Monthly Archives: October 2015

Xác minh trường hợp trẻ em nhớ được tiền kiếp là tu sĩ

Xác minh trường hợp trẻ em nhớ được tiền kiếp là tu sĩ

iStock_000002838926_Medium-676x450

Vũ trụ chứa đầy những điều bí ẩn và thách đố tri thức của nhân loại. Bộ sưu tập những câu chuyện “Khoa học Huyền bí” của Thời báo Đại Kỷ Nguyên về những hiện tượng lạ thường đã kích thích trí tưởng tượng và mở ra những khả năng chưa từng mơ tới. Chúng có thật hay không? Điều đó tùy bạn quyết định!

Tiến sĩ Erlendur Haraldsson, giáo sư danh dự tại trường Đại học Iceland ở thủ đô Reykjavik, chuyên nghiên cứu các trường hợp những đứa trẻ có biểu hiện nhớ lại tiền kiếp. Trong đó có một số trường hợp các em nhớ lại tiền kiếp là tu sĩ Phật giáo. Hơn nữa, trong một vài trường hợp này, những ký ức về tiền kiếp đã được ghi nhận lại ngay sau khi các em hồi tưởng về chúng (nghĩa là không sự gián đoạn thời gian khiến hồi ức bị bóp méo), và chúng dường như tương ứng với thông tin tiểu sử về những nhà sư đã qua đời.

Những trường hợp trong đó các em nhớ lại những chi tiết mà sau đó có thể hoặc đã được xác minh bởi các báo cáo thực tiễn về thông tin có thật của một người đã mất được các nhà nghiên cứu gọi là “trường hợp đã được giải quyết”. Những trường hợp trong đó những ký ức quá mơ hồ hoặc các chi tiết quá thiếu chính xác để có thể xác minh thì được gọi là “trường hợp chưa được giải quyết.”

Những “trường hợp được giải quyết” của những đứa trẻ nhớ lại tiền kiếp từng là tu sĩ khiến cho tiến sĩ Haraldsson quan tâm đặc biệt vì một lý do nữa: “Điều làm cho các … trường hợp đặc biệt thú vị không chỉ vì ký ức trùng khớp của chúng mà ngay cả đặc điểm hành vi mà chúng thể hiện. Mỗi đứa trẻ thể hiện hành vi rất tương đồng mà thậm chí còn rất đặc trưng của một tu sĩ”, Tiến sĩ Haraldsson và Godwin Samarartne viết trong một bài báo năm 1999 có tựa đề là “Trẻ em kể về tiền kiếp là một tu sĩ Phật Giáo” được công bố trên Tạp chí Journal of the Society for Psychical Research.

Quảng cáo

Không những không vui lòng về biểu hiện hành vi tu sĩ của chúng hoặc tỏ ra một chút khuyến khích, cha mẹ của chúng dường như còn cảm thấy lo lắng và bất an.

Trường hợp của Duminda Bandara Ratnayake

Duminda Bandara Ratnayake sinh năm 1984 ở một khu vực nông thôn miền núi của Sri Lanka có tên là Thundeniya.

Ratnayake thuật lại về ký ức về tiền kiếp của mình khi em mới khoảng 3 tuổi, bao gồm một số chi tiết như sau:

  1. Em đã từng là một lão hòa thượng tu hành ở chùa Asgiriya, cách quê hương hiện tại khoảng 16 dặm.
  2. Em đã từng bị đau ở ngực và té ngã, sau đó thì qua đời; em dùng từ “apawathwuna” chỉ được sử dụng khi nói đến sự kiện một nhà sư viên tịch.
  3. Em đã từng có một chiếc xe hơi màu đỏ.
  4. Em đã từng giảng dạy các tăng ni mới xuất gia.
  5. Em đã từng có một con voi.
  6. Em có bạn bè sống ở Đền Malvatta mà em từng hay lui tới.
  7. Em đã từng cất giữ một túi tiền và một đài radio ở Asgiriya và em muốn lấy lại nó.(Mẹ của em cảm thấy xấu hổ khi thuật lại điều này vì đây không phải là vật mà một chư tăng nên sở hữu).

Em không thích chơi đùa với những đứa trẻ khác mà chỉ tâm nguyện trở thành một nhà sư. Em tụng kinh Phật bằng ngôn ngữ Sinhala cổ xưa của Phật giáo, mà chỉ có các nhà sư mới biết và sử dụng. Em sống với nếp sống như một nhà sư, mặc quần áo giống như nhà sư, vào chùa và đặt hoa theo kiểu cách Phật giáo, và những hành vi đại loại như vậy.

Điều này thấm nhuần trong cuộc sống của em. Phong thái của em từ tốn, tao nhã và tách biệt thế gian. Em nói với mẹ của mình rằng bà không nên chạm tay em (phụ nữ không nên chạm vào tay của nhà sư).

Ngoài các thành viên gia đình của cậu bé, Haraldsson còn phỏng vấn một tu sĩ địa phương, người tu sĩ này đã quan sát hành vi của cậu bé và cảm thấy rằng cha mẹ của em không thể chỉ dạy em những hành vi này.

Liệu ký ức của em có phù hợp với cuộc đời của một chư tăng nào đó trong quá khứ không?

Đại đức Mahanayaka Gunnepana dường như là lão hòa thượng quá cố duy nhất phù hợp với mô tả của cậu bé. Theo ký ức của các vị sư khác – những người biết về Đại đức Gunnepana – ông từng sở hữu một chiếc xe màu đỏ hoặc có màu nâu đỏ. Ông qua đời vì một cơn đau tim. Ông thường xuyên giảng đạo (không phải tất cả các nhà sư đều giảng đạo, một số dành nhiều thời gian trong thiền định). Không ai biết rõ về việc ông đã từng sở hữu một con voi hay không, nhưng vị đại đồ đệ của Đại đức Gunnepana đã từng bắt được một con voi và đưa nó về ngôi làng quê hương của ông, nơi ông thường lui tới. Đại đức Gunnepana đã từng quan tâm đặc biệt về con voi. Nó đã chết ngay trước khi ông qua đời.

