Daily Archives: December 11, 2014

Đức Đạt Lai Lạt Ma là khách mời đặc biệt tại Hội nghị Ấn giáo Thế giới

Đức Đạt Lai Lạt Ma

là khách mời đặc biệt tại Hội nghị Ấn giáo Thế giới

Phúc Cường dịch

New Delhi, Ấn Độ, ngày 21 tháng 11 2014

Đức Đạt Lai Lạt Ma 4

Dr Homi B Dhalla, a representative of the Zorastrian faith,
interviewing His Holiness the Dalai Lama
in New Delhi, India on November 21, 2014.
Photo/Jeremy Russell/OHHDL

Trước khi tham dự vào chương trình chính, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã gặp đại diện của một trong những truyền thống tôn giáo lâu đời nhất trên thế giới, là tín ngưỡng thờ thần lửa. Ngài và Tiến sĩ Homi B Dhalla lần đầu tiên gặp nhau khi cả hai là khách mời của Đức Giáo Hoàng John Paul II tạiAssisi vào năm 1986. Các ngài đã gặp gỡ nhiều lần kể từ đó. Nhân dịp này, ngài Dhalla muốn đặt một số câu hỏi lên Đức Đạt Lai Lạt Ma cho một bộ phim tài liệu về hòa bình và nhân quyền mà ông đang đảm nhiệm.

Ông bắt đầu các câu hỏi bằng cách đặt vấn đề, bên cạnh việc tham gia vào đối thoại, chúng ta có thể chấm dứt bạo lực bằng những cách thức nào. Ngài trả lời rằng bạo lực có liên quan trực tiếp đến các phiền não tiêu cực của con người. Sân giận, sợ hãi, ghanh tị và tham lam là nguồn gốc của bạo lực. Nếu chúng ta không đối trị được các phiền não này thì bạo lực sẽ mãi mãi không ngừng. Rất cần thiết phải giáo dục mọi người hiểu rằng bạo lực gây ra nhiều tác hại cho xã hội, cũng như có hại cho sức khỏe mỗi người, phá hoại sự bình an tâm thức. Liên hệ với nạn bạo lực đối với phụ nữ, Ngài cho rằng đương nhiên bạo lực với phụ nữ là sai lầm. Mặc dù những ý niệm cố hữu cho rằng nam giới là ưu trội hơn, nhưng thực sự thì nam giới và nữ giới đều cần đến nhau. Thời gian gần đây, nền giáo dục đã giúp mang lại một ý thức to lớn hơn về sự bình đẳng giới.

Khi được đặt câu hỏi về mối quan hệ của giới trẻ với công nghệ, ngài đã thể hiện sự trân trọng:

“Bản thân công nghệ là tốt. Nó làm cho cuộc sống dễ dàng hơn và làm cho mọi người xích lại gần nhau hơn. Nhưng chúng ta phải sử dụng công nghệ một cách xây dựng.”

Những người trẻ có thể giúp tạo ra một nhận thức rộng mở hơn rằng, tất cả con người đều mong cầu một đời sống hạnh phúc. Chúng ta đều cần tình thương yêu. Vì vậy, sẽ rất hữu ích khi  nhận ra được bản chất đồng nhất của nhân loại.

Đức Đạt Lai Lạt Ma 3

His Holiness the Dalai Lama and fellow guests light
a lamp to inaugurate The 1st World Hindu Congress
in New Delhi, India on November 21, 2014.
Photo/Tenzin Choejor/OHHDL

Tiếp sau đó, ngài đã được cung đón nồng hậu bởi các thành viên của ban tổ chức Hội nghị Ấn giáo Thế giới lần thứ nhất (WHC2014). Sau những nghi thức ban đầu như thắp đèn cầu nguyện, tổng thư ký của Hiệp hội Ấn giáo Thế giới (VHP), Swami Vigyananand đã giải thích lý do Hội nghị Ấn giáo Thế giới được tổ chức. Ông mong đợi sự hồi sinh, thịnh vượng và ảnh hưởng đối với cộng đồng Ấn giáo trên toàn thế giới:

“Những điều tốt đẹp không tự diễn ra theo cách riêng của mình mà chính chúng ta phải làm cho chúng diễn ra.”

