NHỮNG NHÂN CHỨNG SỐNG CỦA NẠN ĐÓI NĂM ẤT DẬU 1945

NHỮNG NHÂN CHỨNG SỐNG CỦA NẠN ĐÓI NĂM ẤT DẬU 1945

Inbox x

Vu Nguyen <vuhomemax@gmail.com>

Jan 13
to bcc: me

Kính gởi quý đạo hữu, quý đồng đạo

Kính mong quý vị đọc qua bài sau, nhân dịp lễ Đản Sinh Đức Thầy – năm thứ 95, để cùng ôn lại dấu mốc của đạo và lịch sử của dân tộc.

Trân trọng,

Vũ Nguyễn

 

Nạn Đói Năm 45 Trong Ký Ức Người Còn Sống

Khi cám bã, rau dại, củ chuối đã hết, dân làng đào khoai ngứa ăn. “Ăn xong ngứa như rách cả cổ nhưng không ăn thì chết. Ngẫm lại, con người khi đó còn không được như con lợn, con gà bây giờ”, ông Vũ Viết Bật (82 tuổi) ngậm ngùi nhớ lại.

Nạn đói lịch sử năm Ất Dậu

Ông Tô Minh Thuyết kể rằng: “Bố tôi mất vào tháng tư năm đói. Mỗi lần làm giỗ cho ông cụ, nhìn đàn con cháu quây quần, mâm cơm đầy đủ là lại chứa chan nước mắt”. Ảnh: Hoàng Phương.

Ông Tô Minh Thuyết (80 tuổi, người Tây Lương, Tiền Hải, Thái Bình) bị bệnh teo não. Rất nhiều chuyện đã quên nhưng ký ức về nạn đói mỗi lần nhắc đến ông lại rùng mình, buông câu “chuyện xưa rồi nhưng cứ nhớ đến là lại tủi thân”. Nạn đói ập về Thái Bình vào tháng 10/1944. Mẹ ông đi thăm đồng về khóc lóc nói với chị cả: “Khéo cả làng chết đói mất thôi con ơi”.

Lúa trên cánh đồng thôn Thượng và các thôn khác trắng như cánh cò, không tìm thấy hạt mẩy. “Không ai biết lúa bị bệnh gì, dân chỉ kháo nhau là do trời làm. Không có thóc nộp tô, dân kéo đến nhà giàu để vay nhưng họ không cho, để dành thóc bán cho Nhật. Mẹ tôi phải đội thúng bát đĩa cổ ra nhà địa chủ Lý Sách đổi vài cân thóc. Sau nhà giàu không mua nữa, bà đội thúng đi về giữa trời mưa mấy lượt mà không có gì cho 6 chị em tôi ăn”, ông Thuyết kể.

Người ta ăn tất cả những gì có thể. Cậu bé Thuyết mới 10 tuổi vẫn nhớ cảnh dân làng đổ ra cánh đồng nhổ rau dền, rau sam, lá bắp cải già, thứ gì ăn được là nhặt về hết. Rồi người ta giết cả chó mèo vì không nuôi nổi. Có nhà trong làng bán rẻ trâu không ai mua, phải mổ thịt ăn dần, vừa ăn vừa khóc.

“Ăn hết rau cỏ, vật nuôi trong nhà, cả làng lùng chuột đồng làm thịt, nướng vội nướng vàng rồi tranh nhau xé ăn. Họ vật vờ ở bờ bụi đào củ dong, ráy, củ chuối, băm ra cho vào nồi đất, đun sôi bốc ăn ngon lành. Nhà nào có cây chuối, đu đủ thì đêm canh như canh miếu thờ vì sợ bị trộm. Trong làng, có đám đánh nhau mẻ đầu vì tranh giành củ chuối. Khi củ chuối hết là bắt đầu có người chết”, ông Thuyết kể.

Vì đói, ở Tồn Thành (Giao Thủy, Nam Định), người ta cắt cỏ vực đốt lấy hạt, giã vỏ lấy nhân nấu cháo ăn. Được ít ngày, cỏ vực không còn một ngọn, dân đào khoai ngứa, thứ chỉ dành cho lợn. “Ăn xong ngứa như rách cả cổ, nhưng không ăn thì chết. Ngẫm lại, con người khi đó còn không được như con lợn, con gà bây giờ”, ông Vũ Viết Bật (82 tuổi) nhớ lại.

