Daily Archives: June 22, 2015

NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN VIỆT NAM THỰC THI CHỦ QUYỀN ĐỐI VỚI BIỂN ĐẢO TÂY NAM ĐẤT NƯỚC

NGHIÊN CỨU VIỆT NAM

NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN VIỆT NAM THỰC THI CHỦ QUYỀN ĐỐI VỚI BIỂN ĐẢO TÂY NAM ĐẤT NƯỚC

BienDong.Net: Triều Nguyễn luôn coi biển đảo là vấn đề hết sức quan trọng của đất nước. Với tư cách là triều đại phong kiến Việt Nam đầu tiên thống nhất đất nước, triều đình nhà Nguyễn đã xây dựng chiến lược để quản lý lãnh thổ, lãnh hải biển đảo từ Móng Cái đến Hà Tiên.

Mở đầu cho công cuộc xác lập chủ quyền của chính quyền Đàng Trong tại vùng biển đảo từ Hòn Khoai đến mũi Nai là sự kiện năm 1708.

Sau nhiều năm sinh sống tại Chân Lạp và Xiêm, Mạc Cửu trốn đến vùng Long Kỳ, “mở tiệm hút, trưng mua việc thu thuế hoa chi các sòng bạc lớn để làm giàu”, “chiêu tạp dân xiêu dạt đến các nơi Phú Quốc, Cần Bột, Gia Khê, Luống Cày, Hương Úc, Cà Mau lập thành 7 xã thôn”. 7 địa điểm này là những khu vực ven biển, trải dài từ mũi Cà Mau sang cả một phần đất thuộc Campuchia ngày nay. Hiểu rõ tương quan lực lượng giữa Chân Lạp – Đàng Trong – Xiêm, Mạc Cửu dâng vùng biển đảo và đất liền Hà Tiên cho chúa Nguyễn vào năm 1708. Hành động của Mạc Cửu và sự đồng ý của chính quyền Đàng Trong là chính sách có tầm chiến lược cho cả hai bên. Cần phải nói thêm rằng vùng đất từ mũi Cà Mau đến Hà Tiên đến cuối thế kỷ XVII, trên danh nghĩa, thuộc Chân Lạp nhưng trên thực tế, vương quốc hưng thịnh một thời này không có khả năng quản lý những vùng đất thuộc Nam bộ. Vì vậy, đây vẫn là vùng đất hoang vu, dân cư rất thưa thớt.

Chính sách của chúa Nguyễn đối với Hà Tiên là để “một khoảng không gian tự do để xây dựng và phát triển” và chỉ thực sự can thiệp khi cần thiết. Chính quyền Đàng Trong giữ quyền bổ nhiệm quan tổng trấn, chia đơn vị lãnh thổ đất liền và biển đảo, viện trợ quân sự, lương thực,… những quyền quan trọng nhất xét về phương diện chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải. Đặc biệt, việc thành lập đội Bắc Hải ở vùng biển phía Nam cho thấy vùng biển đảo này đã thực sự nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền Đàng Trong.

Được chúa Nguyễn giao quyền về kinh tế, quân sự và chủ động trong ngoại giao, hai thế hệ đầu của dòng họ Mạc lãnh trách nhiệm trấn áp cướp biển, chống quân xâm lược và phát triển kinh tế. Mạc Cửu đã “…dựng thành quách, lập doanh ngũ, đặt tiêu cá, làm nhiều nhà khách để đón tiếp hiền tài”. Đến thời Mạc Thiên Tứ, ông tăng cường khả năng chiến đấu của quân đội, “đặt nha thuộc, kén bổ quân ngũ, đắp thành xây lũy”. Thành lũy do họ Mạc xây dựng khá chắc chắn.

Vào năm 1834, trong lời tâu của Tham tán Hồ Văn Khuê từ Hà Tiên về Gia Định, thành trì này vẫn còn. Một hệ thống phòng thủ hai vòng gồm các lũy ven bờ và trên các đảo như Phú Quốc, Kim Dữ đã được xây dựng. Hơn 60 năm đầu của thế kỷ XVIII, vùng biển, ven biển và hải đảo Tây Nam, đặc biệt là khu vực Hà Tiên, Rạch Giá, Phú Quốc ghi nhận sự đóng góp lớn lao của dòng Mạc trên nhiều mặt.

Hoàng đế Gia Long đã trực tiếp kiểm soát vùng biển đảo này. Có thể nói, từ vai trò người “bảo hộ”, chính quyền Đàng Trong đã xác lập được chủ quyền trên vùng biển đảo Tây Nam bộ một cách hòa bình và tự nhiên nhất. Quá trình thụ đắc vùng đất Nam bộ của chúa Nguyễn chủ yếu thông qua khai phá hoà bình kết hợp với đàm phán ngoại giao để khẳng định chủ quyền. Đó là phương thức được thừa nhận là phù hợp với thông lệ lịch sử và các văn bản quốc tế hiện hành”.

