Monthly Archives: June 2015

Thông tin cập nhật việc trợ giúp.

Thông tin cập nhật việc trợ giúp.

Inbox x

Vu Nguyen

Jun 23 (6 days ago)
to bcc: me

Kính gởi quý đồng đạo,

 

Em cháu xin cập nhật thông tin, sau khi đã liên lạc trực tiếp với những đđ có trách nhiệm lo cho 3 em vào hôm nay (tối 6/23/15 HK, 9h sáng 6/24 VN).  Tình trạng các em tạm thời ổn định.

–        Phương (bị cột sống) đã được giải phẩu, đang chờ bình phục.

–        Tới (bị gãy chân) được lên lịch trình giải phẩu vào tuần sau.

–        Tú (não và cổ) đang theo dõi

 

Kèm theo là thông tin nhận được từ người thân của quý đđ ở HN nhờ đến thăm và giúp trực tiếp, xin xem qua hình cùng lời nhắn như sau:

 

Em  Tú bị thương ở đầu, không phải mổ, máu bầm trong đầu có thể tan được nhưng phải dưởng bệnh lâu. Em Tới đang chờ mổ chân, người áo xanh ờ đầu giường là người nhà của em Tới, người áo xám là cô Mai bị thương nhẹ ở mắt, người áo đen là người nhà của tôi.  Sang.”

 

Nguoi nha cua toi cung cho biet em Phuong da on dinh, cho binh phuc. Than.

Về tài chánh đến hôm nay 6/23/15 (sáng 6/24 VN) các em cho biết còn được số tiền là 22 triệu trong tay (vẫn chưa trang trải 10 triệu tiền viện phí cho ca mổ của Phương, vì đang chờ xét giảm cho hộ nghèo).

Số tiền đóng góp từ quý đđ HN là $3,550 (tương đương 75 triệu VNĐ) sẽ dần gởi đến các em, trước tiên 40 triệu VNĐ đang trên đường gởi đến các em vào hôm nay.

Để tránh các sự hiểu lầm trong tương lai, các em cho biết có ghi lại thu chi cho các khoản tiền trong thời gian qua và sẽ minh bạch hóa mọi việc.  Riêng tiền quý đđ và người thân gởi giúp trực tiếp đến các nạn nhân và gia đình thì người quản lý không nắm rõ và khó cho việc minh bạch, và sẽ không tránh được những sai xót trong khi thu chi, mong mọi người hoan hỉ.

Về số tiền $3,550 (75 triệu VNĐ) đóng góp từ quý vị sẽ có sự hỗ trợ quản lý từ 2 đđ, 1 từ Cần Thơ, 1 từ Láng Linh (7 Thưa), trên đường lên SG và sẽ hợp tác cùng các đđ đang lo cho các em để thụ lý các vấn đề viện phí trong tương lai và sẽ được minh bạch.  Kính mong quý vị an tâm.  Nếu có những thắc mắc gì xin liên lạc Vũ Nguyễn 404-944-6682để tường mọi việc.

Xin chân thành cảm tạ mọi sự quan tâm và đóng góp từ quý đđ

Nam Mô A Di Đà Phật.

 

Trân trọng,

Vũ Nguyễn

 

 

Advertisements
Categories: Tin Trong Nước | Leave a comment

ĐÓA TỪ TÂM

Kim Le <bluetech_vn@yahoo.com>

Jun 28 (1 day ago)

to
ĐÓA TỪ TÂM
Sẽ nhớ mãi nụ cười vang trong gió
Thuở hồn nhiên, phơi phới tuổi thanh xuân
Tiếng đàn, ca vượt trên cõi gian truân
Để hạnh phúc lấp tràn cơn khốn khó.
Từ nguyên thuỷ tim nồng luôn mở ngõ
Tận vô chung vẫn là khúc hoan ca
Chốn tha phương, dù lãng đãng ta bà
Vẫn ấm mãi lửa hồng: tim từ ái.
Đời tỏa hương trên bước đường oan trái
Nối vòng tay qua tháng rộng năm dài
Đóa từ tâm nở hoa giữa trần ai
Cành Bách Hợp xum xuê vườn Thiện-Mỹ.
Chân Khai Phá dẫn đường tìm Chân Lý
Ánh hạo nhiên soi dẫn lối kiên trinh
Bạn bè ơi trên vạn dặm đăng trình
lòng Sắp Sẵn sẽ là nguồn trợ lực.
Ánh lửa hồng trong tận cùng tâm thức
sẽ bùng cao soi rọi lối về nguồn
Có sá gì chuyện nắng khốc, mưa tuôn
khi lòng vẫn rạng ngời câu bền chí.
Hãy đan tay nối hùng tâm, hào khí
vào tương lai thành sức mạnh hợp đoàn
Dẫu hoa niên đã là bóng thời gian
tim Hướng Đạo vẫn nhịp nhàng câu Thẳng Tiến!
HUY VĂN
Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Trần Văn Khê, ngôi sao phương đông sáng mãi

Trần Văn Khê, ngôi sao phương đông sáng mãi

GS Trần Văn Khê (trái) trò chuyện với PGS.TS Nguyễn Hoài Nam

GS Trần Văn Khê (trái) trò chuyện với PGS.TS Nguyễn Hoài Nam

Photo Quang Dinh

Cát Linh xin mời quí vị cùng tưởng nhớ về một bậc thầy, một cây đại thụ của nền âm nhạc dân tộc Việt Nam, giáo sư tiến sĩ Trần Văn Khê. Ông đã thật sự trở về quê mẹ Việt Nam, nơi ông dành trọn trong trái tim mình một tình yêu bất diệt. Và sau đây là tâm sự của những người kề cận với ông trong công việc cũng như trong những dự án nghệ thuật kể.

Giữ mãi ngọn lửa âm nhạc dân tộc

“Nếu coi tiếng hát ru và những điệu nhạc dân tộc là căn bản, là sự sống của dân tộc VN thì chúng ta phải nhìn chúng nó mà chúng ta là người Việt Nam làm chủ đất nước VN thì cũng nên làm chủ nền văn hoá VN, tức là thi ca và âm nhạc Việt Nam phải có một vị trí đặc biệt hơn tất cả.”

Đó là lần cuối cùng, trong một buổi sáng tháng 5 vừa qua, từ một nơi cách nhau nửa vòng trái đất, chúng tôi có dịp được ông chấp thuận buổi nói chuyện về giá trị văn hoá dân tộc của những bài hát ru con 3 miền Nam, Trung, Bắc.

Không những giải thích ý nghĩa, sắc thái giống nhau, khác nhau về những câu hát ru của từng miền ông còn thể hiện sự giống và khác nhau đó qua kỹ thuật hát.

Nói về ông, là chúng ta nói đến một bộ bách khoa toàn thư về đờn ca tài tử và văn hoá nước Việt cũng như các công trình nghiên cứu vô giá về âm nhạc dân tộc.

Kể về ông, là kể về một Bắc đẩu bội tinh, một người Việt Nam yêu âm nhạc dân tộc Việt Nam, yêu người Việt Nam, yêu ngôi nhà Việt Nam với tình yêu không biên giới. Càng yêu quê hương bao nhiêu, ông càng tự hào về văn hoá dân tộc ông bấy nhiêu.

“Bao nhiêu người nước ngoài sẽ đến để thăm chúng ta, nhìn vào chúng ta nhìn vào đất nước chúng ta. Thì nhìn không phải để biết thanh niên Việt Nam bắt chước người ngoài hay như thế nào, không phải để biết thanh niên Việt Nam hát rock hát pop hay như thế nào mà tìm coi thanh niên Việt Nam có cái gì đặc biệt đặc thù và có bản sắc dân tộc của thanh niên Việt Nam. Do đó, chơi thì chơi nhưng đừng bao giờ quên rằng dân tộc VN có 1 nền âm nhạc và 1 nền văn hoá rất sâu sắc. Nước ngoài có những cái hoành tráng. Chúng ta có những cái tế nhị. Nước ngoài có những bề ngoài rất hào nhoáng, nhưng chúng ta có những cái bề trong rất thâm thuý.”

Nếu coi tiếng hát ru và những điệu nhạc dân tộc là căn bản, là sự sống của dân tộc VN thì chúng ta phải nhìn chúng nó mà chúng ta là người Việt Nam làm chủ đất nước VN thì cũng nên làm chủ nền văn hoá VN, tức là thi ca và âm nhạc Việt Nam phải có một vị trí đặc biệt hơn tất cả

GSTS Trần Văn Khê

Viết về ông…thì…nhiều lắm. Đã có rất nhiều những bài viết về ông từ trước, càng nhiều hơn sau khi ông yên nghỉ. Không khó lắm để tìm đọc những bài viết về cuộc đời nghiên cứu của ông, hoặc nghe những buổi nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc, văn hoá mà ông đã dành cho tất cả mọi người. Vì ông luôn mở lòng mình, sẵn sàng chia sẻ với tất cả, nhất là đối với thế hệ trẻ Việt Nam, ông càng dành cho sự ưu ái và truyền dạy chân tình những gì ông đã góp nhặt được trong cuộc đời nghiên cứu của mình.

Hà Chương, nhạc sĩ trẻ theo đuổi thể loại nhạc dân tộc cho biết tâm tư của anh về người mà anh kính cẩn gọi là thầy Khê:

“Đối với nhiều giáo sư, nhiều người giỏi đó, 1 số người thì gặp ngừoi ta hoặc gần người ta rất là khó, nhưng riêng thầy Khê thì thầy rất mở lòng với những nghệ sĩ trẻ.”

Ông am tường tất cả những bản sắc và thể loại nhạc dân tộc, từ các loại nhạc cụ cho đến loại hình nghệ thuật từ nam ra bắc, như hát chầu, hát văn, ca trù, hát bội, vọng cổ.

Trong đêm Sầm Giang lần thứ 13 tổ chức tại Montreal năm 1994, ông đã giải thích về vọng cổ:

“Nhạc cổ là dĩ vãng mà cũng là hiện tại mà cũng có thể giúp vào tương lai.”

Đêm đó, ông đã chơi đàn tranh và ngâm bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan. Tiếng đàn tranh đặc thù của dân tộc Việt Nam và bài thơ nổi tiếng của nữ sĩ Việt Nam vang vọng trên đất Pháp.

“Xin phép quí vị tui được lên dây rồi ngâm 1 vài bài thơ cho quí vị nghe hôm nay.”

và sau đó ông đã ngâm bài thơ Qua Đèo Ngang trong đêm Sầm Giang Tái Ngộ 13

Hà Chương chia sẻ một lời dặn mà anh nói rằng mình sẽ mang theo suốt hành trình âm nhạc của mình:

“Con làm thế nào đó miễn sao con giữ được bản sắc của dân tộc. Bằng cách nào đó con đưa được nhạc dân tộc đến nhiều người trên thế giới thì đó là điều mà thầy rất hoan nghênh.”

Người lưu giữ quá khứ bằng “một trí nhớ siêu đẳng”

Kể về kỷ niệm với thầy Trần Văn Khê, nhà văn Nguyễn Đông Thức cho biết điều làm ông ấn tượng nhất là:

“Ấn tượng nhất với tôi là 1 trí nhớ siêu đẳng. Nếu mà bạn tiếp xúc với thầy, mà tất cả những cuộc tiếp xúc của thầy với công chúng thì thầy hầu như nói vanh vách tất cả mọi điều không cần sách vở trước mặt. thầy thuộc hết lời ca của âm nhạc dân tộc Việt Nam.”

Một người với trí nhớ tuyệt vời như thế chắn hẳn phải là người có cách lưu giữ quá khứ, sắp xếp những sự kiện cuộc đời một cách khoa học và ý thức. Nhà văn Nguyễn Đông Thức kể rằng:

“Tôi đến nhà thầy, thấy hành lý từ bên Pháp về, có 1 vali, trong đó có tất cả những cuốn sổ tay của đời thầy, thầy làm việc thầy ghi chép mỗi ngày. Thầy để những cuốn sổ tay đó trong cái vali và mở những cuốn sổ tay ra, thì những sự kiện gì đều đi kèm những chứng từ. Thậm chí thầy để 1 vé xem phim, để cả những vé đi xe điện ở Pháp. Khi cần, thầy nói luôn hồi đó đi xem phim giá bao nhiêu tiền, mấy mươi xu, rồi những bill nhà hàng, có gì quan trọng, kỷ niệm với thầy, thầy đều giữ lại. Lúc đó tôi kính phục thầy và cũng bắt chước thầy khi thấy rằng mỗi khi mình muốn lục tìm một điều gì trong quá khứ thì rất cực khổ.”

Bao nhiêu người nước ngoài sẽ đến để thăm chúng ta, nhìn vào chúng ta nhìn vào đất nước chúng ta. Thì nhìn không phải để biết thanh niên VN bắt chước người ngoài hay như thế nào, không phải để biết thanh niên VN hát rock hát pop hay như thế nào mà tìm coi thanh niên VN có cái gì đặc biệt đặc thù và có bản sắc dân tộc của thanh niên VN

GSTS Trần Văn Khê

Với Hà Chương, anh nói không phải chỉ riêng với anh, mà với tất cả những thế hệ nghệ sĩ trẻ sau này, giáo sư Trần Văn Khê không những là một biểu tượng lớn của âm nhạc Việt Nam mà còn là một tấm gương về nhân cách sống:

“Đối với thầy Khê không những là một người có kiến thức uyên bác về âm nhạc, mà thầy còn là một người có một cốt cách sống mà Hà Chương rất ngưỡng mộ, khâm phục. Thầy sống rất tinh khiết và lành mạnh. Cả cuộc đời của thầy đều dành hết những gì quí giá nhất cho âm nhạc dân tộc Việt Nam.”

Tâm hồn tinh khiết và giản dị ấy thể hiện trong từng cung cách và lời nói, cử chỉ ông dành cho mọi người. Dù mọi người dành cho ông rất nhiều danh xưng khác nhau, có người gọi ông là nhạc sĩ, nhạc sư, giáo sư, tiến sĩ, nhưng ông đã từng nhắn nhủ nhà văn Nguyễn Đông Thức rằng “hãy gọi tôi là thầy Khê cho thân thương, gần gũi.”

Là người có thời gian kề cận bên cạnh ông trong suốt thời gian thực hiện những tập phim tư liệu “Trần Văn Khê, người giữ lửa”, nhà văn Nguyễn Đông Thức cho biết:

“Nói về thầy thì thầy là một con người quá lớn. Khi được tiếp xúc thì mình được học rất nhiều điều như  sự khiêm tốn, giản dị, một kiến thức uyên bác, sâu rộng nhờ thầy học và đọc rất nhiều. Tôi kính nể thầy cái sự vượt qua bệnh tật. Thầy bệnh rất nhiều từ khi còn trẻ, bệnh rất nặng, nhưng thầy đã vượt qua tất cả bằng chính nghị lực và sự rèn luyện của thầy để sống đến 94 tuổi.”

Gia tài của ông để lại là vô cùng. Và sự ra đi của ông cũng là nỗi mất mát vô cùng. Ông dành trọn cuộc đời để chắt lọc, mang đến cho người Việt Nam và cả thế giới biết đến những tinh hoa tinh tuý nhất của văn hoá Việt Nam. Và ông, cũng chính là tinh hoa của nước Việt. Ông là ngôi sao khuê phương Đông không bao giờ tắt.

Categories: Tin Trong Nước | Leave a comment

Republic of Vietnam Day Resolution

Republic of Vietnam Day Resolution

Inbox x

Lactan Nuygen <tanlac.ng@gmail.com>

Jun 17 (11 days ago)
to linette.choi, elena.leonard, Kristy.macdoug., Assemblymember., bcc: me

Date:  June 10, 2015

To:       Assemblywoman Young Kim
1400 N. Harbor Boulevard, Suite 601
Fullerton, CA 92835
Phone: (714) 526-7272

In the attachments of this email you will find our Steering Committee for Republic of Viet Nam Day Resolution Campaign Package including Cover Letter, Rationale for the Republic of Vietnam Day Resolution, and Suggested Draft Version of the Resolution, copies of Resolutions passed by cities of Garden Grove, Westminster, Santa Ana for your reference and consideration.

Since our Committee started our campaign we already got the passed Resolutions as well Proclamation from three cities of Orange County (Garden Grove, Westminster, and Santa Ana). We are trying to lobby the other cities of Fountain Valley, Irvine , Orange County Supervisor Board, and other elected official of the State.

As you all know that The Republic of Vietnam and its People, the Armed Forces, Elected and Governmental Officials had struggled against the invasion of the Vietnamese Communist to defend the Democratic Regime and protect the Freedom, Property and Life of Vietnamese people. The Vietnam War is a war with the Just Cause on the side of the Republic of Vietnam and its People.

History has now reached the point revealing that the world’s past opinion about the Vietnam War and the “Revolution” in Vietnam was the wrong course of action. Even the Vietnamese Communist Leaders in retrospect have admitted their mistakes with thebuilding of the country based on the illusion of the communism.

The success of the “Vietnam Veterans,” the coming to America of large numbers of Vietnamese nationals, the Boat People Exodus from the Communist Vietnam, the significant contributions of the Vietnamese Americans into the American society and the current tendency of political and economic change in Vietnam has resulted with comprehensive cooperation between Vietnam and USA, which also has forced people to revise their opinion about the Vietnam War.

It is long overdue to recognize the sacrifices of the Citizens, Elected and Governmental Officials and Armed Forces of the Republic of Vietnam (AFORVN) and give them the honor and respect that they deserve, especially now that nearly two million Americans who are the offspring of these same heroes. While we are discussing this we must never forget the sufferings of million of families of the US soldiers and Allied Armieswho served in the Vietnam War.

We urge your favorable consideration of our proposal and request your efforts to submit to the California Legislature a Resolution to honor the “Just Cause of the Republic of Vietnam,” and recognize the enormous sacrifices and contributions of itsArmy, People, Elected and Governmental Officials as well as American soldiers, Vietnam War Veterans, Allied Armies and their families.

Our Steering Committee is ready to meet with you to present our campaign and answer any questions, as well as say thank you to you.

We deeply appreciate your effort in this honorable action.

On behalf of the Steering Committee for Republic of Viet Nam Day Resolution
Lac Tan Nguyen, Former President of Vietnamese American Community of Southern California,
Committee Campaign Coordinator

Attachments:

Republic of Viet Nam Day Resolutions passed by cities of Orange County

1.- City of Garden Grove passed this Resolution on Oct. 14, 2014

 

2.- City of Santa Ana passed a Proclamation recognizing Republic of Vietnam Day on Jan. 20, 2015

3.- City of Westminster passed this Resolution on Jan. 14, 2015

2 Attachments

 

 

Preview attachment Letter to Young Kim_June 2015.pdf

Letter to Young Kim_June 2015.pdf

Preview attachment Campaign Package_SC-F-ROVNDR-06-10-15.pdf

Campaign Package_SC-F-ROVNDR-06-10-15.pdf

Lactan Nuygen <tanlac.ng@gmail.com>

Jun 17 (11 days ago)
to assemblymember., patricia.taylor, justin.boman, bcc: me

Date:  June 10, 2015

To:       Assemblyman Matthew Harper
1503 South Coast Drive, Suite 205
Costa Mesa, CA 92626
Tel: (714) 668-2100

2 Attachments

 

 

Preview attachment Letter to Matthew Harper_June 2015.pdf

Letter to Matthew Harper_June 2015.pdf

Preview attachment Campaign Package_SC-F-ROVNDR-06-10-15.pdf

Campaign Package_SC-F-ROVNDR-06-10-15.pdf

Lactan Nuygen <tanlac.ng@gmail.com>

Jun 17 (11 days ago)
to Krystal.moreno, assemblymember., bcc: me

Date: June 10, 2015

To:       Assemblyman Tom Daly
2400 East Katella Avenue, Suite 640
Anaheim, CA 92806
Tel: (714) 939-8469

2 Attachments

 

 

Preview attachment Letter to Tom Daly-June 2015.pdf

Letter to Tom Daly-June 2015.pdf

Preview attachment Campaign Package_SC-F-ROVNDR-06-10-15.pdf

Campaign Package_SC-F-ROVNDR-06-10-15.pdf

Lactan Nuygen <tanlac.ng@gmail.com>

Jun 17 (11 days ago)
to assemblymember., bcc: me

Date:  June 12, 2015

To:       Assembly Member Brian Maienschein
12396 World Trade Drive, Suite #118
San Diego, CA 92128              *  Tel: 858-675-0077

In the attachments of this email you will find our Steering Committee for Republic of Vietnam Day Resolution Campaign Package including Cover Letter, Rationale for the Republic of Vietnam Day Resolution, and Suggested Draft Version of the Resolution, copies of Resolutions passed by cities of Garden Grove, Westminster, Santa Ana for your reference and consideration.