Dải đất bắc miền Trung ít ruộng, dân cư chỉ sản xuất một vụ lúa, sống chủ yếu bằng hoa màu và đánh bắt cá. Thôn Thủ Phú thuộc làng Phú Xá xưa (nay là xã Quảng Đại, Quảng Xương, Thanh Hóa) từ xưa chỉ có làm nghề đánh bắt cá biển, đổi nông sản với các vùng khác. Tết Ất Dậu là thời điểm mở màn cho những cái chết trong thôn. Trong trí nhớ của ông Nguyễn Xuân Tài thì bà Sến, người xóm trên là nạn nhân đầu tiên. “Bà này chết rục bên gốc chuối sau nhà, thân hình khô quắp chỉ còn lại nắm xương. Những tháng sau đó, người dân Thủ Phú chết như ngả rạ. Trong làng ngoài ngõ, bên gốc đa, sân đình, bờ đồng, xó chợ… đâu cũng thấy thây ma nằm ngổn ngang”, cụ ông 92 tuổi cho hay.

Người bị choáng đâm đầu xuống sông, người nằm bên bờ ruộng khi miệng còn ngậm cỏ, người chết trong nhà không ai biết. Ban đầu, dân làng bó chiếu, chăn đem chôn. Về sau những tấm mành lưới, cánh buồm để ra khơi trở thành “quan tài” tạm, xác chết được kéo ra bãi tha ma phía bờ biển. Nghĩa địa Cồn Mả Quán chi chít nấm mồ lấp vội.

Cụ Trình Thị Chự (102 tuổi) là người duy nhất trong gia đình 9 người sống sót qua nạn đói năm 1945 ở làng Thủ Phú, xã Quảng Đại, (Quảng Xương, Thanh Hóa) . Ảnh: Lê Hoàng.

Thôn Thủ Phú có khoảng 40 hộ chết gần hết cả nhà, như nhà ông Minh Hinh, hai vợ chồng với 7 con trai đều ra đi. Gia đình ông Biện Bang, Bút Lợi, Sệnh Cày… cũng vậy. Thôn này trở thành nơi có nhiều người chết đói nhất xứ Thanh. “Một buổi chiều, có người ngửi thấy mùi hôi thối nồng nặc, chạy sang thì cả 7-8 người nhà ông Minh Hinh nằm chết co mỗi người một xó, chuột bọ, côn trùng bò lổn nhổn. Dân làng phải kéo sập mái nhà châm lửa đốt rồi lấp đất vùi xác tại chỗ”, cụ Tài kể lại.

Người già nhất thôn Thủ Phú từng chứng kiến nạn đói Ất Dậu là cụ Trình Thị Chự (102 tuổi). Gia đình cụ Chự có 9 người thì mất 8 (gồm cha mẹ và 6 người con, 3 gái, 3 trai). “Trong ba ngày, tôi phải chứng kiến 8 người thân qua đời. Tự tay tôi lần lượt kéo xác cha mẹ và những người anh em ra đồng. Không có cuốc thuổng, tôi dùng tay bới đất. Ướm chừng như đã lút thân người, tôi chôn vội họ rồi lại tất tả chạy về lê xác người khác”, cụ Chự rưng rưng.

Sống gần trọn kiếp người, cái chết vì đói của những người thân luôn ám ảnh cụ bà Nguyễn Thị Sót (87 tuổi, người xã Tây Lương, Tiền Hải, Thái Bình). “Nhà tôi có 8 người thì 5 người chết. Vợ chồng anh cả chết còng queo ở xó nhà, đứa cháu lớn đói quá nằm vạ vật ở góc bếp. Tôi lay nó tỉnh dậy, nhích mi mắt không thấy gì ăn rồi lại nhắm mắt, từ sáng đến trưa thì chết. Bố tôi chết ở dưới thuyền nhiều ngày, khi phát hiện ra thì đã đầy ruồi bọ, anh trai thứ chết ở đâu không tìm thấy xác”, bà Sót kể, nước mắt chực trào ra.

“Năm ấy tôi mới 17 tuổi, đương thanh xuân, thế mà chỉ còn da bọc xương. Nhiều người đói rạc cả thân xác, không phân biệt nổi đàn bà hay đàn ông. Người ta cướp cả manh quần áo vá chằng vá đụp trên thi thể người đàn bà có chửa sắp sinh để đổi lấy miếng bánh đúc ăn”, bà cụ kể tiếp.