Ông không sở hữu đài radio nhưng ông là người duy nhất trong số một vài tu sĩ mà Haraldsson đã thu hẹp việc tìm kiếm những người sở hữu một cái gì đó tương tự như đài radio – đó là một cái máy hát. Có thể Ratnayake không biết mô tả một cái máy hát như thế nào ngoài cách dùng từ “radio”. Đại đức Gunnepana đặc biệt thích âm nhạc. Ông được tưởng nhớ đến như là một vị chư tăng đức hạnh luôn trì giới rất nghiêm. Tất cả những thông tin này dường như tương quan đến hành vi và đặc điểm tính cách của cậu bé cũng những hồi ức của em về tiền kiếp.

Haraldsson cho rằng cậu bé không thể học được những điều này từ gia đình hoặc những người mà em từng tiếp xúc. Ví dụ, mặc dù có khả năng là em đã học các bài kinh kệ từ đài phát thanh vốn được phát sóng rất sớm vào buổi sáng, nhưng những người dân địa phương nói với Haraldsson rằng không có đứa trẻ nào trong làng thuộc được kinh kệ bằng loại ngôn ngữ cổ và điều này cực kỳ không bình thường.

Trường hợp của Gamage Ruvan Tharanga Perera

Gamage Ruvan Tharanga Perera sinh vào tháng 8 năm 1987 ở huyện Kalutara, Sri Lanka. Khi em được 2 tuổi, em đã kể về tiền kiếp của mình là tu sĩ trong tu viện Pitumpke, một nơi mà cha mẹ em không hề biết đến, nhưng thật ra nó chỉ cách nhà em khoảng 20 dặm về phía nam.

Cậu bé nói trong đền có một con khỉ bằng đất nung, một lời khẳng định cụ thể đến mức không bình thường mà sau đó đã được xác minh là có thật. Thường thì các ngôi đền ở đây không có tượng khỉ.

Em cũng biểu hiện một số hành động giống người tu như ngồi thế hoa sen, mặc áo cà sa của tăng ni như thế nào, và cách thức tụng kinh cho đúng  – những điều mà em chưa hề được dạy. Em cũng không muốn ăn vào buổi tối (nhà sư thường không dùng bữa sau giờ ngọ), không muốn ngủ với mẹ của em (vì em nói rằng thầy tu không được ngủ cạnh phụ nữ), và vào buổi tối, em thực hiện một nghi lễ thờ cúng bằng việc trì tụng. Em khuyến khích các thành viên trong gia đình của mình làm theo mình, và thậm chí còn tỏ ra khó chịu khi họ không tuân theo. Em đã lên tiếng khi cha em mang rượu về nhà. Mặc dù tỏ ra không hài lòng nhưng những người biết về em đã nói với Haraldsson rằng em không bao giờ tỏ ra tức giận mà luôn nhẹ nhàng, ôn tồn.

Em hướng dẫn các bạn cùng lớp trong các nghi lễ tôn giáo, cư xử như một vị trụ trì. Tất cả họ đều kính trọng em – thầy cô và một số bạn cùng lớp của em đã kể với Haraldsson như thế. Giống như trường hợp của Ratnayake, Perera trì tụng kinh bằng loại ngôn ngữ cổ của Pali, mà có thể em đã học được từ radio hoặc truyền hình, nhưng cha mẹ em cho rằng điều đó rất khó xảy ra.

Cha mẹ em đều không quan tâm đến những hồi ức của em, họ cũng không khuyến khích em kể về chuyện đó. Haraldsson phát hiện trường hợp của em khi một phóng viên địa phương biết được câu chuyện về hồi ức tiền kiếp của em từ một hàng xóm của gia đình em.

Em không thích chơi với những đứa trẻ khác, mà yêu cầu được treo hình Đức Phật để thờ phụng, em vẽ hình ảnh cuộc đời của Đức Phật ở trong trường, và muốn ăn mặc giống như một thầy tu.

Cha mẹ của em sau đó đã đưa em đến ngôi đền Pitumpke. Em nhanh chóng chỉ ra con khỉ đất nung mà em đã kể với họ, nó nằm ở vị trí không dễ nhìn thấy cho lắm. Một số người bị thuyết phục rằng em chính là hóa thân của vị trụ trì trước đây của tu viện, Đại đức Ganihigama Pannasekhara (1902-1986).

Đại đức Pannasekhara và cả gia đình ông đều ăn chay, đó là một điều hiếm hoi ở Sri Lanka. Perera cũng năn nỉ được ăn chay.  Đại đức Pannasekhara trở thành vị trưởng trụ trì của quận Colombo vào năm 1972, điều này rất phù hợp với hành vi của Perera cư xử như một vị trụ trì. Đại đức Pannasekhara viên tịch vào tháng 1 năm 1986, 17 tháng trước khi Perera được sinh ra. Đặc điểm tính cách của Perera rất phù hợp với Đại đức Pannasekhara, bao gồm phẩm chất lãnh đạo mạnh mẽ và lòng nhiệt thành tụng kinh nơi công cộng. Một số tu sĩ ở ngôi đền này vẫn còn hoài nghi, do Perera không nhận ra được những người mà Đại đức Pannasekhara đã từng biết.

Perera không lớn lên trong môi trường tôn giáo. Haraldsson và Samarartne kết luận: “Chúng tôi không tìm thấy lời giải thích nào hợp lý cho đặc điểm hành vi lạ thường và khác biệt này của em mà không giống biểu hiện điển hình của một đứa trẻ chút nào”.

