Daily Archives: February 21, 2015

Việt – Nga trước thử thách

Việt – Nga trước thử thách của bối cảnh mới

Hợp tác giữa Việt Nam và Nga trong 65 năm qua, với những kết quả hiếm có, đang đứng trước những thách thức mới do biến chuyển tình hình an ninh khu vực, các học giả hai nước nhận xét.
T-10-5562-1395477309-5671-1422422087.jpg

Hợp tác quốc phòng, an ninh, trong đó có chế tạo và chuyển giao tàu ngầm, vẫn được Nga và Việt Nam coi là ưu tiên hợp tác thời gian tới. Ảnh minh họa: Phong Nghị

Giáo sư Vladimir Kolotov, Chủ nhiệm Ban Lịch sử Viễn Đông, Khoa Nghiên cứu châu Á và châu Phi, Đại học St. Petersburg, Nga, cùng Tiến sĩ Nguyễn Đình Luân, cố vấn tại Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và Phát triển quan hệ quốc tế, trao đổi với VnExpress về triển vọng quan hệ Việt – Nga thời gian tới.

– Ông đánh giá như thế nào về quan hệ Việt – Nga hiện nay?

– Ông Vladimir Kolotov: Nga và Việt Nam đang có mối hợp tác Chiến lược Toàn diện. Các tài liệu chính thức của Nga đều cho thấy Việt Nam là một trong ba đối tác ưu tiên quan trọng nhất ở khu vực châu Á. Đó là vị trí rất cao.Đối tác chiến lược chính của Nga ở Đông Bắc Á là Trung Quốc, tại Nam Á là Ấn Độ, và tại Đông Nam Á là Việt Nam.

– Ông Nguyễn Đình Luân: Khuôn khổ quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt – Nga thể hiện sự tin cậy chiến lược ở mức độ cao giữa hai nước. Đây là một trong những tài sản chiến lược quan trọng của Việt Nam trong thế kỷ 21, được coi là thế kỷ của châu Á – Thái Bình Dương vốn nhiều cơ hội và cũng không ít thách đố.

Việt Nam không phải là ưu tiên số 1 trong chính sách châu Á – Thái Bình Dương của Nga, nhưng Việt Nam có vị trí địa chính trị quan trọng ở Đông Nam Á, trong đó có cảng Cam Ranh, đường bờ biển dài. Quan hệ chiến lược toàn diện với Việt Nam cũng là một tài sản chiến lược quan trọng của Nga trong “bàn cờ lớn” mới đang định hình.

Để có vị thế xứng đáng trên trường thế giới trong tương lai, Nga cần phải có những đối tác chiến lược tin cậy ở các khu vực trọng điểm.

– Sự tin cậy đó giúp hai nước thành công ở lĩnh vực nào?

Ông Kolotov: Nga sản xuất thiết bị kỹ thuật quân sự cho Việt Nam, trong đó có tàu ngầm, là lĩnh vực hợp tác truyền thống giữa hai nước trong 65 năm qua. Nga cũng đào tạo giúp Việt Nam vận hành các thiết bị này. Tôi cho rằng đó là một ví dụ cho thấy độ tin cậy cao giữa hai nước, điều khó tìm được trong quan hệ quốc tế hiện nay.

– Ông Nguyễn Đình Luân: Sự tin cậy chiến lược là cơ sở cho Việt Nam và Nga phát triển quan hệ hợp tác an ninh, quốc phòng. Nga đã, đang và sẽ tiếp tục là nước cung cấp ổn định, lâu dài phần lớn vũ khí và trang thiết bị quân sự cho Việt Nam. Nga nhất trí đào tạo về quân sự cho Việt Nam, bởi Nga có thế mạnh trong ngành công nghiệp quốc phòng hiện đại.

Trong khi đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ hợp tác an ninh – quốc phòng với các mức độ khác nhau, Việt Nam sẽ tiếp tục thúc đẩy quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện với Nga theo cả hai chiều rộng và sâu. Hợp tác với Nga đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình hiện đại hóa quân đội, xây dựng nền công nghiệp quốc phòng phục vụ cho bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia, tạo thế đứng chiến lược vững chắc hơn cho Việt Nam ở Đông Á – Thái Bình Dương.

– Tình hình tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông hiện nay được Nga nhìn nhận như thế nào, và có ảnh hưởng gì đến hợp tác trong lĩnh vực dầu khí với Việt Nam?

Ông Kolotov: Nga không phải một nước liên quan trực tiếp đến tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông. Nga giữ quan điểm là tranh chấp ở khu vực này cần được giải quyết bằng biện pháp hòa bình và dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Tôi tin rằng các doanh nghiệp lớn của Nga sẽ tiếp tục thực hiện các dự án đang hợp tác với Việt Nam trên cơ sở hai bên cùng có lợi.

– Ông Nguyễn Đình Luân: Biển Đông đang trở thành một tiêu điểm trong cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung, với tầm quan trọng chiến lược về giao thông hàng hải và tiềm năng dầu khí.

Hợp tác dầu khí của Nga với Việt Nam ở Biển Đông không chỉ là lợi ích kinh tế của Nga, mà còn là câu chuyện về diện mạo nước lớn và ảnh hưởng chiến lược trong tương lai. Nguy cơ Nga tạm ngừng hợp tác dầu khí với Việt Nam chỉ xuất hiện khi và chỉ khi bùng nổ chiến tranh cường quốc ở khu vực Đông Á – Thái Bình Dương. Nếu điều đó xảy ra thì tất cả các hoạt động khai thác dầu khí ở Biển Đông đều phải tạm ngừng.

Châu Á – Thái Bình Dương sẽ trở thành trung tâm chính trị của thế giới trong thế kỷ này. Mỹ vẫn đang tiếp tục xúc tiến triển khai chính sách xoay trục, Nhật Bản cũng tăng cường ảnh hưởng ở Đông Nam Á. Ấn Độ dưới thời Thủ tướng Narendra Modi đang đẩy mạnh triển khai chính sách “hành động hướng Đông”. Để trở thành một trung tâm quyền lực bình đẳng trong cấu trúc an ninh mới đang định hình ở khu vực này, Nga phải tạo dựng được vị thế địa chiến lược và ảnh hưởng quốc tế ngang tầm của mình.

– Năm ngoái Tổng thống Nga Vladimir Putin tuyên bố quan hệ Nga – Trung đang ở mức cao nhất trong lịch sử, điều này ảnh hưởng thế nào tới quan hệ với Việt Nam?

– Ông Kolotov: Điều đó không ảnh hưởng đến an ninh của Việt Nam. Nga và Trung Quốc hợp tác an ninh trong khuôn khổ Tổ chức hợp tác Thượng Hải, trong phạm vi ở Trung Á. Còn tại châu Á – Thái Bình Dương, Nga và Trung Quốc hoạt động độc lập, mỗi bên thực hiện chính sách đối ngoại riêng của mình. Nga vẫn tạo điều kiện tối ưu để Việt Nam nâng cao khả năng quốc phòng.

Việc hoan nghênh quan hệ tốt giữa Việt Nam và Trung Quốc là một trong những ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Nga. Tôi xin nhấn mạnh rằng nếu quan hệ Việt – Trung bị đẩy sang hướng tiêu cực sẽ khiến hai bên cùng bị thiệt hại.

– Ông Nguyễn Đình Luân: Quan hệ Nga – Trung đạt mức hợp tác cao nhất trong lịch sử là một thực tế, nhưng còn một thực tế khác là cũng có những trở ngại, thách thức lớn đối với họ. Chẳng hạn, địa bàn của “Con đường tơ lụa” trên bộ mà Trung Quốc đang xúc tiến triển khai, giúp nước này gia tăng ảnh hưởng ở Trung Á, lại là vùng đất rất quan trọng đối với Nga.

Ngoài ra, còn có những vấn đề gai góc khác nữa. Nga cũng đã từng trải nghiệm sự nóng lạnh trong quan hệ Xô – Trung trước đây, trong đó có cuộc chiến tranh biên giới với Trung Quốc năm 1969.

Các nước trong khu vực đều đang phải lo xa để tránh họa gần. Nhật Bản cũng không theo Mỹ để cấm vận Nga. Tôi cho rằng Việt Nam sẽ tiếp tục thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Nga theo cả hai chiều rộng và sâu.

– Những lĩnh vực nào có triển vọng tăng tiến mạnh mẽ trong hợp tác giữa hai nước trong thời gian tới?

– Ông Kolotov: Hiện Nga đang chú trọng đến vấn đề an ninh kỹ thuật số, hay còn gọi là an ninh mạng, đây là lĩnh vực Việt – Nga có thể đẩy mạnh hợp tác. Việt Nam cũng nên coi trọng hệ thống phòng không, lực lượng hải quân và thiết bị bay không người lái. Về kinh tế, trong bối cảnh Mỹ và châu Âu cấm vận Nga, Việt Nam có thể tăng xuất khẩu sang Nga các mặt hàng để mở rộng thị phần ở đây.

– Ông Nguyễn Đình Luân: Trong một vài năm tới, Nga sẽ phải tập trung vào ổn định tình hình trong nước và vực dậy nền kinh tế suy yếu. Đây là thời điểm thử thách Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt – Nga, cũng là một cơ hội để Việt Nam nâng cao giá trị của tài sản chiến lược trong quan hệ với Nga. Để đối phó với khả năng chiến tranh không – biển, ngoài tàu ngầm, Việt Nam còn có thể hợp tác với Nga để hoàn thiện hệ thống phòng thủ tên lửa và bảo đảm an ninh mạng, an ninh không gian.

Trong lúc Nga đang đẩy mạnh hiện đại hóa khu vực Viễn Đông, Việt Nam có thể phát huy các lợi thế của mình như nguồn lao động dồi dào, tăng xuất khẩu hàng nông sản sang Nga.

Việt Anh

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Trung Quốc gạt biển Đông khỏi nghị trình ADMM Plus

Trung Quốc gạt biển Đông khỏi nghị trình ADMM Plus
Wednesday, February 18, 2015 12:46:45 PM


http://platform.twitter.com/widgets/tweet_button.62da0a34306f5c17db7d290755ed1d7d.en.html#_=1424508580632&count=horizontal&counturl=http%3A%2F%2Fwww.nguoi-viet.com%2Fabsolutenm2%2Ftemplates%2FviewarticlesNVO.aspx%3Farticleid%3D203259%26zoneid%3D2&dnt=false&id=twitter-widget-0&lang=en&original_referer=http%3A%2F%2Fwww.nguoi-viet.com%2Fabsolutenm2%2Ftemplates%2FviewarticlesNVO.aspx%3Farticleid%3D203259%26zoneid%3D2%23.VOhGjebF-sw&size=m&text=Trung%20Qu%E1%BB%91c%20g%E1%BA%A1t%20bi%E1%BB%83n%20%C4%90%C3%B4ng%20kh%E1%BB%8Fi%20ngh%E1%BB%8B%20tr%C3%ACnh%20ADMM%20Plus%20-%20Vi%E1%BB%87t%20Nam%20-%20Ng%C6%B0%E1%BB%9Di%20Vi%E1%BB%87t%20Online%3A&url=http%3A%2F%2Fwww.nguoi-viet.com%2Fabsolutenm2%2Ftemplates%2FviewarticlesNVO.aspx%3Farticleid%3D203259%26zoneid%3D2%23.VOhGjRIMnB1.twitterShare on print   PrintShare on email   Email      



SINGAPORE (NV) .- Trung Quốc đã gạt bỏ đề nghị đưa biển Đông vào nghị trình của ADMM Plus sẽ diễn ra vào tháng 11 tại Mã Lai,  tổ chức Jane’s Defense tiết lộ và tờ The Diplomat của Nhật vừa thuật lại.

ASEAN thiếu đồng thuận, các chiến hạm của Trung Quốc vẫn ngang dọc trên biển Đông như đang đi lại trong “ao nhà”. (Hình: Tân Hoa Xã)

ADMM Plus là cách gọi tắt Hội nghị các Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng. Ngoài 10 Bộ trưởng Quốc phòng của ASEAN, hội nghị này còn có đại diện Bộ Quốc phòng của tám quốc gia nằm ngoài ASEAN là Hoa Kỳ, Nga, Úc, Tân Tây Lan, Nhật, Nam Hàn, Ấn và Trung Quốc tham dự.

ADMM Plus đã diễn ra hai lần. Lần đầu vào năm 2010 tại Việt Nam và lần thứ hai vào năm 2013 tại Brunei.

Tại cuộc họp giữa các chuyên viên để chuẩn bị cho ADMM Plus lần thứ ba, đại diện Trung Quốc đã gạt bỏ đề nghị của ASEAN: Đưa việc thực thi DOC (Bản Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông) và nội dung COC (Bộ Quy tắc ứng xử giữa ASEAN và Trung Quốc tại biển Đông) ra thảo luận tại ADMM Plus.

Nói cách khác, bởi Trung Quốc không đồng ý, những vấn đề vốn được xem là cốt lõi trong quan hệ giữa ASEAN và Trung Quốc cũng như an ninh khu vực sẽ không được đề cập tại ADMM Plus lần thứ ba.

Cần lưu ý rằng, mục tiêu của ADMM Plus là tạo lập một cơ chế hợp tác để giải quyết những bất đồng, trong đó có mâu thuẫn về chủ quyền nhằm hóa giải các xung đột tiềm ẩn. Thái độ của Trung Quốc mâu thuẫn với mục tiêu này.

Tờ The Diplomat nhận định, việc gạt bỏ biển Đông khỏi nghị trình của ADMM Plus cho thấy Trung Quốc không thật lòng. Điều đó còn chứng minh Trung Quốc không muốn bị các văn kiện chính thức trói buộc, ảnh hưởng đến việc thực thi tham vọng khống chế toàn bộ biển Đông.

Trung Quốc không muốn “quốc tế hóa” các tranh chấp biển Đông vì hi vọng có thể bắt chẹt từng quốc gia Đông Nam Á trong các cuộc thương thuyết song phương. Cũng vì vậy, COC đúng nghĩa có thể sẽ là một hi vọng không bao giờ thành hiện thực.

Hồi tháng 7 năm ngoái, tại hội thảo về “Tranh chấp biển Đông dưới góc nhìn dân sự”, do Việt Nam tổ chức, với sự tham gia của 50 học giả ở nhiều quốc gia khác nhau. Ông Carl Thayer, Giáo sư Học viện Quốc phòng Úc, từng khuyến cáo, ASEAN nên tự soạn thảo COC trước khi đàm phán với Trung Quốc. Đừng chú trọng vào đàm phán với Trung Quốc về COC.

Theo ông Thayer, việc ASEAN chỉ quan tâm đến đàm phán với Trung Quốc về COC mà không chú ý tới tự soạn COC trên biển Đông, bởi sợ Trung Quốc bác bỏ dự thảo tự soạn là một sai lầm. Ông Thayer nhấn mạnh, điều đó khiến ASEAN khó đạt được một lập trường chung trong khi Trung Quốc có thể lợi dụng khác biệt trong ASEAN để kéo dài các cuộc đàm phán, có thêm thời gian để củng cố sự hiện diện và kiểm soát đối với các vùng biển và thực thể ở biển Đông.

Vị giáo sư người Úc này cho rằng, diễn biến tranh chấp giữa Trung Quốc với Philippines tại bãi Second Thomas và tranh chấp giữa Trung Quốc với Việt Nam trong vụ giàn khoan 981 cho thấy, Trung Quốc muốn tình trạng thực tế thay đổi đến mức ASEAN không thể làm gì được nữa trước khi đạt được thỏa thuận về COC trên biển Đông.

Do vậy, ASEAN cần phải tìm kiếm sự đồng thuận về dự thảo COC trên biển Đông để xác lập lập trường thống nhất trong các cuộc đàm phán với Trung Quốc. Ông Thayer khuyến cáo, ASEAN nên chỉnh sửa và cập nhật dự thảo COC trên biển Đông của Indonesia thành bản thảo cuối cùng để Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN phê chuẩn, phát hành nhằm tìm kiếm sự ủng hộ quốc tế.

Trên thực tế, ASEAN đã lặng lẽ bác dự thảo COC trên biển Đông do Indonesia soạn và hướng sự quan tâm vào quan điểm của Trung Quốc đã khiến ASEAN bị tách thành hai nhóm: Nhóm có tranh chấp và nhóm không có tranh chấp.

Ông Thayer đề nghị ASEAN nên nhìn xa hơn, xem COC là bộ quy tắc ứng xử cho những vấn đề chung trên biển của khu vực Đông Nam Á chứ không đơn thuần chỉ là COC cho biển Đông. Điều này sẽ giúp củng cố tư cách pháp lý của ASEAN và tăng cường khả năng đối phó với các cường quốc bên ngoài.

Cũng cần nhắc lại là năm 1996, ASEAN đã từng đề cập đến việc xây dựng COC trên biển Đông nhưng bất thành. Do các tranh chấp trên biển Đông càng ngày càng gay gắt, năm 2002, ASEAN và Trung Quốc đã ký Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên biển Đông (DOC).

Tuy nhiên DOC không giúp giảm bớt căng thẳng trên biển Đông vì phạm vi áp dụng thiếu rõ ràng và các quy định thì thiếu cụ thể. Chưa kể DOC không có giá trị ràng buộc về mặt pháp lý. Đến năm 2011, ASEAN và Trung Quốc tiếp tục thông qua Bản Quy tắc hướng dẫn DOC nhưng văn kiện này cũng không khắc phục được hết những hạn chế của DOC.

Người ta hy vọng nếu ASEAN có thể thông qua một COC cùng với Trung Quốc, các tranh chấp trên biển Đông có thể được phân xử bởi một cơ quan tài phán quốc tế.  Tuy nhiên cho đến nay, Trung Quốc chưa bao giờ tỏ ra đồng tình với giải pháp này và tìm nhiều cách để tạo bất đồng giữa các quốc gia trong khối ASEAN khi họ bàn luận về COC.

Khó khăn trong đàm phàn giữa ASEAN và Trung Quốc là điều được xem như tất nhiên. Tháng 8 năm 2013, ông James R. Holmes, giáo sư về chiến lược của Học viện Hải quân Hoa Kỳ, từng cảnh báo, tìm cách thuyết phục Trung Quốc chấp thuận COC mà không dứt khoát trong việc giải quyết các mâu thuẫn hiện tại, chưa chắc đã là giải pháp tốt nhất cho ASEAN trong tương lai.

Theo ông Holmes, ASEAN nên cẩn trọng và mạnh mẽ khước từ COC với Trung Quốc, nếu trong đó, Trung Quốc không chấp nhận từ bỏ những đòi hỏi vô lối về chủ quyền ở biển Đông.

Theo hướng này thì ASEAN cần đạt được một văn kiện mà trong đó, Trung Quốc chấp nhận rút khỏi những nơi thuộc vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia ASEAN mà họ từng xâm phạm. Chấp nhận ngưng ngăn cản hoạt động của hải quân các nước trong khu vực đường chín đoạn mà Trung Quốc tự vạch ra, cũng như chấp nhận rằng, bất kỳ COC nào ở biển Đông cũng phải tuân thủ Công ước về Luật Biển.

Ông Holmes nhận định, ưng thuận một COC với Trung Quốc mà thiếu cân nhắc các yếu tố vừa kể sẽ đồng nghĩa với việc phải chấp nhận thực trạng hiện nay. Trong đó bao gồm cả việc Trung Quốc đã chiếm giữ các khu vực nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của nhiều quốc gia ASEAN.

Vị giáo sư về chiến lược của Học viện Hải quân Hoa Kỳ khuyến cáo, nếu ASEAN chấp nhận một COC với Trung Quốc mà thiếu các điều kiện như ông đề nghị thì COC đó sẽ giúp Trung Quốc có thể giữ được những gì họ đã thâu tóm trong thời gian vừa qua. Ông Holmes nhấn mạnh, ASEAN sẽ phải trả giá đắt nếu thiếu tỉnh táo và cương quyết trong quá trình đạt được một COC với Trung Quốc.

Nay những cảnh báo đó đã trở thành rõ ràng. (G.Đ)

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.