Dân gian có câu “Thái Bình chết bảy còn ba” để hình dung về thảm cảnh của quê lúa năm 1945. Xóm Trại của xã Tây Lương gần như bị xóa sổ, 130 nhân khẩu thì có 103 người chết. Gia đình ông Tô Nuôi có 4 người, mình ông được cứu sống vì đi làm con nuôi. Cả dòng họ ông 35 người thì chết đói 31. Nhà cụ Hoàng Phác có bốn thế hệ sống với nhau 31 người thì chết đói 26 người, 2 người đến nay không biết tung tích.

Nhà khá giả cũng không thoát nổi. Ở thôn Hiên, xã Tây Lương, người dân còn kể lại câu chuyện gia đình ông Nguyễn Văn Tư chết đói đặc biệt. Khi nhiều người mang đồ thờ, bát đĩa quý trong nhà đi bán giá rẻ, ông đem thóc đổi lấy đồ, sau hết thóc xoay không kịp rồi cũng chết. Hay gia đình ông Nguyễn Văn Lý làm tuần đinh, nhà có 2 trâu, 3 mẫu ruộng, 16 nhân khẩu thì chết mất 15 bởi mua sắm đồ đạc nhiều, không có dự phòng.

Trong trí nhớ của bà Sót khi đó, khắp làng xã người chết đói nằm co, người sống thì lê lết kiếm miếng ăn. Người không đi nổi thì ngồi vật vờ nhìn nhau. Không khí tĩnh lặng đến dị thường, không ánh lửa, không tiếng chó sủa mèo kêu, chỉ có tiếng chuột gù. Những con chuột vì ăn thịt người chết mà to béo bằng cả bắp chân. Người đói nhìn thấy không còn sức mà bắt ăn.

Vợ chồng ông Nguyễn Văn Ngô (102 tuổi) và bà Nguyễn Thị Sót (87 tuổi) là những người sống sót qua nạn đói ở làng Trung Tiến, xã Tây Lương (Tiền Hải, Thái Bình). Ảnh: Hoàng Phương.

Tạm qua cơn đói, khi có lúa mới, nhiều người lại chết vì một bữa no. “Khi được mùa, họ ăn như chưa từng được ăn. Thế rồi nhiều người lăn ra chết với tấm bụng căng tròn”, cụ Nguyễn Xuân Trang (97 tuổi, thôn Thủ Phú) cho hay, có đến vài chục người trong làng chết vì một bữa no.

“Giữa trưa hè nắng oi ả. Người làng bất thần nghe tiếng khóc ré bên nhà lão Thử. Bà con chạy tới thì lão đang đánh trần nằm giãy đành đạch giữa sân với cái bụng căng lè, bên cạnh là rổ khoai lang mới luộc chưa kịp chín hết”, cụ Trang thở dài.

70 năm qua, xã Tây Lương khi xưa chết đói 2/3 thì nay đã thành một vùng giàu có, thanh bình bên sông Trà Lý. Gia đình bà Sót con cháu đuề huề. Sống qua cơn tăm tối của đất trời, bà được dân làng Trung Tiến gọi là người “sống dai nhất làng” vì không ăn gì nhiều ngày mà vẫn sống.

Còn ông Thuyết đã chẳng thể nhớ nổi hương vị củ chuối, cháo cám năm xưa, nhưng mỗi độ tháng tư về, nhìn con cháu quây quần bên mâm cơm đủ đầy ngày giỗ là lại khóc. “Trải qua năm ấy, gia đình nào cũng sứt mẻ, chẳng nhà nào còn vẹn nguyên”, ông nói.

Nhóm phóng viên

Nguồn: http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/nan-doi-nam-45-trong-ky-uc-nguoi-con-song-3130491.html

Ý kiến người đọc:

Tôi là nhân viên phục vụ của một nhà hàng tại tphcm , hằng ngày tôi vẫn thường hay ăn những thứ mà những vị khách bỏ lại khi họ ăn không hết , những lúc như thế tôi rất cảm thấy tuổi cho thân mình , nhưng khi đọc được bài viết này , tôi cảm thấy được an ủi phần nào trong cuộc sống hiện nay …. Thầm mong cho những chuyện như thế sẽ không bao giờ xảy ra với đất nước của chúng ta một lần nữa …. (shopkanu. – 01:30 13/1)

trước mình phục vụ nhà hàng cũng thế cũng hay ăn thức ăn thừa của họ, tối về cũng khóc. nhưng rồi cũng qua mình được ông bà dạy từ nhỏ là không được phí phạm đồ ăn (Du Tiến – 20 giờ trước)