Chia sẻ bài viết này
Advertisements
Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

‘Lãnh đạo VN không hề sợ Trung Quốc?’

‘Lãnh đạo VN không hề sợ Trung Quốc?’

  • 29 tháng 10 2015

Quan hệ Việt - TrungImage copyrightchinhphu.vn
Image captionLãnh đạo và nhân dân Việt Nam ‘không hề sợ Trung Quốc’ mà chỉ sợ ‘không biết phát huy sức mạnh’ bản thân trong bảo vệ Tổ quốc, theo TS. Trần Công Trục.

Lãnh đạo Việt Nam và dân tộc Việt Nam không hề ‘sợ Trung Quốc’, theo một cựu quan chức lãnh đạo Ban Biên giới của Chính phủ Việt Nam đưa ra tại Bàn tròn Thứ Năm tuần này của BBC Việt ngữ.

Trao đổi với Tọa đàm hôm 29/10/2015 với chủ đề “ Phép thử của tàu Mỹ USS Lassen trên Biển Đông”, Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên Trưởng Ban Biên giới Chính phủ Việt Nam nói:

“Tôi nghĩ rằng (nói) các nhà lãnh đạo Việt Nam có sợ Trung Quốc, thì tôi cho rằng là không phải sợ Trung Quốc.

“Tôi nghĩ là họ không sợ Trung Quốc mà cả dân tộc này cũng không bao giờ sợ Trung Quốc.

“Chỉ sợ rằng là mình làm không đúng thôi, mình không biết phát huy sức mạnh của mình để mà có thể đấu tranh chống lại những hành động bành trướng phi lý của Trung Quốc thôi. Đấy là điều đáng sợ.

“Và tôi cũng muốn nói thêm rằng đúng là với tất cả hành động hiện nay, Trung Quốc làm cho dư luận của những ngưởi Việt Nam chúng ta, kể cả một số bạn bè quốc tế hết sức phẫn nộ và rất bất bình và thậm chí có những bức xúc, đứng về mặt tình cảm,” Tiến sỹ Trần Công Trục nói.

‘Vượt tầm’

Đánh giá về động thái tàu khu trục của Mỹ đi tuần và tiến vào khu vực Trường Sa hôm 27/10, thâm nhập khu vực 12 hải lý tính từ các đảo do Trung Quốc tự xây trên Biển Đông, cựu Trưởng Ban Biên giới Chính phủ Việt Nam, nói tiếp:

“Nhưng tôi nghĩ rằng trong bối cảnh hiện nay, trong quan hệ phức tạp của tình hình thế giới hiện nay, mà tôi cũng rất tán thành ý kiến của học giả (TS. Hà Hoàng Hợp tham gia Tọa đàm) từ Singapore, vấn đề quan hệ trong Biển Đông này, việc Mỹ có những hành xử đó thì nó không phải chỉ là vấn đề tự do hàng hải,”

“Mà đây là nó vượt qua tầm tự do hàng hải. Đây là vấn đề của sự đối đầu, sự thách thức của các siêu cường, tranh giành các vị trí siêu cường, và nó trở thành vấn đề quốc tế rất lớn rồi.

TS. Trần Công Trục
Image captionTiến sỹ Trần Công Trục tán thành ý kiến cho rằng hành động của tàu khu trục của Mỹ vào khu vực Trường Sao thể hiện sự ‘vượt tầm về tự do hàng hải’.

“Cho nên trong bối cảnh hiện nay, tình hình quốc tế và khu vực hết sức phức tạp và thậm chí có lúc nhân loại đã đứng bên bờ miệng hố của chiến tranh, đấy là điều mà chúng ta lúc này, lúc nọ đã được nghe.

“Cho nên mọi việc ứng xử, theo tôi nghĩ, không phải từ cảm xúc, không nên chúng ta dùng cảm xúc, có thể có những bất bình, có những ý kiến khác nhau, nhưng chúng ta phải bình tĩnh xử lý trên cơ cở chúng ta vận dụng được sức mạnh của mình.

“Tôi tán thành với ý kiến của ông Hoàng Ngọc Giao (khách mời Tọa đàm) rằng phải biết sử dụng sức mạnh của mình, đấy là sức mạnh về pháp lý, sức mạnh về chân lý, để chúng ta (Việt Nam) đấu tranh chống lại cái bành trướng của Trung Quốc, chứ không phải chúng ta dùng đến sức mạnh quân sự hay là những biện pháp vũ lực khác,” ông Trần Công Trục nêu quan điểm.

‘Chiến lược’

Tại Bàn tròn hôm thứ Năm, Tiến sỹ Hà Hoàng Hợp, nhà nghiên cứu về lợi ích chiến lược và chiến lược quốc tế từ Viện Nghiên cứu Đông Nam Á tại Singapore (ISEAS) cho rằng hành động của tàu khu trục Mỹ hôm 27/10 không chỉ là ‘một thách thức’, hay ‘một phép thử’ mà thể hiện một tầm ‘chiến lược’ vượt trên cả ‘tự do hàng hải’.

Nhà nghiên cứu cao cấp của ISEAS nói: “Vấn đề Trung Quốc làm việc đó ở Biển Đông bây giờ và cư xử của Mỹ vừa rồi nó ở trên cái cái tầm mà chúng ta gọi là tầm tự do hàng hải.

“Là vì sao? Người Trung Quốc từ năm 2001 người ta đã bảo người Mỹ rằng là ông ra khỏi vùng này đi, hãy để tôi quản vùng miền Tây của Thái Bình Dương, ông quản từ miền Tây Thái Bình Dương trở về đằng kia, tức là từ Hawaii trở về phía Mỹ.

