Daily Archives: July 21, 2015

ghĩ về chuyến đi Mỹ của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng

ghĩ về chuyến đi Mỹ của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng

Nguyễn Minh Cần (Danlambao) – …trong TƯ đảng, thân Tàu thì có và có nhiều, còn thân Mỹ thì chỉ là những lời nói vờ vịt, bóng bẩy để ve vãn, làm điệu vậy thôi. Rồi đây có thể cũng có người khoác tạm cái áo thân Mỹ để đánh lừa dư luận – vì họ thấy trên 70% dân chúng VN mong muốn có quan hệ tốt với Mỹ – nhưng thật lòng thì họ chẳng thân ai hết, ngoài cái “ghế” của họ. Cho nên cái lối chia hai phe rạch ròi thân Tàu, thân Mỹ trong ban lãnh đạo CSVN như vậy là không hợp với tình hình VN, dễ làm cho những người dân chủ có đối sách không sát thực tế. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào, những người dân chủ chúng ta cũng phải biết tận dụng mọi cơ hội, mọi kẽ hở của chế độ để đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền, tập hợp lực lượng, chờ thời cơ để giành thắng lợi quyết định…
*
Do những hành động ngày càng hung hăng của Trung Quốc (TQ) trên Thái Bình Dương nên nhiều năm gần đây, Hoa Kỳ (HK) đã chuyển trục sang châu Á-Thái Bình Dương cả về mặt quân sự, kinh tế, cả về mặt chính trị, ngoại giao. Và chính quyền Obama đã cố gắng mở rộng và củng cố quan hệ đối tác với các nước sẵn có quan hệ tốt với HK và cả với các nước tuy có quan hệ chặt chẽ với TQ nhưng lại bị TQ hiếp đáp trên Biển Đông, như VN, HK cũng hết sức lôi kéo nhằm tạo thế liên hoàn các nước để chống lại sự xâm lăng của TQ nhằm khống chế Thái Bình Dương. Chính vì thế tổng thống Barack Obama đã mời TBT ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng, một người rất bảo thủ, giáo điều, thường bênh Tàu chống Mỹ, sang Hoa Kỳ bàn việc. Tình thế của VN đang lúc rất khó khăn cả về mặt kinh tế, cả về mặt chính trị lại bị Trung Cộng lấn lướt trên Biển Đông, còn ở biên giới Tây Nam thì TQ lại lôi kéo, xúi giục “nước anh em” cũ của CSVN là Cam Bốt có thái độ không thân thiện với VN. Lời mời của Obama rất hợp thời và hợp ý ban lãnh đạo ĐCSVN, khi họ cảm thấy chỗ dựa TQ đang nguy ngập và đang muốn tìm chỗ dựa mới để cứu chế độ và đảng của họ, nên đã hân hoan nhận lời mời. Bản thân ông Trọng, tất nhiên, cũng rất lấy làm hãnh diện là TBT CSVN đầu tiên vinh dự được bước vào Nhà Trắng. Tổng thống HK đón tiếp trọng thị TBT Trọng ở Phòng Bầu dục, bất chấp sự phản đối của một số dân biểu quốc hội vì hồ sơ tồi tệ về nhân quyền của VN. Tuyên truyền của Hà Nội lại được dịp khoác lác là qua cuộc tiếp đón “lịch sử” đó tại Nhà Trắng, HK đã “công nhận chế độ chính trị của chúng ta”. Thực ra, điều này chẳng có gì quan trọng lắm, trước năm 1989, HK cũng đã từng công nhận chế độ chính trị của các nước CS cũ ở Đông Âu và Liên Xô (LX), đã từng chấp nhận vai trò lãnh đạo của các ĐCS trong các chế độ đó. Thậm chí năm 1983, tổng thống Reagan cũng đã từng tiếp thủ lĩnh Taliban ở Afghanistan tại Phòng Bầu dục Nhà Trắng cơ mà.
Kết quả cuộc gặp là tổng thống HK và tổng bí thư ĐCSVN đã ra Tuyên bố về Tầm nhìn chung trong đó cũng chỉ là những ghi nhận và hứa hẹn rất chung chưa có gì cụ thể. Chẳng hạn, HK ghi nhận “sự quan tâm của VN muốn đạt được quy chế thị trường”, hai nước “hứa hẹn tiếp tục thúc đẩy và bảo vệ bảo vệ quyền con người”, hai nước sẽ còn tiếp tục đàm phán về TPP nhất là những vấn đề về quyền lợi công nhân, v.v… Khi đọc nội dung “Tầm nhìn chung” ở đoạn nói về quyền con người và các quyền tự do cơ bản… thấy rõ rằng giữa tổng thống HK và người đứng đầu CSVN chưa đạt được sự đồng thuận nên chỉ đưa vào những câu chung chung như vậy để dành cho cuộc “mặc cả” còn tiếp tục sau này giữa hai bên. Trong “Tầm nhìn chung” chỉ có một điểm cụ thể nói về Trường đại học Fulbright Việt Nam (FUV). Tuy nhiên, đoạn nói về Biển Đông là đáng chú ý và có ý nghĩa thiết thực hơn cả: “Hai nước bày tỏ quan ngại về những diễn biến gần đây ở Biển Đông làm gia tăng căng thẳng, xói mòn lòng tin và đe dọa làm phương hại đến hòa bình, an ninh và ổn định” và “Hai nước nhấn mạnh sự cần thiết đề cao các quyền tự do hàng hải và hàng không được quốc tế công nhận; thương mại hợp pháp không hạn chế, an ninh và an toàn hàng hải; kiềm chế những hành động làm gia tăng căng thẳng; bảo đảm tất cả các hành động và hoạt động phải phù hợp với luật pháp quốc tế; phản đối việc ép buộc, hăm dọa, sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.” Người viết nghĩ rằng những câu này dường như chủ yếu là do gợi ý từ phía Hoa Kỳ, vì trước đây khi TQ cấm ngư dân VN đánh cá trong biển của VN, tịch thu ngư cụ và các mẻ cá đánh được của ngư dân VN, tấn công, đánh chìm tàu thuyền của ngư dân VN và đánh đập thậm tệ ngư dân ta, thì ông Trọng vẫn tuyên bố tỉnh bơ: “Quan hệ Trung-Việt chưa lúc nào tốt đẹp như lúc này”! Còn cách đây vài tháng, khi ông và phái đoàn “hùng hậu” của ông sang Bắc Kinh thì ông có hề nói một câu gì về Biển Đông tương tự như thế đâu? Thậm chí 19 ngày trước, cụ thể là ngày 18.6.2015, ông còn cho bộ trưởng ngoại giao của ông là Phạm Bình Minh ký bản Cam kết với bộ trưởng ngoại giao TQ “sẽ không có hành động làm phức tạp”… trên Biển Đông, trong lúc TQ đã và đang làm biết bao điều phức tạp trên Biển Đông.
Tuy nhiên, đáng chú ý nhất là những câu trả lời của TBT ĐCS trong buổi nói chuyện của ông tại Trung tâm nghiên cứu chiến lược quốc tế (CSIS) ở Washington DC, qua đó thể hiện rõ nhất bản chất xảo quyệt và dối trá, “nói dzậy nhưng không phải dzậy” của ông ta. Trả lời một học giả Mỹ, ông nói “VN sẽ duy trì tinh thần dân chủ hóa trong xã hội và chính trị”. Tinh thần dân chủ hóa ở đâu, hở ông Trọng? Ở các đồn công an hay ở các trại tù?! Trả lời câu hỏi khác của một nhà khoa học Mỹ: “Tình hình nhân quyền và tự do ngôn luận ở VN trong tương lai tới đây sẽ như thế nào, thưa TBT?”, TBT lại được dịp phét lác: “Tôi biết nhân quyền là vấn đề Mỹ rất quan tâm, đây cũng là vấn đề VN rất coi trọng. (!) Bảo đảm và cải thiện quyền công dân là ưu tiên cơ bản và chiến lược của chúng tôi. (!) Chúng tôi đã nỗ lực hết sức, nếu các bạn đến VN sẽ thấy quyền của các nhóm dân cư dễ bị tổn thương như người nghèo, các dân tộc thiểu số vùng sâu vùng xa, được quan tâm. (!) Người dân VN chưa bao giờ được sống trong bầu không khí dân chủ như hiện nay. (!) Hiến pháp VN có chương riêng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân, và đang dần dần được luật hóa…”. Ông ta lờ đi không thanh minh thanh ca gì về danh sách 150 tù nhân chính trị đang rục xác trong nhà tù CS mà Humain Rights Watch đã đưa ra và các tổ chức nhân quyền quốc tế đang đòi VN phải trả tự do, mà chỉ đưa ra lời dối láo trắng trợn: “Các vụ việc người bị bắt ở VN không phải do vấn đề dân tộc hay tôn giáo mà là vì họ vi phạm pháp luật.” Chúng tôi nhắc lại những điều đó để nói rằng chớ nên hy vọng sẽ có “những đột biến có tính lịch sử” về nhân quyền và tự do dân chủ sau chuyến đi này của ông Trọng. Mọi việc vẫn sẽ tiếp tục như trước đây: HK đòi thả một số tù nhân lương tâm, các nhà cầm quyền VN thả dăm ba người tượng trưng để đạt được những yêu cầu cụ thể về kinh tế hay an ninh, quốc phòng, rồi lại tiếp tục đàn áp bắt thêm một loạt người nữa để chờ cuộc “mặc cả” tiếp theo. Các tù nhân lương tâm lại vẫn là những món hàng trao đổi! Cũng rất có thể rồi đây, VN cũng sẽ được công nhận là nền kinh tế thị trường dù kinh tế quốc doanh vẫn còn là chủ đạo! Hay VN cũng sẽ được tham gia TPP dù công đoàn/nghiệp đoàn tự do chưa có… hay có nhưng không có thực chất. Hay VN sẽ được xóa bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương dù hồ sơ nhân quyền không tiến bộ mấy. Những điều đó thì chưa ai biết được, nhưng chắc chắn là cái thủ đoạn dối trá, lươn lẹo “muôn thuở” của CSVN sẽ được sử dụng hết cỡ! Người Mỹ rất thực dụng, họ nghĩ đến quyền lợi nước họ là chính, họ thực tâm bênh vực nhân quyền, quyền công nhân, quyền phụ nữ, quyền các dân tộc thiểu số… trong chừng mực nào có lợi cho đất nước họ… Cho nên các chiến sĩ dân chủ VN phải ra sức tận dụng sự ủng hộ của họ, nhưng đừng quá tin tưởng và ỷ lại vào họ! Những lời giả dối của ông Trọng tại CSIS báo hiệu cho chúng ta biết, sau chuyến đi này về mặt nhân quyền, tự do dân chủ sẽ chẳng có gì thay đổi lớn đâu, đừng hy vọng quá mà thất vọng. Vẫn luôn luôn phải tăng cường đấu tranh cho nhân quyền và dân chủ.
Khôi hài nhất là ông TBT dù cố giữ vẻ đạo mạo của một thức giả, nhưng có lần cũng bật ra cái “lú” cố hữu của mình, khi ông ta nói với giọng đạo đức giả trước cử tọa của CSIS: “Tôi mong chính quyền Hoa Kỳ quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống, công việc và học tập của người Việt Nam tại Hoa Kỳ, tạo điều kiện để họ hội nhập tốt và đóng góp tích cực cho sự phát triển của Hoa Kỳ và cho quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ.” Ngố đến thế thật là hết chỗ nói! Ông ta tưởng rằng cộng đồng người Việt chạy nạn CS rất cần đến sự quan tâm vờ vĩnh của TBT CS, và ông quên rằng trước kia chính thủ tướng CS Phạm Văn Đồng của ông đã từng phỉ báng những người chạy nạn CS là “bọn ma cô, đĩ điếm”. Và chính “bọn” (xin lỗi!) này nhờ thoát khỏi cái “thiên đường xã hội chủ nghĩa” của ĐCSVN và nhờ họ hội nhập rất tốt vào nền dân chủ của HK mà ngày nay đã thành đạt tuyệt vời về mọi lĩnh vực trên đất nước Mỹ, nên hằng năm họ đã gửi về cho dân nước VN xã hội chủ nghĩa một số tiền “viện trợ” rất lớn từ 8 đến 10 tỉ USD! Sự thành đạt của họ trên đất nước HK hoàn toàn không liên quan gì đến sự quan tâm vuốt đuôi của ông Trọng cả!
Tuy nhiên, cái “ngố” hết chỗ nói trên đây vẫn còn thua xa cái “ngố” này: báo chí loan tin, ngày 10.7.2015, tại thành phố New York, để biểu dương tinh thần quốc tế vô sản (đồng thời cũng biểu dương tình trạng xơ cứng tư duy thảm hại của ông), TBT ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng đã có cuộc gặp với ban lãnh đạo ĐCS Hoa Kỳ, một cái đảng bé tí tẹo trong một nước có 320 triệu dân, chẳng làm nên trò trống gì trên chính trường HK, chưa bao giờ được người dân Mỹ để ý đến. Thế mà, trước truyền thông quốc tế, ông Trọng đã bốc đồng tuyên bố: “Tin tưởng ĐCS HK sẽ tiếp tục phấn đấu không ngừng để làm tròn nhiệm vụ to lớn với tư cách là đảng tiên phong, điểm tựa chính trị của lực lượng công nhân và quần chúng lao động HK”. Ông hồ hởi “chúc mừng thành công của đại hội lần thứ 30 của ĐCS HK”, một đại hội mà chỉ duy nhất ông Trọng nhắc tới, chứ ngay cả người dân Mỹ cũng chẳng ai biết và truyền thông báo chí HK chẳng buồn nói đến.
Thẳng thắn mà nói thì chuyến đi Mỹ của TBT Trọng lần này chưa có kết quả gì rõ rệt để có thể gọi là “chuyến đi lịch sử” đã tạo ra “một bước ngoặt lịch sử”. Tuy nhiên, hy vọng rồi đây do tình thế bức bách, ban lãnh đạo CSVN có thể tiến thêm bước nữa gần với HK hơn. Có thể người Mỹ nghĩ rằng TBT Trọng là người lãnh đạo cao nhất, có quyền hành nhất trong ĐCS, nhưng thực ra ông Trọng là người cầm đầu ĐCS loại yếu trong số các TBT: từ hội nghị 6 TƯ đảng (10.2012) đến hội nghị 10 (1.2015), ông đã thất bại liên tiếp trước đối thủ chính của ông là “đồng chí X”. Vả lại, trong ĐCSVN, ông Trọng cũng chỉ là một người trong cái tập thể mười mấy người lãnh đạo, gọi là Bộ chính trị (BCT). Trước khi đi HK, cái tập thể đó đã định rõ cho ông nói cái gì, ứng xử như thế nào trong mỗi tình huống. Ông chỉ là một vai diễn trên sân khấu mà thôi. Còn sau chuyến viếng thăm, cái tập thể đó sẽ họp lại quyết định sẽ đối phó như thế nào với cái TPP, với quy chế kinh tế thị trường, v.v… Chắc dân ta còn nhớ, trước đây, hồi năm 2005, thủ tướng Phan Văn Khải, rồi 2007, chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, rồi 2008, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, rồi 2013, chủ tịch nước Trương Tấn Sang – những người lãnh đạo rất cao, rất có quyền lực trong hệ thống chính trị VN – cũng đã được tổng thống HK đón tiếp trọng thị tại Nhà Trắng ở Phòng Bầu dục, tất cả họ cũng đều hứa hẹn với tổng thống những điều tốt đẹp cho nhân quyền, cho tự do, dân chủ. Chủ tịch Sang cùng tổng thống Obama còn xác lập quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước HK và VN. Thế mà sau khi các vị đó trở về nước thì tình hình đàn áp các cuộc đấu tranh hòa bình của người dân để bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải, hải đảo của VN bị TQ xâm chiếm vẫn không bớt ác liệt, đàn áp các cuộc đấu tranh của dân oan đấu tranh chống cưỡng chế đất đai vẫn rất dã man, số người bị bắt đưa ra tòa án xử phi pháp vẫn rất đông… Thậm chí khi VN được vào Hội đồng Nhân quyền LHQ, đã ký Công ước chống tra tấn mà số người dân bị tra tấn đến chết ở các đồn công an vẫn tăng lên chứ không giảm, còn nói gì đến chuyện chấm dứt tra tấn! Có chút thay đổi chăng là vài người tù được thả ra sớm hơn một chút, thậm chí vừa thả họ ra, liền bắt họ phải ra nước ngoài sống lưu vong… Dân gian ta thường nói Cà cuống chết đến đít còn cay, nghĩa là một con người, một nhóm người nặng tính xảo quyệt, gian dối, bảo thủ, giáo điều… thì dù trong hoàn cảnh nào đi nữa họ vẫn giữ cái bản chất “cay” vốn có của họ. Cho nên đừng trông chờ BCT TƯ ĐCSVN sẽ dân chủ hóa, sẽ ban phát tự do, dân chủ cho ta, mà tự mình phải đấu tranh giành lấy những thứ quý báu vô ngần đó.
Cũng cần nhắc lại là VN xác lập quan hệ đối tác toàn diện với HK mới được hai năm thôi, trong lúc đó VN đã xác lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Nga và TQ lâu hơn. Hơn nữa với TQ, VN còn bị buộc chặt bằng sợi dây thòng lọng Thành Đô, bằng vòng kim cô 16 chữ vàng và 4 tốt, bằng vô số hiệp định và cam kết của những người đứng đầu đảng và nhà nước VN với TQ, bằng sự lũng đoạn của TQ đối với nền kinh tế VN, bằng các công trình xây dựng quan trọng khắp nước VN do TQ trúng thầu, bằng 300 ngàn hec-ta rừng đầu nguồn ở vùng biên giới VN trong tay TQ, bằng nhiều vị trí tập trung dân TQ (hay quân nằm vùng?) ở các nơi xung yếu trên đất nước VN, v.v… Cố nhiên, báo chí «lề đảng» thì cố thổi phồng chuyến đi HK của ông Trọng, cho đó “là chuyến đi lịch sử”, “là cột mốc đánh dấu 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ và đồng thời nâng cao sự hợp tác giữa hai nước lên tầm đối tác chiến lược” – sự thật thì chưa có thỏa thuận gì đặc biệt đáng gọi là cột mốc, hơn nữa, sau chuyến đi của ông Trọng quan hệ giữa VN và HK vẫn là «quan hệ đối tác toàn diện» như sau chuyến đi của chủ tịch Trương Tấn Sang, chứ đâu có phải là “đối tác chiến lược”? Có vài nhà báo «lề dân» cũng quá lạc quan cho rằng với chuyến đi của ông Trọng, VN đã xáp lại với HK và như thế sẽ chấp nhận từ bỏ chế độ độc tài đảng trị trong một tương lai gần; hay cho rằng sau chuyến đi của ông Trọng, VN sẽ rời khỏi TQ và liên kết với HK để chống lại TQ; thậm chí có người còn tiên đoán rồi đây quân Mỹ sẽ đến Cam Ranh, v.v… Những nhận định quá lạc quan này chỉ dựa trên lòng mong muốn của người phát biểu, chứ không phải trên thực tế khách quan. Tập đoàn cầm quyền CSVN đang lâm vào tình thế cực kỳ khó khăn cả về kinh tế lẫn chính trị, lại bị sức ép mạnh vì hành vi hung hăng xâm lấn của TQ, nên về sách lược họ phải tìm thêm chỗ dựa ở HK để cứu chế độ độc tài toàn trị của họ và đảng của họ, tức là cứu quyền lợi của họ và cứu bản thân họ, chứ đâu có phải để từ bỏ chế độ độc tài toàn trị. Cho nên nghĩ rằng họ sẽ chấp nhận từ bỏ chế độ độc tài đảng trị trong một tương lai gần là rất mơ hồ sẽ gây ra ảo tưởng cho những người đang đấu tranh cho tự do dân chủ và nhân quyền. Cho rằng sau chuyến đi của ông Trọng, VN sẽ rời khỏi TQ và liên kết với HK để chống lại TQ là chưa đánh giá hết mọi tình hình phức tạp trong mối quan hệ lâu đời giữa VN với Nga và TQ, chưa thấy hết những ràng buộc của CSVN với CSTQ mà chính những người cầm đầu ĐCSVN tự buộc vào, từ thời Hồ Chí Minh trước đây và đặc biệt từ thời Nguyễn Văn Linh cho đến Nguyễn Phú Trọng ngày nay, là chưa thấy hết cái tình thế khó khăn, lúng túng của tập đoàn cầm quyền CSVN trong lúc này, dù họ có muốn rời khỏi TQ, nhưng chưa thể rời ngay được. Theo chúng tôi nghĩ, CSVN xích lại gần HK nhiều hay ít, nhanh hay chậm chủ yếu tùy thuộc ở mức độ nguy khốn của CSVN và của CSTQ, vì chẳng ai lạ gì cái thói sống dựa và ăn bám cố hữu của lãnh đạo CSVN để tự cứu mình. Cho nên chúng ta cần có thái độ thực tế, không bi quan mà chẳng nên quá lạc quan để đánh giá đúng tình hình mà đẩy mạnh cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ nước ta theo đúng hướng để giành được thắng lợi.
Tờ Hoàn cầu Thời báo, một phó bản của tờ Nhân Dân nhật báo của ĐCSTQ đã đưa ra lời nhắc nhở và đe dọa VN: “Trong khi VN xem TQ như một mối đe dọa an ninh quốc gia của mình, thì VN cũng được hưởng lực kéo kinh tế từ TQ và cũng được sự hỗ trợ từ thể chế CS TQ.”… “Các mối quan hệ chặt chẽ hơn giữa VN và HK một phần nhắm vào TQ, và như vậy sẽ kéo theo những đòn đánh trả của TQ. Điều này sẽ tạo ra áp lực lên ba phía, nhưng trong trường hợp đó, VN có thể là kẻ phải chịu nhiều thiệt hại nhất.” Chúng ta không sợ những lời đe dọa của ĐCSTQ, nhưng chúng ta đừng để cái lạc quan tếu về chuyến đi Mỹ của ông Trọng làm rối đầu óc chúng ta. Dân ta bình tĩnh chờ những đòn «phản pháo» của TQ và sẽ có cơ hội được kiểm chứng thái độ của các quan chức cao cấp nhất của ĐCSVN đối với Bắc triều. Chỉ vài ngày sau chuyến đi Mỹ của TBT Trọng, thì một trong 7 người có quyền lực nhất ở TQ là ủy viên thường vụ BCT, phó thủ tướng Trung Cộng Trương Cao Lệ, đến VN từ ngày 16 đến 18.7. Gặp chủ tịch Trương Tấn Sang, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người ta lại ca bài “mối quan hệ truyền thống do Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh từng nuôi dưỡng là tài sản quý báu của hai đảng và nhân dân hai nước, vì quyền lợi cơ bản của hai nước cần phải thắt chặt mối quan hệ truyền thống này”… “hai đảng tiếp tục đưa quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Trung-Việt phát triển lành mạnh, ổn định, lâu dài”, nghĩa là không có gì thay đổi trong quan hệ Trung-Việt sau chuyến TBT ĐCSVN đi Mỹ về! Còn ông Trọng, sau khi gặp họ Trương, ông cũng gặp một số cử tri để khoe khoang về cuộc đối thoại “vượt mức yêu cầu” với tổng thống Mỹ, đồng thời ông nhấn mạnh: «Có ý kiến nói, chuyện quan hệ với Mỹ để chống TQ ở Biển Đông thì cũng chỉ là một cách suy diễn…”. Ý ông muốn nói: thực ra ông đi Mỹ nhưng không hề có ý muốn chống TQ, đó chỉ là sự suy diễn và hiểu lầm mà thôi. Ông còn nói thêm: “Rất hay là vừa đi Mỹ về, thì phó thủ tướng TQ cũng sang đây”! Ngầm ý: để TBT ĐCSVN có dịp thanh minh với ĐCSTQ về chuyến đi vừa rồi! Đấy, cái mà một số người gọi chuyến đi HK của ông Trọng là “chuyến đi lịch sử” đã tạo ra “một bước ngoặt lịch sử” là như thế đó!
Những người am hiểu thời cuộc đều biết từ rất lâu trước chuyến TBT ĐCSVN đi Mỹ, Trung Cộng đã tung ra độc chiêu mà trước đây họ đã dùng dưới thời Pol Pốt, nay đem dùng lại dưới thời thủ tướng Hun Sen là cố lôi kéo Cam Bốt (CB) về phía TQ, chia rẽ CB với VN, giúp đỡ về kinh tế, cung cấp vũ khí cho CB, xúi giục CB chống lại VN. Vấn đề biên giới giữa hai nước CB và VN nay lại xới lên. Vụ xô xát hôm 28.6.2015 ở vùng biên giới tỉnh Svay Rieng (CB) và tỉnh Long An (VN), cũng như việc một phái đoàn các tướng tá CB do phó thủ tướng, bộ trưởng quốc phòng CB Tea Banh dẫn đầu đến TQ, làm cho phía VN phải đề phòng. Rồi hàng loạt xe tăng, thiết giáp, khí tài VN được cấp tốc chuyển từ miền Bắc vào Nam từ hôm 13.7.2015… Tất cả những tin tức đó báo hiệu có thể sẽ xảy ra chuyện chẳng lành cho nhân dân cả hai nước CB và VN. Điều chắc chắn là những người dân chủ và các chiến sĩ nhân quyền VN kiên quyết phản đối một cuộc chiến tranh (nếu có) giữa CB và VN vì nó sẽ đẩy nhân dân hai nước rơi vào cạm bẫy chiến tranh của Trung Cộng và gây ra muôn vàn đau thương cho người dân CB và VN. Hơn nữa, chiến tranh là cơ hội tốt nhất cho tập đoàn thống trị CSVN bóp nghẹt tự do, dân chủ và nhân quyền của nhân dân. Chúng ta chủ trương đối thoại, đàm phán, tương nhượng để giải quyết một cách hòa bình mọi tranh chấp giữa CB và VN.
Một điều đáng chú ý là trước ngày TBT Nguyễn Phú Trọng đi Hoa Kỳ thì từ cuối tháng 6.2015, bỗng bặt tin bộ trưởng bộ quốc phòng VN, đại tướng Phùng Quang Thanh, một nhân vật đặc biệt thân Tàu trong BCT TƯ đảng. Tiếp đó đã có những trò che giấu khá lộ liễu, kín kín, hở hở về sự vắng bặt tin của tướng Thanh, sau đó Ban bảo vệ chăm sóc sức khỏe Trung ương đưa ra những thông tin mập mờ, mâu thuẫn nhau về bệnh tình của tướng Thanh. Rồi bỗng dưng sáng 3.7.2015, Cổng thông tin của Bộ quốc phòng đưa tin, tại Hà Nội, thực hiện các Quyết định của Thủ trưởng Bộ quốc phòng (thủ trưởng chứ không phải là bộ trưởng và cũng không ghi rõ tên ai là thủ trưởng), Bộ tư lệnh (BTL) thủ đô Hà Nội tổ chức hội nghị bàn giao nhiệm vụ Tư lệnh và Chính ủy BTL thủ đô Hà Nội. Sự thay đổi đột ngột những người đứng đầu BTL thủ đô Hà Nội trùng hợp với tin tức mập mờ về sự biến mất của tướng Thanh, làm một vài người nghĩ đến một cuộc đảo chính cung đình. Giả định này chắc là không đúng, vì khi một “đồng chí” nào đó – như “đồng chí X” chẳng hạn – đã nắm ưu thế trong ban lãnh đạo đảng thì cứ làm theo đúng điều lệ đảng, họp hội nghị TƯ hay đại hội đảng đàng hoàng để đa số quyết định sự thay đổi là nhẹ nhàng, êm đẹp nhất, việc gì phải làm đảo chính cho mang tiếng? Nhưng những chuyện nói trên cho thấy cuộc đấu đá nội bộ trên thượng tầng lãnh đạo CSVN đã lên đến cao điểm, báo hiệu có một cuộc “đổi kíp”, “đổi ca” sắp tới. “Kíp” mới này sẽ nắm lấy toàn bộ quyền lực và tiếp tục thống trị đất nước ta với một chính sách về cơ bản vẫn như cũ. Còn về mặt đối ngoại, họ sẽ khoác áo thân Mỹ và thỉnh thoảng nói vài câu có vẻ chống Tàu để HK cho VN vào TPP, công nhận nền kinh tế thị trường và bỏ cấm vận vũ khí sát thương… dù hồ sơ nhân quyền của VN vẫn lem nhem như trước. Còn HK rất thực dụng, họ quan tâm chủ yếu quyền lợi của nước họ, các chế độ độc tài dù khét tiếng xưa nay họ cũng cứ chơi như thường, miễn là có lợi cho họ. Cho nên nhân dân ta cần thấy rõ việc đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền là công việc của mình, dân mình phải lo, nhất thiết không thể trông cậy vào ban lãnh đạo CSVN này được, mà hy vọng vào HK thì cũng chỉ phần nào thôi, vì HK có giúp cho ta thì cũng chỉ trong chừng mực nào đó, và như thế cũng đã tốt cho ta lắm rồi. Còn việc CSVN chống TQ thì chúng ta cũng đừng nên nghĩ là “kíp” mới lên sẽ làm mạnh đâu, mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Nga và TQ còn chặt lắm, họ không thể dễ dàng dứt ra, đặc biệt với TQ thì còn biết bao thứ ràng buộc, nào là mật ước Thành Đô, nào là 16 chữ vàng và 4 tốt, nào là vô số hiệp định và cam kết từ xưa đến nay, nào là kinh tế VN và các công trình xây dựng đều phụ thuộc vào TQ, v.v. và v.v… Trong thời gian này, CSVN ve vãn HK thì cũng chỉ hời hợt thôi vì các ông “bạn vàng” đối tác chiến lược toàn diện của VN là TQ và Nga cũng không dễ dàng “buông áo em ra” để em VN chạy theo Mỹ mà họ coi là kẻ thù của họ… Cho nên chúng ta cần phải khách quan đánh giá đúng tình hình, không nên lạc quan quá và phải luôn luôn cảnh giác cả với «kíp» mới lên, họ đều là những kẻ bảo vệ chế độ độc tài toàn trị vì đó là quyền lợi thiết thân của họ và gia đình họ. Một số nhà phân tích nghĩ rằng trong ban lãnh đạo ĐCSVN có phe cấp tiến và phe bảo thủ. Theo chúng tôi, điều đó không đúng với thực tế. Đúng là trong TƯ đảng có rất nhiều mâu thuẫn, nhiều hục hặc, nhiều đấu đá về mặt quyền lợi cá nhân, chứ không phải về ý thức hệ, về lý thuyết, về chiến lược, về chính sách, tất cả họ đều nhất trí với nhau ở một điểm cơ bản là duy trì đến cùng chế độ độc tài toàn trị, có khác biệt chăng thì chỉ trên những tiểu tiết, như cách đối phó đối với các nước lớn thế nào để có lợi cho chế độ của họ. Thử hỏi hàng chục năm nay, có ai trong ban lãnh đạo CSVN dám nói một điều gì về cải cách chế độ chính trị đâu mà bảo là có phe cấp tiến trong đảng? So với tình hình Liên Xô hồi nửa cuối thập niên 80 thế kỷ trước thì rõ ràng là trong ĐCSLX cũng như trong TƯ đảng hồi đó đã có phe cấp tiến rõ rệt, họ có cả một «Cương lĩnh dân chủ» nổi tiếng do một cựu ủy viên BCT TƯ, vài ủy viên TƯ và nhiều cán bộ cao cấp của đảng soạn thảo và công bố, còn ở VN thì đã có gì đâu mà gọi là phe cấp tiến? Cũng có nhiều người cho rằng trong ban lãnh đạo CSVN có phe thân Tàu và phe thân Mỹ và liệt thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào phe thân Mỹ. Thử hỏi với giọng lưỡi chống Mỹ cực kỳ thô lỗ của ông thủ tướng đã thốt lên trong dịp 30 tháng 4 năm nay mà có thể gọi ông ta là thân Mỹ được ư? Thử hỏi một ông thủ tướng trong suốt nhiệm kỳ của ông đã có biết bao quyết định có lợi cho TQ bất lợi cho VN, như bô-xít ở Tây Nguyên, như cho TQ trúng thầu các công trình xây dựng quan trọng khắp nước ta, như để các tỉnh giáp biên giới cho Trung Cộng thuê dài hạn 300 ngàn hec-ta rừng đầu nguồn trong 50 năm, v.v… là người không thân Tàu mà thân Mỹ được chăng? Thực ra, trong TƯ đảng, thân Tàu thì có và có nhiều, còn thân Mỹ thì chỉ là những lời nói vờ vịt, bóng bẩy để ve vãn, làm điệu vậy thôi. Rồi đây có thể cũng có người khoác tạm cái áo thân Mỹ để đánh lừa dư luận – vì họ thấy trên 70% dân chúng VN mong muốn có quan hệ tốt với Mỹ – nhưng thật lòng thì họ chẳng thân ai hết, ngoài cái “ghế” của họ. Cho nên cái lối chia hai phe rạch ròi thân Tàu, thân Mỹ trong ban lãnh đạo CSVN như vậy là không hợp với tình hình VN, dễ làm cho những người dân chủ có đối sách không sát thực tế. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào, những người dân chủ chúng ta cũng phải biết tận dụng mọi cơ hội, mọi kẽ hở của chế độ để đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền, tập hợp lực lượng, chờ thời cơ để giành thắng lợi quyết định.
20.7.2015
Advertisements
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Tin đồn

