Daily Archives: January 12, 2015

Việt Nam : Bỏ phiếu tín nhiệm Bộ Chính trị, ai cao phiếu nhất?

Việt Nam : Bỏ phiếu tín nhiệm Bộ Chính trị, ai cao phiếu nhất?

mediaThủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (phải) và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng tại Hội nghị trung ương 10 khai mạc hôm 5/1/2015. (Ảnh chụp qua màn hình TV).DR

Hôm nay 12/01/2015 Hội nghị lần thứ 10 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 11 đã bế mạc sau tám ngày làm việc. Trong hội nghị, lần đầu tiên đã tổ chức lấy phiếu tín nhiệm các ủy viên Bộ Chính trị và Ban Bí thư, kết quả đã được báo cáo hôm qua. Tuy nhiên đối với dân chúng thì kết quả này vẫn là điều bí mật.

Theo ngôn từ chính thức, thì việc lấy phiếu tín nhiệm trong Hội nghị Trung ương 10 nhằm giúp những người được đưa ra lấy phiếu tự nhìn lại mình để điều chỉnh, đồng thời Bộ Chính trị có thêm thông tin để đánh giá, bố trí cán bộ.

Đây là hội nghị quan trọng nhưng đã bị dời lại nhiều lần. Bên cạnh việc đưa ra định hướng chiến lược, quan trọng nhất là việc chuẩn bị nhân sự cho Đại hội Đảng lần thứ 12, mà theo giới quan sát, là dịp để tranh chấp quyền lực.

RFI Việt ngữ đã trao đổi với nhà bình luận Phạm Chí Dũng ở Saigon về vấn đề trên.

RFI : Xin chào anh Phạm Chí Dũng, rất cảm ơn anh đã nhận trả lời phỏng vấn hôm nay. Thưa anh, vừa rồi Hội nghị Ban chấp hành Trung ương có tổ chức bỏ phiếu tín nhiệm đối với các ủy viên Bộ Chính trị và Ban Bí thư. Anh có thông tin gì về cuộc bỏ phiếu tín nhiệm này không ?

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng : Có thể nói đây là cuộc bỏ phiếu tín nhiệm lịch sử trong Đảng Cộng sản Việt Nam, vì từ trước tới giờ lần đầu tiên mới lấy phiếu tín nhiệm. Tôi biết là nhiều dư luận, nhiều giới, nhiều người dân đang chờ đợi kết quả bỏ phiếu, nhưng tới giờ này vẫn không công khai. Theo quy định trong Đảng thì họ nói là không công khai, nhưng theo một nguồn tin khả tín, ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Việt Nam là người đạt kết quả cao nhất.

Đó là một kết quả có thể nói là khá bất ngờ, nếu tính từ thời điểm năm 2012, khi diễn ra Hội nghị Trung ương 6 – lúc ông Nguyễn Tấn Dũng trong tình trạng khá bị động, và nhiều thông tin cho biết là ông suýt bị kỷ luật, và sau đó thậm chí ông có biệt danh là « đồng chí X ».

RFI : Nếu ông Nguyễn Tấn Dũng được phiếu cao nhất, anh nghĩ khuynh hướng sắp tới sẽ như thế nào ?

Nếu quả thật thông tin ông Nguyễn Tấn Dũng đạt phiếu cao nhất trong cuộc bỏ phiếu ở Hội nghị Trung ương 10 kỳ này là đúng, thì phải nói đó là cú đột biến lịch sử đối với ông Dũng. Sau hơn hai năm kể từ Hội nghị Trung ương 6 năm 2012, ông đã có một cuộc chuyển mình ngoạn mục và phát triển. Nếu không có gì thay đổi, thì đây là một cú bứt phá, để phá tan thế giằng co về tương quan lực lượng trong Đảng, kéo dài suốt hơn hai năm qua.

Theo tôi, nếu đúng kết quả ông Nguyễn Tấn Dũng đạt phiếu cao nhất, thì con đường của ông đến Đại hội 12 của Đảng sẽ thong dong hơn khá nhiều – nếu không xảy ra những cú đột biến nào khác đối với ông. Về phần cá nhân thì tôi xin chúc mừng sớm đối với ông Nguyễn Tấn Dũng. Tôi có đôi chút hy vọng rằng những gì mà ông cam kết trong thông điệp năm 2014 về cải cách dân chủ, về tinh thần dân tộc, về giảm và xóa độc quyền, về Nhà nước kiến tạo phát triển và nắm chắc ngọn cờ dân chủ, thì ông sẽ thực hiện trong năm 2015.

Mặc dù cho tới giờ phút này, có thể nói là ông vẫn chưa đưa ra thông điệp nào cho năm 2015 cả. Nhưng tôi hy vọng rằng những gì ông Dũng cam kết mà chưa làm được, thì năm 2015 ít nhất ông cũng có một vài hành động nào đó, để chứng tỏ cho dư luận trong và ngoài nước biết rằng ông là người không phải chỉ có nói mà còn biết làm.

RFI : Theo anh thì có nên công khai hóa kết quả bỏ phiếu không ?

Bà Phạm Chi Lan là một người trong nhóm tư vấn của Chính phủ cũng đã đề nghị cần phải công khai, minh bạch hóa kết quả bỏ phiếu tín nhiệm trong Đảng. Mặc dù có thể theo quy định nội bộ của Đảng là không công khai, nhưng tôi cho rằng tất cả những vấn đề đó, Đảng sinh ra từ lòng dân, thì người dân cần phải biết là Đảng cầm quyền và những nhân vật của Đảng cầm quyền thực hiện chỉ đạo như thế nào, đã bỏ phiếu tín nhiệm như thế nào, có phù hợp với lòng dân hay không, với sự mong mỏi của họ hay không.

Tất nhiên điều đó cần phải công khai hóa, minh bạch hóa đối với người dân càng sớm càng tốt. Không những thế còn phải công khai hóa những vụ việc gần đây đã tạo ra rất nhiều dư luận, làm xáo trộn. Chẳng hạn như liên quan tới trang blog Chân dung quyền lực, và những thông tin trang này tung ra đối với một số ủy viên Bộ Chính trị, liên quan đặc biệt tới trường hợp ông Nguyễn Bá Thanh có bị đầu độc hay là không.

RFI : Thưa anh, vừa rồi báo chí Việt Nam, thí dụ như tờ Vietnamnet chẳng hạn, khi đưa tin kết quả bỏ phiếu tín nhiệm, có câu « biểu quyết giữ nguyên hình thức kỷ luật Đảng như đề nghị của Bộ Chính trị ». Theo anh, điều này có thể lý giải như thế nào ?

Có thể nói đó là một thông tin khá bất ngờ. Tôi có đọc một số bản tin của VTV, của Vietnamnet, tôi nhận thấy đoạn đó họ viết khá tối nghĩa và mơ hồ, dường như họ bị kiềm chế bởi một vòng cương tỏa nào đó từ Ban Tuyên giáo Trung ương, mà không thể tiết lộ được thông tin. Nhưng đưa ra thông tin như vậy thì lại gây ra tò mò và hoài nghi nơi công luận.

Đây là một thông tin đặc biệt, vì việc giải quyết khiếu nại, giữ nguyên hình thức kỷ luật Đảng mà lại được đề nghị từ cấp Bộ Chính trị, chứ không phải cấp thấp hơn, làm cho người ta hiểu rằng nhân vật bị kỷ luật có thể là một nhân vật cao cấp, thậm chí ít nhất là cấp ủy viên trung ương Đảng trở lên.

Có lẽ chúng ta nên chờ xem trong những ngày tới, Bộ Chính trị có công khai hóa, minh bạch hóa nhân vật nào bị kỷ luật hay không, và nhân vật đó có liên quan tới một vụ việc nào đó, trầm trọng đến mức mà phải chính do Bộ Chính trị đề nghị kỷ luật.

RFI : Xin rất cám ơn nhà bình luận Phạm Chí Dũng ở Saigon.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Tôn giáo liệu có ngày diệt vong?

Tôn giáo liệu có ngày diệt vong?

  • 11 tháng 1 2015

Chủ nghĩa vô thần đang ngày càng lan rộng hơn trên toàn thế giới, liệu điều này có đồng nghĩa với việc tôn giáo sẽ trở thành dĩ vãng?

Hàng triệu người trên thế giới đang tin rằng cuộc sống kết thúc với cái chết – không có Thượng Đế, không có kiếp sau.

Dù đây là một viễn cảnh không mấy tươi sáng, chủ nghĩa vô thần đang thịnh hành hơn bao giờ hết,

“Rõ ràng là ngày nay có nhiều người theo chủ nghĩa vô thần hơn bao giờ hết, về cả số lượng lẫn tỷ lệ trong nhân loại”, giáo sư Phil Zuckerman, từ Pitzer College ở Claremont, California, nói.

Theo khảo sát của Gallup International đối với hơn 50.000 người tại 57 nước, số lượng người tự nhận là theo tín ngưỡng đã giảm từ 77% xuống 68% trong thời gian từ 2005 và 2011, trong khi những người tự nhận là vô thần tăng 3%.

Tổng số người tự nhận là hoàn toàn vô thần hiện chiếm khoảng 13% dân số thế giới.

Mặc dù số người vô thần vẫn chưa phải chiếm đa số, nhưng liệu những con số này có phải là điềm báo trước cho những gì sắp xảy ra?

Với xu hướng hiện nay, liệu tôn giáo có một ngày nào đó biến mất khỏi Trái Đất hay không?

Nhiều học giả vẫn đang tìm cách xem xét điều gì đang đẩy một cá nhân hoặc một quốc gia hướng đến chủ nghĩa vô thần.

Một phần nguyên nhân khiến tôn giáo thu hút sự quan tâm, là do nó mang lại sự trấn an ở một thế giới bất ổn.

Vì vậy, không phải là điều ngẫu nhiên khi những quốc gia có tỷ lệ người theo chủ nghĩa vô thần lớn nhất, thường là những nước phát triển về kinh tế, ổn định về chính trị.

Chủ nghĩa tư bản, sự tiếp cận với công nghệ và giáo dục gần như tương ứng với tình trạng giảm niềm tin vào tôn giáo, ông Zuckerman nói.

Một linh mục Ukraine ôm cây thánh giá trong đống đổ nát của tòa nhà Công đoàn

Khủng hoảng niềm tin

Nhật Bản, Anh, Canada, Nam Hàn, Hà Lan, Cộng hòa Czech, Estonia, Đức, Pháp và Uruguay đều là những nơi mà tôn giáo từng đóng vai trò quan trọng một thế kỷ trước.

Thế nhưng giờ đây, các nước này lại là nơi đông người không theo tín ngưỡng nhất trên thế giới.

Các quốc gia này đều có điểm chung là có nền giáo dục và hệ thống bảo trợ xã hội phát triển.

“Về cơ bản, người ta ít cảm thấy sợ hãi hơn về điều có thể xảy ra với họ,” Quentin Atkinson, một nhà tâm lý học tại Đại học Auckland, New Zealand, nói.

Niềm tin vào tôn giáo cũng giảm ở nhiều nước khác như Brazil, Jamaica và Ireland, nơi tầm ảnh hưởng của tôn giáo vẫn rất lớn.

“Rất ít xã hội ngày nay tin vào tôn giáo hơn 40-50 trước,” Zuckerman nói.

“Iran có thể là một trường hợp ngoại lệ, nhưng đây là điều khó đoán, vì người dân ở đây có thể không công khai tín ngưỡng của mình”.

Hoa Kỳ cũng là một trường hợp ngoại lệ khác, vì có đông đảo dân số theo tín ngưỡng, dù là nước giàu có nhất trên thế giới.

Tuy nhiên, một khảo sát của Pew gần đây trong khoảng thời gian từ 2007 – 2012 cũng cho thấy người Mỹ tự nhận là vô thần đã tăng từ 1,6% lên 2,4% trong dân số.

Mặc dù vậy, sự suy giảm không có nghĩa là biến mất, Ara Norenzayan, một nhà tâm lý xã hội học của Đại học British Columbia ở Vancouver, Canada, nhận định.

“Người ta muốn thoát khỏi đau khổ, nhưng nếu người ta không thể thoát khỏi nó, người ta sẽ đi tìm ý nghĩa của sự đau khổ đó”, Norenzayan nói.

“Vì một lý do nào đó, tôn giáo thường mang lại ý nghĩa cho những sự đau khổ, hơn bất cứ niềm tin hay lý tưởng nào mà chúng ta biết đến”.

Những người sống sót sau bão Haiyan tại Philippines trong một cuộc diễu hành tôn giáo

Thói quen khó từ bỏ

Tuy nhiên, con người thường luôn muốn tin rằng họ là một phần của thứ gì đó vĩ đại hơn, rằng cuộc sống có một ý nghĩa nào đó.

Khối óc của chúng ta luôn tìm kiếm một mục tiêu và những lời giải.

“Với giáo dục, sự tiếp cận với khoa học cũng như thói quen suy luận, con người ta sẽ dần ít tin vào trực giác”, Norenzayan nói.

“Nhưng trực giác của họ vẫn ở đó”.

Trong khi đó khoa học, công cụ mà những người theo chủ nghĩa vô thần thường chọn để hiểu hơn về thế giới tự nhiên, không phải là thứ dễ hiểu và dễ tiếp thu.

Chúng ta phải chấp nhận thực tế rằng Trái Đất xoay, dù chúng ta không cảm nhận điều đó. Chúng ta phải chấp nhận rằng Vũ trụ tồn tại không vì một mục đích nào cả, dù điều đó đi ngược lại với trực giác của mình.

Cũng giống như chúng ta cảm thấy khó để chấp nhận rằng mình sai, khó để cưỡng lại trực giác của mình và chấp nhận sự thật.

“Khoa học là thứ khó nuốt,” Mc Cauley, giám đốc một viện nghiên cứu tâm lý và văn hóa tại Đại học Emory, Atlanta, Georgia, nói.

“Trong khi đó, tôn giáo lại khác. Đó là thứ chúng ta không cần phải học mà vẫn hiểu”.

“Có nhiều bằng chứng cho thấy những suy nghĩ liên quan đến tôn giáo thường ít nhận phải sự kháng cự”.

“Bạn sẽ phải thay đổi những giá trị cơ bản nhất về nhân loại để có thể khiến tôn giáo biến mất”.

Điều này có thể giải thích vì sao trong số 20% người Mỹ không đi nhà thờ, 68% trong số họ vẫn nói họ tin vào Thượng Đế.

Dù không theo một tôn giáo nào, họ vẫn tin rằng có một sức mạnh vô hình, vĩ đại nào đó đang vận hành vũ trụ.

Bản gốc bài viết đã được đăng trên BBC Future.

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Tương lai Việt Nam sẽ đi về đâu sau Đại hội đảng CSVN XII?

Tương lai Việt Nam sẽ đi về đâu sau Đại hội đảng CSVN XII?

Nguyễn Văn Thân (Danlambao) – Đảng Cộng Sản Việt Nam tổ chức Đại Hội mỗi 5 năm để bầu ra thành phần lãnh đạo mới và hoạch định chính sách kinh tế và văn hóa cho Việt Nam trong một thập niến tới. Đại Hội XI đã được tổ chức vào tháng Giêng năm 2011 và Đại Hội XII kế tiếp có thể sẽ diễn ra trong tháng Giêng năm 2016.
Vào ngày 30 tháng 5 năm 2014, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã ký “Chỉ Thị của Bộ Chính Trị” về Đại Hội Đảng Bộ các cấp tiến tới Đại Hội Đại Biểu toàn quốc lần thứ XII, ra lệnh cho các chi bộ đảng tuyển chọn đại biểu tham dự Đại Hội.[1]
Theo Giáo Sư Carl Thayer thì sẽ có khoảng 1200 đại biểu đại diện cho các chi bộ đảng từ cấp tỉnh cũng như đại diện cho giới quân đội và an ninh tụ về tham dự Đại Hội. Các đại biểu này Họ sẽ chọn ra 200 Ủy Viên Trung Ương Đảng và các ủy viên này sẽ chọn Tổng Bí Thư và 15 thành viên Bộ Chính Trị. Việt Nam áp dụng chế độ về hưu 65 tuổi. Nếu điều lệ này được áp dụng đúng mức thì sẽ có khoảng 1/3 số ủy viên Trung Ương Đảng và 2/3 thành phần Bộ Chính Trị phải về hưu vì quá tuổi. Các ủy viên trung ương phải nằm trong Bộ Chính Trị ít nhất một nhiệm kỳ trước khi được chọn giao cho các chức vụ lãnh đạo như là tổng bí thư, thủ tướng, chủ tịch nước hoặc chủ tịch quốc hội. Có nghĩa là chỉ có vài người hiện nay trong Bộ Chính Trị có điều kiện trở thành một trong những “tứ trụ” lèo lái con tàu Việt Nam trước phong ba bão táp tại Biển Đông trong thời gian sắp tới.[2] Trong bối cảnh hiện nay và đặc biệt là khi Việt Nam phải đối diện với những thách thức to lớn về mặt kinh tế và sức ép của Trung Quốc tại Biển Đông thì Đại Hội XII sắp tới có thể sẽ có một tầm vóc quan trọng như Đại Hội VI diễn ra 30 năm trước đây khi Đảng Cộng Sản đề ra chính sách Đổi Mới trong năm 1986.[3]
Theo nhận định của Giáo Sư Alexander Vuving thì quyền lực chính trị Việt Nam cũng như Đảng Cộng Sản Việt Nam bị chi phối bởi 3 thành phần: bảo thủ chế độ (regime conservatives), cải cách (modernizers) và những kẻ trục lợi (rent seekers).[4] Nhóm bảo thủ gồm có những người kiên định theo đuổi xã hội chủ nghĩa và vẫn nhìn thế giới tự do như là một đối thủ nguy hiểm. Nhóm này kiên quyết bảo vệ chế độ độc đảng bằng mọi giá, không muốn mở cửa với thế giới bên ngoài (trừ một vài nước cộng sản còn sót lại) và sẵn sàng đặt quyền lợi của Đảng trên quyền lợi dân tộc. Tiến trình công nghiệp hóa và hội nhập vào cộng đồng quốc tế chỉ là phương tiện biện minh cho mục tiêu tối hậu là duy trì vai trò độc tôn của Đảng Cộng Sản. Thành phần của nhóm bảo thủ gồm có cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Tổng Bí Thư đương nhiệm Nguyễn Phú Trọng và cựu Chủ Tịch Lê Đức Anh.
Nhóm cải cách muốn giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản nhưng cũng muốn Đảng Cộng Sản xem quyền lợi dân tộc như là quyền lợi của Đảng. Họ xem xã hội chủ nghĩa qua lý tưởng của một xã hội giàu mạnh. Nhóm này đặt tinh thần yêu nước trên ý thức hệ Mác-Lê và sẵn sàng nới rộng một số quyền công dân. Tuy nhiên, khái niệm “dân chủ” của họ không hẳn là dân chủ qua hình thức đa đảng mà chỉ là dân chủ trong nội bộ của Đảng. Đa đảng, đa nguyên vẫn còn là đề tài cấm kỵ trong mọi thành phần của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Nhóm cải cách gồm có Nguyễn Cơ Thạch, Võ Văn Kiệt và Nguyễn Văn An. Riêng trong trường hợp ông Nguyễn Văn Linh thì ông Linh bắt đầu nhiệm kỳ Tổng Bí Thư với một tư tưởng cải cách nhưng đã đổi thành một người bảo thủ khi các chế độ cộng sản tại Đông Âu lần lượt sụp đổ.
Nhóm thứ ba thuộc thành phần cơ hội và chỉ biết trục lợi mà không thật sự theo đuổi một lý tưởng hay ý thức hệ nào cả. Nhóm này có lúc sẽ ngả theo phe bảo thủ hoặc phe cải cách, miễn là họ kiếm chác được. Có người cho rằng nhóm này còn mạnh hơn cả hai nhóm kia vì mãnh lực của đồng tiền trong một cơ chế quyền lực đóng kín. Mục đích của kinh tế thị trường là phát triển lợi nhuận ở mức tối đa. Trong khi đó thỉ chủ thuyết cộng sản kiên định việc bảo vệ độc quyền quyền lực. Hai yếu tố này tạo điều kiện để tiền có thể mua quyền và có quyền thì đẻ ra tiền. Ông Trần Đức Lương đại diện cho nhóm này. Tuy nhiên và nếu dựa theo tiêu chuẩn này thì tiêu biểu nhất có lẽ là Nguyễn Tấn Dũng vì dưới hai nhiệm kỳ thủ tướng của ông trong thời gian qua thì các nhóm lợi ích đã và đang kiếm được nhiều tiền nhất.
Việt Nam đang phải đối diện với những thách thức to lớn gồm có một nền kinh tế cạn kiệt, một xã hội bị dồn nén và sức ép của Trung Quốc về cả hai mặt kinh tế và an ninh tại Biển Đông.[5] Nguyên nhân chính của những vấn nạn kinh tế, xã hội và chủ quyền lãnh hải này đều bắt nguồn từ thể chế độc đảng. Thể chế độc tài toàn trị đã tiêu diệt hết sức sáng tạo và mọi khả năng cạnh tranh của người dân Việt Nam trong lúc đồng bào ta bị lôi cuốn vào một cuộc chạy đua khốc liệt với những dân tộc khác trên thế giới trong một ngôi làng toàn cầu.
Kinh tế cạn kiệt
Từ khi Đảng Cộng Sản Việt Nam thi hành chính sách Đổi Mới thì thành phần cơ hội là nhóm hưởng được nhiều quyền lợi nhất. Sau thời bao cấp thì kinh tế Việt Nam có dấu hiệu phát triển đáng kể. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn thì sự yếu kém của cơ chế gồm có hệ thống hành chánh, tư pháp, giáo dục và hạ tầng cơ sở biểu lộ rõ nét khiến nền kinh tế Việt Nam như là một chiếc xe con quá tải cứ phải ì ạch không biết tắt máy lúc nào. Giữa năm 1988 và 1999, kinh tế Việt Nam phát triển đều đặn nhưng từ năm 2000 trở đi thì tỷ lệ phát triển đã giảm dần. Trong năm 2000 thì chính quyền tiến hành chương trình cải cách hệ thống tư pháp và hành chánh nhưng đến nay thì không có kết quả gì đáng kể. Việt Nam thiếu chuyên gia luật, thẩm phán và công chức có tầm vóc. Hệ thống giáo dục yếu kém không đào tạo được tài năng lãnh đạo có viễn kiến. Hệ thống luật pháp tuy đã có tiến bộ hơn nhưng sự hiểu biết và thực thi tình thần thượng tôn pháp luật vẫn còn quá kém.[6]
Thứ hai, cấu trúc kinh tế Việt nam không được cân bằng. Doanh nghiệp nhà nước lấn át và chiếm gần phân nửa nền kinh tế nhưng lại có năng suất thấp và không có hoặc thiếu khả nănh cạnh tranh. Đó là chưa kể cán bộ xem nó như là một phương tiện làm giàu riêng thể hiện qua các vụ tham nhũng Vinashin và Vinalines với hàng tỷ Mỹ kim bị thất thoát.[7] Kinh tế Việt Nam tăng trưởng 5.42% trong năm 2013 nhưng phụ thuộc vào hàng xuất khẩu và đầu tư nước ngoài. GDP của Việt nam trong năm 2013 lên khoảng 171.4 tỷ Mỹ kim và theo tỷ lệ tăng trưởng thì sẽ lên gần 190 tỷ Mỹ kim trong năm 2014. Giá trị hàng xuất khẩu chiếm 75% GDP so với 56% trong năm 2009.[8] Có nghĩa là kinh tế Việt Nam không đủ yếu tố nội lực và dễ bị dao động bởi tình hình kinh tế thế giới. Vì vậy, Việt Nam bị tổn thất nặng nề trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Tuy xuất khẩu nhiều nhưng cán cân mậu dịch vẫn thường bị thâm hụt vì hàng hóa Việt Nam bán ra với giá rẻ so với hàng nhập từ nước ngoài.
Thứ ba, nợ công ở Việt Nam đã vượt qua ngưỡng báo động 65% GDP. Theo đồng hồ nợ công toàn cầu của báo Economist tính tới ngày 30/10/2014 thì nợ công của Việt Nam đã lên tới 85 tỷ Mỹ kim, tức gần $1,000 mỗi đầu người. Nhưng nếu cộng thêm nợ của doanh nghiệp nhà nước thì tỷ lệ chắc chắn sẽ cao hơn 65% rất nhiều. Nếu so với các nước láng giềng thì Việt Nam có tỷ lệ nợ công cao nhất ví dụ như nợ công của Nam Dương chỉ là 24% GDP, Thái Lan 46%, Phi Luật Tân 50%, Lào 46% và Mã Lai Á 55%. Mặt khác, thu nhập trung bình của Việt Nam lại thấp hơn rất nhiều và chỉ xấp xỉ $1,400 Mỹ kim một năm cho mỗi đầu người so với Phi Luật Tân là $4,700 Mỹ kim, Nam Dương $5,200 Mỹ kim và Mã Lai Á $17,500 Mỹ kim. Dân số Việt Nam thì lại lão hóa mau hơn các nước khác ở mức 7% so với Lào là 4%, Nam Dương và Ấn Độ là 5%. Trong khi đó thì năng suất lao động ở Việt Nam ngày càng giảm và thấp nhất khu vực châu Á – Thái Bình Dương và thua Singapore gấp 15 lần, Nhật Bản 11 lần, Hàn Quốc 10 lần, Mã Lai Á 5 lần và Thái Lan 2.5 lần. Trong khi đó, Việt Nam phải dùng tới 25% ngân sách để trả tiền lời nợ công trong năm 2014 và dự kiến sẽ tăng lên tới 30% trong năm 2015.[9] Đây là một tỷ lệ rất cao cho một quốc gia kém phát triển. Nếu chiều hướng không thay đổi thì Việt Nam khó thoát khỏi nguy cơ vỡ nợ.
Ngoài nợ công thì Việt Nam cũng đang gặp nhiều khó khăn với nợ xấu. Theo báo cáo của chính phủ Việt Nam trong tháng 11 vừa qua thì nợ xấu đã giảm đi một nửa xuống còn 5.43% so với 17% trong năm 2012. Nhưng sự thiếu minh bạch trong việc thống kê ở Việt Nam thì không có cơ sở nào để có thể tin vào các con số do nhà nước đưa ra. Ví dụ như Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam thì cho rằng tỷ lệ nợ xấu khoảng 8.6%. Còn các công ty quốc tế như Standard and Chartered Bank ấn định con số cao hơn nhiều từ 15-20% (tính tới cuối năm 2012).[10]
Tóm lại, nền kinh tế Việt Nam đang đi vào ngõ cụt bởi 3 yếu tố cơ chế có liên quan với nhau. Đó là Việt Nam không có một ngân hàng trung ương độc lập để có thể điều hành chính sách tiền tệ một cách linh động và mau chóng đáp ứng được với những biến chuyển quy mô của tình hình kinh tế thế giới. Hệ thống hành chánh và tư pháp của Việt Nam lại quá kém cỏi và thiếu minh bạch. Tệ hại nhất, sự độc quyền chính trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã bóp nghẹt mọi sức sáng tạo cần thiết để doanh nghiệp tư nhân có thể phát triển đúng mức. Chính Bộ Trưởng Kế Hoạch Đầu Tư Bùi Quang Vinh cũng phải thú nhận là đến thời điểm này thì nền kinh tế Việt Nam đã hết động lực phát triển. Trong thời gian qua, tăng trưởng kinh tế dựa vào “vốn và bán tài nguyên dạng thô như dầu khí, than đá và các quặng khác. Trong khi lao động thì không phải dựa vào tăng năng suất mà lại nhờ giá rẻ. Các nước đang phát triển, chậm phát triển thì dựa vào các yếu tố trên. Nhưng 3 động lực ấy giờ đã cạn kiệt rồi. Việt Nam cần cơ chế, chính sách mới để phát triển”.[11]
Xã hội dồn nén
Bản chất toàn trị và độc đoán của chế độ cộng sản không có chỗ để cho người dân xả áp lực và bày tỏ bức rức. Hiện tượng “dân oan” chỉ xuất hiện trong lịch sử Việt Nam trong vài thập niên nay. Nhưng chỉ từ năm 2008 tới 2011 thì có tới 1.570.000 người nộp đơn khiếu kiện[12] và có tới 700.000 vụ khiếu kiện liên quan tới đất đai.[13] Theo nghĩa thường dùng hiện nay thì dân oan là nạn nhân của sự bất công, mà tại Việt nam thành phần dân oan đông đảo nhất là những người dân đang sống bình thường bỗng nhiên bị mất đất, mất nhà, trở thành không có chỗ ở, không có việc làm và không có thu nhập để sống. Chế độ “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” đã được khai thác triệt để dẫn đến hậu quả là có nhiều người nông dân mất hết tài sản, đất đai. Đối với nông dân thì đó là tài sản quý giá nhất vì đất đai của họ không chỉ là nơi cư ngụ mà còn là cơ sở kinh tế nuôi sống cả gia đình.
Có hàng ngàn vụ thu hồi đất đai có liên quan tới các nhóm lợi ích chiếm đoạt bất động sản và thu hồi đất đai nhưng không bồi thường thỏa đáng. Chính quyền các cấp thì hầu như vô cảm và vô lương tâm. Mỗi năm có hàng chục ngàn cuộc biểu tình phản đối của dân oan. Tuy không có con số thống kê nào nhưng “ước tính tầng lớp dân oan đất đai ở Việt Nam phải lên đến ít nhất 3-4 triệu người – tương đương với số lượng đảng viên trong đảng cầm quyền.”[14] Khi người dân oan đi khiếu kiện thì họ bị đá như quả bóng từ huyện tới tỉnh lên tới trung ương rồi về lại địa phương mà không ai xét xử. Khi bị đẩy vào đường cùng thì họ phải liều mình sử dụng bạo lực hoặc tự sát như trường hợp của Đoàn Văn Vươn và Đặng Ngọc Viết.
Thứ hai, vấn nạn tham nhũng tại Việt Nam coi như hết thuốc chữa. Trong cuộc phỏng vấn với Bảo Tuổi Trẻ năm 2005, cựu Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu đã trả lời là “tham nhũng ở nước ta là do cả cơ chế lẫn con người, từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên”. Gần đây hơn, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã phải lên tiếng: “hiện tượng hư hỏng, tham nhũng, tiêu cực đúng là lắm lúc nghĩ hết sức sốt ruột, nhìn vào đâu cũng thấy, sờ vào đâu cũng có”.[15] Theo chỉ số của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế thì Việt Nam là một trong những quốc gia có tình trạng tham nhũng cao nhất thế giới.
Một vấn đề khác cũng nghiêm trọng không kém là vấn nạn lạm phát cán bộ, quan chức và tướng lĩnh. Cả nước ưóc lượng có khoảng 139.000 cơ quan hành chính tức là có khoảng 139.000 cấp trưởng và gấp 2-3-4 lần cấp phó và có cơ quan có 5-6, 7-8 cấp phó. Cứ tính mỗi cấp phó hàng năm ngân sách chi thêm khoảng 30 triệu đồng thì chỉ với 139.000 cấp phó đã phải chi hơn 4.000 tỷ đồng. Nên số tiền mỗi năm cả nước phải chi thêm có thể hơn cả 16 ngàn tỉ đồng. Đây là một con số khủng khiếp, nhất là với nền kinh tế Việt Nam hiện nay, khi nợ công đang tăng lên hàng ngày. Đến nỗi Đại Biểu Trần Du Lịch đã phải nghẹn ngào thốt lên “Không dân nào đóng thuế nuôi nổi bộ máy này”.[16]
Về mặt nhân quyền thì theo báo cáo của Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền (Human Rights Watch), tình hình nhân quyền ở Việt Nam trong năm 2013 “xấu hẳn đi, khiến xu hướng tụt dốc đã biểu hiện trong mấy năm qua càng trở nên trầm trọng hơn”. Việt Nam đang giam giữ khoảng 150-200 tù nhân chính trị mà trong đó có nhiều tù nhân lương tâm bị bắt vì hoạt động tôn giáo. Tòa án của Việt Nam thiếu tính độc lập và khách quan và không theo đúng tiêu chuẩn luật pháp quốc tế. Tội danh chính trị được xử như tội phạm hình sự. Nhiều blogger bị đàn áp, đánh đập, sách nhiễu và bị công an bắt giữ tùy tiện.[17] Ví dụ như blogger Trương Duy Nhất và Phạm Viết Đào đã bị bắt giữ và truy tố dưới Điều 258 của Bộ Luật Hình Sự với án tù tối đa 7 năm vì họ đã phổ biến một số bài viết mà nhà cầm quyền không thích. Gần đây hơn, nhà cầm quyền đã bắt giữ hai blogger khác là Hồng Lê Thọ và Nguyễn Quang Lập vì họ bày tỏ thái độ phản đối dã tâm chiếm trọn Biển Đông của Trung Quốc. Rõ ràng là giới lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam muốn răn đe mọi tiếng nói phản biện và triệt tiêu tinh thần yêu nước của người Việt Nam trước hiểm họa xâm lăng biển đảo của Đảng Cộng Sản “đàn anh” từ phương Bắc.
Một vấn đề khác cũng làm nhiều người phẫn nộ là chính sách kinh tế ưu đãi cho các công ty và doanh nghiệp Trung Quốc. Các công ty Trung Quốc dễ dàng thắng thầu các công trình, dự án xây cất hạ tầng cơ sở vì doanh nghiệp Việt Nam không có khả năng cạnh tranh. Từ năm 2012 thì Trung Quốc đã thi hành quốc sách sa thải các công nghệ lạc hậu và đã công bố danh sách hàng ngàn nhà máy, dây chuyền lạc hậu cần phải loại bỏ. Họ không muốn mất trắng nên di chuyển công nghệ lạc hậu xuống Việt Nam.[18] Giới trí thức đã nhiều lần lên tiếng cảnh báo về việc nhà nước cho phép các công ty Trung Quốc vào khai thác tài nguyên ở những vị trí chiến lược quan trọng như quặng bô xít ở Tây nguyên và thuê rừng ở phía Bắc. Gần đây nhất là vụ chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế đã có ý định cho một công ty Trung Quốc thuê đèo Hải Vân để xây dựng một khu du lịch sinh thái. Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Giá trị giao thương giữa hai nước tăng từ 3 tỷ Mỹ Kim trong năm 2001 tới 41,1 tỷ trong năm 2012. Nhưng cán cân mậu dịch luôn nằm về phía Trung Quốc. Cán cân thâm hụt của Việt Nam tăng từ 11 tỷ Mỹ Kim trong năm 2008 tới 23.7 tỷ trong năm 2013 và ước lượng sẽ lên tới 28,32 tỷ trong năm 2015, tức là khoảng 15% GDP của Việt Nam.[19] Trong lãnh vực đầu tư thì Trung Quốc áp dụng “chiến lược đầu tàu” (Bridgehead Strategy)[20] tại Việt Nam cũng như tại khắp mọi nơi trên thế giới bao gồm cả Phi Châu. Đó là các công ty Trung Quốc không chỉ mang vốn mà mang cả công nhân từ Trung Quốc, xây dựng phố thị Trung Quốc ngay tại Việt Nam làm cả nước “nhức mắt” với phố Tàu ở Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hạ Long, Hải Phòng, Hà Tĩnh và Bình Dương. Nhưng khi blogger lên tiếng phản đối thì nhà nước lại dùng Bộ Luật Hình Sự để bắt bớ và truy tố họ.
Chủ quyền bị đe dọa
Biển Đông là huyết mạch an ninh, chiến lược và kinh tế sống còn của Việt Nam. Với bờ biển dài hơn 3000 cây số, Việt Nam dễ dàng bị tấn công bằng đường thủy nếu bị mất chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tài nguyên thủy sản ở Biển Đông đã nuôi sống ngư dân Việt Nam từ ngàn đời. Hiện tại, thu nhập của công ty PetroVietnam chiếm khoảng 25% GDP và đóng góp 30% vào ngân sách quốc gia. Hầu hết số tiền thu nhập này đến từ những dự án khai thác và hoạt động kinh doanh tại thềm lục địa ở Biển Đông.[21]
Sau Hội Nghị Thành Đô diễn ra vào ngày 3-4 tháng 9 năm 1990, Việt Nam đã quyết định ngả về và tìm sự bảo trợ của Trung Quốc với hy vọng là tiếp tục duy trì vai trò độc tôn của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong lúc chủ nghĩa cộng sản sụp đổ toàn diện tại Đông Âu. Cái giá phải trả là phục tùng và không làm phật lòng Trung Quốc gồm có xóa bỏ hoặc không nhắc tới việc Trung Quốc tấn công 6 tỉnh biên giới phía Bắc vào năm 1979. Việt Nam có 3 loại quan hệ ngoại giao: đối tác toàn diện, đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện. Việt nam đã tuyên bố thiết lập đối tác chiến lược với Nga (2001), Nhật Bản (2006), Ấn Độ (2007), Trung Quốc (2008), Hàn Quốc, Tây Ban Nha (2009), Vương Quốc Anh (2010) và Đức (2011). Từ năm 2009, Việt Nam cũng đã thành lập quan hệ đối tác toàn diện với Úc. Nhưng trong số này thì quan hệ với Trung Quốc và Nga đã được nâng lên tầm đối tác chiến lược toàn diện.
Riêng với Trung Quốc thì Việt Nam có quan hệ đặc biệt và sâu sắc bao gồm quan hệ giữa Đảng Cộng Sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc, giữa Quân Đội Việt Nam và Quân Đội Trung Quốc và giữa Nhà Nước Việt Nam và Nhà Nước Trung Quốc. Quan hệ giữa hai Đảng dựa trên ý thức hệ Mác Lê. Đảng viên thường xuyên thăm viếng và trao đổi lý luận bảo vệ chủ nghĩa xã hội và chống lại kẻ thù chung được gọi là “diễn tiến hòa bình”. Sau cuộc chiến biên giới năm 1979, quân đội hai nước nối lại quan hệ vào năm 1992 và kể từ năm 2005 thì hai bên có cuộc đối thoại quốc phòng thường niên. Trong tháng 11 năm 2010 thì Trung Quốc và Việt Nam đã bắt đầu cuộc Đối Thoại An Ninh Chiến Lược tại Hà Nội. Có thể nói là không có một quyết định quan trọng nào của Việt Nam mà không có sự thông qua của Trung Quốc. Không có nước nào “lớn tiếng” với và có tầm vóc ảnh hưởng tới Hà Nội bằng Trung Quốc.[22]
Để chìu theo Trung Quốc, Việt Nam theo đuổi chính sách 3 không bao gồm: (1) không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào; (2) không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và (3) không dựa vào nước này để chống nước kia. Chính sách này đã được Thứ Trưởng Quốc Phòng Tướng Nguyễn Chí Vịnh xác nhận trong chuyến thăm Trung Quốc vào tháng 8 năm 2010. Dĩ nhiên, ai cũng hiểu “nước này” là Hoa Kỳ và “nước kia” là Trung Quốc. Có một số người cho rằng Việt Nam đang thi hành chính sách đu dây giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ. Sự thật thì không phải như vậy vì dưới cái nhìn của phe bảo thủ trong Đảng đang cầm quyền thì Trung Quốc vẫn là “anh em” dù có lúc có bất đồng ý kiến. Họ chỉ lợi dụng Hoa Kỳ khi cần thiết chớ không thật tâm xây dựng quan hệ mật thiết với Hoa Kỳ.
Ngoài chính sách đa phương hóa quan hệ với nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam cũng tìm sự hỗ trợ của Khối ASEAN để giảm bớt ảnh hưởng của Trung Quốc.Tuy chỉ mới gia nhập từ năm 1995 nhưng Việt Nam đang là một thành viên tích cực nhất của Khối ASEAN.[23] Năm 2002, ASEAN và Trung Quốc đã ký Bản Tuyên Bố Ứng Xử (Declaration of Conduct) của các bên tại Biển Đông nhưng Bản Tuyên Bố này không có tính ràng buộc pháp lý. Từ đó thì ASEAN và nhất là Việt Nam luôn tìm cách hối thúc Trung Quốc tiến hành ký kết Quy Tắc Ứng Xử (Code of Conduct) tại Biển Đông có giá trị như một hiệp ước giữa Trung Quốc và ASEAN. Cho tới nay thì không có dấu hiệu gì cho thấy Trung Quốc sẽ chấp thuận yêu cầu này vì không muốn ý đồ thâu tóm Biển Đông của họ bị cản trở.[24] Chính Khối ASEAN cũng không đủ mạnh để có thể đối trọng với Trung Quốc. Đó là chưa kể có một số quốc gia thành viên bị Trung Quốc chi phối nặng nề như Cam Bốt và Lào. Sự yếu kém và tính thiếu đoàn kết của ASEAN biểu lộ rõ rệt tại Hội Nghị 20 ở Phnom Penh khi lần đầu tiên trong lịch sử 4 thập niên ASEAN đã không ra được một bản thông cáo chung trước khi bế mạc.
Trung Quốc luôn nói là sẽ trỗi dậy trong hòa bình nhưng hành xử thì hoàn toàn trái ngược. Có nghĩ là lời nói không đi đôi với việc làm. Khác với Nhật Bản và Phi Luật Tân, Việt Nam không có đồng minh yểm trợ khi bị Trung Quốc lấn át. Sự kiện Trung Quốc đưa giàn khoang Hải Dương 981 vào khu đặc quyền kinh tế Việt Nam chứng minh chính sách ngoại giao “triệu người quen có mấy người thân” và sách lược quốc phòng 3 không của Việt Nam là không có hoặc thiếu hiệu quả. Sự kiện này cũng cho thấy giấc mơ trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc thật sự sẽ là cơn ác mộng cho thế giới và nhất là cho dân tộc Việt Nam.
Kết luận
Việt Nam đang phải đối diện với nhiều thách thức to lớn về nhiều mặt. Kinh tế thì cạn kiệt, xã hội bị dồn nén và chủ quyền lãnh hải đang bị đe dọa trầm trọng. Nếu không thay đổi, cải cách thì hiểm họa mất nước có nguy cơ xảy ra. Trong ngắn hạn, Việt Nam có thể tìm cách gia nhập vào TPP (Hiệp ước Đối Tác Kinh Tế Xuyên Thái Bình Dương) để giảm bớt lệ thuộc vào thị trường Trung Quốc. Muốn vậy thì Việt Nam phải chấp nhận các quy chế gia nhập và cạnh tranh công bằng gồm có tôn trọng quyền lao động quốc tế, công nhận công đoàn độc lập, tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ. Nhà nước phải tiếu tục đẩy mạnh kế hoạch tái cơ cấu kinh tế bằng cách cổ phần hóa hoặc tư hữu hóa doanh nghiệp nhà nước để giảm thiểu vấn nạn nợ công và nợ xấu.
Về mặt xã hội thì Việt Nam cần tạo điều kiện cho các tổ chức xã hội dân sự độc lập hoạt động để người dân có chỗ xã van áp lực trước những vấn nạn và bất cập của xã hội Việt Nam. Với căn bệnh ung thư tham nhũng bất trị hiện nay, Việt Nam không có con đường nào khác là phải thực thi quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí bằng cách tư hữu hóa hơn 800 doanh nghiệp truyền thông nhà nước. Như vậy thì mới mong có thể cầm được căn bệnh.
Cũng như Nhật Bản và Phi Luật Tân, Việt Nam cần xây dựng quan hệ gần gũi với Hoa kỳ để đối trọng với Trung Quốc trong cuộc tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông. Muốn vậy thì Việt Nam phải cải thiện tình trạng nhân quyền. Về việc này thì Việt Nam cần Mỹ hơn là Mỹ cần Việt Nam. Một nước Việt Nam biết tôn trọng nhân quyền sẽ tìm được sự hỗ trợ của Hoa Kỳ và Khối Liên Âu cũng như từ nhiều quốc gia khác trên thế giới tại các diễn đàn quốc tế.
Để thực hiện những đường lối cải cách nêu trên thì Việt Nam cần có giới lãnh đạo mới và có tư duy cải cách trong Đại Hội XII vì thành phần lãnh đạo hiện nay không đủ năng lực hoặc không có tư duy cải cách. Tốt nhất là nhóm lãnh đạo hiện nay nên về hưu hết[25] và nhường chỗ cho cho những thành phần trẻ có khả năng và đã từng tiếp thu hệ thống giáo dục tân tiến ở ngoại quốc có cơ hội nhận lãnh trách nhiệm lãnh đạo. Cần loại bỏ điều lệ phải là thành viên của Bộ Chính Trị ít nhất một nhiệm kỳ trước khi được giao chức vụ lãnh đạo vì nó kiềm hảm nhân tài và cản trở bước tiến của đất nước.
Nhưng những giải pháp nêu trên cũng chỉ là bước đầu và là phần ngọn. Cái gốc của vấn đề là thể chế độc đảng hiện nay. Muốn phát huy được tiềm năng và nội lực dân tộc thì phải thay đổi thể chế độc đảng thành đa đảng để tạo môi trường cạnh tranh chính trị lành mạnh. Chỉ có một thể chế đa đảng mới thay đổi và hiện đại hoá được những cơ chế căn bản gồm có hệ thống quản trị hành chánh, tư pháp và giáo dục để tạo điều kiện cho một nền kinh tế thị trường có tính cạnh tranh và hiệu quả cao, một phong trào xã hội dân sự sinh động, một nhà nước pháp quyền biết tôn trọng nhân quyền và một dân tộc tự tin và tự trọng mà trong đó mọi người dân Việt Nam ở trong và ngoài nước đều có cơ hội phát huy hết tiềm năng và đóng góp vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Có người vẫn mơ mộng tiếp tục theo gương của Trung Quốc. Việt Nam và Trung Quốc khác nhau rất nhiều. Nhưng Trung Quốc quá to lớn để thất bại (too big too fail). Ngay cả thế giới tự do cũng mong muốn Trung Quốc ổn định vì quyền lợi quốc gia của họ. Trung Quốc cũng có tham nhũng nhưng làm việc hiệu quả hơn. Giới lãnh đạo đều là những người được đào tạo ở những trường đại học có tầm vóc có thể so sánh với Harvard và MIT của Hoa Kỳ. Họ biết trọng dụng nhân tài và thu hút được trí thức người Hoa ở trong và ngoài nước. Trong khi đó thì giới lãnh đạo Việt Nam rất tự hào đã có thời cầm súng.[26] Việt Nam hiện tại không giữ nỗi chất xám trong nước, nói gì đến việc thu hút nhân tài ở hải ngoại. Đa số trí thức ở hải ngoại đã quen sinh sống và làm việc trong một môi trường tự do, trong sáng và lành mạnh. Không có lý do gì để họ phải quy phục một chế độ độc tài, toàn trị, tham nhũng và lạc hậu.
Câu hỏi đặt ra cho 1200 đại biểu, 175 ủy viên trung ương và 16 thành viên Bộ Chính Trị trong Đại Hội XII là quyền lợi độc tôn của Đảng Cộng Sản Việt Nam hay là quyền lợi của Tổ Quốc Việt Nam quan trọng hơn? Còn 3 triệu đảng viên sẽ đóng vai trò gì với vận mệnh dân tộc? Đó cũng là câu hỏi cho 90 triệu đồng bào trong nước và 5 triệu người Việt ở hải ngoại.
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Những loài vật cưng đắt giá nhất thế giới

Những loài vật cưng đắt giá nhất thế giới

Cập nhật lúc: 12:10 12/01/2015 (GMT+7)

(Kiến Thức) – Từ sư tử trắng đến con bò Holstein, ngựa đua Green Monkey đều là những con vật cưng đắt nhất thế giới được đại gia săn lùng.
1. Ngựa đua, giá khoảng 16 triệu USD


Nhung loai vat cung dat gia nhat the gioi
Ngựa đua Green Monkey được bán với giá gần 16 triệu USD hồi năm 2006.
Ngựa đua được liệt kê vào danh sách những vật cưng đắt nhất thế giới.Những con ngựa đua có thể “kiếm ra” hàng trăm triệu USD mỗi năm nhờ thắng cược trong các cuộc đua. Năm 2006, chú ngựa đua tài năng Green Monkey được bán với giá gần 16 triệu USD tại một phiên đấu giá.
2. Chó ngao Tây Tạng, giá 1,5 triệu USD
Nhung loai vat cung dat gia nhat the gioi-Hinh-2
 
Chó ngao Tây Tạng nổi tiếng với vẻ đẹp quý tộc và có giá lên tới vài triệu USD. Sở hữu bộ lông đẹp cùng vẻ hùng dũng như sư tử, chó ngao Tây Tạng trở thành một trong những con vật cưng đắt nhất thế giới, biểu tượng giàu có của giới thượng lưu Trung Quốc.
3. Bò sữa Holstein của Hà Lan, giá khoảng 1,2 triệu USD
Nhung loai vat cung dat gia nhat the gioi-Hinh-3
 
Giá được quyết định dựa trên huyết thống và khả năng sinh sản. Năm 2009, cô bò Missy giống Holstein 3 tuổi được bán với giá 1,2 triệu USD tại Ontario (Canada). Đây là nàng bò đắt giá nhất thế giới.
4. Chó Lancelot Encore
Nhung loai vat cung dat gia nhat the gioi-Hinh-4
 

Đây thực chất là một chú chó nhân bản vô tính. Cặp đôi giàu có sống ở bang Florida (Mỹ) đã chi 155.000 USD cho một công ty công nghệ sinh học để tái hiện bản sao chú chó đã mất vì ung thư của mình.

5. Sư tử con lông trắng, giá khoảng 138.000 USD
Nhung loai vat cung dat gia nhat the gioi-Hinh-5
 

Trên thế giới hiện chỉ còn khoảng 300 con sư tử trắng, vì vậy những người yêu thú cưng sẵn sàng bỏ hàng trăm nghìn USD để sở hữu một chú sư tử trắng con. Thừa hưởng gen đột biến của giống sư tử Kruger, sư tử trắng là một trongnhững con vật cưng đắt nhất thế giới vô cùng đáng yêu.

6. Con bọ rơi, giá 89.000 USD
Nhung loai vat cung dat gia nhat the gioi-Hinh-6
 
Con vật cưng bọ rơi vật cưng Stag được biết đến là một sinh vật quý hiếm và đặc biệt. Để sở hữu một con bọ rơi hiếm có này, bạn có thể phải bỏ ra 89.000 USD hoặc nhiều hơn thế.
Thảo Nguyên (theo GoCompare)
Categories: Cảnh-Đẹp | Leave a comment

Sôi nổi Ngày hội Việt – Nhật 2015 tại Hà Nội

Sôi nổi Ngày hội Việt – Nhật 2015 tại Hà Nội
20:31 | 11/01/2015

(ĐCSVN)Ngày 11/1, tại Vincom Mega Mall Royal City (quận Thanh Xuân, Hà Nội), Ngày hội Việt – Nhật 2015 đã diễn ra sôi nổi với sự tham gia của đông đảo người dân Thủ đô. Hoạt động là sự kiện quan trọng mở đầu cho các hoạt động xúc tiến du lịch của Nhật Bản tại Việt Nam năm 2015, đồng thời nhằm giới thiệu rộng rãi về hình ảnh đất nước, con người, văn hóa truyền thống của Nhật Bản tới công chúng Việt Nam.

Sự kiện do Tổng cục Du lịch Nhật Bản, Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam phối hợp tổ chức.

Ông Yanagi Yun, Công sứ Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam (giữa)
và các đại biểu cắt băng khai mạc Ngày hội.

Các vị đại sứ, đại biểu hai nước Việt Nam – Nhật Bản
tới dự và chụp ảnh lưu niệm trong chương trình.

Ngày hội đã diễn ra nhiều hoạt động sôi nổi như: Biểu diễn múa truyền thống Nhật Bản, đố vui trắc nghiệm về Nhật Bản, giới thiệu trang điểm Nhật Bản, thử áo Yukata, gian hàng khám phá thẩm mỹ thời trang Harajuku – Shibuya, gian hàng của các công ty du lịch Việt Nam, giới thiệu thông tin du lịch Nhật Bản “Visit Japan”, thông tin du học Nhật Bản…

Khu giới thiệu về du lịch Nhật Bản thu hút người tham dự.

Tại khu vực thi tìm hiểu về đất nước Nhật Bản.

Khu vực tìm hiểu về du học tại Nhật Bản.

Các thiếu nữ Hà Nội háo hức thử trang phục dân tộc kimono của Nhật Bản.

Các hoạt động sôi nổi đã góp phần tăng cường sự hiểu biết, gắn bó giữa nhân dân hai nước, đồng thời tạo điều kiện kết nối giao lưu giữa những người làm công tác văn hóa, doanh nhân, doanh nghiệp giữa hai nước Việt Nam và Nhật Bản.

Categories: Tin Trong Nước | Leave a comment

Ai sẽ là TBT ĐCSVN khóa 12: Nguyễn Tấn Dũng có trở thành Tổng thống?

Trong số 5 ứng cử viên cho chức TBT khóa 12, Nguyễn Tấn Dũng là khuôn mạt ’’ hầm hố’’ nhất – nói theo cách của dân nam bộ rất…’’Ngầu’’!
Thân thế, sự nghiệp của ông đã được giới truyền thông đề cập từ nhiều năm qua. Tại thời điểm này khi vấn đề chọn nhân sự cho ĐH 12 gấp rút đặt ra, dư luận rộng rãi nhìn nhận con người NTD một cách khá dè dặt. Ở ông pha trộn cả hai chất đặc trưng: Chính – Tà .
THỨ NHẤT – khảo sát chất ’’Tà’’ !
Gần 10 năm cầm đầu chính phủ trong vai trò Thủ Tướng (2 nhiệm kì) ông đã để lại trong lòng dân tộc 2 dấu ấn khó phai:
1 – Để nền kinh tế của đất nước kiệt quệ, lụn bại ’’loạn xà ngầu’’, điển hình là núi NỢ XẤU (hơn triệu tỉ VNĐ, khoảng hơn 50 tỉ USD) mà số nợ này hầu như có cơ mất trắng.
2 – Để nạn tham nhũng hoành hành, tràn lan, trở thành’’đại địch, giặc nội xâm’’ đe dọa đất nước có cơ phá sản.
2 vấn nạn này diễn ra trong triều đại của ông. Tuy thể chế ‘’đảng toàn trị’’ khiến TTg bó tay nhiều mặt, nhưng nếu TTg quyết tâm làm hết trách nhiệm vẫn sẽ giảm thiểu thiệt hại, tham nhũng được hạn chế, tình hình cả hệ thống cầm quyền sẽ không thể hùa nhau ăn cắp, ăn cướp công quỹ và móc túi nhân dân.…đất nước sẽ khá hơn, đời sống của nhân dân sẽ bớt khổ hơn !
Ngược lại, có lúc ông đổ vấy: Do thể chế , do đường lối tạo ra (ý nói do ĐCSVN) . Dù nói gì thì nói, dù biện báo thế nào, ông là TTg, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước quốc dân đồng bào trong phạm vi trách nhiệm được giao !
THỨ HAI – Khảo sát chất ’’Chính’’ !
Có lúc này, lúc khác ông đã trải lòng, (phát biểu) muốn thay đổi thể chế, đường lối, (như thông điệp đầu năm 2014) ngầm ý thay đổi cương lĩnh chinh trị của cái đảng mà ông đang tham gia đang’’thoái hóa, biến chất’’ mà theo dư luận rông rãi trong dân chúng: Đảng CSVN đã không còn là đảng chân chính như trước đây trong chiến tranh, mà đã biến thành đảng của phe cánh, nhóm lợi ích, thậm chí ’’đảng Mafia’’! …
Cái mầm mống của sụ’’Chính’’ trong ông tuy nhỏ bé, yếu ớt (có vẻ khó tin), nhưng cũng đủ gây cho nhân dân niềm hi vọng dáp ứng được khát vọng của cả dân tộc (…), về một chế độ thực sự dân chủ, tự do để đất nược phát triển bền vững, bứt phá chuyển mình, đi lên ! Hành động của ông lặp đi lặp lại nhiều lần nhưng tất cả vẫn ì ra, dậm chân tại chỗ, thậm chí lời nói, chỉ thị của TTg chỉ như ’’gió bay’’, chẳng được cấp dưới thực hiên (như kết luận vụ Đoàn Văn Vươn…) khiến nhân dân và trí thức đâm nghi ngờ, đặt câu hỏi: Ông Nguyễn Tấn Dũng thực tâm muốn thay đổi thể chế hay đây chỉ là miêng võ dùng để trấn an’’mua, lừa’’ lòng tin của nhân dân VN? Do vậy đây dó đang nổi lên dư luận : NTD là con bài của TQ! Việc làm, (phát ngôn) chính là hành động cò mồi. Đối chiếu giữa nói và làm của TTg – nhân vật quyền thế thứ hai của VN đương đại, sự nghi ngờ đó quả thực không phải không có cơ sở !
Khi bọn Bành trướng Bá quyên Bắc Kinh tiến hành xâm chiếm biển trời nước ta, xuất hiện một hiện tượng đặc biệt: NTD là người duy nhất (trong tứ trụ: TBT, TTg, CTN, CTQH) dám lên tiêng trước công luận, trên diễn đàn trong nước và quốc tế – phản đối, chỉ rõ TQ là kẻ xâm lược. Chắp nối lại những động thái rời rạc của NTD diễn ra thời gian qua, dư luận trong nhân dân VN đã đang có thay đổi cách đánh giá về ông và đặt câu hỏi lại: Phải chăng TTg đã thật sụ thay đổi tư duy lãnh đạo ? Ông có dám dấn thân làm một cuộc cách mạng đáp ứng yêu cầu của đất nước , dân tộc : Thay đổi thể chế để mang lại Tự do – Dân chủ – Nhân quyền thực sự cho nhân dân, làm nền móng, cơ sở vững chắc đưa đất nước Việt Nam tới giầu mạnh, nhân dân ấm no hạnh phúc , trên hết là bảo vệ chủ quyên và toàn vẹn lãnh thổ trước sự bành trương , xâm lược của bọn phản động đại Hán – Bắc Kinh ! Nếu hi vọng này là sự thật, một câu hỏi khác được đặt ra : Nguyên nhân nào khiến NTD phai làm thế ?
Có thể có 2 nguyên nhân:
THỨ NHẤT
Mỗi con người sống trên đời đều mơ tới, đạt được Quyền – Lợi. Với NTD điều này đã quá đủ. Quyền thì đã đên đỉnh cao (đứng thứ 2) so với chức Tổng Bí Thư. Nhưng thực chất ông đứng thứ nhất. Muốn gì được nấy, có thể’’hô mưa, gọi gió’’ vì có đủ cả 2 thứ Gạo – Tiền như lời dân gian’’mạnh vì gạo, bạo vì tiền’’!
Khi đang thiếu thốn vật chất, người ta chỉ mơ giầu có, khi đã thoả mãn, bắt đầu mơ được ‘’sang trọng’’, với các chính khách như TTg, muốn được lịch sử ghi danh thiên cổ. Nếu chỉ như bây giờ, sau vài năm nữa ra về , lủi vào chỗ nào an toàn, ôm chiếc két lớn chứa đầy vàng ngọc, hang tỉ USD, Ông và gia tộc sẽ sống cuộc sống đế vương rồi cũng về với cát bụi, sau đó vài ba đời, chưa biết điều gì sẽ xẩy ra…
Thế nhưng lịch sử của dân tộc VN vẫn giữ ’’văn tự món nợ’’ khổng lồ mà ông’’vay’’ trong 10 năm cầm quyền (2005 – 2015). Ông sẽ phải trả bằng danh dự . Trong chính thể CS toàn trị, những viên quan chép sử dưới quyền ông không dám viết, đại loại: 10 năm cầm quyền, Nguyễn Tấn Dũng đã’’làm đất nước VN nghèo đi, đẩy dân tộc VN tới nghèo đói cùng cực – như câu nói của NSƯT Kim Chi – nhà nữ nghệ sĩ trứ danh (cùng quê Nam Bộ vói ông) đã nói, khi từ chối ân huệ – tấm giấy khen của ông ban cho!
Cũng sẽ chẳng có nhà sử học nào dám viết ngược lại như bà Kim Chi đã nói, nhưng cả dân tộc 90 triệu (và sẽ tăng lên theo thời gian) biết, nghe được câu nói này lưu truyền trong dân gian, ngàn đời ! Con, chắu, chắt, chút, chit và cả gia tộc ông sẽ phải nghe thay ông. Lúc đó ở dưới ba thước đất lời nguyên rủa kia sẽ đè nặng làm hương hồn ông sẽ khó siêu thoát !
Lo sợ tình trạng này, ông đã, đang chuẩn bị tìm cách hóa giải lời nguyên. Nhưng động thái trong ông đang diễn ra đã báo hiệu một kế hoạch mới để ông về với dân tộc, thực hiện ngay những gì mà ông mới manh nha : Thay đổi thể chế – nói như Hô xê mác ty, nhà cách mạng Cu Ba: Thay đổi hay là chết !?
THỨ HAI
Nhân dân ta có câu Tục ngữ: Đánh kẻ chạy đi chứ không đánh kẻ chạy lại , nghĩa là: Nếu con người dù có lỗi lầm nhưng biết hối cải, sẽ được tha thứ. Ông NTD có tâm muốn chuộc lỗi, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân bằng cuộc cách mạng’’THAY ĐỔI THỂ CHẾ’’ (TĐTC), nhân dân VN sẵn lòng chẳng những tha thứ mà còn hoan nghênh, ủng hộ hết mình. Trước hết, thay đổi quan điểm đánh giá về nước Trung Quốc – thoát ra khỏi vòng kiềm tỏa của 16 chữ vàng , 4 tốt mà họ đưa ra làm mồi nhử, ru ngủ, mua chuộc, o bế ĐCSVN đã nhiều năm. Vì tập đoàn lãnh đạo Trung Quốc – Bắc Kinh đã hiện nguyên hình thành những tên Bành trướng, tội phạm Mafia chính trị vào loại phản động nguy hiểm nhất ở thế kỉ 21. Dã tâm chiếm trọn đất nước ta làm cầu nối tràn xuống Đông Nam Á (ASEAN) đã bắt đầu từ thâu tóm kinh tế, lũng đoạn chính trị, mua chuộc một số người trong guồng máy lãnh đạo đảng và nhà nước VN, biến họ thành những tay sai đắc lực phục vụ mưu đồ bành trướng xâm chiếm biển Đông (bước đầu đua giàn khoan vào trá hình thăm dò dầu rồi biến chúng thành những cột mốc khoanh vùng của đường lưỡi bò…) hòng nối mắt xích Giấc mơ Trung Hoa hão huyên nhưng vô cùng nguy hiểm. Từ sự THOÁT TRUNG này, NTD sẽ huy động được lòng yêu nước của nhân dân VN anh hùng để đánh thắng quân xâm lược Trung cộng, bảo vệ mảnh đất thiêng liêng mà tổ tiên đã để lại !
Cũng trên đà đó, Nhân dân sẽ ủng hộ nhiệt tình thể chế mới của chính phủ NTD: Xây dựng, phát triển nước VN cường thịnh, thực hiện được :’’Dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh’’ sánh vai, ngang hang với các nước phát triển của Asean, tiến tới đuổi kịp các nước dân chủ phát triển của thế giới !
Thực hiện cuộc cách mạng TĐTC, là ông cứu được nhà, cứu gia tộc, cứu danh dự của ông trước lịch sủ của đất nước. Sau nữa, ông đã cứu nước khỏi họa xâm lăng của kẻ thù truyền kiếp.
Nếu thực hiện được cuộc cách mạng TĐTC sẽ đưa ông đến ngôi vị tuyệt đỉnh : TBT đảng CSVN, kiêm luôn Chủ Tich Nước – như mô hình của các nước phát triển.
Tin rằng ông sẽ thực hiện được mục đích cao cả này, bởi vì ông có khả năng với nhiều điều kiện :
– Có bản lĩnh, có kinh nghiệm của người lãnh tụ tối cao.
– Có thực lực (nhân tài vật lực (…)
– Có đội ngũ chiến hữu trung thành, đồng quan điểm. (Qua cuộc bỏ phiếu hạ bệ, phế truất ông trong hội nghị TƯ không thành, đủ biết lực lượng của ông (…)
Còn v.v…và vân .vân… nữa !
Các điều kiện đã đủ để ông thực hiện cuộc cách mạng TĐTC, đưa ông làm Tổng Bí Thư ĐCSVN khóa 12, dẫn đến ngôi vị Thống của Nước Việt Nam mới !
Phật dậy: Quay đầu là bờ !
Đừng tiếp tục bơi trên biển lớn đang có bão to, song cả. Đằng sau là bờ…đất liền của mẹ tổ quốc Việt Nam. Hãy quay đầu lại – Bờ kia rồi, mau lên đi Nguyễn Tấn Dũng, ợi !
Tác giả Diệp Kính Thiên
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Blog at WordPress.com.