Monthly Archives: August 2015

Thảm hoạ ở Syria và sự im lặng câm điếc của thế giới

Thảm hoạ ở Syria và sự im lặng câm điếc của thế giới

Refugees wait in line to receive food aid distributed in the Yarmouk camp, in Damascus, Syria, on Jan. 31, 2014. (UNRWA via Getty Images)

Ảnh: Người tị nạn xếp hàng để nhận viện trợ lương thực phân phối trong trại Yarmouk tại Damascus, Syria, ngày 31 tháng 1, 2014. (UNRWA qua Getty Images)

Từ “bi kịch” thường được sử dụng để miêu tả cuộc nội chiến ở Syria, nhưng đó vẫn chỉ là một sự mô tả mờ nhạt về tính chất điên rồ đang hoành hành trên vùng đất này. Sự đổ máu và tàn phá nghiêm trọng quét qua quốc gia này không chỉ là một sự kiện bi thảm. Quy mô của sự phá hủy và những sinh mạng bị cướp đi là thảm họa chưa từng thấy dù cho có đo bằng bất kỳ thước đo nào kể từ sau sự khủng khiếp của Chiến tranh thế giới II.

Phần lớn thế giới đang quan sát với sự lãnh đạm, và các bên có những lợi ích độc tôn trong cuộc xung đột đang chơi trò chính trị trên cuộc sống của hàng trăm ngàn người Syria chết đi vô ích, khi mà họ không có được sự cứu tế nào để tránh khỏi cái chết và sống trong nỗi thống khổ không kể xiết và nỗi đau vẫn đang luôn rình rập.

Từ “bi kịch” thường được sử dụng để miêu tả các cuộc nội chiến ở Syria, nhưng đó vẫn chỉ là một mô tả mờ nhạt về tính chất điên rồ đang hoành hành trên mảnh đất này.

Hãy tưởng tượng phạm vi thảm họa đã giáng xuống cho một đất nước và người dân của nó bởi một nhà độc tài tàn ác quyết tâm duy trì quyền lực, thậm chí trả giá bằng cả sinh mệnh của người dân nước mình, gây ra sự tàn phá quy mô lớn thế nào:

Quảng cáo

  • Khi 250.000 người gồm đàn ông, phụ nữ và trẻ em bị tàn sát và 4 triệu người trở thành những người tị nạn tiều tụy trong những túp lều nhỏ, điều này là một thảm họa;
  • Khi hơn 7 triệu người phải di tản khắp nơi trong nước, 14 triệu người cần hỗ trợ nhân đạo, hàng chục ngàn người bị ngăn không cho bỏ chạy và không thể nhận được viện trợ quốc tế, và một nửa đất nước bị đổ nát, điều này là một thảm họa;
  • Và thảm khốc nhất là khi cả một thế hệ trẻ Syria bị mất hết không còn gì khi phải gánh chịu những hậu quả tai hại lâu dài mà người dân Syria sẽ còn phải chịu đựng trong nhiều thập kỷ tới.
Musa, a 25-year-old Kurdish marksman, looks at the destroyed Syrian town of Kobani, on Jan. 30, 2015. (Bulent Kilic/AFP/Getty Images)

Ảnh: Musa, một tay thiện xạ 25 tuổi người Kurd, nhìn vào thị trấn bị phá hủy Kobani của Syria, ngày 30 tháng 1, 2015. (Bulent Kılıç / AFP / Getty Images)

Điều đáng buồn là sự hỗ trợ tốt nhất của chính quyền Obama để cứu hàng chục ngàn thường dân vô tội bị bỏ mặc cũng chỉ ở mức hờ hững. Các quốc gia Ả Rập, mặc dù cung cấp một số hỗ trợ cho quân nổi dậy Syria, còn chưa sẵn sàng triển khai bộ binh, một điều kiện cần và đủ để đánh bại quân ISIS.

Nga và Iran bênh vực đồng minh tàn nhẫn của họ, Assad, và không tiếc công sức cung cấp quân đội, tài chính, và hậu cần để ông ta tiếp tục tàn sát người dân bằng cỗ máy giết người của mình. Lợi ích về chính trị và chiến lược của họ ở Syria là con át chủ bài trong việc bảo vệ đất nước, và họ sẽ làm bất cứ điều gì để bảo vệ lợi ích quốc gia và định hình tương lai đất nước phù hợp với nhu cầu của họ.

Trong khi Hoa Kỳ và một số đồng minh đang chiến đấu với ISIS trên không, họ để mặc Assad thả bom thùng, giết bừa bãi hàng ngàn người mỗi tháng và phá hủy toàn bộ các khu phố mà gần như không bị trừng phạt.

Firefighters put out a blaze at the scene of a barrel bomb strike by Syrian government forces in Aleppo, on March 5, 2015. In Aug. 16, a similar strike on a marketplace in Damascus killed at least 70 civilians and left 200 injured. (Zein al-Rifai/AFP/Getty Images)

Ảnh: Lính cứu hỏa dập một đám cháy tại hiện trường của một cuộc tấn công bằng bom thùng của quân đội chính phủ Syria ở Aleppo, ngày 5 tháng 3, năm 2015. Vào ngày 16, một cuộc tấn công tương tự nhằm vào một khu chợ ở phía đông bắc Damascus đã giết chết ít nhất 70 dân thường và làm 200 người bị thương. (Zein al-Rifai / AFP / Getty Images)

Tuy nhiên, hiện nay ông Assad đã thừa nhận đang mất dần quân trên bộ và không đủ quân để chống lại các phiến quân trên tất cả các mặt trận, Iran và Nga lo ngại rằng sự nổi lên của ISIS có thể gạt bỏ ảnh hưởng của họ ở Syria, họ lại bắt đầu tìm kiếm một giải pháp chính trị:

  • Trong tuyệt vọng, Assad cử ngoại trưởng Walid Moallem đi thỏa thuận một cơ hội đàm phán hoà bình mới với phiến quân Syria do Oman sắp xếp;
  • Iran đã đưa ra một kế hoạch hòa bình do bộ trưởng bộ Ngoại giao Iran Mohammad Zarif đích thân truyền đạt cho Assad bao gồm một lệnh ngừng bắn và một chính phủ chia sẻ quyền lực do Assad nắm, ít nhất là cho đến lúc này;
  • Nga đã mời đại diện các phiến quân Syria và chính phủ Assad đến thăm Moscow để đàm phán hòa bình.

Điều thảm khốc nhất hơn cả là cả một thế hệ trẻ người Syria bị mất hết không còn gì khi họ phải chịu đựng những hậu quả tai hại lâu dài mà người dân Syria sẽ phải dánh chịu trong nhiều thập kỷ tới.

Trong khi các sáng kiến ​​này có vẻ hấp dẫn trên bề mặt, không cái nào sẽ đưa đến giải pháp trừ khi Washington, Tehran và Moscow phối hợp trong một nỗ lực chung để kết thúc chiến tranh ở Syria, điều hiện nay nhiều khả năng sẽ thực hiện theo sau thỏa thuận hạt nhân Iran.

Điều này không có nghĩa là những khó khăn lớn không còn tồn tại. Các quốc gia Ả Rập của người Sunni không có đối thoại nghiêm túc với những ông chủ của Assad là Iran và Nga – và bất kỳ thỏa thuận nào được 2 nước này chấp nhận thì cũng sẽ khó lòng mà làm hài lòng được các nhà nước của người Sunni, đặc biệt là Ảrập Xêút và Ai Cập.

Khi Hoa Kỳ tiến hành cuộc tấn công bằng máy bay không người lái đầu tiên vào miền bắc Syria từ các căn cứ ở Thổ Nhĩ Kỳ chỉ nhằm vào một mục tiêu là ISIS, trên thực tế Hoa Kỳ đã trở thành một đồng minh của ông Assad, cho ông ta có lý do để không ngừng lại việc tàn phá đất nước.

Mặc dù Thổ Nhĩ Kỳ đã đồng ý với chính quyền Obama cho phép Mỹ tấn công vào các mục tiêu ISIS từ các căn cứ không quân của Thổ Nhĩ Kỳ, Ankara đang khai thác sự dàn xếp mới để tấn công người Kurd ở Syria. Mục tiêu của Thổ Nhĩ Kỳ không chỉ làm suy yếu đảng Công nhân của người Kurd (PKK) mà còn cản trở người Kurd Syria hợp nhất những kế hoạch của họ để thành lập một thực thể tự trị, điều có thể khuyến khích người Kurd Thổ Nhĩ Kỳ làm theo.

Trớ trêu thay, mặc dù sự khác biệt hoàn toàn giữa những người chơi và những mục tiêu ngắn hạn cũng như dài hạn của họ tại Syria,  lợi ích chung của họ đều là đánh bại ISIS, điều này cung cấp một cơ hội cho tất cả các nước liên quan cùng nhau hành động tìm kiếm một giải pháp chính trị cho cuộc nội chiến của Syria.

A Syrian reacts while standing on the rubble of his house while others look for survivors and bodies in northern Aleppo on Feb. 23, 2013. Missiles fired by Syrian regime forces in Aleppo's Tariq al-Bab district devasted the area and left many dead and injured. (Pablo Tosco/AFP/Getty Images)

Ảnh: Một người Syria phản kháng khi đứng trên đống đổ nát ngôi nhà mình trong khi những người khác tìm kiếm những người sống sót và thi thể những người chết ở miền bắc Aleppo, ngày 23 tháng 2, 2013. Tên lửa bắn bởi quân đội của chế độ Syria vào huyện Tariq al-Bab, thuộc Aleppo, đã tàn phá khu vực, làm nhiều người chết và bị thương. (Pablo Tosco / AFP / Getty Images)

Hơn nữa, thực tế là chủ nghĩa bạo lực cực đoan và bất ổn chính trị đang lan tới Trung Đông và vùng đất rộng lớn của lãnh thổ Syria và lãnh thổ Iraq vẫn còn dưới sự kiểm soát của ISIS, điều đó tạo thêm động lực để cố gắng chấm dứt cuộc xung đột tại Syria trước khi đất nước tan rã hoàn toàn.

Ngoài ra, vì điều kiện thực tế đã thay đổi và Assad đang ngày càng trở nên không cần thiết, Iran và Nga cũng có thể trở nên hoà hợp hơn, ở điểm gặp nhau này, trong việc tìm một giải pháp chính trị, mà sẽ loại trừ Assad.

Điều đó nói rằng, bất kỳ giải pháp chính trị nào cũng phải được hướng tới về việc thành lập một chính phủ chuyển tiếp mới dẫn đầu bởi các đại diện của người Sunni đa số với tỷ lệ đại diện của tất cả các phe phái dân tộc và tôn giáo khác, bao gồm cả những người Alawites.

Hoa Kỳ và tất cả các bên quan tâm tới sự ổn định tương lai của Syria không nên mắc những sai lầm tương tự như ở Ai Cập và Libya khi vội vã thúc đẩy các cuộc bầu cử sớm và soạn thảo một hiến pháp mới. Chính phủ chuyển tiếp tại Syria nên được duy trì ít nhất năm năm trong khi tập trung vào xây dựng lại đất nước và duy trì an ninh nội bộ.

Trong thời gian đó, các đảng phái chính trị sẽ có thời gian để tổ chức và phát triển một nghị trình chính trị và làm cho công chúng quen thuộc trước khi tổ chức các cuộc bầu cử và công chúng đã có thời gian hồi phục và trở lại trạng thái bình thường nào đó.

Để chứng minh cho ý định tốt của mình, Nga và Iran phải cảnh báo ông Assad ngừng bắn ngay lập tức và chấm dứt thả bom thùng. Nếu ông ta từ chối, Hoa Kỳ cần chuẩn bị tấn công các căn cứ quân sự của Syria để ngăn chặn Assad dội mưa bom thùng, có hoặc không có sự đồng ý của Iran và Nga.

A Kurdish refugee mother and son from the Syrian town of Kobani walk beside their tent in a camp in the southeastern town of Suruc on the Turkish-Syrian border, in Sanliurfa, Turkey, on Oct. 19, 2014. (Gokhan Sahin/Getty Images)

Ảnh: Một bà mẹ người tị nạn người Kurd và con trai từ thị trấn Kobani của Syria trong một túp lều ở thị trấn Suruc phía đông nam Thổ Nhĩ Kỳ tại biên giới Thổ Nhĩ Kỳ – Syria, ngày 19 tháng 10, 2014. (Gokhan Sahin / Getty Images)

Không bên nào trong số các bên liên quan có thể có tất cả. Câu hỏi đặt ra là, họ sẽ tụ hợp được dũng khí tinh thần và tìm ra một giải pháp nhằm giữ được những gì còn lại của Syria từ một thảm họa mà thế giới đã chứng kiến trong gần năm năm với sự im lặng câm nín?

Tiến sĩ Alon Ben-Meir là giáo sư về quan hệ quốc tế tại trung tâm các vấn đề toàn cầu, Đại học New York. Ông dạy các khóa học về đàm phán quốc tế và nghiên cứu Trung Đông. AlonBen-Meir.com

Quan điểm thể hiện trong bài viết này là những ý kiến ​​của tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của Epoch Times.

Chia sẻ bài viết này
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

So sánh tuyển sinh đại học của Mỹ và Việt Nam

So sánh tuyển sinh đại học của Mỹ và Việt Nam

Nguyễn Đông ghi

Trần Thắng tốt nghiệp kỹ sư Cơ khí tại University of Connecticut và làm việc tại Công ty Động cơ máy bay Pratt & Whitney từ năm 2000. Anh là Chủ tịch Viện Văn hóa & Giáo dục Việt Nam (IVCE) tại New York và xúc tiến các dự án Giáo dục tại Việt Nam. Với việc sưu tầm 150 bản đồ và 3 sách atlas cổ về Hoàng Sa và Trung Quốc vào năm 2012 để chứng minh chủ quyền biển đảo của Việt Nam, anh vừa được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tặng bằng khen.

Gần đây, anh Trần Thắng có làm một so sánh việc tuyển sinh giữa hai nước Việt Nam và Mỹ dựa trên 3 góc độ: số lượng trường đại học; sự trưởng thành của học sinh trong lựa chọn ngành nghề và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin.

T.Đ.

Chia sẻ với VnExpress, anh Trần Thắng cho biết việc nộp đơn vào nhiều trường đại học và mỗi trường có 2 đến 4 nguyện vọng, tạm gọi là “tuyển sinh mở rộng”, là việc làm đã có từ lâu tại các đại học ở Mỹ. Việt Nam cho phép học sinh nộp đơn vào nhiều trường được gần 10 năm nay, và mỗi trường có 4 nguyện vọng được áp dụng vào năm nay. Mỹ có nhiều mặt thuận tiện cho việc tuyển sinh mở rộng nên khi họ bắt đầu thì mọi việc diễn ra bình thường. Việt Nam bị rối vì chưa hội đủ các yếu tố cho cách tuyển sinh mở rộng.

Theo anh Thắng, có 3 yếu tố chính ảnh hưởng đến việc tuyển sinh mở rộng.

Trước tiên, phải kể đến số lượng đại học và học sinh tốt nghiệp THPT. Mỹ có 3.000 trường đại học với mọi trình độ và 1.700 trường cao đẳng cộng đồng, có thể nhận trên 4 triệu sinh viên đại học hàng năm. Số học sinh tốt nghiệp hàng năm khoảng 3,3 triệu (chiếm 1% dân số). Mỹ thừa trường đại học để nhận toàn bộ sinh viên và họ mở rộng đón nhận sinh viên quốc tế mỗi năm gần 100 nghìn.

Anh Trần Thắng, Chủ tịch Viện văn hóa và giáo dục Việt Nam tại Mỹ. Ảnh: Nguyễn Đông.

Anh Trần Thắng, Chủ tịch Viện văn hóa và giáo dục Việt Nam tại Mỹ. Ảnh: Nguyễn Đông.

Việt Nam có 400 trường đại học và nhận khoảng 400.000 sinh viên hàng năm. Số học sinh tốt nghiệp hàng năm khoảng một triệu (chiếm 1,1% dân số). Như vậy hàng năm Việt Nam có khoảng 600.000 học sinh không tiếp tục học đại học sau khi tốt nghiệp THPT.

Vì mức cạnh tranh cao khi vào các đại học Việt Nam nên học sinh làm mọi cách để đảm bảo có ít nhất một trường nhận cho một nguyện vọng. Số lượng trường đại học Việt Nam thiếu nên số lượng thí sinh ảo đăng ký vào một trường sẽ tăng lên.