Tin đồn

Trong hơn một tuần qua, ở Việt Nam đã rộ lên một số tin đồn rất đáng chú ý. Đầu tiên là tin về một vị bộ trưởng Quốc phòng đi công tác và bị ám sát, sau đó là tin đồn về việc phe thân Mỹ đã khống chế được cục diện ở Việt nam, và đang hướng tới Mỹ như một đối tác chiến lược toàn diện và duy nhất.

Chúng ta cần phải hiểu, tin đồn là những thông tin được nhiều người nói tới, nhưng chưa được kiểm chứng. Đối với các xã hội cộng sản, độc tài toàn trị, đây là môi trường tuyệt vời cho vô số tin đồn bởi vì bản chất của chế độ cộng sản là dối trá, bịp bợm. Đi sâu vào phân tích những tin đồn đã nêu ở trên, chúng ta có thể hiểu thêm về môi trường xã hội Việt Nam cũng như xu hướng chính trị đất nước khi thời điểm đại hội XII đảng cộng sản cận kề.

Trước hết, tin đồn xuất hiện bởi vì người ta không có (thông tin) và không tin vào những thông tin chính thống và chính thức. Việc người dân không có thông tin xuất phát từ sự chủ động im lặng và giữ bí mật của nhà cầm quyền Việt Nam. Những màn đấu đá nội bộ, tranh giành quyền lực, những âm mưu triệt hạ lẫn nhau, những tiêu cực ảnh hưởng tới hình ảnh chế độ…đều là những bí mật và cần được bưng bít.

Chính trong môi trường bưng bít thông tin và bối cảnh đấu đá quyết liệt trước mỗi kỳ đại hội, tin đồn ông Phùng Quang Thanh bị ám sát khi đi công tác ở Pháp đã xuất hiện.

Đi xa hơn nữa, còn có những tin đồn về việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã không chế được cục diện ở Việt Nam, tức là đã vô hiệu hóa được phe thân Trung Quốc, mà nhiều người cho rằng, tổng bí thư và bộ trưởng quốc phòng là những người đại diện.

Nếu trong môi trường thông tin tự do, có tự do ngôn luận và tự do báo chí, thì những tin đồn như thế này chỉ tồn tại được một thời gian cực ngắn, trước khi bị những thông tin chính xác cập nhật trên mặt báo. Hoặc, nếu như tin đồn này là bịa đặt, thì với ảnh hưởng to lớn của nó, nhà cầm quyền Việt Nam có thể giải tỏa nhanh chóng và đáp trả tức thời những thông tin bịa đặt một cách vô cùng đơn giản. Đó là cho phép báo chí gặp gỡ và đưa tin sống động về bộ trưởng quốc phòng.

Như vậy, vừa có thể khẳng định tin đồn đó là bịa đặt, vừa khiến cho nhân dân “nhận rõ” bộ mặt thế lực thù địch, bịa đặt thông tin. Tuy nhiên, phản ứng của nhà cầm quyền Việt nam lại như giúp cho sự khẳng định của tin đồn, hoặc chí ít là kéo dài sự nghi ngờ của tin đồn.

Một khía cạnh của tin đồn, đó là tính lo-gic của tin đồn. Nếu như những tin đồn không hề có tính lo-gic (ví dụ nói ông Phùng Quang Thanh biết bay) thì nó không thể tồn tại. Tính lo-gic càng cao, khả năng xác thực của tin đồn càng lớn.

Sự kiện ông Phùng Quang Thanh không có mặt trong Đại hội thi đua toàn quân, rất quan trọng năm năm tổ chức một lần, và những thông tin hết sức mơ hồ và mâu thuẫn của báo chí chính thống đưa ra càng củng cố thêm khả năng tin đồn là sự thật.

Xu hướng thân Mỹ trong điều kiện Trung Quốc ngày càng ngang ngược và o ép cùng lúc với sự cạn kiệt nguồn lực của chế độ không phải là điều quá phi thực tế. Thậm chí, đó là lối thoát duy nhất nếu những người lãnh đạo cộng sản Việt nam còn tỉnh táo.

Tin đồn còn phản ánh một phần mong muốn của người dân. Thật khắc nghiệt khi chứng kiến sự hả hê của người dân khi nghe tin đồn về vụ ám sát ảnh hưởng tới tính mạng của ông bộ trưởng quốc phòng. Sự thể hiện quan điểm của bộ trưởng quốc phòng về thái độ đối với Trung quốc chính là nguyên nhân quan trọng dẫn tới phản ứng của người dân.

Xu hướng thân Mỹ cũng là mong muốn của người dân cùng với hy vọng về một sự chuyển đổi thể chế chính trị một cách ôn hòa và êm đẹp. Chính những mong muốn này, và việc im lặng hoặc cố tình làm nhiễu thông tin từ phía nhà cầm quyền Việt nam đã nuôi dưỡng và tạo ra sức sống dai dẳng của tin đồn.

Tuy nhiên, tin đồn phần lớn được xác thực là đúng hoặc bịa đặt chỉ sau một khoảng thời gian nhất định. Tính kết cục, hay ngã ngũ của tin đồn trong môi trường ở Việt nam không hoàn toàn được rõ ràng, minh bạch. Ví dụ, vụ ông Nguyễn Bá Thanh, có kết cục hoàn toàn đúng như tin đồn là cái chết của ông ta, nhưng kết luận về sự ám sát bằng phóng xạ vẫn còn bỏ ngỏ.

Chính vì vậy, khả năng về một cái chết của ông bộ trưởng quốc phòng trong thời gian tới có thể xảy ra, nhưng kết luận về vụ ám sát có thể là không có. Tuy vậy, cứ nhìn ông Nguyễn Bá Thanh chỉ trước khi chết một thời gian ngắn (về sức khỏe, phong độ) là nhiều người đã tự có kết luận cho tính xác thực của tin đồn.

Xu hướng thân Mỹ và sự khống chế cục diện của người đứng đầu chính phủ Việt nam phức tạp hơn tin đồn về vụ ám sát. Nhưng chuyến công du của ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ có các văn bản được ký kết và các cam kết với chính phủ Mỹ, và những thông tin này sẽ hé lộ phần nào tính xác thực của tin đồn này.

Tình thế hiện nay của đảng cộng sản Việt Nam và chế độ rất khó để nhà cầm quyền  thể hiện sự nửa vời, đu dây và ỡm ờ như những lần trước đây được nữa./.

Hà Nội, ngày 07/7/2015

N.V.B

Categories: Tin Trong Nước | Leave a comment

KINH TẾ HỌC-XÃ HỘI HỌC PHÚC LỢI XÃ HỘI TRÊN THẾ GIỚI: QUAN NIỆM VÀ PHÂN LOẠI(*) TRẦN HỮU QUANG(**)

KINH TẾ HỌC-XÃ HỘI HỌC

PHÚC LỢI XÃ HỘI TRÊN THẾ GIỚI:

QUAN NIỆM VÀ PHÂN LOẠI(*)

 

TRẦN HỮU QUANG(**)

TÓM TẮT

Sự phát triển của các hệ thống phúc lợi xã hội là một trong những thành tựu lớn lao của nhiều

quốc gia trên thế giới trong thế kỷ XX. Kể từ nay, phúc lợi xã hội được nhìn nhận như là một

trong những quyền căn bản của con người trong một quốc gia văn minh và hiện đại. Bài viết này

lược thuật lại một số quan niệm chính về phúc lợi xã hội và một số lý thuyết phân loại các hệ

thống phúc lợi xã hội trên thế giới.

Sự phát triển của các hệ thống và các chương trình phúc lợi xã hội được xem là một trong những

thành tựu lớn lao nhất xét về mặt chính sách xã hội tại các quốc gia trên thế giới trong thế kỷ

XX. Điều có ý nghĩa cơ bản là kể từ nay, phúc lợi xã hội được nhìn nhận như là một trong những

quyền căn bản của con người trong một quốc gia văn minh.

Bài này sẽ điểm qua một số quan niệm chính về phúc lợi xã hội và một số lý thuyết phân loại các

hệ thống phúc lợi xã hội trên thế giới.

1. MỘT SỐ THUẬT NGỮ CÓ LIÊN QUAN

(*)   Những nội dung chính của bài này là một phần nằm trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu Hệ thống phúc

lợi ở TPHCM với mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội của Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn

TPHCM (nay là Viện Nghiên cứu Phát triển TPHCM) do Trần Hữu Quang làm chủ nhiệm.

(**)  Tiến sĩ Xã hội học. Viện Phát triển Bền vững vùng Nam Bộ.

Xét về mặt từ vựng, trong cuốn Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 2000 (Hoàng Phê chủ biên),

chưa có cụm từ “phúc lợi xã hội”, cũng chưa có từ “an sinh” hay “an sinh xã hội”, mà chỉ có từ

“phúc lợi”. Phúc lợi trong cuốn từ điển này được định nghĩa như sau: “Lợi ích mà mọi người

được hưởng không phải trả tiền hoặc chỉ phải trả một phần. Thí dụ: Nâng cao phúc lợi của nhân

dân. Các công trình phúc lợi (như nhà trẻ, lớp mẫu giáo, v.v.). Quỹ phúc lợi của xí nghiệp”

(Hoàng Phê, 2000, tr. 790). Định nghĩa này chỉ nhấn mạnh tới khía cạnh miễn phí hay giảm phí

mà chưa đề cập tới những nội hàm của từ này, và chỉ nói một cách chung chung là “lợi ích”. Có

lẽ cách hiểu này xuất phát từ quan niệm về phúc lợi trong mô hình quản lý theo phương thức kế

hoạch hóa tập trung trước đây, khi mà người ta thường hiểu “phúc lợi” là phần thù lao bằng tiền

hoặc hiện vật mà người lao động nhận được từ cơ quan hay xí nghiệp, ngoài phần tiền lương,

tiền phụ cấp và tiền thưởng, nhằm được hỗ trợ thêm về mặt đời sống.

Thực ra, từ “phúc lợi” đã xuất hiện trong cuốn Hán Việt từ điển giản yếu (1932) của Đào Duy

Anh,với một định nghĩa ngắn gọn: phúc lợi là “hạnh phúc và lợi ích (bonheur et intérêts)” (Đào

Duy Anh, 1957, tr. 137).

Từ phúc lợi tương ứng với từ welfare trong tiếng Anh, và đã được nhà xã hội học Anh Gordon

Marshall định nghĩa một cách khá đầy đủ như sau: welfare là “tình trạng hoặc điều kiện làm ăn

khấm khá (doing well) hoặc sinh sống đàng hoàng, hạnh phúc (being well)”. Marshall nhận định

rằng lúc đầu người ta thường nói đến từ welfare khi cần có những biện pháp nào đó để bảo vệ

tình trạng phúc lợi của một cá nhân hay một nhóm nào đó; vì thế, từ này chủ yếu được sử dụng

trong lĩnh vực chính sách (policy), vì nó gắn trực tiếp với những nhu cầu: “Các chính sách phúc

lợi là những chính sách được thiết lập nhằm đáp ứng những nhu cầu của cá nhân hay của nhóm”.

Theo Marshall, các nhu cầu ở đây cần được hiểu không phải chỉ có những nhu cầu tối thiểu để

sinh tồn, mà bao gồm cả những nhu cầu cần thiết cho một “cuộc sống tử tế và xứng đáng” (a

reasonable and adequate life). Các nhu cầu này bao gồm không chỉ một mức thu nhập tối thiểu

để có cái ăn, cái mặc, mà còn bao gồm nhà ở đàng hoàng, giáo dục, y tế và cơ hội có việc làm

(Marshall, 1998,tr.701-702).

Thuật ngữ “phúc lợi xã hội” trong tiếng Việt tương ứng với cụm từ social welfare trong tiếng

Anh; trong tiếng Hoa, người ta cũng dùng cụm từ “xã hội phúc lợi” (phiên âm Hán Việt: 社會福利

hay 社会福利, shehui fuli) để nói về khái niệm này.

Theo chúng tôi, phúc lợi xã hội, hiểu theo nghĩa rộng, là hệ thống các định chế, các chính sách

và các hoạt động nhằm bảo đảm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu nhất của người dân, với mục

tiêu là làm sao cho mọi người dân có được một cuộc sống đàng hoàng, tử tế, xứng đáng với

phẩm giá con người. Hệ thống này bao gồm các lĩnh vực như: giáo dục, y tế, nhà ở, bảo hiểm xã

hội, bảo hiểm y tế, các chính sách trợ giúp xã hội (hỗ trợ những tầng lớp nghèo và khó khăn…)

và các chính sách cứu trợ xã hội (cứu trợ thiên tai, dịch bệnh…).

Còn thuật ngữ an sinh xã hội thì tương ứng với cụm từ social security ; trong tiếng Hoa, người ta

dùng cụm từ “xã hội bảo chướng” (phiên âm Hán Việt: 社会保障, shehui baozhang)(1). Trong thực

tế, trong các tài liệu Anh ngữ, đôi lúc người ta cũng sử dụng hoán chuyển nhau giữa thuật ngữ

social welfare với thuật ngữ social security. Tuy nhiên, thuật ngữ social security (an sinh xã hội)

thường được hiểu theo nghĩa hẹp hơn thuật ngữ social welfare (phúc lợi xã hội), và chỉ bao gồm

hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các chính sách trợ giúp xã hội và cứu trợ xã hội.

Còn có một thuật ngữ nữa cũng thường được sử dụng phần nào tương ứng với hai thuật ngữ phúc

lợi xã hội hoặc an sinh xã hội, đó là cụm từ social protection. Trong tiếng Việt, có người dịch là

“bảo đảm xã hội”, nhưng cũng có người dịch là “bảo vệ xã hội” hay “bảo trợ xã hội”(2). Theo thiển

ý chúng tôi, có lẽ nên dịch thuật ngữ social protection là sự bảo hộ của xã hội (hay nói gọn là sự

bảo hộ xã hội) thì thích hợp hơn. Người ta thường hiểu khái niệm này theo nghĩa rộng, tức là bao

gồm hệ thống an sinh xã hội (social security) và hệ thống các chính sách trợ giúp xã hội (social

assistance) và các chính sách cứu trợ xã hội (social relief).

