Daily Archives: March 2, 2015

Trung Quốc âm mưu lập ‘chuỗi phòng thủ bán nguyệt’ trên Thái Bình Dương

Thứ ba, 3/2/2015 | 15:37 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebookChia sẻ bài viết lên twitterChia sẻ bài viết lên google+|

Trung Quốc âm mưu lập ‘chuỗi phòng thủ bán nguyệt’ trên Thái Bình Dương

Trung Quốc tích cực bồi đắp và quân sự hóa các đảo tại Biển Đông và Hoa Đông là nhằm hình thành một chuỗi phòng thủ hình bán nguyệt trên biển, kéo dài suốt vùng biển khu vực Đông Á, các chuyên gia nhận định.
bd-4805-1417755991-2557-1422936810.jpg

Hoạt động xây dựng của Trung Quốc ở bãi đá Chữ Thập hôm 14/11. Ảnh: IHS Jane’s

Gần đây, Trung Quốc liên tục công bố các hình ảnh xây dựng, bồi đắp tại bãi Chữ Thập trong quần đảo Trường Sa, thuộc chủ quyền của Việt Nam. Trước đó, tạp chí quốc phòng IHS Jane’s cũng công bố một loạt ảnh vệ tinh cho thấy các cơ sở hạ tầng trên nhằm mục đích quân sự, với khả năng xây dựng một đường băng dài đến 3.000 m.

Ngoài ra, Bắc Kinh cũng đang đẩy nhanh tốc độ nạo vét, xây dựng đê chắn sóng và các doanh trại ở các đá Gạc Ma, Châu Viên, Gaven, Ken Nan, đá Lạc. Những đá này đều thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Giới phân tích nhận định rằng đằng sau các động thái trên của Trung Quốc là hai ý đồ chiến lược, với mục đích dấn thêm một bước trong việc thít chặt gọng kìm khống chế tại Biển Đông.

Về mặt chính trị, Trung Quốc muốn thông qua việc xây đắp đảo để thay đổi dần hiện trạng tại Trường Sa, từ đó tăng cường các yêu sách chủ quyền vốn không phù hợp với luật pháp quốc tế của mình tại đây.

“Mục đích mà Trung Quốc xây dựng tại bãi Chữ Thập là rất rõ ràng, nhằm ép các nước khác từ bỏ tuyên bố chủ quyền và lãnh thổ của mình”, báo cáo của IHS Jane’s cho biết.

Phóng viên Bill Hayton thuộc BBC, tác giả của cuốn sách “Biển Đông – cuộc đọ sức tại châu Á” (The South China Sea: The Struggle for Power in Asia), nhận định rằng, hành động trên của Trung Quốc cũng nhằm đối phó với việc Philippines kiện nước này ra Tòa án Trọng tài quốc tế về Luật biển.

“Ngay cả khi tòa án phán quyết các khu vực mà Trung Quốc chiếm lĩnh không phải các đảo phù hợp để con người sinh sống, vì vậy không thể quy vào vùng đặc quyền kinh tế, thì việc các tàu hải quân và lực lượng không quân của Trung Quốc xuất hiện tại đây cũng sẽ thay đổi cục diện chính trị”, chuyên gia này nói. “Họ tạo ra sự đã rồi, sau đó ép đối phương phải đàm phán trên điều kiện mới, bất kể căn cứ pháp luật là gì”.

Về mặt quân sự, quân đội Trung Quốc được cho là sẽ tận dụng hệ thống đường băng tương lai trên bãi Chữ Thập như bàn đạp để tiến hành các hoạt động phòng thủ trên không, phối hợp với lực lượng hải quân tại khu vực phía nam Biển Đông.

Một số chuyên gia nhận định rằng đây là các bước chuẩn bị của Bắc Kinh để thiết lập Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên Biển Đông. “Trung Quốc muốn thiết lập ADIZ tại đây. Để làm được như vậy, họ cần phải có khả năng giám sát vùng trời”, bà Bonnie Glaser, nghiên cứu viên cao cấp thuộc Trung tâm nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), bình luận.