Thứ hai là ứng dụng công nghệ thông tin vào tuyển sinh. Trường đại học Mỹ nhận đơn trực tuyến nên xử lý thông tin rất nhanh và rủi ro thất lạc hồ sơ thấp. Sinh viên làm đơn nhập học trực tuyến, gửi điểm học và kết quả các kỳ thi yêu cầu cũng qua trực tuyến, phương cách này giúp sinh viên ít tốn thời gian.

Trường đại học Việt Nam chưa có hệ thống xử lý cơ sở dữ liệu như kiểu ERP (Enterprise Resource Planning), trường xử lý giấy tờ bằng thủ công văn phòng nên không thể giải quyết một số lượng lớn hồ sơ trong thời gian ngắn. Vì hệ thống làm việc theo thủ công văn phòng nên kéo theo mọi việc liên quan cũng theo thủ công dẫn đến sự ùn tắc.

Thứ ba là tính trưởng thành của học sinh trong việc chọn ngành học, tổ chức thông thoáng của đại học. Sinh viên Mỹ hay Việt Nam khi chọn ngành học là chọn những ngành dễ kiếm việc làm, nhưng nhìn vào khía cạnh tính trưởng thành thì sinh viên Mỹ đạt ở mức cao. Khoảng 70% học sinh Mỹ xác định được ngành học khi vào đại học, 30% sinh viên chọn ngành sau 2 năm học đại cương. Trong 70% sinh viên đã chọn ngành thì chỉ có một số ít đổi ngành học sau 2 năm học đại cương.

Học sinh Mỹ khi nộp đơn vào đại học được thầy cô tư vấn chọn ngành học phù hợp với thế mạnh và sự đam mê của học sinh.

Ða phần sinh viên Mỹ chọn một nguyện vọng cho một ngành học vì tính thông thoáng của đại học tại đây. Ví dụ trong trường Kinh doanh (School of Business) có các ngành Tài chính, Ngân hàng, Quản trị kinh doanh… Sinh viên đăng ký học ngành Tài chính (Major) và học thêm một học kỳ để có thêm văn bằng thứ 2 là Ngân hàng (Minor). Việc đăng ký thêm một ngành Minor hoặc chuyển đổi ngành không phải thi cử, sinh viên chỉ điền vào cái đơn hoặc thông báo cho văn phòng.

Sinh viên Việt Nam dù học trường nghề nhưng khi tốt nghiệp những nơi nhận vào làm vẫn phải đào tạo thêm một thời gian mới có thể sử dụng lao động. Ảnh minh họa: Nguyễn Đông.

Sinh viên Việt Nam dù học trường nghề nhưng khi tốt nghiệp những nơi nhận vào làm vẫn phải đào tạo thêm một thời gian mới có thể sử dụng lao động. Ảnh minh họa: Nguyễn Đông.

Anh Thắng chia sẻ: “Tôi có được 10 năm làm hội thảo du học Mỹ tại 8 trường đại học hàng đầu của Việt Nam, nhìn chung sinh viên Việt Nam chưa có khái niệm về ngành làm việc, có một khoảng trống giữa việc học và việc làm tương lai. Sinh viên Việt Nam chọn ngành học theo xu hướng là ngành làm việc được nhắc đến nhiều trong xã hội như kinh doanh, ngân hàng, truyền thông…

Các trường THPT Việt Nam không có sự tư vấn cho học sinh chọn ngành học, trong khi chỉ có một số gia đình đủ kiến thức và sự hiểu biết để tư vấn cho học sinh. Hệ thống đại học Việt Nam chưa có sự thông thoáng chuyển đổi ngành học. Tại sao chúng ta không tạo cơ hội sinh viên đổi ngành học sau 2 năm học đại cương như mô hình của đại học Mỹ. Ðây là thời điểm cần thiết cho sinh viên có nguyện vọng đổi ngành học.

Theo tôi, việc cho phép sinh viên có 4 nguyện vọng vào một trường đại học và kết hợp 2 kỳ thi tốt nghiệp THPT và đại học như năm nay phản ánh chính sách giáo dục Việt Nam còn bấp bênh. Việc thi tốt nghiệp THPT không cần thiết, nên bỏ kỳ thi này và thay bằng việc dạy tốt và học tốt ở các cấp từ lớp 1 đến 12. Học sinh không vượt qua điểm trung bình của môn học nào thì một cách đơn giản là học lại môn đó.

Nền tảng tuyển sinh vào trường đại học như kiểu Mỹ là người ta chọn “con người” và Việt Nam là chọn “điểm thi”, từ nền tảng này kéo theo cách tuyển sinh khác nhau từ 2 hệ thống giáo dục. Giáo dục Mỹ mang tính thực dụng trong khi giáo dục Việt Nam mang tính thi cử.

Khi chọn “con người” là trường xem năng lực học của học sinh, kết quả thi chỉ số thông minh, thầy cô giáo đánh giá học sinh, học sinh trình bày ý tưởng về ngành học qua bài luận văn, sinh hoạt xã hội. Vì thế hồ sơ vào đại học Mỹ phản ánh rõ nét về “con người” của học sinh.

Như việc môn thi SAT hay GRE/GMAT bắt buộc vào đại học hay sau đại học Mỹ, người ta kiểm tra chỉ số thông minh (IQ) và khả năng phân tích của sinh viên. Việt Nam thi là kiểm tra kiến thức là chính.

Vấn đề đặt ra là tại sao giáo dục Việt Nam phải kiểm tra kiến thức trong khi thời buổi này kiến thức hiện diện ở mọi nơi khi ta cần biết đến. Áp dụng kiến thức vào đời sống hay công việc làm như thế nào mới quan trọng, một người biết nhiều kiến thức mà không biết cách áp dụng thì xem như không.

Nếu như giáo dục Việt Nam chọn tính “thực dụng” thì phương cách tổ chức giáo dục sẽ hoàn toàn khác và kết quả của giáo dục sẽ tốt đẹp hơn nhiều.

N.Đ.

Categories: Tổng Quát | Leave a comment

Thiên mệnh, lương duyên và triều đại trường tồn nhất trong lịch sử Trung Quốc

Thiên mệnh, lương duyên và triều đại trường tồn nhất trong lịch sử Trung Quốc

“Kinh thi” là một tuyển tập thơ ca bắt nguồn từ văn hóa dân gian Trung Quốc, được sáng tác vào thời nhà Chu (1046 – 771 TCN). Tập thơ gồm 300 tác phẩm do Đức Khổng Tử đích thân biên soạn, là ca dao ở chốn thôn quê, nhạc chương ở nơi triều miếu họp lại mà thành. “Kinh thi” chia làm ba phần: Phong, Nhã, Tụng. Với nội dung và đề tài phong phú, “Kinh thi” đã phác họa nên một bức tranh toàn cảnh về cuộc sống xã hội lúc bấy giờ, nam phụ lão ấu, thường dân vương giả, tất cả đều nằm trong đó.

Đương thời, Khổng Tử vốn mang tâm ngưỡng mộ nhà Chu, cách cai trị của ông cũng là lấy nhà Tây Chu làm tham chiếu. Từ hàng nghìn bài thơ dân gian sưu tầm từ đời Chu, ông chọn ra 300 bài tiêu biểu hợp thành “Kinh thi”, bộ sách có thể dạy người “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Mặc dù không có nhiều tiếng vang như thơ Đường Tống sau này nhưng “Kinh thi” mang giá trị cốt lõi trong việc khắc họa tư tưởng cũng như hoàn cảnh xã hội trong thời kỳ mà triết gia lỗi lạc, người thầy mẫu mực Khổng Phu Tử sinh sống.

A Qing Dynasty-era depiction of Queen Tai Si (Public Domain)

Bức họa hoàng hậu Thái Tự được vẽ vào thời nhà Thanh (Nguồn công cộng)

Bài thơ mở đầu cho cuốn Kinh thi có tựa là “Quan thư”. Bài thơ miêu tả cuộc hội ngộ tương phùng giữa Chu Văn Vương và hoàng hậu Thái Tự khi bà còn là một thôn nữ. Nhiều học giả cho rằng mối duyên trời định này là nền tảng cho 800 năm trị vì bền vững của triều đại nhà Chu, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử Trung Quốc.

Quan thư                                              Dịch nghĩa: Chim thư kêu

Quảng cáo

Quan quan thư cưu,                              Chim thư cưu kêu quan quan,
Tại hà chi châu.                                     Trên cồn sông Hoàng Hà.
Yểu điệu thục nữ,                                  Người con gái dịu hiền,
Quân tử hảo cầu.                                   Đẹp đôi cùng quân tử.

Sâm si hạnh thái,                                  Rau hạnh cọng ngắn dài,
Tả hữu lưu chi.                                      Vớt theo dòng tả hữu.
Yểu điệu thục nữ,                                  Người con gái dịu hiền,
Ngụ mị cầu chi.                                     Thức ngủ ta mong nghĩ.

Cầu chi bất đắc,                                     Mong nghĩ không được gặp,
Ngụ mị tư phục.                                     Ngày đêm ta nhớ trông.
Du tai! du tai!                                        Dằng dặc, dằng dặc!
Triển chuyển phản trắc.                       Trăn trở ngủ không yên.

Sâm si hạnh thái,                                   Rau hạnh cọng ngắn dài,
Tả hữu thái chi.                                      Hái theo dòng tả hữu.
Yểu điệu thục nữ,                                   Người con gái dịu hiền,
Cầm sắt hữu chi.                                    Ta muốn cùng nàng kết duyên cầm sắt.

Sâm si hạnh thái,                                   Rau hạnh cọng ngắn dài,
Tả hữu mạo chi.                                      Vớt theo dòng tả hữu.
Yểu điệu thục nữ.                                   Người con gái dịu hiền,
Chung cổ lạc chi.                                    Ta đánh tiếng trống chuông làm vui lòng nàng.

Cuộc hội ngộ của Chu Văn Vương và hoàng hậu Thái Tự

Sau khi Hán Vũ Đế lên ngôi đã cho khôi phục lại “Kinh thi” từng bị tiêu hủy dưới thời nhà Tần. Trong cuốn “Mao thi”, một trong những bản phục nguyên của “Kinh thi”, có chỗ nói rằng “Quan thư”, bài thơ nói về mối duyên hạnh ngộ giữa Chu Văn Vương và hoàng hậu Thái Tự đã đặt định cơ sở cho khái niệm “mẫu nghi thiên hạ” trong xã hội phong kiến Trung Quốc.

Bên cạnh yếu tố lãng mạn và giàu cảm xúc, “Quan thư” còn hàm chứa những ẩn dụ khác.

Chu Văn Vương là vị vua đặt nền móng cho sự ra đời của nhà Chu. Sau khi ông băng hà, con trai ông là Chu Vũ Vương đã đánh bại quân Thương và lập nên nhà Chu vào thế kỷ XI TCN.

A Ming Dynasty-era depiction of King Wen of Zhou (Public Domain)

Bức họa chân dung Chu Văn Vương được vẽ vào triều Minh (Nguồn công cộng)

Bên cạnh yếu tố lãng mạn và giàu cảm xúc, “Quan thư” còn hàm chứa nhiều hình ảnh ẩn dụ. “Hạnh thái” (rau hạnh) không chỉ tượng trưng cho đức hạnh trong văn hóa truyền thống mà còn xuất hiện trong các nghi thức tôn giáo thời Trung Quốc cổ đại. “Yểu điệu thục nữ” là hình ảnh người con gái đẹp cả nội tâm lẫn ngoại hình, tính nết hiền thục đoan trang, dung mạo dịu dàng thanh tú.

Tiếng chuông trống xuất hiện cuối bài thơ thể hiện tinh thần “thiên nhân hợp nhất”, con người và vạn vật tự nhiên tương thông hòa hợp. Vào thời đó, chuông trống chỉ dùng cho bậc vương giả tôn quý. Ngoài ra, hình ảnh “thư cưu” trong bài có dụng ý nói về tấm lòng thủy chung trước sau như một, vì loài chim này chỉ kết đôi duy nhất với một con, một khi đã thành đôi thì không thay đổi nữa.

Chữ Lễ và đạo phu thê

Xã hội Trung Quốc cổ đại quan niệm rằng gia đình là cái gốc của quốc gia, “tề gia” rồi mới nói đến chuyện “trị quốc”. Vì thế, xưa nay vẫn luôn coi trọng đạo phu thê. Theo truyền thuyết, hoàng đế Phục Hy là người tạo lập văn minh cho nhân loại, bao gồm cả các phép tắc, quy củ của hôn nhân vợ chồng.

Khổng Tử dạy rằng: Đạo của người quân tử bắt nguồn từ đạo vợ chồng, làm tròn cái đạo ấy thì có thể biết được việc trong trời đất.

Trong sách “Trung dung”, Khổng Tử dạy rằng: “Quân tử chi đạo, tạo đoan hồ phu phụ; cập kỳ chí dã, sát hồ thiên địa”. Có nghĩa là: Đạo của người quân tử bắt nguồn từ đạo vợ chồng, làm tròn cái đạo ấy thì có thể biết được việc trong trời đất. Điều này cũng được thể hiện rất rõ trong “Kinh lễ”, lễ ấy là dùng để duy trì tôn ti trật tự xã hội, tu dưỡng phẩm đức con người.
Mural art from the Northern Wei Dynasty (386-534) depicting Tai Si and two other Zhou queens. (Public Domain)

Bức tranh tường vẽ hoàng hậu Thái Tự cùng hai vị hoàng hậu khác, được vẽ vào thời Bắc Ngụy (Nguồn công cộng)

Khi được hỏi về cuốn “Kinh thi”, Khổng Tử chỉ nói ngắn gọn: “Thi tam bách, nhất ngôn dĩ tế chi, viết: Tư vô tà”. Cả ba trăm thiên kinh thi, chỉ một câu là có thể bao quát, đó là: không nghĩ điều tà. Lễ nghĩa giúp con người biết tiết chế bản thân, không tùy tiện dung túng theo dục vọng, nhờ đó mà trong nhà có nề nếp gia phong, ngoài xã hội có tôn ti trật tự.

Thiên mệnh của nhà Chu

Vào thời Đông Chu (770 – 221 TCN), hoàng đế không còn được các chư hầu kính phục như trước. Vì thế, Khổng Tử vẫn không ngừng nuôi tham vọng tái lập Thiên mệnh, thống nhất Thiên hạ.

Người Chu nhìn nhận rằng hoàng đế trị quốc là mang Thiên mệnh.

 Người Chu nhìn nhận rằng hoàng đế trị quốc là đang phụng mệnh trời, Thiên mệnh của hoàng đế chính là thực thi ý chỉ của thiên thượng. Nhà Chu cũng cho rằng họ là những đứa con của Thượng đế và các vị hoàng đế được gọi là Thiên tử.

Từ đó trở đi, các bậc hoàng đế đều tự xưng là Thiên tử. Với danh phận thần thánh đó, các vị hoàng đế nhà Chu luôn mang tâm kính ngưỡng đối với thiên thượng, dùng đạo lý mà tu dưỡng bản thân, lấy đức hạnh mà trị vì thiên hạ. Tuyệt đối không thể giống như Trụ vương nhà Thương, Kiệt vương nhà Hạ mà độc ác hoang dâm, bỏ bê triều chính, ngược đãi dân lành. Với tấm lòng khoan dung khiêm nhường, phụng theo Thiên mệnh mà trị vì quốc gia, các vị hoàng đế Tây Chu đã thực hiện lý tưởng sống của mình như vậy.

Bài thơ thứ 235 trong “Kinh thi” có tựa là “Văn Vương”, thể hiện sự kính ngưỡng và tín phụng tuyệt đối của hoàng đế Chu Văn Vương đối với Thượng đế.

Mục mục Văn Vương,
Ô tập hy kính chỉ.
Giả tai Thiên Mệnh,
Hữu thương tôn tử.
Thương chi tôn tử,
Kỳ lệ bất ức.
Thượng Đế ký mệnh,
Hầu ư Chu phục.

Mối lương duyên thiên định

Bài thơ thứ 236 trong tập “Kinh thi” có đề cập đến mối lương duyên giữa Chu Văn Vương và hoàng hậu Thái Tự. Mối nhân duyên này được mô tả là “thiên tác chi hợp”, tức là được tác hợp bởi trời.

Thiên giam tại hạ,
Hữu mệnh ký tập.
Văn Vương sơ tái,
Thiên tác chi hợp.

Đoạn thơ sau kể về việc hoàng đế Văn Vương cho đóng thuyền vượt sông Vị để cử hành hôn ước.

Văn định quyết tường,
Thân ngênh vu Vị.
Tạo chu vi lương,
Bất cố kì quang.