Năm 1802, vương triều Nguyễn được thành lập. Tầm quan trọng của khu vực biển đảo Tây Nam được các vua Nguyễn ý thức rõ ràng. Trong bức thư gửi vua Xiêm năm 1809, Nguyễn Ánh khẳng định “Hà Tiên vốn là bờ cõi của triều đình, từ các vua trước của ta dựng cờ lập trấn tiết, cha con Mạc Thiên Tứ đều hãy giữ tròn chức vụ nên trao chức cho, chứ đây không phải là khuê điền thái ấp (ruộng đất cấp cho chư hầu), không thể viện làm thế nghiệp được”.

Năm 1832, sau khi đánh diệt giặc Chà Và, Minh Mạng nghĩ: “Côn Lôn thủ và Hà Tiên Phú Quốc thủ đều là những nơi xung yếu, dân ở đông đúc, thế mà thường có giặc biển ẩn hiện. Liền truyền dụ cho quan thành chọn đất 2 chỗ thủ ấy, xây đặt pháo dài, liệu cấp súng đạn, khí giới, thuyền bè, phái quân đóng giữ”.

Chính sách khai khẩn đất hoang bằng đồn điền trên vùng đất liền nói chung và vùng biển, ven biển và hải đảo nói riêng là một biện pháp hiệu quả của nhà Nguyễn. Bởi, về mục tiêu kinh tế, việc khai hoang sẽ tăng cường diện tích đất nông nghiệp, lượng lúa gạo và các mặt hàng khác nhiều hơn, đảm bảo nhu cầu của người dân ven biển và hải đảo. Về mục tiêu chính trị, khẩn hoang, lập ấp là một biện pháp nhằm khẳng định và khai thác chủ quyền hiệu quả. Vấn đề an ninh – quốc phòng của vùng biên giới đất liền và biển đảo Tây Nam cũng được đảm bảo nhờ vào hệ thống làng ấp và cộng đồng dân cư.

Suốt hơn năm mươi năm, chính quyền nhà Nguyễn đã hoàn thành nhiệm vụ trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo Tây Nam. Đó là tiến hành phân chia các đơn vị hành chính, quản lý dân cư đẩy mạnh và quản lý các hoạt động kinh tế, trấn áp cướp biển, đẩy lùi các cuộc xâm lược của Xiêm. Đặc biệt, những ghi chép từ địa bạ triều Nguyễn cho thấy rõ việc phân chia đơn vị hành chính và quản lý dân cư được tiến hành khá chặt chẽ.

Năm 1819, sở Phú Quốc được đặt lệ thuộc quản hạt của trấn Hà Tiên vì có đường biển gần Hà Tiên, Lê Văn Ý làm Thủ ngự sở. Năm 1819 – 1820, sở này có các xã thôn Dương Cảng Đông thôn, Vĩnh Thạnh thôn, Tân Qui thôn, Phước Sơn thôn, An Hòa thôn, Phước Lộc thôn, Cẩm Sơn thôn, Tiên Tỉnh thôn Thái Thạch thôn, Phú Đông thôn, Mỹ Thạnh thôn, Minh Hương thuộc. Đến năm 1836, tổng Phú Quốc gồm 10 thôn: An Thới thôn, Hàm Ninh thôn, Phú Đông thôn, Thới Thạnh thôn, Cẩm Sơn thôn, Mỹ Thạnh thôn, Phước Lộc thôn, Dương Đông thôn, Tân Tập thôn, Tiên Tỉnh thôn.

Năm 1835, nhà Nguyễn phân chia các đảo trong vịnh thuộc về các ba huyện trong tỉnh Hà Tiên. Cách chia là căn cứ vào vị trí của đảo rồi đối ngang với đất liền để sát nhập cho thuận tiện. Theo đó, Hòn Khoai, Hòn Chuối thuộc về huyện Long Xuyên (Cà Mau ngày nay), Hòn Tre, Hòn Rái, Hòn Son,..thuộc về huyện Kiên Giang. Phú Quốc thuộc về huyện Hà Châu (tức huyện Hà Tiên trước khi đổi tên). Đại Nam thực lục ghi lại sự kiện này như sau: “tuần phủ Hà Tiên, Trần Chấn, tâu nói: Các đảo ngoài biển thuộc tỉnh (Hà Tiên) từ trước đều lệ thuộc vào tỉnh Long Xuyên. Vậy xin xét xem đảo lớn nhỏ nào đối ngang với huyện hạt nào, thì đổi thuộc vào huyện ấy, cho đúng với tên trong sổ sách. Vũ Dữ [Hòn Khoai], Ba Tiêu dữ [Hòn Chuối] thuộc huyện Long Xuyên; Trúc Dữ [Hòn Tre], Thát Dữ [Hòn Rái], Nghệ Dữ, Cổ Luân dữ đều thuộc huyện Kiên Giang; Hỏa thạch dữ, Luân dữ, Xưởng Dữ, Tranh Dữ, Phú Quốc dữ, Thổ Châu Dữ [Hòn Son], Kích Sơn đều thuộc huyện Hà Châu. Kích Sơn nguyên tên là hòn Chông. Lại nữa, các xã thôn ở đảo Phú Quốc trước thuộc tổng Quảng Xuyên, huyện Long Xuyên, nay đổi thuộc Hà Châu. Vậy xin nhân tên đất, gọi là tổng Phú Quốc, vua chuẩn y lời tâu”.

