàng vạn doanh nghiệp ngừng hoạt động và phá sản, hàng mấy vạn công nhân viên mất việc, ngân sách giảm nguồn thu, người cày không có quyền sở hữu ruộng đất, nông dân bị cưỡng chế thu hồi đất tùy ý, bán chác làm giàu cho các nhà đầu tư, nhà cao tầng quá nhiều, thừa ế, các tập đoàn kinh tế nhà nước và ngân hàng thất thoát rất lớn, khoáng sản mất nhiều mà thu về cho ngân sách không mấy, hàng nông sản chủ yếu là xuất thô, hàng công nhiệp xuất khẩu phần lớn là gia công, nhập siêu hàng năm trên dưới 20 tỷ đô la, nợ nần chồng chất, v.v. khiến tài chính kiệt quệ, kinh tế sa sút nghiêm trọng, tụt hậu xa so với các nước xung quanh. Kết quả là đất nước có tài nguyên phong phú mà dân nghèo nước yếu, lệ thuộc.

2.Về xã hội: chưa bao giờ trộm cướp nhiều như bây giờ, “xã hội đen” hoành hành công khai, lực lượng công an cũng chưa bao giờ đông như hiện nay mà không chặn đứng hành động đập phá của những phần tử quá khích ở Bình Dương ngay từ đầu để những việc đốt phá tha hồ lan rộng làm hại nhà nước và đất nước. Những sự việc vợ giết chồng, chồng giết vợ, con đánh mẹ, cháu giết bà vì không xin được tiền, anh em đâm chém nhau vì tranh giành tài sản, con cướp nhà đuổi bố mẹ ra đường… hầu như trên mặt báo ngày nào cũng đọc thấy.

3.Về quốc phòng: Thời bình mà phong tướng nhiều hơn thời chiến, quan tâm phong tướng hơn giáo dục lòng yêu nước, ý thức cảnh giác thường trực cho bộ đội. Xác định không đúng đối thủ. Đầu tư không thích đáng cho lực lượng vũ trang để tăng phương tiện, trang thiết bị, vũ khí, khí tài hiện đại nhằm ứng phó với tình hình xấu nhất. Nhiều điểm xung yếu về quốc phòng đã bị bán, cho thuê dài hạn hoặc cho Trung Quốc thầu: Tây Nguyên, cảng Vũng Áng, cảng Cửa Việt, từ Cửa Việt đến chân núi đất hẹp nhất dễ bị cắt ngang khi có chiến tranh, một đoạn bãi biển Đà Nẵng, khoảng gần 20 km phía Đông đường Quốc lộ từ Kỳ Anh đến chân đèo Ngang, họ xây tường cao, không biết làm gì trong đó, 3.000 hecta rừng biên giới… Những nơi họ mua, thuê, người Việt Nam không được vào xem xét, họ xây dựng công trình quân sự bí mật cũng chẳng ai hay. Trong nội địa nước ta, hàng vạn người Trung Quốc nhập cảnh không phép thành “đội quân thứ 5” và thiếu gì gián điệp, ở cấp cao của ta cũng có người của họ.

Nham hiểm hơn nữa Trung Quốc đổ tiền đổ của vào Campuchia và Lào, 2 nước đã thấm đậm máu của bộ đội Việt Nam, hòng nắm 2 nước nhằm bao vây, cô lập ta. Họ diệt những cán bộ cao cấp của 2 nước bạn có quan hệ thân thiện với nước ta.

Nguy cơ nước ta trở thành thuộc địa kiểu mới hoặc một chư hầu của bành trướng Đại Hán, mất độc lập đương trở thành hiện thực.

Biết bao chiến sĩ cách mạng đã bị tra tấn tù đày, không ít người đã bỏ mình trong các lao tù của thực dân Pháp, không ít vị lãnh đạo ưu tú đã hy sinh trên máy chém và họng súng của kẻ thù mới có “Cách mạng tháng Tám”. Biết bao máu xương của hàng triệu đồng bào, bộ đội đã đổ ra trong 2 cuộc kháng chiến mới có độc lập, thống nhất mà nay sẽ lại rơi vào cảnh Bắc thuộc một lần nữa thì đau xót biết chừng nào! Uất hận biết chừng nào!!

II. Vấn đề nhân sự Đại hội càng phải thật dân chủ.

Trong bầu cử đại biểu cũng như bầu cử Ban chấp hành các cấp nên có số dư ít nhất 25% để người bỏ phiếu có điều kiện lựa chọn. Không nên nêu vấn đề “sợ phân tán phiếu” mà vấn đề là “quyền dân chủ” trong bầu cử mới quan trọng. Đảng viên chính thức không phạm pháp, không bị xử lý kỷ luật Đảng đều được ứng cử, đề cử, không bị gạt vì bất cứ lý do nào. Số Ban chấp hành cũ dự kiến cùng với số ứng cử, đề cử lập thành một danh sách chung xếp theo thứ tự A. B. C không phân biệt.

Để bầu Ban Thường vụ các cấp cũng như bầu Bộ Chính trị cũng cần có số dư: ví dụ để bầu Ban Thường vụ 7 người cần giới thiệu 9 hoặc 10 người; Nếu bầu Bộ Chính trị 15 người, cần giới thiệu ra 20 người. Bầu các vị trí chủ chốt: Bí thư cấp ủy các cấp và Tổng bí thư cũng nên có số dư, tối thiểu là 2 người (không cho rút), nếu độc diễn như từ trước đến nay thì B.C.H mất quyền lựa chọn và người duy nhất được giới thiệu bất kể như thế nào cũng trúng.

Ban chấp hành Trung ương là rất quan trọng, phải gồm những đảng viên có đức, tài thực sự, có lòng vì nước vì dân. Không để cho tình hình “mua quan bán chức” ngoài xã hội len vào trong Đảng. Nếu có những đảng viên nào chạy chọt để mong có một chân trong B.C.H.T.Ư hoặc một chức gì thì đó là những đảng viên thoái hóa biến chất, cá nhân vụ lợi, nếu vì nhận tiền mà cơ cấu những đảng viên thoái hóa biến chất đó vào B.C.H.T.Ư là “tạp hóa” Đảng, là phá nước, phá Đảng, làm giảm chất lượng và uy tín của Đảng. Nhân dân càng mất lòng tin vào Đảng. Bộ Chính trị, bộ phận thường trực của B.C.H.T.Ư chỉ đạo công việc thường xuyên, rất quan trọng phải gồm những đảng viên có phẩm chất và tài năng xuất sắc hơn cả trong Đảng, có tinh thần dân tộc độc lập, tự chủ, ý chí tự lực, tự cường, có tư duy dân chủ, thật sự lấy dân làm gốc, mới có hy vọng đưa đất nước ra khỏi tình hình khủng khoảng hiện nay và nguy cơ mất nước.

Đề nghị Đại hội đồng thời với việc bầu B.C.H.T.Ư bầu cả Ban Kiểm tra (hoặc Ban Giám sát) để theo dõi việc thực hiện nghị quyết của Đại hội, chỉ đạo công tác kiểm tra và đủ thẩm quyền xử lý kỷ luật ủy viên Trung ương nếu có sai phạm.

III. Đến bây giờ, người có suy nghĩ đều cho rằng CNCS mà Max Enghel đề ra là ảo tưởng, không bao giờ thực hiện được “Thế giới đại đồng, làm ăn chung, sung sướng như nhau”. Ngay đến CNXH cũng vậy. Từ khi mô hình XHCN Liên Xô, Đông Âu sụp đổ, chưa ai nêu ra được mô hình nào khác, tiêu chí ra sao, nguyên tắc nội dung thế nào. Vậy thì nói xây dựng CNXH là nói suông, không trên cơ sở nào.

Ở nước ta cũng nói “xây dựng CNXH, định hướng XHCN” nhưng nó như thế nào, cái gì là CNXH trong nhà nước ta, không ai chỉ ra được. Mang danh là “nước XHCN” mà người dân không được hưởng cái gì là “phúc lợi”, ngược lại, bao nhiêu thứ tăng: tăng giá xăng dầu, giá điện, nước, tăng học phí, viện phí… đều đổ lên đầu người dân hứng chịu.

Ở Trung Quốc cũng vậy thôi. Tuy họ vẫn nói là “xây dựng CNXH đặc sắc Trung Quốc” nhưng từ khi Đặng Tiểu Bình nói: “Mèo trắng mèo đen, mèo nào bắt được chuột là mèo tốt” thì họ đã rẽ sang đường khác rồi. Hơn nữa gần đây, Tập Cận Bình nêu khẩu hiệu “giấc mộng Trung Hoa” thế là Đảng CS Trung Quốc đương xây dựng một thứ “Đế chế Đại Hán tộc” bá chủ thiên hạ, đâu phải là CNXH!

Ở nước ta, nên thôi nói “lấy CN Mác – Lênin” mà chỉ nên nói: “ lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng” là đầy đủ, vì lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chọn lọc tiếp thu những gì là văn minh, tiến bộ, khoa học của thế giới, kể cả những gì là hay, là tốt của các tôn giáo, Khổng Tử, Tôn Trung Sơn kết hợp với truyền thống dân tộc. Cũng nên thôi nói xây dựng CNXH mà chỉ nên nêu mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh” như nghị quyết Đảng đã từng nêu là đúng.

Đã không có CS chủ nghĩa, XHCN thì tên Đảng nên trở về là “Đảng Lao động Việt Nam”, sau này sửa Hiến pháp, lấy lại tên nước là “Việt Nam dân chủ cộng hòa” để dễ hòa đồng với các nước trên thế giới.

Lãnh đạo với cai trị khác nhau. Từ sau Hội nghị Thành Đô đến nay, Đảng cai trị, độc đoán chứ không phải lãnh đạo. Có những chủ trương, chính sách không sát, không đúng, ai có ý kiến khác thì cho là suy thoái, ai dám nói thẳng, dám chỉ trích chế độ, đấu tranh đòi dân chủ, dân quyền thì đàn áp bỏ tù. Yêu cầu hiện nay là Đảng đổi mới tư duy, tự cải biến, từ bỏ cai trị, thực hiện đúng ý nghĩa lãnh đạo, thâm nhập nắm được nguyện vọng của dân, đề ra chủ trương, chính sách hợp lòng dân, hợp yêu cầu phát triển đất nước, tự khắc dân theo, Đảng không mất vị trí lãnh đạo. Đảng cần cótư duy dân chủ,  tác phong thực tế. Bộ phận lãnh đạo không chỉ đi ôtô xuống nghe cấp ủy báo cáo, phát biểu ý kiến chỉ đạo rồi về, mà cần có các cách vi hành để nắm được thực chất tâm tư nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, thấy rõ tình hình thực tế, trên cơ sở đó mới đề ra được những chủ trương sát, đúng. Đảng lãnh đạo chứ không làm thay chức trách, nhiệm vụ của Chính quyền, không đại diện cho Chính quyền.

Đảng đề ra đường lối, chủ trương và mục tiêu chung cho từng thời kỳ và yêu cầu đối với các mặt hoạt động, các phương châm, nguyên tắc cần quán triệt, Chính phủ và các ngành làm kế hoạch thực hiện, Đảng không bao biện làm thay. Đảng theo dõi quá trình thực hiện. Nhiệm vụ quan trọng của lãnh đạo là chăm lo xây dựng, chỉnh đốn Đảng cho trong sạch, giáo dục đảng viên lòng yêu nước và tinh thần tiên phong gương mẫu.

Trong hơn 90 triệu dân, Đảng chỉ là bộ phận nhỏ và cũng nằm trong lòng Tổ quốc. Tuy có vị trí lãnh đạo, nhưng Đảng không được đứng trên Nước, Đảng cũng phải tôn trọng các quyết định của Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân (sắp tới Quốc hội mới phải thực sự là Quốc hội của dân. Không phải như Quốc hội hiện nay chỉ có 15% là người ngoài Đảng).

Trên đây là những lời nói thẳng với tinh thần xây dựng của một đảng viên 99 tuổi, gần đất xa trời, đã theo Đảng gần 80 năm.

N.T.V.

Sầm Sơn, 2-8-2014

Tác giả gửi BVN

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Việt Nam-Mỹ trao đổi về Biển Đông,Trung Quốc ngoan cố

Việt Nam-Mỹ trao đổi về Biển Đông,Trung Quốc ngoan cố

(Tin tức thời sự) – Các vấn đề về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), năng lượng hạt nhân dân sự và Biển Đông đã được hai vị ngoại trưởng Việt – Mỹ bàn luận.

Cuộc gặp gỡ diễn ra vào ngày 9/8 ngay bên lề Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (AMM) lần thứ 47 và các hội nghị liên quan diễn ra ở thủ đô Nay Pyi Taw của Myanmar.

Theo đó TTXVN đưa tin, tại cuộc gặp Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh và Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ John Kerry đã trao đổi về một số lĩnh vực hợp tác cụ thể, trong đó có đàm phán về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), hợp tác trong lĩnh vực biến đổi khí hậu, năng lượng hạt nhân dân sự.

Bên cạnh đó, hai bên cũng trao đổi về các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm, trong đó có vấn đề Biển Đông.

Vấn đề Biển Đông tiếp tục được Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh và ngoại trưởng Mỹ bàn luận
Vấn đề Biển Đông tiếp tục được Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh và ngoại trưởng Mỹ bàn luận

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh và Bộ trưởng Ngoại giao John Kerry bày tỏ hài lòng về những kết quả đạt được kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ đối tác toàn diện năm 2013.

Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ đánh giá cao vai trò của Việt Nam tại ASEAN và trong khu vực, nhất trí cho rằng hai bên cần tiếp tục trao đổi đoàn, đặc biệt là các đoàn cấp cao.

Cũng liên quan đến vấn đề Biển Đông tại diễn đàn lần này Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh đã có cuộc gặp Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị.

Theo đó, tại cuộc gặp, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh nhấn mạnh Việt Nam coi trọng quan hệ láng giềng, đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc. Tuy nhiên, thời gian qua, mối quan hệ này đã bị ảnh hưởng bởi tình hình căng thẳng trên biển do Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam.

Phó Thủ tướng cho rằng, điều quan trọng nhất hiện nay là hai bên cần cùng nhau nỗ lực duy trì hòa bình, ổn định trên biển, kiểm soát tốt bất đồng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình và quan trọng nhất là không để tái diễn vụ việc tương tự như vừa qua.

Tuy nhiên, Reuters đưa tin trong cuộc gặp này ông Vương Nghị tiếp tục giọng điệu thiếu thiện chí: “Trung Quốc sẽ dùng mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ chủ quyền và lợi ích lãnh thổ”.

Phương Nguyên

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Blog at WordPress.com.