Nhà bố Tĩn, bà mẹ là người chết đầu tiên. Cháo cám lâu ngày, cụ mắc bệnh kiết lỵ. Rồi đến cháo cám cũng không có, chỉ mỗi thứ ốc tép nấu rau. Hết thóc, hết người đến cân thóc tạ, nhà bố Tĩn mất nguồn xay giã. Không còn sức đưa xác mẹ ra đồng, bố Tĩn đành chôn mẹ ngay trong vườn. Bố Tĩn cố đào cái huyệt sâu. Lúc đào gắng sao khỏi quỵ, người đi chôn mà quỵ sẽ không đứng lên được, chính bố Tĩn đã nhìn thấy cảnh đó. Ghê quá, đi chôn người mà người ta phải chôn luôn mình. Sau cái chết của bà mẹ, đến lượt vợ và đứa con út. Bố Tĩn biết trước vợ sắp chết. Buổi sáng thằng bé lóp chóp mút vú, mẹ nó thì lã chã nước mắt. Lúc sau thấy vợ lủi vào góc nhà. Thường người sắp chết đói hay lảng vào chỗ khuất, giấu mặt, họ buồn và lo sợ. Chết đói khác chết bệnh, cứ từ từ, thoi thóp. Bố Tĩn nhoài đến lay vợ, lần đầu người còn ấm, lần sau thì lạnh rồi. Nghe tin mẹ chết, có cái đứa lớn phều phào khóc, còn mấy đứa nhỏ ngơ ngơ đứng, ngó theo chị và bố đưa xác mẹ cùng em ra vườn. Trừ bố Tĩn, liên tiếp mấy hôm ấy, ông cụ nhiêu và lũ cháu lần lượt ra đi… Nghĩ sắp đến lượt mình, nên đói mà bố Tĩn cũng chẳng thiết kiếm gì nhét vào bụng. Người ta bảo ăn độc rau má thôi, ăn linh tinh là chết. Nhà bố Tĩn đã gắng kiếm rau má, vậy mà vẫn “đi” hết. ĐÂY LÀ MỘT ĐOẠN NGẮN CỦA TRUYỆN NGẮN LÀNG MA, MIÊU TẢ NẠN ĐÓI 1945 . (Hoàng Bạch – 02:13 13/1)

Ngày nay con chúng ta đã thoát nghèo và dần quên đi những nỗi đau thương của ngày xưa, họ sẵn sàng vất bỏ những phần ăn còn thừa mứa. Tôi 28t chưa từng chải qua bất kỳ 1 nạn đói nào nhưng Ba Má tôi vẫn luôn nhắc một miếng khi đói bằng một gói khi no và tôi chưa bao giờ dám quên điều này. Một ký ước buồn về nạn đói khi xưa, cũng may là ông bà tôi ngày đó ở Nam Định và ông về kịp lúc trước khi quá muộn, nếu không đã không có tôi và chị em tôi rồi. Hãy trân trọng những gì mà mình đã có, mình đã quá no đủ thì hãy nên nghĩ đến những người nghèo khó hơn mình. (Badday Pham – 22 giờ trước)

Đọc mà muốn khóc, càng cảm thấy mình may mắn đến mức nào so với bao người. Ngày bé đọc truyện “Một bữa no” mà tưởng tác giả hư cấu, mãi sau mới biết thời đói khổ dân tộc mình đã trải qua kinh khủng đến mức nào. Cầu mong cho thế giới yên bình, ai cũng có cơm ăn áo mặc đầy đủ để không phải chịu thảm cảnh như vậy nữa. (Sơn – 01:27 13/1)

Cảm ơn nhóm phóng viên nhiều , đã khơi lại những năm tháng khó khăn thiếu thốn ấy. Đọc bài viết tôi như thấy người làng tôi năm ấy. Mẹ tôi kể ” sau nhiều ngày không có thức ăn nhìn mọi người đói lả đến chết mẹ không cầm được nước mắt”. Bây giờ có cơm ăn áo mặc cuộc sống đầy đủ nhưng con luôn phải sử dụng chúng cho đúng. Cái gì cũng không phải vô tận, tới lúc bói không ra, rà không thấy con ạ. (minhdinhta – 23 giờ trước)