Việc phân chia và quản lý đơn vị lãnh thổ, dân cư đi liền với việc điều tra nghiên cứu, vẽ bàn đồ và hải trình đường biển của các vua Nguyễn. Việc phát hiện Xiêm La Quốc lộ trình tập lục và Hải trình chí lược của Phan Huy Chú… cho thấy, về cơ bản, chính quyền nhà Nguyễn đã nắm được thông tin về điều kiện địa lý tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, dân cư và hoạt động kinh tế trong vùng biển đảo này.

Trong suốt hơn 50 năm, chiến tranh tại vùng Hà Tiên xảy ra liên miên. Sau mỗi lần như vậy, chính quyền nhà Nguyễn cử người xây việc xây dựng lại các pháo đài, chốt canh ở vùng cửa biển và trên đảo. Hệ thống ven bờ biển gồm lũy Thị Vạn, các pháo đài Kim Dữ, pháo đài Phú An, các bảo Lô Khê, Giang Thành, Tiên Thới, Đàm Chiết thuộc huyện Hà Châu; huyện Kiên Giang thì có cửa tấn Kiên Giang, cửa tấn Đại Môn, Hoàng Giang, Hiệp Phố… Đặc biệt, trên đảo Phú Quốc, Minh Mạng cho xây dựng hai thành Phú Quốc (năm 1833) và Hàm Ninh (năm 1838) với quy mô lớn, được trang bị vũ khí và có suất đội cùng vài chục biền binh.

Để đảm bảo vững chắc công cuộc bảo vệ vùng biển đảo này, nhà Nguyễn thành lập các đội Phú Cường ở Phú Quốc để bảo vệ đảo, làm nhiệm vụ tuần tra và 5 các đội khác nhằm khai thác một số tài nguyên trên đảo. Đặc biệt, Minh Mạng nhiều lần chỉ dụ những đợt tập dợt cho nhân dân Phú Quốc về mặt quân sự để người dân tự bảo vệ mình trước giặc biển.

Hệ thống lũy Giang Thành, sông Vĩnh Tế, các pháo đài Kim Dữ, Hòn Tre… cùng đồn Phú Quốc và Hàm Ninh… tạo thành một hệ thống phòng thủ đất liền – hải đảo. Điều này cho thấy, tầm nhìn của người đứng đầu và một bộ phận quan lại của chính quyền cai trị thời đó. Sự kết hợp của hệ thống phòng thủ và sức mạnh của thủy quân đã giúp nhà Nguyễn đánh bại tất cả các cuộc tấn công của hải tặc, đảm bảo cho các thuyền buôn và đời sống của người dân vùng biển, ven biển và trên các đảo vào năm 1805, 1817, 1822, 1825, 1828, 1830, 1837… Hệ thống phòng thủ biển đảo cũng góp phần không nhỏ trong công cuộc chống Xiêm thành công và giành ảnh hưởng lớn trên đất Chân Lạp. Đỉnh điểm là việc thành lập Trấn Tây thành và tiến hành điều tra vùng đất ngoài biên giới này.

Quá trình xác lập chủ quyền đi liền với công cuộc khai thác các vùng biển đảo Tây Nam trong vịnh Thái Lan. Hai quá trình này diễn ra song song và có sự tương hỗ lẫn nhau. Chính quá trình khai thác là hình thức khẳng định chủ quyền hiệu quả nhưng chính việc xây dựng các đơn vị hành chính và quân đội đã giúp người dân có được sự đảm bảo, bảo vệ những thành quả khai thác tốt nhất. Đối với một khu vực thường xuyên có chiến tranh, thì việc chính quyền nhà Nguyễn xác lập được chủ quyền, ổn định dân cư không chỉ có ý nghĩa lớn đối với việc thực thi chủ quyền biển đảo ở Tây Nam.

Trong giai đoạn đầu của công cuộc này, người dân đến trước, chính quyền đến sau. Trong giai đoạn sau, khi chính quyền thành lập các đơn vị hành chính, xây dựng đồn lũy bảo vệ thì nhân dân đến càng đông, quá trình khai thác diễn ra mạnh mẽ hơn. Chính sự kết hợp giữa chính quyền và nhân dân đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, đảm bảo cho công cuộc xác lập và thực thi chủ quyền biển đảo đạt hiểu quả cao nhất.

Do có một lực lượng thủy quân hùng mạnh, triều đình nhà Nguyễn đã thực hiện nhiều hoạt động xác lập, thực thi chủ quyền một cách hiệu quả đối với các vùng biển đảo phía Nam đất nước. Điều này đã được ghi chép lại trong các Châu bản và các tư liệu khác của triều đình nhà Nguyễn.

BDN

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Giá như ông cha ta đừng “cứng đầu”

Giá như ông cha ta đừng “cứng đầu”

Kỹ sư Đoàn Xuân Tuấn

Gửi cho BBC từ Portsmouth, Anh quốc

Lãnh đạo ĐCS Trung Quốc, Chủ tịch Tập Cận Bình tiếp Tổng bí thư Đảng CSVN tại Bắc Kinh đầu năm nay.

Mới đây Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam trong một bài diễn văn gần bốn ngàn từ được truyền thông nhà nước Việt Nam loan tải, nói: “Thời đại Hồ Chí Minh là một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam”.

Tôi không tin rằng có lẽ vì ban thư ký của ông phải chuẩn bị một văn bản dài dòng đã bỏ sót ba từ quan trọng như trong câu sau: Thời đại Hồ Chí Minh là một thời đại rực rỡ nhất về độ “thiếu dũng khí” trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

Thực thế, tôi cho rằng đọc lại sử Việt qua suốt các đời Ngô, Lý, Trần, Lê, Nguyễn… ai là người Việt Nam mà lại không thấy xúc động, không tự hào cho cái tinh thần bất khuất của cha ông tổ tiên chúng ta?

Ừ thì cho rằng “không thể chọn láng giềng”. Cha ông chúng ta cũng cho như thế. Ừ thì cho rằng “Trung Quốc quá lớn, quá mạnh”. Thời cha ông chúng ta cũng như thế. Ừ thì cho rằng “hoà hiếu là điều nên làm, chiến tranh chỉ khổ dân”. Cha ông chúng ta cũng biết rằng vậy.

Không chịu tin

Thế nhưng, bài diễn văn và quan điểm của ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phải chăng muốn để người dân Việt Nam tin tưởng và liên hệ tới những điều sau đây.

Rằng nhờ bài viết của ông, ta mới thấy “tiếc làm sao” cho cái thời xa xưa, bởi vì giá như Ngô Quyền đừng làm khổ dân, đánh trận Bạch Đằng chống nhà Hán. Lê Đại Hành, Lý Thường Kiệt đừng đánh bại nhà Tống, Trần Hưng Đạo đừng 3 lần chiến thắng quân Nguyên Mông, Lê Lợi đừng khởi nghĩa chống lại nhà Minh… thì bây giờ đất nước chúng ta đã chẳng trải dài “từ mũi Cà mau lên đến Hắc Long Giang” giáp giới với nước Nga? Ta sẽ sánh vai cùng Tây Tạng, Tân Cương, Đài Loan… chung một mái nhà?

Hay nhờ quan điểm của ông Trọng mà ta “vỡ ra rằng” ôi “giá như ông cha ta đừng cứng đầu” thì “hay” biết bao? Rồi giá gì “đừng có” một Trần Quốc Tuấn với câu “Bệ hạ muốn hàng thì xin hãy chém đầu tôi trước đã”, hoặc “đừng có” một Trần Bình Trọng “ta thà làm ma nước Nam, còn hơn làm Vương đất Bắc” thì nay có lẽ dân tộc ta cùng đứng chung hàng với quốc gia “tàu lạ” thứ hai thế giới, đang ganh đua với Mỹ?

Song ai nói gì thì nói, chứ có thể “tôi nhất quyết” bưng mắt, bịt tai không nghe theo những dư luận khi họ nói rằng: “Thời đại Hồ Chí Minh đã để lại một di sản, đã sản sinh ra một giai cấp thống trị thiếu dũng khí trước kẻ cường quyền Bắc Triều, một sự “hèn yếu, sợ sệt” đến độ không tả nổi.

“Rằng khi người anh em cùng trứng cùng bọc trước đây (Việt Nam Cộng Hòa) bị kẻ thù ấy cướp mất Hoàng Sa trong tay, thì chế độ ấy lại viết văn tự như thể muốn bàn giao, hợp thức hoá cho kẻ cướp. Rồi thì hiện nay, khi ngư dân liên tiếp bị đánh đắm, đâm thủng tàu, cầm tù… thì nhà nước ấy, đảng ấy, quân đội ấy, truyền thông nhà nước xứ ấy lại không dám gọi mặt chỉ tên, chỉ thỏ thẻ “tàu lạ”.

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, tướng Phùng Quang Thanh nhận “bình gốm” từ tay đồng nhiệm, tướng Thường Vạn Toàn bên phía Trung Quốc.

“Rằng khi nước “lạ” đưa giàn khoan vào nhà mình, thay vì hưởng ứng cái tinh thần Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng của người dân để chống lại, để tạo thái độ với kẻ xâm lấn, chế độ này lại bắt bớ, đánh đập, tù đày chính người dân mình, ra sức bịt miệng họ”.