Tại Diễn đàn Hương Sơn hồi tháng 11/2014, một quan chức cấp cao của quân đội Trung Quốc thừa nhận nước này bồi đắp đảo ở Trường Sa, là để hỗ trợ hoạt động của radar và thu thập tin tình báo.

Ý đồ sâu xa hơn

1535908-main-2522-1422936810.jpg

Trung Quốc đang xây dựng căn cứ quân sự tại đảo Nam Kỷ, cách quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư 300 km. Ảnh: IHS Jane’s

Song song với việc bồi đắp đảo tại Biển Đông, Trung Quốc cũng đang tích cực thúc đẩy các hoạt động tương tự tại Hoa Đông. Theo báo cáo mới nhất của IHS Jane’s, Bắc Kinh đang xây dựng một căn cứ quân sự tại quần đảo Nam Kỷ thuộc tỉnh Chiết Giang, cách quần đảo Senkaku/Điếu Ngư 300 km. So với căn cứ quân sự của Mỹ tại Okinawa, vị trí của đảo Nam Kỷ gần với quần đảo tranh chấp hơn 100 km.

Theo đó, nước này đã lặp đặt một loạt radar cỡ lớn, cùng hệ thống phát phong điện tại đảo chính Nam Kỷ, đồng thời còn gấp rút xây dựng một sân bay trực thăng, dự kiến sẽ được đưa vào sử dụng vào năm 2016.

Truyền thông Nhật Bản cho rằng các công trình quân sự trên đảo Nam Kỷ là nhằm hai mục đích. Một là nâng cao khả năng ứng phó của quân đội nước này trước nguy cơ xung đột vũ trang diễn ra giữa Trung Quốc với Mỹ và Nhật Bản. Hai là Bắc Kinh muốn tăng cường giám sát hoạt động của các nước liên quan trong ADIZ mà nước này đơn phương thiết lập hồi tháng 11/2013.

Tuy nhiên, một số nhà phân tích nhận định rằng các hoạt động bồi đắp đảo và quân sự hóa của Trung Quốc tại cả Biển Đông và Hoa Đông nằm trong một chiến lược tổng thể, nhằm hình thành một chuỗi phòng thủ hình bán nguyệt trên biển, kéo dài suốt vùng biển khu vực Đông Á.

“Việc hình thành chuỗi đảo hình bán nguyện này rõ ràng sẽ tăng cường chiều sâu chiến lược của Trung Quốc”, Financial Times dẫn lời ông Trần Công, nghiên cứu viên hàng đầu của Công ty tư vấn Anbound. “Quá trình quân sự hóa các đảo tại Hoa Đông và Biển Đông không phải là ngẫu nhiên, mà ẩn chứa một chiến lược chuỗi đảo hoàn chỉnh”.

Chuyên gia này cho biết chiến lược chuỗi đảo trên sẽ cải thiện rõ rệt môi trường địa chính trị của Trung Quốc. “Chiến lược này là đối sách thực dụng và tích cực để tạo dựng sức ảnh hưởng của Trung Quốc như một cường quốc trên biển, với địa vị không ai có thể coi nhẹ”, ông Trần cho biết.

Ông Rory Medcalf, chuyên gia về an ninh châu Á thuộc Viện nghiên cứu Lowy, cho rằng Bắc Kinh đang muốn đột phá “chuỗi đảo thứ nhất”, phân cách Biển Đông, Hoa Đông và Hoàng Hải với Thái Bình Dương, để phá thế bị Mỹ và các nước đồng minh bao vây.

Thượng tướng Lưu Hoa Thanh, cố phó chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc, từng viết trong hồi ký của mình rằng, “chuỗi đảo thứ nhất” đã hạn chế hầu hết các hoạt động của quân đội và nước này cần tìm cách khống chế chuỗi đảo trên vào thập niên đầu thế kỷ 21. Tướng Lưu được coi là cha đẻ của nền hải quân hiện đại Trung Quốc.