“Còn từ Hawaii trở về bên này thì Trung Quốc chúng tôi quản. Từ 14 năm nay rồi, thế bây giờ cái Biển Đông họ dần dần tuyên bố như thế, rồi bây giờ họ bảo đấy là lợi ích cốt lõi của họ…

“Là họ (Trung Quốc) coi Biển Đông này là một bàn đạp vô cùng chiến lược cũng như về mặt quân sự, để họ thực hiện mục tiêu làm bá chủ vùng Tây Thái Bình Dương trong một thời gian không xa.

“Chúng ta nên xem xét việc này ở mức độ đó, cho nên việc Mỹ phản ứng như ngày 27 (tháng 10) vừa rồi là cả một chiến lược, chứ không phải là chỉ là thách thức, không phải chỉ là một phép thử.

Image captionTiến sỹ Hà Hoàng Hợp nhấn mạnh việc làm hôm 27/10 của Mỹ mang tầm vóc ‘chiến lược’ vượt trên cả ‘tầm tự do hàng hải’ và điều được cho là ‘thách thức’, ‘phép thử’.

“Họ (Mỹ) đã vào đấy, họ sẽ tiếp tục có những cái mà rồi sắp tới đây chúng ta sẽ thấy,” Tiến sỹ Hà Hoàng Hợp nhấn mạnh với Tọa đàm.

‘Lờ mờ’

PGS. TS. Hoàng Ngọc Giao, Viện trưởng Viện Chính sách Pháp luật & Phát triển nói với Tọa đàm cho rằng phản ứng của nhà nước Việt Nam, mà thông qua phát ngôn của người phát ngôn Bộ Ngoại giao trong sự kiện tàu Mỹ USS Lassen đi tuần ở Trường Sa, hôm 27/10 và trong nhiều sự kiện khác có liên quan trên Biển Đông, là ‘lờ mờ’, ‘lập trường thiếu rõ ràng’.

Ông nói:

“Tôi nghĩ rằng việc mà mình tuyên bố ngay sau hai ngày và với một tuyên bố có thể nói rất là lờ mờ, nó không rõ lập trường quan điểm, thì điều này nó không có gì là lạ.

“Tôi không đồng tình rằng là đây đã phản ánh được hết tâm tư, nguyện vọng của nhân dân Việt Nam.

“Rất nhiều người Việt Nam đã từ lâu mong muốn rằng chính phủ Việt Nam phải có thái độ dứt khoát với Trung Quốc. Cái đó là một thực tế.

“Cái thứ hai nói rằng chúng ta (Việt Nam) không ngại gì khi mà ông Tập Cận Bình ông sang đây (thăm Việt Nam), mà chúng ta không ngại gì, cho nên nó không liên quan tới chuyện đó, thì tôi không đồng ý.

“Cái thứ nhất hãy nhìn lại chiều dài lịch sử trong khoảng 3-4 năm trở lại đây khi Trung Quốc bắt đầu thể hiện những thái độ hung hăng, xâm lược. Những ngày đầu, tôi nhớ cách đây vài ba năm, tàu thuyền của ngư dân chúng ta (Việt Nam) bị Trung Quốc đập phá, đánh, nhưng mà báo chí chúng ta chỉ dám đưa tin là tàu lạ,” PGS. TS. Hoàng Ngọc Giao nói.

Sợ sệt?

Nguyên Phó Vụ trưởng, Ban Biên giới Chính phủ Việt Nam nhân dịp này cũng đặt vấn đề về điều mà ông choa là thái độ sợ hãi’ của lãnh đạo Việt Nam trước Trung Quốc, điều mà ông tin là một trong những cơ sở khiến Trung Quốc ‘tự tin’, ‘lấn tới’ và ‘hiếu chiến’ hơn.

PGS. TS. Hoàng Ngọc Giao nói tiếp: “Tàu lạ – có dám nhắc đến Trung Quốc đâu? Thế nhưng mà chúng ta càng nhún, chúng ta càng nể họ (Trung Quốc), cố gắng tìm cái gì đó để xoa dịu, để mà tìm cách giải quyết với họ đấy, thì họ càng lấn tới.

“Và diễn biến là thế nào? Không chịu được nữa, những năm gần đây chúng ta đã dám, báo chí công khai của nhà nước, lúc này mới dám công khai nói rằng là tàu Trung Quốc.

PGS. TS. Hoàng Ngọc GiaoImage copyrightvietq.vn
Image captionPGS. TS. Hoàng Ngọc Giao cho rằng phát ngôn hôm 29/10 của chính phủ Việt Nam phản ứng về sự kiện Tàu chiến Mỹ ở Trường Sa hôm là ‘lờ mờ’, ‘không rõ lập trường.’

“Thế rồi những hiện tượng mà tôi còn nhớ ví dụ như Giàn khoan (HD) 981, khi mà đang ầm ĩ lên vên câu chuyện Trung Quốc như thế, chúng ta cũng phản ứng rất là chậm, và đồng thời với thời điểm đó, họ bắt đầu tôn tạo những đảo nhân tạo, báo chí chính thưc của chúng ta cũng coi như là chưa biết đến.

“Mà trong khi đó các hãng thông tấn nước ngoài đưa rất nhiều, thì về sau này báo chí chúng ta mới đưa, và điều ấy cho rằng gì? Sự lệ thuộc của chúng ta, cái sự sợ sệt của chúng ta đối với Trung Quốc, mà tôi đang nói về đường lối đối ngoại của chúng ta, chính là một trong những nguyên nhân làm cho Trung Quốc tự tin hơn và hiếu chiến hơn.

“Trong quan hệ với Việt Nam, họ càng lấn tới và điều đó chúng ta càng lùi, họ càng lấn tới và theo tôi kẻ thù chỉ mạnh khi mà chúng ta quỳ xuống, đó là ý kiến của tôi,” nguyên Phó Vụ trưởng Ban Biên giới của Chính phủ Việt Nam nêu quan điểm.

