Daily Archives: March 22, 2015

Góc khuất Trung Quốc: Gián điệp kinh tế và mua chuộc quyền lực

Góc khuất Trung Quốc: Gián điệp kinh tế và mua chuộc quyền lực

Goc khuat TQBienDong.Net: Không chỉ gây lo ngại cho các nước láng giềng liên quan đến những tranh giành lãnh thổ, tiết lộ của báo chí Châu Âu gần đây còn cho thấy một thực tế gây sửng sốt: Trung Quốc đang tiến hành trên qui mô lớn hoạt động gián điệp kinh tế và dùng tiền để thao túng chính khách địa phương.

Goc khuat TQ

RFI dẫn báo Pháp Libération số ra mới đây cho biết: « Trung Quốc tiến hành hot đng gián đip trên quy mô ln » tại Pháp. Một tài liệu mật tổng hợp tình hình của Tổng cục phản gián Pháp – DGSI – cảnh báo về các phương pháp hoạt động tình báo kinh tế của Trung Quốc, trên mọi lĩnh vực.

Về mặt chính thức, quan hệ giữa Pháp và Trung Quốc có vẻ thuận buồm xuôi gió và theo lời Thủtướng Pháp Manuel Valls nhân chuyến công du Bắc Kinh vừa qua, thì không có gì đáng lo ngại cả.

Thế nhưng, cơ quan phản gián Pháp lại không nghĩ thế. Họ nhận định Trung Quốc rất « xông xáo » trong lĩnh vực tình báo kinh tế.

Theo Cơ quan phản gián Pháp, Trung Quốc « rất giỏi trong vic đánh cp các thiết b th nghim và tin tc », chừng nào chưa bị bắt thì không gì có thể ngăn chặn được họ. Tình báo Trung Quốc đặc biệt quan tâm đến các đổi mới công nghệ, trong lĩnh vực hàng không, không gian, y sinh. Cục 2 của quân đội Trung Quốc trực tiếp chỉ đạo các hoạt động này.

Một mối quan tâm khác của chính quyền Trung Quốc là theo dõi, giám sát các nhân vật đối lập chính trị. Giới lãnh đạo Bắc Kinh rất lo ngại phong trào Pháp Luân Công, vấn đề người Tây Tạng, các hiệp hội ủng hộ cuộc đấu tranh của người Tây Tạng, các cộng đồng người Đài Loan, Duy Ngô Nhĩ….

Báo Libération cho biết ngay cả Tổng cục phản gián Pháp cũng đã từng bị tình báo Trung Quốc thâm nhập. Cách nay vài năm, một lãnh đạo của DGSI dường như đã tỏ ra « mềm yếu » trước một đối tượng Trung Quốc làm việc cho cơ quan tình báo của Bắc Kinh.

Tài liệu của phản gián Pháp nêu rõ, các nhân viên tình báo Trung Quốc hoạt động với « vỏ bọc » ngoại giao trong sứ quán Trung Quốc tại Paris và các cơ quan lãnh sự ở Marseille, Strasbourg (nơi có Nghị viện Châu Âu), Lyon và Polynésie thuộc Pháp. Bắc Kinh cũng thường xuyên điều phái các nhân viên tình báo dưới danh nghĩa sinh viên, thực tập sinh, thành viên các phái đoàn thương mại và những người này là « những bậc thày về trò giả vờ đi lạc đường trong các cuộc viếng thăm nhà máy ». Các dự án liên doanh nghiên cứu giữa các tập đoàn bào chế dược phẩm cũng là đối tượng nhòm ngó của tình báo kinh tế Trung Quốc.

Một nhân viên phản gián Pháp nói với báo Libération, « trên thực tế, tình báo Trung Quc « vn hot đng vi tâm lý như thi chiến tranh lnh », « bất k lúc nào, mi thành viên ca cng đng người Trung Quc, đc bit là các sinh viên đang theo hc đi hc, các thc tp sinh trong nhng doanh nghip công ngh mũi nhn » cũng có thể được sử dụng để thu thập thông tin. Do vậy, rất khó ngăn chặn các hoạt động này. Việc chỉ định các đại diện những hiệp hội sinh viên, giới nghiên cứu Trung Quốc tại Pháp, lãnh đạo các viện Khổng Tử, đều phải có sự chấp thuận của sứ quán Trung Quốc.

Do không có đủ người để theo dõi, giám sát, DGSI tìm cách cảnh báo, kêu gọi tinh thần cảnh giác trước nguy cơ tình báo kinh tế trong các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn.

Cũng do thiếu phương tiện và nhân lực, từ năm 2011, cơ quan phản gián và hiến binh Pháp đã không còn hợp tác với nhau nữa trong việc điều tra, ngăn chặn hoạt động tình báo kinh tế.

Để khắc phục tình trạng này, DGSI tìm cách thiết lập mối quan hệ làm việc với giới lãnh đạo các trường đại học, các viện công nghệ hoặc các doanh nghiệp công nghệ mũi nhọn.

Vấn đề người Trung Quốc ở Châu Âu không dừng ở đó. Đầu năm nay, ngay tại thời điểm các đảng phái chính trị ở Anh bắt đầu cuộc chạy đua nước rút cho cuộc tranh cử vào Quốc hội thì nổ ra vụ bê bối hối mại quyền thế của các nghị sĩ nổi tiếng Jack Straw và Malcolm Rifkind, khiến hai chính trị gia này phải nhanh chóng tuyên bố rút khỏi chính trường.

Sự việc được khơi mào từ một phóng sự điều tra của tờ Daily Telegraph cùng thực hiện với kênh truyền hình Channel 4 và phát trong chương trình Dispatches chuyên phanh phui các góc khuất của quyền lực trên thế giới. Họ cài phóng viên vào tiếp cận hai chính trị gia gạo cội là ông Jack Straw của Công đảng và Sir Malcolm Rifkind của đảng Bảo Thủ. Hai ông đã làm chính trị từ rất lâu, vàđều từng giữ chức Bộ trưởng khi chính phủ của họ cầm quyền.

Trong đoạn phim quay lén trong phòng làm việc của hai ông trong Quốc hội, hai vị này đã hứa hẹn sẽ giúp đối tác gặp những đối tác cần thiết, đổi lại bằng những khoản tiền lớn.

Trong trường hợp của ông Rifkind, đối tác là một công ty của Trung Quốc. Tờ Daily Telegraph trình bày lời chào mời của ông rằng, với số tiền 5.000 bảng Anh một ngày, công ty Trung Quốc nọcó thể gặp tất cả những nhân vật quan trọng đang nắm giữ hệ thống an ninh hạt nhân trên thế giới, vì lẽ ông từng giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng và ngoài vị trí là Chủ tịch Ủy ban an ninh Quốc hội, ông còn là thành viên của các tổ chức quốc tế như Diễn đàn Kinh tế Thế giới và Hội đồng chuyên trách các nghị trình toàn cầu về hạt nhân.

Trong cuộc trao đổi, ông Rifkind còn tiết lộ về mối quan hệ với cựu Ngoại trưởng Mỹ Madeleine Albright và nhóm quan hệ bao gồm 22 Ngoại trưởng trên thế giới.

Trong bối cảnh Trung Quốc luôn sẵn sàng dùng tiền để mua quan hệ và đổ tiền vào cả những chương trình chính thức như Viện Khổng Tử lẫn những món quà ngoại giao và mối quan hệ cánhân, phóng sự này chỉ ra một nguy cơ rất lớn cho các nước nhỏ đang có tranh chấp hoặc nguy cơđối đầu với Trung Quốc, vì các nước này sẽ yếu thế trong ngoại giao, khi Trung Quốc có được những mối quan hệ trực tiếp tại các cấp cao nhất trong chính trường Anh, Mỹ và các cường quốc, cả trong đảng cầm quyền lẫn bên phía đối lập.

Theo RFI, đây là câu chuyện sẽ tiếp tục gây tranh cãi cho dù dư luận nước Anh bắt đầu lắng dịu sau khi hai nghị sĩ Jack Straw và Malcolm Rifkind tuyên bố từ chức để trút bớt gánh nặng cho đảng của họ trong chiến dịch tranh cử sôi động.

BDN

 

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Biển Đông: Mỹ tung đòn độc, Trung Quốc “lạnh sống lưng”

Biển Đông: Mỹ tung đòn độc, Trung Quốc “lạnh sống lưng”

Cập nhật lúc: 18h40″  | 21/03/2015

(VnMedia) – Hồi đầu tuần này, chỉ huy của Hạm đội Số 7 thuộc Hải quân Mỹ đã khiến Trung Quốc không khỏi “lạnh sống lưng” khi đưa ra đề xuất về một chiến dịch đặc biệt ở Biển Đông.

Ảnh minh họa

Cụ thể, theo đề xuất của Phó Đô đốc Robert Thomas đưa ra hôm thứ Ba (17/3), ông Thomas đã đề xuất rằng các nước ASEAN nên hợp tác để thiết lập một lực lượng hàng hải chung nhằm tiến hành hoạt động tuần tra trên biển ở Biển Đông. Mỹ cũng đề nghị giúp ASEAN một tay trong hoạt động tuần tra Biển Đông.

Tờ Bloomberg đưa tin, Phó Đô đốc Thomas của Hải quân Mỹ đã đưa ra đề xuất nói trên tại Triển lãm Hàng không và Hàng hải Quốc tế Langkawi được tổ chức ở Malaysia sau cuộc họp của các Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN. Phát biểu tại hội nghị  này, ông Thomas đã nói, các nước ASEAN nên tăng cường hợp tác trong lĩnh vực an ninh hàng hải trong khi vẫn tôn trọng chủ quyền và không gian ven biển của nhau. Hoạt động hợp tác đó nên được tổ chức giống như trường hợp các nước phối hợp nỗ lực để chống lại nạn cướp biển ở vùng Vịnh Aden.

“Có lẽ nói thì dễ hơn làm nhưng từ quan điểm chính sách và tổ chức, một sáng kiến như vậy có thể giúp làm rõ hơn các mục tiêu hoạt động trong những sự kiện huấn luyện mà ASEAN đang muốn theo đuổi. Nếu các nước thành viên ASEAN dẫn đầu trong việc tổ chức một thứ gì đó giống như vậy, hãy tin tôi đi, Hạm đội số 7 của Mỹ sẽ sàng giúp đỡ và hậu thuẫn”, ông Thomas đã cam kết như vậy.

Người đứng đầu lực lượng hải quân Mỹ ở Tây Thái Bình Dương khẳng định, Mỹ sẽ ủng hộ cho kế hoạch tiến hành các cuộc tuần tra đa quốc gia ở Biển Đông giống như các nước đã làm ở Eo biển Malacca.

Giới chức Lầu Năm Góc cũng đã ngầm đồng ý với đề xuất của Phó Đô đốc Thomas. Điều này được thể hiện trong một tuyên bố được phát đi ngày hôm qua (20/3), trong đó nói rằng: “Bộ Quốc phòng hoan nghênh các nỗ lực tập thể nhằm củng cố an ninh hàng hải ở Châu Á-Thái Bình Dương, trong đó có những nỗ lực do ASEAN làm chủ và dẫn dắt. Chúng tôi tin rằng sự hợp tác chặt chẽ giữa các nước thành viên trong ASEAN là vô cùng quan trọng trong việc duy trì hòa bình và thịnh vượng ở trong khu vực”, phát ngôn viên Lầu Năm Góc – bà Henrietta Levin  cho hay.

Phó Đô đốc Philippine Jesus Millan sau đó đã nói rằng, Hải quân Philippine đồng ý với đề xuất của Phó Đô đốc Mỹ Thomas. Đây là điều không có gì đáng ngạc nhiên. Manila từ lâu đã luôn công khai phản đối gay gắt những cuộc tuần tra của tàu thuyền Trung Quốc xung quanh những vùng tranh chấp ở Biển Đông trong những năm gần đây và đồng minh Mỹ đã tăng cường giúp đỡ để Manila có thể tiến hành các cuộc tuần tra tương tự để giám sát mọi hoạt động trong vùng lãnh hải của mình.

Tuy nhiên, ông Milan thừa nhận, sáng kiến của ông Thomas đòi hỏi cần phải có sự tập trung nguồn lực và vì thế cần tất cả các nước liên quan cùng tham gia.
Chắc chắn bất kỳ lực lượng tuần tra hàng hải chung nào của ASEAN ra đời với sự tham gia của Mỹ hay sự ủng hộ của Mỹ đều sẽ khiến Trung Quốc nổi điên.

Trung Quốc lại tức giận với Mỹ

Trung Quốc hôm qua đã lên tiếng chỉ trích vị sĩ quan hải quân cấp cao của Mỹ về việc đưa ra đề xuất trong đó các nước ASEAN sẽ phối hợp tuần tra chung ở Biển Đông với sự giúp đỡ của Hạm đội số 7 của Mỹ.

“Chúng tôi hy vọng rằng Mỹ sẽ tuân thủ nghiêm túc cam kết không đứng về bên nào trong các cuộc tranh chấp chủ quyền”, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi đã nói như vậy.

Ông Hồng Lỗi cho rằng những phát biểu của Phó Đô đốc Thomas sẽ “không giúp ích gì cho việc giải quyết các cuộc tranh chấp ở Biển Đông một cách đúng đắn và không giúp gì cho hòa bình, sự ổn định ở Biển Đông..

Phát ngôn viên Bộ ngoại giao Trung Quốc nhấn mạnh, cam kết lâu dài của Bắc Kinh là giải quyết các cuộc tranh chấp ở Biển Đôgn thông qua đàm phán, tham vấn trực tiếp với các nước có liên quan.

Trung Quốc đang có tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải ở Biển Đông với 4 nước láng giềng Đông Nam Á gồm Philippines, Malaysia, Brunei, Việt Nam và Vùng lãnh thổ Đài Loan. Trung Quốc đang đòi chủ quyền tới khoảng 90% Biển Đông chiến lược và giàu tài nguyên dựa trên yêu sách đường 9 đoạn phi lý hay còn gọi là đường lưỡi bò. Đường 9 đoạn liếm sâu vào bên trong trung tâm biển của Đông Nam Á. Đòi hỏi chủ quyền phi lý, phi pháp và quá đáng của Trung Quốc đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ và quyết liệt của các nước trong khu vực nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung.

Khi bị cộng đồng quốc tế lên tiếng phản đối, Trung Quốc liên tục khăng khăng cho rằng các cuộc tranh chấp ở Biển Đông chỉ là vấn đề của riêng Trung Quốc với các nước có tranh chấp trực tiếp. Bắc Kinh không ít lần lên tiếng cảnh báo các cường quốc, trong đó có Mỹ, tránh xa Biển Đông. Ngay cả việc đưa vấn đề Biển Đông ra ASEAN cũng bị Trung Quốc phản đối bất chấp thực tế là có đến 4 nước trong ASEAN đang có tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông và các nước khác đều có lợi ích ở Biển Đông.

Trung Quốc luôn đòi tự giải quyết các cuộc tranh chấp ở Biển Đông với riêng từng nước trên cơ sở song phương. Sở dĩ Bắc Kinh phản đối quyết liệt việc quốc tế hóa vấn đề Biển Đông, muốn giải quyết trên cơ sở song phương là do nước này muốn dùng sức mạnh của nước lớn để ép các nước nhỏ đang có tranh chấp với họ để dễ bề giành ưu thế. Tuy nhiên, đây là điều mà cộng đồng quốc tế không chấp nhận. Đề xuất mới của Mỹ lại khiến Trung Quốc nổi giận đùng đùng.(tổng hợp)Kiệt Linh  

Tags: Mỹ, chiến lược, Biển Đông, đòn độc, chiêu độc, tuần tra chung, ASEAN, lực lượng hải quân chung, Hạm đội số 7 Mỹ, cải tạo, bồi đắp, xây dựng, ngăn chặn, Biển Đông, tranh chấp, độc chiếm, tham vọng, vi phạm chủ quyền, Việt Nam, phản đối, đường 9 đoạn, đường lưỡi bò,

  • print
  • email

Ý kiến bạn đọc(0)

Gửi đi Nhập lại

Mới cập nhật

Các tin khác

Mới – Nóng

Chuyên đề

Máy bay MH17 Malaysia bị rơi ở Ukraine

Video

Kinh hoàng khoảnh khắc máy bay lao vào thành cầu” class=”img” style=”border: none; height: 200px; width: 270px;”>

Kinh hoàng khoảnh khắc máy bay lao vào thành cầu

 

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

LỄ TƯỞNG NIỆM NGÀY ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ THỌ NẠN

LỄ TƯỞNG NIỆM NGÀY ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ THỌ NẠN KHI HỌP

VỚI BỬU VINH TẠI ĐỐC VÀNG HẠ, ĐỒNG THÁP MƯỜI, VÀO ĐÚNG

NGÀY 25 THÁNG 02 ÂM LỊCH NHẰM NGÀY 16 THÁNG 4 NĂM 1947.

-o-
I/- Đối với đồng bào và đồng đạo Phật Giáo Hòa Hảo (PGHH) cư ngụ tại Bắc Mỹ

như Hoa Kỳ, Mể Tây Cơ, Canada , Úc, Âu và Á Châu, Xuân Ất Mùi 2015 đã về

trên khắp cùng Đất Trời Vạn Vật. Mùa Xuân đã mang đến bao tươi vui, niềm tin

và hy vọng. Với sự khích lệ của doanh gia Khuyến Nguyễn; chủ nhân Nước Mía

Viễn Đông, chủ hàng trăm mẫu rừng Mía; của hoa hậu Lam Châu; từ lâu đã từng

tổ chức thật nhiều công cuộc mổ mắt giúp tại Việt Nam và Tại Miên cho rất nhiều

người khỏi bị mù loà, đồng thời tổ chức vô số bữa ăn cũng như nhiều săn sóc

điều trị, thường xuyên yểm trợ những người thiếu thốn; và của Hoa Hậu Huỳnh

Nga, Chủ Tịch Hội Từ Thiện PGHH, Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Giáo Hội

PGHH và Việt Nam Dân Xã Đảng đã long trọng thiết trí một Xe Hoa Diễn Hành

trên Đại Lộ Bolsa thành phố Westminster, trong khung cảnh vô cùng tưng bừng

náo nhiệt của 03 ngày Tết Ất Mùi 2015. Xe Hoa Nầy Của PGHH mang nhửng

khẩu hiệu:

a/ Đức Huỳnh Giáo Chủ Vạn Tuế;

b/Tinh thần PGHH-VNDXĐ bất diệt;

c/ HĐTSTƯ.GHPGHH yêu cầu Trung Cộng tôn trọng chủ quyền Biển đảo cùa Tổ

Quốc Việt Nam;

d/ HDTSTU, GH.PGHH và VNDXĐ kính gởi lời Chúc Mừng Năm Mới Ất Mùi,

2015 đến toàn thể đồng đạo và đồng bào trên Thế Giới.

Mùa Xuân đang chậm chậm đi qua, nhưng với những tín đồ PGHH thuần thành,

tận tuỵ, niềm vui Xuân chưa hoàn toàn chấm hết thì nỗi buồn cho đại cuộc và cho

nghĩa tình trung hậu lại xuất hiện rộn ràng…Viết đến đây, Ban Tổ Chức “Lễ

Tưởng Nhớ Ngày Đức Thầy Thọ Nạn “ chúng tôi, trong đầu óc và trong tâm hồn

không hiểu sao lại chỉ muốn tha thiết nhớ đến những lời Đức Thầy dạy dỗ – “ nên

làm những điều lành, điều tốt; cố tránh xa những những điều dữ, điều ác”- “cần

thích thú giao dịch thân thiết với nhũng nhân vật từ tâm bác ái, với những người

1

người sanh ra đời với hoài bảo và bẩm tánh muốn làm người hửu ích cho xã hội

và hửu ích cho Quốc Gia Dân Tộc.” Trên căn bản đó, chúng tôi hân hoan nhớ tới

những kinh nghiệm đẹp đẽ và quí báu đã xảy ra trong đời sống…Mấy chục năm

trước đây, chúng tôi đã có duyên may gặp gỡ và thọ ơn Cô Lê Kim Anh, một nhà

hảo tâm rất cao cả, thuộc tín ngưỡng Tin Lành do trung gian của đồng đạo PGHH

Huyền Tâm Huỳnh Long Giang thay mặt anh chị em mời đến tham dự ngày Gây

Quỹ gíúp PGHH và Việt Nam Dân Xã Đảng (VNDXĐ), cử hành tại nhà hàng Phú

Lệ Hoa, đường Westminster và Brookhurst, Orange County, Nam Cali. Cô Lê Kim

Anh trước năm 1975, cư ngụ tại Sài Gòn, làm việc với Air Việt Nam chừng một

năm; sau năm 1975, khi định cư ở Mỹ, làm cho hãng hàng không Delta Air Lines

gần 20 năm; phu quân của Lê Kim Anh là Mike CongDon, một phi công rất tài

giỏi của Air America. Cô đã rộng lòng giúp một số tiền quan trọng, gần 5,000

(năm ngàn) Mỹ Kim để cho PGHH làm công viêc tại quốc nội như lo cung cấp

cơm cháo cho đồng bào nghèo tại các bịnh viện, như lo đào tạo những thành phần

non trẻ thuyết giảng về thi văn giáo lý PGHH của Đức Thầy. Cô Lê Kim Anh và

Mike CongDon sanh được hai gái tên Elyzabeth CongDon Mc Gee, tên Christina

Le CongDon và có 6 cháu ngọai mà hai Vợ Chồng Lê Kim Anh – Mike C ongDon

II/- ĐỐC VÀNG HẠ LÀ BIẾN CỐ ĐỨC THẦY THỌ NẠN. ĐẾN NAY ĐÃ

68 NĂM TRÔI QUA RỒI. ĐỨC THẦY ĐÃ VÔ SỐ LẦN NÓI : “ Ta chịu khổ –

khổ cho bá tánh.” NGÀY ĐỨC THẦY THỌ NẠN LÀ NGÀY TOÀN THỂ TÍN

ĐỒ PGHH VÀ ĐẢNG VIÊN DÂN XÃ KHÔNG AI KHÔNG CẢM THẤY ĐAU

BUỒN THỐNG THIẾT. ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ ĐÃ BỊ Việt Minh Cộng Sản

(VMCS) CỦA TRẦN VĂN GIÀU ÁM HAI TẠI ĐỒNG THÁP MƯỜI, ÔNG

HUỲNH THẠNH MẬU, BÀO ĐỆ PHẦN XÁC ĐỨC THẦY, THI SĨ VIÊT

CHÂU, VÀ VÔ SỐ PGHH – DXĐ ĐÃ BỊ TÀN SÁT TẠI CẦN THƠ, VÀ KHẮP

NƠI TẠI NAM BỘ, TRỤ SỞ TRUNG ƯƠNG CỦA PGHH TẠI SAIGON ĐÃ

BỊ BAO VÂY, LỤC SOÁT ĐỂ TÌM BẮT ĐỨC THẦY…TÍN ĐỒ PGHH YÊU

CẦU BẤT CỨ AI ĐƯA RA BẰNG CHỨNG RẰNG ĐỨC THẦY ĐÃ CHỈ THỊ

VÀ DẶN DÒ ĐẠI KHỐI BỔN ĐẠO PHẢI CÓ BỔN PHẬN TRIỆT ĐỂ LO TRẢ

THÙ VÀ TẬN TÌNH BÁO OÁN …TẤT CẢ TAI BAY HỌA GỞI VÀ MÁU

SÔNG XƯƠNG NÚI CỦA PGHH ĐỀU ĐÃ RÁO RIẾT XẢY RA TRONG THỜI

GIAN TRẦN VĂN GIÀU NẮM TOÀN QUYỀN LÃNH ĐẠO UỶ BAN HÀNH

KHÁNG NAM BỘ. TÍN ĐỒ PGHH VÀ ĐẢNG VIÊN DÂN XÃ CHO RẰNG

2

TRẦN VĂN GIÀU ĐÃ RA LỊNH CHO GUỒNG MÁY VMCS KHẮP NAM BỘ

PHẢI TÀN SÁT PGHH-DXĐ, RA LỊNH CHO BỬU VINH PHẢI ÁM HẠI ĐỨC

THẦY TẠI ĐỒNG THÁP MƯỜI…LỄ TƯỞNG NHỚ NGÀY ĐỨC THẦY THỌ

NẠN CÓ TRÁCH NHIỆM NÓI LÊN NHỮNG ĐIỀU CẦN PHẢI NÓI ĐỂ LỊCH

SỮ KHÔNG BỊ THAY ĐỔI VÀ XUYÊN TẠC.

Một cuộc Biến thiên, sao dời vật đổi đã xảy ra. Chỉ còn lại một nổi buồn rầu trong

tâm tư… Khi mỗi độ Xuân về thì hình ảnh ngày xưa lại tái hiện. Trên thực tế,

không hề có môt đơn vị quân sự nào được Đức Thầy cho phép đi theo hộ tống khi

Bửu Vinh mời Đức Thầy hội họp. Ba cận vệ quân của Đức Thầy bị đâm chết khi

Đức Thầy mới bắt đầu họp với Bửu Vinh. Một người giỏi võ nghệ tên Mười Tỷ đã

chạy được về Phú Thành, nơi đóng quân của các Tướng Lãnh nồng cốt như Trần

Văn Soái và Nguyễn Giác Ngộ, Lâm Thành Nguyên và Lê Quang Ving tự Ba Cụt

để báo cáo các sự tình …Tiếng tù và, tiếng mỏ, tiếng trống, tiếng la ó, tiếng báo

động, tiếng tập họp rất là rầm rộ ồn ào… Những Đảng Viên Dân Xã, những Thanh

Niên Thanh Nữ, những Đoàn Viên Võ Sĩ của Các Lực Lượng Bảo An đều tức thời

trở thành sẵn sàng lên đường chiến đấu dẹp loạn giải nguy cho Đức Thầy. Không

ai quên được hình ảnh xôn xao náo động của vô số Nam Phụ Lão, Ấu, gào thét và

nức nở vang dội lên cùng khắp nơi nơi…Bỗng nhiên, một kỵ sĩ phi mã mang về

Phú Thành một bức thơ với nội dung do Đức Thầy viết và ký tên tường thuật lại

các việc đã xảy ra khi họp với Bửu Vinh. Tướng Nguyễn Giác Ngộ là người được

Đức Thầy bổ dụng làm chỉ huy trưởng Quân Đội Nguyễn Trung Trực cho nên Đức

Thầy thường gởi chỉ thị và dặn dò về Quân Đội Chánh Quy của Đức Thầy. Tướng

Nguyễn Giác Ngộ ra lịnh qui tụ tất cả các văn thơ viết tay đã nhận từ Đức Thầy để

so sánh với văn thơ vừa nhận. Luật Sư Mai văn Dậu, Đổng Lý Văn Phòng của Đức

Thầy, Tướng Nguyễn Giác Ngộ, và các lãnh tụ quân chánh tối cao đều quả quyết

rằng bức thơ vừa nhận là do chính Đức Thầy viết. Trong bức thơ nầy, Đúc Thầy

đã đưa ra những quyết định tối hậu như: “ Tuyệt đối không được kéo quân đi tiếp

cứu. Phải đóng quân y tại chỗ. Phải triệt để tuân lịnh.” Thế là toàn thể đều ngậm

ngùi tuân hành theo ý chỉ của Đức Thầy. Rồi nóng lòng chờ đợi. Rồi thao thức

ngóng trông. Không hề có một ai dám nghĩ đến tư tưởng cải lệnh Đức Thầy.

Không hề có một ai sanh tâm nghĩ bậy, sanh tâm tuyệt vọng hay mất niềm tin.

TẤT CẢ HÀNG CHỤC TRIỆU TÍN ĐỒ PGHH ĐỀU ÂM THẦM CHỜ NGÀY

ĐỨC THẦY TRỞ LẠI, HOẶC BẰNG THÂN XÁC CỦ, HOĂC BẰNG

3

PHƯƠNG PHÁP NHIỆM MẦU NÀO KHÁC…TÍN ĐỒ PGHH TIN TƯỞNG

RẰNG SÁM GIẢNG VÀ THI VĂN GIÁO LÝ CỦA ĐỨC THẦY TỒN TẠI

LUÔN ĐỦ SỨC ĐỂ GIỮ GÌN BỔN ĐẠO, GIỐNG NHƯ KHẨU QUYẾT CỦA

ĐỨC BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI DẠY DỔ CHÚNG SANH KHI NGÀI

NHẬP NIẾT BÀN… Dù Đức Thầy ở nơi đâu, và ra sao, Tín đồ PGHH vẫn nhớ

lời Đức Thầy căn dặn:

“Nếu mất thôi đành xong món nợ, Nay còn, há dễ ngó lơ sao,

Dọc ngang chí cả dầu lao khổ, Thất bại đâu làm dạ núng nao…,

Non sông bao phủ khí anh hào, Thân nầy cũng quyết đền ơn nước,

Máu giặc nguyền đem nhuộm chiến bào”.

Tại sao vậy? Tại sao Đức Thầy phải chịu khổ, phải chấp nhận hiểm nguy, không

màng bất kỳ thế lực cường quyền nào âm mưu ám toán, giết hại, nhục mạ, hay

xuyên tạc, bôi xấu. Có phải vì tình yêu sanh chúng của Đức Giáo Chủ quá bao la.

Có phải vì lòng bao dung cứu độ chúng sanh vô tận vô cùng của đại Bồ Tát họ

Huỳnh – “ XUỐNG MƯỢN XÁC NHẰM NĂM KỶ MÃO để trên thì cầu Phật

đạo, dưới phải đền đáp Tứ đại trọng ân mà Đức Thầy chấp nhận:

“Dầu gian lao dạ sắt chẳng sờn. Miễn sanh chúng thông đường giải thoát.”

“Thân ta dường thể như lươn,

Cứu dân chẳng nệ nắng sương lắm đầu

Sáu trăng Thầy Tớ dãi dầu

Quyết lòng truyền bá đạo mầu mà thôi”.

“Thương trần ta cũng ráng thề,

Đặng cho bá tánh liệu bề tu thân

Tu hành chẳng được đức ân,

Thì ta chẳng phải xác thân người đời”.

4

“Bể trầm luân khô cạn sáu đường. Tăng sĩ mới trở về nơi thanh tịnh”.

III/- Dù gọi là gì, dù là của ai đi chăng nữa, nếu đem so sánh việc cổ xưa với

việc cận kim cận đại, tín đồ của Đức Thầy cảm thấy được những bằng chứng rất

hãnh diện về PGHH, đáng được xưng tụng là Đạo Phật Việt Nam với 76 năm

trong lịch sữ hình thành, và phát triễn, càng ngày càng cố gắng nổ lực, hoàn bị

thêm, xuất phát từ những nét Việt hóa của Phật Giáo khởi đầu từ thời kỳ TRÚC

LÂM YÊN TỬ, NHÀ TRẦN… Với chân thành tâm tâm niệm niệm, với hoài bảo

không ngừng nghĩ trong nổ lực học hỏi và phát huy, PHẬT GIÁO VIỆT NAM

TỪ THỜI CỔ XƯA CHO ĐẾN NGÀY HÔM NAY ĐÃ CHỨNG MINH KHẢ

NĂNG VÀ TRÁCH NHIÊM “VIỆT NAM” CỦA MÌNH – KHÔNG HOÀN

TOÀN LỆ THUỘC TRUNG HOA VÀ LỆ THUỘC ẤN ĐỘ – MĂC DÙ VẪN

LUÔN TRUNG THÀNH VỚI CHÁNH PHÁP CỦA ĐỨC BỔN SƯ THICH CA

MÂU NI PHẬT. Nhìn lịch sử Đạo Phật Việt Nam như vậy, với nhân cách đó, với

gương hạnh đó, ai là nhà nghiên cứu và học hỏi, phải thấy rằng vấn đề quả thật rất

ư là đồ sộ và phức tạp chớ không phải là “tuỳ tiện và giản đơn”… Chúng ta hãy

thử nghe mấy bài thơ sau đây để thử coi làm cách nào chúng ta có thể tránh khỏi

ngậm ngùi cảm xúc. Dù anh hay tôi, dù chúng ta là ai. Có thể chúng ta là văn nhân

thi sĩ. Có thể chúng ta là công kỷ thương gia hay nữ tú nam thanh hoặc là tao nhân

mặc khách. Chúng ta có thể là nông dân, thợ thuyền, có thể là nhà báo, làm truyền

thông, là kỷ sư, bác sĩ, là chánh trị gia, là nhà quân sự, thậm chí là nhà tu…

TA CÓ TÌNH YÊU RẤT ĐƯỢM NỒNG,

YÊU ĐỜI YÊU LẪN CẢ NON SÔNG,

TÌNH YÊU CHAN CHỨA TRONG HOÀN VŨ,

KHÔNG THỂ YÊU RIÊNG KHÁCH MÁ HỒNG

*

NẾU KHÁCH MÁ HỒNG MUỐN ĐƯỢC YÊU,

THÌ TRONG TÂM TRÍ HÃY XOAY CHIỀU,

HƯỚNG VỀ PHỤNG SỰ CHO NHÂN LOẠI,

5

SẼ GẶP TÌNH TA TRONG KHỐI YÊU,

*

TA ĐÃ ĐA MANG MỘT KHỐI TÌNH

DƯỜNG NHƯ THỆ HẢI VỚI SƠN MINH

TÌNH YÊU MÀ CHẲNG RIÊNG AI CẢ,

YÊU KHẮP MUÔN LOÀI LẪN CHÚNG SINH.

XUẤT XỨ VÀ NGUỒN GỐC CỦA BÀI THƠ NẦY LÀ ĐỨC THẦY TRẢ LỜI

CHO MỘT CÔ GÁI NGƯỜI GỐC HOA Ở MIỀN ĐÔNG, SAIGON, GIA ĐỊNH,

ĐÃ THẦM YÊU TRỘM NHỚ ĐỨC THẦY KHI NGÀI LÁNH NẠN NGƯỜI

PHÁP TAI CHỢ LỚN.

IV/- Đức Thầy là nhà tu hành, là Giáo chủ của PGHH, cớ sao phải xen vào việc

Chánh Trị. Vào thới đó, Phong Trào Chống Pháp Cứu Quốc dâng cao. Ai có thể

điềm nhiên tọa thị trước cảnh Nước mất Nhà tan… Đức Thầy có lần hỏi câu hỏi

trên nhưng mọi người đều im lặng. Đức Thầy buồn bã rồi tự trả lời.

Yêu Nước bao đành trơ mắt ngó,

Thương đời chưa vội ẩn non cao,

Quyết đem tâm sự tâu cùng Phật,

Coi lịnh Từ Bi dạy lẽ nào. .

Nếu tâm tư của nhà ái quốc Lý Đông A là:

“ Đền xong món nợ tiền sinh ấy,

Trở lại hang sâu nhập Niết Bàn”

Trong khi, với Đức Thầy thì :

“Tăng sĩ quyết chùa am bế cửa,

6

Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha,

Đền xong nợ nước thù nhà,

Thiền môn trở gót Phật đà Nam mô”

Thử ngâm lại mấy vần thơ sau đây …

“Ngày Tết năm nay ở Chiến Khu,

Bưng biền gió lốc tiếng vi vu,

Xa xa súng nổ thay trừ tịch,

Dân Việt còn mang nặng mối thù.

Mối thù nô lệ trả chưa xong,

Pháp tặc còn trêu giống Lạc Hồng,

Dùng thói dã man mưu thống trị,

Thì ta quyết chiến dễ nào không”.

HAY LÀ:

“Tặng bạn ngày Xuân chén rượu nồng,

Uống rồi vùng vẫy khắp Tây Đông,

Đem nguồn sống mới cho nhân loại,

Để tiến tiến lên cõi đại đồng”.

“NƯỚC NON TAN VỞ BỠI VÌ ĐÂU,

RIÊNG MỘT TA MANG NẶNG MỐI SẦU,

LÒNG NHỮNG HIẾN THÂN MƯU ĐỘC LẬP,

NÀO HAY TAI HOẠ ÁP BÊN LẦU”.

7

“Tay Tăng Sĩ gậy thiền quyết nắm,

Lần bụi bờ xuống thẩm lên đèo,

Dù cho gặp lắm hùm beo,

Từ bi vẫn niệm, quyết leo khỏi rừng,

Đâu nản chí mà ngừng việc phải…”

“Thâm hiểu lòng ta nỗi cuộc đời

Một bầu nhiệt huyết chẳng se lơi

Mến yêu Quốc Thuỷ tình đồng chủng,

Phải tính sao xong nỗi cuộc đời…”

V/- Kính thưa Quý Đồng Hương và Đồng Đạo,

Phải tính làm sao trước hiểm họa tồn vong của Quê Hương Đất Nưóc, hiểm họa

ngoại xâm, hiểm họa nội xâm, hiểm họa độc tài toàn trị, hiểm họa tham nhũng

thì dư luận nói là triệt để và tối đa. Hiểm họa mất biển, mất đảo, mất nước…Biển

Đông dậy Sóng. Quê Hương và Tổ Quốc Việt Nam dậy Sóng. TỰ CỔ CHÍ KIM,

NGƯỜI VIÊT NAM CHÚNG TA ĐỀU ĐƯỢC TỔ TIÊN DẠY BẢO RẰNG:

“ Quốc gia hưng vong, thất phu hửu trách”.

TỒN HAY VONG, THẠNH HAY SUY, THÀNH HAY BẠI, NHỤC HAY VINH

LÀ TRÁCH NHIỆM CHUNG CÙA MỌI NGƯỜI VIỆT NAM… Nói gì thì nói,

không ai có quyền khẳng định rằng…”ĐÂY KHÔNG PHẢI LÀ LỖI CỦA TÔI”.

Nói gì thì nói, tất cả mọi người đều phải có danh dự và đều phải có gan dạ để phải

nói được câu: “ TẠI VÌ TÔI KHÔNG LÀM HẾT BỔN PHẬN CỦA TÔI.”

8

Đức Thầy đã nói:

“ Ngàn năm Bắc Địch vầy bừa,

Mà còn đứng dậy tống đưa quân thù,

Hồn chíến sĩ ngàn thu rạng tỏ,

Gương anh hùng chói đỏ như châu”.

*

“Sanh vi tướng, tử vi thần,

Câu châm ngôn ấy truyền lần đến nay”.

Ngày trước là Pháp Lang Sa, ngày hôm nay là quân Tàu Cộng. Xin hãy xem và

hiểu những vần thơ duới đây như hình ảnh báo hiệu các chuyển động mà tín đồ

PGHH tin là Ơn Trên và Đức Thầy dùng để mô tả viễn tượng sắp tới…Rõ ràng là

trên trời thì phi cơ nhào luyện rầm rầm, rộ rộ còn dưới biển thì đủ thứ tàu chiến và

tiềm thủy đỉnh đã không ngừng lặn xuống, nổi lên, thi thố tài năng… Đúng là:

“MẶT NƯỚC BIỂN LÔ NHÔ LẶN HỤP,

CHIM ĐUA BAY, CÁ LẠI TRANH MỒI,

NGỌN THUỶ TRIỀU NÔ NỨC SỤC SÔI,

BẦU TRÁI ĐẤT MỘT PHEN LUÂN CHUYỂN…”

*

“Nơi phía trước, cheo leo tiếng khóc,

Đứng sau lưng, hình vóc vẫy chưng,

Nước kia, lửa nọ tưng bừng,

9

Thảm cho thế sự, lẫy lừng nạn tai”.

VI/- KÍNH THƯA CHƯ QUÝ LIỆT VỊ,

Tâm thư đã dài, nhưng điều muốn bày tỏ thì chưa hết. Chúng tôi xin tạm dừng

nơi đây. THAY MẶT HỘI ĐỒNG TRỊ SỰ TRUNG ƯƠNG, Giáo Hội PGHH

VÀ Ban Chấp Hành Trung Ương, VN DÂN XÃ ĐẢNG, BAN TỔ CHỨC LỄ

TƯỞNG NHỚ NGÀY ĐỨC THẦY THỌ NẠN THA THIẾT KÍNH MỜI TOÀN

THỂ ĐỒNG ĐẠO, TOÀN THỂ ĐỒNG HƯƠNG, QUÝ VỊ QUAN KHÁCH VUI

LÒNG NHÍN CHÚT THỜI GIỜ ĐẾN THAM DỰ VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ CÙNG

CHIA XẺ VÀ TRAO ĐỔI NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ ĐỜI, VỀ ĐẠO NHẤT LÀ

NHẮC NHỞ LẪN NHAU VỀ MẶT TINH THẦN, VỀ Ý CHÍ QUYẾT TÂM VÌ

DÂN TỘC VÀ ĐẠO PHÁP.

BUỔI LỄ ĐƯỢC TỔ CHỨC TẠI HÔI QUÁN PGHH TRUNG ƯƠNG,

12432 EUCLID ST, GARDEN GROVE, CA 92840,

NGAY GÓC ĐƯỜNG LAMPSON.

KHAI MẠC ĐÚNG 3 GIỜ CHIỀU NGÀY CHỦ NHỰT, 26 THÁNG 4 NĂM 2015.

Một lần nữa, Ban Tổ Chức xin trân trọng kính mời, với lòng đặc biệt tri ân và

ngưỡng mộ.

Thành Phố Garden Grove, ngày 15 Tháng 3, 2015

TM Ban Tổ Chức Lễ Tưởng Nhớ Ngày Đức Thầy Thọ Nạn.

HỘI ĐỒNG TRỊ SỰ TRUNG ƯƠNG GIÁO HỘI PHẬT GIÁO HOÀ HẢO,

Hội Trưởng: Lê Phứơc Sang; Đệ nhứt Phó H. Trưởng: DB Dương M.Quang,

Cố Vấn: DB Dương ThanhTồn – Chánh Thơ Ký: Huyền Tâm, Huỳnh Long Giang –

Phó Hội Trưởng Nội Vụ: Trần Văn Vui – Phó Hội Trưởng Ngoại Vụ: Nguyễn Cửu

Long – Chủ Tịch Hội Đồng Kế Hoạch và Phát Triễn: Thạc Sĩ Nguyễn Tấn Lạc.

10

Tổng Bí Thơ: Đại Tá Nguyễn Văn Nam, BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG

VIỆT NAM DÂN XÃ ĐẢNG.

THIỆP MỜI.

THAM DỰ LỄ TƯỞNG NHỚ NGÀY ĐỨC THẦY THỌ NẠN TAI ĐỒNG THÁP MƯỜI.

Ban Tổ Chức Chúng Tôi trân trọng kính mời:

……………………………………………………………………………………

Vui lòng tham dự LỄ TƯỞNG NHỚ NGÀY ĐỨC THẦY THỌ NAN tại Đồng

Tháp Mười, 16 tháng 4 năm 1947.

Lễ Tưởng Nhớ nầy được tổ chức tại Trụ Sở HĐTSTƯ, GHPGHH, 12432 Euclid

St, Garden Grove, CA 92840, cử hành vào ngày Chủ Nhật, 26 tháng 4 năm 2015,

gần ngả tư đường Lampson Avenue.

CHƯƠNG TRÌNH LỄ TƯỞNG NHỚ NGÀY ĐỨC THẦY THỌ NẠN GỒM CÓ:

11

1. Tiếp đón Quan khách và đồng đạo: 2 giờ 30 pm. Khai mạc đúng 3 chiều.

2. Nghi thức khai mạc: Chào Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa, Đạo kỳ và Mặc Niệm.

3. Giới thịệu Thành phần tham dự.

4. Diễn văn Khai Mạc của TS Lê Phước Sang, Hội Trưởng HĐTSTƯ, GHPGHH.

5. Lễ Niệm Hương trước Ngôi Tam Bảo.

6. Đọc bài Lễ Tưởng Nhớ Ngày Đức Thầy Thọ Nạn.

7. Phát biểu của Quan Khách và Xướng Ngâm Thi Văn Giáo Lý.

8. Văn Nghệ.

9. Cảm tạ của Ban Tổ Chức. Bế mạc lúc 7 giờ chiều.

10. Khoản đãi thức ăn nhẹ và nước uống giải khát.

————————————————————————————–

CHỔ ĐẬU XE KHI DỰ LỄ :

a/ Đậu trên đường Lampson Avenue.

b/ Đậu bên lề tay mặt đường Euclid St – đi từ đường Lampson Ave., hướng về đường Chapman

và đường Orangewood.

1.đậu phía sân sau của Brentwood DENTAL – 12400 Euclid St. Tel 714-537-1600.

2. đậu phía sân sau của Art of DENTISTRY – 12372 Euclid St. Tel.714-539-1004.

3. đậu phía sân sau của Russo Chiropractic Clinic – 12362 Euclid St. Tel 714534-5712.

4. đậu phía sân sau của JP Escrow. Realty- 12312 Euclid St. Tel &14-467-4664

5. đậu phía sân sau của Dinh Vo DSD. DENTAL – 12302 A Euclid St .Tel. 714-590-2210.

c/ Đậu bên lề tay mặt đường Euclid St- đi kể từ đường Chapman – hướng về đường Lampson.

6. đậu phía sân sau và bên hông của NHA TRANG PRE – SCHOOL – 12351 Euclid St.

Tel 714-983-4850.

7. đậu phía sân sau và bên hông của LAW OFFICE – LUẬT SƯ NGUYỄN TÔN

NGUYÊN, 12411 Euclid St., Tel 714-638-4675.

CHÚNG TÔI MONG MỎI ĐƯỢC ĐÓN RƯỚC QUÝ THƯỢNG KHÁCH ĐỂ

ĐẠI KHỐI 8 TRIỆU TÍN ĐỒ PGHH CỦA ĐỨC THẦY CÓ DUYÊN MAY HẠNH

NGỘ Xin tri ân với tất cả tấm lòng

tôn kính, mong chờ và ngưỡng mộ.

Ban Tổ Chức LỄ TƯỞNG NHỚ NGÀY ĐỨC THẦY THỌ NẠN.

HĐTSTƯ, GHPGHH VÀ BCHTƯ, VN DÂN XÃ ĐẢNG.

12

Xin liên lạc với Ban Tổ Chức:

MC: hoa hậu Khuyến Nguyễn, nghệ sĩ Bích Ty và nghệ sĩ Tuyết Nga.

Hoa Hậu Lam Châu, Hoa Hậu Huỳnh Nga.

1-TS Hội Trưởng Lê Phước Sang: cell 832-397-9813

2- Chánh thơ ký Huyền Tâm Huỳnh Long Giang: 714-720-5271.

3- Thạc Sĩ Nguyễn Tấn Lạc, Chủ Tịch HĐKH.PT, Trưởng Ban Tiếp Tân.

4- Bích Ty: MC xướng danh thành phần dự Lễ. Tel. 714-726-4002.

5.Trưởng Ban Chào Mừng & Tiếp Đón quan khách: Phạm Diệu Chi

6. Thành phần đặc biệt giúp đở về phương diện VẬN ĐỘNG THÂN HỮU: soạn giả Trần

Văn Hương, giáo sư Hồ Phi, giáo sư Lê Hữu Quế, Thiền Sư Nguyên Linh, Giáo Sư Lê

Quý An, Nghệ Sĩ Hồng Quyên, Nghệ Sĩ Hoàng Lợi, Chị Phạm Mai, Anh Chị Mỹ Dung,

Cung Nhật Dương, Đặng Ngọc Thảo, NiNa Nghĩa Nguyễn, Nguyễn Thanh Tân, Ông Bà

Ba Định, Chủ Tịch Châu Văn Để và Cô Minh Nguyệt.

Xin mời xem WEBSITE: WWW.tandanhoa.com. Cơ quan ngôn luận chánh thức

của Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo, Hội Đồng Trị Sự Trung Ương.

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

NHỮNG NHÂN CHỨNG SỐNG CỦA NẠN ĐÓI NĂM ẤT DẬU 1945

NHỮNG NHÂN CHỨNG SỐNG CỦA NẠN ĐÓI NĂM ẤT DẬU 1945

Inbox x

Vu Nguyen <vuhomemax@gmail.com>

Jan 13
to bcc: me

Kính gởi quý đạo hữu, quý đồng đạo

Kính mong quý vị đọc qua bài sau, nhân dịp lễ Đản Sinh Đức Thầy – năm thứ 95, để cùng ôn lại dấu mốc của đạo và lịch sử của dân tộc.

Trân trọng,

Vũ Nguyễn

 

Nạn Đói Năm 45 Trong Ký Ức Người Còn Sống

Khi cám bã, rau dại, củ chuối đã hết, dân làng đào khoai ngứa ăn. “Ăn xong ngứa như rách cả cổ nhưng không ăn thì chết. Ngẫm lại, con người khi đó còn không được như con lợn, con gà bây giờ”, ông Vũ Viết Bật (82 tuổi) ngậm ngùi nhớ lại.

Nạn đói lịch sử năm Ất Dậu

Ông Tô Minh Thuyết kể rằng: “Bố tôi mất vào tháng tư năm đói. Mỗi lần làm giỗ cho ông cụ, nhìn đàn con cháu quây quần, mâm cơm đầy đủ là lại chứa chan nước mắt”. Ảnh: Hoàng Phương.

Ông Tô Minh Thuyết (80 tuổi, người Tây Lương, Tiền Hải, Thái Bình) bị bệnh teo não. Rất nhiều chuyện đã quên nhưng ký ức về nạn đói mỗi lần nhắc đến ông lại rùng mình, buông câu “chuyện xưa rồi nhưng cứ nhớ đến là lại tủi thân”. Nạn đói ập về Thái Bình vào tháng 10/1944. Mẹ ông đi thăm đồng về khóc lóc nói với chị cả: “Khéo cả làng chết đói mất thôi con ơi”.

Lúa trên cánh đồng thôn Thượng và các thôn khác trắng như cánh cò, không tìm thấy hạt mẩy. “Không ai biết lúa bị bệnh gì, dân chỉ kháo nhau là do trời làm. Không có thóc nộp tô, dân kéo đến nhà giàu để vay nhưng họ không cho, để dành thóc bán cho Nhật. Mẹ tôi phải đội thúng bát đĩa cổ ra nhà địa chủ Lý Sách đổi vài cân thóc. Sau nhà giàu không mua nữa, bà đội thúng đi về giữa trời mưa mấy lượt mà không có gì cho 6 chị em tôi ăn”, ông Thuyết kể.

Người ta ăn tất cả những gì có thể. Cậu bé Thuyết mới 10 tuổi vẫn nhớ cảnh dân làng đổ ra cánh đồng nhổ rau dền, rau sam, lá bắp cải già, thứ gì ăn được là nhặt về hết. Rồi người ta giết cả chó mèo vì không nuôi nổi. Có nhà trong làng bán rẻ trâu không ai mua, phải mổ thịt ăn dần, vừa ăn vừa khóc.

“Ăn hết rau cỏ, vật nuôi trong nhà, cả làng lùng chuột đồng làm thịt, nướng vội nướng vàng rồi tranh nhau xé ăn. Họ vật vờ ở bờ bụi đào củ dong, ráy, củ chuối, băm ra cho vào nồi đất, đun sôi bốc ăn ngon lành. Nhà nào có cây chuối, đu đủ thì đêm canh như canh miếu thờ vì sợ bị trộm. Trong làng, có đám đánh nhau mẻ đầu vì tranh giành củ chuối. Khi củ chuối hết là bắt đầu có người chết”, ông Thuyết kể.

Vì đói, ở Tồn Thành (Giao Thủy, Nam Định), người ta cắt cỏ vực đốt lấy hạt, giã vỏ lấy nhân nấu cháo ăn. Được ít ngày, cỏ vực không còn một ngọn, dân đào khoai ngứa, thứ chỉ dành cho lợn. “Ăn xong ngứa như rách cả cổ, nhưng không ăn thì chết. Ngẫm lại, con người khi đó còn không được như con lợn, con gà bây giờ”, ông Vũ Viết Bật (82 tuổi) nhớ lại.

Dải đất bắc miền Trung ít ruộng, dân cư chỉ sản xuất một vụ lúa, sống chủ yếu bằng hoa màu và đánh bắt cá. Thôn Thủ Phú thuộc làng Phú Xá xưa (nay là xã Quảng Đại, Quảng Xương, Thanh Hóa) từ xưa chỉ có làm nghề đánh bắt cá biển, đổi nông sản với các vùng khác. Tết Ất Dậu là thời điểm mở màn cho những cái chết trong thôn. Trong trí nhớ của ông Nguyễn Xuân Tài thì bà Sến, người xóm trên là nạn nhân đầu tiên. “Bà này chết rục bên gốc chuối sau nhà, thân hình khô quắp chỉ còn lại nắm xương. Những tháng sau đó, người dân Thủ Phú chết như ngả rạ. Trong làng ngoài ngõ, bên gốc đa, sân đình, bờ đồng, xó chợ… đâu cũng thấy thây ma nằm ngổn ngang”, cụ ông 92 tuổi cho hay.

Người bị choáng đâm đầu xuống sông, người nằm bên bờ ruộng khi miệng còn ngậm cỏ, người chết trong nhà không ai biết. Ban đầu, dân làng bó chiếu, chăn đem chôn. Về sau những tấm mành lưới, cánh buồm để ra khơi trở thành “quan tài” tạm, xác chết được kéo ra bãi tha ma phía bờ biển. Nghĩa địa Cồn Mả Quán chi chít nấm mồ lấp vội.

Cụ Trình Thị Chự (102 tuổi) là người duy nhất trong gia đình 9 người sống sót qua nạn đói năm 1945 ở làng Thủ Phú, xã Quảng Đại, (Quảng Xương, Thanh Hóa) . Ảnh: Lê Hoàng.

Thôn Thủ Phú có khoảng 40 hộ chết gần hết cả nhà, như nhà ông Minh Hinh, hai vợ chồng với 7 con trai đều ra đi. Gia đình ông Biện Bang, Bút Lợi, Sệnh Cày… cũng vậy. Thôn này trở thành nơi có nhiều người chết đói nhất xứ Thanh. “Một buổi chiều, có người ngửi thấy mùi hôi thối nồng nặc, chạy sang thì cả 7-8 người nhà ông Minh Hinh nằm chết co mỗi người một xó, chuột bọ, côn trùng bò lổn nhổn. Dân làng phải kéo sập mái nhà châm lửa đốt rồi lấp đất vùi xác tại chỗ”, cụ Tài kể lại.

Người già nhất thôn Thủ Phú từng chứng kiến nạn đói Ất Dậu là cụ Trình Thị Chự (102 tuổi). Gia đình cụ Chự có 9 người thì mất 8 (gồm cha mẹ và 6 người con, 3 gái, 3 trai). “Trong ba ngày, tôi phải chứng kiến 8 người thân qua đời. Tự tay tôi lần lượt kéo xác cha mẹ và những người anh em ra đồng. Không có cuốc thuổng, tôi dùng tay bới đất. Ướm chừng như đã lút thân người, tôi chôn vội họ rồi lại tất tả chạy về lê xác người khác”, cụ Chự rưng rưng.

Sống gần trọn kiếp người, cái chết vì đói của những người thân luôn ám ảnh cụ bà Nguyễn Thị Sót (87 tuổi, người xã Tây Lương, Tiền Hải, Thái Bình). “Nhà tôi có 8 người thì 5 người chết. Vợ chồng anh cả chết còng queo ở xó nhà, đứa cháu lớn đói quá nằm vạ vật ở góc bếp. Tôi lay nó tỉnh dậy, nhích mi mắt không thấy gì ăn rồi lại nhắm mắt, từ sáng đến trưa thì chết. Bố tôi chết ở dưới thuyền nhiều ngày, khi phát hiện ra thì đã đầy ruồi bọ, anh trai thứ chết ở đâu không tìm thấy xác”, bà Sót kể, nước mắt chực trào ra.

“Năm ấy tôi mới 17 tuổi, đương thanh xuân, thế mà chỉ còn da bọc xương. Nhiều người đói rạc cả thân xác, không phân biệt nổi đàn bà hay đàn ông. Người ta cướp cả manh quần áo vá chằng vá đụp trên thi thể người đàn bà có chửa sắp sinh để đổi lấy miếng bánh đúc ăn”, bà cụ kể tiếp.