Khái niệm “chuỗi đảo thứ nhất” và “chuỗi đảo thứ hai” do cố ngoại trưởng Mỹ John Dulles đưa ra vào năm 1951, trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh, nhằm mục đích kiềm chế Liên Xô và Trung Quốc.

“Chuỗi đảo thứ hai” bắt đầu từ phía bắc quần đảo Nhật Bản, kéo dài đến đảo Halmahera của Indonesia, trong đó đảo Guam là hạt nhân. Một số giả thuyết cho rằng nếu Mỹ mất ưu thế tuyệt đối trên “chuỗi đảo thứ nhất”, thì việc tăng cường liên minh quân sự với Nhật Bản trấn giữ “chuỗi đảo thứ hai” là cấp thiết để duy trì sức ảnh hưởng của Washington tại tây Thái Bình Dương.

Tạp chí quốc phòng ở Tokyo Japan Military Review dẫn lời Saburo Tanaka, chuyên gia quân sự Nhật, cũng nói thêm rằng hoạt động bồi đắp của Trung Quốc ở sáu đảo trên Biển Đông sẽ tạo nên “chuỗi đảo thứ nhất” của nước này, từ đó có thể kiềm tỏa các căn cứ quân sự của Mỹ ở Australia, mối lo ngại chính của quân đội Trung Quốc. Và với các dự án bồi đắp đất, Trung Quốc có khả năng bảo về đường hàng hải cung ứng cho nước này ở phía bắc Eo Malacca, trong khi ngăn chặn được Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ tiến vào Biển Đông từ Biển Celebes.

Chiến lược trên của Trung Quốc được cho là sẽ tác động mạnh đến cục diện địa chính trị tại châu Á – Thái Bình Dương. “Sự hiện diện của các cơ sở quân sự này sẽ chỉ khiến tình hình thêm phần căng thẳng và làm xói mòn niềm tin trong khu vực, vốn tồn tại các tranh chấp chồng chéo và phức tạp”, bình luận viên Jeremy Bender của tờ Business Insider cho biết.

Cách tiếp cận trên của Bắc Kinh sẽ khiến các nước liên quan xích lại gần nhau hơn, cũng như hoan nghênh chiến lược xoay trục của Mỹ sớm có những biến chuyển thực tế, như một đối trọng với Trung Quốc trong khu vực. “Hàng năm, chúng tôi đều có các chương trình huấn luyện và tập trận chung với quân đội Mỹ”, một quan chức Hải quân Philippines giấu tên cho biết.

Mặt khác, Washington cũng mong muốn Nhật Bản đóng vai trò lớn hơn trong cục diện an ninh khu vực hiện nay, không chỉ trên vấn đề Hoa Đông vốn liên quan trực tiếp đến lợi ích của Tokyo, mà cả trên vấn đề Biển Đông.

Điều này cũng phù hợp với chiến lược cạnh tranh ảnh hưởng tại Đông Á của chính quyền Thủ tướng Shinzo Abe, nhằm đối phó với sự trỗi dậy không ngừng của Trung Quốc. Tokyo đang thực hiện đường lối ngoại giao tích cực hơn trong quan hệ với các định chế khu vực, đặc biệt thắt chặt quan hệ ngoại giao, hợp tác quân sự và kinh tế với các nước ASEAN khi căng thẳng tại Biển Đông tăng cao.

“Tôi cho rằng các hoạt động của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản tại khu vực Biển Đông trong tương lai là hoàn toàn hợp lý”, Đô đốc Robert Thomas, chỉ huy Hạm đội Bảy của Mỹ, bình luận.

ghep-3835-1422952642.jpg

Trung Quốc luôn muốn đột phá “chuỗi đảo thứ nhất” (đường đỏ), để tăng cường hoạt động quân sự ra đại dương. Đồ họa:Pentagon

Đức Dương

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Việt Nam – Hoa Kỳ: Nền tảng nào cho cuộc chơi?