Hợp luật

Từ Canada, nhà quan sát, bình luận, Luật sư Vũ Đức Khanh đánh giá với Tọa đàm về hành động của tàu khu trục Mỹ USS Lassen hôm 27/10 và cho rằng đây không phải là ‘một phép thử’ với Trung Quốc.

Nhưng trước tiên, ông chia sẻ đồng tình với ý kiến của PGS. TS. Hoàng Ngọc Giao và nói:

“Tôi hoàn toàn đồng ý với ông (Hoàng Ngọc) Giao rằng lời phát biểu của ông Lê Hải Bình (phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Việt Nam) là một tuyên bố rất lờ mờ, nó thể hiện đúng như ông (Trần Công) Trục có nói thể hiện tính chất và bản chất của chính quyền Việt Nam hiện tại.

“Từ khi mà Trung Quốc có những động thái ở Biển Đông, thì Chính phủ Việt Nam đã có những chính sách đối với Trung Quốc, mà chúng ta đã nhìn thấy rất là rõ ràng.

“Trở lại điều BBC đặt ra lúc đầu là đây là một phép thử, bà (Ngô Ngọc) Văn (khách mời Tọa đàm) có trả lời đây là một ‘thách thức’ đối với Trung Quốc, tôi nghĩ rằng đây không phải là một phép thử mà cũng không phải là một thách thức.

“Mà đây là sự biểu hiện của quyền tự do hàng hải quốc tế, đây là quyền rất quan trọng khi mà chúng ta ra hải phận quốc tế, thì ở nơi đó không có chuyện là một quốc gia này kẹp quốc gia kia.

Image captionLS. Vũ Đức Khanh cho rằng nếu tàu Việt Nam hoặc một tàu của nước khác đi vào khu vực 12 hải lý như lộ trình của tàu USS Lassen, thì TQ sẽ xử sự ‘khác với’ Hoa Kỳ.

“Điều thứ hai ở đây là Hoa Kỳ đã làm một sự phân tích rất là rõ ràng về mặt pháp lý, hai đảo là đảo Subi và đảo Vành Khăn, nó không có đủ quy định của luật pháp quốc tế về đảo (nhân tạo), nên việc mà Hoa Kỳ đưa tàu vào khu vực 12 hải lý đó là hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế.

“Vấn đề đặt ra bây giờ là giả sử tàu của Việt Nam hay bất cứ một tàu nào khác vào trong khu vực 12 hải lý đó thì thái độ của Trung Quốc sẽ xử sự ra sao? Tôi nghĩ rằng sẽ không phải như là Trung Quốc đã xử sự với Hoa Kỳ,” Luật sư Vũ Đức Khanh nêu quan điểm.

‘Đe dọa’

Nhà báo Ngô Ngọc Văn (Yuwen Wu) từ BBC Tiếng Trung tại Bàn tròn chia sẻ góc nhìn từ Trung Quốc và qua truyền thông chính thức nhà nước về phản ứng, quan điểm các phía liên quan trước sự kiện tàu khu trục Mỹ tuần tra hôm 27/10 ở khu vực quần đảo Trường Sa.

Bà nói: “Đây chắc là một sự thách thức, một loại vấn đề mới mà Trung Quốc phải xử lý. Tôi muốn nói cả hai phía cả Mỹ và Trung Quốc đều tuyên bố Biển Hoa Nam (hay Biển Đông theo cách gọi của Việt Nam) là lợi ích cốt lõi của họ.

“Quan điểm của Mỹ duy tri rằng đây là một trong những đường hàng hải quan trọng nhất trên thế giới, nó phải được tự do đi lại và cho tất cả các nước kinh doanh… do đó họ (Mỹ) cảm thấy đó là nhiệm vụ của họ phải đi tuần khu vực để đảm bảo rằng tự do hàng hải được duy trì một cách hòa bình.

“Từ quan điểm của Trung Quốc, các quần đảo này thuộc về Trung Quốc từ thời tổ tiên, từ thời xưa và điều mà họ đang làm để tuyên bố chủ quyền là hoàn toàn phù hợp với luật pháp.

“Và Trung Quốc chắc chắn coi hành động này là một sự khiêu khích, người phát ngôn của Bộ ngoại giao Trung Quốc đã chính thức tuyên bố cho thấy sự tức giận và họ muốn Hoa Kỳ phải ngay lập tức chấm dứt việc tiếp tục loại hành động này.

“Truyền thông Trung Quốc tất cả đều chỉ trích Mỹ đã khiêu khích Trung Quốc và nói (Mỹ) đã sử dụng (tự do hàng hải) ở tuyến đường biển này như một cái cớ để gần như đe dọa toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc và đe dọa sự an toàn của những người sống trên những đảo này,” nhà báo Ngô Ngọc Văn nói với Bàn tròn của BBC Việt ngữ.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Hợp tác quốc phòng, trụ cột mới trong quan hệ Việt – Nhật

Hợp tác quốc phòng, trụ cột mới trong quan hệ Việt – Nhật

Quan hệ Việt Nam và Nhật Bản mở rộng từ lĩnh vực ngoại giao, kinh tế sang an ninh, quốc phòng.
Giáo sư Tomohito Shinoda trình bày tham luận tại hội thảo. Ảnh: Trọng Giáp

Giáo sư Tomohito Shinoda trình bày tham luận tại hội thảo. Ảnh: Trọng Giáp

“Quan hệ với Nhật Bản là một trong những quan hệ thực chất nhất, sâu nhất trong các mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước trên thế giới”, Đại sứ Đặng Đình Quý, Giám đốc Học viện Ngoại giao cho biết tại hội thảo “Mối liên hệ giữa con đường phát triển 70 năm sau chiến tranh của Nhật Bản và tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam” hôm qua diễn ra tại Hà Nội.