Đọc bài này xong tôi mới thấm thía lời Bố tôi dạy ” Tích cốc phòng cơ”. Bố tôi nay đã 83 tuổi, Bầm tôi nay đã 82 tuổi, họ đã trải qua nạn đói khủng khiếp 1945. Nay cuộc sống đầy đủ nhưng trong ký ức của ông bà không sao quên được nạn đói năm xưa. Hễ thấy các con đổ đi bát canh cạn cơm thừa là ông bà lại xót xa, tôi hiểu sự xót xa đó không phải do kiệt xỉn mà do ký ức của nạn đói năm xưa giá như có được chút cơm thừa, canh cạn chắc nhiều người đã không phải chết đói.  (Yên Lc – 02:55 13/1)

Nạn đói năm Ất Dậu 1945 thật kinh khủng, hơn 2 triệu đồng bào đã bị chết đói. Mong sao đất nước luôn thanh bình và no đủ để không còn ai phải chết đói. Đọc lại chuyện xưa để mong rằng mọi người luôn nhớ lời cha ông “Được mùa chớ phụ ngô khoai, đến khi thất bát lấy ai bạn cùng”, luôn luôn tiết kiệm, không lãng phí. (baonguyen – 20 giờ trước)

Tôi đã dành hơn 1 tiết dạy chỉ để đọc cho học sinh nghe về bài báo này để với hy vọng thế hệ trẻ hôm nay hiểu được những đau khổ tột cùng mà cha ông đã phải gánh chịu, để chúng biết trân trọng hơn hạt cơm, hạt gạo và tuyệt nhiên không được lãng phí. Dân tộc mình khổ quá! (huonghpi – 16 giờ trước)

 

                         KHUYẾN NÔNG

 

Hỡi đồng-bào! Hỡi đồng-bào!

Thần chết đã tràn vào Trung-Bắc,
Ngày lại ngày siết chặt giống nòi;
Lật qua các bài báo mà coi,
Thấy con số chết xem mòi kinh nguy.

Cũng tại vì Tây-di bày kế,
Phá-hoại nền kinh-tế nước ta.
Làm cho điên-đảo sơn-hà,
Làm cho điêu-đứng con nhà Lạc-Long.

Bổng phút đâu cuồng phong một trận,
Quân Phù-Tang khai hấn bất kỳ.
Còn đâu mưu khéo giải vi,
Còn đâu hoãn kế trong kỳ viện binh?

Dầu những kẻ vô tình với nước,
Cũng tỉnh hồn mơ-ước tự-do.
Tiếng vang độc-lập reo hò,
Từ Nam chí Bắc nung lò khí thiêng.

Quyết phen nầy kết-liên một khối,
Đem máu đào tắm gội giang-san.
Giờ đây đem lại mùa-màng,
Năm rồi miền Bắc tan-hoang còn gì.

Chỉ có xứ Nam-Kỳ béo-bở,
Cơ-hội nầy bỏ dở sao xong.

Cả kêu điền-chủ phu-nông,
Đứng lên đừng để ruộng đồng bỏ hoang.

Muốn cứu khỏi tai nàn của nước,
No dạ dày là chước đầu tiên.
Nam-Kỳ đâu phải sống riêng,
Mà còn cung-cấp cho miền Bắc, Trung.

Quân-đội Nhựt cần dùng lương thảo,
Cũng phải ăn lúa gạo Nam-kỳ.
Ta còn ngần ngại nỗi chi,
Mà không cày cấy kịp thì hỡi-dân?

Điền-chủ phải một lần chịu tốn,
Giúp áo quần, giúp vốn thêm lên.
Muốn cho dân được lòng bền,
Mua giùm canh-cụ là nền khuếch-trương.

Giá mướn phải thường thường dể thở,
Xử ôn-hòa niềm-nỡ yêu nhau.
Cùng chung một giọt máu đào,
Phen nầy hiệp sức nâng cao nước nhà.

Kẻ phu-tá cũng là trọng trách,
Cứu giống-nòi quét sạch non sông.
Một phen vác cuốc ra đồng,
Thề rằng ruộng phải được trồng lúa khoai.

Mưa nắng ấy đâu nài thân xác,
Chí hy-sinh dầu thác cũng cam.
Miễn sao cho cánh đồng Nam,
Dồi-dào lúa chín gặt đam về nhà.

Chừng ấy mới hát ca vui-vẻ,
Ai còn khinh là kẻ dân ngu.
Không đem được chút công-phu,
Không đem sức-lực đền-bù nước non.

Gởi một tấc lòng son nhắn-nhủ,
Khuyên đồng-bào hãy rủ cho đông.
Nắm tay trở lại cánh đồng,
Cần-lao, nhẫn-nại Lạc-Long tổ truyền.

 

Saigon, tháng tư năm Ất-Dậu (1945)

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Post navigation

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s