Daily Archives: August 20, 2015

Kỳ 39: Hoàng Sa trước “cái bắt tay tội lỗi” giữa Mao Trạch Đông và Nixon

Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay

Kỳ 39: Hoàng Sa trước “cái bắt tay tội lỗi” giữa Mao Trạch Đông và Nixon

Đăng Bởi – 11:40 10-08-2015
mao trach dong hai chien hoang sa 1974

Cái bắt tay tội lỗi giữa Mao Trạch Đông và Nixon đã dẫn đến thái độ lạnh lùng của Mỹ trong trận hải chiến Hoàng Sa 1974

Mao Trạch Đông tung máy bay Mig vào không phận Việt Nam đã nâng thành phần đội quân đi xâm chiếm Hoàng Sa lên “mức phối hợp tổng lực” (hải lục không quân) bộc lộ rõ ác tâm bành trướng ra biển Đông theo thỏa hiệp “cân bằng lực lượng ở châu Á – Thái Bình Dương” đã bàn với tổng thống Mỹ Nixon trước đó…

Đêm 19.1.1974, quân đội Việt Nam Cộng hòa (VNCH) vẫn trú phòng tử thủ Hoàng Sa sau trận hải chiến. Sáng hôm sau:

Ngày 20.1.1974: “Các phi cơ Mig Trung Cộng xuất hiện và oanh tạc 3 đảo còn quân ta đóng giữ, các chiến hạm của ta phải phân tán về hướng Tây Nam. Một số chiến hạm Trung Cộng đến hải kích vào các đảo Hoàng Sa, Cam Tuyền, Vĩnh Lạc. Sau đó bộ binh Trung Cộng đổ bộ. Ta mất liên lạc với các toán quân trú phòng hồi 10 giờ 45”.

Tài liệu VNCH (đã dẫn ở Kỳ 38) tường thuật tiếp, nêu tổn thất của đôi bên (tr. 24) :

* PHÍA VIỆT NAM CỘNG HÒA:

Về tàu chiến: “1 chiếc bị hư hại toàn diện (hộ tống hạm HQ.10), 1 chiếc hư hại nặng (tuần dương hạm HQ.16), 2 chiếc khác bị hư hại nhẹ (khu trục hạm HQ.4 và tuần dương hạm HQ.5)”.

Về nhân mạng: “18 tử thương, 43 bị thương, 116 mất tích trên các đảo Cam Tuyền, Vĩnh Lạc, Hoàng Sa và 59 người trên hộ tống hạm HQ.10”.

* PHÍA TRUNG CỘNG:

Về tàu chiến: “1 chiến hạm loại Kronstadt bị cháy và chìm, 1 chiếc bị hủy hoại, ủi vào bờ sau đó, 2 tàu loại T43 hư hại nặng khó phục hồi được”.

Về nhân mạng: “không ghi nhận được nhưng chắc chắn là rất nặng nề”.

(Sau này, từ Bắc Kinh, Tân Hoa xã loan báo phía Trung Quốc: có 4 chiến hạm bị trúng đạn, 18 tử thương, 67 bị thương. Và một số sĩ quan binh lính VNCH trực tiếp tham chiến ở “mặt trận Hoàng Sa 1974” có những bài viết và phát biểu mà chúng tôi sẽ nêu sau, vào một dịp thuận tiện). Trở lại tài liệu của VNCH:

* Tại quốc nội: “Hầu hết các tỉnh tại miền Nam Việt Nam bao gồm dân chúng và các đại diện dân cử, đoàn thể tôn giáo, đảng phái, nghiệp đoàn, hiệp hội, đã lần lượt tổ chức mít-tinh, hội thảo, tuần hành, ra quyết nghị để “lên án đế quốc Trung Cộng” (…) và thỉnh cầu Liên Hiệp Quốc, Tòa án quốc tế La Haye có biện pháp thích đáng đối với Trung Cộng (…) ”.

* Tại quốc ngoại: Việt kiều và sinh viên du học ở “Pháp, Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Tây Đức, Ý, Mã Lai Á, Ai Lao, Cộng hòa Khmer… cũng có những phản ứng rất quyết liệt. Sinh viên Việt Nam tại Thụy Sĩ còn tuyệt thực 24 giờ và tổ chức đêm không ngủ phản đối Trung Cộng tại Lausanne ngày 26.1.1974”.