Since our Committee started our campaign we already got the passed Resolutions as well Proclamation from three cities of Orange County (Garden Grove, Westminster, and Santa Ana). We are trying to lobby the other cities of Fountain Valley, Irvine , Orange County Supervisor Board, and other elected official of the State.

As you all know that The Republic of Vietnam and its People, the Armed Forces, Elected and Governmental Officials had struggled against the invasion of the Vietnamese Communist to defend the Democratic Regime and protect the Freedom, Property and Life of Vietnamese people. The Vietnam War is a war with the Just Cause on the side of the Republic of Vietnam and its People.

History has now reached the point revealing that the world’s past opinion about the Vietnam War and the “Revolution” in Vietnam was the wrong course of action. Even the Vietnamese Communist Leaders in retrospect have admitted their mistakes with thebuilding of the country based on the illusion of the communism.

The success of the “Vietnam Veterans,” the coming to America of large numbers of Vietnamese nationals, the Boat People Exodus from the Communist Vietnam, the significant contributions of the Vietnamese Americans into the American society and the current tendency of political and economic change in Vietnam has resulted with comprehensive cooperation between Vietnam and USA, which also has forced people to revise their opinion about the Vietnam War.

It is long overdue to recognize the sacrifices of the Citizens, Elected and Governmental Officials and Armed Forces of the Republic of Vietnam (AFORVN) and give them the honor and respect that they deserve, especially now that nearly two million Americans who are the offspring of these same heroes. While we are discussing this we must never forget the sufferings of million of families of the US soldiers and Allied Armieswho served in the Vietnam War.

We urge your favorable consideration of our proposal and request your efforts to submit to the California Legislature a Resolution to honor the “Just Cause of the Republic of Vietnam,” and recognize the enormous sacrifices and contributions of itsArmy, People, Elected and Governmental Officials as well as American soldiers, Vietnam War Veterans, Allied Armies and their families.

Our Steering Committee is ready to meet with you to present our campaign and answer any questions, as well as say thank you to you.

We deeply appreciate your effort in this honorable action.

On behalf of the Steering Committee for Republic of Viet Nam Day Resolution
Lac Tan Nguyen, Former President of Vietnamese American Community of Southern California,
Committee Campaign Coordinator
Kim-Trang  Dang, Vice President of Vienamese Community of San Diego, Campaign SubCommittee in SD

2 Attachments

 

 

Preview attachment Letter to Brian Maienschein_June 2015.pdf

Letter to Brian Maienschein_June 2015.pdf

Preview attachment Campaign Package_SC-F-ROVNDR-06-10-15.pdf

Campaign Package_SC-F-ROVNDR-06-10-15.pdf

Lactan Nuygen <tanlac.ng@gmail.com>

Jun 17 (11 days ago)
to assemblymember., daisy.ma, bcc: me

Date:  June 10, 2015

To:       Assemblyman Ed Chau

1255 Corporate Center Drive, Suite 306,
Monterey Park, CA 91754;  Tel: (323) 264-4949

In the attachments of this email you will find our Steering Committee for Republic of Viet Nam Day Resolution Campaign Package including Cover Letter, Rationale for the Republic of Vietnam Day Resolution, and Suggested Draft Version of the Resolution, copies of Resolutions passed by cities of Garden Grove, Westminster, Santa Ana for your reference and consideration.

2 Attachments

 

 

Preview attachment Letter to Ed Chau_June 2015.pdf

Letter to Ed Chau_June 2015.pdf

Preview attachment Campaign Package_SC-F-ROVNDR-06-10-15.pdf

Campaign Package_SC-F-ROVNDR-06-10-15.pdf

Lactan Nuygen <tanlac.ng@gmail.com>

Jun 18 (10 days ago)
to Assemblymember., chris.wangsato., bcc: me

Date:  June 12, 2015

To:       Assembly Member Ling Ling Chang
3 Point Drive, Suite 313
Brea, CA 92821
Tel: (714) 529-5502

2 Attachments

 

 

Preview attachment Letter to Ling Ling Chang_June 2015.pdf

Letter to Ling Ling Chang_June 2015.pdf

Preview attachment Campaign Package_SC-F-ROVNDR-06-10-15.pdf

Campaign Package_SC-F-ROVNDR-06-10-15.pdf

Lactan Nuygen <tanlac.ng@gmail.com>

Jun 18 (10 days ago)
to Assemblymember., francisco.prec., bcc: me

Date:  June 12, 2015

To:       Assemblyman Kansen Chu
1313 N. Milpitas Blvd Ste 255
Milpitas, CA 95035
Tel: (408) 262-2501

2 Attachments

 

 

Preview attachment Letter to Kansen Chu_June 2015.pdf

Letter to Kansen Chu_June 2015.pdf

Preview attachment Campaign Package_SC-F-ROVNDR-06-10-15.pdf

Campaign Package_SC-F-ROVNDR-06-10-15.pdf

Lactan Nuygen <tanlac.ng@gmail.com>

Jun 18 (10 days ago)
to senator.block, bcc: me

Date:   June 10, 2015

To:       Senator Marty Block
701 B Street, Suite 1840
San Diego, CA 92101
Tel: (619) 645-3133

In the attachments of this email you will find our Steering Committee for Republic of Viet Nam Day Resolution Campaign Package including Cover Letter, Rationale for the Republic of Vietnam Day Resolution, and Suggested Draft Version of the Resolution, copies of Resolutions passed by cities of Garden Grove, Westminster, Santa Ana for your reference and consideration.

Since our Committee started our campaign we already got the passed Resolutions as well Proclamation from three cities of Orange County (Garden Grove, Westminster, and Santa Ana). We are trying to lobby the other cities of Fountain Valley, Irvine , Orange County Supervisor Board, and other elected official of the State.

As you all know that The Republic of Vietnam and its People, the Armed Forces, Elected and Governmental Officials had struggled against the invasion of the Vietnamese Communist to defend the Democratic Regime and protect the Freedom, Property and Life of Vietnamese people. The Vietnam War is a war with the Just Cause on the side of the Republic of Vietnam and its People.

History has now reached the point revealing that the world’s past opinion about the Vietnam War and the “Revolution” in Vietnam was the wrong course of action. Even the Vietnamese Communist Leaders in retrospect have admitted their mistakes with thebuilding of the country based on the illusion of the communism.

The success of the “Vietnam Veterans,” the coming to America of large numbers of Vietnamese nationals, the Boat People Exodus from the Communist Vietnam, the significant contributions of the Vietnamese Americans into the American society and the current tendency of political and economic change in Vietnam has resulted with comprehensive cooperation between Vietnam and USA, which also has forced people to revise their opinion about the Vietnam War.

It is long overdue to recognize the sacrifices of the Citizens, Elected and Governmental Officials and Armed Forces of the Republic of Vietnam (AFORVN) and give them the honor and respect that they deserve, especially now that nearly two million Americans who are the offspring of these same heroes. While we are discussing this we must never forget the sufferings of million of families of the US soldiers and Allied Armieswho served in the Vietnam War.

We urge your favorable consideration of our proposal and request your efforts to submit to the California Legislature a Resolution to honor the “Just Cause of the Republic of Vietnam,” and recognize the enormous sacrifices and contributions of itsArmy, People, Elected and Governmental Officials as well as American soldiers, Vietnam War Veterans, Allied Armies and their families.

Our Steering Committee is ready to meet with you to present our campaign and answer any questions, as well as say thank you to you.

We deeply appreciate your effort in this honorable action.

On behalf of the Steering Committee for Republic of Viet Nam Day Resolution
Lac Tan Nguyen, Former President of Vietnamese American Community of Southern California,
Committee Campaign Coordinator

Attachments:

Republic of Viet Nam Day Resolutions passed by cities of Orange County

1.- City of Garden Grove passed this Resolution on Oct. 14, 2014

2 Attachments

 

 

Preview attachment Letter to Marty Block_June 2015.pdf

Letter to Marty Block_June 2015.pdf

Preview attachment Campaign Package_SC-F-ROVNDR-06-10-15.pdf

Campaign Package_SC-F-ROVNDR-06-10-15.pdf

Lactan Nuygen <tanlac.ng@gmail.com>

Jun 18 (10 days ago)
to senator.monning, Senator.nguyen, senator.moorla., senator.deleon, senator.block, bcc: me

Date:  June 10, 2015

To:       Senator  Bill Monning
State Capitol, Room 313,
Sacramento, CA 95814-4900;                         Tel :  (916) 651-4017

2 Attachments

 

 

Preview attachment Letter to Sen. Pat C. Bates_June 2015.pdf

Letter to Sen. Pat C. Bates_June 2015.pdf

Preview attachment Campaign Package_SC-F-ROVNDR-06-10-15.pdf

Campaign Package_SC-F-ROVNDR-06-10-15.pdf

Lactan Nuygen <tanlac.ng@gmail.com>

Jun 18 (10 days ago)
to Geoff.Long, Senator.nguyen, senator.fuller, senator.block, senator.monning, senator.moorla., bcc: me

Date:  June 10, 2015

To:       Senator  Kevin De León
State Capitol, Room 205,
Sacramento, CA 95814-4900;                         Tel: (916) 651-4024

2 Attachments

 

 

Preview attachment Campaign Package_SC-F-ROVNDR-06-10-15.pdf

Campaign Package_SC-F-ROVNDR-06-10-15.pdf

Preview attachment Letter to Kevin De Léon-Jean Fuller_June 2015.pdf

Letter to Kevin De Léon-Jean Fuller_June 2015.pdf

 

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Hoan hỷ tham dự ĐẠI LỄ KỶ NIỆM 76 NĂM

Hoan hỷ tham dự ĐẠI LỄ KỶ NIỆM 76 NĂM

HỘI ĐỒNG TRỊ SỰ TRUNG ƯƠNG

Hội Trưởng Lê Phước Sang

12432 Euclid St., Garden Grove, CA 92840

Tel: 832-397-9813 * http://www.tandanhoa.com GIÁO HỘI PHẬT GIÁO HÒA HẢO

THƯ MỜI

Trân trọng kính mời Ô/Bà:

Hoan hỷ tham dự ĐẠI LỄ KỶ NIỆM 76 NĂM

ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ KHAI SÁNG

ĐẠO PHẬT GIÁO HÒA HẢO

Thời gian và địa điểm như sau:

2:00 chiều ngày 19 tháng 7, năm 2015 tại

TRỤ SỞ HỘI ĐỒNG TRỊ SỰ TRUNG ƯƠNG

Tel: 832-397-9813

12432 Euclid St., Garden Grove, CA 92840

Xin quý khách đậu xe ở các điạ điểm sau đây:

1.- Brentwood Dental, 12400 Euclid St.

3.- Russo Chirpractic Clinic, 12362 Euclid St.

4.- JP Escrow House & Home Realty, 12312 Euclid St.

2.- Art of Dentistry, 12372 Euclid St.

Đức-Thầy khai sáng nền Đạo PGHH:

Đạo là gì? Đạo là con đường dẫn tới giác ngộ mà người có duyên sẽ gặp.” Đạo là

vốn thiệt cái đàng: “Ta ra sức dọn cho toàn chúng sanh”.

Đức-Thầy đã quyết:

Tay Tăng Sĩ gậy thiền quyết nắm

Lần bụi bờ xuống thẵm lên đèo

Dù cho gặp lắm hùm beo

Từ bi vẫn niệm quyết leo khỏi rừng

Đầu ngưỡng vọng ĐấtTrời minh chứng

Tấm lòng thành quyết dựng đạo đời

Đôi đều hòa nhả nơi nơi

Thân nầy mới chịu ngồi ngơi thạch bàn

Quyết đưa chúng về nơi non Thứu

Tạo Lư-Bồng ngõ hội quần tiên

Dù cho xoay chuyễn đất trời

Lòng Ta chí dốc độ đời mà thôi.

Trong bài Sứ-Mạng Đức-Thầy nói:Vì thể lòng từ bi bác ái cùng thù đáp những linh

hồn đã trợ duyên trong nhiều kiếp giúp Ta nương cậy tu hành nên ngày 18 tháng 5

năm Kỹ-Mão, Ta hóa hiện ra đời cứu độ chúng sanh.

Duyên lành rõ được khùng điên

Chẵng qua kiếp trước thiện duyên hữu phần

Một đấng Giáo Chủ người Việt Nam còn rất trẻ mới 19 tuổi đã khai sáng nền đạo

Phật Việt Nam đậm đà tình tự dân tộc thâm sâu và vô cùng mầu nhiệm.

Chẳng những vậy,ngoài tài trị bịnh như thần còn thuyết giảng và sáng tác thi-văn

giáo-lý để hoằng truyền đại đạo. Ngài còn đặc biệt cho thấy sự siêu phàm của Ngài

khi tiên tri chính xác những sự kiện lịch sử sau đây:

Sự kiện thứ nhứt:

Năm Kỹ-Mão (con mèo) khi đệ nhị thế chiến chưa bùng nổ thì Đức Thầy đã sớm

báo động: “Mèo kêu bá tánh lao xao…Đến chừng Rồng Rắn máu đào chỉnh

ghê…Con Ngựa lại đá con Dê…Khắp trong trần hạ nhiều bề gian lao…Khỉ kia cũng

bị xáo xào…Canh khuya Gà gáy máu đào mới ngưng”

Quả đúng như vậy “Canh khuya Gà gáy “tức là 12 giờ đêm giờ Đông Dương năm

Ất-Dậu(con Gà). Hiệp Định đầu hàng của Nhựt-Hoàng đã được ký kết. Qua hai

quả bom nguyên tử của Mỹ,số phận của nước Nhựt đã được định đoạt.

Ở Sài Gòn Chợ Lớn Miền Đông tại trụ sở làm việc khi các cao-đồ của ngài bàn tán

tình hình thời-cuộc không biết người Nhựt rồi đây thua hay thắng thì Đức-Thầy đã

có lần mĩm cười có vẽ hơi hài hước “Các ông biết không người Nhựt-Bổn ăn

không hết nửa con Gà”.

Đệ nhị thế chiến giữa hai phe trục tam cường Nhựt Đức Ý đã thua phe đồng

minh Nga Tàu Anh Mỹ.Cuộc thế chiến diễn ra tàn khốc kể từ năm Mèo Kỹ-Mão

1939 qua năm 1940 Rồng, 41 Rắn, 42 Ngựa, 43 Dê, 44 Khỉ,  45 Dậu(con gà)thì

kết thúc đúng như câu “Canh khuya Gà gáy máu đào mới ngưng”

Sự kiện thực tế thứ hai là chữ ký của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Trên các văn kiện

Đức Thầy đã ký tên trong những năm 1945, 1946, cho đến 1947 Đức Thầy vắng

mặt. Tín-đồ thường thấy và lấy làm lạ là khi chữ Sổ (húy danh của ngài) viết tắt là

chữ S Đức Thầy luôn luôn gạch ngang giữa chữ.

Nhiều người lấy làm thắc mắc hỏi thì Ngài trả lời rằng sau nầy sẽ biết. quả thật

năm 1954 hiệp định Geneve ký kết đã chia đôi đất nước Việt-Nam hình cong chữ

Còn nhiều sự kiện phụ không thể kể hết ra đây. Nhưng sự kiện Biển Đông nổi sóng

mà Đức Thầy đã tiên tri từ lâu rồi chắc chắn phải được đề cập.

Mặt nước biển lô nhô lặn hụp

Chim đua bay cá lại tranh mồi

Ngọn thủy triều nô nức sục sôi

Bầu trái đất một phen luân chuyễn

Chẳng những chiến tranh dưới biển, máy bay như chim, tàu chiến như cá, mà hỏa

lực của các phe lâm chiến khủng khiếp đến nổi nước biển sục sôi và bầu trái đất

Nơi phía trước cheo leo tiếng khóc

Đứng sau lưng hình vóc vẫy chưng

Nước kia lửa nọ tưng bừng

Thảm cho thế sự lẫy lừng nạn tai

Tóm tắt, nếu đúc kết một cái nhìn từ tấm gương đạo hạnh, những bước hành trình

gian khổ của Đức-Thầy: Hòa-Hảo, Giác-Ngộ, Nhẫn-Nhục và vô cùng thiêng liêng

cao cả. Nếu không nói là bất phàm siêu phàm thì là gì?

Thường nhơn phàm tục thì làm sao có được khả năng nầy.

Có đấng đại giác nào lâm phàm độ chúng mà không phải chịu thọ nạn đâu?

Nhưng trường hợp của Đức Thầy thọ nạn theo như Ngài đã nói trước thì tín-đồ vẫn

kỳ vọng một ngày trở lại của Đức Thầy như câu:

Rán nghe lời dạy của Thầy

Để chừng đến việc kiếm Thầy không ra

Ít lâu Ta cũng trở về

Khuyên cùng bổn đạo chớ hề lảng xao

Trì lòng chớ có núng nao

Từ đây nhơn vật mòn hao lần lần

Từ nay cách biệt xa ngàn

Ai người tâm đạo đừng toan phụ Thầy

Giữa chừng đờn nở đứt dây

Chưa vui buổi hiệp bổng Thầy lại xa

Tỉnh say trong giấc mộng hoa

Mơ màng cũng tưởng như Ta bên mình

Tuy là hữu ảnh vô hình

Chớ dân lòng tưởng sân trình đáo lai

Vậy, để là tấm gương soi cho nhân loại hầu tuyên dương những tấm gương vì

đạo vì đời,bác ái từ bi hòa hảo,trung nghĩa hiếu hạnh thì đây là những tấm gương

cần nhắc nhở và ca tụng.

Nếu nhân loại không nhắc nhở tuyên dương các bực đại giác đại ngộ, các đấng

thiêng liêng lâm phàm độ thế thì thử hỏi nhân loại nên kỷ niệm tưởng nhớ nhắc

nhở và tuyên dương ai???

Hội Đồng Cố Vấn và Ân Nhân Bảo Trợ

– Cụ Phan Như Toản – Cụ Trần Sinh Cát Bình

– Luật Sư Đinh Thạch Bích – Doanh Gia Kim Anh

– Ông Trương Quang Sĩ và Bà Mộng Lan

– Ông Bùi Văn Truyền – Giáo Sư Lê Quí An

– Giáo Sư Trần Văn Chi – Giáo Sư Lê Hữu Quế

– Ông Bà Hoàng Đình Từ

Hội Đồng Trị Sự Trung Ương và

Ban Tổ Chức Đại Lễ Kỷ Niệm

 Tu Sĩ Thái Hòa, Hội Trưởng Danh Dự

 TS Lê Phước Sang, Hội Trưởng

 DB Dương Minh Quang, Đệ nhất Phó Hội Trưởng

 DB Dương Thanh Tồn, Cố Vấn Chính Sách

 Trần Văn Vui, Phó Ban Tổ Chức

 Lê Văn Tâm, Phó Ban Tổ Chức

 Nguyễn Cửu Long, Phó Ban Tổ Chức

 GS Nguyễn Tấn Lạc, Phó Ban Tổ Chức

 Bà Phạm Diệu Chi, Phó Ban Tổ Chức

 Ô. Nguyễn Thanh Tân, Phó Ban Tổ Chức

 Huỳnh Long Giang, Tổng Thư Ký

 Hoa Hậu Khuyến Nguyễn, Chủ Nhân Nước Mía Viễn Đông

 Hoa Hậu Hoàn Vũ Lam Châu

 Hoa Hậu Huỳnh Nga – Hoa Hậu Kristine Thảo

 Hoa Hậu Tường Vi

 Đốc Sự Châu Văn Để – Bà Minh Nguyệt

 Nghệ Sĩ Tuyết Nga – Nghệ Sĩ Hồng Quyên

 Võ Công và Nguyễn Dung

 Soạn Giả Bùi Minh Đức

 Nhạc Sĩ Ngọc Nôi

 Nghệ Sĩ Phi Loan

 Nghệ Sĩ Hoàng Lợi

 Nhạc Sĩ Trần Khánh Trung

 Thiền Sư Nguyên Linh

 Giáo Sư Hồ Phi

 Ô.Bà Ba Định

 Bà Đào Bích Ty – Bà Phạm Mai

 Ô. Mai Bá Điển – Ô. Nguyễn Văn Hiền

 Bác Sĩ Lê Phước Hoàng Hà

CHƯƠNG TRÌNH

I.- Tiếp Đón Quan Khách: 2:00 PM

Quan Khách và đồng đạo đến

II.- Nghi Thức Khai Mạc: 3:00 PM

 Chào Quốc Kỳ, Đạo Kỳ và Mặc Niệm

 Giới thiệu thành phần tham dự

 Diễn văn của TS Hội Trưởng Lê Phước Sang

III.- Đại Lễ Kỷ Niệm: 3:30 PM

 Nghi Thức Hành Lễ

 Tuyên đọc Sứ Mạng Cứu Đời của

Đức Huỳnh Giáo Chủ

IV.- Phát Biểu của Quan Khách và

Xướng Ngâm Thi Văn Giáo Lý

V.- Văn Nghệ Giúp Vui

VI.- Cảm Tạ của Ban Tổ Chức

VII.- Bế Mạc 6:30 PM

___________________________________

LIÊN LẠC:

TS Lê Phước Sang, 832-397-9813;

Trần Văn Vui, 619-278-9758;

Nguyễn Tấn Lạc, 714-332-9244;

Phạm Diệu Chi, 714-467-5955

Huỳnh Long Giang, 714-720-5271;

Đào Bích Ty, 714-726-4002;

Nguyễn Thanh Tân, 714-631-3343;

Ô. Ba Định, 714-837-4857.

About these ads

Occasionally, some of your visitors may see an advertisement here.

Tell me more | Dismiss this message

Categories: Sinh Hoạt Tôn Giáo | Leave a comment

Báo cáo mật của Khrusev về tội ác Stalin

Báo cáo mật của Khrusev về tội ác Stalin (download)

Posted By Đoàn Hữu Long on 17/02/2009 | 07:45

Đỗ Tịnh dịch theo bản tiếng Pháp (có đối chiếu, sửa chữa và chỉnh lý theo bản tiếng Hung). Khrusev.

Xem hoặc tải về “Về tệ sùng bái cá nhân và những hậu quả của nó”Tệp PDF ở đây.

LỜI GIỚI THIỆU (Cho lần tái bản thứ nhất)

1956! Ba năm sau khi Xtalin [Staline] chết, đảng Cộng sản Liên Xô tổ chức Đại hội lần thứ XX, nhằm mục đích thay đổi chính sách, sửa đổi sai lầm, cải tổ đảng và cải tổ chế độ. Ngày bế mạc Đại hội, giữa lúc các đại biểu lục tục kéo nhau ra về, tổng bí thư đảng Khơrútsốp [Khrouchtchev] triệu tập một cuộc họp bất thường gồm riêng các đại biểu Liên Xô, không có mặt các đại biểu các đảng anh em. Trước cuộc họp, Khơrútsốp đã đọc một bản báo cáo, đúng hơn là một bản án, vạch trần những sai lầm và những tội ác của Xtalin. Bản báo cáo này đã đi vào lịch sử với cái tên Báo cáo mật của Khơrútsốp về Xtalin(1).

Gọi là ‘‘mật’’, nhưng chỉ trong vòng hai ba ngày, bản báo cáo của Khơrútsốp đã được dịch ra khắp các thứ tiếng, lưu hành khắp các nước không nằm dưới quyền kiểm soát của các đảng Cộng sản. Đây là một sự kiện quan trọng có một không hai trong lịch sử. Nó mở đầu một thời kỳ chuyển biến của hầu hết các đảng Cộng sản trên thế giới. Nó đánh dấu một bước ngoặt quyết định dẫn tới sự băng hoại của chủ nghĩa xta-lin-nít cùng sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu như ta đã thấy.

Ngay sau khi bản báo cáo này được công bố trên các báo chí, tờ Tiếng thợ – cơ quan tuyên truyền của Nhóm trốt-kít Việt Nam ở Pháp – đã trích dịch nhiều đoạn và viết bài bình luận. Ở Việt Nam, tại miền Bắc, nhóm Nhân văn Giai phẩm có gián tiếp nói tới. Tại miền Nam, các báo chí nói tới nó rất nhiều. Nhưng theo chỗ chúng tôi biết, chưa có ai và chưa có nơi nào dịch nguyên bản ra tiếng Việt. Phải đợi tới tháng 10-1982, tờ tạp chí Nghiên cứu – cơ quan lý luận của Nhóm trốt-kít Việt Nam tại Pháp – mới dịch và in ra toàn bộ, từ bản tiếng Pháp. Hai ngàn số đã được phát hành, phần lớn ở Pháp và các nước Tây Âu, một phần nhỏ gửi về Việt Nam. Hiện nay chúng tôi không còn số nào cả, ngoài một hai số giữ làm lưu chiếu.

Hơn lúc nào hết, chúng tôi nhận thấy cần phải tái bản cuốn sách này. Không những vì tầm quan trọng lịch sử mà còn vì tác động chính trị của nó đối với các đảng Cộng sản xta-lin-nít, trong đó có đảng Cộng sản Việt Nam. Không phải tình cờ mà đảng này, cho tới ngay, vẫn giấu giếm và ngăn cấm Báo cáo mật của Khơrútsốp về Xtalin đối với nhân dân trong nước. Cũng không phải tình cờ mà đảng này vẫn cấm ngặt không cho ai được nói tới Xtalin. Vì nói tới Xtalin là phải nói đến những sai lầm và tội ác của Xtalin; phải nói tới đường lối chính trị của đảng trong nhiều năm đã học đòi Xtalin, coi Xtalin là thần tượng và gương mẫu; phải nói tới phương pháp mà đảng đã áp dụng trong việc thủ tiêu các thành phần và các tổ chức đối lập với đảng, trong đảng cũng như ngoài đảng.

Tái bản cuốn sách này, chúng tôi giữ lại nguyên văn bản dịch của dịch giả Đỗ Tịnh, không sửa chữa. Bạn đọc sẽ thấy bài diễn văn của Khơrútsốp là văn nói, mộc mạc và ít chú trọng tới văn phong.

Chúng tôi cũng in lại nguyên văn bài Mấy lời nói đầu của Hà Cương Nghị. Viết từ hơn mười năm nay, bài này vẫn còn thích hợp với thời cuộc. Hà Cương Nghị đã đề cập một số vấn đề – hồi ấy ít ai lưu ý – hiện nay trở thành đề tài và đối tượng của các phong trào đòi dân chủ đa nguyên, đa đảng, đối lập với lập trường của đảng Cộng sản. Ấy là các vấn đề: đảng và nhà nước, độc tài một đảng, chuyên chính vô sản, tập trung dân chủ v.v…

Cũng trong bài Mấy lời nói đầu, tác giả nêu lên hai nhận định, hồi ấy ít ai quan tâm. Một, những sai lầm và tội ác của Xtalin mà Khơrútsốp vạch ra, vẫn còn thiếu sót một phần lớn. Khơrútsốp chỉ nói tới giai đoạn cuối đời Xtalin từ năm 1937, nhưng ‘‘bỏ quên’’ những giai đoạn trước đó, khi 90% đồng chí thân cận của Lênin [Lénine] bị giết hại. Vì thế, những người này chưa được phục hồi danh dự. Hai, sự ‘‘cải tổ’’ do ban lãnh đạo đảng Cộng sản Liên Xô đứng ra chủ trương, thực ra chỉ là một biện pháp tự bảo vệ của giới quan liêu để tồn tại. Nó không thể dẫn tới dân chủ, càng không thể dẫn tới sự tái thiết nền dân chủ Xô-viết mà chỉ có một cuộc cách mạng chính trị, lật đổ chính quyền quan liêu mới thực hiện nổi. Mỗi bước ‘‘cải tổ’’ sẽ tạo ra những điều kiện dẫn tới sự sụp đổ của chế độ.

Sáu năm trôi quan. Nhận định thứ nhất đã được thời cuộc gần đây chứng minh: năm 1988, ba năm sau khi lên chính quyền, Goócbatrốp [Gorbatchev] đã bắt buộc phải trở lại vấn đề những tội ác của Xtalin. Dưới áp lực của dư luận, Bộ Chính trị của đảng Cộng sản Liên Xô đã phải tuyên bố xóa án cho Dinôviép [Zinoviev], Bukharin [Boukharine] và hầu hết những đồng chí kỳ cựu của Lênin. Trừ một nạn nhân quan trọng nhất, gần gũi nhất của Lênin về mặt tư tưởng là Lép Trốtxki [Léon Trotsky]! Vì sao? Vì Trốtxki không những là người đối lập quả quyết nhất với Xtalin mà còn là người đối lập không khoan nhượng với toàn thể đẳng cấp quan liêu đang nắm giữ chính quyền ở điện Cơremlanh. Quan liêu chấp thuận ‘‘cải tổ’’, nhưng họ không chấp nhận sự đầu hàng!

Nhận định thứ hai cũng đã được thực tế kiểm chứng: chính sách ‘‘cải tổ’’ của Góocbatrốp không những đã thất bại như Khơrútsốp thời kỳ 1956 mà nó còn kéo theo sự sụp đổ của Liên Xô và tất cả các nước ‘‘xã hội chủ nghĩa hiện thực’’ ở Đông Âu. Sự sụp đổ này không những làm thượng tầng kiến trúc sụp đổ mà còn kéo theo sự sụp đổ của hạ tầng cơ sở do cách mạng tháng Mười dựng nên; giờ đây, khẩu hiệu của giới quan liêu là Trở về với chế độ tư bản!

Vì không có một cuộc cách mạng chính trị do quần chúng lao động đứng lên lật đổ quan liêu, lập lại nền dân chủ Xô-viết của cách mạng tháng Mười, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu đã mang hình thức một cuộc ‘‘sụp đổ nội tại’’ (implosion) tự trong lòng chế độ quan liêu. Hàng ngũ quan liêu bị phân tán, nhưng một bộ phận quan liêu vẫn nắm giữ được chính quyền, mặc dầu chính quyền này lệ thuộc phần nào vào lá phiếu của dân chúng.

Đứng về phương diện chính trị, dầu sao đây cũng là một bước tiến bộ. Nhân dân Liên Xô từ nay thoát khỏi chế độ độc tài đẫm máu do Xtalin dựng nên. Bây giờ, họ có cơ hội để nhận xét, lựa chọn, thử nghiệm: chế độ nào thích hợp với quyền lợi và nguyện vọng của họ!

Đứng về phương diện lịch sử, đây là một hiện tượng hoàn toàn mới lạ, chưa từng có. Một chuyển biến ngược chiều. Mọi sự hầu như đều trở về điểm xuất phát. Tương lai nước Nga và các nước Đông Âu sẽ ra sao? Chưa ai có thể quyết đoán. Một điều chắc chắn là sự chuyển hóa các nước này thành các chế độ tư bản và dân chủ như các xứ Tây phương không phải là điều dễ dàng như nhiều người tưởng. Nhiều triệu chứng cho thấy sự thiết lập một nền dân chủ – dầu là dân chủ tư sản – ở những xứ này vẫn còn bấp bênh. Chưa có dấu hiệu gì bảo đảm cho sự thành công của nó.

Tái bản cuốn sách này, chúng tôi mong cống hiến các đảng viên chân chính của đảng Cộng sản Việt Nam một bằng chứng về Xtalin và chủ nghĩa xta-lin-nít, để họ có điều kiện suy ngẫm và tìm hiểu: vì đâu Liên Xô và các xứ Đông Âu đã sụp đổ như ngày nay?

Chúng tôi mong cống hiến các độc giả một tài liệu để nhận xét sự quái đản của hiện tượng Xtalin, là hiện tượng tiêu biểu cho tư duy và quyền lợi của đám quan liêu. Nó không dính líu gì tới chủ nghĩa mác-xít, là chủ nghĩa nhân bản, nhằm mục tiêu giải phóng lao động và các tầng lớp nhân dân bị áp bức và bóc lột.

Ước mong cuốn sách này sẽ tới tay mọi người, nhất là tới tay đông đảo đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam, gia nhập đảng vì muốn đấu tranh cho một lý tưởng cao đẹp!

Nguyễn Tiến Cơ
Paris, ngày 10 tháng Giêng 1994
__________________________

(1) Tựa dề nguyên thủy của bản báo cáo là “Về tệ sùng bái cá nhân và những hậu quả của nó”.

MẤY LỜI NÓI ĐẦU (Cho lần xuất bản thứ nhất)

Dưới sức nặng những tội ác của y, Xtalin sẽ biến mất trên sân khấu với tư cách kẻ đào mồ chôn vùi cách mạng và có bộ mặt ghê tởm nhất trong lịch sử.

Lép Trốtxki (1937)

Cách đây 26 năm, vào cuối tháng 2-1956, có một sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng đã xảy ra ở Liên Xô và trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đó là bản Báo cáo mật của Khơrútsốp – Bí thư thứ nhất Ban Trung ương đảng Cộng sản Liên Xô – đọc trong dịp Đại hội lần thứ XX của đảng.

Bản báo cáo này gọi là ‘‘mật’’ vì nó được đọc trong phòng kín. Ngoài các đại biểu Liên Xô, không ai được có mặt, kể cả các đại biểu những đảng Cộng sản ‘‘anh em’’. Khơrútsốp nói: ‘‘Việc gì cũng có giới hạn của nó’’, ‘‘không được giặt áo bẩn trước mắt kẻ thù.’’

Khơrútsốp

Tuy nhiên, bản báo cáo này đã được phát riêng cho trưởng đoàn các phái đoàn anh em(1). Các lãnh tụ cộng sản như Tôliati [Togliatti] (Ý), Thorez (Pháp), Chu Đức (Trung Hoa), Trường Chinh (Việt Nam), v.v… đều được biết. Những người này khi trở về nước, có người chối cãi sự thật như Thorez, có người công nhận sự thật như Tôliati; nhưng không ai can đảm đem sự thật ra thông báo trước các đảng viên của đảng. Riêng có một nhà lãnh đạo Ba Lan(2) đã ngầm đem phát hành trong nội bộ đảng Cộng sản Ba Lan, gây ra một cuộc thảo luận sôi nổi trong hàng ngũ đảng này. Một bản của báo cáo đó lọt vào tay cục tình báo C.I.A. Mỹ ở Ba Lan. Tờ New York Times (Mỹ) nhận được và dịch đăng trên số báo ra ngày 16-3-1956. Tiếp sau là tờ Le Monde ở Pháp. Và chỉ trong vòng hai tháng, các báo chí tư sản toàn thế giới đều đăng tin. Ở Pháp hồi đó, tờ Tiếng thợ do Nhóm trốt-kít Việt Nam tại Pháp chủ trương có trích dịch và viết bài bình luận.

Bản báo cáo của Khơrútsốp là một văn kiện có một không hai trong lịch sử phong trào lao động. Nó là bản cáo trạng buộc tội Xtalin, người đã cầm đầu Liên Xô và được phong trào lao động thế giới tôn sùng trong ba chục năm ròng. Nó không những chỉ vạch ra những sai lầm về chính trị; điều quan trọng nhất là nó đã tố giác Xtalin về tội bạo ngược, giết hại hàng vạn, hàng triệu(3) người vô tội, trong đó một số đông là cộng sản. Lịch sử từ thời đại Tần Thủy Hoàng ở Trung Quốc, chưa từng có vụ thảm sát nào đại quy mô và được che đậy hàng chục năm như thế. Ngay như vụ Hítle [Hitler] thủ tiêu dân tộc Do Thái cũng chưa tới mức độ trầm trọng như Xtalin. Mà sự tàn ác của Hítle là thế nào thì dư luận đều đã biết ngay trong thời Hítle còn sống.

Những ai được biết tiểu sử của Xtalin do các đảng Cộng sản thế giới tuyên truyền hàng chục năm sẽ thấy đây là một bản cáo trạng phá bỏ mọi truyền thuyết mà người ta đã dựng nên xung quanh con người Xtalin. Mặc dầu vậy, theo nhận xét của chúng tôi, cáo trạng này vẫn còn nhiều chỗ thiếu sót, phiến diện, hoặc cố tình thiếu sót.

Trốtxki và phong trào Đệ tứ Quốc tế – trong ba mươi năm chính quyền Xtalin – đã từng vạch ra những điều mà ngày nay Khơrútsốp đưa ra ánh sáng. Bạn đọc chỉ cần coi những cuốn Xtalin, Những tội ác của Xtalin (Les Crimes de Staline), v.v… của Trốtxki hay những sách của Víchto Xécgiơ [Victor Serge] viết về Xtalin, sẽ thấy rõ. Nhưng dư luận thường chỉ coi đó là ‘‘sự tranh chấp đảng phái’’. Ngày nay, chính Khơrútsốp, người thân cận Xtalin trong hàng chục năm, chính Khơrútsốp, người kế nghiệp Xtalin, lại đứng ra buộc tội Xtalin. Dầu Khơrútsốp chỉ mới vạch ra một phần sự thực – người ta không thể đòi hỏi nhiều hơn ở một người đã từng là cộng sự gần gũi của Xtalin – nhưng một phần sự thật này cũng đủ chứng tỏ vai trò tiêu cực và tội ác của Xtalin mà Trốtxki và phong trào Đệ tứ đã nói đến.

Trái với truyền thuyết hàng mấy chục năm, trình bày Xtalin như một lãnh tụ ‘‘đại tài’’, một chính trị gia và lý thuyết gia ‘‘lỗi lạc’’, một chiến lược gia ‘‘siêu phàm’’, ‘‘kiệt xuất’’, v.v…, Xtalin, thực ra, đã phạm vô số sai lầm chính trị nghiêm trọng, ‘‘gây rất nhiều tổn thất’’ cho đảng Cộng sản và nhân dân Liên Xô.

(1) Đại diện các đoàn đại biểu cộng sản được triệu tập đến điện Cơremlanh, mỗi người được phát một bản sao văn kiện, nhưng sau khi đọc xong phải trả lại cho Ban Trung ương đảng Cộng sản Liên Xô. Ngay ngày hôm sau, nhiều báo chí các nước không cộng sản đã đăng tải và bình luận những nhận định chính của bản báo cáo ‘‘mật’’ này. (Xin xem cuốn Tiểu sử chính trị của Khơrútsốp của sử gia Liên Xô Rôi Métveđép [Roj Medvedev])
(2) Theo lời Khơrútsốp viết trong Hồi ký, một thành viên ban lãnh đạo Ba Lan tên là Dambơrốpxki [Zambrowski] đã tiết lộ bản báo cáo trong đảng Cộng sản Ba Lan.
(3) Nhiều sử gia đứng đắn ước lượng số nạn nhân của Xtalin lên đến mười triệu trong vòng ba mươi năm.

Một trong những sai lầm hết sức to lớn là Xtalin đã coi thường họa phát-xít Đức, khiến quân đội Hítle đã tiến sâu vào nội địa Liên Xô một cách nhanh chóng. ‘‘Thử hỏi tại sao? Vì Xtalin, mặc dầu sự việc đã rành rành, vẫn tưởng chiến tranh chưa xảy ra.’’ Mặc dầu có nhiều mật tin báo cho biết Hítle sắp đem quân tràn qua biên giới, Xtalin vẫn tưởng ‘‘tất cả những điều này chỉ là hành động khiêu khích của vài đơn vị binh lính vô kỷ luật trong quân đội Đức, đòn giáng trả của chúng ta sẽ là cái cớ cho người Đức làm bùng nổ cuộc chiến’’. Ngoài ra, trước ngày chiến tranh diễn ra, Xtalin đã‘‘thủ tiêu nhiều người trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo quân sự và chính trị vào thời kỳ 1937-1941. Trong những năm đó, các cuộc đàn áp đã triệt hạ những tầng lớp cán bộ quân sự nhất định: hầu như từ đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng đến những lãnh đạo quân sự cấp cao nhất. Trong thời kỳ đó, các nhà lãnh đạo quân đội – từng kinh qua chiến trận ở Tây Ban Nha và Viễn Đông – đã bị thủ tiêu gần hết.’’

Lê nin

Những sai lầm nói trên đã dẫn tới ‘‘kết quả là ngay trong những ngày giờ đầu cuộc chiến, ở các vùng biên giới, kẻ thù đã phá hủy phần lớn không quân, pháo binh và các trang bị quân sự khác’’của Liên Xô. Cạnh đó, ‘‘chúng đã sát hại một phần đáng kể các cán bộ quân sự và phá hoại Bộ Tham mưu Quân sự’’ Xô-viết.

Trái với truyền thuyết ghi trong Tiểu sử của Xtalin, cho rằng ‘‘thiên tài lỗi lạc’’ của Xtalin đã tạo ra các chiến thắng về quân sự, cho rằng ‘‘đồng chí Xtalin đã thảo ra luận đề về những yếu tố thường xuyên quyết định vận mệnh chiến tranh’’, ‘‘đã nhận biết và làm thất bại những kế hoạch của địch’’, v.v…, Khơrútsốp nói: ‘‘Xtalin hoàn toàn không hiểu những sự kiện diễn ra ở trận tuyến’’, nhiều lần‘‘đưa ra các mệnh lệnh không căn cứ vào tình hình thực tế của trận tuyến, đưa lại rất nhiều tổn thất không tránh thể khỏi cho quân đội ta’’; đáng lẽ phải biết nhận xét tình hình quân sự trên một bản đồ quân sự, ‘‘Xtalin bày kế hoạch hành binh trên bề mặt một quả địa cầu dùng cho học trò’’.

Sau khi nhiều tỉnh lỵ thất thủ, Xtalin trở nên hoang mang dao động và ‘‘mất lòng tin’’; ‘‘trong một thời gian dài, trong thực tế Xtalin không điều khiển các cuộc hành quân, nói chung đồng chí ấy không làm gì cả’’. Sau này, nhờ ‘‘các đại tướng […] biến đổi tình hình’’, các mặt trận được củng cố và mở cuộc phản công, lúc ấy, Xtalin mới trở lại lãnh đạo theo lời yêu cầu của Bộ Chính trị. Nhưng sau khi chiến tranh chấm dứt, Xtalin đã ‘‘đặt dấu hỏi về công trạng của nhiều nhà chỉ huy quân sự, những người đã có công đánh bại quân thù(1); đồng chí ấy không thể chấp nhận việc những công lao ở mặt trận lại có thể do người khác làm nên’’.

Một sai lầm khác nữa của Xtalin được vạch rõ trong bản báo cáo với nhiều dẫn chứng, là vấn đề nông nghiệp. Nông nghiệp Liên Xô chậm tiến vì mắc nhiều sai lầm nghiêm trọng. Người phải chịu trách nhiệm là Xtalin, vì ‘‘Xtalin chẳng hiểu gì về thực trạng ở nông thôn’’. ‘‘Xtalin chỉ biết đất nước và nền nông nghiệp qua phim ảnh. Nhưng những bộ phim này đã tô điểm sự thực trong địa hạt nông nghiệp. Thậm chí, nhiều bộ phim còn miêu tả đời sống các nông trang tập thể dường như thịt gà thịt ngỗng đầy rẫy trên các bàn ăn sắp làm chân bàn đổ sụp’’. Khi đặt chương trình kế hoạch, ‘‘Xtalin không cần chú trọng đến những sự kiện và con số. Một khi Xtalin đã nói một điều gì, điều đó phải là như thế, bởi lẽ Xtalin là bậc ‘thiên tài’ và một thiên tài không cần tính toán, chỉ liếc mắt nhìn qua là đã có thể luận ra cách giải quyết mọi việc’’.

Trốtxki

Một lỗi lầm nữa chẳng kém phần quan trọng là vấn đề xung đột với Nam Tư. Trong vấn đề này,‘‘Xtalin đã đóng một vai trò vô lý’’: ‘‘Không có một nguyên cớ đáng kể nào khiến ‘vụ’ này phát triển: hoàn toàn có thể tránh sự đoạn tuyệt với Nam Tư’’. Nhưng Xtalin đã tin là ‘‘chỉ cần lắc ngón tay út là Titô không còn nữa. Hắn sẽ đổ!’’ Liên Xô đã trả một giá đắt cho việc ‘‘lắc ngón tay út’’ của Xtalin. Xtalin đã quen ‘‘lắc ngón tay út’’ là mọi người đều phải đổ hoặc bị thủ tiêu. Nhưng ‘‘mặc dầu Xtalin ra sức lắc – chẳng những ngón út mà mọi thứ có thể lay chuyển khác -, Titô [Tito] vẫn không đổ’’. ‘‘Vì sao? Bởi lẽ ở trường hợp xung đột xảy ra với các đồng chí Nam Tư, sau lưng Titô có cả một nhà nước và một dân tộc đã trải qua trường học gian khổ của cuộc chiến đấu cho tự do và độc lập, một dân tộc ủng hộ những lãnh tụ của họ’’.

Trái với truyền thuyết trình bày Xtalin như một vị lãnh tụ hiền hậu, nhân ái, thương yêu cụ già, em trẻ, thương yêu nhân loại, v.v… (2), Khơrútsốp cho ta thấy Xtalin thực ra là một kẻ tàn ác, hai bàn tay đẫm máu; không những đẫm máu những người đối lập như Trốtxki, Bukharin, Dinôviép, v.v…, nhưng còn đẫm máu những bạn đồng hành của mình. Đây là một điều mà Khơrútsốp không thể chấp nhận được.

Khơrútsốp nói: ‘‘Cuộc điều tra đã cho thấy 98 người trong số 139 ủy viên chính thức và dự khuyết của Ban Trung ương do Đại hội thứ XVII bầu ra, nghĩa là 70 %, đã bị bắt bớ và bị xử bắn (phần đông vào những năm 1937- 38).’’ ‘‘Trong số 1956 đại biểu đại biểu chính thức và dự thính, 1108 người (nghĩa là đại đa số đại biểu Đại hội) bị bắt và bị kết án phản cách mạng.’’ Mặc dầu Khơrútsốp ‘‘quên’’ không nói đến những vụ diệt trừ trước năm 1937-1938; mặc dầu Khơrútsốp ‘‘quên’’ không nhắc lại vụ án Mạc Tư Khoa năm 1936, vụ án quan trọng nhất, trong đó 90% đồng chí lão thành thân cận nhất của Lênin (như Dinôviép, Camênhép [Kamenev], Bukharin, v.v…) bị giết hại cùng hàng ngàn, hàng vạn cán bộ và đảng viên đối lập; mặc dầu Khơrútsốp ‘‘quên’’ không nêu ra vụ ám sát Trốtxki ở Mêhicô [Mexico] năm 1940 và các vụ giết hại những người trốt-kít trên khắp thế giới do chính sách xta-lin-nít – dù thế, những con số Khơrútsốp đưa ra cũng đủ chứng tỏ khủng bố đã lớn đến mức độ nào.

Dinôviép

Những nạn nhân đều ‘‘thú nhận những tội không bao giờ họ vi phạm’’, ‘‘buộc tội chính mình và những người khác’’, ‘‘tự gán cho mình những tội tày đình và vô lý nhất’’. Vì sao? Vì họ ‘‘không chịu nổi những đòn tra tấn dã man’’. Phương pháp lấy khẩu cung là ‘‘đánh, đánh và đánh thêm nữa’’: ‘‘Người ta đã tạo ra những lời ‘thú tội’ như thế đó’’. Ở đây, Khơrútsốp đã giúp lịch sử giải luận vấn đề ‘‘thú tội’’ dưới thời Xtalin mà các sử gia và các nhà tâm lý như Cốtxle [Koestler](3) chỉ phóng đoán nhưng chưa tìm ra manh mối.

(1) Ý Khơrútsốp muốn nói đại tướng Giucốp đã bị truất chức.

(2) Xin xem bài Đời đời nhớ Ông của Tố Hữu trong phần Phụ lục.
(3) Coi cuốn Le Zéro et L’ Infini (nguyên bản Anh ngữ: Darkness at Noon) của văn hào Áctu Cốtxlơ [Arthur Koestler].

Dưới thời Xtalin, nhiều vụ án giả tạo đã được dựng lên, như ‘‘vụ án Lêningơrát [Léningrad]’’, ‘‘vụ án Grudia [Grudia]’’, ‘‘vụ ám sát Kirốp [Kirov]’’, vụ bắt giam các bác sĩ ‘‘âm mưu đầu độc Xtalin’’, v.v… Đó là ‘‘những vụ bắt bớ đồng loạt hàng ngàn người, những vụ hành quyết không đem ra xét xử tại tòa án và không qua thẩm xét thông thường’’. Ai đã âm mưu ám sát Kirốp, một thành viên cao cấp của Bộ Chính trị? Thủ phạm chẳng ai xa lạ mà chính là Xtalin, với mục đích diệt trừ một đối thủ lợi hại và đồng thời mượn cớ vu khống để diệt trừ những người đối lập mình(1). Ở đây, chúng ta thấy phương pháp không khác Hítle đốt cháy tòa nhà Quốc hội Đức rồi mượn cớ đổ tội cho cộng sản. Nhưng Hítle nhân danh phát-xít diệt trừ cộng sản, còn Xtalin nhân danh cộng sản diệt trừ những người cộng sản. Vụ bắt bớ các bác sĩ ‘‘âm mưu đầu độc Xtalin’’ cũng không ngoài ý nghĩa vụ ám sát Kirốp. Thông qua vụ này, Xtalin muốn mượn cớ ‘‘thanh toán tất cả các thành viên cũ của Bộ Chính trị’’. Khơrútsốp nói: ‘‘Không loại trừ khả năng nếu Xtalin còn nắm chính quyền thêm vài tháng nữa, có lẽ các đồng chí Môlôtốp [Molotov] và Micôian [Mikoian] không thể đọc tham luận ở Đại hội(2) hôm nay’’. Đó là ‘‘một vụ ngụy tạo từ đầu chí cuối’’. Cũng may Xtalin chết sớm, ‘‘không có đủ thì giờ để đi tới đích’’ và nhờ đó ‘‘các bác sĩ mới còn sống sót’’.

Kirov

Xtalin đã tạo ra khái niệm ‘‘kẻ thù của nhân dân’’, một quan niệm được sử dụng một cách tinh vi. Dựa trên quan niệm này, người ta không cần dẫn chứng những sai lầm về tư tưởng của cá nhân hay đoàn thể; chỉ cần gán cho đối thủ nhãn hiệu ‘‘kẻ thù của nhân dân’’ là đủ. ‘‘Tự bản thân quan niệm ‘kẻ thù của nhân dân’, trong thực tế, đã loại bỏ khả năng mở ra bất kỳ một cuộc đấu tranh tư tưởng nào, hoặc ngăn cản người khác không được phát biểu ý kiến về một vấn đề nhất định, ngay cả khi vấn đề ấy là thực tiễn, chứ không mang tính lý luận’’.

Khơrútsốp nói: ‘‘Sự thật, khủng bố không nhắm mục đích loại trừ những tàn tích của giai cấp bóc lột đã thất bại, nó chỉ chống lại những viên chức trung thực của đảng và nhà nước Xô-viết. Đối với họ, người ta đã ngụy tạo ra những lời buộc tội vu khống và phi lý như bảo họ là ‘giả dối’, ‘gián điệp’, ‘phá hoại’, ‘chuẩn bị những cuộc mưu sát’ giả định với những phương tiện bất hợp pháp v.v…’’

Trái với truyền thuyết cho rằng Xtalin là người mác-xít, am hiểu về vấn đề dân tộc, biết giải quyết vấn đề này trên cơ bản tự quyết bình đẳng bình quyền của các dân tộc, Khơrútsốp cho ta biết vào năm 1943, Xtalin đã đưa ra một quyết định ‘‘nhằm đày ải dân tộc Karatchai khỏi những mảnh đất họ đang cư trú’’. Cùng năm đó, ‘‘tất cả dân chúng nước Cộng hòa Tự trị Canmúc [Kalmouks] cũng chịu chung một số phận’’. Năm 1944, ‘‘tất cả dân Balkare bị đuổi khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa Tự trị Kabardo-Balkare đến các vùng khác’’(3). Khơrútsốp đặt câu hỏi: ‘‘Không hiểu nổi tại sao có thể buộc tội phản bội cho cả một dân tộc, kể cả phụ nữ, trẻ nhỏ, người già, người cộng sản, đoàn viên Cômxômôn [Komsomol], v.v…; làm sao có thể áp dụng các biện pháp khủng bố trả đũa với cả một dân tộc – khiến họ phải đau khổ và chịu đựng – vì những hành vi của một số người hay một số tập đoàn chống lại ta?’’

Trái với những truyền thống trình bày Xtalin như người kế nghiệp xứng đáng của Lênin, Khơrútsốp vạch rõ sự khác biệt giữa Lênin và Xtalin: khác biệt về nhân cách, về phương pháp hoạt động, về chính trị. Để chứng thực, Khơrútsốp cho phát trong phòng họp Đại hội 16 tài liệu, trong đó có tờ Di chúc chính trị của Lênin mà Xtalin đã giấu kín đối với đảng trong vòng ba chục năm. Những tài liệu đó vạch rõ sự bất đồng chính kiến giữa Lênin và Xtalin. Đặc biệt, về vấn đề dân tộc Grudia, Lênin trách cứ Xtalin đã thi hành một chính sách quốc gia ‘‘Đại Nga’’. Trong một tài liệu(4) đề ngày 5-3-1923, Lênin yêu cầu Trốtxki thay mình bảo vệ trước Ban Trung ương lập trường đối lập với Xtalin và Décginxki [Dzerjinski] vì hai người này có thái độ ‘‘ngược đãi’’ dân tộc Grudia.

Trong tờ Di chúc chính trị của Lênin, đoạn bổ sung đề ngày 4-1-1923 là tư liệu quan trọng nhất. Trong đó, Lênin đề nghị Ban Trung ương ‘‘chuyển Xtalin khỏi trọng trách’’ tổng bí thư đảng và‘‘đề cử vào vị trí của Xtalin một đồng chí khác, có bản tính tốt hơn so với Xtalin’’. Hai tháng sau, ngày 5-3-1923, Lênin viết cho Xtalin một bức thư đoạn tuyện: ‘‘Tôi yêu cầu đồng chí suy nghĩ kỹ xem đồng chí có sẵn sàng rút lại những lời đã nói và xin lỗi vợ tôi, hay là chúng ta đoạn tuyệt mọi quan hệ’’.

Sự thật lịch sử là như thế. Nhưng sau này, Xtalin đã mạo nhận là người tiếp nối sự nghiệp của Lênin. Trong cuốn Tóm lược tiểu sử của mình, Xtalin đã tự tay viết ra những câu: ‘‘Xtalin là người kế tục xứng đáng sự nghiệp của Lênin, hoặc – như người ta thường nói trong đảng -, Xtalin là Lênin của thời đại ngày nay.’’ Cũng trong cuốn sách này, Xtalin còn tự bổ sung: ‘‘Đồng chí [Xtalin] không hề cho phép mình kiêu ngạo, khoe khoang hay tán tụng cá nhân mình’’. Ngoài những giả dối đó, Xtalin còn có những hành vi khác ‘‘không thể chấp nhận được’’, như phao tin đồn nói xấu nguyên soái Giucốp [Joukov], hay đặt ở nhà nguyên soái Vôrôsilốp [Vorochilov] ‘‘một dụng cụ đặc biệt, có thể ghi âm tất cả các cuộc nói chuyện’’.

Giả dối, xuyên tạc, vu khống, man trá, mạo nhận, đó là những đặc tính của Xtalin mà Khơrútsốp đã lần lượt vạch rõ trong bản Báo cáo mật. Khơrútsốp nói: ‘‘Như mọi người đều biết, cuốn ‘Tóm tắt lịch sử đảng Cộng sản (bôn- se-vích) Liên Xô’ đã được một ủy ban của Ban Trung ương thảo ra’’. Thế mà, Xtalin đã ký tên mình: trong bản in năm 1938, người ta thấy mấy chữ ‘‘do đồng chí Xtalin viết’’ trên bìa sách. Khơrútsốp đặt câu hỏi: ‘‘Một biến đổi tuyệt vời đã khiến một công trình tập thể thành cuốn sách do Xtalin viết?’’

Trái với truyền thống của các đảng Cộng sản trên thế giới coi cuốn Yếu lược lịch sử đảng Cộng sản (bôn-se- vích) Liên Xô là cuốn sách gối đầu giường của các đảng viên và cán bộ(5), Khơrútsốp nói nó chứa đựng nhiều sai lầm và xuyên tạc, cần phải viết lại(6). Trong cuốn sách này, Xtalin đã ‘‘biến đổi toàn bộ giai đoạn lịch sử sau cách mạng tháng Mười của đảng Cộng sản vinh quang’’, đã ‘‘tỏ ra thiếu kính trọng đối với kỷ niệm về Lênin’’. Cuốn sách ‘‘chủ yếu chỉ nói về Xtalin, về những bài diễn văn, những bản báo cáo của đồng chí ấy’’ và ‘‘không hề có một ngoại lệ, dù nhỏ mọn nhất: mọi sự việc đều gắn liền với tên tuổi Xtalin’’. ‘‘Mọi biến cố đều được trình bày như thể Lênin chỉ đóng vai trò thứ yếu, ngay cả trong thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười’’. Sự thực, ‘‘các đồng chí có mặt ở đây, ít ai nghe và biết đến Xtalin trước năm 1924’’. Ở đây, Khơrútsốp ‘‘quên’’ không nói thêm, trong cuộc cách mạng tháng Mười, người ta chỉ thấy cụm từ luôn đi liền nhau là ‘‘Lênin và Trốtxki’’(7). Xtalin đã chiếm đoại vai trò của Trốtxki trong việc lãnh đạo cuộc khởi nghĩa vũ trang và sáng lập Hồng quân Liên Xô.

(1) Theo báo cáo của Khơrútsốp thì Kirốp bị Xtalin thủ tiêu, nhưng theo những tiết lộ mới nhất rút ra từ thư khố của K.G.B thì trường hợp này dường như không phải vậy; Kirốp thiệt mạng trong một vụ xung đột tình ái. Tuy nhiên, ý muốn thường xuyên loại trừ các đối thủ là rõ ràng trong suốt cuộc đời Xtalin.
(2) Tức Đại hội lần thứ XX của đảng Cộng sản (bôn-se-vích) Liên Xô.
(3) Ba mươi năm sau, ở Campuchia, Pôn Pót [Pol Pot] đã theo gương Xtalin thực hiện chính sách cưỡng bức di chuyển dân sự và diệt chủng.
(4) Xin xem bản dịch nguyên văn tài liệu này ở phần Phụ lục.
(5) Trong cuốn Những chặng đường lịch sử, đại tướng Võ Nguyên Giáp coi đây là tài liệu cơ bản huyến luyện của đảng Cộng sản Việt Nam.
(6) Cuốn sách này đã được viết lại, nhưng vẫn còn nhiều đoạn sai lầm và xuyên tạc. Xin xem tạp chí Nghiên cứu số 6, tháng 6-1981 do Nhóm trốt-kít Việt Nam tại Pháp xuất bản.
(7) Khi viết về cách mạng tháng Mười Nga, nhiều sử gia đứng đắn đều coi Lênin và Trốtxki là hai nhà lãnh đạo quan trọng nhất.

Sự biến đổi công trình một người khác thành công trình của mình còn biểu hiện trong thời kỳ Thế chiến thứ hai. Khơrútsốp nói: ‘‘Khi xem các tiểu thuyết, phim ảnh và những công trình ‘khoa học’ về lịch sử của chúng ta, ta thấy Xtalin có vai trò hầu như không thể tưởng tượng nổi trong cuộc chiến tranh vệ quốc’’. ‘‘Xtalin đã gieo rắc trong đầu óc quần chúng ý nghĩ rằng mọi chiến thắng của đất nước Liên Xô trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại đều do lòng quả cảm, sự can đảm và thiên tài lỗi lạc của Xtalin’’. Sự thực, ‘‘những chiến thắng ấy là kết quả sự cố gắng vô biên và công tác của toàn thể nhân dân và đảng, và tuyệt nhiên không phải thành quả lãnh đạo của Xtalin như người ta từng khẳng định trong thời kỳ sùng bái cá nhân’’.

Dưới thời Xtalin, sự sùng bái cá nhân đã ‘‘đạt đến mức khốc hại’’, ngoài sức tưởng tượng. Người ta đã tán dương Xtalin bằng đủ mọi cách và chính Xtalin cũng tự viết ra những câu tán tụng mình. Khơrútsốp nói: ‘‘Cuốn ‘Tóm lược tiểu sử Xtalin’ ấn hành vào năm 1948 […] là thứ xu nịnh ghê tởm nhất, là điển hình cho việc làm thế nào để biến một người – Xtalin – thành một vị thánh sống, một hiền nhân không thể sai nhầm, một ‘lãnh tụ vĩ đại nhất’, một ‘chiến lược gia đại tài của mọi thời đại và mọi dân tộc’. Cuối cùng, người ta không tìm nổi từ ngữ để tâng bốc Xtalin lên tận chân mây’’. Trong những vần thơ của bản quốc thiều, ‘‘toàn thể sự nghiệp của đảng lê-nin-nít trên các lĩnh vực giáo dục, chỉ đạo và động viên đều thuộc về Xtalin’’. Khơrútsốp tuyên bố cần phải viết lại lời cho bản quốc thiều Liên Xô.

Xtalin còn ‘‘đặc biệt hào phóng khi tự tặng cho mình những lời khen ngợi về thiên tài quân sự, về tài năng cầm quân’’. ‘‘Xtalin thích coi bộ phim ‘Năm 1919 bất diệt’, trong đó ta thấy Xtalin đứng trên bực chiếc tàu hỏa bọc thép(2) và đánh tan quân thù với thanh đoản kiếm của mình’’. ‘‘Nói đến những sự kiện của cuộc cách mạng tháng Mười và thời nội chiến, người ta tạo ta cảm tưởng dường như Xtalin đóng vai trò chính yếu, dường như bất kể lúc nào và ở đâu, Xtalin luôn luôn nhắc nhở Lênin phải làm gì và làm bằng cách nào. Thật là một sự mạ lị Lênin’’.

Nikolai Bukharin 1929

Khơrútsốp đặt câu hỏi: ‘‘Đã ở đâu và khi nào, người ta thấy một lãnh tụ tự tán tụng mình như thế chưa?’’ Khơrútsốp ‘‘quên’’ không đặt câu hỏi: tại sao ban lãnh đạo đảng Liên Xô – trong số đó có cả Khơrútsốp – và tại sao các lãnh tụ Cộng sản trên thế giới đã xướng họa trong việc này? Không những đã xướng họa, họ còn thi nhau đưa Xtalin lên đình cao của vinh dự! Chỉ cần đọc những tài liệu bằng tiếng Pháp của Maurice Thorez, Jacques Duclos, hay tiếng Việt của các ông Trường Chính, Tố Hữu, v.v…(3) trong thời Xtalin cũng đủ biết tệ sùng bái Xtalin đã tiến tới bực nào. Hiện tượng sùng bái cá nhân không những chỉ xảy ra ở Liên Xô mà còn phát triển mạnh mẽ trong hầu hết các đảng Cộng sản trên thế giới.

Sùng bái cá nhân đã tạo ra ‘‘lũ người vu khống và mưu lợi thuộc đủ mọi hạng’’. Nó cũng tạo ra những Bêria [Beria] lớn nhỏ ‘‘đã dẫm lên không biết bao nhiêu xác chết để leo ngày một cao lên các bậc thang chính quyền’’. Sùng bái cá nhân Xtalin đã tạo ra nỗi khiếp sợ, kinh hoàng. Xtalin ‘‘chỉ cần lắc ngón tay út’’ là đối thủ không còn trên trần gian nữa. Người ta sợ Xtalin đến nỗi một hôm, Bunganhin [Boulganine] bảo Khơrútsốp: ‘‘Đôi khi, ai đó được Xtalin mời đến gặp mặt như một người bạn. Nhưng lúc đối diện với Xtalin, anh ta không biết sau đó mình sẽ đi đâu: về nhà mình hay vào nhà tù’’. Một sự khiếp đảm như thế đã khiến ‘‘các ủy viên Bộ Chính trị ở trong tình thế rất khó khăn’’. Sự sùng bái cá nhân đã ‘‘tạo ra tổ chức hành chính tê liệt, dẫn đến những đường lối lệch lạc đủ thứ: che dấu thiếu sót, tô son điểm phấn sự thực. Trong dân chúng, có đầy rẫy những kẻ nịnh hót, bợ đỡ, chuyên nghề lừa phỉnh và đánh lạc hướng’’. Trong đảng có ‘‘nhiều đảng viên dè dặt trong công việc, trở nên quá thận trọng trong lời nói và việc làm, sợ mọi thứ đổi mới. Họ sợ ngay cả cái bóng của mình và kém hẳn sáng kiến trong công tác’’. ‘‘Ngay cả trong những cuộc hội thảo nhỏ, các cán bộ đảng cũng đọc những bài diễn văn viết sẵn’’, kết quả ‘‘đem lại hiểm họa: công tác đảng và Xô-viết trở nên hình thức, toàn thể bộ máy tổ chức bị quan chế hóa’’.

Tới đây, ta thấy bản cáo trạng của Khơrútsốp không những vạch rõ vai trò tiêu cực và tội ác của Xtalin, nó còn nêu ra thực trạng của xã hội Liên Xô. Ấy là sự quan chế hóa toàn thể bộ máy đảng và nhà nước. Vô tình, Khơrútsốp đã đánh một đòn mạnh vào hệ thống quan liêu, xây dựng trên căn bản ‘‘một đảng và đảng một khối’’, xây dựng trên quan niệm ‘‘chuyên chính một đảng’’ thay cho ‘‘chuyên chính vô sản’’, ‘‘tập trung quan liêu’’ thay cho ‘‘tập trung dân chủ’’. Vô tình, Khơrútsốp làm đảo lộn tất cả những truyền thống của các đảng Cộng sản đã thấm nhuần chủ nghĩa xta- lin-nít trong ba mươi năm. Hình như cũng hiểu rõ tầm quan trọng và tác động tai hại của bán báo cáo, Khơrútsốp cố ý bào chữa cho Xtalin bằng lập luận sau: ‘‘Trong mọi hành động, Xtalin tuân thủ bởi lợi ích của giai cấp công nhân, lợi ích của người lao động và của thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Chúng ta không thể nói những hành động của Xtalin là hành động của một kẻ chuyên quyền điên rồ. Xtalin tin chắc đó là việc làm cần thiết cho quyền lợi của đảng, của quần chúng cần lao, để bảo vệ những thành quả của cách mạng. Thảm trạng chính là ở chỗ đó!’’

(2) Chíếc xe lửa này là một sự kiện lịch sử. Nhưng người ở trên xe không phải là Xtalin mà là Trốtxki và Bộ Tham mưu Hồng quân trong cuộc nội chiến.

(3) Về sự tán dương Xtalin, nhà thơ Nêruđa [Neruda] đã tự phê bình. Nhưng các thi sĩ khác như Aragông [Aragon] và Tố Hữu, cho tới nay vẫn chưa tự chỉ trích.

Những lời báo chữa nói trên có chỗ khó hiểu là Xtalin đã bảo vệ quyền lợi giai cấp vô sản bằng phương pháp đày ải và giết hại người lao động, bảo vệ chủ nghĩa cộng sản bằng phương pháp đày ải và giết hại những người cộng sản. Và Xtalin đã áp dụng những biện pháp tàn ác ấy – không phải chỉ một vài trường hợp lẻ loi mà trên một quy mô vĩ đại, chưa từng thấy trong lịch sử – đối với hàng ngàn, hàng vạn, hàng triệu người vô tội. Nói như Khơrútsốp, người ta có thể bảo vua chúa thời xưa giết hại nhân dân vì quyền lợi nhân dân, Hítle giết hại người Do Thái vì quyền lợi người Do Thái. Và Hítle không phải kẻ ‘‘chuyên quyền điên rồ’’ vì khi chết, buông hai bàn tay, cũng như Xtalin, Hítle có gia tài quyền lợi riêng biệt gì của mình đâu? Một sự giải thích như thế hoàn toàn ngược với học thuyết mác-xít. Vì trong lịch sử xã hội, chưa có một lãnh tụ hay một tổ chức nào đấu tranh bảo vệ một giai cấp bằng cách chống lại giai cấp đó. Sự thực, Xtalin không bảo vệ quyền lợi giai cấp vô sản và cũng không bảo vệ quyền lợi chủ nghĩa cộng sản như Khơrútsốp nói. Xtalin là sản phẩm của chế độ chính trị quan liêu, Xtalin chỉ bảo vệ quyền lợi một tầng lớp nhất định: tầng lớp quan liêu. Nhưng ta không thể đòi hỏi ở Khơrútsốp một sự diễn giải mác-xít như thế, vì Khơrútsốp là một thành viên trong đám quan liêu.

Kamenev

Mặc dầu những lời báo chữa ấy của Khơrútsốp cho Xtalin, các lãnh tụ cộng sản các nước – khi được biết bản Báo cáo mật – nhận thấy đó là một biến cố quan trọng, có thể sẽ gây ra tai họa khôn lường. Họ hoang mang, hoảng hốt, tìm cách hạn chế mối họa, nhưng mỗi người hành động khác nhau. Có lãnh tụ như Tôliati của đảng Cộng sản Ý, sau mấy ngày do dự, tuyên bố bản báo cáo có thực. Nhưng ông ta phê bình lời giải thích của Khơrútsốp, dựa trên nguyên nhân sùng bái cá nhân không phải là một sự ‘‘giải thích mác-xít’’. Trong bài phỏng vấn đăng trên tờ báo Nouavi Argomenti, Tôliati nêu ra câu hỏi về ‘‘sự suy đồi của giới quan liêu ở Liên Xô’’. Hai đảng Cộng sản Anh và Mỹ công nhận sự tồn tại của bản báo cáo, nhưng yêu cầu một sự giải thích đầy đủ hơn. Tờ Daily Worker của đảng Cộng sản Mỹ ngày 6-6-1956 đã trích đăng nhiều đoạn của bản báo cáo và phê bình ban lãnh đạo Liên Xô ‘‘mắc sai lầm’’ là không đem ra phát hành công khai. Thêm nữa, họ phê bình Khơrútsốp đã ‘‘quên không nhắc tới những tội ác của Xtalin về việc thủ tiêu những người Do Thái ở Liên Xô.’’ Ngày 18-6-1956, Eugène Denis, tổng bí thư đảng, đặt câu hỏi về ‘‘trách nhiệm chung của các nhà lãnh đạo ở Liên Xô’’ trong thời kỳ sùng bái cá nhân. Tại Pháp, tổng bí thư đảng Cộng sản Maurice Thorez chối cãi sự thực bằng mấy danh từ khôn khéo: ‘‘Bản báo cáo mà người ta bảo là của Khơrútsốp’’(1).

Nhưng dần dần, năm này qua năm khác, hầu hết các đảng Cộng sản trên thế giới, trực tiếp hoặc gián tiếp, tiếp tục nhau công nhận sự tồn tại của bản báo cáo. Nhưng chưa một đảng nào đem ra ấn hành, phân phát cho đảng viên và mở cuộc thảo luật trong nội bộ. Mấy năm gần đây, nhiều sử gia và lãnh tụ cộng sản Pháp ‘‘tự phê bình’’ đảng mình đã không công nhận sớm bản báo cáo này, ‘‘gây nhiều tai hại cho sự phát triển của đảng’’. Hiện nay, chỉ còn mấy đảng như đảng Cộng sản Albanie, Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên là còn tiếp tục khước từ sự thực. Bởi lẽ rút dây động rừng, họ sợ hậu quả sẽ gây ra những tai họa như ở các xứ dân chủ nhân dân Đông Âu.

Mặc dầu bản Báo cáo mật của Khơrútsốp chỉ nói về các vấn đề nội bộ Liên Xô; mặc dù nó không nói tới phong trào cộng sản các nước, không nói tới những sai lầm và tội ác của Xtalin trong việc lãnh đạo Đệ tam Quốc tế trong vòng hai mươi năm; mặc dù nó không nói tới những nguyên nhân thất bại của các cuộc cách mạng Trung Hoa 1925-1927, cách mạng Tây Ban Nha 1936, v.v… và các cuộc thanh trừng đẫm máu trong các đảng Cộng sản do Xtalin và các bộ hạ gây ra – dầu thế, bản báo cáo này đã có một tác động mạnh mẽ, gây ra một loạt các biến động quan trọng mà chính Khơrútsốp cũng không ngờ tới.

Năm 1956, khi bản báo cáo bị tiết lộ, dân chúng các nước Ba Lan, Hung Gia Lợi, Tiệp Khắc – trong đó có nhiều đảng viên cộng sản – kéo nhau xuống đường, đập phá các tượng đài, chân dung Xtalin, đòi thả các lãnh tụ và đảng viên cộng sản cùng các chính trị phạm bị bắt giam, đòi rửa án cho những người vô tội. Nhờ thế, các lãnh tụ bị giết oan như Roicơ Látxlô [Rajk László], Cốtxtốp [Kostov], Clêmăngti [Clémentis], v.v… được phục hồi danh dự. Những lãnh tụ khác bị tù oan như Gômunca [Gomulka], Áctu Lônđôn [Arthur London](2), v.v… được thả tự do. Cho tới nay, tác động của bản báo cáo Khơrútsốp vẫn chưa chấm dứt. Những cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản Tiệp Khắc (năm 1968) và Ba Lan (từ năm 1981 cho đến nay) không phải là điều tình cờ: nó bắt nguồn từ bản cáo trạng Xtalin năm 1956.

Một câu hỏi được đặt ra: một nước được coi là có cuộc cách mạng vô sản, giai cấp tư sản không còn nữa, giới lao động đã nắm chính quyền, làm sao có thể xảy ra những vụ tàn sát khổng lồ như thế? Làm sao lại có những vụ vu oan giá họa, ăn gian nói dối, che giấu sự thực, thay đổi lịch sử như thế? Làm sao chính quyền lại lọt vào tay một cá nhân duy nhất và cá nhân này lại dựng nên một chế độ độc tài đẫm máu khủng khiếp như thế?

Câu trả lời đã được phong trào Đệ tứ Quốc tế đưa ra trong vòng ba chục năm nay. Trái với các báo chí tư sản đổ tội cho chủ nghĩa cộng sản, Đệ tứ Quốc tế khẳng định: chính vì Liên Xô không theo chủ nghĩa cộng sản của Mác- Ăngghen [Marx-Engels] nên mới xảy ra tình trạng như thế. Những ai tôn trọng sự thậtc đều phải công nhận Xtalin không phải là người cộng sản, chủ nghĩa xta-lin-nít không phải là chủ nghĩa cộng sản. Những điều đã xảy ra ở Liên Xô đều ngược hẳn với mục đích nhân đạo của chủ nghĩa cộng sản.

Sự đối lập của Trốtxki chống Xtalin – trong vòng hai mươi năm, trên mọi lĩnh vực lý thuyết, chính trị, phương pháp hoạt động – đã đặt ra các vấn đề căn bản về tổ chức đảng, nhà nước, bài trừ nạn quan liêu, kiến thiết kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tệ sùng bái cá nhân chỉ là hậu quảchứ không phải nguyên nhân của một chế độ chính trị. Nguyên nhân phải tìm ở thực trạng xã hội Liên Xô.

(1) Le rapport attribué à Krouchtchev.
(2) Xin xem cuốn L’ Aveu của Áctu Lônđôn [Arthur London].

Ở Liên Xô, cuộc cách mạng vô sản tháng Mười đã bị biến chất do những điều kiện khách quan và chủ quan, quốc gia và quốc tế. Một tầng lớp quan liêu trong giai cấp vô sản, lợi dụng thoái trào của vô sản Liên Xô và vô sản thế giới, đã nhảy ra cướp đoạt chính quyền từ tay lao động. Tầng lớp này nhân danh giai cấp vô sản, kỳ thực, quyền lợi, địa vị, sinh hoạt của họ khác với giai cấp vô sản. Họ chiếm giữ những đặc quyền chính trị và kinh tế trong các bộ máy đảng và nhà máy. Muốn bảo vệ những đặc quyền này, họ cần một chế độ quan liêu cảnh sát và cần tạo ra một vị chúa tể như Xtalin, để rồi nấp bóng, ngăn cản các cuộc đấu tranh đòi dân chủ và quyền lợi của nhân dân và tiêu diệt các cuộc nổi dậy của giới lao động. Hàng vạn những bọn quan liêu lớn nhỏ đã tạo ra Xtalin chứ không phải Xtalin tự mình có thể tạo ra mình. Bêria, người thừa hành của Xtalin không phải là ‘‘gián điệp của ngoại quốc’’(1) như Khơrútsốp nói, mà là sản phẩm của chế độ, cũng như Xtalin. Ngoài Bêria, còn có hàng trăm, hàng ngàn Bêria lớn nhỏ ủng hộ Xtalin, tiếp tay cho Xtalin; nhờ thế, Xtalin mới tạo lập được một chế độ chính trị quan liêu, độc tài, dã man như thế. Trong điều kiện đó, giai cấp vô sản ở Liên Xô, từ vai trò người chủ đã trở thành kẻ bị thống trị.

Nhưng tại sao Khơrútsốp, một tay quan liêu trong đám quan liêu, lại đứng ra hạ bệ Xtalin? Muốn trả lời, chúng ta cần hiểu mâu thuẫn trong đám quan liêu. Quan liêu là một tầng lớp, mặc dầu có chính quyền, nhưng không có một cơ sở xã hội, nghĩa là cơ sở giai cấp vững chắc và độc lập (ví dụ như giai cấp tư sản trong bộ máy sản xuất tư bản chẳng hạn). Đời sống của họ bấp bênh. Họ như một cây tầm gửi ăn bám vào giai cấp vô sản vì họ không có vị trí độc lập và vai trò lịch sử độc lập. Hôm nay họ giữ địa vị quan trọng, ngày mai có thể mất hết, nếu không bị thủ tiêu hoặc bị tù đày. Họ ước ao có một sự quân bình xã hội để hưởng thụ đặc quyền của họ. Nhưng, chế độ chính trị do họ dựng lên – chế độ quan liêu – đồng thời đem lại đặc quyền đặc lợi cho họ, đồng thời luôn luôn đe dọa an ninh của họ. Họ đã tốn công vun xới cho sự sùng bái cá nhân Xtalin. Nhưng ngược lại, càng được sùng bái, Xtalin càng lộng quyền và dần dần vượt ngoài những giới hạn mà họ mong muốn. Khơrútsốp nói: ‘‘Khi Xtalin bảo phải bắt người này hay kẻ nọ, ai nấy đều phải công nhận người đó là ‘kẻ thù của nhân dân’ bởi vì không thể phản đối’’.

Một chính sách độc đoán như thế – độc đoán không những với nhân dân và giai cấp vô sản mà độc đoán cả với tầng lớp quan liêu – đã tạo ra hiện trạng ‘‘xã hội bị tê liệt’’. Sự phát triển của mọi ngành hoạt động văn nghệ, kinh tế, xã hội, chính trị, v.v… bị cản trở nghiêm trọng, mặc dầu hạ tầng kiến trúc của Liên Xô có cơ sở để tạo lập chủ nghĩa xã hội. Khơrútsốp nói: ‘‘Hệ thống lãnh đạo được áp dụng trong những năm cuối đời Xtalin đã thành một trở ngại nghiêm trọng trên con đường phát triển của xã hội Liên Xô’’. Khơrútsốp cố ý dùng mấy chữ ‘‘trong những năm cuối đời Xtalin’’; đúng hơn, phải nói như Trốtxki: ‘‘Trong những năm dưới chính quyền Xtalin…’’‘‘trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng’’ và tống giam những người đã ủng hộ chính sách này. Ở Việt Nam, sau khi phát động ‘‘sửa sai’’, đảng Cộng sản mở cuộc truy nã những văn nghệ sĩ của nhóm Nhân văn Giai phẩm đòi tự do dân chủ và đòi đảng ‘‘sửa sai’’ thêm nữa. Nhiều người trong nhóm này bị ngồi tù; số khác, dưới áp lực của đảng, đứng ra ‘‘tự lừa dối mình và tố cáo những kẻ khác’’.

Vấn đề cần đặt ra là chế độ chính trị quan liêu có thể tự nó cải tổ thành dân chủ vô sản thực sự được không? Kinh nghiệm cho thấy, nếu có sự cải tổ, chỉ là những cải tổ nhất thời, rồi đâu lại vào đấy. Bằng chứng là sau khi Khơrútsốp bị hạ bệ, ở Liên Xô người ta không nói gì về cải tổ nữa. Mặc dầu những cuộc tàn sát đẫm máu, đại quy mô như thời Xtalin không còn nữa, mặc dầu những bất đồng chính kiến trong đảng không kết liễu bằng những vụ xử bắn như thời Xtalin và những nhà lãnh đạo như Khơrútsốp, Malencốp [Malenkov], Môlôtốp, v.v…, tuy bị truất quyền, vẫn được sống hưởng tuổi già – nhưng, chế độ về cơ bản vẫn giữ tính chất quan liêu, độc đoán như cũ. Những trại cấm cố được thay bằng bệnh viện tâm thần, chuyên giam hãm những người đối lập tư tưởng. Tin tức trong và ngoài nước vẫn bị kiểm soát, xuyên tạc, che giấu hoặc bịa đặt, khiến người dân Nga ít ham muốn nghe tin tức và đọc báo chí của đảng và chính phủ. Hiện tượng này cũng giống như ở các xứ dân chủ nhân dân. Đặc biệt là ở Ba Lan, dầu chính phủ và đảng có nói sự thực thì dân chúng cũng không nghe nữa vì họ bị mắc lừa quá nhiều lần, do đó đã mất hẳn lòng tin. Các quyền tự do dân chủ vẫn bị cắt xén, chà đạp. Thậm chí, các văn nghệ sĩ mặc dầu không làm chính trị cũng bị cấm đoán, không được sáng tác theo cảm hứng của họ. Nạn sùng bái cá nhân không lộ liễu như trước, nhưng vẫn thịnh hành. Brêgiơnhép – tổng bí thư đảng – không phải nhà binh cũng chẳng phải nhà văn, thế mà được phong làm nguyên soái và được tặng giải thưởng văn nghệ hạng nhất(2). Tóm lại, mặc dầu người ta đã đem xác ướp của Xtalin từ lăng tẩm trên Hồng trường ra chôn bên chân tường điện Cơremlanh [Kremli] để không ai thấy nữa, nhưng chủ nghĩa xta-lin-nít vẫn tồn tại trong đầu óc các nhà lãnh đạo Liên Xô.

Muốn có cải đổi thực sự ở Liên Xô cũng như ở nhiều nước do đảng Cộng sản nắm giữ chính quyền, chỉ bài trừ nạn sùng bái cá nhân – như Khơrútsốp nói – không đủ. Sự cải đổi thực sự là phải đập tan bộ máy chính trị quan liêu từ trên xuống dưới. Vấn đề là phải có một cuộc cách mạng chính trị, lật đổ chế độ chính trị độc tài quan liêu, lật đổ chế độ ‘‘một đảng và đảng một khối’’, lật đổ các tổ chức bù nhìn, tái lập chính quyền dân chủ Xô-viết như thời Lênin trên căn bản tự do lao động, tự do có khuynh hướng chính trị, tự do lập đảng và nghiệp đoàn độc lập với chính quyền. Vấn đề là phải giành lại chính quyền từ tay đám quan liêu, giao phó cho các tổ chức dân chủ của giai cấp vô sản và quần chúng, từ dưới lên trên, bằng những cuộc bầu cử tự do, không phân biệt khuynh hướng, tổ chức, đảng phái, miễn là những khuynh hướng, tổ chức, đảng phái này tôn trọng hiến pháp xã hội chủ nghĩa.

(1) Khơrútsốp đã dùng phương pháp vu cáo như Xtalin để loại trừ Bêria.
(2) Brêgiơnhép 4 (bốn!) lần được tấn phong danh hiệu Anh hùng Liên Xô, tất cả đều trong thời bình! Ngoài ra, Brêgiơnhép còn được Giải thưởng Lênin cho mấy cuốn sách mang tính bịa đặt lịch sử, dĩ nhiên không do ông ta viết.

Một thay đổi như thế, ta có thể tin và chờ đợi ở các ban lãnh đạo hiện hữu của các đảng Cộng sản được không? Dĩ nhiên là không! Chỉ cần nhìn thái độ của họ đối với các vụ biến động ở Hung, ở Tiệp và hiện nay ở Ba Lan là đủ. Đứng trước những yêu sách đòi ‘‘dân chủ’’ và ‘‘tự quản’’ của giai cấp vô sản, họ đã làm gì? Họ đã theo gương Xtalin xuyên tạc sự thực, che giấu sự thực, tuyên truyền dối trá. Đối với những vụ nổi dậy của nhân dân ở Hung, ở Tiệp đòi tự do, độc lập, họ vu là ‘‘tư bản âm mưu phá hoại’’, ‘‘chủ trương lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa’’. Đối với mười triệu lao động Ba Lan trong Công đoàn Đoàn kết (Solidarnosc) đòi quyền tự do nghiệp đoàn, tự quyền quản lý, họ không ngần ngại mở cuộc đảo chính quân bị, ngăn cấm, bắt bớ, cầm tù và bắn giết nhân dân và những người lãnh đạo nghiệp đoàn do giới lao động bầu ra. Hơn thế nữa, họ đã phản bội chữ ký của họ trong bản Giao kết Gdansk ký với Công đoàn Đoàn kết. Ở Ba Lan, sự thực đã rành rành. Trong một nước có 12 triệu lao động thì mười triệu đứng trong Công đoàn Đoàn kết, thử hỏi đảng Cộng sản đại diện cho ai? Cho nhân dân lao động hay cho tầng lớp quan liêu cướp đoạt chính quyền trên lưng nhân dân lao động?

Trong ba mươi năm, đẳng cấp quan liêu ở Liên Xô và các đảng Cộng sản thế giới đã triệt để ủng hộ Xtalin. Các đảng Cộng sản các nước đã noi gương Xtalin thực hiện tại xứ mình một chính sách và chế độ tương tự như ở Liên Xô. Những vụ án ngụy tạo ở Liên Xô đã tái diễn nhiều lần ở các nước dân chủ nhân dân. Ở Trung Quốc, Mao Trạch Đông, bằng những phương cách khác nhau, đã hạ thủ Lâm Bưu, Lưu Thiếu Kỳ, và biết bao lãnh tụ, cán bộ và đảng viên khác đã chết trong tù ngục. Ở Việt Nam chưa có hiện trạng thanh trừng đẫm máu như thế, nhưng nếu không biết sớm rút bài học của bản Báo cáo mật của Khơrútsốp, đảng Cộng sản Việt Nam sẽ không tránh khỏi những vụ xâu xé lẫn nhau, kể cả những vụ đẫm máu. Trước thời chiến tranh với Pháp, đảng đã cho người tổ chức những vụ ám sát Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, v.v… là những người chỉ có cái tội là đảng viên trốt-kít. Từ đó đi tới chỗ thanh trừng nội bộ cũng không xa là mấy.

Lịch sử phong trào công nhân, cho tới thời Xtalin, chưa bao giờ có những cuộc giết hại lẫn nhau vì sự bất đồng tư tưởng hoặc đảng phái. Thời Mác, thời Ăngghen, thời Lênin, đã có nhiều cuộc xung đột lý thuyết, chính trị(1) gay gắt giữa các khuynh hướng, giữa các trào lưu hay tổ chức. Nhưng có ai và có đoàn thể nào tổ chức những cuộc ám hại đối thủ của mình đâu?

Chỉ từ ngày Xtalin lên nắm chính quyền ở Liên Xô, người ta mới thấy một hiện trạng quái gở như thế. Bắt đầu là cuộc tiêu diệt những thành phần, khuynh hướng tả hữu đối lập. Tiếp sau đi tới cuộc thanh trừng trong hàng ngũ nội bộ. Vì sao? Vì chính sách ‘‘một đảng và đảng một khối’’ tạo ra ‘‘độc tài đảng’’, ‘‘độc tài đảng’’ tạo ra ‘‘độc tài lãnh tụ’’. Bởi người ta chỉ công nhận có một chân lý: chân lý của đảng nghĩa là chân lý của một lãnh tụ hay một số nhỏ lãnh tụ. Những khuynh hướng hoặc tư tưởng ở ngoài đảng đều bị coi là phản động, cần phải tiêu diệt. Ngay như những khuynh hướng trong đảng mà không do lãnh tụ của đảng hay Bộ Chính trị đưa ra, đều bị coi là của giai cấp thù nghịch, cần phải tiêu diệt.

Người ta đi tới quan niệm hoàn toàn phản mác-xít là trong giai cấp vô sản, chỉ có thể tồn tại một khuynh hướng chính trị là khuynh hướng của đảng và trong đảng cũng chỉ có thể tồn tại một khuynh hướng là khuynh hướng của lãnh tụ tối cao hay của Bộ Chính trị. Những khuynh hướng khác đều là giả tạo và tiêu biểu cho quyền lợi tư bản. Kết quả, đảng phải có nhiệm vụ nắm giữ độc quyền chính trị và ban lãnh đạo tối cao của đảng có sứ mệnh sử dụng độc quyền này.

Nhưng ban lãnh đạo này là ai? Có phải do đảng viên và lao động chọn lọc, sau những cuộc thảo luận hoặc chống chọi sôi nổi, náo nhiệt như thời Lênin không? Không! Họ chỉ là một nhóm nhỏ người, đóng cửa kín, chọn lựa và loại bỏ nhau như triều thần ngày xưa, rồi đưa ra bảng cử (tiếng Ba Lan gọi là nomenclatura) đã xếp đặt sẵn. Quần chúng hay đảng viên chỉ có bổn phận chấp nhận, không có quyền đối lập hay bác bỏ, chưa nói tới quyền đề nghị một danh sách khác. Nếu có đảng viên nào bất đồng ý kiến, lá phiếu của những người này bị loại bỏ từ cấp chi bộ. Cho nên, mỗi khi có hội nghị hay hội họp quan trọng của đảng, người ta thấy hết thảy cử tri đều bỏ phiếu ‘‘đồng thanh’’ ưng thuận. Nhưng sau mỗi cuộc khủng hoảng nào đó của đảng hay trong những vụ tẩy trừ, đảng lại khám phá ra những lãnh tụ hay đảng viên ‘‘đối lập’’. Dĩ nhiên, những người này bị lên án là ‘‘giả dối’’ vì đã ‘‘khôn khéo che đậy bộ mặt thật của mình’’. Tùy theo tội nặng nhẹ, họ bị cảnh cáo hoặc bị khai trừ. Nhưng ngoài sự ‘‘giả dối’’ của họ, đảng viên và quần chúng tuyệt nhiên không hiểu rõ thái độ hay lập trường của họ ra sao?

Ban lãnh đạo và các lãnh tụ cao cấp trở thành nhóm người ‘‘bất di bất dịch’’, đứng tại vị hàng chục năm. Có nhiều người già nua, hai chân đứng không vững như Mao Trạch Đông, Brêgiơnhép mà vẫn còn nắm giữ chức vụ, trong lúc cần được thế hệ trẻ ra thay thế. Họ trở thành những người ‘‘bất khả xâm phạm’’. Trước mắt quần chúng, họ là ‘‘một khối như tượng đồng’’. Ngoài việc họ tự loại bỏ lẫn nhau, quần chúng không được đụng chạm đến họ. Phê bình lãnh tụ là chống đảng, chống đảng là chống chủ nghĩa xã hội. Lịch sử cho thấy ban lãnh đạo và các lãnh tụ tối cao của các đảng Cộng sản xta-lin-nít – dầu vi phạm sai lầm đến đâu – chưa bao giờ bị thiểu số và chưa bao giờ bị lật đổ bằng lá phiếu trong một cuộc đại hội, để có thể thay thế họ bằng một ban lãnh đạo khác. Họ chỉ bị lật đổ khi nào quần chúng nổi dậy làm bạo động như ở Hung, ở Tiệp, ở Ba Lan chẳng hạn. Nhưng nếu những cuộc bạo động này chưa đủ sức mạnh trở thành một cuộc cách mạng chính trị, đám quan liêu cũ sẽ được thay thế bằng đám quan liêu mới. Chế độ quan liêu vẫn tiếp tục.

Chúng ta cần nhắc lại: sự tuyển lựa ban lãnh đạo và các cán bộ thời Lênin không như thế. Lúc Lênin sinh thời, các ủy viên Ban Trung ương hay Bộ Chính trị được lựa chọn trên căn bản lập trường chính trị công khai của mỗi người và trong nhiều trường hợp, trên căn bản khuynh hướng chính trị được công nhận trong đảng. Mỗi cuộc họp của Ban Trung ương, Bộ Chính trị hay Đại hội – trên những vấn đề quan trọng – đều có đa số, thiểu số; trong ban lãnh đạo, Lênin nhiều lần bị đứng về phe thiểu số(2).

(1) Mác chống Bacunhin [Bakounine], Lênin chống Caoxki [Kautsky], Plêkhanốp [Plékhanov], v.v…
(2) Gần đây, các sử gia Nga đã sưu tầm và in lại những biên bản này.

Dưới thời Xtalin, trừ mấy năm đầu Xtalin chưa thủ tiêu được các khuynh hướng, những người đối lập được quyền phát biểu ý kiến. Nhưng hiện trạng này dần dần biến mất. Dần dần chỉ còn một khuynh hướng – khuynh hướng của Xtalin – nắm giữ độc quyền. Người ta nói ‘‘thống nhất trong đảng’’, ‘‘nhất trí trong đảng’’, ‘‘đảng trở thành một khối vững chắc’’, nhưng tự do dân chủ trong đảng không còn nữa. Nguyên tắc ‘‘tập trung dân chủ’’ nhường chỗ cho ‘‘tập trung quan liêu’’, vì có tập trung, nhưng không có dân chủ. Tập trung quyền hành trong tay một nhóm nhỏ người, nhưng không có dân chủ trong hàng ngũ đảng. Quan niệm ‘‘một đảng và đảng một khối’’ đó đã được noi gương, áp dụng và phổ biến trong hầu hết các đảng Cộng sản xta-lin-nít trên thế giới. Quan niệm này tạo ra ý nghĩ coi ban lãnh đạo đảng không bao giờ có thể sai lầm; nếu có sai lầm là do quần chúng đảng viên cấp dưới không biết chấp hành đường lối đúng đắn của đảng. Muốn chứng tỏ đảng không bao giờ sai lầm, người ta đã tuyên truyền che giấu sự thật, lừa dối dư luận, vu khống, xuyên tạc, sửa đổi lịch sử. Không phải là điều tình cờ, sau hai mươi sáu năm, một văn kiện quan trọng như Báo cáo mật của Khơrútsốpvề Xtalin đã bị bưng bít trước giai cấp vô sản.

Khơrútsốp nói (và các lãnh tụ cộng sản các nước đều công nhận): ‘‘Không được giặt áo bẩn trước mắt kẻ thù’’ (tư bản). Nhưng kẻ thù không ai lạ. Riêng chỉ có giai cấp vô sản, tranh đấu chống tư bản, vẫn bị che giấu sự thật. Chỉ ngày nào những ban lãnh đạo các đảng Cộng sản các nước đem ra phát hành bản báo cáo của Khơrútsốp, thẳng thắn phê bình và tự phê bình, rút bài học kinh nghiệm để tránh những tai họa như ở Liên Xô, ngày ấy ta mới có thể nói họ đã đoạn tuyệt với Xtalin và chủ nghĩa xta-lin-nít. Chúng ta có thể khẳng định: không một nước nào, không một đảng Cộng sản nào có thể tranh đấu tiến đến chủ nghĩa xã hội mà không biết đứng ra lên án Xtalin và chủ nghĩa xta-lin-nít. Im lặng tức là đồng phạm và tạo lợi khí cho tư bản mở cuộc tấn công chống chủ nghĩa cộng sản.

Mặc dầu sự thực bị các đảng Cộng sản che giấu, vai trò của Xtalin trong lịch sử dần dần đã được phơi ra ánh sáng. Đối với chủ nghĩa cộng sản, Xtalin là người mang tội ‘‘bài cộng’’ nặng nhất, vì đã gây nên tai hại khôn lường cho chủ nghĩa này. Trong dư luận phương Tây hiện nay, hễ có ai dùng những phương pháp chính trị tàn bạo, độc đoán, vu cáo, xuyên tạc, trà trộn đổi trắng thay đen, là người ta tặng ngay cho cái danh hiệu ‘‘xta-lin-nít’’. Mấy chữ ‘‘xta-lin-nít’’ trước đây là một vinh dự cho những ai mang nó(1), ngày nay không một ai trong các đảng Cộng sản ở Âu châu muốn mang nó nữa. Trong lúc ấy, các báo chí tư sản thi nhau lợi dụng tuyên truyền, bảo rằng chủ nghĩa cộng sản đã tạo ra một người như Xtalin.

Vì muốn bảo vệ chủ nghĩa cộng sản theo tinh thần học thuyết mác-xít – lê-nin-nít, vì muốn đối phó một cách hiệu quả trước các cuộc tấn công lý thuyết của chủ nghĩa tư bản, vì muốn đấu tranh cho sự thực hiện chủ nghĩa xã hội thực sự ở Việt Nam và trên thế giới, từ lâu chúng tôi đã có dự định dịch và in cuốn sách này. Trong thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam, một phần vì thiếu điều kiện kỹ thuật và tài chính, một phần vì phải tùy theo sức mình, tham gia cuộc đấu tranh chính trị chống đế quốc ngoại xâm, dự định của chúng tôi bị hoãn lại. Tới nay, sau 26 năm, nó mới có cơ hội được thực hiện.

‘‘Sự thực là cách mạng’’. Đó là phương châm của người cộng sản. Chúng tôi mong cống hiến các đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam và giai cấp vô sản Việt Nam cùng bạn đọc một tài liệu lịch sử để rút bài học cho sự nghiệp tranh đấu và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Hà Cương Nghị (Paris 1 er October 1982)

Tái bút: Sau khi bài này viết xong và đã lên khuôn ở nhà in, chúng tôi được biết Nhà xuất bản Editions Sociales của đảng Cộng sản Pháp (P.C.F.) vừa ấn hành một cuốn sách nhan đề 1956, cú sốc do Đại hội lần thứ XX của đảng Cộng sản Liên Xô(2).

Do sử gia Roger Martelli – ủy viên Ban Trung ương đảng Cộng sản Pháp – biên soạn và giới thiệu, cuốn sách này dịch nguyên văn toàn bộ Báo cáo mật của Khơrútsốp về Xtalin, kèm theo nhiều tài liệu về thái độ các đảng Cộng sản trên thế giới (Liên Xô, Trung Quốc, Pháp, Ý, Ba Lan, v.v…) trong giai đoạn 1956.

Đây là lần đầu tiên, một đảng Cộng sản đã dịch và phát hành công khai Báo cáo mật của Khơrútsốp về Xtalin (đảng Cộng sản Liên Xô vẫn giấu kín trong nước). Tuy nhiên, người ta nhận thấy đảng Cộng sản Pháp chỉ nhắm độc giả trí thức là những người, dầu sao, cũng đã được biết sự thật. Đảng vẫn không phân phát trong nội bộ đảng, không mở thảo luận để rút ra bài học lịch sử.

Chúng ta cần nhắc lại, ròng rã trong hai mươi năm, đảng Cộng sản Pháp vẫn khước từ sự thực bằng mấy danh từ ‘‘bản báo cáo mà người ta bảo là của Khơrútsốp’’. Tới năm 1976, trong Đại hội lần thứ XX của đảng Cộng sản Pháp (tháng 2-1976), đảng mới tự phê bình ‘‘đã có sự chậm trễ trong việc công nhận sự thật’’. Năm 1977, với sự đồng ý của Bộ Chính trị, Georges Cogniot và Pierre Doize đã vén lên một góc của bức màn bí mật. Phải đợi tới 1982, đảng Cộng sản Pháp mới buộc phải vén hết bức màn che đậy. Chúng tôi sẽ có dịp bình luận đầy đủ hơn.

Chỉ cần nói sự thật lịch sử, dầu ai tài mấy, cũng không thể giấu nổi. Cũng như Trốtxki nói, ‘‘dưới sức nặng những tội ác của y, Xtalin sẽ biến mất trên sân khấu với tư cách kẻ đã đào mồ chôn vùi cách mạng và có bộ mặt ghê tởm nhất trong lịch sử’’.

(1) Tổng bí thư đảng Cộng sản Pháp Maurice Thorez từng nói: ‘‘Tôi được vinh dự mang danh hiệu xta-lin-nít’’.
(2) 1956, Le Choc du Xxème Congrès du P.C.U.S. (Nhà xuất bản Editions Sociales phát hành ở Pari, 464 trang, giá 45 francs).

Xem hoặc tải về “Về tệ sùng bái cá nhân và những hậu quả của nó”  Tệp PDF ở đây.
Ngày lưu: 17/02/2009 [bao-cao-mat-cua-khrusev-ve-toi-ac-stalin]

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Biển Đông Sắp Nổ Lớn?

Biển Đông Sắp Nổ Lớn?

Posted By Đoàn Hữu Long on 25/06/2015 | 23:20

(Trần Khải) – Có vẻ như căng thẳng hơn những gì chúng ta đang nhìn thấy ở mặt ngoài… Hình như cuộc chiến có thể nổ ra bất kỳ lúc nào. Do vậy, các phe đều như dường chuẩn bị cho chiến tranh, trong cách riêng của họ.

Bản tin VOA hôm 22-6-2015 cho biết:

“…Quân đội Việt Nam đang chuẩn bị các lực lượng đặc biệt để có thể tấn công các cơ sở Trung Quốc trong khu vực là hàng tít đăng trên báo Want China Times của Đài Loan hôm nay, trích nguồn tin từ báo Kommersant có trụ sở ở Moscow.

Bài báo viết rằng cũng như các cuộc diễn tập quân sự đã được quân đội Việt Nam tiến hành từ năm 2004 đã cho thấy, máy bay chiến đấu SU-22 của Không quân Việt Nam sẽ được dùng để phát động cuộc tấn công đầu tiên chống các mục tiêu trên biển bằng tên lửa không đối địa AS-10. Các chiến đấu cơ này có thể tấn công các tàu hải quân Trung Quốc từ độ cao 2.500 tới 3.000 mét.

Cùng lúc, các chiến đấu cơ SU-30 có khả năng được dùng để yểm trợ đội máy bay dội bom SU-22. Tờ Want China Times đưa ra kịch bản là kế đó, Hải quân Việt Nam có thể đổ bộ lên các hòn đảo và bãi đá ngầm hiện do Trung Quốc chiếm đóng. Tàu đổ bộ sẽ được yểm trợ bởi máy bay, các tàu ngư lôi và hộ tống. Bài báo dẫn tin của Hệ thống Quân sự Sina ở Bắc Kinh nói rằng các tàu hộ tống lớp Tarantul được trang bị tên lửa Kh-35 do Nga chế tạo đặc biệt nguy hiểm đối với các tàu bè của Trung Quốc.

Việt Nam là nước thứ nhì trên thế giới sở hữu loại tên lửa Kh-35 do Nga chế tạo. Tầm bắn của vũ khí nguy hiểm này là 130km.

Vẫn theo kịch bản này, thì sau đó các lực lượng đặc biệt Việt Nam sẽ tiến hành các cuộc tấn công nhắm vào nhiều mục tiêu, kể cả các thương thuyền, tàu tiếp tế, các trạm radar, và các cơ sở và phương tiện khác của Trung Quốc trên các đảo nhỏ hay bãi đá, nơi mà một số ít binh sĩ Trung Quốc trú đóng.

Theo tờ Kommersant, mỗi đơn vị lực lượng đặc biệt của Việt Nam chỉ gồm từ 3 tới 5 người.

Một bài báo trên tờ Vancouver Sun của Canada viết rằng hiện nay, Việt Nam và Philippines nay đã công khai tranh chấp với Trung Quốc để giành chủ quyền hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Cuộc tranh chấp đã âm ỉ từ lâu lại bùng phát mới đây vì các hoạt động qui mô lớn của Bắc Kinh để lấp biển xây đảo nhân tạo tại vùng biển đang trong vòng tranh chấp này.

Theo tờ báo, chính các hoạt động xây đảo của Trung Quốc cũng đã khiến Washington phải lên tiếng cảnh báo Trung Quốc, và tăng cường các chuyến bay tuần tra trên không phận Biển Đông.

Tờ Vancouver Sun trích lời Tổng lãnh sự Philippines Neil Ferrer nói rằng “Chúng tôi yêu cầu tất cả các bên tôn trọng luật pháp quốc tế, không chỉ ở Biển Đông, mà trong tất cả các quan hệ quốc tế. Trong nội bộ ASEAN, chúng tôi đã đi đến đồng thuận là chúng tôi mong muốn các nước khác phải tôn trọng. Chúng tôi đang tích cực kêu gọi sự tham gia của tất cả các bên liên quan trong cuộc tranh chấp, kể cả Trung Quốc”.

Tờ báo trích lời Tổng lãnh sự Việt Nam tại Vancouver Trần Quang Dũng, đồng tình với phát biểu của tổng lãnh sự Philippines…”(hết trích)

Có thực là như thế chăng? Hay chỉ là những dự phòng cho khi hữu sự? Điê2u rõ ràng nhất là: Việt Nam và Philippines đã cùng liên thủ. Nhưng ở mức độ chặt chẽ thế nào vẫn chưa rõ, vì trong khi Philippines kiện TQ ra tòa quốc tế, VN vẫn đứng nhìn từ xa.

Trong khi đó, bản tin RFI cho biết:

“Trong tham luận về Chiến lược hải quân và quân sự của Hoa Kỳ tại Biển Đông (National, Military, Maritime Strategy and the South China Sea) trình bày ngày 17/06/2015 tại Diễn đàn Chiến lược Current Strategy Forum 2015 do Học viện Hải chiến Hoa Kỳ – U.S. Naval War College (Newport, Rhode Island) tổ chức, Giáo sư Carlyle Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Úc đã đề xuất một số kế sách cụ thể mà Hoa Kỳ có thể áp dụng để chống lại chiến lược áp đặt chủ quyền mà Trung Quốc đang tiến hành tại Biển Đông.

Ngoài các hoạt động cụ thể mà Hải quân Mỹ nên thực hiện trên hiện trường, tức là ngay tại Biển Đông, Giáo sư Thayer còn đề nghị chính quyền Hoa Kỳ đẩy mạnh chiến dịch phản công trên bình diện thông tin và vận động công luận thế giới phản đối các hành vi của Trung Quốc.

Tại sao lại phải chú ý đến mảng thông tin? Đó là vì, theo Giáo sư Thayer, tuyên truyền là một thành tố quan trọng trong chiến lược Biển Đông của Trung Quốc, bên cạnh nhân tố quân sự truyền thống….”(ngưng trích)

Có thực, sức mạnh thông tin sẽ cản bước Tàu cộng ở Biển Đông? Đó là điều khả vấn… vì hình như VN vẫn ưa im lặng, trong khi TQ luôn luôn lớn tiếng loa kèn.

Thậm chí, TQ dư tiền mua các học giả, nhà báo Mỹ… Trong khi chính phủ Mỹ bị luật pháp ràng buộc, không chọ bơm tiền mua chuôc giới phóng viên, học giả đại học.

Một bản tin khác của RFI cũng cho biết:

“…cuộc tập trận thường niên giữa Mỹ và đồng minh Philippines trong khuôn khổ chương trình CARAT mở ra từ ngày 22 đến 26/06/2015. Song song với đợt tập trận với Hải quân Hoa Kỳ, Philippines và Nhật Bản cũng tiến hành một đợt thao diễn trên biển ở gần đảo Palawan trong ba ngày kể. Palawan là hòn đảo gần sát với các bãi đá có tranh chấp chủ quyền nhất giữa Philippines và Trung Quốc.”

Mặt khác, Infonet có bản tin tựa đề “Chuyên gia Nhật: Nếu có chiến tranh, Trung Quốc sẽ tấn công trước.”

Bản tin viết:

“Nếu không may xảy ra chiến tranh Trung – Nhật, Bắc Kinh sẽ cho triển khai chiến dịch tấn công mạng, hàng rào phòng thủ tên lửa và sử dụng “sát thủ diệt tàu sân bay” tên lửa DF-21D.

Theo tạp chí National Interst của Mỹ, chuyên gia an ninh và quốc phòng châu Á, ông Kyle Mizokami nhận định cuộc chiến Trung – Nhật có thể sắp xảy ra liên quan tới những căng thẳng từ cuộc chiến tranh chấp chủ quyền quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trên biển Hoa Đông.

Cũng theo ông Mizokami, việc xảy ra những va chạm nhỏ giữa hai bên có thể vượt ngoài tầm kiểm soát và bùng nổ thành một cuộc chiến toàn diện với sự can thiệp của Mỹ.

Trong hoàn cảnh này, Bắc Kinh sẽ là bên tấn công trước. Quân đội Trung Quốc sẽ tiến hành phân tích các điểm mạnh và yếu của Nhật Bản để lên kế hoạch tấn công chớp nhoáng. Ông Mizokami cho rằng Trung Quốc sẽ cho Quân đoàn Pháo binh số 2 triển khai một cuộc tấn công bất ngờ bằng cách sử dụng một “hàng rào tên lửa đạn đạo và hành trình nhằm triệt tiêu khả năng phòng thủ của Nhật Bản”…”(ngưng trích)

Có vẻ như nhìn đâu cũng thấy khói lửa vậy. Biển Đông hòa hay chiến? Đang chuẩn bị chiến tranh tới đâu?

Tình hình rất khó đo lường vậy.

Trần Khải

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Biển Đông, cuộc đấu tranh không thể khoan nhượng

Biển Đông, cuộc đấu tranh không thể khoan nhượng

Bên cạnh việc đấu tranh chống lại các hành động phi lý của nước lớn, chúng ta cũng cần biết bảo vệ mình, cung cấp các thông tin xác thực về những việc làm chính đáng của chúng ta, góp phần định hướng đúng cho dư luận.

>> Giàn khoan Hải Dương 981 trở lại Biển Đông: Thông báo cụ thể nếu chủ quyền bị xâm phạm

Cuộc chiến tranh luận trên báo chí quốc tế về tính chính đáng của các yêu sách chủ quyền trên Biển Đông đang diễn ra quyết liệt 	Cuộc chiến tranh luận trên báo chí quốc tế về tính chính đáng của các yêu sách chủ quyền trênBiển Đông đang diễn ra quyết liệt
Tình hình Biển Đông càng trở nên căng thẳng với nhiều diễn biến phức tạp và khó lường thì cuộc chiến thông tin về tính chính đáng của các yêu sách chủ quyền trên Biển Đông càng thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu và dư luận quốc tế.
Biển Đông, cuộc đấu tranh không thể khoan nhượng - ảnh 2
Chúng ta phải có trách nhiệm cung cấp các thông tin tốt nhất, chính xác nhất giúp các học giả thế giới có những định hướng tốt nhất cho cuộc đấu tranh vì lẽ phải và công lý ở Biển Đông
Biển Đông, cuộc đấu tranh không thể khoan nhượng - ảnh 3
Thanh Niên có cuộc trao đổi với tiến sĩ Nguyễn Hồng Thao, thuộc Học viện Ngoại giao, về cuộc đấu tranh trên mặt trận thông tin để bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Tiến sĩ Nguyễn Hồng Thao là một trong nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam thường xuyên có những bài viết phản bác các luận điệu sai lạc về Biển Đông trên báo chí quốc tế.
Ngày 24.6, tiến sĩ vừa có một bài phản biện trên tạp chí The Diplomat, phản bác các ý kiến sai lạc về số liệu cũng như cách ngụy biện của nhà nghiên cứu người Úc Greg Austin trong vài biết đăng trên cùng tờ báo. Tiến sĩ nhận định thế nào về tác hại của những bài viết tương tự bài viết của ông Austin nếu không được phản biện kịp thời, đặc biệt khi nó xuất hiện trên các tờ báo uy tín và có lượng độc giả đông đảo?
Thời gian gần đây, thế giới lên tiếng lo ngại nhiều về những hành động lấn biển tạo đảo của Trung Quốc ở Biển Đông với quy mô và mức độ chưa từng có, nhằm hợp pháp hóa yêu sách đường 9 đoạn, đe dọa hòa bình, ổn định và an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông.
Trung Quốc đã có vài bước điều chỉnh chiến thuật như: tuyên bố sắp hoàn tất lấn biển tạo đảo, sẽ đi vào củng cố các cơ sở vừa xây dựng; phàn nàn thế giới không hiểu Trung Quốc, rằng họ là những người kiềm chế nhất và thậm chí còn là nạn nhân của các nước nhỏ như Việt Nam và Philippines; chủ động tuyên truyền đối ngoại, vận động một số bài báo ủng hộ. Cách làm này sẽ tác động tâm lý rất lớn tới độc giả nếu có những bài báo không khách quan, cung cấp thông tin không thật chính xác hay cố tình mập mờ gây hoang mang nghi ngờ, xuất hiện trên các tờ báo lớn có uy tín quốc tế.
Cách đây một tháng, trên Thanh Niên tôi đã có bài Chiến tranh dư luận trên Biển Đông và Sức mạnh của các tác phẩm hư cấuvề cuốn phim mới Đạo Mộ sự ký, trong đó cảnh báo về chiến lược Tam chiến của Trung Quốc.
Để đấu tranh cho sự thực, cho công lý, điều quan trọng là bên cạnh việc đấu tranh chống lại các hành động phi lý của nước lớn, chúng ta cũng cần biết bảo vệ mình, cung cấp các thông tin xác thực về những việc làm chính đáng của chúng ta, góp phần định hướng đúng cho dư luận. Chúng ta đã công khai tên 21 thực thể mà chúng ta đóng quân từ năm 1988. Chúng ta đã kiềm chế theo đúng tinh thần của Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC 2002), không mở rộng chiếm đóng mới. Nhưng chúng ta chưa kịp thời thông báo chúng ta có bao nhiêu điểm đóng quân trên cùng một thực thể để một số tác giả lợi dụng tung tin Việt Nam chiếm giữ 48 thực thể trong Trường Sa, coi Việt Nam là kẻ gây hấn lớn nhất ở Biển Đông, trong khi chúng ta là bên có chủ quyền chính đáng, chúng ta tuân thủ luật quốc tế và các cam kết khu vực. Qua vụ việc này các cơ quan hữu quan, nhất là báo chí sẽ có những biện pháp kịp thời giúp độc giả đánh giá đúng hơn tình hình đầy phức tạp ở Biển Đông.
Thời gian qua, có một số tiếng nói có vẻ “thân Trung Quốc” xuất hiện nhiều trên báo chí thế giới. Nó có phải là một phần chiến tranh thông tin trong lý thuyết Tam chiến của Trung Quốc hay không? Để đối phó với việc này, phía Việt Nam, cụ thể là giới nghiên cứu, cần làm gì?
Khi chúng ta nhận xét thời gian gần đây có nhiều bài “thân Trung Quốc” xuất hiện trên báo chí thế giới thì cũng nên ghi nhận rất nhiều tiếng nói, bài viết có vẻ “thân Việt Nam, Philippines”. Khi Greg Austin viết bài Ai là kẻ gây hấn nhất ở Biển Đông? (Who is the biggest aggressor in the South China Sea?The Diplomat, 18.6.2015) thì Giáo sư Carl Thayer có ngay bài phúc đáp, bác bỏ quan điểm của học giả trên. Khi Sam Bateman có bài Những nguy cơ từ các hoạt động tự do hàng hải của Mỹ ở Biển Đông (The risks of US freedom of navigation operations in the South China Sea – East Asia Forum, 1.6.2015) khuyên Mỹ không nên căng thẳng với Trung Quốc về quyền tự do hàng hải ở Biển Đông thì Raul (Pete) Pedrozo phản biện lại bằng bài Đừng do dự về tự do hàng hải ở Biển Đông (Don’t go wobbly on freedom of navigation in the South China Sea – East Asia Forum, 25.6.2015).
Rõ ràng đang có một cuộc chiến tranh luận trên báo chí quốc tế về tính chính đáng của các yêu sách chủ quyền trên Biển Đông, về những hành động đi ngược lại ước vọng hòa bình, ổn định và luật pháp quốc tế của khu vực và thế giới.
Để đáp ứng kịp thời nhu cầu hiểu biết của cộng đồng quốc tế, các căn cứ pháp lý lịch sử cũng như lập luận của mình, các bên tranh chấp đều có chiến lược tuyên truyền của mình. Không loại trừ một số học giả có thể được mời mọc bằng nhiều hình thức khác nhau như thông qua kênh tài trợ các công trình nghiên cứu hay fellowship (học bổng giao lưu ngắn hạn – NV), mời tham dự hội thảo có chủ đích, tạo điều kiện tiếp cận các thông tin, chứng cứ, dữ liệu, quan điểm từ phía Trung Quốc. Cũng có thể một số tác giả không nghiên cứu kỹ, sử dụng những bằng chứng của Trung Quốc mà không kiểm tra nguồn một cách rõ ràng.
Cũng có những tác giả nhìn nhận vấn đề trỗi dậy của Trung Quốc là yếu tố có lợi hơn là tranh đấu mấy hòn đá nhỏ li ti ở Biển Đông. Nỗi lo sợ Biển Đông sẽ trở thành ngòi nổ cho Thế chiến thứ ba sẽ dễ chấp nhận lập luận của Trung Quốc không muốn có thêm sự can thiệp của bên thứ ba vào tiến trình giải quyết tranh chấp.
Chúng ta cần nhìn nhận sự phức tạp và các luồng tâm lý đó trong cuộc chiến báo chí về Biển Đông. Chúng ta vui mừng vì đa số các tác giả, nhà nghiên cứu khách quan, khoa học, song cũng nhận thấy họ cũng có những hạn chế không trực tiếp nghiên cứu tài liệu bằng tiếng Trung (nhất là tiếng Trung cổ), tiếp xúc với các tư liệu Hán Nôm của Việt Nam thông qua biên dịch chưa hoàn hảo, tiếp cận các tài liệu chính thống…
Nếu chúng ta quan niệm đây là việc của chúng ta, phải có trách nhiệm cung cấp các thông tin tốt nhất, chính xác nhất giúp các học giả thế giới có những định hướng tốt nhất cho cuộc đấu tranh vì lẽ phải và công lý ở Biển Đông, thì câu hỏi mà anh đặt ra sẽ có lời giải. Gần đây, tôi nhận thấy có một sự liên kết của các nhóm nghiên cứu trong và ngoài nước như nhóm của anh Trương Minh Vũ, anh Lê Hồng Hiệp, anh Dương Danh Huy, anh Trần Công Trục hay dự án Đại sự ký Biển Đông đang đi theo hướng đó. Song đây mới chỉ là hoạt động của các cá nhân và các nhóm lẻ. Chúng ta cần có đầu tư và chỉ đạo sâu rộng hơn.
Thời gian qua có nhiều bức ảnh cho thấy về sự xuất hiện với tần suất ngày càng gia tăng của các tàu quân sự Trung Quốc tại các bãi đá mà nước này đang xây dựng cũng như tại các vùng biển tranh chấp ở Biển Đông với Malaysia hoặc Philippines. Tiến sĩ nhận xét như thế nào về việc này?
Tình hình Biển Đông đang được các bên theo dõi chặt chẽ. Dù có những phản đối quốc tế hóa Biển Đông nhưng bản thân Biển Đông đã là một vấn đề quốc tế, thu hút sự quan tâm của nhiều nước, của cộng đồng quốc tế.
Các bức ảnh vệ tinh cho thấy các tàu quân sự Trung Quốc ngày càng xuất hiện nhiều hơn tại các vùng biển xa hơn, không chỉ gần bờ biển Philippines, Việt Nam mà cả Malaysia. Điều này cho thấy Trung Quốc không bao giờ từ bỏ ý định độc chiếm Biển Đông. Malaysia với chính sách ngoại giao ôn hòa cũng buộc phải lên tiếng phản đối đường 9 đoạn của Trung Quốc, cáo buộc các hành vi xâm phạm vùng biển của mình từ các tàu hải quân Trung Quốc.
Bắc Kinh đang mất dần những người bạn, mất dần lòng tin của các nước trong khu vực và ngày càng nhiều nước ý thức được rằng nếu không chung sức ngăn chặn những hành vi bất chấp luật pháp này, ngày mai bạn sẽ là nạn nhân của nó. Một bờ đê vững chãi cần phải được xây dựng và bồi đắp chống lại những cơn sóng vỗ đi ngược lại mong muốn của cộng đồng và luật pháp quốc tế.
Chiến lược sóng vỗ bờ
Tiến sĩ nhận định như thế nào về ý đồ của Trung Quốc qua tuyên bố sắp sửa hoàn tất việc bồi đắp tại các bãi đá mà nước này chiếm giữ phi pháp ở Trường Sa?
Chiến thuật của Trung Quốc ở Biển Đông đã từng được gán cho rất nhiều biểu tượng như lát cắt salami, không chiến tự nhiên thành…
Tôi thì thích hình tượng chiến thuật sóng vỗ bờ hơn. Năm nào Trung Quốc cũng có hoạt động mới, ý đồ mới như những đợt sóng rất mạnh, giảm dần chút ít tạo cho nạn nhân quen dần. Năm sau lại tiếp tục. Sóng càng mạnh khi bờ đê yếu và cũng biết cách thích nghi khi gặp bờ đê “cứng đầu”. Các hoạt động của Trung Quốc thường khởi động mạnh vào mùa xuân và đột ngột giảm trước mùa mưa bão.
Trung Quốc tuyên bố sắp sửa hoàn tất việc bồi đắp các bãi đá không có nghĩa là nước này phải điều chỉnh chính sách của mình do sự phản ứng của cộng đồng quốc tế. Theo tôi có mấy lý do: mùa mưa bão đã đến, không muốn thì Trung Quốc cũng phải giảm bớt cường độ xây dựng; giảm bớt căng thẳng với Mỹ trước chuyến thăm của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình; xoa dịu cộng đồng quốc tế, tỏ rõ Trung Quốc là nước lớn biết kiềm chế; đánh lừa dư luận để tiếp tục củng cố các căn cứ quân sự trên các đảo nhân tạo dưới vỏ bọc dân sự và lôi kéo các nước thực hiện chiến lược con đường tơ lụa trên biển.
Trung Quốc “đe dọa hòa bình” ở Biển Đông
Đó là cảnh báo do Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Antony J.Blinken đưa ra khi phát biểu tại Trung tâm an ninh Mỹ mới ở thủ đô Washington ngày 26.6.
Trong bài phát biểu đăng trên website của Bộ Ngoại giao Mỹ, ông Blinken khẳng định Mỹ vẫn còn sở hữu khả năng độc nhất vô nhị là huy động và dẫn đầu cộng đồng quốc tế để chống lại các mối đe dọa chung. “Và đó là trường hợp ở Biển Đông, nơi Trung Quốc tham gia các dự án bồi đắp quy mô lớn đe dọa hòa bình và ổn định”, ông Blinken cảnh báo.
Minh Trung

Sơn Duân
(thực hiện)

>> Ngoại trưởng Trung Quốc nói ‘xấu hổ với tổ tiên nếu mất chủ quyền Biển Đông’ (?)
>> Trung Quốc đã đẩy các nước trong khu vực phải mua vũ khí Mỹ
>> Mỹ gọi hành động của Trung Quốc ở Biển Đông là ‘đe dọa hòa bình’
>> Trung Quốc diệt san hô ở Biển Đông với tốc độ ‘nhanh nhất lịch sử’
>> Bị Trung Quốc chỉ trích ‘lôi người ngoài vào Biển Đông’, Philippines phản pháo
>> Nhật cân nhắc tuần tra Biển Đông
>> Nhật sẽ tuần tra thường xuyên với Mỹ ở Biển Đông
>> Tổng thống Obama yêu cầu Trung Quốc giảm căng thẳng ở Biển Đông
>> Philippines, Nhật Bản kết thúc tập trận trên Biển Đông
>> Biển Đông, Ukraine phủ bóng thượng đỉnh G7

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Sự giả dối của Trung Quốc về vấn đề Biển Đông

Sự giả dối của Trung Quốc về vấn đề Biển Đông

Giới phân tích cho rằng Trung Quốc luôn cố đóng vai nạn nhân ở Biển Đông, nói một đằng nhưng làm một nẻo.
23-9611-1435029247.jpg

Trung Quốc nói “kiềm chế” nhưng vẫn ồ ạt bồi đắp, xây dựng ở Biển Đông. Ảnh: CSIS

Nhà phân tích Graeme Dobell của Viện Chính sách Chiến lược Australia (ASPI) cho rằng, với chủ đề Biển Đông, mỗi lần Bắc Kinh phát biểu thì lại là những phàn nàn về sự bất công nào đó đang áp đặt cho Trung Quốc “bất chấp quyền và lợi ích không thể chối cãi” của nước này. Ngôn từ kiểu một nạn nhân như “mọi người xúm vào để chống lại nước Trung Quốc tội nghiệp nhưng rồi Bắc Kinh sẽ vượt lên chiến thắng dù những vết thương lòng lịch sử vẫn nhức nhối.”

Graem Dobell dẫn ví dụ về trường hợp đáp lại các ý kiến của Mỹ về tự do hàng hải và luật pháp quốc tế ở Biển Đông, chuyên gia Trung Quốc Yanmei Xei cho rằng Bắc Kinh “không xem hành động của Hải quân Mỹ là nhằm vào việc duy trì luật pháp quốc tế. Thay vào đó, Trung Quốc cho rằng Washington chủ yếu là muốn ngăn chặn sự trỗi dậy của Bắc Kinh.”

Tuyên bố sáo rỗng

Một ví dụ nữa về khác biệt giữa lời nói và việc làm là Bắc Kinh luôn nhắc những điệp khúc về hòa bình, ổn định đầy hoa mỹ, bất chấp thực tế các nước trong khu vực sục sôi phản đối hành động bồi đắp, xây dựng ở các bãi đá ngầm của nước này trên Biển Đông.

Tại diễn đàn an ninh khu vực Đối thoại Shangri-La ở Singapore hồi tháng 5/2015, trưởng đoàn Trung Quốc là Đô đốc Tôn Kiến Quốc, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA), phát biểu: “Chúng tôi hy vọng các nước liên quan sẽ làm việc cùng nhau trên cùng quan điểm để xây dựng Biển Đông thành vùng biển hòa bình, hữu nghị và hợp tác.”

Câu này đã được Graeme Dobell châm biếm diễn giải là: “Chúng tôi chắc chắc sẽ tiếp tục xây dựng đảo nhân tạo. Hàng núi cát tiếp tục được hút và bồi đắp. Quý vị hãy quen dần với chuyện đó đi. Hãy chấp nhận thực tế mới và những việc đã rồi của chúng tôi.”

Còn với kết luận của Đô đốc Tôn “Chúng tôi hy vọng rằng tất cả các nước trên thế giới có tinh thần đôi bên cùng thắng, hợp tác để tất cả cùng thắng, sẽ củng cố đối thoại và tham vấn, có những nỗ lực kiên định để bảo vệ hòa bình và ổn định”, thì Dobell cho rằng “đôi bên cùng thắng có nghĩa Bắc Kinh thắng cả hai lần, còn tất cả cùng thắng có nghĩa Bắc Kinh thắng tất.”

Một học giả khác là Giáo sư Evelyn Goh, Khoa Quan hệ quốc tế của Đại học Oxford, nhận xét “với người Trung Quốc, Đối thoại Shangri-La chỉ có mục đích để nêu thực tế khó chịu là khu vực châu Á – Thái Bình Dương gồm toàn các đồng minh và bạn bè của Mỹ mà trong đó nhiều nước có nguồn lực lớn.”

Cố tình hiểu sai

Nhà phân tích Graeme Dobell cho rằng trong các cuộc gặp song phương gần đây, cả hai bên Mỹ – Trung có nhiều điều chưa nghe nhau nói hết và dùng đầy những ẩn dụ khiến phải phỏng đoán. Đôi lúc, hai bên nói về cùng một chủ đề nhưng lại hiểu vấn đề theo những cách hoàn toàn khác nhau.

Với Trung Quốc, quan hệ trục với các nước lớn mới giữ vai trò trọng yếu vì tự coi bản thân là một nước lớn, có tầm vóc kinh tế quan trọng. Chính vì thế, Bắc Kinh hành động với giả định rằng vấn đề các đảo nhân tạo ở Biển Đông chỉ đứng hàng thứ hai hoặc thứ ba trong số các vấn đề tồn tại trong “mối quan hệ kiểu siêu cường” với Mỹ.

Trung Quốc cũng áp dụng mối quan hệ nước lớn để đổi chác lợi ích. Khi Mỹ tuyên bố không tỏ thái độ với bất kỳ bên nào đòi hỏi chủ quyền ở Biển Đông thì Bắc Kinh hài lòng. Nhưng khi Mỹ tỏ quan ngại về tự do hàng hải ở vùng biển này thì Bắc Kinh phản ứng rồi nhanh chóng, rồi lập tức chuyển sang nhấn mạnh các chủ đề mà họ cho là quan trọng khác.

Bắc Kinh cũng cho rằng mối quan tâm lớn nhất của Trung Quốc và Mỹ là xây dựng thành nhóm G2 (hai siêu cường). Giới phân tích cho rằng chắc chắn Trung Quốc sẽ nhấn mạnh “mối quan hệ kiểu siêu cường” này trong chuyến thăm Mỹ của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tháng 9 tới.

Vì không coi Biển Đông là vấn đề cốt lõi giữa hai siêu cường, nên Bắc Kinh đã không nắm bắt hết những tín hiệu khác biệt đến từ Mỹ. Theo truyền thống, Hạm đội 7 Thái Bình Dương nói riêng và Hải quân Mỹ nói chung có vai trò quan trọng trong hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ. Đó là lý do Tư lệnh Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương luôn là người của Hải quân Mỹ.

Đối với Hải quân Mỹ, Biển Đông thực sự là vấn đề quan trọng, có tính then chốt. Một trong những phát biểu của quan chức Hải quân Mỹ được chú ý nhất là của Đô đốc Harry Harris tại ASPI vào tháng 3/2015 về “thành lũy cát” của Trung Quốc.

Giới phân tích nhận định từ quan điểm Hải quân Mỹ thể hiện về vấn đề Biển Đông có thể thấy đánh giá của Mỹ là hoàn toàn được hiểu theo nghĩa đen. Washington có thể nhận thức rõ về quan hệ kinh tế Mỹ – Trung nhưng không vì thế mà bỏ qua sự nghiêm trọng trong vấn đề Biển Đông, một lợi ích chiến lược to lớn không thua kém quan hệ với Trung Quốc.

Về vấn đề này, Dobell cho rằng Trung Quốc cần phải xem lại câu hỏi của giáo sư Nick Bisley của Viện Quan hệ Quốc tế, Đại học La Trobe, Australia ,rằng “Tại sao Mỹ lại chấp nhận rủi ro trong quan hệ Mỹ – Trung để chỉ trích vấn đề đá, đá ngầm và đảo nhân tạo?”

Theo Nick, Trung Quốc đã “thực sự ngạc nhiên khi Mỹ tỏ thái độ cương quyết” trong vấn đề Biển Đông. Thực ra, đơn giản là Bắc Kinh đã không đánh giá đúng mức cách thức mà Mỹ cân bằng lợi ích và xác định lợi ích chiến lược.

Ông cũng cho rằng Bắc Kinh nên đọc lại bài phát biểu của đô đốc Harris tại ASPI. Khi đưa ra phát biểu về “thành lũy cát”, Harris là tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương, nhưng giờ ông đã thăng chức, thành Tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương. Khi diễn giải phía bên kia đang nói gì, “điều quan trọng là cần phải nhìn nhận ai đang nói gì và họ nắm quyền lực gì để thực thi lời nói của mình”, Nick gửi gắm tới Bắc Kinh.

Minh Châu (theo National Interest)

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Bên ngoài trời còn có trời

Bên ngoài trời còn có trời

Tương Lai

Đây là mượn ý câu của Lý Giác, sứ Tàu đời nhà Tống, “thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu” tạm dịch làngoài trời còn có trời, đừng có coi thường. Viên sứ Tàu sống ở thế kỷ thứ X này xem ra hiểu biết hơn, có viễn kiến hơn ngài ngoại trưởng họ Vương thế kỷ XXI (không hiểu có phải hậu duệ của Tổng binh Vương Thông thế kỷ XV đời nhà Minh bị nghĩa quân Lê Lợi đánh cho tơi tả để Nguyễn Trãi viết trong Bình Ngô đại cáo: “ra đến biển chưa thôi trống ngực, về đến Tàu còn toát mồ hôi”) dám tuyên bố liều mạng và xấc xược rằng: việc xây đắp các đảo nhân tạo, trong đó có Gạc Ma vừa cướp của Việt Nam, là xây trên sân nhà chúng nó.

Câu thơ của Lý Giác làm vào năm 987 khi đi sứ sang An Nam (có sách ghi là 971). Bài thơ nói lên cảm nhận của viên sứ Tàu về nước ta sau chiến thắng của Ngô Quyền dìm chết quân xâm lược nhà Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938 “một vũ công cao cả, vang dội đến nghìn thu há phải chỉ lừng lẫy ở một thời bấy giờ mà thôi đâu” như lời bàn của Ngô Thì Sĩ. Tiếp đó là chiến thắng oanh liệt của Lê Hoàn đánh tan tác quân xâm lược năm 981, giáng một đòn chí tử vào tham vọng bành trướng của vua tôi nhà Tống. Đó là cội nguồn của lời cảnh báo của Lý Giác, “thiên ngoại hữu thiên”, hai chữ thiên cùng một cách đọc và cả cách viết nhưng ý tứ thì khá hàm súc.

Chữ thiên đứng trước chắc là nói về “thiên tử” của “thiên triều” mà “trung nguyên” đứng giữa “thiên hạ” là tâm của trời đất, còn lại đều là bọn Man, Di, Nhung, Địch. Những nước Đông Di, Tây Nhung, Bắc Địch đều có thể bình định nhưng Nam Man là đáng ngại nhất, phải “ưng viễn chiếu”, nghĩa là “soi cho thấu”, ngụ ý “đừng coi thường”. Vậy là chữ thiên thứ hai là để nói về một “thiên hạ” khác ngoài “thiên triều” của “trung nguyên”, mà ở đây là nói đến An Nam? Sử ta còn ghi cuộc đối thơ giữa Lý Giác với nhà sư Đỗ Thuận, sứ giả của vua ta cải trang thành một người chèo thuyền, đã gây ấn tượng mạnh đối với một nhà thơ có tầm nhìn đáng nể khá hiếm hoi trong cương vị của một viên sứ Tàu!

Nếu không có những chiến công vang dội trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền và tiếp đó của Lê Hoàn thì e cũng không thể có cái nhìn đáng nể đó của một “quốc tử giám bác sĩ”, tước hiệu của Lý Giác, khi được vua nhà Tống chọn cử làm sứ thần sang nước ta. Có lẽ trong lịch sử mối bang giao giữa nước ta với “thiên triều” thì quãng thời gian dễ thở nhất là thời nhà Lý, sau chiến thắng lẫy lừng của Lý Thường Kiệt. Cũng chính trong bối cảnh đó mà người ta nói đến Tuyên Ngôn Độc lập lần thứ nhất với “Nam quốc sơn hà Nam đế cư. Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”. Bằng chữ đế đầy thách thức đó, từ thế kỷ XI ông cha ta đã khẳng định sự tồn tại của một quốc gia độc lập và có chủ quyền, vừa bác bỏ sự ngạo mạn của “thiên triều” kỳ thị Hoa Di, phủ nhận vai trò độc tôn tự xưng của hoàng đế Trung Hoa.

Có ngẫm sâu vào điều này mới thấy khí phách của ông cha mình không bao giờ chịu khuất phục bọn bành trướng phương Bắc, đồng thời cũng thấy tư tưởng bành trướng đó ăn sâu vào cốt tuỷ của bọn xâm lược. Cái cột đồng Mã Viện dựng lên từ những năm 40 (đầu CN) với lời hăm doạ “đồng trụ chiết Giao chỉ diệt” vẫn là tâm địa nham hiểm của bá quyền phương Bắc xuyên suốt lịch sử. Đến thế kỷ thứ XVII mà Sùng Trinh, vua nhà Minh, vẫn còn lấy biểu tượng ác hiểm đó để ra câu đối Đồng trụ chí kim đài dĩ lục (Cột đồng đến nay rêu vẫn mọc). Sứ thần Giang Văn Minh đã đánh gục sự ngạo mạn của Sùng Trinh với vế đối Đằng Giang tự cổ huyết do hồng (Sông Đằng tự bấy máu còn loang) dù biết rằng mình sẽ chết vì vế đối này.

Không biết đoàn ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cấp tập được mời sang Tàu ngay sau khi có tin ông sẽ đi Mỹ liệu có học được chút nào khí phách của ông cha để được xem là “Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng” (tức là Sứ thần không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là anh hùng thiên cổ) như Giang Văn Minh được phong tặng? Những chuyện thâm cung bí sử của những thương thảo thoả thuận không công bố mà giới báo chí nước ngoài gọi là mật đàm hay những cái nắm tay dưới gầm bànra sao thì chịu, vì trên báo chí chính thống thì không có dòng nào nói đến chuyện này cả. Nhưng từ Mã Viện, qua Sùng Trinh và đến ông Tập Cận Bình, người đồng chí “cùng chung ý thức hệ” (với các đồng chí kiên định lập trường xã hội chủ nghĩa của ta) thì cái điều ăn sâu vào cốt tuỷ của “thiên triều” muốn uy hiếp cả “thiên hạ” vẫn chẳng có gì thay đổi cả. Thì chẳng phải cái lưỡi bò ham hố của chúng đang thè ra muốn nuốt trọn Biển Đông đó sao?

Phải chăng cũng vì những hành động khi thì lắt léo, bịp bợm, khi thì ngang ngược, trắng trợn của một siêu cường “hung đồ” (tên gọi mới của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán thế kỷ XXI trên tờ Diplomat ngày 10-06-2015) đã thúc đẩy sự xoay trục sang châu Á của Mỹ? Chính sự xoay trục đó đang tạo điều kiện cho nhiều quốc gia châu Á mạnh mẽ hơn với bầu trời tổ quốc mình.

Vậy là lời cảnh báo của Lý Giác từ thế kỷ thứ X đang được mở rộng thêm biên độ và hàm lượng của nó. Chữ thiên của thế kỷ XXI xem ra có sức biểu đạt mạnh mẽ hơn nhiều, và mấy chữ “ưng viễn chiếu” cũng tăng thêm sức cảnh báo quyết liệt hơn. Bên ngoài “trời” của “thiên triều” họ Tập còn có “trời” khác rộng lớn và văn minh hơn, trong đó có bầu trời của Việt Nam đang nối liền với thế giới.

Liệu những người rồi sẽ gánh vác trọng trách đem chuông đi đánh xứ người có nhận thức được đầy đủ bài học lịch sử mà chọn cách ứng xử để không làm nhục đến truyền thống ông cha? Ngoài trời còn có trời, lời nhắn gửi ấy gọi dậy những suy ngẫm mông lung nhưng lại rất thiết thực vào thời điểm tế nhị này.

Viết nhân Ngày báo chí 21.6.2015

T.L.

Tác giả gửi BVN

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.