Việt Nam – Hoa Kỳ: Nền tảng nào cho cuộc chơi?

Cũng như mọi mối quan hệ khác trên chính trường quốc tế, quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ bị chi phối bởi lợi ích các bên.

LTS: Vừa qua, Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ đã trình quốc thư lên Tổng thống Obama đề nghị hai bên tích cực chuẩn bị cho chuyến thăm Hoa Kỳ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Nhân dịp này, Tuần Việt Nam đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Đình Lương, nguyên trưởng đoàn đàm phán Hiệp định Thương mại song phương Việt – Mỹ về những dấu mốc trong quan hệ hai nước suốt 20 năm bình thường hoá quan hệ.

Vì lợi ích chung

Hai  mươi năm qua quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ đã phát triển nhanh chóng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, và nay đã thành quan hệ đối tác toàn diện. Riêng ông, ông nhìn nhận thế nào về mối quan hệ đó?

Cũng như mọi mối quan hệ khác trên chính trường quốc tế, quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ bị chi phối bởi lợi ích các bên.  Chúng ta hãy điểm qua lịch sử.

TPP, quan hệ Việt-Mỹ, Nguyễn Đình Lương
Ông Nguyễn Đình Lương

Năm 1873, ông Bùi Viện vượt qua sóng gió đại dương Thái Bình Dương sang tận Washington, chờ cả năm trời, gặp cho được Tổng thống Mỹ để  cầu viện chống Pháp. Khi gặp, Tổng thống Mỹ đã hoan nghênh ngay, bởi khi đó Mỹ và Pháp đang đánh nhau ở Mexico. Ngặt nỗi Bùi Viện không mang theo Quốc thư, nên ông đành trở về tay không. Nhưng khi ông Bùi Viện trở lại cùng Quốc thư, Mỹ lại không quan tâm nữa, do chiến tranh Mỹ – Pháp tại Mexico đã kết thúc. Hai nước không còn lợi ích chung. .

Những năm 1945-1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 11 lần gửi thư, gửi điện cho Tổng thống và Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ, đề nghị ủng hộ độc lập của Việt Nam và thiết lập quan hệ toàn diện giữa hai nước, nhưng không một hồi âm. Bởi vì VN không hiện hình trên màn ảnh lợi ích nước Mỹ, hoặc bị hình ảnh lợi ích với các nước lớn khác che khuất, nên Mỹ không quan tâm.

Mãi tới năm 1995 hai nước bình thường hoá quan hệ ngoại giao. Chỉ một năm sau bình thường hoá quan hệ, Hoa Kỳ đã chủ động bắt đầu đàm phán hiệp định thương mại song phương (BTA) và Việt Nam hưởng ứng ngay, vì hai bên đều cần, đều muốn, đều nhìn thấy lợi ích.

Khi đàm phán BTA, Đại sứ Mỹ đầu tiên Peterson đã nói ông hy vọng có BTA, xuất khẩu Việt Nam vào Hoa Kỳ sẽ tăng lên 5-6 tỷ đô la, con số quá lớn đối với Việt Nam lúc đó và chưa ai hình dung được. Ông Đại sứ không dự đoán về mốc thời gian cụ thể.

Nhưng chỉ cần 2 năm thực thi BTA, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đã đạt con số đó, và hôm nay, 2014 đã đạt được hơn 18 tỷ USD, gấp hơn 3 lần kỳ vọng của Peterson.

Hoa Kỳ luôn là thị trường xuất khẩu lớn nhất và cũng là thị trường xuất siêu lớn của Việt Nam.

Như vậy trong chuyện xuật khẩu này Việt Nam có lợi, chứ Mỹ nhập siêu từ Việt Nam đâu hẳn đã có lợi được bao nhiêu?