* Dư luận quốc tế: Thủ tướng Tân Tây Lan Norman Kirk tuyên bố: “với tư cách hội viên Liên Hiệp Quốc, Tân Tây Lan không thể tán thành hành động võ lực của Trung Cộng”. Hòa Lan và Nam Dương cũng lên tiếng với nội dung tương tự. Ngoại trưởng Costa Rica là tiến sĩ Gonzalo Jr. Facio – đồng thời là Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc – cho biết Costa Rica ủng hộ Việt Nam. Ở Úc, tờ Sydney Morning Herald chỉ trích chính sách bạo lực của Trung Cộng, nhận định rằng “ngoài lý do kinh tế, chiến lược và chính trị nội bộ – Trung Quốc đang lợi dụng những yếu tố khác để chiếm đoạt Hoàng Sa”.

* Thái độ của Liên Xô: Tờ Pravda  (Sự Thật) – cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Liên Xô – đã chỉ trích hành động quân sự thô bạo của Trung Quốc (số ra ngày 27.1.1974) và bình luận: “Mao Trạch Đông chủ tâm reo rắc mầm mống xáo trộn trong đời sống quốc tế với thâm ý phá hỏng chính sách hòa hoãn và che đậy cảnh tranh quyền và khó khăn ngày càng tăng trong nội bộ Trung Cộng” (số ra ngày 10.2.1974).

* Thái độ của Mỹ:“không can dự” dầu VNCH rất cần được yểm trợ. Cả việc tìm vớt “nhân đạo” các binh sĩ Việt Nam sống sót bị trôi dạt trên biển sau trận hải chiến cũng bị Hạm đội 7 của Mỹ làm ngơ, phải nhờ đến ngư dân miền Trung: “ngày 30.1.1974 có 14 chiến sĩ biệt hải sau 11 ngày lênh đênh trên biển được ngư phủ vớt đem về điều trị tại Quân y viện Quy Nhơn” (tài liệu VNCH đã dẫn). Cách xử sự “lạnh lùng” kiểu Mỹ của tổng thống Nixon trong biến cố Hoàng Sa, theo các nhà quan sát thời cuộc lúc đó, đã bộc lộ phần nào những “thỏa thuận ngầm” giữa Mao Trạch Đông và Nixon trong chiến lược “cân bằng lực lượng” đôi bên ở châu Á – Thái Bình Dương. Đặc biệt Mao – Nixon “bắt tay” để kiềm siết Việt Nam trong bom đạn (của Mỹ) và tràn chiếm vùng đảo Hoàng Sa (bởi Trung Quốc) một cách nhịp nhàng và tội lỗi từ 1972 – 1974. (còn nữa).
Giao Hưởng
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Kỳ 41: Hoàng Sa trên diễn đàn quốc tế San Francisco

Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay

Kỳ 41: Hoàng Sa trên diễn đàn quốc tế San Francisco

Đăng Bởi – 11:20 10-08-2015
mao trach dong hoang sa

Nhân sĩ trí thức Sài Gòn xuống đường thề bảo vệ quê hương, chống Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa tháng 2.1974.

Mao Trạch Đông chỉ thị để đại sứ Trung Quốc tại Liên hiệp quốc Hoàng Hoa tìm cách biện minh trí trá về “chủ quyền Trung Quốc ở Hoàng Sa” (năm 1974), song dư luận thế giới từ lâu đã ghi nhận tiếng nói khẳng định “Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam” trên diễn đàn Hội nghị quốc tế San Francisco (năm 1951)!

Hội nghị San Francisco bàn đến việc “nước Nhật khước từ mọi chủ quyền và đòi hỏi đối với tất cả các lãnh thổ mà họ chiếm bằng vũ lực trong đệ nhị thế chiến (1939 – 1945), trong đó có các đảo Trường Sa và Hoàng Sa”. Tại diễn đàn trên, ngày 7.9.1951: “Thủ tướng Trần Văn Hữu kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng (trong chính phủ Quốc gia do cựu hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng – GH) và là trưởng phái đoàn Việt Nam tại Hội nghị San Francisco long trọng tuyên bố xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo này, trước sự hiện diện của 51 quốc gia, mà không có quốc gia nào minh thị phản đối, kể cả Trung Hoa” (tài liệu VNCH đã dẫn tr.51).

Gần đây, toàn văn tuyên bố chính thức trên in lại trong cuốn Bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam (sau đây viết tắt: “Bằng chứng lịch sử”, nhiều tác giả, NXB Trẻ – TP. HCM, tái bản lần thứ tư, quý IV – 2013, 360 trang) dài hơn 4 trang, có đoạn: “Chúng tôi tới đây để yêu cầu được chữ ký của 51 quốc gia hội viên của hội nghị này mà tái lập lại một đời sống quốc gia xứng đáng và tự hào” (tr.105). Nhân đó “cũng vì cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa” (tr.107).

Nguyên văn chữ Pháp đoạn văn quan trọng trên như sau: “Et comme il faut franchement profiler de toutes occasions pour élouffer les germes de discorde, nous affirmons nos droits sur les iles Spratly et Paracel qui de tout temps ont fait partie du Viet Nam”. Cf “Conférence de San Francisco”, France – Asie, p 66-67 (Novembre – Decembre 1951), p 505.

Bản dịch tiếng Anh trong tài liệu VNCH: “…As we must frankly profit from all the opportunities offered to us to stifle the germs of discord, we affirm our right to the Spratly and Paracel Islands, which have always belonged to Vietnam” (tr.51)

Ngày 16.3.1974 (chưa đầy hai tháng sau ngày Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa), Trung tâm thông tin Paris của VNCH đến tư thất của cựu thủ tướng Trần Văn Hữu ở Pháp phỏng vấn. Cựu thủ tướng xác nhận:

– “Chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa đã được công khai tuyên bố nơi Hội nghị hòa bình với Nhật năm 1951 vào tháng chín dương lịch tại San Francisco. Lúc ấy là lần đầu tiên mà Việt Nam vào hàng 50 cường quốc có quyền định đoạt vấn đề quốc tế (…). Với tánh cách Chủ tịch phái đoàn đại diện cho toàn cõi Việt Nam, trong một bài diễn văn đọc ngày bế mạc hội nghị, tôi long trọng tuyên bố xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên cả quần đảo Hoàng Sa. 50 phái đoàn cường quốc im lặng nghe lời tuyên bố của phái đoàn Việt Nam (…) hoàn toàn công nhận, không gặp một quốc gia nào phản đối”.

Được hỏi CHND Trung Hoa không có mặt tại Hội nghị San Francisco 1951, vậy tuyên bố đó có “giá trị đối kháng” với họ hay không? Cựu thủ tướng Trần Văn Hữu trả lời: vẫn có giá trị – vì lẽ:

– “Nếu đứng về phương diện “tạo ra chủ quyền mới” thì lời tuyên bố đó có thể chỉ đối kháng với những Chính phủ hiện diện mà thôi. Nhưng đứng về phương diện “xác nhận chủ quyền đã có (effet déclaratif)” thì lời tuyên bố đó có hiệu lực đối kháng với tất cả mọi người (effet “erga omnis”) kể cả người vắng mặt. Vì đó chỉ là xác định lại, nhắc lại quyền lợi cũ mà thôi. Vì vậy, tuyên bố của VNCH tại San Francisco vẫn có hiệu lực đối với Trung Cộng” (tài liệu VNCH, tr.51-52).

Cuốn “Bằng chứng lịch sử” dẫn trên cũng ghi: “vào năm 1951 tại Hội nghị San Francisco có một đề nghị bổ sung bản dự thảo hòa ước yêu cầu trao trả cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng hội nghị đã bác bỏ đề nghị này với số phiếu áp đảo là 46 phiếu, 3 phiếu chống và 1 phiếu trắng. Tại hội nghị, Trưởng đoàn quốc gia Việt Nam đã tuyên bố khẳng định chủ quyền lâu đời của nhà nước Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không gặp sự phản đối hay bảo lưu của nước nào. Năm 1956, Pháp chuyển giao lãnh thổ miền Nam Việt Nam cho chính quyền Sài Gòn, và nhà cầm quyền Sài Gòn đã cho quân ra tiếp quản, tổ chức hai quần đảo về mặt hành chính (lập ở mỗi quần đảo một xã thuộc một huyện ở đất liền), xây các bia chủ quyền, duy trì các trạm khí tượng” (Hải Biên – Vấn đề biển Đông dưới ánh sáng pháp luật quốc tế, sđd tr.287). “Sự kiện San Francisco” còn được nhắc đến ở các trang 278, 336 đến 338 của cuốn “Bằng chứng lịch sử”.

Ngày 26.1.1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra tuyên bố về vấn đề chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ – đến ngày 14.2.1974, lại tuyên bố khẳng định: quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam. Ngày 11.11.1975, Bộ  Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi công hàm cho Bộ Ngoại giao Trung Quốc “khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Tháng 3.1979, Bộ Ngoại giao CHXHCN VN công bố Bị vong lục về vấn đề biên giới Việt – Trung, trong đó tố cáo Trung Quốc đánh chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam ngày 19 và 20.1.1974. Sang tháng sau (4.1979), hải quân Việt Nam đụng độ với tàu chiến Trung Quốc trên vùng biển Đông. (còn nữa)…
Giao Hưởng
Tags : mao trạch đông hoàng sa trường sa san francisco 1951 biển đông việt nam trung
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.