Tại hội thảo, nhiều học giả chỉ ra nhiều điểm chung, tương đồng giữa Nhật Bản và Việt Nam, cũng như lòng tin chính trị hiện ở mức cao giữa hai nước.

Tiến sĩ Đặng Cẩm Tú, Học viện Ngoại giao cho rằng hợp tác an ninh – quốc phòng là một trụ cột mới của quan hệ Đối tác Chiến lược sâu rộng vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á giữa Việt Nam và Nhật Bản. “Đặc trưng của quan hệ Việt – Nhật giai đoạn mới là bước chuyển từ quan hệ chỉ giới hạn trong lĩnh vực ngoại giao và kinh tế – đầu tư sang hợp tác quốc phòng và an ninh”, bà Tú cho biết.

Bước chuyển này bắt đầu từ năm 2011, khi hai nước mở văn phòng tuỳ viên quân sự và thiết lập cơ chế đối thoại chính sách quốc phòng. Điều này cũng được thể hiện rõ bằng thiện chí của Tokyo giúp đỡ Hà Nội nâng cao năng lực thực thi pháp luật trên biển, theo giáo sư Tomohito Shinoda, một học giả khác thuộc Đại học Quốc tế Nhật Bản.

Tháng 8/2014, Nhật tuyên bố kế hoạch sử dụng gói hỗ trợ phát triển cho nước ngoài để cấp 6 tàu tuần tra cho các cơ quan chấp pháp biển Việt Nam. Những tàu này được trang bị áo phao, radar, và chương trình huấn luyện. Tàu đầu tiên được chuyển giao cho cảnh sát biển Việt Nam vào tháng 2 và tàu thứ hai được chuyển giao cho Cục Kiểm ngư Việt Nam hồi tháng 8.

Tàu đổ bộ Kunisaki của Nhật đã cập cảng Tiên Sa, một phần trong chương trình hỗ trợ hải quân cho đối tác Thái Bình Dương của Mỹ. Lực lượng phòng vệ Nhật đã trao đổi thông tin với Việt Nam liên quan đến vấn đề dược phẩm quân đội như gói cứu trợ, khẩn cấp, chữa trị bỏng và bệnh tim.

Tuyên bố về tầm nhìn chung quan hệ Việt – Nhật được đưa ra trong chuyến công du Tokyo của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng hồi tháng 9 vừa qua cũng đã nhấn mạnh tăng cường hợp tác trong lĩnh vực an ninh, an toàn trên biển và đối phó với các vấn đề phi truyền thống.

Trước việc Trung Quốc bồi đắp trái phép đảo nhân tạo tại Biển Đông, giáo sư Yuichi Hosoya, Đại học Keio, cho rằng tư tưởng chống chủ nghĩa quân sự ở Nhật rất mạnh mẽ, nên nước này rất khó để trở thành một nước quân sự mạnh, nhưng điều chính phủ Nhật có thể làm là bày tỏ với cộng đồng quốc tế tầm quan trọng của luật quốc tế.

“Chúng ta có ràng buộc mạnh mẽ bằng các luật quốc tế, các quy định quốc tế, các thoả thuận quốc tế… Tôi nghĩ các bên có thể hợp tác cùng nhau và cùng với các nước khác để ngăn Trung Quốc mở rộng lãnh thổ”, ông Hosoya nói.

Trọng Giáp

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Tòa án quốc tế xử vụ biển Đông: 1-0 cho Philippines

Tòa án quốc tế xử vụ biển Đông: 1-0 cho Philippines

30/10/2015 00:44

(NLĐO) – Báo chí Philippines đưa tin TòaTrọng tài thường trực (PCA) quyết định họ có thẩm quyền phân xử vụ Philippines kiện Trung Quốc về tranh chấp trên biển Đông.

Cụ thể, trong thông cáo được đưa ra vào đêm 29-10, Tòa Trọng tài thường trực (PCA) ở The Hague – Hà Lan nhất trí khẳng định cả Philippines và Trung Quốc đều đã ký Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) nên “phải giải quyết các tranh chấp theo công ước này”.

“Tòa án quan tâm đến vai trò của “các quyền lợi lịch sử” và nguồn gốc của các quyền về hàng hải trên biển Đông; về hiện trạng của các đặc trưng hàng hải nhất định trên biển Đông; và tính pháp lý của các hành động (mà Philippines cho là vi phạm UNCLOS) của Trung Quốc trên biển Đông”.

“Tòa án cũng khẳng định việc Trung Quốc không tham gia quá trình tố tụng không ảnh hưởng đến quyền xét xử của tòa cũng như quyết định đơn phương khởi kiện của Philippines không vi phạm thủ tục giải quyết tranh chấp theo UNCLOS” – trang Rappler của Philippines trích dẫn lại thông cáo.

Cuối cùng, PCA kết luận họ “có quyền phân xử”. Đây được xem là thắng lợi đầu tiên cho Philipppines bởi lẽ Trung Quốc từng nhiều lần tranh cãi rằng PCA không có thẩm quyền xét xử vụ kiện này.

Thông tin này được đưa ra chỉ vài ngày sau khi Mỹ điều tàu khu trục USS Lassen vào vùng 12 hải lý quanh các đảo nhân tạo mà Trung Quốc xây dựng trái phép trên biển Đông.

 

Quang cảnh tại Tòa án Trọng tài quốc tế. Ảnh: PCA
Quang cảnh tại Tòa án Trọng tài quốc tế. Ảnh: PCA

 

Philippines đệ đơn lên PCA vào tháng 1-2013 nhằm tìm cách vô hiệu hóa tuyên bố chủ quyền dựa trên “đường 9 đoạn” phi lý của Trung Quốc. Cụ thể, Philippines nộp đơn kiện lên PCA, yêu cầu được thực thi quyền khai thác tài nguyên trong phạm vi 200 dặm tính từ bờ biển của mình (Manila tuyên bố đây là vùng đặc quyền kinh tế của họ).