Sajjan Bhajanka, Chủ tịch Ủy ban Tổ chức (WHC 2014) đã bày tỏ lời chào đón nồng nhiệt đến tất cả mọi người hiện diện, đến đức Đạt Lai Lạt ma, ngài Mohanrao Bhagwat và ngài Ashok Singhal, các quan khách và 1800 đại biểu đến từ 50 quốc gia. Ông nhắc tới mong nguyện của Hội nghị được vinh danh ba lãnh đạo tâm linh là đức Đạt Lai Lạt Ma, ngài Pujya Swami Dayanand Sarasvati và ngài Ashok Singhal.

Ông nhắc tới đức Đạt Lai Lạt Ma là hiện thân của Bồ tát quán Thế Âm, Bồ Tát của tâm từ bi, ngài đã được trao tặng giải Nobel Hòa bình và Giải thưởng Magaysay, ngài đã thành lập nhiều trường học, tự viện, các tổ chức như thư viện Works & Archives Tây tạng và đã hoằng dương rộng khắp giáo pháp của chân lý và lòng từ bi. Ngài Mohanrao Bhagwat và ngài Ashok Singhal đã lên để cúng dường ngài khăn cát tường và trao chứng nhận vinh danh.

Đức Đạt Lai Lạt Ma 1

His Holiness the Dalai Lama delivering the inaugural address
at the 1st World Hindu Congress in New Delhi, India
on November 21, 2014. Photo/Tenzin Choejor/OHHDL

Sức khỏe của ngài Swami Dayanand Saraswati đã không cho phép ngài tham dự nên đã cử các đệ tử nhận vinh danh thay mình, còn ngài Ashok Singhal xin được từ chối vinh danh.

Đáp lại lời thỉnh cầu ban những huấn từ trong diễn văn khai mạc Đại hội, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã bắt đầu:

“Kính thưa các quý bạn hữu tâm linh, thật là một vinh dự lớn lao cho bản thân tôi được tham gia Hội nghị Ấn giáo Thế giới này bởi vì tôi luôn coi bản thân mình chỉ là một con người trong số 7 tỷ con người. Tôi luôn luôn nhấn mạnh rằng chúng ta, trong số 7 tỷ con người trên trái đất này, đều giống như nhau, về mặt tinh thần, thể chất và tình cảm. Cho dù trong chúng ta, có là vua hay nữ hoàng, người ăn xin hay lãnh đạo tâm linh, thì chúng ta đều được sinh ra theo cùng một cách. Chúng ta cũng sẽ khởi hành tới điểm đến tiếp theo của cuộc đời theo cùng một cách. Tuy nhiên, bởi vì chúng ta có xu hướng lãng quên sự giống nhau này, chúng ta luôn nhấn mạnh tới những khác biệt thứ yếu. Chúng ta nghĩ về nhau trong sự phân biệt ta-người. Chúng ta có thể để ý tới trong trường hợp nếu như khi đang thoát khỏi một thảm họa tự nhiên và gặp một người  khác, chúng ta sẽ luôn sẵn sàng chào đón họ như một người đồng hương mà không quan tâm tới việc họ từ đâu đến hay đức tin của họ là gì. Chúng ta vẫn thấy trẻ em thường ôm lấy nhau như những bạn thân mà không cần quan tâm đến sự khác biệt giữa chúng.”

Ngài chỉ ra rằng ngày nay chúng ta phải đối mặt với rất nhiều loại rắc rối do chính bản thân mình tạo ra, ví như, chiến tranh và bạo lực. Trong cố gắng để giải quyết những vấn đề như vậy, tốt hơn là hãy nhấn mạnh tới phương diện tất cả chúng ta đều là con người. Chúng ta đều muốn một đời sống hạnh phúc và coi trọng giá trị tình cảm của con người, tất cả mọi người đều như vậy. Khi đời sống của chúng ta bắt đầu và chúng ta tồn tại trong bầu không khí của tình cảm. Nếu chúng ta suy nghĩ ở phương diện bản chất đồng nhất của 7 tỷ con người, sẽ chẳng có gì có thể chia rẽ chúng ta cả.

Ngài nhận xét rằng, mặc dù có sự khác biệt nhất định giữa triết học của các truyền thống tôn giáo nhưng các truyền thống tôn giáo lớn đều coi trọng sự bình an của tâm thức. Ngài nhắc tới những trường phái tâm linh Ấn Độ cổ đại như: Samkhya-Yoga, Kì-na giáo (Jaina), Nyaya-Vaishesika, Mimamsa-Vedanta và Charvaka. Ngài cho rằng, thông qua các truyền thống tâm linh này, nếu so với những nền văn minh cổ đại của Ai Cập và Trung Quốc, thì nền văn minh lưu vực sông Ấn sản sinh ra một số lượng lớn hơn các nhà tư tưởng vĩ đại.

Đức Đạt Lai Lạt Ma 6

Some of the over 1800 delegates from 50 countries listening
to His Holiness the Dalai Lama delivering the inaugural address
at the 1st World Hindu Congress in New Delhi, India
on November 21, 2014. Photo/Tenzin Choejor/OHHDL

“Tôi là một đệ tử của truyền thống Nalanda và một tu sĩ Phật giáo. Tôi cũng đã giành nhiều tâm sức nghiên cứu về truyền thống tâm linh này mặc dù nhình chung vẫn là một người học lười biếng. Tôi luôn giành sự kính ngưỡng lớn đối với các học giả và hành giả tâm linh Ấn Độ cổ đại. Tôi đã đọc và kính ngưỡng trước tác của các ngài, trong đó cho thấy rằng các ngài đã có thể sử dụng tối đa năng lực bộ não con người. Trong các trước tác của các Đạo sư Thánh Thiên (Aryadeva), Thanh Biện (Bhavaviveka), Trần Na (Dignaga) và Pháp Xứng (Dharmakirti) có nhiều tranh biện và kiến giải về các truyền thống tâm linh khác nhau. Trước tác của ngài được viết rất rõ ràng và dễ hiểu. Rõ ràng là lượng tri thức Phật giáo đã tăng vượt trội để đáp ứng với những thách thức về mặt trí thức từ các trường phái khác và các trường phái ngoài Phật giáo cũng phát triển tương tự như vậy.

“Nhà vật lý nổi tiếng người Ấn Độ Raja Ramana đã từng chia sẻ với tôi niềm tự hào rằng, ông đã tìm thấy những luận giải trong trước tác của các học giả Ấn Độ cổ đại tương tự như các quan điểm của khoa học vật lý lượng tử ngày nay. Và điều khiến ông đặc biệt tự hào là những gì được coi là phát kiến và mới mẻ trong các ý tưởng của các nhà khoa học ngày nay thì đã được biết đến ở các nhà tư tưởng Ấn Độ từ rất lâu.”

“Tôi luôn cho rằng người Tạng chúng tôi coi người Ấn là những Bậc thầy của mình. Tất cả tri thức của chúng tôi đều đến từ Ấn Độ. Một học giả vĩ đại người Tạng thế kỷ 15 đã nói rằng, mặc dù màu trắng trải khắp vùng đất Tuyết, nhưng cho đến trước khi ánh sáng tri thức từ Ấn Độ tới, xứ Tạng vẫn còn chìm đắm trong bóng đêm đen. Đôi khi tôi hài ước rằng chính người Ấn Độ cổ đại  mới là những người chúng tôi tôn kính là các bậc thầy chứ không phải người Ấn hiện đại  nay đã bị phương Tây hóa khá nhiều. Tuy nhiên ngày nay quý vị hiện đang nỗ lực khôi phục và trì giữ các truyền thống cổ hàng thế kỷ và tôi rất trân trọng điều đó.”

Ngài chia sẻ về các cuộc đối thoại mà chính ngài đã tổ chức cùng với các nhà khoa học hiện đại trong hơn 30 năm qua, tập trung vào lĩnh vực như: vũ trụ học, vật lý, sinh học thần kinh và tâm lý học. Các cuộc hội đàm cho thấy, so với nền tâm lý học phát triển cao của Ấn Độ cổ, tâm lý học hiện đại hầu như chưa đạt đến cấp độ “mẫu giáo”. Điều này cũng cho thấy, sẽ là không đủ nếu chỉ thực hành các nghi thức tâm linh hàng ngày. Bên cạnh việc thực hành ở các chính điện, rất cần thiết phải có những trung tâm nghiên cứu và thảo luận ở một mức độ sâu sắc hơn. Chúng ta cần hiểu biết nhiều hơn về tâm thức và các cảm xúc, bởi sự hiểu biết này sẽ giúp mang lại bình an nội tâm. Nếu chúng ta được học cách đối trị các phiền não của mình, chúng ta thực sự có thể bắt đầu tạo ra một thế giới nhiều tình thương yêu hơn.

“Người Tạng chúng tôi là các đệ tử nhưng tôi nghĩ rằng chúng tôi là các đệ tử đáng tin cậy. Chúng tôi đã trì giữ nguyên vẹn nguồn tri thức đó trong khi các thế hệ sau gần đây của các bậc thầy chúng tôi đã quên lãng. Tôi thỉnh cầu tới quý vị hãy quan tâm nhiều hơn đến nguồn tri thức cổ này ở bất cứ nơi nào quý vị thiết lập đền thờ và các trung tâm khác nhau. Đây là một đóng góp thực sự quý vị có thể mang lại cho toàn thế giới.”

Ngài cho rằng Phật giáo và Ấn giáo giống như các huynh đệ tâm linh, lời chia sẻ này đã nhận được sự tán thán nồng nhiệt khắp hội trường. Ngài cho rằng hai truyền thống tâm linh cùng chia sẻ về Giới-định-tuệ (Shila, shamatha và prajna) tuy nhiên khác biệt nằm ở quan điểm atman hay anatman. Ngài nhớ lại buổi gặp gỡ với một lãnh đạo tâm linh ở  Bangalore vài năm trước đây, vị lãnh đạo đó đã tổ chức phân phát thực phẩm cho rất nhiều người nghèo với quy mô rất lớn. Các ngài đã thảo luận về sự tương đồng giữa các truyền thống tâm linh cho đến khi ngài cho rằng, là một tu sĩ Phật giáo, quan điểm anatman là phù hợp hơn; tuy nhiên vị lãnh đạo tâm linh Ấn giáo lại cho rằng quan điểm atman phù hợp. Mặc dù có sự khác biệt, nhưng ngài cho rằng đó là quyết định cá nhân của riêng mỗi người.

Ngài nhắc nhở lại rằng tất cả các truyền thống tôn giáo lớn đều răn dạy về tâm từ bi, sự tha thứ và kỷ luật tự thân. Đối với những tín đồ có niềm tin sâu sắc nơi một đấng sáng tạo, một đức tin chuyên nhất nơi Đức Chúa là một pháp thực hành đầy năng lực. Đối với những ai có niềm tin vào quan hệ nhân quả thì nếu làm điều thiện, sẽ nhận được lợi lạc và nếu làm điều ác thì sẽ dẫn tới khổ đau. Mục đích của tất cả những truyền thống này là mang lại lợi lạc cho nhân loại. Đó là lý do ngài đang nỗ lực rất nhiều để thúc đẩy sự hòa hợp giữa các tôn giáo. Nhắc lại một dịp ở Úc, khi một đạo hữu Công giáo đã giới thiệu ngài là một người Công giáo thiện lành và đến lượt mình, ngài cũng coi đạo hữu Công giáo người Úc là một Phật tử thuần thành, và ở đây ngài xin nhận là một người Ấn giáo thành tâm.

Ngài cũng nhận xét rằng có rất nhiều điểm chung giữa Ấn giáo và Phật giáo Kim cương thừa (Tantra). Ngài chia sẻ về việc mình đã rất mong nguyện được thảo luận các kinh nghiệm với các hành giả đã  dành nhiều năm ẩn tu trên các vùng núi cao. Khi Ashok Singhal mời ngài tham dự Mahakumbh Mela cuối cùng, ngài đã rất mong đợi nhưng bởi lý do thời tiết nên đã không cho phép.

“Những cơ hội như vậy cho phép phát triển sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, đó là cơ sở của sự hài hòa hợp. Luận điểm của tôi có rõ ràng với quý vị? Đó là tất cả những gì tôi muốn chia sẻ. Xin cảm ơn quý vị.”

Trong thông điệp của mình đến Đại hội, ngài Swami Dayanand Sarasvati cho biết, bản thân rất vui khi biết các nhà lãnh đạo Ấn giáo đã hiện diện cùng nhau trong bối cảnh đang diễn ra những sự thay đổi thuận lợi trên thế giới Ấn giáo. Ashok Singhal đã có bài phát biểu nồng nhiệt bằng tiếng Hin-di về trọng tâm của Hiệp hội Ấn giáo Thế giới là làm nổi bật hình ảnh những người Ấn giáo vô úy. Một ấn phẩm mới mang tên Prabodhan đã được phát hành. C.V. Wigneswaran, Bộ trưởng tỉnh phía Bắc Sri Lanka, thông báo việc thu thập những kinh nghiệm của Ấn Độ giáo ở nước này. Tiến sĩ Mohanrao Bhagwat lập luận về việc đây có phải là thời điểm thuận lợi cho sự hồi sinh của Ấn giáo hay không. Ông thừa nhận quan điểm của Đức Đạt Lai Lạt Ma về bản chất đồng nhất của con người và xác định một người Ấn giáo là một con người thấy được sự thống nhất trong đa dạng. Những gì người Ấn giáo cần đóng góp, theo ông, chính là các giá trị của họ.

Naresh Kumar, Phó Chủ tịch Ban Tổ chức bày tỏ thêm lời tri ân sâu sắc trước khi phiên họp thứ nhất Hội nghị Ấn giáo Thế giới kết thúc.

Nguồn: Dalailama.com

Người dịch: Phúc Cường

Advertisements
Categories: Sinh Hoạt Tôn Giáo | Leave a comment

Bộ Ngoại giao Mỹ: Đường chín đoạn ở Biển Đông phi lý và phi pháp

Bộ Ngoại giao Mỹ: Đường chín đoạn ở Biển Đông phi lý và phi pháp

Trọng Nghĩa

Biển Đông vẫn căng thẳng do mưu đồ độc chiến Biển Đông của Trung Quốc.Reuters

Vào lúc tranh cãi Manila-Bắc Kinh về vụ Philippines kiện đường lưỡi bò Trung Quốc ở Biển Đông bùng lên gay gắt trở lại, Washington lần đầu tiên chính thức nhập cuộc. Một văn kiện chính thức của Bộ Ngoại giao Mỹ, công bố ngày 05/12/2014 phân tích cặn kẽ yêu sách chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông trong bản đồ 9 đoạn và nêu bật các tính chất mơ hồ, phi lý và phi pháp của các đòi hỏi.

Trong bản nghiên cứu số 143 về các Ranh giới trên biển (Limits in the Seas) mang tựa đề : Trung Quốc Yêu sách trên biển Nam Trung Hoa (tức Biển Đông) – China Maritime Claims in the South China Sea, Vụ Đại dương và các vấn đề Khoa học và Môi trường Quốc tế của Bộ Ngoại giao Mỹ đã tập trung phân tích«các đòi hỏi chủ quyền trên biển của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đặc biệt là yêu sách của “đường gián đoạn” bao quanh các hòn đảo và vùng nước tại Biển Đông».

Ngay trong phần mở đầu, tài liệu dài 24 trang, kèm theo rất nhiều bản đồ dẫn chứng, đã nhắc lại sự kiện Bắc Kinh gởi công hàm cùng tấm bản đồ 9 đường gián đoạn đến Liên Hiệp Quốc vào tháng 05/2009 để khẳng định chủ quyền Trung Quốc tại Biển Đông, một sự khẳng định đã bị các nước Việt Nam, Indonesia và Philippines phản đối, cho rằng tấm bản đồ đó không có cơ sở pháp lý dựa theo luật biển Liên Hiệp Quốc.

Bản đồ rất mơ hồ

Điểm đáng chú ý được bản báo cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ ghi nhận là vào năm 2011, Trung Quốc đã gởi thêm một công hàm khác đến Liên Hiệp Quốc, nhắc lại các yêu sách của họ đã được ghi trong công hàm năm 2009, và bổ sung thêm hàng chữ: «Chủ quyền của Trung Quốc, cùng với các quyền liên quan và quyền tài phán tại Biển Đông được chứng tỏ bằng vô số bằng chứng lịch sử và pháp lý».

Vấn đề được Bộ Ngoại giao Mỹ nêu bật là: «Trung Quốc đã không làm rõ bằng luật lệ, tuyên cáo, hoặc văn kiện chính thức nào khác các cơ sở hay bản chất pháp lý của các yêu sách liên quan đến tấm bản đồ với đường gián đoạn». Trong tình hình đó, nghiên cứu của Bộ Ngoại giao Mỹ đưa ra nhiều diễn giải khác nhau về các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc, để xem diễn giải nào phù hợp với luật pháp quốc tế về biển.

Bản báo cáo của Mỹ đã xem xét ba cách giải thích khác nhau về đường gián đoạn mà Trung Quốc vẽ ra trên Biển Đông : (1) Ranh giới xác định chủ quyền trên các hòn đảo, (2) Biên giới trên biển của một quốc gia – mà ở đây là Trung Quốc; (3) Ranh giới xác định chủ quyền lịch sử.

Các đường gián đoạn lung tung và không nhất quán

Nhận định đầu tiên của bản báo cáo này là các đường gián đoạn đã được vẽ rất lung tung, không nhất quán. Trang 5 bản báo cáo ghi nhận: «Công việc mô tả các đường đứt đoạn của Trung Quốc về mặt địa lý rất phức tạp do mâu thuẫn giữa bản đồ năm 2009 và những tấm bản đồ khác cũng của Trung Quốc, chẳng hạn như bản đồ năm 1947, thậm chí cả các bản đồ đương đại (xuất bản năm 2013-2014) vì các bản đồ này cho thấy những đường gián đoạn có kích cỡ khác nhau và ở những vị trí khác nhau».

Nhận xét khác là các đường gián đoạn – phân thành 9 vạch – lại gần bờ biển các nước bao quanh Biển Đông như Việt Nam, Philippines, Indonesia hay Malaysia, hơn là gần các hòn đảo, chưa nói đến việc rất xa bờ biển Trung Quốc. Một ví dụ: Vạch số 1 chỉ cách bờ biển Việt Nam 50 hải lý, và cách đảo Lý Sơn 36 hải lý! Kỷ lục là vạch số 4, chỉ cách đảo Borneo của Malaysia 24 hải lý mà thôi.

Trong phần phân tích, các tác giả bản báo cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ đã thử tìm hiểu xem phải chăng các đường gián đoạn của Trung Quốc được dùng để xác định ranh giới các đảo mà Trung Quốc đòi chủ quyền, hay là biên giới quốc gia của Trung Quốc. Trong hai giả thuyết này, các đường ranh đó hoàn toàn không phù hợp với luật lệ quốc tế hiện hành.

Không có cơ sở pháp lý nào cho việc đòi chủ quyền lịch sử

Riêng trong trường hợp thứ ba là dùng đường đứt đoạn để xác định chủ quyền lịch sử, thì bản báo cáo xác định là yêu sách của Trung Quốc không phù hợp với luật quốc tế.

Theo bản báo cáo, khi đòi hỏi chủ quyền lịch sử, một quốc gia phải công bố rộng rãi yêu sách đó để quốc tế biết đến. Điều này thường được thực hiện qua các thông báo chính thức. Thế nhưng các tấm bản đồ 9 đường gián đoạn khác nhau của Trung Quốc lại không chính xác hoặc không nhất quán, do đó không đáp ứng được điều kiện này.

Ngoài ra, theo báo cáo, yêu sách chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông cũng không đáp ứng ba yêu cầu căn bản: (1) Thẩm quyền không được hành xử một cách công khai, thực thụ và được mọi người biết đến; (2) Thẩm quyền không được hành xử một cách liên tụ ; (3) Thẩm quyền không có sự chấp thuận của các nước ngoài.

Lúc nào Trung Quốc cũng nói đến chủ quyền lịch sử không thể chối cãi của họ ở Biển Đông. Ngày 07/12/2014 chẳng hạn, theo tin Tân Hoa Xã, trong bản Tuyên bố lập trường về việc bác bỏ vụ kiện của Philippines, Bắc Kinh đã tái khẳng định rằng :

«Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các quần đảo ở Biển Đông (quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (tức Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa và quần đảo Nam Sa (tức Trường Sa) và các vùng biển lân cận. Các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông có từ hơn 2.000 năm trước đây. Trung Quốc là quốc gia đầu tiên phát hiện, đặt tên, khám phá và khai thác các nguồn tài nguyên ở Biển Đông, và là bước đầu tiên thực hiện quyền chủ quyền trên các đảo này.

Từ năm 1930 đến năm 1940, Nhật Bản đã chiếm cứ bất hợp pháp một số quần đảo trên Biển Đông trong cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc. Vào cuối của Chiến tranh Thế giới Thứ hai, Chính phủ Trung Quốc đã lại tiếp tục hành xử chủ quyền đối với các quần đảo ở Biển Đông…»

Đối với Bộ Ngoại giao Mỹ, lý luận của Trung Quốc về chủ quyền lịch sử của họ trên Biển Đông không đứng vững. Bản báo cáo kết luận: «Trừ phi Trung Quốc làm rõ rằng yêu sách chủ quyền gói trong các đường gián đoạn chỉ nhắm vào các đảo nằm bên trong và các vùng hải phận được tạo ra từ những thực thể địa dư theo quy định của luật biển quốc tế, như được phản ánh trong Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, nếu không thì yêu sách chủ quyền thể hiện qua các đường gián đoạn không phù hợp với pháp luật quốc tế về biển».

T.N

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Giới học giả Đức phê phán gay gắt hành động của Trung Quốc ở Biển Đông

Giới học giả Đức phê phán gay gắt hành động của Trung Quốc ở Biển Đông

Tối 9/12, hội thảo khoa học “Xung đột ở Biển Đông“ đã diễn ra tại trụ sở báo “Die Tageszeitung“ (TAZ) ở thủ đô Berlin (Đức).
 >> Trung Quốc bành trướng khiến Indonesia tăng chi tiêu quốc phòng lên 20 tỉ USD
 >> Biển Đông nóng lên bởi “cuộc so găng” Trung – Mỹ

Hội thảo được tiến hành dưới sự chủ trì của Tiến sỹ Gerhard Will – nguyên chuyên viên cao cấp Viện Khoa học và Chính trị Đức, đã thu hút sự tham gia của khoảng 40 học giả, nhà nghiên cứu, hoạt động xã hội và sinh viên của Đức cùng một số kiều bào người Việt đang sinh sống và làm việc tại Đức.
Các học giả tham dự hội thảo (ảnh: Nguyên Đức)
Các học giả tham dự hội thảo (ảnh: Nguyên Đức)

Theo phóng viên TTXVN tại Đức, là người đầu tiên trình bày tham luận, Tiến sỹ Gerhard Will đã điểm lại khái quát những vấn đề lịch sử và các diễn biến gần đây ở Biển Đông, nguy cơ gia tăng căng thẳng khi Trung Quốc tiến hành xây dựng trái phép các đảo và tăng cường hoạt động quân sự ở Biển Đông và dự báo một số khả năng và khuyến nghị chính sách cho các bên. Theo Tiến sỹ Will, khu vực Biển Đông – tuyến hàng hải quốc tế nhộn nhịp hàng đầu thế giới, có tầm quan trọng đặc biệt đối với thương mại toàn cầu. Do vậy, cộng đồng quốc tế, trong đó có Đức, có lợi ích sống còn trong việc duy trì môi trường hoà bình, bảo đảm thông thương hàng hải, hàng không đối với các tuyến đường qua Biển Đông.

Tiến sĩ Will cho rằng những diễn biến gần đây như việc Trung Quốc đẩy mạnh hoạt động xây dựng đảo trái phép ở Hoàng Sa, Trường Sa cùng với trước đó là hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đã làm tình hình khu vực gia tăng căng thẳng trở lại. Chuyên gia này cho rằng hành động xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc ở Biển Đông cũng như củng cố, mở rộng một số đảo như đảo Chữ Thập, đảo Gạc Ma là trái với luật pháp quốc tế, vi phạm Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sự phá vỡ nguyên trạng các đảo này sẽ tác động tiêu cực tới an ninh, ổn định ở khu vực và thế giới.
Toàn cảnh hội thảo
Toàn cảnh hội thảo

Liên quan việc Trung Quốc thời gian gần đây tăng cường mạnh tiềm lực quốc phòng, đặc biệt với hải quân, Tiến sỹ Will cho rằng điều này có nguy cơ dẫn tới một cuộc chạy đua vũ trang giữa các nước trong khu vực cả ở Đông Bắc Á và Đông Nam Á. Theo ông, đây là một diễn biến nguy hiểm, có thể dẫn tới mất ổn định và an ninh của khu vực cũng như không có lợi cho tất cả các bên liên quan. Chuyên gia người Đức này cho rằng việc giải quyết tình hình Biển Đông cần phải thông qua thương lượng, đàm phán trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Cụ thể, các bên cần xây dựng lòng tin dựa trên cả hai trụ cột là hợp tác về kinh tế và đối thoại về chính trị, luôn duy trì cơ chế đối thoại ở cả cấp độ song phương lẫn đa phương. Ngoài ra, các bên cần trao đổi thẳng thắn về yêu sách chủ quyền của mình ở khu vực Biển Đông, thậm chí nên khoanh vùng những khu vực xung đột để đàm phán giải quyết từng vụ việc, trên cơ sở các nguyên tắc hợp tác chính trị chung.

Tham gia trình bày tham luận tại Hội thảo, Tiến sỹ Andreas Seifert – chuyên gia phân tích quân sự thuộc Hội nghiên cứu quân sự Tuebingen của Đức, đã đi sâu đánh giá về yêu sách đường 9 chín đoạn của Trung Quốc ở Biển Đông và cách thức tuyên truyền của Trung Quốc đối với hoạt động xây dựng đảo trái phép ở Biển Đông. Tác giả cho rằng yêu sách đường 9 đoạn của Trung Quốc là phi lý xét cả về mặt pháp lý và địa lý, cố tình tạo sự mập mờ cho cả dư luận nước này và dư luận quốc tế. Theo ông, yêu sách của Trung Quốc xuất phát từ một lý do quan trọng là lượng dự trữ dồi dào về dầu mỏ, khí đốt và tài nguyên biển ở Biển Đông, cũng như vị trí địa chính trị chiến lược của Biển Đông nằm trên tuyến huyết mạch của hàng hải quốc tế. Theo ông Seifer , các quốc gia láng giếng cũng cần hết sức cảnh giác với ý đồ về đường 9 chín đoạn và chiến thuật xây dựng, củng cố các đảo ở Hoàng Sa, Trường Sa của Trung Quốc.

Bài phát biểu của Giáo sư, Tiến sỹ chính trị học Howard Loewen thuộc Viện nghiên cứu hoà bình Hamburg, ngoài đánh giá về những kinh nghiệm rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc ra Toà án quốc tế về Luật biển, cũng phân tích về vai trò của cơ chế an ninh khu vực đối với việc bảo đảm hoà bình ở Biển Đông. Tác giả nhận định kết cấu an ninh khu vực Đông Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng hiện thiếu ổn định mặc dù có hợp tác ở cả hai cấp độ song phương và đa phương. Ông cho rằng để bảo đảm ổn định tình hình Biển Đông cần có sự cân bằng quyền lực ở khu vực, trong đó các nước lớn như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, Nga và Australia phải có tiếng nói mạnh mẽ hơn phản đối các yêu sách của Trung Quốc và tăng cường những ảnh hưởng cần có ở khu vực này. Tuy nhiên, một sự cân bằng quyền lực ở Đông Nam Á chỉ có giá trị khi nó gắn với một cấu trúc an ninh khu vực được định hình rõ ràng hơn.

Trong phần thảo luận, liên quan câu hỏi của một số người tham dự đề nghị cho biết đánh giá về triển vọng giải pháp cho vấn đề Biển Đông, Tiến sỹ Seifert và Giáo sư Loewen có chung nhận định rằng tranh chấp ở Biển Đông chỉ có thể giải quyết thông qua các biện pháp hoà bình, tuân thủ Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 và cộng đồng quốc tế cần tiếp tục có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong giải quyết tranh chấp ở khu vực này. Theo Tiến sỹ Will, điều quan trọng hiện nay là các nước trong khu vực, nhất là Trung Quốc, không được phá vỡ nguyên trạng các đảo ở Biển Đông và không nên chủ trương chạy đua vũ trang mà thay vào đó là chuyển những khoản chi này cho đầu tư hợp tác và phát triển kinh tế.

Cuộc Hội thảo khoa học về Biển Đông diễn ra tại Berlin đã giúp các nhà nghiên cứu, giới học giả quan tâm tới vấn đề Biển Đông có được cái nhìn đa chiều và rõ ràng hơn liên quan tới những căng thẳng gần đây trong khu vực, đặc biệt là âm mưu từng bước độc chiếm toàn bộ khu vực Biển Đông của Trung Quốc. Báo “Die Tageszeitung“, đơn vị bảo trợ tổ chức hội thảo, là một trong những tờ báo lớn tại Đức và là nơi thường xuyên diễn ra các cuộc thảo luận, hội thảo về các vấn đề thời sự quốc tế.

Theo Nguyên Đức/Tin tức

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.