Còn nhớ trong bài “Quan thư” có hai câu “Ngụ mị cầu chi” và “Triển chuyển phản trắc”. Tinh thần thuận theo tự nhiên, phụng sự Thiên mệnh thấm đẫm trong từng tứ thơ cho chúng ta thêm một cách hiểu nữa về ý nghĩa của hai câu thơ này. Phải chăng đây không chỉ là nỗi tương tư của một nam nhân đang yêu mà còn là niềm trăn trở không yên của vị hoàng đế làm sao để hoàn thành Thiên mệnh?

Tiếp theo có đoạn:

Hữu mệnh tự thiên,
Mệnh thử Văn Vương.
Vu Chu vu kinh,
Toản nữ duy sân.
Trường tử duy hành,
Đốc sinh Vũ Vương.
Bảo hữu mệnh nhĩ,
Tiếp phạt đại thương.

Đến đây có thể thấy rằng, ẩn sau nét lãng mạn tưởng như đơn thuần của “Quan thư” là hình ảnh của cả một thời kỳ lịch sử – nhà Chu. Trong đó chứa đựng những điều cao hơn tình yêu đôi lứa, đó là tấm lòng chính trực, trước sau như một, và cái đạo trị quốc bao trùm thiên hạ.

Thiên mệnh vương triều

Người Chu cho rằng Thượng đế đã ban hoàng hậu Thái Tự, vị mẫu nghi thiên hạ tài đức vẹn toàn cho Chu Văn Vương, tạo tiền đề cho sự thành lập của nhà Chu sau này. Chu Vũ Vương được sinh ra từ mối lương duyên thiên định ấy, ông cũng chính là vị vua đã đánh bại quân Thương, hoàn thành tâm nguyện của cha mình và lập nên nhà Chu, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử Trung Quốc.

A Ming Dynasty-era depiction of King Wu of Zhou (Public Domain)

Bức họa chân dung Chu Vũ Vương được vẽ vào thời nhà Minh (Nguồn công cộng)

Nhà Chu khác với các triều đại sau này ở hình thức bộ máy nhà nước. Nó đi theo chế độ phong kiến phân quyền, trong đó Thiên tử nắm quyền trung ương, chia đất cho các chư hầu quản lý. Xã hội lúc bấy giờ cũng rất có tôn ti trật tự, ai ai cũng đều tự tu dưỡng bản thân. Ngay cả khi Tây Chu không còn nữa, các chư hầu vẫn tỏ lòng kính trọng hoàng đế, giữ gìn truyền thống và khuôn phép trước đó, Tề Hoàn Công là một điển hình trong số đó.

Qua “Kinh thi”, Khổng Tử đã thống nhất và tái hiện lại những giá trị cốt lõi của xã hội nhà Chu đương thời. Những giá trị ấy không chỉ mang ý nghĩa lịch sử mà còn là kho tàng văn hóa, giáo dục đồ sộ để hậu thế soi vào, học tập người xưa đạo trị quốc, đạo làm người.

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Bước tiến mới trong khoa học: Vai trò của trực giác

Bước tiến mới trong khoa học: Vai trò của trực giác

Dr. William H. Kautz (Courtesy of Dr. William H. Kautz) "Science" entry in a dictionary (Firebrand Photography/iStock) Background (AGS Andrew/iStock)

Tiến sỹ William H. Kautz. Hình bên: Từ “Science” trong một quyển từ điển (Firebrand Photography/iStock). Hình nền: AGS Andrew/iStock

Chúng ta thường cho rằng trực giác là một khái niệm mập mờ và trừu tượng còn khoa học thì rõ ràng, hữu hình và có căn cứ đúng không?

Tuy nhiên, hai “phương thức nhận biết” tưởng như trái ngược nhau lại có khả năng kết hợp với nhau. Và Tiến sĩ William H. Kautz nghĩ tương lai của khoa học sẽ dựa vào đó.

Tiến sĩ Kautz nhận bằng Tiến sỹ khoa học (Sc.D.) từ Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) vào năm 1951, và tiến hành nghiên cứu khoa học máy tính tại Viện nghiên cứu Stanford International (SRI) trong 34 năm, cùng với các công trình nghiên cứu khác trong lĩnh vực địa vật lý, y tế, hoá học và các ngành khoa học xã hội. Năm 1977, ông thành lập Trung tâm Trực giác Ứng dụng, một tổ chức ở San Francisco thực hiện các nghiên cứu về bản chất của trực giác và ứng dụng của nó trong nhiều lĩnh vực khoa học.

“Khoa học đang trải qua một quá trình tái sinh – các nhà khoa học đang cố gắng tìm ra phương thức kết hợp tâm thức mà không [đưa tâm thức của họ vào] trong đó”, Tiến sĩ Kautz nói, phá lên cười trước nghịch lý này. “Đó là cố gắng khám phá vấn đề chủ quan bằng phương thức khách quan.”

Quảng cáo

Khủng hoảng trong khoa học, nhu cầu phải thay đổi

Có nhiều dấu hiệu cho thấy tâm thức (mang tính chủ quan) đóng một vai trò quan trọng trong các thí nghiệm khoa học vật chất (các sự kiện khách quan). Sự xuất hiện của cơ học lượng tử đã chỉ ra rằng phương cách đo đạc với sự hiện diện của ý thức có tác động vật lý lên những gì được đo đạc. Cơ học lượng tử cũng cho thấy một cái gì đó sai sót về cơ bản trong quan điểm khoa học của chúng ta nói chung.

Năm 1999, Brian Greene viết trong cuốn sách được đề cử giải Pulitzer “The Elegant Universe” (Vũ trụ tuyệt mỹ): “Dù được đưa ra cùng một lúc nhưng thuyết tương đối tổng quát và cơ học lượng tử lại không thể cùng đúng. Hai lý thuyết cơ bản đặt nền tảng cho tiến bộ to lớn của vật lý học trong suốt hàng trăm năm qua, giải thích được sự giãn nở của các tầng trời và cấu trúc cơ bản của vật chất, lại xung khắc nhau.”

Albert Einstein (Doris Ulmann)

Albert Einstein (Doris Ulmann)

Khi các nhà khoa học tìm kiếm một “Lý thuyết vạn vật” để có thể dung hòa sự xung khắc này, Tiến sĩ Kautz nhận thấy mình cần phải có bổn phận thúc đẩy nền khoa học tiến về phía mà ông cảm thấy đó có thể là phương thức tiếp cận toàn diện hơn – sử dụng trực giác. Điều này có thể cho phép chúng ta khám phá những lĩnh vực chủ quan và phi vật chất bằng phương tiện khách quan.

Trong thế kỷ 17, các nhà ngoại cảm và kiến thức về trực giác của họ đã bị bác bỏ bởi Phương pháp Khoa học của Sir Francis Bacon. Giờ đây, Tiến sĩ Kautz cho thấy trực giác có thể có lợi thế rất lớn nếu được thêm vào Phương pháp Khoa học. Ông bắt đầu bằng cách sử dụng trực giác để tìm câu trả lời cho một số câu hỏi mà khoa học chưa thể trả lời. Sau đó, ông sử dụng phương pháp xét nghiệm khoa học thông thường để xác minh những kiến ​​thức thu được thông qua trực giác.

Sử dụng trực giác để hiểu về Động đất

Vào cuối những năm 1970, Tiến sĩ Kautz tập họp tám người có khả năng ngoại cảm mạnh mẽ. Ông phỏng vấn họ một cách độc lập để tìm hiểu xem làm thế nào con người có thể dự đoán những trận động đất một cách tốt hơn. Những người này xuất thân từ bộ phận công chúng nói chung, chứ không phải là các nhà khoa học.

A file photo of cracked asphalt after an earthquake. (S. Dubi/iStock)

Hình ảnh đường bê tông bị nứt sau một trận động đất. (S. Dubi / iStock)

Ông tổng hợp các câu trả lời nhất quán về những dự báo động đất và lưu trữ vào một văn bản gọi là Đồng thuận. Năm 2012, ông xem xét lại văn bản Đồng thuận và viết một bài báo công bố trong ấn bản mùa thu của tạp chí Khám phá khoa học, có tiêu đề “Kích hoạt Động đất: Xác minh những Kiến thức Thu thập từ sự Đồng thuận của Trực giác”. Ông phát biểu trong bài báo rằng: “Xác minh lại sau 30 năm các phát hiện sử dụng khả năng trực giác, đối chiếu với những khám phá sau đó được báo cáo trong tạp chí địa vật lý chủ đạo, cho thấy rằng các chuyên gia ngoại cảm đã cung cấp những thông tin mới lạ, có ý nghĩa, và chính xác một cách lạ lùng về những dấu hiệu cảnh báo động đất và các yếu tố có liên quan”, ông viết.

Ví dụ, các nhà ngoại cảm gợi ý tìm kiếm các dấu hiệu dự báo từ tầng trên khí quyển và điện ly, một khái niệm lạ thường đối với các nhà địa chấn học vào thời điểm đó. Nhưng trong những năm 1980, các vệ tinh tân tiến đã phát hiện một vài dấu hiệu cảnh báo như vậy ở các tầng nêu trên và xảy ra trước những trận động đất lớn một chút. Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu (bao gồm các nhà khoa học NASA) đã điều hành một số chương trình giám sát để tìm kiếm những dấu hiệu ở tầng điện ly, nhiệt và điện từ bằng cách sử dụng các vệ tinh và các phương tiện khác.

Khi được hỏi trực giác đến từ nơi đâu, Tiến sĩ Kautz trả lời: “Thế thì sự tử tế đến từ đâu? Bạn sinh ra với nó, nó là một phần của con người.”

Pierre-Richard Cornely, một kỹ sư điện tại Đại học Eastern Nazarene ở Massachusetts, trình bày nghiên cứu mới cùng những phát biểu như sau tại cuộc họp thường niên năm 2014 của Hiệp hội Địa Vật lý Mỹ. Theo tạp chí Trái đất, Cornely tìm thấy hoạt động điện từ khí quyển khác thường được ghi lại bởi vệ tinh ở phía trên Haiti dẫn đến trận động đất cường độ 7 richter đã tàn phá thủ đô Haiti vào ngày 12 tháng 1 năm 2010. Cornely hy vọng sử dụng một mạng lưới GPS tại Haiti để thu thập dữ liệu mật độ electron, từ đó có thể phát hiện những sự gia tăng ứng suất trước những trận động đất tương lai.

Sử dụng trực giác để khôi phục Ngôn ngữ Ai Cập cổ đại

Vào những năm 1930, Ivy Carter Beaumont, một giáo viên ở Anh, đã nói một loại ngôn ngữ khác thường, và sử dụng nó rất nhiều. Cô cho rằng đó là ngôn ngữ Ai Cập cổ đại, mặc dù nhà Ai Cập học tại London phủ nhận loại ngôn ngữ này tại thời điểm đó – họ phủ nhận điều này đến mức họ không tiến hành nghiên cứu sâu thêm về loại ngôn ngữ này, Tiến sĩ Kautz cho biết.

A file photo of Egyptian hieroglyphs.  (Wrangel/iStock)

Chữ tượng hình Ai Cập. (Wrangel/iStock)

Tiến sĩ Kautz đào sâu các nghiên cứu ban đầu, trong đó có 44 quyển sổ ghi chép chứa đầy các phiên âm ngữ âm và bản ghi âm bài phát biểu của cô Ivy. Ông cũng xem xét các bản ghi âm cuộc trò chuyện giữa cô với một nhà Ai Cập học nghiệp dư. Người này đã chèn thêm nguyên âm của cô vào một vài chục mẫu văn bản Ai Cập để anh có thể đối thoại với cô. Các văn bản chữ viết Ai Cập trên các di tích cổ xưa và trong các văn bản không có các nguyên âm này, nên không ai biết ngôn ngữ thất truyền này phát âm như thế nào. Nhưng Beaumont hoàn toàn hiểu những gì nhà Ai Cập học đó nói với cô sau khi ông chèn nguyên âm của cô vào, điều đó cho thấy cô thực sự có thể nói tiếng Ai Cập cổ đại, Tiến sĩ Kautz giải thích.

Các bài kiểm tra chi tiết hơn được Tiến sĩ Kautz thực hiện đã xác nhận ngôn ngữ của Beaumont và ngôn ngữ viết trên các di tích là giống nhau.

“Trường hợp này là một thực nghiệm khá thuyết phục”, tiến sĩ Kautz nói. “Đây thực sự là một câu hỏi hóc búa: làm thế nào bạn tích hợp khả năng bẩm sinh mà con người có – tức là khả năng ngoại cảm – vào khoa học hiện đại vốn đang hoạt động theo một cách khác hơn nhiều? Chúng ta đều biết rằng bất kỳ thay đổi nào trong khoa học sẽ phải mất rất nhiều thời gian vì bạn phải thuyết phục rất nhiều người và rất nhiều niềm tin phải thay đổi. Vì vậy, những gì chúng tôi đang làm là phải có căn cứ, để có thể đối chất với lối suy nghĩ dè dặt cẩn trọng, với tính thực nghiệm của khoa học”.

Trực giác là gì?

“Trực giác là một phương thức khác để nhận biết”, tiến sĩ Kautz nói. “Nó cũng được gọi là nhận biết thiên bẩm”. Khi linh tính (trực giác) mách bảo bạn một điều gì đó, ông nói: “Bạn thường chối bỏ nó ngay lập tức – một sự thật đột ngột có thể khiến bạn phải khó chịu – nhưng đôi khi nó xuất hiện trong tâm trí bạn và bạn chỉ đơn thuần là biết về nó; không chất vấn, cũng không nghi ngờ. Đó là phương thức hoạt động của trực giác”.

“Trực giác là gì? Đó là khả năng con người có được kiến ​​thức trực tiếp, không cần sử dụng đến lý trí, cảm nhận, hoặc bộ nhớ theo ý nghĩa thông thường của nó.”

Carl Gustav Jung (Wikimedia Commons)

Carl Gustav Jung (Public Domain)

Khi được hỏi trực giác đến từ đâu, Tiến sĩ Kautz trả lời: “Thế sự tử tế thì đến từ đâu? Bạn sinh ra với nó, nó là một phần của con người.”

Tiến sĩ Kautz là một “nhà khoa học khá cứng nhắc” khi ông bắt đầu sự nghiệp của mình, ông nói. Người vợ thích khám phá của ông đã mở ra những chân trời cho ông, giới thiệu ông với các chuyên gia ngoại cảm, những người có thể nói với ông những điều mà bản thân ông chưa bao giờ nói với bất cứ ai – những người có thể trả lời câu hỏi mà ông chưa hề nêu ra. Những “khoảnh khắc aha”, như ông mô tả cuộc gặp gỡ của ông với những người như vậy, dẫn ông đến hành trình tìm kiếm một vị trí cho trực giác trong khoa học. “Hay đúng hơn là, tôi đã tìm được một nơi cho khoa học trong trực giác.”

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

thả 96 triệu bóng nhựa xuống hồ ngăn nước bốc hơi

thả 96 triệu bóng nhựa xuống hồ ngăn nước bốc hơi
Reply-To: toloandiep <toloandiep@yahoo.com>

On Thursday, August 20, 2015 12:38 PM:
Los Angeles thả 96 triệu bóng nhựa xuống hồ ngăn nước bốc hơi

Giới chức thành phố Los Angeles thả 96 triệu quả bóng nhựa xuống các hồ chứa nước để ngăn bốc hơi, trong bối cảnh toàn bang đang phải đối mặt với hạn hán lịch sử.
California đang phải đối mặt với hạn hán kỷ lục. Để bảo vệ nguồn ngước của thành phố, chính quyền Los Angeles quyết định sử dụng một phương pháp khác thường là thả bóng nhựa xuống các hồ chứa nước.
Những quả bóng nhựa màu đen được thiết kế để chống bụi, mưa, hóa chất, thú rừng, dự kiến sẽ ngăn chặn hơn 1,1 triệu m3 nước bốc hơi mỗi năm. Những quả bóng sẽ nổi lên mặt nước, chặn ánh sáng Mặt Trời làm nước bốc hơi, cũng như ngăn các phản ứng hóa học tạo ra hợp chất gây ung thư bromate.
Những quả bóng tạo thành rào cản, bảo vệ mặt nước khỏi chất thải của chim chóc, động vật hoang dã.
Lần lượt từng hồ chứa nước ở Sylmar, Upper Stone, Elysian và Ivanhoe sẽ được thả bóng nhựa bao phủ 85-90% bề mặt. Tổng dự án trị giá 34,5 triệu USD.
Giải pháp thả bóng nhựa ngăn nước bốc hơi do tiến sĩ Brian White, quan chức về hưu của Sở Điện lực và Nguồn nước Los Angeles (LADWP) nghĩ ra. Từ năm 2008, LADWP đã sử dụng phương pháp này để ngăn chặn hiện tượng tảo nở hoa, phản ứng hóa học và ánh sáng Mặt Trời ở nhiều hồ chứa nước lộ thiên.
Mỗi quả bóng có kích thước tương đương một quả táo to, giá 0,36 USD. Chúng có màu đen vì đây là màu duy nhất có thể làm chệch hướng tia UV.
 
Mặt hồ chứa nước rộng hơn 70 hecta ở Sylmar hôm qua được phủ kín bởi hơn 20.000 quả bóng nhựa.
“Trong bối cảnh California đang đối mặt với hạn hán lịch sử, giải pháp này giúp bảo vệ nguồn nước lên mức tối đa,” Thị trưởng thành phố Eric Gracetti phát biểu.
Dự án này sẽ tiếp kiệm được 250 triệu USD so với những giải pháp khác để bảo vệ nguồn nước như xây đập ngăn đôi hồ chứa và đặt hai tấm phao nổi bao phủ mặt hồ – tốn kém tới 300 triệu USD.
“Ngoài cắt giảm việc cho hóa chất vào nước để ngăn tảo bùng nổ, những quả bóng này sẽ ngăn chặn 1,1 triệu m3 nước bốc hơi, đủ cung cấp nước uống cho 8.100 người một năm,” ủy viên hội đồng thành phố Mitch Englander cho biết.
 
Hồng Hạnh (Ảnh: Rex Shutterstock)
Categories: Tin Hoa Kỳ | Leave a comment

TIỂU HÒA THƯỢNG NGỦ GẬT SIÊU KUTE GÂY SỐT MẠNG THÁI LAN

TIỂU HÒA THƯỢNG NGỦ GẬT SIÊU KUTE GÂY SỐT MẠNG THÁI LAN

alt
Mới đây, cộng đồng mạng Thái Lan và Trung Quốc truyền tay nhau loạt ảnh một tiểu hòa thượng vô cùng đáng yêu sinh hoạt trong chùa Wat Pa Maneekan ở tỉnh Nonthaburi, Thái Lan.
alt
Tiểu hòa thượng tên Nongkorn, 2 tuổi rưỡi, được bố mẹ gửi vào chùa học Phật pháp từ khi mới 3 tháng tuổi.
alt
Mỗi sáng, Nongkorn được mẹ đưa đến chùa, buổi tối lại đón về.
alt
Nongkorn sống cùng các vị sư phụ, theo các sư phụ đi hóa duyên, ngồi thiền, nghe giảng kinh, thậm chí còn biết phụ giúp việc lặt vặt.
alt
Vì tuổi còn quá nhỏ lại ngày ngày dậy sớm, Nongkorn thường ngủ gật gù khi ngồi thiền, có khi còn gối đầu lên đùi sư phụ tiếp tục ngủ ngon lành.
alt
Nongkorn hồn nhiên ngồi ngáp trong lòng sư phụ. Khi Nongkorn ngủ gật lúc nghe giảng kinh, sư phụ sẽ đỡ cho cậu nhóc khỏi ngã đụng đầu xuống đất.
alt
Hình ảnh ngáp ngủ, ngủ gật cực đáng yêu của tiểu hòa thượng Nongkorn thu hút sự chú ý của nhiều người dân lên chùa, sau đó được chụp lại và đăng tải trên mạng.
alt
Nongkorn khiến cộng đồng mạng Thái Lan và Trung Quốc “phát sốt” vì quá đáng yêu.
alt
Nongkorn rất thích ngủ, nhưng khi theo các sư phụ đi hóa duyên lại tỏ ra rất nghiêm túc.
alt
Tiểu hòa thượng đáng yêu rất được lòng người dân trong vùng.
alt
Nongkorn nhỏ xíu đi còn chưa vững đã biết cầm chổi quét sân chùa.
Categories: Cảnh-Đẹp | Leave a comment

BÍ QUYẾT LÀM THÔNG MẠCH MÁU

BÍ QUYẾT LÀM THÔNG MẠCH MÁU
To:

Subject: Fwd: BÍ QUYẾT LÀM THÔNG MẠCH MÁU

Các cách chữa trị trên mạng chưa chắc có kết quả vì chưa được kiểm nghiệm
nhưng nhiều khi “phước tớ may thầy” tùy theo thể trạng và bệnh trạng của mỗi người.

BÍ QUYẾT LÀM THÔNG MẠCH MÁU
Mọi người nên làm chẳng mất mát gì, mà có được bộ ống dẫn máu sạch trơn tru.

BẤT KỂ LÀ NGHIÊM TRỌNG ĐẾN MỨC NÀO , CŨNG ĐỀU CÓ THỂ LÀM THÔNG !
Kinh nghiệm bản thân của một người sống ở Luân Đôn, khi ông ấy đi Pakistan họp, đột nhiên bị đau ngực dữ dội, sau đó được Bác sĩ cho biết ba mạch máu của ông đã bị tắc nghẽn nghiêm trọng, cần phải làm phẫu thuật.
Thời gian phẫu thuật là một tháng sau, trong thời gian đó, ông đã đến gặp một vị Bác sĩ Hồi giáo trị liệu theo phương pháp Y học cổ truyền quốc gia.
Vị Hakim để cho ông ta tự mình làm một bài thuốc uống ở nhà, ông uống một tháng.
Một tháng sau ông đến cùng một bệnh viện kiểm tra, phát hiện 3 mạch máu này rất sạch sẽ, chỗ vốn dĩ bị nghẽn đã hoàn toàn thông hết rồi.
Ông là một tín đồ Hồi giáo rất thành tâm, nhằm giúp cho càng nhiều người được lợi ích, ông đã chia sẻ kinh nghiệm của mình trên mạng, hai tấm hình chụp mạch máu trước và sau của ông cũng đăng lên mạng, trong hình có thể thấy được sự khác biệt rõ ràng trước và sau khi điều trị bằng bài thuốc này, ngay cả người bình thường cũng có thể nhìn ra.
Nguyên liệu cần dùng như sau : 

 1 ly nước cốt chanh
1 ly nước cốt gừng
1 ly nước cốt tỏi
1 ly giấm táo
Cách làm :

1. Tỏi bóc vỏ, gừng gọt vỏ cắt miếng nhỏ, cho vào máy ép trái cây ép lấy nước, hoặc là cho vào máy xay sinh tố xay nhuyễn, sau đó dùng vải lọc lọc lấy nước cốt.
2. Đặt nồi nước cốt tỏi và gừng lên bếp, thêm nước cốt chanh và giấm, để lửa lớn nấu sôi, sau đó vặn lửa nhỏ lại nấu khoảng nửa tiếng, không cần đậy nắp, để cho nước bốc hơi lên, còn lại khoảng phân nửa nước cốt là được.
3. Sau khi nguội, thêm mật ong vào khuấy đều, có thể cần nhiều mật ong, chủ yếu là để cho nước cốt dễ uống.
4. Đem thành phẩm đựng vào trong bình thủy tinh có nắp, bỏ vào tủ lạnh.
Cách uống :

Mỗi ngày uống một muỗng trước bữa ăn sáng.
Phần lớn người có thể trị tận gốc bệnh tim mạch.
Cũng có thể làm thức uống, phòng chống bệnh tim mạch và cao huyết áp, phòng ngừa cảm cúm…
Sau khi uống một tháng đến bệnh viện kiểm tra lại, sẽ phát hiện mạch máu sạch sẽ, chỗ tắc nghẽn đã được thông hoàn toàn rồi.
Categories: Kien-thuc Y-Khoa | Leave a comment

Đi theo Tàu hay đi với Mỹ? Thay đổi ôn hòa hay bạo loạn?

Việt Nam trước Đại Hội Đảng 12

Lê Xuân Khoa

Đi theo Tàu hay đi với Mỹ? Thay đổi ôn hòa hay bạo loạn? 

Sau khi viết bài “Việt Nam: Cơ hội cuối cùng hay những bước Đột phá cần thiết” (tháng Sáu, 2014) tôi nghĩ sẽ không phải làm gì khác hơn là theo dõi tình hình trong và ngoài nước, trông đợi những thay đổi có lợi ích cho đất nước. Tháng Bảy năm nay, nhân chuyến thăm Hoa Kỳ của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, được gọi là “chuyến thăm lịch sử”, tôi lại thấy cần đóng góp thêm một số nhận xét về tình hình mới. Chuyến đi Hoa Kỳ của ông Trọng cho thấy phe bảo thủ thân Trung Quốc dường như đã muốn quay lưng lại phía Bắc Kinh và tiến tới gần hơn với Hoa Kỳ. Lý do của sự chuyển hướng này là vì Bắc Kinh đã lộ rõ dã tâm xâm lược Việt Nam và Tập Cận Bình lại có thái độ khinh miệt TBT Nguyễn Phú Trọng sau sự cố giàn khoan HD-981. Phe thân Trung Quốc vừa căm hận vì bị Bắc Kinh hạ nhục, vừa lo ngại phe chống Trung Quốc có thể làm một cuộc đảo chính với sự ủng hộ của nhân dân đang phẫn nộ đối với một chính quyền bị coi là “hèn với giặc, ác với dân”. Mặc dù chuyến thăm nước Mỹ của ông Trọng có tính biểu tượng nhiều hơn là thực chất, sự kiện Tổng thống Barack Obama đặc biệt tiếp đón người cầm đầu Đảng Cộng sản Việt Nam tại Phòng Bầu dục và bản Tuyên bố về Tầm nhìn chung Việt-Mỹ đã giúp cho Nguyễn Phú Trọng gỡ lại được thể diện sau khi bị Tập Cận Bình làm mất mặt, do đó quan hệ hợp tác Việt-Mỹ có triển vọng gia tăng nhiều hơn về cả hai mặt kinh tế và quân sự.

Một điểm tích cực khác cần được chú ý trong chuyến công du này của TBT Nguyễn Phú Trọng là, tại thủ đô Hoa Kỳ, ông đã hai lần xác nhận vai trò quan trọng của cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Lần đầu, trong bản Tuyên bố chung Việt-Mỹ, ông Trọng “nhìn nhận sự thành công của người Việt Nam tại Hoa Kỳ và nhiều đóng góp của họ đối với sự phát triển của Việt Nam và Hoa Kỳ cũng như đối với mối quan hệ song phương tốt đẹp hơn giữa Việt Nam và Hoa Kỳ”. Lần thứ hai là trong bài diễn văn được soạn trước (tức là đã được tính toán kỹ) tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), ông Trọng đã dùng những từ “đặc biệt” và “hết sức quan trọng” để nói về “cộng đồng đông đảo người Việt Nam tại Hoa Kỳ” mà ông định nghĩa rất chính xác và thân tình là “công dân Hoa Kỳ và cũng là đồng bào của chúng tôi”. Những lời phát biểu chính thức này của lãnh đạo số một ở Việt Nam cho thấy một cách nhìn mới và một thái độ đúng đắn của nhà cầm quyền trong nước đối với cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ.

Sự thể bên ngoài thì như thế nhưng chiều hướng chính sách của Việt Nam vẫn chưa rõ rệt sau chuyến đi thăm Hoa Kỳ của TBT Nguyễn Phú Trọng. Nội bộ lãnh đạo Đảng đang thảo luận đóng kín và gay go về những quyết định cho 5 năm tới để được thông qua trong Đại hội 12 vào đầu năm 2016. Dù sao, đường lối lãnh đạo mới sẽ phải được thấy rõ trong các dự thảo văn kiện của Trung ương Đảng mà, theo thông lệ, sẽ được công bố khoảng năm tháng trước Đại hội. Giả thiết Đảng và Nhà nước thật sự muốn chuyển hướng sang phía Hoa Kỳ, bài viết này sẽ đóng góp một số ý kiến cụ thể về sự phát triển quan hệ hợp tác với Hoa Kỳ, cũng như sứ mệnh xây dựng sức mạnh dân tộc bao gồm vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là cộng đồng công dân Mỹ gốc Việt.

Phát triển quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ

Việt Nam và Hoa Kỳ đang có mối quan tâm chung trước sự kiện lãnh đạo Bắc Kinh đang biến Trung Quốc thành một “nhà nước hung đồ” (rogue state) có tham vọng bá quyền, hành động phi pháp, đe dọa hòa bình và phát triển trong khu vực, nhất là xâm phạm độc lập và chủ quyền của Việt Nam. Quan hệ Việt-Mỹ cần được phát triển từ đối tác toàn diện sang hợp tác chiến lược toàn diện, và VN đang rất cần sự giúp đỡ của HK để có thể tự bảo vệ độc lập và phục hồi kinh tế. Mục tiêu chung ấy đã được cả hai Chính phủ khẳng định và đang nỗ lực gia tăng hợp tác trên mọi lãnh vực.

Quyền lợi cốt lõi của Hoa Kỳ là duy trì quyền tự do lưu thông trên Thái Bình Dương, bảo vệ an ninh và phát triển quan hệ hợp tác với tất cả các nước trong khu vực. Trước những hành động ngang ngược của Trung Quốc thể hiện quyết tâm làm chủ Biển Đông Nam Á, nhất là bồi đắp các bãi đá thành đảo, xây dựng đường bay và căn cứ quân sự trong khu quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, Hoa Kỳ cần có sự hợp tác của Việt Nam để ngăn chặn tham vọng bành trướng của Bắc Kinh. Đối với lãnh đạo Việt Nam, mối quan tâm sâu sắc nhất trong quan hệ hợp tác với Hoa Kỳ là sự tồn tại của Đảng và chế độ. Nỗi lo ngại này đã được Hoa Kỳ giải tỏa từ chuyến thăm Washington của CT Trương Tấn Sang năm 2013, nhưng nhóm bảo thủ muốn được xác nhận rõ hơn trong chuyến thăm Mỹ năm nay của TBT Nguyễn Phú Trọng. Họ đã được toại nguyện khi thấy Tổng thống Hoa Kỳ tiếp Tổng bí thư Đảng CSVN tại Phòng Bầu Dục và bản Tuyên bố chung năm nay xác nhận điều hai bên đã công bố năm 2013, “tôn trọng thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau”.

Rào cản duy nhất trên con đưòng hợp tác toàn diện là vấn đề cải thiện nhân quyền ở VN. Thật là một nghịch lý khi các lãnh đạo Việt Nam đều thấy rõ hậu quả nghiêm trọng của cơ chế hiện thời, muốn xây dựng một “xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” nhưng lại coi vấn đề cải thiện nhân quyền như một đe dọa cho chế độ và ổn định xã hội. Dù sao, quyền con người cũng đã được khẳng định ngay trong lời mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập 1945 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có nguồn gốc từ bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Chân lý này về quyền con người cũng là nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp VN 2013, được ghi rõ trong Điều 3: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Ngoài ra, với tư cách một thành viên của Liên Hiệp Quốc, Việt Nam cũng cam kết tôn trọng bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, đặc biệt là Công ước Quốc tế về các Quyền kinh tế, Xã hội và Văn hóa, và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị.

Trong bài diễn văn tại trung tâm CSIS, TBT Nguyễn Phú Trọng xác nhận “còn không ít vấn đề cần phải tiếp tục giải quyết trong đó có vấn đề quyền con người, nhưng chúng tôi đang nỗ lực không mệt mỏi để xây dựng một xã hội ngày càng tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người”. Như vậy, đã đến lúc Việt Nam cần vận dụng những nỗ lực không mệt mỏi đó vào việc thể hiện quyền con người như đã được ghi trong Tuyên ngôn độc lập 1945, mô tả đầy đủ trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, và gần đây nhất được xác nhận lại trong Hiến pháp 2013.

Thật ra, trong những cuộc thảo luận giữa Mỹ và VN về nhân quyền không có sự khác biệt về định nghĩa hay nội dung của nhân quyền mà chỉ có sự khác thường trong cách giải thích và thực hiện nhân quyền của Việt Nam. Sau 70 năm cầm quyền, trong đó có 40 năm thống nhất và 20 năm quan hệ bình thường với Hoa Kỳ, vấn đề quyền con người sẽ không thể được giải quyết nếu Việt Nam cứ viện dẫn một cách nhàm chán những lý do về “cách hiểu khác” của Việt Nam về vấn đề nhân quyền và quả quyết “Việt Nam không có tù nhân lương tâm hay chính trị mà chỉ có tù hình sự”. Nói thẳng ra, đây chỉ là một cách mua thời gian cho sự lạm quyền của chế độ.

Xin hỏi: Chính phủ có tôn trọng nhân quyền hay không khi công an bắt bớ và đánh đập tàn nhẫn những người dân đi biểu tình bất bạo động chỉ để phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền đất và biển của Việt Nam? Xin hãy trả lời: tại sao blogger Tạ Phong Tần viết bài chống tham nhũng rất đúng mà bị kết án 10 năm tù về tội “tuyên truyền chống nhà nước”? Tại sao nhạc sĩ trẻ Việt Khang làm hai bản nhạc yêu nước rất chân tình “Anh là ai” và “Việt Nam tôi đâu” mà bị án 4 năm tù và 2 năm quản chế, cũng với tội danh “tuyên truyền chống nhà nước”? Tại sao doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức bày tỏ chính kiến khác biệt của một trí thức trong cuốn sách “Con đường nào cho Việt Nam” lại bị kết tội  “âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân” và lãnh án tới 16 năm tù? Đây chỉ là một ít thí dụ điển hình cho hàng trăm người bị bắt giữ vì phát biểu ý kiến khác biệt nhưng hoàn toàn ôn hòa, không một người nào có hành vi bạo động. Làm sao có thể hiểu được khi TBT Nguyễn Phú Trọng tuyên bố giữa thủ đô Hoa Kỳ: “Tôi khẳng định rằng Việt Nam hết sức coi trọng vấn đề nhân quyền, quyền con người. Chúng tôi đang nỗ lực xây dựng một xã hội ngày càng tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người”.  Ông còn quả quyết: “Người dân Việt Nam chưa bao giờ được sống trong bầu không khí dân chủ như hiện nay”. Ôi, thế này thì Hoa Kỳ và các nước dân chủ Tây phương cần phải học tập và áp dụng mô hình dân chủ của Việt Nam.

Nhân quyền là một chân lý phổ quát, không có một chính thể nào có thể nhân danh nhân quyền để vi phạm “quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc” của con người. Ngay cả chính trị học Nho giáo cũng dựa trên cơ sở “dân vi quý” tức là các chính sách của nhà nước phài phù hợp với ý nguyện của nhân dân, vì “Ý Dân là Ý Trời”. Dân là nước, Chính phủ là thuyền, và như lời Mạnh Tử “nếu lãnh đạo coi dân như cỏ rác thì dân sẽ coi lãnh đạo như thù địch”. Trong trường hợp đó, thay vì tiếp tục chở thuyền, nước sẽ lật thuyền. Thật là một sự tình cờ thú vị vì quan điểm về dân chủ này lại được khai triển rành mạch trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ, ngay sau đoạn có câu về quyền con người được Hồ Chí Minh dùng để mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập 2.9.1945, hoàn toàn phù hợp với tình trạng VN ngày nay, dù đây là tiếng nói của 13 tiểu bang đầu tiên của nước Mỹ ngày 4.7.1776 chống lại sự áp bức của Vương quốc Anh:

“Rằng để đảm bảo cho những quyền lợi này, các chính phủ được lập ra trong nhân dân và có được những quyền lực chính đáng trên cơ sở sự nhất trí của nhân dân, rằng bất cứ khi nào một thể chế chính quyền nào đó phá vỡ những mục tiêu này, thì nhân dân có quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền đó và lập nên một chính quyền mới, đặt trên nền tảng những nguyên tắc cũng như tổ chức thực thi quyền hành theo một thể chế sao cho có hiệu quả tốt nhất đối với an ninh và hạnh phúc của họ.

“Thật vậy, sự thận trọng sẽ buộc người ta hiểu rõ rằng một chính quyền đã được thiết lập qua một thời gian dài thì không nên thay đổi chỉ vì những lý do đơn giản, nhất thời. Mọi kinh nghiệm đều đã chứng tỏ điều đó, rằng khi cái xấu còn trong chừng mực chịu đựng nổi, thì nhân loại dễ cam chịu nó, hơn là tự trao cho mình quyền loại bỏ những thể chế mà họ đã quen thuộc. Nhưng khi hàng loạt các hành vi lạm quyền và chiếm đoạt theo đuổi những mục tiêu giống nhau, lộ rõ ý đồ áp chế họ dưới ách chuyên quyền độc đoán, thì họ có quyền và có bổn phận phải lật đổ chính quyền đó và bổ nhiệm những chiến sĩ mới để bảo vệ nền an ninh của họ trong tương lai…”

Trong trường hợp Việt Nam, không chỉ có vấn đề “chế độ chuyên quyền độc đoán,” nhóm lãnh đạo ngày nay còn mắc tội phản quốc nếu không kịp thời chuyển hướng, phủ nhận bản mật ước nhục nhã giữa hai Đảng ở Thành Đô năm 1990, vô giá trị vì không hề được Quốc hội thông qua, do lỗi lầm của nhóm lãnh đạo hồi đó.

Tôi không nghĩ rằng trong những cuộc thảo luận về nhân quyền, các đại diện Hoa Kỳ muốn ép buộc Việt Nam phải rập khuôn tổ chức chính trị, sinh hoạt văn hóa và xã hội của nước Mỹ; họ chỉ yêu cầu Việt Nam phải tôn trọng những quyền tự do căn bản của con người mà VN đã xác định trong Hiến pháp 2013 nhưng không thi hành. Những quyền tự do căn bản đó không chỉ phù hợp với Hiến pháp và chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ mà cũng phản ánh tinh thần của bản Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và rất đúng với ý nguyện của nhân dân Việt Nam.

Như vậy, đã đến lúc phải khai thông những cuộc thảo luận Việt-Mỹ về vấn đề nhân quyền. Việt Nam hãy bỏ ý định đòi Mỹ phải chấp nhận quan điểm ngoan cố của mình trong chuỗi đối thoại đã kéo dài 20 năm qua. Nói rằng “có cách hiểu khác nhau” về nhân quyền là một lối nói ngụy biện, trái với Tuyên ngôn Độc lập 1945 và Hiến pháp 2013. Nói rằng “không nên để các vấn đề nhân quyền cản trở quan hệ hai nước” là cách nói vơ vào, có nghĩa là chuyện nhân quyền chỉ để nói chơi, chuyện chính là các dự án đầu tư, thương mại và viện trợ của HK cho VN. Nói thế là không biết rằng chính phủ Mỹ luôn luôn chịu áp lực của Quốc hội về vấn đề nhân quyền. Vì vậy, cùng với quyết định thoát khỏi sự khống chế của Trung Quốc và chọn sự hợp tác bình đẳng với Hoa Kỳ, Việt Nam cần dứt khoát từ bỏ thái độ lúng túng, trì hoãn, nói một đàng làm một nẻo, khiến cho quan hệ phát triển với Hoa Kỳ bị trì trệ, Trung Quốc lấn át, nhân dân càng phẫn nộ.

Chuyến thăm Mỹ của TBT Nguyễn Phú Trọng là cơ hội tốt nhất cho chính quyền chứng tỏ quyết định sáng suốt và thành thật, củng cố lòng tin chiến lược đối với Hoa Kỳ và được sự ủng hộ của nhân dân. Việt Nam chỉ cần thi hành những điều đã ghi rõ trong bản Tuyên bố chung : “… bảo đảm rằng mọi người, bao gồm cả những thành viên của các nhóm dễ bị tổn thương, không phân biệt giới, chủng tộc, tôn giáo hoặc khuynh hướng giới tính, và bao gồm cả người tàn tật, được hưởng đầy đủ các quyền con người. Hoa Kỳ hoan nghênh những nỗ lực hiện nay của Việt Nam hài hòa hóa luật với Hiến pháp 2013 và các cam kết quốc tế mà Việt Nam thực hiện nhằm phát triển toàn diện đất nước, kể cả trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người và các quyền tự do cơ bản”.

Vì những lẽ trên, chính quyền không nên chậm trễ thiết lập một lộ trình chuyển hóa từ độc tài sang dân chủ, bắt đầu bằng việc phóng thích tất cả những người bị bắt giữ vì yêu nước và vận động dân chủ một cách hòa bình. Chính quyền cần mở ngay những cuộc đối thoại thẳng thắn với trí thức độc lập và ban hành một số biện pháp cởi mở về tự do, dân chủ.

Cộng đồng công dân Mỹ gốc Việt

Sự kiện TBT Nguyễn Phú Trọng chính thức nhìn nhận vai trò của người Mỹ gốc Việt trong chuyến đi lịch sử này đánh dấu một sự thay đổi quan trọng trong thái độ và chính sách của lãnh đạo Việt Nam, không chỉ đối với công dân Mỹ gốc Việt mà còn đối với toàn thể người Việt đã trở thành công dân ở nhiều nước khác trên thế giới. Sự chuyển hướng này là một bước đột phá cần thiết, đặc biệt đối với cộng đồng người Mỹ gốc Việt, vì cộng đồng này có thể gây ảnh hưởng thuận lợi hay bất lợi cho sự phát triển quan hệ hợp tác giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.

Nếu sự chuyển hướng này là có thật thì cũng đã đến lúc Nghị quyết 36 năm 2004 của Bộ Chính trị phải được thay thế bằng một văn kiện khác, vì những người soạn Nghị quyết 36 đã sai lầm khi thiết lập một chính sách chung cho hai đối tượng khác nhau là Việt kiều và công dân ngoại quốc gốc Việt. Việt kiều (hay kiều bào) là những công dân Việt Nam ra nước ngoài trong một thời gian để làm lao động, tu nghiệp, du học, đầu tư kinh doanh, hay công tác có thời hạn cho Chính phủ, làm việc cho các tổ chức quốc tế hay tư nhân. Chính sách giúp đỡ và bảo vệ (hay trừng phạt) Việt kiều không thể áp dụng đối với những người đã trở thành công dân ngoại quốc. Về mặt pháp lý, công dân ngoại quốc gốc Việt là người nước ngoài, có quyền lợi và bổn phận với quốc gia mình đã nhập tịch; “gốc Việt” chỉ có ý nghĩa về mặt tình cảm giữa những người đồng chủng, nhưng yếu tố tình cảm này lại rất quan trọng vì qua đó họ sẽ đóng góp cho đất nước nhiều hơn là người dị chủng, nếu họ được chính quyền đối xử có tình, có nghĩa. Ngay cả khi bị chính quyền nghi ngờ và gây nhiều khó khăn, những cá nhân hay tổ chức nhân đạo do người Việt nước ngoài thành lập vẫn vì tình nghĩa đồng bào mà tiếp tục giúp đỡ dân nghèo, những nạn nhân của bịnh tật, của thiên tai và bất công xã hội. Người ngoại quốc khác chủng tộc đến Việt Nam với mục đích làm ăn, xong việc rồi về nước, hiếm khi có sự ràng buộc tình cảm với quốc gia sở tại.

Bài này chủ yếu nói về công dân Mỹ gốc Việt nhưng cũng đúng cho những công dân gốc Việt từ các nước khác. Chính sách của chính quyền trong nước đối với công dân nước ngoài gốc Việt cho đến nay, trừ một số trường hợp, vẫn là một chính sách ban ơn và có mục đích khai thác. Do thói quen suy nghĩ và hành động ở những nước dân chủ, tất cả những người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi về tới Việt Nam, dù chỉ để du lịch hay thăm bà con, cũng ít nhiều đều bị nhân viên an ninh kiểm soát, theo dõi. Điều này có thể hiểu được và tạm coi là chuyện bình thường. Nói chung thì với phương tiện khá đầy đủ của một du khách, người Mỹ gốc Việt có thể sống thoải mái ở bất cứ tỉnh, thành nào trên toàn quốc. Tuy nhiên, khi có công việc phải liên lạc với một cơ quan chính quyền, nếu không quen biết hay được giới thiệu trước, thì sẽ thường bị rắc rối về thủ tục, tốn kém thì giờ và có thể tiền bạc nữa.

Đáng chú ý là trường hợp những giáo sư, học giả, nhà văn, về Việt Nam tìm kiếm tài liệu nghiên cứu hay viết sách, nếu không được phép trước mà tự ý tiếp xúc với các cá nhân có tư tưởng cấp tiến hay những tổ chức không chính thức ở trong nước, sẽ không khỏi bị công an mời đến “làm việc”, có thể bị cảnh cáo, ngăn cấm hay trục xuất, tùy theo mức độ bị nghi ngờ. Các tổ chức phi chính phủ (NGO) từ bên ngoài về làm chương trình nhân đạo hay giáo dục đều phải khai báo để được sự chấp thuận của Ủy ban Điều phối Viện trợ Nhân dân (PACCOM) tại Hà Nội hay chi nhánh ở các địa phương. Trừ một vài trường hợp quá “thân” với chính quyền, các NGO Mỹ gốc Việt dù đã hoàn tất mọi thủ tục và giúp đỡ đồng bào từ nhiều năm qua vẫn chưa được PACCOM công nhận trong danh sách các NGO được chính thức hoạt động tại Việt Nam. Ngay cả một tập hợp trên 30 NGO Mỹ gốc Việt (VANGO Network) thành lập năm 2005 sau những hội nghị chính thức với PACCOM , Ford Foundation và USAID, để phối trí các chương trình nhân đạo được hiệu quả hơn, cho đến nay cũng vẫn chưa được PACCOM chính thức công nhận.

Những trí thức, chuyên gia và thành viên của các NGO ở nước ngoài không ít thì nhiều đều khó chịu về những thủ tục khó khăn hay những hạch hỏi vô lý về chính trị do quen biết những người hay tổ chức đang bị công an theo dõi ở trong hay ngoài nước. Một số quyết định không trở lại Việt Nam cho đến khi nhà nước thay đổi chính sách. Nhưng rất nhiều người, vì nhu cầu công việc, vì cần thăm nom cha mẹ già hay những lý do bình thường khác, đã phải nhẫn nhịn để khỏi  bị làm khó dễ khi xin “thị thực” (tôi dùng chữ “visa” đã quốc tế hóa dễ hiểu hơn). Phải nói thẳng ra rằng Chính phủ Việt Nam đang giữ lợi thế “nắm đằng chuôi” trong chính sách đối xử với tất cả những người ở nước ngoài cần hay muốn có visa đi VN . Visa là vũ khí đe dọa có hiệu lực nhất để kiểm soát và ngăn ngừa mọi thái độ chỉ trích hay phản đối chính quyền của những người từ bên ngoài muốn du lịch, thăm gia đình hay làm việc ở VN. Trừ một ít trường hợp ngoại lệ, tất cả các NGO nước ngoài đều bị bộ máy an ninh xếp vào thành phần “diễn biến hòa bình” nguy hiểm chỉ vì ảnh hưởng tự nhiên của hoạt động nhân đạo. Đặc biệt đối với các NGO Mỹ gốc Việt thì visa là thanh gươm Damoclès treo lơ lửng trên đầu, vì họ là đối tượng đáng nghi nhất, vì họ có nhiều cơ hội gần gũi và trực tiếp giúp đỡ người nghèo và bệnh tật, do đó được nhân dân có cảm tình và tin cậy. Ngày nay, với “những nỗ lực không mệt mỏi” như TBT Nguyễn Phú Trọng đã tuyên bố về cải thiện nhân quyền, đã đến lúc Việt Nam nên chủ động “diễn tiến hòa bình” (dịch đúng nghĩa của ‘peaceful evolution’) để có thể tiếp nhận nhiều hơn và điều phối có kết quả tốt hơn các dự án nhân đạo và phát triển của các NGO nước ngoài, nhất là NGO Mỹ gốc Việt.

Ngày 14 tháng Bảy 2015, nhân dịp TBT Nguyễn Phú Trọng có những lời phát biểu chính đáng về cộng đồng người Mỹ gốc Việt, tôi đã viết bài “Hòa giải với người chết” yêu cầu chính quyền Việt Nam hãy giải quyết dứt điểm một vấn đề đã kéo dài 40 năm qua gồm chương trình tìm mộ và cải táng hài cốt những tù cải tạo đã chết trong thời gian bị giam cầm, và chương trình trùng tu Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa (nay thuộc tỉnh Bình Dương). Bài viết đưa ra công khai nhiều chi tiết về cuộc vận động và những nỗi thăng trầm của tổ chức Vietnamese American Foundation (VAF), một NGO Mỹ gốc Việt do một số cựu tù cải tạo và con em gia đình tử sĩ VNCH thành lập chỉ chuyên lo vận động và thực hiện hai chương trình nói trên từ đầu năm 2007. Trường hợp VAF được nêu lên với mục đích thử thách thiện chí của chính quyền trong việc nhìn nhận vai trò quan trọng của cộng đồng công dân Mỹ gốc Việt trong sự phát triển quan hệ giữa hai nước. Nếu một dự án hoàn toàn phù hợp với đạo lý con người như của VAF, nhất là đối với những người đã khuất, mà lãnh đạo trong nước vẫn không chịu giải quyết dứt khoát thì chắc chắn sự phát triển quan hệ giữa hai nước sẽ gặp nhiều trở ngại khó vượt qua. Đó là lý do khi VAF bị ngăn cấm, các thân hữu của tổ chức đã vận động được Quốc hội Mỹ lên tiếng can thiệp và Bộ Ngoại giao Mỹ cũng quyết định đưa dự án của VAF vào những cuộc thảo luận song phương.

Kết quả tức thời là chính quyền tỉnh Bình Dương đã cho phép VAF tiếp tục chương trình trùng tu các ngôi mộ nhưng vẫn phải qua tên cá nhân (chủ tịch VAF đã phải nhờ ông Lê Thành Ân, cựu TLS Mỹ, tạm thời đứng tên xin phép trùng tu một số mộ) và hợp tác thực hiện việc cắt bỏ những cây đã mọc trên mộ và làm sạch cỏ tại những lô mộ đã trùng tu. Tuy nhiên, đây vẫn có thể chỉ là những đáp ứng rất hạn chế trong kế hoạch trì hoãn việc trùng tu NTBH, thâu hẹp diện tích nghĩa trang để lấy đất cho thuê, khuyến khích gia đình tử sĩ đưa hài cốt thân nhân về quê hay cải táng ở nơi khác, tạo sự cạnh tranh giữa các hội đoàn thiện nguyện người Việt ở nước ngoài. Tất cả những hoạt động có tính phá hoại này đều nhắm đến mục tiêu tối hậu là không để cho NTBH trở thành một di tích lịch sử của cuộc nội chiến 20 năm. Tới đây cũng cần nói thêm là VAF không có ý định độc quyền trùng tu NTBH nên đã kêu gọi mọi người cùng trùng tu mộ và sẵn sàng lui bước nếu có hội đoàn nào được cộng đồng và hai Chính phủ Mỹ, Việt tín nhiệm, có đầy đủ khả năng đạt được mục tiêu tối hậu là NTBH được duy trì và bảo quản như một di tích lịch sử. Quan trọng nhất là phải chứng tỏ được sự minh bạch về tài chánh và lề lối làm việc. Tôi nghĩ phương cách thực tế và có hiệu quả nhất là các hội đoàn đã hay muốn tham gia công việc trùng tu mộ nên phối hợp với chương trình trùng tu theo kế hoạch và mô hình thống nhất của VAF. Như vậy vừa giữ được sự tín nhiệm của cộng đồng, tránh được nạn thâm lạm quỹ trùng tu, vừa vô hiệu hóa được âm mưu chia rẽ của những kẻ có ác ý. Với sự ủng hộ của Chính phủ và Quốc hội Mỹ, chương trình trùng tu NTBH sẽ mau chóng đạt được mục tiêu mong muốn.

Vì nguồn gốc là tị nạn cộng sản sau biến cố tháng Tư 1975, cộng đồng công dân Mỹ gốc Việt không thể đương nhiên đóng góp tiền bạc và trí tuệ cho sự phát triển đất nước chỉ vì được các lãnh đạo VN phong cho nhãn hiệu “khúc ruột ngàn dặm” hay “một bộ phận không thể tách rời của dân tộc”. Xin đừng quên rằng khi ra đi trong cơn nguy cấp, người tị nạn đã phải bỏ lại hết tài sản và sự nghiệp, mồ mả tổ tiên, bà con và bạn bè thân thiết. Hiện tượng “thuyền nhân” vượt biển gian nan và bi thảm chưa từng thấy trong lịch sử loài người đã diễn ra liên tiếp trong gần hai chục năm. Mấy trăm nghìn đồng bào đã phải làm mồi cho cá biển, hàng nghìn phụ nữ đã bị hải tặc hãm hiếp hay bắt đi mất tích. Ngót một triệu người khác đã phải trải qua cuộc sống khổ cực trong các trại tạm trú ở Hong Kong và Đông Nam Á cho đến khi được chấp thuận đi định cư ở một quốc gia đệ tam hay bắt buộc phải hồi hương, đợt cuối là vào năm 1995. Cũng không thể không nhắc đến gần một triệu quân nhân, công chức bị đày đọa trong các trại lao động cải tạo khiến hàng chục ngàn người đã chết trong thời gian bị cầm tù, từ dưới 1 năm đến 15 năm hay hơn nữa. Những người sống sót khi được thả về đã bị đối xử kỳ thị trong nhiều năm, không có công ăn việc làm, con cái không được đi học. Rất nhiều gia đình đã bị tan vỡ hay ly tán.

Sau 40 năm định cư và hội nhập thành công ở Hoa Kỳ nay đã đến thế hệ thứ ba, người Việt tị nạn đã trở thành công dân Mỹ và đã hội nhập thành công trên mọi địa hạt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Không ai có thể quên được quá khứ đau thương nhưng đa số đều hướng về tương lai, mong muốn và sẵn sàng giúp cho quê hương thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và trở thành một quốc gia phát triển. Theo tạp chí Tài hính ở trong nước (9/2/2015), “tổng lượng kiều hối năm 2014 cán mốc 12 tỷ USD. Số lượng dự án được các kiều bào đăng ký đầu tư về nước đến thời điểm này là 2.000 dự án, mang về nguồn lợi khoảng 20 tỷ USD mỗi năm”. Thử tưởng tượng Việt Nam thật sự quyết định thoát Trung, hợp tác chiến lược với Hoa Kỳ ở Biển Đông Nam Á, tham gia Hiệp ước Thương mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP) và chủ động dân chủ hóa chế độ, thì lượng kiều hối từ người Việt ở nước ngoài chắc chắn sẽ gia tăng tới bao nhiêu, nhất là khi đó sẽ có thêm sự đóng góp trí tuệ của hàng chục nghìn nhân tài gốc Việt ở Hoa Kỳ và các nước khác vào sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Việt Nam sẽ có những “tiền đồn” trợ lực vững mạnh từ những cường quốc văn minh nhất trên thế giới.

Nhưng triển vọng tốt đẹp ấy chỉ có thể thành sự thật nếu chế độ độc tài toàn trị được thay thế bời một chế độ của dân, do dân và vì dân. Sự chuyển đổi thể chế này, như trên đã trình bày, hoàn toàn là vấn đề nội bộ, giữa chính quyền và nhân dân trong nước. Hoa Kỳ không liên quan và, do luật Neutrality Act, cũng đã chính thức xác định “không can thiệp vào những vấn đề nội bộ của Việt Nam”. Công dân ngoại quốc gốc Việt cũng mong muốn có sự chuyển hóa trong hòa bình và cũng chỉ có thể đóng vai trò hỗ trợ. Chính quyền cần phân biệt những tổ chức muốn có vai trò chính trị ở trong nước với các NGO thuần túy. Các tổ chức xã hội dân sự ở trong nước có thể đón nhận sự trợ giúp của những nhóm vận động cho nhân quyền ở bên ngoài nhưng cần hiểu rõ động cơ cá nhân của những người cầm đầu để có thể tránh bị lợi dụng bởi những “nhà thầu” đầy thủ đoạn nhưng đã có nhiều thành tích xấu trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Một số trí thức có uy tín ở trong nước như TS Nguyễn Quang A hay GS Nguyễn Huệ Chi, do có nhiều dịp xuất ngoại tiếp xúc với nhiều cá nhân và tổ chức cộng đồng, có thể cung cấp những thông tin chính xác về động cơ và khả năng hỗ trợ của những cá nhân và tổ chức ở bên ngoài. Tất nhiên, nếu Việt Nam trở thành một quốc gia dân chủ thì Chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ, trong đó có công dân Mỹ gốc Việt, sẽ ủng hộ Việt Nam mạnh mẽ hơn nữa. Mọi đảm bảo đã có sẵn, vấn đề chỉ còn là chính quyền Việt Nam có muốn thực hiện hay không.

Cách mạng Nhung ở Việt Nam?

Thực tế chính trị ở nhiều nước cho thấy sự thay đổi từ một chế độ độc tài toàn trị sang chế độ dân chủ tam quyền phân lập không thể diễn ra trong một sớm một chiều, ngay cả trong trường hợp cách mạng bạo động. Đã có nhiều chế độ độc tài bị lật đổ bằng bạo động nhưng lại được thay thế bằng một chế độ độc tài khác. Trái lại, có nhiều cuộc chuyển hóa thể chế một cách hòa bình đã thành công như trường hợp Hung-ga-ri, Đông Đức hòa nhập vào Tây Đức, “cách mạng Nhung” ở Tiệp Khắc và nhiều nước Đông Âu khác, trong đó lãnh đạo cộng sản đã phải trao quyền lại cho một chính quyền dân chủ. Trong trường hợp Việt Nam, Đảng Cộng sản đã phạm quá nhiều sai lầm và tội ác, đã trở thành một đảng độc tài, tham nhũng, phản bội nhân dân và các đảng viên yêu nước, nhưng vẫn có thể tồn tại đến ngày nay là nhờ sự bảo hộ của Trung Quốc do nhóm lãnh đạo Hà Nội sang Thành Đô cầu cứu năm 1990. Từ đó, Bắc Kinh đã có cơ hội sử dụng quyền lực mềm để từng bước lấn chiếm lãnh thổ, cướp đoạt tài nguyên trên đất và trên biển, lèo lái đường lối chính trị, lũng đoạn kinh tế và Hán hóa dân tộc Việt. Hơn thế nữa, Trung Quốc còn dùng Việt Nam làm căn cứ chiến lược để làm chủ toàn thể Biển ĐNÁ, kiểm soát toàn thể các nước ASEAN, do đó xâm phạm lợi ích cốt lõi của Hoa Kỳ và đe dọa các nước trong khu vực.

Thái độ lộng hành của Trung Quốc cùng với lời Ngoại trưởng Dương Khiết Trì răn đe các nước ASEAN là “những nước nhỏ” đã khiến cho các nước trong khu vực đều trông cậy vào sự hiện diện của Hoa Kỳ ở Biển ĐNÁ. Khi xảy ra vụ giàn khoan HD-981, Tập Cận Bình nhiều lần từ chối gặp TBT Nguyễn Phú Trọng làm cho nhóm lãnh đạo thân TQ bị mất mặt và thấy rõ mình bị phản bội và khinh thường trắng trợn. Sau đó, khi Dương Khiết Trì sang Việt Nam kêu gọi “đứa con hoang hãy trở về” thì nhân dân Việt Nam bỗng sục sôi lòng yêu nước và sẵn sàng nổi dậy ủng hộ bất cứ một chính biến nào loại trừ những kẻ còn bám víu vào TQ.  Đó là những lý do khiến ông Nguyễn Phú Trọng và phe thân Tàu có thể đã quyết định phải thoát khỏi sự khống chế của Trung Quốc và quay sang hợp tác với Hoa Kỳ. Tuy nhiên, sự chuyển hướng ấy vẫn còn dè dặt, chậm chạp, vì lãnh đạo cộng sản vẫn sợ là đi với Hoa Kỳ thì chế độ sẽ bị lật đổ. Chính vì thế mà Tổng thống Hoa Kỳ đã phải hai lần xác nhận, lần đầu với Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và lần thứ hai với Tổng bí thư Đảng Nguyễn Phú Trọng, rằng Hoa Kỳ “tôn trọng thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ (của Việt Nam)”. Tiếp theo đó, trong buổi họp báo ở Hà Nội cuối tháng Bảy vừa qua, Đại sứ Hoa Kỳ Ted Osius còn nói rõ hơn, là “Mỹ không tìm cách thay đổi thể chế chính trị của Việt Nam”. Điều đó khẳng định chính sách của Mỹ là tôn trọng sự khác biệt về thể chế chính trị của mỗi quốc gia vì đó là chuyện nội bộ của mỗi nước. Đại sứ Osius nhắc lại điều đó với mục đích làm cho Việt Nam được yên tâm trong các nỗ lực cải thiện nhân quyền như đã ghi rõ trong bản Tuyên bố chung. Nhưng điều đó lại có thể bị Việt Nam mượn cớ để duy trì chế độ độc tài, độc đảng. Nói như TS Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập ở Việt Nam, “điều đó lên giây cót cho chế độ chính trị ở Việt Nam”.

Đây là một vòng luẩn quẩn, một tình trạng bế tắc chính trị mà Việt Nam cần phải quyết tâm thoát ra khỏi sớm ngày nào hay ngày ấy.

Như tại Đại hội lần thứ 10 Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức ở Hà Nội ngày 9/8/2015, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo truyền thông báo chí nhà nước cần tỉnh táo trước thông tin lợi dụng dân chủ đòi đa nguyên đa đảng, lợi dụng chống tham nhũng để bôi xấu chế độ và chia rẽ nội bộ. Tuyên bố này đã khiến quan sát viên của đài RFA nêu câu hỏi là Việt Nam sẽ cải cách bằng cách nào khi tiếp tục không chấp nhận đa nguyên chính trị?

Câu hỏi này đã được TS Phạm Chí Dũng, từ giới truyền thông độc lập am hiểu tình hình trong nước, trả lời rằng ông được nghe thông tin là “trong Đại hội 12 sẽ không diễn ra sự thay đổi lớn về triết lý chính trị… Tôi hiểu là tất nhiên họ vẫn không chấp nhận đa nguyên đa đảng”.

TS Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển IDS đã tự giải thể năm 2008 vì bị mất tính độc lập, hiện là đại diện của Diễn đàn Xã hội Dân sự, cũng trả lời RFA rằng “Nhà nước không chấp nhận đa nguyên chính trị, và đó là nguyên nhân của tình trạng bê bết vì tham nhũng, kinh tế ách tắc hiện nay”. RFA còn nhắc lại những nhận định mạnh mẽ trước đó của TS Nguyễn Quang A: “Do chuyện chỉ có độc đảng, không có cạnh tranh chính trị, không có một thế lực độc lập lành mạnh luôn luôn canh chừng để vạch ra những việc làm bậy bạ của những người đương chức và nó luôn kè kè là đến cuộc bầu cử tới mà các ông làm bậy, thì dân bằng lá phiếu của mình sẽ đẩy các ông xuống và chúng tôi sẽ lên. Đây là một cơ chế hùng mạnh vô cùng, để buộc người ta bớt tham nhũng đi. Khi buộc người ta bớt tham nhũng đi thì các chính sách mới thực sự thúc đẩy nền kinh tế thị trường…”

Câu hỏi của RFA về tình trạng tiến thoái lưỡng nan của Đảng, vừa muốn cải cách chính trị vừa muốn duy trì độc tài độc đảng, cũng là vấn đề tôi đã nêu ra ở trên là cần thoát khỏi vòng luẩn quẩn và khai thông tình trạng bế tắc chính trị hiện thời. Tôi đã đề nghị giải pháp thích hợp là Đảng và Nhà nước mở ngay những cuộc tham khảo với trí thức cấp tiến để sớm thiết lập một lộ trình (road map) chuyển hóa thể chế từ độc tài sang dân chủ một cách hòa bình và ổn định.

Sau lá thư gửi Bộ Chính trị của Thủ tướng Võ Văn Kiệt năm 1995, trước Đại hội Đảng lần thứ 9 cho đến nay, qua các Đại hội Đảng 10 và 11, nhiều lão thành cách mạng, đảng viên, trí thức, đã lên tiếng về hiểm họa Trung Quốc, đổi mới chính trị và nhiều vấn đề quan tâm khác, dưới những hình thức kiến nghị, tuyên bố và thư ngỏ. Trước tình hình khẩn cấp hiện nay, lãnh đạo đã ý thức được nhu cầu chuyển hướng cần lắng nghe tiếng nói của nhân dân, nhất là trực tiếp tham khảo với trí thức trong và ngoài đảng. Viện Nghiên cứu Phát triển IDS cần được phục hồi, có thể đổi tên, và mở rộng. Trí thức trong và ngoài nước đã đóng góp nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, kể cả dự án cải cách toàn diện. Đầu năm 2015, bảy tổ chức XHDS trong nước cùng để ra chương trình hoạt động “Năm 2015 là Năm Công Dân”, mong muốn chuyển hoá một cách ôn hoà chế độ độc tài toàn trị hiện tồn sang chế độ dân chủ với những bước đi thích hợp. Một tài liệu khác cần xem xét trong việc thiết lập lộ trình chuyển hóa thể chế chính trị là bài viết mới đây của TS Nguyễn Quang A, “Dân chủ hóa: Vài bài học quốc tế và kịch bản khả dĩ cho Việt Nam” (Hội thảo Hè, Berlin, 24-25/7/2015). Tác giả đã tìm hiểu quá trình chuyển đổi chính trị tại 14 quốc gia từ 1945 đến nay, rút ra một số bài học thực tế và trình bày một số tiếp cận có thể áp dụng cho Việt Nam. Khi các dự thảo văn kiện Đại hội 12 được công bố, sự đóng góp ý kiến và nhận định của chuyên gia các giới về cương lĩnh, báo cáo chính trị và chiến lược phát triển kinh tế, xã hội chắc chắn sẽ rất phong phú và sôi nổi. Câu hỏi lớn là bản đúc kết các văn kiện vào cuối năm cho Đại hội 12 có đáp ứng được sự mong đợi của nhân dân hay không?

Quả thật, tình hình chính trị Việt Nam chưa bao giờ bí mật và khó hiểu như đang diễn ra trước Đại hội 12. Chỉ thấy rõ là có sự đấu đá kịch liệt trong nội bộ Đảng, nhất là từ khi trang blog “Chân Dung Quyền Lực” bỗng nhiên gây chấn động dư luận trong và ngoài nước với một loạt bài tố cáo đích danh một số tham nhũng gộc trong hàng ngũ lãnh đạo trong mấy tháng cuối 2014 và đầu 2015. Chiến dịch triệt hạ uy tín của nhau khi lên đến mức báo động cho số phận của Đảng thì tạm ngưng (chắc để điều đình với nhau) cho đến khi TBT Nguyễn Phú Trọng đi Bắc Kinh vào tháng Tư và đi Washington vào tháng Bảy. Hai tuần trước khi ông Trọng sang thăm Mỹ thì sự cố về “sức khỏe” của Bộ trưởng Quốc phòng bùng nổ với những tin tức trái ngược và những hình ảnh đáng ngờ vực ngay cả trên các báo giấy hay báo mạng “lề phải” (của chính quyền). Một số lãnh đạo cao cấp lại có những phát biểu chính thức rất tự mâu thuẫn, như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đọc bài diễn văn gây kinh ngạc nhất trong ngày kỷ niệm 30.4.2015 bày tỏ lòng nhớ ơn “sự giúp đỡ quý báu của Trung Quốc” và tố cáo “tội ác dã man của Đế quốc Mỹ”. Những quan sát viên bình tâm theo dõi tình hình sẽ phải kết luận rằng đây là tình trạng “hỏa mù” do chính các phe chống đối nhau trong bộ máy quyền lực đưa ra để dư luận bị hoang mang, khó ủng hộ hay chống đối phe nào cho đến khi các dự thảo văn kiện Đại hội được công bố (nếu có theo thường lệ) cho thấy phe nào đã thắng hay các phe đã đạt được một đồng thuận nào đó.

Dù sao, các giới nhân dân không nên mất thì giờ chạy theo các nguồn tin trái ngược để phỏng đoán sự thật. Dù kết quả thế nào, đi theo Tàu hay đi với Mỹ, hay vẫn nhập nhằng “bình mới rượu cũ” thêm 5 năm nữa, trí thức và các tổ chức xã hội dân sự vẫn phải tập trung nỗ lực vào việc xây dựng sức mạnh nhân dân để có thể ứng phó với mọi tình huống một cách thích hợp. Kết quả mong đợi là một tiến trình chuyển hóa thể chế ôn hòa từ độc tài sang dân chủ, nhưng nếu phe bảo thủ thân Tàu nắm được ưu thế thì chỉ một ngòi nổ bất thường sẽ gây ra bạo loạn. Trong giai đoạn quyết định này, trí thức, xã hội dân sự và các đảng viên yêu nước không thể chần chừ đòi hỏi chính quyền phải dứt khoát từ bỏ chính sách mập mờ, nói một đàng làm một nẻo. Bằng mọi cách, phải ngăn chặn ý đồ duy trì chế độ độc đảng độc tài mà hậu quả là đất nước sẽ hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Quốc trong 5 năm tới.

Lãnh đạo Đảng đã biết rõ sự chán ghét và bất mãn của dân chúng đang gia tăng và lan rộng nên đã cho thấy ý muốn thoát Trung, nhưng đây có thể chỉ là một bước lùi chiến thuật của Đảng để duy trì và củng cố quyền lực. Trí thức và xã hội dân sự cần phải huy động các mầm mống bất mãn của nhân dân thành một hậu thuẫn mạnh mẽ cho phong trào đổi mới, hoan nghênh bước lùi của Đảng để đẩy tới tiến trình chuyển hóa chế độ chính trị. Hãy bắt đầu bằng việc kêu gọi chính quyền thực hiện “những nỗ lực không mệt mỏi” mà TBT Nguyễn Phú Trọng đã tuyên bố tại thủ đô nước Mỹ khi đề cập đến vấn đề nhân quyền. Cụ thể là yêu cầu chính quyền chấp nhận đối thoại với trí thức và đảng viên yêu nước, thả những người bị giam giữ vì biểu tình chống Trung Quốc xâm lược, vì vận động cải thiện nhân quyền hay phát biểu chính kiến khác biệt, ngưng mọi hành động cướp đất và đàn áp dân oan, hợp tác hơn với các NGO nước ngoài gốc Việt, v.v.

Những yêu cầu nhẹ nhàng này là những bước thử thách thiện chí của nhà cầm quyền về việc chuyển lời nói thành hành động, qua đó sẽ dễ dàng nhận ra đường lối đích thực của Đảng và Nhà nước là vì dân hay phản dân. Nếu chính quyền chấp nhận những yêu cầu hợp lý trên đây và đồng ý cùng thảo luận với trí thức cấp tiến về một lộ trình dân chủ hóa trong hòa bình và ổn định thì đó sẽ là đại phúc cho dân tộc. Cuộc chuyển đổi thể chế trong ôn hòa này sẽ còn tốt đẹp hơn cuộc “Cách mạng Nhung” ở Tiệp Khắc, vì sự ra đi của Tổng Bí Thư Milos Jakes và đám lãnh đạo cộng sản ngoan cố ở Tiệp chỉ xảy ra sau một chuỗi sự kiện khởi đầu bằng một vụ đàn áp sinh viên biểu tình kỷ niệm 50 năm cái chết của sinh viên Jan Opletal bị quân Đức Quốc xã sát hại. Vụ đàn áp biểu tình này được dàn dựng bởi chính cơ quan mật vụ StB, tung tin đồn là có một sinh viên tên Martin Smid bị công an đánh chết. Do phản ứng dữ dội của quần chúng, Diễn đàn Công dân (Civic Forum) của Vaclav Havel ra tuyên cáo yêu cầu tập đoàn lãnh đạo phải từ chức, sau đó là những cuộc biểu tinh bất bạo động của hàng trăm ngàn người trong mười ngày trên toàn quốc. Công an không chịu đàn áp biểu tình và quân đội cũng không chịu can thiệp. Cuối cùng, khi Diễn đàn Công dân kêu gọi một cuộc tổng đình công và hầu hết công nhân Tiệp Khắc tham gia thì bè lũ Milos Jakes đành chịu thất bại và nhục nhã ra đi.

Tóm lại, Đại hội toàn quốc Đảng CS lần thứ 12 sẽ thông qua các văn kiện Đảng và xác định chiều hướng chính sách đối nội và đối ngoại trong 5 năm sắp tới. Kết quả là một cuộc chuyển hóa thể chế êm đẹp sẽ diễn ra hay chế độ độc tài độc đảng sẽ tiếp tục thống trị đất nước một cách  khắc nghiệt hơn và tàn bạo hơn? Hi vọng rằng đa số lãnh đạo đủ tỉnh táo nhận ra chiều hướng tất yếu của lịch sử và thời điểm đã tới để lựa chọn một giải pháp vừa an toàn cho mọi người vừa có lợi ích to lớn cho đất nước. Mọi người Việt Nam trong và ngoài nước đều đang theo dõi và chờ đợi các dự thảo văn kiện Đảng có thể được công bố vào tháng tới và đúc kết trước cuối năm 2015. Chắc chắn một điều là ý Dân và ý Trời sẽ không cho phép một chính quyền mới tiếp tục duy trì chế độ độc tài độc đảng và quan hệ lệ thuộc vào Trung Quốc. Đã đến lúc phương châm nhảm nhí “16 chữ vàng và 4 tốt” do Bắc Kinh áp đặt phải được vứt bỏ vào sọt rác của lịch sử. Đã đến lúc nhà cầm quyền phải trả lại cho nhân dân những quyền đã được quy định trong điều 3 của Hiến pháp 2013, thực hiện những điều hứa hẹn về một xã hội “công bằng, dân chủ, văn minh”.

Chuyển hóa chế độ trong hòa bình và ổn định, hay châm ngòi cho một cuộc bạo loạn thảm họa cho chế độ? Cứu nước hay bán nước? Đó là câu hỏi cần được lãnh đạo Đảng và Nhà nước trả lời minh bạch trước Đại hội toàn quốc thứ 12.

L.X.K.

22 tháng 8, 2015

Tác giả gửi BVN

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ và Phật Giáo Thời Ðại

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ

và Phật Giáo Thời Ðại

Lê Hiếu Liêm

 

Chương một: Dẫn nhập Việt Nam và Phật Giáo đầu thế kỷ hai mươi.

 

Đầu thế kỷ 20, tư tưởng Nho Giáo, thống trị độc tôn đất nước từ Thời Hồ Quý Ly, nhà Lê và nhà Nguyễn suốt 400 năm, hoàn toàn sụp đổ. Tư tưởng Phật Giáo, ngự trị vinh quang trong thời đại Lý Trần từ thế kỷ thứ 11 đến cuối thế kỷ 14, suy đồi tận gốc. Tư tưởng Tây Phương và tôn giáo của nó, Thiên Chúa Giáo La Mã, bị đại đa số trí thức và nhân dân coi như sản phẩm và công cụ của chế độ Thuộc Địa và thực dân Pháp nên vẫn không được chấp nhận. Ý thức hệ Cộng Sản cũng như các tư tưởng mới khác chưa ra đời. Cả một khoảng trống tư tưởng, cũng có nghĩa là một khoảng trống tôn giáo và chính trị, to lớn bao trùm trên một nước Việt Nam bị nô lệ, bóc lột, áp bức, lạc hậu và nghèo đói. Nhưng đây cũng là môi trường lý tưởng cho sự ra đời của những tư tưởng mới, những tôn giáo mới, những chính đảng mới và những phong trào mới: Phong trào Đông Du và Việt Nam Duy Tân Hội của Phan Bội Châu từ năm 1904,Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can và các nhà Nho tiến bộ năm 1907, tư tưởng dân quyền và dân chủ của Phan Chu Trinh suốt hai mươi năm (1905-1925), phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội cùng năm, Việt Nam Quang Phục Hội năm 1912, cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ và ở Huế năm 1916 của Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, vua Duy Tân…, phong trào Hội Kín ở miền Nam năm 1913-1916 lan rộng khắp Lục Tỉnh và cuộc tấn công Sài Gòn năm 1916. Các hoạt động này đã liên tục diễn ra từ đầu thế kỷ 20 đến cuối đệ nhất thế chiến.

Tuy nhiên mãi đến đầu thập njiên 20 Việt Nam mới thật sự thức dậy với sự ra đời Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng Chí Hội và Tân Việt Cách Mạng Đảng năm 1925, Đạo Cao Đài năm 1926, Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927, Cuộc khởi nghĩa Yên Bái và sự ra đời của Đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930 và phong trào Sô Viết Nghệ Tỉnh 1930-1931.

 

Trong thời gian sôi động này, từ 1925 trở đi, Phật Giáo cũng đã thức dậy. Từ năm 1923, thiền sư Khánh Hòa và thiền sư Thiện Chiếu đã thành lập, tại chùa Long Hòa ở Trà Vinh, Hội Lục Hòa Liên Hiệp với mục đích vận động thành lập một Hội Phật Giáo Việt Nam toàn quốc để chấn hưng Phật Giáo. Thiền sư Thiện Chiếu, khác hẳn tất cả tăng sĩ Phật Giáo đương thời, là một tăng sĩ có tân học. Ông đã đi ra Trung và Bắc vận động thống nhất Phật Giáo năm 1927 nhưng bất thành.

Năm 1928 thiền sư Khánh Hòa xây dựng Thích Học Đường và Phật Học Thư Xã tại Chùa Linh Sơn, Sài Gòn và năm 1929 Ông cho ấn hành tạp chí Viên Âm, tập san Phật Học đầu tiên bằng quốc ngữ tại Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Xoài Hột, Mỹ Tho. Cùng thời, thiền sư Thiện Chiếu xuất bản một tạp chí Phật Học nhắm vào giới thanh niên trí thức lấy tên là Phật Hòa Tân Thanh Niên, đặt tòa soạn tại chùa Chúc Thọ ở Gia Định.

 

Năm 1931 thiền sư Khánh Hòa cùng nhiều tăng sĩ và cư sĩ thành lập Hội Phật Học đầu tiên tại Việt Nam, lấy tên là Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học và thiền sư Từ Phong được mời làm Chánh Hội Trưởng. Hội ra tờ Từ Bi Âm năm 1932. Thiền sư Khánh Hòa, cùng người cộng sự thân tín là thiền sư Thiện Chiếu đã đóng vai trò tiền phong khai mở phong trào chấn hưng Phật Giáo và hiện đại hóa Phật Giáo, chuyển động sâu rộng lịch sử Phật Giáo và lịch sử Việt Nam trong suốt 65 năm qua.

Tại miền Trung, thiền sư Giác Tiên mở Phật Học Đường  tại chùa Trúc Lâm năm 1929 và ủy thác cho đệ tử là bác sĩ Lê Đình Thám thành lập Hội An Nam Phật Học năm 1932. Hội quy tụ đông đảo những danh tăng và cư sĩ trí thức tại miền Trung. Cư sĩ Lê Đình Thám được bầu làm Hội Trưởng và vua Bảo Đại được mời làm Hội Trưởng Danh Dự. Hội ra tạp chí Phật Học Viên Âm năm 1933. Năm 1934, thiền sư Giác Tiên, cư sĩ Lê Đình Thám… đã thành lập Trường An Nam Phật Học, trong đó có mở cấp Đại Học Phật Giáo. Đặc biệt hơn nữa là Hội đã phát động phong trào “Chỉnh Lý Tăng Già” rất quyết liệt để loại trừ ra khỏi tăng già những thành phần phạm giới, bất xứng. Chính nhờ những nổ lực cấp tiến này mà Phật Giáo miền Trung đã đóng được một vai trò quan trọng trong những thập niên sau đó.

Năm 1934 các thiền sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo cùng với giới cư sĩ trí thức tên tuổi tại Hà Nội như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Dương Bá Trạc, Trần Văn Giáp, Nguyễn Năng Quốc, Nguyễn Hữu Kha, Bùi Kỷ, Lê Dư… thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội, bầu cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm hội trưởng và suy tôn thiền sư Thanh Hanh làm Thiền Gia Pháp Chủ. Đặc biệt là trong buổi lễ suy tôn Pháp Chủ này, cư sĩ Trần Trọng Kim đã thuyết pháp về đề tài; “Thập Nhị Nhân Duyên”. Hội ra tạp chí Đuốc Tuệ năm 1935 và phát triển mạnh mẽ khắp miền Bắc (Nguyễn Lang, Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, q 3, t 51-173).

Đặc tính của cả ba Hội Phật Học tại ba miền là vai trò nổi bật của giới trí thức cư sĩ, là thuần túy Phật học và sinh hoạt Phật sự. Thời điểm 1925-1945 là thời điểm chuẩn bị trong kiên nhẫn và thầm lặng. Các hội Phật Học đã làm đúng chức năng và vai trò lịch của mình, một cách khiêm tốn, từ đống gạch vụn đổ nát của nền Phật học và Phật Giáo Việt nam trong thời Thực Dân Pháp thống trị.

Trong thời kỳ này xuất hiện những con người đặc biệt, xuất sắc và những tư tưởng mạnh mẽ, quyết liệt, trong Phật Giáo cũng như ngoài Phật Giáo. Từ đầu thập niên 30, tư tưởng Phật Hộc của Thích Thiện Chiếu đã là những quả bom chấn động. Và năm 1939 Huỳnh Phú Sổ xuất hiện làm một cuộc cách mạng tôn giáo, cải cách toàn bộ và triệt để Phật Giáo chưa từng có trong hai ngàn năm lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Miền Nam, một vùng đất lạ lùng và kỳ diệu…

 

An Hòa Tự

Phan Chu Trinh từ Pháp trở về Sài Gòn năm 1925, đất nước bùng lên những làn sóng tư tưởng dân quyền và dân chủ. Ông khẳng định phải tìm nguyên nhân mất nước trong sự mất đạo đức, mất luân lý, trong bài diễn thuyết Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây, và ông cũng khẳng định chế độ quân chủ chuyên chế là nguyên nhân chính làm mất nước trong bài thuyết giảng Quân Trị Chủ Nghĩa và Dân Trị Chủ Nghĩa tại Sài Gòn năm 1925. Ông mất năm sau đó và đám tang ông cùng với cuộc vận động ân xá nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã khơi bùng phong trào yêu nước và yêu tự do dân chủ trên toàn quốc, đặc biệt là trong giới thanh niên.

Nhưng dữ dội, bốc lửa và sấm sét trong tư tưởng yêu nước chống thực dân cũng như tư tưởng tự do dân chủ, trong thời này, chỉ có Nguyễn An Ninh là đi xa nhất, quyết liệt nhất. Là một thanh niên miền Nam,Ông đi du học ở Pháp và trở về nước với bằng cử nhân Luật. Lợi dụng quy chế thuộc địa của Nam Kỳ, nơi mà báo chí bằng tiếng Pháp được tự do, không bị kiểm duyệt, Ông ra tờ La Cloche fèlèe (Tiếng Chuông Rè) từ năm 1923 đến năm 1926. Ông tự xưng tờ báo của Ông là “cơ quan tuyên truyền tư tưởng Pháp”, lấy tư tưởng của kẻ xâm lăng để đập những nhát búa tạ vào chế độ Thực Dân, đồng thời tờ báo cũng tự nhận là “cơ quan chuẩn bị cho tương lai dân tộc”. Thật là độc đáo và tuyệt vời.

Ngoài việc phê bình kịch liệt, thẳng tay chính sách và chế độ thực dân, Ông cổ võ cho việc đào tạo một tầng lớp thanh niên Việt Nam tân học, có văn hóa, có lý tưởng, có chí khí, có năng lực và có tổ chức vàÔng tuyệt đối tin vào sức mạnh và vào tương lai của nhân dân Việt Nam. Ông chủ trương một nước Việt Nam thống nhất từ Nam chí Bắc và trở về lịch sử dân tộc để tìm niềm tin và sức mạnh. Ông hô hào, khi chỉ mới ngoài 20 tuổi, “Chẳng những phải duy trì những giấc mộng vĩ đại, mà còn phải tổ chức thành một nhóm quan trọng để chuẩn bị cho tương lai”. Không những tư tưởng táo bạo, độc đáo, mới lạ, kiến thức của Ông cũng rất uyên bác. Khi Thống Đốc Nam Kỳ tuyên bố: “Xứ này không cần trí thức”. Ông đã viết bài trả lời bốc lửa: “… Những thảm khổ của chúng ta ngày nay, còn gì nữa, đúng là do tổ tiên của chúng ta đã sờ mó vào cây kiến thức. Hạng trí thức đã làm đảo lộn thế giới, làm hư hỏng hạnh phúc của thế giới. Hãy nguyền rủa tên tuổi của Prométhé, kẻ đã lấy trộm chút lửa của Trời. Hãy nguyền rủa con người đã bày ra cái ná cao su cho trẻ con bắn đá vào trán ông khổng lồ… Trí Tuệ, đó là cái tai hại. Trí tuệ, đó là con rắn cuốn quanh thân cây đã làm cho chúng ta vĩnh viễn mất cõi thiên đường… Nói đến vai trò giáo dục, vai trò văn minh của các ông chủ xứ Đông Dương này, thưa các ông, điều ấy làm ta mỉm cười… Người ta đã quỳ lụy bái phục những vị “đem ánh sáng tới”, những vị “làm điều kỳ diệu ở Ấu Châu”… Cái gì kỳ diệu? Thực ra cái kỳ diệu đó là, chỉ trong một thời gian ngắn thôi, người ta đã có thể làm cho trình độ trí thức của người Nam đã thấp đi lại càng rơi vào chỗ cực kỳ dốt nát. Cái kỳ diệu đó là người ta đã có thể, trong một thời gian ngắn như thế, xô đẩy một dân tộc có tư tưởng dân chủ, ngã nhào vào tình trạng nô lệ hoàn toàn“. (Trần Văn Giàu, Sự Phát Triển Của Tư Tưởng ở Việt Nam Từ Thế Kỷ 19 đến Cách Mạng Tháng Tám, q2, t 311).

Nguyễn An Ninh cũng là một trong những nhà trí thức tân học đầu tiên nghiên cứu Phật Học và hoàn thành một tác phẩm Phật Học quan trọng, cuốn “Phê Bình Phật Giáo”. Sau thời kỳ hoạt động sôi nổi từ 1923 đến 1926, Nguyễn An Ninh bị ở tù trong thời gian 1926-1927, sau đó Ông về nghiên cứu Phật Giáo. Trên bàn làm việc của Ông, có một cái chuông, một cái mõ, Ông cạo trọc đầu và đi chân không.Ông nghiên cứu Phật Giáo qua tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và các hoạt động Phật Giáo trong nước. Cuốn Phê Bình Phật Giáo xuất bản năm 1937 là kết quả của sự nghiên cứu này. Tựa đề của cuốn sách, 70 năm sau cũng không có ai dám viết một cuốn sách Phật Học có tựa đề thách thức và can đảm như vậy. Mục đích và phương pháp luận còn mới lạ, táo bạo hơn, đó là “so sánh Phật Giáo với thời đại của nó để chỉ chỗ hay, chỗ đúng hơn của nó đối với các thuyết khác và so sánh Phật Giáo với thời đại này để chỉ sai lầm của Phật Giáo“. Tác phẩm này được giới trí thức, giới chính trị cũng như giới Phật Giáo chú ý đặc biệt.

Nhưng không gây sóng gió và tranh luận suốt nhiều năm trời như những tác phẩm của Thích Thiện Chiếu.Đối với Tăng, Ni, Phật Tử thập niên 30, những tư tưởng Phật Học của Thích Thiện Chiếu là những tiếng sét ngang tai. Ngày nay đọc lại, chắc chắn quý vị tăng sĩ, cư sĩ và Phật Tử cũng không khỏi giựt mình, chấn động và suy nghĩ. Những tư tưởng này, được viết từ thập niên 30, ngày nay, cuối thập niên 90, vẫn còn mới, còn táo bạo, còn chứa đầy sức nặng của đá tảng và sức nổ của sấm sét. Thích Thiện Chiếu là tinh hoa sáng chói của Phật Giáo trong thập niên 20, 30. Ông đã đi tiền phong trong mọi lãnh vực chấn hưng và hiện đại hóa Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ 20 này.

Ta phải đứng trên một đỉnh núi cao, mới hy vọng nhìn thấy những cái gì chưa ai nhìn thấy, những cái gì nằm khuất sau dãy núi cao. đó có thể là những dãy núi cao hơn, hay là một đại dương mênh mông hay là một bình nguyên rực rỡ. Thích Thiện Chiếu là một ngọn núi cao của Phật học và Phật Giáo Việt Nam trước đệ nhị thế chiến. Ta hãy đứng trên đỉnh núi cao ngất, hùng tráng này để nhìn rõ một đỉnh núi cao ngất, hùng vĩ khác, là Cư sĩ, Bồ Tát, Giáo Chủ Huỳnh Phù Sổ.

 

|Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10| |TK|

[BHH430] [PGHH] [THƯ VIỆN PGHH]

About these ads

Occasionally, some of your visitors may see an advertisement here.

Tell me more | Dismiss this message

Categories: Sinh Hoạt của HĐTSTƯ | Leave a comment

Ẩn ý của việc Trung Quốc phát triển tàu hải cảnh công suất lớn

Ẩn ý của việc Trung Quốc phát triển tàu hải cảnh công suất lớn

Tờ Nhân dân nhật báo (People’s Daily) của Trung Quốc ngày 29/7/2015 đưa tin và hình ảnh về tàu hải cảnh “thế hệ mới” 12.000 tấn để thực hiện cái gọi là chấp pháp ở Biển Đông.[1] Công luận cần phải biết đến những ẩn ý nguy hiểm đằng sau động thái mới này.

Thứ nhất, đây là lực lượng quân sự trá hình. Chuyên gia Ryan D. Martinson (Viện Nghiên cứu biển Trung Hoa, Đại học Hải chiến Hoa Kỳ) có bài phân tích trên tạp chí The Diplomat tháng 11/2014 khẳng định điều này và cho rằng, lực lượng hải cảnh của Trung Quốc về danh nghĩa là bán quân sự nhưng thực chất là “tổ chức quân sự” vì tàu hải cảnh của Trung Quốc hoạt động tương đối giống với các tàu chiến loại nhỏ của Mỹ.[2] Cục Tình báo hải quân Mỹ cũng có nhận định tương tự trong Báo cáo đầu năm 2015 về hải quân Trung Quốc. Báo cáo này cho biết, Trung Quốc hiện là nước có hạm đội hải cảnh lớn nhất thế giới với 205 tàu lớn nhỏ các loại (95 tàu lớn và 110 tàu nhỏ), lớn hơn nhiều so với các nước Nhật Bản (78), Việt Nam (55), Indonesia (8), Malaysia (2) và Philippines (4) cộng lại. Vào cuối năm 2015, lực lượng hải cảnh Trung Quốc sẽ tăng 25% so với thời điểm năm 2012. Trong đó, phần lớn các tàu chấp pháp này được trang bị vũ khí hạng nhẹ như súng 12,7 mm, 14,5 mm và 30 mm, hệ thống ra – đa và các thiết bị thông tin. Một số tàu lớn còn có sân đỗ và buồng chứa trực thăng.[3]

Trong khi đó, cơ quan phân tích tình báo quốc phòng IHS Jane’s có trụ sở tại Luân Đôn (Anh) công bố thông tin cho biết Trung Quốc đang chuyển đổi các tàu khu trục thành tàu hải cảnh tại xưởng đóng tàu Phố Đông (Pudong) ở Thượng Hải.[4] Bốn tàu khu trục lớp Khương Duy 1 (Jiangwei I) phiên chế cho hải quân Trung Quốc từ năm 1991 và 1994 có chiều dài 112 mét, rộng 12 mét, lượng giãn nước 2.300 tấn với 2 trục máy diesel. Các tàu này đang được sơn trắng và thay tháo một số thiết bị vũ khí như bệ phóng tên lửa chống hạm YJ83, bệ phóng tên lửa đối không HQ – 61, hệ thống súng 100 mm và hai bệ súng hai nòng 37 mm ở cuối tàu. Nhưng, hai bệ súng hai nòng 37 mm ở phía trước được giữ lại.

Thứ hai, Trung Quốc trong khi tiếp tục trì hoãn việc đàm phán, thương lượng giải quyết vấn đề, thì lại rất nhanh chóng đưa lực lượng tàu mới này vào sử dụng để mở rộng khu vực kiểm soát xuống phía nam Biển Đông.[5]

Việc đổi mới và nâng cấp các tàu hải cảnh một mặt tạo thuận lợi cho Trung Quốc tăng cường hiện diện, hoạt động độc lập dài ngày ở các điểm nóng trên Biển Đông, mặt khác giúp nước này “tạo” và “đẩy” căng thẳng nhưng luôn trong vòng kiểm soát trước công luận quốc tế vì trên danh nghĩa đây không phải là lực lượng quân sự (hải quân).[6] Các căn cứ ở Trường Sa, nhất là trên Đá Chữ Thập ở rìa Tây quần đảo Trường Sa sẽ giúp các tàu hải cảnh của nước này hoạt động ở xa đất liền, và kiểm soát đường vận tải chiến lược, ngư trường trù phú cũng như tài nguyên thiên nhiên chưa được khai phá ở khu vực.[7]

Bên cạnh đó, các hoạt động đâm va, phun vòi rồng xua đuổi các tàu cá, tàu khảo sát địa chấn và tàu chấp pháp của các nước nhỏ tiếp tục xảy ra. Với lượng giãn nước gấp 3 lần tàu cảnh sát biển lớp Legend lớn nhất của Mỹ, và được thiết kế theo tiêu chuẩn của tàu quân sự, tờ báo của Trung Quốc cũng cho biết, tàu hải cảnh “thế hệ mới” của nước này có thể đâm va tàu 20.000 tấn và sẽ không hề hấn gì khi va chạm với những tàu 9.000 tấn, thậm chí còn có thể đánh chìm các tàu này.

Thứ ba, đây sẽ là bài toán khó cho Mỹ trong việc tìm kiếm chiến lược và biện pháp đối phó hữu hiệu[8] vì một số lý do: (i) để đối đầu với lực lượng chấp pháp bán quân sự của Trung Quốc, Mỹ không thể phối hợp hoạt động tốt với lực lượng chấp pháp biển của các nước đồng minh và đối tác ở khu vực nếu như không điều động tàu cảnh sát biển đến khu vực. Đây là cái khó vì Mỹ phải giám sát vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn (hơn 11,3 triệu km2) và vùng biển rộng lớn không có băng ở Bắc cực. Đội cảnh sát biển của Mỹ gần Biển Đông nhất là ở Guam chỉ có hai tàu tuần tra nhỏ lớp Island dài 33,5m và một tàu phao nhưng phải thực hiện nhiệm vụ tuần tra vùng nước xung quanh các đảo Guam, Bắc Mariana, Cộng hòa Palau và Nhà nước liên bang Micronesia với tổng diện tích chiếm tới 43% vùng đặc quyền kinh tế của Mỹ[9]. Ngoài ra, nhiều tàu cảnh sát biển của Mỹ đã đến thời kỳ phải thay mới để đảm bảo hoạt động. Theo Báo cáo cuối tháng 6/2015 của chuyên gia phân tích hải quân Ronald O’Rourke thuộc Cơ quan nghiên cứu Quốc hội Mỹ (U.S. Congress Research Service), Mỹ cần phải thay mới tới 90 tàu cảnh sát biển với chi phí lên đến 21,1 tỷ USD[10]; (ii) Mỹ dùng tàu hải quân để tuần tra sẽ bị Trung Quốc phản pháo là quân sự hóa Biển Đông. Động thái gần đây nhất phản ánh điều này là, đối phó với việc Mỹ đưa máy bay trinh sát săn ngầm P8 – A Poseidon bay trên đảo Trung Quốc bồi đắp ở Trường Sa và việc Mỹ tuyên bố đưa máy bay và tàu chiến vào khu vực 12 hải lý các đảo nhân tạo mà Trung Quốc đang xây dựng, Bộ Quốc phòng Trung Quốc hôm 30/7/2015 lên tiếng chỉ trích Mỹ và cho rằng Mỹ đang quân sự hóa Biển Đông[11]; (iii) trong khi đó, Trung Quốc sẵn sàng sử dụng tàu chấp pháp để đối đầu với hải quân Mỹ. Nếu khủng hoảng xảy ra Trung Quốc ở vị trí lợi thế hơn khi đề cập đến việc “sử dụng vũ lực”. Ngoài ra, giữa hai nước chưa có cơ chế tránh đụng độ liên quan đến lực lượng chấp pháp bán quân sự. Vụ tàu Impeccable tháng 3/2009 là một ví dụ điển hình. Bắc Kinh sử dụng tới năm tàu chấp pháp các loại ra ngăn chặn và răn đe tàu chiến của Mỹ. Để tránh những va chạm bất ngờ không tính trước trên biển, Trung Quốc và Mỹ là hai trong số các thành viên ký kết Bộ quy tắc ứng xử cho những chạm trán ngoài ý muốn trên biển (Code for Unplanned Encounters at Sea – CUES) tháng 4/2014. Tiếp đó, sau cuộc họp cấp cao giữa Tập Cận Bình và Tổng thống Mỹ Obama tháng 11/2014, hai bên ký Bản ghi nhớ chung (MOU) về các quy tắc ứng xử an toàn trong các vụ đụng độ trên biển và trên không. Các quy tắc được nêu trong bản phụ lục của MOU nhắc lại và đúc kết từ những nội dung kĩ thuật trong Công ước về các quy định quốc tế để phòng tránh đâm va trên biển năm 1972 (Convention on the International Regulations for Preventing Collisions at Sea – COLREG) và các quy định về va chạm được nêu trong CUES. Nội dung của các cơ chế này chủ yếu liên quan đến khía cạnh quân sự, chưa có điều khoản về các lực lượng chấp pháp bán quân sự hoặc dân sự.

Như vậy, việc Trung Quốc phát triển các tàu hải cảnh cỡ lớn vừa tạo điều kiện nước này tăng khả năng răn đe và mở rộng kiểm soát ở Biển Đông vừa gây khó cho Mỹ và các nước yêu sách khác trong việc tìm ra một chiến lược đối phó hữu hiệu với sự quyết đoán ngày một gia tăng của Trung Quốc ở Biển Đông./.

BDN

 

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Blog at WordPress.com.