Daily Archives: August 28, 2015

So sánh tuyển sinh đại học của Mỹ và Việt Nam

So sánh tuyển sinh đại học của Mỹ và Việt Nam

Nguyễn Đông ghi

Trần Thắng tốt nghiệp kỹ sư Cơ khí tại University of Connecticut và làm việc tại Công ty Động cơ máy bay Pratt & Whitney từ năm 2000. Anh là Chủ tịch Viện Văn hóa & Giáo dục Việt Nam (IVCE) tại New York và xúc tiến các dự án Giáo dục tại Việt Nam. Với việc sưu tầm 150 bản đồ và 3 sách atlas cổ về Hoàng Sa và Trung Quốc vào năm 2012 để chứng minh chủ quyền biển đảo của Việt Nam, anh vừa được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tặng bằng khen.

Gần đây, anh Trần Thắng có làm một so sánh việc tuyển sinh giữa hai nước Việt Nam và Mỹ dựa trên 3 góc độ: số lượng trường đại học; sự trưởng thành của học sinh trong lựa chọn ngành nghề và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin.

T.Đ.

Chia sẻ với VnExpress, anh Trần Thắng cho biết việc nộp đơn vào nhiều trường đại học và mỗi trường có 2 đến 4 nguyện vọng, tạm gọi là “tuyển sinh mở rộng”, là việc làm đã có từ lâu tại các đại học ở Mỹ. Việt Nam cho phép học sinh nộp đơn vào nhiều trường được gần 10 năm nay, và mỗi trường có 4 nguyện vọng được áp dụng vào năm nay. Mỹ có nhiều mặt thuận tiện cho việc tuyển sinh mở rộng nên khi họ bắt đầu thì mọi việc diễn ra bình thường. Việt Nam bị rối vì chưa hội đủ các yếu tố cho cách tuyển sinh mở rộng.

Theo anh Thắng, có 3 yếu tố chính ảnh hưởng đến việc tuyển sinh mở rộng.

Trước tiên, phải kể đến số lượng đại học và học sinh tốt nghiệp THPT. Mỹ có 3.000 trường đại học với mọi trình độ và 1.700 trường cao đẳng cộng đồng, có thể nhận trên 4 triệu sinh viên đại học hàng năm. Số học sinh tốt nghiệp hàng năm khoảng 3,3 triệu (chiếm 1% dân số). Mỹ thừa trường đại học để nhận toàn bộ sinh viên và họ mở rộng đón nhận sinh viên quốc tế mỗi năm gần 100 nghìn.

Anh Trần Thắng, Chủ tịch Viện văn hóa và giáo dục Việt Nam tại Mỹ. Ảnh: Nguyễn Đông.

Anh Trần Thắng, Chủ tịch Viện văn hóa và giáo dục Việt Nam tại Mỹ. Ảnh: Nguyễn Đông.

Việt Nam có 400 trường đại học và nhận khoảng 400.000 sinh viên hàng năm. Số học sinh tốt nghiệp hàng năm khoảng một triệu (chiếm 1,1% dân số). Như vậy hàng năm Việt Nam có khoảng 600.000 học sinh không tiếp tục học đại học sau khi tốt nghiệp THPT.

Vì mức cạnh tranh cao khi vào các đại học Việt Nam nên học sinh làm mọi cách để đảm bảo có ít nhất một trường nhận cho một nguyện vọng. Số lượng trường đại học Việt Nam thiếu nên số lượng thí sinh ảo đăng ký vào một trường sẽ tăng lên.

Thứ hai là ứng dụng công nghệ thông tin vào tuyển sinh. Trường đại học Mỹ nhận đơn trực tuyến nên xử lý thông tin rất nhanh và rủi ro thất lạc hồ sơ thấp. Sinh viên làm đơn nhập học trực tuyến, gửi điểm học và kết quả các kỳ thi yêu cầu cũng qua trực tuyến, phương cách này giúp sinh viên ít tốn thời gian.

Trường đại học Việt Nam chưa có hệ thống xử lý cơ sở dữ liệu như kiểu ERP (Enterprise Resource Planning), trường xử lý giấy tờ bằng thủ công văn phòng nên không thể giải quyết một số lượng lớn hồ sơ trong thời gian ngắn. Vì hệ thống làm việc theo thủ công văn phòng nên kéo theo mọi việc liên quan cũng theo thủ công dẫn đến sự ùn tắc.