Bảo hiểm xã hội (social insurance) là thuật ngữ thường được dùng để chỉ một chương trình quốc

gia mang mục tiêu cung ứng một số dịch vụ xã hội cơ bản, do nhà nước trực tiếp đứng ra tổ chức

hoặc bảo trợ. Nguyên tắc của hệ thống này là sự chia sẻ chi phí tài chính giữa các thành viên

nhằm đối phó với những hoàn cảnh bất trắc như bệnh tật, mất việc làm, tuổi già… Đối tượng của

hệ thống này là một số tầng lớp dân cư nhất định, với nguồn ngân sách thường là từ tiền thuế

và/hoặc tiền phí đóng góp của những người tham gia. Hệ thống này thường mang tính cưỡng

bách (do nhà nước bắt buộc), nhưng cũng có hệ thống mang tính tự nguyện.

Có một số điểm khác biệt sau đây giữa bảo hiểm xã hội với bảo hiểm tư nhân: a) bảo hiểm xã hội

thường mang tính chất bắt buộc, trong khi bảo hiểm tư nhân thường mang tính tự nguyện; b) việc

cung ứng các dịch vụ trong hệ thống bảo hiểm tư nhân dựa trên sự thỏa thuận giữa nhà bảo hiểm

với người được bảo hiểm thông qua một bản hợp đồng, trong khi đó hệ thống bảo hiểm xã hội

thường dựa trên các chế độ và chính sách đối với từng tầng lớp dân cư nhất định, tức là dựa trên

quyền được hưởng trợ cấp của người được bảo hiểm; c) bảo hiểm tư nhân thường nhấn mạnh

đến tính chất công bình (equity) giữa các cá nhân mua bảo hiểm, còn bảo hiểm xã hội thì thường

nhấn mạnh nhiều hơn tới tính chất thỏa đáng (social adequacy) của các khoản trợ cấp đối với

mọi thành viên tham gia.

Thuật ngữ nhà nước phúc lợi trong tiếng Việt được dịch từ thuật ngữ welfare state trong tiếng

Anh hay État providence trong tiếng Pháp. Thuật ngữ tương ứng trong tiếng Hoa là 福利国家 (fú

lì guó jiā, phiên âm Hán Việt: “phúc lợi quốc gia”).

Khái niệm welfare state bắt đầu được sử dụng nhiều trong thập niên 1940, đặc biệt sau Thế chiến

thứ II, được dùng để mô tả những nhà nước có trách nhiệm chủ yếu trong việc cung ứng phúc lợi

xã hội thông qua các hệ thống an sinh xã hội, cung ứng các dịch vụ và các khoản trợ cấp nhằm

đáp ứng những nhu cầu cơ bản của người dân về mặt nhà ở, y tế, giáo dục và thu nhập (Marshall,

1998, tr. 702).

Khái niệm chính sách xã hội là một khái niệm thường được đề cập trong những công trình

nghiên cứu về phúc lợi xã hội và an sinh xã hội, khi người ta chú tâm tới vai trò của nhà nước

đối với các lĩnh vực xã hội cũng như các vấn đề xã hội.

Năm 1980, khi xem xét bộ môn nghiên cứu về chính sách xã hội, nhà xã hội học Nga V. Z.

Rôgôvin định nghĩa đây là “một lĩnh vực tri thức xã hội học, nghiên cứu hệ thống về các quá

trình xã hội quyết định hoạt động sống của con người trong xã hội, xét theo khả năng tác động

quản lý đến các quá trình đó” (Dẫn lại theo: Bùi Đình Thanh, 2004b, tr. 286).

Theo Phạm Xuân Nam, “chính sách xã hội là sự thể chế hóa đường lối, chủ trương của một nhà

nước (hay một cộng đồng) nhằm trực tiếp tác động vào con người – thành viên xã hội, điều chỉnh

các quan hệ lợi ích giữa họ, hướng hành động của họ tới các mục tiêu mà nhà nước (hay cộng

đồng) mong muốn” (Phạm Xuân Nam, 1994b, tr. 7). Còn theo Trần Đình Hoan, chính sách xã

hội “bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người, liên quan đến điều kiện lao động và sinh hoạt,

giáo dục và văn hóa, kinh tế, dân số và quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp và quan hệ dân tộc, tôn

giáo, v.v.” (Trần Đình Hoan, 1994, tr. 505).

Bùi Đình Thanh đưa ra một định nghĩa về chính sách xã hội mà chúng tôi cho là tương đối đầy

đủ nhất: “Chính sách xã hội là sự cụ thể hóa, thể chế hóa các đường lối, chủ trương để giải quyết

các vấn đề xã hội dựa trên những tư tưởng, quan điểm của chủ thể lãnh đạo phù hợp với bản

chất chế độ xã hội-chính trị (…) phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung

và của từng nhóm xã hội nói riêng nhằm tác động trực tiếp vào con người và điều chỉnh các quan

hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, hướng tới mục đích cao nhất là thỏa

mãn những nhu cầu ngày càng tăng về đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân”

(Bùi Đình Thanh, 2004b, tr. 290, những chỗ nhấn mạnh là do chúng tôi, T.H.Q).

2. CÁC QUAN NIỆM VỀ PHÚC LỢI XÃ HỘI

Phúc lợi xã hội và an sinh xã hội là lĩnh vực được giới khoa học xã hội quan tâm nghiên cứu khá

nhiều kể từ sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhất là trong các ngành xã hội học, kinh tế

học và chính trị học. Cho đến nay, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau và cũng khó

lòng thống nhất với nhau về cách hiểu thế nào là phúc lợi xã hội hay an sinh xã hội. Tuy vậy, về

đại thể, vẫn có một số điểm căn bản mà hầu như ai cũng ít nhiều đồng ý, đó là: hệ thống các định

chế và các chính sách nhằm bảo đảm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của người dân, đặc biệt là

trong những hoàn cảnh bất trắc như mất việc làm, già cả và bệnh tật, nhất là những nhóm dân

cư nghèo, yếu thế, dễ bị tổn thương. Dưới đây là một số định nghĩa chính về hai khái niệm này

trên thế giới.

Năm 1944, Hội nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tuyên bố rằng “nghĩa vụ nghiêm cẩn

của tổ chức ILO là thúc đẩy các quốc gia trên thế giới tiến hành những chương trình thực hiện…

việc mở rộng các biện pháp an sinh xã hội (social security) nhằm cung ứng một mức thu nhập

căn bản cho tất cả những người có nhu cầu cần được bảo hộ và cần được hưởng sự chăm sóc y tế

toàn diện” (dẫn lại theo ILO, 2001, tr. 1).

Vào năm 1948, Liên hiệp quốc đã ghi rõ trong bản Tuyên ngôn nhân quyền về quyền được

hưởng an sinh xã hội như sau: “Mọi người, với tư cách là thành viên của xã hội, đều có quyền

hưởng an sinh xã hội và được quyền thực hiện, thông qua nỗ lực của quốc gia và sự hợp tác quốc

tế và phù hợp với cách thức tổ chức và các nguồn lực của mỗi quốc gia, các quyền kinh tế, xã hội

và văn hóa cần thiết cho phẩm giá của mình và cho sự phát triển tự do của nhân cách của mình”(3).

Năm 1952, tổ chức ILO đã đưa ra Công ước số 102 qui định những tiêu chuẩn tối thiểu của hệ

thống an sinh xã hội mà sau đó phần lớn các nước trên thế giới đều dựa vào đó để xây dựng hệ

thống an sinh của mình. Hệ thống an sinh tối thiểu này bao gồm các thành tố như sau: chăm sóc

y tế, trợ cấp bệnh tật, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp hưu trí, trợ cấp tai nạn nghề nghiệp, trợ cấp

gia cảnh, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, và trợ cấp cho người kiêm hưởng (ILO, 1952)(4).

Năm 1958, tổ chức ILO coi an sinh xã hội là “kết quả đạt được bởi một loạt các biện pháp tổng

hợp và có hiệu quả nhằm bảo vệ công chúng (hay phần lớn công chúng) khỏi tình cảnh túng

quẫn về mặt kinh tế (…) vì không còn nguồn thu nhập do bệnh tật, thất nghiệp hoặc tuổi già và

qua đời”. Đến năm 1984, tổ chức này bổ sung cho định nghĩa trên bằng cách nhấn mạnh tới vai

trò của nhà nước, coi đây là “sự bảo vệ mà xã hội cung ứng cho các thành viên của mình thông

qua một loạt các biện pháp công nhằm tránh rơi vào tình cảnh túng quẫn về mặt kinh tế mà nếu

không có những biện pháp này thì sẽ xảy ra vì bị mất hoặc bị giảm phần lớn nguồn thu nhập do

bệnh tật, sinh nở, công việc, tai nạn, thất nghiệp, tàn phế, tuổi già và qua đời; cung ứng sự chăm

sóc y tế và cung ứng các khoản trợ cấp cho các gia đình có con”. Nhưng ít lâu sau đó, tổ chức

ILO lại đưa ra một định nghĩa khác, lần này không còn nhấn mạnh tới vai trò của nhà nước: an

sinh xã hội là “sự an toàn chống lại một số nguy cơ, được cung ứng thông qua cách tổ chức thích

hợp cho những thành viên nào của mình có thể rơi vào hoàn cảnh này. Những nguy cơ này chủ

yếu là những sự bất trắc mà cá nhân có ít phương tiện không thể nào đương đầu nổi bằng khả

năng riêng của mình hoặc không thể trù liệu một mình hay kể cả với sự phối hợp riêng tư với

những người thân thuộc của mình”(5).

Còn Hiệp hội An sinh Xã hội Quốc tế (ISSA) thì đưa ra một định nghĩa tương đối hạn hẹp hơn

về an sinh xã hội, và quan niệm rằng đây không chỉ là  phần việc của nhà nước: đó là “những

chương trình bảo hộ xã hội do nhà nước thiết lập, hoặc những tổ chức được ủy nhiệm khác, (có

chức năng) cung ứng cho các cá nhân một mức độ an toàn về thu nhập khi họ phải đối diện với

những hoàn cảnh bất trắc do tuổi già, do lợi quyền thượng tồn(6), do mất khả năng, do tàn tật, thất

nghiệp hoặc do phải nuôi dạy con cái. Nó cũng có thể cung ứng quyền được hưởng sự chăm sóc

y tế – chữa trị hay phòng ngừa bệnh tật” (xem ISSA). Theo tổ chức ISSA, an sinh xã hội bao

gồm: các chương trình bảo hiểm xã hội, các chương trình trợ giúp xã hội, các chương trình phổ

quát (universal programmes), các chương trình tương trợ (mutual benefit schemes), các quỹ dự

phòng quốc gia (national provident funds), và những chương trình khác trong đó kể cả những

chương trình mang tính thương mại.

Nhà xã hội học người Anh Thomas H. Marshall (1949) có thể được coi là tác giả đầu tiên gắn

khái niệm phúc lợi (welfare) với khái niệm quyền công dân (citizenship), và cho rằng quyền

được hưởng phúc lợi (welfare rights) là nhóm quyền thứ ba mà các thành viên của xã hội đã

giành được trong thế kỷ XX, sau nhóm các quyền dân sự và nhóm các quyền chính trị. Trong

một bài viết nổi tiếng vào năm 1949 mang tên là “Citizenship and Social Class”, ông quan niệm

quyền công dân gồm có ba thành tố: quyền công dân về mặt dân sự, về mặt chính trị, và về mặt

xã hội. Theo Marshall, nhà nước phúc lợi chính là kết quả của cả một quá trình lịch sử đấu tranh

cho các quyền công dân (citizenship rights) trong suốt hơn 200 năm qua, mở rộng từ lĩnh vực

dân sự, sang lĩnh vực chính trị, rồi tới lĩnh vực xã hội. Vào thế kỷ XVIII, cuộc đấu tranh cho các

quyền công dân dân sự (civil citizenship) – bao gồm quyền tự do ngôn luận, quyền tự do tôn giáo,

và quyền bình đẳng trước pháp luật – đã giành được thắng lợi ở Anh. Vào thế kỷ XIX, đó là cuộc

đấu tranh giành quyền công dân chính trị (political citizenship), bao gồm quyền ứng cử và bầu

cử. Trong thế kỷ XX, đó là cuộc đấu tranh giành quyền công dân xã hội (social citizenship) – đây

là quyền được hưởng một mức độ an sinh nhất định về mặt kinh tế và quyền được tham gia đầy

đủ vào đời sống xã hội của đất nước(7). Quan niệm của Marshall đã đặc biệt khẳng định rằng việc

được hưởng các khoản phúc lợi cần được quan niệm như một quyền mang tính pháp lý, dựa trên

nguyên tắc phổ quát (universality), chứ không phải dựa trên quyền ấn định của những cơ quan có

thẩm quyền (discretionary) (Marshall, 1998, tr. 702).

Theo dòng tư tưởng đó, Elizabeth Wickenden (1965) cho rằng hệ thống an sinh xã hội bao gồm

các “luật lệ, chương trình, quyền lợi và dịch vụ bảo đảm và củng cố các biện pháp đáp ứng các

nhu cầu xã hội được công nhận như an sinh cơ bản của quần chúng và cải tiến trật tự xã hội”(8).

Cũng tương tự như vậy, Beulah Compton (1980) định nghĩa phúc lợi xã hội là một thiết chế bao

gồm các chính sách và luật lệ, được thực thi bởi nhà nước hay bởi các tổ chức tự nguyện, thông

qua đó một mức độ tối thiểu nhất định về các dịch vụ xã hội thiết yếu (như y tế, giáo dục, nhà

ở…) được phân phối cho các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội (những dịch vụ mà gia đình hay thị

trường không đáp ứng được cho họ) nhằm mục đích phòng ngừa, giảm nhẹ hoặc đóng góp vào

việc giải quyết các vấn đề xã hội và cải thiện sự an sinh của cá nhân, nhóm và cộng đồng một

cách trực tiếp(9).

Hai nhà kinh tế học Jean Dreze và Amartya Sen (1991) đã tóm gọn cái cốt lõi của khái niệm an

sinh xã hội như sau: “Ý tưởng cơ bản của an sinh xã hội là sử dụng những kế sách xã hội để

ngăn ngừa sự thiếu thốn và tình trạng dễ bị tổn thương vì bị thiếu thốn”(10). Hai tác giả này nhấn

mạnh rằng sự cung ứng hệ thống an sinh xã hội trong những quốc gia đang phát triển cần được

quan niệm theo một nhãn giới rộng rãi hơn, và cần xem đây “chủ yếu như một mục tiêu cần theo

đuổi thông qua các biện pháp công hơn là như một nhúm chiến lược cá biệt được xác định một

cách hẹp hòi”. Cách hiểu này có lẽ cũng gần với quan niệm “Freedom from Want” (không bị

thiếu thốn) mà bản phúc trình nổi tiếng của Beveridge (ở Anh Quốc) đề xướng(11).

Giới hạn vào khía cạnh kinh tế, Madhava P. Rao (2005) đã đưa ra một định nghĩa về “an sinh

kinh tế” (economic security) khá độc đáo như sau: “Sự an sinh kinh tế bao gồm các cơ hội và các

khả năng (xét về mặt định chế cũng như về mặt cá nhân) tận dụng những cơ hội này cho sự an

sinh kinh tế vốn được cung ứng bởi xã hội xét như một tổng thể hoặc bởi những định chế trong

xã hội như gia đình, cộng đồng, nhóm xã hội, thị trường – cung ứng cho từng cá nhân hoặc cho

từng cộng đồng nhằm mục tiêu mang lại ‘sự phúc lợi xã hội’ cho mỗi cá nhân trong cuộc hành

trình của mình từ ngày chào đời cho tới ngày qua đời” (Rao, 2005, tr. 4).

Khi nghiên cứu về phúc lợi xã hội, giới nghiên cứu cũng đề cập nhiều tới khái niệm nhà nước

phúc lợi. Theo R. Lowe (1993), thuật ngữ welfare state xuất hiện vào thập niên 1930 ở Anh, xuất

phát từ thuật ngữ Wohlfahrstaat trong tiếng Đức, được dùng để nói về một nhà nước có trách

nhiệm bảo đảm sự phúc lợi và thịnh vượng của người dân và biết tôn trọng luật lệ quốc tế, đối

lập với kiểu nhà nước “warfare state” hay “power state” vốn là nhà nước chỉ biết áp đặt ý muốn

của mình lên người dân và các nước láng giềng(12).

Theo Nicholas Abercrombie và một số tác giả (1988), “ý tưởng căn bản của một nhà nước phúc

lợi là: chính quyền có trách nhiệm đối với sự phúc lợi (well-being) của các công dân của mình,

và điều này không thể được giao phó cho cá nhân, công ty tư nhân hay cộng đồng địa phương”

(Abercrombie et al., 1988, tr. 269, những chỗ nhấn mạnh là do chúng tôi, T.H.Q). Theo các tác

giả này, nhà nước phúc lợi là nhà nước bảo đảm cho người dân không bị nghèo đói bằng các

khoản trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp gia cảnh, phụ cấp thu nhập cho những người có lương thấp, có

chế độ hưu bổng và trợ cấp người già; nhà nước phúc lợi cung ứng đầy đủ các dịch vụ y tế, giáo

dục miễn phí, và nhà ở. Những dịch vụ này được tài trợ bởi các hệ thống bảo hiểm quốc gia và từ

nguồn ngân sách nhà nước (Abercrombie et al., 1988, tr. 269-270).

Nhà nước phúc lợi là một nhà nước cam kết trách nhiệm của mình với người dân ít nhất về ba

lĩnh vực: a) bảo đảm công ăn việc làm cho mọi người (vì thị trường tự do tư nhân không thể bảo

đảm được điều này, nên nhà nước phải can thiệp để giải quyết tình trạng thất nghiệp, khuyến

khích tăng trưởng kinh tế và ổn định giá cả); b) cung ứng một hệ thống bảo hiểm công cộng

nhằm bảo vệ người dân trước những hoàn cảnh bất trắc như thất nghiệp, già cả và bệnh tật (nhà

nước phải có chế độ bảo hiểm thất nghiệp, chế độ hưu bổng, và chế độ bảo hiểm y tế); c) nhà

nước nhìn nhận rằng quyền công dân trong một chế độ dân chủ không chỉ bao gồm các quyền

dân sự và quyền chính trị, mà cả những quyền xã hội (Fallis, 2005, tr. 2)(13).

Theo nhà xã hội học Đức Karl-Heinz Hillmann (1994), nhà nước phúc lợi là “một nhà nước bảo

đảm cho các công dân của mình, ngoài sự an toàn pháp lý, còn được cung ứng ở mức tối thiểu

những sản phẩm vật chất (tùy theo những giá trị văn hóa-xã hội được xác định một cách khác

nhau)”. Ông nhận định đây là một mô hình nhà nước đáng hoan nghênh về mặt nhân văn, nhưng

cho rằng nó cũng có nguy cơ “làm suy yếu ý thức hiệu suất, sự chủ động cá nhân, trách nhiệm cá

nhân và trách nhiệm xã hội của những công dân riêng lẻ, khả năng tự lực và khả năng điều hành

của những mạng lưới thân tộc và những mạng lưới xóm giềng, và suy cho cùng, làm suy yếu cả

nguồn lực kinh tế” (Hillmann, 1994, tr. 947).

Philippe Bénéton cho rằng nhà nước phúc lợi là nhà nước có những hệ thống bảo hộ xã hội

(protection sociale) rộng rãi và những chính sách giảm thiểu những sự bất bình đẳng kinh tế và

xã hội. Nhà nước phúc lợi là nhà nước làm thay thị trường phần nào đó và/hoặc sửa chữa những

hậu quả của thị trường, nhân danh sự an sinh hoặc sự bình đẳng. Theo Bénéton, người ta có thể

phân biệt hai dạng nhà nước phúc lợi kế tiếp nhau tại phần lớn các nước Tây phương: “nhà nước

bảo hộ” (État protecteur), và “nhà nước tái phân phối” (État redistributif). Nhà nước bảo hộ (bắt

đầu phát triển từ thập niên 1930) là nhà nước mang mục tiêu chủ yếu là hạn chế những cái giá

phải trả về mặt xã hội do thị trường gây ra, và bảo đảm một số điều kiện an sinh trước những bất

trắc kinh tế lớn (thất nghiệp, bệnh tật, già cả, v.v.). Nhà nước tái phân phối (phát triển trong

những thập niên 1960 và 1970) là nhà nước tìm cách thiết lập một sự bình đẳng nào đó, bằng

cách cố gắng làm giảm những sự bất bình đẳng về mặt kinh tế và xã hội (Boudon et al., 1999, tr.

90).

Một hệ thống nhà nước phúc lợi, theo Masayuki Fujimura (2000), bao gồm năm thành tố cơ bản

sau đây: 1) một hệ thống an sinh xã hội; 2) chính quyền trung ương và chính quyền địa phương

là người quản lý chủ chốt của hệ thống này; 3) việc nhìn nhận về mặt xã hội và việc pháp điển

hóa các quyền nền tảng của con người; 4) sự can thiệp chính đáng của nhà nước vào lĩnh vực

kinh tế để tạo ra đủ công ăn việc làm; và 5) việc thực hiện dân chủ rộng rãi dựa trên cơ sở quốc

hội ra quyết định trong lĩnh vực chính trị (Fujimura, 2000, tr. 3).

Tuy nhiên, ngoài khái niệm nhà nước phúc lợi (welfare state), W. A. Robson (1976) còn khai

triển thêm một khái niệm mới là “xã hội phúc lợi” (welfare society), và đề cập tới mối quan hệ

giữa nhà nước phúc lợi với xã hội phúc lợi. Ông viết như sau: “Nhà nước phúc lợi là cái mà

Quốc hội ban hành bằng sắc lệnh. Còn xã hội phúc lợi là cái mà nhân dân làm, cảm nhận và suy

nghĩ về những chuyện có liên quan tới sự phúc lợi tổng quát. (…) Chỉ có một xã hội phúc lợi dân

chủ mới có khả năng thiết lập và duy trì một nhà nước phúc lợi thực thụ. Vì thế, chúng ta không

thể chỉ nhìn vào các dịch vụ và các chức năng của các cơ quan nhà nước, mà còn phải chú ý tới

các thái độ, ý kiến và ứng xử của chính nhân dân”(14). Robson cho rằng một trong những khó khăn

lớn nhất của chúng ta nằm ở chỗ chúng ta thường cố gắng xây dựng một nhà nước phúc lợi mà

không có xã hội phúc lợi. Robson nhấn mạnh rằng một “xã hội phúc lợi” do chính người dân tạo

dựng là điều kiện tiên quyết cho việc thiết lập một nhà nước phúc lợi. Mặt khác, chính ý thức

cộng đồng (sense of community) là điều kiện tiên quyết để vận động người dân tham gia xây

dựng một “xã hội phúc lợi”, nếu không thì nhà nước phúc lợi chỉ giống như “được xây trên cát”

(dẫn lại theo Fujimura, 2000, tr. 6).

Tô Duy Hợp (2006) nhận xét rằng cần phân biệt giữa nội hàm “cơ bản” của hệ thống an sinh xã

hội (chỉ chăm lo cho một số đối tượng khó khăn) với nội hàm “đầy đủ” của khái niệm này (chăm

lo cho toàn dân): “Có thể nói, hàm ý cơ bản của an sinh xã hội là sự bảo vệ (bảo đảm) của xã hội

đối với những cá nhân hoặc/và nhóm xã hội đặc biệt khó khăn hoặc gặp phải rủi ro bất khả

kháng (như thiên tai, địch họa…). (…) Tuy nhiên, hàm ý đầy đủ của an sinh xã hội là hướng tới

phúc lợi xã hội toàn dân, tức là một hệ thống an sinh không chỉ bao gồm sự bảo trợ cho bộ phận

đặc biệt khó khăn hoặc gặp rủi ro bất khả kháng, vì đó mới chỉ là phúc lợi tối thiểu nhằm mục

tiêu mưu sinh, mà còn bao gồm cả sự bảo vệ toàn xã hội, hơn thế nữa, đó còn là phúc lợi cao cấp

của xã hội phát triển” (Tô Duy Hợp, 2006, tr. 25, những chỗ nhấn mạnh là do chúng tôi, T.H.Q).

Ngoài ra, còn có một cách hiểu và cách phân loại về nhà nước phúc lợi hết sức đáng chú ý của

Gøsta Esping-Andersen mà chúng tôi sẽ trình bầy trong mục sau.