Dân gian có câu “Thái Bình chết bảy còn ba” để hình dung về thảm cảnh của quê lúa năm 1945. Xóm Trại của xã Tây Lương gần như bị xóa sổ, 130 nhân khẩu thì có 103 người chết. Gia đình ông Tô Nuôi có 4 người, mình ông được cứu sống vì đi làm con nuôi. Cả dòng họ ông 35 người thì chết đói 31. Nhà cụ Hoàng Phác có bốn thế hệ sống với nhau 31 người thì chết đói 26 người, 2 người đến nay không biết tung tích.

Nhà khá giả cũng không thoát nổi. Ở thôn Hiên, xã Tây Lương, người dân còn kể lại câu chuyện gia đình ông Nguyễn Văn Tư chết đói đặc biệt. Khi nhiều người mang đồ thờ, bát đĩa quý trong nhà đi bán giá rẻ, ông đem thóc đổi lấy đồ, sau hết thóc xoay không kịp rồi cũng chết. Hay gia đình ông Nguyễn Văn Lý làm tuần đinh, nhà có 2 trâu, 3 mẫu ruộng, 16 nhân khẩu thì chết mất 15 bởi mua sắm đồ đạc nhiều, không có dự phòng.

Trong trí nhớ của bà Sót khi đó, khắp làng xã người chết đói nằm co, người sống thì lê lết kiếm miếng ăn. Người không đi nổi thì ngồi vật vờ nhìn nhau. Không khí tĩnh lặng đến dị thường, không ánh lửa, không tiếng chó sủa mèo kêu, chỉ có tiếng chuột gù. Những con chuột vì ăn thịt người chết mà to béo bằng cả bắp chân. Người đói nhìn thấy không còn sức mà bắt ăn.

Vợ chồng ông Nguyễn Văn Ngô (102 tuổi) và bà Nguyễn Thị Sót (87 tuổi) là những người sống sót qua nạn đói ở làng Trung Tiến, xã Tây Lương (Tiền Hải, Thái Bình). Ảnh: Hoàng Phương.

Tạm qua cơn đói, khi có lúa mới, nhiều người lại chết vì một bữa no. “Khi được mùa, họ ăn như chưa từng được ăn. Thế rồi nhiều người lăn ra chết với tấm bụng căng tròn”, cụ Nguyễn Xuân Trang (97 tuổi, thôn Thủ Phú) cho hay, có đến vài chục người trong làng chết vì một bữa no.

“Giữa trưa hè nắng oi ả. Người làng bất thần nghe tiếng khóc ré bên nhà lão Thử. Bà con chạy tới thì lão đang đánh trần nằm giãy đành đạch giữa sân với cái bụng căng lè, bên cạnh là rổ khoai lang mới luộc chưa kịp chín hết”, cụ Trang thở dài.

70 năm qua, xã Tây Lương khi xưa chết đói 2/3 thì nay đã thành một vùng giàu có, thanh bình bên sông Trà Lý. Gia đình bà Sót con cháu đuề huề. Sống qua cơn tăm tối của đất trời, bà được dân làng Trung Tiến gọi là người “sống dai nhất làng” vì không ăn gì nhiều ngày mà vẫn sống.

Còn ông Thuyết đã chẳng thể nhớ nổi hương vị củ chuối, cháo cám năm xưa, nhưng mỗi độ tháng tư về, nhìn con cháu quây quần bên mâm cơm đủ đầy ngày giỗ là lại khóc. “Trải qua năm ấy, gia đình nào cũng sứt mẻ, chẳng nhà nào còn vẹn nguyên”, ông nói.

Nhóm phóng viên

Nguồn: http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/nan-doi-nam-45-trong-ky-uc-nguoi-con-song-3130491.html

Ý kiến người đọc:

Tôi là nhân viên phục vụ của một nhà hàng tại tphcm , hằng ngày tôi vẫn thường hay ăn những thứ mà những vị khách bỏ lại khi họ ăn không hết , những lúc như thế tôi rất cảm thấy tuổi cho thân mình , nhưng khi đọc được bài viết này , tôi cảm thấy được an ủi phần nào trong cuộc sống hiện nay …. Thầm mong cho những chuyện như thế sẽ không bao giờ xảy ra với đất nước của chúng ta một lần nữa …. (shopkanu. – 01:30 13/1)

trước mình phục vụ nhà hàng cũng thế cũng hay ăn thức ăn thừa của họ, tối về cũng khóc. nhưng rồi cũng qua mình được ông bà dạy từ nhỏ là không được phí phạm đồ ăn (Du Tiến – 20 giờ trước)

Nhà bố Tĩn, bà mẹ là người chết đầu tiên. Cháo cám lâu ngày, cụ mắc bệnh kiết lỵ. Rồi đến cháo cám cũng không có, chỉ mỗi thứ ốc tép nấu rau. Hết thóc, hết người đến cân thóc tạ, nhà bố Tĩn mất nguồn xay giã. Không còn sức đưa xác mẹ ra đồng, bố Tĩn đành chôn mẹ ngay trong vườn. Bố Tĩn cố đào cái huyệt sâu. Lúc đào gắng sao khỏi quỵ, người đi chôn mà quỵ sẽ không đứng lên được, chính bố Tĩn đã nhìn thấy cảnh đó. Ghê quá, đi chôn người mà người ta phải chôn luôn mình. Sau cái chết của bà mẹ, đến lượt vợ và đứa con út. Bố Tĩn biết trước vợ sắp chết. Buổi sáng thằng bé lóp chóp mút vú, mẹ nó thì lã chã nước mắt. Lúc sau thấy vợ lủi vào góc nhà. Thường người sắp chết đói hay lảng vào chỗ khuất, giấu mặt, họ buồn và lo sợ. Chết đói khác chết bệnh, cứ từ từ, thoi thóp. Bố Tĩn nhoài đến lay vợ, lần đầu người còn ấm, lần sau thì lạnh rồi. Nghe tin mẹ chết, có cái đứa lớn phều phào khóc, còn mấy đứa nhỏ ngơ ngơ đứng, ngó theo chị và bố đưa xác mẹ cùng em ra vườn. Trừ bố Tĩn, liên tiếp mấy hôm ấy, ông cụ nhiêu và lũ cháu lần lượt ra đi… Nghĩ sắp đến lượt mình, nên đói mà bố Tĩn cũng chẳng thiết kiếm gì nhét vào bụng. Người ta bảo ăn độc rau má thôi, ăn linh tinh là chết. Nhà bố Tĩn đã gắng kiếm rau má, vậy mà vẫn “đi” hết. ĐÂY LÀ MỘT ĐOẠN NGẮN CỦA TRUYỆN NGẮN LÀNG MA, MIÊU TẢ NẠN ĐÓI 1945 . (Hoàng Bạch – 02:13 13/1)

Ngày nay con chúng ta đã thoát nghèo và dần quên đi những nỗi đau thương của ngày xưa, họ sẵn sàng vất bỏ những phần ăn còn thừa mứa. Tôi 28t chưa từng chải qua bất kỳ 1 nạn đói nào nhưng Ba Má tôi vẫn luôn nhắc một miếng khi đói bằng một gói khi no và tôi chưa bao giờ dám quên điều này. Một ký ước buồn về nạn đói khi xưa, cũng may là ông bà tôi ngày đó ở Nam Định và ông về kịp lúc trước khi quá muộn, nếu không đã không có tôi và chị em tôi rồi. Hãy trân trọng những gì mà mình đã có, mình đã quá no đủ thì hãy nên nghĩ đến những người nghèo khó hơn mình. (Badday Pham – 22 giờ trước)

Đọc mà muốn khóc, càng cảm thấy mình may mắn đến mức nào so với bao người. Ngày bé đọc truyện “Một bữa no” mà tưởng tác giả hư cấu, mãi sau mới biết thời đói khổ dân tộc mình đã trải qua kinh khủng đến mức nào. Cầu mong cho thế giới yên bình, ai cũng có cơm ăn áo mặc đầy đủ để không phải chịu thảm cảnh như vậy nữa. (Sơn – 01:27 13/1)

Cảm ơn nhóm phóng viên nhiều , đã khơi lại những năm tháng khó khăn thiếu thốn ấy. Đọc bài viết tôi như thấy người làng tôi năm ấy. Mẹ tôi kể ” sau nhiều ngày không có thức ăn nhìn mọi người đói lả đến chết mẹ không cầm được nước mắt”. Bây giờ có cơm ăn áo mặc cuộc sống đầy đủ nhưng con luôn phải sử dụng chúng cho đúng. Cái gì cũng không phải vô tận, tới lúc bói không ra, rà không thấy con ạ. (minhdinhta – 23 giờ trước)

Đọc bài này xong tôi mới thấm thía lời Bố tôi dạy ” Tích cốc phòng cơ”. Bố tôi nay đã 83 tuổi, Bầm tôi nay đã 82 tuổi, họ đã trải qua nạn đói khủng khiếp 1945. Nay cuộc sống đầy đủ nhưng trong ký ức của ông bà không sao quên được nạn đói năm xưa. Hễ thấy các con đổ đi bát canh cạn cơm thừa là ông bà lại xót xa, tôi hiểu sự xót xa đó không phải do kiệt xỉn mà do ký ức của nạn đói năm xưa giá như có được chút cơm thừa, canh cạn chắc nhiều người đã không phải chết đói.  (Yên Lc – 02:55 13/1)

Nạn đói năm Ất Dậu 1945 thật kinh khủng, hơn 2 triệu đồng bào đã bị chết đói. Mong sao đất nước luôn thanh bình và no đủ để không còn ai phải chết đói. Đọc lại chuyện xưa để mong rằng mọi người luôn nhớ lời cha ông “Được mùa chớ phụ ngô khoai, đến khi thất bát lấy ai bạn cùng”, luôn luôn tiết kiệm, không lãng phí. (baonguyen – 20 giờ trước)

Tôi đã dành hơn 1 tiết dạy chỉ để đọc cho học sinh nghe về bài báo này để với hy vọng thế hệ trẻ hôm nay hiểu được những đau khổ tột cùng mà cha ông đã phải gánh chịu, để chúng biết trân trọng hơn hạt cơm, hạt gạo và tuyệt nhiên không được lãng phí. Dân tộc mình khổ quá! (huonghpi – 16 giờ trước)

 

                         KHUYẾN NÔNG

 

Hỡi đồng-bào! Hỡi đồng-bào!

Thần chết đã tràn vào Trung-Bắc,
Ngày lại ngày siết chặt giống nòi;
Lật qua các bài báo mà coi,
Thấy con số chết xem mòi kinh nguy.

Cũng tại vì Tây-di bày kế,
Phá-hoại nền kinh-tế nước ta.
Làm cho điên-đảo sơn-hà,
Làm cho điêu-đứng con nhà Lạc-Long.

Bổng phút đâu cuồng phong một trận,
Quân Phù-Tang khai hấn bất kỳ.
Còn đâu mưu khéo giải vi,
Còn đâu hoãn kế trong kỳ viện binh?

Dầu những kẻ vô tình với nước,
Cũng tỉnh hồn mơ-ước tự-do.
Tiếng vang độc-lập reo hò,
Từ Nam chí Bắc nung lò khí thiêng.

Quyết phen nầy kết-liên một khối,
Đem máu đào tắm gội giang-san.
Giờ đây đem lại mùa-màng,
Năm rồi miền Bắc tan-hoang còn gì.

Chỉ có xứ Nam-Kỳ béo-bở,
Cơ-hội nầy bỏ dở sao xong.

Cả kêu điền-chủ phu-nông,
Đứng lên đừng để ruộng đồng bỏ hoang.

Muốn cứu khỏi tai nàn của nước,
No dạ dày là chước đầu tiên.
Nam-Kỳ đâu phải sống riêng,
Mà còn cung-cấp cho miền Bắc, Trung.

Quân-đội Nhựt cần dùng lương thảo,
Cũng phải ăn lúa gạo Nam-kỳ.
Ta còn ngần ngại nỗi chi,
Mà không cày cấy kịp thì hỡi-dân?

Điền-chủ phải một lần chịu tốn,
Giúp áo quần, giúp vốn thêm lên.
Muốn cho dân được lòng bền,
Mua giùm canh-cụ là nền khuếch-trương.

Giá mướn phải thường thường dể thở,
Xử ôn-hòa niềm-nỡ yêu nhau.
Cùng chung một giọt máu đào,
Phen nầy hiệp sức nâng cao nước nhà.

Kẻ phu-tá cũng là trọng trách,
Cứu giống-nòi quét sạch non sông.
Một phen vác cuốc ra đồng,
Thề rằng ruộng phải được trồng lúa khoai.

Mưa nắng ấy đâu nài thân xác,
Chí hy-sinh dầu thác cũng cam.
Miễn sao cho cánh đồng Nam,
Dồi-dào lúa chín gặt đam về nhà.

Chừng ấy mới hát ca vui-vẻ,
Ai còn khinh là kẻ dân ngu.
Không đem được chút công-phu,
Không đem sức-lực đền-bù nước non.

Gởi một tấc lòng son nhắn-nhủ,
Khuyên đồng-bào hãy rủ cho đông.
Nắm tay trở lại cánh đồng,
Cần-lao, nhẫn-nại Lạc-Long tổ truyền.

 

Saigon, tháng tư năm Ất-Dậu (1945)

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

HAI BỨC THƯ ĐI VÀO LỊCH SỬ CỦA NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ NGÔ ĐÌNH THỤC

Nghia Nhu Phan
On Saturday, October 25, 2014 6:05 AM, “Hoang Thuc Anhoangthucan@gmail.com [ChinhNghiaViet]” <ChinhNghiaViet@yahoogroups.com> wrote:
HAI BỨC THƯ ĐI VÀO LỊCH SỬ CỦA
NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ NGÔ ĐÌNH THỤC
1.     THƯ CỦA THỦ TƯỚNG NGÔ ĐÌNH DIỆM
GỬI QUỐC TRƯỞNG BẢO ĐẠI
Inline image 1


Hình: Quan Thượng Thư Ngô Đình Diệm khi còn là bầy tôi của Quốc Trưởng Bảo Đại.
Trang cuối lá thư 5 trang viết tay của ông Ngô Đình Diệm gởi Quốc trưởng
Bảo Đại. – Tài liệu của bà thứ phi Mộng Điệp của Bảo Đại còn lưu giữ tại Pháp
Năm tháng sau khi được Quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm làm Thủ Tướng, ngày 10-11-1954, ông Diệm gửi cho Quốc trưởng Bảo Đại một lá thư tái xác nhận “lòng trung thành của dòng họ chúng tôi” với Quốc Trưởng. Dưới đây là bản dịch tiếng Việt của lá thư đó:
Kính gởi Hoàng thượng Bảo Đại
Quốc trưởng Việt Nam
Kính thưa Ngài,
Tôi thật vô cùng cảm kích trước những lời tin cậy và khích lệ đầy thương mến mà Ngài đã chỉ thị cho bào đệ Ngô đình Luyện truyền lại cho tôi.
Ngài đã biết rõ sự bất vụ lợi và lòng trung thành của dòng họ chúng tôi, trong quá khứ, đã phục vụ Tổ quốc và Hoàng triều như thế nào. Xin Ngài hãy tin tưởng rằng đến lượt tôi, tôi sẽ cố gắng tiếp tục phục vụ với tất cà sức lực và tâm hồn để xứng đáng với lòng tin cậy thân yêu mà Ngài đã dành cho.  
Trong lúc có những giải thích đầy xuyên tạc của dư luận về sự mở rộng thành phần Nội các đã gây cho tôi quá nhiều phiền muộn, tôi muốn nói lên đây lòng tri ân của tôi về sự tín nhiệm của Ngài vẫn dành cho tôi.
Thật ra hoài bảo thân thiết nhất của tôi là nhận được sự chấp thuận của Quốc trưởngtrong các đại sự của Quốc gia, về Binh bị, Ngoại giao, Xã hội, Tài chánh hay Hành chánh.
Chỉ có sự chỉ đạo khôn khéo và chỗ dựa vững chắc ở Quốc trưởng, tôi mới có thể thực thi được những quyền lực đầy đủ để giải quyết tất cả vấn đề có tầm vóc liên quan đến sự sống còn và tương lai của đất nước.
Những cải cách về Hiến pháp và Dân chủ phải được nhanh chóng thực thi theo đúng những lời tuyên bố của Ngài khi Ngài trở về sau chuyến lưu vong.
Nhưng quyền lực của Hoàng triều phải thật sự cứng rắn để bảo đảm trật tự và công bằng xã hội, kỷ luật quân đội, tôn trọng quyền lợi và tự do của dân.
Trình Ngài, chính trong tinh thần nầy mà tôi đã nhờ bào đệ Luyện thỉnh cầu Ngài hồi loan càng sớm càng tốt, miễn là không trở ngại đến việc chữa bệnh của Ngài ở Pháp.
Tiếc thay khi được tin nầy thì những xáo trộn những âm mưu chính trị không tránh được khi đất nước bị chia cắt, đã tăng lên gấp bội, vì những tham vọng và quyền lợi riêng tư đó đã lo sợ sự hiện diện của Hoàng thượng và sự củng cố chánh quyền của Ngài.
Là người chủ xướng sự hồi loan nhanh chóng của Ngài, thế mà tôi phải đau lòng thỉnh cầu ngài dời hoãn ngày về nước để cho tôi có đủ thời gian cần thiết để san bằng những trở ngại khó khăn và đánh tan một vài thái độ mâu thuẫn.
Sự mong đợi chuyến về của Hoàng thượng càng lớn khi tôi cần dựa vào sự minh triết của Hoàng thượng để giúp tôi, ngoài những việc khác, tái tổ chức và phát triển Hoàng Triều Cương Thổ mà Hoàng thượng đã tức thời quyết định cho sát nhập về với Việt Nam. Việc nầy đã được sự tán thành của toàn dân.
Tôi nghỉ rằng, thật ra các miền Cao nguyên đó, từ lâu đã được sự chăm lo ưu ái của Hoàng thượng, rồi đây sẽ được hưởng những lợi ích to lớn về một tổ chức xã hội, kinh tế và quân sự mà các ngành Hành chánh cao cấp sẽ được chính phủ bổ nhiệm sau khi được sự chấp thuận của Ngài.
Để kết thúc, tôi xin đươc phép nhắc lại sự cảm tạ của tôi về sự tiếp tục tín nhiệm mà Ngài đã dành cho.
Tình trạng đất nước, bị xâu xé và tàn phá bởi cuộc chiến lâu ngày nầy đã gây quá nhiều lo âu cho tôi, vì vậy những bằng chứng về lòng tin tưởng thương yêu của Hoàng thượng sẽ là một niềm khích lệ vô giá đối với tôi.
Xin được phép nhắc Ngài rằng khi nhận chức Thủ Tướng chính phủ, tôi đã có xin Ngài hứa cho là trong trường hợp chính sách của tôi, nếu xét có bằng chứng có thể phương hại cho Tổ quốc, thì Hoàng thượng sẽ không để những tình cảm tốt đẹp dành cho tôi chi phối, mà sẽ cương quyết chối từ chính sách đó để cứu quốc dân.
Xin phép Ngài cho tôi được tin vào lời hứa đó, vì tôi phải có một chính sách cứng rắn và dũng cảm để đối phó với các sự xáo trộn chính trị và các liên hệ chằng chịt quá phức tạp của những quyền lợi lớn của cá nhân hay ngoại quốc gây ra.
Tôi sẽ làm chuyện nầy với lương tâm thanh thản vì tôi biết trước, nếu trường hợp gặp thất bại, Ngài sẽ sẵn sàng điều chỉnh tay lái khi cần.
Tôi trao thư nầy cho bào đệ Luyện để đệ trình lên Ngài với lòng trung thành tôn kính và thâm sâu của tôi.
Sài gòn, ngày 10 tháng 11 năm 1954
Ngô Đình Diệm”
Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Ảnh chuyến công du nước Pháp của vua Khải Định

Ảnh chuyến công du nước Pháp của vua Khải Định

Nước Pháp xâm chiếm và cai trị VN. Họ thiết lập một chính quyền gọi là bảo hộ và khai thác tài
nguyên biến Đông Dương thành thị trường cho kỹ nghệ và thương mãi Pháp. Đi đâu cũng mang theo quê hương, nên họ cũng xây cất những dinh cơ, chỗ ở, hạ tầng cơ sở giống Ba Lê để phục vụ chính quyền cai trị này. Dân Việt phải è cổ phu phen, sưu cao thuế nặng để chu cấp cho việc này.
Đến thời Albert Saraut, thuộc đảng Cấp tiến tả khuynh, mềm mỏng hơn chủ trương phải chia xẻ phần nào, không bóc lột mãi được nên phải nâng cao dân trí dân thuộc địa, tổ chức lại các trường Đại học hoặc qua Tây học, nới rộng các quyền cai trị cho người Việt, mở mang thêm trường học các cấp. Tuy các nỗ lực của ông bị nhiều người Pháp thuộc địa, vẫn cho dân Việt phải là phục dịch, chống đối nhưng ông tại chức khá lâu nên dân Việt hồi đó tương đối dễ thở,
Vua Việt cũng có vẻ được trọng vọng đón tiếp……nhưng trong lòng cũng thảm thương vì là vua của một nước Thuộc Địa.
Như bộ ảnh dưới đây…….
LVK

Ảnh chuyến công du nước Pháp của vua Khải Định

Ảnh độc chuyến công du nước Pháp của vua Khải Định
Đây là lần đầu tiên một ông vua triều Nguyễn có chuyến công du nước ngoài.

Con tàu Porthos chở vua Khải Định cập Cảng Marseille, Pháp, ngày 21/6/1922. Ảnh: Gallica.bnf.fr.

Bộ trưởng Bộ thuộc địa Albert Sarraut và các quan chức Pháp chờ đón vua Khải Định tại Cảng Marseille.

Các quan chức An Nam tại bến cảng.

Đoàn quan chức An Nam ra khu vực cầu tàu đón vua Khải Định.

Bộ trưởng Bộ thuộc địa Albert Sarraut dẫn vua Khải Định xuống tàu.

Phía sau ông Albert Sarraut và vua Khải Định là hoàng tử Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại sau này) sang Pháp để du học.

Vua Khải Định, hoàng tử Vĩnh Thụy, bộ trưởng Albert Sarraut và hoàng thân Vĩnh Cẩn ở Marseille.

Vua Khải Định đến ga Bois de Boulogne tại Paris ngày 24/6/1922.

Nhà vua lên xe ngựa phía trước ga.

Cỗ xe ngựa rời nhà ga

Trong chuyến công du năm 1922, nước Pháp đã đón tiếp ông vua An Nam bằng nghi lễ long trọng nhất.

Vua Khải Định ngồi xe ngựa di chuyển qua các đường phố Paris, ngày24/6/1922. Ảnh: Gallica.bnf.fr.

Lực lượng quân cảnh cùng nhiều người Pháp đứng hai bên đường ngắm ông vua An Nam đi qua.

Vua Khải Định từ xe ngựa bước xuống cổng điện Elyse – dinh Tổng thống Pháp.

Vua Khải Định cùng các quan chức Pháp đứng trên sân danh dự tại điện Elyse.

Bước vào trong điện Elyse

Nước Pháp tiếp đón vua Khải Định bằng nghi lễ long trọng nhất.

Người hầu cầm nón của Vua Khải Định nở nụ cười khi được chụp ảnh.

Vua Khải Định viếng thăm mộ Chiến sĩ vô danh bên Khải hoàn môn ở Paris.

Bắt tay với tướng lĩnh Pháp

Vua Khải Định đặt vòng hoa tại mộ Chiến sĩ vô danh.

Trong chuyến công du nước Pháp năm 1922, vua Khải Định có dịp ngồi xem đua ngựa với Tổng thống Pháp ở Paris.

Vua Khải Định, hoàng tử Vĩnh Thụy cùng các quan chức, tướng lĩnh Pháp thăm viếng mộ Chiến sĩ vô danh ở Paris. Ảnh: Gallica.bnf.fr.

Vua Khải Định thăm đền tưởng niệm Tử sĩ Đông Dương ở vườn thuộc địa Nogent sur Marne, Paris, 26/6/1922.

Đứng bên phải nhà vua là quan Thượng thư Nguyễn Hữu Bài.

Vua Khải Định cùng các quan chức Pháp tiến vào trong đền.

Tất cả an tọa ở sân trước đền Tử sĩ Đông Dương.

Chính điện của đền Tử sĩ.

Vua Khải Định bước ra sau khi viếng đền.

Vua Khải Định viếng đài tưởng niệm những tử sĩ người Việt đã chết cho nước Pháp trong chiến tranh thế giới nhứ nhất.

Vua Khải Định trong cuộc mít tinh ở vườn thuộc địa Nogent-sur-Marne..

Vua Khải Định viếng thăm Hội địa lý Pháp.

Tổng thống Pháp Millerand và Vua Khải Định trên khán đài trường đua ngựa tại Longchamp.

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Con cào cào bằng lá dừa

Con cào cào bằng lá dừa
Dương Thịnh
Một câu chuyện có thực, rất cảm động. Tác giả là một tỵ nạn HO-8 hiện đang định cư tại Westminster.
Đứng trong hàng rào kẽm gai của khu thăm nuôi. Bé Mai cố nhướng mắt để tìm người cha thân yêu của mình trong số những đoàn người gầy guộc, xanh xao, vàng vọt đang lếch thếch cất bước trên đường về trại tù. Với ánh nắng trưa hè gay gắt,mọi nguời đi thăm nuôi đều đứng trong mái hiên ngẩng cổ nhìn ra. Riêng bé Mai bất chấp những tia sáng nóng đang rọi trên đôi má ửng đỏ, những giọt mồ hồ đang rịn trên trán. Cô bé cố giơ cao những con cào cào xanh hướng về phía đoàn người đang lần lượt đi qua, hầu mong cha của mình sẽ mau chóng nhận ra. Ông Sinh đã nhận ra con gái , ông giơ cao lon gô vẫy vẫy. Bé Mai sung sướng reo lên :
“Má ơi. Con thấy ba rồi! Con thấy ba rồi !
Đoàn tù vẫn bình thản bước lên đồi. Ông Sinh vừa đi vừa ngoảnh cổ lại đằng sau nhìn con.. Khi không còn thấy hình bong cha nữa, bé Mai mới chịu chạy lại bên mẹ thút thít khóc
Thiếu phụ rút khăn tay lau mồ hôi trên trán con, vuốt mái tóc bé an ủi :
“Nín đi con, tí nữa mẹ con mình gặp cha rồi.”
Thời gian thăm nuôi thật ngắn ngủi, chỉ mười năm phút. Ông Sinh chỉ kịp ôm con vào lòng, hôn lên má con. Hỏi han vợ năm ba câu, chẳng nói được gì nhiều, đã gần hết giờ.
Mọi người trong phòng thăm nuôi chỉ biết nhìn nhau khóc và khóc. Đến gìơ. Tên cán-bộ oắt con quơ quơ khẩu súng AK. về phía mọi ngừời:
“ Đã hết giờ, yêu cầu mọi người đứng lên ra về.”
Ông Sinh vôi vàng nắm chặt hai bàn tay vợ và ôm hôn con lần cuối, sách bị gói lương khô cùng mấy con cào cào theo chân mọi người ra cửa.
Ngồi trên chuyến xe lô trở về thành phố, hầu hết là những bà vợ đi thăm nuôi chồng, họ đều mệt mỏi trong cuộc hành trình dài. Phần vì đường xa, phần vì phải thức khuya dậy sớm để nấu thức ăn, giờ đây tất cả đều cố nhắm mắt thiu thiu ngủ dưỡng sức. Riêng bé Mai không tài nào ngủ được, dù rất muốn ngủ và mệt mỏi.
Hình dáng của người cha luôn luôn lởn vởn trong trí óc bé, than hình gầy gò, đen đủi cùa ông khác xa với hình dáng trắng trẻo, hồng hào, mập mạp trước kia rất nhiều. Bé là người được cha thương yêu nhất. Đêm nào ông cũng ru bé ngủ, kể truyện cho bé nghe, trước khi rời khỏi phòng ông không quên hôn lên nút ruồi son trên cổ bé, mà ông thgường gọi đùa là:
“Nốt ruồi mang đến nhiều sự may mắn.”
Ông có đôi bàn tay rất khéo léo và nghệ thuật. Chính ông đã dậy cho bé xếp hình những con thú, đồ vật bằng giấy nhất là thắt hình những con cào cào bằng lá dừa non thật là tuyệt, trông chúng đẹp, hung dũng, oai phong biết bao! Bé rất thích và thường thắt để tặng bạn bè, vì thế chúng thường chọc và gọi bé lá con cào cào xanh.Biệt hiệu này bé rất thích và thường hay kể lại với cha. Ông nói con cào cào xanh với đôi chân cứng cáp, nhẩy xa, biểu hiện cho sự tương lai vững chắc. Cha muốn con gái của cha sau này cũng giống như những con cào cào này.
https://encrypted-tbn2.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcTuhrbx3bALzyBQcB2EUATMODzE5uzYazdxs2tHh5Etb4O_Haai5A


Riêng ông Sinh, ông không thể không cầm được nước mắt khi nhìn giỏ quà của vợ con. Sau gần hai năm tù cải tạo, đây là lần đầu tiên ông được thăm nuôi. Giỏ qùa dù ít nhưng nó đã gói ghém biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, tình thương của gia đình, dù ít nhưng ông rất ấm lòng. Nhất là mấy con cào cào xanh, nhìn chúng ông cảm thấy vui vui và xao xuyến trong lòng. Cô bé không biết đã bỏ biết bao nhiêu công sức, tình thương yêu gói trọn vào đó để dành cho cha. Nghĩ tới đó tim ông như thắt lại
Đây là lần đầu và cũng là lần cuối ông gặp mặt vợ con. Kể từ ngày thăm nuôi cho tới mấy năm sau này, ông không hề nhận được bất cứ tin tức gì về gia đình. Lòng ông như rối bời, tâm tính như mất trí, thân xác kiệt quệ. Mấy lần ông đã ngã qụy, tưởng không thể sống nổi, may nhờ bạn bè an ủi, giúp đỡ về vật chất cũng như tinh thần , ông đã qua khỏi.
Cuộc sống tù đầy cứ như thế: Chịu đựng, đau khổ, đói khát. Cho tới cuối năm 1981 ông được thả về.
Ra khỏi tù , ông không còn nơi nương tựa. Theo chòm xóm cho biết : Vợ con ông đã vượt biên năm 1976. Gia đình bên vợ thì đã bán nhà dọn đi nơi khác, không biết biệt tích nơi đâu. Còn bên ông thì không có ai cả, vì ông vô Nam chỉ có một mình khi ông mới mười hai tuổi. Thế là hết ! không biết đâu mà mò.
Điều làm ông lo âu nhất, là vợ con ông có thật sự đi vượt biên không, hay là tin đồn nhảm?! Nếu đúng như vậy, liệu có thoát không? Hay là đã bị…..ông không dám nghĩ tiếp. Nếu thoát, tại sao không gửi thư về để cho ông biết tin Những câu hỏi tại sao ?….tại sao?…làm cho ông điên đầu. Hiện giờ ông mù tịt, và cũng không hiểu vì sao.?!
Ra khỏi nhà tù nhỏ, ông lại vô nhà tù lớn. Cũng lao động thân xác để kiếm miếng ăn, cũng phải học tập, trình diện hàng tháng. Người ông càng ngày càng tiều tụy, nhưng ông phải ráng sống để có ngày gặp lại mặt vợ con
May mắn nhờ một người bạn tù cùng chung một tổ trong trại tù, đưa ông về nhà cho tá túc qua ngày, cùng chỉ ông cách thức vá giầy, dép cũ. Cuộc sống của ông cũng tạm đủ.
Dạo này trời Sài Gòn hay đổ những cơn mưa bất tử, làm ông Sinh dọn hàng ra, vô muốn bở hơi tai. Hai năm sau này công việc làm ăn của ông đâm khá ra. Giầy dép cũ mới, chôm chỉa gì ông cũng mua tuốt luốt, đem sửa chút ít, dánh bóng lại bán được gía cao.
Một người khách đi đến gian hàng ông. Ngắm nghía lựa một đôi, sỏ vừa chân, cầm lên hỏi :
“Bác , Đôi này bao nhêu?”
Đang cúi lau giầy, ông vội vàng ngửng đầu lên định trả lời. Nhưng thấy người khách ông bỡ ngỡ, cảm thấy rất quen nên chưa kịp đáp. Người thanh niên thấy mặt ông cũng giật mình lùi lại, trơn mắt như gặp phải ma. Cậu ta định thần nhìn kỹ. Vội hỏi :
“Xin lỗi, xin lỗi. Bác có phải…..phải tên Sinh không?”.
Cũng vừa kịp lúc ông Sinh nhận ra người khách lạ, chẳng ai khác hơn chính là cậu em vợ của mình. Như bắt được vàng. Ông Sinh rối rít dọn hàng không bán nữa.
Hai anh em kiếm một quán cà phê ngồi tâm sự.
Thì ra vợ con ông đi vượt biên thực sự, hiện định cư ở Mỹ. Vợ ông đã có chồng khác và đã có hai con, một trai, một gái. Cha mẹ vợ đã bán nhà ở thành phố, dọn về quê ở. Mấy năm nay ông bà vẫn đều đặn nhân được tiền bạc do con gái chu cấp hàng tháng, và hiện cậu em trai vẫn còn ở với cha mẹ. Không hiểu vì lý do gì, cố ý hay có uẩn khúc gì khác, ông bà lại báo với con gái là ông đã chết trong trại tù.
Ngay ngày hôm sau. Ông Sinh cùng cậu em vợ vội đáp xe đò về thăm gia đình vợ. Chuyến thăm này đã khiến ông Sinh nhận nhiều sự đắng cay tủi nhục. Sự ơ hờ, tiếp đón tẻ nhạt đã làm ông thất vọng. Ông không có địa chỉ cũng như không có tin tức gì về vợ con. Ông chỉ biết đạì khái là : Vợ ông không muốn cho ông biết nơi ở của nàng. Chuyện ông bị chết là do công an tới nhà báo tin.
Nhưng nhờ vào lòng tốt của cậu em vợ, cuối cùng ông cũng có được địa chỉ của vợ con trong tay. Nhưng làm được gì với địa chỉ này ? Đối với vợ, ông có lỗi với nàng chứ không phải nàng có lỗi với ông. Ở vậy chờ chồng nuôi con là việc tốt, nếu không thì đành phải chấp nhận, không thể oán trách. Nhưng với con, ông phải có bổn phận và trách nhiệm. Ông nhớ cô bé vô cùng không kể xiết.
Ông đã viết thơ nhiều lần, nhưng chẳng bao giờ được hồi âm. Lại mu tin, mù tịt. Đầu óc ông rối rắm tơ vò. Con ông ra sao rồi ?!
Sau đó chương trình HO được cứu xét, đưa các sĩ quan tù nhân cải-tạo qua Mỹ. Ông sung sướng bán tín, bán nghi. Nhưng sự thật đã đến. Giờ đây ông đã ngồi trên máy bay đến Mỹ theo diện HO.8. Việc đầu tiên của ông dự định là sau khi lo thủ tục giấy tờ xong, ông sẽ đi tìm vợ con.
Đứng trước cánh cổng sắt của căn nhà sang trọng, trong một thành phố thuộc tiểu bang Illonois. Ông Sinh lưỡng lự không dám bấm chuông, lòng ông hồi hộp, tim đập loạn xạ.. Ông đang tưởng tượng hình dáng vợ mình bây giờ thế nào? Con mình đã lớn khôn ra sao? Cô bé giờ đã hai mươi mốt tuổi rồi còn gì, không biết ông có còn nhận ra không?!
Rồi ông tự hỏi có nên vào hay không ? Gia đình người ta đang hạnh phúc, mình vào có đúng lúc không?! Đang lúc suy nghĩ miên man. Chợt ông thấy một thiếu phụ từ trong nhà đi ra, tay cầm bình tưới cây nhỏ, tưới vào những chậu hoa trước cửa. Ông không thể nhầm được, đó chính là vợ mình dù thời gian có thay đổi. Ông tính rướn người lên gọi nhưng kịp ngừng lại.Một người đàn ông tóc vàng từ bên hông nhà đi tới, đến sau lưng người thiếu phụ ôm choàng lấy nàng, hai người hôn nhau thắm thiết. Ông lặng người tê tái, quay gót bỏ đi.
Về quán trọ, ông viết vội vài chữ gửi cho vợ, hẹn nàng cho ông gặp mặt dù chỉ một vài phút. Ngồi trước mặt vợ, ông nhận thấy nàng rất đẹp, đẹp hơn trước nhiều, nhưng cũng không đấu được nhiều nếp nhăn trên trán khóe mắt, vành môi.
Để phá tan bầu không khí ngỡ ngàng. Ông Sinh khen vợ:
“Em. Trông em đẹp lắm !”.
“Cám ơn anh. Anh qua đây từ bao giờ? Trông anh già và ốm yếu quá ! Anh có cần sự giúp đỡ gì không? Chồng em quen biết rất nhiều.”
Ông Sinh thấy nàng tự nhiên quá, không có nét xúc cảm nào lộ trên khuôn mặt. Ông cũng bình thản.
“Cám ơn em. Anh, chữ nghĩa tiếng Anh, tiếng u còn kém lắm, vả lại mới qua chưa cần gấp. Anh muốn gặp con, nó dạo này thế nào rồi ?”.
Không trả lời vội. Nàng đẩy ly cà phê sữa tới trước mặt ông:
“Cà phê Starbuck này ở Mỹ có tiếng lắm. Em còn nhớ anh thích uống cà phê nên em kêu. Còn con hả, em cũng muốn mong gặp nó đây. Mấy năm nay nó chẳng hề ghé thăm mẹ. Lâu lâu gọi phôn lấy lệ”.
Ông Sinh nhỏm dậy:
“Em đã làm gì nó? Bây giờ nó ở đâu? Cho anh xin số phôn và địa chỉ của nó!
“Nào em biết. Nó không muốn cho em biết bất cứ điều gì.”
Ông Sinh như chết điếng :
“Em nói thật đó chứ?!”.
“Em không dối gạt anh. Dù chúng ta không còn là vợ chồng. Nhưng đối với con em rất mực thương yêu. Có anh đây em rất mừng, anh sẽ lo cho nó. Nó là đứa con rất có hiếu. Sự việc không hay xẩy ra, hoàn toàn do lỗi tại em. Anh đi tìm con dùm em.Cho anh biết thêm là hiện nay nó đang học nghành y-khoa, sắp ra trường. Anh cứ đi hỏi mấy trường đại học xem sao! Em đã dò hỏi khắp mọi nơi rồi, nhưng vẫn biệt vô âm tín. Anh mới qua chắc cần tiền bạc, em giúp.”
Vừa nói, nàng vừa mở bóp lấy cuốn chi phiếu.
Ông Sinh nghe vợ nói một hồi như lùng bùng lỗ tai. Không cần nghe thêm, ông xô ghế đứng dậy.
Nhờ những người quen biết chỉ dẫn. Ông Sinh đăng tin tìm người trên báo chí cả Mỹ lẫn Việt, cùng phôn tới tất cả các trường đại học xa gần, vẫn không có kết quả. Ở nước Mỹ to lớn này gồm năm mươi tiểu bang, có biết bao nhiêu trường đại học mà kể, tìm người như tìm kim đáy biển, biết đâu mà mò. Rồi ông lại suy nghĩ vớ vẩn, nhỡ con bé tự tử. Nghĩ tới, nghĩ lui làm ông rối trí thêm. Cuối cùng ông đành buông xuôi cho số phận thời gian.
Để mưu sinh và cũng để tạo cơ hội tìm kiếm, ông ghi danh đi học khóa đào tạo y công, phụ giúp trong các bệnh viện, hầu hy vọng có một ngày nào đó gặp được con mình.
Thời gian cứ thế trôi qua. Ông đã phục vụ rất nhiều bệnh viện trong tiểu bang California này mấy năm rối, cũng thăm hỏi nhiều rồi, sự hy vọng của ông càng ngày càng giảm, hầu như tuyệt vọng.
Niềm vui thú duy nhất của ông hiện thời là mấy con cào cào xanh, mà ông cất rất kỹ từ khi thăm nuôi tới giờ, dù chúng đã khô héo quắt queo. Mỗi khi nhớ con ông lại mang ra ngắm nghía, tâm hồn ông lúc đó hoàn toàn chìm đắm trên khuôn mặt cuả bé Mai.
* * * * *
Jennifer Trần là một bác sĩ trẻ, đẹp, làm việc rất siêng năng, cần mẫn, hay giúp đỡ mọi người. Ai cần việc gì, khó khăn gì hay trong nhà cần chuyện gì, cần người thay thế, bác sĩ vui lòng giúp đở, dù đó là ngày nghỉ của mình.Bác sĩ đã có vị hôn phu cùng phục vụ trong cùng một bệnh viện. Hai người tính làm đám cưới lâu rồi, nhưng không hiểu vì sao cứ lần này rồi lại lần khác, không thể thực hiện được. Bạn bè thúc giục, khuyên nhủ, nàng chỉ cười.. Tuy là người vui tính thích bong đùa, nhưng bác sĩ Trần vẫn không dấu được nét buồn của mình. Nét buồn đó càng làm tăng thêm vẻ đẹp dịu hiền, mà ai cũng gọi đùa là “nữ hoàng sầu muộn” Dù còn trẻ, nàng vẫn không thích nơi hội hè đình đám, những chỗ đông người, mà chỉ muốn sống cho riêng mình, nhưng đối với bạn hữu nàng cũng quậy ra trò.
Hôm nay ông Sinh nghỉ không đi làm. Ông rảnh rỗi cùng người bạn gìa đi thăm cháu gái của ông ta bị bệnh nằm trong bệnh viện. Tiện thể ông mang mấy con cào mà ông mới thắt đêm qua, cho cháu gái làm qùa.
Ngày chủ nhật, bệnh viện sao có qúa nhiều ca mổ! Bác sĩ Trần đã thấm mệt, mồ hôi rịn đầy trán. Nàng lấy khăn mui xoa chấm chấm mồ hôi, bây giờ nàng mới thực sự được rảnh tay.
Bác sĩ Trần đi qua dẫy phòng khoa nhi để đến phòng ăn, vì từ sáng đén giờ nàng chưa có cái gì vào bụng. Những tiếng cười khanh khách của một bé gái nào đó vang lên từ phòng khoa nhi. Cảm thấy vui vui nàng ghé lại nhìn thử.Một bé gái, nằm quay mặt vào phía trong, hình như đang giỡn với vật gì đó, làm cho cô bé khoái chí cười nắc nẻ. Tính tò mò thúc đẩy, nàng rón rén lại gần, nhìn vào phía trong.. Bất gíác nàng run người lên , mắt mở trợn trừng. Cô bé dang cho hai con cào cào xanh đá nhau, hai con cào cào được thắt bằng lá dừa xanh , trông thật là đẹp. Nàng run run cầm lên mân mê. Hỏi :
“Ở đâu bé có hai con cào cào này?”.
Như sợ bị la mắng, chơi đồ chơi trong phòng bệnh. Cô bé phân bua :
“Không phải của con mua, mà của ông gìa lúc nẫy cho con”.
Bác sĩ Trần không kềm được xúc động , hỏi dồn:
“Bao lâu rồi ? Ông đi đâu ?”.
Cô bé hốt hoảng :
“Dạ…dạ, con cũng hổng biết. Đã lâu rồi!”
Bác sĩ Trần hốt hoảng bước ra khỏi phòng, dáo dác nhìn quanh. Mặc kệ cho bụng đói, nàng chạy từ phòng nọ qua phòng kia, từ dẫy nọ qua dẫy kia để tìm kiếm. Trước sự lạ lùng đó, mọi nhân viên trong bệnh viện đều vây lại hỏi thăm, Nàng hỏi bâng quơ :
“Có ai thấy ông gìa nào đó trong bệnh viện không?”
Trước câu hỏi ngây ngô đó, mọi người đều không nín được cười, nhưng không ai dám cười trước vẻ nghiêm trọng của bác sĩ Trần.
Trong bệnh viện này, biết bao nhiêu ông gìa, bà cả đi thăm con cháu, người thân. Cảm thấy câu hỏi của mình qúa ngớ ngẩn, nàng cười gượng :
“Thôi. Không có gì, cám ơn các bạn.”
Tuy nói vậy nhưng trong lòng nàng vẫn không yên, tự nghĩ: ”Chỉ có cha mình mới thắt kiểu đó, nhưng ông đã chết rồi mà! Chẳng lẽ vì quá nhớ cha mà đâm ra mê sảng ?.!”
Thôi đi ăn cơm!.
Bác sĩ Trần, chính là bé Mai. Từ khi theo mẹ đi thăm nuôi cha, trở về nhà, không ngày nào bé không nghĩ đến cha của mình. Ngày vượt biển ra đi, bé nhất định không chịu , đợi ngày cha trở về đi cùng. Vì sự hăm dọa của ông bà ngoại cùng những lời khuyên giải của mẹ, bé đành chịu phép. Sang đến Mỹ bé nhất định phải học giỏi để có tiền gửi cho bà ngọại đi thăm nuôi cha đều đều. Bé sẽ nhẩy cao, sẽ cứng cáp như những con cào cào xanh mà cha đã từng nói.
Cuộc vượt biên êm xuôi. Sau hơn một năm ở trên đảo, bé cùng mẹ được định cư tại Hoa-Kỳ. Dòng đời đưa đẩy, mẹ lấy chồng khác, một anh chàng Mỹ giầu có. Cô bé có thêm hai đứa em gái.
Giờ đây, bé Mai đã mười chín tuổi, cái tuổi bước vô ngưỡng cửa đại học. Càng lớn nàng càng giống cha. Đã nhiều lần nàng biên thư và gửi tiền cho ngoại để hỏi thăm tin tức, cùng sức khỏe của cha trong trại tù, nhưng không ai trả lời. Có hỏi mẹ, chỉ được biết :
“Cha con đã chuyển đi ra ngoài Bắc rồi. Bà ngoại đã già không thể đi được.”
Nói sao nàng tin vậy. Mỗi lần nhớ ông, nàng lại mang hình hai cha con ra ngắm. Tấm hình nàng đã mang theo khi đi vượt biên.
Sống chung đụng trong cùng một mái nhà. Điều làm cho nàng ghê tởm, xấu xa, bỉ ổi nhất là anh chàng Mỹ kia cứ nhởn nhơ mặc quần lót đi trong phòng khách. Có lần hắn đã dám xàm xở ôm nàng xờ xoạng khi không có mẹ ở nhà. Từ đó nàng đã bỏ nhà đi sang tiểu bang khác, chỉ biết học và làm việc tự lo cho bản thân, lâu lâu hỏi thăm mẹ qua điện thoại công cộng.
Vào một ngày, khi điện thoại về thăm mẹ, được bà báo cho biết:
Cha đã chết trong tù!
Mọi vật như xụp đổ. Nguồn hy vọng bám víu cuối cùng cũng không còn. Thế là hết!
Nàng đã khóc đến khô cả nước mắt, cuộc sống như tẻ nhạt, chán chường không còn tha thiết gì nữa! Nàng chỉ biết vùi đầu vào sách vở cho quên nỗi buồn, và phải chiến đấu, chiến đấu, cứng cáp như những con cào cào xanh mà cha nàng khi còn sống hằng mong mỏi. Cuối cùng nàng cũng lấy được mảnh bằng chuyên khoa giải phẩu.
Qua tin tức báo chí. Bác sĩ Trần được biết các sĩ quan tù cải tạo được chính phủ Mỹ cứu xét cho định cư tại Hoa kỳ theo chương tình HO.Không hiểu sao nàng hồi hộp lạ thường.
Rồi quyết định bỏ miền đông tuyết phủ, trở về với nắng ấm Cali.
Hôm nay là ngày lễ Thanksgiving day, nàng muốn đi ra biển. Không phải để tắm hay hóng gió mà nàng muốn làm một công việc, công việc này nàng đã dự tính từ lâu nhưng vì qúa bận rộn nên không thể thực hiện được. Nhân ngày lễ tạ ơn nàng phải làm điều gì để nhớ ơn cha. Nàng sẽ thắt thật nhiều, thật nhiều con cào cào thả xuống biển, để chúng mang lời cầu nguyện của nàng đến người cha thân yêu.
Nàng tin tưởng rằng ở nơi xa xăm vĩnh cửu nào đó cha nàng sẽ nhận được lời khấn nguyện này.
Nàng rủ bác sĩ Hải (vị hôn phu) cùng đi chơi biển. Chàng rất thích thú lẫn ngạc nhiên về lời yêu cầu này, khác với bản tính trầm lặng không thích nơi ồn ào của nàng từ trưóc đén giờ, bèn okay chấp nhận liền.
Trong khi chờ đợi vị hôn phu đi mua thức ăn. Nàng dã kiếm đựợc khá nhiều lá dừa xanh, cẩn thận chau chuốt tước từng lá và bắt đầu thắt những con cào cào.Nàng để hết tâm trí vào công việc, chìm đắm trong niềm thương nhớ cha.
Ngoài kia. Sau khi đã mua thức ăn, trên đường trở về chỗ cũ nơi bãi biển, chàng thấy một đám con nít đang vây chung quanh một cụ già Việt-Nam, trên tay đứa nào cũng cầm một con cào cào, thấy hay hay chàng cũng xin một con.
Vừa đi vừa ngắm con cào cào, chàng cảm thấy nó rất đẹp và còn có vẻ oai phong nữa. Chàng sẽ cho vị hôn thê, chắc nàng sẽ thích thú lắm! Về đến nơi. Thật, chàng không thể tin vào mắt mình, nàng cũng đang thắt…..con cào cào.
“Em đang làm gì vậy.”
“Thắt con cào cào.”
Chàng cầm con cào cào mới xin được, vẫy vẫy trước mặt nàng.
“Anh cũng có một con.”
Nhìn con cào cào, mặt nàng tái mét, hỏi dồn:
“Ở đâu anh có nó?”
Chàng chỉ về hướng đám trẻ:
“Một cụ già Việt-nam cho anh.”
Chẳng nói chẳng rằng, nàng nắm tay chàng chạy như bay về hướng chỉ. Một ông già, tóc bạc qúa nửa. đeo cặp kiếng lão, Hai tay đang thoăn thoắt thắt những con cào cào. Dù thời gian, tuổi tác có thay đổi, nhưng với hình dáng kia, nét mặt kia đã in sâu vào tâm khảm, nàng không thể nhầm được, chính là cha nàng. Quá xúc động, nàng ngất xỉu.
Sự việc xẩy ra quá đột ngột, bác sĩ Hải hoảng hốt la cầu cứu. Ông Sinh (vâng, chính ông Sinh) ở vị trí gần nhất nghe tiếng hét vội vàng nhào tới. Ông vội thọc tay vào túi quần lấy lọ dầu xanh thoa lên hai thái dương cô gái, giựt tóc mai, giựt gân cổ. Bỗng người ông run lẩy bẩy, tim như muốn ngừng đập, khi ông thấy nốt ruồi son trên cổ cô gái, trên tay cô còn nắm chặt con cào cào. Như có linh tính, ông định thần nhìn kỹ khuôn mặt thiếu nữ. Ông gào lên trong tiếng nức nở, nghẹn ngào:
“Trời ơi! Mai….Mai, con tôi.”
Cũng vừa lúc xe cứu thương tới nơi, đưa bệnh nhân lên xe. Ông Sinh, bác sĩ Hải cũng vội vàng leo lên theo. Cầm tay con gái, lòng ông Sinh bồi hồi xúc động, ông không nghờ gặp con trong hoàn cảnh này. Hai hàng nước mắt ngắn, dài chẩy trên hai gò má nhăn nheo. Nhưng ông cảm thấy sung sướng và ấm áp vô cùng.
* * * * *
Tin bác sĩ Trần thị Mai gặp lại được cha già sau hai mươi năm xa cách đã loan truyền khắp trong bệnh viện, một vụ trùng phùng đầy đau thương, thích thú, khiến ai cũng mủi lòng.
Hôm nay nhà bác sĩ Mai thật đông đảo khách tới thăm, bạn bè, thân hữu nghe tin mang hoa tới chúc mừng. Trong mấy năm qua , bây giờ mọi người mới thấy được nét tươi vui, rạng rỡ thực sự trên khuôn mặt u sầu của vị bác sĩ mà họ mến yêu. Nhưng người sung sướng nhất vẫn là bác sĩ Hải.
Dương Thịnh 

Không Quên Bạn Tù

Không Quên Ðồng Bào Ðau Khổ

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Chiến Tranh VN: Hoa Kỳ đi đêm với Trung Quốc

Chiến Tranh VN: Hoa Kỳ đi đêm với Trung Quốc

                                                                                                 
Lê Quế Lâm
Chiến tranh Việt Nam
Ngày 27 tháng Giêng vừa qua, kỷ niệm 42 năm ngày Hiệp định Paris ra đời. Nói đến chiến tranh VN, phải nói đến việc kết thúc chiến tranh, nó được diễn tiến ra sao và kết cuộc là “Hiệp định về Chấm dứt Chiến tranh, Lập lại Hòa bình ở Việt Nam” (Agreement on Ending the War and Restoring Peace in Vietnam) được ký kết tại Paris ngày 27/Giêng/1973, gọi tắt là HĐ Paris 1973.
Trước 1975 và đến nay, đại đa số đồng bào không biết gì nhiều về hiệp định nầy, vì chính quyền hai miền Nam Bắc đều không muốn thi hành, nên giấu giếm không công bố cho quốc dân biết, đôi khi còn xuyên tạc sự thật. Sàigòn cho rằng Kissinger đi đêm với Chu Ân Lai và HĐ Paris 1973 là văn kiện bán đứng MN cho CS. Còn Hà Nội lên án TQ cấu kết với HK phản bội nhân dân VN…Trong khi lời mở đầu của hiệp định nói rõ”Nhằm mục đích chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở VN trên cơ sở tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân VN và quyền tự quyết của nhân dân MNVN, góp phần củng cố hòa bình ở Châu Á và thế giới”.
Chính vì HĐ Paris 1973 không được những người lãnh đạo VN thi hành mà ngày nay sự toàn vẹn lãnh thổ đã bị sứt mẽ. Nhân dân MN nói riêng và nhân dân VN nói chung cũng chưa được hưởng quyền tự quyết, tự quyết định tương lai chính trị của đất nước thông qua tuyển cử thực sự tự do và dân chủ. Các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị… đến nay nhân dân vẫn chưa được hưởng. Hòa bình ở châu Á thì luôn ở trong tình trạng mất ổn định. Sau 1975 là chiến tranh ở biên giới Tây Nam và phía Bắc kéo dài đến năm 1989. Tiếp theo là sự mất ổn định ở Biển Đông kéo dài đến nay.
image001-305.jpg

Hiệp Định Paris 1973 được thỏa hiệp tại Bắc Kinh, chứ không phải tại Paris. Từ trái: Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Henry Kissinger, Thủ Tướng Chu Ân Lai, và Chủ Tịch Mao Trạch Đông, Bắc Kinh, 1972
Nhân kỷ niệm ngày ký HĐ Paris 1973, người viết xin ghi lại nội dung hiệp định này. HĐ Paris 1973 gồm có 9 chương với 23 điều khoản. Ngoài chương II Chấm dứt chiến sứ, rút quân. Chương III Việc trao trả tù binh. Chương VI Các ban Liên hợp quân sự. Chương VII Đối với Campuchia và Lào. Chương IX Điều khoản chung. HĐ Paris 1973 chỉ có 4 Chương sau đây là quan trọng.
alt

Chương I, chỉ có điều 1: “HK và các nước  khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước VN như HĐ Genève năm 1954 về VN đã công nhận”.
Chương IV: Việc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân MNVN. Có 2 điều khoản quan trọng. Điều 9: “Quyền tự quyết của nhân dân MNVN là thiêng liêng bất khả xâm phạm và phải được tất cả các nước tôn trọng. Nhân dân MNVN tự quyết định tương lai chính trị của MNVN thông qua tuyển cử thực sự tự do và dân chủ có giám sát quốc tế”. Và Điều 11: “Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh”
Chương V: Vấn đề thống nhất nước VN và vấn đề quan hệ giữa miền Bắc và miền Nam VN, chỉ có Điều 15: “Việc thống nhất nước VN sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình trên cơ sở bàn bạc và thỏa thuận giữa miền Bắc và Nam VN, không bên nào cưỡng ép hoặc thôn tính bên nào. Thời gian thống nhất sẽ do miền Bắc và miền Nam VN thỏa thuận”.
Chương VIII Quan hệ VNDCCH và HK. Điều 21: “HK mong rằng hiệp định nầy sẽ mang lại một thời kỳ hòa giải với VNDCCH cũng như với tất cả dân tộc ở Đông Dương. Theo chính sách truyền thống của mình, HK sẽ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh ở VNDCCH và toàn Đông Dương”. Và Điều 22 “Việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở VN và việc thực hiện triệt để Hiệp định nầy sẽ tạo điều kiện thiết lập quan hệ mới, bình đẳng và có lợi giữa VNDCCH và HK, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Đồng thời những việc đó sẽ bảo đảm hòa bình vững chắc ở VN và góp phần giữ gìn hòa bình lâu dài ở Đông Dương và ĐNÁ”.
Tháng sau, một Hội nghị Quốc tế về VN được triệu tập tại Paris từ ngày 28/2 đến 2/3. Thành phần tham dự gồm có: -Bốn bên ký tên trong HĐ Paris 1973 là Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam Cộng Hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam. -Bốn nước thuộc Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát là Ba Lan, Hung Gia Lợi, Nam Dương và Gia Nã Đại. – Tổng Thư Ký LHQ và -Bốn thành viên thường trực Hội đồng Bảo An là Anh, Pháp, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Liên Sô. Sau 3 ngày thảo luận, Bộ trưởng Ngoại giao 12 nước kể trên cùng ông TTK/LHQ đã long trọng ký kết bản Định ước của Hội nghị Quốc tế về Việt Nam.Bản văn gồm 9 điểm, trong có những điều khoản quan trọng sau:
Điều 1: “Các bên ký kết Định ước nầy long trọng ghi nhận, tuyên bố tán thành và ủng hộ hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở VN”.
Điều 2: “Hiệp định đáp ứng các nguyện vọng và các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân VN là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước VN, quyền tự quyết của nhân dân miền Nam VN và đáp ứng nguyện vọng tha thiết về hòa bình của tất cả các nước trên thế giới. Hiệp định phải được tôn trọng và phải được thi hành nghiêm chỉnh”.
-Điều 3: “Các bên ký kết Định ước nầy trịnh trọng ghi nhận những cam kết của các bên ký kết hiệp định là tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh hiệp định”.
Tóm lược diễn tiến chiến tranh VN: Năm 1960 CS Miền Bắc phát động cuộc chiến giải phóng MN, từ đó họ gởi người và vũ khí xâm nhập miền Nam. Đến tháng 3/1965 HK bắt đầu trực tiếp can dự vào chiến tranh, TT Johnson xử dụng hai gọng kềm: dội bom miền Bắc và đưa quân vào miền Nam để áp lực Hà Nội ngồi vào bàn đàm phán, giải quyết cuộc chiến bằng con đường hòa bình. HK đã đạt được mục tiêu: ngày 13/5/1968, cuộc đàm phán giữa HK và VNDCCH đã mở ra ở Paris. Hoàn thành nhiệm vụ, TT Johnson tuyên bố không tái ứng cử nhiệm kỳ 2. Cuối tháng Mười 1968, ông ra lịnh ngưng hoàn toàn việc dội bom miền Bắc và mời VNCH và MTGPMN cử phái đoàn đến Paris tham dự hội nghị hòa bình.
TT Nguyễn Văn Thiệu khước từ nói chuyện với MTGPNM, ông cho đó là con đẻ của Cộng sản Bắc Việt, Sài Gòn chỉ nói chuyện trực tiếp với Hà Nội. Vì VNCH khước từ tham dự hội nghị Paris, khiến kế hoạch hòa bình của TT Johnson thất bại, ứng cử viên Đảng Dân chủ là Phó TT Humphrey thất cử trong cuộc bầu cử tổng thống hồi tháng 11/1968. Tháng Giêng năm 1969,TT Nixon nhậm chức, ông tuyên bố sẽ chấm dứt chiến tranh VN trong nhiệm kỳ của ông. TT Thiệu chấp nhận gởi phái đoàn VNCH tham dự đàm phán. Ngày 25/1/1969, Hội nghị bốn bên ỏ Paris chính thức khai mạc giữa Mỹ – VNDCCH và hai bên Miền Nam Việt Nam: VNCH – MTGPMN.
Từ giữa tháng 5/1969, tại bàn đàm phán phái đoàn Mỹ và phái đoàn MTGPMN do Trần Bửu Kiếm đứng đầu, đã đạt được sự thỏa thuận làm nền tảng giải quyết chiến tranh: công việc nội bộ miền Nam sẽ do nhân dân miền Nam giải quyết, không có sự can thiệp của bên ngoài. HK và CSBV sẽ chấm dứt sự can dự ở MNVN. Hai tháng sau tại đảo Guam, TT Nixon tuyên bố Mỹ bắt đầu rút quân khỏi miền Nam VN, tuần tự theo một lịch trình sắp sẳn.
Đến giữa năm 1971, quân số HK ở VN đã giảm đi hơn phân nửa, chỉ còn khoảng 200 ngàn quân, trong khi cuộc chiến vẫn tiếp diễn ác liệt. Còn đàm phán hòa bình ở Paris vẫn dậm chân tại chỗ. Không có chỉ dấu nào cho thấy chiến tranh VN sẽ chấm dứt, trong khi ở Mỹ chuẩn bị bầu cử tổng thống và quốc hội vào đầu tháng 11/1972. Trong thời gian 16 tháng tới, TT Nixon làm cách nào để có thể chấm dứt chiến tranh VN như đã hứa khi nhậm chức.
Buổi tối 15/7/1971, TT Nixon xuất hiện trên đài truyền hình chỉ trong 6 phút loan báo một tin mà báo chí lúc bấy giờ cho là “một loan báo làm chấn động thế giới”. Ông nói “Như tôi đã nhiều lần chỉ ra trong 3 năm qua, không thể có hòa bình ổn định và lâu dài mà không có sự tham gia của Trung Quốc cùng 750 triệu dân nước này. Đó là lý do tôi đã tiến hành một số sáng kiến để mở cửa cho những quan hệ bình thường hơn nữa giữa hai nước. Tôi đã phái TS Kissinger, phụ tá an ninh quốc gia của tôi, sang Bắc Kinh nhân chuyến công du thế giới của ông, nhằm hội đàm với thủ tướng Chu Ân Lai và thủ tướng TQ đã ngỏ lời mời tôi sang thăm TQ vào một thời điểm thích hợp trước tháng 5/1972”.
Đó là thành quả của hành động đi đêm giữa HK và TQ diễn ra trước đó. Đầu tháng 4/1971, Đội tuyển bóng bàn TQ tham gia thi đấu giải Vô địch Bóng bàn thế giới lần thứ 31 tại Nhật. Trong một cuộc gặp gỡ tình cờ với một thành viên trong đoàn tuyển thủ TQ, một tuyển thủ bóng bàn Mỹ bày tỏ mong muốn đến Bắc Kinh thi đấu. Tín hiệu này được chuyển ngay về Bắc Kinh và được sự tán đồng tức khắc của TT Chu Ân Lai. Ngày 10/4/1971, 9 tuyển thủ bóng bàn Mỹ cùng 4 viên chức và hai người vợ và 10 nhà báo tháp tùng đã từ Hồng Kông tiến vào đại lục TQ, mở ra thời đại “ngoại giao Bóng bàn”. Ngày 27/4/1971 Đại sứ Pakistan tại Mỹ trao cho TS Kissinger một thông điệp của TT Chu Ân Lai: “Chính phủ TQ xác nhận lại sự sẳn sàng đón tiếp công khai ở Bắc Kinh một phái viên đặc biệt của tổng thống Mỹ, hoặc ngoại trưởng hoặc thậm chí bản thân tổng thống Mỹ”.
Cuối tháng 6/1971, Tùy viên Báo chí Tòa Bạch ốc cho biết từ ngày 2/7/1971 Ts Kissinger sẽ viếng thăm Nam VN, Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan và đến Paris gặp đại sứ Mỹ ở Pháp. Đúng theo lịch trình, ngày 8/7/1971 Kissinger đến Pakistan. Tại đây ông cáo bịnh và đến dinh thự nghỉ mát của tổng thống Pakistan Yahya Khan để nghỉ ngơi. Thực ra, ông lên phi cơ Pakistan đi TQ. Ngày 11/7/ 1971, Kissinger gặp TT Chu Ân Lai lần đầu tiên. Hai bên đã đàm đạo suốt 7 giờ liền để biết được các mục đích yêu cầu của nhau. Từ đó, thông qua trạm liên lạc bí mật ở Pakistan, hai bên đã sắp xếp cho chuyến công du của TT Nixon đến Bắc Kinh ngày 21/2/1972. Đó là thời gian thích hợp như gợi ý của TT Chu Ân Lai. Có lẽ vì tháng 5/1972 Nixon có cuộc họp thượng đỉnh với Brezhnev tại Moscow.
Ngày 31/12/1971, một tháng rưỡi trước khi đi TQ, TT Nixon đã gởi đến TT Thiệu lá thư đầu tiên để trấn an “Ngài có thể tuyệt đối yên tâm rằng tôi sẽ không làm một thỏa hiệp nào tại Bắc Kinh có hại cho các quốc gia khác hoặc về những vấn đề liên quan đến các quốc gia khác. Giả sử vấn đề chiến tranh VN có được nêu lên ở BK, tôi xin cam đoan với Ngài rằng tôi sẽ đưa ra lập trường của HK và VNCH một cách minh bạch và mạnh mẽ là cuộc chiến tại VN phải được kết thúc bằng những cuộc thương lượng trực tiếp với Hà Nội…Riêng về chuyến viếng thăm của tôi tại Moscow vào tháng 5/1972, tôi muốn nói rõ là HK không hề có một ý định dàn xếp qua mặt những nước bạn và đồng minh của mình trong bất cứ vấn đề nào liên quan đến an ninh của họ”.
Sau chuyến công du TQ, ngày 5/3/1972 TT Nixon báo cho TT Thiệu biết “Chúng tôi đã không thương lượng điều gì đằng sau lưng những người bạn của HK, đã  không có sự đổi chác bí mật nào..Xin Ngài tin tưởng rằng Ngài sẽ tiếp tục nhận được sự cảm thông, ủng hộ và trợ giúp vật chất của HK trong lúc nhân dân miền Nam đang ra sức chống xâm lăng để được an ninh và xây dựng một nền hòa bình công chính và trường cửu”.
Ngày 25/1/1972, trước khi lên đường đi TQ, TT Nixon đưa ra đề nghị hòa bình toàn diện về quân sự lẫn chính trị gồm 8 điểm: -ngưng bắn toàn cỏi Đông Dương, -trao trả tù binh, -các lực lượng bên ngoài rút khỏi miền Nam VN, -tôn trọng HĐ Genève 1954 và HĐ Genève về Lào 1962, -tổ chức tổng tuyển cử trong vòng 6 tháng sau ngày ngưng bắn, -các phe phái tại Đông Dương tự hòa giải các vấn đề hiện có với nhau, -quốc tế giám sát việc ngưng bắn và -HK sẽ góp phần tái thiết ĐD với ngân khoản 7,5 tỉ đôla trong 5 năm, trong đó BV được 2,5 tỉ.
Ngày 21/2/1972 TT Nixon đến thăm BK trong một tuần lễ, được ông tả là tuần lễ “đã thay đổi cả thế giới”. Hai giờ sau khi Nixon đến BK, trái với chương sắp sẳn, Mao Trạch Đông muốn hội kiến ngay với vị lãnh đạo HK. Trong cuộc tiếp xúc đầu tiên với Mao, Nixon giải thích con đường mà ông đang thực hiện là để kiến tạo một nền hòa bình lâu dài và bền vững cho thế giới. Khi đề cập đến vấn đề: Nước nào trong hai siêu cường hạt nhân là nguy hiểm hơn. Mao trả lời “Hiện nay vấn đề xâm lược do Mỹ hay xâm lược do Trung Quốc là tương đối nhỏ vì các ông muốn rút một phần quân đội của các ông về đất mình, còn quân đội của chúng tôi thì không kéo ra nước ngoài“. Cho thấy Liên Sô là mối quan tâm của BK đối với nền an ninh thế giới. Nixon còn hỏi Mao: “Đối với TQ, sự xâm lăng từ Mỹ hay sự xâm lăng từ LS, nguy cơ nào là nghiêm trọng nhất?” Mao trả lời “Nguy cơ từ Liên Sô”. Thông cáo chung Thượng Hải kết thúc chuyến công du TQ của TT Nixon nêu rõ: “Cả hai đều không mưu cầu bá quyền và đều phản đối bất cứ nước nào hay tập đoàn nào cố gắng thiết lập bá quyền đó ở khu vực Á Châu”.
Chuyến công du BK của TT Nixon khiến giới lãnh đạo Hà Nội tin rằng Mỹ đã nhượng bộ TQ, trong khi khuynh hướng chủ hòa đang bao trùm dư luận Mỹ và lời hứa chấm dứt chiến tranh của TT Nixon nay đã đến…Vì thế đầu tháng 4/1972 Hà Nội phát động cuộc tổng tấn công mùa Hè 1972 để giành thắng lợi cuối cùng. Ngày 5/4/1972 Nixon lại gởi thư để trấn an TT Thiệu “Vào giờ phút đầy thử thách lớn lao này cho nhân dân VN, tôi xin Ngài biết cho là Ngài được sự ủng hộ trọn vẹn nhất của tôi với tư cách tổng thống HK và Tổng tư lịnh quân lực HK. Tôi xin cam đoan với Ngài rằng trong những tuần sắp tới chúng tôi sẽ không ngần ngại thi hành thêm bất cứ biện pháp quân sự nào cần thiết để yểm trợ cuộc tranh đấu mãnh liệt và dũng cảm hiện thời của quý quốc. Chúng ta không thể để cho cuộc xâm lăng được mở rộng và trắng trợn của Hà Nội tiếp diễn mà không bị trừng phạt”.
Ngày 26/4/1972, nói chuyện với dân chúng HK qua hệ thống truyền hình, TT Nixon lên án Hà Nội đưa 3 sư đoàn vượt qua khu quân sự ở vĩ tuyến 17 để tấn công VNCH. Hành động này đã vi phạm HĐ Genève mà BV đã ký hồi năm 1954 và vi phạm thỏa hiệp đã đạt được với TT Johnson năm 1968 khi HK ngưng ném bom MB để đổi lại việc Hà Nội hứa sẽ tôn trọng vùng phi quân sự. Nixon xác nhận là HK không bao giờ chủ trương xâm chiếm miền Bắc VN hoặc bất cứ một nước nào khác trên thế giới. HK đề ra giải pháp hòa bình danh dự cho cả đôi bên, trong đó hai miền Nam Bắc VN đều phải tôn trọng nền độc lập của nhau. Vì thế ông quyết định nối lại cuộc đàm phán ở Paris.
Cuộc đàm phán trở lại, nhưng thái độ của BV như lời mô tả của Kissinger là vô cùng hỗn xược và không thể chịu nổi khiến ông phải ngưng buổi họp ra về. BV vẫn tỏ ra cứng rắn trong những đòi hỏi ở bàn đàm phán, đồng thời tiến hành kế hoạch quân sự, bao vây An Lộc-cửa ngỏ phía bắc Sàigòn. Nixon ra lịnh thả mìn xuống các hải lộ đi vào các cảng ở BV nhằm ngăn chận việc tiếp liệu bằng đường biển của các nước CS giúp Hà Nội. Hành động này có thể làm tan vỡ cuộc họp thượng đỉnh với Breznhev vào cuối tháng 5/1972 để ký kết thỏa ước về “hạn chế vũ khí tấn công chiến lược” (SALT). TT Nixon tuyên bố: “Tôi thà làm tổng thống một nhiệm kỳ, còn hơn là tổng thống đầu tiên của HK bị bại trận”.
Khi ra lịnh phong tỏa, rải mìn các cảng ở BV ngày 8/5/1972, TT Nixon nhờ Đ/s Bunker chuyển đến TT Thiệu lá thư thông báo quyết định này. Ông viết: “Xứ sở Ngài cũng như xứ sở tôi không bao giờ bắt Hà Nội phải chịu một sự thất bại quân sự. Chúng tôi luôn luôn cố gắng chấm dứt cuộc xung đột qua ngỏ thương thuyết bằng cách nào để cho nhân dân MNVN còn được cơ hội quyết định tương lai mình mà không bị bên ngoài cưỡng ép hay can thiệp”. Nixon viết tiếp: “Một cuộc hòa giải bằng thương thuyết vẫn là đường lối chúng tôi ưa chuộng. Nhưng Hà Nội đã đưa ra cho chúng tôi những điều kiện tiên quyết tuyệt đối không thể chấp nhận được và sự thử thách quân sự của họ đối với Ngài và đồng minh của Ngài không cho phép một sự lựa chọn nào khác hơn là đáp ứng theo đường lối mà chúng ta sẽ làm”. Nixon cho biết thêm “Các hành động trên sẽ tiếp diễn cho đến khi nào có một cuộc ngưng bắn có quốc tế kiểm soát trên toàn cỏi Đông Dương và tù binh Mỹ được phóng thích. Khi các điều kiện trên đã được đáp ứng, HK sẽ ngưng mọi hành động vũ lực ở Đông Dương, và lực lượng Mỹ sẽ rút khỏi VN trong vòng 4 tháng”.  
Có thể nói đây là lời báo động của TT Nixon để TT Thiệu chuẩn bị ứng phó thích nghi với tình thế sắp tới. Chiến tranh VN sắp sửa chấm dứt, HK sẽ rút khỏi MN và chấm dứt mọi hành động quân sự ở Đông Dương. Chiến tranh đã chấm dứt, Quốc hội Mỹ sẽ không còn viện trợ quân sự ồ ạt cho VNCH nữa. Sự thật này đã đến. Ngày 18/10/1972, Ts Kissinger đến Sàigòn với lá thư của TT Nixon gởi TT Thiệu cùng bản dự thảo HĐ Paris để hai bên Việt Mỹ thảo luận. Sau 5 ngày tranh cãi gay gắt về bản dự thảo hiệp định Paris, VNCH đòi sửa đổi 23 điểm.
Ngày 23/10/1972 Kissinger rời Sàigòn và gởi điện báo cho Lê Đức Thọ biết là ông không thể đến Hà Nội phê chuẩn hiệp định như đã dự liệu vì Sàigòn đòi phải sửa đổi một số điểm trong bản dự thảo. Ông xin đình chỉ việc phê chuẩn để thảo luận tiếp sau ngày bầu cử tại Mỹ (7/11/1972). Nhưng đã trể, vì Hà Nội đã thông báo cho QK 5 CS và TƯC/MN hiệp định hòa bình sẽ được ký kết ngày 26/10. Trước đó, xế chiều ngày 25/10/1972, lực lượng Cảnh sát Quốc gia Quân khu 1 tịch thu được một mật điện của Bộ Tư lịnh Quân khu 5 cộng sản gởi Thị đội Tam Kỳ cho biết hiệp định ngưng bắn sẽ được ký kết ngày 26/10. Kèm theo mật điện là bản phương án lấn đất giành dân và sách động đồng bào xuống đường mừng hòa bình. Lợi dụng khí thế quần chúng, cán bộ CS hô hào đốt phá các cơ sở quân sự tiến tới cướp chính quyền.
Được báo cáo của tướng Ngô Quang Trưởng, tư lịnh Quân đoàn I, TT Thiệu chỉ thị Bộ TTM chuyển cấp tốc tài liệu đó về Sàigòn. Tuần lễ trước, khi đến Sàigòn tham khảo chính phủ VNCH về bản dự thảo hiệp định, Kissinger không đề cập gì đến việc ký kết. Nay TƯ Cục MN và Quân khu 5 -Miền Trung Trung Bộ, cán bộ CS đã biết rõ ngày ký và giờ ngưng bắn có hiệu lực để lợi dụng thời cơ đó chiếm ưu thế. Tại Củ Chi (Hậu Nghĩa), Hồng Ngự (Kiến Phong) và nhiều nơi khác, các đơn vị vũ trang CS tưởng có ngưng bắn thực sự nên nhào ra cắm cờ lấn đất giành dân, đã bị tổn thất nặng nề.
Để biện minh, chiều ngày 26/10 đài phát thanh Hà Nội công bố toàn văn bản dự thảo hiệp định bằng tiếng Việt, tiếng Pháp và tiếng Anh, với hai bức điện xác nhận sự thỏa thuận của TT Nixon. BV tố cáo HK lật lọng tráo trở vì Kissinger đã hứa đi Hà Nội phê chuẩn rồi lại sai hẹn. Hai giờ sau khi Hà Nội công bố bản văn Hiệp định, Kissinger mở cuộc họp báo ở Tòa Bạch Ốc. Ông thừa nhận hòa bình hiện đang ở tầm tay…hiệp định đang ở trong tầm mắt thấy…Kissinger cho biết chỉ còn một vài chi tiết nhỏ cần thảo luận thêm trước khi thỏa hiệp được ký kết.
HĐ Paris là kết quả của cuộc mật đàm giữa Kissinger và Lê Đức Thọ. Hai bên cam kết giữ kín cho đến khi công bố vì trong đó có đề cập đến ngày giờ ngưng bắn có hiệu lực thì lực lượng vũ trang hai bên miền Nam phải ở nguyên tại chỗ. Vì thế khi đến Sàigòn, Kissinger chỉ tham khảo với VNCH về nội dung bản dự thảo mà thôi. Nhưng Hà Nội luôn cho rằng TT Thiệu là tay sai của Mỹ, Mỹ quyết định gì thì Thiệu cũng thi hành. Vì thế Hà Nội tin chắc ngày 25/10/1972, hiệp định được phê chuẩn, và được thi hành ngày hôm sau. Qua đó, Kissinger đã mượn tay Hà Nội công bố cho nhân dân Mỹ biết hiệp định hòa bình ở VN đã hoàn thành. TT Nixon đã giữ đúng lời hứa, nhờ đó giúp ông chiến thắng “long trời lở đất” trong ngày bầu cử 7/11/1972. Quý bạn đọc muốn tìm hiểu thêm về bí ẩn lịch sử này, về HĐ Paris 1973 và thảm cảnh trong 50 ngày cuối cùng của VNCH xin vào google, gỏ mấy chữ lê quế lâm: lịch sử và nhân chứng.
Trong thời gian ở Sàigòn thảo luận bản dự thảo hiệp định, TT Thiệu đã buộc tội Kissinger đã thông đồng với Nga xô và Trung Cộng để bán đứng miền Nam VN. Kissinger biện minh: “Khi chúng tôi thảo luận với Sô Viết và TQ, là để làm áp lực với họ, để họ làm áp lực với Hà Nội. Giá như chúng tôi muốn bán đứng quý vị, thì đã có nhiều cách dễ dàng hơn để hoàn thành việc đó rồi”. Ý nghĩ Kissinger bán đứng MNVN càng mạnh mẽ hơn khi TT Thiệu nhận được tin tức về tài liệu vừa mới được tịch thu, khiến ông chống đối hiệp định càng quyết liệt.
Ba mươi năm sau, tài liệu về cuộc hội đàm Kissinger & Chu Ân Lai tại Bắc Kinh ngày 20/6/1972 được giải mật. Kissinger đã nói nguyên văn như sau: “Phải tách rời vấn đề quân sự với vấn đề chính trị. Bàn đến chính trị có nghĩa là duy trì chính quyền Sàigòn -một điều Hànội không chịu, hay lật đổ chính quyền Sàigòn -điều chúng tôi không chịu, và thực tế không có một giải pháp chính trị ở giữa. Vậy chúng tôi phải tìm con đường khác để chấm dứt chiến tranh. Chúng ta có thể biến cuộc tranh chấp quốc tế thành một cuộc tranh chấp địa phương –và ông thủ tướng nghĩ là có thể- thì đó là chính sách của chúng tôi. Trước hết để nó không biến thành một vấn đề quốc tế, và để cho người Đông Dương tự quyết định số phận của mình. Tôi cam đoan rằng quyền tự quyết là mục tiêu của HK ở Đông Dương và tôi tin TQ cũng muốn thế. Chúng tôi không muốn tranh giành gì tại đó. Và mặc dù chúng tôi không thể đưa một chính quyền CS lên nắm quyền lực, nhưng nếu nó xảy ra sau một thời gian nào đó, như là kết quả của một diễn biến lịch sử, và nếu như chúng tôi có thể chấp nhận một chính quyền CS ở Trung Hoa thì chúng tôi phải chấp nhận nó ở Đông Dương” (Hết trích)
Nhiều người chỉ trích dẫn câu cuối của Kissinger để kết luận Kissinger đã bán đứng MN cho CS…Nhưng nếu phân tích kỹ toàn bộ đoạn văn trên, thì sự suy đoán lại khác. Một là, mục tiêu của HK ở ĐD là tôn trọng quyền tự quyết của người dân ĐD. Một khi người dân đã chọn CS nắm chính quyền thì HK phải công nhận kết quả đó. Hai là, nếu các nước ĐD không tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân, tức không tôn trọng hiệp định hòa bình.Tình trạng đó kéo dài, còn HK thì đối với họ chiến tranh ĐD đã chấm dứt, nên không còn can thiệp nữa. Và đến một thời gian nào đó, các nước ĐD bị Hà Nội thôn tính, thì đó là hậu quả của một diễn biến lịch sử mà HK phải công nhận. Và điều này thực sự xảy ra ở Miền Nam VN vào ngày 30/4/1975.
Năm 1975 CSVN thống nhất đất nước, người viết nhớ lại năm 1802, vua Gia Long thống nhất sơn hà. Bầy tôi của Gia Long là Đặng Trần Thường đã ra câu đối “Ai công hầu, ai khanh tướng. Trong trần ai, ai dễ biết ai!” để mĩa mai người bạn thuở hàn vi nay đã sa cơ Ngô Thời Nhậm. Kẻ tôi thần khí phách của vua Quang Trung đáp lại “Thế chiến quốc, thế xuân thu. Gặp thời thế, thế thời phải thế!” Ngày nay, miền Bắc có thể dùng câu đối trên nhưng đổi lại vài chữ cho phù hợp, để lên mặt với người anh em miền Nam: “Ai Cộng sản, ai Ngụy-hòa. Trong trần ai, ai đã thắng ai!” (CS gọi miền Nam là ngụy. Lãnh đạo MN cuối cùng là Dương Văn Minh chủ trương hòa bình, hòa giải, hòahợp dân tộc). Bên bại trận năm 1975, ngậm ngùi mượn lời của Ngô Thời Nhậm, cũng sửa đổi vài chữ để đáp lại: “Thế Mỹ quốc, thế Liên sô. Gặp thời thế, thế thời phải thế”. Nhưng xin người anh em miền Bắc nhớ rằng, lịch sử còn kéo dài, đây chỉ là màn đầu. Thế Mỹ Quốc, thế Liên Sô kết thúc như thế nào, mọi người đều đã rõ. LS đã bị loại. TQ thế LS ngồi vào bàn cờ, đấu tiếp với Mỹ. Hãy chờ xem màn cuối của ván cờ “thế TQ, thế HK” kết thúc ra sao?  
Năm 1987, tình thế chưa sáng tỏ, TS Nguyễn Tiến Hưng viết quyển Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập lên án Mỹ phản bội, bán đứng MN tự do cho CS…Nhưng không thấy ông Hưng đề cập sau khi “mua” được MN thì thế giới CS ra sao? Năm 2005, TS Hưng lại xuất bản quyểnKhi Đồng Minh Tháo Chạy vẫn tiếp tục lên án Mỹ. Ông sống ở Mỹ từ năm 1958 về nước làm cố vấn TT Thiệu mà không trình bày cho TT Thiệu biết rằng quân đồng minh của VNCH đã tháo chạy từ tháng 7/1969 sau khi đưa CSBV ngồi vào bàn đàm phán Paris. Từ đó đến năm 1975, là một thời gian dài mà TT Thiệu không có kế sách nào để đối phó thích hợp khi đồng minh còn đang từ từ tháo chạy. Nên cuối cùng Đồng minh của Mỹ tháo chạy một cách đau thương trong 55 ngày cuối cùng của chế độ. Chạy sang Mỹ để tiếp tục công kích Mỹ!!      
                                                                                                                                
Lê Quế Lâm
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

NỀN ĐẠO NGÀY NGAY

NỀN ĐẠO NGÀY NGAY

Inbox x

Chanh Kien Huynh <huynhchanhkien@gmail.com>

Mar 2
to dd_pghh_trungu., bcc: me

Thời đại chúng tôi, những tín đồ được sinh trưởng trong những thập niên 1950-1960, dường như chỉ biết nắm lấy Tôn Chỉ đạo và các lời dạy của Thầy làm Kim Chỉ Nam và ít khi dám đi tìm những gì không thuộc về đạo, vì sợ bị lạc lối hay vì do các sách Phật học thời ấy còn quá ít ỏi.  Không như ngày nay, các thập niên 1990-2000, làn tràn các loại sách về Phật học, có mặt ở khắp nơi từ các nhà sách lớn nhỏ, các cơ sở mua bán vật dụng tu học, các nơi chùa chiền, các cơ sở tôn giáo….., bao gồm rất nhiều những sách dịch thuật từ tiếng Tàu, tiếng Đài Loan, tiếng Tây Tạng hay do các vị Tăng Ni tự viết, cùng biết bao băng đĩa Phật học được thu âm, thu hình truyền bá rộng rãi trong đại chúng….. làm cho tôi có khoản thời gian cảm nhận là mình bị lạc vào giữa rừng hoang của Phật học.

Kể từ năm 1996, do duyên mai, tôi bước vào môi trường nghiên cứu về Phật học.  Khởi đầu bằng những hiểu biết sẵn có về nền đạo PGHH, tôi nghiên cứu tìm hiểu một cách chi tiết, sâu rộng hơn.  Nhờ vậy mà bản thân đã nhận rõ về giá trị của giáo lý đạo PGHH, là một kho tàng quí báu dành cho những ai quyết lòng khám phá, tìm hiểu để tìm đến chân Trời mới, như các nhà khoa học Anh Quốc hay các tiến sĩ Tây phương đã làm trong chuyến “Hành Trình về Phương Đông” (Tây Tạng).  Kể từ đó bản thân có định hướng rõ rệt, chỉ ôm lấy giáo lý đạo để hành trì và phụng sự.

Kể từ đó tôi cũng bắt đầu lăn xả vào các môi trường của đạo, từ Thánh Địa (làng Hòa Hảo) đến các vùng hẻo lánh hay bất kỳ nơi đâu có tín đồ của đạo, có các cơ sở Thuốc Nam từ thiện, các trại Hàng miễn phí….. để hòa mình vào công việc đạo sự, cùng việc tìm hiểu về sinh hoạt của tín đồ ở khắp nơi.  Điều tôi rút tỉa được là đa số tín đồ đều rất chất phát, cần mẫn, tuy ít học, ít hiểu biết, nhưng nói đến giáo lý đạo thì dường như ai cũng nằm long.  Và việc giúp đời, phụng sự đạo luôn làm hết lòng, không toan tính do dự.

Việc hành trì, phụng sự đạo của bản thân, đến ngày nay vẫn không gì thay đổi.  Điều thay đổi là môi trường đạo, đã không còn được như trước đây, qua sự tìm hiểu, nghiên cứu của nhóm chúng tôi trong thời gian qua.  Tất cả đã được công nghệ hóa, từ cơ sở sản xuất thuốc viên, các cơ sở điều trị miễn phí, các cơ sở đóng Hàng từ thiện, các tổ cất nhà tình thương….., cùng việc phát tâm hỗ trợ cho các chương trình ấy trở nên thoáng rộng hơn, không còn eo hẹp như trước đây.

Về việc hành trì của tín đồ cũng trở nên quy tụ đông đảo hơn, nhờ vào trào lưu của việc nói đạo, trao đổi giáo lý vào những ngày cúng cơm, lễ giỗ.  Thời gian ấy có thể nói là thời kỳ tương đối thịnh dượng của nền đạo sau thời gian dài pháp nạn, nhưng rồi cũng tồn tại không lâu.  Từ sự phát tâm ủng hộ thoáng rộng cho các chương trình từ thiện, các buổi nói đạo, đã làm thay đổi môi trường sinh hoạt, đưa đến sự hình thành của các “đạo tràng, tịnh thất” (điều này chưa từng xãy ra trong lịch sử đạo).  Và sự cạnh tranh, dèm pha, đã kích bắt đầu xãy ra giữa các “đạo tràng, tịnh thất”, giữa những người nói đạo.

Về cá nhân tín đồ thì đa số đều trở thành “thi sĩ”, ai ai cũng xuất khẩu thành thơ, toàn thơ văn tự tác, và ít khi còn nghe nhắc đến các điều trong giáo lý.  Số lượng “diễn giả” ngày nay lại tăng nhiều so với thế hệ trước, vì khi nói đến đạo thì ai cũng nói không ngừng, điều gì cũng biết, việc gì cũng hiểu.  Chỉ cần một thời gian nữa là thế hệ “hành giả” sẽ bị tuyệt chủng, không còn tồn tại. Điều này cho thấy tín đồ ngày nay miệng lưỡi khôn lanh, thông minh vượt bực, nói đạo thao thao, không cần định hướng.

Về mặt giáo lý, vấn đề cốt lõi của nền đạo, là điều bị tác động âm thầm nhưng đã gây tác hại to lớn cho nền đạo.  Lồng vào các buổi trao đổi, các băng đĩa thuyết giảng là những điều của tiểu thừa, đại thừa, tông nầy phái nọ, phân tích Hán tự, diễn giải điển tích trở về với các thời kỳ kim hoàng, thánh đế….., rồi đưa người nghe đi vào thế giới của các phim truyện dài của Tàu, của Hán, không còn biết chi đến các giáo điều căn bản về: Tam nghiệp, Thập Ác, Tứ Ân, Bát Chánh Đạo…..  Ngày nay việc tu học chỉ còn tập trung vào 3 việc: niệm Phật; đóng góp làm từ thiện (để tạo sự tín tâm); nói những điều không tốt về người khác (gây mất uy tín cho kẻ khác, gây chia rẻ).

Tập thể ngày này, nói về số lượng thì rất đông.  Nào là nhóm người quốc doanh, quốc nội, nhóm ly khai, nhóm tu sĩ…., ai cũng có các biệt tài lãnh đạo, không ai chịu lắng nghe ý kiến của ai. Trên bờ môi ai cũng bảo đối sử nhau “như con một cha”, nhưng hành động thì trái ngược với những gì đã nói.  Trước đây chỉ có “thuần túy, không thuần túy.”  Nay lại có thêm “trong luồng, ngoài luồng.”  Tổng cộng các nhóm có thể đếm được lên đến 8, chưa tính mỗi đạo tràng, mỗi tịnh thất là mỗi đơn vị độc lập, tự trị và không thuộc vào các nhóm đã liệt kê.  Đây là sự chia rẻ trầm trọng của tập thể, kể từ những năm của thập niên 2000 đến nay và là việc chưa từng xãy ra kể từ khi nền đạo được khai sáng.  “Chốn tù vốn thiệt cõi tabà”, điều Tổ Thầy chỉ bảo, là điều mà tín đồ cần tránh né, để lo tu tập.  Nhưng ngược lại thì ai cũng muốn trở thành “tù trưởng”, mở ra những trại tù riêng để xưng tánh, xưng ngôi, để mưu danh, thủ lợi.

Nhìn tổng quát, cứ ngỡ là nền đạo đang trên đà phát triển, nào ngờ sự suy thoái dần dần hủy hoại đi những công trình của tiền nhân để lại.  Các giáo lý cùng tôn chỉ đạo không còn là điều mà người tín đồ thời nay luôn đặt ở vị trí hàng đầu, nhằm bảo vệ danh giá cho nền đạo.  Phải chăng nền đạo một lần nữa đi lần vào pháp nạn?  Mới chỉ 2 thập niên nhưng sự thay đổi không lường.  Hai thập niên kế tiếp sẽ như thế nào và nền đạo sẽ về đâu?  Sự phồn thịnh, suy vong là điều không thể tránh khỏi theo quy luật của thành, trụ, hoại, diệt.  Tuy nhiên, nếu không làm được điều chi cho đạo, thì cũng đừng tiếp tay hũy hoại thanh danh đạo, hãy làm những gì có thể để tiếp tay gầy dựng lại tiền đồ đạo pháp.  Đó là trách nhiệm, là bổn phận của người tín đồ và là việc làm thực tế để tiếp tay cùng Tổ Thầy “Gom nhành lá rụng vun trồng giống xưa.”

 

HCK

Categories: Sinh Hoạt Tôn Giáo | Leave a comment