Thứ ba là tính trưởng thành của học sinh trong việc chọn ngành học, tổ chức thông thoáng của đại học. Sinh viên Mỹ hay Việt Nam khi chọn ngành học là chọn những ngành dễ kiếm việc làm, nhưng nhìn vào khía cạnh tính trưởng thành thì sinh viên Mỹ đạt ở mức cao. Khoảng 70% học sinh Mỹ xác định được ngành học khi vào đại học, 30% sinh viên chọn ngành sau 2 năm học đại cương. Trong 70% sinh viên đã chọn ngành thì chỉ có một số ít đổi ngành học sau 2 năm học đại cương.

Học sinh Mỹ khi nộp đơn vào đại học được thầy cô tư vấn chọn ngành học phù hợp với thế mạnh và sự đam mê của học sinh.

Ða phần sinh viên Mỹ chọn một nguyện vọng cho một ngành học vì tính thông thoáng của đại học tại đây. Ví dụ trong trường Kinh doanh (School of Business) có các ngành Tài chính, Ngân hàng, Quản trị kinh doanh… Sinh viên đăng ký học ngành Tài chính (Major) và học thêm một học kỳ để có thêm văn bằng thứ 2 là Ngân hàng (Minor). Việc đăng ký thêm một ngành Minor hoặc chuyển đổi ngành không phải thi cử, sinh viên chỉ điền vào cái đơn hoặc thông báo cho văn phòng.

Sinh viên Việt Nam dù học trường nghề nhưng khi tốt nghiệp những nơi nhận vào làm vẫn phải đào tạo thêm một thời gian mới có thể sử dụng lao động. Ảnh minh họa: Nguyễn Đông.

Sinh viên Việt Nam dù học trường nghề nhưng khi tốt nghiệp những nơi nhận vào làm vẫn phải đào tạo thêm một thời gian mới có thể sử dụng lao động. Ảnh minh họa: Nguyễn Đông.

Anh Thắng chia sẻ: “Tôi có được 10 năm làm hội thảo du học Mỹ tại 8 trường đại học hàng đầu của Việt Nam, nhìn chung sinh viên Việt Nam chưa có khái niệm về ngành làm việc, có một khoảng trống giữa việc học và việc làm tương lai. Sinh viên Việt Nam chọn ngành học theo xu hướng là ngành làm việc được nhắc đến nhiều trong xã hội như kinh doanh, ngân hàng, truyền thông…

Các trường THPT Việt Nam không có sự tư vấn cho học sinh chọn ngành học, trong khi chỉ có một số gia đình đủ kiến thức và sự hiểu biết để tư vấn cho học sinh. Hệ thống đại học Việt Nam chưa có sự thông thoáng chuyển đổi ngành học. Tại sao chúng ta không tạo cơ hội sinh viên đổi ngành học sau 2 năm học đại cương như mô hình của đại học Mỹ. Ðây là thời điểm cần thiết cho sinh viên có nguyện vọng đổi ngành học.

Theo tôi, việc cho phép sinh viên có 4 nguyện vọng vào một trường đại học và kết hợp 2 kỳ thi tốt nghiệp THPT và đại học như năm nay phản ánh chính sách giáo dục Việt Nam còn bấp bênh. Việc thi tốt nghiệp THPT không cần thiết, nên bỏ kỳ thi này và thay bằng việc dạy tốt và học tốt ở các cấp từ lớp 1 đến 12. Học sinh không vượt qua điểm trung bình của môn học nào thì một cách đơn giản là học lại môn đó.

Nền tảng tuyển sinh vào trường đại học như kiểu Mỹ là người ta chọn “con người” và Việt Nam là chọn “điểm thi”, từ nền tảng này kéo theo cách tuyển sinh khác nhau từ 2 hệ thống giáo dục. Giáo dục Mỹ mang tính thực dụng trong khi giáo dục Việt Nam mang tính thi cử.

Khi chọn “con người” là trường xem năng lực học của học sinh, kết quả thi chỉ số thông minh, thầy cô giáo đánh giá học sinh, học sinh trình bày ý tưởng về ngành học qua bài luận văn, sinh hoạt xã hội. Vì thế hồ sơ vào đại học Mỹ phản ánh rõ nét về “con người” của học sinh.

Như việc môn thi SAT hay GRE/GMAT bắt buộc vào đại học hay sau đại học Mỹ, người ta kiểm tra chỉ số thông minh (IQ) và khả năng phân tích của sinh viên. Việt Nam thi là kiểm tra kiến thức là chính.