Đại tướng quân

Không! Tôi cũng sẽ “nhất quyết chưa nghe” những lời phê phán ấy trong quần chúng, dư luận Việt Nam trong và ngoài nước đâu, nhất là khi có những luồng quan điểm trên dư luận tiếp tục chỉ ra như sau rằng:

“Ông Trọng đã thiếu dũng khí, khi vào những lúc đất nước gặp nguy nan, kẻ thù kéo giàn khoan vào lãnh hải, dương đông, kích tây, chiếm đảo, xây căn cứ, chèn ép ngư dân Việt Nam, thì chính ông Tổng bí thư, người đại diện cao nhất của ‘thời đại rực rỡ, hoàng kim’ nhất của dân tộc lại khăn gói sang nước “bạn” để tiếp tục nâng niu 16 chữ vàng, “duy trì đại cục”.

“Hay khi ông Bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh năm nay ôm bình quý từ người đồng nhiệm Trung Quốc, kẻ đang cử các lực lượng hung hăng, lấn lướt hiếp đáp dân ta trên Biển.

“Phải chăng nhận cái bình ấy vì chính ông từ lâu đã nhất trí rằng sẽ không ném “chuột” vì sợ vỡ bình?

“Mà hình như cái bình ấy có cả vị thế quyền lực, chức quyền, kinh tài của chính những nhóm lợi ích nào đó đang theo đóm (Trung Quốc) ăn tàn”?

“Làm sao mà một Đại tướng quân thống lãnh thiên binh, vạn mã của cả quốc gia mà lại coi kẻ thù xâm chiếm, đe nẹt đất nước, bức hại dân mình với “dã tâm không suy suyển” như thế làm người “anh em, hàng xóm” tốt và “môi hở răng lạnh” được? Mà “đại cục vẫn tốt” như ông Thanh tuyên bố ở Shangri-La năm ngoái tại Singpore là đại cục nào, vẫn những dòng dư luận đặt câu hỏi”.

Thế nhưng ai nói gì, chê bai ông Phùng Quang Thanh tới đâu, tôi cũng “nhất mực không tin đâu nhé”.

Tể tướng đầu triều

Khi Thủ tướng Việt Nam ông Nguyễn Tấn Dũng đi thăm Bồ Đào Nha mới đây, ông cũng “ra lời kêu gọi” cộng đồng quốc tế chống lại (ai đó) trên biển Đông? Đọc toàn văn bài báo tường thuật lời kêu gọi của ông, ta không tìm thấy tên của Trung Quốc dù chỉ một lần:

Như ông nói: “Cộng đồng quốc tế cần tiếp tục có tiếng nói công lý mạnh mẽ yêu cầu chấm dứt ngay các hoạt động phi pháp… (ba chấm lửng)” Ta đặt câu hỏi ở đây “yêu cầu là yêu cầu ai chấm dứt? Yêu cầu… (lại ba chấm lửng nữa) biển Đông là thế nào?

Sao Tể tướng đầu Triều mà lại không dám gọi thẳng tên kẻ thù mà người dân thường, từ phụ lão đầu bạc, tới trẻ lên ba ở trong nước cũng biết rõ mồn một ra?

Và ta có thể liên hệ lập trường này để nhìn sang Phi-luật-tân, sang Mã Lai xem họ ứng xử, nói năng thế nào? Hóa ra họ rất thẳng thắn, mạnh mẽ. Họ không chỉ chỉ mặt, gọi tên kẻ thù, mà còn dám kiện chúng nữa.

Mà họ có vẻ cũng là “những nước nhỏ”, thậm chí, nếu không nhầm, thì chưa hề một lần đánh thắng Trung Hoa trong suốt chiều dài lịch sử, làm sao như cha ông chúng ta (Việt Nam).

Dư luận đặt nhiều dấu hỏi về thái độ, ứng xử của giới lãnh đạo cao cấp của Việt Nam trước các hành vi của Trung Quốc trên Biển Đông, theo tác giả.

Và dư luận đặt vấn đề vậy mà họ (Philippines) dám đưa Trung Quốc ra tòa án quốc tế bất chấp mọi phản đối, đe dọa từ Bắc Kinh. Họ không ngần ngại chỉ thẳng tên cường quốc bá quyền này mỗi khi tàu Trung Quốc xâm phạm lãnh hải hay đe dọa biển đảo của họ.

Nhưng kể cả khi ấy, khi dư luận có chê trách ông Thủ tướng như thế đi nữa, thì tôi cũng “chưa chắc đã thông”, làm sao mà một Thủ tướng quyền cao, chức trọng, đường đường là một trong các lãnh đạo hàng đầu quốc gia lại vừa “sợ giặc”, mà lại vẫn có thể được “toàn đảng, toàn dân” ủng hộ, tín nhiệm cho ngồi trên ghế Tể tướng lâu đến thế được?

Giao lưu, kinh nghiệm?

Lại nữa, khi ông Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh đi sứ ở Bắc Kinh trong tháng Sáu này, cũng vẫn diễn ra cái màn “đấu dịu”:

“Hai bên nhất trí duy trì các chuyến thăm, tiếp xúc thường xuyên giữa lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước; triển khai hiệu quả Kế hoạch hợp tác giữa hai Đảng giai đoạn 2016 – 2020; tổ chức tốt một số hoạt động giao lưu hữu nghị giữa nhân dân và thanh niên hai nước trong năm 2015”.

Sao ông Minh không gợi ý với Trung Quốc là nên chăng có cuộc “giao hữu” về “bóng đá nước hay đua thuyền” giữa ngư dân Việt Nam và lực lượng hải giám Trung Quốc cho nó thêm phần đặc sắc?

Rồi khi lãnh đạo Bộ Công an Việt Nam họp với đại diện Ban An Ninh Trung Quốc tại Việt Nam cũng trong tháng này, báo chí Việt Nam loan tin nói:

“Bộ Công an Việt Nam và Bộ An ninh Trung Quốc cần phát huy những kết quả, thành tích đã đạt được; tăng cường hợp tác chặt chẽ hơn trong lĩnh vực hợp tác an ninh, chia sẻ kinh nghiệm công tác đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm trên lĩnh vực an ninh quốc gia như phòng, chống khủng bố, an ninh mạng, an ninh tôn giáo, dân tộc”.

“Kinh nghiệm gì” nếu không là trao đổi kinh nghiệm “đàn áp và khống chế” sự “phản kháng” của người dân? Hay là để báo cáo với người anh cả về chiến thuật mới dùng “công an giả dạng côn đồ” tấn công thường dân để dập tắt những người đối lập, mà lâu nay “đảng em” đã học được từ “đảng anh”?

Và khi ông Đinh Thế Huynh, trưởng ban Tuyên Giáo tuần này đi Thượng Hải dự “Hội thảo Lý luận lần thứ 11 giữa Đảng CSVN và Đảng CS Trung Quốc với chủ đề “Quản lý, phát triển xã hội – Kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc” và “giao lưu giữa hai ban Tuyên giáo và Tuyên truyền Trung ương hai Đảng”, dư luận đặt thêm dấu hỏi.

Họ hỏi rằng hai đảng này bàn bạc cái gì nếu không phải là hợp tác tuyên truyền “kinh nghiệm của dư luận viên”, của “trói tay báo chí, truyền thông”, của “đàn áp, bắt bớ, cầm tù” những ngòi bút, tiếng nói vì dân, vì nước và phản kháng chống lại “cường hào, ác bá, gian tế”?

“Trách cứ Tổ tiên”

Hình ảnh từ truyền thông quốc tế phản ánh việc Trung Quốc mở rộng, bê tông hóa và kiên cố hóa các khu vực lấn chiếm được tại biển Đông.

Dư luận tháng này cũng theo dõi kỹ khi Quốc hội Việt Nam, cơ quan lập pháp của một nước, dù có người bảo là Quốc hội “bù nhìn”, muốn thảo luận, chất vấn Chính phủ về tình hình Biển Đông thì người ta đã phải họp kín, không dám công khai cho toàn dân hay.

Thực thế, khi Đại biểu Quốc hội Lê Nam hỏi, tại sao hiện nay Trung Quốc xâm hại biển Đông còn nguy hiểm hơn vụ giàn khoan 981, mà báo cáo của Phó thủ tướng trước Quốc hội lại không đề cập?

Thì ông Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đáp: “Về biển Đông, Chính phủ đã có báo cáo đầy đủ với Quốc hội, tôi xin không nêu lại vấn đề này”.

Rồi vừa đây, tỉnh như Vĩnh Phúc đã dựa vào “tiền cứu đói” của Chính phủ vì “tỉnh còn nhiều hộ dân nghèo”, lại không ngần ngại bỏ hàng trăm tỷ xây đền thờ Khổng tử, quảng bá văn hóa Trung Hoa trong lúc nhiều trường học, bệnh viện, mọi dịch vụ công cộng đều thiếu, trẻ em có nơi phải đu dây qua suối… như chính truyền thông trong nước nói.

Rồi khi sự tồn vong của cả một dân tộc được đem ra đánh đổi cho sự tồn vong của một chế độ, của một đảng phái, khi sự “hèn nhát, luồn cúi”’ đã được thể hiện từ ngay những cấp cao nhất, từ những người đứng đầu guồng máy cai trị, thì chúng ta, những hậu sinh của cha ông, tổ tiên Lạc Hồng, không chịu khuất phục ngoại bang xưa kia trong suốt hơn ngàn năm chống đối kẻ xâm lâm phương Bắc, phải đặt câu hỏi “sự hy sinh của các người có ý nghĩa gì”?

Trở lại với bài phát biểu bốn nghìn từ của ông TBT Nguyễn Phú Trọng, chắc ông muốn người dân đọc xong, nghe xong thì sẽ “quay mặt lại với tiền nhân” để chê trách tổ tiên anh hùng của chúng ta rằng: “Nếu không có các vị, chúng tôi bây giờ hẳn đã hãnh diện làm công dân TQ và sẽ tự hào ra sao về những mẫu hạm Liêu Ninh, về tên lửa Đông Phong, về bác Mao, bác Đặng, bác Tập bất diệt”?

“Ôi dào, giá như ông cha ta đừng cứng đầu”!

Nhưng, lại nhưng, dù ai, dù dư luận có những bình phẩm như thế nào đi chăng nữa về các vị lãnh đạo sáng suốt của đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam, thì tôi vẫn sẽ “một mực, nhất quyết không nghe, không tin” đâu nhé!

Đ.X.T

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Kiểm soát việc tạo dựng quân đội của Trung Quốc ở biển Đông

Kiểm soát việc tạo dựng quân đội của Trung Quốc ở biển Đông

James A. Lyons & Richard Fisher

Người dịch: ĐT

Trung Quốc  chủ trương quên đi yêu cầu của chính quyền Obama đòi hỏi Trung Quốc dừng việc xây dựng cơ sở quân sự ở biển Đông. Đã đến lúcWashington đối mặt với 1 thực tế mới: Hoặc là dẫn dắt đi tới con đường “hòa bình được vũ trang” ở vùng này, hoặc là Trung Quốc  sẽ sớm khởi động 1 cuộc chiến tranh để trỗi dậy.

Điều đầu tiên, quan trọng là phải hiểu tại sao Trung Quốc  sẽ tiếp tục quên đi Washington như họ đã bác bỏ thẳng thừng trong 20 năm qua việc tìm kiếm con đường ngoại giao để tránh đối đầu về vùng hàng hải nhạy cảm này, mà ngày nay có tới 40% tàu bè thương mại thế giới đi qua.

Nói 1 cách đơn giản, đối với lãnh đạo cộng sản Trung Quốc, kiểm soát biển Đông là cốt lõi để bảo vệ đảo Hải Nam, được coi như là 1 cơ sở để từ đó họ chủ trương áp đặt sức mạnh quân sự và vũ trụ toàn cầu và 1 cơ sở được xem như là cốt yếu để đảm bảo sự sống còn của cai trị chính trị của mình.

Đã rồi, đảo Hải nam đã trở thành 1 cơ sở cho việc áp đặt sức mạnh hạt nhân từ các hạm đội tàu ngầm đang phát triển mạnh của Trung Quốc, được trang bị năng lượng hạt nhân và các tên lửa đạn đạo hạt nhân nguyên tử. Trong những năm cuối 1990, Trung Quốc  đã khởi động việc xây dựng ở đó 1 cơ sở ngầm mới để bảo vệ những tàu ngầm này. Hải Nam cũng sẽ là nơi đồn trú của 1 hay 2 tàu sân bay và các nhóm tàu đổ bộ tấn công. Những tiến triển này có thể được sử dụng để bảo vệ các tàu ngầm và để áp đặt ảnh hưởng quân sự của Trung Quốc  đến Trung đông và xa hơn nữa.

Từ năm 2016, 1 trung tâm mới về phóng tàu vũ trụ ở Hải nam sử dụng cho các tàu vũ trụ lớn của Trung Quốc  sẽ hỗ trợ cho tham vọng quân sự của Trung Quốc  trên quĩ đạo thấp của trái đất và trên mặt trăng. Phần lớn những vụ phóng này sẽ dễ rơi rụng khi bay qua vùng biển Đông, vì vậy quân giải phóng nhân dân Trung Quốc  đang quân sự hóa vùng này để cuối cùng kiểm soát tốt hơn.

Có thể sớm vào năm tới, Trung Quốc sẽ bắt đầu lập cơ sở mới cho khoảng 30 máy bay chiến đấu và liên đội tàu chiến ở bãi Chữ thập. Tương tự lực lượng lớn quân giải phóng Trung Quốc có thể lập tiếp những cơ sở mới đang được xây dựng ở bãi Subi và bãi Vành khăn – chỉ khoảng 134 hải lí từ Philippinesvà 800 hải lí từ lục địa Trung Quốc  và các luồng đường biển thương mại sôi động ở hào Palawan.

Không có nghi ngờ rằng Trung Quốc sẽ áp đặt kiểm soát quân sự khi họ ổn định và không bị thách thức. Trung Quốc đã sử dụng vũ lực chết người để chiếm Hoàng Sa từ miền Nam, Việt Nam vào 1974 và vào năm 1988 đã thảm sát bộ đội Việt Nam trên các bãi ở Trường Sa. Bắc kinh đã lợi dụng sự chùng xuống trong mối quan hệ Mỹ – Philippines để cướp bãi Vành khăn vào năm 1995 và sau đó đẩy các tàu Philippines  ra khỏi bãi chìm Scarborough vào 2013.

Từ cuối 2013, Trung Quốc  đã phái hàng trăm đội vận tải dân sự tới để xây các đảo và với sự hỗ trợ của quân giải phóng Trung Quốc , lực lượng này đã có thể được sử dụng để tấn công, quấy nhiễm các đảo do Philippines, Việt Nam và Đài Loan quản lí.

Việc tìm kiếm sự trỗi dậy của Trung Quốc , tuy nhiên, có thể trở thành 1 ngớ ngẩn lớn có tính chiến lược, nhưng chỉ khi Washington sửa lại sai lầm của các chính quyền trước đây về việc coi nhẹ an ninh ở biển Đông trong tư cách là vấn đề lợi ích của nước Mỹ. Sẽ là trung tâm cho các hoạt động của Hải quân và cả không quân Mỹ để duy trì sự ra vào không bị hạn chế và tự do hàng hải ở trong vùng hải phận và không phận quốc tế đã được xác nhận 1 cách rõ ràng này. Trong 30 năm, các quan chức Mỹ đã từ chối việc hợp pháp hóa tham vọng của Trung Quốc, 1 phần vì chiến lược “cường độ thấp” của Trung Quốc.

Tuy nhiên chưa phải là chậm cho Washington để vô hiệu hóa tham vọng của Trung Quốc ở biển Đông và kìm hãm nghiêm túc tham vọng toàn cầu của Trung Quốc.

Kế hoạch thật đơn giản: Bàn bạc việc với Philippines để xây dựng những cơ sở mới khống chế Palawan và sau đó điều và chuyển các phương tiện để phá hủy các cơ sở đảo mới xây dựng của Trung Quốc nếu họ sử dụng chúng. Như là 1 tiền tuyến bảo vệ, Manila và Washington có thể xây 3 cơ sở đảo mới được trang bị tên lửa ở gần Palawan, Visayas và Luzon.

Sau đó, Washington nên điều và chuyển tới Philippines nhiều phi đội máy bay chiến đấu đa công dụng. Một hiệp ước thuê-mượn nên được luật hóa để thuận tiện cho việc chuyển giao này. Nhưng thiết yếu hơn là sự phát triển nhanh và điều chuyển nhanh 1 phiên bản tầm xa của tên lửa đạn đạo tầm ngắnLockheed-Martin được trang bị các đầu đạn xuyên sâu và nhiên liệu nổ không trung. Khoảng 300 tên lửa loại này có thể phá hủy lập tức các cơ sở đảo mới của Trung Quốc  nếu họ sử dụng làm sức mạnh cho mình.

Đáp lại, Trung Quốc có thể được kỳ vọng đe dọa xung đột hạt nhân. Đây là điều mà tổng thống Obama nên đảo ngược quyết định được tư vấn kém của mình vào năm 2010 về việc hủy bỏ tên lửa hạt nhân chiến thuật an ninh của Mỹ và nhanh chóng điều động 1 sự thay thế. Những tên lửa hiện nay nên được lập tức phục hồi trong lực lượng tàu ngầm. Điều này có thể là sức phá hủy đáng tin tưởng đối với Trung Quốc và Bắc Triều Tiên.

Chỉ khi những tham vọng quân sự toàn cầu và trong vùng của họ được đẩy lùi bởi mức lực lượng này, thì Bắc Kinh sẽ bị nhụt chí trong việc áp đặt trỗi dậy quân sự và trở lại các giải pháp phi quân sự, mà theo đó có rất nhiều lựa chọn. Kế hoạch hòa bình cuối cùng được đưa ra là vào ngày 25 tháng 5 khi tổng thống Đài Loan Mã Anh Cửu gợi ý việc cùng gác lại các đòi hỏi chủ quyền để cùng nhau phát triển kinh tế.

Trung Quốc  đã chứng tỏ rằng họ coi chiến tranh là để đạt các mục tiêu của mình ở biển Đông. Chỉ khi họ đúc kết ra rằng, họ không thể thắng 1 cuộc chiến tranh như vậy, khi đó Bắc kinh mới xem xét đến các giải pháp khác. Đối với Washington, các nước trong vùng Đông-Nam-Á, Nhật Bản, và Đài Loan, việc tạo lập các điều kiện cho 1 “hòa bình được vũ trang” sẽ mang lại các chọn lựa tốt nhất thay vì chiến tranh.

Về tác giả: James A. Lyons, 1 sỹ quan cao cấp hải quân Mỹ đã nghỉ hưu, vốn là 1 tổng tư lệnh của Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ và Đại diện cao cấp của quân đội Mỹ tại Liên hợp quốc.

Richard Fisher là Hội viên cao cấp của Trung tâm Chiến lược và Đánh giá  Quốc tế (IASC)

http://www.washingtontimes.com/news/2015/jun/14/james-lyons-richard-fisher-checking-chinas-militar/

Dịch giả gửi BVN

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment