Chiến Tranh VN: Hoa Kỳ đi đêm với Trung Quốc

Chiến Tranh VN: Hoa Kỳ đi đêm với Trung Quốc

                                                                                                 
Lê Quế Lâm
Chiến tranh Việt Nam
Ngày 27 tháng Giêng vừa qua, kỷ niệm 42 năm ngày Hiệp định Paris ra đời. Nói đến chiến tranh VN, phải nói đến việc kết thúc chiến tranh, nó được diễn tiến ra sao và kết cuộc là “Hiệp định về Chấm dứt Chiến tranh, Lập lại Hòa bình ở Việt Nam” (Agreement on Ending the War and Restoring Peace in Vietnam) được ký kết tại Paris ngày 27/Giêng/1973, gọi tắt là HĐ Paris 1973.
Trước 1975 và đến nay, đại đa số đồng bào không biết gì nhiều về hiệp định nầy, vì chính quyền hai miền Nam Bắc đều không muốn thi hành, nên giấu giếm không công bố cho quốc dân biết, đôi khi còn xuyên tạc sự thật. Sàigòn cho rằng Kissinger đi đêm với Chu Ân Lai và HĐ Paris 1973 là văn kiện bán đứng MN cho CS. Còn Hà Nội lên án TQ cấu kết với HK phản bội nhân dân VN…Trong khi lời mở đầu của hiệp định nói rõ”Nhằm mục đích chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở VN trên cơ sở tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân VN và quyền tự quyết của nhân dân MNVN, góp phần củng cố hòa bình ở Châu Á và thế giới”.
Chính vì HĐ Paris 1973 không được những người lãnh đạo VN thi hành mà ngày nay sự toàn vẹn lãnh thổ đã bị sứt mẽ. Nhân dân MN nói riêng và nhân dân VN nói chung cũng chưa được hưởng quyền tự quyết, tự quyết định tương lai chính trị của đất nước thông qua tuyển cử thực sự tự do và dân chủ. Các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị… đến nay nhân dân vẫn chưa được hưởng. Hòa bình ở châu Á thì luôn ở trong tình trạng mất ổn định. Sau 1975 là chiến tranh ở biên giới Tây Nam và phía Bắc kéo dài đến năm 1989. Tiếp theo là sự mất ổn định ở Biển Đông kéo dài đến nay.
image001-305.jpg

Hiệp Định Paris 1973 được thỏa hiệp tại Bắc Kinh, chứ không phải tại Paris. Từ trái: Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Henry Kissinger, Thủ Tướng Chu Ân Lai, và Chủ Tịch Mao Trạch Đông, Bắc Kinh, 1972
Nhân kỷ niệm ngày ký HĐ Paris 1973, người viết xin ghi lại nội dung hiệp định này. HĐ Paris 1973 gồm có 9 chương với 23 điều khoản. Ngoài chương II Chấm dứt chiến sứ, rút quân. Chương III Việc trao trả tù binh. Chương VI Các ban Liên hợp quân sự. Chương VII Đối với Campuchia và Lào. Chương IX Điều khoản chung. HĐ Paris 1973 chỉ có 4 Chương sau đây là quan trọng.
alt

Chương I, chỉ có điều 1: “HK và các nước  khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước VN như HĐ Genève năm 1954 về VN đã công nhận”.
Chương IV: Việc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân MNVN. Có 2 điều khoản quan trọng. Điều 9: “Quyền tự quyết của nhân dân MNVN là thiêng liêng bất khả xâm phạm và phải được tất cả các nước tôn trọng. Nhân dân MNVN tự quyết định tương lai chính trị của MNVN thông qua tuyển cử thực sự tự do và dân chủ có giám sát quốc tế”. Và Điều 11: “Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh”
Chương V: Vấn đề thống nhất nước VN và vấn đề quan hệ giữa miền Bắc và miền Nam VN, chỉ có Điều 15: “Việc thống nhất nước VN sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình trên cơ sở bàn bạc và thỏa thuận giữa miền Bắc và Nam VN, không bên nào cưỡng ép hoặc thôn tính bên nào. Thời gian thống nhất sẽ do miền Bắc và miền Nam VN thỏa thuận”.
Chương VIII Quan hệ VNDCCH và HK. Điều 21: “HK mong rằng hiệp định nầy sẽ mang lại một thời kỳ hòa giải với VNDCCH cũng như với tất cả dân tộc ở Đông Dương. Theo chính sách truyền thống của mình, HK sẽ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh ở VNDCCH và toàn Đông Dương”. Và Điều 22 “Việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở VN và việc thực hiện triệt để Hiệp định nầy sẽ tạo điều kiện thiết lập quan hệ mới, bình đẳng và có lợi giữa VNDCCH và HK, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Đồng thời những việc đó sẽ bảo đảm hòa bình vững chắc ở VN và góp phần giữ gìn hòa bình lâu dài ở Đông Dương và ĐNÁ”.
Tháng sau, một Hội nghị Quốc tế về VN được triệu tập tại Paris từ ngày 28/2 đến 2/3. Thành phần tham dự gồm có: -Bốn bên ký tên trong HĐ Paris 1973 là Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam Cộng Hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam. -Bốn nước thuộc Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát là Ba Lan, Hung Gia Lợi, Nam Dương và Gia Nã Đại. – Tổng Thư Ký LHQ và -Bốn thành viên thường trực Hội đồng Bảo An là Anh, Pháp, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Liên Sô. Sau 3 ngày thảo luận, Bộ trưởng Ngoại giao 12 nước kể trên cùng ông TTK/LHQ đã long trọng ký kết bản Định ước của Hội nghị Quốc tế về Việt Nam.Bản văn gồm 9 điểm, trong có những điều khoản quan trọng sau:
Điều 1: “Các bên ký kết Định ước nầy long trọng ghi nhận, tuyên bố tán thành và ủng hộ hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở VN”.
Điều 2: “Hiệp định đáp ứng các nguyện vọng và các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân VN là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước VN, quyền tự quyết của nhân dân miền Nam VN và đáp ứng nguyện vọng tha thiết về hòa bình của tất cả các nước trên thế giới. Hiệp định phải được tôn trọng và phải được thi hành nghiêm chỉnh”.
-Điều 3: “Các bên ký kết Định ước nầy trịnh trọng ghi nhận những cam kết của các bên ký kết hiệp định là tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh hiệp định”.
Tóm lược diễn tiến chiến tranh VN: Năm 1960 CS Miền Bắc phát động cuộc chiến giải phóng MN, từ đó họ gởi người và vũ khí xâm nhập miền Nam. Đến tháng 3/1965 HK bắt đầu trực tiếp can dự vào chiến tranh, TT Johnson xử dụng hai gọng kềm: dội bom miền Bắc và đưa quân vào miền Nam để áp lực Hà Nội ngồi vào bàn đàm phán, giải quyết cuộc chiến bằng con đường hòa bình. HK đã đạt được mục tiêu: ngày 13/5/1968, cuộc đàm phán giữa HK và VNDCCH đã mở ra ở Paris. Hoàn thành nhiệm vụ, TT Johnson tuyên bố không tái ứng cử nhiệm kỳ 2. Cuối tháng Mười 1968, ông ra lịnh ngưng hoàn toàn việc dội bom miền Bắc và mời VNCH và MTGPMN cử phái đoàn đến Paris tham dự hội nghị hòa bình.
TT Nguyễn Văn Thiệu khước từ nói chuyện với MTGPNM, ông cho đó là con đẻ của Cộng sản Bắc Việt, Sài Gòn chỉ nói chuyện trực tiếp với Hà Nội. Vì VNCH khước từ tham dự hội nghị Paris, khiến kế hoạch hòa bình của TT Johnson thất bại, ứng cử viên Đảng Dân chủ là Phó TT Humphrey thất cử trong cuộc bầu cử tổng thống hồi tháng 11/1968. Tháng Giêng năm 1969,TT Nixon nhậm chức, ông tuyên bố sẽ chấm dứt chiến tranh VN trong nhiệm kỳ của ông. TT Thiệu chấp nhận gởi phái đoàn VNCH tham dự đàm phán. Ngày 25/1/1969, Hội nghị bốn bên ỏ Paris chính thức khai mạc giữa Mỹ – VNDCCH và hai bên Miền Nam Việt Nam: VNCH – MTGPMN.
Từ giữa tháng 5/1969, tại bàn đàm phán phái đoàn Mỹ và phái đoàn MTGPMN do Trần Bửu Kiếm đứng đầu, đã đạt được sự thỏa thuận làm nền tảng giải quyết chiến tranh: công việc nội bộ miền Nam sẽ do nhân dân miền Nam giải quyết, không có sự can thiệp của bên ngoài. HK và CSBV sẽ chấm dứt sự can dự ở MNVN. Hai tháng sau tại đảo Guam, TT Nixon tuyên bố Mỹ bắt đầu rút quân khỏi miền Nam VN, tuần tự theo một lịch trình sắp sẳn.
Đến giữa năm 1971, quân số HK ở VN đã giảm đi hơn phân nửa, chỉ còn khoảng 200 ngàn quân, trong khi cuộc chiến vẫn tiếp diễn ác liệt. Còn đàm phán hòa bình ở Paris vẫn dậm chân tại chỗ. Không có chỉ dấu nào cho thấy chiến tranh VN sẽ chấm dứt, trong khi ở Mỹ chuẩn bị bầu cử tổng thống và quốc hội vào đầu tháng 11/1972. Trong thời gian 16 tháng tới, TT Nixon làm cách nào để có thể chấm dứt chiến tranh VN như đã hứa khi nhậm chức.
Buổi tối 15/7/1971, TT Nixon xuất hiện trên đài truyền hình chỉ trong 6 phút loan báo một tin mà báo chí lúc bấy giờ cho là “một loan báo làm chấn động thế giới”. Ông nói “Như tôi đã nhiều lần chỉ ra trong 3 năm qua, không thể có hòa bình ổn định và lâu dài mà không có sự tham gia của Trung Quốc cùng 750 triệu dân nước này. Đó là lý do tôi đã tiến hành một số sáng kiến để mở cửa cho những quan hệ bình thường hơn nữa giữa hai nước. Tôi đã phái TS Kissinger, phụ tá an ninh quốc gia của tôi, sang Bắc Kinh nhân chuyến công du thế giới của ông, nhằm hội đàm với thủ tướng Chu Ân Lai và thủ tướng TQ đã ngỏ lời mời tôi sang thăm TQ vào một thời điểm thích hợp trước tháng 5/1972”.
Đó là thành quả của hành động đi đêm giữa HK và TQ diễn ra trước đó. Đầu tháng 4/1971, Đội tuyển bóng bàn TQ tham gia thi đấu giải Vô địch Bóng bàn thế giới lần thứ 31 tại Nhật. Trong một cuộc gặp gỡ tình cờ với một thành viên trong đoàn tuyển thủ TQ, một tuyển thủ bóng bàn Mỹ bày tỏ mong muốn đến Bắc Kinh thi đấu. Tín hiệu này được chuyển ngay về Bắc Kinh và được sự tán đồng tức khắc của TT Chu Ân Lai. Ngày 10/4/1971, 9 tuyển thủ bóng bàn Mỹ cùng 4 viên chức và hai người vợ và 10 nhà báo tháp tùng đã từ Hồng Kông tiến vào đại lục TQ, mở ra thời đại “ngoại giao Bóng bàn”. Ngày 27/4/1971 Đại sứ Pakistan tại Mỹ trao cho TS Kissinger một thông điệp của TT Chu Ân Lai: “Chính phủ TQ xác nhận lại sự sẳn sàng đón tiếp công khai ở Bắc Kinh một phái viên đặc biệt của tổng thống Mỹ, hoặc ngoại trưởng hoặc thậm chí bản thân tổng thống Mỹ”.
Cuối tháng 6/1971, Tùy viên Báo chí Tòa Bạch ốc cho biết từ ngày 2/7/1971 Ts Kissinger sẽ viếng thăm Nam VN, Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan và đến Paris gặp đại sứ Mỹ ở Pháp. Đúng theo lịch trình, ngày 8/7/1971 Kissinger đến Pakistan. Tại đây ông cáo bịnh và đến dinh thự nghỉ mát của tổng thống Pakistan Yahya Khan để nghỉ ngơi. Thực ra, ông lên phi cơ Pakistan đi TQ. Ngày 11/7/ 1971, Kissinger gặp TT Chu Ân Lai lần đầu tiên. Hai bên đã đàm đạo suốt 7 giờ liền để biết được các mục đích yêu cầu của nhau. Từ đó, thông qua trạm liên lạc bí mật ở Pakistan, hai bên đã sắp xếp cho chuyến công du của TT Nixon đến Bắc Kinh ngày 21/2/1972. Đó là thời gian thích hợp như gợi ý của TT Chu Ân Lai. Có lẽ vì tháng 5/1972 Nixon có cuộc họp thượng đỉnh với Brezhnev tại Moscow.
Ngày 31/12/1971, một tháng rưỡi trước khi đi TQ, TT Nixon đã gởi đến TT Thiệu lá thư đầu tiên để trấn an “Ngài có thể tuyệt đối yên tâm rằng tôi sẽ không làm một thỏa hiệp nào tại Bắc Kinh có hại cho các quốc gia khác hoặc về những vấn đề liên quan đến các quốc gia khác. Giả sử vấn đề chiến tranh VN có được nêu lên ở BK, tôi xin cam đoan với Ngài rằng tôi sẽ đưa ra lập trường của HK và VNCH một cách minh bạch và mạnh mẽ là cuộc chiến tại VN phải được kết thúc bằng những cuộc thương lượng trực tiếp với Hà Nội…Riêng về chuyến viếng thăm của tôi tại Moscow vào tháng 5/1972, tôi muốn nói rõ là HK không hề có một ý định dàn xếp qua mặt những nước bạn và đồng minh của mình trong bất cứ vấn đề nào liên quan đến an ninh của họ”.
Sau chuyến công du TQ, ngày 5/3/1972 TT Nixon báo cho TT Thiệu biết “Chúng tôi đã không thương lượng điều gì đằng sau lưng những người bạn của HK, đã  không có sự đổi chác bí mật nào..Xin Ngài tin tưởng rằng Ngài sẽ tiếp tục nhận được sự cảm thông, ủng hộ và trợ giúp vật chất của HK trong lúc nhân dân miền Nam đang ra sức chống xâm lăng để được an ninh và xây dựng một nền hòa bình công chính và trường cửu”.
Ngày 25/1/1972, trước khi lên đường đi TQ, TT Nixon đưa ra đề nghị hòa bình toàn diện về quân sự lẫn chính trị gồm 8 điểm: -ngưng bắn toàn cỏi Đông Dương, -trao trả tù binh, -các lực lượng bên ngoài rút khỏi miền Nam VN, -tôn trọng HĐ Genève 1954 và HĐ Genève về Lào 1962, -tổ chức tổng tuyển cử trong vòng 6 tháng sau ngày ngưng bắn, -các phe phái tại Đông Dương tự hòa giải các vấn đề hiện có với nhau, -quốc tế giám sát việc ngưng bắn và -HK sẽ góp phần tái thiết ĐD với ngân khoản 7,5 tỉ đôla trong 5 năm, trong đó BV được 2,5 tỉ.
Ngày 21/2/1972 TT Nixon đến thăm BK trong một tuần lễ, được ông tả là tuần lễ “đã thay đổi cả thế giới”. Hai giờ sau khi Nixon đến BK, trái với chương sắp sẳn, Mao Trạch Đông muốn hội kiến ngay với vị lãnh đạo HK. Trong cuộc tiếp xúc đầu tiên với Mao, Nixon giải thích con đường mà ông đang thực hiện là để kiến tạo một nền hòa bình lâu dài và bền vững cho thế giới. Khi đề cập đến vấn đề: Nước nào trong hai siêu cường hạt nhân là nguy hiểm hơn. Mao trả lời “Hiện nay vấn đề xâm lược do Mỹ hay xâm lược do Trung Quốc là tương đối nhỏ vì các ông muốn rút một phần quân đội của các ông về đất mình, còn quân đội của chúng tôi thì không kéo ra nước ngoài“. Cho thấy Liên Sô là mối quan tâm của BK đối với nền an ninh thế giới. Nixon còn hỏi Mao: “Đối với TQ, sự xâm lăng từ Mỹ hay sự xâm lăng từ LS, nguy cơ nào là nghiêm trọng nhất?” Mao trả lời “Nguy cơ từ Liên Sô”. Thông cáo chung Thượng Hải kết thúc chuyến công du TQ của TT Nixon nêu rõ: “Cả hai đều không mưu cầu bá quyền và đều phản đối bất cứ nước nào hay tập đoàn nào cố gắng thiết lập bá quyền đó ở khu vực Á Châu”.
Chuyến công du BK của TT Nixon khiến giới lãnh đạo Hà Nội tin rằng Mỹ đã nhượng bộ TQ, trong khi khuynh hướng chủ hòa đang bao trùm dư luận Mỹ và lời hứa chấm dứt chiến tranh của TT Nixon nay đã đến…Vì thế đầu tháng 4/1972 Hà Nội phát động cuộc tổng tấn công mùa Hè 1972 để giành thắng lợi cuối cùng. Ngày 5/4/1972 Nixon lại gởi thư để trấn an TT Thiệu “Vào giờ phút đầy thử thách lớn lao này cho nhân dân VN, tôi xin Ngài biết cho là Ngài được sự ủng hộ trọn vẹn nhất của tôi với tư cách tổng thống HK và Tổng tư lịnh quân lực HK. Tôi xin cam đoan với Ngài rằng trong những tuần sắp tới chúng tôi sẽ không ngần ngại thi hành thêm bất cứ biện pháp quân sự nào cần thiết để yểm trợ cuộc tranh đấu mãnh liệt và dũng cảm hiện thời của quý quốc. Chúng ta không thể để cho cuộc xâm lăng được mở rộng và trắng trợn của Hà Nội tiếp diễn mà không bị trừng phạt”.
Ngày 26/4/1972, nói chuyện với dân chúng HK qua hệ thống truyền hình, TT Nixon lên án Hà Nội đưa 3 sư đoàn vượt qua khu quân sự ở vĩ tuyến 17 để tấn công VNCH. Hành động này đã vi phạm HĐ Genève mà BV đã ký hồi năm 1954 và vi phạm thỏa hiệp đã đạt được với TT Johnson năm 1968 khi HK ngưng ném bom MB để đổi lại việc Hà Nội hứa sẽ tôn trọng vùng phi quân sự. Nixon xác nhận là HK không bao giờ chủ trương xâm chiếm miền Bắc VN hoặc bất cứ một nước nào khác trên thế giới. HK đề ra giải pháp hòa bình danh dự cho cả đôi bên, trong đó hai miền Nam Bắc VN đều phải tôn trọng nền độc lập của nhau. Vì thế ông quyết định nối lại cuộc đàm phán ở Paris.
Cuộc đàm phán trở lại, nhưng thái độ của BV như lời mô tả của Kissinger là vô cùng hỗn xược và không thể chịu nổi khiến ông phải ngưng buổi họp ra về. BV vẫn tỏ ra cứng rắn trong những đòi hỏi ở bàn đàm phán, đồng thời tiến hành kế hoạch quân sự, bao vây An Lộc-cửa ngỏ phía bắc Sàigòn. Nixon ra lịnh thả mìn xuống các hải lộ đi vào các cảng ở BV nhằm ngăn chận việc tiếp liệu bằng đường biển của các nước CS giúp Hà Nội. Hành động này có thể làm tan vỡ cuộc họp thượng đỉnh với Breznhev vào cuối tháng 5/1972 để ký kết thỏa ước về “hạn chế vũ khí tấn công chiến lược” (SALT). TT Nixon tuyên bố: “Tôi thà làm tổng thống một nhiệm kỳ, còn hơn là tổng thống đầu tiên của HK bị bại trận”.
Khi ra lịnh phong tỏa, rải mìn các cảng ở BV ngày 8/5/1972, TT Nixon nhờ Đ/s Bunker chuyển đến TT Thiệu lá thư thông báo quyết định này. Ông viết: “Xứ sở Ngài cũng như xứ sở tôi không bao giờ bắt Hà Nội phải chịu một sự thất bại quân sự. Chúng tôi luôn luôn cố gắng chấm dứt cuộc xung đột qua ngỏ thương thuyết bằng cách nào để cho nhân dân MNVN còn được cơ hội quyết định tương lai mình mà không bị bên ngoài cưỡng ép hay can thiệp”. Nixon viết tiếp: “Một cuộc hòa giải bằng thương thuyết vẫn là đường lối chúng tôi ưa chuộng. Nhưng Hà Nội đã đưa ra cho chúng tôi những điều kiện tiên quyết tuyệt đối không thể chấp nhận được và sự thử thách quân sự của họ đối với Ngài và đồng minh của Ngài không cho phép một sự lựa chọn nào khác hơn là đáp ứng theo đường lối mà chúng ta sẽ làm”. Nixon cho biết thêm “Các hành động trên sẽ tiếp diễn cho đến khi nào có một cuộc ngưng bắn có quốc tế kiểm soát trên toàn cỏi Đông Dương và tù binh Mỹ được phóng thích. Khi các điều kiện trên đã được đáp ứng, HK sẽ ngưng mọi hành động vũ lực ở Đông Dương, và lực lượng Mỹ sẽ rút khỏi VN trong vòng 4 tháng”.  
Có thể nói đây là lời báo động của TT Nixon để TT Thiệu chuẩn bị ứng phó thích nghi với tình thế sắp tới. Chiến tranh VN sắp sửa chấm dứt, HK sẽ rút khỏi MN và chấm dứt mọi hành động quân sự ở Đông Dương. Chiến tranh đã chấm dứt, Quốc hội Mỹ sẽ không còn viện trợ quân sự ồ ạt cho VNCH nữa. Sự thật này đã đến. Ngày 18/10/1972, Ts Kissinger đến Sàigòn với lá thư của TT Nixon gởi TT Thiệu cùng bản dự thảo HĐ Paris để hai bên Việt Mỹ thảo luận. Sau 5 ngày tranh cãi gay gắt về bản dự thảo hiệp định Paris, VNCH đòi sửa đổi 23 điểm.
Ngày 23/10/1972 Kissinger rời Sàigòn và gởi điện báo cho Lê Đức Thọ biết là ông không thể đến Hà Nội phê chuẩn hiệp định như đã dự liệu vì Sàigòn đòi phải sửa đổi một số điểm trong bản dự thảo. Ông xin đình chỉ việc phê chuẩn để thảo luận tiếp sau ngày bầu cử tại Mỹ (7/11/1972). Nhưng đã trể, vì Hà Nội đã thông báo cho QK 5 CS và TƯC/MN hiệp định hòa bình sẽ được ký kết ngày 26/10. Trước đó, xế chiều ngày 25/10/1972, lực lượng Cảnh sát Quốc gia Quân khu 1 tịch thu được một mật điện của Bộ Tư lịnh Quân khu 5 cộng sản gởi Thị đội Tam Kỳ cho biết hiệp định ngưng bắn sẽ được ký kết ngày 26/10. Kèm theo mật điện là bản phương án lấn đất giành dân và sách động đồng bào xuống đường mừng hòa bình. Lợi dụng khí thế quần chúng, cán bộ CS hô hào đốt phá các cơ sở quân sự tiến tới cướp chính quyền.
Được báo cáo của tướng Ngô Quang Trưởng, tư lịnh Quân đoàn I, TT Thiệu chỉ thị Bộ TTM chuyển cấp tốc tài liệu đó về Sàigòn. Tuần lễ trước, khi đến Sàigòn tham khảo chính phủ VNCH về bản dự thảo hiệp định, Kissinger không đề cập gì đến việc ký kết. Nay TƯ Cục MN và Quân khu 5 -Miền Trung Trung Bộ, cán bộ CS đã biết rõ ngày ký và giờ ngưng bắn có hiệu lực để lợi dụng thời cơ đó chiếm ưu thế. Tại Củ Chi (Hậu Nghĩa), Hồng Ngự (Kiến Phong) và nhiều nơi khác, các đơn vị vũ trang CS tưởng có ngưng bắn thực sự nên nhào ra cắm cờ lấn đất giành dân, đã bị tổn thất nặng nề.
Để biện minh, chiều ngày 26/10 đài phát thanh Hà Nội công bố toàn văn bản dự thảo hiệp định bằng tiếng Việt, tiếng Pháp và tiếng Anh, với hai bức điện xác nhận sự thỏa thuận của TT Nixon. BV tố cáo HK lật lọng tráo trở vì Kissinger đã hứa đi Hà Nội phê chuẩn rồi lại sai hẹn. Hai giờ sau khi Hà Nội công bố bản văn Hiệp định, Kissinger mở cuộc họp báo ở Tòa Bạch Ốc. Ông thừa nhận hòa bình hiện đang ở tầm tay…hiệp định đang ở trong tầm mắt thấy…Kissinger cho biết chỉ còn một vài chi tiết nhỏ cần thảo luận thêm trước khi thỏa hiệp được ký kết.
HĐ Paris là kết quả của cuộc mật đàm giữa Kissinger và Lê Đức Thọ. Hai bên cam kết giữ kín cho đến khi công bố vì trong đó có đề cập đến ngày giờ ngưng bắn có hiệu lực thì lực lượng vũ trang hai bên miền Nam phải ở nguyên tại chỗ. Vì thế khi đến Sàigòn, Kissinger chỉ tham khảo với VNCH về nội dung bản dự thảo mà thôi. Nhưng Hà Nội luôn cho rằng TT Thiệu là tay sai của Mỹ, Mỹ quyết định gì thì Thiệu cũng thi hành. Vì thế Hà Nội tin chắc ngày 25/10/1972, hiệp định được phê chuẩn, và được thi hành ngày hôm sau. Qua đó, Kissinger đã mượn tay Hà Nội công bố cho nhân dân Mỹ biết hiệp định hòa bình ở VN đã hoàn thành. TT Nixon đã giữ đúng lời hứa, nhờ đó giúp ông chiến thắng “long trời lở đất” trong ngày bầu cử 7/11/1972. Quý bạn đọc muốn tìm hiểu thêm về bí ẩn lịch sử này, về HĐ Paris 1973 và thảm cảnh trong 50 ngày cuối cùng của VNCH xin vào google, gỏ mấy chữ lê quế lâm: lịch sử và nhân chứng.
Trong thời gian ở Sàigòn thảo luận bản dự thảo hiệp định, TT Thiệu đã buộc tội Kissinger đã thông đồng với Nga xô và Trung Cộng để bán đứng miền Nam VN. Kissinger biện minh: “Khi chúng tôi thảo luận với Sô Viết và TQ, là để làm áp lực với họ, để họ làm áp lực với Hà Nội. Giá như chúng tôi muốn bán đứng quý vị, thì đã có nhiều cách dễ dàng hơn để hoàn thành việc đó rồi”. Ý nghĩ Kissinger bán đứng MNVN càng mạnh mẽ hơn khi TT Thiệu nhận được tin tức về tài liệu vừa mới được tịch thu, khiến ông chống đối hiệp định càng quyết liệt.
Ba mươi năm sau, tài liệu về cuộc hội đàm Kissinger & Chu Ân Lai tại Bắc Kinh ngày 20/6/1972 được giải mật. Kissinger đã nói nguyên văn như sau: “Phải tách rời vấn đề quân sự với vấn đề chính trị. Bàn đến chính trị có nghĩa là duy trì chính quyền Sàigòn -một điều Hànội không chịu, hay lật đổ chính quyền Sàigòn -điều chúng tôi không chịu, và thực tế không có một giải pháp chính trị ở giữa. Vậy chúng tôi phải tìm con đường khác để chấm dứt chiến tranh. Chúng ta có thể biến cuộc tranh chấp quốc tế thành một cuộc tranh chấp địa phương –và ông thủ tướng nghĩ là có thể- thì đó là chính sách của chúng tôi. Trước hết để nó không biến thành một vấn đề quốc tế, và để cho người Đông Dương tự quyết định số phận của mình. Tôi cam đoan rằng quyền tự quyết là mục tiêu của HK ở Đông Dương và tôi tin TQ cũng muốn thế. Chúng tôi không muốn tranh giành gì tại đó. Và mặc dù chúng tôi không thể đưa một chính quyền CS lên nắm quyền lực, nhưng nếu nó xảy ra sau một thời gian nào đó, như là kết quả của một diễn biến lịch sử, và nếu như chúng tôi có thể chấp nhận một chính quyền CS ở Trung Hoa thì chúng tôi phải chấp nhận nó ở Đông Dương” (Hết trích)
Nhiều người chỉ trích dẫn câu cuối của Kissinger để kết luận Kissinger đã bán đứng MN cho CS…Nhưng nếu phân tích kỹ toàn bộ đoạn văn trên, thì sự suy đoán lại khác. Một là, mục tiêu của HK ở ĐD là tôn trọng quyền tự quyết của người dân ĐD. Một khi người dân đã chọn CS nắm chính quyền thì HK phải công nhận kết quả đó. Hai là, nếu các nước ĐD không tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân, tức không tôn trọng hiệp định hòa bình.Tình trạng đó kéo dài, còn HK thì đối với họ chiến tranh ĐD đã chấm dứt, nên không còn can thiệp nữa. Và đến một thời gian nào đó, các nước ĐD bị Hà Nội thôn tính, thì đó là hậu quả của một diễn biến lịch sử mà HK phải công nhận. Và điều này thực sự xảy ra ở Miền Nam VN vào ngày 30/4/1975.
Năm 1975 CSVN thống nhất đất nước, người viết nhớ lại năm 1802, vua Gia Long thống nhất sơn hà. Bầy tôi của Gia Long là Đặng Trần Thường đã ra câu đối “Ai công hầu, ai khanh tướng. Trong trần ai, ai dễ biết ai!” để mĩa mai người bạn thuở hàn vi nay đã sa cơ Ngô Thời Nhậm. Kẻ tôi thần khí phách của vua Quang Trung đáp lại “Thế chiến quốc, thế xuân thu. Gặp thời thế, thế thời phải thế!” Ngày nay, miền Bắc có thể dùng câu đối trên nhưng đổi lại vài chữ cho phù hợp, để lên mặt với người anh em miền Nam: “Ai Cộng sản, ai Ngụy-hòa. Trong trần ai, ai đã thắng ai!” (CS gọi miền Nam là ngụy. Lãnh đạo MN cuối cùng là Dương Văn Minh chủ trương hòa bình, hòa giải, hòahợp dân tộc). Bên bại trận năm 1975, ngậm ngùi mượn lời của Ngô Thời Nhậm, cũng sửa đổi vài chữ để đáp lại: “Thế Mỹ quốc, thế Liên sô. Gặp thời thế, thế thời phải thế”. Nhưng xin người anh em miền Bắc nhớ rằng, lịch sử còn kéo dài, đây chỉ là màn đầu. Thế Mỹ Quốc, thế Liên Sô kết thúc như thế nào, mọi người đều đã rõ. LS đã bị loại. TQ thế LS ngồi vào bàn cờ, đấu tiếp với Mỹ. Hãy chờ xem màn cuối của ván cờ “thế TQ, thế HK” kết thúc ra sao?  
Năm 1987, tình thế chưa sáng tỏ, TS Nguyễn Tiến Hưng viết quyển Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập lên án Mỹ phản bội, bán đứng MN tự do cho CS…Nhưng không thấy ông Hưng đề cập sau khi “mua” được MN thì thế giới CS ra sao? Năm 2005, TS Hưng lại xuất bản quyểnKhi Đồng Minh Tháo Chạy vẫn tiếp tục lên án Mỹ. Ông sống ở Mỹ từ năm 1958 về nước làm cố vấn TT Thiệu mà không trình bày cho TT Thiệu biết rằng quân đồng minh của VNCH đã tháo chạy từ tháng 7/1969 sau khi đưa CSBV ngồi vào bàn đàm phán Paris. Từ đó đến năm 1975, là một thời gian dài mà TT Thiệu không có kế sách nào để đối phó thích hợp khi đồng minh còn đang từ từ tháo chạy. Nên cuối cùng Đồng minh của Mỹ tháo chạy một cách đau thương trong 55 ngày cuối cùng của chế độ. Chạy sang Mỹ để tiếp tục công kích Mỹ!!      
                                                                                                                                
Lê Quế Lâm
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Post navigation

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: