Daily Archives: June 7, 2015

GIỚI THIỆU THUẬN QUYẾT TRẠCH PHẦN TỪ A-TỲ-ĐẠT-MA CÂU-XÁ ĐẾN THÀNH DUY THỨC LUẬN

GIỚI THIỆU THUẬN QUYẾT TRẠCH PHẦN
TỪ A-TỲ-ĐẠT-MA CÂU-XÁ ĐẾN THÀNH DUY THỨC LUẬN

Phước Nguyên
******
I. GIỚI THIỆU

blank
Trước tiên, ta có thể mở đầu cho sự giới thiệu này, bằng việc thi thiết hai câu hỏi:

1/Tu sở đoạn (bhāvanā-prahātavya) là gì?

2/Phi sở đoạn là gì?     

Sau kiến đạo, các pháp hữu lậu không thuộc kiến sở đoạn (darśana-prahātavya). Tức các pháp hữu lậu còn lại, trừ kiến chấp ô nhiễm khởi lên do tà phân biệt. Pháp hữu lậu ở đây gồm cả thiện tùy thuận quyết trạch phần (nirvedha-bhāgīya)[1]. Trong cái huân tập bởi nghe, những gì là tính hữu lậu thì thuộc tu sở đoạn, Nó chịu ảnh hưởng của dị thục đặc sắc để làm tăng thượng duyên cho chủng tử của tâm xuất thế. Như vậy được gọi là Tu sở đoạn (bhāvanā-prahātavya).

Còn Phi sở đoạn nghĩa là các pháp vô lậu, trừ thiện quyết trạch phần[2]. Những gì là tính vô lậu thì thuộc phi sở đoạn, làm nhân duyên trực tiếp cho pháp xuất thế. Nhân duyên trực tiếp này vi tế, ẩn mật, khó nhận thức được, nhưng dựa trên loại tăng thượng duyên đặc sắc thô hiển, phương tiện nói là chủng tử của tâm xuất thế.

Lưu chuyển (pravtti) là sự thọ sinh tái diễn. Hoàn diệt (nivtti) là sự thú hướng đến Niết-bàn[3]; Bốn hình thái lưu chuyển và một hình thái hoàn diệt của a-lại-da:

1. Sở duyên chuyển tướng, vin vào đối tượng nội giới là chấp thọ và ngoại giới là khí thế gian mà vận chuyển.

2. Tương ưng chuyển tướng, hằng tương ưng với năm biến hành.

3. Duyên tính chuyển tướng, vận chuyển theo điều kiện tương tác.

4. Câu chuyển chuyển tướng, tồn tại đồng thời với các chuyển thức và cùng vận chuyển. Một hình thái hoàn diệt: nó duy trì chủng tử thiện của thuận giải thoát phần và thuận quyết trạch phần[4].

Theo Thuật ký dẫn: Du-già 51 nói, hoàn tức Đạo đế; diệt tức Diệt đế[5].

Chúng ta nói đến Ba vô lậu căn: Năm giai vị, tức năm giai đoạn tu chứng. Thuật ký nói: thể tính tùy theo giai vị, nên nói là “thể vị.” Thể vị của căn vị tri đương tri có ba loại:

(1) Trong căn bản vị, tại kiến đạo, trừ sát-na tối hậu vì bấy giờ không còn cái gì chưa biết để sẽ biết. Kiến đạo có mười sát na; thể của căn này chỉ tồn tại trong mười lăm sát na đầu.

(2) Trong gia hành vị, tức bốn thiện căn noãn, đỉnh, nhẫn và thế đệ nhất; ở đây nó trực tiếp dẫn phát căn bản vị.

(3) Trong tư lương vị, từ chỗ chuẩn bị để đạt được hiện quán Thánh đế nên phát khởi quyết định thắng thiện pháp dục, tức là dục liên hệ pháp thiện thù thắng, cũng tức dục tâm muốn đạt đến thiện pháp thù thắng, phát tâm cầu Bồ-đề, Niết-bàn. Cho đến trước khi đạt được thuận quyết trạch phần; Thuận quyết trạch phần (nirvedha-bhāgiya), giai đoạn tu tập bốn thiên căn (noãn, đỉnh, nhẫn, thế đệ nhất), quán sát mười sáu hành tướng của Thánh đế, trước khi vào kiến đạo các thiện căn trong khỏang đó gọi là tư lương vị, vì gián tiếp nó tư trợ phát sinh căn bản vị.

Năm giai vị để ngộ nhập duy thức là những gì? Đó là tư lương đạo, gia hành đạo, kiến đạo, tu đạo, cứu cánh đạo[6]Samuccaya[7]: mārga pañcavidha/ sabhāramārga prayoyamārga darśanamārga bhāvanāmārga niṣṭhāmārgaś ca//. Ở đây, chúng ta có thể nói theo Thành Duy Thức Luận, năm giai vị gồm :

1. Tư lương vị, tu tập thuận giải thoát phần thuộc Đại thừa.

2. Gia hành vị, tu tập thuận quyết trạch phần thuộc Đại thừa.

3. Thông đạt vị, kiến đạo mà Bồ tát an trụ.

4. Tu tập vị, tu đạo mà Bồ tát an trụ.

5. Cứu cánh vị, an trú nơi Vô thượng Chính đẳng Bồ đề, v.v

Vì mục mục đích hướng đến Vô thượng chính đẳng bồ-đề mà tu tập nhiều tư lương khác nhau. Và vì các hữu tình mà cần cầu giải thoát, do đó giai đoạn này cũng được gọi là thuận giải thoát phần. Có ba loại thiện căn:

1. Thuận phước phần (puyabhāgīya), các loại thiện dẫn tái sinh chư thiên và loài người.

2. Thuân giải thoát phần (mokabhāgīya), thiện căn quyết định dẫn đến giải thoát, chứng niết-bàn.

3. Thuận quyết trạch phần (nirvedhabhāgīya), bốn thiên căn dẫn đến hiện quán Thánh đế là noãn, đỉnh, nhẫn và thế đệ nhất[8].

Nơi khác, trình bày bốn loại thiện: thuận phước phần thiện, thuận giải thoát phần thiện, thuận quyết trạch phần thiên, và vô lậu thiện[9].

Bồ tát trước tiên ở trong vô số kiếp thứ nhất khéo léo hoàn bị các tư lương phước đức và trí tuệ, đã viên mãn thuận giải thoát phần, với mục đích nhập kiến đạo, an trụ trong duy thức tính, lại tu tập gia hành với noãn, đỉnh, nhẫn, thế đệ nhất, gọi là Bốn gia hành hay bốn thiện căn thuộc quyết trạch phần – nirvedhabhāgīyāni kuśalamūlāni, ūmagata mūrdhnā satyānukūlakanti laukikakāgradharma[10]. Có tác dụng để trấn áp và đoạn trừ hai thủ.

                                           II. TỔNG LUẬN

Bốn gia hành gọi chung là thuận quyết trạch phần, vì thuận dẫn hướng đến sự quyết trạch sự chân thật. Ta có thể tìm thấy định nghĩa của nó ở trong Thuận quyết trạch phần[11]– nirvedhabhāgīyānīti ko’rtha/ vidha vibhāge/ niścito vedho nirvedhaāryamārgas tena vicikitsā prahāāt satyānām ca vibhajanād ida dukham ayayāvat mārga iti/ Nirvedhabhāgīya là gì? Vidha (sự xuyên thủng) nghĩa là vibhāga (sự chia chẻ). Nirvedha có nghĩa là sự xuyên thủng (= sự phân tích) chính xác, tức là Thánh đạo. Vì do sự xuyên thủng chính xác đó mà nghi bị đoạn trừ, và Thánh đế được phân tích rằng “Đây là khổ” cho đến “Đây là đạo”. Ý nghĩa thuận quyết trạch phần là gì? (1) Quyết là quyết đoán; trạch là giản trạch. Quyết đoán giản trạch tức Thánh đạo. Vì Thánh đạo đoạn trừ nghi và phân biệt bốn Thánh đế. [12] Nhờ có thánh đạo, nghi (vicikitsā) mới được đoạn trừ vì thế thánh đạo là “quyết đoạn” (niścita), và các đế mới được phân biệt (vibhājana, vedha): “Đây chính là khổ… đây chính là đạo”; (2) Kiến đạo (darśanamārga) là một phần (bhāga) của thánh đạo; vì thế Kiến đạo cũng là quyết trạch phần. Quyết trạch phần được dùng với tiếp vĩ ngữ chan (thuận), là các pháp có ích (hita) cho một phần của thánh đạo bởi vì chúng dẫn dắt thánh đạo (āvāhaka). Tất cả bốn quyết trạch phần này đều sinh từ định (bhāvanāmayam, tu sở thành) chứ không phải văn hoặc tư (śruta, cintāmaya)[13].

Câu-xá cắt nghĩa, do gần với kiến đạo nên gọi là gia hành, từ sanskrit của nó làprayoga: sự thực hành, sự áp dụng; chứ không phải trong giai đoạn tư lương trước đó không hàm nghĩa gia hành. Bốn pháp, kể từ noãn, y bốn tầm tư, bốn như thật trí, theo giai đoạn đầu và cuối cuối mà lập. Trước tiên suy cầu về danh, về nghĩa, về tự tính, về sai biệt, rằng đấy chỉ là khái niệm giả định (prajñapti); sau đó biệt một cách như thực rằng sự chân thật như thế không thể nắm bắt. Trong lúc suy cầu, gọi là tầm tư. Khi biết như thực là bất khả đắc, bấy giờ gọi là bốn như thật trí. Tức sơ vị (bước đầu) gọi là tầm tư, hậu vị (kết quả) gọi như thật trí[14].

前順解脫分 速三生解脫

聞思成三業 殖在人三洲.

“Trước đó là thuận giải thoát phần.

Qua ba đời mới giải thoát

Là ba nghiệp do văn, tư tạo thành,

Được trồng ở ba châu của loài người.”

Theo ngài Thế-thân, trước tiên phải khởi giải thoát phần. Sự gieo hạt giống, sự tăng trưởng của cây và sự cho quả là ba giai đoạn khác nhau. Trong đạo cũng giống như thế, thân tương tục nhập đạo, trở nên thuần thục và được giải thoát theo một tiến trình tiến lên từ từ: Trong đời sống thứ nhất là gieo trồng các thiện căn có tên giải thoát phần; trong đời sống thứ hai là sinh khởi các quyết trạch phần; và đời sống thứ ba là sinh khởi thánh đạo. Giải thoát phần được thành tựu từ văn và tư chứ không phải định (tu)[15].

Có ba loại nghiệp có thể làm giải thoát phần. Chúng ta có thể kể như sau :

1/Ý nghiệp là Chính yếu (prādhānyena);

2/Thân nghiệp;

3/Ngữ nghiệp;

Thân nghiệp và ngữ nghiệp cũng là giải thoát phần khi chúng được bao hàm (parigrahaāt) bởi quyết tâm (praidhāna) được giải thoát; quyết tâm này chính là một loại tư (cetanā): Khi có nguyện lực giải thoát hỗ trợ cho một thân nghiệp như bố thí, cho một ngữ nghiệp như trì giới, thì người ta đã phát khởi (ākipati) được một giải thoát phần. Theo Các nhà Phật học A Tỳ Đàm (Abhidharma) thì hành động của thân và ngữ hoàn toàn được chỉ đạo bởi Tư hay Ý chí (cetanā). Theo ngài Thế Thân (Vāsubandhu) ở trong Thành Nghiệp Luận (Sidhikarma) thì Tư hay Ý chí (cetanā) có ba loại: Thẩm lự tư, Quyết định tư và Phát động tư. Theo Budhaghoṣa, thì Hành lấy hoạt động làm tướng, lấy nỗ lực làm dụng, lấy ý chí làm động cơ và lấy vô minh làm duyên[16].

Chỉ có con người ở ba châu (dvīpas) mới có thể phát khởi hoặc trồng được các giải thoát phần. Thật như vậy, hết thảy các sự yểm ly (nirveda) hoặc trí tuệ (prajñāna), hoặc cả yếm ly và trí tuệ đều xem như không có ở chư thiên, ở chúng sinh bị đọa và con người ở Bắc châu.

Trong gia hành đạo, trước tiên do sự tích tập tư lương đã được cực kỳ hoàn hảo, lại bằng thiện phương tiện mài luyện tâm, từ thiện căn biên tế thuộc thế gian thuận quyết trạch phần, một cách trực tiếp vô gián, phát sinh tâm thứ nhất có đối tượng sở duyên là pháp giả danh về hữu tình vốn tự nội thân đã bị loại trừ; đoạn trừ các phiện não thô trọng bậc thấp thuộc loại kiến sở đoạn. Từ đó vô gián phát sinh tâm thứ hai có đối tượng sở duyên là pháp giả danh về các pháp vồn tự nội thân dã bị loại trừ; đoạn trừ phiền não thô trọng bậc trung thuộc loại kiến sở đoạn. Từ đó vô gián phát sinh tâm thứ ba có đối tượng sở duyên là pháp giả danh về hữu tình và các pháp vốn tự nội thân đã bị loại trừ; đoạn trừ tất cả phiền não thô trọng thuộc loại kiến sở đoạn. Hiện quán này chính là kiến đạo, cũng được gọi là song vận đạo (vận hành song song chỉ và quán). Trong đó tuy có ba phẩm thâm của tì-bát-xa-na (quán) và ba phẩm tâm của xa-ma-tha (chỉ), nhưng do song vận mà lập chỉ ba tâm, vì trong một tâm có thể vừa chỉ vừa quán. Nên biết, các tâm này chỉ duyên đến cảnh đối tượng là phi an lập đế. Hai tâm đầu tương ưng với pháp trí; tâm thứ ba tương ưng với loại trí. Chính do thế lực của tâm này, trong các an lập đế kể từ khổ phát sinh khổ trí v.v.. thuộc giai đoạn hiện quán thứ hai, thanh tịnh vô ngại. Nên biết, y chỉ trí này mà thành lập bốn trí khổ, tập, diệt, đạo. Tức ba tâm trước cùng với chỉ quán phẩm chứng đắc sự tịch diệt do diệt trừ phiền não thuộc kiến đọan, đạt đến xuất thế gian đạo, vĩnh viễn diệt trừ hết thảy phiền não và sở y sự. Đó là hiện quán trí đế hiện quán[17]. Như vậy gọi là Hiện quán trí đế biên hiện quán. Tức là trí vô phân biệt căn bản và hậu đắc, một cách triệt để, duyên phi an lập làm đối tượng.

Sau khi hành giả trụ ở pháp niệm trụ, quán chung bốn sở duyên. Tu các hành tướng vô thường, khổ, Không, vô ngã[18] thì bốn thiện căn sinh khởi. Kệ tụng trong Câu-xá, phẩm Phân biệt Hiền Thánh nói rõ:

“從此生煖法 具觀四聖諦

修十六行相 次生頂亦然

如是二善根 皆初法後四

次忍唯法念 下中品同頂

上唯觀欲苦 一行一剎那

世第一亦然 皆慧五除得”[19]

« Tu pháp quán này sẽ khởi sinh Noãn pháp, Quán đủ tứ thánh đế, Tu mười sáu hành tướng; Kế đó sẽ sinh khởi Đỉnh cũng như thế. Hai thiện căn trên đây lúc đầu đều nương vào pháp niệm trụ, và sau nương cả bốn loại. Kế đến là nhẫn, chỉ nương pháp niệm trụ; Hạ và trung phẩm giống như Đỉnh, thượng phẩm chỉ quán dục khổ. Một hành tướng một sát-na. Thế đệ nhất pháp cũng thế; Đều là tuệ, năm thủ uẩn, loại trừ đắc ».

Từ sự tu tập pháp niệm trụ nói trên, cuối cùng sẽ phát sinh (kramea) một thiện căn (kuśalamūla). Thiện căn được gọi là Noãn (umagata) vì nó tương tự như hơi nóng đạo (umaprakāra), là hiện tượng đầu tiên (pūrvanimitta, pūrvasvabhāva) của thánh đạo (āryamārga), là ngọn lửa đốt cháy củi phiền não (hoặc tân)[20]. Ta có thể nói khác là do y chỉ vào minh đắc định phát khởi hạ phần tầm tư quán không tồn tại sở thủ, lập làm trình độ noãn. Minh đắc đinh hay minh đắc tam-ma-địa 明得三摩地,  Phạn ngữ gọi là ālokalabdhaḥ samādhiḥ, chính định nhận được ánh sáng. Bằng bốn tầm tư, trong nhẫn bậc thấp đối với sự không tồn tại đối tượng (arthābhāva: vô nghĩa = vô cảnh), phát sinh chính định nhận được ánh sáng, đó là noãn tức hơi nóng, y chỉ của quyết trạch phần[21]. Ở trong trình độ này bắt đầu quán sát sở thủ là bốn pháp kể từ danh, rằng thảy đều là biến thái của tâm được khái niệm giả định như là thực hữu nhưng không thể bắt nắm. Đầu tiên có được măt trời tuệ đi trước, do hành tướng đó mà gọi là minh đắc. Tức đó là do là ngọn lửa của đạo mới nhận được làm dấu hiệu dẫn đường nên nói là noãn – Umagata katamat? pratyātma satyev ālokalabdhasamādhi prajñā sayogaśca : noãn hay có hơi nóng là gì? Bằng nội thân chứng, định đạt được trong các chân đế, trí và tương ưng của nó[22]. Thí dụ như dùi lửa, hơi nóng là dấu hiệu đàu tiên của lửa. Dấu hiệu đầu tiên của chân trí cũng vậy[23]. Noãn thiện căn này có thể kéo dài trong một thời gian[24] nên có sở duyên là cả tứ thánh đế. Noãn thiện căn có đến mười sáu hành tướng. Quán khổ đế có bốn hành tướng là khổ (dukha), vô thường (anitya), không (śūnya), vô ngã (anātmaka); quán tập đế có bốn hành tướng là tập (samudaya), sinh (prabhava), nhân (hetu), duyên (pratyaya); quán diệt đế có bốn hành tướng là diệt (nirodha), tĩnh (śānta), diệu (praīta), ly (nisaraa); quán đạo đế có bốn hành tướng là đạo (mārga), như (nyāya), hành (pratipatti), xuất (nairyāika). Noãn pháp tăng trưởng dần từ yếu, đến khá, đến mạnh; và cuối cùng phát sinh thiện căn thứ hai là Đỉnh (mūrdhan).

Giống như Noãn, Đỉnh cũng duyên cả bốn thánh đế và có mười sáu hành tướng nhưng lại mang tên khác là vì tính chất thù thắng của nó, vì do y chỉ minh tăng định, phát khởi tầm từ bậc thượng, trong nhẫn bậc thượng về sự không tồn tại đối tượng, có minh tăng tam-ma-địa[25]mūrdhāna katamat? pratyātma satyev ālokavddha samādhi prajñā sayogaśca/[26] : Bằng nội thân chứng, ở trong các chân đế có định có ánh sáng lớn mạnh, có tuệ và tương ưng của nó. Quán sở thủ không tồn tại, lập làm trình độ đỉnh. Ở trong trình độ này, quán lặp lại về sở thủ là bốn pháp kể từ danh, rằng thảy đều là biến thái của tâm, được khái niệm giả định như là tồn tại, nhưng không thể bắt nắm. Minh tướng càng trở mãnh liệt hơn, do đó gọi là minh tăng. Trình đô tầm tư ở đỉnh cao, nên gọi là đỉnh. Thiện căn thứ hai này được gọi là “Đỉnh” hay “đầu” tại  vì đó là thiện căn cao nhất hoặc đứng đầu trong các thiện căn “không cố định”[27]; có nghĩa là người ta có thể bị rơi xuống từ các thiện căn này; hoặc người ta có thể bị rơi xuống lần nữa từ các “đỉnh” này, hoặc người ta có thể vượt qua chúng bằng cách tiến vào nhẫn (kānti). Chính nhờ có pháp niệm trụ mà hai thiện căn Noãn và Đỉnh mới có thể “in dấu” gọi là sơ an túc, in dấu tức là sự ngăn chặn đầu tiên các hành tướng khác nhau vào thánh đế. Noãn và Đỉnh tăng trưởng dần dần qua tứ niệm trụ[28].

Noãn và Đỉnh là loại không cố định (cala) và vì có thể bị thối thất cho nên chúng chỉ là loại thuận quyết trạch phần yếu ớt (mdu).

Đỉnh thiện căn cũng tăng trưởng dần từ yếu, đến khá, đến mạnh; và cuối cùng lại phát sinh thiện căn thứ ba là nhẫn (kānti). Luận Thành Duy Thức giải thích do y chỉ ấn thuận định, phát khởi hạ phần như thật trí, ghi dấu ấn một cách quyết định vào sự không sở thủ, và cũng có thuận lạc nhẫn,  trong sự không tồn tại năng thủ, thuật ngữ duy thức gọi là ấn trì, từ thường dùng để định nghĩa từ thắng giải[29]adhimoka katama/ niścite vastuni yathāniścaya dhāraā[30]: Thằng giải là gì? Đó là sự ghi nhận một cách xác quyết[31] ở trong những sự đã được xác định; Theo Thuật kýhạ phẩm nhẫn gọi là ấn nhẫn, vì ghi nhận (ấn) sở thủ không tồn tại. Trung phẩm nhẫn gọi là lạc thuận, vì vui trong sự không năng thủ, tùy thuận mà tu tập. Khi thượng nhẫn phát khởi, chỉ gọi là ấn thuận, vì ghi nhận năng thủ không tồn tại, thuận theo mà quán. Cảnh đã không thực sự tồn tại tách biệt ngoài thức năng thủ. Vì năng thủ và sở thủ tồn tại trong quan hệ đối đãi. Khi có ấn thuận nhẫn, gọi chung là nhẫn. Ấn trước, thuận sau đặt tên là ấn thuận. Nhẫn, ghi nhận cảnh và thức đều không do đó cũng gọi là nhẫn.  Ba trình độ nhẫn gồm: trước, không sở thủ, sau cùng không năng thủ, trung gian tùy thuận hướng đến không năng thủ. Trung gian chưa thể ấn nhưng tùy thuận nên cũng được gọi là nhẫn. Ấn thuận định 印順定 trong Thành Duy Thức luận mà chúng đề cập ở đây, từ này không tìm thấy nơi khác. Riêng từ ấn thuận có thể tìm thấy trong Đại Chánh[32]: “Thế nào là tà thắng giải? Tâm thắng giải, tân ấn thuân, tương ưng ưng với tác ý nhiễm ô.” Theo ngữ cảnh, ấn thuận đồng nghĩa với ấn trì 印持 – Thuật ký giải thích về ấn trì: thắng giải ghi giữ dấu ấn của sự thể trước đó còn mơ hồ để đưa đến chỗ xác định.Thuật ký cũng nói về ấn thuận: Ấn không sở thủ trước đó thuận với không năng thủ tiếp theo gọi là ấn thuận định. Thuận, có hai, lạc thuận và ấn thuận – satyānukūlakāntikatamā? pratyātma satyeva ekadeśpraviṣṭānusta samādhi prajñā samyogaś ca[33]: thế nào là thuận đế nhẫn? Bằng nội chứng, ở trong các chân đế có định tùy thuân nhập một phần, có tuệ và tương ưng của nó. Trong đó, ngộ nhập một phần là ghi nhân không sở thủ; và tùy thuận một phần là không năng thủ. Bằng bốn như thật biến tri đã ngộ nhập duy thức, đã đạt được xác quyết về sự không tồn tại đối tượng, có chính định ngộ nhập một phần chân nghĩa, đó là y chỉ của đế thuận nhẫn[34]. Vì chỉ xác quyết sự không tồn tại sở thủ nên nói là ngộ nhập một phần.

Dẫn theo Luận Câu-xá ta thấy sự nhẫn khả lý tứ đế (kamaa), nó là tối thắng, và trong trình độ này nhẫn không thối lui (aparihāita), do đó nó được gọi là nhẫn pháp (kānti). Nhẫn có ba bậc, hạ và trung đồng với đỉnh. Thượng phẩm tiếp cận với thế đệ nhất[35]. Nhẫn được mệnh danh như thế là vì ở giai đoạn này các thánh đế đã tạo ra một sự an lạc[36] rất mạnh mẽ. Nhẫn thiện căn cũng có ba loại: Yếu, trung bình và mạnh (hạ trung thượng). Hai loại yếu và trung bình đều giống như Đỉnh bởi vì chúng cũng là loại “in dấu đầu tiên” (sơ an túc) và đều nương vào pháp niệm trụ; nhưng lại khác với Đỉnh về sự tăng trưởng. Dù yếu, trung bình hay mạnh thì tất cả đều tăng trưởng nhờ vào pháp niệm trụ chứ không phải các niệm trụ khác.

Loại nhẫn mạnh chỉ lấy khổ của Dục giới làm sở duyên vì nối tiếp với Thế đệ nhất pháp (agradharmas). Sự hạn chế này không xảy ra đối với các giai đoạn trước đó (tức Noãn và Đỉnh); vì thế cả hai thiện căn này đều có sở duyên là khổ, tập, v.v., của ba giới.

Kể từ sát-na hành giả ngưng quán sát hành tướng thứ mười sáu (nairyāika) vốn duyên hai giới ở trên (Sắc giới và Vô sắc giới) và tiếp tục giảm dần các hành tướng và các giới này cho đến lúc chỉ còn in dấu hai hành tướng, Phạn ngữ gọi là anitya, dukha, trong hai sát-na của tâm (nhị niệm) đối với khổ đế của Dục giới thì đó là loại nhẫn trung bình (trung nhẫn vị). Khi hành giả, trong một niệm duy nhất, chỉ còn quán sát một hành tướng của khổ để Dục giới thì đó là loại nhẫn mạnh (thượng phẩm nhẫn). Loại thiện căn này thuộc loại sát-na diệt vì thế không tạo thành chuỗi tương tục.

Ở giai đoạn của Noãn, các thánh đế chỉ tạo ra một sự an lạc yếu ớt; ở giai đoạn của Đỉnh, các thánh đế tạo ra một sự an lạc vừa phải; và chúng ta còn thấy rõ điều này qua sự việc hành giả có thể bị thối đọa từ hai thiện căn đầu tiên nhưng không thể bị thối đọa từ nhẫn.

Đối với Thế đệ nhất pháp cũng thế. Các pháp này, giống hệt như loại thượng phẩm nhẫn, chỉ duyên khổ đế Dục giới và cũng thuộc loại sát-na diệt (ekakaa). Chúng thuộc về hữu lậu nên được gọi là “thế gian”, là pháp thù thắng nhất trong các pháp thế gian nên được gọi là “Thế đệ nhất pháp”. Chúng là pháp tối thắng vì chỉ nương vào năng lực riêng của chúng (puruakāra, sĩ dụng) và mặc dù không có đồng loại nhân (sabhāgahetu) nhưng chúng vẫn lôi kéo được, phát khởi được con đường kiến đế (darśamārga, kiến đạo). Do y chỉ vào vô gián định, Phạn ngữ gọi làānantaryacittasamādhi, còn gọi là vô gián tâm định –laukiko’gradharmo yad anantara ādito lokottaro mārga/ [37], Thế đệ nhất pháp, lần đầu tiên trực tiếp đi thẳng vào xuất thế đạo; phát khởi thượng phẩm như thật trí ghi dấu ấn hai thủ không, lập thế đệ nhất pháp. Trước đó nhẫn thượng phẩm duy chỉ ghi dấu ấn năng thủ không, ở đây thế đệ nhất pháp ghi dấu ấn cả hai đặc tính đều không. Từ đây một cách vô gián chắc chắn nhập kiến đạo, do đó lập tên là vô gián; Từ nhẫn bậc thượng (adhimātrā kānti), trực tiếp không gián cách khởi thắng thiện căn với một hành tướng (khổ đế) trong một sát-na, gọi là thượng phẩm nhẫn. Từ thượng phẩm nhẫn trực tiếp không gián cách phát sinh thế đệ nhất pháp[38]. Trong pháp dị sinh, nó là tối thắng, do đó gọi là thế đệ nhất pháp. Cũng vì nó là pháp hữu lậu bậc nhất trong thế gian nên gọi là thế đệ nhất pháp (sarvalaukikaśreṣṭhatvād iti laukikāgradharmaā)[39].

Nhẫn là loại trung bình; và Thế đệ nhất pháp là loại mạnh nhất. Bốn pháp Noãn, Đỉnh, nhẫn và Thế đệ nhất pháp là các thiện căn được gọi nirvedhabhāgīya: thuận quyết trạch phần. Các địa của chúng là Vị chí định (anāgāmya), Trung gian định (dhyānāntara) và bốn tầng thiền: Chúng chỉ đắc được trong sáu giai đoạn này của thiền định. Chúng không hiện hữu ở các địa thuộc Vô sắc giới vì chúng là các pháp trợ bạn (quyến thuộc) của Kiến đạo. Kiến đạo không có ở Vô sắc giới vì Kiến đạo chỉ duyên Dục giới: Hành giả trước tiên phải biết rõ (parijñā, biến tri) và đoạn trừ Dục giới vốn được xem như khổ và tập. Tất cả bốn loại đều thuộc về chúng sinh Dục giới. Ba loại chỉ sinh khởi được ở loài người của ba châu (dvīpas). Một khi đã khởi sinh thì chúng có thể được làm cho hiện khởi (samukhībhāva) bởi chư thiên. Loại thứ tư có thể được khởi sinh bởi chư thiên[40].

Như vậy, noãn và đỉnh y nơi thức năng thủ mà quán sở thủ là không. Khi nhẫn bậc hạ phát sinh, đặc tính không của cảnh đối tượng được ấn khả. Nhẫn bậc trung, trình độ tiến thêm, thuận lạc mà ấn khả thức năng thủ cũng như cảnh là không. Trong trình đọ khi nhẫn bậc thượng phát sinh, năng thủ được ấn khả là không. Thế đệ nhất pháp ấn khả đặc tính không của cả hai, khách và chủ thể.

Chúng ta đọc thêm một bài kệ trong Phẩm Phân biệt Hiền thánh, Câu-xá luận:

煖必至涅槃 頂終不斷善
忍不墮惡趣 第一入離生[41].

“Noãn tất đến được Niết-bàn;

Đỉnh rốt ráo không đoạn thiện căn;

Nhẫn không đọa ác thú;

Thế đệ nhất pháp nhập được ‘ly sinh’”

Bất kỳ ai thành đạt được Noãn, thì ngay cả khi đánh mất vì thối đọa, cũng nhất định sẽ đến được Niết-bàn (nirvāadharman). Chúng ta đừng lấy làm lạ, bởi vì Câu-xá cũng bất kỳ ai trồng được loại thiện căn “dẫn đến Niết-bàn” (nirvāabhāgīya) cũng sẽ thành tựu được Niết-bàn[42]. Người nào đã thể đắc được Đỉnh thì cho dù có đánh mất, dù thối đọa cũng không thể nào cắt đứt các thiện căn; nhưng họ có thể đi đến các thú ác và phạm phải các tội vô gián (ānantarya). Người nào chỉ đánh mất (xả) nhẫn thì không đi đến các thú ác bởi vì người này đã xa rời các hành động và các phiền não dẫn sinh đến các thú này. Đối với người đã đắc nhẫn thì một số các thú, chỗ sinh ra, sự tái sinh (xứ), thân hình, các hữu và các hoặc nào đó sẽ ở vào tình trạng không phải khởi sinh[43]: Khi nói “các thú” (gati) là chỉ cho các thú ác (apāya); chỗ “sinh ra” (yoni) là noãn sinh, thấp sinh; sự tái sinh (upapatti) là sự sinh làm chúng sinh Vô tưởng, Bắc-câu-lô châu, Đại phạm; thân hình (āśraya) là hai loại vô tính và lưỡng tính; hữu (bhava) là lần tái sinh thứ tám, thứ chín, v.v.; các hoặc là phiền não được đoạn trừ bởi kiến đế[44]. Sự đoạn trừ này có liên quan đến các mức độ của nhẫn: Với loại nhẫn yếu ớt (hạ nhẫn) thì các ác thú ở vào tình trạng không sinh khởi;… với loại nhẫn mạnh (thượng nhẫn) thì tất cả các ác pháp kể trên đều ở vào tình trạng không sinh khởi.

Các quyết trạch phần được chia làm ba loại vì sự khác nhau của các chủng tánh (gotras). Hành giả có thể thuộc chủng tánh Thanh văn (Śrāvakas) Độc giác Phật hoặc Phật; và Noãn, Đỉnh, v.v., sẽ thuộc về chủng tánh của hành giả tu tập các pháp này.

世第一無間 即緣欲界苦

生無漏法忍 忍次生法智

次緣餘界苦 生類忍類智

緣集滅道諦 各生四亦然

如是十六心 名聖諦現觀

此總有三種 謂見緣事別[45].

“Thế đệ nhất pháp trực tiếp

Sinh khởi pháp nhẫn vô lậu

Duyên khổ đế Dục giới,

Sau đó pháp nhẫn sinh khởi pháp trí;

Kế tiếp sinh khởi loại nhẫn, loại trí,

Duyên khổ đế các giới khác;

Khi duyên các đế tập, diệt, đạo,

Mỗi đế cũng có bốn pháp như vậy.

Mười sáu tâm như vậy

Gọi là thánh đế hiện quán;

Hiện quán có ba loại khác nhau

Là kiến, duyên và sự. »

Thế đệ nhất pháp xuất phát một loại nhẫn vô lậu là pháp nhẫn (dharmakānti). Nói thật chính xác thì đó là một pháp trí nhẫn (dharmajñānakānti) đi liền ngay sau Thế đệ nhất pháp. Cảnh sở duyên của pháp trí nhẫn là khổ của Dục giới (kāmadhātvacacara dukha); vì thế có tên là khổ pháp trí nhẫn (dukhe dharmajñānakānti). Để chứng tỏ loại nhẫn này là vô lậu (anāsrava) người ta đã dựa vào kết quả hay đẳng lưu (niyanda) của nó vốn là một loại pháp trí; Nisyanda, cùng một dòng chảy, cùng một chủng loại. Vì thế nhóm từ “pháp trí nhẫn” có nghĩa là một loại nhẫn (kānti) sinh ra một pháp trí, có quả là một pháp trí (dharmajñānārtham). Cũng giống như một cây có hoa, có trái thì được gọi là cây hoa (pupavka, hoa thọ), cây trái (phalavka, quả thọ).

Loại nhẫn này chính là sự nhập vào “sự quyết định” (niyāma), bởi vì đó là sự bước vào sự nhất định đạt được (niyama) cái thiện tuyệt đối hay chánh tánh (samyaktva). Vậy thì chánh tánh là gì? Kinh nói rằng chánh tánh chính là Niết-bàn. Sự quyết định tuyệt đối (niyama) đối với chánh tánh là cái mà người ta gọi là niyāma và còn gọi làniyama.

Ở giai đoạn vị lai (anāgata), tức ở trạng thái sẽ sinh, loại nhẫn này sẽ làm ngưng lại (vyāvartana) tính chất dị sinh, bởi vì đã thừa nhận rằng ở vị lai chỉ loại nhẫn này mới có được tác dụng này, một tác dụng không thuộc về bất cứ một pháp nào khác; cũng giống như ngọn đèn ở vị lai sẽ hủy diệt bóng tối, cũng giống như sinh tướng sẽ là một pháp vị lai sinh khởi.

Chủ trương thứ nhất của Tỳ-bà-sa cho rằng chính Thế đệ nhất pháp xả bỏ dị sinh tánh. Có nhiều luận sư sẽ nói rằng chủ trương này không đúng bởi vì Thế đệ nhất pháp là pháp của dị sinh (taddharmatvāt). Tuy nhiên bác bỏ này không có giá trị bởi vì Thế đệ nhất pháp tương vi (virodhitva) với dị sinh tánh: Trường hợp này cũng giống như một người leo lên vai kẻ thù để giết chết kẻ thù này. Có các luận sư khác (Vibhāā) lại cho rằng dị sinh tánh được xả bỏ là do Thế đệ nhất pháp thế chỗ cho Vô gián đạo (ānantaryamārga) hoặc do nhẫn thế chỗ cho Giải thoát đạo (vimuktimārga). Trong trường hợp đầu, dị sinh tánh được đoạn trừ dần dần (prahīyate); trong trường hợp sau dị sinh tánh được đoạn trừ ngay tức khắc (prahīna). Ngài Thế Thân nói rằng mười sáu tâm trong bài kệ trên[46] đều cùng Thế đệ nhất pháp nương vào một địa.

Trong giai vị gia hành này sự hệ phược bởi tướng chưa bị loại bỏ, hệ phược thô trọng cũng chưa bị cắt đứt. Có hai loại hệ phược, tướng phược và thô trọng phược; Kinh nói: “Tướng thắng nghĩa và tướng của các hành, là nhất hay là dị? … Nếu không loại trừ tướng của các hành, không thể bứt thoát hệ phược bởi tướng. Người thấy Thánh đế mà không bứt thoát được hệ phược bởi tướng thì cũng không thể bứt thoát khỏi hệ phược thô trọng. Do chưa bứt thoát khỏi hai hệ phược, người thấy Thánh đế hẵn không thể đạt được Niết-bàn tối thượng an ổn.”[47] Mười bốn Thô trọng phược: hệ phược bởi căn, bởi cảnh, bởi ái, v.v.. Cho đến, bởi tăng thượng mạn về biến tri pháp[48].Duy chỉ có thể trấn áp trừ diệt hai thủ, vì chúng trái nghịch với kiến đạo. Nhưng hai thủ thuộc loại câu sinh và tùy miên của chúng tâm tâm quán sát thuộc hữu lậu, vì còn có cái để bắt nắm, và vì có phân biệt, cho nên, chưa hoàn toàn bị trấn áp và trừ diệt.

Trong giai vị này – thuận quyết trạch phần, Bồ tát học quán sát cả nơi an lập đế. Bồ tát ở địa thứ năm thiện xảo thế tục đế, thiện xảo thắng nghĩa đế, thiện xảo tướng đế, thiện xảo sai biệt đế, thiện xảo an lập đế …

Do hiểu rõ sự an lập của uẩn, giới, xứ nên biết an lập đế[49]. Ta có thể tìm thấy ý nghĩa tương tợ ở một kinh khác: « Thiện tri thế đế, thiện tri đệ nhất nghĩa đế, thiện tri tướng đế, thiện tri sai biệt đế, thiện tri thuyết đế … Do phân biệt ấm, giới, nhập, nên biết thuyết đế »[50]. Truy nguyên về sanskrit, chúng ta cũng có thể thấy có sự tương đương như sau:« savtisatyakuśalaś ca bhavati/ paramārthasatya- kuślaś ca bhavati/ lakaasatyakuśalaś ca bhavati/ vibhāgastyakuśalaś ca bhavati/ nistīraasatyakuśalaś ca bhavati/ … skandhadhātāyatanavyavasthānānubodhān nistīraasatya prajānāti/ »[51]; Trong kiến đạo, đạt được hiện quán biên, an lập đế thế tục trí không xuất hiện hiện tiền[52]. « Tattvābhisamayo darśanamārga tatra puna satyavyavasthāpanāny abhisamayāntikāni savtijñānāni pratilambhato »[53], chân hiện quán, ở đây trong kiến đạo, đạt được thế tục trí, vốn là biên tế hiện quán, là chân đế quy ước (an lập đế). Cũng nên nói thêm, đế có hai loại, an lập đế chỉ bốn Thánh đế; phi an lập đế tức chân như[54].

Và phi an lập đế, vì để dẫn phát hai loại kiến đạo trong tương lai, vì trấn áp hai loại chướng thuộc phân biệt, do đó phi an lập đế là đối tượng quán sát chính thức, không phải như Nhị thừa chỉ quán sát an lập đế. Bồ tát y vào các thiện căn này, kể từ noãn, tuy trong khi phương tiện thông cả các tĩnh lự, duy chỉ vào các tĩnh lự và cận phần vị chí định của sơ tĩnh lự mà vào Thánh đế hiện quán, chứ không y trên các vô sắc định. Vì trong vô sắc định xa-ma-tha mạnh nhưng tì-bát-xá-na yếu. Tì-bát-xá-na yếu thì không thể vào Thánh đế hiện quán[55]. Nhưng y chỉ trên tĩnh lự thứ tư mới được thành mãn, vì cần phải nương trên sở y tối thắng mà vào kiến đạo. Duy y trên thân thuộc thiện thú trong Dục giới mà phát khởi, vì ở nơi khác tâm yếm ly của tuệ không đặc sắc. Giai vị này cũng thuộc trong giải hành địa, Bồ tát thắng giải hành, Bồ tát an trú trong thắng giải hành địa, thành ba bậc nhẫn hạ, trung, thượng[56]. Do vì chưa chứng chân thắng nghĩa duy thức. Cho nên, có những vị luận sư cho rằng trường hợp hàng Thanh văn (śrāvakapūrvin), đã đắc được quả thứ nhất hoặc thứ hai của hàng Thanh văn trong thời gian đức Thế-tôn tại thế, các vị này vốn thuộc dị sinh nhưng đã từng tu tập thuận quyết trạch phần (nirvedhabhāgīyas) của Thanh văn thừa; đến đời này thì tự mình chứng đắc được thánh đạo gọi là độc-giác[57]. Thế Thân nói:« 順福順解脫/ 順決擇分三/ 感愛果涅槃/ 聖道善如次 »: Ba loại thuận phước, thuận giải thoát, và thuận quyết trạch, Là các thiện pháp có thể chiêu cảm ái quả, Niết-bàn, Thánh đạo theo thứ tự nói trên[58].

                                                                  III. TỔNG KẾT

淨定有四種 謂即順退分

順住順勝進 順決擇分攝

如次順煩惱 自上地無漏

互相望如次 生二三三一[59].

« Định tịnh có bốn loại

Là thuận thối phần,

Thuận trụ phần, thuận thắng tiến phần,

Thuận quyết trạch phần;

Tuần tự thuận hợp với phiền não,

Với tự địa, với thượng địa, với vô lậu;

Theo thứ tự này cũng hỗ tương

Sinh hai, ba, ba, một phần.”

Định tịnh có bốn loại: Thuận thối phần (hānabhāgīya), Thuận trụ phần (sthitibhāgīya), Thuận thắng tiến phần (viśeabhāgīya) Thuận quyết trạch phần (nirvedhabhāgīya). Tuy nhiên định tịnh ở Phi tưởng Phi phi tưởng xứ chỉ có ba loại, tức loại trừ Thuận thắng tiến phần bởi vì ở xứ này không còn có địa cao hơn. Khi định tịnh có khuynh hướng dẫn đến một định vô lậu thì gọi là Thuận quyết trạch phần. Vì thế chính từ loại định tịnh thuộc nhóm cuối cùng này đã nảy sinh định vô lậu.
blank

Sự hỗ tương sinh khởi của bốn loại này rất chặt chẽ như sau: Kế tiếp thuận thối phần là thuận thối phần và thuận trụ phần; Kế tiếp thuận trụ phần là ba phần, tức loại trừ thuận quyết trạch phần; Kế tiếp thuận thắng tiến phần là ba phần, tức loại trừ thuận thối phần; Kế tiếp thuận quyết trạch phần chỉ có thuận quyết trạch (vị tự phi dư).

Về trường hợp của dị sinh, ở giải thoát đạo thứ chín xả ly Dục giới và ba tầng thiền; ở gia hành đạo; ở giải thoát đạo của ba loại thần thông (abhijñās); ở sự thành tựu các công đức (guṇa) như bốn Vô lượng (apramānas), tám Giải thoát (vimokṣas), v.v. Hết thảy các đạo này đều được hiện khởi ở các tầng thiền căn bổn, chứ không phải cận phần (sāmantakas), thì hành giả tu tập Thế tục trí và tha tâm trí vị lai; ngoại trừ ở các thuận quyết trạch phần (nirvedhabhāgīyas) tại vì các quyết trạch phần này tạo thành quyến thuộc (parivāra) của Kiến đạo[60].

Nếu hiện khởi được kiến đạo nhờ nương vào đệ tứ tịnh lự thì sẽ thành tựu được ở vị lai loại Kiến đạo thuộc về sáu địa tức vị chí, trung gian và bốn tĩnh lự, và đắc được loại Thế tục trí thuộc bảy địa tức sáu địa trên cộng thêm Dục giới. Túc trụ tùy niệm trí lực và tử sinh trí lực có sở y địa là các tĩnh lự (dhyānas) các lực khác nương vào tất cả các địa: Dục giới, vị chí (anāgamya), bốn tĩnh lự (dhyānas), tĩnh lự trung gian (dhyānāntara), bốn định Vô sắc (ārūpyas). Cũng cần phải nói thêm là đặc điểm khác nhau thứ tư của tâm đại bi và tâm bi là Sở y địa: Tâm bi thuộc về cả bốn tĩnh lự; tâm Đại bi thuộc tĩnh lự thứ tư (caturdhyāna-caturdhyānabhūmikatvāt).  Kể cả năm loại thần thông đầu nương cũng nương vào bốn tĩnh lự, có nghĩa là thành đạt bởi một hành giả đang ở vào các giai đoạn của tĩnh lự. Thần thông vốn nương vin vào các căn cho nên có thể nói rằng chúng của y chỉ vào bốn tĩnh lự. Hoặc sở dĩ nói như trên là vì xét đến vô gián đạo (hoặc gia hành đạo) của thần thông[61].

Tóm lại, chúng ta kết luận bằng một vấn đề, cũng là mở ra một vấn đề khác, mà có lẽ nhiều vị sẽ thắc mắc, hoặc cho là không liên hệ gì mấy, nhưng cũng có thể thật sự là không liên hệ gì cả, tùy mỗi chúng ta sẽ tự chọn cho mình một cách nhận định. Đó là, Bốn tĩnh lự và bốn Vô sắc là tám định căn bổn[62]. Có bốn tĩnh lự là sơ tĩnh lự, đệ nhị tĩnh lự, đệ tam tĩnh lự và đệ tứ tĩnh lự. Bốn tĩnh lự này là “sự luyện tập loại tâm tăng thượng”, mà Sanskrit là adhicitta śika, tăng thượng tâm học, là yếu tố quan trọng, chủ chốt của việc làm cho tâm thanh tịnh”[63].  Các tâm khác nhau là do loại căn bổn tĩnh lự (mūladhyāna) làm sở y cho chúng; Người ta đắc được hóa tâm – tức quả của căn bổn tĩnh lự giống hệt như đắc tĩnh lự. Có nghĩa là cũng đạt được được nhờ ly nhiễm (vairāgya). Bởi vì quả thành tựu được cùng lúc với sở y[64].
[Bài GIỚI THIỆU VỀ THUẬN QUYẾT TRẠCH PHẦN này, chỉ là sự quảng diễn về tư tưởng “thuận quyết trạch phần” trong A-tỳ-đạt-ma Câu-xá, Thành Duy Thức luận và một số văn bản liên hệ như Thuật ký, Tạp tập, Du-già v.v..  mà thôi. Bài giới thiệu này được viết trong đầu mùa An-cư 2559, nguyện cầu cho Phật pháp được lưu truyền, chúng Tăng hòa hợp và thanh tịnh- Phước nguyên.]

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Không thể bê nguyên Harvard về Việt Nam

Không thể bê nguyên Harvard về Việt Nam

– Giám đốc Chương trình VN tại Harvard chia sẻ tầm nhìn làm thế nào để ĐH Fulbright Việt Nam trở thành một “người thay đổi cuộc chơi” trong giáo dục đại học.

>> “Lãnh đạo Việt Nam muốn chúng tôi phản biện”

10 năm cho ý tưởng đại học đẳng cấp quốc tế

Nhà báo Việt Lâm: Tháng 6 năm ngoái, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định đồng ý chủ trương thành lập trường Đại học Fulbright (FUV) và tháng 12 thì Quốc hội Mỹ thông qua khoản ngân sách trị giá 20 triệu USD cho FUV. Mọi việc có vẻ tiến triển khá nhanh chóng. Nhưng tôi nhớ từ cách đây hơn 10 năm, ông đã là một trong những người cổ xúy mạnh mẽ cho ý tưởng thành lập trường đại học đẳng cấp quốc tế ở VN. Thậm chí, Chính phủ VN còn lập ra một ủy ban đặc biệt để xem xét sáng kiến này đúng không?

Ông Thomas Vallely: Tôi đã quên mất tên của ủy ban đó rồi nhưng đúng là có một nhóm như thế do Chính phủ lập ra. Câu chuyện của nó là như thế này.

Khi đó, ông Phan Văn Khải đang là Thủ tướng. Công bằng mà nói, ông Khải chính là người đóng vai trò chủ chốt trong việc thành lập trường Fulbright. Tất nhiên, không phải chỉ mình ông ấy, mà nhiều nhà lãnh đạo cấp cao khác của VN đã ủng hộ rất mạnh mẽ cho trường.

Mối quan hệ của tôi với ông ấy bắt đầu khi ông ấy tham gia các chuyến tham quan khảo sát đến các quốc gia như Hàn Quốc, Đài Loan, Indonesia (các chuyến khảo sát này được tổ chức vào năm 1990 và 1991). Khi ông Khải chuẩn bị có chuyến thăm lịch sử đến Mỹ với tư cách Thủ tướng VN đầu tiên sau chiến tranh, ông ấy gọi tôi và hỏi” Tommy, ông có thể qua đây nói chuyện với tôi một chút được không?” Tôi trả lời “Vâng, thưa ngài” và tôi bay sang VN gặp ông ấy.

Trong cuộc gặp, ông ấy nói: “Tommy, tôi sắp đến Mỹ và tôi muốn đến thăm Harvard, nhờ Harvard giúp chúng tôi xây dựng trường đại học”.

Khi đó, tôi đã trả lời ông ấy rằng: “Thưa ông Khải, ông không cần phải đến Harvard đâu vì Harvard sẽ không xây trường đại học cho ai cả. Theo tôi, ông cần đến trường Duke. Khi đó, Duke là một đại học rất nổi tiếng và họ đang hứng thú muốn phát triển các kết nối với thế giới theo cách thức khác hẳn Harvard. Harvard không cần kết nối với thế giới bởi vì mọi người đếu muốn đến Harvard. Điều đó thật điên rồ. Và Duke đang nỗ lực làm điều ngược lại”.

“Tommy, cảm ơn ông, nhưng chúng tôi muốn đến Harvard”.

Vậy là tôi sắp xếp chuyến thăm Harvard cho ông ấy. Tại Harvard, chúng tôi gặp một người bạn của GS Dwight Perkins, sau này cũng trở thành bạn của tôi. Đó là GS Henry Rosovsky, một học giả hàng đầu thế giới với quan điểm vì sao các nước đang phát triển cần phải xây dựng hệ thống giáo dục đại học thành công. Rồi chúng tôi trở thành tín đồ của học thuyết của Rosovsky. Do chuyến thăm của ông Khải nên chúng tôi phải đọc cuốn sách phải nghiên cứu mô hình của Rosovsky rồi dịch chúng sang tiếng Việt. Chính nhờ chuyến thăm của Thủ tướng Phan Văn Khải đã khởi đầu cho quá trình gắn bó của chúng tôi với sự nghiệp xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế của VN.

Sau đó, chúng tôi mang kết quả nghiên cứu đến trường New School ở New York. Đây là một trường đại học mà chúng tôi muốn kết nối với VN, bởi vì họ có thể giúp cho VN có cách tiếp cận thực tế hơn, sát với vấn đề mà VN đang phải đối mặt. Chúng tôi kết nối trường New School với VN và viết một vài nghiên cứu bước đầu về cách thức làm sao VN có thể xây dựng được trường đại học đẳng cấp quốc tế.

Từ vài văn bản đề xuất đó thì lãnh đạo Đảng và Nhà nước VN yêu cầu chúng tôi là “tại sao các ông không thử làm đi?”. Chúng tôi đã bắt đầu ý tưởng xây trường đại học đẳng cấp quốc tế theo cách như vậy. Tất nhiên là ngay cả khi lãnh đạo VN “bật đèn xanh” thì để có được giấy phép vẫn còn phải mất nhiều thời gian. Đây là một vấn đề phức tạp.

Và bởi vì chúng tôi luôn giữ tinh thần phê phán, nên chúng tôi không nghĩ rằng sẽ hiệu quả nếu vẫn duy trì hệ thống quản trị kiểu cũ và thiết lập một hệ thống đại học tư mới cùng song song tồn tại. Không, chúng tôi đã biết rằng cách thức này sẽ không giải quyết được vấn đề và cho đến giờ thực tế chứng minh rằng đúng như vậy. Giờ đây, chúng ta phải xem xét đến mô hình khác. Đây là câu trả lời dài cho một câu hỏi ngắn.

Đại học Fulbright Việt Nam, Thomas Vallely, tự chủ đại học
Ông Thomas Vallely, “cha đẻ” của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright và là người tiên phong cho nỗ lực xây dựng trường đại học Fulbright đẳng cấp quốc tế. Ảnh: Phạm Hải

Phải bước ra khỏi hệ thống cũ

– Không, câu trả lời của ông đã lý giải cho thắc mắc của nhiều độc giả là vì sao ý tưởng thành lập trường đại học đẳng cấp quốc tế đã được Chính phủ cổ xuý từ cách đây gần chục năm mà đến giờ vẫn chưa thành hiện thực.

Tôi nghĩ sáng kiến đó không thành công vì như tôi đã nói, VN chỉ so ta với ta. Họ không bước ra khỏi hệ thống hiện hành để cạnh tranh với thế giới. Họ không có một nhân tố như kiểu Viettel. Viettel đã phá bỏ hệ thống cũ và tạo nên một ngành viễn thông cạnh tranh ở VN.

– Vậy bây giờ, với trường Đại học Fulbright VN (FUV), ông có tham vọng trở thành một “người làm thay đổi cuộc chơi” (game-changer) trong lĩnh vực giáo dục đại học giống như Viettel đã làm được với ngành viễn thông VN?

FUV sẽ là một Viettel.

– Thật không? Làm sao mà ông có thể tự tin đến thế?

Không (cười lớn). Tôi có vẻ hơi tự tin quá mức thật. Ý tôi là chúng tôi mong ước trở thành một “người thay đổi cuộc chơi”. Tại sao tôi lại nói vậy? Ý tôi không phải là để thay thế, mà là ở khía cạnh gây ảnh hưởng.

Viettel không thay thế VNPT mà họ chỉ làm cho VNPT tốt hơn. Tương tự như thế, FUV không thể thay thế hệ thống giáo dục đại học của VN. Hệ thống giáo dục đại học của VN rất lớn và được phân bổ khá tốt. Trường đại học có ở khắp mọi nơi và có rất nhiều sinh viên theo học. Ý tưởng và kì vọng của chúng tôi là FUV sẽ trở thành một nhân tố gây ảnh hưởng để hệ thống giáo dục đại học cải cách tốt hơn, tạo ra những giá trị tốt đẹp hơn.

Và FUV chỉ là một phần rất nhỏ trong tất cả những gì mà VN có thể làm được trong thế kỷ 21.

– Độc giả Kiều Oanh hỏi: Trong bối cảnh công chúng đang thất vọng với chất lượng yếu kém của các trường đại học VN thì FUV làm thế nào để thuyết phục họ rằng đây là trường đại học có chất lượng ngang tầm quốc tế?

Đây là một câu hỏi rất hay. Tôi không biết (cười). Trước hết, Fulbright là một thương hiệu tốt. Hơn nữa, chúng tôi đã tham gia vào ngành giáo dục ở VN được hơn 20 năm rồi. FUV không xây dựng từ hư không mà dựa trên nền tảng thành công của trường Kinh tế Fulbright. Chúng tôi sẽ tiếp tục thử nghiệm với cơ chế mới, mô hình mới, chẳng hạn như mô hình của Henry. Về cơ bản, vấn đề nằm ở hệ thống quản trị. Làm thế nào để quản trị đại học hiệu quả? Làm sao để ra quyết định đúng? Làm thế nào để thu hút được những sinh viên giỏi nhất và giảng viên tốt nhất. Điểm mới ở đây là làm thế nào để làm được những điều đó trong thế kỷ 21, khi mà rất nhiều công nghệ mới đang ra đời.

Bởi vậy, chúng tôi không thể tạo dựng một FUV theo kiểu phiên bản Việt của ĐH Harvard, Oxford, Georgetown, Irvine, Nebraska hay SUNY…Chúng tôi không thể bê nguyên hệ thống đó mang vào áp dụng ở VN bởi vì ngay cả ở Mỹ thì hệ thống đó cũng đang trở nên quá tốn kém và phải tìm đường thay đổi.

Chúng tôi đang cân nhắc cẩn trọng để tìm câu trả lời: Vậy thì một trường đại học hiện đại ở VN sẽ như thế nào? Các phương pháp giảng dạy sẽ ra sao? Chúng tôi tin nó phải khác biệt so với hiện nay, và đó sẽ là một cuộc thử nghiệm. Tôi hay bất cứ ai khác cũng không thể biết đích xác FUV sẽ có hình hài ra sao nhưng tôi biết rằng nó sẽ khác biệt. Chúng tôi sẽ biến nó thành mái nhà của sinh viên, để họ đến đó, học hỏi và có thêm kinh nghiệm.

Kế hoạch của FUV là sẽ tìm kiếm sự chứng thực chất lượng từ các tổ chức khảo thí của Hoa Kỳ. Trong 4 năm đầu tiên, chúng tôi cần dựa vào hệ thống cấp tín chỉ của các trường đại học Mỹ. Sau 4 năm, chúng tôi sẽ tự đăng ký để các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục của Mỹ công nhận. Có lẽ điều này có thể trả lời phần nào cho câu hỏi của độc giả, và đó là cách mà chúng tôi khẳng định giá trị trong một hệ thống vốn đang còn thiếu minh bạch và mù mờ về chất lượng hiện tại.

Đại học Fulbright Việt Nam, Thomas Vallely, tự chủ đại học
Ông Thomas Vallely, Giám đốc Chương trình VN tại Harvard, Chủ tịch Quỹ Tín thác Sáng kiến Đại học Việt Nam và nhà báo Việt Lâm. Ảnh: Phạm Hải

Tự chủ đại học không đủ để thay đổi hệ thống quản trị lạc hậu

– Như ông vừa đề cập, một trong những vấn đề cốt lõi quyết định chất lượng của một trường đại học là làm thế nào anh thu hút được những giảng viên và sinh viên tốt nhất. Độc giả Hạ Anh hỏi: Trong quy hoạch, Chính phủ VN đang nỗ lực xây dựng các trường ĐH đẳng cấp quốc tế như Việt Đức, Việt Pháp, Việt Nhật. Dù đã ra đời mấy năm và có sự hậu thuẫn khá mạnh từ Chính phủ nhưng các trường nói trên vẫn chật vật trong vấn đề tuyển sinh. ĐH Fulbight có tham khảo thực tiễn này?

Đây là một câu hỏi hay. Tôi sẽ cố gắng đưa ra một vài suy nghĩ riêng về vấn đề này.

Trước hết, một trong những điều khiến cho FUV không giống với các trường đại học vừa kể trên là mặc dù chúng tôi nhận tài trợ từ chính phủ Mỹ, nguồn tài trợ này không phải là tài trợ từ chính phủ đến chính phủ. Quỹ Tín thác Sáng kiến Đại học VN (TUIV) nhận tài trợ từ chính phủ để xây dựng một trường đại học tư không vì lợi nhuận và chúng tôi hoàn toàn độc lập trong quản trị trường.

Những trường đại học mà bạn vừa kể không phải là ý tưởng tồi. Nó xuất phát từ quan điểm nâng cấp những cái hiện có thay vì tạo ra những thực thể mới. Ý tưởng trung tâm là làm sao để chúng hoạt động tốt hơn. Có thể nói rằng những đầu tư vưà qua của Chính phủ vào các trường này không phải là vô ích.

Đối với FUV, điều mà chúng tôi nỗ lực tìm kiếm là xây dựng một cơ chế quản trị đại học khác biệt với cơ chế hiện hành. Các trường vừa kể vẫn áp dụng cơ chế quản trị kiểu cũ nhưng chúng tôi thì không. Chúng tôi sẽ tạo dựng một cơ chế mới, giống như Viettel đã làm. Viettel không sử dụng cơ chế quản trị của VN mà họ áp dụng cơ chế quản trị doanh nghiệp theo chuẩn mực thế giới. Chúng tôi cũng sẽ thuê những người chúng tôi muốn thuê, dành cho họ đãi ngộ tương xứng với năng lực. Một khi chúng tôi làm được điều đó và một khi tất cả mọi người đều làm như vậy thì chắc chắn đầu tư vào các trường đại học sẽ hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, nhìn chung tôi sẽ nói là các trường đại học hàng đầu ở VN vẫn là các trường công lập. Có thể kể đến các trường đại học chính ở VN như ĐHQG Hà Nội, ĐHQG TP.HCM, ĐH Bách Khoa…Đây vẫn là các trường tốt nhất.

Điều may mắn cho VN là hệ thống giáo dục đủ cởi mở và minh bạch trong khâu tuyển sinh nên các sinh viên giỏi nhất vẫn theo học các trường này. Mục tiêu của FUV là làm sao chúng tôi có thể gây ảnh hưởng khiến các đối thủ lớn này gia nhập vào hệ thống hiện đại. Thực tế thì hiện đã có một số trường đầu tư theo hướng đẳng cấp quốc tế bằng cách gửi giảng viên ra nước ngoài đào tạo. Tôi nghĩ đó đều là những hướng đầu tư đúng đắn. FUV chỉ làm khác một xíu là đầu tư vào cơ chế quản trị. Các trường đại học lớn đã nhận được rất nhiều đầu tư từ nhà nước. Vậy làm thế nào để các khoản đầu tư này trở nên giá trị. Tôi tin câu trả lời nằm ở hệ thống quản trị.

– Tức là các trường đại học phải tự chủ?

Không phải là tự chủ. Anh có thể có tự chủ trong mọi hệ thống nhưng anh vẫn phải dùng hệ thống cũ. Tự chủ đại học không làm nên hệ thống quản trị tốt.

– Tôi hỏi ông câu này bởi vì cách đây vài tháng, Bộ Giáo dục ban hành Quy hoạch các trường đại học, trong đó nhấn mạnh đến yếu tố tự chủ như một chìa khoá của quản trị đại học hiệu quả. Nhiều người ở VN tin rằng tự chủ đại học có thể là giải pháp cho vấn đề hiện tại của hệ thống giáo dục đại học.

Tự chủ là tốt nhưng chỉ có tự chủ không thôi thì không đủ. Tôi đồng tình với quyết định của Bộ Giáo dục bởi tự chủ là cần thiết và đó là một tiến bộ. Nhưng nếu chỉ có tự chủ thì không đủ để thay đổi hệ thống quản trị hiện tại mà giống như một cuộc phi tập trung hoá thì đúng hơn.

Thi tuyển độc lập

– Có thể hơi sớm để đặt câu hỏi này nhưng một số độc giả hỏi ông rằng cơ chế tuyển sinh sẽ được thực hiện ở FUV như thế nào? FUV có sử dụng kết quả kỳ thi tuyển sinh chung của Bộ Giáo dục không?

Không, chúng tôi sẽ tổ chức thi tuyển độc lập. Điều tốt là hệ thống của VN thực sự xác định được những người trẻ thông minh. Phần đó của hệ thống không bị phá vỡ. Cho nên, thách thức lớn của chúng tôi là làm sao có thể thu hút được những sinh viên giỏi, những người đã được nhận vào ĐHQG TP.HCM chẳng hạn. Đấy là những em sinh viên thực sự xuất sắc, và có lẽ đã được thụ hưởng một nền giáo dục tốt ở bậc phổ thông. Làm sao để khiến họ muốn đến học ở FUV thay vì vào các trường khác. Chúng tôi sẽ phải tìm kiếm mọi cách thức có thể.

Theo tôi, giờ là thời điểm mà VN phải bắt đầu suy nghĩ về việc làm thế nào để hiện đại hoá nền kinh tế. Một trong những mấu chốt là làm sao để các trường đại học có thể kết nối được với tương lai của VN và hiểu rõ các vấn đề đang đối mặt. Do đó, dư địa để FUV phát triển còn khá nhiều và chúng tôi sẽ phải cố gắng hết sức để thu hút được những sinh viên chất lượng nhất.

Một trong những lợi thế mà tôi nghĩ FUV có thể có là giáo dục đại học đại cương. Bạn đến đây để học về vật lý, nhưng bạn cũng có thể học về Shakespeare hay Nguyễn Du. Một chương trình giáo dục toàn diện hơn có thể sẽ hấp dẫn được những sinh viên xuất sắc ngành vật lý, sinh học, ngôn ngữ học hay âm nhạc. Tất nhiên, đây mới chỉ là suy nghĩ ban đầu mang tính lý thuyết.

– Tôi muốn tranh luận với ông một chút ở điểm nào. Đúng là một người có học thì cần phải có kiến thức nền rộng, am hiểu không chỉ vấn đề chuyên môn mà cả những vấn đề văn hoá, xã hội khác. Nhưng làm thế nào để cân bằng giữa tính toàn diện, đào tạo ra những con người có học thức với nhu cầu thực dụng của giáo dục đại học, là sinh viên đến trường để học lấy một cái nghề và ra trường có thể xin việc được?

Ồ, đây là một câu hỏi rất quan trọng. Nếu chúng tôi không tìm được hướng đi đúng, FUV sẽ thất bại.

Vì FUV đặt ở TP.HCM nên chúng tôi cần phải đến gặp gỡ cộng đồng doanh nghiệp, gặp chính quyền TP.HCM để tham khảo ý kiến của họ: Các ông muốn chúng tôi giảng dạy những gì cho sinh viên? Chúng tôi cần phải hiểu loại kỹ sư nào, hay ngành khoa học nào mà xã hội đang cần. Đương nhiên, hiện tại chúng tôi chưa hiểu rõ và chúng tôi cần đầu tư vào nghiên cứu, khảo sát kỹ lưỡng để có thể thiết kế đúng một loại hình đại học tạo nên được sự khác biệt trong xã hội.

  • VietNamNet

(còn nữa)

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Câu chuyện hổ và sư tử con nào mạnh hơn:

Câu chuyện hổ và sư tử con nào mạnh hơn: Bài học cho chúng ta!

Minh Lupin | 06/06/2015 12:26

Theo bạn thì hổ hay sư tử mạnh hơn? Mạnh hơn phải chăng đã là đủ cho cuộc chiến sinh tồn?

Loài nào mạnh hơn: đã có câu trả lời

Các nhà động vật học ở Mỹ đã làm 1 thử nghiệm: cho 1 con hổ và 1 con sư tử có cùng số cân nặng, cùng độ tuổi và có chế độ ăn uống giống nhau, bỏ đói chúng và thả vào đó 1 miếng thịt.

Hai con dã thú đói ăn đã lao vào chiến đấu giành sự sống.

Kết quả của những lần thí nghiệm như vậy với những con hổ và sư tử khác nhau cho kết quả là 70% hổ thắng. (Xem: 10 trận kịch chiến thực sự giữa hổ và sư tử)

Vậy tại sao loài hổ lại có được ưu thế như vậy trong khi những nghiên cứu cho thấy sư tử có sức mạnh cơ bắp lớn hơn, uy lực của bộ hàm và có bộ bờm bảo vệ?

Đó là bởi hổ dẻo dai và khéo léo hơn, cơ mưu hơn trong những lần chiến đấu. Đó chính là kết quả của lối sống độc lập thay vì bầy đàn như sư tử.

Tại sao lối sống độc lập lại tạo ra cá nhân mạnh mẽ hơn lối sống bầy đàn?

Thông thường ai cũng nghĩ rằng lối sống bầy đàn của sư tử sẽ có lợi hơn, các con sư tử dạy nhau săn mồi từ thủa nhỏ, lớn lên chúng có các cuộc chiến nội bộ để phân định ai là “trưởng bầy” và sở hữu những con sư tử cái.

Chúng có cộng đồng để phát triển bản thân, còn hổ thì lại cô độc một mình, lặng lẽ săn mồi, không có bạn bè để giúp đỡ, phát triển cho mình.

Thực chất sự khác biệt ở đây là bởi do sống độc lập, nên hổ sẽ phải nhịn đói nếu không săn được mồi, còn sư tử săn theo bầy đàn, chia sẻ chiến lợi phẩm nên gần như sẽ không bao giờ bị đói.

Chính sự khó khăn vì phải đơn độc săn mồi, nên khả năng chiến đấu để sinh tồn, sự quyết tâm và kinh nghiệm chiến đấu thực tế của hổ lớn hơn sư tử. Do vậy, hổ mới là loài vật mạnh mẽ nhất trên cạn.

Ngược lại, do quen việc được bầy đàn hỗ trợ khi khó khăn, sư tử lại không có được nhiều những trận huyết chiến độc lập với các loài vật mạnh mẽ khác.

Thế nên, rõ ràng nếu chiến đấu 1-1, nó không thể chiến thắng được hổ.

Giống hổ liệu đã tốt?

Nhưng các bạn thử nghĩ xem, hổ có thể chiến thắng sư tử khi “chơi” 1đấu 1, nhưng nếu chiến đấu theo bầy đàn thì bên nào thắng?

Rõ ràng là đàn hổ khi đó sẽ không có cửa thắng đàn sư tử, do không có thói quen và kỹ năng kết hợp với nhau, không được rèn luyện tính đồng đội từ nhỏ như sư tử.

Và quan trọng hơn cả, đàn hổ không biết được những lợi ích khi có đồng đội hỗ trợ.

Một con sư tử có thể một mình giết con trâu rừng, nhưng thông thường cả đàn sẽ cùng đi săn như thế này.
Một con sư tử có thể một mình giết con trâu rừng, nhưng thông thường cả đàn sẽ cùng đi săn như thế này.

Kết quả là, trong khi sư tử ngày càng mạnh mẽ và thống trị những vùng thảo nguyên rộng trong thế giới động vật thì hổ, dù là cá thể mạnh nhất nhưng lại đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng.

Đó là bởi đàn sư tử đi cùng nhau, là nỗi ám ảnh của tất cả các loài động vật khác, ngay cả đối với những tên săn bắn trộm. Trong khi hổ lại không thể thắng nếu gặp 1 bầy sói đông, hay có thể bị sát hại bởi cả những thợ săn đơn lẻ.

Lối sống của người Việt nói chung, về một mặt nào đó, cũng như loài hổ.

Chúng ta đi lên từ nghèo khổ, điều kiện thiếu thốn, không ngại khó khăn, vượt qua thử thách, và sẵn sàng giúp đỡ nhau kiểu “lá lành đùm lá rách”. Nhưng tương trợ nhau để cùng thành công, vươn lên đỉnh cao, thì lại khó khăn.

Câu chuyện về chiếc Bphone gần đây và game Flappy Bird ngày trước, cũng phản ánh khá rõ “tính xấu” này của người Việt.

Nhiều thế hệ học sinh sinh viên đi thi toán học quốc tế, chẳng ngán ngẩm bất kỳ quốc gia nào, kết quả “chấp” cả các nước phát triển cao như Mỹ, Anh, Pháp… Chúng ta cũng có GS Ngô Bảo Châu, người mang dòng máu Việt…

Nhưng nền toán học của chúng ta thì vẫn vậy, không có thành tựu nào đáng kể cả về lý thuyết lẫn ứng dụng thực tế. Tương tự với rất nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác…

Đến lúc này thì có lẽ chúng ta đã có câu trả lời của riêng mình cho câu hỏi: vậy giống hổ hay sư tử thì tốt hơn?

* Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả. Mời bạn tham gia viết về những BÀI HỌC CUỘC SỐNG và gửi bài về email giangreport@gmail.com. Chúng tôi sẽ xem xét đăng tải và trả Nhuận bút 24h cho bạn. Trân trọng!

theo Trí Thức Trẻ

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Hoan hỷ tham dự ĐẠI LỄ KỶ NIỆM 76 NĂM

Hoan hỷ tham dự ĐẠI LỄ KỶ NIỆM 76 NĂM

Hoan hỷ tham dự ĐẠI LỄ KỶ NIỆM 76 NĂM

HỘI ĐỒNG TRỊ SỰ TRUNG ƯƠNG

Hội Trưởng Lê Phước Sang

12432 Euclid St., Garden Grove, CA 92840

Tel: 832-397-9813 * http://www.tandanhoa.com GIÁO HỘI PHẬT GIÁO HÒA HẢO

THƯ MỜI

Trân trọng kính mời Ô/Bà:

Hoan hỷ tham dự ĐẠI LỄ KỶ NIỆM 76 NĂM

ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ KHAI SÁNG

ĐẠO PHẬT GIÁO HÒA HẢO

Thời gian và địa điểm như sau:

2:00 chiều ngày 19 tháng 7, năm 2015 tại

TRỤ SỞ HỘI ĐỒNG TRỊ SỰ TRUNG ƯƠNG

Tel: 832-397-9813

12432 Euclid St., Garden Grove, CA 92840

Xin quý khách đậu xe ở các điạ điểm sau đây:

1.- Brentwood Dental, 12400 Euclid St.

3.- Russo Chirpractic Clinic, 12362 Euclid St.

4.- JP Escrow House & Home Realty, 12312 Euclid St.

2.- Art of Dentistry, 12372 Euclid St.

Đức-Thầy khai sáng nền Đạo PGHH:

Đạo là gì? Đạo là con đường dẫn tới giác ngộ mà người có duyên sẽ gặp.” Đạo là

vốn thiệt cái đàng: “Ta ra sức dọn cho toàn chúng sanh”.

Đức-Thầy đã quyết:

Tay Tăng Sĩ gậy thiền quyết nắm

Lần bụi bờ xuống thẵm lên đèo

Dù cho gặp lắm hùm beo

Từ bi vẫn niệm quyết leo khỏi rừng

Đầu ngưỡng vọng ĐấtTrời minh chứng

Tấm lòng thành quyết dựng đạo đời

Đôi đều hòa nhả nơi nơi

Thân nầy mới chịu ngồi ngơi thạch bàn

Quyết đưa chúng về nơi non Thứu

Tạo Lư-Bồng ngõ hội quần tiên

Dù cho xoay chuyễn đất trời

Lòng Ta chí dốc độ đời mà thôi.

Trong bài Sứ-Mạng Đức-Thầy nói:Vì thể lòng từ bi bác ái cùng thù đáp những linh

hồn đã trợ duyên trong nhiều kiếp giúp Ta nương cậy tu hành nên ngày 18 tháng 5

năm Kỹ-Mão, Ta hóa hiện ra đời cứu độ chúng sanh.

Duyên lành rõ được khùng điên

Chẵng qua kiếp trước thiện duyên hữu phần

Một đấng Giáo Chủ người Việt Nam còn rất trẻ mới 19 tuổi đã khai sáng nền đạo

Phật Việt Nam đậm đà tình tự dân tộc thâm sâu và vô cùng mầu nhiệm.

Chẳng những vậy,ngoài tài trị bịnh như thần còn thuyết giảng và sáng tác thi-văn

giáo-lý để hoằng truyền đại đạo. Ngài còn đặc biệt cho thấy sự siêu phàm của Ngài

khi tiên tri chính xác những sự kiện lịch sử sau đây:

Sự kiện thứ nhứt:

Năm Kỹ-Mão (con mèo) khi đệ nhị thế chiến chưa bùng nổ thì Đức Thầy đã sớm

báo động: “Mèo kêu bá tánh lao xao…Đến chừng Rồng Rắn máu đào chỉnh

ghê…Con Ngựa lại đá con Dê…Khắp trong trần hạ nhiều bề gian lao…Khỉ kia cũng

bị xáo xào…Canh khuya Gà gáy máu đào mới ngưng”

Quả đúng như vậy “Canh khuya Gà gáy “tức là 12 giờ đêm giờ Đông Dương năm

Ất-Dậu(con Gà). Hiệp Định đầu hàng của Nhựt-Hoàng đã được ký kết. Qua hai

quả bom nguyên tử của Mỹ,số phận của nước Nhựt đã được định đoạt.

Ở Sài Gòn Chợ Lớn Miền Đông tại trụ sở làm việc khi các cao-đồ của ngài bàn tán

tình hình thời-cuộc không biết người Nhựt rồi đây thua hay thắng thì Đức-Thầy đã

có lần mĩm cười có vẽ hơi hài hước “Các ông biết không người Nhựt-Bổn ăn

không hết nửa con Gà”.

Đệ nhị thế chiến giữa hai phe trục tam cường Nhựt Đức Ý đã thua phe đồng

minh Nga Tàu Anh Mỹ.Cuộc thế chiến diễn ra tàn khốc kể từ năm Mèo Kỹ-Mão

1939 qua năm 1940 Rồng, 41 Rắn, 42 Ngựa, 43 Dê, 44 Khỉ,  45 Dậu(con gà)thì

kết thúc đúng như câu “Canh khuya Gà gáy máu đào mới ngưng”

Sự kiện thực tế thứ hai là chữ ký của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Trên các văn kiện

Đức Thầy đã ký tên trong những năm 1945, 1946, cho đến 1947 Đức Thầy vắng

mặt. Tín-đồ thường thấy và lấy làm lạ là khi chữ Sổ (húy danh của ngài) viết tắt là

chữ S Đức Thầy luôn luôn gạch ngang giữa chữ.

Nhiều người lấy làm thắc mắc hỏi thì Ngài trả lời rằng sau nầy sẽ biết. quả thật

năm 1954 hiệp định Geneve ký kết đã chia đôi đất nước Việt-Nam hình cong chữ

Còn nhiều sự kiện phụ không thể kể hết ra đây. Nhưng sự kiện Biển Đông nổi sóng

mà Đức Thầy đã tiên tri từ lâu rồi chắc chắn phải được đề cập.

Mặt nước biển lô nhô lặn hụp

Chim đua bay cá lại tranh mồi

Ngọn thủy triều nô nức sục sôi

Bầu trái đất một phen luân chuyễn

Chẳng những chiến tranh dưới biển, máy bay như chim, tàu chiến như cá, mà hỏa

lực của các phe lâm chiến khủng khiếp đến nổi nước biển sục sôi và bầu trái đất

Nơi phía trước cheo leo tiếng khóc

Đứng sau lưng hình vóc vẫy chưng

Nước kia lửa nọ tưng bừng

Thảm cho thế sự lẫy lừng nạn tai

Tóm tắt, nếu đúc kết một cái nhìn từ tấm gương đạo hạnh, những bước hành trình

gian khổ của Đức-Thầy: Hòa-Hảo, Giác-Ngộ, Nhẫn-Nhục và vô cùng thiêng liêng

cao cả. Nếu không nói là bất phàm siêu phàm thì là gì?

Thường nhơn phàm tục thì làm sao có được khả năng nầy.

Có đấng đại giác nào lâm phàm độ chúng mà không phải chịu thọ nạn đâu?

Nhưng trường hợp của Đức Thầy thọ nạn theo như Ngài đã nói trước thì tín-đồ vẫn

kỳ vọng một ngày trở lại của Đức Thầy như câu:

Rán nghe lời dạy của Thầy

Để chừng đến việc kiếm Thầy không ra

Ít lâu Ta cũng trở về

Khuyên cùng bổn đạo chớ hề lảng xao

Trì lòng chớ có núng nao

Từ đây nhơn vật mòn hao lần lần

Từ nay cách biệt xa ngàn

Ai người tâm đạo đừng toan phụ Thầy

Giữa chừng đờn nở đứt dây

Chưa vui buổi hiệp bổng Thầy lại xa

Tỉnh say trong giấc mộng hoa

Mơ màng cũng tưởng như Ta bên mình

Tuy là hữu ảnh vô hình

Chớ dân lòng tưởng sân trình đáo lai

Vậy, để là tấm gương soi cho nhân loại hầu tuyên dương những tấm gương vì

đạo vì đời,bác ái từ bi hòa hảo,trung nghĩa hiếu hạnh thì đây là những tấm gương

cần nhắc nhở và ca tụng.

Nếu nhân loại không nhắc nhở tuyên dương các bực đại giác đại ngộ, các đấng

thiêng liêng lâm phàm độ thế thì thử hỏi nhân loại nên kỷ niệm tưởng nhớ nhắc

nhở và tuyên dương ai???

Hội Đồng Cố Vấn và Ân Nhân Bảo Trợ

– Cụ Phan Như Toản – Cụ Trần Sinh Cát Bình

– Luật Sư Đinh Thạch Bích – Doanh Gia Kim Anh

– Ông Trương Quang Sĩ và Bà Mộng Lan

– Ông Bùi Văn Truyền – Giáo Sư Lê Quí An

– Giáo Sư Trần Văn Chi – Giáo Sư Lê Hữu Quế

– Ông Bà Hoàng Đình Từ

Hội Đồng Trị Sự Trung Ương và

Ban Tổ Chức Đại Lễ Kỷ Niệm

 Tu Sĩ Thái Hòa, Hội Trưởng Danh Dự

 TS Lê Phước Sang, Hội Trưởng

 DB Dương Minh Quang, Đệ nhất Phó Hội Trưởng

 DB Dương Thanh Tồn, Cố Vấn Chính Sách

 Trần Văn Vui, Phó Ban Tổ Chức

 Lê Văn Tâm, Phó Ban Tổ Chức

 Nguyễn Cửu Long, Phó Ban Tổ Chức

 GS Nguyễn Tấn Lạc, Phó Ban Tổ Chức

 Bà Phạm Diệu Chi, Phó Ban Tổ Chức

 Ô. Nguyễn Thanh Tân, Phó Ban Tổ Chức

 Huỳnh Long Giang, Tổng Thư Ký

 Hoa Hậu Khuyến Nguyễn, Chủ Nhân Nước Mía Viễn Đông

 Hoa Hậu Hoàn Vũ Lam Châu

 Hoa Hậu Huỳnh Nga – Hoa Hậu Kristine Thảo

 Hoa Hậu Tường Vi

 Đốc Sự Châu Văn Để – Bà Minh Nguyệt

 Nghệ Sĩ Tuyết Nga – Nghệ Sĩ Hồng Quyên

 Võ Công và Nguyễn Dung

 Soạn Giả Bùi Minh Đức

 Nhạc Sĩ Ngọc Nôi

 Nghệ Sĩ Phi Loan

 Nghệ Sĩ Hoàng Lợi

 Nhạc Sĩ Trần Khánh Trung

 Thiền Sư Nguyên Linh

 Giáo Sư Hồ Phi

 Ô.Bà Ba Định

 Bà Đào Bích Ty – Bà Phạm Mai

 Ô. Mai Bá Điển – Ô. Nguyễn Văn Hiền

 Bác Sĩ Lê Phước Hoàng Hà

CHƯƠNG TRÌNH

I.- Tiếp Đón Quan Khách: 2:00 PM

Quan Khách và đồng đạo đến

II.- Nghi Thức Khai Mạc: 3:00 PM

 Chào Quốc Kỳ, Đạo Kỳ và Mặc Niệm

 Giới thiệu thành phần tham dự

 Diễn văn của TS Hội Trưởng Lê Phước Sang

III.- Đại Lễ Kỷ Niệm: 3:30 PM

 Nghi Thức Hành Lễ

 Tuyên đọc Sứ Mạng Cứu Đời của

Đức Huỳnh Giáo Chủ

IV.- Phát Biểu của Quan Khách và

Xướng Ngâm Thi Văn Giáo Lý

V.- Văn Nghệ Giúp Vui

VI.- Cảm Tạ của Ban Tổ Chức

VII.- Bế Mạc 6:30 PM

___________________________________

LIÊN LẠC:

TS Lê Phước Sang, 832-397-9813;

Trần Văn Vui, 619-278-9758;

Nguyễn Tấn Lạc, 714-332-9244;

Phạm Diệu Chi, 714-467-5955

Huỳnh Long Giang, 714-720-5271;

Đào Bích Ty, 714-726-4002;

Nguyễn Thanh Tân, 714-631-3343;

Ô. Ba Định, 714-837-4857.

About these ads

Occasionally, some of your visitors may see an advertisement here.

Tell me more | Dismiss this message

Categories: Sinh Hoạt Tôn Giáo | Leave a comment

Bà Lantos Swett trả lời RFA về tình hình Tự do Tôn giáo thế giới

Bà Lantos Swett trả lời RFA về tình hình Tự do Tôn giáo thế giới

Intergroup-report-launch-picture-622.jpg

Từ trái qua phải: Dân biểu Quốc Hội Âu Châu Dennis de Jong, Tiến sĩ Katrina Lantos-Swett, Ông Silvio Gonzato và Dân biểu Peter Van Dalen tại Quốc Hội Châu Âu ở thủ đô Brussels, Vương Quốc Bỉ, ngày 3 tháng 6 năm 2015.

RFA PHOTO/Ỷ Lan

Ngày 3 tháng 6 vừa qua, Liên nhóm Dân biểu Quốc hội Châu Âu cho Tự do Tôn giáo hay Tín ngưỡng và Bao dung tôn giáo đã hợp tác với Ủy hội Hoa Kỳ Bảo vệ Tự do Tôn giáo trên Thế giới tổ chức cuộc Hội luận dưới đề tài “Tình hình Tự do Tôn giáo hay Tín ngưỡng trên Thế giới” tại Quốc hội Châu Âu ở thủ đô Brussels, Vương quốc Bỉ.

Liên nhóm Dân biểu Quốc hội Châu Âu đã trình bày Phúc trình năm đầu tiên về Tự do Tôn giáo trên Thế giới.

Phát biểu tại cuộc Hội luận có hai vị Dân biểu Quốc hội Châu Âu đồng Chủ tịch Liên nhóm: Tiến sĩ Dennis De Jong và Peter Van Dalen, Tiến sĩ Katrina Lantos-Swett, Chủ tịch Ủy hội Hoa Kỳ Bảo vệ Tự do Tôn giáo trên Thế giới, cùng với ông Silvio Gonzato, Giám đốc Vụ Nhân quyền và Dân chủ Bộ Ngoại giao Liên Âu.

Sự hợp tác giữa Mỹ và EU về Tự do Tôn giáo

Sau đây là cuộc phỏng vấn bà Katrina Lantos-Swett để tìm hiểu sự hợp tác giữa Hoa Kỳ và Liên Âu trên lãnh vực Tự do Tôn giáo.

Ỷ Lan: Bà đến Quốc hội Châu Âu hôm nay để trình bày bản Phúc trình 2015 của Ủy hội Hoa Kỳ Bảo vệ Tự do Tôn giáo trên Thế giới cùng với Liên nhóm cho Tự do Tôn giáo hay Tín ngưỡng của Quốc hội Châu Âu. Điều gì làm cho bà thấy quan trọng để hợp tác nhằm thăng tiến Tự do Tôn giáo hay Tín ngưỡng?

Tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng quyền Tự do tôn giáo hay tín ngưỡng là nền tảng cho nhân quyền, và nhiều năm qua, Hoa Kỳ đã đi đầu với nỗ lực quyết liệt biện hộ cho quyền này. Cho nên, thật vô cùng khích lệ để thấy Quốc hội Châu Âu và các quốc gia Châu Âu cũng tham gia.
-Bà Lantos Swett

Lantos Swett: Tôi thấy cực kỳ quan trọng. Tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng quyền Tự do tôn giáo hay tín ngưỡng là nền tảng cho nhân quyền, và nhiều năm qua, Hoa Kỳ đã đi đầu với nỗ lực quyết liệt biện hộ cho quyền này. Cho nên, thật vô cùng khích lệ để thấy Quốc hội Châu Âu và các quốc gia Châu Âu cũng tham gia cho mục tiêu này qua đường lối hết sức tích cực. Tôi nghĩ rằng chúng ta đang tăng cường sức mạnh trong cuộc hợp tác xuyên Đại Tây dương. Đây là điều khiến cho các chính quyền bị tố cáo phải phản ứng thay đổi, để các chính quyền này thấy rõ xung lượng của sự hợp tác liên châu. Tôi hết sức khích lệ cho sự kiện này.

Ỷ Lan: Bà có nghĩ rằng quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng đóng một vai trò trong tiến trình dân chủ hóa không?

Lantos Swett: Cực kỳ quan trọng cho tiến trình dân chủ hoá. Tôi thường tán dương đường lối hữu hiệu, mà qua đó bản Hiến Pháp của chúng tôi, trong thời khai quốc Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ, đã giải quyết đối với quan niệm chính giáo phân ly, cũng như bảo vệ sự tự do thực hành tôn giáo. Đây chính là vấn đề chính yếu cho sự phát triển của chúng tôi như một xã hội dân chủ, và khai triển xã hội tới độ cao của sự cố kết các giai tầng xã hội. Đương nhiên, chúng tôi gặp nhiều thách thức, và tiếp tục đối diện với thách thức, nhưng quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng là trọng tâm cho dự án dân chủ với những nỗ lực thực hiện cho mỗi quốc gia, để tạo ra một không gian an toàn và bình đẳng trong quảng trường công chúng cho mọi tôn giáo hay tín ngưỡng, cũng như khối quần chúng không theo tôn giáo hay tín ngưỡng nào. Tôi tin rằng đây là một yếu tố đánh dấu sự trưởng thành mà một xã hội cần biểu lộ, để có thể hoà nhập vào sự quản lý tốt và dân chủ.

Ỷ Lan: Như bà biết, cuộc phỏng vấn này sẽ được phát trên Đài Á Châu Tự do về Việt Nam. Việt Nam từng ở trong danh sách CPC, (Country of Particular Concern, tức các nước cần đặc biệt quan tâm vì đàn áp tôn giáo) của Ủy hội Hoa Kỳ Bảo vệ Tự do Tôn giáo trên Thế giới qua nhiều năm, và trong bản Phúc trình năm nay của Ủy hội, Việt Nam lại bị khuyến cáo đưa trở lại danh sách CPC. Bà có quan tâm tới vấn đề Việt Nam?

Đề nghị đưa vào danh sách CPC, những quốc gia mà chúng tôi cảm thấy quan tâm, do những báo cáo nêu rõ sự vi phạm tự do tôn giáo, và đây là trường hợp của Việt Nam.
-Bà Lantos Swett

Lantos Swett: Đương nhiêm là tôi rất quan tâm. Đề nghị đưa vào danh sách CPC, những quốc gia mà chúng tôi cảm thấy quan tâm, do những báo cáo nêu rõ sự vi phạm tự do tôn giáo, và đây là trường hợp của Việt Nam. Chúng tôi hy vọng rằng một phái đoàn bao gồm những Ủy viên thuộc Ủy hội Hoa Kỳ Bảo vệ Tự do Tôn giáo trên Thế giới sẽ đến viếng thăm Việt Nam nhằm xem xét một số điểm. Chúng tôi đang vận động cho chuyến đi, và mong mỏi thấy được kết quả.

Có một lúc, dường như vấn đề tôn giáo được phát triển theo hướng tích cực tại Việt Nam, nhưng ngay lúc này thì đang thoái bộ. Đây là điều không tốt cho Việt Nam. Và cũng là mối âu lo cho những cộng đồng tôn giáo bị làm đối tượng đánh phá.

Một trong những mặt mạnh của Ủy hội Hoa Kỳ Bảo vệ Tự do Tôn giáo trên Thế giới, là chúng tôi độc lập, nhờ vậy chúng tôi tự do nói thẳng, chúng tôi chẳng cần “phất theo chiều gió” vì những lý do chính trị hay mệnh lệnh ngoại giao. Giá trị này rất cao cả. Tôi nghĩ rằng Việt Nam đáng đặt vào danh sách CPC, nhưng chúng tôi hy vọng rằng không phải luôn luôn bị như thế. Tôi tin rằng điều tốt cho tương lai Việt Nam, nếu nhà cầm quyền chịu cải cách để khỏi bị đặt vào danh sách CPC.

Ỷ Lan: Xin bà một câu hỏi chót. Sau cuộc thăm viếng Việt Nam cuối tháng bảy năm ngoái của Báo cáo viên LHQ Đặc nhiệm tự do tôn giáo, ông Heiner Bielefeld nói rằng: “ Phép thử nghiệm để đánh giá sự phát triển quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng ở Việt Nam, là điều kiện hoạt động của các cộng đồng tôn giáo độc lập, tức những cộng đồng tôn giáo không được nhà nước công nhận”. Đây chính là trường hợp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, mà trong bản Phúc trình của Ủy hội có nhắc tới vị lãnh đạo Giáo hội là Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ bị quản chế từ nhiều thập niên. Bà nghĩ sao về trường hợp này?

Lantos Swett: Trường hợp của Đức Tăng Thống là một trong những trường hợp thống thiết bi tâm. Ngài là vị lãnh đạo khác thường, ngoại lệ. Mục tiêu của Ngài chưa được biết lắm trên thế giới. Tôi nghĩ tới một bộ mặt khác của Á Châu là bà Aung San Suu Kyi. Ai ai cũng biết tới Aung San Suu Kyi. Đây là điều tối quan trọng cho Miến Điện. Nhưng chưa phải là trường hợp của Tăng Thống Thích Quảng Độ ở Việt Nam, đây là điều thách thức chúng ta.

Bao lâu những quốc gia đàn áp tôn giáo chưa bị công khai nhận diện, chưa bị các chính quyền khác đang kinh doanh, làm ăn với Việt Nam, đứng ra tố giác; bao lâu sự đàn áp các nhà lãnh đạo tôn giáo không được nói lớn trên công luận quốc tế, thì tất nhiên Việt Nam sẽ tiếp tục đàn áp mà chẳng sợ gì.

Cho nên, chúng ta cần nêu cao chân dung của những trường hợp này.

Ỷ Lan: Xin cám ơn Bà Lantos Swett.

Ỷ Lan, Phóng viên Đài Á Châu Tự do tại Quốc hội Châu Âu

Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment