Daily Archives: August 24, 2015

Đi theo Tàu hay đi với Mỹ? Thay đổi ôn hòa hay bạo loạn?

Việt Nam trước Đại Hội Đảng 12

Lê Xuân Khoa

Đi theo Tàu hay đi với Mỹ? Thay đổi ôn hòa hay bạo loạn? 

Sau khi viết bài “Việt Nam: Cơ hội cuối cùng hay những bước Đột phá cần thiết” (tháng Sáu, 2014) tôi nghĩ sẽ không phải làm gì khác hơn là theo dõi tình hình trong và ngoài nước, trông đợi những thay đổi có lợi ích cho đất nước. Tháng Bảy năm nay, nhân chuyến thăm Hoa Kỳ của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, được gọi là “chuyến thăm lịch sử”, tôi lại thấy cần đóng góp thêm một số nhận xét về tình hình mới. Chuyến đi Hoa Kỳ của ông Trọng cho thấy phe bảo thủ thân Trung Quốc dường như đã muốn quay lưng lại phía Bắc Kinh và tiến tới gần hơn với Hoa Kỳ. Lý do của sự chuyển hướng này là vì Bắc Kinh đã lộ rõ dã tâm xâm lược Việt Nam và Tập Cận Bình lại có thái độ khinh miệt TBT Nguyễn Phú Trọng sau sự cố giàn khoan HD-981. Phe thân Trung Quốc vừa căm hận vì bị Bắc Kinh hạ nhục, vừa lo ngại phe chống Trung Quốc có thể làm một cuộc đảo chính với sự ủng hộ của nhân dân đang phẫn nộ đối với một chính quyền bị coi là “hèn với giặc, ác với dân”. Mặc dù chuyến thăm nước Mỹ của ông Trọng có tính biểu tượng nhiều hơn là thực chất, sự kiện Tổng thống Barack Obama đặc biệt tiếp đón người cầm đầu Đảng Cộng sản Việt Nam tại Phòng Bầu dục và bản Tuyên bố về Tầm nhìn chung Việt-Mỹ đã giúp cho Nguyễn Phú Trọng gỡ lại được thể diện sau khi bị Tập Cận Bình làm mất mặt, do đó quan hệ hợp tác Việt-Mỹ có triển vọng gia tăng nhiều hơn về cả hai mặt kinh tế và quân sự.

Một điểm tích cực khác cần được chú ý trong chuyến công du này của TBT Nguyễn Phú Trọng là, tại thủ đô Hoa Kỳ, ông đã hai lần xác nhận vai trò quan trọng của cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Lần đầu, trong bản Tuyên bố chung Việt-Mỹ, ông Trọng “nhìn nhận sự thành công của người Việt Nam tại Hoa Kỳ và nhiều đóng góp của họ đối với sự phát triển của Việt Nam và Hoa Kỳ cũng như đối với mối quan hệ song phương tốt đẹp hơn giữa Việt Nam và Hoa Kỳ”. Lần thứ hai là trong bài diễn văn được soạn trước (tức là đã được tính toán kỹ) tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), ông Trọng đã dùng những từ “đặc biệt” và “hết sức quan trọng” để nói về “cộng đồng đông đảo người Việt Nam tại Hoa Kỳ” mà ông định nghĩa rất chính xác và thân tình là “công dân Hoa Kỳ và cũng là đồng bào của chúng tôi”. Những lời phát biểu chính thức này của lãnh đạo số một ở Việt Nam cho thấy một cách nhìn mới và một thái độ đúng đắn của nhà cầm quyền trong nước đối với cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ.

Sự thể bên ngoài thì như thế nhưng chiều hướng chính sách của Việt Nam vẫn chưa rõ rệt sau chuyến đi thăm Hoa Kỳ của TBT Nguyễn Phú Trọng. Nội bộ lãnh đạo Đảng đang thảo luận đóng kín và gay go về những quyết định cho 5 năm tới để được thông qua trong Đại hội 12 vào đầu năm 2016. Dù sao, đường lối lãnh đạo mới sẽ phải được thấy rõ trong các dự thảo văn kiện của Trung ương Đảng mà, theo thông lệ, sẽ được công bố khoảng năm tháng trước Đại hội. Giả thiết Đảng và Nhà nước thật sự muốn chuyển hướng sang phía Hoa Kỳ, bài viết này sẽ đóng góp một số ý kiến cụ thể về sự phát triển quan hệ hợp tác với Hoa Kỳ, cũng như sứ mệnh xây dựng sức mạnh dân tộc bao gồm vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là cộng đồng công dân Mỹ gốc Việt.

Phát triển quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ

Việt Nam và Hoa Kỳ đang có mối quan tâm chung trước sự kiện lãnh đạo Bắc Kinh đang biến Trung Quốc thành một “nhà nước hung đồ” (rogue state) có tham vọng bá quyền, hành động phi pháp, đe dọa hòa bình và phát triển trong khu vực, nhất là xâm phạm độc lập và chủ quyền của Việt Nam. Quan hệ Việt-Mỹ cần được phát triển từ đối tác toàn diện sang hợp tác chiến lược toàn diện, và VN đang rất cần sự giúp đỡ của HK để có thể tự bảo vệ độc lập và phục hồi kinh tế. Mục tiêu chung ấy đã được cả hai Chính phủ khẳng định và đang nỗ lực gia tăng hợp tác trên mọi lãnh vực.

Quyền lợi cốt lõi của Hoa Kỳ là duy trì quyền tự do lưu thông trên Thái Bình Dương, bảo vệ an ninh và phát triển quan hệ hợp tác với tất cả các nước trong khu vực. Trước những hành động ngang ngược của Trung Quốc thể hiện quyết tâm làm chủ Biển Đông Nam Á, nhất là bồi đắp các bãi đá thành đảo, xây dựng đường bay và căn cứ quân sự trong khu quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, Hoa Kỳ cần có sự hợp tác của Việt Nam để ngăn chặn tham vọng bành trướng của Bắc Kinh. Đối với lãnh đạo Việt Nam, mối quan tâm sâu sắc nhất trong quan hệ hợp tác với Hoa Kỳ là sự tồn tại của Đảng và chế độ. Nỗi lo ngại này đã được Hoa Kỳ giải tỏa từ chuyến thăm Washington của CT Trương Tấn Sang năm 2013, nhưng nhóm bảo thủ muốn được xác nhận rõ hơn trong chuyến thăm Mỹ năm nay của TBT Nguyễn Phú Trọng. Họ đã được toại nguyện khi thấy Tổng thống Hoa Kỳ tiếp Tổng bí thư Đảng CSVN tại Phòng Bầu Dục và bản Tuyên bố chung năm nay xác nhận điều hai bên đã công bố năm 2013, “tôn trọng thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau”.

Rào cản duy nhất trên con đưòng hợp tác toàn diện là vấn đề cải thiện nhân quyền ở VN. Thật là một nghịch lý khi các lãnh đạo Việt Nam đều thấy rõ hậu quả nghiêm trọng của cơ chế hiện thời, muốn xây dựng một “xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” nhưng lại coi vấn đề cải thiện nhân quyền như một đe dọa cho chế độ và ổn định xã hội. Dù sao, quyền con người cũng đã được khẳng định ngay trong lời mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập 1945 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có nguồn gốc từ bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Chân lý này về quyền con người cũng là nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp VN 2013, được ghi rõ trong Điều 3: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Ngoài ra, với tư cách một thành viên của Liên Hiệp Quốc, Việt Nam cũng cam kết tôn trọng bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, đặc biệt là Công ước Quốc tế về các Quyền kinh tế, Xã hội và Văn hóa, và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị.

Trong bài diễn văn tại trung tâm CSIS, TBT Nguyễn Phú Trọng xác nhận “còn không ít vấn đề cần phải tiếp tục giải quyết trong đó có vấn đề quyền con người, nhưng chúng tôi đang nỗ lực không mệt mỏi để xây dựng một xã hội ngày càng tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người”. Như vậy, đã đến lúc Việt Nam cần vận dụng những nỗ lực không mệt mỏi đó vào việc thể hiện quyền con người như đã được ghi trong Tuyên ngôn độc lập 1945, mô tả đầy đủ trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, và gần đây nhất được xác nhận lại trong Hiến pháp 2013.

Thật ra, trong những cuộc thảo luận giữa Mỹ và VN về nhân quyền không có sự khác biệt về định nghĩa hay nội dung của nhân quyền mà chỉ có sự khác thường trong cách giải thích và thực hiện nhân quyền của Việt Nam. Sau 70 năm cầm quyền, trong đó có 40 năm thống nhất và 20 năm quan hệ bình thường với Hoa Kỳ, vấn đề quyền con người sẽ không thể được giải quyết nếu Việt Nam cứ viện dẫn một cách nhàm chán những lý do về “cách hiểu khác” của Việt Nam về vấn đề nhân quyền và quả quyết “Việt Nam không có tù nhân lương tâm hay chính trị mà chỉ có tù hình sự”. Nói thẳng ra, đây chỉ là một cách mua thời gian cho sự lạm quyền của chế độ.

Xin hỏi: Chính phủ có tôn trọng nhân quyền hay không khi công an bắt bớ và đánh đập tàn nhẫn những người dân đi biểu tình bất bạo động chỉ để phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền đất và biển của Việt Nam? Xin hãy trả lời: tại sao blogger Tạ Phong Tần viết bài chống tham nhũng rất đúng mà bị kết án 10 năm tù về tội “tuyên truyền chống nhà nước”? Tại sao nhạc sĩ trẻ Việt Khang làm hai bản nhạc yêu nước rất chân tình “Anh là ai” và “Việt Nam tôi đâu” mà bị án 4 năm tù và 2 năm quản chế, cũng với tội danh “tuyên truyền chống nhà nước”? Tại sao doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức bày tỏ chính kiến khác biệt của một trí thức trong cuốn sách “Con đường nào cho Việt Nam” lại bị kết tội  “âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân” và lãnh án tới 16 năm tù? Đây chỉ là một ít thí dụ điển hình cho hàng trăm người bị bắt giữ vì phát biểu ý kiến khác biệt nhưng hoàn toàn ôn hòa, không một người nào có hành vi bạo động. Làm sao có thể hiểu được khi TBT Nguyễn Phú Trọng tuyên bố giữa thủ đô Hoa Kỳ: “Tôi khẳng định rằng Việt Nam hết sức coi trọng vấn đề nhân quyền, quyền con người. Chúng tôi đang nỗ lực xây dựng một xã hội ngày càng tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người”.  Ông còn quả quyết: “Người dân Việt Nam chưa bao giờ được sống trong bầu không khí dân chủ như hiện nay”. Ôi, thế này thì Hoa Kỳ và các nước dân chủ Tây phương cần phải học tập và áp dụng mô hình dân chủ của Việt Nam.

Nhân quyền là một chân lý phổ quát, không có một chính thể nào có thể nhân danh nhân quyền để vi phạm “quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc” của con người. Ngay cả chính trị học Nho giáo cũng dựa trên cơ sở “dân vi quý” tức là các chính sách của nhà nước phài phù hợp với ý nguyện của nhân dân, vì “Ý Dân là Ý Trời”. Dân là nước, Chính phủ là thuyền, và như lời Mạnh Tử “nếu lãnh đạo coi dân như cỏ rác thì dân sẽ coi lãnh đạo như thù địch”. Trong trường hợp đó, thay vì tiếp tục chở thuyền, nước sẽ lật thuyền. Thật là một sự tình cờ thú vị vì quan điểm về dân chủ này lại được khai triển rành mạch trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ, ngay sau đoạn có câu về quyền con người được Hồ Chí Minh dùng để mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập 2.9.1945, hoàn toàn phù hợp với tình trạng VN ngày nay, dù đây là tiếng nói của 13 tiểu bang đầu tiên của nước Mỹ ngày 4.7.1776 chống lại sự áp bức của Vương quốc Anh:

“Rằng để đảm bảo cho những quyền lợi này, các chính phủ được lập ra trong nhân dân và có được những quyền lực chính đáng trên cơ sở sự nhất trí của nhân dân, rằng bất cứ khi nào một thể chế chính quyền nào đó phá vỡ những mục tiêu này, thì nhân dân có quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền đó và lập nên một chính quyền mới, đặt trên nền tảng những nguyên tắc cũng như tổ chức thực thi quyền hành theo một thể chế sao cho có hiệu quả tốt nhất đối với an ninh và hạnh phúc của họ.

“Thật vậy, sự thận trọng sẽ buộc người ta hiểu rõ rằng một chính quyền đã được thiết lập qua một thời gian dài thì không nên thay đổi chỉ vì những lý do đơn giản, nhất thời. Mọi kinh nghiệm đều đã chứng tỏ điều đó, rằng khi cái xấu còn trong chừng mực chịu đựng nổi, thì nhân loại dễ cam chịu nó, hơn là tự trao cho mình quyền loại bỏ những thể chế mà họ đã quen thuộc. Nhưng khi hàng loạt các hành vi lạm quyền và chiếm đoạt theo đuổi những mục tiêu giống nhau, lộ rõ ý đồ áp chế họ dưới ách chuyên quyền độc đoán, thì họ có quyền và có bổn phận phải lật đổ chính quyền đó và bổ nhiệm những chiến sĩ mới để bảo vệ nền an ninh của họ trong tương lai…”

Trong trường hợp Việt Nam, không chỉ có vấn đề “chế độ chuyên quyền độc đoán,” nhóm lãnh đạo ngày nay còn mắc tội phản quốc nếu không kịp thời chuyển hướng, phủ nhận bản mật ước nhục nhã giữa hai Đảng ở Thành Đô năm 1990, vô giá trị vì không hề được Quốc hội thông qua, do lỗi lầm của nhóm lãnh đạo hồi đó.

Tôi không nghĩ rằng trong những cuộc thảo luận về nhân quyền, các đại diện Hoa Kỳ muốn ép buộc Việt Nam phải rập khuôn tổ chức chính trị, sinh hoạt văn hóa và xã hội của nước Mỹ; họ chỉ yêu cầu Việt Nam phải tôn trọng những quyền tự do căn bản của con người mà VN đã xác định trong Hiến pháp 2013 nhưng không thi hành. Những quyền tự do căn bản đó không chỉ phù hợp với Hiến pháp và chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ mà cũng phản ánh tinh thần của bản Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và rất đúng với ý nguyện của nhân dân Việt Nam.

Như vậy, đã đến lúc phải khai thông những cuộc thảo luận Việt-Mỹ về vấn đề nhân quyền. Việt Nam hãy bỏ ý định đòi Mỹ phải chấp nhận quan điểm ngoan cố của mình trong chuỗi đối thoại đã kéo dài 20 năm qua. Nói rằng “có cách hiểu khác nhau” về nhân quyền là một lối nói ngụy biện, trái với Tuyên ngôn Độc lập 1945 và Hiến pháp 2013. Nói rằng “không nên để các vấn đề nhân quyền cản trở quan hệ hai nước” là cách nói vơ vào, có nghĩa là chuyện nhân quyền chỉ để nói chơi, chuyện chính là các dự án đầu tư, thương mại và viện trợ của HK cho VN. Nói thế là không biết rằng chính phủ Mỹ luôn luôn chịu áp lực của Quốc hội về vấn đề nhân quyền. Vì vậy, cùng với quyết định thoát khỏi sự khống chế của Trung Quốc và chọn sự hợp tác bình đẳng với Hoa Kỳ, Việt Nam cần dứt khoát từ bỏ thái độ lúng túng, trì hoãn, nói một đàng làm một nẻo, khiến cho quan hệ phát triển với Hoa Kỳ bị trì trệ, Trung Quốc lấn át, nhân dân càng phẫn nộ.

Chuyến thăm Mỹ của TBT Nguyễn Phú Trọng là cơ hội tốt nhất cho chính quyền chứng tỏ quyết định sáng suốt và thành thật, củng cố lòng tin chiến lược đối với Hoa Kỳ và được sự ủng hộ của nhân dân. Việt Nam chỉ cần thi hành những điều đã ghi rõ trong bản Tuyên bố chung : “… bảo đảm rằng mọi người, bao gồm cả những thành viên của các nhóm dễ bị tổn thương, không phân biệt giới, chủng tộc, tôn giáo hoặc khuynh hướng giới tính, và bao gồm cả người tàn tật, được hưởng đầy đủ các quyền con người. Hoa Kỳ hoan nghênh những nỗ lực hiện nay của Việt Nam hài hòa hóa luật với Hiến pháp 2013 và các cam kết quốc tế mà Việt Nam thực hiện nhằm phát triển toàn diện đất nước, kể cả trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người và các quyền tự do cơ bản”.

Vì những lẽ trên, chính quyền không nên chậm trễ thiết lập một lộ trình chuyển hóa từ độc tài sang dân chủ, bắt đầu bằng việc phóng thích tất cả những người bị bắt giữ vì yêu nước và vận động dân chủ một cách hòa bình. Chính quyền cần mở ngay những cuộc đối thoại thẳng thắn với trí thức độc lập và ban hành một số biện pháp cởi mở về tự do, dân chủ.

Cộng đồng công dân Mỹ gốc Việt

Sự kiện TBT Nguyễn Phú Trọng chính thức nhìn nhận vai trò của người Mỹ gốc Việt trong chuyến đi lịch sử này đánh dấu một sự thay đổi quan trọng trong thái độ và chính sách của lãnh đạo Việt Nam, không chỉ đối với công dân Mỹ gốc Việt mà còn đối với toàn thể người Việt đã trở thành công dân ở nhiều nước khác trên thế giới. Sự chuyển hướng này là một bước đột phá cần thiết, đặc biệt đối với cộng đồng người Mỹ gốc Việt, vì cộng đồng này có thể gây ảnh hưởng thuận lợi hay bất lợi cho sự phát triển quan hệ hợp tác giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.

Nếu sự chuyển hướng này là có thật thì cũng đã đến lúc Nghị quyết 36 năm 2004 của Bộ Chính trị phải được thay thế bằng một văn kiện khác, vì những người soạn Nghị quyết 36 đã sai lầm khi thiết lập một chính sách chung cho hai đối tượng khác nhau là Việt kiều và công dân ngoại quốc gốc Việt. Việt kiều (hay kiều bào) là những công dân Việt Nam ra nước ngoài trong một thời gian để làm lao động, tu nghiệp, du học, đầu tư kinh doanh, hay công tác có thời hạn cho Chính phủ, làm việc cho các tổ chức quốc tế hay tư nhân. Chính sách giúp đỡ và bảo vệ (hay trừng phạt) Việt kiều không thể áp dụng đối với những người đã trở thành công dân ngoại quốc. Về mặt pháp lý, công dân ngoại quốc gốc Việt là người nước ngoài, có quyền lợi và bổn phận với quốc gia mình đã nhập tịch; “gốc Việt” chỉ có ý nghĩa về mặt tình cảm giữa những người đồng chủng, nhưng yếu tố tình cảm này lại rất quan trọng vì qua đó họ sẽ đóng góp cho đất nước nhiều hơn là người dị chủng, nếu họ được chính quyền đối xử có tình, có nghĩa. Ngay cả khi bị chính quyền nghi ngờ và gây nhiều khó khăn, những cá nhân hay tổ chức nhân đạo do người Việt nước ngoài thành lập vẫn vì tình nghĩa đồng bào mà tiếp tục giúp đỡ dân nghèo, những nạn nhân của bịnh tật, của thiên tai và bất công xã hội. Người ngoại quốc khác chủng tộc đến Việt Nam với mục đích làm ăn, xong việc rồi về nước, hiếm khi có sự ràng buộc tình cảm với quốc gia sở tại.

Bài này chủ yếu nói về công dân Mỹ gốc Việt nhưng cũng đúng cho những công dân gốc Việt từ các nước khác. Chính sách của chính quyền trong nước đối với công dân nước ngoài gốc Việt cho đến nay, trừ một số trường hợp, vẫn là một chính sách ban ơn và có mục đích khai thác. Do thói quen suy nghĩ và hành động ở những nước dân chủ, tất cả những người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi về tới Việt Nam, dù chỉ để du lịch hay thăm bà con, cũng ít nhiều đều bị nhân viên an ninh kiểm soát, theo dõi. Điều này có thể hiểu được và tạm coi là chuyện bình thường. Nói chung thì với phương tiện khá đầy đủ của một du khách, người Mỹ gốc Việt có thể sống thoải mái ở bất cứ tỉnh, thành nào trên toàn quốc. Tuy nhiên, khi có công việc phải liên lạc với một cơ quan chính quyền, nếu không quen biết hay được giới thiệu trước, thì sẽ thường bị rắc rối về thủ tục, tốn kém thì giờ và có thể tiền bạc nữa.

Đáng chú ý là trường hợp những giáo sư, học giả, nhà văn, về Việt Nam tìm kiếm tài liệu nghiên cứu hay viết sách, nếu không được phép trước mà tự ý tiếp xúc với các cá nhân có tư tưởng cấp tiến hay những tổ chức không chính thức ở trong nước, sẽ không khỏi bị công an mời đến “làm việc”, có thể bị cảnh cáo, ngăn cấm hay trục xuất, tùy theo mức độ bị nghi ngờ. Các tổ chức phi chính phủ (NGO) từ bên ngoài về làm chương trình nhân đạo hay giáo dục đều phải khai báo để được sự chấp thuận của Ủy ban Điều phối Viện trợ Nhân dân (PACCOM) tại Hà Nội hay chi nhánh ở các địa phương. Trừ một vài trường hợp quá “thân” với chính quyền, các NGO Mỹ gốc Việt dù đã hoàn tất mọi thủ tục và giúp đỡ đồng bào từ nhiều năm qua vẫn chưa được PACCOM công nhận trong danh sách các NGO được chính thức hoạt động tại Việt Nam. Ngay cả một tập hợp trên 30 NGO Mỹ gốc Việt (VANGO Network) thành lập năm 2005 sau những hội nghị chính thức với PACCOM , Ford Foundation và USAID, để phối trí các chương trình nhân đạo được hiệu quả hơn, cho đến nay cũng vẫn chưa được PACCOM chính thức công nhận.

Những trí thức, chuyên gia và thành viên của các NGO ở nước ngoài không ít thì nhiều đều khó chịu về những thủ tục khó khăn hay những hạch hỏi vô lý về chính trị do quen biết những người hay tổ chức đang bị công an theo dõi ở trong hay ngoài nước. Một số quyết định không trở lại Việt Nam cho đến khi nhà nước thay đổi chính sách. Nhưng rất nhiều người, vì nhu cầu công việc, vì cần thăm nom cha mẹ già hay những lý do bình thường khác, đã phải nhẫn nhịn để khỏi  bị làm khó dễ khi xin “thị thực” (tôi dùng chữ “visa” đã quốc tế hóa dễ hiểu hơn). Phải nói thẳng ra rằng Chính phủ Việt Nam đang giữ lợi thế “nắm đằng chuôi” trong chính sách đối xử với tất cả những người ở nước ngoài cần hay muốn có visa đi VN . Visa là vũ khí đe dọa có hiệu lực nhất để kiểm soát và ngăn ngừa mọi thái độ chỉ trích hay phản đối chính quyền của những người từ bên ngoài muốn du lịch, thăm gia đình hay làm việc ở VN. Trừ một ít trường hợp ngoại lệ, tất cả các NGO nước ngoài đều bị bộ máy an ninh xếp vào thành phần “diễn biến hòa bình” nguy hiểm chỉ vì ảnh hưởng tự nhiên của hoạt động nhân đạo. Đặc biệt đối với các NGO Mỹ gốc Việt thì visa là thanh gươm Damoclès treo lơ lửng trên đầu, vì họ là đối tượng đáng nghi nhất, vì họ có nhiều cơ hội gần gũi và trực tiếp giúp đỡ người nghèo và bệnh tật, do đó được nhân dân có cảm tình và tin cậy. Ngày nay, với “những nỗ lực không mệt mỏi” như TBT Nguyễn Phú Trọng đã tuyên bố về cải thiện nhân quyền, đã đến lúc Việt Nam nên chủ động “diễn tiến hòa bình” (dịch đúng nghĩa của ‘peaceful evolution’) để có thể tiếp nhận nhiều hơn và điều phối có kết quả tốt hơn các dự án nhân đạo và phát triển của các NGO nước ngoài, nhất là NGO Mỹ gốc Việt.

Ngày 14 tháng Bảy 2015, nhân dịp TBT Nguyễn Phú Trọng có những lời phát biểu chính đáng về cộng đồng người Mỹ gốc Việt, tôi đã viết bài “Hòa giải với người chết” yêu cầu chính quyền Việt Nam hãy giải quyết dứt điểm một vấn đề đã kéo dài 40 năm qua gồm chương trình tìm mộ và cải táng hài cốt những tù cải tạo đã chết trong thời gian bị giam cầm, và chương trình trùng tu Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa (nay thuộc tỉnh Bình Dương). Bài viết đưa ra công khai nhiều chi tiết về cuộc vận động và những nỗi thăng trầm của tổ chức Vietnamese American Foundation (VAF), một NGO Mỹ gốc Việt do một số cựu tù cải tạo và con em gia đình tử sĩ VNCH thành lập chỉ chuyên lo vận động và thực hiện hai chương trình nói trên từ đầu năm 2007. Trường hợp VAF được nêu lên với mục đích thử thách thiện chí của chính quyền trong việc nhìn nhận vai trò quan trọng của cộng đồng công dân Mỹ gốc Việt trong sự phát triển quan hệ giữa hai nước. Nếu một dự án hoàn toàn phù hợp với đạo lý con người như của VAF, nhất là đối với những người đã khuất, mà lãnh đạo trong nước vẫn không chịu giải quyết dứt khoát thì chắc chắn sự phát triển quan hệ giữa hai nước sẽ gặp nhiều trở ngại khó vượt qua. Đó là lý do khi VAF bị ngăn cấm, các thân hữu của tổ chức đã vận động được Quốc hội Mỹ lên tiếng can thiệp và Bộ Ngoại giao Mỹ cũng quyết định đưa dự án của VAF vào những cuộc thảo luận song phương.

Kết quả tức thời là chính quyền tỉnh Bình Dương đã cho phép VAF tiếp tục chương trình trùng tu các ngôi mộ nhưng vẫn phải qua tên cá nhân (chủ tịch VAF đã phải nhờ ông Lê Thành Ân, cựu TLS Mỹ, tạm thời đứng tên xin phép trùng tu một số mộ) và hợp tác thực hiện việc cắt bỏ những cây đã mọc trên mộ và làm sạch cỏ tại những lô mộ đã trùng tu. Tuy nhiên, đây vẫn có thể chỉ là những đáp ứng rất hạn chế trong kế hoạch trì hoãn việc trùng tu NTBH, thâu hẹp diện tích nghĩa trang để lấy đất cho thuê, khuyến khích gia đình tử sĩ đưa hài cốt thân nhân về quê hay cải táng ở nơi khác, tạo sự cạnh tranh giữa các hội đoàn thiện nguyện người Việt ở nước ngoài. Tất cả những hoạt động có tính phá hoại này đều nhắm đến mục tiêu tối hậu là không để cho NTBH trở thành một di tích lịch sử của cuộc nội chiến 20 năm. Tới đây cũng cần nói thêm là VAF không có ý định độc quyền trùng tu NTBH nên đã kêu gọi mọi người cùng trùng tu mộ và sẵn sàng lui bước nếu có hội đoàn nào được cộng đồng và hai Chính phủ Mỹ, Việt tín nhiệm, có đầy đủ khả năng đạt được mục tiêu tối hậu là NTBH được duy trì và bảo quản như một di tích lịch sử. Quan trọng nhất là phải chứng tỏ được sự minh bạch về tài chánh và lề lối làm việc. Tôi nghĩ phương cách thực tế và có hiệu quả nhất là các hội đoàn đã hay muốn tham gia công việc trùng tu mộ nên phối hợp với chương trình trùng tu theo kế hoạch và mô hình thống nhất của VAF. Như vậy vừa giữ được sự tín nhiệm của cộng đồng, tránh được nạn thâm lạm quỹ trùng tu, vừa vô hiệu hóa được âm mưu chia rẽ của những kẻ có ác ý. Với sự ủng hộ của Chính phủ và Quốc hội Mỹ, chương trình trùng tu NTBH sẽ mau chóng đạt được mục tiêu mong muốn.

Vì nguồn gốc là tị nạn cộng sản sau biến cố tháng Tư 1975, cộng đồng công dân Mỹ gốc Việt không thể đương nhiên đóng góp tiền bạc và trí tuệ cho sự phát triển đất nước chỉ vì được các lãnh đạo VN phong cho nhãn hiệu “khúc ruột ngàn dặm” hay “một bộ phận không thể tách rời của dân tộc”. Xin đừng quên rằng khi ra đi trong cơn nguy cấp, người tị nạn đã phải bỏ lại hết tài sản và sự nghiệp, mồ mả tổ tiên, bà con và bạn bè thân thiết. Hiện tượng “thuyền nhân” vượt biển gian nan và bi thảm chưa từng thấy trong lịch sử loài người đã diễn ra liên tiếp trong gần hai chục năm. Mấy trăm nghìn đồng bào đã phải làm mồi cho cá biển, hàng nghìn phụ nữ đã bị hải tặc hãm hiếp hay bắt đi mất tích. Ngót một triệu người khác đã phải trải qua cuộc sống khổ cực trong các trại tạm trú ở Hong Kong và Đông Nam Á cho đến khi được chấp thuận đi định cư ở một quốc gia đệ tam hay bắt buộc phải hồi hương, đợt cuối là vào năm 1995. Cũng không thể không nhắc đến gần một triệu quân nhân, công chức bị đày đọa trong các trại lao động cải tạo khiến hàng chục ngàn người đã chết trong thời gian bị cầm tù, từ dưới 1 năm đến 15 năm hay hơn nữa. Những người sống sót khi được thả về đã bị đối xử kỳ thị trong nhiều năm, không có công ăn việc làm, con cái không được đi học. Rất nhiều gia đình đã bị tan vỡ hay ly tán.

Sau 40 năm định cư và hội nhập thành công ở Hoa Kỳ nay đã đến thế hệ thứ ba, người Việt tị nạn đã trở thành công dân Mỹ và đã hội nhập thành công trên mọi địa hạt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Không ai có thể quên được quá khứ đau thương nhưng đa số đều hướng về tương lai, mong muốn và sẵn sàng giúp cho quê hương thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và trở thành một quốc gia phát triển. Theo tạp chí Tài hính ở trong nước (9/2/2015), “tổng lượng kiều hối năm 2014 cán mốc 12 tỷ USD. Số lượng dự án được các kiều bào đăng ký đầu tư về nước đến thời điểm này là 2.000 dự án, mang về nguồn lợi khoảng 20 tỷ USD mỗi năm”. Thử tưởng tượng Việt Nam thật sự quyết định thoát Trung, hợp tác chiến lược với Hoa Kỳ ở Biển Đông Nam Á, tham gia Hiệp ước Thương mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP) và chủ động dân chủ hóa chế độ, thì lượng kiều hối từ người Việt ở nước ngoài chắc chắn sẽ gia tăng tới bao nhiêu, nhất là khi đó sẽ có thêm sự đóng góp trí tuệ của hàng chục nghìn nhân tài gốc Việt ở Hoa Kỳ và các nước khác vào sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Việt Nam sẽ có những “tiền đồn” trợ lực vững mạnh từ những cường quốc văn minh nhất trên thế giới.

Nhưng triển vọng tốt đẹp ấy chỉ có thể thành sự thật nếu chế độ độc tài toàn trị được thay thế bời một chế độ của dân, do dân và vì dân. Sự chuyển đổi thể chế này, như trên đã trình bày, hoàn toàn là vấn đề nội bộ, giữa chính quyền và nhân dân trong nước. Hoa Kỳ không liên quan và, do luật Neutrality Act, cũng đã chính thức xác định “không can thiệp vào những vấn đề nội bộ của Việt Nam”. Công dân ngoại quốc gốc Việt cũng mong muốn có sự chuyển hóa trong hòa bình và cũng chỉ có thể đóng vai trò hỗ trợ. Chính quyền cần phân biệt những tổ chức muốn có vai trò chính trị ở trong nước với các NGO thuần túy. Các tổ chức xã hội dân sự ở trong nước có thể đón nhận sự trợ giúp của những nhóm vận động cho nhân quyền ở bên ngoài nhưng cần hiểu rõ động cơ cá nhân của những người cầm đầu để có thể tránh bị lợi dụng bởi những “nhà thầu” đầy thủ đoạn nhưng đã có nhiều thành tích xấu trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Một số trí thức có uy tín ở trong nước như TS Nguyễn Quang A hay GS Nguyễn Huệ Chi, do có nhiều dịp xuất ngoại tiếp xúc với nhiều cá nhân và tổ chức cộng đồng, có thể cung cấp những thông tin chính xác về động cơ và khả năng hỗ trợ của những cá nhân và tổ chức ở bên ngoài. Tất nhiên, nếu Việt Nam trở thành một quốc gia dân chủ thì Chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ, trong đó có công dân Mỹ gốc Việt, sẽ ủng hộ Việt Nam mạnh mẽ hơn nữa. Mọi đảm bảo đã có sẵn, vấn đề chỉ còn là chính quyền Việt Nam có muốn thực hiện hay không.

Cách mạng Nhung ở Việt Nam?

Thực tế chính trị ở nhiều nước cho thấy sự thay đổi từ một chế độ độc tài toàn trị sang chế độ dân chủ tam quyền phân lập không thể diễn ra trong một sớm một chiều, ngay cả trong trường hợp cách mạng bạo động. Đã có nhiều chế độ độc tài bị lật đổ bằng bạo động nhưng lại được thay thế bằng một chế độ độc tài khác. Trái lại, có nhiều cuộc chuyển hóa thể chế một cách hòa bình đã thành công như trường hợp Hung-ga-ri, Đông Đức hòa nhập vào Tây Đức, “cách mạng Nhung” ở Tiệp Khắc và nhiều nước Đông Âu khác, trong đó lãnh đạo cộng sản đã phải trao quyền lại cho một chính quyền dân chủ. Trong trường hợp Việt Nam, Đảng Cộng sản đã phạm quá nhiều sai lầm và tội ác, đã trở thành một đảng độc tài, tham nhũng, phản bội nhân dân và các đảng viên yêu nước, nhưng vẫn có thể tồn tại đến ngày nay là nhờ sự bảo hộ của Trung Quốc do nhóm lãnh đạo Hà Nội sang Thành Đô cầu cứu năm 1990. Từ đó, Bắc Kinh đã có cơ hội sử dụng quyền lực mềm để từng bước lấn chiếm lãnh thổ, cướp đoạt tài nguyên trên đất và trên biển, lèo lái đường lối chính trị, lũng đoạn kinh tế và Hán hóa dân tộc Việt. Hơn thế nữa, Trung Quốc còn dùng Việt Nam làm căn cứ chiến lược để làm chủ toàn thể Biển ĐNÁ, kiểm soát toàn thể các nước ASEAN, do đó xâm phạm lợi ích cốt lõi của Hoa Kỳ và đe dọa các nước trong khu vực.

Thái độ lộng hành của Trung Quốc cùng với lời Ngoại trưởng Dương Khiết Trì răn đe các nước ASEAN là “những nước nhỏ” đã khiến cho các nước trong khu vực đều trông cậy vào sự hiện diện của Hoa Kỳ ở Biển ĐNÁ. Khi xảy ra vụ giàn khoan HD-981, Tập Cận Bình nhiều lần từ chối gặp TBT Nguyễn Phú Trọng làm cho nhóm lãnh đạo thân TQ bị mất mặt và thấy rõ mình bị phản bội và khinh thường trắng trợn. Sau đó, khi Dương Khiết Trì sang Việt Nam kêu gọi “đứa con hoang hãy trở về” thì nhân dân Việt Nam bỗng sục sôi lòng yêu nước và sẵn sàng nổi dậy ủng hộ bất cứ một chính biến nào loại trừ những kẻ còn bám víu vào TQ.  Đó là những lý do khiến ông Nguyễn Phú Trọng và phe thân Tàu có thể đã quyết định phải thoát khỏi sự khống chế của Trung Quốc và quay sang hợp tác với Hoa Kỳ. Tuy nhiên, sự chuyển hướng ấy vẫn còn dè dặt, chậm chạp, vì lãnh đạo cộng sản vẫn sợ là đi với Hoa Kỳ thì chế độ sẽ bị lật đổ. Chính vì thế mà Tổng thống Hoa Kỳ đã phải hai lần xác nhận, lần đầu với Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và lần thứ hai với Tổng bí thư Đảng Nguyễn Phú Trọng, rằng Hoa Kỳ “tôn trọng thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ (của Việt Nam)”. Tiếp theo đó, trong buổi họp báo ở Hà Nội cuối tháng Bảy vừa qua, Đại sứ Hoa Kỳ Ted Osius còn nói rõ hơn, là “Mỹ không tìm cách thay đổi thể chế chính trị của Việt Nam”. Điều đó khẳng định chính sách của Mỹ là tôn trọng sự khác biệt về thể chế chính trị của mỗi quốc gia vì đó là chuyện nội bộ của mỗi nước. Đại sứ Osius nhắc lại điều đó với mục đích làm cho Việt Nam được yên tâm trong các nỗ lực cải thiện nhân quyền như đã ghi rõ trong bản Tuyên bố chung. Nhưng điều đó lại có thể bị Việt Nam mượn cớ để duy trì chế độ độc tài, độc đảng. Nói như TS Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập ở Việt Nam, “điều đó lên giây cót cho chế độ chính trị ở Việt Nam”.

Đây là một vòng luẩn quẩn, một tình trạng bế tắc chính trị mà Việt Nam cần phải quyết tâm thoát ra khỏi sớm ngày nào hay ngày ấy.

Như tại Đại hội lần thứ 10 Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức ở Hà Nội ngày 9/8/2015, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo truyền thông báo chí nhà nước cần tỉnh táo trước thông tin lợi dụng dân chủ đòi đa nguyên đa đảng, lợi dụng chống tham nhũng để bôi xấu chế độ và chia rẽ nội bộ. Tuyên bố này đã khiến quan sát viên của đài RFA nêu câu hỏi là Việt Nam sẽ cải cách bằng cách nào khi tiếp tục không chấp nhận đa nguyên chính trị?

Câu hỏi này đã được TS Phạm Chí Dũng, từ giới truyền thông độc lập am hiểu tình hình trong nước, trả lời rằng ông được nghe thông tin là “trong Đại hội 12 sẽ không diễn ra sự thay đổi lớn về triết lý chính trị… Tôi hiểu là tất nhiên họ vẫn không chấp nhận đa nguyên đa đảng”.

TS Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển IDS đã tự giải thể năm 2008 vì bị mất tính độc lập, hiện là đại diện của Diễn đàn Xã hội Dân sự, cũng trả lời RFA rằng “Nhà nước không chấp nhận đa nguyên chính trị, và đó là nguyên nhân của tình trạng bê bết vì tham nhũng, kinh tế ách tắc hiện nay”. RFA còn nhắc lại những nhận định mạnh mẽ trước đó của TS Nguyễn Quang A: “Do chuyện chỉ có độc đảng, không có cạnh tranh chính trị, không có một thế lực độc lập lành mạnh luôn luôn canh chừng để vạch ra những việc làm bậy bạ của những người đương chức và nó luôn kè kè là đến cuộc bầu cử tới mà các ông làm bậy, thì dân bằng lá phiếu của mình sẽ đẩy các ông xuống và chúng tôi sẽ lên. Đây là một cơ chế hùng mạnh vô cùng, để buộc người ta bớt tham nhũng đi. Khi buộc người ta bớt tham nhũng đi thì các chính sách mới thực sự thúc đẩy nền kinh tế thị trường…”

Câu hỏi của RFA về tình trạng tiến thoái lưỡng nan của Đảng, vừa muốn cải cách chính trị vừa muốn duy trì độc tài độc đảng, cũng là vấn đề tôi đã nêu ra ở trên là cần thoát khỏi vòng luẩn quẩn và khai thông tình trạng bế tắc chính trị hiện thời. Tôi đã đề nghị giải pháp thích hợp là Đảng và Nhà nước mở ngay những cuộc tham khảo với trí thức cấp tiến để sớm thiết lập một lộ trình (road map) chuyển hóa thể chế từ độc tài sang dân chủ một cách hòa bình và ổn định.

Sau lá thư gửi Bộ Chính trị của Thủ tướng Võ Văn Kiệt năm 1995, trước Đại hội Đảng lần thứ 9 cho đến nay, qua các Đại hội Đảng 10 và 11, nhiều lão thành cách mạng, đảng viên, trí thức, đã lên tiếng về hiểm họa Trung Quốc, đổi mới chính trị và nhiều vấn đề quan tâm khác, dưới những hình thức kiến nghị, tuyên bố và thư ngỏ. Trước tình hình khẩn cấp hiện nay, lãnh đạo đã ý thức được nhu cầu chuyển hướng cần lắng nghe tiếng nói của nhân dân, nhất là trực tiếp tham khảo với trí thức trong và ngoài đảng. Viện Nghiên cứu Phát triển IDS cần được phục hồi, có thể đổi tên, và mở rộng. Trí thức trong và ngoài nước đã đóng góp nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, kể cả dự án cải cách toàn diện. Đầu năm 2015, bảy tổ chức XHDS trong nước cùng để ra chương trình hoạt động “Năm 2015 là Năm Công Dân”, mong muốn chuyển hoá một cách ôn hoà chế độ độc tài toàn trị hiện tồn sang chế độ dân chủ với những bước đi thích hợp. Một tài liệu khác cần xem xét trong việc thiết lập lộ trình chuyển hóa thể chế chính trị là bài viết mới đây của TS Nguyễn Quang A, “Dân chủ hóa: Vài bài học quốc tế và kịch bản khả dĩ cho Việt Nam” (Hội thảo Hè, Berlin, 24-25/7/2015). Tác giả đã tìm hiểu quá trình chuyển đổi chính trị tại 14 quốc gia từ 1945 đến nay, rút ra một số bài học thực tế và trình bày một số tiếp cận có thể áp dụng cho Việt Nam. Khi các dự thảo văn kiện Đại hội 12 được công bố, sự đóng góp ý kiến và nhận định của chuyên gia các giới về cương lĩnh, báo cáo chính trị và chiến lược phát triển kinh tế, xã hội chắc chắn sẽ rất phong phú và sôi nổi. Câu hỏi lớn là bản đúc kết các văn kiện vào cuối năm cho Đại hội 12 có đáp ứng được sự mong đợi của nhân dân hay không?

Quả thật, tình hình chính trị Việt Nam chưa bao giờ bí mật và khó hiểu như đang diễn ra trước Đại hội 12. Chỉ thấy rõ là có sự đấu đá kịch liệt trong nội bộ Đảng, nhất là từ khi trang blog “Chân Dung Quyền Lực” bỗng nhiên gây chấn động dư luận trong và ngoài nước với một loạt bài tố cáo đích danh một số tham nhũng gộc trong hàng ngũ lãnh đạo trong mấy tháng cuối 2014 và đầu 2015. Chiến dịch triệt hạ uy tín của nhau khi lên đến mức báo động cho số phận của Đảng thì tạm ngưng (chắc để điều đình với nhau) cho đến khi TBT Nguyễn Phú Trọng đi Bắc Kinh vào tháng Tư và đi Washington vào tháng Bảy. Hai tuần trước khi ông Trọng sang thăm Mỹ thì sự cố về “sức khỏe” của Bộ trưởng Quốc phòng bùng nổ với những tin tức trái ngược và những hình ảnh đáng ngờ vực ngay cả trên các báo giấy hay báo mạng “lề phải” (của chính quyền). Một số lãnh đạo cao cấp lại có những phát biểu chính thức rất tự mâu thuẫn, như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đọc bài diễn văn gây kinh ngạc nhất trong ngày kỷ niệm 30.4.2015 bày tỏ lòng nhớ ơn “sự giúp đỡ quý báu của Trung Quốc” và tố cáo “tội ác dã man của Đế quốc Mỹ”. Những quan sát viên bình tâm theo dõi tình hình sẽ phải kết luận rằng đây là tình trạng “hỏa mù” do chính các phe chống đối nhau trong bộ máy quyền lực đưa ra để dư luận bị hoang mang, khó ủng hộ hay chống đối phe nào cho đến khi các dự thảo văn kiện Đại hội được công bố (nếu có theo thường lệ) cho thấy phe nào đã thắng hay các phe đã đạt được một đồng thuận nào đó.

Dù sao, các giới nhân dân không nên mất thì giờ chạy theo các nguồn tin trái ngược để phỏng đoán sự thật. Dù kết quả thế nào, đi theo Tàu hay đi với Mỹ, hay vẫn nhập nhằng “bình mới rượu cũ” thêm 5 năm nữa, trí thức và các tổ chức xã hội dân sự vẫn phải tập trung nỗ lực vào việc xây dựng sức mạnh nhân dân để có thể ứng phó với mọi tình huống một cách thích hợp. Kết quả mong đợi là một tiến trình chuyển hóa thể chế ôn hòa từ độc tài sang dân chủ, nhưng nếu phe bảo thủ thân Tàu nắm được ưu thế thì chỉ một ngòi nổ bất thường sẽ gây ra bạo loạn. Trong giai đoạn quyết định này, trí thức, xã hội dân sự và các đảng viên yêu nước không thể chần chừ đòi hỏi chính quyền phải dứt khoát từ bỏ chính sách mập mờ, nói một đàng làm một nẻo. Bằng mọi cách, phải ngăn chặn ý đồ duy trì chế độ độc đảng độc tài mà hậu quả là đất nước sẽ hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Quốc trong 5 năm tới.

Lãnh đạo Đảng đã biết rõ sự chán ghét và bất mãn của dân chúng đang gia tăng và lan rộng nên đã cho thấy ý muốn thoát Trung, nhưng đây có thể chỉ là một bước lùi chiến thuật của Đảng để duy trì và củng cố quyền lực. Trí thức và xã hội dân sự cần phải huy động các mầm mống bất mãn của nhân dân thành một hậu thuẫn mạnh mẽ cho phong trào đổi mới, hoan nghênh bước lùi của Đảng để đẩy tới tiến trình chuyển hóa chế độ chính trị. Hãy bắt đầu bằng việc kêu gọi chính quyền thực hiện “những nỗ lực không mệt mỏi” mà TBT Nguyễn Phú Trọng đã tuyên bố tại thủ đô nước Mỹ khi đề cập đến vấn đề nhân quyền. Cụ thể là yêu cầu chính quyền chấp nhận đối thoại với trí thức và đảng viên yêu nước, thả những người bị giam giữ vì biểu tình chống Trung Quốc xâm lược, vì vận động cải thiện nhân quyền hay phát biểu chính kiến khác biệt, ngưng mọi hành động cướp đất và đàn áp dân oan, hợp tác hơn với các NGO nước ngoài gốc Việt, v.v.

Những yêu cầu nhẹ nhàng này là những bước thử thách thiện chí của nhà cầm quyền về việc chuyển lời nói thành hành động, qua đó sẽ dễ dàng nhận ra đường lối đích thực của Đảng và Nhà nước là vì dân hay phản dân. Nếu chính quyền chấp nhận những yêu cầu hợp lý trên đây và đồng ý cùng thảo luận với trí thức cấp tiến về một lộ trình dân chủ hóa trong hòa bình và ổn định thì đó sẽ là đại phúc cho dân tộc. Cuộc chuyển đổi thể chế trong ôn hòa này sẽ còn tốt đẹp hơn cuộc “Cách mạng Nhung” ở Tiệp Khắc, vì sự ra đi của Tổng Bí Thư Milos Jakes và đám lãnh đạo cộng sản ngoan cố ở Tiệp chỉ xảy ra sau một chuỗi sự kiện khởi đầu bằng một vụ đàn áp sinh viên biểu tình kỷ niệm 50 năm cái chết của sinh viên Jan Opletal bị quân Đức Quốc xã sát hại. Vụ đàn áp biểu tình này được dàn dựng bởi chính cơ quan mật vụ StB, tung tin đồn là có một sinh viên tên Martin Smid bị công an đánh chết. Do phản ứng dữ dội của quần chúng, Diễn đàn Công dân (Civic Forum) của Vaclav Havel ra tuyên cáo yêu cầu tập đoàn lãnh đạo phải từ chức, sau đó là những cuộc biểu tinh bất bạo động của hàng trăm ngàn người trong mười ngày trên toàn quốc. Công an không chịu đàn áp biểu tình và quân đội cũng không chịu can thiệp. Cuối cùng, khi Diễn đàn Công dân kêu gọi một cuộc tổng đình công và hầu hết công nhân Tiệp Khắc tham gia thì bè lũ Milos Jakes đành chịu thất bại và nhục nhã ra đi.

Tóm lại, Đại hội toàn quốc Đảng CS lần thứ 12 sẽ thông qua các văn kiện Đảng và xác định chiều hướng chính sách đối nội và đối ngoại trong 5 năm sắp tới. Kết quả là một cuộc chuyển hóa thể chế êm đẹp sẽ diễn ra hay chế độ độc tài độc đảng sẽ tiếp tục thống trị đất nước một cách  khắc nghiệt hơn và tàn bạo hơn? Hi vọng rằng đa số lãnh đạo đủ tỉnh táo nhận ra chiều hướng tất yếu của lịch sử và thời điểm đã tới để lựa chọn một giải pháp vừa an toàn cho mọi người vừa có lợi ích to lớn cho đất nước. Mọi người Việt Nam trong và ngoài nước đều đang theo dõi và chờ đợi các dự thảo văn kiện Đảng có thể được công bố vào tháng tới và đúc kết trước cuối năm 2015. Chắc chắn một điều là ý Dân và ý Trời sẽ không cho phép một chính quyền mới tiếp tục duy trì chế độ độc tài độc đảng và quan hệ lệ thuộc vào Trung Quốc. Đã đến lúc phương châm nhảm nhí “16 chữ vàng và 4 tốt” do Bắc Kinh áp đặt phải được vứt bỏ vào sọt rác của lịch sử. Đã đến lúc nhà cầm quyền phải trả lại cho nhân dân những quyền đã được quy định trong điều 3 của Hiến pháp 2013, thực hiện những điều hứa hẹn về một xã hội “công bằng, dân chủ, văn minh”.

Chuyển hóa chế độ trong hòa bình và ổn định, hay châm ngòi cho một cuộc bạo loạn thảm họa cho chế độ? Cứu nước hay bán nước? Đó là câu hỏi cần được lãnh đạo Đảng và Nhà nước trả lời minh bạch trước Đại hội toàn quốc thứ 12.

L.X.K.

22 tháng 8, 2015

Tác giả gửi BVN

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ và Phật Giáo Thời Ðại

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ

và Phật Giáo Thời Ðại

Lê Hiếu Liêm

 

Chương một: Dẫn nhập Việt Nam và Phật Giáo đầu thế kỷ hai mươi.

 

Đầu thế kỷ 20, tư tưởng Nho Giáo, thống trị độc tôn đất nước từ Thời Hồ Quý Ly, nhà Lê và nhà Nguyễn suốt 400 năm, hoàn toàn sụp đổ. Tư tưởng Phật Giáo, ngự trị vinh quang trong thời đại Lý Trần từ thế kỷ thứ 11 đến cuối thế kỷ 14, suy đồi tận gốc. Tư tưởng Tây Phương và tôn giáo của nó, Thiên Chúa Giáo La Mã, bị đại đa số trí thức và nhân dân coi như sản phẩm và công cụ của chế độ Thuộc Địa và thực dân Pháp nên vẫn không được chấp nhận. Ý thức hệ Cộng Sản cũng như các tư tưởng mới khác chưa ra đời. Cả một khoảng trống tư tưởng, cũng có nghĩa là một khoảng trống tôn giáo và chính trị, to lớn bao trùm trên một nước Việt Nam bị nô lệ, bóc lột, áp bức, lạc hậu và nghèo đói. Nhưng đây cũng là môi trường lý tưởng cho sự ra đời của những tư tưởng mới, những tôn giáo mới, những chính đảng mới và những phong trào mới: Phong trào Đông Du và Việt Nam Duy Tân Hội của Phan Bội Châu từ năm 1904,Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can và các nhà Nho tiến bộ năm 1907, tư tưởng dân quyền và dân chủ của Phan Chu Trinh suốt hai mươi năm (1905-1925), phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội cùng năm, Việt Nam Quang Phục Hội năm 1912, cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ và ở Huế năm 1916 của Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, vua Duy Tân…, phong trào Hội Kín ở miền Nam năm 1913-1916 lan rộng khắp Lục Tỉnh và cuộc tấn công Sài Gòn năm 1916. Các hoạt động này đã liên tục diễn ra từ đầu thế kỷ 20 đến cuối đệ nhất thế chiến.

Tuy nhiên mãi đến đầu thập njiên 20 Việt Nam mới thật sự thức dậy với sự ra đời Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng Chí Hội và Tân Việt Cách Mạng Đảng năm 1925, Đạo Cao Đài năm 1926, Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927, Cuộc khởi nghĩa Yên Bái và sự ra đời của Đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930 và phong trào Sô Viết Nghệ Tỉnh 1930-1931.

 

Trong thời gian sôi động này, từ 1925 trở đi, Phật Giáo cũng đã thức dậy. Từ năm 1923, thiền sư Khánh Hòa và thiền sư Thiện Chiếu đã thành lập, tại chùa Long Hòa ở Trà Vinh, Hội Lục Hòa Liên Hiệp với mục đích vận động thành lập một Hội Phật Giáo Việt Nam toàn quốc để chấn hưng Phật Giáo. Thiền sư Thiện Chiếu, khác hẳn tất cả tăng sĩ Phật Giáo đương thời, là một tăng sĩ có tân học. Ông đã đi ra Trung và Bắc vận động thống nhất Phật Giáo năm 1927 nhưng bất thành.

Năm 1928 thiền sư Khánh Hòa xây dựng Thích Học Đường và Phật Học Thư Xã tại Chùa Linh Sơn, Sài Gòn và năm 1929 Ông cho ấn hành tạp chí Viên Âm, tập san Phật Học đầu tiên bằng quốc ngữ tại Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Xoài Hột, Mỹ Tho. Cùng thời, thiền sư Thiện Chiếu xuất bản một tạp chí Phật Học nhắm vào giới thanh niên trí thức lấy tên là Phật Hòa Tân Thanh Niên, đặt tòa soạn tại chùa Chúc Thọ ở Gia Định.

 

Năm 1931 thiền sư Khánh Hòa cùng nhiều tăng sĩ và cư sĩ thành lập Hội Phật Học đầu tiên tại Việt Nam, lấy tên là Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học và thiền sư Từ Phong được mời làm Chánh Hội Trưởng. Hội ra tờ Từ Bi Âm năm 1932. Thiền sư Khánh Hòa, cùng người cộng sự thân tín là thiền sư Thiện Chiếu đã đóng vai trò tiền phong khai mở phong trào chấn hưng Phật Giáo và hiện đại hóa Phật Giáo, chuyển động sâu rộng lịch sử Phật Giáo và lịch sử Việt Nam trong suốt 65 năm qua.

Tại miền Trung, thiền sư Giác Tiên mở Phật Học Đường  tại chùa Trúc Lâm năm 1929 và ủy thác cho đệ tử là bác sĩ Lê Đình Thám thành lập Hội An Nam Phật Học năm 1932. Hội quy tụ đông đảo những danh tăng và cư sĩ trí thức tại miền Trung. Cư sĩ Lê Đình Thám được bầu làm Hội Trưởng và vua Bảo Đại được mời làm Hội Trưởng Danh Dự. Hội ra tạp chí Phật Học Viên Âm năm 1933. Năm 1934, thiền sư Giác Tiên, cư sĩ Lê Đình Thám… đã thành lập Trường An Nam Phật Học, trong đó có mở cấp Đại Học Phật Giáo. Đặc biệt hơn nữa là Hội đã phát động phong trào “Chỉnh Lý Tăng Già” rất quyết liệt để loại trừ ra khỏi tăng già những thành phần phạm giới, bất xứng. Chính nhờ những nổ lực cấp tiến này mà Phật Giáo miền Trung đã đóng được một vai trò quan trọng trong những thập niên sau đó.

Năm 1934 các thiền sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo cùng với giới cư sĩ trí thức tên tuổi tại Hà Nội như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Dương Bá Trạc, Trần Văn Giáp, Nguyễn Năng Quốc, Nguyễn Hữu Kha, Bùi Kỷ, Lê Dư… thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội, bầu cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm hội trưởng và suy tôn thiền sư Thanh Hanh làm Thiền Gia Pháp Chủ. Đặc biệt là trong buổi lễ suy tôn Pháp Chủ này, cư sĩ Trần Trọng Kim đã thuyết pháp về đề tài; “Thập Nhị Nhân Duyên”. Hội ra tạp chí Đuốc Tuệ năm 1935 và phát triển mạnh mẽ khắp miền Bắc (Nguyễn Lang, Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, q 3, t 51-173).

Đặc tính của cả ba Hội Phật Học tại ba miền là vai trò nổi bật của giới trí thức cư sĩ, là thuần túy Phật học và sinh hoạt Phật sự. Thời điểm 1925-1945 là thời điểm chuẩn bị trong kiên nhẫn và thầm lặng. Các hội Phật Học đã làm đúng chức năng và vai trò lịch của mình, một cách khiêm tốn, từ đống gạch vụn đổ nát của nền Phật học và Phật Giáo Việt nam trong thời Thực Dân Pháp thống trị.

Trong thời kỳ này xuất hiện những con người đặc biệt, xuất sắc và những tư tưởng mạnh mẽ, quyết liệt, trong Phật Giáo cũng như ngoài Phật Giáo. Từ đầu thập niên 30, tư tưởng Phật Hộc của Thích Thiện Chiếu đã là những quả bom chấn động. Và năm 1939 Huỳnh Phú Sổ xuất hiện làm một cuộc cách mạng tôn giáo, cải cách toàn bộ và triệt để Phật Giáo chưa từng có trong hai ngàn năm lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Miền Nam, một vùng đất lạ lùng và kỳ diệu…

 

An Hòa Tự

Phan Chu Trinh từ Pháp trở về Sài Gòn năm 1925, đất nước bùng lên những làn sóng tư tưởng dân quyền và dân chủ. Ông khẳng định phải tìm nguyên nhân mất nước trong sự mất đạo đức, mất luân lý, trong bài diễn thuyết Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây, và ông cũng khẳng định chế độ quân chủ chuyên chế là nguyên nhân chính làm mất nước trong bài thuyết giảng Quân Trị Chủ Nghĩa và Dân Trị Chủ Nghĩa tại Sài Gòn năm 1925. Ông mất năm sau đó và đám tang ông cùng với cuộc vận động ân xá nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã khơi bùng phong trào yêu nước và yêu tự do dân chủ trên toàn quốc, đặc biệt là trong giới thanh niên.

Nhưng dữ dội, bốc lửa và sấm sét trong tư tưởng yêu nước chống thực dân cũng như tư tưởng tự do dân chủ, trong thời này, chỉ có Nguyễn An Ninh là đi xa nhất, quyết liệt nhất. Là một thanh niên miền Nam,Ông đi du học ở Pháp và trở về nước với bằng cử nhân Luật. Lợi dụng quy chế thuộc địa của Nam Kỳ, nơi mà báo chí bằng tiếng Pháp được tự do, không bị kiểm duyệt, Ông ra tờ La Cloche fèlèe (Tiếng Chuông Rè) từ năm 1923 đến năm 1926. Ông tự xưng tờ báo của Ông là “cơ quan tuyên truyền tư tưởng Pháp”, lấy tư tưởng của kẻ xâm lăng để đập những nhát búa tạ vào chế độ Thực Dân, đồng thời tờ báo cũng tự nhận là “cơ quan chuẩn bị cho tương lai dân tộc”. Thật là độc đáo và tuyệt vời.

Ngoài việc phê bình kịch liệt, thẳng tay chính sách và chế độ thực dân, Ông cổ võ cho việc đào tạo một tầng lớp thanh niên Việt Nam tân học, có văn hóa, có lý tưởng, có chí khí, có năng lực và có tổ chức vàÔng tuyệt đối tin vào sức mạnh và vào tương lai của nhân dân Việt Nam. Ông chủ trương một nước Việt Nam thống nhất từ Nam chí Bắc và trở về lịch sử dân tộc để tìm niềm tin và sức mạnh. Ông hô hào, khi chỉ mới ngoài 20 tuổi, “Chẳng những phải duy trì những giấc mộng vĩ đại, mà còn phải tổ chức thành một nhóm quan trọng để chuẩn bị cho tương lai”. Không những tư tưởng táo bạo, độc đáo, mới lạ, kiến thức của Ông cũng rất uyên bác. Khi Thống Đốc Nam Kỳ tuyên bố: “Xứ này không cần trí thức”. Ông đã viết bài trả lời bốc lửa: “… Những thảm khổ của chúng ta ngày nay, còn gì nữa, đúng là do tổ tiên của chúng ta đã sờ mó vào cây kiến thức. Hạng trí thức đã làm đảo lộn thế giới, làm hư hỏng hạnh phúc của thế giới. Hãy nguyền rủa tên tuổi của Prométhé, kẻ đã lấy trộm chút lửa của Trời. Hãy nguyền rủa con người đã bày ra cái ná cao su cho trẻ con bắn đá vào trán ông khổng lồ… Trí Tuệ, đó là cái tai hại. Trí tuệ, đó là con rắn cuốn quanh thân cây đã làm cho chúng ta vĩnh viễn mất cõi thiên đường… Nói đến vai trò giáo dục, vai trò văn minh của các ông chủ xứ Đông Dương này, thưa các ông, điều ấy làm ta mỉm cười… Người ta đã quỳ lụy bái phục những vị “đem ánh sáng tới”, những vị “làm điều kỳ diệu ở Ấu Châu”… Cái gì kỳ diệu? Thực ra cái kỳ diệu đó là, chỉ trong một thời gian ngắn thôi, người ta đã có thể làm cho trình độ trí thức của người Nam đã thấp đi lại càng rơi vào chỗ cực kỳ dốt nát. Cái kỳ diệu đó là người ta đã có thể, trong một thời gian ngắn như thế, xô đẩy một dân tộc có tư tưởng dân chủ, ngã nhào vào tình trạng nô lệ hoàn toàn“. (Trần Văn Giàu, Sự Phát Triển Của Tư Tưởng ở Việt Nam Từ Thế Kỷ 19 đến Cách Mạng Tháng Tám, q2, t 311).

Nguyễn An Ninh cũng là một trong những nhà trí thức tân học đầu tiên nghiên cứu Phật Học và hoàn thành một tác phẩm Phật Học quan trọng, cuốn “Phê Bình Phật Giáo”. Sau thời kỳ hoạt động sôi nổi từ 1923 đến 1926, Nguyễn An Ninh bị ở tù trong thời gian 1926-1927, sau đó Ông về nghiên cứu Phật Giáo. Trên bàn làm việc của Ông, có một cái chuông, một cái mõ, Ông cạo trọc đầu và đi chân không.Ông nghiên cứu Phật Giáo qua tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và các hoạt động Phật Giáo trong nước. Cuốn Phê Bình Phật Giáo xuất bản năm 1937 là kết quả của sự nghiên cứu này. Tựa đề của cuốn sách, 70 năm sau cũng không có ai dám viết một cuốn sách Phật Học có tựa đề thách thức và can đảm như vậy. Mục đích và phương pháp luận còn mới lạ, táo bạo hơn, đó là “so sánh Phật Giáo với thời đại của nó để chỉ chỗ hay, chỗ đúng hơn của nó đối với các thuyết khác và so sánh Phật Giáo với thời đại này để chỉ sai lầm của Phật Giáo“. Tác phẩm này được giới trí thức, giới chính trị cũng như giới Phật Giáo chú ý đặc biệt.

Nhưng không gây sóng gió và tranh luận suốt nhiều năm trời như những tác phẩm của Thích Thiện Chiếu.Đối với Tăng, Ni, Phật Tử thập niên 30, những tư tưởng Phật Học của Thích Thiện Chiếu là những tiếng sét ngang tai. Ngày nay đọc lại, chắc chắn quý vị tăng sĩ, cư sĩ và Phật Tử cũng không khỏi giựt mình, chấn động và suy nghĩ. Những tư tưởng này, được viết từ thập niên 30, ngày nay, cuối thập niên 90, vẫn còn mới, còn táo bạo, còn chứa đầy sức nặng của đá tảng và sức nổ của sấm sét. Thích Thiện Chiếu là tinh hoa sáng chói của Phật Giáo trong thập niên 20, 30. Ông đã đi tiền phong trong mọi lãnh vực chấn hưng và hiện đại hóa Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ 20 này.

Ta phải đứng trên một đỉnh núi cao, mới hy vọng nhìn thấy những cái gì chưa ai nhìn thấy, những cái gì nằm khuất sau dãy núi cao. đó có thể là những dãy núi cao hơn, hay là một đại dương mênh mông hay là một bình nguyên rực rỡ. Thích Thiện Chiếu là một ngọn núi cao của Phật học và Phật Giáo Việt Nam trước đệ nhị thế chiến. Ta hãy đứng trên đỉnh núi cao ngất, hùng tráng này để nhìn rõ một đỉnh núi cao ngất, hùng vĩ khác, là Cư sĩ, Bồ Tát, Giáo Chủ Huỳnh Phù Sổ.

 

|Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10| |TK|

[BHH430] [PGHH] [THƯ VIỆN PGHH]

About these ads

Occasionally, some of your visitors may see an advertisement here.

Tell me more | Dismiss this message

Categories: Sinh Hoạt của HĐTSTƯ | Leave a comment

Ẩn ý của việc Trung Quốc phát triển tàu hải cảnh công suất lớn

Ẩn ý của việc Trung Quốc phát triển tàu hải cảnh công suất lớn

Tờ Nhân dân nhật báo (People’s Daily) của Trung Quốc ngày 29/7/2015 đưa tin và hình ảnh về tàu hải cảnh “thế hệ mới” 12.000 tấn để thực hiện cái gọi là chấp pháp ở Biển Đông.[1] Công luận cần phải biết đến những ẩn ý nguy hiểm đằng sau động thái mới này.

Thứ nhất, đây là lực lượng quân sự trá hình. Chuyên gia Ryan D. Martinson (Viện Nghiên cứu biển Trung Hoa, Đại học Hải chiến Hoa Kỳ) có bài phân tích trên tạp chí The Diplomat tháng 11/2014 khẳng định điều này và cho rằng, lực lượng hải cảnh của Trung Quốc về danh nghĩa là bán quân sự nhưng thực chất là “tổ chức quân sự” vì tàu hải cảnh của Trung Quốc hoạt động tương đối giống với các tàu chiến loại nhỏ của Mỹ.[2] Cục Tình báo hải quân Mỹ cũng có nhận định tương tự trong Báo cáo đầu năm 2015 về hải quân Trung Quốc. Báo cáo này cho biết, Trung Quốc hiện là nước có hạm đội hải cảnh lớn nhất thế giới với 205 tàu lớn nhỏ các loại (95 tàu lớn và 110 tàu nhỏ), lớn hơn nhiều so với các nước Nhật Bản (78), Việt Nam (55), Indonesia (8), Malaysia (2) và Philippines (4) cộng lại. Vào cuối năm 2015, lực lượng hải cảnh Trung Quốc sẽ tăng 25% so với thời điểm năm 2012. Trong đó, phần lớn các tàu chấp pháp này được trang bị vũ khí hạng nhẹ như súng 12,7 mm, 14,5 mm và 30 mm, hệ thống ra – đa và các thiết bị thông tin. Một số tàu lớn còn có sân đỗ và buồng chứa trực thăng.[3]

Trong khi đó, cơ quan phân tích tình báo quốc phòng IHS Jane’s có trụ sở tại Luân Đôn (Anh) công bố thông tin cho biết Trung Quốc đang chuyển đổi các tàu khu trục thành tàu hải cảnh tại xưởng đóng tàu Phố Đông (Pudong) ở Thượng Hải.[4] Bốn tàu khu trục lớp Khương Duy 1 (Jiangwei I) phiên chế cho hải quân Trung Quốc từ năm 1991 và 1994 có chiều dài 112 mét, rộng 12 mét, lượng giãn nước 2.300 tấn với 2 trục máy diesel. Các tàu này đang được sơn trắng và thay tháo một số thiết bị vũ khí như bệ phóng tên lửa chống hạm YJ83, bệ phóng tên lửa đối không HQ – 61, hệ thống súng 100 mm và hai bệ súng hai nòng 37 mm ở cuối tàu. Nhưng, hai bệ súng hai nòng 37 mm ở phía trước được giữ lại.

Thứ hai, Trung Quốc trong khi tiếp tục trì hoãn việc đàm phán, thương lượng giải quyết vấn đề, thì lại rất nhanh chóng đưa lực lượng tàu mới này vào sử dụng để mở rộng khu vực kiểm soát xuống phía nam Biển Đông.[5]

Việc đổi mới và nâng cấp các tàu hải cảnh một mặt tạo thuận lợi cho Trung Quốc tăng cường hiện diện, hoạt động độc lập dài ngày ở các điểm nóng trên Biển Đông, mặt khác giúp nước này “tạo” và “đẩy” căng thẳng nhưng luôn trong vòng kiểm soát trước công luận quốc tế vì trên danh nghĩa đây không phải là lực lượng quân sự (hải quân).[6] Các căn cứ ở Trường Sa, nhất là trên Đá Chữ Thập ở rìa Tây quần đảo Trường Sa sẽ giúp các tàu hải cảnh của nước này hoạt động ở xa đất liền, và kiểm soát đường vận tải chiến lược, ngư trường trù phú cũng như tài nguyên thiên nhiên chưa được khai phá ở khu vực.[7]

Bên cạnh đó, các hoạt động đâm va, phun vòi rồng xua đuổi các tàu cá, tàu khảo sát địa chấn và tàu chấp pháp của các nước nhỏ tiếp tục xảy ra. Với lượng giãn nước gấp 3 lần tàu cảnh sát biển lớp Legend lớn nhất của Mỹ, và được thiết kế theo tiêu chuẩn của tàu quân sự, tờ báo của Trung Quốc cũng cho biết, tàu hải cảnh “thế hệ mới” của nước này có thể đâm va tàu 20.000 tấn và sẽ không hề hấn gì khi va chạm với những tàu 9.000 tấn, thậm chí còn có thể đánh chìm các tàu này.

Thứ ba, đây sẽ là bài toán khó cho Mỹ trong việc tìm kiếm chiến lược và biện pháp đối phó hữu hiệu[8] vì một số lý do: (i) để đối đầu với lực lượng chấp pháp bán quân sự của Trung Quốc, Mỹ không thể phối hợp hoạt động tốt với lực lượng chấp pháp biển của các nước đồng minh và đối tác ở khu vực nếu như không điều động tàu cảnh sát biển đến khu vực. Đây là cái khó vì Mỹ phải giám sát vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn (hơn 11,3 triệu km2) và vùng biển rộng lớn không có băng ở Bắc cực. Đội cảnh sát biển của Mỹ gần Biển Đông nhất là ở Guam chỉ có hai tàu tuần tra nhỏ lớp Island dài 33,5m và một tàu phao nhưng phải thực hiện nhiệm vụ tuần tra vùng nước xung quanh các đảo Guam, Bắc Mariana, Cộng hòa Palau và Nhà nước liên bang Micronesia với tổng diện tích chiếm tới 43% vùng đặc quyền kinh tế của Mỹ[9]. Ngoài ra, nhiều tàu cảnh sát biển của Mỹ đã đến thời kỳ phải thay mới để đảm bảo hoạt động. Theo Báo cáo cuối tháng 6/2015 của chuyên gia phân tích hải quân Ronald O’Rourke thuộc Cơ quan nghiên cứu Quốc hội Mỹ (U.S. Congress Research Service), Mỹ cần phải thay mới tới 90 tàu cảnh sát biển với chi phí lên đến 21,1 tỷ USD[10]; (ii) Mỹ dùng tàu hải quân để tuần tra sẽ bị Trung Quốc phản pháo là quân sự hóa Biển Đông. Động thái gần đây nhất phản ánh điều này là, đối phó với việc Mỹ đưa máy bay trinh sát săn ngầm P8 – A Poseidon bay trên đảo Trung Quốc bồi đắp ở Trường Sa và việc Mỹ tuyên bố đưa máy bay và tàu chiến vào khu vực 12 hải lý các đảo nhân tạo mà Trung Quốc đang xây dựng, Bộ Quốc phòng Trung Quốc hôm 30/7/2015 lên tiếng chỉ trích Mỹ và cho rằng Mỹ đang quân sự hóa Biển Đông[11]; (iii) trong khi đó, Trung Quốc sẵn sàng sử dụng tàu chấp pháp để đối đầu với hải quân Mỹ. Nếu khủng hoảng xảy ra Trung Quốc ở vị trí lợi thế hơn khi đề cập đến việc “sử dụng vũ lực”. Ngoài ra, giữa hai nước chưa có cơ chế tránh đụng độ liên quan đến lực lượng chấp pháp bán quân sự. Vụ tàu Impeccable tháng 3/2009 là một ví dụ điển hình. Bắc Kinh sử dụng tới năm tàu chấp pháp các loại ra ngăn chặn và răn đe tàu chiến của Mỹ. Để tránh những va chạm bất ngờ không tính trước trên biển, Trung Quốc và Mỹ là hai trong số các thành viên ký kết Bộ quy tắc ứng xử cho những chạm trán ngoài ý muốn trên biển (Code for Unplanned Encounters at Sea – CUES) tháng 4/2014. Tiếp đó, sau cuộc họp cấp cao giữa Tập Cận Bình và Tổng thống Mỹ Obama tháng 11/2014, hai bên ký Bản ghi nhớ chung (MOU) về các quy tắc ứng xử an toàn trong các vụ đụng độ trên biển và trên không. Các quy tắc được nêu trong bản phụ lục của MOU nhắc lại và đúc kết từ những nội dung kĩ thuật trong Công ước về các quy định quốc tế để phòng tránh đâm va trên biển năm 1972 (Convention on the International Regulations for Preventing Collisions at Sea – COLREG) và các quy định về va chạm được nêu trong CUES. Nội dung của các cơ chế này chủ yếu liên quan đến khía cạnh quân sự, chưa có điều khoản về các lực lượng chấp pháp bán quân sự hoặc dân sự.

Như vậy, việc Trung Quốc phát triển các tàu hải cảnh cỡ lớn vừa tạo điều kiện nước này tăng khả năng răn đe và mở rộng kiểm soát ở Biển Đông vừa gây khó cho Mỹ và các nước yêu sách khác trong việc tìm ra một chiến lược đối phó hữu hiệu với sự quyết đoán ngày một gia tăng của Trung Quốc ở Biển Đông./.

BDN

 

Categories: Biển Đông | Leave a comment

TQ kéo quân đến biên giới Bắc Hàn làm gi?

TQ kéo quân đến biên giới Bắc Hàn làm gì?

Xe tăng, xe bọc thép quân đội Trung Quốc chỉ cách biên giới với Triều Tiên chưa đầy 30 km.

Đông Phương nhật báo Hồng Kông ngày 23/8 đưa tin, trong bối cảnh căng thẳng đang leo thang nhanh chóng trên bán đảo Triều Tiên, quân đội Trung Quốc đã điều động lực lượng áp sát biên giới nước này với Bắc Triều Tiên. Người dân châu tự trị Diên Biên giáp biên với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên đã chứng kiến sự xuất hiện bất thường của lực lượng xe bọc thép, xe tăng quân đội trên đường phố thuộc thành phố Diên Cát, Diên Biên phía Đông tỉnh Cát Lâm.

Xe tăng, xe bọc thép quân đội Trung Quốc chỉ cách biên giới với Triều Tiên chưa đầy 30 km. Việc triển khai lực lượng quân sự áp sát biên giới Triều Tiên phản ánh Bắc Kinh đang lo lắng một cách nghiêm túc về bế tắc hiện nay giữa Bình Nhưỡng và Seoul. Đại biểu 2 miền bán đảo Triều Tiên đã đồng ý tiếp tục đàm phán lúc 3 giờ chiều nay 23/8 giờ địa phương sau khi cuộc đối thoại đầu tiên kéo dài 10 tiếng đồng hồ ngày hôm qua kết thúc.

Cuộc đàm phán thứ nhất bắt đầu khoảng 6 giờ 30 phút chiều qua 22/8, Bình Nhưỡng ra tối hậu thư đòi Seoul phải dừng phát sóng chương trình tâm lý chiến chống Triều Tiên ở biên giới và đe dọa chiến tranh toàn diện nếu Hàn Quốc không thực hiện. Bộ Quốc phòng Hàn Quốc vẫn kiên quyết bảo vệ quan điểm chỉ ngừng phát sóng nếu có một “kết quả chấp nhận được” từ cuộc đàm phán với miền Bắc.

Hoạt động phát thanh tâm lý chiến chống Triều Tiên bắt đầu sau một vụ nổ mìn ở biên giới làm 2 lính Hàn Quốc bị thương, Seoul cho rằng Bình Nhưỡng là thủ phạm. Hôm Thứ Năm vừa qua hai miền đã nổ ra một cuộc đọ pháo qua biên giới. Bế tắc giữa 2 miền Triều Tiên cũng xảy ra đúng lúc cuộc tập trận thường niên Mỹ – Hàn đang diễn ra. Ngày 21/8 người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh nói rằng Trung Quốc đang theo dõi chặt chẽ và quan ngại sâu sắc về diễn biến trên bán đảo gần đây.

“Trung Quốc kiên quyết bảo vệ hòa bình và ổn định trong khu vực, đồng thời phản đối bất kỳ hành động nào có thể làm căng thẳng leo thang. Chúng tôi kêu gọi các bên liên quan giữ bình tĩnh và kiềm chế, xử lý đúng đắn tình hình hiện nay thông qua tiếp xúc và đối thoại, ngừng làm bất cứ điều gì có thể làm gia tăng căng thẳng hoặc làm tình hình trở nên tồi tệ hơn. Trung Quốc sẵn sàng hợp tác với các bên liên quan để cùng nhau duy trì hòa bình, ổn định trên bán đảo Triều Tiên”, bà Oánh nói.

Quan chức cấp cao hai miền bán đảo Triều Tiên đã đàm phán thông đêm 10 tiếng liên tục nhằm tìm cách tháo ngòi căng thẳng. Ảnh: Yonhap.

Thời báo Hoàn Cầu cũng cố gắng làm giảm nhẹ nguy cơ xung đột quân sự với bài xã luận cho rằng, hai miền Triều Tiên đều không sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh toàn diện, không ai muốn khơi mào một uộc chiến tranh. Đáp lại thông điệp này của Bắc Kinh, Thông tấn xã Triều Tiên KCNA ngày 21 nói: “Chúng tôi đã tự kiềm chế trong suốt mấy thập kỷ qua. Bây giờ bất cứ ai nói về tự kiềm chế đều chẳng giúp ích gì cho việc kiểm soát tình hình”.

Bình luận về diễn biến này, Đa Chiều ngày 22/8 có bài: “Nam Bắc Hàn đàm phán thông đêm 10 tiếng liên tục, Bình Nhưỡng cả đêm kêu gọi Bắc Kinh ngậm miệng”. Đa Chiều cho rằng Trung Quốc kêu gọi “các bên” kiềm chế, nhưng Triều Tiên không những không nghe mà còn tỏ thái độ thách thức Bắc Kinh rất đáng để các bên suy ngẫm. Một số nhà phân tích cho rằng, trước đây Trung Quốc coi Triều Tiên là “phên giậu hoãn xung” của mình, nhưng tình hình giờ đã đảo ngược, Bắc Kinh mới thực sự là “phên giậu giảm sóc” của Bình Nhưỡng.

Bản thân lãnh đạo Trung Quốc hiện tại cũng rất lo lắng Bình Nhưỡng có thể quyết định hành động liều lĩnh, cực đoan làm cho cuộc khủng hoảng trên bán đảo Triều Tiên càng trở nên trầm trọng, khó kiểm soát. Trong khi đó nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un tỏ ra “không có lý do gì để nghe Trung Quốc”, ông tiếp tục tích cực xây dựng “thế trận phòng thủ chống ảnh hưởng của Bắc Kinh đối với Bình Nhưỡng”.

Trong cuộc khủng hoảng đang diễn ra trên bán đảo Triều Tiên, nếu như Seoul lập tức thông báo cho Mỹ và các bên liên quan diễn biến tình hình thì người ta không thấy dấu hiệu nào về việc Bình Nhưỡng trao đổi với Bắc Kinh, trong khi đó Triều Tiên đã sớm phái một Thứ trưởng Ngoại giao sang Moscow để trao đổi về vụ pháo kích nên người Nga mới có phản ứng nhanh như vậy. Kết quả là chỉ riêng mỗi Bắc Kinh là bất ngờ và bị gạt ra ngoài lề sự việc.

Không thông báo gì cho Trung Quốc đã đành, ngay cả khi đại sứ quán Triều Tiên tại Bắc Kinh tổ chức họp báo quốc tế về vụ đọ pháo hôm Thứ Năm, giới truyền thông nhà nước của nước sở tại cũng không được mời. Giới quan sát cho rằng động thái này của Bình Nhưỡng nhằm 3 mục đích: Một là thể hiện sự bất mãn với Bắc Kinh vì Trung Quốc đã không còn ủng hộ Triều Tiên.

Hai là muốn cho Bắc Kinh thấy Bình Nhưỡng có khả năng kéo họ xuống bùn bất cứ lúc nào, thứ ba là việc Bình Nhưỡng muốn thể hiện năng lực độc lập tự chủ xử lý vấn đề. Minh chứng cho điều này là 2 miền Triều Tiên đã nhanh chóng tổ chức hội đàm tháo ngòi nổ căng thẳng mà không cần phải thông qua Bắc Kinh. Kim Jong-un nhìn thấy rõ thời cơ lịch sử Tổng thống Mỹ Barack Obama muốn “làm được gì đó” trước khi rời Nhà Trắng, có thể học tập Iran để đạt được một thỏa thuận hạt nhân với Mỹ – Hàn mà chưa chắc Trung Quốc đã được tham gia.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Tam Cương Ngũ Thường giúp người xưa duy trì hạnh phúc gia đình

Tam Cương Ngũ Thường giúp người xưa duy trì hạnh phúc gia đình

Ảnh: Fotolia

Trong văn hóa cổ truyền Trung Quốc, để duy trì trật tự xã hội, người ta cần tuân thủ Tam Cương (vua – tôi, cha – con, phu – thê) và Ngũ Thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín). Cụ thể hơn, gia đình là tế bào của bất kỳ xã hội nào. Như vậy, sự hòa thuận giữa vợ và chồng là nhân tố trọng yếu để duy trì sự ổn định của xã hội.

Tục ngữ Trung Quốc có câu, “Cô âm bất sinh, độc dương bất trưởng”. Nói cách khác, âm và dương là tương phụ tương thành và là hai phần của một hệ thống động. Hôn nhân giữa nam và nữ là đánh dấu mối quan hệ thần thánh giữa hai phần bổ sung đối lập để tạo ra những thế hệ mới cho phép nhân loại sinh tồn và phồn vinh.

Theo những tiêu chuẩn đạo đức truyền thống văn hóa Trung Hoa, một cuộc hôn nhân hợp pháp cần có sự thu xếp của mai mối, sự đồng thuận của cha mẹ, và sự ban phước của Thiên thượng. Những nghi thức bắt buộc cần phải có cho một lễ cưới là tân nương và tân lang cần phải khấu đầu (quỳ gối và cúi lạy thật thấp sao cho đầu chạm xuống nền để thể hiện sự tôn kính tuyệt đối: nhất bái Thiên Địa, nhị bái cao đường, phu thê giao bái. Khi một người đàn ông và một người phụ nữ cưới hỏi theo cách này, gia đình mới của họ mới có một cơ sở vững chắc để phát triển như một tế bào của xã hội.

Đạo lý “Thiên nhân hợp nhất” nhấn mạnh rằng người chồng trong một gia đình là dương và người vợ là âm. Nam nhân phải chịu trách nhiệm về những công việc bên ngoài và nữ nhân phải chủ trì những công việc bên trong. Nam nhân phải làm việc chăm chỉ để trợ giúp gia đình của mình, và nữ nhân cố gắng là người vợ hiểu chồng và thương con. Khi người vợ tạo được một sự nghiêm chính, thì cho dù người chồng ở gần hay xa, anh ta luôn mong mỏi trở về nhà. Cả hai người đều hiểu rằng mối duyên tiền định đã mang họ lại với nhau, cho nên họ phải có sự tôn trọng lẫn nhau một cách sâu sắc. Nam nhân thì dương cương, lanh lợi và bao quát, trong khi nữ nhân thì âm nhu, dịu dàng và biết nghe lời. Bất chấp những khác biệt, họ biết làm thế nào để khoan dung và quan tâm tới người kia. Xây dựng trên sự tôn trọng lẫn nhau, hôn nhân của họ là rất bền vững, gia đình ấm cúng hạnh phúc, và cuộc sống của họ hài hòa mỹ mãn.

Quảng cáo

Tuân thủ Tam Cương và Ngũ Thường là những tiêu chuẩn đạo đức mà người xưa truyền lại để giúp người Trung Quốc duy trì trật tự gia đình và xã hội. Trong suốt 5.000 năm lịch sử Trung Quốc, những ai tuân theo những tiêu chuẩn này có thể có một gia đình hưng vượng, phú quý, phúc đức. Những ai vi phạm những tiêu chuẩn này chỉ thấy tan gia bại sản, gia đình khốn đốn. Rốt cuộc, thiện và ác đi đôi với nhau. Tục ngữ có câu “Gia đình tích thiện, tất có việc mừng; gia đình tích ác, tất có tai ương”.

Văn hóa truyền thống Trung Quốc xem sự tồn tại và tiến trình của nhân loại là được định đoạt bởi những quy luật tự nhiên và mọi thứ là được Thiên thượng an bài. Một người nam nhân và một người nữ nhân sẽ không bao giờ kết hôn nếu họ không có duyên phận trở thành vợ chồng. Cách tìm ra người bạn đời như thế nào không quan trọng, nó thông qua những nỗ lực cá nhân của họ, sự giới thiệu bởi những người khác hay được sắp đặt bởi phụ mẫu, nhưng anh ấy hoặc cô ấy sẽ chắc chắn lập gia đình với chính cùng một người nếu họ có duyên phận trở thành vợ chồng. Hôn nhân sẽ trở thành như thế nào đều tùy thuộc vào mối tiền duyên giữa người chồng và người vợ. Liệu nó thành công hay thất bại, thì chính là do đức và nghiệp của cặp đôi đã tích tụ trong những đời trước của họ biểu hiện.

Nam nhân nên có trách nhiệm với nữ nhân, người đã đặt sự tin tưởng toàn bộ cuộc đời vào anh ta. Nữ nhân, trái lại, nên quan tâm tới người chồng của mình. “Vạn ác dâm vi thủ”, dâm loạn tạo ác nghiệp rất lớn. Ngay khi ai đó dâm loạn, số phận tốt đẹp của anh ta hoặc chị ta sẽ bị khấu trừ, và anh ta hoặc chị ta có lẽ chỉ còn nghiệp để lại cho con cháu.

Nếu bạn thấy bài viết hay, hãy chia sẻ nó với bạn bè
Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Thống khổ nguyên từ ích kỷ, trí tuệ đến từ thiện tâm

Thống khổ nguyên từ ích kỷ, trí tuệ đến từ thiện tâm

(Ảnh:epochtimes.com)

“Trong đời người, mỗi một phần thoải mái và tự tại, sau lưng đều có người khác trả giá, ngàn vạn lần đừng cho rằng mọi điều mình có đều là đương nhiên, lúc chúng ta hưởng thụ cuộc sống, nhất định phải biết cảm ơn.”

Những lời này có thể nói là những lời khuyên khó quên nhất mà tôi đã nhận được từ một người bạn nhiều năm trước, nó khiến tôi ngày càng trở nên thân thiện, tỉnh táo và trí tuệ, giải quyết được rất nhiều mâu thuẫn trong gia đình và xã hội, cách dạy con cũng càng trở nên như ý.

Từ đó về sau tôi thoát khỏi sự ích kỷ, thoát khỏi vô tận phiền não do suy nghĩ lấy mình làm trung tâm gây ra, khi tôi học cách đứng trên góc độ của người khác mà suy nghĩ vấn đề, làm việc cân nhắc đến cảm thụ của người khác, cảm ơn điều người khác đã trả giá vì tôi, tôi đã rất nhanh tìm được phương pháp xử lý thích đáng mỗi khi mâu thuẫn nảy sinh. Khi một người trở nên lương thiện, sẽ tự nhiên mà đạt được trí huệ. Nếu mọi chuyện đều xoay quanh chính mình, dùng mình làm điểm xuất phát để cân nhắc vấn đề, sẽ khắp nơi gây chuyện, liên tiếp tạo ra mâu thuẫn, khiến bản thân hãm sâu trong đó mà không nhìn tới ánh sáng và hy vọng, bởi vì ích kỷ sẽ sinh ra oán hận, oán hận là khởi đầu cho sự ngu muội, phiền não và thống khổ cũng sẽ theo cùng chừng nào người đó còn sống.

Xã hội ngày nay cường điệu cá nhân, mọi người đều không ý thức được loại quan niệm ích kỷ này sẽ mang đến hậu quả gì, còn tôi thì đã từng trải nghiệm hậu quả quá lớn từ nó, thế nên vợ chồng đã từng lâm vào một lần nguy cơ. Bất quá những chuyện này đã vô cùng xa xôi, tôi sẽ bắt đầu từ một câu chuyện cãi nhau của mấy đứa nhỏ trong gia đình tôi từ một năm trước.

Quảng cáo

Con gái lớn của tôi đã là một học sinh trung học, học tập rất xuất sắc, thi cử thường thường đều đứng nhất, nhưng vô cùng kiêu ngạo, bị ảnh hưởng từ xã hội cường điệu cá nhân, suy nghĩ cũng trở nên vô cùng ích kỷ, không hiểu được phải quan tâm đến cảm nhận của người khác, thái độ nói chuyện gần đây là một bộ dạng chướng mắt cao ngạo, về đến nhà là cười nhạo hai em, hoặc dùng giọng điệu chán ghét để dạy dỗ bọn chúng, giống như tất cả mọi người vốn phải nhường nó, coi nó là trung tâm vậy. Gần đây lại đàn ghi ta tốt hơn, nên mỗi ngày đi học về, lại càng lớn tiếng luyện hát tập đàn, không coi ai ra gì, căn bản mặc kệ em trai em gái đang xem TV, còn chê cười xem TV rất nhàm chán, cuối cùng không kiên nhẫn trách mắng âm thanh TV quá lớn, ảnh hưởng nó luyện tập, còn vô cùng tức giận nữa. Thật ra trên lầu vốn có phòng của nó, vậy mà hết lần này đến lần khác cứ muốn tập ở phòng khách.

Tôi vô cùng hiểu rõ nếu nó cứ tiếp tục không nhận ra vấn đề của mình như vậy, nếu đối với bất cứ chuyện gì đều không vừa lòng, cũng không hiểu được những gì mình đang có đều là cha mẹ và hai em nhẫn chịu và hy sinh, cứ nghĩ rằng những chuyện đó đều là đương nhiên, không có chút bận tâm cảm ơn; nếu cứ tiếp tục như vậy, cho dù nó có tốt nghiệp đại học danh tiếng, cũng sẽ không biết cảm thông với người khác, sẽ gặp phải trắc trở khắp mọi nơi, hôn nhân của nó rồi cũng sẽ không cách nào tưởng tượng được. Nhìn bộ dáng của nó, thật giống bóng dáng của tôi ngày xưa, căn bản không hiểu được rằng nếu không biết được tầm quan trọng của thiện tâm, thì dù đầu óc có thông minh và nhiều tri thức, cũng sẽ không có được cuộc sống thành công và hạnh phúc.

Vì vậy, sau khi đợi nó nguôi giận, tôi từ tốn nói cho nó biết: Con người là bình đẳng, từng sinh mệnh đều đáng ngưỡng mộ, có lẽ con cho rằng việc của con là quan trọng, nhưng với em trai em gái con mà nói, xem TV là việc rất trọng yếu, nếu đứng ở góc độ của em con, thì chính con đang quấy rầy bọn nó xem TV, âm thanh đều không nghe được nữa, nhưng bọn chúng không ai trách cứ con, thật ra đều là đang nhường còn đó! Mẹ cũng đọc sách ở đây, cũng đều không nói gì con, con hãy nghĩ lại xem, không phải mọi người đang nhường nhịn con đó sao? Nếu con cảm thấy cần chỗ an tĩnh hơn, con có thể về phòng của mình! Vì sao cứ luôn nghĩ rằng người khác phải hy sinh cho con? Con có thể lớn tiếng luyện đàn tập hát ở đây, chính là vì hai em con có lòng nhường nhịn, con chẳng những không nên la rầy chúng nó, mà còn phải cảm ơn chúng nó! Sở thích của người khác con cảm thấy nhàm chán, nhưng nếu người khác cũng nhàm chán, cũng không hứng thú với sở thích của con, cười nhạo con, con sẽ dễ chịu sao? Làm người sao có thể không để ý đến cảm nhận của người khác? Con phải học được cách suy nghĩ vấn đề dựa trên góc độ của người khác. Không nên luôn oán hận và bất mãn. Nghe xong, nó lộ mặt xấu hổ.

Có một lần, bởi vì em trai hứa đáp ứng một việc, nên nó đã bắt em trai 11 tuổi đạp xe đạp đi mua mấy thứ đồ dùng, ý là muốn em trai phải giữ chữ tín, lúc ấy tôi thấy nó đang quá nghiêm khắc với mọi người, tôi nhắc nhở nó cần phải cân nhắc đến khả năng và an toàn của em, nó trả lời chuyện đã hứa thì phải làm, tôi biết rõ chỉ nói suông là không có tác dụng, cũng muốn dạy con trai đạo lý không thể dễ dàng hứa hẹn, cũng thông cảm con gái lớn mong được mẹ đối xử công bình, cũng không muốn nó hiểu lầm tôi thiên vị em trai, vì vậy, tôi giữ thái độ quan sát đối với chuyện này. Kết quả, quả nhiên em trai vì quá khẩn trương mua mấy thứ đó mà khóc lóc về nhà, tôi an ủi nó, nhắc chuyện này về sau để mẹ làm, con còn quá nhỏ, khả năng chưa đủ, nhưng lần này mẹ không làm thay con, là vì để con nhớ kỹ giáo huấn, về sau trước khi đáp ứng người khác thì phải xem xét năng lực của mình, nếu không một khi đã nhận lời mà không làm được, sẽ hai đầu khó xử, không làm thì thất tín, làm không tốt thì sai.

Không lâu sau, con gái ghét cây đàn ghi-ta hiện tại vì luyện không như ý, muốn cái mới, nhưng cây đàn này lúc trước nó hứa với ba sẽ luyện nửa năm trở lên, ba mới đáp ứng lấy đàn từ nhà cô bên Trung Quốc về Nhật Bản, nếu không giữ lời hứa, sẽ không tốt, nên rất đau khổ, nó hỏi có thể dùng tiền tiết kiệm của nó để mua được hay không. Tôi nói, chuyện này rất đơn giản, mẹ thông cảm lý do con muốn cây đàn mới, cũng sẽ không phản đối con mua cây đàn phù hợp với mình, nhưng vấn đề không phải dùng đồng tiền nào để mua, mà là ở chỗ con không thực hiện lời hứa của mình, cảm thấy đau khổ, vậy con xem lần này như một lần giáo huấn, về sau cẩn thận đối đãi, bây giờ, biện pháp tốt nhất là xin lỗi ba con, thừa nhận mình sai, để ba tha thứ cho con, hãy cảm ơn ba đã vất vả mang về nhà cho con, nhất định phải nhớ cảm ơn ba, sau đó xin ba tha lỗi vì con đã không giữ lời hứa. Mẹ nghĩ ba sẽ tha thứ cho con. Việc con gây ra nhất định phải tự giải quyết mới được.

Vì vậy tôi hỏi nó, lúc này con đã hiểu vì sao mẹ khuyên con không nên quá nghiêm khắc với em trai con rồi chứ? Dù là ai cũng có lúc cần được tha thứ, làm người, không thể quá nghiêm khắc với người khác. Lúc này, nó mới hiểu lời tôi.

Từ đó về sau, thái độ của nó thay đổi. Còn tôi, sỡ dĩ tôi biết dạy con như vậy, chính là vì quan niệm của tôi đã thay đổi, không nhìn vấn đề ở góc độ của mình, mà đứng từ góc độ của bọn nhóc, những kinh nghiệm như vậy rất nhiều; ngày xưa, mối quan hệ của vợ chồng tôi không tốt, cũng là vì tôi không biết cảm ơn chồng đã kiếm tiền nuôi gia đình, nghĩ rằng chuyện đó là đương nhiên, sau khi quan niệm thay đổi, từ nội tâm tôi không còn cho rằng mọi điều tôi có đều là đáng phải có nữa, cũng thường chân thành cảm ơn và thỏa lòng, tình cảm vợ chồng từ đó lại tốt hơn, tự nhiên, vợ chồng, con cái, hàng xóm thậm chí công việc đều càng thuận buồm xuôi gió, thiện tâm thật sự sẽ mang đến cho người trí tuệ và hạnh phúc vậy.

Tôi thấu hiểu rằng, người xưa Trung Quốc giảng Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín, vì sao phải đặt Nhân Nghĩa ở hàng đầu, vì nếu người không có thiện tâm, không có nghĩa khí, sẽ không có trí tuệ sâu dày. Còn nếu chỉ coi trọng chữ Tín, mà không có Nhân Nghĩa, thậm chí có khi sẽ hết lòng tuân thủ lý niệm sai lầm mà làm ra sự tình hại người, trợ Trụ vi Ngược. Cho nên, làm người đầu tiên cần phải có Nhân Nghĩa làm cơ sở vậy!

Nếu bạn thấy bài viết hay, hãy chia sẻ nó với bạn bè
Categories: Nhan dinh | Leave a comment

16 bức ảnh những chiếc xe chở cồng kềnh và quá tải trọng nhất mà bạn đã từng thấy!

16 bức ảnh những chiếc xe chở cồng kềnh và quá tải trọng nhất mà bạn đã từng thấy!

Các phương tiện đi lại thường có giới hạn số lượng hàng hóa an toàn mà nó được phép chở tuy nhiên điều này không mảy may khiến những người điều khiển nó nao núng khi vô tư chất lên xe của họ tải trọng quá mức cho phép hoặc điều khiển xe với nhưng lô hàng hóa cồng kềnh, nguy hiểm. Dù là xe tải, xe máy, xe đạp hay xe động cơ ba bánh người chụp cũng đều ghi lại được những khoảnh khắc đáng ngạc nhiên và khó tin khi những chiếc xe nhỏ bé đó mang trên nó đủ loại hàng nặng trĩu, cồng kềnh.

Mặc dù đối với nhiều người thì lý do họ phải chở nặng như vậy là vì họ không còn lựa chọn nào khác, tuy nhiên chở hàng hóa quá tải trọng xe của bạn không phải là ý tưởng hay chút nào. Ngoài lý do là nó có thể làm hỏng kết cấu của chiếc xe thì phanh (thắng), lốp và động cơ xe có thể hỏng bất cứ lúc nào.

Qua loạt ảnh này bạn hẳn sẽ không thể tin được có bao nhiêu đồ vật hoặc số người mà một chiếc xe đơn giản như thế lại có thể chở được. Bạn hãy chia sẻ bất cứ bức ảnh nào mà bạn có về những chiếc xe chở quá tải và cồng kềnh mà bạn đã từng thấy nhé!

# 1 Ở một nơi nào đó trên sa mạc Sahara…

Somewhere In Sahara

#2 Thượng Hải

Shanghai

Quảng cáo

#3 Châu Phi

Africa

#5 Xe chở vịt, Vũng Tàu, Việt Nam

Goose Trip To Vung Tau, Vietnam

#7 Rất “thận trọng” khi chở trứng (Việt Nam)

Carefully Driving With Eggs

#8 Hàng Châu, Trung Quốc

Hangzhou

#9 Chư Kỵ, Trung Quốc

Zhuji

#10 Trung Quốc

China

#12 Trung Quốc

China

#13 Chiếc xe máy vượt quá tải trọng

Motorbike With A Heavy Load

#14 Xe máy chở chai, lọ

Motorcycle With Plastic Bottles

#15 Đức

Germany

#16 Miễn bình luận!

No Comment

Bài viết được đăng dưới sự cho phép của trang http://www.boredpanda.com

Nếu bạn thấy bài viết hay, hãy chia sẻ nó với bạn bè
Categories: Tổng Quát | Leave a comment

Blog at WordPress.com.