3. CÁC LÝ THUYẾT PHÂN LOẠI CÁC HỆ THỐNG PHÚC LỢI XÃ HỘI

Cho đến nay, giới nghiên cứu đã không ngừng xem xét và tranh luận về cách phân loại các mô

hình hệ thống phúc lợi và nhà nước phúc lợi trên thế giới. Về đại thể, có hai mô hình phúc lợi

tương phản điển hình thường được các tác giả nói tới, đó là:

1. Mô hình bảo hiểm xã hội theo hướng Bismarck (các quỹ phúc lợi do người lao động và người

sử dụng lao động cùng quản trị; mức đóng phí tính theo tỷ lệ so với mức lương; mức trợ cấp theo

tỷ lệ đóng góp)(15).

2. Mô hình bảo hộ xã hội theo hướng Beveridge (các quỹ phúc lợi do nhà nước quản trị; nguồn

tài trợ lấy từ thuế; mức trợ cấp đồng đều giống nhau) (16).

Theo Tô Duy Hợp (2006), có thể có nhiều cách phân loại khác nhau về hệ thống an sinh xã hội

như sau:

– Phân biệt giữa hệ thống an sinh xã hội cơ bản với hệ thống an sinh xã hội ở trình độ phát triển

cao, theo Yang Tuan(17).

– Phân loại theo các đối tượng xã hội thụ hưởng (như người cao tuổi, người thất nghiệp, người

nghèo…).

– Phân loại theo các loại hình dịch vụ phúc lợi.

– Phân loại giữa các biện pháp bảo vệ (protective) đối với những đối tượng dễ bị tổn thương (như

trợ giúp xã hội và cứu trợ xã hội), các biện pháp phòng ngừa (preventive), và các biện pháp nhằm

nâng cao năng lực (promotional), theo Lê Bạch Dương và một số tác giả khác(18).

Người ta thường ghi nhận những tác giả quan trọng nhất đã tiến hành công việc loại hình hóa các

hệ thống phúc lợi trên thế giới, đó là Richard Titmuss (1958, 1974), Walter Korpi (1980, 1998)

và Gøsta Esping-Andersen (1990).

Việc loại hình hóa các mô hình hệ thống phúc lợi thường được các nhà nghiên cứu tiến hành

bằng cách xem xét những kiểu kết hợp giữa ba khu vực của xã hội (đó là thị trường, nhà nước, và

gia đình), và trong việc đáp ứng ba chức năng chính (đó là bảo hiểm, tái phân phối, và cung ứng

các dịch vụ xã hội). Ngoài ra, người ta còn xem xét các yếu tố sau đây: mức độ phụ thuộc vào thị

trường để thỏa mãn các nhu cầu của mình và có được sự bảo hộ của xã hội đối với mình (Gøsta

Esping-Andersen đưa ra khái niệm decommodification, tức mức độ “phi hàng hóa hóa”, để nói về

mức độ được thụ hưởng các dịch vụ an sinh xã hội mà không lệ thuộc vào thị trường); mô hình

phân tầng xã hội mà nhà nước nhắm đến hoặc là hệ quả của sự can thiệp của nhà nước (liên quan

tới mục tiêu bình đẳng xã hội) (Oberti, 1999, tr. 90).

Richard Titmuss (1974) thường được coi là tác giả đầu tiên đưa ra một cái khung xếp loại các mô

hình phúc lợi. Dựa trên phương pháp phân tích đa chiều kích, ông đã nhận diện ra ba quan niệm

khác nhau về vai trò của chính sách xã hội, và ông nối kết mỗi quan niệm với những nguyên tắc

cung ứng và hưởng dụng các dịch vụ phúc lợi. Theo ông, trên thế giới, có ba mô hình như sau:

a) Mô hình phúc lợi thặng dư (residual), trong đó vai trò chủ đạo thuộc về gia đình và thị trường

chứ không phải là sự tái phân phối của nhà nước, và quyền hưởng phúc lợi phụ thuộc vào việc

thẩm tra khả năng thu nhập (means-testing).

b) Mô hình phúc lợi phổ quát (universalist) hay cũng có thể gọi là mô hình định chế tái phân

phối, trong đó nhà nước thay thế vào chỗ của gia đình và thị trường trong việc bảo đảm phúc lợi

theo mục tiêu hướng đến sự bình đẳng.

c) Mô hình đóng góp dựa trên mức thu nhập kiếm được (earnings-related contributory systems),

phản ánh quan niệm đặt nặng trên hiệu quả đạt được trong lao động (industrial achievement-

performance); trong mô hình này, cả thị trường lẫn nhà nước đều cùng có mặt, nhưng người ta

ưu tiên nhấn mạnh đến những đóng góp kinh tế của các cá nhân(19).

Theo Gøsta Esping-Andersen (1990), chính lịch sử của các mối liên minh chính trị giữa các giai

cấp mới là nguyên nhân quyết định đối với những biến thể của mô hình nhà nước phúc lợi trong

các xã hội hiện đại (Esping-Andersen, 1991, tr. 1). Tác giả này cho rằng phần lớn các lý thuyết

về nhà nước phúc lợi hiện nay đều dựa trên những phân tích truyền thống về các mức độ công

nghiệp hóa, về hình thái quyền lực chính trị, hay về khả năng chi tiêu của ngân sách nhà nước.

Esping-Andersen muốn vượt qua những khuôn khổ phân tích ấy, và cho rằng chìa khóa của một

hình thái nhà nước phúc lợi chủ yếu nằm trong ba khâu sau đây : mức độ phi hàng hóa hóa (de-

commodification), sự phân tầng xã hội (social stratification), và tình hình nhân dụng

(employment) trong xã hội (Esping-Andersen, 1991, tr. 2-3).

Người ta thường xem sự phát triển của các quyền xã hội (social rights) như là bản chất của chính

sách xã hội. Kế thừa và khai triển các tư tưởng của Karl Polanyi, Esping-Andersen cho rằng cần

xem xét các quyền xã hội dưới góc độ khả năng “phi hàng hóa hóa” các quyền xã hội. “Tiêu

chuẩn nổi bật của các quyền xã hội phải là mức độ mà theo đó chúng cho phép con người có thể

xác lập được mức sống của mình mà không phụ thuộc vào các lực lượng của thị trường. Chính

là theo ý nghĩa này mà các quyền xã hội có thể làm giảm bớt tư cách ‘hàng hóa’ của các công

dân” (Esping-Andersen, 1991, tr. 3).

Esping-Andersen viết: “Những động cơ chính của chính sách xã hội hiện đại nằm trong quá trình

trong đó cả nhu cầu của con người lẫn sức lao động đều trở thành hàng hóa, và vì thế, phúc lợi

của chúng ta trở nên phụ thuộc vào mối quan hệ giữa chúng ta với hệ thống tiền tệ”. Trong thời

Trung cổ, khi mà chế độ sử dụng lao động chưa chuyển sang chế độ khế ước (hay hợp đồng,

contract), thì chính gia đình, giáo hội hoặc vị lãnh chúa là những người quyết định khả năng sinh

tồn của mỗi người. “Sự khuếch trương của chủ nghĩa tư bản diễn ra cùng với sự lụi tàn dần dần

của phương thức bảo hộ xã hội ‘tiền hàng hóa hóa’ (‘pre-commodified’ social protection)”

(Esping-Andersen, 1991, tr. 35).

Esping-Andersen gọi sự “phi hàng hóa hóa” (de-commodification) là tình trạng trong đó sở dĩ

người ta được hưởng các dịch vụ phúc lợi là do người ta có quyền được hưởng, và người ta có

thể duy trì cuộc sống của mình mà không cần dựa trên thị trường (Esping-Andersen, 1991, tr.

21-22). Ông nói rõ rằng cho dù có những chính sách trợ giúp xã hội hay bảo hiểm xã hội thì điều

này không nhất thiết dẫn đến một tình hình “phi hàng hóa hóa” thực thụ nếu chúng không thực

sự giải phóng các cá nhân ra khỏi sự phụ thuộc vào thị trường. Khi người công nhân bị lệ thuộc

hoàn toàn vào thị trường, họ sẽ rất khó mà đoàn kết với nhau và rất khó mà tập hợp lại được

trong những phong trào hành động tập thể. Chỉ khi nào các quyền xã hội của họ được “phi hàng

hóa hóa” thì lúc ấy họ mới thực sự có sức mạnh, và đồng thời, quyền lực tuyệt đối của giới chủ

lúc ấy mới yếu bớt đi; chính vì thế mà giới nghiệp chủ thường không có thiện cảm và cũng

không sẵn lòng tham gia vào các chương trình phúc lợi xã hội (Esping-Andersen, 1991, tr. 22).

Esping-Andersen đã phân biệt ba loại hình nhà nước phúc lợi căn cứ trên những khác biệt giữa

các quốc gia về: lịch sử chính trị, đặc biệt là khả năng huy động của giai cấp công nhân và khả

năng liên minh giữa các giai cấp, mức độ ảnh hưởng của nhà nước và của thị trường, và mức độ

mà việc tiếp cận các khoản an sinh xã hội có thể cho phép người dân giảm bớt sự lệ thuộc vào thị

trường (Williams, 1999, tr. 912).

Khi nghiên cứu về các loại hình nhà nước phúc lợi, Gøsta Esping-Andersen nhận định rằng có

nhiều kiểu cấu hình sắp xếp (arrangements) khác nhau giữa nhà nước, thị trường và gia đình.

Tác giả này đã dựa trên bảy chỉ báo sau đây để tiến hành việc loại hình hóa: số lượng các chế độ

trợ cấp hưu bổng riêng biệt theo ngành nghề; mức độ bao phủ bảo hiểm trong dân cư; mức chênh

lệch giữa mức trợ cấp trung bình với mức trợ cấp tối đa; mức chi tiêu tính theo qui mô tương đối

của số người hưu trí thuộc diện công chức nhà nước; số trợ cấp dựa trên sự thẩm tra khả năng thu

nhập; số người hưu trí thuộc khu vực tư nhân; và y tế thuộc khu vực tư nhân (Esping-Andersen,

1991, tr. 69-77). Từ đó, Esping-Andersen đã nhận diện ra ba loại hình nhà nước phúc lợi điển

hình như sau:

a) Loại hình nhà nước phúc lợi theo quan điểm tự do (liberal), trong đó các đặc trưng chính là:

trợ giúp dựa trên sự thẩm tra thu nhập; hạn chế chế độ trợ cấp phổ quát (universal transfer); hoặc

chỉ có những chương trình bảo hiểm xã hội hạn hẹp. Các khoản tiền trợ cấp thường rất thấp, và

chủ yếu chỉ được dành cho những người có thu nhập thấp hoặc buộc phải sống phụ thuộc vào

nhà nước. Điển hình cho loại hình này là Mỹ, Canada và Úc.

b) Loại hình nhà nước phúc lợi bảo thủ và mang nặng tính chất “nghiệp hội” (corporatist). Chế

độ phúc lợi ở đây dựa trên những khác biệt về vị thế (status), do đó các quyền ở đây luôn đi đôi

với các giai cấp và các vị thế. Nhà nước đóng vai trò chính trong việc cung ứng các dịch vụ phúc

lợi xã hội, và hệ thống bảo hiểm tư nhân chỉ đóng vai trò mờ nhạt. Đặc trưng của chế độ phúc lợi

“nghiệp hội” còn là dựa vào các tổ chức của giáo hội và gia đình. Điển hình cho loại hình này là

Áo, Pháp, Đức và Ý.

c) Loại hình nhà nước phúc lợi thứ ba là chế độ dân chủ-xã hội, trong đó những nguyên tắc về

tính phổ quát và về việc phi hàng hóa hóa các quyền xã hội được mở rộng cho tới cả các tầng lớp

trung lưu. Mục tiêu của khuynh hướng dân chủ-xã hội là xây dựng một nhà nước phúc lợi hướng

đến sự bình đẳng ở mức độ cao nhất, chứ không chỉ sự bình đẳng đối với những nhu cầu tối thiểu

như ở các nước khác. Nguyên tắc của nhà nước phúc lợi này là không đợi đến khi các nguồn lực

của gia đình cạn kiệt thì mới trợ cấp, mà là “xã hội hóa các chi phí của đời sống gia đình ngay từ

đầu” (“to preemptively socialize the costs of familyhood”), không phải nhằm tăng cường sự phụ

thuộc vào gia đình, mà ngược lại, nhằm tăng cường những khả năng độc lập của cá nhân. Nhà

nước phúc lợi này cung ứng các khoản trợ cấp trực tiếp cho trẻ em, đảm nhận trách nhiệm trực

tiếp chăm lo cho trẻ em, người già và những người không nơi nương tựa. Điển hình cho loại hình

nhà nước phúc lợi này là các nước Bắc Âu (Esping-Andersen, 1991, tr. 26-27).

Tương tự như Esping-Andersen, nhà xã hội học Marco Oberti (1999) phân biệt ba mô hình nhà

nước phúc lợi như sau:

a) Mô hình tự do (libéral) hoặc thặng dư (résiduel) (Mỹ, Canada, Úc) có đặc điểm là nhà nước

chỉ can thiệp và giúp đỡ một cách có giới hạn đối với những người không còn khả năng sinh

sống dựa trên thị trường, gia đình hoặc sự trợ giúp tư nhân.

b) Mô hình nghiệp hội bảo thủ (conservateur-corporatiste) (Đức, Pháp, Áo) đặt nền tảng trên lao

động làm công ăn lương (travail salarié), mang mục tiêu bảo vệ người lao động và gia đình của

họ trước những nguy cơ (như tai nạn, bệnh tật, già cả, thất nghiệp) bằng cách bảo đảm cho họ

một mức thu nhập tối thiểu. Do đó, các quyền hưởng phúc lợi đều gắn liền với giai cấp và vị thế,

bởi lẽ việc tái phân phối được thực hiện theo các nhóm ngành nghề và theo mức độ đóng góp của

họ.

c) Mô hình định chế tái phân phối (institutionnel-redistributif), hay phổ quát (universaliste), hay

còn gọi là dân chủ-xã hội (các nước Bắc Âu) là mô hình theo đó nhà nước bảo đảm sự phúc lợi

cho toàn dân một cách đồng đều. Mô hình này mang đặc điểm là có mức độ bảo hộ xã hội cao

đối với các bất trắc trong cuộc sống, có mức thuế suất cao, và cam kết với mục tiêu công bằng xã

hội tái phân phối (Oberti, 1999,tr.90-91).

Walter Korpi và Joakim Palme (1998) đã đưa ra một kiểu phân loại các mô hình chi tiết hơn so

với Gøsta Esping-Andersen và Marco Oberti, bằng cách dựa trên quá trình phát triển lịch sử của

các mô hình này. Korpi và Palme phân biệt năm mô hình bảo hiểm xã hội ở các nước Tây

phương, đó là: a) mô hình nhắm tới những đối tượng nhất định; b) mô hình bao gồm những

chương trình phúc lợi tự nguyện được nhà nước trợ cấp; c) mô hình phúc lợi theo nghiệp hội; d)

mô hình an sinh cơ bản; và e) mô hình phúc lợi bao quát (xem Hình 1).

Hình 1. Các mô hình điển hình của các định chế bảo hiểm xã hội ở các nước Tây phương, xét theo quá trình phát

triển lịch sử của các định chế này, theo Walter Korpi và Joakim Palme, 1998

 

a. Mô hình nhắm tới những đối tượng nhất

định

b. Mô hình bao gồm những chương trình phúc lợi tự nguyện được nhà nước

trợ cấp

 

c. Mô hình phúc lợi theo nghiệp hội d. Mô hình an sinh cơ bản e. Mô hình phúc lợi bao quát

Ghi chú: các hình thoi là biểu tượng của hệ thống phân tầng kinh tế-xã hội, trong đó những người có

thu nhập cao nằm phía trên đỉnh, và những người có thu nhập thấp cũng như người nghèo nằm phía

dưới đáy. Phần trắng thể hiện phần dân cư không nằm trong các chương trình phúc lợi. Các đường

nằm ngang thể hiện những loại phúc lợi có mức trợ cấp đồng đều hoặc mức tối thiểu. Các đường

thẳng đứng thể hiện những loại phúc lợi hưởng theo mức thu nhập. Các hình ê-líp trong mô hình b

thể hiện những chương trình phúc lợi tự nguyện chuyên biệt. Các đường chéo trong mô hình c thể

hiện các chương trình bảo hiểm được tổ chức riêng cho từng phân khúc ngành nghề khác nhau (xem

thêm Trịnh Duy Luân, 2006, tr. 8).

Nguồn: Walter Korpi, Joakim Palme, “The Paradox of Redistribution and Strategies of Equality:

Welfare State Institutions, Inequality and Poverty in the Western Countries”, American Sociological

Review, Vol. 63, No. 5, 1998.

Sau đây là đặc trưng của từng mô hình, theo Walter Korpi và Joakim Palme.

Mô hình a. Mô hình nhắm tới những đối tượng nhất định (targeted): sự trợ cấp được thực hiện

dựa trên sự thẩm tra thu nhập (means-tested), với mức trợ cấp tối thiểu hoặc tương đối đồng đều

dành cho những người nằm dưới ngưỡng nghèo hoặc những người được coi là túng thiếu.

Mô hình b.  Mô hình bao gồm những chương trình phúc lợi tự nguyện được nhà nước trợ cấp:

trong truyền thống nhiều nước Tây phương, có điểm đặc trưng là có những chương trình phúc lợi

tự nguyện được nhà nước trợ cấp, trong đó tiền thuế được dùng để giúp các hiệp hội phúc lợi

tương trợ và các tổ chức tự nguyện khác trong việc cung ứng bảo hiểm cho các thành viên của

mình khi lâm vào hoàn cảnh mất khả năng thu nhập. Vì loại phúc lợi này đặt cơ sở trên sự đóng

góp tự nguyện của các thành viên, nên các chương trình phúc lợi này chủ yếu nhắm tới tầng lớp

trung lưu và giới công nhân lành nghề hơn là giới công nhân không có tay nghề và các tầng lớp

nghèo. Các chế độ phúc lợi tự nguyện này có thể bao gồm cả loại phúc lợi có mức trợ cấp đồng

đều (flat rate) (thể hiện bằng những đường nằm ngang trên các sơ đồ trên đây) lẫn loại phúc lợi

tương ứng với mức thu nhập kiếm được (earnings-related) (đường thẳng đứng).

Mô hình c. Mô hình phúc lợi theo nghiệp hội (corporatist): các chương trình bảo hiểm xã hội đầu

tiên được khởi xướng ở Đức bởi Bismarck vào thập niên 1880 không còn áp dụng cách thức

thẩm tra thu nhập lẫn các loại phúc lợi tự nguyện, nhưng áp dụng những chương trình phúc lợi

cưỡng bách theo đó các thành viên nằm trong những loại ngành nghề nhất định sẽ được quyền

hưởng những khoản phúc lợi khi mà nguồn thu nhập bình thường của họ bị gián đoạn một cách

bất khả kháng. Hệ thống bảo hiểm xã hội này của Đức đi theo mô hình phúc lợi “nghiệp hội” vốn

xuất phát từ truyền thống tư tưởng Công giáo và tư tưởng bảo thủ của thế kỷ XIX. Có thể nói ý

tưởng cốt lõi của mô hình nghiệp hội này là nhằm tạo ra những “cộng đồng chính trị-xã hội”

trong những nhóm ngành nghề khác nhau của lực lượng lao động, với mục tiêu khuyến khích sự

hợp tác giữa giới chủ với giới thợ trong những nhóm ngành nghề này.

Trong mô hình phúc lợi theo nghiệp hội, các chương trình được đề ra nhằm vào những người

đang lao động. Để được hưởng những loại phúc lợi này, người ta vừa phải đóng phí, vừa phải

thuộc về một thành phần nghề nghiệp nhất định. Những chương trình bảo hiểm xã hội riêng biệt

với những quyền lợi đặc thù được tổ chức cho những loại nghề nghiệp hoặc những ngành sản

xuất khác nhau, tạo nên sự phân khúc giữa các loại ngành nghề. Lúc đầu, hệ thống phúc lợi này

được khởi sự nơi giai cấp công nhân công nghiệp, nhưng sau đó dần dà được triển khai trong

nhiều thập niên sau nơi các loại ngành nghề khác với những dạng bảo hiểm chuyên biệt. Các

khoản phúc lợi được cung ứng dựa trên mức thu nhập kiếm được (đường thẳng đứng), nhưng các

quyền lợi và các qui tắc có thể hết sức khác biệt tùy theo từng loại ngành nghề khác nhau. Khác

hẳn với bốn loại định chế phúc lợi còn lại, và với quan điểm cơ bản là tạo ra những cộng đồng

chính trị-xã hội và thúc đẩy sự hợp tác giữa những thành phần có thể đối kháng nhau trong thị

trường lao động, mô hình phúc lợi này có đặc điểm là được điều hành bởi những người đại diện

được bầu ra từ giới chủ và giới thợ, và thông thường nhà nước cũng có mặt như là một thành

phần thứ ba mang tính chất thứ yếu. Nguồn tài chính được hình thành chủ yếu từ việc đóng phí

của giới chủ và giới thợ. Do chỉ giới hạn vào bộ phận dân cư hoạt động kinh tế (tức những người

đang lao động), nên mô hình này đi đến chỗ loại ra ngoài những người nội trợ và những người

nằm ngoài lực lượng lao động. Vì thường có qui định một mức trần thu nhập để được hưởng

phúc lợi, nên những người có thu nhập cao thường tìm thêm những biện pháp phúc lợi khác từ

khu vực bảo hiểm tư nhân.

Mô hình d. Mô hình an sinh cơ bản (basic security): trong mô hình này, quyền được hưởng phúc

lợi đặt cơ sở trên sự đóng phí hoặc trên tư cách công dân (nơi cư trú). Mô hình an sinh cơ bản

này xuất phát từ những ý tưởng chính yếu do William Beveridge đề xướng ở Anh vào năm 1942.

Một trong những ý tưởng này là đề ra những mức trợ cấp đồng đều hoặc có một mức trần thấp

đối với mức thu nhập, để chừa chỗ cho những người có thu nhập cao có thể tìm cách bảo vệ mức

sống cao của họ thông qua những chương trình bảo hiểm tư nhân. Theo Beveridge, “nguyên tắc

cơ bản đầu tiên của chế độ bảo hiểm xã hội này là cung ứng một mức trợ cấp bảo hiểm đồng đều,

bất kể mức thu nhập đã bị gián đoạn là bao nhiêu… Nguyên tắc này là hệ quả của sự nhìn nhận

về vị trí của bảo hiểm tự nguyện trong hệ thống an sinh xã hội…”(20) Một ý tưởng cơ bản khác là

làm sao bao phủ được một cách rộng rãi hoặc toàn bộ các tầng lớp dân cư có liên quan.

Tuy nhiên, trong mô hình an sinh cơ bản này, người ta thấy có hai biến thể khác nhau với một số

mức độ bảo hiểm khác nhau. Trong biến thể “công dân” (citizenship), quyền được hưởng phúc

lợi dựa trên tư cách công dân hoặc nơi cư trú, nghĩa là dựa trên quan điểm “bảo hiểm nhân dân”

(People’s Insurance) với mức độ bảo hiểm phổ quát. Còn trong biến thể “bảo hiểm” (insurance),

quyền được hưởng phúc lợi lại dựa trên việc đóng phí của người được bảo hiểm và/hoặc của

người sử dụng lao động; trong trường hợp này, chúng ta thấy mức độ bảo hiểm kém tính phổ

quát hơn. Tuy nhiên, nếu trong mô hình phúc lợi theo nghiệp hội, những người tham gia thuộc

những ngành nghề khác nhau sẽ được hưởng những chế độ bảo hiểm khác nhau, thì trong mô

hình an sinh cơ bản này, tất cả những người được bảo hiểm sẽ được hưởng chế độ giống nhau

trong cùng một chương trình.

