Monthly Archives: August 2014

ASEAN cứng giọng với Trung Quốc về Biển Đông: Thời cơ cho Việt Nam

ASEAN cứng giọng với Trung Quốc về Biển

Đông: Thời cơ cho Việt Nam

Trọng Nghĩa

Các ngoại trưởng Asean trước hội nghị với ngoại trưởng Trung Quốc tại Naypyitaw ngày 9/8/2014. REUTERS/Soe Zeya Tun

Các ngoại trưởng Asean trước hội nghị với ngoại trưởng Trung Quốc tại Naypyitaw ngày 9/8/2014. REUTERS/Soe Zeya Tun

Phi chăng các hành đng khiêu khích ngày càng d tn ca Trung Quc ti Bin Đông, đc bit là đi vi Vit Nam vi v giàn khoan HD-981, đã bt đu khiến cho khi ASEAN bt dè dt trong đi sách nhm vào Bc Kinh? 

Câu hỏi này đã được giới quan sát nêu lên sau khi Hội nghị Ngoại trưởng Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á, họp lại tại Miến Điện ngày 08/08/2014, đã nhất trí thông qua một bản Thông cáo chung, trong đó vấn đề Biển Đông đã được nêu bật với nhiều chi tiết hơn bình thường cũng như với những từ ngữ khá cứng rắn.

Về lập trường chung của khối ASEAN trên vấn đề Biển Đông, đánh giá của giới quan sát dĩ nhiên không đồng nhất với nhau. Có ý kiến cho rằng phản ứng của khối nước Đông Nam Á trước các hành vi quyết đoán của Trung Quốc trên Biển Đông tiếp tục yếu ớt. Lý do là nội bộ ASEAN vẫn chia rẽ, với nhiều nước vì lợi ích riêng tư nên tránh động chạm Bắc Kinh, trong lúc các quốc gia bị Trung Quốc trực tiếp chèn ép lại muốn ASEAN cứng rắn hơn, đặc biệt sau hành động thô bạo của Bắc Kinh với vụ giàn khoan HD-981.

ASEAN vn b tê lit hay đã tiến bước trên h sơ Bin Đông ?

Điển hình cho các đánh giá về thái độ e ngại Trung Quốc của ASEAN là bài phân tích của nhà báo kỳ cựu Bertil Lintner đăng trên chuyên san trên mạng YaleGlobal của trường Đại học Mỹ Yale ngày 12/08/2014, theo đó: «Sự tê liệt của ASEAN giúp cho Trung Quốc rảnh tay tại Biển Đông». Giới phân tích đều ghi nhận là tại các hội nghị của ASEAN, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã thẳng thừng bác bỏ đề nghị của Mỹ yêu cầu «đóng băng» các hành vi khiêu khích tại Biển Đông, nhận chìm kế hoạch hành động ba điểm của Philippines, và khẳng định trở lại chủ quyền Trung Quốc trên hầu như toàn bộ Biển Đông.

Ngược lại với dòng ý kiến kể trên, cũng có nhiều đánh giá cho rằng lần này ASEAN đã có tiến bộ trên vấn đề Biển Đông. Bài phân tích của nhà báo Clint Richards trên báo mạng The Diplomat ngày 11/08/2014 chẳng hạn đã chạy tựa «Dù Bộ Quy tắc Ứng xử còn xa vời, nhưng ASEAN đã có bước tiến». Một số tờ báo thì nhắc lại nguyên văn đánh giá của một số quan chức Mỹ cao cấp ngày 10/08/2014, theo đó Trung Quốc đã bị đẩy lùi nhân Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN.

Dẫu sao thì phải công nhận rằng tranh chấp Biển Đông quả là đã gây sóng gió ở các Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần này (08-10/08/2014) tại Miến Điện, với sự đối đầu Mỹ-Trung. Bằng chứng thấy rõ là ngay cả sau khi các cuộc họp đã kết thúc, hôm 11/08/2014, Trung Quốc vẫn lên tiếng gay gắt tố cáo Mỹ là kẻ gây rối, buộc Washington tố ngược lại rằng chính Bắc Kinh mới là bên gây bất ổn bằng các hành động hung hăng nhắm vào các láng giềng.

Sóng gió cũng nổi lên ngay tại Hội nghị các Ngoại trưởng ASEAN. Dấu hiệu nổi cộm nhất là bản Thông cáo chung chỉ được công bố hôm 10/08/2014, tức là hai ngày sau khi hội nghị Ngoại trưởng kết thúc. Trong khoảng thời gian đó, 10 nước được cho là vẫn tiếp tục “đàm phán” – tức là vẫn còn bất đồng – về các nội dung cần đưa vào bản Thông cáo.

Theo tiết lộ của hãng tin Nhật Kyodo trong bản tin ngày 10/08, chính theo đề nghị của Việt Nam mà bản Thông cáo chung của ASEAN đã nâng cấp độ của mối quan ngại chung của ASEAN về diễn biến gần đây tại Biển Đông, khi đưa từ “serious” – tức là “nghiêm trọng” hay “sâu sắc” vào văn kiện chung. Việc bản dự thảo bỏ qua từ này – cho dù đã có trong bản Tuyên bố riêng vềBiển Đông ngày 10/05/2014 – cho thấy là trong các thành viên ASEAN, một số nước vẫn e ngại không muốn đụng chạm Trung Quốc.

Brunei, Cam Bt, Lào, Miến Đin và Thái Lan đu “s” Trung Quc ?

Một số nhà ngoại giao thạo tin cũng tiết lộ cho Kyodo biết là nước nào trong ASEAN có thái độ e ngại Trung Quốc. Lập trường đó đã được phản ánh qua cuộc tranh cãi về khả năng nhắc đến tranh chấp Nhật-Trung trên Biển Hoa Đông trong bản Thông cáo chung của ASEAN.

Dự thảo ban đầu của văn kiện này có đoạn nói về mối quan ngại của ASEAN đối với “những căng thẳng hiện nay ở Biển Hoa Đông”, bắt nguồn từ tranh chấp lãnh thổ gay gắt giữa Nhật Bản và Trung Quốc về quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, và kêu gọi các quốc gia liên quan “kiềm chế hành động đơn phương làm gia tăng căng thẳng và thay đổi hiện trạng”.

Thế nhưng toàn bộ đoạn văn này đã bị xóa bỏ trong bản Thông cáo chung. Theo các nguồn tin trên, có năm nước là Brunei, Cam Bốt, Lào, Miến Điện và Thái Lan đã yêu cầu xóa bỏ điều khoản này trong phiên bản cuối cùng của bản thông cáo, rõ ràng là vì đã cân nhắc hơn thiệt trong các mối quan hệ của họ với Trung Quốc.

Đối lập với nhóm quốc gia nói trên là Philippines, Singapore và Việt Nam, đã thúc giục ASEAN giữ lại đoạn văn, trong khi hai thành viên còn lại là Indonesia và Malaysia không có quan điểm về vấn đề này.

Dẫu sao thì cũng phải công nhận rằng, trên vấn đề Biển Đông, các Ngoại trưởng ASEAN đã có được sự đồng thuận tương đối, thể hiện rõ rệt trong bản Thông cáo chung. Nhận xét chung của nhà báo Clint Richards trên báo mạng The Diplomat ngày 11/08/2014 theo đó ASEAN đã có « bước tiến » cũng là ý kiến của Giáo sưNgô Vĩnh Long, thuộc Đại học Maine (Hoa Kỳ), một nhà nghiên cứu kỳ cựu về Biển Đông.

Trả lời phỏng vấn của RFI, Giáo sư Long cho rằng qua bản Thông cáo chung lần này các nước ASEAN đã nói rõ : «Nếu tiếp tục gây hấn trên Biển Đông, Trung Quốc không chỉ gây hấn với Việt Nam mà với toàn khu vực và thế giới», và nhân Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN tại Miến Điện vừa qua, đề nghị “đóng băng” các hành vi khiêu khích «không phải chỉ là của Mỹ, mà là của hầu hết các nước trong khu vực».

Trong bối cảnh đó, Giáo sư Ngô Vĩnh Long thấy rằng Việt Nam nên thúc đẩy hơn nữa sự cộng tác với các nước ASEAN, Mỹ và các nước đồng minh của Mỹ (như Nhật, Hàn Quốc và Úc) trong việc thực hiện triệt để bản Thông cáo chung vừa qua.

Dưới đây là bài phỏng vấn mà Giáo sư Long đã dành cho RFI:

 

Tạp chí Việt Nam ngày 18-08-2014

(17:38)

Căn c vào bn Thông cáo chung, có th nói là ASEAN đã “cng rn” hơn mt chút trên vn đBin Đông hay không ?

ASEAN có cng rn hơn trên vn đ Bin Đông vì Thông cáo chung (công b) ngày 10 tháng 8 này ln đu tiên có 7 điu khon tương đi chi tiết v Bin Đông. Điu khon đu v Bin Đông – điu 149 – ca Thông cáo chung, khng đnh:

“Chúng tôi tiếp tc quan ngi sâu sc v nhng din biến gn đây làm gia tăng căng thng bin Đông và khng đnh li tm quan trng ca vic duy trì hòa bình, n đnh, an ninh bin cũng như t do hàng hi và hàng không Bin Đông”.

Các nước ASEAN không nhng “quan ngi sâu sc” mà, trong Điu khon 151, còn ch trích nhng “hành đng gây phc tp tình hình và làm phương hi đến hòa bình, n đnh và an ninh bin Đông.”

Do đó, Điu khon này yêu cu “gii quyết tranh chp thông qua các bin pháp hòa bình, không đe da hoc s dng vũ lc, bao gm đi thoi thân thin, tham vn và thương lượng, phù hp vi các nguyên tc được công nhn ca lut pháp quc tế, trong đó có Công ước LHQ v Lut bin 1982 (UNCLOS)”

Tuy không đ cp đến Trung Quc, hai điu khon va trích cho ta biết rõ là tt c các nước ASEAN cho rng nhng hành đng ca Trung Quc đã làm phương hi đến hoà bình, n đnh và an ninh Bin Đông cũng như không phù hp vi các nguyên tc ca lut pháp quc tế.

Có yếu t gì mi hơn trong phn nói v Bin Đông so vi các Thông cáo chung trước đây hay không ? Đc bit là so vi bn thông cáo chung riêng r v Bin Đông được công b ít lâu sau s c HD-981 ?

Các bn thông cáo chung trước đây ch nói chung chung, và bn Thông cáo chung ngày 10 tháng 5,sau s c Hi Dương 981, ch nói đến “quan ngi sâu sc v nhng din biến gn đây” nhưng không có đ cp đến “nhng hành đng làm phương hi đến hoà bình” như trong Điu khon 151 ca Thông cáo chung ln này.

Vic này cho biết là nếu Trung Quc tiếp tc gây hn trên Bin Đông thì Trung Quc không ch gây hn vi Vit Nam mà vi toàn khu vc và thế gii. Đây là điu mà tôi nghĩ là bn Thông cáo này nói rõ.

Thêm vào đó là Điu khon 152 nêu đích danh Trung Quc trong quan h vi các nước thành viên ASEAN và nhn mnh rng:

“Chúng tôi nht trí tăng cường tham vn vi Trung Quc v các bin pháp và cơ chế nhm bo đm và tăng cường hơn na vic thc hin đy đ và hiu qu DOC mt cách tng th, nht là Điu 4 và Điu 5, cũng như đàm phán thc cht đ sm đt được b Quy tc ng x bin Đông (COC).”

Cm t “đàm phán thc cht” được lp li trong Điu khon 154 khi nói v hai hi ngh v DOC sđược t chc vào tháng 10.2014 ti Bangkok (Thái Lan).

Điu này cũng cho biết là Trung Quc t trước đến nay không chu đàm phán thc cht, mà li c tình tránh né. Nay khi ASEAN và các nước tham d Hi ngh va qua mun Trung Quc phi đàm phán đàng hoàng, không tránh né, và đàm phán thc cht, nếu không thì ASEAN phi thay đi thái đ vi Trung Quc trong tương lai.

Theo Kyodo, chính Vit Nam đã gây sc ép buc đưa t ng “serious” vào bn Thông cáo chung ca ASEAN. Phi chăng đó là mt du hiu cho thy là Vit Nam kiên quyết hơn trong đi sách chng Trung Quc v Bin Đông ?

Cm t “quan ngi sâu sc” (seriously concerned) đã được nêu ra trong Thông cáo chung ca các btrưởng ASEAN ngày 10 tháng 5 ri. Nhưng vn đ Vit Nam có cương quyết hơn trong đi sách vi Trung Quc v Bin Đông hay không thì còn phi tùy nhng hành đng thiết thc ca Vit Nam trong thi gian ti là gì ?

Ví d như Vit Nam có ng h Philippines trong vn đ kin Trung Quc v đường lưỡi bò hay cùng kin vi Philippines không ? Nếu không thì Vit Nam có t khi kin Trung Quc v đường lưỡi bò và v vic Trung Quc đánh chiếm Hoàng Sa và mt s đo Trường Sa đ sau đó dùng các v trí này đe do an ninh ca Vit Nam nói riêng và ca khu vc và thế gii nói chung hay không ?

Tôi nghĩ rng mt cm t mt hi ngh không phn ánh được du hiu là Vit Nam có kiên quyết hơn hay là không.

M hay Trung Quc thng ti Hi ngh ASEAN ln này trên vn đ Bin Đông ? M thì t nhn là mình thng, còn mt s quan sát viên thì cho rng Trung Quc đã đy lùi được đ ngh ca Mmun đóng băng các hành đng khiêu khích.

Vn đ không phi là ai thng ai thua ti bàn hi ngh mà là ai có nhng hành đng gì đ đem li an ninh và hoà bình cho khu vc và thế gii.

Vic “đóng băng” các hành đng khiêu khích thc cht ch là vic lp li điu 5 ca DOC, trong đó có nói: “Các nước thành viên ca DOC phi t kim chế nhng hành đng gây phc tp hay leo thang tranh chp và làm phương hi đến hoà bình và n đnh, trong đó có vic t kim chế nhng hot đng nhm to cư trú trên nhng đo, nhng cn cát, và nhng mõm đá, v.v., hin nay không có người .”

Do đó, đ ngh “đóng băng” trong hi ngh va qua không phi ch là ca M, mà là ca hu hết các nước trong khu vc.

Ví d như Ngoi trưởng Philippines có đưa ra sáng kiến “Kế hoch hành đng 3 đim (TAP, ThreeActions Proposal) nhm kim soát và gim căng thng Bin Đông, nhưng Ngoi trưởng Vương Nghca Trung Quc lp tc bác b. Vic bác b này chng t Trung Quc thc s không mun theo lp trường ca mình (đã ghi) trên bn Tuyên b DOC.

Dù sao đi na thì Điu khon 155 ca Thông cáo chung cũng ghi nhn sáng kiến này ca Philippines vì nó phù hp vi Điu 4 và Điu 5 ca DOC cũng như lut pháp quc tế.

Do đó, không hn Trung Quc đã thng ti bàn hi ngh. Thêm vào đó thái đ bt chp và ngoan cca Trung Quc có th càng ngày càng làm cho các nước ASEAN thy cn phi da vào thế lc ca M đ bo v an ninh chung.

Vic các quan chc M nào đó t cho là M thng thì tôi thy có th chính bn thân h vn là nhng lut sư hơn là nhng nhà ngoi giao… Bi vì vn đ ca ngoi giao không phi là thng thua bàn hi ngh, không phi ch nói suông, mà cn được cng c bng nhng hành đng thiết thc, nht là bng sc mnh quân s.

Thành ra, trong khi Vit Nam còn yếu trong lãnh vc này, thì M chng hn đã tăng cường quan hquân s vi Vit Nam. Va qua, Đi tướng Martin Dempsey, Ch tch Hi đng Tham mưu trưởng Liên quân M mi va đi thăm Vit Nam, và theo d kiến, B trưởng Quc phòng M Chuck Hagel cũng s đi thăm Vit Nam vào cui năm nay.

Vn đ đây là M s cng c quan h vi Vit Nam và các nước trong khu vc. Theo tôi, đây là mt vn đ rt cn thiết, cho nên mi va ra khi bàn hi ngh mà nói là thng hay là thua, thì đó đúng là kiu nói ca lut sư, hơn là ca các nhà làm ngoi giao.

Sp ti đây Vit Nam có th làm gì ?

Bn Thông cáo chung ca ASEAN vn còn chung chung, mc dù đã đưa ra nhiu điu khon chi tiết hơn các bn Thông cáo trước đây. Theo tôi thì sp ti đây, Vit Nam nên thúc đy hơn na s cng tác vi các nước ASEAN, đc bit là vi M và các đng minh ca M (như Nht, Hàn Quc và Úc) trong vic trin khai và thc hin trit đ bn Thông cáo chung va qua. Công vic trin khai và thc hin bn thông cáo này rt quan trng.

Theo tôi, vic “khng đnh li tm quan trng ca vic duy trì hòa bình, n đnh, an ninh bin cũng nhưt do hàng hi và hàng không bin Đông” trong Điu khon 149 ca Thông cáo chung, cũng nhưtrong tuyên b ca tướng Martin Dempsey ti Vit Nam, cho thy đó là chiu hướng chung ca khu vc và ca M. Cho nên vic ch chú trng đến tranh chp ch quyn Hoàng Sa và Trường Sa là không đúng hướng.

Ni dung Điu khon 149 cũng là chính sách ca M t trước đến nay, do đó, M có th giúp điu phi các hot đng ca các nước trong khu vc trong vic trn an và đi phó vi Trung Quc. Nếu Trung Quc tiếp tc thách thc và không chu dàn xếp n tho qua thương lượng thì Vit Nam nên khi kin Trung Quc và vn đng các nước đ cp trên, cũng như cng đng thế gii, ng h Vit Nam trong vic làm thiết thc này.

Nói ngn gn, bn Thông cáo chung là mt bước đu tích cc, nhưng bước đu này cn phi được trin khai và thc hin trit đ, và vai trò ca Vit Nam trong vic này rt quan trng. Nếu Vit Nam không lên tiếng mnh, thì khó cho các nước khác trong khu vc, cũng như khó cho M, mt nước rt xa, đ vn đng qun chúng ca h, đ có thng h Vit Nam và các nước khác trong khu vc.

Nguồn: http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20140818-asean-cung-giong-voi-trung-quoc-ve-bien-dong-thoi-co-cho-viet-nam

Advertisements
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai

Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai

Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Fb Trần Huỳnh Duy Thức – Nhà hoạt động từ thiện và tôn giáo Mai Thị Dung, một nông dân cắt lúa, sinh năm 1969, đang tiếp tục bị hành hạ trong tù khi thụ án 11 năm sau 2 lần bị kết án.
Cùng chồng là ông Võ Văn Bửu, bà Mai Thị Dung – tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo – đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình, tuyệt thực cho các tín hữu đồng đạo, phản đối nhà cầm quyền CSVN tịch thu các cơ sở giáo hội và đàn áp tự do tôn giáo.
Bất chấp gia đình có hai người con dưới tuổi thành niên, ngày 5 tháng 8 năm 2005, công an Việt Nam bắt giữ cả hai vợ chồng Mai Thi Dung và Võ Văn Bửu. Ngày 19 tháng 9 năm 2005, Tòa án tỉnh An Giang kết án bà Mai Thị Dung 6 năm tù và chồng bà 7 năm vì tội “gây rối trật tự công cộng”. Trước đó không lâu, ông Võ Văn Bửu vừa mãn hạn tù 3 năm cũng vì tội danh tương tự.
Trong tù, bà Mai Thị Dung kiên trì tổ chức các lễ Phật. Vì lẽ đó, ngày 22 tháng 7 năm 2008, nhà cầm quyền đã phạt thêm 5 năm tù về tội “chống đối nhân viên công lực”, nâng tổng án tù mà bà Dung phải chịu lên 11 năm.
Suốt thời gian ở tù, mặc dù bệnh nặng, bà Mai Thị Dung luôn bị hành hạ, bị cấm nói chuyện với các tù nhân – bởi thái độ bất hợp tác với cai tù trong việc “ký biên bản nhận tội”. Bà từng tuyệt thực trong tù để phản đối ngược đãi và yêu cầu được đưa đi điều trị. Chỉ một ngày sau khi bà tuyệt thực, hôm mùng 2 tháng 10 năm 2013, từ trại giam Xuân Lộc – Đồng Nai, bà bị chuyển ra Bắc cùng với một tù nhân lương tâm khác vừa được trả tự do là Đỗ thị Minh Hạnh trên quãng đường 1700 km với chân tay bị xích còng nên đã nhiều lần ngất xỉu trong xe thùng bịt kín.
Hiện bà đang bị giam tại Phân trại 3 Thanh Xuân, xã Mỹ Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Nội với tình trạng sức khỏe nguy kịch trong điều kiện tù khắc nghiệt. Bà mắc nhiều chứng bệnh tim, gan, mật, dạ dày, chỉ có thể di chuyển bằng cách bò lê trên nền sàn vì không thể đứng vững – theo những gì chồng bà chứng kiến trong lần thăm cuối năm 2013. Ông Võ Văn Bửu đã ra tù vào tháng 8 năm 2012, sau khi đã thi hành án 7 năm tù giam.
Nhà cầm quyền Việt Nam xem Phật Giáo Hòa Hảo là kẻ thù. Phần lớn các hoạt động của giáo hội phải thực hiện bí mật. Nếu không, luôn có đông đảo an ninh chìm nổi theo dõi, bao vây, phá rối để có cớ bắt bớ những người tham gia lễ lạc.
11 tháng 7 năm 2014
 
Vietnam Human Rights News
vietnamhumanrightsnews@gmail.com
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

CÓ NÊN ĐẶT VẤN ĐỀ THOÁT TRUNG?

CÓ NÊN ĐẶT VẤN ĐỀ THOÁT TRUNG?

Nguyễn Thanh Giang

Với người Việt, thoát Trung là câu chuyện cũ. Thì một phần của lịch sử nước ta chẳng là lịch sử thoát Trung thì là gì? Cho nên,  có lẽ không cần phải quá bận tâm thoát hay không, thoát những gì… bởi một khi cái bóng khổng lồ Trung Quốc còn đè nặng thì ý thức thoát Trung còn tồn tại, như là bản năng sinh tồn của người Việt vậy. Thoát Trung là câu chuyện chương hồi nhiều tập còn lâu mới có hồi kết, nội dung của nó cũng mênh mông như đất nước Trung Hoa vậy. Thoát Trung không phải là cạch mặt hẳn ông hàng xóm xấu chơi, hễ dấu chân Tàu dẫm đến đâu thì xúc đất đến đấy, đổ đi (“ghét xúc đất đổ đi” – thành ngữ). Thoát mà không thoát, không thoát mà thoát, tự cô lập hoàn toàn là tự sát. Vậy khi nào chúng ta “thoát Trung”? Khi chúng ta là con người độc lập, tự do, tự chọn cho mình con đường phát triển. Muốn thế, ta phải có sức mạnh hiểu theo nghĩa rộng nhất.

Nhật Bản đã thoát Trung một cách ngoạn mục từ thời Minh Trị giữa thế kỷ XIX, họ chính là tấm gương lớn để chúng ta soi. Phan Châu Trinh cũng là một tấm gương thoát Trung kiên định và sáng suốt, không những thoát Trung mà còn dứt khoát “thoát Á” để đi thẳng tới phương Tây tự do dân chủ.

Tác giả Nguyễn Thanh Giang đã trình bày quan điểm của mình nhân cuộc hội thảo “Thoát Trung” vừa qua ở Hà Nội mà điểm cốt lõi của ông là tư tưởng “Khuynh Tây”.

Cuộc tranh luận thoát Trung đã thu hút đông đảo người tham gia với rất nhiều quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, đây chỉ là màn dạo đầu, các ý kiến chỉ mới dừng lại ở tính chất gợi mở. Bauxite Việt Nam rất mong muốn tiếp tục nhận được những bài viết chia sẻ quan điểm về vấn đề này, ngõ hầu giúp bạn đọc có một cái nhìn rộng lớn hơn, sâu sắc hơn, và tiến gần hơn tới chân lý.

Bauxite Việt Nam

Tôi không muốn nghe hai chữ “thoát Trung” vì nó đau lòng quá khi bị gợi lên cảm giác tủi buồn, yếm thế của sự trốn chạy.

Thật vậy. Thoát là gì? Từ điển Tiếng Việt giải nghĩa; Thoát là “ra khỏi nơi kìm hãm, nguy hiểm thoát chết trong gang tấc”. Thoát, muốn dịch ra tiếng Pháp phải dùng chữ sortirhoặc échapper. Muốn dịch ra tiếng Anh phải dùng một trong các chữ: to escape, to exit, to quit.

Thực tế, đã bao giờ chúng ta nhập vào đâu mà phải hò nhau thoát ra, đã bao giờ entrer đâu mà phải xinsortir. Và, việc gì mà phải escape.

Ông Hoàng Cao Khải chắc chắn không đúng khi nói: “Dân tộc Nam ta là Hán tộc không còn nghi ngờ gì nữa”.

Cũng không thể đồng ý với GS Nguyễn Văn Tuấn (Australia) trong bài “Một phiên bản của Tàu”:

Nói “tương đồng” thì có vẻ oai, chứ Tàu nó chỉ xem Việt Nam chỉ là một phiên bản của họ. Chính vì thế mà các quan chức Tàu có thể hống hách và ngổ ngáo trong các tuyên bố như là lời phán của cha mẹ dành cho con. Việt Nam có vùng vẫy hay suy nghĩ gì thì Tàu cũng đoán trước được, vì Việt Nam chỉ học từ Tàu thôi, và đâu có thầy nào (nhất là thầy Tàu) mà dạy cho trò 100% sở trường. Sự lệ thuộc ngoại bang nó ghê gớm ở chỗ làm cho dân tộc không còn tự chủ và độc lập trong suy nghĩ, và người ngoài nhìn vào với ánh mắt khinh thường”.

Hãy nghe Nguyễn Trãi dõng dạc tuyên cáo:

Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương

Nguyễn Du thì từng dè bỉu Trung Quốc khi ông đi sứ ở bên ấy:

Hồn ơi! Hồn ơi! sao chẳng về?

Đông tây nam bắc không nơi tựa.

Lên trời xuống đất đều không ổn,

Đất Yên đất Dĩnh về làm chi?

Thành quách chẳng khác xưa nhưng lòng dân đã khác,

Bụi nhiều nhuốm bẩn dơ quần áo.

Đi ra thì xe ngựa, ở nhà thì vênh váo,

Ngồi bàn tán chuyện ông Quì ông Cao.

Không hề để lộ nanh vuốt ác độc.

Nhưng cắn xé người ngọt như đường!

Hồn có thấy cả trăm châu vùng Hồ Nam,

Toàn người gầy ốm có ai mập đâu.

(Bản dịch bài Phản chiêu hồn)

Nguyễn Trường Tộ cũng khẳng định:

Nước ta trên cũng có trời che, tức thiên văn, dưới cũng có đất chở, tức địa lý. Trong khoảng trời đất, nước ta cũng là một đất nước tốt lành hẳn hoi, đâu phải một miền phụ dung của Tàu” (Bản tấu Về việc học thực dụng).

Cha ông ta chưa bao giờ chịu là một miền phụ dung, một phiên bản của Trung Quốc bởi vấn đề thoát Trung đã được đặt ra từ rất lâu. Không chỉ thoát mà còn chống, còn đánh. Không chỉ đánh cho …cút, đánh cho …nhào mà “Đánh một trận sạch sanh kình ngạc”, “Đánh cho dài tóc, đánh cho đen răng”. Đánh bằng quân sự, đánh bằng văn hóa. Mặt trận nào cũng quyết liệt, cũng dữ dội. Có thế ta mới còn được “Bốn ngàn năm ta lại là ta” ít nhất cho đến trước năm 1945 chứ. Chỉ tiếc rằng, do cần đạt mục tiêu giành quyền thống trị, những người cộng sản Việt Nam đã rước ảnh mấy ông Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông về treo lên bên trên cả bàn thờ Tổ quốc. Càng đáng căm giận hơn là, cho đến bây giờ, trong những người lãnh đạo còn có những kẻ do lú lẫn hay do cần nơi nương tựa vẫn dùng quyền hành cố ấn sâu đất nước vào vòng đô hộ của Trung Quốc!

Bây giờ đặt vấn đề “Thoát Trung” thì nghĩa là thoát cái gì?

Đọc một số bài viết, dự mấy buổi Hội thảo thấy ý kiến lộn xộn, ngổn ngang quá. Người thì cho rằng “Thoát Trung” chủ yếu phải là thoát về chính trị, về tư tưởng. Người lại bảo “Thoát Trung” về chính trị thật ra cũng là “Thoát Trung” về văn hóa, văn hóa quỳ lạy, văn hóa thảo dân, văn hóa giả dối … Người bảo muốn “Thoát Trung” phải diệt Cộng, người bảo muốn “Thoát Trung”, trước hết phải đổi tên Đảng …. Rồi hàng loạt câu hỏi nêu ra: “Thoát Trung” hay thoát Mác – Lênin?, “Thoát Trung” hay thoát Khổng Mạnh?, “Thoát Trung” hay thoát Hoa?, hay thoát Á?, hay là “giải Hán hóa”? vv…

Loanh quanh luẩn quẩn một hồi, có ý kiến như là tổng kết: “Rút cuộc, Thoát Trung là phải tự thoát” (Nguyễn Ngọc Lanh).

Tôi thì tôi nghĩ rằng, không nên hô hào thoát cái gì cả.

Thoát Trung ư?

Nhà nghiên cứu Đinh Bá Anh nêu nhận xét mà tôi rất tán thưởng: “Trên nhiều phương diện, Trung Quốc còn “thoát Trung” một cách chủ động hơn, nhanh và xa hơn Việt Nam”; “cả tư duy và tầm nhìn của giới lãnh đạo lẫn ý thức của người dân về quyền và trách nhiệm ở Trung Quốc đều cao hơn ở Việt Nam”(Bài Việt Nam có cơ hội thoát Trung?).

Thoát Mác-Lenin ư?

Chủ nghĩa Mác-Lenin có cái phần xác rất thối tha với những đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản … nhưng có phần hồn khả dĩ thơm tho với những mộng tưởng; xóa áp bức, bất công, san sẻ tư bản về cho vô sản, thiết lập công bằng xã hội …

Thoát Khổng- Mạnh ư?

Đạo Nho đâu chỉ dạy “Trung quân” mà còn khẳng định “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Đạo Nho đâu chỉ có “Tam cương” mà còn có “Ngũ thường”. Trong Ngũ thường thì đứng đầu là chữ nhân. Chữ lễ chỉ ở vị trí thứ ba: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Bản thân chữ Nho được giải thích là do chữ Nhân ghép với chữ Nhu mà chữ Nhu ở đây nghĩa là hội ý. Xem vậy đủ thấy trong chữ Nho cũng có hàm chứa yếu tố dân chủ đấy chứ.

Chủ nghĩa Mác-Lenin cũng như Đạo Nho, Đạo Phật, Đạo Gia tô, Đạo Hồi … đều có mặt sáng, mặt tối, yếu tố dương, yếu tố âm. Vấn đề là ta cần tiếp thu những gì và nên né tránh những gì trong đó chứ không nên phủi bỏ toàn bộ.

Xã hội Mỹ sở dĩ bền vững lâu dài và phát triển rực rỡ vì không cưỡng bức “thoát” cái gì cả mà tất cả các đạo đều được trân trọng. Đảng Cộng sản Mỹ vẫn hoạt động công khai, có trụ sở treo ảnh Mác, Lênin trang trọng, có cơ quan ngôn luận đàng hoàng (Daily Worker, People’s World). Nền văn hóa Mỹ không có bản sắc riêng nhưng là tích hợp của nhiều nền văn hóa. Mọi nền văn hóa đều được góp những bông hoa đẹp của mình trên cái nền cỏ xanh dân chủ nhân quyền bất diệt.

Lịch sử nhân loại từng có những trang đau thương do những kẻ hoạt đầu lợi dụng yếu tố này, yếu tố kia trong các đạo để trị vì những cộng đồng dân tộc bằng độc tài, chuyên chế. ĐCSVN cũng vậy, đã lợi dụng chủ nghĩa Mác-Lenin để huy động xương máu nhân dân cướp chính quyền rồi lại tiếp tục lợi dụng chủ nghĩa Mác-Lenin để duy trì ách thống trị hà khắc trên đầu nhân dân Việt Nam.

Mục tiêu “Thoát Trung” đặt ra có lẽ quá rộng, quá sâu nên mông lung không biết nhằm vào đâu, không biết thực hiện thế nào.

Có quá nhiều mục tiêu, nhiệm vụ cần đặt ra cho tình hình hiện nay: chống tham nhũng, chống lãng phí, chống độc tài đảng trị, chống cường quyền … nhưng khẩn thiết hơn cả phải là chống Đại Hán bành trướng, chống ách đô hộ từ xa của Trung Quốc, chống âm mưu xâm lăng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc. Tuy nhiên, đặt vấn đề “Thoát Trung” e không cụ thể.

Thay vì vận động “Thoát Trung” xin đề nghị nêu cao khẩu hiệu “Hãy cảnh giác với Bắc Triều”

Hãy khắc ghi vào tâm trí chúng ta khẩu hiệu “Hãy cảnh giác với Bắc Triều” bằng chỉ thị, nghị quyết, bằng thường xuyên nêu trong mục kiểm điểm ở các chi bộ Đảng, các buổi hội họp của các tổ chức dân sự, bằng thơ văn, nhạc, họa …

”Cảnh giác với Bắc Triều” thì các ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười không dại dột ký Thỏa ước Thành Đô 1990.

“Cảnh giác với Bắc Triều” thì Lê Khả Phiêu không mắc điều tiếng là đã bị chúng đưa gái ra nhử để rồi phải dâng tặng Ải Nam Quan, Vịnh Bắc Bộ ….

“Cảnh giác với Bắc Triều” thì Nông Đức Mạnh không ngu ngơ mời Trung Quốc vào khai thác Bauxite Tây Nguyên.

“Cảnh giác với Bắc Triều” thì Nguyễn Phú Trọng không tệ hại đến mức tạo tiền đề mở rộng cửa đón Trung Quốc và công an của họ tràn vào toàn bộ lãnh thổ Việt Nam (Xin mời đọc bài “Mấy nghi vấn đối với tuyên bố chung Việt Nam-Trung Quốc do ông Nguyễn Phú Trọng ký kết” trong trang web www. nguyenthanhgiang.com).

“Cảnh giác với Bắc Triều” thì các tỉnh không “vô tư” bán nhiều khu rừng đầu nguồn trọng yếu, không cho thiết lập những Vũng Áng, Nghĩa Hưng ….

“Cảnh giác với Bắc Triều” thì các nhà quản lý không để Trung Quốc dễ dàng thắng thầu tới 90% các dự án kinh tế quan trọng.

“Cảnh giác với Bắc Triều” thì nhân dân không nhẹ dạ nghe thương lái Trung Quốc đào rễ hồi, trộn chè bẩn, bóc móng trâu, nuôi đỉa, nuôi ốc bươu vàng …

Thay vì chủ trương “Thoát Trung”, đề nghị hãy vận động mạnh mẽ cho xu hướng “Khuynh Tây”.

“Khuynh Tây” để tiếp thu sâu sắc những giá trị cơ bản của nhân loại tiến bộ, trong đó có dân chủ, nhân quyền.

“Khuynh Tây” để có nền giáo dục đào tạo nên những con người tài năng có tinh thần độc lập, ý chí sáng tạo, bản lãnh tự chủ.

“Khuynh Tây” để có nền hành chính phục vụ nhân dân đắc lực.

“Khuynh Tây” để nhanh chóng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

“Khuynh Tây” sẽ mặc nhiên đạt được mục tiêu “Thoát Trung”. Do “Khuynh Tây” mà ta thấy đấy, giới trẻ đã mặc nhiên “Thoát Trung” trong lĩnh vực ca vũ nhạc một cách ngoạn mục. Họ sống rất mạnh mẽ sôi động với những pop ballad, jaz, heavy metal, hip hop, dance sport, break dance… chứ còn ai chịu “hái chè bắt bướm” với “Lương Sơn Bá, Trúc Anh Đài” nữa đâu.

Niềm trông đợi rất tha thiết của “Khuynh Tây” trước mắt là để nhanh chóng thiết lập được Liên Minh Việt Mỹ đặng giữ lấy Biển Đông và tạo cơ hội đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa.

Trước tình hình một bộ phận trong giới lãnh đạo vẫn chủ trương tiếp tục coi Trung Quốc là bạn “4 tốt” “16 chữ vàng”, Mỹ là kẻ thù truyền thống; trước những nghi vấn xã hội: liệu Hoa Kỳ có thực tâm muốn liên minh với ta không, cần tổ chức nhiều cuộc Hội thảo, Tọa đàm nhằm giải quyết những vấn đề tư tưởng ấy. Từ đấy tạo sức ép để lãnh đạo phải từ bỏ ý đồ “ỷ Trung bảo toàn Đảng”, để vì dân vì nước mà “Khuynh Tây” và chủ động nỗ lực thiết lập liên minh với Hoa Kỳ.

Hà Nội 20 tháng 8 năm 2014

N.T.G

Tác giả gửi BVN

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Tân Hoa xã: “Trung Quốc đang theo dõi Mỹ-Việt liếc mắt đưa tình”

Tân Hoa xã: “Trung Quốc đang theo

dõi Mỹ-Việt liếc mắt đưa tình”

ĐÔNG BÌNH

19/08/14 09:50

(GDVN) – Trung Quốc đã đánh giá thấp thực lực, ý chí và tình cảm dân tộc của Việt Nam, Việt Nam trở nên quan trọng hơn đối với Mỹ ở Biển Đông.

Giàn khoan nước sâu Hải Dương Thạch Du 981 Trung Quốc

Tân Hoa xã dẫn tờ “The Economist” Anh ngày 16 tháng 8 đăng bài viết nhan đề: “Việt Nam và Trung Quốc: vượt qua biên giới ảm đạm, quan hệ hai nước xã hội chủ nghĩa đang ở mức thấp nhất trong mấy chục năm qua”.

Theo bài báo, ở một khu vực cách biên giới Việt-Trung khoảng 17 km, xe tải chạy đến nhà máy thép bay đầy khói bụi. Ở khu vực nhà máy trị giá 340 triệu USD và một phần do doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc sở hữu này, có một chợ ngoài trời và một phố chính, bán hàng hóa có chữ của hai nước Việt Nam, Trung Quốc.

Một người bán hàng rong Việt Nam cho biết, hàng trăm người Trung Quốc kinh doanh ở đây có lợi cho phát triển kinh tế địa phương, một người khác lại nhớ mãi về lịch sử xâm lược của Trung Quốc.

Từ khi quan hệ Trung-Việt bình thường hóa vào năm 1991 đến nay, Chính phủ Việt Nam luôn nhấn mạnh đến sự hài hòa về ý thức hệ với nước láng giềng xã hội chủ nghĩa khổng lồ.

Nhưng, đến nay, mối quan hệ này hầu như đang bị “bào mòn”. Việt Nam đang tìm kiếm sự ủng hộ từ nước khác. Đầu tháng 8 năm 2014, Nhật Bản tuyên bố sẽ tặng tàu tuần tra cho Việt Nam; tuần vừa rồi, Hải quân Việt Nam và Ấn Độ tổ chức các hoạt động chung…

Theo bài báo, nhập siêu thương mại với Trung Quốc hàng năm của Việt Nam gần 24 tỷ USD. Rất nhiều nhà máy ở Việt Nam lệ thuộc vào nguyên liệu Trung Quốc. Mặc dù Việt Nam muốn quan hệ kinh tế hai nước duy trì ổn định, nhưng luật sư địa phương cho biết, khách hàng Trung Quốc căng thẳng đã tạm dừng dự án đầu tư ở Việt Nam.

Chính phủ Trung Quốc cho tàu của họ đâm chìm tàu cá Việt Nam tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam

Chuyên gia dự đoán, thị phần nhận thầu của Trung Quốc ở Việt Nam sẽ từng bước giảm xuống, một phần nguyên nhân là doanh nghiệp địa phương ngày càng không muốn sử dụng nhà thầu Trung Quốc.

Đến nay, Trung Quốc và Việt Nam hầu như đều không cấp bách khôi phục quan hệ. Là nước mạnh hơn, giàu hơn và kinh tế đa dạng hơn, Trung Quốc có thể dễ dàng hơn trong việc hóa giải sự tác động ngày càng xấu đi của quan hệ song phương.

Nhưng, theo Viện trưởng Hoàng Anh Tuấn, Viện nghiên cứu chiến lược và ngoại giao Việt Nam, Trung Quốc đã đánh giá thấp thực lực, ý chí và tình cảm dân tộc của “đối thủ”.

Tờ “Thời báo New York” Mỹ ngày 16 tháng 8 cho rằng, mấy ngày gần đây, tướng Martin Dempsey đang bày tỏ thiện chí với Việt Nam và trở thành Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng Liên quân Mỹ đầu tiên thăm “cựu thù” trong hơn 40 năm qua. Cùng với bất đồng Trung-Mỹ ở Biển Đông ngày càng mở rộng, Hà Nội bất ngờ trở nên quan trọng hơn đối với Washington.

Tờ Tân Hoa xã viết: “Mặc dù ngày càng xích lại gần với Washington, nhưng Việt Nam đã cho biết, không có ý cắt đứt quan hệ với nước láng giềng phía bắc (Trung Quốc), dù sao thì hai bên cũng có cùng chế độ, cùng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, đồng thời Việt Nam cũng có một thực tế là “lệ thuộc” vào Trung Quốc về kinh tế”.

Quân đội Trung Quốc trong một cuộc tập trận đổ bộ đánh chiếm đảo

Tướng Dempsey cho biết, Mỹ hoàn toàn không ép Việt Nam lựa chọn đứng về bên nào giữa Bắc Kinh và Washington, “nhưng tôi thừa nhận, cái bóng của Trung Quốc không thể tránh khỏi treo trên các cuộc đối thoại”.

Theo bài báo của Tân Hoa xã, từng là “kẻ thù” của nhau, nên hiện nay rất khó nói Mỹ và Việt Nam ai nhiệt tình hơn ai trong việc thể hiện thiện chí với đối phương. Giáo sư các vấn đề quốc tế Brantly Womack, Đại học Virginia Mỹ cho rằng, Washington có thể sẽ thất vọng.

Bắc Kinh đang quan tâm tới việc Mỹ-Việt “liếc mắt đưa tình”, đồng thời coi Mỹ có thể dỡ bỏ lệnh cấm xuất khẩu vũ khí cho Việt nam là một hành động chống lại Trung Quốc ở Biển Đông.

Báo chí TQ thường xuyên nói ra nói vào khi quan hệ Việt-Mỹ ấm lên

Theo tuyên truyền có chủ ý của báo Trung Quốc, Mỹ đang thúc đẩy Việt Nam áp dụng lập trường cứng rắn ở Biển Đông. Washington có chút lo ngại Trung-Việt có thể hòa giải trong tranh chấp Biển Đông.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Trung Quốc lại tiếp tục bắt ngư dân Việt nam (tháng 7, 2018).

Trung Quốc lại tiếp tục bắt ngư dân Việt nam (tháng 7, 2018).

Báo South China Morning Post ngày 18 tháng 8, 2014

Thông tin lại cho biết từ ngày 14 đến 18 tháng 8 lại có bốn tàu của ngư dân đảo Lý Sơn bị phía tàu Trung Quốc rượt đuổi không cho đánh bắt trong vùng biển truyền thống Hoàng Sa, trong đó có hai tàu còn bị phía Trung Quốc nhảy sang đánh đập, phá hủy ngư cụ, tịch thu thiết bị đi biển và hải sản đánh bắt được.

Thực tế ra sao và đến khi nào ngư dân Việt Nam mới có thể thoát khỏi tình trạng đó để yên tâm làm ăn?

Người cũ, chuyện mới!

Chuyện kể của những thuyền trưởng bốn tàu cá đảo Lý Sơn bị đánh đập tàn nhẫn, tàu bị phá, ngư cụ bị hủy một cách không thương tiếc, trang thiết bị trên tàu và hải sản đánh được đều bị phía những viên chức hung hãn Trung Quốc tịch thu được các báo ghi lại một cách chi tiết.

Câu chuyện của họ cũng không khác mấy với các nạn nhân từng phải chạy thoát trở về kể lại trong những lần bị nạn suốt những năm gần đây.

Theo lời kể của hai thuyền trưởng Trần Hiền bị tấn công vào ngày 14 tháng 8 và Lê Khởi vào ngày 15 tháng 8 thì tàu Hải giám của phía Trung Quốc sau khi phát hiện đã thả xuồng và người xuống tiếp cận tàu Việt Nam, nhảy sang mang theo búa đinh, dùi cui. Họ dồn ngư dân xuống mũi tàu, đánh đập thuyền trưởng. Hành động tiếp của họ là đập phá kính ca bin, thuyền thúng, cắt toàn bộ dây hơi. Sau đó họ lấy các loại máy định vị, Icom, máy dò cá và dầu cùng toàn bộ hải sản đánh bắt được trên tàu rồi rút đi.

Họ dồn ngư dân xuống mũi tàu, đánh đập thuyền trưởng. Hành động tiếp của họ là đập phá kính ca bin, thuyền thúng, cắt toàn bộ dây hơi. Sau đó họ lấy các loại máy định vị, Icom, máy dò cá và dầu cùng toàn bộ hải sản đánh bắt được trên tàu rồi rút đi

thuyền trưởng Trần Hiền

Tàu QNg66074 TS của thuyền trưởng Trần Hiền bị thiệt hại chừng 200 triệu đồng, còn tàu QNg96697 TS của thuyền trưởng Lê Khởi mất mát khoảng 700 triệu đồng Việt Nam.

Hai tàu bị tàu của Trung Quốc vây ráp, rượt đuổi dữ dội ngay khi mới đến ngư trường là tàu QNg 96416 TS của ông Nguyễn Lộc và QNg 96417 TS của ông Bùi Văn Bốn.

Theo những nạn nhân thì đây không phải là lần đầu tiên họ gặp nạn tại Hoàng Sa như thế. Bản thân họ cũng như nhiều ngư dân khác tại đảo Lý Sơn từng bị cướp phá, bị bắt bớ và có người đã bỏ mạng do phía Trung Quốc gây nên; nhưng rồi sau những chuyến ra khơi không may như thế họ và người thân lại phải vay mượn để sắm tàu, ngư cụ ra khơi tiếp vì đó là nghề truyền thống mà bao đời ông cha họ đã theo. Ngoài ra đối với người đàn ông ở đảo cách đất liền như họ đó là con đường mưu sinh duy nhất.

Tàu Trung Quốc ngang nhiên chặn bắt tàu cá Việt Nam
Tàu Trung Quốc ngang nhiên chặn bắt tàu cá Việt Nam

Ngư dân Võ Minh Vương, thuyền trưởng tàu QNG 96787 TS mới hồi đầu tháng 7 bị phía Trung Quốc truy đuổi, tấn công, đập phá và thu giữ thiết bị đi biển, thiệt hại chừng 400 triệu đồng, nhưng rồi sau khi sửa chữa cũng lại ra khơi chuyến khác và vừa về hôm 20 tháng 8. Anh cho biết:

Tiếp tục ở Hoàng Sa tiếp chứ vì đó hồi giờ của Việt Nam nên chúng tôi cứ bám biển chứ biết đi đâu

Ngư dân Võ Minh Vương

Tiếp tục ở Hoàng Sa tiếp chứ vì đó hồi giờ của Việt Nam nên chúng tôi cứ bám biển chứ biết đi đâu.

Phản ứng của các cơ quan chức năng

Cũng như những lần trước, sau khi ngư dân thoát nạn về được bờ và có báo cáo cho cơ quan chức năng, Hội Nghề Cá Việt Nam vào ngày 20 tháng 8 ra tuyên bố phản đối hành động của phía Trung Quốc.

Ông Trần Cao Mưu, tổng thư ký Hội Nghề Cá Việt Nam, cho biết:

Tiếp tục lên tiếng phản đối hành động ngang ngược, thô bạo của phía Trung Quốc đã làm ản hưởng đến hoạt động của ngư dân Việt Nam trên vùng biển chủ quyền của Việt Nam. Phải khẳng định rằng đây là một hành động liên tục tiếp diễn, liên tục xảy ra hằng chục năm nay, đặc biệt Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi vùng đặc quyền thuộc chủ quyền Việt Nam. Đây là những hành động coi như ngang ngược, thô bạo, thiếu nhân tính của phía Trung Quốc.

Khi được hỏi về những biện pháp cụ thể để có thể giúp cho ngư dân Việt Nam nói chung và ngư dân tại đảo Lý Sơn nói riêng có thể tiếp tục bám biển tại ngư trường truyền thống Hoàng Sa mà nay quần đảo này đang bị Trung Quốc chiếm đóng và phát triển thành khu vực của họ, ông tổng thư ký Hội Nghề cá Việt Nam, Trần Cao Mưu trình bày:

Mỗi lần xảy ra thì các cơ quan chức năng của Nhà nước và các tổ chức xã hội trong nước cũng như ngoài nước đã có lên tiếng ủng hộ về mặt tinh thần, động viên ngư dân trong quá trình tham gia sản xuất trong vùng biển chủ quyền của mình.

Thứ hai nữa là rất nhiều tổ chức, cá nhân cũng đã có những hành động tích cực, đó là quyên góp để ủng hộ cho ngư dân khắc phục sớm thiệt hại do phía Trung Quốc gây ra. Đặc biệt Nhà nước Việt Nam cũng đã có những chính sách, mặc dù đây là những chính sách trong đề án phát triển kinh tế thủy sản từ năm 2013 đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; như là thời điểm ngư dân có điều kiện để nhận được sự hổ trợ rất tích cực của Nhà nước để đóng mới thêm tàu, sắm thêm ngư cụ để tiếp tục khẳng định chủ quyền của mình ở vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa. Đó là tiếp tục khai thác và tiếp tục hành nghề trên vùng chủ quyền của mình.

Trung Quốc có trang bị đầy đủ và thậm chí có những hành động thô bạo đâm chìm tàu, phá tàu của ngư dân Việt Nam. Nhưng chủ trương của VN là đấu tranh trên cơ sở bảo đảm luật pháp, tuân thủ Công ước LHQ năm 1982, luật pháp về biển cũng như tôn trọng quyền chủ quyền của mình

Ông Trần Cao Mưu

Biện pháp đấu tranh

Trong thực tế, Trung Quốc đã thành công khống chế không cho ngư dân Việt Nam đánh bắt hải sản tại ngư trường truyền thống Hoàng Sa của họ như trước đây. Bắc Kinh bố trí lực lượng chấp pháp trong khu vực và tàu đánh cá của Việt Nam đi vào đều bị phát hiện, xua đuổi hoặc bị bắt bớ, đánh phá như vừa nêu.

Để đối phó lại lực lượng đó, Việt Nam đang có những biện pháp gì? Ông Trần Cao Mưu cho biết:

Trung Quốc có trang bị đầy đủ và thậm chí có những hành động thô bạo đâm chìm tàu, phá tàu của ngư dân Việt Nam. Nhưng chủ trương của Việt Nam là đấu tranh trên cơ sở bảo đảm luật pháp, tuân thủ Công ước Liên hiệp quốc ( về luật biển) năm 1982, luật pháp về biển cũng như tôn  trọng quyền chủ quyền của mình.

Trong đấu tranh không phải chúng ta trang bị vũ khí đầy đủ hay là lớn mà được. Đây là đấu tranh thực sự ra để cho dư luận thế giới thấy rằng nhân dân Việt Nam với lòng yêu chuộng hòa bình của mình, với thái độ kiên quyết bảo vệ chủ quyền của mình bằng đấu tranh đảm bảo tính luật pháp; chứ còn tranh cãi với một kẻ thích tranh cãi hay thích quấy phá thì điều đó cũng vô nghĩa. Chúng ta phải đấu tranh trên lẽ phải, trên tất yếu được sự ủng hộ chung của nhân dân thế giới rằng cách đấu tranh của chúng ta là mềm dẻo mà sẽ khẳng định được thanh thế của mình, đó là không phải người Việt Nam gây hấn, người Việt Nam rất yêu chuộng hòa bình và rất tôn trọng chủ quyền của Việt Nam.

Vào đầu tháng 5 vừa qua, Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương Thạch Du vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam chỉ cách đảo Lý Sơn chừng 120 hải lý. Phía Việt Nam phản đối như thế là vi phạm Công ước Liên hiệp quốc về luật biển năm 1982; tuy nhiên Bắc Kinh lập luận đó là vùng biển của họ vì chỉ cách Đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa mà họ đang quản lý 17 hải lý mà thôi. Tháng giêng năm 1974, Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa từ phía Việt Nam Cộng Hòa, và chính phủ Hà Nội lúc đó không lên tiếng phản đối gì.

Nay ngư dân đảo Lý Sơn phải thường xuyên đối diện với mối nguy Trung Quốc, họ được chính quyền Hà Nội kêu gọi bám biển. Tuy nhiên như dã tràng xe cát, họ chắt góp được một khoản tiền để sắm tàu, ngư cụ và chuẩn bị mọi thứ cho một chuyến ra khơi để rồi lại bị cướp phá hết, bị xâm phạm thân thể hay bị đuổi về tay không như các tàu mới cập bến trong những ngày qua.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

“Gorbachev” Tàu đang xé nát Đảng Cộng sản

“Gorbachev” Tàu đang xé nát Đảng Cộng sản

QLB
H1Tác giả: Gordon G. Chang 
Người dịch: Phan Trinh

“Tập Cận Bình, giống Gorbachev, muốn làm điều vĩ đại để cải cách một hệ thống bệnh hoạn. Nhưng cũng như lãnh tụ cuối của Liên Xô cũ, Tập vừa kích hoạt những chuyển biến mà ông không thể kiểm soát được.”
Giới thiệu của người dịch:

Lập luận của Gordon rất đáng chú ý, nhất là khi ông so Tập Cận Bình với Gorbachev, người vừa cố sửa vừa cố giữ, sao cho không đổ vỡ, một hệ thống đã không thể sửa. Thực ra, bài học của Gorbachev nôm na chính là: Sai không sửa không được, nhưng cứ sửa là sụp.
Hóa ra Tập không vô địch, mà đang “thọ địch”, Tàu không siêu cường muốn làm gì thì làm, mà là một pho tượng khổng lồ đứng trên bục đất bở. Và hóa ra Đặng Tiểu Bình nói quá đúng:“Nếu Trung Quốc rơi vào bất ổn, thì bất ổn sẽ xuất phát từ chính nội bộ Đảng Cộng sản”.
Nếu xâu chuỗi những ngày tháng nêu trong bài – Bộ Chính trị Tàu họp kín ngày 26/6, trong đó Tập tuyên bố không màng sống hay chết trong công cuộc chống tham nhũng, và ngày 29/7, ngày ra thông báo điều tra Chu Vĩnh Khang – thì có thể đặt thêm một giả thuyết, không phải không có lý, đó là: Trung Quốc rút giàn khoan 981 khỏi vùng biển Việt Nam ngày 15/7, sớm trước một tháng, thực ra cũng chỉ vì đấu đá nội bộ đang đến hồi quyết liệt. (Đó là chưa kể Chu Vĩnh Khang từng là một ông trùm dầu khí với nhiều tay chân trong ngành). Và với Tập Cận Bình, có lẽ “thù trong” còn đáng sợ gấp trăm lần “giặc ngoài”.

Bài gốc đăng trên National Interest ngày 14/8/2014 có tên “China’s “Gorbachev” Is Tearing the Communist Party Apart”. Những tiêu đề nhỏ là của người dịch.
__________

Sống-chết, mất-còn

“Tôi không màng mình sẽ  sống hay chết, tiếng tăm mình sẽ còn hay mất, trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng này.” Tập Cận Bình đã mạnh miệng như thế, trong một phiên họp kín của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc ngày 26/6 vừa qua. Lãnh tụ nhiều tham vọng họ Tập cũng nhắc đến hai đội quân, một bên là đội quân “tham nhũng”, bên kia là đội quân “chống tham nhũng”, và hai lực lượng, theo ông, đang lâm vào thế “tiến thoái lưỡng nan.”

Những lời tuyên bố hùng hồn này, được một Ủy viên Trung ương Đảng tiết lộ, có vẻ chính xác và phù hợp với những thông tin trước đó rằng ông Tập đã đọc một diễn văn “gay gắt đến chấn động” về chiến dịch chống tham nhũng. Báo South China Morning Post tại Hongkong cho biết một nguồn tin liên quan đến bài diễn văn của Tập đã xác minh điều vừa kể. Rõ ràng, hiện đang diễn ra cuộc đấu đá nghiêm trọng giữa các phe phái cao cấp ở Bắc Kinh.

Mới gần đây thôi, phần lớn dư luận chỉ chú trọng đến việc ông Tập nhanh chóng củng cố vị thế chính trị sau khi trở thành Tổng Bí thư Đảng vào tháng 11/2012. Chẳng hạn vào năm 2013,trong đêm trước ngày diễn ra hội nghị thượng đỉnh thân mật giữa Chủ tịch Tập và Tổng thống Obama, tờ New York TimesWall Street Journal cho biết quan chức Nhà Trắng khẳng định Tập Cận Bình đã nắm được quyền kiểm soát các cơ quan quyền lực của Đảng và quân đội nhanh hơn họ dự báo rất nhiều.

Cũng vậy, từ đó đến nay, việc truy tố rộng rãi các quan chức từ cao đến thấp – từ “hổ” đến “ruồi” trong từ vựng Trung cộng – được xem như bằng chứng ông Tập đã nắm trong tay hệ thống chính trị. Đầu tháng này, nhà báo Andrew Browne, viết trên tờ Wall Street Journal rằng: “Ít nhất là cho đến bây giờ, gần như không có dấu hiệu chống đối.” Tuy nhiên, thời điểm bài báo của Browne xuất hiện quả là không may. Vì ngay khi bài báo “không có dấu hiệu chống đối” được đưa lên mạng thì thông tin về bài diễn văn mạnh miệng trước Bộ Chính trị của Tập Cận Bình bắt đầu được lan truyền tại Hoa lục.

Thời khắc quyết định

Những điều hùng hồn Tập Cận Bình nói ở trên làm người nghe nhớ đến tuyên bố đình đám năm 1998 của ông Chu Dung Cơ, về việc hãy chuẩn bị sẵn 100 cỗ quan tài cho bọn tham nhũng, nhưng cũng chuẩn bị luôn cho ông một cỗ vì ông sẵn sàng chết trong cuộc đấu tranh giành lại “niềm tin của nhân dân vào chính phủ”. Thế nhưng, tuy dùng ngôn ngữ đầy kịch tính, lời lẽ của ông Tập lại cho thấy tình trạng chống đối quyết liệt và sự bất mãn cao độ đang diễn ra trong giới lãnh đạo chóp bu.

Theo lời giáo sư Trương Minh (Zhang Ming) thuộc Đại học Nhân dân Trung Quốc, vì đang có quá nhiều chống đối và bất mãn nên có thể xem đây chính là thời khắc quyết định mất-còn, được ăn cả ngã về không, của đồng chí Tập Cận Bình. Quả là một thời kỳ tế nhị vì việc chuyển giao lãnh đạo chính là nhược điểm lớn nhất của những hệ thống độc tài toàn trị, và Trung Quốc đang ở ngay trong một thời điểm rất dễ vỡ. Việc chuyển giao quyền lực từ Thế hệ Thứ tư Hồ Cẩm Đào cho Thế hệ Thứ năm Tập Cận Bình là lần chuyển giao quyền lực đầu tiên trong lịch sử Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc mà không được lãnh tụ tối cao Đặng Tiểu Bình dàn xếp. Đặng Tiểu Bình, sau khi hất chân nhân vật chuyển tiếp Hoa Quốc Phong, đã tự đưa mình lên ngôi cao nhất, và sau đó ông chọn Giang Trạch Dân kế vị mình và sau nữa chọn Hồ Cẩm Đào kế vị Giang. Dĩ nhiên, Đặng không còn ở thế có thể dàn xếp người vào ghế cao nhất trong thời hậu-Hồ.

Các chuyên gia về Trung Quốc, dù không thân thiện với chế độ, đã cho rằng việc chuyển giao gần đây được thực hiện theo đúng các quy trình, thể lệ của Đảng, và đã diễn ra “êm thắm”. Mặc dù được chuyên gia nhận định như thế nhưng thực ra đã có những vấn đề nghiêm trọng,vì trong một nhà nước độc đảng, kể cả một nước quan liêu nặng như Trung Quốc, mọi nội quy luật lệ đều có thể thay đổi tùy theo ngẫu hứng bất chợt của lãnh tụ.Và trong cuộc chuyển giao Hồ-Tập vừa rồi, một số điều bất ngờ đã xảy ra.

9 còn 7, và ghế đập lưng ông

Chẳng hạn, đã có sự cắt giảm ngoài dự đoán con số thành viên của Ban Thường vụ Bộ Chính trị, tức đỉnh cao quyền lực chính trị, từ con số chín người xuống còn bảy. Đây là bằng chứng cho thấy việc chuyển giao quyền lực là kết quả sự dàn xếp giữa các bên, chứ không phải là kết quả bầu chọn theo luật định. Thêm vào đó, vụ Tập Cận Bình biến mất trong hai tuần vào tháng 9/2012 – theo một bài trên tờ Washington Post,Tập bặt tăm hai tuần vì bị chấn thương khi một đồng nghiệp ném ghế trong một phiên họp cấp cao, và ghế đập trúng lưng Tập – được cho là dấu hiệu của sự bất đồng nghiêm trọng trong hàng ngũ lãnh đạo. Lại cũng có hàng loạt tin đồn về các cuộc đảo chính trước khi chuyển giao quyền lực diễn ra, có cả tin về vụ nổ súng tại trung tâm Bắc Kinh trong số những tin khác. Đặng Tiểu Bình từng dự báo: “Nếu Trung Quốc rơi vào bất ổn, thì bất ổn sẽ xuất phát từ chính nội bộ Đảng Cộng sản.”

Nhưng, có lẽ lý do quan trọng nhất cho thấy đây là thời khắc định đoạt mất-còn của Tập Cận Bình lại chính là tham vọng quá lớn của ông. Từ trước đến nay, lãnh tụ nào của Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc cũng yếu hơn tiền nhiệm của mình, trừ Tập Cận Bình. Ông Tập rõ ràng là đã ấp ủ những hy vọng lớn và ước mơ vĩ đại kiểu Mao, và chính điều này đã khiến ông, hơn hẳn ba vị tiền nhiệm, tiến hành thanh trừng những đối thủ chính trị cản đường mình. Dưới vỏ bọc chống tham nhũng, ông đã thúc đẩy điều mà nhà bình luận John Minnich thuộc Viện Chính sách (think tank) Stratfor gọi là “nỗ lực rộng nhất và sâu nhất, kể từ khi Mao Trạch Đông chết năm 1976 và Đặng Tiểu Bình lên nắm quyền hai năm sau đó, nhằm thanh trừng, tái tổ chức và chấn chỉnh lại vị thế của giới lãnh đạo Đảng Cộng sản.”

20 tháng 36 vị

Tính đến nay, cuộc chiến của Tập đã thực sự càn quét, hạ bệ ít nhất 36 quan chức ở vị trí thứ trưởng hoặc cao hơn trong 20 tháng đầu tiên nắm quyền.  Ủy ban Kỷ luật Trung ương Đảng cho biết năm ngoái họ đã kỷ luật 182.000 quan chức. Bộ sưu tập những con hổ sa bẫy có cả Bạc Hy Lai, một ủy viên Bộ Chính trị đầy sức hút, có cả Từ Tài Hậu, từng là một trong những vị tướng quyền lực nhất nước, và có cả Chu Vĩnh Khang, ông vua lực lượng an ninh nội chính, người phải phải rời ngôi vào năm 2012.

Thông báo về việc điều tra ông Chu Vĩnh Khang, đưa ra ngày 29/7/2014 vừa qua, đánh dấu điều một số người cho là “kết thúc giai đoạn quan trọng đầu tiên trong chiến dịch chống tham nhũng của Tập,”nhưng điều này còn có ý nghĩa sâu xa hơn nhiều. Việc truy tố chưa từng có rõ ràng đánh dấu những ngày cuối cùng của hai thập niên ổn định chính trị, một thời kỳ đủ dài để cho phép Trung Quốc phục hồi sức lực sau 27 năm thảm hại dưới sự cai trị của Mao Trạch Đông.

Phạm điều tối kỵ

Việc điều tra Chu Vĩnh Khang thực ra vi phạm điều tối kỵ từng được mấy thế hệ lãnh đạo tuân thủ, đó là không được truy tố ủy viên hay cựu ủy viên của Ban Thường vụ Bộ Chính trị. Nếu các lãnh tụ biết mình sẽ không bị truy bức đến cùng, như họ từng bị truy bức trong thời Cách mạng Văn hóa do Mao phát động, thì họ sẽ sẵn lòng rút lui êm thắm nếu thất bại khi tranh giành quyền lực. Nói cách khác, người kế vị khôn khéo của Mao, ông Đặng Tiểu Bình đã giảm thiểu tối đa nguy cơ các nhân vật chính trị quan trọng phải chiến đấu đến cùng và xé nát Đảng Cộng sản. Nhìn như thế thì việc cấm đụng đến các vị Ủy viên ban Thường vụ là một yếu tố quan trọng trong việc tái lập ổn định sau thời kỳ thanh trừng điên dại kéo dài hàng thập niên do Mao tiến hành.
Thế nhưng, Tập Cận Bình đã đảo ngược thế cờ và quy trình quen thuộc, và điều này thể hiện rất rõ qua vụ cho điều tra Chu Vĩnh Khang và án chung thân dành cho Bạc Hy Lai. Đây là dấu hiệu cho thấy Trung Quốc đang trở lại thời kỳ mà nhiều nhà quan sát nghĩ là đã qua từ lâu, và Tập Cận Bình đang phủ nhận cách làm chính trị của thời kỳ do Giang-Hồ thống lĩnh. Suốt thời kỳ vuốt mặt phải nể mũi đương nhiên đó, những kẻ chơi trò quyền lực đã cố duy trì thế cân bằng mong manh giữa những phe kình chống nhau trong Đảng. Còn đến thời Tập Cận Bình, cuộc chiến mất-còn sống-chết tranh giành quyền lực đang biến thành chủ trương“Tao còn, mày mất” hoặc “Mày chết, tao sống” (“You die, I live.”)

Như giáo sư Trương Minh thuộc Đại học Nhân dân Trung Quốc nhận xét, “trận đánh” giữa Tập và những quan chức khác “đã ở mức nóng bỏng cực độ.” Câu hỏi đặt ra là liệu trong những tháng sắp tới, các cuộc đấu đá kia sẽ giảm cường độ hay lại càng nóng bỏng.

Thỏa thuận?

Theo quan sát viên kỳ cựu về vấn đề Trung Quốc, ông Willy Lam, thì giai đoạn tệ hại nhất đã qua. Ông trích một nhận định của Đặng Vũ Văn – nguyên Phó Tổng Biên tập tờ Học tập Thời báo (Study Times)của Trường Đảng Trung ương – đăng trên Đại Công báo (Ta kung Po), tờ báo Hongkong thường phản ảnh đường lối Bắc Kinh, số ra ngày 26/7: “Nhiều người muốn biết liệu những con “hổ lớn” hoặc “hổ già” có tiếp tục bị sa bẫy hay không. Và khả năng điều này xảy ra trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ năm năm lần thứ nhất gần như bằng không.” Ông tin rằng Tập Cận Bình đã đạt được một thỏa thuận nào đó với Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào, và những tai to mặt lớn khác trong Đảng để họ cho phép Tập làm bất cứ những gì Tập muốn với Chu Vĩnh Khang, với điều kiện Tập sẽ không đụng đến họ hoặc con cháu họ.

Nhưng một thỏa thuận như thế là điều nhiều người còn hoài nghi. Hiện đang có rất nhiều dự đoán về những gì sẽ xảy ra, và tất cả dường như đều cho thấy suy đoán của Đặng Vũ Văn không đúng, ít nhất là với các lý do sau:

Con hổ lớn nhất & tà khí

Thứ nhất, Tập được cho là đang dùng chiến dịch chống tham nhũng – trên thực tế thì đây là một cuộc thanh trừng chính trị – để gạt ra ngoài những kẻ chống đối kế hoạch tái cấu trúc kinh tế sâu rộng. Nếu điều này đúng thì thỏa thuận mà Đặng Vũ Văn nhắc tới là sai. Xét cho cùng, nếu tìm cách thỏa thuận với phe bảo thủ thì phe bảo thủ, vốn chịu nhiều thiệt hại nhất nếu có thay đổi, sẽ ở vào thế có thể cản trở hầu hết các cải cách. Trong khi đó, Tập Cận Bình lại là tuýp người khát khao để lại một di sản đáng kể – Tập muốn được xem như người có công cứu sống Đảng Cộng sản và thực hiện được “Giấc mơ Hoa” – và ông cũng chẳng dại gì bán rẻ tiền đồ của chính mình nếu thỏa hiệp. Để làm được điều mọi người nói ông sẽ làm – hoặc ít nhất là nắm được quyền lực tối cao – Tập Cận Bình cần nhổ nanh mọi đối thủ, nhổ nanh mọi con hổ vẫn đang là chúa tể rừng rú.

Thứ hai, mọi người hầu như đang mất kiên nhẫn với Tập, hoặc đang gặp bất lợi vì các chính sách của ông. Điều này có nghĩa trên thực tế Tập đang có động lực rất chính đáng để tung một chiêu ngoạn mục nhằm lấy lại sự ủng hộ của xã hội, chẳng hạn như bủa lưới bắt luôn con hổ lớn nhất của bầy hổ là Giang Trạch Dân. Nhà bình luận thạo tin ở Bắc Kinh, ông Lý Vĩ Đông (Li Weidong) tin rằng Tập sẽ nhắm vào mạng lưới tay chân của Giang và từ đó đảm bảo rằng 19 vị cựu Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị sẽ vì sợ hãi mà phải tuân thủ mọi ý muốn của Tập.

Thứ ba, ngay cả khi có một thỏa thuận giữa Tập và các bác hổ già đi nữa, thì những thỏa thuận đó cũng không thể kéo dài. Tập chắc chắn hiểu rằng ông đã đẩy cao kỳ vọng của người dân Trung Quốc và giờ đây ông phải làm những gì mình hứa. Quần chúng đòi hỏi bọn tham nhũng và quan tham bị hạ bệ, quần chúng muốn thấy gió lành thổi bay “tà khí”, mượn lời người bạn thâm niên của Tập nói với nhà báo John Garnaut. Vì vậy, Tập sẽ không thỏa hiệp trong cuộc chiến chống tham nhũng, ngay cả khi đó là điều Tập muốn làm. Trong xã hội Trung Quốc phát triển ngày càng phức tạp, có những thế lực mới không thể nào xem thường.

Vượt tầm kiểm soát

Tập Cận Bình, giống Gorbachev, là người muốn làm điều vĩ đại để cải cách một hệ thống bệnh hoạn. Nhưng cũng như lãnh tụ cuối của Liên Xô cũ, Tập vừa kích hoạt những chuyển biến mà ông không thể kiểm soát được. Ông quyết định tấn công tham nhũng, nhưng tệ nạn này đã ăn quá sâu trong hệ thống chính trị cộng sản Trung Quốc, nên rất khó có thể quản lý những nỗ lực chống tham nhũng quyết liệt. Không may cho Tập, ông đã tạo ra những kỳ vọng lớn lao trong xã hội, và trong cả giới tinh hoa. Cũng vì vậy ông không thể nào ngưng chiến dịch chống tham nhũng, và điều này nghĩa là dù có ngầm thỏa thuận với những bác hổ già đi nữa, các thỏa thuận đó không sớm thì muộn cũng tan tành, bằng cách này hay cách khác.

Một hệ thống chính trị dễ vỡ không thể kiềm chế được những kẻ quyết chí chiến đấu đến cùng để tồn tại.

Chính trị Trung Quốc thời hiện đại có lẽ sẽ không man rợ như trong những năm đầu lập nước Cộng hòa Nhân dân, nhưng vẫn không thể cho phép một lãnh tụ chấp nhận tình thế bất phân thắng bại. Một lãnh tụ chỉ có thể hoặc thắng hoặc thua, nhất là với Tập Cận Bình, kẻ đã kích hoạt điều được xem như một cuộc chiến tranh hủy diệt mang động cơ chính trị.

Logic khốc liệt

Với những thử thách quá lớn trong những ngày này, không ai muốn thấy mình yếu kém, nhất là đối với Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tập Cận Bình đã khởi động cuộc chiến sống-còn, và ông phải tiến hành đến khi kết thúc. Khác với những hệ thống pháp trị trong đó các cơ cấu có tính định chế sẽ kiềm chế những xung động và xung đột, hệ thống toàn trị ở Trung Quốc lại dễ dàng tưởng thưởng những hành động tồi bại nhất trong những thời kỳ căng thẳng nhất. Kiểu cách chính trị được ăn cả ngã về không của Tập Cận Bình trói ông vào một logic rất khốc liệt mà ông không thể thoát khỏi.

Trong tình hình đó, như nhận định của giáo sư Quách Ôn Lương (Guo Wenliang) thuộc Đại học Trung Sơn tỉnh Quảng Châu: “nguy cơ những con hổ sẽ liên kết để phản công là một nguy cơ rất, rất lớn” vì các quan chức cao cấp sẽ không thể ngồi chờ Tập đến tóm đi từng người một. Và Tập cũng không thể ngồi chờ họ tấn công phản kích.

Tập Cận Bình, một lãnh tụ cứng rắn đang định hình và tung hoành, đã thay đổi cục diện chính trị tại Trung Quốc Cộng sản – sự thay đổi này có thể tốt hay xấu hơn, nhưng điều chắc chắn là ông không thể quay ngược lại được nữa.

Nguồn: Gordon G. Chang, “China’s “Gorbachev” Is Tearing the Communist Party Apart“, The National Interest 14/8/2014
Bản tiếng Việt © 2014 Phan Trinh & pro&contra


Nguồn: BA SÀM
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Vụ thảm sát ‘thế giới chưa từng biết đến’

Vụ thảm sát ‘thế giới chưa từng biết đến’

US Daily Review

Bài viết của ông James Zumwalt, Trung tá Thủy quân Lục chiến Mỹ, nói về đoạn video Trung Quốc đã ra tay tàn sát những người lính Hải quân Việt Nam ngày 14-03-1988 ở đảo Gạc Ma.

Tác giả: James Zumwalt

Người dịch: Nguyễn Văn Phước

Đây là một trong những tội ác trắng trợn nhất thời hiện đại.

Chẳng có gì ngạc nhiên khi thủ phạm đã không nói gì về nó, nhưng đáng ngạc nhiên là cả nạn nhân cũng im lặng. Người ta đã chọn cách làm như vậy, có lẽ là để sau này thiếu bằng chứng cho thế giới thấy, nó đã xảy ra.

Tháng 6 năm 2012, một đoạn video về vụ thảm sát đã được công bố. Thông thường, quốc gia phạm phải hành động tàn bạo như vậy sẽ giữ im lặng về nó. Tuy nhiên, video này đã được chính thủ phạm công bố, điều này làm dấy lên câu hỏi: “Tại sao?”

Vụ việc xảy ra vào tháng 3 năm 1988, giữa hai nước Trung Quốc và Việt Nam. Nó xảy ra ở vùng biển Nam Trung Hoa (Việt Nam gọi là Biển Đông – ND), nơi có tranh chấp giữa hai quốc gia về chủ quyền quần đảo Trường Sa, tranh chấp sau đó tiếp tục và hiện vẫn còn tồn tại.

Như kết quả sự im lặng của Việt Nam thời điểm đó, người dân Việt Nam không có cách nào để biết về vụ việc đã xảy ra cho đến khi Trung Quốc công bố đoạn video – sự giận dữ đã nổi lên vì vụ thảm sát và vì sự im lặng của chính phủ.

Quần đảo Trường Sa là một quần đảo gồm khoảng 750 đảo, đảo nhỏ, rạn san hô và đảo san hô.

Vụ việc liên quan đến ba rạn/đảo san hô rất gần nhau. Mỗi đảo san hô thấp đến mức nước biển đôi khi nhấn chìm một phần củachúng.

Dự đoán là phía Trung Quốc sẽ cố gắng chiếm các rạn san hô, hai tàu vận tải của Việt Nam, HQ-604 và HQ-605, chở 73 binh sĩ, đã được lệnh cho công binh đổ bộ để khởi công xây công sự.

Các quân nhân Việt Nam đã đổ bộ lên rạn san hô Gạc Ma, bản đồ phương Tây gọi là Johnson South Reef, vào tối ngày 13 tháng 3 năm 1988.

Hai tàu vận tải của Việt Nam được mô tả chỉ là có thể chống lại những đe dọa quân sự nhỏ. Chúng là những tàu thương mại được vũ trang để vận chuyển binh lính và vật liệu xây dựng, và như vậy, chúng là những tàu quân sự được trang bị rất nhẹ. Những tàu này phải tiếp cận mục tiêu trong phạm vi 500 m thì những khẩu súng của nó mới có hiệu lực.

Vụ việc đã diễn ra ở Gạc Ma.

Với lực lượng Việt Nam đã để lại đó, hai tàu vận tải đi về phía hai đảo san hô khác.

Sáng 14 tháng 3 năm 1988, tàu chiến Trung Quốc tiếp cận các rạn san hô. Họ không chỉ có lực lượng đổ bộ trên các tàu vận tải, họ còn có tàu khu trục đi kèm với hỏa lực mạnh để hỗ trợ lực lượng đổ bộ.

Rõ ràng, nếu cuộc đối đầu giữa các lực lượng hải quân Trung Quốc và Việt Nam xảy ra, lợi thế sẽ thuộc về phía Trung Quốc vì tầm bắn lớn hơn nhiều của các khẩu pháo.

Cờ Việt Nam đã được dựng lên trên đảo san hô Gạc Ma, và cùng lúc đó, trên một đảo san hô khác, Cô Lin.

Tại Gạc Ma, những người lính công binh, đội quân được trang bị nhẹ – có thể so sánh với một Seabee – một đơn vị thuộc Tiểu đoàn Xây dựng của Hải quân Hoa Kỳ – nằm dưới sự chỉ huy của phó chỉ huy trưởng, trung úy Trần Văn Phương. Mặc cho sự hiện diện của đội tàu Trung Quốc rình rập gần đó, những ngườilính Việt Nam vẫn tập trung vào các công trình xây dựng của mình.

Khoảng 6 giờ sáng, một số xuồng tấn công chở thủy quân lục chiến có vũ khí, đã xuất phát từ vận tải Trung Quốc và hướng đến Gạc Ma.

Phía Việt Nam ngay lập tức hình thành một vành đai phòng thủ 360 độ với cờ của họ ở trung tâm – họ tạo nên hình thể một”vòng tròn bất tử” – biểu thị quyết tâm bảo vệ rạn san hô bằng mọi giá.

Với số ít binh lính trên đảo san hô, những người lính công binhViệt Nam đã được lệnh cản trở để giữ vững đường vành đai. Các tàu tấn công đã đổ bộ, và trong trận chiến chủ yếu là cận chiến do phạm vi hạn hẹp, người Trung Quốc đã thất bại khi cố gắng xâm nhập vào vành đai.

Khi Trung úy Phương chụp lấy lá cờ Việt Nam, giành giật nó với kẻ thù, ông đã bị bắn vào đầu. Ngay lập tức lá cờ được giương lên bởi Nguyễn Văn Lanh – người ghì giữ nó cho đến khi ông liên tiếp bị đâm và bắn. Thật kỳ diệu, Lanh sống sót, và khi phía Trung Quốc rút lui, Lanh đã chứng kiến ông và những người sống sót khác phải chịu một cuộc oanh tạc dữ dội và hủy diệt bằng súng máy từ tàu Trung Quốc.

Cùng lúc đó, một cuộc oanh tạc khác nhắm vào tàu vận tải HQ-604 của Việt Nam – con tàu như dự kiến, đã cho thấy nó không có khả năng tấn công đáp trả tàu Trung Quốc nằm ngoài tầm bắn của mình. Bị nước xâm nhập, HQ-604 được khôn khéo làm mắc cạn trên Gạc Ma nhưng phát bắn trực tiếp vào phòng động cơ khiến nó nhanh chóng chìm xuống khi nhiều người vẫn còn trên tàu.

Tiếp đến phía Trung Quốc tấn công HQ-605. Nó nhanh chóng bốc cháy, buộc chỉ huy của nó phải ra lệnh bỏ tàu.

Điều đáng lo ngại nhất về video này là những gì đã xảy ra sau đó. Tại thời điểm đó, những người lính Việt Nam còn sống sót trên các rạn san hô hoàn toàn không phải là mối đe dọa cho quân Trung Quốc. Tuy nhiên, đoạn video cho thấy súng của hải quân Trung Quốc đang tập trung vào Gạc Ma nơi những người sống sót phía Việt Nam không có một chỗ trú ẩn. Những tiếng súng liên thanh cào rạn san hô khi đối phương không có vũ khí tự vệ, nhẫn nhịn đứng chịu trận, chờ đợi cuộc tấn công dữ dội cuối cùng – số phận của họ đã được định đoạt khi từng người một, họ ngã xuống để bảo vệ đất nước. Đối với những kẻ tấn công Trung Quốc, thách thức với họ chỉ là câu cách ngôn “bắt cá trong chậu”.

Video còn để lại một hoài nghi. Người Việt Nam dễ bị tấn công. Người ta chỉ có thể cảm nhận sự bất lực, họ cảm thấy điều đó khi người Trung Quốc bắt đầu nổ súng tàn sát không thương tiếc. Chín người Việt Nam sống sót sau đó bị giam giữ trong ba năm.

Hiện nay, Trung Quốc đang chiếm bãi đá ngầm, trên đó họ đã có căn cứ và đang xây dựng một sân bay. Việt Nam đã mất 64 chiến sĩ dũng cảm ngày hôm đó. Trong số những người sống sót, Lanh bị thương nặng.

Nhưng tại sao Trung Quốc, sau 24 năm im lặng, lại công bố video?

Câu trả lời nằm ở Haiyang Shiyou 981 của Trung Quốc, một giàn khoan nửa nổi nửa chìm được triển khai vào ngày 2 tháng 5 năm 2012 tại Biển Đông gần quần đảo Hoàng Sa, nơi quyền sở hữu vẫn đang là tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam. Động thái này của Trung Quốc gây ra một số cuộc đối đầu trên biển.

Một tháng sau đó, Trung Quốc không hề nao núng đã phát hành video như là lời đe dọa ngấm ngầm rằng những gì đã xảy ra vào năm 1988 có thể xảy ra một lần nữa.

Rõ ràng Trung Quốc dự định sử dụng các mối đe dọa quân sự có thể – không bị thách thức bởi bất kỳ nước láng giềng nào trong khu vực,  hơn là ngoại giao để “đàm phán” giải quyết vấn đề chủ quyền.

Trong khi hành động tàn bạo năm 1988 của Trung Quốc tại Gạc Ma là vụ thảm sát “thế giới chưa từng biết đến”, thì việc Bắc Kinh công bố một cách trắng trợn video ghi lại vụ việc cung cấp cơ hội nữa để chắc chắn rằng lần này nó lại như vậy.

J.Z.

Nguồn: anhbasam.wordpress.com

—-

Tác giả: Ông Zumwalt là Trung tá Thủy quân Lục chiến về hưu, đã từng phục vụ trong chiến tranh Việt Nam, cuộc đổ bộ vào kênh đào Panama và cuộc chiến Vùng Vịnh lần thứ nhất. Ông thường viết bài phê bình về những vấn đề chính sách đối ngoại và quốc phòng cho nhiều tờ báo. Ông cũng là tác giả của 3 cuốn sách: “Bare Feet, Iron Will—Stories from the Other Side of Vietnam’s Battlefields,” “Living the Juche Lie: North Korea’s Kim Dynasty” and “Doomsday: Iran—The Clock is Ticking” .

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Đại tướng Hoa Kỳ: Việt Nam hãy hoàn toàn yên tâm…

Đại tướng Hoa Kỳ: Việt Nam hãy

hoàn toàn yên tâm…

Chí Quân – theo Trí Thức Trẻ | 15/08/2014 08:13

Đại tướng Martin Dempsey Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ tại Hà Nội

(Soha.vn) – Đại tướng Martin Dempsey nhấn mạnh các nước, trong đó có Hoa Kỳ đều có trách nhiệm duy trì hòa bình, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không trong khu vực.

Chiều 14/8/2014, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tiếp Đại tướng Martin Dempsey, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ đang có chuyến thăm làm việc 4 ngày tại Việt Nam theo lời mời của Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Đây là chuyến thăm đầu tiên của Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ đến Việt Nam kể từ năm 1975.

Hoan nghênh chuyến thăm làm việc tại Việt Nam và đánh giá cao kết quả cuộc Hội đàm giữa Đại tướng Martin Dempsey và Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ cũng như những thỏa thuận mà hai bên đạt được, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng chuyến thăm sẽ là một đóng góp quan trọng cho sự phát triển quan hệ đối tác toàn diện đang tiến triển tốt đẹp giữa hai nước.

Cho rằng tiềm năng và lĩnh vực hợp tác giữa hai bên còn rất lớn, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định Việt Nam mong muốn cùng Hoa Kỳ, 2 bên nỗ lực đưa quan hệ 2 nước tiếp tục phát triển trên tất cả các lĩnh vực ngày càng thiết thực hiệu quả, từ chính trị – ngoại giao; kinh tế, thương mại đầu tư, đến văn hóa, giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu cũng như an ninh – quốc phòng, vì lợi ích của hai nước và đóng góp vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực cũng như trên thế giới.

Thủ tướng nhất trí và ủng hộ việc tiếp tục triển khai 5 nội dung hợp tác quốc phòng mà hai bên đã thỏa thuận, trong đó có hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh như khắc phục hậu quả chất da cam/dioxin, rà phá bom mìn còn sót lại; hợp tác trong lĩnh vực đào tạo tiếng Anh cho sỹ quan quân đội Việt Nam; hợp tác và hỗ trợ Việt Nam tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc, sớm dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam cũng như nhiều lĩnh vực hợp tác thiết thực, cụ thể khác.

Bày tỏ vinh dự cá nhân và tự hào là Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ đầu tiên đến thăm Việt Nam, Đại tướng Martin Dempsey khẳng định chuyến thăm của ông là một cam kết đối với hòa bình và ổn định trong khu vực và mong muốn của Hoa Kỳ trở thành đối tác tốt của Việt Nam.

Đại tướng Martin Dempsey hoàn toàn chia sẻ với đánh giá rằng hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, nhất là ở Biển Đông và Hoa Đông đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi những đòi hỏi phi lý và hành động xác lập chủ quyền dựa trên sức mạnh đơn phương. Điều này không chỉ đe dọa Việt Nam, các nước ASEAN mà còn đe dọa tới lợi ích của các nước, trong đó có Hoa Kỳ.

Đại tướng Martin Dempsey cho rằng Hoa Kỳ và các nước trong khu vực có những mối quan tâm chung và những quan ngại được nêu ra là có cơ sở khi một nước lớn muốn định hình khu vực này theo ý đồ của họ. Ông Martin Dempsey cũng nhấn mạnh rằng các nước, trong đó có Hoa Kỳ đều có trách nhiệm duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không trong khu vực; ủng hộ việc giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982, không đơn phương sử dụng sức mạnh, sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực.

Việt Nam và các nước trong khu vực hoàn toàn yên tâm rằng Hoa Kỳ sẽ luôn nhắc lại quan điểm này” – Đại tướng Martin Dempsey nói.

Đại tướng Martin Dempsey cho biết ông đã có những cuộc thảo luận rất hiệu quả với phía Việt Nam về những vấn đề quan tâm chung cũng như việc thúc đẩy quan hệ đối tác. Ông khẳng định Hoa Kỳ cam kết hợp tác quốc phòng với Việt Nam trong 5 lĩnh vực đã thỏa thuận; cam kết chặt chẽ và nỗ lực cùng với Việt Nam giải quyết hậu quả chiến tranh và coi đây là vấn đề mà Hoa Kỳ coi trọng và ưu tiên.

Hoa Kỳ cũng ủng hộ Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc; mong muốn hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực an ninh hàng hải và giúp Việt Nam giải quyết những thách thức về bảo vệ chủ quyền trên biển; đồng thời cho biết phía Hoa Kỳ sẽ tìm ra lộ trình và cách thức để sớm dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam.

Hiện số lượng những người trong chính phủ, quốc hội, giới ngoại giao và quân đội ủng hộ dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam ngày càng lớn” – Đại tướng Martin Dempsey cho biết.

Đại tướng Martin Dempsey bày tỏ tin tưởng Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ cùng nhau hợp tác tốt và hiệu quả trong thời gian tới, đồng thời cảm ơn sự đón tiếp nồng nhiệt và ấm áp của người dân và quân đội Việt Nam dành cho Đoàn.

 

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Hệ thống phòng không tối tân của Israel được VN quan tâm

Hệ thống phòng không tối tân của

Israel được VN quan tâm

Bạch Dương – theo Trí Thức Trẻ | 15/08/2014 07:15

(Soha.vn) – Thời gian gần đây có một số thông tin từ trong và ngoài nước cho rằng Việt Nam đang tỏ ý quan tâm đặc biệt tới hệ thống phòng không tối tân SPYDER do Israel sản xuất.

SPYDER (Surface-to-air PYthon and DERby) là một hệ thống tên lửa phòng không tầm ngắn và tầm trung tiên tiến do Công ty Thiết bị quốc phòng Rafael của Israel nghiên cứu và phát triển.

Hệ thống được thiết kế để tiêu diệt các mục tiêu đường không như máy bay, tên lửa hành trình, UAV… trong mọi thời gian và điều kiện thời tiết, SPYDER có khả năng phản ứng rất nhanh trước các mối đe dọa, toàn bộ các thành phần của hệ thống được đặt trên khung gầm xe tải Tatra có tính việt dã cao do Cộng hòa Czech sản xuất. Trong ảnh: xe mang phóng tự hành của tổ hợp SPYDER-SR

SPYDER nằm trong xu thế trang bị tên lửa không đối không cho hệ thống phòng không mặt đất và hạm tàu đang rất thịnh hành trên thế giới, có thể kể ra đây vài ví dụ như RIM-7 Sea Sparrow, VL MICA hay SL-AMRAAM…

Hệ thống SPYDER hiện có 2 biến thể là tầm ngắn SPYDER-SR và tầm trung SPYDER-MR, sử dụng 2 loại tên lửa đánh chặn Python-5 và Derby cũng do Công ty Rafale chế tạo.

Python-5 là loại tên lửa không đối không tầm ngắn có chế độ đặc biệt “Lock on after lauch – Khóa mục tiêu sau khi phóng” thông qua 1 camera hồng ngoại kết hợp với 1 cảm biến quang điện tích hợp vào đầu dò, đây là cấu hình chưa từng có ở các loại tên lửa không đối không khác. Khi phóng từ trên không, Python-5 có tầm bắn 20 km, tốc độ Mach 4 và mang theo đầu đạn nặng 11 kg.

Trong khi đó Derby (hay còn được gọi là Alto) là loại tên lửa không đối không tầm trung được thiết kế để không chiến ngoài tầm nhìn, về cơ bản thì Derby chính là tên lửa Python-4 mở rộng với đầu dò radar chủ động. Khi phóng từ trên không Derby có tầm bắn 50 km, tốc độ Mach 4 và mang theo đầu đạn nặng 23 kg.

Đối với phiên bản SPYDER-SR, tên lửa được phóng đi từ bệ phóng nghiêng với tầm bắn tối đa 15 km, tối thiểu 1 km, độ cao tấn công mục tiêu từ 20 m đến 9 km. Radar dẫn đường cho hệ thống SPYDER-SR là Elta EL/M 2106 ATAR 3D.

Còn với phiên bản SPYDER-MR, tên lửa được gắn thêm bộ phận khởi tốc ở đuôi (như trong hình 1) và phóng đi từ bệ phóng thẳng đứng với tầm bắn tối đa 35 km và trần bay diệt mục tiêu là 16 km. Ngoài ra hệ thống SPYDER-MR còn được trang bị radar IAI/Elta MF-STAR thế hệ mới có tính năng cao hơn Elta EL/M 2106.

Thành phần của một tổ hợp SPYDER tiêu chuẩn gồm có 1 xe chỉ huy và điều khiển, 6 xe mang phóng tự hành với tổng số 24 đạn tên lửa, 1 xe tiếp đạn trang bị cần cẩu và 1 xe đảm bảo kỹ thuật.

Hệ thống SPYDER đã được Israel xuất khẩu cho Gruzia (1 hệ thống), Ấn Độ (18 hệ thống với 108 bệ phóng cùng 750 tên lửa Python-5 và 750 tên lửa Derby), Peru (1 hệ thống với 6 xe phóng) và Singapore (2 hệ thống với 12 bệ phóng, đi kèm 75 tên lửa Python-5 và 75 tên lửa Derby). Hiện có rất nhiều dự đoán cho rằng Việt Nam chính là khách hàng tiếp theo ở khu vực Đông Nam Á của hệ thống phòng không tối tân SPYDER do Israel sản xuất. Trong ảnh: hệ thống SPYDER-SR bắn tên lửa Derby.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Vì nƯỚc, vì ĐẠo quên mình.

Lịch Sử PG Hòa Hảo

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai

Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Fb Trần Huỳnh Duy Thức – Nhà hoạt động từ thiện và tôn giáo Mai Thị Dung, một nông dân cắt lúa, sinh năm 1969, đang tiếp tục bị hành hạ trong tù khi thụ án 11 năm sau 2 lần bị kết án.
Cùng chồng là ông Võ Văn Bửu, bà Mai Thị Dung – tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo – đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình, tuyệt thực cho các tín hữu đồng đạo, phản đối nhà cầm quyền CSVN tịch thu các cơ sở giáo hội và đàn áp tự do tôn giáo.
Bất chấp gia đình có hai người con dưới tuổi thành niên, ngày 5 tháng 8 năm 2005, công an Việt Nam bắt giữ cả hai vợ chồng Mai Thi Dung và Võ Văn Bửu. Ngày 19 tháng 9 năm 2005, Tòa án tỉnh An Giang kết án bà Mai Thị Dung 6 năm tù và chồng bà 7 năm vì tội “gây rối trật tự công cộng”. Trước đó không lâu, ông Võ Văn Bửu vừa mãn hạn tù 3 năm cũng vì tội danh tương tự.
Trong tù, bà Mai Thị Dung kiên trì tổ chức các lễ Phật. Vì lẽ đó, ngày 22 tháng 7 năm 2008, nhà cầm quyền đã phạt thêm 5 năm tù về tội “chống đối nhân viên công lực”, nâng tổng án tù mà bà Dung phải chịu lên 11 năm.
Suốt thời gian ở tù, mặc dù bệnh nặng, bà Mai Thị Dung luôn bị hành hạ, bị cấm nói chuyện với các tù nhân – bởi thái độ bất hợp tác với cai tù trong việc “ký biên bản nhận tội”. Bà từng tuyệt thực trong tù để phản đối ngược đãi và yêu cầu được đưa đi điều trị. Chỉ một ngày sau khi bà tuyệt thực, hôm mùng 2 tháng 10 năm 2013, từ trại giam Xuân Lộc – Đồng Nai, bà bị chuyển ra Bắc cùng với một tù nhân lương tâm khác vừa được trả tự do là Đỗ thị Minh Hạnh trên quãng đường 1700 km với chân tay bị xích còng nên đã nhiều lần ngất xỉu trong xe thùng bịt kín.
Hiện bà đang bị giam tại Phân trại 3 Thanh Xuân, xã Mỹ Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Nội với tình trạng sức khỏe nguy kịch trong điều kiện tù khắc nghiệt. Bà mắc nhiều chứng bệnh tim, gan, mật, dạ dày, chỉ có thể di chuyển bằng cách bò lê trên nền sàn vì không thể đứng vững – theo những gì chồng bà chứng kiến trong lần thăm cuối năm 2013. Ông Võ Văn Bửu đã ra tù vào tháng 8 năm 2012, sau khi đã thi hành án 7 năm tù giam.
Nhà cầm quyền Việt Nam xem Phật Giáo Hòa Hảo là kẻ thù. Phần lớn các hoạt động của giáo hội phải thực hiện bí mật. Nếu không, luôn có đông đảo an ninh chìm nổi theo dõi, bao vây, phá rối để có cớ bắt bớ những người tham gia lễ lạc.
11 tháng 7 năm 2014
 
Vietnam Human Rights News
vietnamhumanrightsnews@gmail.com
Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Cần Thơ: CA khủng bố buổi lễ cầu an cho mẹ cô Đỗ Thị Minh Hạnh

Cần Thơ: CA khủng bố buổi lễ cầu an cho mẹ cô Đỗ Thị Minh Hạnh

CA sắc phục sách nhiễu những người đến tham dự lễ cầu an cho bà Trần Thị Ngọc Minh

Một buổi lễ cầu an cho bà Trần Thị Ngọc Minh, mẹ ruột cô Đỗ Thị Minh Hạnh đã nhanh chóng bị hàng trăm công an khủng bố và quấy phá vào sáng ngày 5/8/2014 tại Cần Thơ.

Thông tin do Nhóm Phóng viên Phật giáo Hòa Hảo Thuần Túy gửi đi cho biết, đây là buổi lễ nhằm mục đích cầu an cho bà Trần Thị Ngọc Minh, người mẹ hiện đang hết sức nguy kịch sau một thời gian dài đi khắp thế giới đòi trả tự do cho con gái mình là Đỗ Thị Minh Hạnh.

Dưới sự chỉ đạo của cụ Lê Quang Liêm, Hội Trưởng Trung Ương Giáo Hội Phật giáo Hòa Hảo Thuần Túy, buổi lễ dự định sẽ được tổ chức tại tư gia ông Phan Tấn Hòa và bà Nguyễn Thị Ngọc Lan tại Phường Thới An, Quận Ô Môn, Thành phố Cần Thơ.
Ngay từ sáng sớm, hàng trăm công an đã lập tức được huy động nhằm quấy phá và đàn áp những người đến tham dự buổi lễ cầu an.
Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan, Hội Trưởng Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo Thuần Túy tại TP. Cần Thơ kể lại:
“Sáng sớm ngày 5-8-2014, công an đủ sắc phục và cả thường phục hằng trăm tên, đứng rải rác 2 bên đường khoảng 1 cây số ở hai đầu đường dẫn vào nhà. Họ ngăn chận không cho các tín đồ PGHH địa phương đến tham dự buổi lễ cầu an. Đồng thời tại khắp các ngõ đường, bến đò ở khu vực Phường Thới An đều có công an ngăn chận phái đoàn các tỉnh đến”.
Bản tin do Nhóm Phóng viên Phật giáo Hòa Hảo Thuần Túy trích lời các nhân chứng bị CA sách nhiễu nói:
Ông Hà Văn Duy Hồ, Tổng Đoàn Trưởng Đoàn Thanh Niên PGHH Yêu Nước nói: “Tôi cùng với ông Tống Văn Chín, Hội Trưởng PGHH Thuần Túy tỉnh An Giang  và một số người khác vừa mới đến cầu Tầm Vu thuộc phường Thới An, TP Cần Thơ liền bị lực lượng cảnh sát giao thông chận xe xét hỏi giấy tờ. Sau đó lực lượng an ninh Quận Ô Môn không cho phái đoàn vào nơi tổ chức lễ cầu an với lý do nơi đó mất an ninh”.
“Ông Nguyễn Ngọc Tân, Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Truyền Thông PGHH Thuần Túy từ phía bờ Vĩnh Long sang bến đó Thới An thì bị cảnh sát giao thông xét giấy tờ, ông Tân đã lấy máy điện thoại chụp hình thì liền bị bọn an ninh mật vụ cướp lấy điện thoại có hình ảnh trong máy”, ông Quách Hồng Phúc đi cùng ông Tân cho biết.
Ngoài ra nhiều phái đoàn ở các nơi khác đều bị chận tại nhà. Điển hình là ông Nguyễn Văn Điền, Phó Hội Trưởng Trung Ương PGHH Thuần Túy vừa ra khỏi nhà khoảng 100 mét thì bị công an xã Tân Phước, công an Huyện Lai Vung và công an tỉnh Đồng Tháp chận lại, dùng lời lẽ đe dọa và cấm không cho ông đi.
Hôm 25/7/2014, sau một thời gian dài đi khắp nới kêu cứu cho con, bà Trần Thị Ngọc Minh đã lâm bệnh nặng và được đưa đi cấp cứu tại bệnh tại bệnh viện AHK nước Áo.
Gia đình Đỗ Thị Minh Hạnh sau đó đã ngỏ lời thỉnh cầu các chức sắc và tín đồ PGHH Thuần Túy cầu an cho mẹ mình nhưng buổi lễ đã không thể diễn ra, các Trị Sự Viên PGHH Thuần Túy bị ngăn cản và cấm đoán không cho dự lễ.
“Trong thời gian chưa đầy một tháng, Giáo Hội PGHH Thuần Túy đã nhiều lần bị sách nhiễu, ngăn chận không cho đi lại, hội họp, không cho thực hiện quyền tín ngưỡng. Việt Nam không xứng đáng là thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền LHQ”, Ông Nguyễn Ngọc Tân Tổng Vụ Trưởng Truyền Thông PGHH Thuần Túy khẳng định.

Theo Nhóm Phóng viên Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Cô bé Việt Nam nhớ rõ chuyện từ…ba kiếp trước

Cô bé Việt Nam nhớ rõ chuyện từ…ba kiếp trước

Kính mừng ngày báo hiếu, Thùy Trang xin đặt hết toàn tâm toàn ý về Mẹ, gửi đến anh chị còn Mẹ hay mất mẹ, lời chân tâm của đứa con. Bé Như Ý là tựu trung cho tình cảm thiêng liêng của chúng ta đang nghĩ về Mẹ mà Thùy Trang muốn gửi gấm đến anh chị.<br />
—————–</p>
<p>Cô bé Việt Nam nhớ rõ chuyện từ…ba kiếp trước</p>
<p>Nguyễn Thị Như Ý (11 tuổi, An Giang) từ nhỏ đã nổi tiếng là một hiện tượng “vô tiền khoáng hậu” bởi khả năng thuyết giảng trước đám đông và am hiểu Phật giáo thượng thừa.</p>
<p>Ngay từ lúc sinh ra, Như Ý đã có những biểu hiện khác thường. Hơn 3 tuổi, dù nói chưa tròn tiếng, bé tiếp tục thể hiện khả năng am hiểu sâu sắc Phật đạo nói chung và tư tưởng Phật giáo Hòa Hảo nói riêng, khiến giới đồng đạo phải sửng sốt. Đặc biệt, Như Ý có thể tự tin đứng trước đám đông, thuyết giảng thông suốt hàng giờ đồng hồ về một chủ đề nào đó mà không bối rối, lặp từ. Người ta bảo, bé có nhân duyên tiền kiếp đối với đạo Phật.</p>
<p>Chị Nguyễn Thị Cam (33 tuổi, mẹ ruột bé Như Ý) kể: “Khi được hơn 3 tuổi, Như Ý đã nói chuyện như một người trưởng thành, giống hệt một tu sĩ tinh thông đạo pháp”.</p>
<p>Trong một lần nói chuyện với mẹ mình, Như Ý có nói rằng: “Con chỉ “mượn mẹ” để đầu thai xuống kiếp này tu thêm mà thôi. Kiếp trước của con là một người sinh ra có cha mẹ giàu sang, song con chỉ muốn đi tu mà không được song thân chấp thuận, con buồn tủi lắm, không dễ như cha mẹ bây giờ. Kiếp thứ hai, con được làm một nữ tu sĩ, sống được 50 tuổi nhưng vì tu chưa đắc đạo nên kiếp này con về lại nhân gian để tu tiếp, mong rằng sẽ truyền bá sâu rộng chốn nhân gian hơn nữa, con người hòa hợp, không tranh giành đặc lợi mà giúp đỡ lẫn nhau”.</p>
<p>Cũng theo chị Cam, một lần khác Như Ý không nghe lời khuyên răn của cha mẹ nên chị mắng, không ngờ bé cười rồi cất lời: “Con là một người khác chứ không phải là con mẹ đâu ạ, kiếp này con chỉ mượn cha mẹ để lên đây tu thành thêm kiếp đạo dang dở của con thôi”.</p>
<p>Với độ am hiểu đạo giáo tinh thông, thuyết giảng thu phục lòng người, Như Ý nhanh chóng được đông đảo phật tử biết đến, nhiều ngôi chùa trong giáo hội đã mời Như Ý về thuyết giảng, nói chuyện.</p>
<p>Cho đến nay, bé đã đăng đàn hằng trăm buổi nói chuyện, có thể thuyết giảng nhiều chủ đề khác nhau về đạo Phật, khiến cả những nhà nghiên cứu đạo pháp phải thán phục.</p>
<p><span class='embed-youtube' style='text-align:center; display: block;'><span class="embed-youtube" style="text-align:center; display: block;"><iframe class='youtube-player' type='text/html' width='470' height='295' src='https://www.youtube.com/embed/BEd4b6xXVZ8?version=3&rel=1&fs=1&autohide=2&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&wmode=transparent' allowfullscreen='true' style='border:0;'></iframe></span></span></p>
<p><span class='embed-youtube' style='text-align:center; display: block;'><span class="embed-youtube" style="text-align:center; display: block;"><iframe class='youtube-player' type='text/html' width='470' height='295' src='https://www.youtube.com/embed/uVhLXaI0iOQ?version=3&rel=1&fs=1&autohide=2&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&wmode=transparent' allowfullscreen='true' style='border:0;'></iframe></span></span></p>
<p>st” width=”199″ height=”200″ /></p></div>
<p><b><i><a href=QLB
Thùy Trang –  Kính mừng ngày báo hiếu, Thùy Trang xin đặt hết toàn tâm toàn ý về Mẹ, gửi đến anh chị còn Mẹ hay mất mẹ, lời chân tâm của đứa con. Bé Như Ý là tựu trung cho tình cảm thiêng liêng của chúng ta đang nghĩ về Mẹ mà Thùy Trang muốn gửi gấm đến anh chị.

—————–
Cô bé Việt Nam nhớ rõ chuyện từ…ba kiếp trước
Nguyễn Thị Như Ý (11 tuổi, An Giang) từ nhỏ đã nổi tiếng là một hiện tượng “vô tiền khoáng hậu” bởi khả năng thuyết giảng trước đám đông và am hiểu Phật giáo thượng thừa.
Ngay từ lúc sinh ra, Như Ý đã có những biểu hiện khác thường. Hơn 3 tuổi, dù nói chưa tròn tiếng, bé tiếp tục thể hiện khả năng am hiểu sâu sắc Phật đạo nói chung và tư tưởng Phật giáo Hòa Hảo nói riêng, khiến giới đồng đạo phải sửng sốt. Đặc biệt, Như Ý có thể tự tin đứng trước đám đông, thuyết giảng thông suốt hàng giờ đồng hồ về một chủ đề nào đó mà không bối rối, lặp từ. Người ta bảo, bé có nhân duyên tiền kiếp đối với đạo Phật.

Chị Nguyễn Thị Cam (33 tuổi, mẹ ruột bé Như Ý) kể: “Khi được hơn 3 tuổi, Như Ý đã nói chuyện như một người trưởng thành, giống hệt một tu sĩ tinh thông đạo pháp”.

Trong một lần nói chuyện với mẹ mình, Như Ý có nói rằng: “Con chỉ “mượn mẹ” để đầu thai xuống kiếp này tu thêm mà thôi. Kiếp trước của con là một người sinh ra có cha mẹ giàu sang, song con chỉ muốn đi tu mà không được song thân chấp thuận, con buồn tủi lắm, không dễ như cha mẹ bây giờ. Kiếp thứ hai, con được làm một nữ tu sĩ, sống được 50 tuổi nhưng vì tu chưa đắc đạo nên kiếp này con về lại nhân gian để tu tiếp, mong rằng sẽ truyền bá sâu rộng chốn nhân gian hơn nữa, con người hòa hợp, không tranh giành đặc lợi mà giúp đỡ lẫn nhau”.

Cũng theo chị Cam, một lần khác Như Ý không nghe lời khuyên răn của cha mẹ nên chị mắng, không ngờ bé cười rồi cất lời: “Con là một người khác chứ không phải là con mẹ đâu ạ, kiếp này con chỉ mượn cha mẹ để lên đây tu thành thêm kiếp đạo dang dở của con thôi”.

Với độ am hiểu đạo giáo tinh thông, thuyết giảng thu phục lòng người, Như Ý nhanh chóng được đông đảo phật tử biết đến, nhiều ngôi chùa trong giáo hội đã mời Như Ý về thuyết giảng, nói chuyện.

Cho đến nay, bé đã đăng đàn hằng trăm buổi nói chuyện, có thể thuyết giảng nhiều chủ đề khác nhau về đạo Phật, khiến cả những nhà nghiên cứu đạo pháp phải thán phục.

http://youtu.be/BEd4b6xXVZ8

http://youtu.be/uVhLXaI0iOQ

Lịch Sử PG Hòa Hảo

Lịch Sử PG Hòa Hảo

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Fb Trần Huỳnh Duy Thức – Nhà hoạt động từ thiện và tôn giáo Mai Thị Dung, một nông dân cắt lúa, sinh năm 1969, đang tiếp tục bị hành hạ trong tù khi thụ án 11 năm sau 2 lần bị kết án.
Cùng chồng là ông Võ Văn Bửu, bà Mai Thị Dung – tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo – đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình, tuyệt thực cho các tín hữu đồng đạo, phản đối nhà cầm quyền CSVN tịch thu các cơ sở giáo hội và đàn áp tự do tôn giáo.
Bất chấp gia đình có hai người con dưới tuổi thành niên, ngày 5 tháng 8 năm 2005, công an Việt Nam bắt giữ cả hai vợ chồng Mai Thi Dung và Võ Văn Bửu. Ngày 19 tháng 9 năm 2005, Tòa án tỉnh An Giang kết án bà Mai Thị Dung 6 năm tù và chồng bà 7 năm vì tội “gây rối trật tự công cộng”. Trước đó không lâu, ông Võ Văn Bửu vừa mãn hạn tù 3 năm cũng vì tội danh tương tự.
Trong tù, bà Mai Thị Dung kiên trì tổ chức các lễ Phật. Vì lẽ đó, ngày 22 tháng 7 năm 2008, nhà cầm quyền đã phạt thêm 5 năm tù về tội “chống đối nhân viên công lực”, nâng tổng án tù mà bà Dung phải chịu lên 11 năm.
Suốt thời gian ở tù, mặc dù bệnh nặng, bà Mai Thị Dung luôn bị hành hạ, bị cấm nói chuyện với các tù nhân – bởi thái độ bất hợp tác với cai tù trong việc “ký biên bản nhận tội”. Bà từng tuyệt thực trong tù để phản đối ngược đãi và yêu cầu được đưa đi điều trị. Chỉ một ngày sau khi bà tuyệt thực, hôm mùng 2 tháng 10 năm 2013, từ trại giam Xuân Lộc – Đồng Nai, bà bị chuyển ra Bắc cùng với một tù nhân lương tâm khác vừa được trả tự do là Đỗ thị Minh Hạnh trên quãng đường 1700 km với chân tay bị xích còng nên đã nhiều lần ngất xỉu trong xe thùng bịt kín.
Hiện bà đang bị giam tại Phân trại 3 Thanh Xuân, xã Mỹ Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Nội với tình trạng sức khỏe nguy kịch trong điều kiện tù khắc nghiệt. Bà mắc nhiều chứng bệnh tim, gan, mật, dạ dày, chỉ có thể di chuyển bằng cách bò lê trên nền sàn vì không thể đứng vững – theo những gì chồng bà chứng kiến trong lần thăm cuối năm 2013. Ông Võ Văn Bửu đã ra tù vào tháng 8 năm 2012, sau khi đã thi hành án 7 năm tù giam.
Nhà cầm quyền Việt Nam xem Phật Giáo Hòa Hảo là kẻ thù. Phần lớn các hoạt động của giáo hội phải thực hiện bí mật. Nếu không, luôn có đông đảo an ninh chìm nổi theo dõi, bao vây, phá rối để có cớ bắt bớ những người tham gia lễ lạc.
11 tháng 7 năm 2014
 
Vietnam Human Rights News
vietnamhumanrightsnews@gmail.com

Leave a Reply

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

ĐỨC THẦY LÂM NẠN TẠI ĐỐC-VÀNG

ĐỨC THẦY LÂM NẠN TẠI ĐỐC-VÀNG

LONG XUYÊN ngày 21 tháng 3 năm 1865

(20/03/2011) (Xem: 14308)

 

Kính gởi Ông NGÔ-XUÂN và Quí vị Đồng Bào Thủ Đô

 

SAIGON

 

Kính thưa Ông cùng Quý-vị,

 

Tiếp nhận được thơ ông cùng quý vị gởi đến tôi đề ngày 29 tháng 3 năm 1965 vào lúc 14 giờ

 

Vội biên thư hồi đáp cho ông cùng quý vị để tường:

 

Muốn đáp lại những thạnh tình chiếu cố ấy, mặc dù tôi rất kém khả năng hiểu biết nhưng, đứng về cương vị một môn-nhơn đệ tử của Đức Huỳnh Giáo Chủ thì nhiều hay ít cũng am tường về giáo lý của Ngài.

 

Trân trọng xin hồi đáp cùng quý vị, với phạm vi hiểu biết của tôi, còn những điều cao siêu thì xin nhường lời cho các bậc cao minh giảng giải. Riêng tôi có vài lời thiện cảm sau đây, dù không được thỏa mãn, kính mong quý vị niệm tình tha thứ.

 

–        Hỏi: Tại sao có danh từ Phật-Giáo Hòa-Hảo?

 

–        Đáp: Thưa quý vị, trải qua những năm tìm tòi học đạo, chính tôi đã thường nghe Đức Thầy tôi có giải đáp trong những khi thuyết pháp vào lúc mà Đức Thầy tôi thực hiện trong lời sấm tiên tri: “Chừng ơn trên ban bố lục thông Thầy sẽ được Tây Đông du thuyết”.

 

Quả thật như lời đúng vào năm 1945 Đức Thầy tôi có dịp đi du thuyết (khuyến nông) khắp 21 tỉnh, thì cũng có nhiều đồng bào chất vấn giống như những câu hỏi của quý vị đấy?

 

Vậy xin mạng phép dựa vào những câu giải đáp của Đức Thầy tôi và luôn tiện ghi lại nơi đây để ông cùng quý vị rõ:

 

“Phật Giáo là giáo pháp của nhà Phật, mà tôi là đệ tử trung thành của Đức Phật Thích Ca mâu ni, còn Hòa Hảo là danh từ quê hương của tôi. (Lời Đức Thầy)

 

Sau đây tôi xin phụ họa với ý nghĩa mà không ngoài giáo pháp của Đức Thầy tôi đã truyền dạy, trong 14 giòng khoáng thủ theo lối văn bát ngôn trường thiêng.

 

PHẬT vốn tánh từ bi vô lượng chí

GIÁO pháp khai nhiệm lý khắp nhơn gian

HÓA đồng trong sanh chúng hiệp nhứt tràng

HẢO ý nguyện vạn ban giai hướng thiện

LÀ sứ mệnh thừa vâng nơi Kim-điện

DANH một đời bốn biển lẫn sơn thanh

TỪ khởi nguyên căn thiện sẵn trời danh

QUÊ quán cổ kim sanh miền Linh-Địa

HƯƠNG xuất hiện thơm mùi Trung-Tín-Nghĩa

CỦA Tiên Rồng trau trỉa được nên công

ĐỨC cao siêu ban rãi thuận muôn lòng

HUỲNH đạt đạo lục thông tri tiền hậu

GIÁO thọ sắc Thế-Tôn, lời nguyền tấu

CHỦ tâm thành roi dấu Vình Trường Miên.

 

Kính thưa Ông cùng Quý vị,

 

Còn những điểm như: Mục-đích, Tôn-chỉ, thân thế và cách hành đạo của Đức Thầy tôi thì xin hẹn lại cùng quý vị, tôi sẽ hồi đáp trong tập sắp xuất bản của tực đề là “TÌM HIỂU GIÁO LÝ PHẬT GIÁO HÒA HẢO” chắc chắn quý vị sẽ được hài lòng.

 

Trước khi gác bút, và không còn lời lẽ cho hơn để được đáp tạ với nhân tình cao quí của quí vị cho vừa.

 

Nơi đây tôi chỉ đặt cả tâm thành khẩn nguyện Đức Phật Từ Bi gia hộ cho toàn thể quý vị cùng bửu quyến cũng như tất cả nhơn gian đều được hưởng mọi phước lành, để gọi lòng thiện cảm giữa tôi cùng quý vị.

 

Trân trọng kính chào

 

LÊ-THÀNH-LẠC

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Chương 2: Pháp Xâm Lược Và Cuộc Kháng Chiến Của Dân Tộc Vn

Chương 2: Pháp Xâm Lược Và Cuộc Kháng Chiến Của Dân Tộc Vn

(Xem: 93347)
  • Vài Nét Về Tác Giả – Nguyễn Long Thành Nam
  • PHẦN I: BỐI CẢNH LỊCH SỬ
  • PHẦN II BỬU SƠN KỲ HƯƠNG
  • PHẦN III : PHẬT GIÁO HÒA HẢO
  • PHẦN IV : PHẬT GIÁO HÒA HẢO VÀ CÁCH MẠNG
  • PHẦN V: SAU KHI ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ RA ĐI
  • PHẦN VI: CÁC CHẾ ĐỘ VIỆT NAM ĐỐI VỚI PGHH
  • PHỤ LỤC I
  • PHỤ LỤC II
Tiến trình Tây phương xâm nhập Ðông phương có thể xem là khởi đầu từ chuyến đi phương Ðông của Marco Polo (1275-1292). Tây phương sang Ðông phương trước hết là các giáo sĩ với mục đích truyền đạo. Sau đó là các tổ hợp tư bản đến với mục đích trục lợi thương mại. Vào cuối thế kỷ 18, các đế quốc Tây phương tranh giành lẫn nhau để chiếm thuộc địa. Ngọn gió thổi từ Tây phương đến Ðông phương đã đem vào Á Châu luồng văn minh duy lý và cơ khí, tạo những thay đổi lớn lao về văn hóa, kinh tế và xã hội tại khu vực này.Tiếng đại bác đầu tiên của hai chiến hạm Pháp là La Gloire và La Victorieuse bắn vào lãnh thổ Việt Nam (Ðà Nẵng) năm 1847, báo hiệu ý đồ thực dân xâm lược của đế quốc Pháp, dùng quân lực đánh chiếm Ðông Dương, song hành với hành động tương tự của các đế quốc Tây phương khác: Anh, Hòa Lan, Bồ Ðào Nha, Y Pha Nho, tại Á Châu. Lúc đó là năm thứ 7 triều vua Thiệu Trị, cũng là năm đầu tiên triều vua Tự Ðức, 800 quả đạn đại bác đã làm thiệt hại mấy ngàn sinh mạng Việt Nam, mở đầu cho một giai đoạn rất nhiều bi thương của dân tộc này.Vì những khó khăn nội bộ của nước Pháp, cho nên mãi đến năm 1856, Hoàng đế Nã Phá Luân III mới lấy quyết định thực sự cử binh đánh chiếm Việt Nam. Ngày 26-9-1856, chiến hạm Catinat nã đại bác vào Ðà Nẵng. Chiến thuật xâm lược của Pháp nhằm chiếm lấy miền Nam trước hết, để làm đầu cầu quân sự chính trị tiến dần ra Bắc, Trung Việt, Cao Miên và Ai Lao, bằng ngoại giao, quân sự nhưng chính yếu là sức mạnh của quân đội. Năm 1862, quân Pháp chiếm xong ba tỉnh miền Ðông, và đến 1867 chiếm thêm ba tỉnh miền Tây Nam Việt, rồi sau đó tiến ra miền Bắc. Cuộc xâm lăng này hoàn thành năm 1887, sau khi Pháp đã dàn xếp với Trung Hoa, ký kết hiệp ước Thiên Tân giữa Patenôtre và Lý Hồng Chương 27-4-1885, theo đó Trung Hoa công nhận cuộc bảo hộ của nước Pháp tại Việt Nam (*) .

Tuy rằng quân Pháp đã chiếm được toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, nhưng đó không phải là một cuộc xâm lược dễ dàng. Quân đội Pháp tuy hùng hậu và có ưu thế võ khí, nhưng đã phải chịu rất nhiều thiệt hại để đối phó với sức đề kháng mãnh liệt và dẻo dai của quân và dân Việt Nam, ròng rã suốt ba mươi năm, từ 1860 đến 1887. Ấy là chưa kể nỗ lực ngoại giao của Pháp thỏa hiệp quyền lợi với triều đình Mãn Thanh qua hiệp ước Thiên Tân, nhằm tạo tình trạng hòa hoãn với Trung Quốc, để khỏi phải bận tâm đến sự can thiệp của Trung Quốc, mà dồn nỗ lực vào hành động quân sự đánh chiếm Việt Nam.

Năm 1887 là thời điểm mà quân Pháp cho là đã hoàn thành cuộc xâm lược quân sự tại Việt Nam, và cũng năm đó Pháp thực hiện công cuộc thống nhứt bộ máy cai trị thuộc địa, đặt viên toàn quyền đầu tiên điều khiển bộ máy thống trị Ðông Dương. Tuy nhiên, sự đề kháng của dân tộc Việt Nam không chấm dứt ở thời điểm 1887, mà còn tiếp tục suốt từ đó cho đến khi Pháp phải chính thức ra đi, rời khỏi vị trí quyền lực tại Việt Nam, năm 1956.

Ðây là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, người Việt Nam không chấp nhận uy quyền thống trị của thực dân Pháp, đã kết thành những phong trào liên tục tranh đấu đòi lại chủ quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam.

Trong lịch sử nhơn loại, những cuộc xâm chiếm thuộc địa thường dễ dàng thành công ở giai đoạn đầu, giai đoạn đánh chiếm bằng quân sự, nhưng lại gặp nhiều khó khăn chật vật ở giai đoạn sau. Ðó là giai đoạn đề kháng văn hóa của dân tộc bị trị đối phó với ngoại bang thống trị. Tiến trình xâm chiếm và thống trị của Pháp tại Việt Nam, cũng không thoát khỏi quy luật lịch sử đó.

Giai đoạn đầu, với khoa học chiến tranh tiến bộ và võ khí tân tiến của thế kỷ 19, quân đội Pháp đã có ưu thế để chiến thắng tại Việt Nam. Quân lực của triều đình và của các tổ chức nhân dân võ trang kháng chiến, tuy chiến đấu dũng cảm, hy sinh cao độ, với lòng yêu nước nhiệt thành, nhưng vì yếu thế về võ khí, và chưa có kiến thức mới để ứng phó hữu hiệu với khoa học chiến tranh cơ giới của Tây phương, cho nên rốt cuộc đã phải thất bại về quân sự.

Sau cuộc trường kỳ kháng chiến gần 40 năm (1856-1895), tuy rằng các phong trào kháng chiến võ trang còn hoạt động lẻ tẻ ở các địa phương, quân đội Pháp đã làm chủ được tình hình quân sự trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. (Ghi chú: 1856 chiến hạm Pháp bắn vào Ðà Nẵng, và 1895, phong trào văn thân kháng chiến Phan Ðình Phùng tan rã).

Sau giai đoạn chiến thắng quân sự, bộ máy thống trị Pháp tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn phức tạp hơn trong việc đối phó với cuộc đề kháng muôn hình vạn trạng, không công khai, không chiến lũy, mà âm thầm, kín đáo, bí mật, bền bỉ dẻo dai, diễn ra thường trực trong tâm lý và thái độ của người dân Việt. Tinh thần ái quốc, khát vọng tự do, ý thức độc lập thấm nhuần sâu xa trong tâm hồn người dân Việt từ mấy ngàn năm lịch sử, không thể nào bị dập tắt hay bóp chết một cách dễ dàng giống như sự chiến thắng của một quân đội mạnh đối với một quân lực yếu thế. Sức mạnh vật chất không thể tiêu diệt được những tình cảm phi vật chất. Cố nhiên, khi Pháp dùng võ lực, nhà tù, luật lệ khắc nghiệt, khủng bố đàn áp để đối phó, thì người Việt phải lui bước trước sức mạnh. Nhưng đó chỉ là bước lui tạm thời, để khi có cơ hội nào đó, một biến cố xảy ra, là lập tức tiềm lực đề kháng lại bộc phát nổ bùng mãnh liệt, không lường trước được.

1- PHONG TRÀO VĂN THÂN CẦN VƯƠNG KHÁNG PHÁP

Các tổ chức kháng Pháp phát sanh trước hết tại Nam Việt, ngay từ lúc quân đội xâm lược Pháp đặt chân lên lãnh thổ Việt Nam năm 1860. Phong trào phát khởi tại miền Ðông, sau đó lan rộng khắp Nam Việt rồi khắp nước Việt Nam. Ðó là phản ứng chung của dân tộc chống ngoại xâm, hễ quân Pháp chiếm cứ nơi nào, là tổ chức kháng Pháp lập tức phát sanh tại nơi đó.

Ðặc tính căn bản chung của các phong trào này là Văn thân Cần Vương. Nghĩa là các tổ chức kháng Pháp được lãnh đạo bởi giới Văn thân, tức giới Sĩ phu Nho học đã từng đóng vai trò lãnh đạo hướng dẫn quần chúng. Giới sĩ phu quy tụ dân chúng nổi dậy đánh Pháp để phục hồi uy quyền triều đình, tức là nhà vua Việt Nam (cần vương). Về mặt tư tưởng, giới sĩ phu thấm nhuần Nho giáo, đặt mối tương quan quân thần lên trên hết (Tam cương: Quân thần, Phụ tử, Phu thê) xem nhà Vua là biểu tượng quốc gia, và trung quân đồng nghĩa với ái quốc. Về mặt xã hội, giới sĩ phu được dân chúng kính trọng, nghe theo, phần đông truyền bá giáo dục trong vùng, cho nên khi dựng cờ khởi nghĩa chống Pháp, họ có khả năng huy động quần chúng tham gia. Ðương nhiên các phong trào kháng Pháp thời kỳ đầu tiên cho tới cuối thế kỷ 19, đều do giới sĩ phu lãnh đạo và mang tư tưởng phục vụ triều đình, có mục đích đánh đuổi Pháp, để tái lập chế độ quân chủ truyền thống.

Từ 1860 đến 1885, nhiều tổ chức khởi nghĩa chống Pháp đã xuất hiện, trong đó lịch sử Việt Nam ghi nhận các tổ chức sau đây có tầm quan trọng cao hơn hết:

Nguyễn Trung Trực 1860-1868, Trương Công Ðịnh 1861-1864, Nguyễn Hữu Huân 1863-1868, Võ Duy Dương 1865-1866, Trần Văn Thành 1865-1873, Ðinh Công Tráng 1866-1867, Nguyễn Thiện Thuật 1885-1889, Phan Ðình Phùng 1885-1895, Hoàng Hoa Thám 1887-1913.

Tất cả những lãnh tụ kháng Pháp này đã thất bại, mặc dù họ đã chiến đấu rất dũng cảm. Lý do thất bại là: lần đầu tiên binh sĩ Việt Nam phải đương đầu với một lực lượng quân sự địch khác hẳn với tất cả quân đội địch mà họ đã phải đương đầu trong lịch sử, như quân Trung Hoa, Chiêm Thành, Chân Lạp. Ðiều kiện chiến trường, võ khí, chiến thuật, và trình độ tiến hóa trước kia không có sự cách biệt quá đáng giữa các địch thủ Á Châu, trên các chiến trường Á Châu. Còn Pháp là một địch thủ hoàn toàn xa lạ, với khoa học chiến tranh khác, phương pháp chiến đấu khác, và các loại võ khí cơ giới tiến bộ rất xa so với võ khí cổ điển thô sơ của Việt Nam…

Do đó, tương quan lực lượng trong cuộc chiến đấu này trên phương diện khí giới tiến bộ, rất chênh lệch và có hại cho kháng chiến Việt Nam. Mặc dù đã đạt những thắng lợi ngoại hạng với võ khí yếu kém, như những trận đánh chìm tầu Pháp tại Nhựt Tảo hay hạ đồn Pháp tại Kiên Giang do lãnh tụ Nguyễn Trung Trực chỉ huy, nhưng rốt cuộc các lãnh tụ kháng chiến đã bị Pháp bắt giết hay tử trận, vẹn danh kẻ yêu nước, sau khi đã xả thân đem nhiệt tình và dõng cảm để cố bù đắp sự thua thiệt về võ khí, sự thất thế về lực lượng quân sự so với quân Pháp.

Phong trào Văn thân Cần vương kháng Pháp được xem như đã chấm dứt sau khi nhà lãnh tụ Cần vương nổi tiếng trong lịch sử là Phan Ðình Phùng tạ thế năm 1895. Cũng từ đây, theo sự phân định của các nhà biên khảo Việt sử, tư tưởng Cần vương bắt đầu phai lạt trong bối cảnh xã hội mới, nhường chỗ cho tư tưởng canh tân hướng về quốc gia dân tộc, hơn là sống chết vì Vua.

2- GIAI ÐOẠN QUÁ ÐỘ: CÁCH MẠNG CHUYỂN HƯỚNG CANH TÂN

Mặc dầu sau 1895, vẫn còn những nỗ lực lẻ tẻ của các tổ chức võ trang kháng Pháp, và phong trào Cần vương Hoàng Hoa Thám khởi đầu năm 1887 tại Bắc Việt cũng còn tồn tại cho đến 1910, nhưng người Việt Nam đã bắt đầu có những nhận thức mới, trước một hoàn cảnh mới, để chuyển cách mạng giải phóng dân tộc sang khuynh hướng mới, hình thức tổ chức mới, phương pháp hành động mới. Tạm gọi là khuynh hướng canh tân.

Thực tế trước mắt đã cho thấy rằng các phong trào Cần vương thất bại bởi thua kém võ khí, và nếu tiếp tục kháng chiến trong những điều kiện cũ, sẽ phải khó khăn hơn. Bấy giờ quân đội Pháp đã củng cố vị thế và kiểm soát được tình hình, có hy sinh thêm nữa dưới hình thức chiến đấu thuần túy quân sự, mà không có cải tiến về võ trang và phương pháp cũng sẽ đành thất bại thêm mà thôi.

Xã hội Việt Nam trong hai thập niên đầu của thế kỷ 20 tất nhiên du nhập ảnh hưởng của tư tưởng và văn minh tây phương, qua sự hiện diện của người Pháp tại Ðông Dương, và sự mở rộng chân trời kiến thức của người Việt trước hoàn cảnh mới của thế giới. Giới sĩ phu yêu nước cũng ý thức trào lưu tiến hóa về vật chất và thay đổi về tư tưởng. Trong bối cảnh một xã hội đang chuyển hướng đó, tư tưởng trung quân tuyệt đối và quân quyền truyền thống mờ nhạt đi, các quan niệm về dân chủ, tự do manh nha và phát triển. Cho nên chính giới sĩ phu Nho học, trong vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam, cũng tự họ thay đổi khuynh hướng cách mạng, từ chủ trương quân chủ tuyệt đối, sang quân chủ lập hiến như gương nước Nhựt.

Do đó, một số sĩ phu Việt Nam tìm cách xuất dương, sang Nhựt Bổn và Trung Hoa (Tăng Bạt Hổ, Phan Bội Châu, Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể,…) với ba mục đích: tìm mua võ khí mới, tìm sự yểm trợ bên ngoài, và tổ chức đưa thanh niên Việt ra ngoại quốc để học hỏi văn minh tiến bộ mới (đào luyện nhân tài). Hai tổ chức quan trọng nhứt trong giai đoạn này là Ðông Du (xuất dương) và Ðông kinh Nghĩa thục (tại Hà Nội).

Nhìn ra bên ngoài thế giới, người Việt có ý thức cách mạng và chính trị, nhận thấy các biến cố mới xảy ra giữa Nhật Bổn và Trung Hoa (năm 1885 Trung Hoa phải nhượng đảo Ðài Loan cho Nhựt cai trị trong những điều kiện thua thiệt) giữa Nhựt Bổn và nước Nga trong trận hải chiến 1904-1905 (Nga thất bại). Hai biến cố này như những tia sáng mới khích lệ người Việt Nam đi theo tấm gương canh tân của nước Nhựt trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Thêm vào đó, cuộc cách mạng dân quyền Tân Hợi 1911 tại Trung Hoa, rồi cuộc cách mạng tháng 10-1917 tại Nga, chấm dứt các chế độ quân chủ, là những động lực thúc đẩy khuynh hướng cách mạng của người Việt phải tiến tới bằng những bước canh tân mạnh dạn hơn nữa. Ðệ nhứt thế chiến 1914-1918 đã đưa một số khá nhiều thanh niên Việt sang tham chiến tại Âu Châu trong hàng ngũ quân đội Pháp, lớp người này đã đem về Việt Nam một số nhận xét về nếp sinh hoạt, về tư tưởng mà họ đã hấp thụ trong không khí tự do dân chủ tại nước Pháp và Âu châu. Các tư tưởng gia Ðông phương Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu đề xướng cuộc canh tân mạnh mẽ cho xã hội Á Châu, cũng tạo ảnh hưởng khá sâu rộng đối với các sĩ phu Việt Nam.

Các biến chuyển kể trên, đồng thời với các sinh hoạt giáo dục và kinh tế xã hội trong chế độ cai trị của người Pháp, đã tạo nên trong xã hội Việt Nam một lớp người mới, về tư tưởng cũng như về vị trí xã hội. Lớp người này được xem như lớp tiểu tư sản kiểu Tây Âu, hấp thụ tư tưởng văn minh Tây phương, với kiến thức và suy luận duy lý, đã bước những bước dài hơn và mạnh hơn là chủ trương canh tân giới hạn của giới sĩ phu nho học. Ðây là lớp thanh niên Việt Nam mới, đã dứt khoát từ bỏ chủ trương cách mạng cần vương, đi thẳng vào con đường dân chủ hóa. Cũng từ thời kỳ này, vai trò của giới sĩ phu nho học chỉ còn giới hạn ở vị trí lãnh đạo tinh thần, như những bó đuốc lịch sử và những tấm gương hy sinh vì nước. Chính giới trí thức tân học sau này sẽ trở thành lớp lãnh đạo công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc trong một bối cảnh xã hội mới.

3- GIAI ÐOẠN CANH TÂN: CÁCH MẠNG VỚI Ý THỨC DÂN TỘC DÂN CHỦ

Bắt đầu vào thập niên 30, người Việt Nam yêu nước ý thức rằng họ tham gia cách mạng không phải để phục hồi chế độ quân quyền, cũng không phải vì lòng trung thành với Thiên tử (vua chúa), mà chính là để phục vụ quốc gia và dân tộc, và để thiết lập một chế độ tự do dân chủ trong một nước Việt Nam độc lập. Tuy ý niệm quân chủ lập hiến vẫn còn phần nào giá trị trong nếp suy nghĩ của quần chúng trong một nước có truyền thống quân chủ lâu đời, nhưng phần đông giới thanh niên đều biểu lộ khuynh hướng dân chủ tự do rất rõ rệt và mạnh mẽ.

Một khuynh hướng cực đoan cũng phát sinh trong giới trí thức tân học. Ðó là lớp người hướng về chủ thuyết Mác xít, vì họ cho rằng Nga Sô sẽ giúp họ chống lại đế quốc tư bản. Số người này đã lựa chọn con đường đi vào hệ thống cộng sản quốc tế, dựa vào Nga Sô Viết để chống Pháp, đuổi Pháp, rồi sau đó thực hiện một cuộc cách mạng vô sản tại Việt Nam, trong tiến trình vô sản hóa thế giới.

Trong giai đoạn này, khởi đầu từ thập niên 30, nhiều tổ chức cách mạng Việt Nam đã xuất hiện, và một số còn tồn tại đến bây giờ.

Nam Ðồng Thư Xã (1927) sau trở thành Việt Nam Quốc Dân Ðảng, với cuộc nổi dậy lịch sử tại Yên Báy, do lãnh tụ Nguyễn Thái Học cầm đầu (10-2-1930), 13 chiến sĩ VNQDÐ bị Pháp hành quyết.

Ðại Việt Quốc Dân Ðảng thành lập năm 1941 bởi lãnh tụ Trương Tử Anh, ông bị Cộng sản hạ sát năm 1946.

Ðại Việt Duy Dân Ðảng thành lập năm 1942, bởi lãnh tụ Lý Ðông A. Ông mất tích trong đợt khủng bố tại Hòa Bình năm 1946, Cộng sản hạ sát nhiều cán bộ của đảng này.

Việt Nam Phục Quốc Hội, thành lập bởi Kỳ ngoại hầu Cường Ðể, đã tấn công vị trí quân sự Pháp tại Lạng Sơn năm 1940, lãnh tụ Trần Trung Lập bị giết. Kỳ ngoại hầu Cường Ðể tạ thế năm 1951 tại Ðông Kinh (Nhựt).

Ðông Dương Cộng Sản Ðảng thành lập năm 1930 do Hồ Chí Minh, dựa vào hệ thống Cộng sản đệ tam quốc tế Nga Sô, để đoạt thắng lợi đấu tranh tại Việt Nam. Ðảng này đã cai trị miền Bắc Việt Nam từ 1954 đến 1975, và cai trị toàn bộ Việt Nam sau 30-4-1975.

Phật Giáo Hòa Hảo, một tôn giáo cách mạng thành lập năm 1939 tại miền Nam Việt Nam, do Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ, và sau này thành lập thêm chánh đảng Việt Nam Dân Chủ Xã Hội (1946). Năm 1947, Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ bị Cộng sản ám hại và vắng mặt từ thời điểm đó.

Cao Ðài Giáo, một tôn giáo cách mạng khác thành lập tại miền Nam, sau 1928, bởi ông Ngô Văn Chiêu, và sau đó được chỉ đạo bởi Hộ Pháp Phạm Công Tắc. Ông bị Pháp bắt và đày biệt xứ tại Madagascar, rồi sau này từ trần tại Cao Miên trong giai đoạn đi lưu vong thời chế độ Ngô Ðình Diệm.

Ngoài các tổ chức cách mạng trên đây được xem là vẫn tiếp tục hoạt động và tồn tại từ khi thành lập đến ngày nay, còn có nhiều nhóm tranh đấu khác có tầm vóc giới hạn và đời sống ngắn ngủi hơn, như: Việt Nam Nghĩa Ðoàn, Việt Nam Hưng Quốc (1925), Việt Nam Thanh niên Cách mạng, Tân Việt Cách Mạng Ðảng (1925), Phạm Hồng Thái, Trịnh Văn Căn… Trong Nam Việt có các phong trào Thiên Ðịa Hội, đảng Việt Nam Quốc Gia Ðộc Lập, đảng Lập Hiến, nhóm Ðệ Tứ, tổ chức Bình Xuyên… đều đã có đóng góp vào công cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp để giải phóng dân tộc. Các tổ chức này ngày nay đã không còn hoạt động và hiện diện như một chánh đảng hay tổ chức nữa, tuy rằng vẫn còn những cá nhân bảo tồn danh nghĩa. Nhưng tất cả đều như các mảnh vụn trong kiến trúc Cách mạng Việt Nam, bị nghiền nát bởi khủng bố đàn áp của thực dân, cộng sản và các chế độ cộng hòa sau 1954.

Trong giai đoạn canh tân này, các tổ chức cách mạng áp dụng hình thức tổ chức, phương pháp và chiến thuật đấu tranh khác với giai đoạn Cần vương. Hình thức tổ chức có tính cách dân chủ, và tập thể chỉ huy, thay vì lãnh tụ chế như trước kia. Phương pháp đấu tranh bây giờ đa dạng, chớ không chỉ có võ trang kháng chiến. Các tổ chức này vận dụng lực lượng quần chúng vào đấu tranh, tham gia biểu tình chống đối, sử dụng hiệu lực văn hóa vào công tác tuyên truyền cách mạng, hoặc nêu lên các yêu sách công khai, hoặc tổ chức bí mật ám sát phá hoại địch… Về chiến thuật, các tổ chức đấu tranh này đưa dần phong trào cách mạng từ các hình thức chính trị sang cách mạng, từ ôn hòa sang bạo lực, từ phản đối bất hợp tác sang võ trang kháng chiến… Ðây cũng là những phương pháp và chiến thuật đấu tranh thích hợp với từng hoàn cảnh mới, và một phần được du nhập vào Việt Nam qua các sách vở và kinh nghiệm Tây phương.

4- HAI KHUYNH HƯỚNG QUỐC GIA VÀ QUỐC TẾ

Ðiều quan trọng nảy sanh trong giai đoạn này và sẽ chi phối lâu dài tương lai nước Việt Nam, là sự manh nha của hai khuynh hướng dị biệt và đối nghịch trong hàng ngũ cách mạng chống lại thực dân Pháp. Tuy rằng mỗi tổ chức cách mạng đều theo chủ thuyết riêng, nhưng nói chung, tất cả đều nêu lên mục tiêu là đòi chủ quyền độc lập quốc gia, cho nên tất cả các tổ chức cách mạng này được xếp hạng chung vào một khối quen gọi là Khối Quốc Gia. Duy có một tổ chức tự tách mình ra khỏi Khối Quốc Gia, để đi theo hệ thống quốc tế của cộng sản chủ nghĩa, với mục tiêu tối hậu không phải là độc lập quốc gia, mà là vô sản hóa toàn thế giới. Ðó là Ðông Dương Cộng Sản Ðảng do Hồ Chí Minh thành lập năm 1930, dựa vào Mạc Tư Khoa, và được Nga Sô yểm trợ.

Với chiêu bài chống đế quốc tư bản thực dân để giải phóng các dân tộc nhược tiểu bị trị , Nga Sô đã làm cho một số người Việt Nam tin theo và dựa vào Mạc Tư Khoa để thực hiện cách mạng. Ngược lại, những chiến sĩ cách mạng Việt Nam trong Khối Quốc Gia lại cho rằng đảng Cộng sản Ðông Dương nằm trong hệ thống quốc tế của Nga Sô, chỉ nêu mục tiêu giải phóng dân tộc làm bình phong để trá hình mà vận dụng quần chúng, gây tạo uy thế, trong một giai đoạn chiến lược.

Sự khác biệt chủ trương đường lối này tiềm tàng trong lúc đầu sau đó từ tháng 9-1945, nổ bùng thành cuộc xung đột mãnh liệt giữa hai khuynh hướng Quốc gia và Quốc tế vào đầu thập niên 50, và trở thành đối nghịch sắt máu dưới hình thức chiến tranh thực sự khi chánh phủ Hồ Chí Minh thi hành chánh sách đàn áp đối lập từ tháng 8-1945.

Sự bùng nổ Ðệ nhị thế chiến vào tháng 9-1939 là cơ hội thuận tiện cho dân tộc Việt Nam phát động va tăng gia nỗ lực cách mạng giải phóng dân tộc. Quân đội Nhựt Bổn đến Ðông Dương, và nước Việt Nam bị đặt vào tình thế một cổ hai tròng dưới sự cai trị của hai đế quốc: Pháp và Nhựt. Tình trạng này kéo dài đến 9-3-1945, quân đội Nhựt lật đổ bộ máy quyền lực Pháp tại Ðông Dương, tạo cơ hội duy nhất cho Hoàng đế Bảo Ðại tuyên bố Việt Nam Ðộc Lập, sau trên 80 năm Pháp thuộc. Tuy nhiên, Nhựt Bổn cũng không có thiện chí thực sự trả độc lập cho dân tộc Việt Nam cho nên bộ máy quân phiệt Nhựt vẫn nắm quyền thống trị, trong khi chánh phủ độc lập đầu tiên do thủ tướng Trần Trọng Kim cầm đầu không có thực quyền, mặc dầu đó là một nội các gồm những nhà trí thức khoa bảng nổi tiếng thời đó, tuy giàu lòng yêu nước, nhưng yếu kém ý thức chánh trị, không nhận thức được hiểm họa cộng sản, do đó đã để cho Việt Minh, không nhận thức được hiểm họa cộng sản, do đó đã để cho Việt Minh cướp mất cả chánh quyền lẫn cái thế chủ động.

Chỉ năm tháng sau, Nhựt hoàng đầu hàng Ðồng minh, Ðệ nhị thế chiến chấm dứt, toàn dân Việt Nam đồng loạt đứng dậy đòi độc lập thật sự. Ðây là cao điểm của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, được mệnh danh là Cách mạng Tháng Tám (1945). Nhưng cũng từ đó, khởi đầu những khó khăn khủng khiếp và đau khổ trường kỳ cho dân tộc Việt Nam.

Từ bên ngoài, đạo quân viễn chinh Pháp đã lên đường sang tái chiếm Ðông Dương. Từ bên trong, đảng Cộng sản Ðông Dương áp dụng kỹ thuật và thủ đoạn đã được huấn luyện nghiên cứu từ Mạc Tư Khoa, để chiếm đoạt quyền bính lãnh đạo, thể hiện vào chiến thuật hai mặt: Một mặt Hồ Chí Minh thỏa hiệp với Pháp chấp nhận quân đội viễn chinh Pháp của tướng Leclerc đổ bộ lên Bắc Việt hầu đánh đổi lấy sự công nhận của chánh phủ Pháp để Hồ Chí Minh có tư cách đại diện chánh thức quốc gia Việt Nam; và mặt khác, dựa vào vị thế chánh quyền, đảng Cộng sản Ðông Dương thi hành kế hoạch tiêu diệt các tổ chức và lãnh tụ cách mạng nào không đồng ý với đường lối của họ. Những nạn nhân đầu tiên của chánh sách tiêu diệt đối lập này là các tổ chức Phật Giáo Hòa Hảo, Cao Ðài, Ðệ Tứ, Quốc gia Ðộc lập Ðảng trong miền Nam, và các chánh đảng Việt Nam Cách Mạng Ðồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt và Duy Dân Ðảng ở miền Bắc, tất cả đều đã bị Cộng sản khủng bố và sát hại rất khắc nghiệt.

Từ đó về sau mối mâu thuẫn giữa hai khuynh hướng Quốc gia và Quốc tế trong hàng ngũ cách mạng chống Pháp tại Việt Nam trở thành một cuộc chiến tranh ý thức hệ, không còn chỉ giới hạn trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, mà càng ngày càng mở rộng ra để trở thành cuộc tranh chấp quốc tế giữa Hoa Kỳ tiêu biểu cho khối Tư bản và Thế giới Tự do, và bên kia là Nga Sô cầm đầu khối Cộng sản quốc tế.

Với sự can thiệp quốc tế, cuộc chiến tại Việt Nam khởi đầu là chiến tranh chống thực dân xâm lược Pháp, với mục tiêu độc lập quốc gia, sau này biến thái thành một cuộc thế giới chiến tranh tuy giới hạn về địa dư, nhưng liên hệ mật thiết đến quyền lợi chiến lược của các siêu cường và các khối quyền lực quốc tế.

Trong khi hầu hết những cuộc tranh đấu giải phóng dân tộc của các nước nhược tiểu bị trị từ trước đệ nhị thế chiến, đã đưa các dân tộc này đến độc lập và hòa bình khi chủ quyền đất nước đã được lấy lại, thì cuộc chiến tại Việt Nam vẫn còn tiếp tục, cho mãi đến ngày nay, mà vẫn chưa thấy có viễn tượng của sự chấm dứt. Nếu kể từ 22-9-1940 là ngày quân đội Nhựt tràn từ Quảng Tây sang Lạng Sơn, khởi đầu không khí chiến tranh trên lãnh thổ Việt Nam, cho đến thời điểm 1987 này, thì cuộc chiến Việt Nam đã kéo dài gần nửa thế kỷ rồi. Một điều rất rõ ràng được rút ra trong sự so sánh Việt Nam với các quốc gia bị trị trước đệ nhị thế chiến, là: tại Việt Nam đã xảy ra hai cuộc chiến tranh cách mạng: Khởi đầu là cách mạng giải phóng dân tộc, nhưng sau đó là chiến tranh do Mốt Cu và Hà Nội kéo dài thêm để thực hiện cách mạng vô sản quốc tế.

Và đó chính là thảm trạng của dân tộc Việt Nam.

5- NHẬN XÉT VỀ ƯU THẾ CỦA CỘNG SẢN TẠI VIỆT NAM

Hầu hết các thuộc địa cũ của Pháp ngày nay đã độc lập và hòa bình, ngoại trừ Việt Nam vẫn triền miên trong chiến tranh và đang là một trong những quốc gia nghèo khổ nhứt thế giới. Dù có biện bạch cách nào cũng không thể phủ nhận nguyên nhân chính yếu là do đảng Cộng Sản của ông Hồ Chí Minh đã nhìn mục tiêu độc lập quốc gia chỉ là một chặng đường trên lộ trình vô sản hóa thế giới, do đó mà ông phải tiếp tục chiến tranh để đạt mục tiêu chiến lược tối hậu của Cộng sản quốc tế.

Dân tộc Việt Nam tham gia cách mạng với mục tiêu chủ quyền độc lập, nhưng ông Hồ Chí Minh đã lợi dụng lòng yêu nước đó để phục vụ cho mục tiêu riêng của đảng Cộng Sản.

Cựu Tổng thống Huê Kỳ Richard Nixon trình bày về chiến lược quốc tế liên hệ đến Việt Nam, trong cuốn sách No More Vietnams đã viết như sau:

Quốc gia Việt Nam phải được độc lập. Trong hai thập niên 1920 và 1930, sự thù ghét chế độ thuộc địa đi đôi với ý thức sâu xa về quốc gia dân tộc, kết hợp thành gốc rễ của phong trào chống Pháp. Quan điểm thời trang cho rằng riêng đảng Cộng sản của Hồ Chí Minh tranh đấu cho độc lập, thực ra chỉ là quan điểm mơ hồ.

Ðệ nhị Thế chiến là một khúc quanh lịch sử. Sự việc Nhật Bổn chiếm lãnh vùng Ðông Nam Á đã làm tan vỡ hào quang của quyền lực thực dân Tây phương. Ngay khi nền độc lập quốc gia đến trong tầm tay, thì Hồ chí Minh tàn nhẫn tiêu diệt các tổ chức chánh trị đối lập. Trong thời kỳ đệ nhị thế chiến, họ Hồ đã cẩn thận tính toán trước những bước đi để sau này nắm lấy chính quyền. Khi Ðệ nhị Thế chiến vừa chấm dứt, cơ hội đến, họ Hồ áp dụng thủ đoạn nham hiểm và tàn độc để tiêu diệt những phần tử đối lập nào có tổ chức võ trang. Khi Nhựt Bổn đầu hàng, Hồ Chí Minh nhanh chân nhảy thẳng vào chiếm khoảng trống quyền lực… (*)

Học giả D.G.E. Hall đã khẳng định quy trách cho chánh sách thiển cận và ngoan cố của Pháp như là nguyên nhân chính yếu tạo nên ưu thế và sức mạnh của Cộng sản tại Ðông Dương:

Ðiều bất hạnh là chính sự ngoan cố của Pháp đã tạo ra tình huống đó. Trong khi cộng sản ở các quốc gia khác đã thất bại, và không còn hấp dẫn đối với đa số quần chúng, thì riêng tại Ðông Pháp, Cộng sản lại ưu thắng, chiếm được quyền lãnh đạo trên các đảng phái yêu nước. Nguyên nhân duy nhất là thái độ ngoan cố của Pháp… (**)

Một tác giả khác đã biểu lộ quan điểm tổng kết tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam như sau:

Thật vậy, Việt Nam là một trường hợp đặc biệt, nhưng dân tộc Việt Nam là một dân tộc bất hạnh nhứt thế giới. Trong khi các dân tộc khác ở Ðông Nam Á đã thoát khỏi ách thống trị của thực dân và đã trở thành các quốc gia độc lập thịnh vượng, thì Việt Nam vẫn tiếp tục đau khổ trong chiến tranh trường kỳ. Ðó là sự bất hạnh toàn diện và lớn lao. Về địa lý chánh trị, Việt Nam là một quốc gia bị khổng lồ Trung Quốc liên tục uy hiếp, suốt từ năm 111 trước Tây lịch, cho đến thế kỷ 17, Việt Nam đã trải qua biết bao hy sinh lớn lao để tự vệ và bảo tồn đơn vị quốc gia.

Ðiều bất hạnh thứ hai là do định mệnh lịch sử, Việt Nam bị thống trị bởi thực dân Pháp, một đế quốc thiển cận và tham tàn nhứt. Ðệ nhị Thế chiến chấm dứt là cơ hội chung, các đế quốc đều chấp nhận trả chủ quyền độc lập cho các thuộc địa, chỉ riêng có Pháp là ngoan cố, đem chiến hạm và quân đội viễn chinh đến tái lập quyền lực thuộc địa tại Việt Nam, như đã làm ở thế kỷ 19. Vì tham vọng quyền lợi, Pháp đã bắt tay với quỷ Satan, tức hợp tác với tay sai của Mạc Tư Khoa, thay vì phải hợp tác với dân tộc Việt Nam. Qua thương thuyết và hiệp ước, Pháp tạo cho Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam vị thế chánh thống nắm quyền cai trị Việt Nam; nhờ ưu thế chánh quyền mà Hồ Chí Minh đã tiêu diệt các lãnh tụ cách mạng quốc gia, để rồi sau đó lại quay mặt đánh Pháp.

Cố bám lấy thế chủ động, Pháp xoay qua điều đình với những giới đối lập Hồ Chí Minh, trong một giải pháp quốc gia, nhưng vẫn nuôi dưỡng âm mưu đen tối đầu cơ cả hai phe quốc gia và cộng sản, để thủ lợi riêng cho đế quốc Pháp. Thực dân Pháp không bao giờ thực tâm muốn trả chủ quyền độc lập cho dân tộc Việt Nam. Thái độ đó của Pháp đã làm suy yếu uy tín của những người Việt ái quốc theo khuynh hướng quốc gia, đưa dần đến thất bại quân sự tại chiến trường Ðiện Biên Phủ và sau hết đưa đến việc ký kết hiệp định Giơ neo 1954, Pháp trao cho Hồ Chí Minh toàn quyền thống trị miền Bắc Việt Nam, làm bàn đạp để tiến chiếm toàn bộ lãnh thổ năm 1975.

Ðiều bất hạnh sau cùng của Việt Nam là đồng minh Hoa Kỳ. Nhơn danh đại cường quốc lãnh đạo bảo vệ thế giới tự do, Huê Kỳ lại đã hành động thiếu tư tưởng và thiếu quyết tâm của cấp lãnh đạo. Cho nên sau bao nhiêu xương máu hy sinh để bảo vệ tiền đồn cho thế giới tự do, bỗng nhiên Việt Nam bị đồng minh Huê Kỳ bỏ rơi, vì lúc đó Huê Kỳ đã thay đổi mục tiêu chiến lược, hy sinh Việt Nam cho quyền lợi riêng của Hoa kỳ. Lịch sử lại một lần nữa tái diễn: Việt Nam lại trở thành nạn nhân của quyền lợi chiến lược siêu cường, trong lịch sử hiện đại cũng giống như trong thời trung cổ xưa kia.

Rốt cuộc ngày 30-4-1975, thiết giáp xa Nga Sô cán sập cửa dinh Ðộc Lập tại Sàigòn. Ðối với Huê Kỳ, một trang sử Việt Nam đã lật qua, một giai đoạn cuộc chiến Việt Nam chấm dứt. Và giai đoạn mới bắt đầu, đây là lúc hàn gắn những vết thương chiến tranh, hòa giải dân tộc, tái thiết quốc gia, thực hiện các nguyện vọng của người dân. Nhưng đó lại không phải là mục tiêu của đảng Cộng sản Việt Nam. Ðảng này không nghĩ đến nền độc lập quốc gia mà còn phải tiến lên mục tiêu vô sản hóa thế giới, cho nên chưa cho dân tộc Việt Nam được sống hòa bình và tái thiết.

Trên 10 năm đã đi qua, vẫn chưa có độc lập hòa bình, và câu nói không có gì quý hơn độc lập tự do của Hồ Chí Minh rõ ràng chỉ là chiêu bài giai đoạn lừa phỉnh dân tộc Việt.

Với chánh quyền trong tay đảng Cộng sản, dân tộc Việt Nam tiếp tục sống trong chiến tranh và nghèo đói thêm. Biết đến bao giờ cuộc cách mạng của dân tộc Việt Nam đạt đến mục tiêu Tự do và Ðộc lập?

Hãy nghe thêm một người Pháp nhận xét về chánh sách sai lầm của chánh phủ Pháp tại Việt Nam, với sự khẳng định rằng chính Pháp đã làm cho Việt Nam mất vào tay Cộng sản. Linh mục Seitz, đến truyền đạo tại Việt Nam từ 1937, đã nêu ra các nhận xét sau đây để trả lời câu hỏi ÀÀTại sao chiến tranh Việt Nam kéo dài lâu như vậy, và tại sao Cộng sản thắng thế?

Không thể hiểu được thảm kịch ngày nay của dân tộc Việt Nam, nếu không tìm hiểu các nguyên nhân xa xưa của cuộc chiến tại đó.

Trước khi lãnh nhiệm vụ sang Việt Nam, tôi có tham dự tuần lễ hội thảo đề tài Àchánh sách thuộc địá, và nhớ rằng lập trường của giáo hội Pháp là ÀMọi chánh sách thuộc địa đều thống trị được một thời gian mà thôi và đều phải kết thúc với sự trưởng thành của dân tộc bị trị. Cũng giống như Lyautey đã nói: ÀMột thuộc địa được cai trị tốt đương nhiên phải đạt sự trưởng thành, nếu không được thế là do chánh sách cai trị sai lầm vậý. (Une colonie bien administrée évolue nécessairement vers son émancipation, sinon cest qúelle est mal administrée.)

Năm 1937, tôi đến Việt Nam, thuộc địa Pháp đang tiến mạnh, nhưng điều đầu tiên tôi cảm nhận là Àchúng ta, một cường quốc thực dân, đã không làm đúng bổn phận hướng dẫn thuộc địa đến trưởng thành.

Chúng ta đã không khám phá và lượng giá được lòng ái quốc nồng nhiệt, sâu xa và khả kính đang sôi sục trong trái tim người Việt, để mà có một chánh sách thích nghi và cấp thiết. Giai tầng trí thức Việt Nam đã có những người xuất thân ở các đại học danh tiếng (Polytechnique, Centrale) của Pháp, nhưng khi hồi hương họ bị bạc đãi như thuộc cấp chớ không được xem như những trí thức lãnh đạo xứ sở họ. Ðó là chính chúng ta đã đào luyện họ thành những địch thủ tương lai. Những người Việt ái quốc trí thức đó, nuôi nấng nguyện vọng xứ sở mình được độc lập, nhưng trong tình huống bị chúng ta đối xử bạc đãi như thế, thử hỏi họ phải hướng về đâu? Hướng về chánh quốc, vô ích thôi! Sau Ðệ nhứt Thế chiến 1914-1918, những trí thức trẻ của Việt Nam đã tìm hướng về Cộng sản quốc tế sau cách mạng tháng 10-1917 tại Nga.

Từ thời điểm (thập niên 1920) Hồ Chí Minh bỏ Paris sang Moscow, đến khi ông ta nắm chánh quyền tại Hànội 1945, dẫn đến sự toàn chiếm Việt Nam 1975, tôi đã sống gần 40 năm tại xứ này, và có thể tóm luận rằng nguyên nhân sâu xa chính là do lỗi của Pháp đã bất chấp tinh thần ái quốc tiềm tàng trong trái tim người Việt, cho nên hậu quả là nền độc lập quốc gia Việt Nam mà Pháp không chịu trao trả đúng cách đúng lúc, đương nhiên phải bị cưỡng chiếm lại bằng chiến tranh. Chúng ta không biết ủng hộ chánh nghĩa của người Việt, thì tất có kẻ khác đóng vai trò đó. Chính là Cộng sản.

Ðó là tình huống đã xảy ra: lòng ái quốc, và lý tưởng dân tộc của người Việt đã bị Cộng sản chụp lấy. Nga Sô đào luyện cán bộ cách mạng bằng tư tưởng Mác-xít, rồi yểm trợ các nhu cầu vật chất (tiền bạc, võ khí) cho đám cán bộ đó nắm quyền hành tại Việt Nam, củng cố từng giai đoạn để tiến chiếm toàn bộ Việt Nam năm 1975. Ðó là kết quả của một giai đoạn bành trướng chủ nghĩa Cộng sản trên nửa thế kỷ vừa qua.

Bây giờ nước Pháp ngoái nhìn lại lịch sử vừa qua để thấy rằng sau thảm kịch Việt Nam, đến Algérie, chúng ta mới tỉnh ngộ để trả độc lập cho 11 thuộc địa tại Châu Phi. Ðúng là Àcon người vẫn là kẻ tập sự, và sự đau thương chính là ông thầy dạý (LHomme est un apprenti, la douleur est son maitre.)

Những điều trình bày sơ lược trên đây về giai đoạn lịch sử từ khi Pháp đến xâm chiếm Việt Nam đến khi Cộng sản toàn chiếm lãnh thổ Việt Nam (1856-1975: 110 năm) đưa ra ánh sáng một số điểm căn bản sau đây:

1. Giai đoạn 90 năm (1856-1945) dân tộc Việt Nam âm thầm chịu đựng chánh sách thống trị tham lam và tàn bạo của thực dân Pháp, nhưng vẫn đề kháng liên tiếp.

2. Giai đoạn kế tiếp 30 năm (1945-1975) dân tộc Việt Nam toàn bộ nổi dậy, chiến đấu chống lại chủ trương tái chiếm thuộc địa của Pháp, nhưng rốt cuộc vẫn chỉ là dịch chủ tái nô: thực dân Pháp ra đi (1955) đế quốc Nga thay thế đặt toàn bộ lãnh thổ Việt Nam trong hệ thống Cộng sản Quốc tế (1975).

3. Tuy thực dân Pháp chấm dứt thế lực thống trị Việt Nam từ 1955, nhưng Pháp vẫn là một nguyên nhân của sự toàn chiếm Việt Nam 1975 bởi cộng sản, do chánh sách sai lầm đối với dân tộc Việt Nam và do chủ trương cấu kết với Cộng Sản Việt Nam từ 1946 để mưu đồ tái lập chế độ tân thuộc địa tại Việt Nam.

4. Tuy công cuộc tranh đấu giải phóng đất nước Việt Nam đến nay chưa thành công, và chánh nghĩa của dân tộc Việt Nam đã bị thực dân và cộng sản tiếm đoạt, nhưng dân tộc Việt đã chứng tỏ trước thế giới ý chí quật cường bất khuất của một dân tộc anh hùng, qua cuộc chiến đấu bảo vệ quyền tự tồn tự chủ chống lại 1,050 năm đô hộ của Trung Hoa, trên 100 năm đô hộ của Pháp, và tiếp tục chống chủ trương đô hộ của đế quốc Nga Sô.

5. Tuy nhiên, ý chí quật cường bất khuất của dân tộc Việt Nam, mặc dầu đã được xem như yếu tố tinh thần căn bản của dân tộc Việt để tự tồn tự chủ từ giai đoạn lập quốc qua bao lần xâm lược của khổng lồ Trung Hoa, đã không đủ để quyết định thắng lợi từ khi các đế quốc Tây phương sang chiếm thuộc địa Á Châu.

Bởi vì từ đây Việt Nam phải đối phó một loại xâm lược quốc tế mới lạ, khác hẳn tương quan song phương trước kia giữa Trung Hoa và Việt Nam trong hoàn cảnh một thế giới khép kín, không có sự liên kết và can thiệp quốc tế.

Từ khi các đế quốc Tây phương chia nhau làm chủ các thuộc địa Á Châu, vận mệnh các dân tộc bị trị không những bị chi phối bởi chính đế quốc thống trị, mà còn bởi các áp lực quốc tế khác, chia chác quyền lợi, ảnh hưởng. Tương quan quốc tế càng ngày càng càng trở nên đa dạng, đa phương, phức tạp, chằng chịt thành những sợi dây trói buộc các nước nhỏ trong các tình trạng yếu kém thất thế, mất chủ động. Thế giới chia ra từng khối, các siêu cường quốc và cường quốc trao đổi quyền lợi, qua phân ảnh hưởng, thỏa hiệp hay đối nghịch nhau, tạo ra sức ép thường xuyên với các áp lực chính trị, quân sự, tài chánh, kinh tế, đè nặng và chi phối vận mệnh các quốc gia nhỏ yếu.

Thực tại thế giới từ thế kỷ 19 tới nay là như vậy, tuy rõ ràng là bất công, nhưng đã trở nên một quy luật của mối tương quan thế giới. Các cường quốc có uy thế chi phối, thế giới ngày nay sức mạnh võ khí và kinh tế ưu thắng hơn sức mạnh tinh thần, cho nên Việt Nam đã lâm vào hoàn cảnh bi thảm nhứt, bất hạnh nhứt so với mọi quốc gia Á Châu, với một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc kéo dài đã trên nửa thế kỷ, mà vẫn chưa thấy có hy vọng chấm dứt, chủ quyền quốc gia vẫn bị ngoại bang chi phối và xã hội suy thoái trong cảnh nghèo đói thê thảm.

Ðể kết luận phần này: dân tộc Việt Nam chẳng may bị lọt vào ách thống trị của thực dân Pháp, cho nên đã phải chịu đựng giai đoạn thống khổ đau thương cho đến nay đã trên một thế kỷ.

Tổ chức Phật Giáo Hòa Hảo, đề tài nghiên cứu biên khảo của cuốn sách này, với số lượng quần chúng đông đảo khoảng hai triệu tín đồ, đương nhiên là một thành phần hoạt động trong suốt tiến trình đấu tranh chống Pháp, chống Cộng, như sẽ được trình bày trong các chương sau đây.

GỬI Ý KIẾN
Tên của bạn
Email của bạn
Đánh giá (tùy ý)
Nhập những ký tự ở hình bên vào ô bên dưới.
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Đi thăm cha và chuyện kể trong tù

Đi thăm cha và chuyện kể trong tù

Tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Lía
Nguyễn Ngọc Lụa – Buổi sáng hôm 18/7, gia đình chúng tôi, là thân nhân của tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Lía, có chuyến đi xuống trại giam Xuân Lộc, Đồng Nai cùng với gia đình tù nhân lương tâm Bùi Văn Trung, cha tôi bị bắt tù 2 lần, lần đầu vào năm 2003 với mức án là 3 năm chỉ vì cha tôi là một tín đồ Phật giáo Hòa Hảo và hoạt động để phát triển tôn giáo, lần thứ 2 ông bị bắt tiếp vào năm 2011 với án 4 năm 6 tháng theo điều 258.

Đợi đến 9h sáng, viên công an mới vào kiểm tra giấy chứng minh nhân dân, rồi sau đó lại chờ họ đưa tất cả chúng tôi vào xe đi về hướng trại giam. Đến nơi thì vừa lúc cơn mưa lớn trút xuống đột ngột.
Vừa thấy cha, cả gia đình mừng vui, mẹ tôi thì đã không kiềm được và đã bật khóc khi cha hỏi thăm về bà nội ngay khi gặp. Cha nói chuyện phải dùng máy trợ thính nên nghe câu được câu mất.
Cha tôi hỏi viên công an đứng kế bên về tờ giấy mà viên giám thị trại giam mới vừa lấy của cha, tờ giấy mà ông ghi những ý chính để nói với gia đình chúng tôi, vì giờ trí nhớ không được tốt nên ông phải ghi ra để nói hết tất cả những điều muốn nói trong thời gian ít ỏi quý báu này. Khi lấy tờ giấy của ông, giám thị trại giam bảo để họ xem xét các ý trong đó và sẽ đưa lại ngay, nhưng trong suốt giờ thăm gặp ngắn ngủi, cha đã nhiều lần nhắc nhở và lên tiếng bảo họ trả lại. Nhưng họ chỉ bảo rằng họ đang xem, và cứ thế cho đến hết giờ thăm gặp, họ vẫn chưa xem xong tờ giấy.
Cha tôi dặn dò từng người anh em tôi kỹ lưỡng, rằng không được tin những gì Cộng sản hứa hay nói gì, vì từ trước đến nay họ đã hứa rất nhiều nhưng toàn dối trá nói một đằng làm một nẻo, Cộng sản là loại ăn cháo đá bát bất nhân bất nghĩa.
Từ lần thăm nuôi trước đến nay, cha tôi có viết gửi về nhà 3 lá thư nhưng khi ông hỏi lại, thì ở nhà chỉ nhận được 1 lá. Và ở gia đình có viết cho cha 1 lá nhưng cha cũng không được nhận. Và một điều bất công nữa là các phạm nhân ở đây thì có thể điện về nhà nhưng riêng ông thì không được. Cha bảo chúng tôi rằng chỉ có ở Việt Nam mới có tình trạng giấu nhẹm thư tù nhân tôn giáo như thế này, cũng như gây khó khăn trong việc giao tiếp, thăm nuôi từ bên ngoài hòng làm sụt giảm ý chí họ cũng như cô lập họ trong 4 bức tường giam
Cha kể cho chúng tôi biết người tù giam phòng kề bên vừa mới ra đi vì căn bệnh AIDS, ông bảo thêm rằng riêng tháng vừa rồi có đến 3 người chết vì căn bệnh này trong cùng một trại giam. Làm tôi nhớ đến lời anh Huỳnh Minh Trí, người cũng đã vừa mới chết vì căn bệnh AIDS, theo anh Trí là chứng nhân, anh nói có cả thấy 14 người đã chết vì AIDS mà anh biết cho đến khi ra rù. Tôi không khỏi lo lắng cho cha mình có tránh được căn bệnh mà chính quyền đã chủ tâm luôn muốn hại những tù nhân lương tâm như thế này không?
Cha bảo họ đối xử với những phạm nhân đã nổi loạn tại trại giam K1, Xuân Lộc, Đồng Nai lần trước rất dã man, họ đánh đập tàn nhẫn những người đó, thậm trí họ quỳ lạy van xin nhưng những đòn trừng phạt vẫn lạnh lùng nện xuống. Sau đó là biệt giam họ, đồng thời tăng án lên gấp đôi bản án họ đã lãnh nhận trước đó
Vậy đó, khi họ ngược đãi tù nhân, những người tù đã vùng lên khỏi song sắt để phản đối lại, hầu mong tình trạng nhà tù được tốt hơn, thì sau đó số phận những tù nhân không được cải thiện hơn mà lại bì trù dập thê thảm như vậy.
Mỗi sáng và tối cha tôi đọc Sấm Giảng Thi Văn của Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ cho nhiều người nghe và kể những lời vàng ngọc của Đức Thầy răn dạy người đời làm lành lánh dữ, ông khuyến khích những người phạm nhân ăn chay và Niệm Phật để nhận được sự giải thoát khỏi những gian khổ và thoát khỏi mọi tội lỗi vì do mình gây ra . Chúng bảo ông làm những việc bao đồng đó nữa thì ông sẽ bị biệt giam, cha vẫn kiên quyết giảng về Phật Giáo Hòa Hảo vì cha biết được rằng họ rất có nhu cầu và khao khát vấn đề tâm linh nơi ngục tù này.
Một lần ông bị chúng bắt biệt giam vì giúp đỡ một người bệnh nặng chung phòng, chú ấy ngoài 60 tuổi án chung thân, có thức ăn gì cha tôi điều chia phần chú vì hơn 7 năm gia đình không lại thăm nuôi, trong người mang nhiều chứng bệnh nặng lại bị mất 1 chân, nên đi lại rất khó khăn vì thế việc vệ sinh cá nhân diễn ra trong một túi nylon, nên cha tôi vì lòng thương người cùng chung cảnh tù thường giúp chú đi bỏ túi nylon, nhưng không ngờ cán bộ trại giam lại phản đối cha về hành động giúp đỡ này, nhưng cha vẫn tiếp tục làm điều đúng lương tâm khi họ bỏ mặc chú ấy, vậy là họ biệt giam cha tôi, nhưng ông đấu tranh và cầm trong tay cục đá tuyên bố sẽ đập đầu chết nếu họ không thôi biệt giam, vì lo sợ cha tôi chết nên họ đành phải nhượng bộ.
Đây đúng là những sự vi phạm nhân quyền rất trắng trợn của chính sách đối đãi tù nhân của chính quyền. mà chính họ đã ký kết với quốc tế về các công ước về đối xử với tù nhân
Tôi bỗng thấy cha trầm tư và u buồn vì ông biết nhà tù là nơi để răn dạy con người để họ có cơ hội trở lại thành người tốt, và dù họ là phạm nhân nhưng họ vẫn rất cần tình yêu thương để giúp họ dần tái nhập lại cuộc sống sau sai phạm nhưng thật tiếc, tù ở Việt Nam chỉ trù dập những tù nhân và nhất là loại trừ những tù nhân lương tâm và tôn giáo như ông bằng cách gián tiếp đẩy người tù vào những căn bệnh như AIDS, lao và nhiễm độc thực phẩm dẫn đến ung thư
Tôi để ý thấy 2 viên công an ngồi ghi chép cách rất tỉ mỉ và liếng thoáng lại lời của những người chúng tôi và cha tôi, cứ như thể ghi lại những lời nói hớ hên quá sự cho phép của họ để làm bằng chứng tội phạm vậy.
Nhưng ông vẫn nói bằng một tinh thần kiên quyết và thoải mái về những sai trái của trại giam, của những cai ngục, ông cho gia đình biết về tình trạng sức khỏe cũng như cách đối xử của cán bộ trại giam : ông đang bị giam chung phòng với những người bị lao phổi rất nặng và những người bị HIV, nguy cơ bị lây nhiễm của cha là rất cao. Cha tôi có bệnh Tim và Cao huyết áp nhiều năm nay và những thương tật như Điếc một tai , gãy xươn Vai cùng xươn Sườn do bàn tay ác độc của cộng sản gây ra khi còn ở ngoài. Lúc trái gió trở trời vết thương đó hoành hành đau nhức dữ dội, ông yêu cầu được khám chúng điều ngó lơ,ông luôn phản đối bằng cách kêu la đập cửa phòng giam, chúng nhượng bộ. Gia đình có gởi thuốc vào mỗi khi bệnh cha biến chứng, qua sự kiểm soát của trại giam, chúng đã không đưa đến tay cha tôi mặc cho cha nằm chờ căn bệnh dày vò nhưng họ bảo” chưa chết lo gì”.
Ước mong giới tranh đấu trong cũng như hải ngoại sẽ lưu tâm, vận động mạnh mẽ hơn cho tình trạng nhà tù tại Việt Nam, và hy vọng sẽ nhớ đến cha tôi trong những lần vận động cho nhân quyền và tự do tôn giáo để cha sẽ sớm trở về chữa bệnh và đoàn tụ cùng cùng gia đình.
Cuộc thăm nuôi ít ỏi của gia đình nhanh chóng qua đi, cán bộ trại giam nhanh chân đưa cha tôi vào, gia đình đành chia tay ông, anh em chúng tôi đã dặn cha cứ hãy viết thư về cho gia đình, họ có không gửi cũng chẳng sao, chỉ thể hiện sự bất lương của họ cho mọi người biết chế độ độc tài thối nát của Cộng sản. Chúng tôi từ biệt cha lần cuối vừa lúc cơn mưa vừa tạnh hạt.
 
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

ĐỨC THẦY LÂM NẠN TẠI ĐỐC-VÀNG

LONG XUYÊN ngày 21 tháng 3 năm 1865

(20/03/2011) (Xem: 14308)

 

Kính gởi Ông NGÔ-XUÂN và Quí vị Đồng Bào Thủ Đô

 

SAIGON

 

Kính thưa Ông cùng Quý-vị,

 

Tiếp nhận được thơ ông cùng quý vị gởi đến tôi đề ngày 29 tháng 3 năm 1965 vào lúc 14 giờ

 

Vội biên thư hồi đáp cho ông cùng quý vị để tường:

 

Muốn đáp lại những thạnh tình chiếu cố ấy, mặc dù tôi rất kém khả năng hiểu biết nhưng, đứng về cương vị một môn-nhơn đệ tử của Đức Huỳnh Giáo Chủ thì nhiều hay ít cũng am tường về giáo lý của Ngài.

 

Trân trọng xin hồi đáp cùng quý vị, với phạm vi hiểu biết của tôi, còn những điều cao siêu thì xin nhường lời cho các bậc cao minh giảng giải. Riêng tôi có vài lời thiện cảm sau đây, dù không được thỏa mãn, kính mong quý vị niệm tình tha thứ.

 

–        Hỏi: Tại sao có danh từ Phật-Giáo Hòa-Hảo?

 

–        Đáp: Thưa quý vị, trải qua những năm tìm tòi học đạo, chính tôi đã thường nghe Đức Thầy tôi có giải đáp trong những khi thuyết pháp vào lúc mà Đức Thầy tôi thực hiện trong lời sấm tiên tri: “Chừng ơn trên ban bố lục thông Thầy sẽ được Tây Đông du thuyết”.

 

Quả thật như lời đúng vào năm 1945 Đức Thầy tôi có dịp đi du thuyết (khuyến nông) khắp 21 tỉnh, thì cũng có nhiều đồng bào chất vấn giống như những câu hỏi của quý vị đấy?

 

Vậy xin mạng phép dựa vào những câu giải đáp của Đức Thầy tôi và luôn tiện ghi lại nơi đây để ông cùng quý vị rõ:

 

“Phật Giáo là giáo pháp của nhà Phật, mà tôi là đệ tử trung thành của Đức Phật Thích Ca mâu ni, còn Hòa Hảo là danh từ quê hương của tôi. (Lời Đức Thầy)

 

Sau đây tôi xin phụ họa với ý nghĩa mà không ngoài giáo pháp của Đức Thầy tôi đã truyền dạy, trong 14 giòng khoáng thủ theo lối văn bát ngôn trường thiêng.

 

PHẬT vốn tánh từ bi vô lượng chí

GIÁO pháp khai nhiệm lý khắp nhơn gian

HÓA đồng trong sanh chúng hiệp nhứt tràng

HẢO ý nguyện vạn ban giai hướng thiện

LÀ sứ mệnh thừa vâng nơi Kim-điện

DANH một đời bốn biển lẫn sơn thanh

TỪ khởi nguyên căn thiện sẵn trời danh

QUÊ quán cổ kim sanh miền Linh-Địa

HƯƠNG xuất hiện thơm mùi Trung-Tín-Nghĩa

CỦA Tiên Rồng trau trỉa được nên công

ĐỨC cao siêu ban rãi thuận muôn lòng

HUỲNH đạt đạo lục thông tri tiền hậu

GIÁO thọ sắc Thế-Tôn, lời nguyền tấu

CHỦ tâm thành roi dấu Vình Trường Miên.

 

Kính thưa Ông cùng Quý vị,

 

Còn những điểm như: Mục-đích, Tôn-chỉ, thân thế và cách hành đạo của Đức Thầy tôi thì xin hẹn lại cùng quý vị, tôi sẽ hồi đáp trong tập sắp xuất bản của tực đề là “TÌM HIỂU GIÁO LÝ PHẬT GIÁO HÒA HẢO” chắc chắn quý vị sẽ được hài lòng.

 

Trước khi gác bút, và không còn lời lẽ cho hơn để được đáp tạ với nhân tình cao quí của quí vị cho vừa.

 

Nơi đây tôi chỉ đặt cả tâm thành khẩn nguyện Đức Phật Từ Bi gia hộ cho toàn thể quý vị cùng bửu quyến cũng như tất cả nhơn gian đều được hưởng mọi phước lành, để gọi lòng thiện cảm giữa tôi cùng quý vị.

 

Trân trọng kính chào

 

LÊ-THÀNH-LẠC

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Fb Trần Huỳnh Duy Thức – Nhà hoạt động từ thiện và tôn giáo Mai Thị Dung, một nông dân cắt lúa, sinh năm 1969, đang tiếp tục bị hành hạ trong tù khi thụ án 11 năm sau 2 lần bị kết án.
Cùng chồng là ông Võ Văn Bửu, bà Mai Thị Dung – tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo – đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình, tuyệt thực cho các tín hữu đồng đạo, phản đối nhà cầm quyền CSVN tịch thu các cơ sở giáo hội và đàn áp tự do tôn giáo.
Bất chấp gia đình có hai người con dưới tuổi thành niên, ngày 5 tháng 8 năm 2005, công an Việt Nam bắt giữ cả hai vợ chồng Mai Thi Dung và Võ Văn Bửu. Ngày 19 tháng 9 năm 2005, Tòa án tỉnh An Giang kết án bà Mai Thị Dung 6 năm tù và chồng bà 7 năm vì tội “gây rối trật tự công cộng”. Trước đó không lâu, ông Võ Văn Bửu vừa mãn hạn tù 3 năm cũng vì tội danh tương tự.
Trong tù, bà Mai Thị Dung kiên trì tổ chức các lễ Phật. Vì lẽ đó, ngày 22 tháng 7 năm 2008, nhà cầm quyền đã phạt thêm 5 năm tù về tội “chống đối nhân viên công lực”, nâng tổng án tù mà bà Dung phải chịu lên 11 năm.
Suốt thời gian ở tù, mặc dù bệnh nặng, bà Mai Thị Dung luôn bị hành hạ, bị cấm nói chuyện với các tù nhân – bởi thái độ bất hợp tác với cai tù trong việc “ký biên bản nhận tội”. Bà từng tuyệt thực trong tù để phản đối ngược đãi và yêu cầu được đưa đi điều trị. Chỉ một ngày sau khi bà tuyệt thực, hôm mùng 2 tháng 10 năm 2013, từ trại giam Xuân Lộc – Đồng Nai, bà bị chuyển ra Bắc cùng với một tù nhân lương tâm khác vừa được trả tự do là Đỗ thị Minh Hạnh trên quãng đường 1700 km với chân tay bị xích còng nên đã nhiều lần ngất xỉu trong xe thùng bịt kín.
Hiện bà đang bị giam tại Phân trại 3 Thanh Xuân, xã Mỹ Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Nội với tình trạng sức khỏe nguy kịch trong điều kiện tù khắc nghiệt. Bà mắc nhiều chứng bệnh tim, gan, mật, dạ dày, chỉ có thể di chuyển bằng cách bò lê trên nền sàn vì không thể đứng vững – theo những gì chồng bà chứng kiến trong lần thăm cuối năm 2013. Ông Võ Văn Bửu đã ra tù vào tháng 8 năm 2012, sau khi đã thi hành án 7 năm tù giam.
Nhà cầm quyền Việt Nam xem Phật Giáo Hòa Hảo là kẻ thù. Phần lớn các hoạt động của giáo hội phải thực hiện bí mật. Nếu không, luôn có đông đảo an ninh chìm nổi theo dõi, bao vây, phá rối để có cớ bắt bớ những người tham gia lễ lạc.
11 tháng 7 năm 2014
 
Vietnam Human Rights News
vietnamhumanrightsnews@gmail.com
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.