Monthly Archives: March 2015

HAI BỨC THƯ ĐI VÀO LỊCH SỬ CỦA NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ NGÔ ĐÌNH THỤC

Nghia Nhu Phan
On Saturday, October 25, 2014 6:05 AM, “Hoang Thuc Anhoangthucan@gmail.com [ChinhNghiaViet]” <ChinhNghiaViet@yahoogroups.com> wrote:
HAI BỨC THƯ ĐI VÀO LỊCH SỬ CỦA
NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ NGÔ ĐÌNH THỤC
1.     THƯ CỦA THỦ TƯỚNG NGÔ ĐÌNH DIỆM
GỬI QUỐC TRƯỞNG BẢO ĐẠI
Inline image 1


Hình: Quan Thượng Thư Ngô Đình Diệm khi còn là bầy tôi của Quốc Trưởng Bảo Đại.
Trang cuối lá thư 5 trang viết tay của ông Ngô Đình Diệm gởi Quốc trưởng
Bảo Đại. – Tài liệu của bà thứ phi Mộng Điệp của Bảo Đại còn lưu giữ tại Pháp
Năm tháng sau khi được Quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm làm Thủ Tướng, ngày 10-11-1954, ông Diệm gửi cho Quốc trưởng Bảo Đại một lá thư tái xác nhận “lòng trung thành của dòng họ chúng tôi” với Quốc Trưởng. Dưới đây là bản dịch tiếng Việt của lá thư đó:
Kính gởi Hoàng thượng Bảo Đại
Quốc trưởng Việt Nam
Kính thưa Ngài,
Tôi thật vô cùng cảm kích trước những lời tin cậy và khích lệ đầy thương mến mà Ngài đã chỉ thị cho bào đệ Ngô đình Luyện truyền lại cho tôi.
Ngài đã biết rõ sự bất vụ lợi và lòng trung thành của dòng họ chúng tôi, trong quá khứ, đã phục vụ Tổ quốc và Hoàng triều như thế nào. Xin Ngài hãy tin tưởng rằng đến lượt tôi, tôi sẽ cố gắng tiếp tục phục vụ với tất cà sức lực và tâm hồn để xứng đáng với lòng tin cậy thân yêu mà Ngài đã dành cho.  
Trong lúc có những giải thích đầy xuyên tạc của dư luận về sự mở rộng thành phần Nội các đã gây cho tôi quá nhiều phiền muộn, tôi muốn nói lên đây lòng tri ân của tôi về sự tín nhiệm của Ngài vẫn dành cho tôi.
Thật ra hoài bảo thân thiết nhất của tôi là nhận được sự chấp thuận của Quốc trưởngtrong các đại sự của Quốc gia, về Binh bị, Ngoại giao, Xã hội, Tài chánh hay Hành chánh.
Chỉ có sự chỉ đạo khôn khéo và chỗ dựa vững chắc ở Quốc trưởng, tôi mới có thể thực thi được những quyền lực đầy đủ để giải quyết tất cả vấn đề có tầm vóc liên quan đến sự sống còn và tương lai của đất nước.
Những cải cách về Hiến pháp và Dân chủ phải được nhanh chóng thực thi theo đúng những lời tuyên bố của Ngài khi Ngài trở về sau chuyến lưu vong.
Nhưng quyền lực của Hoàng triều phải thật sự cứng rắn để bảo đảm trật tự và công bằng xã hội, kỷ luật quân đội, tôn trọng quyền lợi và tự do của dân.
Trình Ngài, chính trong tinh thần nầy mà tôi đã nhờ bào đệ Luyện thỉnh cầu Ngài hồi loan càng sớm càng tốt, miễn là không trở ngại đến việc chữa bệnh của Ngài ở Pháp.
Tiếc thay khi được tin nầy thì những xáo trộn những âm mưu chính trị không tránh được khi đất nước bị chia cắt, đã tăng lên gấp bội, vì những tham vọng và quyền lợi riêng tư đó đã lo sợ sự hiện diện của Hoàng thượng và sự củng cố chánh quyền của Ngài.
Là người chủ xướng sự hồi loan nhanh chóng của Ngài, thế mà tôi phải đau lòng thỉnh cầu ngài dời hoãn ngày về nước để cho tôi có đủ thời gian cần thiết để san bằng những trở ngại khó khăn và đánh tan một vài thái độ mâu thuẫn.
Sự mong đợi chuyến về của Hoàng thượng càng lớn khi tôi cần dựa vào sự minh triết của Hoàng thượng để giúp tôi, ngoài những việc khác, tái tổ chức và phát triển Hoàng Triều Cương Thổ mà Hoàng thượng đã tức thời quyết định cho sát nhập về với Việt Nam. Việc nầy đã được sự tán thành của toàn dân.
Tôi nghỉ rằng, thật ra các miền Cao nguyên đó, từ lâu đã được sự chăm lo ưu ái của Hoàng thượng, rồi đây sẽ được hưởng những lợi ích to lớn về một tổ chức xã hội, kinh tế và quân sự mà các ngành Hành chánh cao cấp sẽ được chính phủ bổ nhiệm sau khi được sự chấp thuận của Ngài.
Để kết thúc, tôi xin đươc phép nhắc lại sự cảm tạ của tôi về sự tiếp tục tín nhiệm mà Ngài đã dành cho.
Tình trạng đất nước, bị xâu xé và tàn phá bởi cuộc chiến lâu ngày nầy đã gây quá nhiều lo âu cho tôi, vì vậy những bằng chứng về lòng tin tưởng thương yêu của Hoàng thượng sẽ là một niềm khích lệ vô giá đối với tôi.
Xin được phép nhắc Ngài rằng khi nhận chức Thủ Tướng chính phủ, tôi đã có xin Ngài hứa cho là trong trường hợp chính sách của tôi, nếu xét có bằng chứng có thể phương hại cho Tổ quốc, thì Hoàng thượng sẽ không để những tình cảm tốt đẹp dành cho tôi chi phối, mà sẽ cương quyết chối từ chính sách đó để cứu quốc dân.
Xin phép Ngài cho tôi được tin vào lời hứa đó, vì tôi phải có một chính sách cứng rắn và dũng cảm để đối phó với các sự xáo trộn chính trị và các liên hệ chằng chịt quá phức tạp của những quyền lợi lớn của cá nhân hay ngoại quốc gây ra.
Tôi sẽ làm chuyện nầy với lương tâm thanh thản vì tôi biết trước, nếu trường hợp gặp thất bại, Ngài sẽ sẵn sàng điều chỉnh tay lái khi cần.
Tôi trao thư nầy cho bào đệ Luyện để đệ trình lên Ngài với lòng trung thành tôn kính và thâm sâu của tôi.
Sài gòn, ngày 10 tháng 11 năm 1954
Ngô Đình Diệm”
Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Ảnh chuyến công du nước Pháp của vua Khải Định

Ảnh chuyến công du nước Pháp của vua Khải Định

Nước Pháp xâm chiếm và cai trị VN. Họ thiết lập một chính quyền gọi là bảo hộ và khai thác tài
nguyên biến Đông Dương thành thị trường cho kỹ nghệ và thương mãi Pháp. Đi đâu cũng mang theo quê hương, nên họ cũng xây cất những dinh cơ, chỗ ở, hạ tầng cơ sở giống Ba Lê để phục vụ chính quyền cai trị này. Dân Việt phải è cổ phu phen, sưu cao thuế nặng để chu cấp cho việc này.
Đến thời Albert Saraut, thuộc đảng Cấp tiến tả khuynh, mềm mỏng hơn chủ trương phải chia xẻ phần nào, không bóc lột mãi được nên phải nâng cao dân trí dân thuộc địa, tổ chức lại các trường Đại học hoặc qua Tây học, nới rộng các quyền cai trị cho người Việt, mở mang thêm trường học các cấp. Tuy các nỗ lực của ông bị nhiều người Pháp thuộc địa, vẫn cho dân Việt phải là phục dịch, chống đối nhưng ông tại chức khá lâu nên dân Việt hồi đó tương đối dễ thở,
Vua Việt cũng có vẻ được trọng vọng đón tiếp……nhưng trong lòng cũng thảm thương vì là vua của một nước Thuộc Địa.
Như bộ ảnh dưới đây…….
LVK

Ảnh chuyến công du nước Pháp của vua Khải Định

Ảnh độc chuyến công du nước Pháp của vua Khải Định
Đây là lần đầu tiên một ông vua triều Nguyễn có chuyến công du nước ngoài.

Con tàu Porthos chở vua Khải Định cập Cảng Marseille, Pháp, ngày 21/6/1922. Ảnh: Gallica.bnf.fr.

Bộ trưởng Bộ thuộc địa Albert Sarraut và các quan chức Pháp chờ đón vua Khải Định tại Cảng Marseille.

Các quan chức An Nam tại bến cảng.

Đoàn quan chức An Nam ra khu vực cầu tàu đón vua Khải Định.

Bộ trưởng Bộ thuộc địa Albert Sarraut dẫn vua Khải Định xuống tàu.

Phía sau ông Albert Sarraut và vua Khải Định là hoàng tử Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại sau này) sang Pháp để du học.

Vua Khải Định, hoàng tử Vĩnh Thụy, bộ trưởng Albert Sarraut và hoàng thân Vĩnh Cẩn ở Marseille.

Vua Khải Định đến ga Bois de Boulogne tại Paris ngày 24/6/1922.

Nhà vua lên xe ngựa phía trước ga.

Cỗ xe ngựa rời nhà ga

Trong chuyến công du năm 1922, nước Pháp đã đón tiếp ông vua An Nam bằng nghi lễ long trọng nhất.

Vua Khải Định ngồi xe ngựa di chuyển qua các đường phố Paris, ngày24/6/1922. Ảnh: Gallica.bnf.fr.

Lực lượng quân cảnh cùng nhiều người Pháp đứng hai bên đường ngắm ông vua An Nam đi qua.

Vua Khải Định từ xe ngựa bước xuống cổng điện Elyse – dinh Tổng thống Pháp.

Vua Khải Định cùng các quan chức Pháp đứng trên sân danh dự tại điện Elyse.

Bước vào trong điện Elyse

Nước Pháp tiếp đón vua Khải Định bằng nghi lễ long trọng nhất.

Người hầu cầm nón của Vua Khải Định nở nụ cười khi được chụp ảnh.

Vua Khải Định viếng thăm mộ Chiến sĩ vô danh bên Khải hoàn môn ở Paris.

Bắt tay với tướng lĩnh Pháp

Vua Khải Định đặt vòng hoa tại mộ Chiến sĩ vô danh.

Trong chuyến công du nước Pháp năm 1922, vua Khải Định có dịp ngồi xem đua ngựa với Tổng thống Pháp ở Paris.

Vua Khải Định, hoàng tử Vĩnh Thụy cùng các quan chức, tướng lĩnh Pháp thăm viếng mộ Chiến sĩ vô danh ở Paris. Ảnh: Gallica.bnf.fr.

Vua Khải Định thăm đền tưởng niệm Tử sĩ Đông Dương ở vườn thuộc địa Nogent sur Marne, Paris, 26/6/1922.

Đứng bên phải nhà vua là quan Thượng thư Nguyễn Hữu Bài.

Vua Khải Định cùng các quan chức Pháp tiến vào trong đền.

Tất cả an tọa ở sân trước đền Tử sĩ Đông Dương.

Chính điện của đền Tử sĩ.

Vua Khải Định bước ra sau khi viếng đền.

Vua Khải Định viếng đài tưởng niệm những tử sĩ người Việt đã chết cho nước Pháp trong chiến tranh thế giới nhứ nhất.

Vua Khải Định trong cuộc mít tinh ở vườn thuộc địa Nogent-sur-Marne..

Vua Khải Định viếng thăm Hội địa lý Pháp.

Tổng thống Pháp Millerand và Vua Khải Định trên khán đài trường đua ngựa tại Longchamp.

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Con cào cào bằng lá dừa

Con cào cào bằng lá dừa
Dương Thịnh
Một câu chuyện có thực, rất cảm động. Tác giả là một tỵ nạn HO-8 hiện đang định cư tại Westminster.
Đứng trong hàng rào kẽm gai của khu thăm nuôi. Bé Mai cố nhướng mắt để tìm người cha thân yêu của mình trong số những đoàn người gầy guộc, xanh xao, vàng vọt đang lếch thếch cất bước trên đường về trại tù. Với ánh nắng trưa hè gay gắt,mọi nguời đi thăm nuôi đều đứng trong mái hiên ngẩng cổ nhìn ra. Riêng bé Mai bất chấp những tia sáng nóng đang rọi trên đôi má ửng đỏ, những giọt mồ hồ đang rịn trên trán. Cô bé cố giơ cao những con cào cào xanh hướng về phía đoàn người đang lần lượt đi qua, hầu mong cha của mình sẽ mau chóng nhận ra. Ông Sinh đã nhận ra con gái , ông giơ cao lon gô vẫy vẫy. Bé Mai sung sướng reo lên :
“Má ơi. Con thấy ba rồi! Con thấy ba rồi !
Đoàn tù vẫn bình thản bước lên đồi. Ông Sinh vừa đi vừa ngoảnh cổ lại đằng sau nhìn con.. Khi không còn thấy hình bong cha nữa, bé Mai mới chịu chạy lại bên mẹ thút thít khóc
Thiếu phụ rút khăn tay lau mồ hôi trên trán con, vuốt mái tóc bé an ủi :
“Nín đi con, tí nữa mẹ con mình gặp cha rồi.”
Thời gian thăm nuôi thật ngắn ngủi, chỉ mười năm phút. Ông Sinh chỉ kịp ôm con vào lòng, hôn lên má con. Hỏi han vợ năm ba câu, chẳng nói được gì nhiều, đã gần hết giờ.
Mọi người trong phòng thăm nuôi chỉ biết nhìn nhau khóc và khóc. Đến gìơ. Tên cán-bộ oắt con quơ quơ khẩu súng AK. về phía mọi ngừời:
“ Đã hết giờ, yêu cầu mọi người đứng lên ra về.”
Ông Sinh vôi vàng nắm chặt hai bàn tay vợ và ôm hôn con lần cuối, sách bị gói lương khô cùng mấy con cào cào theo chân mọi người ra cửa.
Ngồi trên chuyến xe lô trở về thành phố, hầu hết là những bà vợ đi thăm nuôi chồng, họ đều mệt mỏi trong cuộc hành trình dài. Phần vì đường xa, phần vì phải thức khuya dậy sớm để nấu thức ăn, giờ đây tất cả đều cố nhắm mắt thiu thiu ngủ dưỡng sức. Riêng bé Mai không tài nào ngủ được, dù rất muốn ngủ và mệt mỏi.
Hình dáng của người cha luôn luôn lởn vởn trong trí óc bé, than hình gầy gò, đen đủi cùa ông khác xa với hình dáng trắng trẻo, hồng hào, mập mạp trước kia rất nhiều. Bé là người được cha thương yêu nhất. Đêm nào ông cũng ru bé ngủ, kể truyện cho bé nghe, trước khi rời khỏi phòng ông không quên hôn lên nút ruồi son trên cổ bé, mà ông thgường gọi đùa là:
“Nốt ruồi mang đến nhiều sự may mắn.”
Ông có đôi bàn tay rất khéo léo và nghệ thuật. Chính ông đã dậy cho bé xếp hình những con thú, đồ vật bằng giấy nhất là thắt hình những con cào cào bằng lá dừa non thật là tuyệt, trông chúng đẹp, hung dũng, oai phong biết bao! Bé rất thích và thường thắt để tặng bạn bè, vì thế chúng thường chọc và gọi bé lá con cào cào xanh.Biệt hiệu này bé rất thích và thường hay kể lại với cha. Ông nói con cào cào xanh với đôi chân cứng cáp, nhẩy xa, biểu hiện cho sự tương lai vững chắc. Cha muốn con gái của cha sau này cũng giống như những con cào cào này.
https://encrypted-tbn2.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcTuhrbx3bALzyBQcB2EUATMODzE5uzYazdxs2tHh5Etb4O_Haai5A