Mô hình e. Mô hình phúc lợi bao quát (encompassing): mô hình này đã phối hợp những ý tưởng

của mô hình Bismarck lẫn mô hình Beveridge để tạo ra một dạng mới. Trong mô hình này,

quyền được hưởng phúc lợi dựa trên sự đóng phí và tư cách công dân. Do đó, những chương

trình phúc lợi phổ quát bao phủ mọi công dân và bảo đảm an sinh cơ bản cho họ được phối hợp

với những chế độ trợ cấp tương ứng với mức thu nhập kiếm được dành cho bộ phận đang hoạt

động kinh tế (đang lao động) trong dân cư. Loại định chế phúc lợi này có khuynh hướng giảm

bớt nhu cầu tìm đến khu vực bảo hiểm tư nhân và có khả năng bao quát mọi công dân trong cùng

một chương trình. Điểm khác biệt chủ yếu giữa mô hình phúc lợi bao quát này với mô hình an

sinh cơ bản nằm ở mức độ trợ cấp có liên quan với mức thu nhập kiếm được và mức độ bao phủ

của các chế độ bảo hiểm.

Những đặc điểm chính của các mô hình nêu trên được tóm tắt trong bảng sau đây.

Bảng 1. Đặc điểm của các mô hình điển hình của các định chế bảo hiểm xã hội ở các nước Tây

phương, xét theo quá trình phát triển lịch sử của các định chế này, theo Walter Korpi và Joakim

Palme, 1998

Các mô hình Cơ sở để được hưởng

a. Mô hình nhắm tới những đối tượng nhất định Phải chứng minh nhu cầu

b. Mô hình bao gồm những chương trình phúc

lợi tự nguyện được nhà nước trợ cấp

phúc lợi

cần trợ cấp

Tư cách thành viên; phải

đóng phí

Nguyên tắc trợ cấp

Mức tối thiểu

Mức trợ cấp đồng đều, hoặc mức trợ cấp

dựa trên mức thu nhập kiếm được

c. Mô hình phúc lợi theo nghiệp hội Loại ngành nghề, và sự

d. Mô hình an sinh cơ bản Tư cách công dân, hoặc

e. Mô hình phúc lợi bao quát Tư cách công dân, và sự

Nguồn: Walter Korpi, Joakim Palme, “The Paradox of Redistribution and Strategies of Equality:

Welfare State Institutions, Inequality and Poverty in the Western Countries”, American Sociological

Review, Vol. 63, No. 5, 1998.

Phân tích căn cứ trên những dữ kiện của năm 1985 liên quan tới các phúc lợi bảo hiểm y tế và

hưu bổng tại 18 nước thuộc khối Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Walter Korpi

và Joakim Palme đã xếp loại như sau:

– Có ba nước thuộc nhóm mô hình phúc lợi bao quát, bao gồm Phần Lan, Na Uy và Thụy Điển;

ba nước này đã phát triển mô hình này kể từ những thập niên 1950, 1960 và 1970 sau khi đã trải

qua mô hình an sinh cơ bản và những dạng chương trình phúc lợi tự nguyện có sự tài trợ của nhà

nước.

– Có sáu nước nằm trong nhóm mô hình phúc lợi nghiệp hội, đó là: Áo, Bỉ, Pháp, Đức, Ý và

Nhật Bản.

– Có tám nước nằm trong nhóm mô hình an sinh cơ bản, trong đó mô hình biến thể theo hướng

“tư cách công dân” bao gồm Canada, Đan Mạch, Hà Lan, New Zealand và Thụy Sĩ, còn mô hình

biến thể theo hướng “bảo hiểm” thì bao gồm Ireland, Anh và Mỹ.

– Và một nước thuộc mô hình phúc lợi nhắm tới những đối tượng nhất định là Úc.

Liên quan đến việc phân loại các hệ thống phúc lợi trên thế giới, Bùi Thế Cường (2002) cho rằng

đại thể có ba mô thức cơ bản của chính sách xã hội mà các nước đang đi theo: hệ thống “bảo đảm

toàn dân”, hệ thống “bảo hiểm xã hội”, và hệ thống “bảo đảm chọn lọc” (Bùi Thế Cường, 2002,

tr. 16).

Mô hình “bảo đảm toàn dân” là mô hình trong đó nhà nước chủ động tái phân phối các nguồn lợi

quốc gia để chăm lo phúc lợi cho toàn dân, không phân biệt sự khác nhau về địa vị kinh tế, xã

hội và nghề nghiệp (mô hình này cũng còn được gọi là mô hình tái phân phối). Các đặc điểm của

mô hình này là: về mặt tổ chức, nguyên tắc là bảo hiểm xã hội thống nhất; các trợ cấp xã hội

được tái phân phối mạnh mẽ nhằm thu hẹp sự bất bình đẳng về kinh tế và xã hội; về mặt tài

chính, phần lớn ngân sách phúc lợi được trực tiếp lấy từ thuế khóa; sự chuyển dịch thu nhập

thường được thực hiện thông qua các tổ chức dịch vụ xã hội do nhà nước quản lý (chẳng hạn y tế

công cộng). Mô hình này được áp dụng phổ biển ở các nước Bắc Âu, nhất là Thụy Điển và Đan

Mạch, và kể cả Anh (đặc biệt là thời kỳ trước nhiệm kỳ của nữ thủ tướng Thatcher). Tuy không

hẳn tương đồng, nhưng cũng có thể xếp vào loại mô hình này các hệ thống bảo đảm xã hội của

Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây.

Mô hình thứ hai, “bảo hiểm xã hội”, là mô hình trong đó tuy nhà nước cũng đóng vai trò chính

trong việc đảm bảo phúc lợi cho người dân, nhưng cho phép có thêm nhiều dạng bảo hiểm xã hội

của khu vực tư nhân mà người dân có thể tự nguyện tham gia. Những đặc trưng chính của mô

hình này là: mức đóng phí và mức chi trả trợ cấp bảo hiểm phụ thuộc vào mức thu nhập của

người được bảo hiểm (do đó, mô hình này “phiên dịch” vị thế thu nhập của mỗi người trên thị

trường lao động vào lĩnh vực chính sách xã hội); về mặt tổ chức, hệ thống bảo hiểm không được

tổ chức thống nhất, mà theo các loại rủi ro và các nhóm nghề nghiệp; mức độ tái phân phối kém

hơn mô hình trên; nguồn tài chính được lấy từ thỏa ước đóng góp giữa ba bên (nhà nước, người

tham gia lao động

phải đóng phí

tham gia lao động

Dựa trên mức thu nhập kiếm được

Mức trợ cấp đồng đều

Mức trợ cấp đồng đều, và mức trợ cấp dựa

trên mức thu nhập kiếm được

sử dụng lao động, và người lao động), hoặc hai bên (người lao động và người sử dụng lao động);

sự chuyển dịch thu nhập bằng tiền đóng vai trò lớn hơn là thông qua các dịch vụ xã hội do nhà

nước tổ chức. Mô hình này được áp dụng ở những nước như Cộng hòa Liên bang Đức, Pháp, Áo,

Ý.

Còn mô hình thứ ba, “bảo đảm chọn lọc”, theo Bùi Thế Cường, là mô hình chủ yếu áp dụng hình

thức bảo hiểm tự nguyện, nhà nước chỉ trợ giúp phúc lợi đối với một số nhóm dân cư chọn lọc

nhất định mà thôi (mô hình này còn được gọi là mô hình tự do hóa). Những đặc trưng chính của

mô hình này là: dựa trên các hệ thống bảo hiểm tự nguyện (tư nhân hoặc tập thể); mục tiêu chính

của mô hình này là bảo đảm mức hoạt động tự do cao cho các lực lượng thị trường, đồng thời chỉ

tập trung chính sách xã hội cho người nghèo và yếu thế; mức độ và thời gian trợ cấp thường rất

hạn chế; mức độ tái phân phối thấp, và chỉ tập trung vào những nhóm dân cư nghèo. Những nước

đi theo mô hình này là Mỹ, Úc, Canada (Bùi Thế Cường, 2002, tr. 16-19).

Ba mô hình trên được tóm tắt trong bảng sau đây.

Bảng 2. Ba mô hình chính sách xã hội trên thế giới, theo Bùi Thế Cường, 2003

Mục tiêu Phúc lợi toàn dân Bảo hiểm toàn dân Bảo hiểm tự nguyện kết hợp với sự trợ giúp

Nguyên tắc tổ chức Bảo hiểm xã hội tập

Mức độ tái phân

phối

Nguồn tài chính Thuế Đóng góp hai hoặc ba

Mức can thiệp của

nhà nước

Nguồn: Bùi Thế Cường, “Phúc lợi xã hội ở Việt Nam: Hiện trạng, vấn đề và điều chỉnh”, Báo cáo đề tài nghiên cứu

cấp Bộ, Hà Nội, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Viện Xã hội học, 2003, tr. 15.

Phạm Xuân Nam (2008) cho rằng, trên thế giới, có ba mô hình kinh tế tiêu biểu trong việc giải

quyết mối quan hệ giữa việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với việc thực hiện sự công bằng xã hội,

đó là:

– Mô hình kinh tế thị trường tự do (dựa trên lý thuyết của Hayek, Milton Friedman…), trong đó

“người ta hạ thấp vai trò của nhà nước, đề cao vị trí của khu vực tư nhân, giảm chi tiêu từ ngân

sách quốc gia cho các lợi ích công cộng”, và chủ trương rằng “tăng trưởng kinh tế phải đi trước,

công bằng xã hội sẽ theo sau”.

– Mô hình kinh tế thị trường xã hội (dựa trên lý thuyết của John Maynard Keynes) trong đó “kết

hợp sử dụng kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa với việc thi hành một hệ thống các chính sách

phúc lợi để tạo ra sự đồng thuận xã hội cho phát triển”, bao gồm: trợ cấp cho giáo dục, y tế, trẻ

em, người già, người tàn tật, người thất nghiệp… Điển hình của mô hình này là nhà nước phúc

lợi Thụy Điển.

– Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung phi thị trường ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa

trước đây, từng có thời gian “phát huy tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế

theo chiều rộng” và “tạo nên sự bình ổn xã hội bằng những chính sách quan tâm đến các mặt của

đời sống con người”, nhưng về sau “do cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao độ dần biến thành tập

trung quan liêu và thực hiện chế độ bao cấp về cơ bản theo chủ nghĩa bình quân” (Phạm Xuân

Nam, 2008).

4. Ý NGHĨA CỦA HỆ THỐNG PHÚC LỢI XÃ HỘI

Bảo đảm toàn dân Bảo hiểm xã hội Bảo đảm chọn lọc

của nhà nước có chọn lọc

Bảo hiểm tư nhân. Trợ giúp của nhà nước

Nhiều loại hình bảo

hiểm xã hội

trung thống nhất

Cao Trung bình Thấp

bên

Đóng góp hai bên. Trợ giúp của nhà nước lấy

từ thuế

Cao Trung bình Thấp

Karl Polanyi từng cho rằng lịch sử xã hội các nước công nghiệp trong thời kỳ ban đầu là kết quả

của cả hai luồng vận động cùng một lúc (double movement): luồng thứ nhất là sự khuếch trương

của thị trường, và luồng vận động thứ hai đi kèm theo, đó là sự kiềm chế và ngăn chặn của các

định chế chính trị và xã hội đối với luồng vận động thứ nhất nhằm chống lại những tác động tai

hại của một nền kinh tế do thị trường kiểm soát. Ông cho rằng đặc trưng quan trọng nhất của lịch

sử xã hội thời kỳ ấy là “xã hội đã tự bảo vệ mình trước những mối hiểm họa cố hữu của một hệ

thống thị trường tự điều tiết” (Polanyi, 2001, tr. 79-80).

Theo Bùi Đình Thanh, mối quan hệ giữa nền kinh tế thị trường với tính công bằng xã hội cần

được hiểu như sau: “Một điều cần nhấn mạnh là bản thân kinh tế thị trường không tự động đảm

bảo cho công bằng xã hội. Phải có những điều tiết của xã hội thông qua nhà nước để phân phối

lại những kết quả hoạt động kinh tế theo hướng bảo đảm công bằng xã hội (…). Không thể đồng

ý với quan niệm cho rằng nếu coi trọng công bằng xã hội thì khó lòng tập trung các nguồn lực

bên trong và bên ngoài để phát triển kinh tế. Xét về ngắn hạn thì có thể như vậy, nhưng nếu xét

theo triển vọng lâu dài thì quan niệm này rất có hại. (…) Theo tư duy kinh tế mới, đầu tư cho các

lĩnh vực xã hội cũng là trực tiếp đầu tư cho kinh tế, nhất là xét theo triển vọng dài hạn” (Bùi

Đình Thanh, 2001, tr. 48, những chỗ nhấn mạnh là do chúng tôi, T.H.Q).

Một hệ thống phúc lợi xã hội tự nó không thể giải quyết được vấn đề bất bình đẳng trong xã hội,

bởi lẽ điều này phụ thuộc vào cả một hệ thống các chính sách vĩ mô của nhà nước như chiến

lược đầu tư, chính sách tài chính, chính sách thuế khóa, chính sách lương bổng… Tuy vậy, hệ

thống phúc lợi vẫn là một thành tố không thể thiếu trong một hệ thống chính sách kinh tế-xã hội

quốc gia nhằm giúp cho xã hội có thể “tự bảo vệ mình trước những mối hiểm họa cố hữu của một

hệ thống thị trường tự điều tiết”, nói theo ngôn từ của Polanyi.

Vì thế, việc xây dựng một hệ thống phúc lợi xã hội vững mạnh là điều cần thiết và tất yếu của

bất cứ xã hội nào thực sự muốn bảo vệ các công dân của mình. Đặc trưng cốt lõi của hệ thống

phúc lợi này chính là bảo vệ các quyền xã hội của công dân, tức là quyền được đáp ứng những

nhu cầu thiết yếu nhất để có được một cuộc sống tử tế, xứng đáng với phẩm giá con người, bằng

cách “phi hàng hóa hóa” các dịch vụ phúc lợi (decommodification), nói như Gøsta Esping-

Andersen, nhằm tạo điều kiện cho mỗi người được thụ hưởng các dịch vụ phúc lợi xã hội mà

không lệ thuộc vào thị trường, và qua đó “giảm bớt tư cách ‘hàng hóa’ của các công dân”

(Esping-Andersen, 1991, tr. 3).

Sở dĩ hệ thống phúc lợi xã hội mang ý nghĩa lớn lao đối với người dân là vì, trong các xã hội

ngày nay, xu hướng áp đảo là xã hội vận hành phụ thuộc vào thị trường, trong khi lẽ ra phải là

ngược lại. Theo lời Karl Polanyi, “đáng lý nền kinh tế phải bám chặt (embedded) vào các mối

quan hệ xã hội, thì các mối quan hệ xã hội lại phải bám chặt vào hệ thống kinh tế” (Polanyi,

2001, tr. 60).

Hiểu theo nghĩa đó, có thể nói chính hệ thống phúc lợi xã hội là một định chế quan trọng giúp

cho người dân xác lập được tư thế con người cũng như tư thế công dân của mình một cách đúng

đắn trong một xã hội dân chủ và văn minh.

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

KINH TẾ HỌC-XÃ HỘI HỌC PHÚC LỢI XÃ HỘI TRÊN THẾ GIỚI: QUAN NIỆM VÀ PHÂN LOẠI(*)

KINH TẾ HỌC-XÃ HỘI HỌC

PHÚC LỢI XÃ HỘI TRÊN THẾ GIỚI:

QUAN NIỆM VÀ PHÂN LOẠI(*)

TRAN-DINH_THANH

TÓM TẮT

Sự phát triển của các hệ thống phúc lợi xã hội là một trong những thành tựu lớn lao của nhiều

quốc gia trên thế giới trong thế kỷ XX. Kể từ nay, phúc lợi xã hội được nhìn nhận như là một

trong những quyền căn bản của con người trong một quốc gia văn minh và hiện đại. Bài viết này

lược thuật lại một số quan niệm chính về phúc lợi xã hội và một số lý thuyết phân loại các hệ

thống phúc lợi xã hội trên thế giới.

Sự phát triển của các hệ thống và các chương trình phúc lợi xã hội được xem là một trong những

thành tựu lớn lao nhất xét về mặt chính sách xã hội tại các quốc gia trên thế giới trong thế kỷ

XX. Điều có ý nghĩa cơ bản là kể từ nay, phúc lợi xã hội được nhìn nhận như là một trong những

quyền căn bản của con người trong một quốc gia văn minh.

Bài này sẽ điểm qua một số quan niệm chính về phúc lợi xã hội và một số lý thuyết phân loại các

hệ thống phúc lợi xã hội trên thế giới.

1. MỘT SỐ THUẬT NGỮ CÓ LIÊN QUAN

(*)   Những nội dung chính của bài này là một phần nằm trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu Hệ thống phúc

lợi ở TPHCM với mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội của Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn

TPHCM (nay là Viện Nghiên cứu Phát triển TPHCM) do Trần Hữu Quang làm chủ nhiệm.

(**)  Tiến sĩ Xã hội học. Viện Phát triển Bền vững vùng Nam Bộ.

Xét về mặt từ vựng, trong cuốn Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 2000 (Hoàng Phê chủ biên),

chưa có cụm từ “phúc lợi xã hội”, cũng chưa có từ “an sinh” hay “an sinh xã hội”, mà chỉ có từ

“phúc lợi”. Phúc lợi trong cuốn từ điển này được định nghĩa như sau: “Lợi ích mà mọi người

được hưởng không phải trả tiền hoặc chỉ phải trả một phần. Thí dụ: Nâng cao phúc lợi của nhân

dân. Các công trình phúc lợi (như nhà trẻ, lớp mẫu giáo, v.v.). Quỹ phúc lợi của xí nghiệp”

(Hoàng Phê, 2000, tr. 790). Định nghĩa này chỉ nhấn mạnh tới khía cạnh miễn phí hay giảm phí

mà chưa đề cập tới những nội hàm của từ này, và chỉ nói một cách chung chung là “lợi ích”. Có

lẽ cách hiểu này xuất phát từ quan niệm về phúc lợi trong mô hình quản lý theo phương thức kế

hoạch hóa tập trung trước đây, khi mà người ta thường hiểu “phúc lợi” là phần thù lao bằng tiền

hoặc hiện vật mà người lao động nhận được từ cơ quan hay xí nghiệp, ngoài phần tiền lương,

tiền phụ cấp và tiền thưởng, nhằm được hỗ trợ thêm về mặt đời sống.

Thực ra, từ “phúc lợi” đã xuất hiện trong cuốn Hán Việt từ điển giản yếu (1932) của Đào Duy

Anh,với một định nghĩa ngắn gọn: phúc lợi là “hạnh phúc và lợi ích (bonheur et intérêts)” (Đào

Duy Anh, 1957, tr. 137).

Từ phúc lợi tương ứng với từ welfare trong tiếng Anh, và đã được nhà xã hội học Anh Gordon

Marshall định nghĩa một cách khá đầy đủ như sau: welfare là “tình trạng hoặc điều kiện làm ăn

khấm khá (doing well) hoặc sinh sống đàng hoàng, hạnh phúc (being well)”. Marshall nhận định

rằng lúc đầu người ta thường nói đến từ welfare khi cần có những biện pháp nào đó để bảo vệ

tình trạng phúc lợi của một cá nhân hay một nhóm nào đó; vì thế, từ này chủ yếu được sử dụng

trong lĩnh vực chính sách (policy), vì nó gắn trực tiếp với những nhu cầu: “Các chính sách phúc

lợi là những chính sách được thiết lập nhằm đáp ứng những nhu cầu của cá nhân hay của nhóm”.

Theo Marshall, các nhu cầu ở đây cần được hiểu không phải chỉ có những nhu cầu tối thiểu để

sinh tồn, mà bao gồm cả những nhu cầu cần thiết cho một “cuộc sống tử tế và xứng đáng” (a

reasonable and adequate life). Các nhu cầu này bao gồm không chỉ một mức thu nhập tối thiểu

để có cái ăn, cái mặc, mà còn bao gồm nhà ở đàng hoàng, giáo dục, y tế và cơ hội có việc làm

(Marshall, 1998,tr.701-702).

Thuật ngữ “phúc lợi xã hội” trong tiếng Việt tương ứng với cụm từ social welfare trong tiếng

Anh; trong tiếng Hoa, người ta cũng dùng cụm từ “xã hội phúc lợi” (phiên âm Hán Việt: 社會福利

hay 社会福利, shehui fuli) để nói về khái niệm này.

Theo chúng tôi, phúc lợi xã hội, hiểu theo nghĩa rộng, là hệ thống các định chế, các chính sách

và các hoạt động nhằm bảo đảm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu nhất của người dân, với mục

tiêu là làm sao cho mọi người dân có được một cuộc sống đàng hoàng, tử tế, xứng đáng với

phẩm giá con người. Hệ thống này bao gồm các lĩnh vực như: giáo dục, y tế, nhà ở, bảo hiểm xã

hội, bảo hiểm y tế, các chính sách trợ giúp xã hội (hỗ trợ những tầng lớp nghèo và khó khăn…)

và các chính sách cứu trợ xã hội (cứu trợ thiên tai, dịch bệnh…).

Còn thuật ngữ an sinh xã hội thì tương ứng với cụm từ social security ; trong tiếng Hoa, người ta

dùng cụm từ “xã hội bảo chướng” (phiên âm Hán Việt: 社会保障, shehui baozhang)(1). Trong thực

tế, trong các tài liệu Anh ngữ, đôi lúc người ta cũng sử dụng hoán chuyển nhau giữa thuật ngữ

social welfare với thuật ngữ social security. Tuy nhiên, thuật ngữ social security (an sinh xã hội)

thường được hiểu theo nghĩa hẹp hơn thuật ngữ social welfare (phúc lợi xã hội), và chỉ bao gồm

hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các chính sách trợ giúp xã hội và cứu trợ xã hội.

Còn có một thuật ngữ nữa cũng thường được sử dụng phần nào tương ứng với hai thuật ngữ phúc

lợi xã hội hoặc an sinh xã hội, đó là cụm từ social protection. Trong tiếng Việt, có người dịch là

“bảo đảm xã hội”, nhưng cũng có người dịch là “bảo vệ xã hội” hay “bảo trợ xã hội”(2). Theo thiển

ý chúng tôi, có lẽ nên dịch thuật ngữ social protection là sự bảo hộ của xã hội (hay nói gọn là sự

bảo hộ xã hội) thì thích hợp hơn. Người ta thường hiểu khái niệm này theo nghĩa rộng, tức là bao

gồm hệ thống an sinh xã hội (social security) và hệ thống các chính sách trợ giúp xã hội (social

assistance) và các chính sách cứu trợ xã hội (social relief).

Bảo hiểm xã hội (social insurance) là thuật ngữ thường được dùng để chỉ một chương trình quốc

gia mang mục tiêu cung ứng một số dịch vụ xã hội cơ bản, do nhà nước trực tiếp đứng ra tổ chức

hoặc bảo trợ. Nguyên tắc của hệ thống này là sự chia sẻ chi phí tài chính giữa các thành viên

nhằm đối phó với những hoàn cảnh bất trắc như bệnh tật, mất việc làm, tuổi già… Đối tượng của

hệ thống này là một số tầng lớp dân cư nhất định, với nguồn ngân sách thường là từ tiền thuế

và/hoặc tiền phí đóng góp của những người tham gia. Hệ thống này thường mang tính cưỡng

bách (do nhà nước bắt buộc), nhưng cũng có hệ thống mang tính tự nguyện.

Có một số điểm khác biệt sau đây giữa bảo hiểm xã hội với bảo hiểm tư nhân: a) bảo hiểm xã hội

thường mang tính chất bắt buộc, trong khi bảo hiểm tư nhân thường mang tính tự nguyện; b) việc

cung ứng các dịch vụ trong hệ thống bảo hiểm tư nhân dựa trên sự thỏa thuận giữa nhà bảo hiểm

với người được bảo hiểm thông qua một bản hợp đồng, trong khi đó hệ thống bảo hiểm xã hội

thường dựa trên các chế độ và chính sách đối với từng tầng lớp dân cư nhất định, tức là dựa trên

quyền được hưởng trợ cấp của người được bảo hiểm; c) bảo hiểm tư nhân thường nhấn mạnh

đến tính chất công bình (equity) giữa các cá nhân mua bảo hiểm, còn bảo hiểm xã hội thì thường

nhấn mạnh nhiều hơn tới tính chất thỏa đáng (social adequacy) của các khoản trợ cấp đối với

mọi thành viên tham gia.