Lợi ích của Việt Nam thì đã rõ, ai cũng thấy.

Nhưng Mỹ cũng có lợi chứ. Người tiêu dùng Mỹ có sự lựa chọn phong phú hơn. Trên thị trường nước Mỹ cũng có thêm một đối thủ cạnh tranh ngày một chắc tay, góp phần tăng sức cạnh tranh chung của nền kinh tế Mỹ.

Thứ nữa, một chiếc áo sơ mi gia công ở Việt Nam giá thành khoảng 10 USD đến 15 USD, Việt Nam chỉ được 4-5 USD tiền công, bán trên thị trường Mỹ  80 – 100USD. Hay một đôi giày thể thao giá thành sản xuất ở VN trị giá khoảng 10 – 20% giá bán trên thị trường Mỹ.

Tức là hai bên đều có lợi, chưa ai tính được ai lợi nhiều, ai lợi ít, nhưng trong một cuộc chơi, anh nào giỏi hơn, khôn hơn anh đó thắng nhiều hơn.

Lợi ích này càng nhiều, càng tăng, quan hệ kinh tế thương mại càng phát triển.

Ngoài kinh tế – thương mại, Hoa kỳ và Việt Nam còn có nhiều lĩnh vực hợp tác. Lợi ích ở đây được hiểu như thế nào, ví dụ như trong chiến lược địa chính trị?

Có lợi thì mới có cuộc chơi.

Trên chính trường thế giới, các cuộc tập hợp lực lượng hiện đang diễn ra sôi động. Những ai có nhu cầu tập hợp lực lượng ở châu Á (và cả trên thế giới) thì không thể bỏ qua Việt Nam vì vị trí địa chính trị của nó. Và Hoa kỳ cũng vậy, chắc chắn Hoa Kỳ không muốn để Việt Nam đứng ngoài cuộc tập hợp của mình, lại càng không muốn để Việt Nam là người cản phá chiến lược đó. Chính vị trí địa chính trị của Việt Nam đang buộc người Mỹ phải từng bước có những cam kết hợp tác ngày càng sâu, trong nhiều lĩnh vực.

Tôi không hình dung ra chiến lược chuyển trục châu Á của Mỹ sẽ như thế nào, nếu không tính tới yếu tố Việt Nam, trong lúc Việt Nam đang chủ trương đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ, và cũng có nhu cầu tập hợp lực lượng, tìm cho mình sự yên ổn để phát triển, trong một thế giới không yên ổn.

Lợi ích càng tăng, càng nhiều đòi hỏi sự hợp tác càng rộng, càng sâu. Đó cũng là tính tất yếu của các bước phát triển quan hệ Việt Nam – Hoa kỳ trong tương lai.

TPP, quan hệ Việt-Mỹ, Nguyễn Đình Lương
Hoa Kỳ luôn là thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam. Ảnh minh họa: Báo Long An

Khi lợi ích đã nhiều, đã lớn, mỗi bên đều biết kiềm chế, là nhẹ bớt đi sự khác biệt để khai thông cho sự hợp tác. Hoa Kỳ muốn lôi kéo Việt Nam thì phải làm nhẹ đi những đòi hỏi về nhân quyền. Việt Nam muốn chơi với Mỹ thì phải gạt bỏ đi những khác biệt, ví dụ như đang xảy ra trong đàm phán TPP.

Cũng có lúc, những biến động chính trị xã hội trên thế giới hoặc khu vực tác động đến quan hệ các nước. Ví dụ các diễn biến ở biển Đông, dường như đã làm cho Mỹ xích lại gần Việt Nam hơn và đẩy nhanh việc Hoa Kỳ nới lỏng cấm vận vũ khí sát thương.