Riêng ông Sinh, ông không thể không cầm được nước mắt khi nhìn giỏ quà của vợ con. Sau gần hai năm tù cải tạo, đây là lần đầu tiên ông được thăm nuôi. Giỏ qùa dù ít nhưng nó đã gói ghém biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, tình thương của gia đình, dù ít nhưng ông rất ấm lòng. Nhất là mấy con cào cào xanh, nhìn chúng ông cảm thấy vui vui và xao xuyến trong lòng. Cô bé không biết đã bỏ biết bao nhiêu công sức, tình thương yêu gói trọn vào đó để dành cho cha. Nghĩ tới đó tim ông như thắt lại
Đây là lần đầu và cũng là lần cuối ông gặp mặt vợ con. Kể từ ngày thăm nuôi cho tới mấy năm sau này, ông không hề nhận được bất cứ tin tức gì về gia đình. Lòng ông như rối bời, tâm tính như mất trí, thân xác kiệt quệ. Mấy lần ông đã ngã qụy, tưởng không thể sống nổi, may nhờ bạn bè an ủi, giúp đỡ về vật chất cũng như tinh thần , ông đã qua khỏi.
Cuộc sống tù đầy cứ như thế: Chịu đựng, đau khổ, đói khát. Cho tới cuối năm 1981 ông được thả về.
Ra khỏi tù , ông không còn nơi nương tựa. Theo chòm xóm cho biết : Vợ con ông đã vượt biên năm 1976. Gia đình bên vợ thì đã bán nhà dọn đi nơi khác, không biết biệt tích nơi đâu. Còn bên ông thì không có ai cả, vì ông vô Nam chỉ có một mình khi ông mới mười hai tuổi. Thế là hết ! không biết đâu mà mò.
Điều làm ông lo âu nhất, là vợ con ông có thật sự đi vượt biên không, hay là tin đồn nhảm?! Nếu đúng như vậy, liệu có thoát không? Hay là đã bị…..ông không dám nghĩ tiếp. Nếu thoát, tại sao không gửi thư về để cho ông biết tin Những câu hỏi tại sao ?….tại sao?…làm cho ông điên đầu. Hiện giờ ông mù tịt, và cũng không hiểu vì sao.?!
Ra khỏi nhà tù nhỏ, ông lại vô nhà tù lớn. Cũng lao động thân xác để kiếm miếng ăn, cũng phải học tập, trình diện hàng tháng. Người ông càng ngày càng tiều tụy, nhưng ông phải ráng sống để có ngày gặp lại mặt vợ con
May mắn nhờ một người bạn tù cùng chung một tổ trong trại tù, đưa ông về nhà cho tá túc qua ngày, cùng chỉ ông cách thức vá giầy, dép cũ. Cuộc sống của ông cũng tạm đủ.
Dạo này trời Sài Gòn hay đổ những cơn mưa bất tử, làm ông Sinh dọn hàng ra, vô muốn bở hơi tai. Hai năm sau này công việc làm ăn của ông đâm khá ra. Giầy dép cũ mới, chôm chỉa gì ông cũng mua tuốt luốt, đem sửa chút ít, dánh bóng lại bán được gía cao.
Một người khách đi đến gian hàng ông. Ngắm nghía lựa một đôi, sỏ vừa chân, cầm lên hỏi :
“Bác , Đôi này bao nhêu?”
Đang cúi lau giầy, ông vội vàng ngửng đầu lên định trả lời. Nhưng thấy người khách ông bỡ ngỡ, cảm thấy rất quen nên chưa kịp đáp. Người thanh niên thấy mặt ông cũng giật mình lùi lại, trơn mắt như gặp phải ma. Cậu ta định thần nhìn kỹ. Vội hỏi :
“Xin lỗi, xin lỗi. Bác có phải…..phải tên Sinh không?”.
Cũng vừa kịp lúc ông Sinh nhận ra người khách lạ, chẳng ai khác hơn chính là cậu em vợ của mình. Như bắt được vàng. Ông Sinh rối rít dọn hàng không bán nữa.
Hai anh em kiếm một quán cà phê ngồi tâm sự.
Thì ra vợ con ông đi vượt biên thực sự, hiện định cư ở Mỹ. Vợ ông đã có chồng khác và đã có hai con, một trai, một gái. Cha mẹ vợ đã bán nhà ở thành phố, dọn về quê ở. Mấy năm nay ông bà vẫn đều đặn nhân được tiền bạc do con gái chu cấp hàng tháng, và hiện cậu em trai vẫn còn ở với cha mẹ. Không hiểu vì lý do gì, cố ý hay có uẩn khúc gì khác, ông bà lại báo với con gái là ông đã chết trong trại tù.
Ngay ngày hôm sau. Ông Sinh cùng cậu em vợ vội đáp xe đò về thăm gia đình vợ. Chuyến thăm này đã khiến ông Sinh nhận nhiều sự đắng cay tủi nhục. Sự ơ hờ, tiếp đón tẻ nhạt đã làm ông thất vọng. Ông không có địa chỉ cũng như không có tin tức gì về vợ con. Ông chỉ biết đạì khái là : Vợ ông không muốn cho ông biết nơi ở của nàng. Chuyện ông bị chết là do công an tới nhà báo tin.
Nhưng nhờ vào lòng tốt của cậu em vợ, cuối cùng ông cũng có được địa chỉ của vợ con trong tay. Nhưng làm được gì với địa chỉ này ? Đối với vợ, ông có lỗi với nàng chứ không phải nàng có lỗi với ông. Ở vậy chờ chồng nuôi con là việc tốt, nếu không thì đành phải chấp nhận, không thể oán trách. Nhưng với con, ông phải có bổn phận và trách nhiệm. Ông nhớ cô bé vô cùng không kể xiết.
Ông đã viết thơ nhiều lần, nhưng chẳng bao giờ được hồi âm. Lại mu tin, mù tịt. Đầu óc ông rối rắm tơ vò. Con ông ra sao rồi ?!
Sau đó chương trình HO được cứu xét, đưa các sĩ quan tù nhân cải-tạo qua Mỹ. Ông sung sướng bán tín, bán nghi. Nhưng sự thật đã đến. Giờ đây ông đã ngồi trên máy bay đến Mỹ theo diện HO.8. Việc đầu tiên của ông dự định là sau khi lo thủ tục giấy tờ xong, ông sẽ đi tìm vợ con.
Đứng trước cánh cổng sắt của căn nhà sang trọng, trong một thành phố thuộc tiểu bang Illonois. Ông Sinh lưỡng lự không dám bấm chuông, lòng ông hồi hộp, tim đập loạn xạ.. Ông đang tưởng tượng hình dáng vợ mình bây giờ thế nào? Con mình đã lớn khôn ra sao? Cô bé giờ đã hai mươi mốt tuổi rồi còn gì, không biết ông có còn nhận ra không?!
Rồi ông tự hỏi có nên vào hay không ? Gia đình người ta đang hạnh phúc, mình vào có đúng lúc không?! Đang lúc suy nghĩ miên man. Chợt ông thấy một thiếu phụ từ trong nhà đi ra, tay cầm bình tưới cây nhỏ, tưới vào những chậu hoa trước cửa. Ông không thể nhầm được, đó chính là vợ mình dù thời gian có thay đổi. Ông tính rướn người lên gọi nhưng kịp ngừng lại.Một người đàn ông tóc vàng từ bên hông nhà đi tới, đến sau lưng người thiếu phụ ôm choàng lấy nàng, hai người hôn nhau thắm thiết. Ông lặng người tê tái, quay gót bỏ đi.
Về quán trọ, ông viết vội vài chữ gửi cho vợ, hẹn nàng cho ông gặp mặt dù chỉ một vài phút. Ngồi trước mặt vợ, ông nhận thấy nàng rất đẹp, đẹp hơn trước nhiều, nhưng cũng không đấu được nhiều nếp nhăn trên trán khóe mắt, vành môi.
Để phá tan bầu không khí ngỡ ngàng. Ông Sinh khen vợ:
“Em. Trông em đẹp lắm !”.
“Cám ơn anh. Anh qua đây từ bao giờ? Trông anh già và ốm yếu quá ! Anh có cần sự giúp đỡ gì không? Chồng em quen biết rất nhiều.”
Ông Sinh thấy nàng tự nhiên quá, không có nét xúc cảm nào lộ trên khuôn mặt. Ông cũng bình thản.
“Cám ơn em. Anh, chữ nghĩa tiếng Anh, tiếng u còn kém lắm, vả lại mới qua chưa cần gấp. Anh muốn gặp con, nó dạo này thế nào rồi ?”.
Không trả lời vội. Nàng đẩy ly cà phê sữa tới trước mặt ông:
“Cà phê Starbuck này ở Mỹ có tiếng lắm. Em còn nhớ anh thích uống cà phê nên em kêu. Còn con hả, em cũng muốn mong gặp nó đây. Mấy năm nay nó chẳng hề ghé thăm mẹ. Lâu lâu gọi phôn lấy lệ”.
Ông Sinh nhỏm dậy:
“Em đã làm gì nó? Bây giờ nó ở đâu? Cho anh xin số phôn và địa chỉ của nó!
“Nào em biết. Nó không muốn cho em biết bất cứ điều gì.”
Ông Sinh như chết điếng :
“Em nói thật đó chứ?!”.
“Em không dối gạt anh. Dù chúng ta không còn là vợ chồng. Nhưng đối với con em rất mực thương yêu. Có anh đây em rất mừng, anh sẽ lo cho nó. Nó là đứa con rất có hiếu. Sự việc không hay xẩy ra, hoàn toàn do lỗi tại em. Anh đi tìm con dùm em.Cho anh biết thêm là hiện nay nó đang học nghành y-khoa, sắp ra trường. Anh cứ đi hỏi mấy trường đại học xem sao! Em đã dò hỏi khắp mọi nơi rồi, nhưng vẫn biệt vô âm tín. Anh mới qua chắc cần tiền bạc, em giúp.”
Vừa nói, nàng vừa mở bóp lấy cuốn chi phiếu.
Ông Sinh nghe vợ nói một hồi như lùng bùng lỗ tai. Không cần nghe thêm, ông xô ghế đứng dậy.
Nhờ những người quen biết chỉ dẫn. Ông Sinh đăng tin tìm người trên báo chí cả Mỹ lẫn Việt, cùng phôn tới tất cả các trường đại học xa gần, vẫn không có kết quả. Ở nước Mỹ to lớn này gồm năm mươi tiểu bang, có biết bao nhiêu trường đại học mà kể, tìm người như tìm kim đáy biển, biết đâu mà mò. Rồi ông lại suy nghĩ vớ vẩn, nhỡ con bé tự tử. Nghĩ tới, nghĩ lui làm ông rối trí thêm. Cuối cùng ông đành buông xuôi cho số phận thời gian.
Để mưu sinh và cũng để tạo cơ hội tìm kiếm, ông ghi danh đi học khóa đào tạo y công, phụ giúp trong các bệnh viện, hầu hy vọng có một ngày nào đó gặp được con mình.
Thời gian cứ thế trôi qua. Ông đã phục vụ rất nhiều bệnh viện trong tiểu bang California này mấy năm rối, cũng thăm hỏi nhiều rồi, sự hy vọng của ông càng ngày càng giảm, hầu như tuyệt vọng.
Niềm vui thú duy nhất của ông hiện thời là mấy con cào cào xanh, mà ông cất rất kỹ từ khi thăm nuôi tới giờ, dù chúng đã khô héo quắt queo. Mỗi khi nhớ con ông lại mang ra ngắm nghía, tâm hồn ông lúc đó hoàn toàn chìm đắm trên khuôn mặt cuả bé Mai.
* * * * *
Jennifer Trần là một bác sĩ trẻ, đẹp, làm việc rất siêng năng, cần mẫn, hay giúp đỡ mọi người. Ai cần việc gì, khó khăn gì hay trong nhà cần chuyện gì, cần người thay thế, bác sĩ vui lòng giúp đở, dù đó là ngày nghỉ của mình.Bác sĩ đã có vị hôn phu cùng phục vụ trong cùng một bệnh viện. Hai người tính làm đám cưới lâu rồi, nhưng không hiểu vì sao cứ lần này rồi lại lần khác, không thể thực hiện được. Bạn bè thúc giục, khuyên nhủ, nàng chỉ cười.. Tuy là người vui tính thích bong đùa, nhưng bác sĩ Trần vẫn không dấu được nét buồn của mình. Nét buồn đó càng làm tăng thêm vẻ đẹp dịu hiền, mà ai cũng gọi đùa là “nữ hoàng sầu muộn” Dù còn trẻ, nàng vẫn không thích nơi hội hè đình đám, những chỗ đông người, mà chỉ muốn sống cho riêng mình, nhưng đối với bạn hữu nàng cũng quậy ra trò.
Hôm nay ông Sinh nghỉ không đi làm. Ông rảnh rỗi cùng người bạn gìa đi thăm cháu gái của ông ta bị bệnh nằm trong bệnh viện. Tiện thể ông mang mấy con cào mà ông mới thắt đêm qua, cho cháu gái làm qùa.
Ngày chủ nhật, bệnh viện sao có qúa nhiều ca mổ! Bác sĩ Trần đã thấm mệt, mồ hôi rịn đầy trán. Nàng lấy khăn mui xoa chấm chấm mồ hôi, bây giờ nàng mới thực sự được rảnh tay.
Bác sĩ Trần đi qua dẫy phòng khoa nhi để đến phòng ăn, vì từ sáng đén giờ nàng chưa có cái gì vào bụng. Những tiếng cười khanh khách của một bé gái nào đó vang lên từ phòng khoa nhi. Cảm thấy vui vui nàng ghé lại nhìn thử.Một bé gái, nằm quay mặt vào phía trong, hình như đang giỡn với vật gì đó, làm cho cô bé khoái chí cười nắc nẻ. Tính tò mò thúc đẩy, nàng rón rén lại gần, nhìn vào phía trong.. Bất gíác nàng run người lên , mắt mở trợn trừng. Cô bé dang cho hai con cào cào xanh đá nhau, hai con cào cào được thắt bằng lá dừa xanh , trông thật là đẹp. Nàng run run cầm lên mân mê. Hỏi :
“Ở đâu bé có hai con cào cào này?”.
Như sợ bị la mắng, chơi đồ chơi trong phòng bệnh. Cô bé phân bua :
“Không phải của con mua, mà của ông gìa lúc nẫy cho con”.
Bác sĩ Trần không kềm được xúc động , hỏi dồn:
“Bao lâu rồi ? Ông đi đâu ?”.
Cô bé hốt hoảng :
“Dạ…dạ, con cũng hổng biết. Đã lâu rồi!”
Bác sĩ Trần hốt hoảng bước ra khỏi phòng, dáo dác nhìn quanh. Mặc kệ cho bụng đói, nàng chạy từ phòng nọ qua phòng kia, từ dẫy nọ qua dẫy kia để tìm kiếm. Trước sự lạ lùng đó, mọi nhân viên trong bệnh viện đều vây lại hỏi thăm, Nàng hỏi bâng quơ :
“Có ai thấy ông gìa nào đó trong bệnh viện không?”
Trước câu hỏi ngây ngô đó, mọi người đều không nín được cười, nhưng không ai dám cười trước vẻ nghiêm trọng của bác sĩ Trần.
Trong bệnh viện này, biết bao nhiêu ông gìa, bà cả đi thăm con cháu, người thân. Cảm thấy câu hỏi của mình qúa ngớ ngẩn, nàng cười gượng :
“Thôi. Không có gì, cám ơn các bạn.”
Tuy nói vậy nhưng trong lòng nàng vẫn không yên, tự nghĩ: ”Chỉ có cha mình mới thắt kiểu đó, nhưng ông đã chết rồi mà! Chẳng lẽ vì quá nhớ cha mà đâm ra mê sảng ?.!”
Thôi đi ăn cơm!.
Bác sĩ Trần, chính là bé Mai. Từ khi theo mẹ đi thăm nuôi cha, trở về nhà, không ngày nào bé không nghĩ đến cha của mình. Ngày vượt biển ra đi, bé nhất định không chịu , đợi ngày cha trở về đi cùng. Vì sự hăm dọa của ông bà ngoại cùng những lời khuyên giải của mẹ, bé đành chịu phép. Sang đến Mỹ bé nhất định phải học giỏi để có tiền gửi cho bà ngọại đi thăm nuôi cha đều đều. Bé sẽ nhẩy cao, sẽ cứng cáp như những con cào cào xanh mà cha đã từng nói.
Cuộc vượt biên êm xuôi. Sau hơn một năm ở trên đảo, bé cùng mẹ được định cư tại Hoa-Kỳ. Dòng đời đưa đẩy, mẹ lấy chồng khác, một anh chàng Mỹ giầu có. Cô bé có thêm hai đứa em gái.
Giờ đây, bé Mai đã mười chín tuổi, cái tuổi bước vô ngưỡng cửa đại học. Càng lớn nàng càng giống cha. Đã nhiều lần nàng biên thư và gửi tiền cho ngoại để hỏi thăm tin tức, cùng sức khỏe của cha trong trại tù, nhưng không ai trả lời. Có hỏi mẹ, chỉ được biết :
“Cha con đã chuyển đi ra ngoài Bắc rồi. Bà ngoại đã già không thể đi được.”
Nói sao nàng tin vậy. Mỗi lần nhớ ông, nàng lại mang hình hai cha con ra ngắm. Tấm hình nàng đã mang theo khi đi vượt biên.
Sống chung đụng trong cùng một mái nhà. Điều làm cho nàng ghê tởm, xấu xa, bỉ ổi nhất là anh chàng Mỹ kia cứ nhởn nhơ mặc quần lót đi trong phòng khách. Có lần hắn đã dám xàm xở ôm nàng xờ xoạng khi không có mẹ ở nhà. Từ đó nàng đã bỏ nhà đi sang tiểu bang khác, chỉ biết học và làm việc tự lo cho bản thân, lâu lâu hỏi thăm mẹ qua điện thoại công cộng.
Vào một ngày, khi điện thoại về thăm mẹ, được bà báo cho biết:
Cha đã chết trong tù!
Mọi vật như xụp đổ. Nguồn hy vọng bám víu cuối cùng cũng không còn. Thế là hết!
Nàng đã khóc đến khô cả nước mắt, cuộc sống như tẻ nhạt, chán chường không còn tha thiết gì nữa! Nàng chỉ biết vùi đầu vào sách vở cho quên nỗi buồn, và phải chiến đấu, chiến đấu, cứng cáp như những con cào cào xanh mà cha nàng khi còn sống hằng mong mỏi. Cuối cùng nàng cũng lấy được mảnh bằng chuyên khoa giải phẩu.
Qua tin tức báo chí. Bác sĩ Trần được biết các sĩ quan tù cải tạo được chính phủ Mỹ cứu xét cho định cư tại Hoa kỳ theo chương tình HO.Không hiểu sao nàng hồi hộp lạ thường.
Rồi quyết định bỏ miền đông tuyết phủ, trở về với nắng ấm Cali.
Hôm nay là ngày lễ Thanksgiving day, nàng muốn đi ra biển. Không phải để tắm hay hóng gió mà nàng muốn làm một công việc, công việc này nàng đã dự tính từ lâu nhưng vì qúa bận rộn nên không thể thực hiện được. Nhân ngày lễ tạ ơn nàng phải làm điều gì để nhớ ơn cha. Nàng sẽ thắt thật nhiều, thật nhiều con cào cào thả xuống biển, để chúng mang lời cầu nguyện của nàng đến người cha thân yêu.
Nàng tin tưởng rằng ở nơi xa xăm vĩnh cửu nào đó cha nàng sẽ nhận được lời khấn nguyện này.
Nàng rủ bác sĩ Hải (vị hôn phu) cùng đi chơi biển. Chàng rất thích thú lẫn ngạc nhiên về lời yêu cầu này, khác với bản tính trầm lặng không thích nơi ồn ào của nàng từ trưóc đén giờ, bèn okay chấp nhận liền.
Trong khi chờ đợi vị hôn phu đi mua thức ăn. Nàng dã kiếm đựợc khá nhiều lá dừa xanh, cẩn thận chau chuốt tước từng lá và bắt đầu thắt những con cào cào.Nàng để hết tâm trí vào công việc, chìm đắm trong niềm thương nhớ cha.
Ngoài kia. Sau khi đã mua thức ăn, trên đường trở về chỗ cũ nơi bãi biển, chàng thấy một đám con nít đang vây chung quanh một cụ già Việt-Nam, trên tay đứa nào cũng cầm một con cào cào, thấy hay hay chàng cũng xin một con.
Vừa đi vừa ngắm con cào cào, chàng cảm thấy nó rất đẹp và còn có vẻ oai phong nữa. Chàng sẽ cho vị hôn thê, chắc nàng sẽ thích thú lắm! Về đến nơi. Thật, chàng không thể tin vào mắt mình, nàng cũng đang thắt…..con cào cào.
“Em đang làm gì vậy.”
“Thắt con cào cào.”
Chàng cầm con cào cào mới xin được, vẫy vẫy trước mặt nàng.
“Anh cũng có một con.”
Nhìn con cào cào, mặt nàng tái mét, hỏi dồn:
“Ở đâu anh có nó?”
Chàng chỉ về hướng đám trẻ:
“Một cụ già Việt-nam cho anh.”
Chẳng nói chẳng rằng, nàng nắm tay chàng chạy như bay về hướng chỉ. Một ông già, tóc bạc qúa nửa. đeo cặp kiếng lão, Hai tay đang thoăn thoắt thắt những con cào cào. Dù thời gian, tuổi tác có thay đổi, nhưng với hình dáng kia, nét mặt kia đã in sâu vào tâm khảm, nàng không thể nhầm được, chính là cha nàng. Quá xúc động, nàng ngất xỉu.
Sự việc xẩy ra quá đột ngột, bác sĩ Hải hoảng hốt la cầu cứu. Ông Sinh (vâng, chính ông Sinh) ở vị trí gần nhất nghe tiếng hét vội vàng nhào tới. Ông vội thọc tay vào túi quần lấy lọ dầu xanh thoa lên hai thái dương cô gái, giựt tóc mai, giựt gân cổ. Bỗng người ông run lẩy bẩy, tim như muốn ngừng đập, khi ông thấy nốt ruồi son trên cổ cô gái, trên tay cô còn nắm chặt con cào cào. Như có linh tính, ông định thần nhìn kỹ khuôn mặt thiếu nữ. Ông gào lên trong tiếng nức nở, nghẹn ngào:
“Trời ơi! Mai….Mai, con tôi.”
Cũng vừa lúc xe cứu thương tới nơi, đưa bệnh nhân lên xe. Ông Sinh, bác sĩ Hải cũng vội vàng leo lên theo. Cầm tay con gái, lòng ông Sinh bồi hồi xúc động, ông không nghờ gặp con trong hoàn cảnh này. Hai hàng nước mắt ngắn, dài chẩy trên hai gò má nhăn nheo. Nhưng ông cảm thấy sung sướng và ấm áp vô cùng.
* * * * *
Tin bác sĩ Trần thị Mai gặp lại được cha già sau hai mươi năm xa cách đã loan truyền khắp trong bệnh viện, một vụ trùng phùng đầy đau thương, thích thú, khiến ai cũng mủi lòng.
Hôm nay nhà bác sĩ Mai thật đông đảo khách tới thăm, bạn bè, thân hữu nghe tin mang hoa tới chúc mừng. Trong mấy năm qua , bây giờ mọi người mới thấy được nét tươi vui, rạng rỡ thực sự trên khuôn mặt u sầu của vị bác sĩ mà họ mến yêu. Nhưng người sung sướng nhất vẫn là bác sĩ Hải.
Dương Thịnh 

Không Quên Bạn Tù

Không Quên Ðồng Bào Ðau Khổ

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Chiến Tranh VN: Hoa Kỳ đi đêm với Trung Quốc

Chiến Tranh VN: Hoa Kỳ đi đêm với Trung Quốc

                                                                                                 
Lê Quế Lâm
Chiến tranh Việt Nam
Ngày 27 tháng Giêng vừa qua, kỷ niệm 42 năm ngày Hiệp định Paris ra đời. Nói đến chiến tranh VN, phải nói đến việc kết thúc chiến tranh, nó được diễn tiến ra sao và kết cuộc là “Hiệp định về Chấm dứt Chiến tranh, Lập lại Hòa bình ở Việt Nam” (Agreement on Ending the War and Restoring Peace in Vietnam) được ký kết tại Paris ngày 27/Giêng/1973, gọi tắt là HĐ Paris 1973.
Trước 1975 và đến nay, đại đa số đồng bào không biết gì nhiều về hiệp định nầy, vì chính quyền hai miền Nam Bắc đều không muốn thi hành, nên giấu giếm không công bố cho quốc dân biết, đôi khi còn xuyên tạc sự thật. Sàigòn cho rằng Kissinger đi đêm với Chu Ân Lai và HĐ Paris 1973 là văn kiện bán đứng MN cho CS. Còn Hà Nội lên án TQ cấu kết với HK phản bội nhân dân VN…Trong khi lời mở đầu của hiệp định nói rõ”Nhằm mục đích chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở VN trên cơ sở tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân VN và quyền tự quyết của nhân dân MNVN, góp phần củng cố hòa bình ở Châu Á và thế giới”.
Chính vì HĐ Paris 1973 không được những người lãnh đạo VN thi hành mà ngày nay sự toàn vẹn lãnh thổ đã bị sứt mẽ. Nhân dân MN nói riêng và nhân dân VN nói chung cũng chưa được hưởng quyền tự quyết, tự quyết định tương lai chính trị của đất nước thông qua tuyển cử thực sự tự do và dân chủ. Các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị… đến nay nhân dân vẫn chưa được hưởng. Hòa bình ở châu Á thì luôn ở trong tình trạng mất ổn định. Sau 1975 là chiến tranh ở biên giới Tây Nam và phía Bắc kéo dài đến năm 1989. Tiếp theo là sự mất ổn định ở Biển Đông kéo dài đến nay.
image001-305.jpg

Hiệp Định Paris 1973 được thỏa hiệp tại Bắc Kinh, chứ không phải tại Paris. Từ trái: Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Henry Kissinger, Thủ Tướng Chu Ân Lai, và Chủ Tịch Mao Trạch Đông, Bắc Kinh, 1972
Nhân kỷ niệm ngày ký HĐ Paris 1973, người viết xin ghi lại nội dung hiệp định này. HĐ Paris 1973 gồm có 9 chương với 23 điều khoản. Ngoài chương II Chấm dứt chiến sứ, rút quân. Chương III Việc trao trả tù binh. Chương VI Các ban Liên hợp quân sự. Chương VII Đối với Campuchia và Lào. Chương IX Điều khoản chung. HĐ Paris 1973 chỉ có 4 Chương sau đây là quan trọng.
alt

