Daily Archives: December 29, 2014

Tiến sỹ Jim Tucker trao đổi về nghiên cứu luân hồi trong khoa học Mỹ

Tiến sỹ Jim Tucker trao đổi về nghiên cứu luân hồi trong khoa học Mỹ

Chia sẻ bài viết này

Tiến sỹ Jim Tucker (Ảnh: Dan Addison/Ban quan hệ công chúng Đại học Virginia Public Affairs/Phòng Hình ảnh)

Vũ trụ chứa đầy những điều bí ẩn và thách đố tri thức của nhân loại. Bộ sưu tập những câu chuyện “Khoa học Huyền bí” của Thời báo Đại Kỷ Nguyên (Epoch Times) về những hiện tượng lạ thường đã kích thích trí tưởng tượng và mở ra những khả năng chưa từng mơ tới. Chúng có thật hay không? Điều đó tùy bạn quyết định!

Tiến sĩ Jim Tucker học hỏi được những điều tốt nhất. Bậc tiền bối của ông trong nghiên cứu luân hồi tại Đại học Virginia – Tiến sĩ Ian Stevenson (1918-2007) – được cộng đồng khoa học Mỹ trọng vọng bởi các phân tích đúng mực, ngay cả khi ông đã không thuyết phục được tất cả mọi người rằng luân hồi chắc chắn tồn tại.

Mặc dù làm việc tại Hoa Kỳ, khá nhiều đối tượng nghiên cứu của tiến sĩ Stevenson là ở châu Á. Tiến sĩ Tucker đang đưa các nghiên cứu này tới Mỹ. Điều này mang đến nhiều lợi ích nhưng cũng đầy thách thức.

Bạn sẽ không tìm thấy Phật tử nào trên mỗi góc phố ở đây chịu nói cho bạn nghe về tiền kiếp – hoặc, quan trọng hơn, sẵn sàng lắng nghe bọn trẻ của họ nói về tiền kiếp.

Nói thế không phải để làm giảm giá trị của những nghiên cứu từ tiến sỹ Stevenson. Tiến sỹ Stevenson đã ghi lại hàng ngàn trường hợp trẻ em – những trẻ có vẻ như nhớ được về kiếp trước của chúng, và một vài “ký ức” chính xác đến mức tiến sỹ Steveson có thể kiểm chứng điều được cho là hiện thân tiền kiếp của họ. Ông đã tìm thấy các báo cáo điều tra về những cái chết bất thường và các tài liệu khác, để chứng thực những chi tiết mà đứa trẻ mô tả về cuộc sống tiền kiếp và cái chết trong kiếp đó của chúng. Chúng được gọi là các trường hợp luân hồi “đã gỡ nút”.

Nhưng các trường hợp của châu Á có khả năng bị bác bỏ tại Mỹ, bị xem là sự biến thái tâm lý trong hệ thống tín ngưỡng hiện hành.

Tại Mỹ, nếu một đứa trẻ nói về một người mẹ khác, những đứa cháu khác hoặc chúng đã từng chết do hỏa hoạn, cha mẹ chúng sẽ không nhanh chóng đoán ra rằng đó có thể là ký ức của chúng từ kiếp trước.

Khi tiến hành khảo sát ở Mỹ, các nhà khoa học không phải lo ngại đến yếu tố gia đình có thể ảnh hưởng đến trẻ bằng những câu hỏi thăm dò hoặc nói về những kiếp trước. “Chúng tôi không phải lo rằng các yếu tố văn hóa có thể ảnh hưởng đến kết quả giống như các trường hợp ở châu Á”, Tiến sĩ Tucker cho biết.

Nhưng mặt khác, vì không ai tìm về những ký ức tiền kiếp, nên rất khó phát hiện ra người nhớ được kiếp trước. Tiến sĩ Tucker đã nghiên cứu nhiều trường hợp rõ nét tại Mỹ, nhiều trong số đó có thể so sánh ngang với các trường hợp luân hồi “đã gỡ nút” tại châu Á của Tiến sỹ Stevenson.

Không những không nói gì đến tiền kiếp, nhiều gia đình người Mỹ mà tiến sỹ Tucker từng làm việc thậm chí còn một mực chống lại. Chỉ sau khi xuất hiện các chứng cứ thuyết phục cho thấy đứa trẻ nhớ được một cuộc sống trong tiền kiếp – các chứng cứ khiến những ông bố bà mẹ đầy hoài nghi phải bị thuyết phục – tiến sĩ Tucker mới có thể biết được thông tin từ họ.

Ví dụ, một tín đồ Ki-tô giáo theo phái Phúc âm ở Louisiana – người hoàn toàn phản bác ý tưởng về luân hồi – cuối cùng đã bị thuyết phục bởi các chi tiết về kiếp trước mà con trai của ông đã cung cấp.

Khi con trai của ông, James Leininger, lên 2 tuổi, cháu bắt đầu có những ác mộng kinh hoàng về tai nạn rơi máy bay. Cậu bé nói máy bay của cậu bị bắn rơi bởi người Nhật, rằng máy bay của mình cất cánh từ tàu Natoma, và cậu đã có một người bạn tên là Jack Larson. Từ một bức ảnh, cậu cũng xác định vùng máy bay rơi là Iwo Jima.

Iwo Jima là một hòn đảo mà Hoa Kỳ đã chiếm năm 1945. Tàu Natoma đã thực sự tham gia vào cuộc chiến giành lại Iwo Jima. Một phi công đã chết trong trận chiến, và cũng có một phi công tên là Jack Larson trên tàu Natoma.

Leininger bắt đầu nói cậu là James thứ ba. Phi công đã thiệt mạng trong trận chiến giành Iwo Jima có tên là James Huston Jr (viết tắt của Junier, nghĩa là James Huston cháu/con/em). James Leininger có thể là James thứ ba nếu cậu là hóa thân kiếp này của người phi công đó.

Tiến sĩ Tucker lớn lên với tín ngưỡng Baptist Phương nam [1]. Khi được hỏi gia đình ông cảm thấy thế nào về các nghiên cứu này, ông nói: “Tôi không biết rõ họ có cảm nhận gì”. Mẹ ủng hộ ông, mặc dù ông không chắc chắn bà có bị thuyết phục bởi sự tồn tại của luân hồi. Vợ con của ông cũng ủng hộ các nghiên cứu này.

Ông cũng may mắn được làm việc với các đồng nghiệp luôn ủng hộ mình tại Đại học Virginia. Bộ môn Nghiên cứu Tri giác tập hợp các nhà nghiên cứu về trải nghiệm cận tử, bóng ma, cảnh tượng lúc chết và các chủ đề khác liên quan đến ý thức con người.

“Bạn không bao giờ biết được ai sẽ sẵn sàng tiếp nhận nó”, tiến sĩ Tucker nói. “Có nhiều cách để xác định, nhưng tôi cho rằng chúng tôi đang có một cách tiếp cận hợp lý và là cách tiếp cận khoa học bởi sự ham hiểu biết, cố gắng tìm hiểu xem điều gì đang xảy ra mà không có bất kỳ định kiến nào”.

Ông cũng tiến hành các nghiên cứu khác song song với nghiên cứu về luân hồi. Trong khi các phương pháp khảo sát khoa học truyền thống có thể đo lường các hiện tượng một cách khá chắc chắn, tiến sĩ Tucker cho biết có rất nhiều đối tượng quan trọng không nhất thiết phải tuân theo phương pháp nghiên cứu truyền thống. Mặc dù vậy, chúng cần được tiếp tục khám phá.

Lợi ích của nghiên cứu luân hồi

Nghiên cứu luân hồi có thể giúp một số trẻ em gặp khó khăn khi phải đối mặt với các ký ức tiền kiếp. Đôi khi những trẻ này thậm chí xuất hiện triệu chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD) do ký ức đáng sợ về cái chết. Một số bị ám ảnh bởi những hình ảnh đau thương, và một số đơn giản nhắc đến sự vắng mặt của các thành viên gia đình trong tiền kiếp đến mức trở nên đặc biệt khích động. Trong các trường hợp đã gỡ nút, một số đã viếng thăm các gia đình trong tiền kiếp, nhờ vậy giải quyết được các vấn đề tâm lý mà họ gặp phải.

Tiến sĩ Tucker giải thích rằng đôi khi biện pháp này hiệu quả bởi ký ức của trẻ được công nhận, hoặc bởi trẻ có thể nhận thấy gia đình cũ của mình vẫn ổn và rằng đó là cuộc sống trong quá khứ. Dù bằng cách nào, trẻ em thường ngừng nói về cuộc sống trong quá khứ của chúng khi chúng khoảng 6 – 7 tuổi.

Một lợi ích khác là những nghiên cứu này có thể giúp người Mỹ có niềm tin vào thế giới bên kia. Tiến sĩ Tucker hy vọng rằng nghiên cứu của ông có thể giúp mọi người đối xử với nhau tốt hơn, mặc dù ông nói rằng bất cứ loại tín ngưỡng nào, cho dù có quan điểm luân hồi hay không, đều có thể làm được điều này.

Liệu có một ngày người Mỹ sẽ mở lòng để chấp nhận quan điểm về luân hồi như con người trong văn hóa phương Đông? “Tôi không nhất định phải thấy nền văn hóa Mỹ đi theo hướng đó”, tiến sĩ Tucker nói. Khoảng 20% người Mỹ tin vàoluân hồi, ông nói, và không có dấu hiệu cho thấy con số trên tăng lên. Nhưng người Mỹ có thể có nhiều khả năng tin vào sự tái sinh sau khi biết đến các ví dụ về chính những đứa trẻ Mỹ, trong văn hóa Mỹ, có thể nhớ lại tiền kiếp, chứ không phải là những ví dụ đến từ phần còn lại của thế giới.

Vì nhiều chi tiết mà trẻ đưa ra về cuộc sống trong tiền kiếp ăn khớp với những người thực sự tồn tại nhưng đã qua đời, tiến sĩ Tucker cho biết, “nó bác bỏ logic cho rằng đó chỉ là một sự trùng hợp”.

Ông đưa ra ví dụ về một người phụ nữ ở Lebanon đã đưa ra chính xác tên của 25 người quen trong cuộc sống tiền kiếp của cô, kèm theo các mô tả về mối quan hệ của họ. Trong cuốn sách mang tên “Return to Life: Extraordinary Cases of Children Who Remember Past Lives” (tạm dịch: “Luân hồi: Những trường hợp bất thường của trẻ em có ký ức tiền kiếp”), tiến sĩ Tucker đưa ra nhiều ví dụ về trẻ em ở Mỹ và ở nước ngoài có ký ức rõ ràng về cuộc sống trước đây đã khẳng định niềm tin vào cuộc sống sau khi chết.

Theo TaraMacIsaac trên Twitter, hãy truy cập trang Khoa học Epoch Times Beyond trên Facebook, và đăng ký nhận bản tin Beyond Science để tiếp tục khám phá những lĩnh vực mới của khoa học!

Advertisements
Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Trung Quốc cần Т-50 để làm gì?

Trung Quốc cần Т-50 để làm gì?

28/12/2014 6:24 (GMT+7)

Nguồn infonet.vn

Lần ra mắt của tiêm kích thế hệ 5 J-31 của Trung Quốc tại triển lãm hàng không AirShow China 2014 ở Chu Hải gần như không được để ý.

Sản phẩm mới chủ yếu của Trung Quốc, đúng như dự đoán của các chuyên gia hàng không, không phải là thành quả của sự tiến hóa lâu dài của tư duy kỹ thuật, mà là sự chắp ghép khéo léo các ý tưởng của người khác mà một phần trong số đó Bắc Kinh chôm được bất hợp pháp. Gây ồn ào hơn nhiều là việc đàm phán thương vụ dự kiến bán tiêm kích tối tân Su-35 của Nga cho Trung Quốc. Nước này dự định mua không dưới 1 phi đội 24 chiếc Su-35.

Động cơ của tiến bộ

Đặc điểm của Su-35 là ở chỗ nó được xem như nấc thang cuối cùng hay là mẫu quá độ trước khi xuất hiện tiêm kích thế hệ T-50 trong quân đội Nga. Trên Su-35 có nhiều thiết bị và cơ cấu được chế tạo chính là cho máy bay hiện đại hơn này (T-50). Ví dụ như động cơ 117S. Nó được phát triển trên cơ sở các động cơ trước đó AL-31F lắp trên Su-27, nhưng có lực đẩy mạnh hơn là 14,5 tấn so với 12,5 tấn, tuổi thọ dài hơn và tiêu thụ nhiên liệu ít hơn. Điều đó đem lại cho máy bay không chỉ tốc độ và sức cơ động cao hơn, mà còn cả khả năng mang nhiều vũ khí hơn. Và chính động cơ này sẽ được lắp cho các tiêm kích Т-50 sản xuất loạt đầu tiên.

Yếu tố mới quan trọng thứ hai là tổ hợp radar anten mạng pha Irbis có những tính năng mà hiện tại là hiếm có về tầm phát hiện mục tiêu. Xét về tính năng, radar này tiếp cận radar trên tiêm kích thế hệ 5 F-22 của Mỹ. Ở các hướng ngược chiều, radar Irbis-E có thể phát hiện mục tiêu ở tầm đến 350-400 km, mà đây là thông số hiếm có đối với các trạm radar trên khoang hiện đại. Ở cự ly đó, tiêm kích có thể nhìn thấy tàu sân bay, ở tầm 150-200 km – nhìn thấy cầu đường sắt, ở tầm 100-120 km – nhìn thấy xuồng, ở tầm 60-70 km – nhín thấy bệ phóng tên lửa chiến thuật-chiến dịch hay một tốp xe bọc thép và xe tăng. Và có thể tiêu diệt chúng một cách phù hợp.

Đồng thời, trong phái đoàn Nga người ta cũng che giấu việc Trung Quốc quan tâm đến Su-35 không chỉ là bởi chính tiêm kích này mà là cơ hội sao chép động cơ và radar để phát triển chương trình tiêm kích thế hệ 5 J-20 hạng năng và J-31 hạng nhẹ của họ.

Cả 2 máy bay này được định vị như sự đáp trả đối với các tiêm kích thế hệ 5 F-22 Raptor và F-35 Lightning II của Mỹ. Theo các quan chức công ty chế tạo máy bay Trung Quốc AVIC, J-31 được phát triển “không phải để cho các thị trường nước ngoài và cạnh tranh với F-35, mà dành cho không quân Trung Quốc”. Nhưng điều đó thật khó tin. Trong những năm gần đây, Bắc Kinh đã trở thành một trong những đấu thủ chính trên thị trường vũ khí các nước thế giới thứ ba. Ví dụ, Bangladesh, Li-băng, Iran, Malaysia, Maroc, Nigeria, Sri Lanka và Algeria, nơi họ chèn ép thành công không chỉ các công ty của phương Tây mà cả của Nga. Theo Tân Hoa xã, Trung Quốc đã kết thúc triển lãm Chu Hải với hơn 300 hợp đồng trị giá kỷ lục 23,4 tỷ USD.

Trung Quốc làm nhái như chảo chớp

Năm 2003, Moskva và Bắc Kinh đã ký hợp đồng sản xuất Su-27SK theo giấy phép tại Trung Quốc. Nhưng kết quả là trong 200 bộ linh kiện đặt hàng, Trung Quốc chỉ mua có một nửa lấy cớ là Su-27 có khả năng chiến đấu kém. Rồi họ tập trung vào dự án J-11B của mình. Nhưng tất cả đều biết rằng, J-11B cơ bản là sao chép các máy bay Su-27/30. Song song, Trung Quốc với sự hỗ trợ của Nga đã chế tạo ra 2 đối thủ cho tiêm kích Nga MiG-29 là J-10 và FC-1. Theo đánh giá của Trung Quốc, việc sản xuất theo giấy phép Su-27SK đã đưa trình độ công nghệ của Tổng công ty chế tạo máy bay Thẩm Dương tiến lên 20-25 năm. Còn việc chế tạo bản sao chép máy bay Nga là J-11B đã là bước nhảy vọt về chất của công nghiệp hàng không Trung Quốc.

Một ví dụ khác là việc chế tạo tiêm kích trên hạm J-15 sao chép Su-33 của Nga để trang bị cho tàu sân bay Liêu Ninh, vốn là tàu sân bay Varyag đóng dở của Hải quân Liên Xô mà Ukraine bán cho Trung Quốc vào cuối thập niên 1990. Varyag bỏ neo ở bến cảng Đại Liên từ năm 2002. Trong suốt thời gian này, các chuyên gia Trung Quốc miệt mài sửa chữa và hiện đại hóa tàu này. Bắc Kinh không hề che giấu là họ coi tàu sân bay cũ của Liên Xô này là phương tiện để kiểm nghiệm các công nghệ đóng đội tàu sân bay của họ. Khó khăn duy nhất để họ thực hiện các kế hoạch này là không có các máy bay có khả năng hạ cánh lên boong tàu sân bay, cũng như kinh nghiệm huấn luyện phi công trên hạm. Người Trung Quốc cũng đã sao chép công nghệ hạ cánh cho tiêm kích lên tàu sân bay từ mẫu chế thử T-10K của Su-33 bị sót lại Ukraine sau khi Liên Xô tan vỡ.

Mắt xích yếu của ngành công nghiệp sao chép Trung Quốc

“Tốc độ phát triển của chương trình chế tạo máy bay của Trung Quốc thật ấn tượng. Nhưng không nên quên rằng, trong ngành hàng không, hình thức phải tương ứng với nội dung. Những đường bao tàng hình của thân máy bay J-31 và J-20 chưa đủ để biến chúng làm thành máy bay thế hệ 5. Chủ yếu là cái gì sẽ có bên trong các tiêm kích này: động cơ, radar, thiết bị điện tử trên khoang – chính chúng sẽ quyết định sự tương xứng của các tiêm kích với thế hệ này hay thế hệ khác”, GS Viện Hàn lâm khoa học quân sự Nga Vadim Kozyulin đánh giá.

Hiện thời, cả hai tiêm kích này còn lâu mới hoàn thiện. Trên J-31 và J-20 vẫn là các động cơ Nga AL-31F. Trên J-10 và FC-1 là RD-93 của Nga. Mặc dù cả hai loại động cơ này đã bị các nhà sản xuất Trung Quốc sao chép, Bắc Kinh vẫn thích mua sản phẩm tương tự của Moskva. Tuổi thọ và độ tin cậy của các động cơ hàng rởm của Trung Quốc chưa sánh được trình độ của Nga. Trung Quốc cũng bế tắc trong các vấn đề như radar, vật liệu composite. Với sự xuất hiện của Su-35 ở Trung Quốc, dự kiến sẽ có một cú nhảy vọt công nghệ nữa trong phát triển công nghiệp hàng không Trung Quốc.

Gần đây, Bắc Kinh đang trở thành một đối tác chính của Nga. Nga đang xây dựng các nhánh đường ống dẫn khí đến Trung Quốc, sẵn sàng chia xẻ công nghệ chế tạo máy bay. Tại triển lãm AirShow China 2014, Tổng công ty quốc doanh Rostekh của Nga đã ký nhiều hợp đồng hợp tác trong nhiều dự án then chốt đối với công nghiệp Trung Quốc. Còn Tổng công ty Chế tạo động cơ thống nhất ODK của Nga và Tổng công ty CATIC của Trung Quốc đã ký hợp đồng phát triển chương trình động cơ RD-93 trù tính hiện đại hóa động cơ này để tăng lực đẩy và tổ chức cung cấp động cơ này cho Trung Quốc.

Tại gian trưng bày của ODK đã giới thiệu các động cơ turbine phản lực AL-31FN với hộp tổ máy dẫn động đặt thấp (để sử dụng cho tiêm kích J-10 của Trung Quốc) và RD-93 chế tạo riêng cho tiêm kích hạng nhẹ FC-1 của Trung Quốc, cũng như động cơ AI-222-25 dành cho các máy bay huấn luyện, huấn luyện chiến đấu và chiến đấu hạng nhẹ hiện đại và tương lai. Động cơ này cũng được trang bị cho máy bay huấn luyện chiến đấu Yak-130 của Nga.

Cú nhảy vọt công nghệ

Tại sao lại bán những sản phẩm công nghệ cao tinh vi như thế cho đối thủ cạnh tranh? Một câu hỏi lớn. Mặc dù câu trả lời cho nó hoàn toàn rõ ràng. Đối với Nga, các sản phẩm kỹ thuật này đang lạc hậu nhanh chóng. Động cơ 117S được gọi là “động cơ giai đoạn 1”. Trên các tiêm kích Т-50 sản xuất loạt sẽ lắp động cơ công suất mạnh hơn nhiều, nhưng để hoàn tất phát triển động cơ này sẽ cần những khoản tiền khổng lồ. Liên hiệp NPO Saturn, nơi đang chế tạo động cơ này, nói rằng, “động cơ giai đoạn 2” mới gần như đã sẵn sàng. Liên quan đến RD-93, thì trên MiG-35 đang lắp loại tiên tiến hơn là RD-33MKV với loa phut xoay hoàn toàn, cho phép tiêm kích có khả năng siêu cơ động mà MiG-29 bình thường không thể nào có được.

Radar Irbis là một bí quyết công nghệ đương nhiên của công nghiệp Nga. Nhưng Viện NII Tikhomirov ở Zhukovsky, ngoại ô Moskva đã chế tạo được loại kế tiếp tiên tiến hơn – radar mạng pha chủ động – đó là hơ 1.000 module thu/phát tiểu hình hợp nhất thành một trường thống nhất với công suất lớn. Radar anten mạng pha chủ động “nhìn thấy” tất cả những gì diễn ra trên không và mặt đất ở khoảng cách mấy trăm kilômet, có thể đồng thời bám nhiều mục tiêu, dẫn vũ khí của máy bay tới các mục tiêu đó. Các nhà thiết kế nói, máy bay có thể đồng thời bắn tất cả các mục tiêu đó khi phóng tên lửa như mưa.

“Trên các tiêm kích tương lai sẽ bố trí không chỉ một radar ở nghĩa thông thường mà là một hệ thống vô tuyến điện tử tích hợp, bao gồm các radar ở dải tần, cũng như các hệ thống nhận dạng, tác chiến điện tử và các thiết bị khác”, Tổng giám đốc Viện NIIP Yuri Belyi nói. Và tất cả những điều đó được gộp vào một ý tưởng thống nhất, một khái niệm thống nhất, sẽ đem lại như bây giờ người ta thích nói, “hiệu ứng chiến đấu kết hợp”.

Rõ ràng là không thể đạt được hiệu ứng đó nếu không có những đầu tư bổ sung. Hợp đồng bán Su-35 cho Trung Quốc sẽ mang lại cho công nghiệp Nga không dưới 2 tỷ USD.

Theo Vietnamdefence

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Blog at WordPress.com.