Thuật ngữ nhà nước phúc lợi trong tiếng Việt được dịch từ thuật ngữ welfare state trong tiếng

Anh hay État providence trong tiếng Pháp. Thuật ngữ tương ứng trong tiếng Hoa là 福利国家 (fú

lì guó jiā, phiên âm Hán Việt: “phúc lợi quốc gia”).

Khái niệm welfare state bắt đầu được sử dụng nhiều trong thập niên 1940, đặc biệt sau Thế chiến

thứ II, được dùng để mô tả những nhà nước có trách nhiệm chủ yếu trong việc cung ứng phúc lợi

xã hội thông qua các hệ thống an sinh xã hội, cung ứng các dịch vụ và các khoản trợ cấp nhằm

đáp ứng những nhu cầu cơ bản của người dân về mặt nhà ở, y tế, giáo dục và thu nhập (Marshall,

1998, tr. 702).

Khái niệm chính sách xã hội là một khái niệm thường được đề cập trong những công trình

nghiên cứu về phúc lợi xã hội và an sinh xã hội, khi người ta chú tâm tới vai trò của nhà nước

đối với các lĩnh vực xã hội cũng như các vấn đề xã hội.

Năm 1980, khi xem xét bộ môn nghiên cứu về chính sách xã hội, nhà xã hội học Nga V. Z.

Rôgôvin định nghĩa đây là “một lĩnh vực tri thức xã hội học, nghiên cứu hệ thống về các quá

trình xã hội quyết định hoạt động sống của con người trong xã hội, xét theo khả năng tác động

quản lý đến các quá trình đó” (Dẫn lại theo: Bùi Đình Thanh, 2004b, tr. 286).

Theo Phạm Xuân Nam, “chính sách xã hội là sự thể chế hóa đường lối, chủ trương của một nhà

nước (hay một cộng đồng) nhằm trực tiếp tác động vào con người – thành viên xã hội, điều chỉnh

các quan hệ lợi ích giữa họ, hướng hành động của họ tới các mục tiêu mà nhà nước (hay cộng

đồng) mong muốn” (Phạm Xuân Nam, 1994b, tr. 7). Còn theo Trần Đình Hoan, chính sách xã

hội “bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người, liên quan đến điều kiện lao động và sinh hoạt,

giáo dục và văn hóa, kinh tế, dân số và quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp và quan hệ dân tộc, tôn

giáo, v.v.” (Trần Đình Hoan, 1994, tr. 505).

Bùi Đình Thanh đưa ra một định nghĩa về chính sách xã hội mà chúng tôi cho là tương đối đầy

đủ nhất: “Chính sách xã hội là sự cụ thể hóa, thể chế hóa các đường lối, chủ trương để giải quyết

các vấn đề xã hội dựa trên những tư tưởng, quan điểm của chủ thể lãnh đạo phù hợp với bản

chất chế độ xã hội-chính trị (…) phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung

và của từng nhóm xã hội nói riêng nhằm tác động trực tiếp vào con người và điều chỉnh các quan

hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, hướng tới mục đích cao nhất là thỏa

mãn những nhu cầu ngày càng tăng về đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân”

(Bùi Đình Thanh, 2004b, tr. 290, những chỗ nhấn mạnh là do chúng tôi, T.H.Q).

2. CÁC QUAN NIỆM VỀ PHÚC LỢI XÃ HỘI

Phúc lợi xã hội và an sinh xã hội là lĩnh vực được giới khoa học xã hội quan tâm nghiên cứu khá

nhiều kể từ sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhất là trong các ngành xã hội học, kinh tế

học và chính trị học. Cho đến nay, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau và cũng khó

lòng thống nhất với nhau về cách hiểu thế nào là phúc lợi xã hội hay an sinh xã hội. Tuy vậy, về

đại thể, vẫn có một số điểm căn bản mà hầu như ai cũng ít nhiều đồng ý, đó là: hệ thống các định

chế và các chính sách nhằm bảo đảm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của người dân, đặc biệt là

trong những hoàn cảnh bất trắc như mất việc làm, già cả và bệnh tật, nhất là những nhóm dân

cư nghèo, yếu thế, dễ bị tổn thương. Dưới đây là một số định nghĩa chính về hai khái niệm này

trên thế giới.

Năm 1944, Hội nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tuyên bố rằng “nghĩa vụ nghiêm cẩn

của tổ chức ILO là thúc đẩy các quốc gia trên thế giới tiến hành những chương trình thực hiện…

việc mở rộng các biện pháp an sinh xã hội (social security) nhằm cung ứng một mức thu nhập

căn bản cho tất cả những người có nhu cầu cần được bảo hộ và cần được hưởng sự chăm sóc y tế

toàn diện” (dẫn lại theo ILO, 2001, tr. 1).

Vào năm 1948, Liên hiệp quốc đã ghi rõ trong bản Tuyên ngôn nhân quyền về quyền được

hưởng an sinh xã hội như sau: “Mọi người, với tư cách là thành viên của xã hội, đều có quyền

hưởng an sinh xã hội và được quyền thực hiện, thông qua nỗ lực của quốc gia và sự hợp tác quốc

tế và phù hợp với cách thức tổ chức và các nguồn lực của mỗi quốc gia, các quyền kinh tế, xã hội

và văn hóa cần thiết cho phẩm giá của mình và cho sự phát triển tự do của nhân cách của mình”(3).

Năm 1952, tổ chức ILO đã đưa ra Công ước số 102 qui định những tiêu chuẩn tối thiểu của hệ

thống an sinh xã hội mà sau đó phần lớn các nước trên thế giới đều dựa vào đó để xây dựng hệ

thống an sinh của mình. Hệ thống an sinh tối thiểu này bao gồm các thành tố như sau: chăm sóc

y tế, trợ cấp bệnh tật, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp hưu trí, trợ cấp tai nạn nghề nghiệp, trợ cấp

gia cảnh, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, và trợ cấp cho người kiêm hưởng (ILO, 1952)(4).

Năm 1958, tổ chức ILO coi an sinh xã hội là “kết quả đạt được bởi một loạt các biện pháp tổng

hợp và có hiệu quả nhằm bảo vệ công chúng (hay phần lớn công chúng) khỏi tình cảnh túng

quẫn về mặt kinh tế (…) vì không còn nguồn thu nhập do bệnh tật, thất nghiệp hoặc tuổi già và

qua đời”. Đến năm 1984, tổ chức này bổ sung cho định nghĩa trên bằng cách nhấn mạnh tới vai

trò của nhà nước, coi đây là “sự bảo vệ mà xã hội cung ứng cho các thành viên của mình thông

qua một loạt các biện pháp công nhằm tránh rơi vào tình cảnh túng quẫn về mặt kinh tế mà nếu

không có những biện pháp này thì sẽ xảy ra vì bị mất hoặc bị giảm phần lớn nguồn thu nhập do

bệnh tật, sinh nở, công việc, tai nạn, thất nghiệp, tàn phế, tuổi già và qua đời; cung ứng sự chăm

sóc y tế và cung ứng các khoản trợ cấp cho các gia đình có con”. Nhưng ít lâu sau đó, tổ chức

ILO lại đưa ra một định nghĩa khác, lần này không còn nhấn mạnh tới vai trò của nhà nước: an

sinh xã hội là “sự an toàn chống lại một số nguy cơ, được cung ứng thông qua cách tổ chức thích

hợp cho những thành viên nào của mình có thể rơi vào hoàn cảnh này. Những nguy cơ này chủ

yếu là những sự bất trắc mà cá nhân có ít phương tiện không thể nào đương đầu nổi bằng khả

năng riêng của mình hoặc không thể trù liệu một mình hay kể cả với sự phối hợp riêng tư với

những người thân thuộc của mình”(5).

Còn Hiệp hội An sinh Xã hội Quốc tế (ISSA) thì đưa ra một định nghĩa tương đối hạn hẹp hơn

về an sinh xã hội, và quan niệm rằng đây không chỉ là  phần việc của nhà nước: đó là “những

chương trình bảo hộ xã hội do nhà nước thiết lập, hoặc những tổ chức được ủy nhiệm khác, (có

chức năng) cung ứng cho các cá nhân một mức độ an toàn về thu nhập khi họ phải đối diện với

những hoàn cảnh bất trắc do tuổi già, do lợi quyền thượng tồn(6), do mất khả năng, do tàn tật, thất

nghiệp hoặc do phải nuôi dạy con cái. Nó cũng có thể cung ứng quyền được hưởng sự chăm sóc

y tế – chữa trị hay phòng ngừa bệnh tật” (xem ISSA). Theo tổ chức ISSA, an sinh xã hội bao

gồm: các chương trình bảo hiểm xã hội, các chương trình trợ giúp xã hội, các chương trình phổ

quát (universal programmes), các chương trình tương trợ (mutual benefit schemes), các quỹ dự

phòng quốc gia (national provident funds), và những chương trình khác trong đó kể cả những

chương trình mang tính thương mại.

Nhà xã hội học người Anh Thomas H. Marshall (1949) có thể được coi là tác giả đầu tiên gắn

khái niệm phúc lợi (welfare) với khái niệm quyền công dân (citizenship), và cho rằng quyền

được hưởng phúc lợi (welfare rights) là nhóm quyền thứ ba mà các thành viên của xã hội đã

giành được trong thế kỷ XX, sau nhóm các quyền dân sự và nhóm các quyền chính trị. Trong

một bài viết nổi tiếng vào năm 1949 mang tên là “Citizenship and Social Class”, ông quan niệm

quyền công dân gồm có ba thành tố: quyền công dân về mặt dân sự, về mặt chính trị, và về mặt

xã hội. Theo Marshall, nhà nước phúc lợi chính là kết quả của cả một quá trình lịch sử đấu tranh

cho các quyền công dân (citizenship rights) trong suốt hơn 200 năm qua, mở rộng từ lĩnh vực

dân sự, sang lĩnh vực chính trị, rồi tới lĩnh vực xã hội. Vào thế kỷ XVIII, cuộc đấu tranh cho các

quyền công dân dân sự (civil citizenship) – bao gồm quyền tự do ngôn luận, quyền tự do tôn giáo,

và quyền bình đẳng trước pháp luật – đã giành được thắng lợi ở Anh. Vào thế kỷ XIX, đó là cuộc

đấu tranh giành quyền công dân chính trị (political citizenship), bao gồm quyền ứng cử và bầu

cử. Trong thế kỷ XX, đó là cuộc đấu tranh giành quyền công dân xã hội (social citizenship) – đây

là quyền được hưởng một mức độ an sinh nhất định về mặt kinh tế và quyền được tham gia đầy

đủ vào đời sống xã hội của đất nước(7). Quan niệm của Marshall đã đặc biệt khẳng định rằng việc

được hưởng các khoản phúc lợi cần được quan niệm như một quyền mang tính pháp lý, dựa trên

nguyên tắc phổ quát (universality), chứ không phải dựa trên quyền ấn định của những cơ quan có

thẩm quyền (discretionary) (Marshall, 1998, tr. 702).

Theo dòng tư tưởng đó, Elizabeth Wickenden (1965) cho rằng hệ thống an sinh xã hội bao gồm

các “luật lệ, chương trình, quyền lợi và dịch vụ bảo đảm và củng cố các biện pháp đáp ứng các

nhu cầu xã hội được công nhận như an sinh cơ bản của quần chúng và cải tiến trật tự xã hội”(8).

Cũng tương tự như vậy, Beulah Compton (1980) định nghĩa phúc lợi xã hội là một thiết chế bao

gồm các chính sách và luật lệ, được thực thi bởi nhà nước hay bởi các tổ chức tự nguyện, thông

qua đó một mức độ tối thiểu nhất định về các dịch vụ xã hội thiết yếu (như y tế, giáo dục, nhà

ở…) được phân phối cho các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội (những dịch vụ mà gia đình hay thị

trường không đáp ứng được cho họ) nhằm mục đích phòng ngừa, giảm nhẹ hoặc đóng góp vào

việc giải quyết các vấn đề xã hội và cải thiện sự an sinh của cá nhân, nhóm và cộng đồng một

cách trực tiếp(9).

Hai nhà kinh tế học Jean Dreze và Amartya Sen (1991) đã tóm gọn cái cốt lõi của khái niệm an

sinh xã hội như sau: “Ý tưởng cơ bản của an sinh xã hội là sử dụng những kế sách xã hội để

ngăn ngừa sự thiếu thốn và tình trạng dễ bị tổn thương vì bị thiếu thốn”(10). Hai tác giả này nhấn

mạnh rằng sự cung ứng hệ thống an sinh xã hội trong những quốc gia đang phát triển cần được

quan niệm theo một nhãn giới rộng rãi hơn, và cần xem đây “chủ yếu như một mục tiêu cần theo

đuổi thông qua các biện pháp công hơn là như một nhúm chiến lược cá biệt được xác định một

cách hẹp hòi”. Cách hiểu này có lẽ cũng gần với quan niệm “Freedom from Want” (không bị

thiếu thốn) mà bản phúc trình nổi tiếng của Beveridge (ở Anh Quốc) đề xướng(11).

Giới hạn vào khía cạnh kinh tế, Madhava P. Rao (2005) đã đưa ra một định nghĩa về “an sinh

kinh tế” (economic security) khá độc đáo như sau: “Sự an sinh kinh tế bao gồm các cơ hội và các

khả năng (xét về mặt định chế cũng như về mặt cá nhân) tận dụng những cơ hội này cho sự an

sinh kinh tế vốn được cung ứng bởi xã hội xét như một tổng thể hoặc bởi những định chế trong

xã hội như gia đình, cộng đồng, nhóm xã hội, thị trường – cung ứng cho từng cá nhân hoặc cho

từng cộng đồng nhằm mục tiêu mang lại ‘sự phúc lợi xã hội’ cho mỗi cá nhân trong cuộc hành

trình của mình từ ngày chào đời cho tới ngày qua đời” (Rao, 2005, tr. 4).

Khi nghiên cứu về phúc lợi xã hội, giới nghiên cứu cũng đề cập nhiều tới khái niệm nhà nước

phúc lợi. Theo R. Lowe (1993), thuật ngữ welfare state xuất hiện vào thập niên 1930 ở Anh, xuất

phát từ thuật ngữ Wohlfahrstaat trong tiếng Đức, được dùng để nói về một nhà nước có trách

nhiệm bảo đảm sự phúc lợi và thịnh vượng của người dân và biết tôn trọng luật lệ quốc tế, đối

lập với kiểu nhà nước “warfare state” hay “power state” vốn là nhà nước chỉ biết áp đặt ý muốn

của mình lên người dân và các nước láng giềng(12).

Theo Nicholas Abercrombie và một số tác giả (1988), “ý tưởng căn bản của một nhà nước phúc

lợi là: chính quyền có trách nhiệm đối với sự phúc lợi (well-being) của các công dân của mình,

và điều này không thể được giao phó cho cá nhân, công ty tư nhân hay cộng đồng địa phương”

(Abercrombie et al., 1988, tr. 269, những chỗ nhấn mạnh là do chúng tôi, T.H.Q). Theo các tác

giả này, nhà nước phúc lợi là nhà nước bảo đảm cho người dân không bị nghèo đói bằng các

khoản trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp gia cảnh, phụ cấp thu nhập cho những người có lương thấp, có

chế độ hưu bổng và trợ cấp người già; nhà nước phúc lợi cung ứng đầy đủ các dịch vụ y tế, giáo

dục miễn phí, và nhà ở. Những dịch vụ này được tài trợ bởi các hệ thống bảo hiểm quốc gia và từ

nguồn ngân sách nhà nước (Abercrombie et al., 1988, tr. 269-270).

Nhà nước phúc lợi là một nhà nước cam kết trách nhiệm của mình với người dân ít nhất về ba

lĩnh vực: a) bảo đảm công ăn việc làm cho mọi người (vì thị trường tự do tư nhân không thể bảo

đảm được điều này, nên nhà nước phải can thiệp để giải quyết tình trạng thất nghiệp, khuyến

khích tăng trưởng kinh tế và ổn định giá cả); b) cung ứng một hệ thống bảo hiểm công cộng

nhằm bảo vệ người dân trước những hoàn cảnh bất trắc như thất nghiệp, già cả và bệnh tật (nhà

nước phải có chế độ bảo hiểm thất nghiệp, chế độ hưu bổng, và chế độ bảo hiểm y tế); c) nhà

nước nhìn nhận rằng quyền công dân trong một chế độ dân chủ không chỉ bao gồm các quyền

dân sự và quyền chính trị, mà cả những quyền xã hội (Fallis, 2005, tr. 2)(13).

Theo nhà xã hội học Đức Karl-Heinz Hillmann (1994), nhà nước phúc lợi là “một nhà nước bảo

đảm cho các công dân của mình, ngoài sự an toàn pháp lý, còn được cung ứng ở mức tối thiểu

những sản phẩm vật chất (tùy theo những giá trị văn hóa-xã hội được xác định một cách khác

nhau)”. Ông nhận định đây là một mô hình nhà nước đáng hoan nghênh về mặt nhân văn, nhưng

cho rằng nó cũng có nguy cơ “làm suy yếu ý thức hiệu suất, sự chủ động cá nhân, trách nhiệm cá

nhân và trách nhiệm xã hội của những công dân riêng lẻ, khả năng tự lực và khả năng điều hành

của những mạng lưới thân tộc và những mạng lưới xóm giềng, và suy cho cùng, làm suy yếu cả

nguồn lực kinh tế” (Hillmann, 1994, tr. 947).

Philippe Bénéton cho rằng nhà nước phúc lợi là nhà nước có những hệ thống bảo hộ xã hội

(protection sociale) rộng rãi và những chính sách giảm thiểu những sự bất bình đẳng kinh tế và

xã hội. Nhà nước phúc lợi là nhà nước làm thay thị trường phần nào đó và/hoặc sửa chữa những

hậu quả của thị trường, nhân danh sự an sinh hoặc sự bình đẳng. Theo Bénéton, người ta có thể

phân biệt hai dạng nhà nước phúc lợi kế tiếp nhau tại phần lớn các nước Tây phương: “nhà nước

bảo hộ” (État protecteur), và “nhà nước tái phân phối” (État redistributif). Nhà nước bảo hộ (bắt

đầu phát triển từ thập niên 1930) là nhà nước mang mục tiêu chủ yếu là hạn chế những cái giá

phải trả về mặt xã hội do thị trường gây ra, và bảo đảm một số điều kiện an sinh trước những bất

trắc kinh tế lớn (thất nghiệp, bệnh tật, già cả, v.v.). Nhà nước tái phân phối (phát triển trong

những thập niên 1960 và 1970) là nhà nước tìm cách thiết lập một sự bình đẳng nào đó, bằng

cách cố gắng làm giảm những sự bất bình đẳng về mặt kinh tế và xã hội (Boudon et al., 1999, tr.

90).

Một hệ thống nhà nước phúc lợi, theo Masayuki Fujimura (2000), bao gồm năm thành tố cơ bản

sau đây: 1) một hệ thống an sinh xã hội; 2) chính quyền trung ương và chính quyền địa phương

là người quản lý chủ chốt của hệ thống này; 3) việc nhìn nhận về mặt xã hội và việc pháp điển

hóa các quyền nền tảng của con người; 4) sự can thiệp chính đáng của nhà nước vào lĩnh vực

kinh tế để tạo ra đủ công ăn việc làm; và 5) việc thực hiện dân chủ rộng rãi dựa trên cơ sở quốc

hội ra quyết định trong lĩnh vực chính trị (Fujimura, 2000, tr. 3).

Tuy nhiên, ngoài khái niệm nhà nước phúc lợi (welfare state), W. A. Robson (1976) còn khai

triển thêm một khái niệm mới là “xã hội phúc lợi” (welfare society), và đề cập tới mối quan hệ

giữa nhà nước phúc lợi với xã hội phúc lợi. Ông viết như sau: “Nhà nước phúc lợi là cái mà

Quốc hội ban hành bằng sắc lệnh. Còn xã hội phúc lợi là cái mà nhân dân làm, cảm nhận và suy

nghĩ về những chuyện có liên quan tới sự phúc lợi tổng quát. (…) Chỉ có một xã hội phúc lợi dân

chủ mới có khả năng thiết lập và duy trì một nhà nước phúc lợi thực thụ. Vì thế, chúng ta không

thể chỉ nhìn vào các dịch vụ và các chức năng của các cơ quan nhà nước, mà còn phải chú ý tới

các thái độ, ý kiến và ứng xử của chính nhân dân”(14). Robson cho rằng một trong những khó khăn

lớn nhất của chúng ta nằm ở chỗ chúng ta thường cố gắng xây dựng một nhà nước phúc lợi mà

không có xã hội phúc lợi. Robson nhấn mạnh rằng một “xã hội phúc lợi” do chính người dân tạo

dựng là điều kiện tiên quyết cho việc thiết lập một nhà nước phúc lợi. Mặt khác, chính ý thức

cộng đồng (sense of community) là điều kiện tiên quyết để vận động người dân tham gia xây

dựng một “xã hội phúc lợi”, nếu không thì nhà nước phúc lợi chỉ giống như “được xây trên cát”

(dẫn lại theo Fujimura, 2000, tr. 6).

Tô Duy Hợp (2006) nhận xét rằng cần phân biệt giữa nội hàm “cơ bản” của hệ thống an sinh xã

hội (chỉ chăm lo cho một số đối tượng khó khăn) với nội hàm “đầy đủ” của khái niệm này (chăm

lo cho toàn dân): “Có thể nói, hàm ý cơ bản của an sinh xã hội là sự bảo vệ (bảo đảm) của xã hội

đối với những cá nhân hoặc/và nhóm xã hội đặc biệt khó khăn hoặc gặp phải rủi ro bất khả

kháng (như thiên tai, địch họa…). (…) Tuy nhiên, hàm ý đầy đủ của an sinh xã hội là hướng tới

phúc lợi xã hội toàn dân, tức là một hệ thống an sinh không chỉ bao gồm sự bảo trợ cho bộ phận

đặc biệt khó khăn hoặc gặp rủi ro bất khả kháng, vì đó mới chỉ là phúc lợi tối thiểu nhằm mục

tiêu mưu sinh, mà còn bao gồm cả sự bảo vệ toàn xã hội, hơn thế nữa, đó còn là phúc lợi cao cấp

của xã hội phát triển” (Tô Duy Hợp, 2006, tr. 25, những chỗ nhấn mạnh là do chúng tôi, T.H.Q).

Ngoài ra, còn có một cách hiểu và cách phân loại về nhà nước phúc lợi hết sức đáng chú ý của

Gøsta Esping-Andersen mà chúng tôi sẽ trình bầy trong mục sau.

3. CÁC LÝ THUYẾT PHÂN LOẠI CÁC HỆ THỐNG PHÚC LỢI XÃ HỘI

Cho đến nay, giới nghiên cứu đã không ngừng xem xét và tranh luận về cách phân loại các mô

hình hệ thống phúc lợi và nhà nước phúc lợi trên thế giới. Về đại thể, có hai mô hình phúc lợi

tương phản điển hình thường được các tác giả nói tới, đó là:

1. Mô hình bảo hiểm xã hội theo hướng Bismarck (các quỹ phúc lợi do người lao động và người

sử dụng lao động cùng quản trị; mức đóng phí tính theo tỷ lệ so với mức lương; mức trợ cấp theo

tỷ lệ đóng góp)(15).

2. Mô hình bảo hộ xã hội theo hướng Beveridge (các quỹ phúc lợi do nhà nước quản trị; nguồn

tài trợ lấy từ thuế; mức trợ cấp đồng đều giống nhau) (16).

Theo Tô Duy Hợp (2006), có thể có nhiều cách phân loại khác nhau về hệ thống an sinh xã hội

như sau:

– Phân biệt giữa hệ thống an sinh xã hội cơ bản với hệ thống an sinh xã hội ở trình độ phát triển

cao, theo Yang Tuan(17).

– Phân loại theo các đối tượng xã hội thụ hưởng (như người cao tuổi, người thất nghiệp, người

nghèo…).

– Phân loại theo các loại hình dịch vụ phúc lợi.

– Phân loại giữa các biện pháp bảo vệ (protective) đối với những đối tượng dễ bị tổn thương (như

trợ giúp xã hội và cứu trợ xã hội), các biện pháp phòng ngừa (preventive), và các biện pháp nhằm

nâng cao năng lực (promotional), theo Lê Bạch Dương và một số tác giả khác(18).

Người ta thường ghi nhận những tác giả quan trọng nhất đã tiến hành công việc loại hình hóa các

hệ thống phúc lợi trên thế giới, đó là Richard Titmuss (1958, 1974), Walter Korpi (1980, 1998)

và Gøsta Esping-Andersen (1990).

Việc loại hình hóa các mô hình hệ thống phúc lợi thường được các nhà nghiên cứu tiến hành

bằng cách xem xét những kiểu kết hợp giữa ba khu vực của xã hội (đó là thị trường, nhà nước, và

gia đình), và trong việc đáp ứng ba chức năng chính (đó là bảo hiểm, tái phân phối, và cung ứng

các dịch vụ xã hội). Ngoài ra, người ta còn xem xét các yếu tố sau đây: mức độ phụ thuộc vào thị

trường để thỏa mãn các nhu cầu của mình và có được sự bảo hộ của xã hội đối với mình (Gøsta

Esping-Andersen đưa ra khái niệm decommodification, tức mức độ “phi hàng hóa hóa”, để nói về

mức độ được thụ hưởng các dịch vụ an sinh xã hội mà không lệ thuộc vào thị trường); mô hình

phân tầng xã hội mà nhà nước nhắm đến hoặc là hệ quả của sự can thiệp của nhà nước (liên quan

tới mục tiêu bình đẳng xã hội) (Oberti, 1999, tr. 90).

Richard Titmuss (1974) thường được coi là tác giả đầu tiên đưa ra một cái khung xếp loại các mô

hình phúc lợi. Dựa trên phương pháp phân tích đa chiều kích, ông đã nhận diện ra ba quan niệm

khác nhau về vai trò của chính sách xã hội, và ông nối kết mỗi quan niệm với những nguyên tắc

cung ứng và hưởng dụng các dịch vụ phúc lợi. Theo ông, trên thế giới, có ba mô hình như sau:

a) Mô hình phúc lợi thặng dư (residual), trong đó vai trò chủ đạo thuộc về gia đình và thị trường

chứ không phải là sự tái phân phối của nhà nước, và quyền hưởng phúc lợi phụ thuộc vào việc

thẩm tra khả năng thu nhập (means-testing).

b) Mô hình phúc lợi phổ quát (universalist) hay cũng có thể gọi là mô hình định chế tái phân

phối, trong đó nhà nước thay thế vào chỗ của gia đình và thị trường trong việc bảo đảm phúc lợi

theo mục tiêu hướng đến sự bình đẳng.

c) Mô hình đóng góp dựa trên mức thu nhập kiếm được (earnings-related contributory systems),

phản ánh quan niệm đặt nặng trên hiệu quả đạt được trong lao động (industrial achievement-

performance); trong mô hình này, cả thị trường lẫn nhà nước đều cùng có mặt, nhưng người ta

ưu tiên nhấn mạnh đến những đóng góp kinh tế của các cá nhân(19).

Theo Gøsta Esping-Andersen (1990), chính lịch sử của các mối liên minh chính trị giữa các giai

cấp mới là nguyên nhân quyết định đối với những biến thể của mô hình nhà nước phúc lợi trong

các xã hội hiện đại (Esping-Andersen, 1991, tr. 1). Tác giả này cho rằng phần lớn các lý thuyết

về nhà nước phúc lợi hiện nay đều dựa trên những phân tích truyền thống về các mức độ công

nghiệp hóa, về hình thái quyền lực chính trị, hay về khả năng chi tiêu của ngân sách nhà nước.

Esping-Andersen muốn vượt qua những khuôn khổ phân tích ấy, và cho rằng chìa khóa của một

hình thái nhà nước phúc lợi chủ yếu nằm trong ba khâu sau đây : mức độ phi hàng hóa hóa (de-

commodification), sự phân tầng xã hội (social stratification), và tình hình nhân dụng

(employment) trong xã hội (Esping-Andersen, 1991, tr. 2-3).

Người ta thường xem sự phát triển của các quyền xã hội (social rights) như là bản chất của chính

sách xã hội. Kế thừa và khai triển các tư tưởng của Karl Polanyi, Esping-Andersen cho rằng cần

xem xét các quyền xã hội dưới góc độ khả năng “phi hàng hóa hóa” các quyền xã hội. “Tiêu

chuẩn nổi bật của các quyền xã hội phải là mức độ mà theo đó chúng cho phép con người có thể

xác lập được mức sống của mình mà không phụ thuộc vào các lực lượng của thị trường. Chính

là theo ý nghĩa này mà các quyền xã hội có thể làm giảm bớt tư cách ‘hàng hóa’ của các công

dân” (Esping-Andersen, 1991, tr. 3).

Esping-Andersen viết: “Những động cơ chính của chính sách xã hội hiện đại nằm trong quá trình

trong đó cả nhu cầu của con người lẫn sức lao động đều trở thành hàng hóa, và vì thế, phúc lợi

của chúng ta trở nên phụ thuộc vào mối quan hệ giữa chúng ta với hệ thống tiền tệ”. Trong thời

Trung cổ, khi mà chế độ sử dụng lao động chưa chuyển sang chế độ khế ước (hay hợp đồng,

contract), thì chính gia đình, giáo hội hoặc vị lãnh chúa là những người quyết định khả năng sinh

tồn của mỗi người. “Sự khuếch trương của chủ nghĩa tư bản diễn ra cùng với sự lụi tàn dần dần

của phương thức bảo hộ xã hội ‘tiền hàng hóa hóa’ (‘pre-commodified’ social protection)”

(Esping-Andersen, 1991, tr. 35).

Esping-Andersen gọi sự “phi hàng hóa hóa” (de-commodification) là tình trạng trong đó sở dĩ

người ta được hưởng các dịch vụ phúc lợi là do người ta có quyền được hưởng, và người ta có

thể duy trì cuộc sống của mình mà không cần dựa trên thị trường (Esping-Andersen, 1991, tr.

21-22). Ông nói rõ rằng cho dù có những chính sách trợ giúp xã hội hay bảo hiểm xã hội thì điều

này không nhất thiết dẫn đến một tình hình “phi hàng hóa hóa” thực thụ nếu chúng không thực

sự giải phóng các cá nhân ra khỏi sự phụ thuộc vào thị trường. Khi người công nhân bị lệ thuộc

hoàn toàn vào thị trường, họ sẽ rất khó mà đoàn kết với nhau và rất khó mà tập hợp lại được

trong những phong trào hành động tập thể. Chỉ khi nào các quyền xã hội của họ được “phi hàng

hóa hóa” thì lúc ấy họ mới thực sự có sức mạnh, và đồng thời, quyền lực tuyệt đối của giới chủ

lúc ấy mới yếu bớt đi; chính vì thế mà giới nghiệp chủ thường không có thiện cảm và cũng

không sẵn lòng tham gia vào các chương trình phúc lợi xã hội (Esping-Andersen, 1991, tr. 22).

Esping-Andersen đã phân biệt ba loại hình nhà nước phúc lợi căn cứ trên những khác biệt giữa

các quốc gia về: lịch sử chính trị, đặc biệt là khả năng huy động của giai cấp công nhân và khả

năng liên minh giữa các giai cấp, mức độ ảnh hưởng của nhà nước và của thị trường, và mức độ

mà việc tiếp cận các khoản an sinh xã hội có thể cho phép người dân giảm bớt sự lệ thuộc vào thị

trường (Williams, 1999, tr. 912).

Khi nghiên cứu về các loại hình nhà nước phúc lợi, Gøsta Esping-Andersen nhận định rằng có

nhiều kiểu cấu hình sắp xếp (arrangements) khác nhau giữa nhà nước, thị trường và gia đình.

Tác giả này đã dựa trên bảy chỉ báo sau đây để tiến hành việc loại hình hóa: số lượng các chế độ

trợ cấp hưu bổng riêng biệt theo ngành nghề; mức độ bao phủ bảo hiểm trong dân cư; mức chênh

lệch giữa mức trợ cấp trung bình với mức trợ cấp tối đa; mức chi tiêu tính theo qui mô tương đối

của số người hưu trí thuộc diện công chức nhà nước; số trợ cấp dựa trên sự thẩm tra khả năng thu

nhập; số người hưu trí thuộc khu vực tư nhân; và y tế thuộc khu vực tư nhân (Esping-Andersen,

1991, tr. 69-77). Từ đó, Esping-Andersen đã nhận diện ra ba loại hình nhà nước phúc lợi điển

hình như sau:

a) Loại hình nhà nước phúc lợi theo quan điểm tự do (liberal), trong đó các đặc trưng chính là:

trợ giúp dựa trên sự thẩm tra thu nhập; hạn chế chế độ trợ cấp phổ quát (universal transfer); hoặc

chỉ có những chương trình bảo hiểm xã hội hạn hẹp. Các khoản tiền trợ cấp thường rất thấp, và

chủ yếu chỉ được dành cho những người có thu nhập thấp hoặc buộc phải sống phụ thuộc vào

nhà nước. Điển hình cho loại hình này là Mỹ, Canada và Úc.

b) Loại hình nhà nước phúc lợi bảo thủ và mang nặng tính chất “nghiệp hội” (corporatist). Chế

độ phúc lợi ở đây dựa trên những khác biệt về vị thế (status), do đó các quyền ở đây luôn đi đôi

với các giai cấp và các vị thế. Nhà nước đóng vai trò chính trong việc cung ứng các dịch vụ phúc

lợi xã hội, và hệ thống bảo hiểm tư nhân chỉ đóng vai trò mờ nhạt. Đặc trưng của chế độ phúc lợi

“nghiệp hội” còn là dựa vào các tổ chức của giáo hội và gia đình. Điển hình cho loại hình này là

Áo, Pháp, Đức và Ý.

c) Loại hình nhà nước phúc lợi thứ ba là chế độ dân chủ-xã hội, trong đó những nguyên tắc về

tính phổ quát và về việc phi hàng hóa hóa các quyền xã hội được mở rộng cho tới cả các tầng lớp

trung lưu. Mục tiêu của khuynh hướng dân chủ-xã hội là xây dựng một nhà nước phúc lợi hướng

đến sự bình đẳng ở mức độ cao nhất, chứ không chỉ sự bình đẳng đối với những nhu cầu tối thiểu

như ở các nước khác. Nguyên tắc của nhà nước phúc lợi này là không đợi đến khi các nguồn lực

của gia đình cạn kiệt thì mới trợ cấp, mà là “xã hội hóa các chi phí của đời sống gia đình ngay từ

đầu” (“to preemptively socialize the costs of familyhood”), không phải nhằm tăng cường sự phụ

thuộc vào gia đình, mà ngược lại, nhằm tăng cường những khả năng độc lập của cá nhân. Nhà

nước phúc lợi này cung ứng các khoản trợ cấp trực tiếp cho trẻ em, đảm nhận trách nhiệm trực

tiếp chăm lo cho trẻ em, người già và những người không nơi nương tựa. Điển hình cho loại hình

nhà nước phúc lợi này là các nước Bắc Âu (Esping-Andersen, 1991, tr. 26-27).

Tương tự như Esping-Andersen, nhà xã hội học Marco Oberti (1999) phân biệt ba mô hình nhà

nước phúc lợi như sau:

a) Mô hình tự do (libéral) hoặc thặng dư (résiduel) (Mỹ, Canada, Úc) có đặc điểm là nhà nước

chỉ can thiệp và giúp đỡ một cách có giới hạn đối với những người không còn khả năng sinh

sống dựa trên thị trường, gia đình hoặc sự trợ giúp tư nhân.

b) Mô hình nghiệp hội bảo thủ (conservateur-corporatiste) (Đức, Pháp, Áo) đặt nền tảng trên lao

động làm công ăn lương (travail salarié), mang mục tiêu bảo vệ người lao động và gia đình của

họ trước những nguy cơ (như tai nạn, bệnh tật, già cả, thất nghiệp) bằng cách bảo đảm cho họ

một mức thu nhập tối thiểu. Do đó, các quyền hưởng phúc lợi đều gắn liền với giai cấp và vị thế,

bởi lẽ việc tái phân phối được thực hiện theo các nhóm ngành nghề và theo mức độ đóng góp của

họ.

c) Mô hình định chế tái phân phối (institutionnel-redistributif), hay phổ quát (universaliste), hay

còn gọi là dân chủ-xã hội (các nước Bắc Âu) là mô hình theo đó nhà nước bảo đảm sự phúc lợi

cho toàn dân một cách đồng đều. Mô hình này mang đặc điểm là có mức độ bảo hộ xã hội cao

đối với các bất trắc trong cuộc sống, có mức thuế suất cao, và cam kết với mục tiêu công bằng xã

hội tái phân phối (Oberti, 1999,tr.90-91).

Walter Korpi và Joakim Palme (1998) đã đưa ra một kiểu phân loại các mô hình chi tiết hơn so

với Gøsta Esping-Andersen và Marco Oberti, bằng cách dựa trên quá trình phát triển lịch sử của

các mô hình này. Korpi và Palme phân biệt năm mô hình bảo hiểm xã hội ở các nước Tây

phương, đó là: a) mô hình nhắm tới những đối tượng nhất định; b) mô hình bao gồm những

chương trình phúc lợi tự nguyện được nhà nước trợ cấp; c) mô hình phúc lợi theo nghiệp hội; d)

mô hình an sinh cơ bản; và e) mô hình phúc lợi bao quát (xem Hình 1).

Hình 1. Các mô hình điển hình của các định chế bảo hiểm xã hội ở các nước Tây phương, xét theo quá trình phát

triển lịch sử của các định chế này, theo Walter Korpi và Joakim Palme, 1998

 

a. Mô hình nhắm tới những đối tượng nhất

định

b. Mô hình bao gồm những chương trình phúc lợi tự nguyện được nhà nước

trợ cấp

 

c. Mô hình phúc lợi theo nghiệp hội d. Mô hình an sinh cơ bản e. Mô hình phúc lợi bao quát

Ghi chú: các hình thoi là biểu tượng của hệ thống phân tầng kinh tế-xã hội, trong đó những người có

thu nhập cao nằm phía trên đỉnh, và những người có thu nhập thấp cũng như người nghèo nằm phía

dưới đáy. Phần trắng thể hiện phần dân cư không nằm trong các chương trình phúc lợi. Các đường

nằm ngang thể hiện những loại phúc lợi có mức trợ cấp đồng đều hoặc mức tối thiểu. Các đường

thẳng đứng thể hiện những loại phúc lợi hưởng theo mức thu nhập. Các hình ê-líp trong mô hình b

thể hiện những chương trình phúc lợi tự nguyện chuyên biệt. Các đường chéo trong mô hình c thể

hiện các chương trình bảo hiểm được tổ chức riêng cho từng phân khúc ngành nghề khác nhau (xem

thêm Trịnh Duy Luân, 2006, tr. 8).

Nguồn: Walter Korpi, Joakim Palme, “The Paradox of Redistribution and Strategies of Equality:

Welfare State Institutions, Inequality and Poverty in the Western Countries”, American Sociological

Review, Vol. 63, No. 5, 1998.

Sau đây là đặc trưng của từng mô hình, theo Walter Korpi và Joakim Palme.

Mô hình a. Mô hình nhắm tới những đối tượng nhất định (targeted): sự trợ cấp được thực hiện

dựa trên sự thẩm tra thu nhập (means-tested), với mức trợ cấp tối thiểu hoặc tương đối đồng đều

dành cho những người nằm dưới ngưỡng nghèo hoặc những người được coi là túng thiếu.

Mô hình b.  Mô hình bao gồm những chương trình phúc lợi tự nguyện được nhà nước trợ cấp:

trong truyền thống nhiều nước Tây phương, có điểm đặc trưng là có những chương trình phúc lợi

tự nguyện được nhà nước trợ cấp, trong đó tiền thuế được dùng để giúp các hiệp hội phúc lợi

tương trợ và các tổ chức tự nguyện khác trong việc cung ứng bảo hiểm cho các thành viên của

mình khi lâm vào hoàn cảnh mất khả năng thu nhập. Vì loại phúc lợi này đặt cơ sở trên sự đóng

góp tự nguyện của các thành viên, nên các chương trình phúc lợi này chủ yếu nhắm tới tầng lớp

trung lưu và giới công nhân lành nghề hơn là giới công nhân không có tay nghề và các tầng lớp

nghèo. Các chế độ phúc lợi tự nguyện này có thể bao gồm cả loại phúc lợi có mức trợ cấp đồng

đều (flat rate) (thể hiện bằng những đường nằm ngang trên các sơ đồ trên đây) lẫn loại phúc lợi

tương ứng với mức thu nhập kiếm được (earnings-related) (đường thẳng đứng).

Mô hình c. Mô hình phúc lợi theo nghiệp hội (corporatist): các chương trình bảo hiểm xã hội đầu

tiên được khởi xướng ở Đức bởi Bismarck vào thập niên 1880 không còn áp dụng cách thức

thẩm tra thu nhập lẫn các loại phúc lợi tự nguyện, nhưng áp dụng những chương trình phúc lợi

cưỡng bách theo đó các thành viên nằm trong những loại ngành nghề nhất định sẽ được quyền

hưởng những khoản phúc lợi khi mà nguồn thu nhập bình thường của họ bị gián đoạn một cách

bất khả kháng. Hệ thống bảo hiểm xã hội này của Đức đi theo mô hình phúc lợi “nghiệp hội” vốn

xuất phát từ truyền thống tư tưởng Công giáo và tư tưởng bảo thủ của thế kỷ XIX. Có thể nói ý

tưởng cốt lõi của mô hình nghiệp hội này là nhằm tạo ra những “cộng đồng chính trị-xã hội”

trong những nhóm ngành nghề khác nhau của lực lượng lao động, với mục tiêu khuyến khích sự

hợp tác giữa giới chủ với giới thợ trong những nhóm ngành nghề này.

Trong mô hình phúc lợi theo nghiệp hội, các chương trình được đề ra nhằm vào những người

đang lao động. Để được hưởng những loại phúc lợi này, người ta vừa phải đóng phí, vừa phải

thuộc về một thành phần nghề nghiệp nhất định. Những chương trình bảo hiểm xã hội riêng biệt

với những quyền lợi đặc thù được tổ chức cho những loại nghề nghiệp hoặc những ngành sản

xuất khác nhau, tạo nên sự phân khúc giữa các loại ngành nghề. Lúc đầu, hệ thống phúc lợi này

được khởi sự nơi giai cấp công nhân công nghiệp, nhưng sau đó dần dà được triển khai trong

nhiều thập niên sau nơi các loại ngành nghề khác với những dạng bảo hiểm chuyên biệt. Các

khoản phúc lợi được cung ứng dựa trên mức thu nhập kiếm được (đường thẳng đứng), nhưng các

quyền lợi và các qui tắc có thể hết sức khác biệt tùy theo từng loại ngành nghề khác nhau. Khác

hẳn với bốn loại định chế phúc lợi còn lại, và với quan điểm cơ bản là tạo ra những cộng đồng

chính trị-xã hội và thúc đẩy sự hợp tác giữa những thành phần có thể đối kháng nhau trong thị

trường lao động, mô hình phúc lợi này có đặc điểm là được điều hành bởi những người đại diện

được bầu ra từ giới chủ và giới thợ, và thông thường nhà nước cũng có mặt như là một thành

phần thứ ba mang tính chất thứ yếu. Nguồn tài chính được hình thành chủ yếu từ việc đóng phí

của giới chủ và giới thợ. Do chỉ giới hạn vào bộ phận dân cư hoạt động kinh tế (tức những người

đang lao động), nên mô hình này đi đến chỗ loại ra ngoài những người nội trợ và những người

nằm ngoài lực lượng lao động. Vì thường có qui định một mức trần thu nhập để được hưởng

phúc lợi, nên những người có thu nhập cao thường tìm thêm những biện pháp phúc lợi khác từ

khu vực bảo hiểm tư nhân.

Mô hình d. Mô hình an sinh cơ bản (basic security): trong mô hình này, quyền được hưởng phúc

lợi đặt cơ sở trên sự đóng phí hoặc trên tư cách công dân (nơi cư trú). Mô hình an sinh cơ bản

này xuất phát từ những ý tưởng chính yếu do William Beveridge đề xướng ở Anh vào năm 1942.

Một trong những ý tưởng này là đề ra những mức trợ cấp đồng đều hoặc có một mức trần thấp

đối với mức thu nhập, để chừa chỗ cho những người có thu nhập cao có thể tìm cách bảo vệ mức

sống cao của họ thông qua những chương trình bảo hiểm tư nhân. Theo Beveridge, “nguyên tắc

cơ bản đầu tiên của chế độ bảo hiểm xã hội này là cung ứng một mức trợ cấp bảo hiểm đồng đều,

bất kể mức thu nhập đã bị gián đoạn là bao nhiêu… Nguyên tắc này là hệ quả của sự nhìn nhận

về vị trí của bảo hiểm tự nguyện trong hệ thống an sinh xã hội…”(20) Một ý tưởng cơ bản khác là

làm sao bao phủ được một cách rộng rãi hoặc toàn bộ các tầng lớp dân cư có liên quan.

Tuy nhiên, trong mô hình an sinh cơ bản này, người ta thấy có hai biến thể khác nhau với một số

mức độ bảo hiểm khác nhau. Trong biến thể “công dân” (citizenship), quyền được hưởng phúc

lợi dựa trên tư cách công dân hoặc nơi cư trú, nghĩa là dựa trên quan điểm “bảo hiểm nhân dân”

(People’s Insurance) với mức độ bảo hiểm phổ quát. Còn trong biến thể “bảo hiểm” (insurance),

quyền được hưởng phúc lợi lại dựa trên việc đóng phí của người được bảo hiểm và/hoặc của

người sử dụng lao động; trong trường hợp này, chúng ta thấy mức độ bảo hiểm kém tính phổ

quát hơn. Tuy nhiên, nếu trong mô hình phúc lợi theo nghiệp hội, những người tham gia thuộc

những ngành nghề khác nhau sẽ được hưởng những chế độ bảo hiểm khác nhau, thì trong mô

hình an sinh cơ bản này, tất cả những người được bảo hiểm sẽ được hưởng chế độ giống nhau

trong cùng một chương trình.

Mô hình e. Mô hình phúc lợi bao quát (encompassing): mô hình này đã phối hợp những ý tưởng

của mô hình Bismarck lẫn mô hình Beveridge để tạo ra một dạng mới. Trong mô hình này,

quyền được hưởng phúc lợi dựa trên sự đóng phí và tư cách công dân. Do đó, những chương

trình phúc lợi phổ quát bao phủ mọi công dân và bảo đảm an sinh cơ bản cho họ được phối hợp

với những chế độ trợ cấp tương ứng với mức thu nhập kiếm được dành cho bộ phận đang hoạt

động kinh tế (đang lao động) trong dân cư. Loại định chế phúc lợi này có khuynh hướng giảm

bớt nhu cầu tìm đến khu vực bảo hiểm tư nhân và có khả năng bao quát mọi công dân trong cùng

một chương trình. Điểm khác biệt chủ yếu giữa mô hình phúc lợi bao quát này với mô hình an

sinh cơ bản nằm ở mức độ trợ cấp có liên quan với mức thu nhập kiếm được và mức độ bao phủ

của các chế độ bảo hiểm.

Những đặc điểm chính của các mô hình nêu trên được tóm tắt trong bảng sau đây.

Bảng 1. Đặc điểm của các mô hình điển hình của các định chế bảo hiểm xã hội ở các nước Tây

phương, xét theo quá trình phát triển lịch sử của các định chế này, theo Walter Korpi và Joakim

Palme, 1998

Các mô hình Cơ sở để được hưởng

a. Mô hình nhắm tới những đối tượng nhất định Phải chứng minh nhu cầu

b. Mô hình bao gồm những chương trình phúc

lợi tự nguyện được nhà nước trợ cấp

phúc lợi

cần trợ cấp

Tư cách thành viên; phải

đóng phí

Nguyên tắc trợ cấp

Mức tối thiểu

Mức trợ cấp đồng đều, hoặc mức trợ cấp

dựa trên mức thu nhập kiếm được

c. Mô hình phúc lợi theo nghiệp hội Loại ngành nghề, và sự

d. Mô hình an sinh cơ bản Tư cách công dân, hoặc

e. Mô hình phúc lợi bao quát Tư cách công dân, và sự

Nguồn: Walter Korpi, Joakim Palme, “The Paradox of Redistribution and Strategies of Equality:

Welfare State Institutions, Inequality and Poverty in the Western Countries”, American Sociological

Review, Vol. 63, No. 5, 1998.

Phân tích căn cứ trên những dữ kiện của năm 1985 liên quan tới các phúc lợi bảo hiểm y tế và

hưu bổng tại 18 nước thuộc khối Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Walter Korpi

và Joakim Palme đã xếp loại như sau:

– Có ba nước thuộc nhóm mô hình phúc lợi bao quát, bao gồm Phần Lan, Na Uy và Thụy Điển;

ba nước này đã phát triển mô hình này kể từ những thập niên 1950, 1960 và 1970 sau khi đã trải

qua mô hình an sinh cơ bản và những dạng chương trình phúc lợi tự nguyện có sự tài trợ của nhà

nước.

– Có sáu nước nằm trong nhóm mô hình phúc lợi nghiệp hội, đó là: Áo, Bỉ, Pháp, Đức, Ý và

Nhật Bản.

– Có tám nước nằm trong nhóm mô hình an sinh cơ bản, trong đó mô hình biến thể theo hướng

“tư cách công dân” bao gồm Canada, Đan Mạch, Hà Lan, New Zealand và Thụy Sĩ, còn mô hình

biến thể theo hướng “bảo hiểm” thì bao gồm Ireland, Anh và Mỹ.

– Và một nước thuộc mô hình phúc lợi nhắm tới những đối tượng nhất định là Úc.

Liên quan đến việc phân loại các hệ thống phúc lợi trên thế giới, Bùi Thế Cường (2002) cho rằng

đại thể có ba mô thức cơ bản của chính sách xã hội mà các nước đang đi theo: hệ thống “bảo đảm

toàn dân”, hệ thống “bảo hiểm xã hội”, và hệ thống “bảo đảm chọn lọc” (Bùi Thế Cường, 2002,

tr. 16).

Mô hình “bảo đảm toàn dân” là mô hình trong đó nhà nước chủ động tái phân phối các nguồn lợi

quốc gia để chăm lo phúc lợi cho toàn dân, không phân biệt sự khác nhau về địa vị kinh tế, xã

hội và nghề nghiệp (mô hình này cũng còn được gọi là mô hình tái phân phối). Các đặc điểm của

mô hình này là: về mặt tổ chức, nguyên tắc là bảo hiểm xã hội thống nhất; các trợ cấp xã hội

được tái phân phối mạnh mẽ nhằm thu hẹp sự bất bình đẳng về kinh tế và xã hội; về mặt tài

chính, phần lớn ngân sách phúc lợi được trực tiếp lấy từ thuế khóa; sự chuyển dịch thu nhập

thường được thực hiện thông qua các tổ chức dịch vụ xã hội do nhà nước quản lý (chẳng hạn y tế

công cộng). Mô hình này được áp dụng phổ biển ở các nước Bắc Âu, nhất là Thụy Điển và Đan

Mạch, và kể cả Anh (đặc biệt là thời kỳ trước nhiệm kỳ của nữ thủ tướng Thatcher). Tuy không

hẳn tương đồng, nhưng cũng có thể xếp vào loại mô hình này các hệ thống bảo đảm xã hội của

Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây.

Mô hình thứ hai, “bảo hiểm xã hội”, là mô hình trong đó tuy nhà nước cũng đóng vai trò chính

trong việc đảm bảo phúc lợi cho người dân, nhưng cho phép có thêm nhiều dạng bảo hiểm xã hội

của khu vực tư nhân mà người dân có thể tự nguyện tham gia. Những đặc trưng chính của mô

hình này là: mức đóng phí và mức chi trả trợ cấp bảo hiểm phụ thuộc vào mức thu nhập của

người được bảo hiểm (do đó, mô hình này “phiên dịch” vị thế thu nhập của mỗi người trên thị

trường lao động vào lĩnh vực chính sách xã hội); về mặt tổ chức, hệ thống bảo hiểm không được

tổ chức thống nhất, mà theo các loại rủi ro và các nhóm nghề nghiệp; mức độ tái phân phối kém

hơn mô hình trên; nguồn tài chính được lấy từ thỏa ước đóng góp giữa ba bên (nhà nước, người

tham gia lao động

phải đóng phí

tham gia lao động

Dựa trên mức thu nhập kiếm được

Mức trợ cấp đồng đều

Mức trợ cấp đồng đều, và mức trợ cấp dựa

trên mức thu nhập kiếm được

sử dụng lao động, và người lao động), hoặc hai bên (người lao động và người sử dụng lao động);

sự chuyển dịch thu nhập bằng tiền đóng vai trò lớn hơn là thông qua các dịch vụ xã hội do nhà

nước tổ chức. Mô hình này được áp dụng ở những nước như Cộng hòa Liên bang Đức, Pháp, Áo,

Ý.

Còn mô hình thứ ba, “bảo đảm chọn lọc”, theo Bùi Thế Cường, là mô hình chủ yếu áp dụng hình

thức bảo hiểm tự nguyện, nhà nước chỉ trợ giúp phúc lợi đối với một số nhóm dân cư chọn lọc

nhất định mà thôi (mô hình này còn được gọi là mô hình tự do hóa). Những đặc trưng chính của

mô hình này là: dựa trên các hệ thống bảo hiểm tự nguyện (tư nhân hoặc tập thể); mục tiêu chính

của mô hình này là bảo đảm mức hoạt động tự do cao cho các lực lượng thị trường, đồng thời chỉ

tập trung chính sách xã hội cho người nghèo và yếu thế; mức độ và thời gian trợ cấp thường rất

hạn chế; mức độ tái phân phối thấp, và chỉ tập trung vào những nhóm dân cư nghèo. Những nước

đi theo mô hình này là Mỹ, Úc, Canada (Bùi Thế Cường, 2002, tr. 16-19).

Ba mô hình trên được tóm tắt trong bảng sau đây.

Bảng 2. Ba mô hình chính sách xã hội trên thế giới, theo Bùi Thế Cường, 2003

Mục tiêu Phúc lợi toàn dân Bảo hiểm toàn dân Bảo hiểm tự nguyện kết hợp với sự trợ giúp

Nguyên tắc tổ chức Bảo hiểm xã hội tập

Mức độ tái phân

phối

Nguồn tài chính Thuế Đóng góp hai hoặc ba

Mức can thiệp của

nhà nước

Nguồn: Bùi Thế Cường, “Phúc lợi xã hội ở Việt Nam: Hiện trạng, vấn đề và điều chỉnh”, Báo cáo đề tài nghiên cứu

cấp Bộ, Hà Nội, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Viện Xã hội học, 2003, tr. 15.

Phạm Xuân Nam (2008) cho rằng, trên thế giới, có ba mô hình kinh tế tiêu biểu trong việc giải

quyết mối quan hệ giữa việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với việc thực hiện sự công bằng xã hội,

đó là:

– Mô hình kinh tế thị trường tự do (dựa trên lý thuyết của Hayek, Milton Friedman…), trong đó

“người ta hạ thấp vai trò của nhà nước, đề cao vị trí của khu vực tư nhân, giảm chi tiêu từ ngân

sách quốc gia cho các lợi ích công cộng”, và chủ trương rằng “tăng trưởng kinh tế phải đi trước,

công bằng xã hội sẽ theo sau”.

– Mô hình kinh tế thị trường xã hội (dựa trên lý thuyết của John Maynard Keynes) trong đó “kết

hợp sử dụng kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa với việc thi hành một hệ thống các chính sách

phúc lợi để tạo ra sự đồng thuận xã hội cho phát triển”, bao gồm: trợ cấp cho giáo dục, y tế, trẻ

em, người già, người tàn tật, người thất nghiệp… Điển hình của mô hình này là nhà nước phúc

lợi Thụy Điển.

– Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung phi thị trường ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa

trước đây, từng có thời gian “phát huy tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế

theo chiều rộng” và “tạo nên sự bình ổn xã hội bằng những chính sách quan tâm đến các mặt của

đời sống con người”, nhưng về sau “do cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao độ dần biến thành tập

trung quan liêu và thực hiện chế độ bao cấp về cơ bản theo chủ nghĩa bình quân” (Phạm Xuân

Nam, 2008).

4. Ý NGHĨA CỦA HỆ THỐNG PHÚC LỢI XÃ HỘI

Bảo đảm toàn dân Bảo hiểm xã hội Bảo đảm chọn lọc

của nhà nước có chọn lọc

Bảo hiểm tư nhân. Trợ giúp của nhà nước

Nhiều loại hình bảo

hiểm xã hội

trung thống nhất

Cao Trung bình Thấp

bên

Đóng góp hai bên. Trợ giúp của nhà nước lấy

từ thuế

Cao Trung bình Thấp

Karl Polanyi từng cho rằng lịch sử xã hội các nước công nghiệp trong thời kỳ ban đầu là kết quả

của cả hai luồng vận động cùng một lúc (double movement): luồng thứ nhất là sự khuếch trương

của thị trường, và luồng vận động thứ hai đi kèm theo, đó là sự kiềm chế và ngăn chặn của các

định chế chính trị và xã hội đối với luồng vận động thứ nhất nhằm chống lại những tác động tai

hại của một nền kinh tế do thị trường kiểm soát. Ông cho rằng đặc trưng quan trọng nhất của lịch

sử xã hội thời kỳ ấy là “xã hội đã tự bảo vệ mình trước những mối hiểm họa cố hữu của một hệ

thống thị trường tự điều tiết” (Polanyi, 2001, tr. 79-80).

Theo Bùi Đình Thanh, mối quan hệ giữa nền kinh tế thị trường với tính công bằng xã hội cần

được hiểu như sau: “Một điều cần nhấn mạnh là bản thân kinh tế thị trường không tự động đảm

bảo cho công bằng xã hội. Phải có những điều tiết của xã hội thông qua nhà nước để phân phối

lại những kết quả hoạt động kinh tế theo hướng bảo đảm công bằng xã hội (…). Không thể đồng

ý với quan niệm cho rằng nếu coi trọng công bằng xã hội thì khó lòng tập trung các nguồn lực

bên trong và bên ngoài để phát triển kinh tế. Xét về ngắn hạn thì có thể như vậy, nhưng nếu xét

theo triển vọng lâu dài thì quan niệm này rất có hại. (…) Theo tư duy kinh tế mới, đầu tư cho các

lĩnh vực xã hội cũng là trực tiếp đầu tư cho kinh tế, nhất là xét theo triển vọng dài hạn” (Bùi

Đình Thanh, 2001, tr. 48, những chỗ nhấn mạnh là do chúng tôi, T.H.Q).

Một hệ thống phúc lợi xã hội tự nó không thể giải quyết được vấn đề bất bình đẳng trong xã hội,

bởi lẽ điều này phụ thuộc vào cả một hệ thống các chính sách vĩ mô của nhà nước như chiến

lược đầu tư, chính sách tài chính, chính sách thuế khóa, chính sách lương bổng… Tuy vậy, hệ

thống phúc lợi vẫn là một thành tố không thể thiếu trong một hệ thống chính sách kinh tế-xã hội

quốc gia nhằm giúp cho xã hội có thể “tự bảo vệ mình trước những mối hiểm họa cố hữu của một

hệ thống thị trường tự điều tiết”, nói theo ngôn từ của Polanyi.

Vì thế, việc xây dựng một hệ thống phúc lợi xã hội vững mạnh là điều cần thiết và tất yếu của

bất cứ xã hội nào thực sự muốn bảo vệ các công dân của mình. Đặc trưng cốt lõi của hệ thống

phúc lợi này chính là bảo vệ các quyền xã hội của công dân, tức là quyền được đáp ứng những

nhu cầu thiết yếu nhất để có được một cuộc sống tử tế, xứng đáng với phẩm giá con người, bằng

cách “phi hàng hóa hóa” các dịch vụ phúc lợi (decommodification), nói như Gøsta Esping-

Andersen, nhằm tạo điều kiện cho mỗi người được thụ hưởng các dịch vụ phúc lợi xã hội mà

không lệ thuộc vào thị trường, và qua đó “giảm bớt tư cách ‘hàng hóa’ của các công dân”

(Esping-Andersen, 1991, tr. 3).

Sở dĩ hệ thống phúc lợi xã hội mang ý nghĩa lớn lao đối với người dân là vì, trong các xã hội

ngày nay, xu hướng áp đảo là xã hội vận hành phụ thuộc vào thị trường, trong khi lẽ ra phải là

ngược lại. Theo lời Karl Polanyi, “đáng lý nền kinh tế phải bám chặt (embedded) vào các mối

quan hệ xã hội, thì các mối quan hệ xã hội lại phải bám chặt vào hệ thống kinh tế” (Polanyi,

2001, tr. 60).

Hiểu theo nghĩa đó, có thể nói chính hệ thống phúc lợi xã hội là một định chế quan trọng giúp

cho người dân xác lập được tư thế con người cũng như tư thế công dân của mình một cách đúng

đắn trong một xã hội dân chủ và văn minh.

Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Đại Lễ Kỷ Niệm 76 Năm của PGHH

Đại Lễ Kỷ Niệm 76 Năm của PGHH

Diễn Văn Khai Mạc của TS Lê Phước Sang

Hội Trưởng Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Giáo Hội PGHH

Cuối lạy Phật Tổ, Phật Thầy và Đức Thầy

Trước vong linh của Đồng Đạo hi sinh vì chánh nghĩa

Thay mặt HDTSTU, tôi trân trọng tri ân toàn thể thượng khách tham dự Đại Lễ Kỷ Niệm

76 năm của PGHH. Tôi kính cẩn chào mừng Hòa Thượng Thích Minh Tuyền, chủ tịch

CTĐ/HDDHTU/VNPG Liên Hiệp Hội, Quý Vị Lãnh Đạo Tinh Thần và Thầy Phi Bửu

Trụ Trì Bửu Sơn Kỳ Hương Tự và Phái Đoàn Đệ Tử Phật Thầy Tây An, Quý Vị Lãnh Tụ

các Đoàn Thể, DB Nguyễn Lý Tưởng, NS Nguyễn Văn Nhuê, NS Trần Tấn Toàn, BS NS

Nguyễn Hữu Tiên, Sử Gia Phạm Trần Anh, chủ tịch Diên Hồng Thời Đại, chủ tịch

MLNQ Nguyễn Bá Tùng và Đồng Đạo PGHH Nguyễn Hữu Chánh, chủ tịch HĐ Điều

Hành Liên Minh Dân Tộc Việt Nam.

Tôi hôm nay rất hân hạnh đón rước Bhikkhuni Sư Cô Thích Nữ Ngọc Liên thuộc GHPG-

TGKSNL Bộ Thế Giới và 2 Nghị Viên Danh Tiếng là Chris Phan và Phát Bùi đã đắc cử

lộng lẫy vẻ vang, được cử tri thương yêu và ủng hộ. Sư Cô Thích Nữ Ngọc Liên đã từng

là một doanh gia thành công to lớn trong doanh nghiệp lẫy lừng, đã từng được bầu chọn

làm Hoa Hậu rất tài sắc và đạo đức, với tâm hồn thật rộng mở bao la cho lý tưởng và

hạnh nguyện từ bi bác ái và từ thiện xã hội nhân ái vô biên. HĐTSTU/GHPGHH sẽ long

trọng tuyên đọc trong ngày Đại Lễ này và long trọng trao tặng Văn Bản Ca Tụng và

Tuyên Dương Công Đức cho Sư Cô Thích Nữ Ngọc Liên.

Đáng lý ra Đại Lễ Kỷ Niệm này phải được cử hành tại quê nhà nhưng lại bắt buộc tổ

chức tại đây, là một sự đau buồn đối với chúng ta là những người tạm cư… Đây cũng là

ray rứt ô nhục cho những ai có quyền thế mà lại bất thần quyết định gây ra cảnh tượng

bất thường kỳ quái này.

Đức Thầy là một Đại Bồ Tát giáng trần mượn xác một thanh niên tên Huỳnh Phú Sổ 19

tuổi chỉ đậu bằng Tiểu Học, khai sáng PGHH là Đạo Phật Việt Nam dạy phụng thờ Tứ

Ân, dạy Hài Hòa, Đoàn Kết chung lòng chống thực dân Pháp, chống độc tài, xây dựng

một xã hội dân chủ phồn vinh làm cho Việt Nam độc lập, văn minh và phú cường. Ít ai để

ý rằng ngày sinh của PGHH lại nhằm 4 of July mà Hoa Kỳ là siêu cường giàu nhất và

mạnh nhất trên thết giới nầy ăn mừng lễ Độc Lập. Sự trùng hợp nầy là ngẫu nhiên hay là

do một sắp đặt huyền bí nào đó, chúng ta sẽ phải nghiên cứu thêm. Năm Kỷ Mão 1939,

tôi là Tín Đồ PGHH chỉ mới 7 tuổi nhưng còn nhớ rõ: quần chúng trùng trùng điệp điệp

kéo về Thánh Địa nghe Đức Thầy trị lành bá bệnh nan y bằng nước lã, lá cây và lời nói.

Trong vài năm ngắn ngủi đã có hơn 2 triệu người quy y theo PGHH của Đức Thầy. Chưa

bao giờ thấy trong lịch sử Vn và lịch sử Thế Giới một trường hợp nào mà một tôn giáo

qui tụ được sự ủng hộ và đồng lòng nhanh và nhiều như vậy. Đó là lý do chính quyền

không phải của Dân hoảng sợ và đàn áp PGHH. Đức Thầy bị đày hết nơi khác rồi bị đưa

về nhà rồi bị đưa về nhà thương điên chợ Quán. BS Trần Văn Tâm, giám đốc Bệnh Viện

là y sĩ điều trị cho Đức Thầy nhưng ông ta quy y theo PGHH làm đệ tử của Đức Thầy.

Pháp đưa Đức Thầy về Bạc Liêu. Bất cứ ở nơi đâu quần chúng càng rần rần rộ rộ đi theo

ủng hộ và quy y nhiều thêm. Người Pháp định đưa Đức Thầy ra khỏi Việt Nam nhưng

Nhật Bổn giải thoái cho Đức Thầy kịp thời.

Sau Đệ Nhị Thế Chiến, người Pháp trở lại Việt Miên Lào. VMCS nắm quyền cai trị miền

Bắc. Tình thế miền Nam vô cùng hỗn loạn. Ông Trần Văn Soái, ông Lâm Thành Nguyên,

ông Ba Cụt và nhiều Tín Đồ PGHH ngang tàng, liều mạng đua nhau làm Quân Sự để Đền

Ân Đất Nước. Đức Thầy quyết định giao cho ông Nguyễn Giác Ngộ “chỉ huy trưởng Vệ

Quốc Liên Đội Nguyễn Trung Trực” mà tín đồ coi như là Quân Đội chánh quy của Đức

Thầy. Đức Thầy thành lập Việt Nam Dân Xã Đảng với ông Nguyễn Bảo Toàn làm Tổng

Bí Thư, Khâm Sai Nguyễn Văn Sâm làm Ủy Viên Quân Sự, Lê Văn Thu làm Ủy Viên

Tuyên Huấn và Trần Văn Ân làm Ủy Viên Chánh Trị.

Khi Thực Dân Pháp đô hộ là một ngoại bang xâm lược từ Phương Tây xa xôi nhưng

PGHH và Đức Thầy bị tàn phá đủ kiểu đủ cách mà chưa kể bị giết hại khốc liệt. Khi

VMCS do Trần Văn Giàu cầm đầu, cùng nòi giống Việt nắm quyền thống trị Ủy Ban

Hành Kháng Nam Bộ thì Trần Văn Giàu tàn sát PGHH tại Cần Thơ, xử tử bào đệ Huỳnh

Thanh Mậu của Đức Thầy, xử tử thi sĩ Viết Châu của Đức Thầy và xử tử Trần Ngọc

Hoành Trưởng Nam của ông Trần Văn Soái. Trần Văn Giàu ra lệnh cho quân lính bao

vây trụ sở PGHH của Đức Thầy tại Sài Gòn, tràn vào tìm bắt Đức Thầy nhưng bất thành.

Tình thế càng thêm khốc liệt và hỗn loạn.

Trần Văn Giàu giả bộ kêu gọi hòa giải. Đức Thầy về Đồng Tháp Mười với Quân Đội của

ông Trần Văn Soái hi vọng chấm dứt nồi da xáo thịt. Trần Văn Giàu mật lệnh cho Bửu

Vinh mời Đức Thầy họp khẩn cấp để ám hại Đức Thầy. Tất cả Tổng Tư Lệnh Quân Đội

PGHH tề tựu bên cạnh để bảo vệ nhưng Đức Thầy không cho phép một đơn vị nào theo

hộ tống mà chỉ đem theo 4 người chèo ghe cho Đức Thầy đi họp với Bửu Vinh ngày 16

tháng 4 năm 1947. Và Đức Thầy vắng mặt kể từ đó. Niềm tin và lòng tuân phục của

PGHH với Đức Thầy rất thâm trầm và vững chắc. Đức Thầy dạy: chia sẻ và ly tán nặng

nề sẽ làm cho Quốc Gia và Đạo Pháp suy vong. Nam và Bắc Hoa Kỳ đã đánh giết nhau.

Đông và Tây Đức đã đánh giết nhau. Nhật đã lãnh 2 trái bom nguyên tử của Mỹ nhưng

họ đã khôn ngoan biết lo cho tương lai nên không thù hận nhờ vậy mà Hoa Kỳ là đệ nhất

siêu cường thế giới, Đức là đệ nhất siêu cường Âu Châu. Nhật là siêu cường thượng

thặng Á Châu. Người tài trí và sáng suốt biết phải làm gì. Người kém cõi ngu đần làm

cho kẻ thắng và người bại trở thành u mê đần độn khiến cho Đất Nước bị chiếm đoạt và

mọi người sẽ thành nô lện ngoại bang như Giặc Tàu. PGHH và Đức Thầy bị chém giết và

tù tội nhưng chưa bao giờ Đức Thầy ra lệnh cho Tín Đồ chống phá VMCS, giết hại và tàn

sát VMCS. Tín Đồ nhớ lời dạy của Đức Thầy: Giáo Lý Tứ Ân là phụng sự. Ân Đất Nước

là phải tôn thờ. “Không cần thù oán mà chỉ cần thành tâm. Nói lên lời nói khí phách. Nói

lên lời nói chân chánh. PGHH không sợ chết. PGHH biết hi sinh. PGHH không sợ tù tội.

PGHH không cần quyền chức. PGHH không cần lợi lộc. PGHH chỉ cần lẽ phải. PGHH

đã và đang chờ CSVN và NNVN làm đúng và hợp lý với PGHH và với Quốc Dân để

không ai thấy bị khinh khi và bị chà đạp, thoải mái mà đem sanh mạng của mình ra chống

ngoại xâm và phụng sự Tổ Quốc Việt Nam.

Trân trọng kính chào tri ân toàn thể Quý Vị Thượng Khách.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật – Nam Mô A Di Đà Phật.

Categories: Sinh Hoạt của HĐTSTƯ | Leave a comment

Blog at WordPress.com.