Chương I, chỉ có điều 1: “HK và các nước  khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước VN như HĐ Genève năm 1954 về VN đã công nhận”.
Chương IV: Việc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân MNVN. Có 2 điều khoản quan trọng. Điều 9: “Quyền tự quyết của nhân dân MNVN là thiêng liêng bất khả xâm phạm và phải được tất cả các nước tôn trọng. Nhân dân MNVN tự quyết định tương lai chính trị của MNVN thông qua tuyển cử thực sự tự do và dân chủ có giám sát quốc tế”. Và Điều 11: “Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh”
Chương V: Vấn đề thống nhất nước VN và vấn đề quan hệ giữa miền Bắc và miền Nam VN, chỉ có Điều 15: “Việc thống nhất nước VN sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình trên cơ sở bàn bạc và thỏa thuận giữa miền Bắc và Nam VN, không bên nào cưỡng ép hoặc thôn tính bên nào. Thời gian thống nhất sẽ do miền Bắc và miền Nam VN thỏa thuận”.
Chương VIII Quan hệ VNDCCH và HK. Điều 21: “HK mong rằng hiệp định nầy sẽ mang lại một thời kỳ hòa giải với VNDCCH cũng như với tất cả dân tộc ở Đông Dương. Theo chính sách truyền thống của mình, HK sẽ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh ở VNDCCH và toàn Đông Dương”. Và Điều 22 “Việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở VN và việc thực hiện triệt để Hiệp định nầy sẽ tạo điều kiện thiết lập quan hệ mới, bình đẳng và có lợi giữa VNDCCH và HK, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Đồng thời những việc đó sẽ bảo đảm hòa bình vững chắc ở VN và góp phần giữ gìn hòa bình lâu dài ở Đông Dương và ĐNÁ”.
Tháng sau, một Hội nghị Quốc tế về VN được triệu tập tại Paris từ ngày 28/2 đến 2/3. Thành phần tham dự gồm có: -Bốn bên ký tên trong HĐ Paris 1973 là Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam Cộng Hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam. -Bốn nước thuộc Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát là Ba Lan, Hung Gia Lợi, Nam Dương và Gia Nã Đại. – Tổng Thư Ký LHQ và -Bốn thành viên thường trực Hội đồng Bảo An là Anh, Pháp, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Liên Sô. Sau 3 ngày thảo luận, Bộ trưởng Ngoại giao 12 nước kể trên cùng ông TTK/LHQ đã long trọng ký kết bản Định ước của Hội nghị Quốc tế về Việt Nam.Bản văn gồm 9 điểm, trong có những điều khoản quan trọng sau:
Điều 1: “Các bên ký kết Định ước nầy long trọng ghi nhận, tuyên bố tán thành và ủng hộ hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở VN”.
Điều 2: “Hiệp định đáp ứng các nguyện vọng và các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân VN là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước VN, quyền tự quyết của nhân dân miền Nam VN và đáp ứng nguyện vọng tha thiết về hòa bình của tất cả các nước trên thế giới. Hiệp định phải được tôn trọng và phải được thi hành nghiêm chỉnh”.
-Điều 3: “Các bên ký kết Định ước nầy trịnh trọng ghi nhận những cam kết của các bên ký kết hiệp định là tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh hiệp định”.
Tóm lược diễn tiến chiến tranh VN: Năm 1960 CS Miền Bắc phát động cuộc chiến giải phóng MN, từ đó họ gởi người và vũ khí xâm nhập miền Nam. Đến tháng 3/1965 HK bắt đầu trực tiếp can dự vào chiến tranh, TT Johnson xử dụng hai gọng kềm: dội bom miền Bắc và đưa quân vào miền Nam để áp lực Hà Nội ngồi vào bàn đàm phán, giải quyết cuộc chiến bằng con đường hòa bình. HK đã đạt được mục tiêu: ngày 13/5/1968, cuộc đàm phán giữa HK và VNDCCH đã mở ra ở Paris. Hoàn thành nhiệm vụ, TT Johnson tuyên bố không tái ứng cử nhiệm kỳ 2. Cuối tháng Mười 1968, ông ra lịnh ngưng hoàn toàn việc dội bom miền Bắc và mời VNCH và MTGPMN cử phái đoàn đến Paris tham dự hội nghị hòa bình.
TT Nguyễn Văn Thiệu khước từ nói chuyện với MTGPNM, ông cho đó là con đẻ của Cộng sản Bắc Việt, Sài Gòn chỉ nói chuyện trực tiếp với Hà Nội. Vì VNCH khước từ tham dự hội nghị Paris, khiến kế hoạch hòa bình của TT Johnson thất bại, ứng cử viên Đảng Dân chủ là Phó TT Humphrey thất cử trong cuộc bầu cử tổng thống hồi tháng 11/1968. Tháng Giêng năm 1969,TT Nixon nhậm chức, ông tuyên bố sẽ chấm dứt chiến tranh VN trong nhiệm kỳ của ông. TT Thiệu chấp nhận gởi phái đoàn VNCH tham dự đàm phán. Ngày 25/1/1969, Hội nghị bốn bên ỏ Paris chính thức khai mạc giữa Mỹ – VNDCCH và hai bên Miền Nam Việt Nam: VNCH – MTGPMN.
Từ giữa tháng 5/1969, tại bàn đàm phán phái đoàn Mỹ và phái đoàn MTGPMN do Trần Bửu Kiếm đứng đầu, đã đạt được sự thỏa thuận làm nền tảng giải quyết chiến tranh: công việc nội bộ miền Nam sẽ do nhân dân miền Nam giải quyết, không có sự can thiệp của bên ngoài. HK và CSBV sẽ chấm dứt sự can dự ở MNVN. Hai tháng sau tại đảo Guam, TT Nixon tuyên bố Mỹ bắt đầu rút quân khỏi miền Nam VN, tuần tự theo một lịch trình sắp sẳn.
Đến giữa năm 1971, quân số HK ở VN đã giảm đi hơn phân nửa, chỉ còn khoảng 200 ngàn quân, trong khi cuộc chiến vẫn tiếp diễn ác liệt. Còn đàm phán hòa bình ở Paris vẫn dậm chân tại chỗ. Không có chỉ dấu nào cho thấy chiến tranh VN sẽ chấm dứt, trong khi ở Mỹ chuẩn bị bầu cử tổng thống và quốc hội vào đầu tháng 11/1972. Trong thời gian 16 tháng tới, TT Nixon làm cách nào để có thể chấm dứt chiến tranh VN như đã hứa khi nhậm chức.
Buổi tối 15/7/1971, TT Nixon xuất hiện trên đài truyền hình chỉ trong 6 phút loan báo một tin mà báo chí lúc bấy giờ cho là “một loan báo làm chấn động thế giới”. Ông nói “Như tôi đã nhiều lần chỉ ra trong 3 năm qua, không thể có hòa bình ổn định và lâu dài mà không có sự tham gia của Trung Quốc cùng 750 triệu dân nước này. Đó là lý do tôi đã tiến hành một số sáng kiến để mở cửa cho những quan hệ bình thường hơn nữa giữa hai nước. Tôi đã phái TS Kissinger, phụ tá an ninh quốc gia của tôi, sang Bắc Kinh nhân chuyến công du thế giới của ông, nhằm hội đàm với thủ tướng Chu Ân Lai và thủ tướng TQ đã ngỏ lời mời tôi sang thăm TQ vào một thời điểm thích hợp trước tháng 5/1972”.
Đó là thành quả của hành động đi đêm giữa HK và TQ diễn ra trước đó. Đầu tháng 4/1971, Đội tuyển bóng bàn TQ tham gia thi đấu giải Vô địch Bóng bàn thế giới lần thứ 31 tại Nhật. Trong một cuộc gặp gỡ tình cờ với một thành viên trong đoàn tuyển thủ TQ, một tuyển thủ bóng bàn Mỹ bày tỏ mong muốn đến Bắc Kinh thi đấu. Tín hiệu này được chuyển ngay về Bắc Kinh và được sự tán đồng tức khắc của TT Chu Ân Lai. Ngày 10/4/1971, 9 tuyển thủ bóng bàn Mỹ cùng 4 viên chức và hai người vợ và 10 nhà báo tháp tùng đã từ Hồng Kông tiến vào đại lục TQ, mở ra thời đại “ngoại giao Bóng bàn”. Ngày 27/4/1971 Đại sứ Pakistan tại Mỹ trao cho TS Kissinger một thông điệp của TT Chu Ân Lai: “Chính phủ TQ xác nhận lại sự sẳn sàng đón tiếp công khai ở Bắc Kinh một phái viên đặc biệt của tổng thống Mỹ, hoặc ngoại trưởng hoặc thậm chí bản thân tổng thống Mỹ”.
Cuối tháng 6/1971, Tùy viên Báo chí Tòa Bạch ốc cho biết từ ngày 2/7/1971 Ts Kissinger sẽ viếng thăm Nam VN, Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan và đến Paris gặp đại sứ Mỹ ở Pháp. Đúng theo lịch trình, ngày 8/7/1971 Kissinger đến Pakistan. Tại đây ông cáo bịnh và đến dinh thự nghỉ mát của tổng thống Pakistan Yahya Khan để nghỉ ngơi. Thực ra, ông lên phi cơ Pakistan đi TQ. Ngày 11/7/ 1971, Kissinger gặp TT Chu Ân Lai lần đầu tiên. Hai bên đã đàm đạo suốt 7 giờ liền để biết được các mục đích yêu cầu của nhau. Từ đó, thông qua trạm liên lạc bí mật ở Pakistan, hai bên đã sắp xếp cho chuyến công du của TT Nixon đến Bắc Kinh ngày 21/2/1972. Đó là thời gian thích hợp như gợi ý của TT Chu Ân Lai. Có lẽ vì tháng 5/1972 Nixon có cuộc họp thượng đỉnh với Brezhnev tại Moscow.
Ngày 31/12/1971, một tháng rưỡi trước khi đi TQ, TT Nixon đã gởi đến TT Thiệu lá thư đầu tiên để trấn an “Ngài có thể tuyệt đối yên tâm rằng tôi sẽ không làm một thỏa hiệp nào tại Bắc Kinh có hại cho các quốc gia khác hoặc về những vấn đề liên quan đến các quốc gia khác. Giả sử vấn đề chiến tranh VN có được nêu lên ở BK, tôi xin cam đoan với Ngài rằng tôi sẽ đưa ra lập trường của HK và VNCH một cách minh bạch và mạnh mẽ là cuộc chiến tại VN phải được kết thúc bằng những cuộc thương lượng trực tiếp với Hà Nội…Riêng về chuyến viếng thăm của tôi tại Moscow vào tháng 5/1972, tôi muốn nói rõ là HK không hề có một ý định dàn xếp qua mặt những nước bạn và đồng minh của mình trong bất cứ vấn đề nào liên quan đến an ninh của họ”.
Sau chuyến công du TQ, ngày 5/3/1972 TT Nixon báo cho TT Thiệu biết “Chúng tôi đã không thương lượng điều gì đằng sau lưng những người bạn của HK, đã  không có sự đổi chác bí mật nào..Xin Ngài tin tưởng rằng Ngài sẽ tiếp tục nhận được sự cảm thông, ủng hộ và trợ giúp vật chất của HK trong lúc nhân dân miền Nam đang ra sức chống xâm lăng để được an ninh và xây dựng một nền hòa bình công chính và trường cửu”.
Ngày 25/1/1972, trước khi lên đường đi TQ, TT Nixon đưa ra đề nghị hòa bình toàn diện về quân sự lẫn chính trị gồm 8 điểm: -ngưng bắn toàn cỏi Đông Dương, -trao trả tù binh, -các lực lượng bên ngoài rút khỏi miền Nam VN, -tôn trọng HĐ Genève 1954 và HĐ Genève về Lào 1962, -tổ chức tổng tuyển cử trong vòng 6 tháng sau ngày ngưng bắn, -các phe phái tại Đông Dương tự hòa giải các vấn đề hiện có với nhau, -quốc tế giám sát việc ngưng bắn và -HK sẽ góp phần tái thiết ĐD với ngân khoản 7,5 tỉ đôla trong 5 năm, trong đó BV được 2,5 tỉ.
Ngày 21/2/1972 TT Nixon đến thăm BK trong một tuần lễ, được ông tả là tuần lễ “đã thay đổi cả thế giới”. Hai giờ sau khi Nixon đến BK, trái với chương sắp sẳn, Mao Trạch Đông muốn hội kiến ngay với vị lãnh đạo HK. Trong cuộc tiếp xúc đầu tiên với Mao, Nixon giải thích con đường mà ông đang thực hiện là để kiến tạo một nền hòa bình lâu dài và bền vững cho thế giới. Khi đề cập đến vấn đề: Nước nào trong hai siêu cường hạt nhân là nguy hiểm hơn. Mao trả lời “Hiện nay vấn đề xâm lược do Mỹ hay xâm lược do Trung Quốc là tương đối nhỏ vì các ông muốn rút một phần quân đội của các ông về đất mình, còn quân đội của chúng tôi thì không kéo ra nước ngoài“. Cho thấy Liên Sô là mối quan tâm của BK đối với nền an ninh thế giới. Nixon còn hỏi Mao: “Đối với TQ, sự xâm lăng từ Mỹ hay sự xâm lăng từ LS, nguy cơ nào là nghiêm trọng nhất?” Mao trả lời “Nguy cơ từ Liên Sô”. Thông cáo chung Thượng Hải kết thúc chuyến công du TQ của TT Nixon nêu rõ: “Cả hai đều không mưu cầu bá quyền và đều phản đối bất cứ nước nào hay tập đoàn nào cố gắng thiết lập bá quyền đó ở khu vực Á Châu”.
Chuyến công du BK của TT Nixon khiến giới lãnh đạo Hà Nội tin rằng Mỹ đã nhượng bộ TQ, trong khi khuynh hướng chủ hòa đang bao trùm dư luận Mỹ và lời hứa chấm dứt chiến tranh của TT Nixon nay đã đến…Vì thế đầu tháng 4/1972 Hà Nội phát động cuộc tổng tấn công mùa Hè 1972 để giành thắng lợi cuối cùng. Ngày 5/4/1972 Nixon lại gởi thư để trấn an TT Thiệu “Vào giờ phút đầy thử thách lớn lao này cho nhân dân VN, tôi xin Ngài biết cho là Ngài được sự ủng hộ trọn vẹn nhất của tôi với tư cách tổng thống HK và Tổng tư lịnh quân lực HK. Tôi xin cam đoan với Ngài rằng trong những tuần sắp tới chúng tôi sẽ không ngần ngại thi hành thêm bất cứ biện pháp quân sự nào cần thiết để yểm trợ cuộc tranh đấu mãnh liệt và dũng cảm hiện thời của quý quốc. Chúng ta không thể để cho cuộc xâm lăng được mở rộng và trắng trợn của Hà Nội tiếp diễn mà không bị trừng phạt”.
Ngày 26/4/1972, nói chuyện với dân chúng HK qua hệ thống truyền hình, TT Nixon lên án Hà Nội đưa 3 sư đoàn vượt qua khu quân sự ở vĩ tuyến 17 để tấn công VNCH. Hành động này đã vi phạm HĐ Genève mà BV đã ký hồi năm 1954 và vi phạm thỏa hiệp đã đạt được với TT Johnson năm 1968 khi HK ngưng ném bom MB để đổi lại việc Hà Nội hứa sẽ tôn trọng vùng phi quân sự. Nixon xác nhận là HK không bao giờ chủ trương xâm chiếm miền Bắc VN hoặc bất cứ một nước nào khác trên thế giới. HK đề ra giải pháp hòa bình danh dự cho cả đôi bên, trong đó hai miền Nam Bắc VN đều phải tôn trọng nền độc lập của nhau. Vì thế ông quyết định nối lại cuộc đàm phán ở Paris.
Cuộc đàm phán trở lại, nhưng thái độ của BV như lời mô tả của Kissinger là vô cùng hỗn xược và không thể chịu nổi khiến ông phải ngưng buổi họp ra về. BV vẫn tỏ ra cứng rắn trong những đòi hỏi ở bàn đàm phán, đồng thời tiến hành kế hoạch quân sự, bao vây An Lộc-cửa ngỏ phía bắc Sàigòn. Nixon ra lịnh thả mìn xuống các hải lộ đi vào các cảng ở BV nhằm ngăn chận việc tiếp liệu bằng đường biển của các nước CS giúp Hà Nội. Hành động này có thể làm tan vỡ cuộc họp thượng đỉnh với Breznhev vào cuối tháng 5/1972 để ký kết thỏa ước về “hạn chế vũ khí tấn công chiến lược” (SALT). TT Nixon tuyên bố: “Tôi thà làm tổng thống một nhiệm kỳ, còn hơn là tổng thống đầu tiên của HK bị bại trận”.
Khi ra lịnh phong tỏa, rải mìn các cảng ở BV ngày 8/5/1972, TT Nixon nhờ Đ/s Bunker chuyển đến TT Thiệu lá thư thông báo quyết định này. Ông viết: “Xứ sở Ngài cũng như xứ sở tôi không bao giờ bắt Hà Nội phải chịu một sự thất bại quân sự. Chúng tôi luôn luôn cố gắng chấm dứt cuộc xung đột qua ngỏ thương thuyết bằng cách nào để cho nhân dân MNVN còn được cơ hội quyết định tương lai mình mà không bị bên ngoài cưỡng ép hay can thiệp”. Nixon viết tiếp: “Một cuộc hòa giải bằng thương thuyết vẫn là đường lối chúng tôi ưa chuộng. Nhưng Hà Nội đã đưa ra cho chúng tôi những điều kiện tiên quyết tuyệt đối không thể chấp nhận được và sự thử thách quân sự của họ đối với Ngài và đồng minh của Ngài không cho phép một sự lựa chọn nào khác hơn là đáp ứng theo đường lối mà chúng ta sẽ làm”. Nixon cho biết thêm “Các hành động trên sẽ tiếp diễn cho đến khi nào có một cuộc ngưng bắn có quốc tế kiểm soát trên toàn cỏi Đông Dương và tù binh Mỹ được phóng thích. Khi các điều kiện trên đã được đáp ứng, HK sẽ ngưng mọi hành động vũ lực ở Đông Dương, và lực lượng Mỹ sẽ rút khỏi VN trong vòng 4 tháng”.  
Có thể nói đây là lời báo động của TT Nixon để TT Thiệu chuẩn bị ứng phó thích nghi với tình thế sắp tới. Chiến tranh VN sắp sửa chấm dứt, HK sẽ rút khỏi MN và chấm dứt mọi hành động quân sự ở Đông Dương. Chiến tranh đã chấm dứt, Quốc hội Mỹ sẽ không còn viện trợ quân sự ồ ạt cho VNCH nữa. Sự thật này đã đến. Ngày 18/10/1972, Ts Kissinger đến Sàigòn với lá thư của TT Nixon gởi TT Thiệu cùng bản dự thảo HĐ Paris để hai bên Việt Mỹ thảo luận. Sau 5 ngày tranh cãi gay gắt về bản dự thảo hiệp định Paris, VNCH đòi sửa đổi 23 điểm.
Ngày 23/10/1972 Kissinger rời Sàigòn và gởi điện báo cho Lê Đức Thọ biết là ông không thể đến Hà Nội phê chuẩn hiệp định như đã dự liệu vì Sàigòn đòi phải sửa đổi một số điểm trong bản dự thảo. Ông xin đình chỉ việc phê chuẩn để thảo luận tiếp sau ngày bầu cử tại Mỹ (7/11/1972). Nhưng đã trể, vì Hà Nội đã thông báo cho QK 5 CS và TƯC/MN hiệp định hòa bình sẽ được ký kết ngày 26/10. Trước đó, xế chiều ngày 25/10/1972, lực lượng Cảnh sát Quốc gia Quân khu 1 tịch thu được một mật điện của Bộ Tư lịnh Quân khu 5 cộng sản gởi Thị đội Tam Kỳ cho biết hiệp định ngưng bắn sẽ được ký kết ngày 26/10. Kèm theo mật điện là bản phương án lấn đất giành dân và sách động đồng bào xuống đường mừng hòa bình. Lợi dụng khí thế quần chúng, cán bộ CS hô hào đốt phá các cơ sở quân sự tiến tới cướp chính quyền.
Được báo cáo của tướng Ngô Quang Trưởng, tư lịnh Quân đoàn I, TT Thiệu chỉ thị Bộ TTM chuyển cấp tốc tài liệu đó về Sàigòn. Tuần lễ trước, khi đến Sàigòn tham khảo chính phủ VNCH về bản dự thảo hiệp định, Kissinger không đề cập gì đến việc ký kết. Nay TƯ Cục MN và Quân khu 5 -Miền Trung Trung Bộ, cán bộ CS đã biết rõ ngày ký và giờ ngưng bắn có hiệu lực để lợi dụng thời cơ đó chiếm ưu thế. Tại Củ Chi (Hậu Nghĩa), Hồng Ngự (Kiến Phong) và nhiều nơi khác, các đơn vị vũ trang CS tưởng có ngưng bắn thực sự nên nhào ra cắm cờ lấn đất giành dân, đã bị tổn thất nặng nề.
Để biện minh, chiều ngày 26/10 đài phát thanh Hà Nội công bố toàn văn bản dự thảo hiệp định bằng tiếng Việt, tiếng Pháp và tiếng Anh, với hai bức điện xác nhận sự thỏa thuận của TT Nixon. BV tố cáo HK lật lọng tráo trở vì Kissinger đã hứa đi Hà Nội phê chuẩn rồi lại sai hẹn. Hai giờ sau khi Hà Nội công bố bản văn Hiệp định, Kissinger mở cuộc họp báo ở Tòa Bạch Ốc. Ông thừa nhận hòa bình hiện đang ở tầm tay…hiệp định đang ở trong tầm mắt thấy…Kissinger cho biết chỉ còn một vài chi tiết nhỏ cần thảo luận thêm trước khi thỏa hiệp được ký kết.
HĐ Paris là kết quả của cuộc mật đàm giữa Kissinger và Lê Đức Thọ. Hai bên cam kết giữ kín cho đến khi công bố vì trong đó có đề cập đến ngày giờ ngưng bắn có hiệu lực thì lực lượng vũ trang hai bên miền Nam phải ở nguyên tại chỗ. Vì thế khi đến Sàigòn, Kissinger chỉ tham khảo với VNCH về nội dung bản dự thảo mà thôi. Nhưng Hà Nội luôn cho rằng TT Thiệu là tay sai của Mỹ, Mỹ quyết định gì thì Thiệu cũng thi hành. Vì thế Hà Nội tin chắc ngày 25/10/1972, hiệp định được phê chuẩn, và được thi hành ngày hôm sau. Qua đó, Kissinger đã mượn tay Hà Nội công bố cho nhân dân Mỹ biết hiệp định hòa bình ở VN đã hoàn thành. TT Nixon đã giữ đúng lời hứa, nhờ đó giúp ông chiến thắng “long trời lở đất” trong ngày bầu cử 7/11/1972. Quý bạn đọc muốn tìm hiểu thêm về bí ẩn lịch sử này, về HĐ Paris 1973 và thảm cảnh trong 50 ngày cuối cùng của VNCH xin vào google, gỏ mấy chữ lê quế lâm: lịch sử và nhân chứng.
Trong thời gian ở Sàigòn thảo luận bản dự thảo hiệp định, TT Thiệu đã buộc tội Kissinger đã thông đồng với Nga xô và Trung Cộng để bán đứng miền Nam VN. Kissinger biện minh: “Khi chúng tôi thảo luận với Sô Viết và TQ, là để làm áp lực với họ, để họ làm áp lực với Hà Nội. Giá như chúng tôi muốn bán đứng quý vị, thì đã có nhiều cách dễ dàng hơn để hoàn thành việc đó rồi”. Ý nghĩ Kissinger bán đứng MNVN càng mạnh mẽ hơn khi TT Thiệu nhận được tin tức về tài liệu vừa mới được tịch thu, khiến ông chống đối hiệp định càng quyết liệt.
Ba mươi năm sau, tài liệu về cuộc hội đàm Kissinger & Chu Ân Lai tại Bắc Kinh ngày 20/6/1972 được giải mật. Kissinger đã nói nguyên văn như sau: “Phải tách rời vấn đề quân sự với vấn đề chính trị. Bàn đến chính trị có nghĩa là duy trì chính quyền Sàigòn -một điều Hànội không chịu, hay lật đổ chính quyền Sàigòn -điều chúng tôi không chịu, và thực tế không có một giải pháp chính trị ở giữa. Vậy chúng tôi phải tìm con đường khác để chấm dứt chiến tranh. Chúng ta có thể biến cuộc tranh chấp quốc tế thành một cuộc tranh chấp địa phương –và ông thủ tướng nghĩ là có thể- thì đó là chính sách của chúng tôi. Trước hết để nó không biến thành một vấn đề quốc tế, và để cho người Đông Dương tự quyết định số phận của mình. Tôi cam đoan rằng quyền tự quyết là mục tiêu của HK ở Đông Dương và tôi tin TQ cũng muốn thế. Chúng tôi không muốn tranh giành gì tại đó. Và mặc dù chúng tôi không thể đưa một chính quyền CS lên nắm quyền lực, nhưng nếu nó xảy ra sau một thời gian nào đó, như là kết quả của một diễn biến lịch sử, và nếu như chúng tôi có thể chấp nhận một chính quyền CS ở Trung Hoa thì chúng tôi phải chấp nhận nó ở Đông Dương” (Hết trích)
Nhiều người chỉ trích dẫn câu cuối của Kissinger để kết luận Kissinger đã bán đứng MN cho CS…Nhưng nếu phân tích kỹ toàn bộ đoạn văn trên, thì sự suy đoán lại khác. Một là, mục tiêu của HK ở ĐD là tôn trọng quyền tự quyết của người dân ĐD. Một khi người dân đã chọn CS nắm chính quyền thì HK phải công nhận kết quả đó. Hai là, nếu các nước ĐD không tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân, tức không tôn trọng hiệp định hòa bình.Tình trạng đó kéo dài, còn HK thì đối với họ chiến tranh ĐD đã chấm dứt, nên không còn can thiệp nữa. Và đến một thời gian nào đó, các nước ĐD bị Hà Nội thôn tính, thì đó là hậu quả của một diễn biến lịch sử mà HK phải công nhận. Và điều này thực sự xảy ra ở Miền Nam VN vào ngày 30/4/1975.
Năm 1975 CSVN thống nhất đất nước, người viết nhớ lại năm 1802, vua Gia Long thống nhất sơn hà. Bầy tôi của Gia Long là Đặng Trần Thường đã ra câu đối “Ai công hầu, ai khanh tướng. Trong trần ai, ai dễ biết ai!” để mĩa mai người bạn thuở hàn vi nay đã sa cơ Ngô Thời Nhậm. Kẻ tôi thần khí phách của vua Quang Trung đáp lại “Thế chiến quốc, thế xuân thu. Gặp thời thế, thế thời phải thế!” Ngày nay, miền Bắc có thể dùng câu đối trên nhưng đổi lại vài chữ cho phù hợp, để lên mặt với người anh em miền Nam: “Ai Cộng sản, ai Ngụy-hòa. Trong trần ai, ai đã thắng ai!” (CS gọi miền Nam là ngụy. Lãnh đạo MN cuối cùng là Dương Văn Minh chủ trương hòa bình, hòa giải, hòahợp dân tộc). Bên bại trận năm 1975, ngậm ngùi mượn lời của Ngô Thời Nhậm, cũng sửa đổi vài chữ để đáp lại: “Thế Mỹ quốc, thế Liên sô. Gặp thời thế, thế thời phải thế”. Nhưng xin người anh em miền Bắc nhớ rằng, lịch sử còn kéo dài, đây chỉ là màn đầu. Thế Mỹ Quốc, thế Liên Sô kết thúc như thế nào, mọi người đều đã rõ. LS đã bị loại. TQ thế LS ngồi vào bàn cờ, đấu tiếp với Mỹ. Hãy chờ xem màn cuối của ván cờ “thế TQ, thế HK” kết thúc ra sao?  
Năm 1987, tình thế chưa sáng tỏ, TS Nguyễn Tiến Hưng viết quyển Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập lên án Mỹ phản bội, bán đứng MN tự do cho CS…Nhưng không thấy ông Hưng đề cập sau khi “mua” được MN thì thế giới CS ra sao? Năm 2005, TS Hưng lại xuất bản quyểnKhi Đồng Minh Tháo Chạy vẫn tiếp tục lên án Mỹ. Ông sống ở Mỹ từ năm 1958 về nước làm cố vấn TT Thiệu mà không trình bày cho TT Thiệu biết rằng quân đồng minh của VNCH đã tháo chạy từ tháng 7/1969 sau khi đưa CSBV ngồi vào bàn đàm phán Paris. Từ đó đến năm 1975, là một thời gian dài mà TT Thiệu không có kế sách nào để đối phó thích hợp khi đồng minh còn đang từ từ tháo chạy. Nên cuối cùng Đồng minh của Mỹ tháo chạy một cách đau thương trong 55 ngày cuối cùng của chế độ. Chạy sang Mỹ để tiếp tục công kích Mỹ!!      
                                                                                                                                
Lê Quế Lâm
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

NỀN ĐẠO NGÀY NGAY

NỀN ĐẠO NGÀY NGAY

Inbox x

Chanh Kien Huynh <huynhchanhkien@gmail.com>

Mar 2
to dd_pghh_trungu., bcc: me

Thời đại chúng tôi, những tín đồ được sinh trưởng trong những thập niên 1950-1960, dường như chỉ biết nắm lấy Tôn Chỉ đạo và các lời dạy của Thầy làm Kim Chỉ Nam và ít khi dám đi tìm những gì không thuộc về đạo, vì sợ bị lạc lối hay vì do các sách Phật học thời ấy còn quá ít ỏi.  Không như ngày nay, các thập niên 1990-2000, làn tràn các loại sách về Phật học, có mặt ở khắp nơi từ các nhà sách lớn nhỏ, các cơ sở mua bán vật dụng tu học, các nơi chùa chiền, các cơ sở tôn giáo….., bao gồm rất nhiều những sách dịch thuật từ tiếng Tàu, tiếng Đài Loan, tiếng Tây Tạng hay do các vị Tăng Ni tự viết, cùng biết bao băng đĩa Phật học được thu âm, thu hình truyền bá rộng rãi trong đại chúng….. làm cho tôi có khoản thời gian cảm nhận là mình bị lạc vào giữa rừng hoang của Phật học.

Kể từ năm 1996, do duyên mai, tôi bước vào môi trường nghiên cứu về Phật học.  Khởi đầu bằng những hiểu biết sẵn có về nền đạo PGHH, tôi nghiên cứu tìm hiểu một cách chi tiết, sâu rộng hơn.  Nhờ vậy mà bản thân đã nhận rõ về giá trị của giáo lý đạo PGHH, là một kho tàng quí báu dành cho những ai quyết lòng khám phá, tìm hiểu để tìm đến chân Trời mới, như các nhà khoa học Anh Quốc hay các tiến sĩ Tây phương đã làm trong chuyến “Hành Trình về Phương Đông” (Tây Tạng).  Kể từ đó bản thân có định hướng rõ rệt, chỉ ôm lấy giáo lý đạo để hành trì và phụng sự.

Kể từ đó tôi cũng bắt đầu lăn xả vào các môi trường của đạo, từ Thánh Địa (làng Hòa Hảo) đến các vùng hẻo lánh hay bất kỳ nơi đâu có tín đồ của đạo, có các cơ sở Thuốc Nam từ thiện, các trại Hàng miễn phí….. để hòa mình vào công việc đạo sự, cùng việc tìm hiểu về sinh hoạt của tín đồ ở khắp nơi.  Điều tôi rút tỉa được là đa số tín đồ đều rất chất phát, cần mẫn, tuy ít học, ít hiểu biết, nhưng nói đến giáo lý đạo thì dường như ai cũng nằm long.  Và việc giúp đời, phụng sự đạo luôn làm hết lòng, không toan tính do dự.

Việc hành trì, phụng sự đạo của bản thân, đến ngày nay vẫn không gì thay đổi.  Điều thay đổi là môi trường đạo, đã không còn được như trước đây, qua sự tìm hiểu, nghiên cứu của nhóm chúng tôi trong thời gian qua.  Tất cả đã được công nghệ hóa, từ cơ sở sản xuất thuốc viên, các cơ sở điều trị miễn phí, các cơ sở đóng Hàng từ thiện, các tổ cất nhà tình thương….., cùng việc phát tâm hỗ trợ cho các chương trình ấy trở nên thoáng rộng hơn, không còn eo hẹp như trước đây.

Về việc hành trì của tín đồ cũng trở nên quy tụ đông đảo hơn, nhờ vào trào lưu của việc nói đạo, trao đổi giáo lý vào những ngày cúng cơm, lễ giỗ.  Thời gian ấy có thể nói là thời kỳ tương đối thịnh dượng của nền đạo sau thời gian dài pháp nạn, nhưng rồi cũng tồn tại không lâu.  Từ sự phát tâm ủng hộ thoáng rộng cho các chương trình từ thiện, các buổi nói đạo, đã làm thay đổi môi trường sinh hoạt, đưa đến sự hình thành của các “đạo tràng, tịnh thất” (điều này chưa từng xãy ra trong lịch sử đạo).  Và sự cạnh tranh, dèm pha, đã kích bắt đầu xãy ra giữa các “đạo tràng, tịnh thất”, giữa những người nói đạo.

Về cá nhân tín đồ thì đa số đều trở thành “thi sĩ”, ai ai cũng xuất khẩu thành thơ, toàn thơ văn tự tác, và ít khi còn nghe nhắc đến các điều trong giáo lý.  Số lượng “diễn giả” ngày nay lại tăng nhiều so với thế hệ trước, vì khi nói đến đạo thì ai cũng nói không ngừng, điều gì cũng biết, việc gì cũng hiểu.  Chỉ cần một thời gian nữa là thế hệ “hành giả” sẽ bị tuyệt chủng, không còn tồn tại. Điều này cho thấy tín đồ ngày nay miệng lưỡi khôn lanh, thông minh vượt bực, nói đạo thao thao, không cần định hướng.

Về mặt giáo lý, vấn đề cốt lõi của nền đạo, là điều bị tác động âm thầm nhưng đã gây tác hại to lớn cho nền đạo.  Lồng vào các buổi trao đổi, các băng đĩa thuyết giảng là những điều của tiểu thừa, đại thừa, tông nầy phái nọ, phân tích Hán tự, diễn giải điển tích trở về với các thời kỳ kim hoàng, thánh đế….., rồi đưa người nghe đi vào thế giới của các phim truyện dài của Tàu, của Hán, không còn biết chi đến các giáo điều căn bản về: Tam nghiệp, Thập Ác, Tứ Ân, Bát Chánh Đạo…..  Ngày nay việc tu học chỉ còn tập trung vào 3 việc: niệm Phật; đóng góp làm từ thiện (để tạo sự tín tâm); nói những điều không tốt về người khác (gây mất uy tín cho kẻ khác, gây chia rẻ).

Tập thể ngày này, nói về số lượng thì rất đông.  Nào là nhóm người quốc doanh, quốc nội, nhóm ly khai, nhóm tu sĩ…., ai cũng có các biệt tài lãnh đạo, không ai chịu lắng nghe ý kiến của ai. Trên bờ môi ai cũng bảo đối sử nhau “như con một cha”, nhưng hành động thì trái ngược với những gì đã nói.  Trước đây chỉ có “thuần túy, không thuần túy.”  Nay lại có thêm “trong luồng, ngoài luồng.”  Tổng cộng các nhóm có thể đếm được lên đến 8, chưa tính mỗi đạo tràng, mỗi tịnh thất là mỗi đơn vị độc lập, tự trị và không thuộc vào các nhóm đã liệt kê.  Đây là sự chia rẻ trầm trọng của tập thể, kể từ những năm của thập niên 2000 đến nay và là việc chưa từng xãy ra kể từ khi nền đạo được khai sáng.  “Chốn tù vốn thiệt cõi tabà”, điều Tổ Thầy chỉ bảo, là điều mà tín đồ cần tránh né, để lo tu tập.  Nhưng ngược lại thì ai cũng muốn trở thành “tù trưởng”, mở ra những trại tù riêng để xưng tánh, xưng ngôi, để mưu danh, thủ lợi.

Nhìn tổng quát, cứ ngỡ là nền đạo đang trên đà phát triển, nào ngờ sự suy thoái dần dần hủy hoại đi những công trình của tiền nhân để lại.  Các giáo lý cùng tôn chỉ đạo không còn là điều mà người tín đồ thời nay luôn đặt ở vị trí hàng đầu, nhằm bảo vệ danh giá cho nền đạo.  Phải chăng nền đạo một lần nữa đi lần vào pháp nạn?  Mới chỉ 2 thập niên nhưng sự thay đổi không lường.  Hai thập niên kế tiếp sẽ như thế nào và nền đạo sẽ về đâu?  Sự phồn thịnh, suy vong là điều không thể tránh khỏi theo quy luật của thành, trụ, hoại, diệt.  Tuy nhiên, nếu không làm được điều chi cho đạo, thì cũng đừng tiếp tay hũy hoại thanh danh đạo, hãy làm những gì có thể để tiếp tay gầy dựng lại tiền đồ đạo pháp.  Đó là trách nhiệm, là bổn phận của người tín đồ và là việc làm thực tế để tiếp tay cùng Tổ Thầy “Gom nhành lá rụng vun trồng giống xưa.”

 

HCK

Categories: Sinh Hoạt Tôn Giáo | Leave a comment

Giám Đốc Trung Quốc Sự Vụ của Viện Pháp-Á tiết lộ động trời:

Giám Đốc Trung Quốc Sự Vụ của Viện Pháp-Á tiết lộ động trời: Hồ Chí Minh và Ðảng CSVN đã bán nước Việt cho Trung Quốc như thế nào?
LGT.- Tác giả Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ hiện là Bác Sĩ Giám Đốc Trung Quốc Sự Vụ tại Viện Pháp-Á (IFA), Thành Viên trong Y Sĩ Đoàn Pháp Quốc. Ông là người cầm bút nổi tiếng trước và sau năm 1975, đã ấn hành được hơn 100 ngàn trang sách về lịch sử và y học. Sự kiện Đảng CSVN đã hiến đất dâng biển cho Trung Quốc ra sao. Bí mật của vụ này đã được Bác Sĩ Trần Ðại Sỹ trình bày trong Bản Ðiều Trần trước cơ quan IFA và được Saigon HD Radio trích đoạn các phần quan trọng sau đây:
alt
Bác sĩ/Tác giả Trần Đại Sỹ hội ngộ cùng 3 cựu Sĩ Quan Võ Bị Dalat tại Dallas (Texas) ngày 26 tháng 5 năm 2012. Hình từ trái qua phải: Thi văn sĩ Quốc Nam (Khóa 22 VB), Dr. Trần Đại Sỹ, cựu Trung Tá Nguyễn Quang Vinh (Khoá 14 VB), và cựu Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Bình-Tuy Nguyễn Ngọc Ánh (Khóa 16 VB). 
Bản điều trần nêu lên nhiều chi tiết đau lòng. Theo BS Trần Ðại Sỹ, “Vụ cắt đất ký ngày 30-12-1999 thì tôi được biết tin chi tiết do hai ký giả Trung-quốc là bạn với tôi thông báo vào ngày 9-1-2000 nghĩa là 10 ngày sau, hai anh thuật, theo tinh thần bản hiệp định thì: Việt-Nam nhường cho Trung-quốc dọc theo biên giới 789 cây số vuông (chứ không phải 720 như tin lộ ra trong nước) thuộc hai tỉnh Cao-bằng, Lạng-sơn”.
Trong khi đó, Bộ Giao Thông CSVN lặng lẽ sơn lại các cọc cây số và Bộ Ngoại Giao CSVN cũng lặng lẽ lên trang web sửa thành câu văn mới: “lãnh thổ Việt-Nam khởi từ cây số không ở phía Bắc”.
Lý do, theo BS Sỹ, vì “Cái cây số không đó là cây số 5 cũ đấỵ. Cột cây số Zéro bây giờ ở phía Nam cột Zéro cũ 5 cây số. Từ cây số Zéro đến cây số 5 nay thuộc Trung-quốc”.
Các phần quan trọng trong bản văn ghi như sau:
Bí ẩn về việc đảng CSVN, Lãnh đạo nhà nước cắt lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-quốc
Bản điều trần của Yên-tử cư-sĩ TrầnÐại Sỹ
Dr. Trần Ðại-Sỹ, 5, place Félix Éboué 75012 PARIS, FRANCE.
LGT: Trong mấy tháng gần đây, nội địa Việt-Nam cũng như hải ngoại đều rúng động vì tin nhà nước hay nói đúng hơn là đảng Cộng-sản Việt-Nam đã nhượng lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-quốc.Ðau đớn nhất là địa danh lịch sử Nam-quan đi vào tâm tư là niềm tự hào của tộc Việt nay đã ở trong lãnh thổ Trung-quốc.
Ngay cả hang Pak-bo là thánh địa của đảng Cộng-sản, trước kia ở cách biên giới Hoa-Việt trên 50 km, nay đứng ở đây gần như nhìn vào lãnh thổ Trung-quốc. Trong suốt 25 năm qua, Bác-sĩ TrầnÐại-Sỹ vì ký khế ước làm việc với Liên-hiệp các viện bào chế châu Âu (CEP) và Ủy-ban trao đổi y học Pháp-hoa (CMFC), trong đó có điều căn bản là “không được viết, được thuật những gì với báo chí về Trung-quốc, Việt-Nam hiện tại; không được tham gia các đoàn thể chính trị chống đối Trung-quốc, Việt-Nam” nên không bao giờ ông tiết lộ bất cứ điều gì mắt thấy tai nghe trong những lần công tác tại Trung-quốc hay Việt-Nam. Tuy nhiên, ông đã được một cơ quan (chúng tôi giấu tên) triệu hồi để điều trần về vụ này. Theo luật lệ hiện hành mà Bác-sĩ Trần phải tuân theo, rất mong các vị đứng đầu CEP-CMFC thông cảm với chúng tôị (IFA).
Kính thưa Ngài … Kính thưa Quý Ngài,  Kính thưa ông Giám-đốc… Kính thưa Quý-liệt-vị,
Thực là hân hạnh, khi mới ngày 17-3 vừa qua, chúng tôi được cử đến đây để trình bầy những vụ việc đang diễn ra tại vùng Á-châu Thái-bình dương. Hôm nay, chúng tôi lại được gửi tới trình bầy về diễn biến trong vụ việc chính phủ Cộng-hòa Xã-hội Chủ-nghĩa Việt-Nam (CHXHCNVN) cắt nhượng lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-hoa Nhân-dân Cộng-hòa quốc (THNDCHQ), gọi tắt là Trung-quốc. Ðây là một việc cực kỳ tế nhị, cực kỳ khó khăn cho tôi, làm thế nào giữ được tính chất vô  tư vì:
– Thứ nhất, tôi gốc là người Việt, hơn nữa thuộc giòng dõi một vị Vương đứng hàng đầu trong lịch sử Việt, vì ngài thắng Mông-cổ liên tiếp trong ba lần vào thế kỷ thứ 13 mà nay tôi phải nói về những người đem lãnh thổ Việt nhượng cho Trung-quốc, khó mà diễn tả lời lẽ vô tư cho được.
– Thứ nhì, ngoài chức vụ giáo-sư Y-khoa ra, tôi là một tiểu thuyết gia, đã viết trên mười bốn nghìn trang, thuật huân công của các anh hùng tộc Việt trong việc dựng nước, giữ nước mà suốt trong năm nghìn năm lịch sử, chỉ duy năm 1540, giặc Mạc Dăng-Dung cắt đất dâng cho triều Minh của Trung-quốc bị tộc Việt đời đời nguyền rủa. Vậy mà nay phải chứng kiến tận mắt lãnh thổ Việt bị cắt cho Trung-quốc.
– Thứ ba, các sinh viên Việt-Nam muốn du học Pháp thường bị vài tổ chức đòi phí khoản 20 nghìn USD mỗi đầu người. Một vị Ðại-sứ của Việt-Nam tại châu Âu mời tôi về nước (tất cả chi phí do tiền của IFA) để giúp sinh viên Việt-Nam du học Pháp. Với sự hướng dẫn của tôi, từ nay sinh viên muốn du học Pháp, họ đã biết rất rõ những gì phải làm, những gì phải chứng minh. Họ không phải tốn một đồng nào cả nhưng khi trở về Pháp, lúc lên phi cơ tại phi trường Tân-sơn-nhất, tôi bị ba sĩ quan cao cấp của Công-an chờ sẵn, hạch sách, khám xét trong khoảng 98 phút bằng những câu hỏi có tính cách nhục mạ, ngớ ngẩn, lời lẽ cục súc. Tôi cho đây là một hình thức khủng bố. Thưa Quý-vị, hôm đó tôi chỉ cười nhạt, khinh rẻ vì tôi biết rất rõ kiến thức, mục đích của họ trong khi họ không đủ khả năng bịa ra bất cứ tội gì để kết tội tôi. Hơn nữa, tôi giữ trong tay một ủy nhiệm thư, theo Công-pháp Quốc-tế, họ không thể công khai vị phạm.(1)
Ðứng trước vùng đất thiêng của tổ tiên, nay vĩnh viễn trở thành đất của người tự nhiên tôi bật lên tiếng khóc như trẻ con. Viên sĩ quan Công-an Trung-quốc tưởng tôi là người Hoa, anh ta hỏi:
– Tiên sinh có thân nhân tử trận trong dịp mình dạy bọn Nam-man bài học à?
Tôi lắc đầu, khóc tiếp, anh an ủi:
– Thôi, người thân của Tiên-sinh đã hy sinh dưới cờ thực nhưng nay bọn Nam-man đã dâng đất này tạ tội rồị, Tiên sinh chẳng nên thương tâm nhiềụ.
Tôi kiếm tảng đá ngồi ôm đầu khóc. Anh Công-an bỏ mặc tôị Khóc chán, tôi trở sang Bằng-tường, kiếm một cơ sở mai táng (xây mộ, làm mộ chí). Tôi mượn họ khắc trên một miếng đá bóng nhân tạo (granite) bài thơ bằng chữẠ Hán như sau:
1.Thử địa cựu Nam-quan,
2.Biên địa ngã cố hương.
3.Kim thuộc Trung-quốc thổ,
4.Khấp, khốc, ký đoạn trường.
5.Lê Hoàn bại Quang-Nghĩa,
6.Thường Kiệt truy Bắc phương,
7.Hưng Ðạo đại sát Ðát,
8.Lê Lợi trảm Vương Thông.
9.Nam xâm, Càn-Long nhục,
10.Gươm hồng Bắc-bình vương.
11.Ngũ thiên niên dĩ tải,
12.Hoa, Việt lập dịch trường.
13.Mao, Hồ tình hữu nghị,
14.Nam, Bắc thần xỉ thương,
15.Huyết lệ vạn dân cốt,
16.Hồng-kỳ thích ô hoang.
Ðại-Việt vong quốc nhân Trần Ðại-Sỹ-Khốc đề lục nhật, cửu nguyệt, niên đại 2001.
Tôi đem tảng đá này, gắn vào một vách núi ngay cạnh đường, trên độ cao khoảng 2-3m. Công-an, cán bộ Trung-quốc xúm lại xem nhưng họ chỉ hiểu lơ mơ ý trong thơ mà thôị – Xin tạm dịch:
1.(Ðất này xưa gọi Nam-quan,)
2.(Vốn là biên địa cố hương của mình.)
3.(Hiện nay là đất Trung-nguyên,)
4. (Khóc chảy máu mắt, đoạn trường ai hay)
5.(Vua Lê thắng Tống chỗ này,)
6.(Thường Kiệt rượt Tiết cả ngày lẫn đêm,)
7.(Thánh Trần sát Ðát liên miên,)
8.(Lê Lợi giết bọn Thành-sơn bên đồi,)
9.(Càn-Long chinh tiễu than ôi,)
10.(Quang-Trung truy sát muôn đời khó quên.)
11.(Năm nghìn năm cũ qua rồi,)
12.(Chợ biên giới lập, đời đời Việt-Hoạ)
13.(Ông Hồ kết bạn ông Mao,)
14.(Sao răng lại cắn, máu trào môi sưng.)
15. (Vạn dân xương trắng đầy đồng,)
16. (Ðể lại trên lá cờ Hồng vết nhơ)
(Người nước Ðại-Việt vong quốc tên TrầnÐại-Sỹ, khóc đề thơ ngày 6 tháng 9 năm 2001)
Câu 5,. Vua Tống Triệu Quang-Nghĩa sai Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng sang đanh VN, bị vua Lê (Hoàn) đánh bạị
Câu 6, Năm 1076, vua Tống Thần-Tông sai bọn Quách Quỳ, Triệu Tiết mang quân sang đánhÐại-Việt, bị Thái-úy Lý Thường Kiệt đánh đuổị
Câu 8, Tước của Vương Thông là Thánh-sơn hầụ.
Câu 10, Vua Quang-Trung còn có tước phong là Bắc-bình vương.
Câu 14, Hồi 1947-1969 Chủ-tịch Trung-quốc là Mao Trạch Ðông, Chủ-tịch Việt-Nam là Hồ Chí Minh kết thân với nhaụ Việt-Hoa ví như răng với môị. Vì sợ môi hở răng lạnh nên ông Mao phải giúp ông Hồ- Năm 1979, Ðặng Tiểu Bình đem quân tàn phá các tỉnh biên giới phía Bắc Việt-Nam, nên người ta đổi câu trên thành: Răng cắn môi máu chảy ròng ròng.
– Tháng 9 vừa qua, Ðảng Cộng-sản Việt-Nam liệt tôi vào danh sách 80 người phản động nhất vì năm 1997 , tôi đã viết một bài tiết lộ những chi tiết tuyệt mật về cuộc viếng thăm Trung-quốc của Tổng Bí-thư Ðỗ Mười, Thủ-tướng Võ Văn-Kiệt, nhất là cuộc họp mật của hai nhân vật này với Chủ-tịch Trung-quốc Giang Trạch Dân. Tôi viết dưới hình thức hài hước cho tờ báo Văn-nghệ Tiền-phong ở Virginia, USA , số Xuân 1998. Nội dung của bài đó là một phần bài thuyết trình của tôi với Quý-vị cuối năm 1997. Như Quý-vị biết về Cộng-sản, khi họ kết tội ai phản động có nghĩa là toàn đảng phải dùng hết khả năng tiêu trừ người ấỵ (2).
Ghi chú (2) Tôi không tin chỉ với bài này mà họ kết tội tôi nặng như vậy. Tôi biết rất rõ ai chủ trương, ai kết tội tôi nhưng tôi chưa muốn nói ra. Trong bài viết trên, tôi đã tiết lộ những điều tuyệt mật về cuộc hội đàm khiến họ sợ hãi mà thôi. Ðiều tuyệt mật đó là vụ: ông Lê Ðức-Anh bị Trung-quốc đánh thuốc độc, bị bán thân bất toại rồi cũng do Trung-quốc trị cho. Nay tôi tiết lộ thêm những vụ đầu độc cùng một phương pháp:
– Cậu-Chó vì dính dáng đến vụ Trương Như Tảng, định dâng Việt-Nam cho Trung-quốc không thành rồi cũng được bán thân bất toại để bảo mật
– Trong kỳ đại hội Đảng 8, giữa đại hội, ông Lê Mai, Bộ-trưởng Ngoại-giao, ông Ðào Duy-Tùng ứng viên Tổng Bí-thư đảng Cộng-sản cũng bị hạ độc bằng cùng một phương thức nhưng tôi không biết ai đã làm công việc đó.
– Gần đây nhất một Bác-sĩ Việt-Nam từng dính dáng với phong trào Trương Như Tảng. Sau đó, đã tỵ nạn lần thứ nhì sang Canada, năm trước đây, nghe tin Bác-sĩ Dương Quỳnh-Hoa từ Việt-Nam qua Pháp, ông lén từ Canada sang Paris gặp bà mưu kiếm ít xôi thịt từ Trung-quốc. Khi trở về Canada, ông cũng bị đột quỵ và tiêu dao miền Cực-lạc.
Kính thưa Quý-vị:
Tuy tôi đã tuyên thệ tại đây hồi tháng ba vừa qua nhưng hôm nay tôi xin tuyên thệ một lần nữa:
“Tôi xin tuyên thệ với tất cả danh dự của tôi rằng: Tôi không thù, không ghét những người tại Việt-Nam, họ đã nộp lãnh hải, lãnh thổ cho Trung-quốc. Tôi cũng không vì lòng yêu nước Việt mà oán ghét họ. Tôi không hận những người Việt chủ trương khủng bố tôi khi họ mời tôi về Việt-Nam giúp đỡ họ. Những lời tôi trình bày hôm nay hoàn toàn vô tư”.
Kính thưa Quý-vị
Tôi vừa lướt qua vài nét đơn sơ về biên giới Hoa-Việt, về ngoại giao Hoa-Việt trong thời gian 989 năm. Bây giờ tôi xin đi thẳng vào đầu đề hôm nay về việc:
– Ðảng Lao-động Việt-Nam lãnh đạo nhà nước Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-hòa (VNDCCH, 1945-1975).
– Ðảng Cộng-sản Việt-Nam lãnh đạo nhà nước Cộng-hòa Xã-hội Chủ-nghĩa Việt-Nam (CHXHCNVN, 1975-2001) nhượng lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-hoa Nhân-dân Cộng-hòa quốc gọi tắt là Trung-quốc.
3. Vụ Việt-Nam dân chủ Cộng-hòa nhượng lãnh hải cho Trung-quốc.
3.1. Kết quả của văn kiện 14-9-1958.
Ngày 4-9-1958, chính phủ Trung-quốc tuyên cáo về lãnh hải 12 hải lý kể từ đất liền của họ, có đính kèm bản đồ rất rõ ràng. Bản tuyên cáo này chỉ có hai nước công nhận đó là VNDCCH và Bắc Cao (Cộng-hòa Nhân-dân Triều-tiên). Việc VNDCCH công nhận như sau: Ngay khi nhận được bản tuyên cáo do sứ quán Trung-quốc tại Hà-nội trao, Chủ-tịch Hồ Chí Minh triệu tập Bộ Chính-trị đảng Lao-động Việt-Nam (tức đảng Cộng-sản Việt-Nam ẩn danh). Trong buổi họp này, toàn thể các thành viên nhất trí chấp nhận bản tuyên bố của Trung-quốc. Ngày 14-9-1958, Thủ-tướng Phạm Văn-Ðồng tuân lệnh Chủ-tịch Hồ Chí-Minh, gửi văn thư cho Tổng-lý Quốc-vụ viện Trung-quốc (Thủ-tướng) là Chu Ân-Lai, trong đó có đoạn (Văn thư đính kèm 1): những nước liên hệ tới bản tuyên bố là :
– Trung-hoa Dân-quốc (Ðài-loan), – Nhật-bản, – Hoa-kỳ (hạm đội 7)), – Phi-luật-tân, – Mã-lai, – Brunei, – Indonésia, – VNDCCH và Việt-Nam Cộng-hòa (VNCH).
Thế nhưng từ hồi đó đến nay, các nhà nghiên cứu Âu-Mỹ cho đến các nước Á-châu Thái-bình-dương (ACTBD) không hề để ý đến văn thư trên.
Vì sao?
Bản tuyên bố chỉ đọc trên hệ thống truyền thanh của Trung-quốc rồi cũng được các báo Trung-quốc đăng lại mà không có bản đồ đính kèm. Cả thế giời cứ nhìn trên bản đồ Trung-quốc cũng như vùng Nam-hải phân định lãnh hải từ 1887 mà cho rằng: theo Quốc-tế công pháp thì lãnh hải hầu hết các nước đều gồm 12 hải lý, kể từ thềm lục địa. Vụ Trung-quốc tuyên bố lãnh hải 12 hải lý của họ là một sự bình thường. Cái tưởng lầm tai hại đó cho đến nay (11-2001), những người chống đối vụ nhường đất cho Trung-quốc ở trong nội địa Việt-Nam cũng như hải ngoại chỉ kết tội vu vơ, không rõ ràng, không chứng cớ vì nguyên do không bản đồ nàỵ.
Do kết quả không có bản đồ đính kèm của Trung-quốc tuyên bố lãnh hải của họ (gần như trọn vẹn vùng biển Nam-hải, đính kèm), Hoa-kỳ cũng như thế giới không biết (hay không công nhận)  nên suốt thời gian 1958-2001:
– Hạm đội 7 của Hoa-kỳ tuần hành trong vùng lãnh hải tuyên bố này, đầy đe dọa Trung-quốc mà Trung-quốc vẫn ngậm bồ hòn.
– Chiến hạm của Pháp, Ðức, Ý cũng như một số nước Úc, Âu trong thời gian 1975-1980 vẫn tuần hành, hộ tống những con tầu vớt người Việt trốn chạy trong vùng mà Trung-quốc đành im lặng.
Hôm nay tôi cần phải trình bày trước các vị và làm sáng tỏ nội vụ
Kính thưa Quý-vị,
3.2. những bí ẩn.
Cái bí ẩn đó không có gì lạ cả, rất rõ ràng, rất chi tiết.
– Về phía các nhà nghiên-cứu Âu-Mỹ, ACTBD không có bản đồ đính kèm bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Trung-quốc, họ cứ nhìn vào bản đồ đã phân định từ 1887 giữa Pháp và triều Thanh. Họ cũng cứ nhìn bản đồ của các nước vùng Nam-hải của Trung-quốc, của Trung-hoa Dân-quốc cũ rồi cho rằng lãnh hải 12 hải lý thì chẳng có gì là lạ cả.  Nhưng nếu họ có bản đồ về lãnh thổ đính kèm bản tuyên bố thì họ sẽ toát mồ hôi ra vì bản đồ này bao gồm toàn bộ các đảo trong vịnh Bắc-Việt, toàn bộ các đảo ở biển Nam-hải như Tây-sa (Hoàng-sa) và Nam-sa (Trường-sa). Như vậy nếu tính lãnh hải 12 hải lý, tính từ các đảo này thì:
– lãnh hải Trung-quốc ở biển Nam-hải, phía Tây sẽ sát tới bờ biển suốt miền Trung, Bắc Việt-Nam.
– Phía Ðông sát tới lục địa Phi-luật-tân, Bruneị
– Phía Nam sát tới Indonésia, Mã-laị
Trở lại với Chủ-tịch Hồ Chí-Minh, bộ Chính-trị đảng Lao-động (Cộng-sản) Việt-Nam và chính phủ VNDCCH hồi 1958, khi các vị ấy có bản tuyên bố lãnh hải của Trung-quốc thịìcũng có bản đồ chi tiết nhưng các vị ấy gửi thư chấp nhận bản tuyên bố đó thì có nghĩa rằng:
Họ đồng ý nhường cho Trung-quốc toàn bộ:
– Các đảo của Việt-Nam trên biển Nam-hải.
– Toàn bộ lãnh hải Việt-Nam cách các đảo đó 12 hải lý nghĩa là toàn bộ biển Nam-hảị
Kính thưa Quý-vị,
3.3 – Bí ẩn vụ Trung-quốc chiếm Hoàng-sa (Tây-sa) .
Từ trước đến giờ, có nhiều vị hiện diện hôm nay từng đặt câu hỏi với tôi rằng:
– Tại sao năm 1973, thình lình Trung-quốc đem quân đánh quần đảo Hoàng-sa (Tây-sa) từ VNCH? Trận chiến diễn ra ngắn ngủi, phía Trung-quốc bị thiệt hại gấp ba VNCH (về nhân mạng, về chiến hạm, tài liệu này tôi có từ phía Trung-quốc). Nhưng VNCH vì quân ít, vũ khí chỉ có đại bác, chiến hạm nhỏ trong khi Trung-quốc có hỏa tiễn địa địa, chiến hạm lớn đông gấp 3 lần VNCH. VNCH lại đang có nội chiến, phải đương đầu với quân đội VNDCCH, vì vậy VNCH phải bỏ kế hoạch tái chiếm Hoàng-sa- Bấy giờ Hoa-kỳ với VNCH có hiệp ước hỗ tương an ninh, Hoa-kỳ đang tham chiến tại Việt-Nam, hạm đội 7 hùng hậu đang tuần hành gần vùng giao chiến. Tại sao Hoa-kỳ không can thiệp, không lên tiếng bênh vực VNCH?
Nay tôi xin thưa:
Vì:
Trong-cuộc mật đàm giữa Hoa-kỳ (Kissinger) và Trung-quốc (Mao TrạchÐông), phía Trung-quốc đã trao cho ông Kissinger bản tuyên bố lãnh hải 4-9-1958 cùng bản đồ, Ông Kissinger đã công nhận bản tuyên bố đó. Cho nên ông Kissinger vừa rời Trung-quốc thì Trung-quốc đem hạm đội xuống chiếm Hoàng-sa.
Vì:
Văn thư của ông Phạm Văn Ðồng công nhận quần đảo này là của Trung-quốc. Trung-quốc chiếm Hoàng-sa chỉ là việc chiếm lại lãnh thổ được hiến dâng, đã 16 năm bị VNCH xâm lăng.
– cũng có vị hỏi tôi rằng: Tại quần đảo Trường-sa (Nam-sa) hiện có quân của Trung-hoa Dân-quốc (Ðài-loan), Phi-luật-tân, Mã-lai, Việt-Nam. Thế sao hải quân Trung-quốc luôn khai hỏa vào hải quân Việt-Nam. Quan trọng nhất là trận chiến tháng 3 năm 1988, Việt-Nam chỉ phản đối lấy lệ.
Nay tôi xin thưa:
Do văn thư của ông Phạm Văn Ðồng công nhận quần đảo này là của Trung-quốc. Lập luận phía Trung-quốc là: Thủ-tướng Phạm VănÐồng đã công nhận vùng này là lãnh hải Trung-quốc, tại sao quân đội Việt-Nam còn hiện diện tại đây? Như thế là Việt-Nam xâm phạm lãnh thổ Trung-quốc, Quân đội Trung-quốc phải đánh đuổi quân xâm lăng, bảo vệ đất nước là lẽ thường. Quân đội Ðài-loan đóng tại đây mà Trung-quốc không tấn công vì quân Ðài-loan thì cũng là quân đội Trung-quốc đóng trên lãnh thổ Trung-quốc. Còn Phi, Mã-lai với Trung-quốc đang tranh chấp trên quần đảo này chưa ngã ngũ thì quân đội của họ hiện diện là lẽ thường. Trung-quốc không thể tấn công họ vì như vậy là Trung-quốc ỷ lớn hiếp nhỏ.
Ðối với vụ việc tranh chấp Trung-quốc, Việt-Nam trên đảo Trường-sa (Nam-sa) đã giải quyết bằng văn thư của Việt-Nam ngày 14-9-1958. Chính vì lý do này mà Trung-quốc chỉ chấp nhận đàm phán về vùng đảo với từng nước mà không chịu đàm phán chung với tất cả các bên liên hệ có nghĩa là họ gạt Việt-Nam ra ngoài vì Việt-Nam đã công nhận các đảo này là của Trung-quốc.
3.5 – Về hoàn cảnh đảng Cộng-sản Việt-Nam năm 1958 và chính phủ VNDCCH.
Tất cả những vị trong bộ Chính-trị đảng Cộng-sản, trong Chính-phủ đều biết rằng:
– Kể từ năm 1540, sau khi dâng đất cho Trung-quốc, giặc MạcÐăngÐung bị lịch sử Việt-Nam kết tội, bị toàn dân nguyền rủa, đến bấy giờ trải 418 năm, chính họ cũng nguyền rủa bọn Mạc.
– Giữa VNDCCH và Việt-Nam Cộng-hòa (VNCH), cả hai bên đều đang lo củng cố xây dựng lại vùng đất của mình sau chiến tranh (1945-1954). Cả hai bên cùng chưa chính thức gây hấn với nhau, VNDCCH không có ngoại thù.
– Trung-quốc không có chiến tranh với VNCDCH, không có áp lực ngoại xâm.
– Năm 1958 là lúc thịnh thời nhất của Chủ-tịch Hồ Chí Minh, của Ðại-tướng Võ Nguyên Giáp. Thời kỳ này, miền Bắc Việt Nam vừa trải qua cuộc Cải cách ruộng đất, 246.578 người hầu hết là phú nông, địa chủ, trung nông, các cựu đảng viên không phải của đảng Lao động (Cộng-sản), dân chúng… bị giết. Nghĩa là toàn miền Bắc dân chúng kinh hoàng, cúi đầu răm rắp tuân lệnh đảng, không còn kẻ nội thù,
– Nhất là lúc ấy VNDCCH đang kéo cao cờ nghĩa đánh Pháp, chống Mỹ cứu nước. Họ kết tội VNCH là Việt-gian, là Ngụy, họ phải hết sức giữ gìn để khỏi mất chính nghĩa.
– Thế sao đảng Cộng-sản lại làm cái việc thân bại danh liệt, trở thành tội đồ muôn năm của tộc Việt?
– Bàn về việc ký thỏa ước với nước ngoài, việc nhận đất, nhượng đất phải thông qua Quốc-hội. Bấy giờ, VNDCCH cũng có Quốc-hội nhưng Quốc-hội không được hỏi đến, không được bàn đến và nhất là không được thông tri. Quốc dân cũng thế. Tất cả thắc mắc này, tôi xin để Qúy-vị suy đoán và trả lời.
3.6 – Một câu hỏi được đặt ra:
Vậy thì vì lý do gì mà đảng Cộng-sản Việt-Nam lãnh đạo Chính-phủ VNDCCH lại nhượng lãnh hải cho Trung-quốc quá dễ dàng? Cho đến nay, tôi cũng không tìm ra lý do thỏa đáng.
Tôi không tìm ra vì:
– Tất cả những vị trong bộ Chính-trị đảng Cộng-sản Việt-Nam dự buổi hội quyết định nhượng lãnh hải đều đã từ trần. Các vị trong nội các Phạm Văn Ðồng hồi ấy, không biết nay có ai còn sống hay không? Tôi chỉ biết chắc rằng Ðại-tướng Võ Nguyên Giáp vừa là Bộ-trương bộ Quốc-phòng vừa là ủy viên Bộ Chính-trị là còn tại thế. Ðại-tướng là người có học thức cao nhất bộ Chính-trị, từng là giáo sư Sử-học. Bấy giờ lại là lúc uy tín, quyền hành của Ðại-tướng lên tột đỉnh. Vụ ông Phạm Văn Ðồng ký văn kiện này, Ðại-tướng phải biết. Nay Ðại-tướng đang đi vào những ngày cuối cùng của đời người, nếu sĩ khí, dũng khí của Ðại-tướng còn thì xin Ðại-tướng cho quốc dân biết được không?…
– Nếu nói rằng khi ký văn kiện trên là tự ý Thủ-tướng Phạm Văn Ðồng thì không thể nào tin được vì chính ông Phạm Văn Ðồng từng than rằng: Ông là một Thủ-tướng lâu năm nhưng không có quyền hành gì, ngay cả việc muốn thay một Bộ-trưởng cũng không được. Vậy thì đời nào ông dám ký văn kiện dâng đất cho Trung-quốc!
– Ví thử ông Phạm Văn Ðồng tự ý ký văn kiện trên thì năm 1977, văn kiện ấy lộ ra ngoài, người Việt hải ngoại từng đem đăng báo, ông Phạm Văn Ðồng hãy còn sống, sao Bộ Chính-trị, Quốc-hội và Chính-phủ không truy tố ông ra tòa về tội phản quốc? Tội này trong hình luật Việt-Nam phải xử tử hình. Thế mà ông ấy vẫn ung dung sống thêm bốn chục năm nữa, đầy quyền hành?
– Liệu những tài liệu, biên bản về buổi họp này có nằm tại văn phòng Bộ Chính-trị, văn phòng bộ Ngoại-giao CHXHCNVN không? Các vị trong Bộ Chính-trị hiện thời có thể công bố cho quốc dân biết không? Nếu quý vị im lặng thì muôn nghìn năm sau, lịch sử còn ghi: Ðảng Cộng-sản bán nước mà không cầu vinh, cũng chẳng cầu tài chứ không phân biệt rằng Bộ Chính-trị 1958 bán nước, còn Bộ Chính-trị 2001 không hề làm việc nàỵ
Chúng tôi xin ngừng lời để Quý-vị thắc mắc trước khi điều trần sang phần thứ nhì.
Kính thưa Quý-vị,
Bây giờ tôi xin điều trần sang phần thứ nhì, đó là:
4. Vụ nhượng lãnh thổ mới đâỵ
* Hiệp định về biên giới trên đất liền Việt-Nam, Trung-quốc ngày 30-12-1999.
* Hiệp định phân định lãnh hải Việt-Nam, Trung-quốc ngày 25-12-2000.
4.1 – Ai chịu trách nhiệm về hai hiệp định.
Hai hiệp định này đều ký trong thời gian 1999-2000. Vào thời kỳ này tại Việt-Nam thì:
– Ông Lê Khả-Phiêu làm Tổng Bí-thư đảng Cộng-sản ViệtNam,
– Ông Trần Ðức-Lương làm Chủ-tịch nhà nước,
– Ông Nông Ðức-Mạnh làm Chủ-tịch Quốc-hội,
– Ông Phan Văn-Khải làm Thủ-tướng.
– Ông Nguyễn Mạnh Cầm làm Bộ trưởng Ngoại-giaọ
Ai chịu trách nhiệm khi ký hai hiệp định trên? Cá nhân thì tôi không biết nhưng có một điều tập thể thì ai cũng khẳng định là Bộ Chính-trị của đảng Cộng-sản Việt-Nam. Không cần biết người ký là Chủ-tịch Trần Ðức-Lương, Thủ-tướng Phan Văn-Khải hay Bộ-trưởng Ngoại-giao Nguyễn Mạnh-Cầm. Tôi xin khẳng định: Ai ký cũng chỉ là người tuân lệnh Bộ Chính-trị đảng Cộng-sản Việt-Nam.
Nhưng người quyết định là aỉ ?!?
Ông Phan Văn-Khải, Nguyễn Mạnh-Cầm – Hai ông này không có quyền, dù có quyền các ông ấy cũng không dám quyết định. Ông Lê Khả-Phiêu quá yếu, không thể quyết định một mình. Ông Trần Ðức-Lương, Nông Ðức-Mạnh càng không có quyền gì. Vì vậy,tôi mới quyết đoán rằng vụ này do Bộ Chính-tri đảng Cộng-sản chủ trương. Hiện tất cả các ông trong Bộ Chính-trị thời Lê Khả-Phiêu vẫn còn sống, rất khỏe mạnh. Khi quyết định nhượng đất, biển cho Trung-quốc các ông ấy đều biết rất rõ rằng:
– Tinh thần dân chúng bây giờ không phải như dân chúng hồi 1540. Trình độ dân chủ, phương tiện thông tin của đảng viên, của dân chúng vượt xa hồi 1958. Uy tín của Tổng Bí-thư Lê Khả-Phiêu không thể so sánh với Chủ-tịch Hồ Chí-Minh năm 1958. Mỗi vị trong Bộ Chính-trị bây giờ là một mảng chứ không thể là một khối như Bộ Chính-trị hồi 1958. Các vị trong Bộ Chính-trị thời Lê Khả-Phiêu đều biết trước rằng: Ký hiệp ước nhượng lãnh thổ trong lúc này không thể bịt miệng, giấu giếm đảng viên cũng như dân chúng. Thế nhưng các ông ấy vẫn làm! Vì vậy phải có nguyên do gì trọng đại lắm. Liệu các ông có thể công bố cho quốc dân biết không?
– Thời gian ấy (1999-2000) đảng Cộng-sản lấn át Chủ-tịch Nhà-nước cũng như Thủ-tướng nhất đến nỗi Chánh-văn phòng Thủ-tướng chỉ vì nói một câu không mấy lịch sự với người đàn bà có thế lực trong đảng mà bị bắt giam không lý do, Thủ-tướng không thể can thiệp cho ông ta tại ngoạị.
– Quyền gần như nằm trong tay ba ông Cố-vấn là cựu Tổng Bí-thư Ðỗ Mười, cựu Chủ-tịch nhà nước Lê Ðức-Anh và cựu Thủ-tướng Võ Văn-Kiệt. Ba ông này như ba Thái-thượng hoàng thời Trần. Tuy mang danh Cố-vấn nhưng ba ông vẫn còn uy quyền tuyệt đốị
– cũng trong thời gian ấy, cả thế giới (trừ Trung-quốc) đều có chính sách ngoại giao rất đẹp với Việt-Nam: Hoa-kỳ (Tổng-thống Bill Clinton), Liên-Âu, các nước ASEAN đang theo đuổi chính sách ngoại giao rất mềm dẻo với Việt-Nam, nhất là Tổng-thống Clinton ký sắc lệnh bỏ cấm vận Việt-Nam, mở cửa cho sinh viên Việt-Nam sang du học Hoa-kỳ, mở cửa cho hàng Việt-Nam được nhập vào Hoa-ky. Nói tóm lại, thời gian từ nửa năm 1999 cho đến cuối năm 2000, Việt-Nam không bị một áp lực quốc tế nguy hiểm nào đến độ phải nhượng đất, nhượng biển cho Trung-quốc để được viện trợ vũ khí, để được che chở.
– cũng thời gian trên, Trung-quốc, Việt-Nam không có tranh chấp lãnh thổ, không có đụng chạm biên giới, không có căng thẳng chính trị, không có chiến tranh. Vậy vì lý do nào mà các ông ấy cắt đất, cắt biển cho Trung-quốc? 4.2 – Chi tiết vụ cắt đất.
Vụ cắt đất ký ngày 30-12-1999 thì tôi được biết tin chi tiết do hai ký giả Trung-quốc là bạn với tôi thông vào ngày 9-1-2000 nghĩa là 10 ngày sau, hai anh thuật theo tinh thần bản hiệp định thì:
– Việt-Nam nhường cho Trung-quốc dọc theo biên giới, 789 cây số vuông (chứ không phải 720 như tin lộ ra trong nước) thuộc hai tỉnh Cao-bằng, Lạng-sơn.
– Có mấy hiệp định thư (Photocol) đính kèm về việc thi hành. Quan trọng nhất là :
– Nhượng vùng Cao-bằng, sát tới hang Pak-bó, nơi Chủ-tịch Hồ Chí Minh ẩn thân lãnh đạo cuộc kháng chiến. Hang này trở thánh địa của đảng Cộng-sản Việt-Nam, trước kia nằm rất xa biên giới (khoảng 50 km), nay nằm sát biên giới.
– Nhượng vùng đất bằng phẳng thuộc tỉnh Lạng-sơn nơi có cửa ải Nam-quan.
Thưa Qúy-vị,
4.3 – Ảnh hưởng vụ cắt đất.
4.3.1 – Mất biểu tượng năm nghìn năm của tộc Việt.
Khu Ải Nam-quan này là vùng đất thiêng, là Thánh địa trong mấy nghìn năm của người Việt. Bất cứ người Việt nào từ 6 tuổi trở lên đều biết rằng Ải Nam-quan là vùng đất tượng trưng biên giới phía Bắc, tượng trưng cho lãnh thổ, cho tinh thần tự chủ, cho niềm tự hào của họ. Ðây là vùng đất đi sâu vào lịch-sử, văn-học và tâm tư toàn thể người Việt. Trở về quá khứ, trong lần mạn đàm giữa Chủ-tịch Mao Trạch Ðông và Chủ-tịch Hồ Chí Minh. Chủ-tịch Mao Trạch Ðông đã nói:
“Cái tên Ải Nam-quan nhắc nhở đến cuộc chiến do bọn phong kiến Hoa, Việt làm xấu tình hữu nghị nhân dân. Tôi xin đổi thành Mục Nam-quan. Mục là mắt, coi như nhân dân Trung-quốc luôn hướng mắt nhìn về nhân dân Việt ở phương Nam. Ngược lại, coi như mắt của nhân dân Việt luôn nhìn về Bắc với tình hữu nghị”.
Chủ-tịch Hồ Chí-Minh vui vẻ chấp thuận. Nhưng trên thực tế, chỉ có phía Trung-quốc in trên bản đồ địa danh Mục Nam-quan mà thôi. Còn phía Việt-Nam trên bản đồ hành chính, trên báo chí, văn học, vẫn dùng từ Ải Nam-quan hay cửa Hữu-nghị.
4.3.2 – Mất cửa ngõ giao thông lịch sử giữa tộc Hoa, tộc Việt.
Tôi đã nhiều lần từ Việt-Nam sang Trung-quốc bằng cửa ải này và ngược lạị lãnh thổ Hoa-Việt được phân chia bởi một con sông nhỏ. Ðây là cửa họng giao thông của Trung-quốc, Việt-Nam bằng đường bộ. Suốt hơn mấy nghìn năm qua, dân Hoa-Việt giao thương đều qua đây. Chính vì vậy mà con đường quốc lộ xuyên Việt mang tên Quốc-lộ 1, được đánh số cây số Zéro từ đầu cây cầu Nam-quan. Tất cả thư tịch Việt-Nam đều chép rằng:
“Con đường Bắc-Nam khởi từ ải Nam-quan”.
Hoặc : “lãnh thổ Việt-Nam Bắc giáp Trung-hoa, khởi từ ải Nam-quan đến mũi Cà-mâu theo hình chữ S”.
Bây giờ nếu Quý-vị vào Website của Bộ Ngoại-giao Việt-Nam, Quý-vị sẽ không thấy hàng chữ trên mà chỉ thấy câu: “lãnh thổ Việt-Nam khởi từ cây số không ở phía Bắc”.
Thưa Quý-vị,
Cái cây số không đó là cây số 5 cũ đấy. Cột cây số Zéro bây giờ ở phía Nam cột Zéro cũ 5 cây số. Từ cây số Zéro đến cây số 5 nay thuộc Trung-quốc.
Sát cây cầu Nam-quan, phía bên Trung-quốc cũng như Việt-Nam, đều có nhiều cơ sở:
– Cơ sở Hải-quan.
– Bãi đậu cho hằng trăm xe tải để chờ kiểm soát, chờ làm thủ tục nộp thuế.
– Cơ sở di trú của Công-an để kiểm soát Passeport.
– Ðồn của quân đội để tuần phòng, bảo vệ lãnh thổ.
– Hằng chục cơ quan khác như Bưu điện, Ngân-hàng, công ty điện, nước.
– Về phía dân chúng, hằng trăm cửa hàng ăn, nhà ngủ, khách sạn…
Các cơ sở phía Nam thuộc Việt-Nam, trong chiến tranh Hoa-Việt 1979, quân đội Trung-quốc đã san bằng hết, kể cả cây cột biên giới. Tuy vậy, sau chiến tranh, đã xây dựng lại hoàn toàn. Từ khi có phong trào mở cửa, đổi mới chính trị, dân chúng cả hai bên đã xây dựng lại khang trang hơn cũ, rộng lớn hơn cũ và hiện đại hơn cũ. Nhưng từ khi hiệp định 30-12-1999 ký thì toàn bộ khu này thuộc Trung-quốc, những cơ sở đó bây giờ được thay bằng một tòa nhà duy nhất.
4.3.3, Mất dân, mất di tích lịch sử
Ði sâu vào khu vực phía Nam của Nam-quan ít cây số nữa là quận lỵ Ðồng đăng rồi tới tỉnh lỵ Lạng-sơn. Ðây cũng là đất thiêng, khu có di tích văn hóa lịch sử của tộc Việt: Ðộng Tam-thanh, tượng núi Tô-thị, thành của bọn giặc Mạc trên núi. Vùng Lạng-sơn xưa là Thủ-đô của con cháu giặc MạcÐăngÐung mà năm 1540 đã dâng đất cho Trung-quốc để được bao che cát cứ quân phiệt một thời gian. Trong chiến tranh Hoa-Việt 1979, hầu như toàn bộ các cơ sở kỹ nghệ, cầu cống, dinh thự, di tích tôn giáo, lịch sử, cơ sở hành chính, thương mại, kể cả nhà cửa của dân chúng bị san bằng. Chắc Quý-vị cho rằng tôi dùng từ Coventry có đôi chút quá đáng. Thưa Quý-vị từ Coventry cũng chưa đủ để chỉ việc quân đội Trung-quốc đã làm ở Lạng-sơn. Kinh khiếp nhất là động Nhất-thanh, Nhị-thanh, Tam-thanh, họ cũng dùng đại bác bắn vào làm hư hại rất nhiềụ
Ði sâu về phía Nam ít cây số nữa là Ải Chi-lăng, nơi mà quân Trung-quốc vượt qua không biết bao nhiêu lần để tiến về thủ đô Thăng-long của Việt-Nam xưa. Tại đây đã diễn ra những trận chiến ác liệt, khiến ít nhất 73 vạn quân của các triều đại Tống, Mông-cổ, Minh, Thanh bị giết. Và cũng tại đây, có không biết bao nhiều tướng của các triều đại trên bị tử trận. Khi quân Việt giết những tướng, dù vào thời kỳ nào chăng nữa thì đầu vẫn bêu tại một mỏm núi, gọi là núi Ðầu-quỷ. Tại ải Chi-lăng, núi Ðầu-quỷ đều khắc bia đá ghi lại di tích lịch sự Hồi chiến tranh Hoa-Việt 1978, khi các tướng Hồng-quân cho quân tiến đến đây, nghe nhắc chuyện cũ thì họ toát mồ hôi lạnh, phải ngừng lại.  May mắn thay, khu này vẫn còn thuộc lãnh thổ Việt.
Trở lại vùng đất mà đảng Cộng-sản Việt-Nam đã nhượng cho Trung-quốc, dĩ nhiên họ nhượng cả dân chúng nữa. Trong năm nghìn năm lịch sử chiến tranh Hoa-Việt, dân chúng, chiến sĩ tại vùng này là lực lượng đầu tiên chống quân Trung-quốc. Họ phải hy sinh tính mạng, tài sản đầu tiên, khi quân Trung-quốc đánh sang. Có không biết bao nhiêu di tích, huyền sử về núi non, về sông ngòi về cuộc chiến, về gương anh hùng. Chính quyền các triều đại đều tuyên dương công lao của họ, họ từng hãnh diện đời nọ sang đời kia. Bây giờ vùng này trao cho Trung-quốc, kẻ thù năm nghìn năm của họ. Họ bị mất mát quá nhiều về tinh thần. Họ phải cúi mặt chịu sự cai trị của kẻ thù. Bao nhiêu di tích lịch sử, huyền sử phải phá bỏ, không được nhắc tới. Thương tổn tinh thần quá lớn Gần đây nhất, trong chiến tranh 1978, phía Việt cũng như Trung-quốc, chôn trên lãnh thổ mình, dọc theo biên giới mấy chục vạn quả mìn, sau chiến tranh mới đào lên. Phía Việt lập rất nhiều đồn, hầm, công-sự chiến đấu dọc biên giới thành 4 vòng đai. Mấy chục nghìn chiến sĩ Việt tử trận tại đây. Hiện những cơ sở đó vẫn còn. Trong khu vực này dân chúng, gia đình liệt sĩ đã ghi dấu tưởng niệm thân nhân họ, nay trao cho Trung-quốc, dĩ nhiên các di tích này bị phá hủy. Dân chúng đang là lực lượng chong mặt với kẻ thù, bảo vệ lãnh thổ, nay họ bỗng trở thành những người Trung-quốc bất đắc dĩ.  Các vòng đai phòng thủ bị mất. Dân tộc Việt-Nam mất mát về an ninh quá nhiều.
4.4 – Vụ cắt lãnh hảị
Hiệp định phân định lãnh hải Việt-Nam, Trung-quốc ngày 25-12-2000.
Từ giữa thế kỷ thứ 19 về trước, chưa từng có việc ấn định rõ lãnh hải Việt-Hoa. Tuy nhiên vào thế kỷ thứ 15, Việt-Nam đã định lãnh hải qua vụ nhà vua sai vẽ Hồng đức bản đồ.Theo bản đồ này thì các quần đảo Hoàng-sa (Tây-sa) và Trường-sa (Nam-sa) thuộc Ðại-Việt. Và hai quần đảo đó đều thuộc Việt-Nam cho đến khi Bộ Chính-trị thời 1958 trao cho Trung-quốc (trên lý thuyết). Vào những thời kỳ ấy (1500-1887), Thủy-quân cũng như thương thuyền, tầu đánh cá của cả Hoa lẫn Việt chỉ là những thuyền nhỏ, không ra xa bờ biển làm bao nên chưa có những đụng chạm. Sau khi triều Nguyễn của Việt-Nam ký hòa ước năm 1884, công nhận quyền bảo hộ của Pháp thì người Pháp mới định rõ lãnh hải. Nước Pháp với tư cách bảo hộ Việt-Nam, đã ký với Thanh-triều hòa ước 1887, định rõ lãnh hải trong vùng vịnh Bắc-Việt. Ðối với hòa ước này, Việt-Nam đã chịu khá nhiều thiệt hại vì mất một số đảo mà dân chúng là người Việt, nói tiếng Việt, mặc y phục Việt, sống trong văn hóa Việt. Cho đến nay (2001), dân trên các đảo này vẫn còn nói tiếng Việt, ẩm thực theo Việt và dùng y phục Việt. Chúng tôi đã từng thăm vùng này hồi 1983. Tuy nhiên với hòa ước 1887, lãnh hải vịnh Bắc-Việt được phân chia như sau: Trung-quốc 38% Việt-Nam 62% . Ðối với người Pháp, thời đó họ chưa hiểu rõ tình trạng giữa Trung-hoa và Việt-Nam, họ thấy Thanh-triều chấp nhận 38%, thì cho rằng mình thắng thế. Còn Thanh-triều khi đạt được 38%, họ coi như một món quà trên trời rơi xuống vì trong quá trình lịch sử, Trung-quốc vẫn coi vịnh Bắc-Việt là của Việt-Nam. Chứng cớ:
– Vùng đất Hợp-phố là đất cực Nam của Trung-quốc, thế nhưng lại có hải cảng Bắc-hải. Bắc đây chỉ có thể là Bắc đối với Việt-Nam. Nếu là đất của Trung-quốc họ phải gọi là thị xã Nam-hải chứ? Rõ ràng vùng này là đất cũ của Việt-Nam.
– Vùng vịnh nằm ở phía Nam Trung-quốc, phía Tây đảo Hải-Nam, phía Ðông Bắc Việt-Nam mà Pháp-Hoa ký hòa ước 1887 đó, Việt-Nam gọi là vịnh Bắc-Việt. Trung-quốc cũng gọi là vịnh Bắc-bộ. Cho đến nay (2001), họ cũng vẫn dùng tên đó. Vậy thì rõ ràng vịnh này của Việt-Nam. Nếu của Trung-quốc thì họ phải gọi là vịnh Nam-bộ chứ? Bây giờ đến hiệp định Việt-Hoa 25-12-2000 thì vùng vịnh Bắc-bộ được chia ra như sau: Việt-Nam 53% Trung quốc 47%. So với trước 1887 thì Việt-Nam chỉ mất có 38%, nay mất thêm 9% nữa!
4.5 – Ảnh hương vụ cắt lãnh hảị
4.5.1 – Mất lãnh hải, quốc sản.
Theo hiệp định này thì rõ ràng đảng Cộng-sản Việt-Nam đã nhường cho Trung-quốc tới 9% lãnh hải vùng vịnh Bắc-Việt. Cái đau đớn là vùng nhượng là vùng:
– Có nhiều hải sản về cá thu, cá song, cá hồng, mực là những loại hải sản quý – Dưới đáy biển có mỏ hơi đốt, và dầu lửa – Một số đảo trong vùng nhượng thuộc Trung-quốc.
4.5.2 – An ninh quốc gia bị đe dọạ
Nếu vụ nhượng đất nguy hại về phương diện tinh thần, kinh tế thì vụ nhượng lãnh hải lại nguy hại về an ninh vì Trung-quốc có thể dùng các đảo này làm phi trường quân sự, căn cứ Hải-quân để uy hiếp Thủ-đô Hà-nội và các tỉnh trung châu Bắc-Việt và miền Trung, miền Nam Việt-Nam. Tin của ECL ghi lại, trong những cuộc hội đàm Hoa-Việt về lãnh hải, Trung-quốc đòi cho được mấy đảo nhỏ trong vùng. Cũng những tin của ECL về các cuộc hội của Bộ Chính-trị đảng Cộng-sản Việt-Nam thì việc chủ trương nhượng các đảo do quyết định của toàn thể, không do ba ông Cố-vấn Ðỗ Mười, Lê Ðức-Anh hay Võ Văn-Kiệt. Ðể tỏ ý hoàn toàn quy phục Trung-quốc, Bộ Chính trị cũng trao cho Trung-quốc toàn bộ kế hoạch phòng thủ phía Bắc Việt-Nam. Theo ý kiến chúng tôi thì trong Bộ Chính-trị bấy giờ, nhóm quân đội rất mạnh, chủ chốt có ba vị tướng là Lê Khả-Phiêu, Phạm Văn-Trà, Phạm Thanh-Nhàn. Trong tài liệu này, có phần ước tính tình hình Trung-quốc, Việt-Nam, đại lược như sau:
“- Trung-quốc không có khả năng dùng Không-quân tấn công vào Thủ-đô Hà-nội và các tỉnh đồng bằng Bắc-bộ vì khoảng cách từ các phi trường Quảng đông, Quảng-tây, Vân-nam, Hải-Nam quá xa, phi cơ chỉ có thể tới oanh tạc nhưng trở về thì không đủ nhiên liệu.
– Nếu Trung-quốc tiến công bằng đường bộ thì ít nhất phải có một triệu quân. Với một triệu quân mỗi ngày cần 10.000 lượt ô-tô tiếp tế mà đường bộ thì các ngả Lai-châu, Lào-cai, Hà-giang không dùng được. Chỉ có ba ngả chính tạm dùng: Một là Lạng-sơn, hai là Hạ-long (Quảng-yên cũ), ba là Cao-bằng. Ba ngả đó đường sá gồ ghề, núi non hiểm trở. Với 10.000 lượt xe thì chỉ ba ngày là đường nát hết.
– Ðịa thế hiểm trở, khúc khuỷu của ba con đường này, chỉ cần ba người đóng một chốt, cũng đủ cản trở một ngày tiếp tế – Trong bối cảnh chiến tranh Hoa-Việt xẩy ra,thì Thủ-đô cũng như Bộ Chính-trị, Bộ Tổng Tư-lệnh có thể chuyển vào Thành-phố Hồ Chí-Minh.
– Trường hợp đó bắt buộc Trung-quốc phải dùng đường biển tiếp tế, chuyển quân. Hai quân cảng lớn sử dụng sẽ là Bắc-hải, Quảng-châu, Hải-Nam. Cả ba cùng xa, rất khó khăn”.
Bây giờ Trung-quốc được mấy đảo trong vịnh Bắc-Việt, rất gần với thềm lục địa của trung châu Bắc-bộ, miền Trung và miền Nam. Nếu như Trung-quốc thiết lập căn cứ Không-quân, Hải-quân, trạm tiếp vận tại đây thì toàn bộ lãnh thổ Việt-Nam bị uy hiếp nặng nề. Ông Lê Khả-Phiêu, Phạm Văn-Trà, Phạm Thanh-Nhàn đều là tướng lãnh, từng cầm quân trên 40 năm thì các ông phải biết rõ điều đó. Biết nhưng các ông vẫn làm thì có nghĩa là các ông muốn: “Việt-Nam vĩnh viễn nằm trong vòng kiềm tỏa của Trung-quốc”. Còn như các ông ấy làm việc đó để được gì, cho ai, vì ai thì tôi chịụ…
Bác sĩ/Tác giả TRẦN ĐẠI SỸ (Paris, Pháp Quốc).

Mr. Nam Van Nguyen
thongnhat@aol.com

—–Original Message—–
From: Son Dang <danghungson555@gmail.com>
To: Son Dang <Danghungson555@gmail.com>
Sent: Mon, Mar 9, 2015 3:37 am
Subject: Fwd: : Bí mật động trời: VC bán nước cách nào cho Tầu Cộng ?

Giám Đốc Trung Quốc Sự Vụ của Viện Pháp-Á tiết lộ động trời: Hồ Chí Minh và Ðảng CSVN đã bán nước Việt cho Trung Quốc như thế nào?
LGT.- Tác giả Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ hiện là Bác Sĩ Giám Đốc Trung Quốc Sự Vụ tại Viện Pháp-Á (IFA), Thành Viên trong Y Sĩ Đoàn Pháp Quốc. Ông là người cầm bút nổi tiếng trước và sau năm 1975, đã ấn hành được hơn 100 ngàn trang sách về lịch sử và y học. Sự kiện Đảng CSVN đã hiến đất dâng biển cho Trung Quốc ra sao. Bí mật của vụ này đã được Bác Sĩ Trần Ðại Sỹ trình bày trong Bản Ðiều Trần trước cơ quan IFA và được Saigon HD Radio trích đoạn các phần quan trọng sau đây:
alt
Bác sĩ/Tác giả Trần Đại Sỹ hội ngộ cùng 3 cựu Sĩ Quan Võ Bị Dalat tại Dallas (Texas) ngày 26 tháng 5 năm 2012. Hình từ trái qua phải: Thi văn sĩ Quốc Nam (Khóa 22 VB), Dr. Trần Đại Sỹ, cựu Trung Tá Nguyễn Quang Vinh (Khoá 14 VB), và cựu Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Bình-Tuy Nguyễn Ngọc Ánh (Khóa 16 VB). 
Bản điều trần nêu lên nhiều chi tiết đau lòng. Theo BS Trần Ðại Sỹ, “Vụ cắt đất ký ngày 30-12-1999 thì tôi được biết tin chi tiết do hai ký giả Trung-quốc là bạn với tôi thông báo vào ngày 9-1-2000 nghĩa là 10 ngày sau, hai anh thuật, theo tinh thần bản hiệp định thì: Việt-Nam nhường cho Trung-quốc dọc theo biên giới 789 cây số vuông (chứ không phải 720 như tin lộ ra trong nước) thuộc hai tỉnh Cao-bằng, Lạng-sơn”.
Trong khi đó, Bộ Giao Thông CSVN lặng lẽ sơn lại các cọc cây số và Bộ Ngoại Giao CSVN cũng lặng lẽ lên trang web sửa thành câu văn mới: “lãnh thổ Việt-Nam khởi từ cây số không ở phía Bắc”.
Lý do, theo BS Sỹ, vì “Cái cây số không đó là cây số 5 cũ đấỵ. Cột cây số Zéro bây giờ ở phía Nam cột Zéro cũ 5 cây số. Từ cây số Zéro đến cây số 5 nay thuộc Trung-quốc”.
Các phần quan trọng trong bản văn ghi như sau:
Bí ẩn về việc đảng CSVN, Lãnh đạo nhà nước cắt lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-quốc
Bản điều trần của Yên-tử cư-sĩ TrầnÐại Sỹ
Dr. Trần Ðại-Sỹ, 5, place Félix Éboué 75012 PARIS, FRANCE.
LGT: Trong mấy tháng gần đây, nội địa Việt-Nam cũng như hải ngoại đều rúng động vì tin nhà nước hay nói đúng hơn là đảng Cộng-sản Việt-Nam đã nhượng lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-quốc.Ðau đớn nhất là địa danh lịch sử Nam-quan đi vào tâm tư là niềm tự hào của tộc Việt nay đã ở trong lãnh thổ Trung-quốc.
Ngay cả hang Pak-bo là thánh địa của đảng Cộng-sản, trước kia ở cách biên giới Hoa-Việt trên 50 km, nay đứng ở đây gần như nhìn vào lãnh thổ Trung-quốc. Trong suốt 25 năm qua, Bác-sĩ TrầnÐại-Sỹ vì ký khế ước làm việc với Liên-hiệp các viện bào chế châu Âu (CEP) và Ủy-ban trao đổi y học Pháp-hoa (CMFC), trong đó có điều căn bản là “không được viết, được thuật những gì với báo chí về Trung-quốc, Việt-Nam hiện tại; không được tham gia các đoàn thể chính trị chống đối Trung-quốc, Việt-Nam” nên không bao giờ ông tiết lộ bất cứ điều gì mắt thấy tai nghe trong những lần công tác tại Trung-quốc hay Việt-Nam. Tuy nhiên, ông đã được một cơ quan (chúng tôi giấu tên) triệu hồi để điều trần về vụ này. Theo luật lệ hiện hành mà Bác-sĩ Trần phải tuân theo, rất mong các vị đứng đầu CEP-CMFC thông cảm với chúng tôị (IFA).
Kính thưa Ngài … Kính thưa Quý Ngài,  Kính thưa ông Giám-đốc… Kính thưa Quý-liệt-vị,
Thực là hân hạnh, khi mới ngày 17-3 vừa qua, chúng tôi được cử đến đây để trình bầy những vụ việc đang diễn ra tại vùng Á-châu Thái-bình dương. Hôm nay, chúng tôi lại được gửi tới trình bầy về diễn biến trong vụ việc chính phủ Cộng-hòa Xã-hội Chủ-nghĩa Việt-Nam (CHXHCNVN) cắt nhượng lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-hoa Nhân-dân Cộng-hòa quốc (THNDCHQ), gọi tắt là Trung-quốc. Ðây là một việc cực kỳ tế nhị, cực kỳ khó khăn cho tôi, làm thế nào giữ được tính chất vô  tư vì:
– Thứ nhất, tôi gốc là người Việt, hơn nữa thuộc giòng dõi một vị Vương đứng hàng đầu trong lịch sử Việt, vì ngài thắng Mông-cổ liên tiếp trong ba lần vào thế kỷ thứ 13 mà nay tôi phải nói về những người đem lãnh thổ Việt nhượng cho Trung-quốc, khó mà diễn tả lời lẽ vô tư cho được.
– Thứ nhì, ngoài chức vụ giáo-sư Y-khoa ra, tôi là một tiểu thuyết gia, đã viết trên mười bốn nghìn trang, thuật huân công của các anh hùng tộc Việt trong việc dựng nước, giữ nước mà suốt trong năm nghìn năm lịch sử, chỉ duy năm 1540, giặc Mạc Dăng-Dung cắt đất dâng cho triều Minh của Trung-quốc bị tộc Việt đời đời nguyền rủa. Vậy mà nay phải chứng kiến tận mắt lãnh thổ Việt bị cắt cho Trung-quốc.
– Thứ ba, các sinh viên Việt-Nam muốn du học Pháp thường bị vài tổ chức đòi phí khoản 20 nghìn USD mỗi đầu người. Một vị Ðại-sứ của Việt-Nam tại châu Âu mời tôi về nước (tất cả chi phí do tiền của IFA) để giúp sinh viên Việt-Nam du học Pháp. Với sự hướng dẫn của tôi, từ nay sinh viên muốn du học Pháp, họ đã biết rất rõ những gì phải làm, những gì phải chứng minh. Họ không phải tốn một đồng nào cả nhưng khi trở về Pháp, lúc lên phi cơ tại phi trường Tân-sơn-nhất, tôi bị ba sĩ quan cao cấp của Công-an chờ sẵn, hạch sách, khám xét trong khoảng 98 phút bằng những câu hỏi có tính cách nhục mạ, ngớ ngẩn, lời lẽ cục súc. Tôi cho đây là một hình thức khủng bố. Thưa Quý-vị, hôm đó tôi chỉ cười nhạt, khinh rẻ vì tôi biết rất rõ kiến thức, mục đích của họ trong khi họ không đủ khả năng bịa ra bất cứ tội gì để kết tội tôi. Hơn nữa, tôi giữ trong tay một ủy nhiệm thư, theo Công-pháp Quốc-tế, họ không thể công khai vị phạm.(1)
Ðứng trước vùng đất thiêng của tổ tiên, nay vĩnh viễn trở thành đất của người tự nhiên tôi bật lên tiếng khóc như trẻ con. Viên sĩ quan Công-an Trung-quốc tưởng tôi là người Hoa, anh ta hỏi:
– Tiên sinh có thân nhân tử trận trong dịp mình dạy bọn Nam-man bài học à?
Tôi lắc đầu, khóc tiếp, anh an ủi:
– Thôi, người thân của Tiên-sinh đã hy sinh dưới cờ thực nhưng nay bọn Nam-man đã dâng đất này tạ tội rồị, Tiên sinh chẳng nên thương tâm nhiềụ.
Tôi kiếm tảng đá ngồi ôm đầu khóc. Anh Công-an bỏ mặc tôị Khóc chán, tôi trở sang Bằng-tường, kiếm một cơ sở mai táng (xây mộ, làm mộ chí). Tôi mượn họ khắc trên một miếng đá bóng nhân tạo (granite) bài thơ bằng chữẠ Hán như sau:
1.Thử địa cựu Nam-quan,
2.Biên địa ngã cố hương.
3.Kim thuộc Trung-quốc thổ,
4.Khấp, khốc, ký đoạn trường.
5.Lê Hoàn bại Quang-Nghĩa,
6.Thường Kiệt truy Bắc phương,
7.Hưng Ðạo đại sát Ðát,
8.Lê Lợi trảm Vương Thông.
9.Nam xâm, Càn-Long nhục,
10.Gươm hồng Bắc-bình vương.
11.Ngũ thiên niên dĩ tải,
12.Hoa, Việt lập dịch trường.
13.Mao, Hồ tình hữu nghị,
14.Nam, Bắc thần xỉ thương,
15.Huyết lệ vạn dân cốt,
16.Hồng-kỳ thích ô hoang.
Ðại-Việt vong quốc nhân Trần Ðại-Sỹ-Khốc đề lục nhật, cửu nguyệt, niên đại 2001.
Tôi đem tảng đá này, gắn vào một vách núi ngay cạnh đường, trên độ cao khoảng 2-3m. Công-an, cán bộ Trung-quốc xúm lại xem nhưng họ chỉ hiểu lơ mơ ý trong thơ mà thôị – Xin tạm dịch:
1.(Ðất này xưa gọi Nam-quan,)
2.(Vốn là biên địa cố hương của mình.)
3.(Hiện nay là đất Trung-nguyên,)
4. (Khóc chảy máu mắt, đoạn trường ai hay)
5.(Vua Lê thắng Tống chỗ này,)
6.(Thường Kiệt rượt Tiết cả ngày lẫn đêm,)
7.(Thánh Trần sát Ðát liên miên,)
8.(Lê Lợi giết bọn Thành-sơn bên đồi,)

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Lễ Đản Sanh Đức Huỳnh Giáo Chủ bị ngăn cản…

Lễ Đản Sanh Đức Huỳnh Giáo Chủ bị ngăn cản…

 

Bản tin RFA kể về một đaị lễ PGHH ở tỉnh An Giang: hôm 15-1-2015 là ngày kỷ niệm Đức Huỳnh Giáo chủ Đản sanh.

 

Ngày 25 tháng 11 Âm lịch năm nay nhằm ngày 15 tháng 1 năm 2015 kỷ niệm 95 năm ngày Đản sinh của Huỳnh Giáo chủ. đồng đạo Phật giáo Hòa hảo khắp nơi đổ về An Giang để hành lễ và đã gặp sự cản trở của an ninh, công an phối hợp với cảnh sát giao thông và côn đồ bằng mọi cách không cho họ tới Quang Minh Tự nơi được xem là cơ sở chính thức để tín đồ Phật giáo Hòa hảo độc lập tập trung cầu nguyện và hành lễ tưởng niệm Đức Thầy.

 

Bắt đầu từ nhiều ngày trước các nẻo đường đã bị phong tỏa, anh Nguyễn Bắc Truyển, một tín đồ Phật giáo Hòa hảo cho biết:

 

“…năm nay tại chùa Quang Minh Tự như hàng năm vẫn tổ chức cho các tín đồ Phật giáo Hòa hảo độc lập không liên quan gì tới các tổ chức Phật giáo Hòa hảo do nhà nước lập ra để tổ chức kỷ niệm ngày Đản sinh của Đức Thầy. Theo tôi được biết công an mật vụ đã bao vây rất nhiều tín đồ Phật giáo Hòa hảo tại miền Tây cũng như tại chùa Quang Minh Tự vào ngày hôm qua và hôm nay…”

 

RFA nói rằng Nguyễn Hoàng Nam là người bị ngăn chận ngay tại nhà không cho đi dự lễ, ông Nam nói:

 

“…Cấm đoán những nơi như chùa Quang Minh Tự, đạo tràng của ông Bùi Văn Chung, Hoài Nam… nhân dân các tỉnh miền Tây đều bị trấn áp hết. Mỗi khi lễ tới trước ngày 23, 24, 25 họ đã chặn trước người dân, họ cấm đoán hết.”

 

Bản tin cũng ghi lời Ông Võ Văn Thanh Liêm, trụ trì Quang Minh Tự cho biết tình trạng công an ngăn cản tín hữu Hòa hảo trong ngày hôm Thứ Tư và Thứ Năm như sau:

 

“Hôm nay là ngày Đản sinh của Đức Huỳnh Giáo chủ đàng này cũng tổ chức nhưng vào ngày 22 thì nó đã gác rồi tới sáng 24 nó mới chặn tiếp. Anh em đi vô Quang Minh Tự thì nó chặn ai cãi thì đánh, mấy đứa cháu tôi cũng bị đánh, người nhà còn bị đánh. Nó để máy nó xịt nước cứt bò và dùng những thứ tục tỉu nó chửi người Phật giáo Hòa hảo. Cộng sản nó nói một đường nó làm một ngã từ xưa nay. Anh em xa xứ bên hải ngoại cũng vì cộng sản mới lưu lạc mấy chục năm trường.

 

Hôm nay nó không chặn ngay trước cửa nhưng cách đó vài chục thước chặn đầu trên đầu dưới ai chạy tới thì nó ngăn, vô Quang Minh Tự nửa chừng vô không được. Ở ngoài đường cái thì nó án ngữ rất đông làm cho người ta sợ còn vô một khúc rồi nó chặn lại không cho vô. Mình đi với đồng đạo nó vẫn đánh như thường.”

 

Tương tự, RFA đã phỏng vấn người tù nhân lương tâm Võ Văn Vũ:

 

“…Cảnh sát giao thông đến từng nhà chận không cho anh em ra khỏi nhà để đi làm lễ. Riêng Quang Minh Tự trụ trì là ông Võ Văn Thanh Liêm từ hôm qua tới nay vẫn bị bao vây bên ngoài, đồng đạo đến họ chận lại họ không cho vào.

 

Riêng tôi thì không đi ra khỏi nhà được. Sáng nay có hai vợ chồng hai em là Nguyễn Thanh Phong, Nguyễn Ngọc Hà là hai cựu tù nhân lương tâm một đứa sáu năm một đứa 4 năm tù bị chung một lượt với tôi kỳ đó sáng nay hai cháu đi làm lễ thì an ninh công an họ chận họ nói không ra khỏi nhà hai cháu phải quày trở về.”

Sent from my iPad

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

DỰ ĐỊNH THỰC HIỆN “MÁY NIỆM PHẬT & ĐỌC GIẢNG PGHH”

DỰ ĐỊNH THỰC HIỆN “MÁY NIỆM PHẬT & ĐỌC GIẢNG PGHH”

Inbox x

Vu Nguyen <vuhomemax@gmail.com>

11/13/14
to bcc: me

Kính gởi quý đạo hữu, quý đồng đạo!

 

Thời gian qua, với sự hổ trợ về mặt tinh thần, ý kiến đóng góp, cùng phần kỹ thuật… từ những đồng đạo xa gần, đã giúp em cháu có ý định thực  hiệnchương trình “MÁY NIỆM PHẬT & ĐỌC GIẢNG PGHH”, với mục đích mang giáo lý đạo đến với đại chúng.

 

Đây là việc làm nhằm thực thi theo lời chỉ giáo của Đức Thầy về Ân Tam Bảo: “… bổn phận chúng ta phải noi theo chí đức của tiền nhân hầu làm sao cho trí tuệ minh mẫn đặng đi đến con đường giải thoát, dẫn dắt giùm những kẻ sa cơ, và nhứt là phải tiếp tục khai thông nền Đạo đức đặng cái tinh thần từ bi bác ái được gieo rải khắp nơi nơi trong bá tánh.  Như thế mới chẳng phụ công trình vĩ đại của Đức Phật và của tiền nhân để lại, và không đắc tội với kẻ đời sau vậy.”

 

Nay em cháu xin gởi những thông tin của dự định thực hiện, kính mong quý đạo hữu, quý đồng đạo xem qua.  Hiện tại, công việc thực hiện đang bước vào giai đoạn; củng cố phần nội dung, định giá thành phẩm, thực hiện những máy mẫu…  Nếu thành công, bước kế tiếp sẽ là phần kiểm tra nội dung, chất lượng âm thanh, kêu gọi vận động…  Trong giai đoạn nầy, em cháu cùng những đồng đạo trẻ khắp nơi rất cần sự hổ trợ về mọi mặt từ nơi quý vị.

 

Em cháu kính mong quý vị xem đây là dự kiến chung của tập thể tín đồ, tín hữu của đạo khắp mọi nơi.  Chúng ta hãy đồng tâm, hiệp sức, hỗ trợ nhau để cùng đi trên con đường phụng sự đạo pháp.  Xin chân thành cảm tạ những hổ trợ của quý đạo hữu, quý đồng đạo gần xa trong thời gian qua.  Khi có những thông tin cập nhật cho dự kiến, em cháu sẽ thông báo để quý vị tận tường.

 

Trân trọng,

Vũ Nguyễn

 

DỰ ĐỊNH THỰC HIỆNMÁY NIỆM PHẬT & ĐỌC GIẢNG PGHH

________ *** ________

 

  1. Mục đích:

1-    Bảo tồn xiển dương giáo pháp của Tổ Thầy cùng nền đại đạo của Đức Thế Tôn đến với đại chúng.

2-    Tạo điều kiện cho những người gặp khó khăn về đọc-viết, những người thiếu phương tiện điện-máy…, ở những vùng sâu vùng xa, tìm về với con đường đạo pháp.

3-    Mang giáo lý đạo đến với mọi môi trường sinh hoạt, từ những nơi ruộng đồng, nương rẫy, những nơi chợ, trong lúc mua bán, trong khi di chuyển…, hầu giúp mọi ngườithấm nhuần những giáo lý đạo.

 

  1. Dự Định thực hiện: Chương trình phát hành, ấn tống “Máy Niệm Phật & Đọc Giảng PGHH”

–        Kích thước bằng máy Niệm Phật bỏ túi.

–        Máy bao gồm: 1 Đoạn Niệm Phật, 6 quyển Sấm Giảngvà những bài Thi Văn (tổng thời lượng nghe 21h-41’).  Chia làm 6 phần sau:

o   Phần 1 – Đoạn Niệm Phật

o   Phần 2 – Sấm Giảng Q1-Q5

o   Phần 3 – Quyển 6

o   Phần 4 – Thi Văn 1

o   Phần 5 – Thi Văn 2

o   Phần 6 – Thi Văn 3

–        Máy bao gồm chức năng chỉnh; lớn-nhỏ, chọn lựa; bỏ qua-trở lại trong 4 phần trên.

–        Máy có thể sử dụng Pin (khi đi xa nhà) hoặc điện (khi ở nhà)

 

III.          Phương thức thực hiện:

–        Máy sẽ sử dụng IC (Bộ Nhớ Trong), được lắp ráp trực tiếp vào board mạch.

–        Mẫu máy, hình hộp và những thông tin… tương tự như hình & thông tin kèm theo.

 

  1. Chi phí và số lượng thực hiện:

–        Giá từ $4$5 cho mỗi máy

–        Số lượng yêu cầu cho sản xuất đợt đầu (có thể thương lượng)

 

  1. Thời gian thực hiện: (dự định phát hành đợt 1 vào cuối năm 2015)

–        Cần thời gian 1 năm cho:

o   Việc vận động

o   Việc kiểm tra chất lượng, âm thanh…

o   Việc xin giấy phép xuất bản, ấn tống

o   Việc sản xuất, đóng hộp, vận chuyển, phân phối…

 

  1. Phương thức vận động:

–        Nhờ sự kêu gọi, tiếp tay của:

o   Từng cá nhân đồng đạo

o   Từng gia đình đồng đạo

o   Những mạnh thường quân…

–        Kêu gọi sự hợp tác, ủng hộ của các BTS, Ban Đại Diện…

3 Attachments

 

 

Preview attachment 1-Dự Định Thực Hiện Máy Đọc GIẢNG.docx

1-Dự Định Thực Hiện Máy Đọc GIẢNG.docx

Preview attachment 2-Mẫu Máy.doc

2-Mẫu Máy.doc

Preview attachment 3-Thông Tin Trên Bìa Hộp.doc

3-Thông Tin Trên Bìa Hộp.doc

 

Categories: Sinh Hoạt Tôn Giáo | Leave a comment

THÔNG TIN CẬP NHẬT VỀ – DỰ ĐỊNH THỰC HIỆN “MÁY NIỆM PHẬT & ĐỌC GIẢNG PGHH”

THÔNG TIN CẬP NHẬT VỀ – DỰ ĐỊNH THỰC HIỆN “MÁY NIỆM PHẬT & ĐỌC GIẢNG PGHH”

Inbox x

Vu Nguyen <vuhomemax@gmail.com>

Jan 9
to bcc: me

Kính gởi quý đạo hữu, quý đồng đạo!

 

Thời gian gần 2 tháng làm việc để điều chỉnh và thống nhất về phần dung lượng, giá thành, các chức năng, số lượng tối thiểu, dịch thuật…, nay đã có những thay đổi cụ thể.  Em cháu xin cập nhật những thông tin cùng quý vị như sau:

 

–        Về thời lượng nghe, có sự thay đổi từ: 21h-41’ trở nên 22h-2’

–        Về giá thành sản xuất, có sự thay đổi từ $4-$5/máytrở nên gần $9/máy (do sự chênh lệch rất lớn về dung lượng, thiếu sót 70-80%, khi gởi-nhận qua email đến nhà máy, cho nên việc định giá đợt 1, chỉ $4-$5/máy)

–        Số lượng tối thiểu là 5,000 máy và tổng chi phí cho việc sản xuất đợt đầu gần $45,000

 

Hiện tại, dự định đang bước vào giai đoạn sản xuất những máy mẫu và làm khuôn bao bì cho 5 máy, với chi phí 8,500,000 VNĐ, bao gồm các linh kiện kèm theo.  Thời gian hoàn thành là sau Tết ta.

 

Bước kế tiếp, sau khi nhận 5 máy mẫu, sẽ là giai đoạn thử nghiệm về chất lượng, âm thanh, chức năng…, cùng việc lên kế hoạch kêu gọi, vận động.

 

Nay em cháu xin cập nhật để quý đạo hữu, quý đồng đạo biết qua.  Em cháu cùng những đồng đạo trẻ khắp nơi mong đón nhận sự hổ trợ về mọi mặt từ nơi quý vị.  Khi có những thông tin cập nhật cho dự định, em cháu sẽ thông báo để quý vị tận tường.

 

Trân trọng,

Vũ Nguyễn

 

 

DỰ ĐỊNH THỰC HIỆNMÁY NIỆM PHẬT & ĐỌC GIẢNG PGHH

________ *** ________

 

  1. Mục đích:

1-    Bảo tồn xiển dương giáo pháp của Tổ Thầy cùng nền đại đạo của Đức Thế Tôn đến với đại chúng.

2-    Tạo điều kiện cho những người gặp khó khăn về đọc-viết, những người thiếu phương tiện điện-máy…, ở những vùng sâu vùng xa, tìm về với con đường đạo pháp.

3-    Mang giáo lý đạo đến với mọi môi trường sinh hoạt, từ những nơi ruộng đồng, nương rẫy, những nơi chợ, trong lúc mua bán, trong khi di chuyển…, hầu giúp mọi ngườithấm nhuần những giáo lý đạo.

 

  1. Dự Định thực hiện: Chương trình phát hành, ấn tống “Máy Niệm Phật & Đọc Giảng PGHH

–        Kích thước bằng máy Niệm Phật bỏ túi.

–        Máy bao gồm 6 phần, với tổng thời lượng nghe 22h-2’:

o   Phần 1 – Đoạn Niệm Phật (5 phút)

o   Phần 2 – Sấm Giảng Q1-Q5

o   Phần 3 – Quyển 6

o   Phần 4 – Thi Văn 1

o   Phần 5 – Thi Văn 2

o   Phần 6 – Thi Văn 3

–        Máy bao gồm chức năng chỉnh; lớn-nhỏ, chọn lựa; bỏ qua-trở lại trong 6 phần trên.

–        Máy có thể sử dụng Pin (khi đi xa nhà) hoặc điện (khi ở nhà)

 

III.          Phương thức thực hiện:

–        Máy sẽ sử dụng IC (Bộ Nhớ Trong), được lắp ráp trực tiếp vào board mạch.

–        Mẫu máy, hình hộp và những thông tin… tương tự như hình & thông tin kèm theo.

 

  1. Chi phí và số lượng thực hiện:

–        Giá khoản $9 cho mỗi máy

–        Số lượng yêu cầu cho sản xuất đợt đầu (5,000 máy, với tổng chi phí khoản $45,000)

 

  1. Thời gian thực hiện: (dự định phát hành đợt 1 vào cuối năm 2015)

–        Cần thời gian 1 năm cho:

o   Việc vận động (bắt đầu –/–/2015 đến –/–/2015)

o   Việc kiểm tra chất lượng, âm thanh…

o   Việc xin giấy phép xuất bản, ấn tống

o   Việc sản xuất, đóng hộp, vận chuyển, phân phối…

 

  1. Phương thức vận động:

–        Nhờ sự kêu gọi, tiếp tay của:

o   Từng cá nhân đồng đạo

o   Từng gia đình đồng đạo

o   Những mạnh thường quân…

–        Kêu gọi sự hợp tác, ủng hộ của các BTS, Ban Đại Diện…

Categories: Sinh Hoạt Tôn Giáo | Leave a comment

ĐỂ TÌM ĐẾN “HỘI LONG HOA”

 

ĐỂ TÌM ĐẾN “HỘI LONG HOA”

 

Nếu từ ngoài nhìn vào giáo lý đạo PGHH, dường như ai cũng chỉ nhận định rằng giáo lý ấy chỉ hành theo tứ Ân, làm tròn Nhân đạo.  Giáo lý ấy chỉ như ánh Trăng khi tỏ khi mờ, khi hành giả chưa hiểu hay chưa nhận rõ về sự “nhiệm sâu” trong giáo lý đạo PGHH.  Và ánh Trăng ấy sẽ là nguồn ánh sáng vô tận dành cho những ai thấu hiểu, ngộ được sự “huyền bí” trong giáo lý của Đức Huỳnh Giáo Chủ.

Với sự nhận định trong bài trước về: “giá trị của giáo lý đạo PGHH, là một kho tàng quí báu dành cho những ai quyết lòng khám phá, tìm hiểu để tìm đến chân Trời mới, như các nhà khoa học Anh Quốc hay các tiến sĩ Tây phương đã làm trong chuyến ‘Hành Trình về Phương Đông’ (Tây Tạng).”  Hơn thế nữa, giáo lý đạo PGHH không chỉ mở lối để nhìn về chân Trời mới, mà chỉ dẫn tận tường các đường đi nẽo lánh để giúp những “Đường Tam Tạng” (hành giả) của ngày nay nhận rõ các phương thức hành trì để thuần phục được “Ngộ Không Tánh, Ngộ Năng Tánh, Ngộ Tĩnh Tánh, Tâm Viên-Ý Mã” của bản thân để tìm đến “Lôi Âm Tự” thỉnh Kinh, cầu đạo.

Giáo lý đạo PGHH khuyên răn tín đồ cùng các bậc hành giả, khởi đầu của việc hành đạo là sự cúng lạy hàng ngày, gìn giới luật, chay lạc, xem Kinh sách….., và trong bài “Tu Thân Xử Kỷ” (Tu xét chính mình), Đức Huỳnh Giáo Chủ còn chỉ rõ: “Sự lễ bái không đủ cho ta tỏ ra một tín-đồ chân thành của đạo Phật được. Tai sao vậy?  Vì Đức Phật chẳng bao giờ ngỏ ý rằng: ‘Các người hãy lạy thờ ta cho nhiều rồi ta sẽ độ giúp các người’ mà trái lại, Ngài dạy rằng: ‘Các người nên hiểu biết phận-sự con người phải làm gì trong kiếp sống và tìm kiếm chân tánh của mình.’  Thiệt-hành theo giáo-lý của Ngài thì Ngài sẽ hướng-dẫn và ủng-hộ vậy.  Ta hãy đem đức-tin trong sạch mà thờ kỉnh Phật và hãy đem lòng lành mà hành-động y theo lời phán dạy của Phật” (để nhận ra “Chánh” Lôi Âm Tự).  Và Ngài cũng khuyên hành giả: “phải điêu-luyện khối tinh-thần cho mạnh-mẽ đặng tự lập con đường rõ-ràng, duy nhất của mối Đạo mình đang học để lấy đó làm cương-mục mà bài trừ những thành-kiến, cố chấp, thói quen, sự chần chờ, lòng ham muốn, tánh kiêu-ngạo, tật-đố, gièm-siểm, dua-nịch, ích-kỷ tư tâm, sự gây gổ, mê đắm trong bể dục-tình và sự phiền-não nó làm cho náo loạn cõi lòng” (để thuần phục: Ngộ Không Tánh, Ngộ Năng Tánh, Ngộ Tĩnh Tánh, cùng Tâm Viên-Ý Mã).  Đó là các việc cần làm, là những căn bản khởi đầu khi đã hạ chí, quyết tâm cầu đạo.

Và Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng chỉ dạy cho tín đồ của đạo về những việc nên làm trong sinh hoạt hàng ngày trong “Lời Khuyên Bổn Đạo” hay “Tám Điều Răn”, là giới luật căn bản của người tín đồ khi đã qui y theo đạo hay cho những hành giả khi đã phát tâm tu tập, như sau: “Khi đã coi giảng thì phải tự xét mình và sửa sang những thói hư tật xấu, mình lầm lỗi thì rứt bỏ và giữ những điều răn cấm sau đây: ĐIỀU THỨ NHỨT: Ta chẳng nên uống rượu, cờ bạc, á phiện, chơi bời theo đàng điếm, phải giữ cho tròn luân lý tam cang ngũ thường. ĐIỀU THỨ NHÌ: Ta chẳng nên lười biếng, phải cần kiệm, sốt sắng, lo làm ăn và lo tu hiền chơn chất, chẳng nên gây gổ lẫn nhau, hãy tha thứ tội lỗi cho nhau trong khi nóng giận.  ĐIỀU THỨ BA: Ta chẳng nên ăn xài chưng dọn cho thái quá và lợi dụng tiền tài mà đành quên nhơn nghĩa và đạo lý, đừng ích kỷ và xu phụng kẻ giàu sang, phụ người nghèo khó.  ĐIỀU THỨ TƯ: Ta chẳng nên kêu Trời, Phật, Thần, Thánh mà sai hay hoặc nguyền rủa, vì Thần Thánh không can phạm đến ta. ĐIỀU THỨ NĂM: Ta chẳng nên ăn thịt trâu, chó, bò, và không nên sát sanh hại vật mà cúng Thần Thánh nào, vì Thần Thánh không bao giờ dùng hối lộ mà tha tội cho ta, vì nếu ta làm tội sẽ hưởng tội, còn những hạng ăn đồ cúng kiến mà làm hết bịnh là Tà Thần; nếu ta cúng kiếng mãi thì nó ăn quen sẽ nhiễu hại ta.  ĐIỀU THỨ SÁU: Ta không nên đốt giấy tiền vàng bạc, giấy quần áo mà tốn tiền vô lý, vì cõi Diêm Vương không bao giờ ăn hối lộ của ta, mà cũng không xài được nữa, phải để tiền lãng phí ấy mà cứu trợ cho những người lỡ đường đói rách, tàn tật.  ĐIỀU THỨ BẢY: Đứng trước mọi việc chi về sự đời hay đạo đức, ta phải suy xét cho minh lý rồi sẽ phán đoán việc ấy.  ĐIỀU THỨ TÁM: Tóm tắt, ta phải thương yêu lẫn nhau như con một cha, dìu dắt lẫn nhau vào con đường đạo đức, nếu ai giữ đặng trọn lành trọn sáng về nơi cõi Tây Phương an dưỡng mà học Đạo cho hoàn toàn đặng trở lại cứu vớt chúng sanh.  Tất cả thiện nam tín nữ trong tôn giáo nhà Phật, lúc rãnh việc nên thường coi kệ giảng mà giữ gìn phong hóa nước nhà, giữ những tục lệ chân chánh, bỏ tất cả những sự dị đoan mê tín thái quá mà làm cho đạo đức suy đồi.

 

Với những khởi đầu căn bản của việc hành đạo cùng các lời khuyên của Đức Thầy vừa qua, ngày nay tín đồ của đạo còn mấy ai quan tâm và hành đúng theo?  Phải chăng chỉ là những lời nói trên đầu môi, chỉ để khuyên răn, nhắc nhở người khác?  Còn mấy ai biết tự xét lấy bản thân hay chỉ biết nắm bắt, xét lỗi người?  Ấy là đã đi ngược lại tôn chỉ “Tiên xử kỷ, hậu xử bỉ” và là lý do vì sao có câu: “Bổn đạo tuy đông, nhưng xuồng dông chở không đầy” là vậy.   Ấy chỉ là những căn bản trong việc hành trì của tín đồ và cho các bậc hành giả.  Nếu hành không đúng và làm không trọn thì làm thế nào có thể nhận rõ được sự “nhiệm mầu” trong giáo lý đạo PGHH, nói chi đến các “nấc thang đạo đức” mà Đức Huỳnh Giáo Chủ đã định sẵn, và làm sao có mặt được ở “Hội Long Hoa” ?

 

Để tìm đến được “Hội Long Hoa”, theo nhận định cá nhân, thì tín đồ cùng các bậc hành giả hãy thật tâm hành trì theo những chỉ dạy căn bản vừa qua.  Nên tìm hiểu, nhận rõ sự “nhiệm mầu”, tính “cao siêu” trong giáo lý đạo và hành theo những “trọng yếu”, được liệt kê trong phần sau. Tuy nhiên, “Tùy phong hóa nhân sanh phù hạp”, tùy theo căn cơ trình độ mà mỗi tín đồ, hành giả có thể nhận ra mỗi nẽo để áp dụng cho sự hành trì của bản thân.  Và như Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng chỉ dạy: “Đường đạo đức bước đi từ nấc”, cũng đừng “ham linh ham nghiệm” mà vội vàng hành theo các điều cấp tiến, sẽ dẫn đến các sự sai lạc, có hại cho công trình tu tập của bản thân.

Sau đây, theo nhận thức riêng của bản thân, là những “nấc thang đạo đức” được đúc kết từ các điều trong giáo lý đạo PGHH, được xếp theo trình tự từ thấp lên cao cho đến việc nhận rõ về sự “luân hồi sinh tử” trong “Thập Nhị Nhơn-Duyên, Môn Hoàn Diệt.”  Đây là những hành trang dành cho tín đồ và các bậc hành giả để tìm đến “Hội Long Hoa”, và chỉ là những La Bàn định hướng, tùy vào sự tín tâm mà mỗi hành giả có thể nhận ra mỗi con đường hành đạo khác nhau.  Hãy đọc và nghiệm kỹ từng điều, nói về các điều sau, trong Sấm Giảng Thi Văn giáo lý đạo để cảm nhận sự “nhiệm sâu” và để hành theo, vì như Đức Huỳnh Giáo Chủ cho biết:

 

Lời truyền sấm như bài toán đố,         Ít câu mà ý nhiệm sâu,

Ai biết tầm thì đặng hưởng nhờ.            Nghĩ suy cho cạn mới hầu khônngoan.

 

Các tín đồ của đạo hãy thử một lần quên đi những gì đã học, đã biết và thử mở lại cánh cửa “giáo điều”, biết đâu sẽ nhận ra các điều kỳ diệu chưa từng khám phá, để có được những hành trang tìm đến “Hội Long Hoa.”  Các bậc hành giả, những ai đã từng nghe hay chưa biết qua về nền đạo PGHH, hãy một lần thử gõ cửa, cánh cửa ấy sẽ mở và đón nhận tất cả những ai quyết lòng khám phá, tìm hiểu về chân Trời mới, qua các điều chỉ dạy của Đức Huỳnh Giáo Chủ về việc:

 

  1. Tránh xa “Tứ Đỗ Tường” (Tửu, Sắc, Tài của, Khí hùng)
  2. Diệt Trừ “Ngũ Uẫn” (Tham, Sân, Si, Nhơn, Ngã)
  3. Đền Đáp “Tứ Ân” (Ân Tổ Tiên Cha Mẹ, Ân Đất Nước, Ân Đồng Bào & Nhân Loại, Ân Tam Bảo)
  4. Tránh “Tam Nghiệp” (Thân, Khẩu, Ý nghiệp) – Trừ “Thập Ác” (Sát sanh, Đạo tặc, Tà dâm, Lưỡng thiệt, ngôn, Ác khẩu, Vọng ngữ, Tham lam, Sân nộ, Mê si)
  5. Hành “Bát Nhẫn” (Nhẫn-năng-x-thế,Nhẫn-giái, Nhẫn-hương-lân, Nhẫn-phụ-mẫu,Nhẫn-tâm, Nhẫn-tánh, Nhẫn-đức, Nhẫn-thành)
  6. Hành “Bát Chánh Đạo” (Chánh kiến, Chánh tư-duy, Chánh nghiệp, Chánh tinh-tấn, Chánh mạng, Chánh ngữ, Chánh niệm, Chánh định)
  7. Hành “Tứ Diệu Đề” (Tập-đ, Diệt-đ,Khổ, Ðạo-đ)
  8. Áp dụng “Đường Trung Đạo của Phật”
  9. Hành trì theo “Bốn Đại Đức của Phật” (Từ, Bi, Hỉ, Xả)
  10. Tìm hiểu về “Thập Nhị Nhơn-Duyên”(Vô-minh, Hành, Thức, Danh-sắc, Lục-nhập, Xúc-động, Thọ-cảm, Ái, Bảo-thủ, Hữu, Sanh, Lão-tử)
  11. Nhận rõ về “Môn Hoàn Diệt”

 

Đức Huỳnh Giáo Chủ còn dạy thêm rằng: “Thấy đạo lý chớ nào thấy tánh, Còn ẩn nơi tim óc xác phàm”, nhằm nhắc nhở tín đồ cùng các bậc hành giả về việc gặp được giáo lý là một việc, việc hành trì, nghiệm chứng để nhận rõ “tánh” của bản thân là điều cốt yếu.  Với câu châm ngôn: “ai ăn nấy no, ai uống sẽ cảm nhận được sự nóng, lạnh của nước”, đó là sự cảm nhận mà hành giả cần đạt đến trong sự hành trì.  Nếu chỉ nghe giáo lý, nói thao thao các giáo điều mà không hành theo, hay ngồi niệm Phật hàng giờ mà chưa ngộ được “Tánh”, cùng việc cúng lạy trong mấy mươi năm mà chưa chứng nghiệm, hành y….. thì công trình tu tập chỉ là việc “Trăng soi đáy nước.”

 

Ngày nay, tín đồ của đạo cùng các bậc hành giả, nếu hành đúng theo những sự chỉ dạy căn bản trong việc hành đạo và áp dụng đúng những điều trong “Lời Khuyên Bổn Đạo”, sẽ cảm nhận được sự thay đổi của bản thân, sự thay đổi của nhân sinh quan về cuộc sống, và tạo được nền móng căn bản cho việc tiến bước trên những “nấc thang đạo đức” tiếp theo, như Đức Huỳnh Giáo Chủ chỉ dạy trong các điều qua.  Mong rằng tín đồ của đạo cùng các bậc hành giả sớm nhận ra và hành đúng theo để tránh việc lầm đường lạc lối, vì: “đi trúng tất sống, bước trật tất chết.”  Dù ngày nay có lắm điều hay, hay nhiều kẻ giỏi, cùng bao phương thức hành trì cấp tiến….., cũng chớ cả tin hay hành theo, mà hãy áp dụng đúng các sự răn dạy củaĐức Thầy cho việc hành trì và phụng sự, đó là những hành trang để tìm đến “Hội Long Hoa.”  Mong lắm thay!

 

HCK

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Blog at WordPress.com.