Daily Archives: January 6, 2015

Ý đồ tạo lợi thế trên Biển Đông của Trung Quốc

Ý đồ tạo lợi thế trên Biển Đông của Trung Quốc

VOV.VN – Trung Quốc theo đuổi giải pháp giải quyết tranh chấp trên biển theo xu hướng đàm phán với từng nước riêng lẻ.

Trong chiến lược trên Biển Đông, bên cạnh hình thức bạo lực, Trung Quốc luôn luôn sử dụng phương tiện truyền thông như một vũ khí đắc lực nhằm giành được sự công nhận trên thực tế.

Xem bài 1: Tham vọng Biển không giới hạn của Trung Quốc

Áp đặt truyền thông

Theo các nhà phân tích quốc tế, dùng truyền thông, Trung Quốc vừa có thể làm dịu dư luận trong nước, vừa gây ảnh hưởng có lợi cho mình đối với dư luận quốc tế.

Nhưng điều này không thể xóa bỏ được sự thật.

Nhà nghiên cứu Lê Hồng Thọ nhấn mạnh: “Trung Quốc hiện nay đang cố gắng dùng lời lẽ ngọt ngào trong đàm phán ngoại giao, với những thông điệp rất êm tai, nhưng bên trong và hành động thực tế hoàn toàn trái ngược, áp đặt “một chiều” và răn đe thô bạo kiểu Trung Quốc.

Như vậy lòng tin của Trung Quốc đối với các nước láng giềng và các nước trên thế giới đang bị lung lay bởi những mưu đồ chính trị mới của nước này thông qua cả truyền thông.

Chúng ta hãy điểm lại một số hành động mà Trung Quốc đã dùng truyền thông làm lạc hướng dư luận: Ngày 16/9/2004, các phương tiện thông tin đại chúng của Trung Quốc đồng loạt đưa tin việc Trung Quốc quyết định tổ chức tuyến du lịch ra quần đảo Hoàng Sa (đảo Phú Lâm và các đảo lân cận). Đồng thời, Trung Quốc cũng phản ứng mạnh mẽ việc Việt Nam về các hoạt động trên quần đảo Trường Sa.

Trung Quốc đang tiến hành xây dựng trái phép ở Trường Sa (Ảnh Quân đội Phillipines)

Theo Tạp chí Tinh đảo Hoàn cầu của Trung Quốc ra ngày 4/3/2009, năm 1998, Trung Quốc cho thành lập Tổng đội Giám sát biển với quân số 8.000 người, đến 2008, lập Phân đội chấp pháp giám sát biển Nam Hải.

Đặc biệt trong vụ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 trong Vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam, truyền thông Trung Quốc không những không phản ánh đúng sự thật mà còn cho rằng phía Việt Nam đã dùng tàu đâm, va vào các tàu của Trung Quốc. Khi bị yêu cầu cung cấp bằng chứng, Trung Quốc đã không đưa ra được chứng cứ nào.

Không những thế, Trung Quốc còn đưa những thông tin sai lệch về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa trên bản đồ trực tuyến Google Maps.

Về vấn đề này, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định: “Việt Nam khẳng định chủ quyền không tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các thông tin không phản ánh đúng điều này là sai trái và vô giá trị. Chúng tôi sẵn sàng chia sẻ với các nhà xuất bản, các công ty in ấn  những tài liệu, bản đồ và dữ liệu chính xác về chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông”.

Bên cạnh đó, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp đại diện Google nêu quan điểm của phía Việt Nam về việc từ khóa trên bản đồ của Google Maps thể hiện sai về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Google đã sửa chữa những lỗi này.

Như vậy, Trung Quốc không từ bất kỳ thủ đoạn nào để thực hiện bằng được hành động phi pháp của mình.

Tăng cường các hoạt động pháp lý, thực tế

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Việt Long trong cuốn “Lẽ phải luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa thì Trung Quốc đẩy mạnh các hoạt động pháp lý nhằm củng cố yêu sách chủ quyền trên các đảo thuộc quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Trong nghị quyết Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa VII của Trung Quốc ngày 13/4/1988 về việc thành lập tỉnh Hải Nam bao gồm các đảo và bãi đá ngầm thuộc vùng biển của đảo Tây Sa và Nam Sa; Luật về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày 26/6/1998; Luật quản lý và sử dụng các vùng biển của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày 2/10/2001; Qui định về việc quản lý, bảo vệ và sử dụng các đảo không có người ở tháng/7/2003; “Cương yếu quy hoạch phát triển sự nghiệp hải dương quốc gia 2008-2020” với mục tiêu xây dựng chiến lược dùng kinh tế biển để phát triển Trung Quốc, bảo vệ quyền lợi biển của Trung Quốc…tất cả những văn bản này Trung Quốc đều có mưu đồ dùng vũ lực để giành lại các đảo mà họ cho là bị “nước ngoài chiếm đóng”.

Cũng theo nhà nghiên cứu Nguyễn Việt Long, để hiện thực hóa những văn bản trên, Trung Quốc từ năm 1999 đến nay, hàng năm cứ vào khoảng thời gian từ  ngày 1/6-1/8 ra lệnh cấm đánh bắt cá từ 12 độ vĩ Bắc trở lên.

Từ ngày 27/9-8/10/2004, Trung Quốc tiến hành tập trận tại Biển Đông. Khu vực tập trận bao gồm cửa Vịnh Bắc Bộ, quần đảo Hoàng Sa và một phần nằm trong vùng biển thuộc phạm vi 200 hải lý của Việt Nam.

Ngày 7/11/2004, Trung Quốc đưa giàn khoan KANTAN-03 vào khu vực Vịnh Bắc Bộ, vượt quá đường trung tuyến. Riêng các hoạt động tập trận, đưa tàu khoan vào vùng biển Việt Nam liên tục được lặp lại những năm tiếp theo như tàu Nordic Explore tháng 7/2005, tàu Nam Hải 3 tháng 4/2007.

Một cuộc tập trận của Hải quân Trung Quốc (Ảnh Reuters)

Tháng 4/2007, Trung Quốc gọi thầu 22 lô dầu khí trong Biển Đông, đồng thời yêu cầu các nhà thầu quốc tế đang có hoạt động thăm dò khai thác dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam chấm dứt các hoạt động làm ăn hợp pháp của họ với Việt Nam. Tháng 11/2007 có tin Trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa bao gồm Hoàng Sa, Trung Sa và Trường Sa trực thuộc tỉnh Hải Nam.

Tháng 3/2009, Trung Quốc loan báo việc cho phép Công ty Du lịch quốc tế Châu Giang tại đảo Hải Nam mở tuyến đưa du khách tới đảo Phú Lâm, thuộc quần đảo Hoàng Sa đã bị Bắc Kinh chiếm đóng từ năm 1974.

Bên cạnh đó, Trung Quốc đẩy mạnh xây dựng lực lượng hải quân “biển xanh”, xây dựng căn cứ tàu ngầm nguyên tử tại Hải Nam, đẩy mạnh chương trình đóng tàu sân bay, thậm chí đề nghị chia đôi Thái Bình Dương giữa hải quân Trung Quốc và Mỹ, trong đó Biển Đông sẽ hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của hải quân Trung Quốc.

Những hành động trên của Trung Quốc chứng tỏ một điều Trung Quốc luôn luôn thường trực ý đồ thâu tóm Biển Đông, bất chấp luật pháp quốc tế, quyền chủ quyền của các nước khác.

Việt Nam một mặt khẳng định quyền chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, một mặt khẳng định lập trường giải quyết các tranh chấp trên biển bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập và chủ quyền của nhau, phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp Quốc về luật biển năm 1982, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002 nhằm tăng cường tình hữu nghị, hợp tác và duy trì ổn định trên Biển Đông.

Điều 5 của bản Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam được Việt Nam thông qua ngày 12/5/1977 nêu rõ ràng rằng hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa có lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế riêng.

Trung Quốc không thể coi pháp luật quốc tế là một thứ không cần phải theo.

Xây đảo, tạo thế trên bàn thương lượng

Phóng viên Rupert Wingfield-Hayes của BBC đã thực hiện chuyến tác nghiệp trên tàu cá Phillipines để tìm hiểu các cáo buộc đối với Trung Quốc về hành vi cải tạo các bãi đá ngầm, xây đảo trái phép tại Biển Đông.

Trong bài phóng sự “Nhà máy tạo đảo của Trung Quốc” đăng trên BBC ngày 9/9, nhà báo Hayes cho biết, khi tàu cá tới khu vực được gọi là bãi đá ngầm Nam Johnson (khu vực đảo Gạc Ma thuộc chủ quyền Việt Nam), anh đã nhìn thấy một hòn đảo lạ tại đây dù thiết bị định vị GPS chỉ ra rằng, đây chỉ là một rạn san hô ngập nước.

Trên thực tế, Trung Quốc đã có hành vi cải tạo đất quy mô lớn tại khu vực này từ tháng 1/2014. Hàng triệu tấn đất cát đã được nạo vét từ đáy biển để đắp lên các rạn san hô, tạo thành một đảo mới.

Trung Quốc đã liên tục tăng cường sự xuất hiện tại quần đảo Hoàng Sa khi xây dựng các đồn trú, lô cốt bê tông trên các phần trên của đảo san hô.

Tới nay, Trung Quốc đang tiến hành xây dựng đảo mới tại nhiều rạn san hô khác nhau.

Thông tin nhận định rằng, Trung Quốc dường như đang chuẩn bị xây dựng một căn cứ không quân với một đường băng bê tông đủ dài để máy bay chiến đấu cất cánh và tiếp đất.

Ngoài ra, dự án lấp biển xây đảo trên bãi đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam là một trong số những dự án mà Trung Quốc thực hiện nhiều tháng qua.

Khu vực thi công trái phép của Trung Quốc tại khu vực đảo Gạc Ma (Ảnh Quân đội Phillipines)

Bắc Kinh còn điều tàu tuần tra tại khu vực tranh chấp với Manila và hồi tháng 5 triển khai trái phép giàn khoan nước sâu vào sâu trong thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam.

Theo Tuần san Quốc phòng IHS Jane’s, việc xây đảo nhân tạo tại Đá Chữ Thập là dự án thứ 4 thực hiện ở Trường Sa của Trung Quốc trong vòng 12-18 tháng qua, nhưng là dự án quy mô lớn nhất. Động thái này được cho là để các nước láng giềng từ bỏ việc tuyên bố chủ quyền đối với khu vực đang tranh chấp này, đồng thời để tạo lợi thế cho Bắc Kinh trên bàn thương lượng.

Mỹ đã nhiều lần kêu gọi Trung Quốc cùng các nước trong khu vực giải quyết tranh chấp thông qua các giải pháp hòa bình, không ép buộc nhau, đồng thời kêu gọi Bắc Kinh tiến tới xây dựng bộ quy tắc ứng xử đa phương trên biển để xoa dịu căng thẳng.

Tuy nhiên, Bắc Kinh luôn bác bỏ lời đề nghị Washington giải quyết tranh chấp đồng thời với tất cả các bên để ngăn chặn căng thẳng “leo thang”. Trung Quốc theo đuổi giải pháp giải quyết tranh chấp trên biển theo xu hướng đàm phán với từng nước riêng lẻ, chứ không muốn đưa tranh chấp ra bàn đàm phán đa phương.

Các chuyên gia phân tích quốc tế cho rằng việc cải tạo, xây dựng các đảo của Trung Quốc trên Biển Đông là nhằm mục đích quân sự, đặc biệt là việc xây dựng một đường băng, để làm nền tảng thiết lập vùng nhận dạng phòng không trên Biển Đông.

Trong một phát biểu mới đây, Ngoại trưởng Philipines Anbert del Rosario nhấn mạnh chính sách này của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ đe dọa đến an ninh và ổn định của khu vực. Ông cũng lý giải các hành động vội vã này của Trung Quốc là vì muốn các công trình trên Biển Đông được hoàn thành trước khi các bên thống nhất được Bộ Quy tắc ứng xử giữa các bên trên Biển Đông (COC)./.

Đón đọc bài 3: Lộ trình “chiếm” Biển Đông của Trung Quốc

Bùi Hùng/VOV.VN

Bài liên quan

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Ba nguy cơ xung đột tại châu Á năm 2015

Thứ hai, 5/1/2015 | 18:27 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebookChia sẻ bài viết lên twitterChia sẻ bài viết lên google+|

Ba nguy cơ xung đột tại châu Á năm 2015

Tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông, căng thẳng Trung – Nhật và vấn đề hạt nhân Triều Tiên được giới chuyên gia cho là ba ngọn nguồn của các nguy cơ xung đột tại châu Á trong năm 2015.

Năm 2014, một loạt điểm nóng truyền thống tại châu Á tăng nhiệt trở lại, chủ yếu xoay quanh các tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông, Hoa Đông và bán đảo Triều Tiên. Xu hướng này một mặt phản ánh mâu thuẫn nội tại giữa các bên liên quan, mặt khác cho thấy những bước dịch chuyển chiến lược trong cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc.

Châu Á năm 2015 được giới chuyên gia dự đoán là sẽ không có nhiều biến chuyển tích cực hơn, tiếp tục các nguy cơ xung đột từ năm cũ. “Việc tái cơ cấu cấu trúc an ninh châu Á vẫn sẽ tiếp tục, để thích ứng với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Không khó để dự đoán trước sự hỗn loạn mới trong năm 2015”, chuyên gia quan hệ quốc tế Thomas Carothers bình luận. “Nhưng nhân tố không xác định là hình thức và địa điểm diễn ra”.

Nguy cơ xung đột trên Biển Đông

gian-khoan-4811-1405515006-4577-14204464

Căng thẳng trên Biển Đông có thể sẽ tiếp tục gia tăng trong năm 2015. Trong ảnh là giàn khoan Hải Dương 981 mà Trung Quốc hạ đặt trái phép trong vùng biển Việt Nam tháng 5/2014. Ảnh: Nguyễn Đông 

Trong năm 2015, Tòa án Trọng tài quốc tế về Luật biển sẽ ra phán quyết quan trọng về vụ kiện của Philippines với Trung Quốc. Bắc Kinh hồi tháng 12/2014 ra văn kiện tái khẳng định yêu sách của họ ở Biển Đông, đồng thời bác bỏ thẩm quyền của tòa.

“Đây có lẽ sẽ là phán quyết quan trọng nhất của tòa kể từ khi Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) ra đời, đánh dấu một bước ngoặt trong tranh chấp chủ quyền Biển Đông”, ông Murray Hiebert, nghiên cứu viên cao cấp thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS), bình luận.

Chuyên gia này nhận định rằng, nếu tòa án nhận thấy mình có thẩm quyền ra phán quyết, thì gần như chắc chắn rằng cái gọi là “đường chín đoạn” của Trung Quốc sẽ bị tuyên bố là không có giá trị trong lĩnh vực hàng hải.

Cùng chung quan điểm trên, phóng viên Bill Hayton thuộc BBC, tác giả của cuốn sách “Biển Đông – cuộc đọ sức tại châu Á” (The South China Sea: The Struggle for Power in Asia), cho rằng Manila chắc chắn sẽ thắng kiện và hành động cấm các nước liên quan đánh bắt cá hay thăm dò dầu khí của Bắc Kinh là vô căn cứ.

Phán quyết của tòa và thái độ phản đối của Trung Quốc sẽ khiến Bắc Kinh bị coi là quốc gia vô trách nhiệm trong hệ thống quốc tế. Điều này cũng sẽ tạo điều kiện để Mỹ tăng cường hơn nữa quan hệ với đồng minh và các nước tranh chấp khác, nhằm hiện thực hóa hơn nữa chiến lược xoay trục về châu Á.

Để đối phó với cục diện trên, Trung Quốc một mặt tiếp tục sách lược “tấn công quyến rũ” nhằm ràng buộc và phân hóa ASEAN thông qua các lợi ích kinh tế, mặt khác củng cố sự hiện diện tại quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, thông qua việc cải tạo và xây dựng trái phép các cơ sở hạ tầng quân sự.

Trao đổi với Vnexpress, chuyên gia hàng đầu về Đông Nam Á Carl Thayer dự báo rằng Bắc Kinh có thể đưa giàn khoan Hải Dương 981 tới vùng nước sâu để thăm dò dầu và khí trong năm 2015, và triển khai giàn khoan Hải Dương 982 một năm sau đó.

Đây được cho là các nhân tố quyết định khiến căng thẳng tại Biển Đông sẽ tiếp tục gia tăng trong năm 2015, đặc biệt khi càng đến gần ngày tòa ra phán quyết. “Nếu như các nhà lãnh đạo Trung Quốc và Đông Nam Á thất bại trong việc tìm ra giải pháp cho tranh chấp Biển Đông thông qua biện pháp ngoại giao hoặc luật pháp quốc tế, điều này sẽ khuyến khích cuộc chạy đua vũ trang gây bất ổn trong khu vực”, dự báo tình hình thế giới năm 2015 của CSIS nhận định.

Căng thẳng Nhật – Trung chưa đến hồi kết

tag-reuters-2-9676-1415613620-3261-14204

Vấn đề lịch sử và tranh chấp chủ quyền vẫn là hai trở ngại chính trong quan hệ Nhật – Trung năm 2015. Trong ảnh là Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe (trái) và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Ảnh: Reuters

Tháng 11/2014, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe lần đầu gặp mặt sau gần hai năm quan hệ song phương đóng băng bởi tranh chấp chủ quyền quần đảo Senkaku/ Điếu Ngư ở Hoa Đông.

Giới phân tích từng nhận định đây là dấu hiệu ban đầu cho thấy nền kinh tế đầu tàu châu Á sẵn sàng giải quyết bất đồng vì lợi ích quốc gia. Tuy nhiên, chỉ một tháng sau, hai tàu quân sự và ba tàu hải cảnh của Trung Quốc tiến vào vùng biển cách Senkaku/ Điếu Ngư 70 km. Cuối tháng 12/2014, Bắc Kinh cho ra mắt website tái khẳng định chủ quyền của mình với quần đảo trên.

Vì vậy, căng thẳng giữa Tokyo và Bắc Kinh được dự báo là vẫn không thể được giải quyết trong năm 2015, đặc biệt đây là dịp kỷ niệm 70 năm kết thúc Thế chiến thứ hai, chủ để nhạy cảm trong quan hệ song phương cũng như nội bộ chính trị mỗi nước.

“Năm 2015 có lẽ sẽ giống như các năm trước đó, vẫn bị phủ bóng bởi các vấn đề lịch sử và tranh chấp chủ quyền, sẽ không có một tiến triển ngoại giao thực chất nào giữa Nhật Bản và Trung Quốc”, bình luận viên Ankit Panda củaDiplomat nhận định. “Những ký ức về Thế chiến thứ hai chưa bao giờ sống động như trong năm nay”.

Với chiến thắng vang dội trong cuộc bầu cử sớm hồi cuối năm 2014, Thủ tướng Abe đang có cơ hội thay đổi Hiến pháp Hòa bình và tăng cường phát huy lực lượng quân sự, nhằm đưa Nhật Bản chuyển từ cường quốc kinh tế sang cường quốc chính trị – quân sự.

“Cũng giống như ông ngoại, ông ấy hy vọng gột sạch vết nhơ chiến tranh, thay đổi bản hiến pháp mà Mỹ áp đặt cho Nhật Bản”, bình luận viên Andrew Browne của Wall Street Journal cho biết. Ông Abe là cháu ngoại của cố thủ tướng Nobusuke Kishi, người từng bị coi là tội phạm chiến tranh.

Tuy nhiên, tính toán trên của Tokyo được cho là sẽ vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ Bắc Kinh và dấy lên phong trào chống Nhật vốn luôn âm ỉ tại Trung Quốc từ trước đó.

Trong buổi lễ kỷ niệm cuộc thảm sát Nam Kinh hôm 17/12/2014, Chủ tịch Tập Cận Bình từng công khai cảnh cáo Nhật Bản rằng, bất kỳ nỗ lực nào nhằm che đậy một cuộc xâm lược đều nguy hại đến nền hòa bình và chính nghĩa của nhân loại.

“Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc và sự thiếu tin tưởng giữa hai nước sẽ nâng cao nguy cơ xung đột và hạn chế khả năng giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình. Các nhà lãnh đạo cấp cao muốn hạn chế không sử dụng vũ lực, nhưng chỉ một hành động ngoài ý muốn của các chỉ huy quân sự ngoài thực địa có thể sẽ dẫn đến xung đột vũ trang leo thang”, ông Browne kết luận.

Khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên thường trực

trieu-tien1-3735-1416453623-9965-1420446

Khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên được cho là nguy cơ thường trực trong năm 2015. Trong ảnh là tháp làm mát trong tổ hợp hạt nhân Yongbyon của Triều Tiên được phá bỏ trong một thỏa thuận đổi giải giáp lấy những nhượng bộ từ Mỹ năm 2008. Ảnh: News

Khủng hoảng hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên vẫn được cho là nguy cơ thường trực trong năm 2015, bởi các nỗ lực không ngừng của Bình Nhưỡng trong việc phát triển tên lửa và vũ khí hạt nhân, cũng như sự bất lực của các cơ chế quốc tế hiện nay.

“Hiện nay không có cơ chế nào hạn chế chương trình vũ khí hạt nhân của Triều Tiên, và có vẻ như điều này cũng là không thể trong năm 2015”, ông James Acton, giám đốc chương trình Chính sách hạt nhân của Tổ chức nghiên cứu vì hòa bình quốc tế Carnegie, nhận định.

Mặc dù, phạm vi chương trình làm giàu uranium của Triều Tiên chưa được xác định hoàn toàn, giới tình báo Mỹ vẫn ước tính rằng Bình Nhưỡng có đủ khả năng sản xuất 5-6 đầu đạn hạt nhân.

Cuối năm 2014, Triều Tiên từng đe dọa sẽ tiến hành vụ thử hạt nhân thứ tư, sau khi Liên Hợp Quốc ra nghị quyết lên án các hoạt động vi phạm nhân quyền của quốc gia này.

Hôm qua, Bình Nhưỡng lên tiếng phản đối quyết định trừng phạt của Mỹ, đồng thời cũng cho biết chính sách của Washington sẽ chỉ càng khiến nước này “củng cố hơn quyết tâm mở rộng quân bị, bao gồm phát triển vũ khí hạt nhân”.

Trong khi đó, hiện nay chưa có một cơ chế nào đủ hiệu quả trong việc thuyết phục Triều Tiên hạn chế chương trình hạt nhân. Mâu thuẫn chiến lược gay gắt giữa các cường quốc như Trung Quốc, Mỹ, Nga và Nhật Bản khiến việc khôi phục cơ chế đàm phán 6 bên trở nên khó khăn hơn bao giờ hết.

Ngay cả Trung Quốc, đồng minh duy nhất của Bình Nhưỡng, cũng được cho là đang dần mất kiên nhẫn với nước láng giềng. Tháng 7/2014, Chủ tịch Tập Cận Bình đã phá bỏ tiền lệ trong lịch sử quan hệ Trung – Triều, với việc thăm chính thức Hàn Quốc khi chưa thăm Triều Tiên. Trước đó, ông cũng từng công khai khiển trách vụ thử hạt nhân thứ ba của Bình Nhưỡng hồi tháng 2/2013.

Giới học giả Trung Quốc cho rằng dư địa chính sách của Bắc Kinh trên vấn đề hạt nhân Triều Tiên đang bị thu hẹp. “Nếu như Trung Quốc gây sức ép quá lớn, Triều Tiên có thể sẽ sụp đổ. Nhưng nếu như sức ép không đủ lớn, quốc gia này sẽ rơi vào tình trạng mất kiểm soát”, Giáo sư Trịnh Kế Vĩnh thuộc Đại học Phúc Đán bình luận. “Họ có thể sẽ tiến hành nhiều hơn nữa các vụ thử nghiệm hạt nhân”.

Đức Dương

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Blog at WordPress.com.