Vấn đề đặt ra là tại sao giáo dục Việt Nam phải kiểm tra kiến thức trong khi thời buổi này kiến thức hiện diện ở mọi nơi khi ta cần biết đến. Áp dụng kiến thức vào đời sống hay công việc làm như thế nào mới quan trọng, một người biết nhiều kiến thức mà không biết cách áp dụng thì xem như không.

Nếu như giáo dục Việt Nam chọn tính “thực dụng” thì phương cách tổ chức giáo dục sẽ hoàn toàn khác và kết quả của giáo dục sẽ tốt đẹp hơn nhiều.

N.Đ.

Categories: Tổng Quát | Leave a comment

Thiên mệnh, lương duyên và triều đại trường tồn nhất trong lịch sử Trung Quốc

Thiên mệnh, lương duyên và triều đại trường tồn nhất trong lịch sử Trung Quốc

“Kinh thi” là một tuyển tập thơ ca bắt nguồn từ văn hóa dân gian Trung Quốc, được sáng tác vào thời nhà Chu (1046 – 771 TCN). Tập thơ gồm 300 tác phẩm do Đức Khổng Tử đích thân biên soạn, là ca dao ở chốn thôn quê, nhạc chương ở nơi triều miếu họp lại mà thành. “Kinh thi” chia làm ba phần: Phong, Nhã, Tụng. Với nội dung và đề tài phong phú, “Kinh thi” đã phác họa nên một bức tranh toàn cảnh về cuộc sống xã hội lúc bấy giờ, nam phụ lão ấu, thường dân vương giả, tất cả đều nằm trong đó.

Đương thời, Khổng Tử vốn mang tâm ngưỡng mộ nhà Chu, cách cai trị của ông cũng là lấy nhà Tây Chu làm tham chiếu. Từ hàng nghìn bài thơ dân gian sưu tầm từ đời Chu, ông chọn ra 300 bài tiêu biểu hợp thành “Kinh thi”, bộ sách có thể dạy người “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Mặc dù không có nhiều tiếng vang như thơ Đường Tống sau này nhưng “Kinh thi” mang giá trị cốt lõi trong việc khắc họa tư tưởng cũng như hoàn cảnh xã hội trong thời kỳ mà triết gia lỗi lạc, người thầy mẫu mực Khổng Phu Tử sinh sống.

A Qing Dynasty-era depiction of Queen Tai Si (Public Domain)

Bức họa hoàng hậu Thái Tự được vẽ vào thời nhà Thanh (Nguồn công cộng)

Bài thơ mở đầu cho cuốn Kinh thi có tựa là “Quan thư”. Bài thơ miêu tả cuộc hội ngộ tương phùng giữa Chu Văn Vương và hoàng hậu Thái Tự khi bà còn là một thôn nữ. Nhiều học giả cho rằng mối duyên trời định này là nền tảng cho 800 năm trị vì bền vững của triều đại nhà Chu, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử Trung Quốc.

Quan thư                                              Dịch nghĩa: Chim thư kêu

Quảng cáo

Quan quan thư cưu,                              Chim thư cưu kêu quan quan,
Tại hà chi châu.                                     Trên cồn sông Hoàng Hà.
Yểu điệu thục nữ,                                  Người con gái dịu hiền,
Quân tử hảo cầu.                                   Đẹp đôi cùng quân tử.

Sâm si hạnh thái,                                  Rau hạnh cọng ngắn dài,
Tả hữu lưu chi.                                      Vớt theo dòng tả hữu.
Yểu điệu thục nữ,                                  Người con gái dịu hiền,
Ngụ mị cầu chi.                                     Thức ngủ ta mong nghĩ.

Cầu chi bất đắc,                                     Mong nghĩ không được gặp,
Ngụ mị tư phục.                                     Ngày đêm ta nhớ trông.
Du tai! du tai!                                        Dằng dặc, dằng dặc!
Triển chuyển phản trắc.                       Trăn trở ngủ không yên.

Sâm si hạnh thái,                                   Rau hạnh cọng ngắn dài,
Tả hữu thái chi.                                      Hái theo dòng tả hữu.
Yểu điệu thục nữ,                                   Người con gái dịu hiền,
Cầm sắt hữu chi.                                    Ta muốn cùng nàng kết duyên cầm sắt.

Sâm si hạnh thái,                                   Rau hạnh cọng ngắn dài,
Tả hữu mạo chi.                                      Vớt theo dòng tả hữu.
Yểu điệu thục nữ.                                   Người con gái dịu hiền,
Chung cổ lạc chi.                                    Ta đánh tiếng trống chuông làm vui lòng nàng.

Cuộc hội ngộ của Chu Văn Vương và hoàng hậu Thái Tự

Sau khi Hán Vũ Đế lên ngôi đã cho khôi phục lại “Kinh thi” từng bị tiêu hủy dưới thời nhà Tần. Trong cuốn “Mao thi”, một trong những bản phục nguyên của “Kinh thi”, có chỗ nói rằng “Quan thư”, bài thơ nói về mối duyên hạnh ngộ giữa Chu Văn Vương và hoàng hậu Thái Tự đã đặt định cơ sở cho khái niệm “mẫu nghi thiên hạ” trong xã hội phong kiến Trung Quốc.

Bên cạnh yếu tố lãng mạn và giàu cảm xúc, “Quan thư” còn hàm chứa những ẩn dụ khác.

Chu Văn Vương là vị vua đặt nền móng cho sự ra đời của nhà Chu. Sau khi ông băng hà, con trai ông là Chu Vũ Vương đã đánh bại quân Thương và lập nên nhà Chu vào thế kỷ XI TCN.

A Ming Dynasty-era depiction of King Wen of Zhou (Public Domain)

Bức họa chân dung Chu Văn Vương được vẽ vào triều Minh (Nguồn công cộng)

Bên cạnh yếu tố lãng mạn và giàu cảm xúc, “Quan thư” còn hàm chứa nhiều hình ảnh ẩn dụ. “Hạnh thái” (rau hạnh) không chỉ tượng trưng cho đức hạnh trong văn hóa truyền thống mà còn xuất hiện trong các nghi thức tôn giáo thời Trung Quốc cổ đại. “Yểu điệu thục nữ” là hình ảnh người con gái đẹp cả nội tâm lẫn ngoại hình, tính nết hiền thục đoan trang, dung mạo dịu dàng thanh tú.

Tiếng chuông trống xuất hiện cuối bài thơ thể hiện tinh thần “thiên nhân hợp nhất”, con người và vạn vật tự nhiên tương thông hòa hợp. Vào thời đó, chuông trống chỉ dùng cho bậc vương giả tôn quý. Ngoài ra, hình ảnh “thư cưu” trong bài có dụng ý nói về tấm lòng thủy chung trước sau như một, vì loài chim này chỉ kết đôi duy nhất với một con, một khi đã thành đôi thì không thay đổi nữa.

Chữ Lễ và đạo phu thê

Xã hội Trung Quốc cổ đại quan niệm rằng gia đình là cái gốc của quốc gia, “tề gia” rồi mới nói đến chuyện “trị quốc”. Vì thế, xưa nay vẫn luôn coi trọng đạo phu thê. Theo truyền thuyết, hoàng đế Phục Hy là người tạo lập văn minh cho nhân loại, bao gồm cả các phép tắc, quy củ của hôn nhân vợ chồng.

Khổng Tử dạy rằng: Đạo của người quân tử bắt nguồn từ đạo vợ chồng, làm tròn cái đạo ấy thì có thể biết được việc trong trời đất.

Trong sách “Trung dung”, Khổng Tử dạy rằng: “Quân tử chi đạo, tạo đoan hồ phu phụ; cập kỳ chí dã, sát hồ thiên địa”. Có nghĩa là: Đạo của người quân tử bắt nguồn từ đạo vợ chồng, làm tròn cái đạo ấy thì có thể biết được việc trong trời đất. Điều này cũng được thể hiện rất rõ trong “Kinh lễ”, lễ ấy là dùng để duy trì tôn ti trật tự xã hội, tu dưỡng phẩm đức con người.
Mural art from the Northern Wei Dynasty (386-534) depicting Tai Si and two other Zhou queens. (Public Domain)

Bức tranh tường vẽ hoàng hậu Thái Tự cùng hai vị hoàng hậu khác, được vẽ vào thời Bắc Ngụy (Nguồn công cộng)

Khi được hỏi về cuốn “Kinh thi”, Khổng Tử chỉ nói ngắn gọn: “Thi tam bách, nhất ngôn dĩ tế chi, viết: Tư vô tà”. Cả ba trăm thiên kinh thi, chỉ một câu là có thể bao quát, đó là: không nghĩ điều tà. Lễ nghĩa giúp con người biết tiết chế bản thân, không tùy tiện dung túng theo dục vọng, nhờ đó mà trong nhà có nề nếp gia phong, ngoài xã hội có tôn ti trật tự.

Thiên mệnh của nhà Chu

Vào thời Đông Chu (770 – 221 TCN), hoàng đế không còn được các chư hầu kính phục như trước. Vì thế, Khổng Tử vẫn không ngừng nuôi tham vọng tái lập Thiên mệnh, thống nhất Thiên hạ.

Người Chu nhìn nhận rằng hoàng đế trị quốc là mang Thiên mệnh.

 Người Chu nhìn nhận rằng hoàng đế trị quốc là đang phụng mệnh trời, Thiên mệnh của hoàng đế chính là thực thi ý chỉ của thiên thượng. Nhà Chu cũng cho rằng họ là những đứa con của Thượng đế và các vị hoàng đế được gọi là Thiên tử.

Từ đó trở đi, các bậc hoàng đế đều tự xưng là Thiên tử. Với danh phận thần thánh đó, các vị hoàng đế nhà Chu luôn mang tâm kính ngưỡng đối với thiên thượng, dùng đạo lý mà tu dưỡng bản thân, lấy đức hạnh mà trị vì thiên hạ. Tuyệt đối không thể giống như Trụ vương nhà Thương, Kiệt vương nhà Hạ mà độc ác hoang dâm, bỏ bê triều chính, ngược đãi dân lành. Với tấm lòng khoan dung khiêm nhường, phụng theo Thiên mệnh mà trị vì quốc gia, các vị hoàng đế Tây Chu đã thực hiện lý tưởng sống của mình như vậy.

Bài thơ thứ 235 trong “Kinh thi” có tựa là “Văn Vương”, thể hiện sự kính ngưỡng và tín phụng tuyệt đối của hoàng đế Chu Văn Vương đối với Thượng đế.

Mục mục Văn Vương,
Ô tập hy kính chỉ.
Giả tai Thiên Mệnh,
Hữu thương tôn tử.
Thương chi tôn tử,
Kỳ lệ bất ức.
Thượng Đế ký mệnh,
Hầu ư Chu phục.

Mối lương duyên thiên định

Bài thơ thứ 236 trong tập “Kinh thi” có đề cập đến mối lương duyên giữa Chu Văn Vương và hoàng hậu Thái Tự. Mối nhân duyên này được mô tả là “thiên tác chi hợp”, tức là được tác hợp bởi trời.

Thiên giam tại hạ,
Hữu mệnh ký tập.
Văn Vương sơ tái,
Thiên tác chi hợp.

Đoạn thơ sau kể về việc hoàng đế Văn Vương cho đóng thuyền vượt sông Vị để cử hành hôn ước.

Văn định quyết tường,
Thân ngênh vu Vị.
Tạo chu vi lương,
Bất cố kì quang.

Còn nhớ trong bài “Quan thư” có hai câu “Ngụ mị cầu chi” và “Triển chuyển phản trắc”. Tinh thần thuận theo tự nhiên, phụng sự Thiên mệnh thấm đẫm trong từng tứ thơ cho chúng ta thêm một cách hiểu nữa về ý nghĩa của hai câu thơ này. Phải chăng đây không chỉ là nỗi tương tư của một nam nhân đang yêu mà còn là niềm trăn trở không yên của vị hoàng đế làm sao để hoàn thành Thiên mệnh?

Tiếp theo có đoạn:

Hữu mệnh tự thiên,
Mệnh thử Văn Vương.
Vu Chu vu kinh,
Toản nữ duy sân.
Trường tử duy hành,
Đốc sinh Vũ Vương.
Bảo hữu mệnh nhĩ,
Tiếp phạt đại thương.

Đến đây có thể thấy rằng, ẩn sau nét lãng mạn tưởng như đơn thuần của “Quan thư” là hình ảnh của cả một thời kỳ lịch sử – nhà Chu. Trong đó chứa đựng những điều cao hơn tình yêu đôi lứa, đó là tấm lòng chính trực, trước sau như một, và cái đạo trị quốc bao trùm thiên hạ.

Thiên mệnh vương triều

Người Chu cho rằng Thượng đế đã ban hoàng hậu Thái Tự, vị mẫu nghi thiên hạ tài đức vẹn toàn cho Chu Văn Vương, tạo tiền đề cho sự thành lập của nhà Chu sau này. Chu Vũ Vương được sinh ra từ mối lương duyên thiên định ấy, ông cũng chính là vị vua đã đánh bại quân Thương, hoàn thành tâm nguyện của cha mình và lập nên nhà Chu, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử Trung Quốc.

A Ming Dynasty-era depiction of King Wu of Zhou (Public Domain)

Bức họa chân dung Chu Vũ Vương được vẽ vào thời nhà Minh (Nguồn công cộng)

Nhà Chu khác với các triều đại sau này ở hình thức bộ máy nhà nước. Nó đi theo chế độ phong kiến phân quyền, trong đó Thiên tử nắm quyền trung ương, chia đất cho các chư hầu quản lý. Xã hội lúc bấy giờ cũng rất có tôn ti trật tự, ai ai cũng đều tự tu dưỡng bản thân. Ngay cả khi Tây Chu không còn nữa, các chư hầu vẫn tỏ lòng kính trọng hoàng đế, giữ gìn truyền thống và khuôn phép trước đó, Tề Hoàn Công là một điển hình trong số đó.

Qua “Kinh thi”, Khổng Tử đã thống nhất và tái hiện lại những giá trị cốt lõi của xã hội nhà Chu đương thời. Những giá trị ấy không chỉ mang ý nghĩa lịch sử mà còn là kho tàng văn hóa, giáo dục đồ sộ để hậu thế soi vào, học tập người xưa đạo trị quốc, đạo làm người.

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Bước tiến mới trong khoa học: Vai trò của trực giác

Bước tiến mới trong khoa học: Vai trò của trực giác

Dr. William H. Kautz (Courtesy of Dr. William H. Kautz) "Science" entry in a dictionary (Firebrand Photography/iStock) Background (AGS Andrew/iStock)

Tiến sỹ William H. Kautz. Hình bên: Từ “Science” trong một quyển từ điển (Firebrand Photography/iStock). Hình nền: AGS Andrew/iStock

Chúng ta thường cho rằng trực giác là một khái niệm mập mờ và trừu tượng còn khoa học thì rõ ràng, hữu hình và có căn cứ đúng không?

Tuy nhiên, hai “phương thức nhận biết” tưởng như trái ngược nhau lại có khả năng kết hợp với nhau. Và Tiến sĩ William H. Kautz nghĩ tương lai của khoa học sẽ dựa vào đó.

Tiến sĩ Kautz nhận bằng Tiến sỹ khoa học (Sc.D.) từ Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) vào năm 1951, và tiến hành nghiên cứu khoa học máy tính tại Viện nghiên cứu Stanford International (SRI) trong 34 năm, cùng với các công trình nghiên cứu khác trong lĩnh vực địa vật lý, y tế, hoá học và các ngành khoa học xã hội. Năm 1977, ông thành lập Trung tâm Trực giác Ứng dụng, một tổ chức ở San Francisco thực hiện các nghiên cứu về bản chất của trực giác và ứng dụng của nó trong nhiều lĩnh vực khoa học.

“Khoa học đang trải qua một quá trình tái sinh – các nhà khoa học đang cố gắng tìm ra phương thức kết hợp tâm thức mà không [đưa tâm thức của họ vào] trong đó”, Tiến sĩ Kautz nói, phá lên cười trước nghịch lý này. “Đó là cố gắng khám phá vấn đề chủ quan bằng phương thức khách quan.”

Quảng cáo

Khủng hoảng trong khoa học, nhu cầu phải thay đổi

Có nhiều dấu hiệu cho thấy tâm thức (mang tính chủ quan) đóng một vai trò quan trọng trong các thí nghiệm khoa học vật chất (các sự kiện khách quan). Sự xuất hiện của cơ học lượng tử đã chỉ ra rằng phương cách đo đạc với sự hiện diện của ý thức có tác động vật lý lên những gì được đo đạc. Cơ học lượng tử cũng cho thấy một cái gì đó sai sót về cơ bản trong quan điểm khoa học của chúng ta nói chung.

Năm 1999, Brian Greene viết trong cuốn sách được đề cử giải Pulitzer “The Elegant Universe” (Vũ trụ tuyệt mỹ): “Dù được đưa ra cùng một lúc nhưng thuyết tương đối tổng quát và cơ học lượng tử lại không thể cùng đúng. Hai lý thuyết cơ bản đặt nền tảng cho tiến bộ to lớn của vật lý học trong suốt hàng trăm năm qua, giải thích được sự giãn nở của các tầng trời và cấu trúc cơ bản của vật chất, lại xung khắc nhau.”

Albert Einstein (Doris Ulmann)

Albert Einstein (Doris Ulmann)

Khi các nhà khoa học tìm kiếm một “Lý thuyết vạn vật” để có thể dung hòa sự xung khắc này, Tiến sĩ Kautz nhận thấy mình cần phải có bổn phận thúc đẩy nền khoa học tiến về phía mà ông cảm thấy đó có thể là phương thức tiếp cận toàn diện hơn – sử dụng trực giác. Điều này có thể cho phép chúng ta khám phá những lĩnh vực chủ quan và phi vật chất bằng phương tiện khách quan.

Trong thế kỷ 17, các nhà ngoại cảm và kiến thức về trực giác của họ đã bị bác bỏ bởi Phương pháp Khoa học của Sir Francis Bacon. Giờ đây, Tiến sĩ Kautz cho thấy trực giác có thể có lợi thế rất lớn nếu được thêm vào Phương pháp Khoa học. Ông bắt đầu bằng cách sử dụng trực giác để tìm câu trả lời cho một số câu hỏi mà khoa học chưa thể trả lời. Sau đó, ông sử dụng phương pháp xét nghiệm khoa học thông thường để xác minh những kiến ​​thức thu được thông qua trực giác.

Sử dụng trực giác để hiểu về Động đất

Vào cuối những năm 1970, Tiến sĩ Kautz tập họp tám người có khả năng ngoại cảm mạnh mẽ. Ông phỏng vấn họ một cách độc lập để tìm hiểu xem làm thế nào con người có thể dự đoán những trận động đất một cách tốt hơn. Những người này xuất thân từ bộ phận công chúng nói chung, chứ không phải là các nhà khoa học.

A file photo of cracked asphalt after an earthquake. (S. Dubi/iStock)

Hình ảnh đường bê tông bị nứt sau một trận động đất. (S. Dubi / iStock)

Ông tổng hợp các câu trả lời nhất quán về những dự báo động đất và lưu trữ vào một văn bản gọi là Đồng thuận. Năm 2012, ông xem xét lại văn bản Đồng thuận và viết một bài báo công bố trong ấn bản mùa thu của tạp chí Khám phá khoa học, có tiêu đề “Kích hoạt Động đất: Xác minh những Kiến thức Thu thập từ sự Đồng thuận của Trực giác”. Ông phát biểu trong bài báo rằng: “Xác minh lại sau 30 năm các phát hiện sử dụng khả năng trực giác, đối chiếu với những khám phá sau đó được báo cáo trong tạp chí địa vật lý chủ đạo, cho thấy rằng các chuyên gia ngoại cảm đã cung cấp những thông tin mới lạ, có ý nghĩa, và chính xác một cách lạ lùng về những dấu hiệu cảnh báo động đất và các yếu tố có liên quan”, ông viết.

Ví dụ, các nhà ngoại cảm gợi ý tìm kiếm các dấu hiệu dự báo từ tầng trên khí quyển và điện ly, một khái niệm lạ thường đối với các nhà địa chấn học vào thời điểm đó. Nhưng trong những năm 1980, các vệ tinh tân tiến đã phát hiện một vài dấu hiệu cảnh báo như vậy ở các tầng nêu trên và xảy ra trước những trận động đất lớn một chút. Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu (bao gồm các nhà khoa học NASA) đã điều hành một số chương trình giám sát để tìm kiếm những dấu hiệu ở tầng điện ly, nhiệt và điện từ bằng cách sử dụng các vệ tinh và các phương tiện khác.

Khi được hỏi trực giác đến từ nơi đâu, Tiến sĩ Kautz trả lời: “Thế thì sự tử tế đến từ đâu? Bạn sinh ra với nó, nó là một phần của con người.”

Pierre-Richard Cornely, một kỹ sư điện tại Đại học Eastern Nazarene ở Massachusetts, trình bày nghiên cứu mới cùng những phát biểu như sau tại cuộc họp thường niên năm 2014 của Hiệp hội Địa Vật lý Mỹ. Theo tạp chí Trái đất, Cornely tìm thấy hoạt động điện từ khí quyển khác thường được ghi lại bởi vệ tinh ở phía trên Haiti dẫn đến trận động đất cường độ 7 richter đã tàn phá thủ đô Haiti vào ngày 12 tháng 1 năm 2010. Cornely hy vọng sử dụng một mạng lưới GPS tại Haiti để thu thập dữ liệu mật độ electron, từ đó có thể phát hiện những sự gia tăng ứng suất trước những trận động đất tương lai.

Sử dụng trực giác để khôi phục Ngôn ngữ Ai Cập cổ đại

Vào những năm 1930, Ivy Carter Beaumont, một giáo viên ở Anh, đã nói một loại ngôn ngữ khác thường, và sử dụng nó rất nhiều. Cô cho rằng đó là ngôn ngữ Ai Cập cổ đại, mặc dù nhà Ai Cập học tại London phủ nhận loại ngôn ngữ này tại thời điểm đó – họ phủ nhận điều này đến mức họ không tiến hành nghiên cứu sâu thêm về loại ngôn ngữ này, Tiến sĩ Kautz cho biết.

A file photo of Egyptian hieroglyphs.  (Wrangel/iStock)

Chữ tượng hình Ai Cập. (Wrangel/iStock)

Tiến sĩ Kautz đào sâu các nghiên cứu ban đầu, trong đó có 44 quyển sổ ghi chép chứa đầy các phiên âm ngữ âm và bản ghi âm bài phát biểu của cô Ivy. Ông cũng xem xét các bản ghi âm cuộc trò chuyện giữa cô với một nhà Ai Cập học nghiệp dư. Người này đã chèn thêm nguyên âm của cô vào một vài chục mẫu văn bản Ai Cập để anh có thể đối thoại với cô. Các văn bản chữ viết Ai Cập trên các di tích cổ xưa và trong các văn bản không có các nguyên âm này, nên không ai biết ngôn ngữ thất truyền này phát âm như thế nào. Nhưng Beaumont hoàn toàn hiểu những gì nhà Ai Cập học đó nói với cô sau khi ông chèn nguyên âm của cô vào, điều đó cho thấy cô thực sự có thể nói tiếng Ai Cập cổ đại, Tiến sĩ Kautz giải thích.

Các bài kiểm tra chi tiết hơn được Tiến sĩ Kautz thực hiện đã xác nhận ngôn ngữ của Beaumont và ngôn ngữ viết trên các di tích là giống nhau.

“Trường hợp này là một thực nghiệm khá thuyết phục”, tiến sĩ Kautz nói. “Đây thực sự là một câu hỏi hóc búa: làm thế nào bạn tích hợp khả năng bẩm sinh mà con người có – tức là khả năng ngoại cảm – vào khoa học hiện đại vốn đang hoạt động theo một cách khác hơn nhiều? Chúng ta đều biết rằng bất kỳ thay đổi nào trong khoa học sẽ phải mất rất nhiều thời gian vì bạn phải thuyết phục rất nhiều người và rất nhiều niềm tin phải thay đổi. Vì vậy, những gì chúng tôi đang làm là phải có căn cứ, để có thể đối chất với lối suy nghĩ dè dặt cẩn trọng, với tính thực nghiệm của khoa học”.

Trực giác là gì?

“Trực giác là một phương thức khác để nhận biết”, tiến sĩ Kautz nói. “Nó cũng được gọi là nhận biết thiên bẩm”. Khi linh tính (trực giác) mách bảo bạn một điều gì đó, ông nói: “Bạn thường chối bỏ nó ngay lập tức – một sự thật đột ngột có thể khiến bạn phải khó chịu – nhưng đôi khi nó xuất hiện trong tâm trí bạn và bạn chỉ đơn thuần là biết về nó; không chất vấn, cũng không nghi ngờ. Đó là phương thức hoạt động của trực giác”.

“Trực giác là gì? Đó là khả năng con người có được kiến ​​thức trực tiếp, không cần sử dụng đến lý trí, cảm nhận, hoặc bộ nhớ theo ý nghĩa thông thường của nó.”

Carl Gustav Jung (Wikimedia Commons)

Carl Gustav Jung (Public Domain)

Khi được hỏi trực giác đến từ đâu, Tiến sĩ Kautz trả lời: “Thế sự tử tế thì đến từ đâu? Bạn sinh ra với nó, nó là một phần của con người.”

Tiến sĩ Kautz là một “nhà khoa học khá cứng nhắc” khi ông bắt đầu sự nghiệp của mình, ông nói. Người vợ thích khám phá của ông đã mở ra những chân trời cho ông, giới thiệu ông với các chuyên gia ngoại cảm, những người có thể nói với ông những điều mà bản thân ông chưa bao giờ nói với bất cứ ai – những người có thể trả lời câu hỏi mà ông chưa hề nêu ra. Những “khoảnh khắc aha”, như ông mô tả cuộc gặp gỡ của ông với những người như vậy, dẫn ông đến hành trình tìm kiếm một vị trí cho trực giác trong khoa học. “Hay đúng hơn là, tôi đã tìm được một nơi cho khoa học trong trực giác.”

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Blog at WordPress.com.