Trong bài tổng hợp những kết quả cuộc hội thảo “Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ 20 năm thành công hơn nữa” diễn ra vừa qua tại Hà Nội, ông Viện trưởng Học viện Ngoại giao Đặng Đình Quý, người tổ chức và chủ trì hội thảo, đã đưa ra nhiều nhận định sâu sắc và thú vị. Trong số đó tôi muốn nhắc lại một nhận xét: Lợi ích của Việt Nam và Hoa Kỳ không chỉ trong quan hệ song phương mà cả trong hợp tác giữa hai nước trong những khuôn khổ lớn hơn như ASEAN, AFTA và nhiều tổ chức quốc tế khác…

Ví dụ chiến lược chuyển trục châu Á của Mỹ không thể không tính tới ASEAN. Trong lúc có nước luôn chọc gậy bánh xe thì Hoa Kỳ coi sự đoàn kết thống nhất và sự vững mạnh của ASEAN là nằm trong lợi ích của Hoa Kỳ, và Việt Nam đang là một thành viên tích cực, chân thành mong muốn đóng góp cho sự lớn mạnh, đoàn kết thống nhất trong ASEAN. Vậy sự phối hợp hợp tác của Hoa Kỳ và Việt Nam ở đây là rất cần thiết, rất có ích.

Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) được đánh giá là một bước phát triển mới của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ. Theo ông, Việt Nam và Hoa kỳ đang theo đuổi những lợi ích gì ở đây?

Cuộc đàm phán TPP hay ở chỗ, nó là một là đàm phán cả gói (không tách riêng vấn đề) và đàm phán đa phương, cả một tập thể 12 nước, mà Hoa Kỳ coi như người chủ trì. Cách làm đó sẽ giúp xử lý được một loạt vấn đề không thế giải quyết trong đàm phán song phương.

Những vấn đề nhạy cảm với Việt Nam như quyền lập hội, minh bạch công khai hoạt động của DNNN, công khai và bình đẳng trong mua sắm công, trong tiếp cận các nguồn lực vốn, tài nguyên, thị trường… trước đây khi đàm phán BTA Hoa kỳ đã nêu ra, nhưng Việt Nam kiên quyết không chấp nhận, kỳ này đàm phán tập thể, hầu hết các nước tham gia đàm phán đã chấp nhận rồi. Muốn kết thúc đàm phán thì Việt Nam phải có các phương án lùi và sau đó về phải sửa luật cho khớp với cam kết.

Khó khăn phức tạp như vậy, tại sao Việt Nam vẫn hăng hái tham gia, và dù biết Việt Nam sẽ rất khó nhưng Hoa Kỳ vẫn muốn Việt Nam tham gia?

Trong các nước Đông Nam Á, ngoài Brunei, Singapore và Malaysia tự nguyện tham gia từ đầu, Hoa Kỳ không rủ ai mà chỉ rủ Việt Nam. Có lẽ vì người Mỹ nghĩ rằng Việt Nam chơi với Mỹ còn hơn là không, và ít nhất đừng để Việt Nam bị người khác chi phối hoàn toàn.

Thứ nữa, rủ Việt Nam vào TPP tức là kéo Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào nền kinh tế thị trường sôi động và vô hình trung buộc Việt Nam cắt đi cái đuôi, cắt đi di sản của của nền kinh tế quan liêu bao cấp. Các di sản đó vừa là cho nền kinh tế Việt Nam kém hiệu quả, vừa duy trì một môi trường pháp lý vẩn đục, dung túng tham nhũng, khiến cho nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có các nhà đầu tư Mỹ ngại không dám bỏ vốn kinh doanh trên thị trường Việt Nam.

Và tại sao Việt Nam hăng hái ư? Sức ép kinh tế đang buộc Việt Nam phải hăng hái, nếu không bứt phá lên được thì nền kinh tế Việt Nam cứ bùng nhùng, thua kém và chắc chắn rơi vào bẫy thu nhập trung bình.

Tham gia TPP là một quyết định sáng suốt, là một hành động dũng cảm để tạo bứt phá, để đẩy áp lực đẩy tiếp tiến trình cải cách bên trong.

  • Hoàng Ngọc
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Blog at WordPress.com.