Trung Quốc đưa ra “đường lưỡi bò” ngông cuồng này để lấp liếm cho tuyên bố chủ quyền đối với gần như toàn bộ biển Đông. Đến tháng 3-2014, Chính phủ Philippines đã đệ trình hồ sơ pháp lý dày 4.000 trang để củng cố cho đơn kiện của mình, trong đó có các bằng chứng và bản đồ.

Ngày 7-7-2015, PCA bắt đầu phiên tranh luận về vụ kiện. Dù không mở công khai nhưng PCA cho phép các đoàn đại biểu nhỏ từ Việt Nam, Malaysia, Nhật Bản, Indonesia và Thái Lan tới quan sát, theo yêu cầu của các quốc gia này. Trong khi đó, Trung Quốc vẫn kiên quyết từ chối tham dự phiên xử.

Philippines lập luận PCA nên can thiệp vào các tranh chấp ở biển Đông liên quan đến quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên và hải sản, dựa trên Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) mà cả Bắc Kinh và Manila đều ký kết.

Hải Ngọc (Theo Rappler, Inquirer)
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Tù nhân tôn giáo Nguyễn Văn Lía mãn án tù

Tù nhân tôn giáo Nguyễn Văn Lía mãn án tù

NVL7-622.jpg

Tù nhân tôn giáo Phật giáo Hòa Hảo cao niên, ông Nguyễn Văn Lía trả lời RFA khi đang trên xe từ trại giam về nhà hôm 24/10/2015.

Citizen photo

Tù nhân tôn giáo Phật giáo Hòa Hảo cao niên, ông Nguyễn Văn Lía-75 tuổi, mãn án 4 năm 6 sáng tù vào ngày hôm nay 24 tháng 10 năm 2015.

Ngay sau khi mãn án, trên đường về nhà tại xã Kiến Thành, huyện Chợ Mới  tỉnh An Giang, ông có cuộc nói chuyện qua điện thoại với biên tập viên Gia Minh, Đài Á Châu Tự Do. Trước hết ông cho biết:

Dùng tù hình sự để đàn áp tù chính trị

Nguyễn Văn Lía: Tôi ở tù nhiều lần rồi nhưng lần này thì từ Trại giam Long Xuyên chuyển thẳng quan đây. Lúc đầu  là K1, rồi sang K3 và đến K2 cũng trong phạm vi Xuân Lộc.

Gia Minh: Vậy ông cho biết đả ở tù mấy lần và những lần trước vào năm nào?

Nguyễn Văn Lía: Ở tù mà có án thì vào năm 2003 đến 2004, lúc đó bị tuyên ba năm tù. Cho nên khi chánh án ở Long Xuyên hỏi ‘từ hồi giờ ở tù mấy lần rồi?’, tôi trả lời khoảng 15 lần rồi. Tôi bị bắt ‘tù’ hoài, từ 30 tháng 4 (năm 1975) đến giờ ở ‘tù’ liên miên.

Bây giờ họ giam tù chính trị, tôn giáo và nhân dân khiếu kiện biệt lập vào một chỗ. Nhưng điều cay nghiệt nhất là họ dùng từ hình sự, tức những người án nặng chung thân vì do ‘dâm thuê, chém mướn’ hay giết người… để cai trị chúng tôi.
-Nguyễn Văn Lía

Gia Minh: Lần ở Xuân Lộc này thì ông có thể chia sẽ tình hình giam giữ đối với bản thân ông ra sao?

Nguyễn Văn Lía: Bây giờ họ giam tù chính trị, tôn giáo và nhân dân khiếu kiện biệt lập vào một chỗ. Nhưng điều cay nghiệt nhất là họ dùng từ hình sự, tức những người án nặng chung thân vì do ‘dâm thuê, chém mướn’ hay giết người… để cai trị chúng tôi. Cho nên chúng tôi ở chung nhưng  không được nói chuyện với nhau. Nói chuyện với nhau là bị họ nạt nổ, làm hùng hổ dữ lắm. Mấy ‘thằng’ đó nếu không mua thuốc cho nó hút là chịu không được, nó làm dữ lắm. Giám thị ở gần đó, nếu có báo cáo, giám thị xuống nạt mình, làm dữ lắm. Đó là về mặt tinh thần, còn trong tù ăn uống rất khắc khổ. Họ chỉ phát rau muống và cơm; bữa nào cũng rau muống. Một tuần được một hay hai lần cá thịt nhưng ít lắm. Cuộc sống ở đây cả về tinh thần và vật chất đều rất khủng hoảng.

Bởi vì tù chúng tôi – tôn giáo, chính trị hay dân oan khiếu kiện, hầu hết đều không nhận tội nên đúng án mới về được thôi. Ở đây có những người chung thân, ở 18 năm mấy rồi như ông Phạm Xuân Thông mà không được giảm án gì hết mà bệnh hoạn dữ lắm nhưng không có thuốc uống. Chính bản thân tôi sáu tháng trở lại đây bị bệnh nửa thân hình, đau nhức mấy chỗ mà họ đụng xe tôi. Tôi đã 5 lần bị cộng sản đụng xe; nhất là năm 2009 kỳ mà tôi chở gạo cho  gia đình Võ Văn Bửu. Họ đụng xe làm tôi gãy 3 sườn phía trái, bể xương vai, ra máu lỗ tai phải lên Sài Gòn trị 10 ngày, bất tỉnh 2 ngày, 2 đêm.

Bây giờ còn số tù anh em, mong sao truyền thông cho các anh em khác biết  và thế giới biết cuộc sống trong tù (Việt Nam) là như thế: dùng tù hình sự để đàn áp tù tôn giáo hay chính trị, dân oan khiếu kiện.

nguyen-van-lia-305
Ông Nguyễn Văn Lía (bìa phải) cùng phái đoàn PGHH đi gặp Ủy Ban Tôn Giáo Quốc Tế Hoa Kỳ tại Sài Gòn hồi tháng 05 năm 2009.

Gia Minh: Vậy số tù chính trị, tôn giáo, dân oan khiếu khiện ( tại trại Xuân Lộc) còn bao nhiêu người và có những trường hợp nào đáng phải chú ý?

Nguyễn Văn Lía: Lúc tôi ở có 18 người, nay tôi về thì còn 17 người. Cuộc sống họ vậy đó. Bệnh tật không có thuốc trị, ông Thông, ông Hưởng viêm xoang mà không có thuốc trị. Chúng tôi bị bệnh như vậy mà ông bác sĩ Sơn nói rằng bệnh của ông không thể trị được đâu, đợi ông về nhà còn ở đây uống cầm chừng vậy thôi.

Gia Minh: Trong số đó có ai không được thân nhân thăm nuôi không?

Nguyễn Văn Lía: Có. Ở đây có 3 người: ông Văn Ngọc Hiếu, Danh Hưởng và ông Phạm Xuân Thông. Đời sống người tù mà không có thăm nuôi khổ lắm. Cho nên chiều hôm qua, lúc tôi từ giã anh em (lén lút từ giã đó) thì Văn Ngọc Hiến hỏi tôi khi ông ở tù thì gia đình (gửi) một tháng bao nhiêu; tôi nói chừng 5-6 trăm ngàn tiền Việt Nam là đủ rồi. Anh ta nói ước ao được tháng chừng vài trăm ngàn. Tôi chuyển qua K2 chừng năm nay, tôi cũng rất tích cực chia sẻ cho ba người anh em đó. Tôi về rồi anh em cũng khổ lắm.

Tiếp tục hành trình tranh đấu

Gia Minh: Xin hỏi ông trong thời gian ở tù, gia đình thăm nuôi có cho ông biết thông tin bên ngoài và tin của giáo hội Phật giáo Hòa Hảo không theo phái Nhà nước không?

Nếu tôn giáo còn bị hoạn nạn thì mình phải bảo Pháp trong thời Pháp nạn và truyền Pháp giúp cơ sở tôn giáo được tương đối dễ dàng. Đó là mục tiêu chính của người Phật giáo Hòa Hảo. Trong lúc Pháp nạn, tức trong lúc Đạo bị dày xéo thì người tín đồ phải sẵn sàng bảo vệ bằng mọi hình thức của mình.
-Nguyễn Văn Lía

Nguyễn Văn Lía: Thường thường giáo hội quốc doanh của Nhà nước thì luôn phục tùng Nhà nước; nếu phục tùng Nhà nước thì thuận lợi rồi; còn đối với anh em tín đồ thì họ thẳng tay, những người nào không theo họ thì họ đàn áp thẳng tay, họ tìm cách bắt bớ, giam cầm.

Gia Minh: Chắc trong đoàn hôm nay có những đồng đạo đi đón ông, họ có chia sẻ tình hình Phật giáo Hòa Hảo mới nhất cho ông ra sao, và ông vì Đạo mà bị đi tù nhiều lần, sắp tới ông tiếp tục đấu tranh cho chính nghĩa của Đạo ra sao?

Nguyễn Văn Lía: Bản nguyện của tôi là nếu thuận lợi, tôn giáo được phát trai thì mình phát trai còn nếu tôn giáo còn bị hoạn nạn thì mình phải bảo Pháp trong thời Pháp nạn và truyền Pháp giúp cơ sở tôn giáo được tương đối dễ dàng. Đó là mục tiêu chính của người Phật giáo Hòa Hảo. Trong lúc Pháp nạn, tức trong lúc Đạo bị dày xéo thì người tín đồ phải sẵn sàng bảo vệ bằng mọi hình thức của mình.

Chúng tôi ở tù do đòi hỏi những cơ sở mà họ chiếm dụng. Họ chiếm dụng trên 1.000 cơ sở. Rồi nào phải in ấn Sấm giảng, toàn bộ giáo lý Phật giáo Hòa Hảo cho đồng đạo xem coi. Rồi nào ngày lễ phải treo cờ Đạo vì ở Việt Nam các đạo như Thiên Chúa, Cao Đài hay Phật giáo Thống Nhất cũng trao cờ Đạo của người ta, còn Phật giáo Hòa Hảo không có đâu. Họ cấm tuyệt đối, chỉ có chỗ điểm làm lễ mới được treo cờ đạo thôi, còn tín đồ thì không được mà hồi trước mỗi nhà mỗi treo mà. Cho nên phải tiếp tục hành trình cùa mình dù sức yếu và tuổi cao rồi, không thể bỏ được.

Mấy anh em, cô bác ở ngoài, ở trong nghe tiếng nói của tôi thì tôi chân thành cám ơn mọi người có sự lo lắng đến tôi và chia sẻ nỗi niềm của người tín đồ Phật giáo Hòa Hảo trong lúc Đạo bị Pháp nạn, Đạo nạn. Tôi gửi lời kính thăm đến tất cả mọi người.

Gia Minh: Cám ơn ông và chúc ông mau khỏe.

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Trung Quốc có thể mượn cớ tàu Mỹ để áp đặt ADIZ ở Biển Đông

Trung Quốc có thể mượn cớ tàu Mỹ để áp đặt ADIZ ở Biển Đông

Bắc Kinh được dự đoán sẽ có những phản ứng quyết liệt hơn đối với các chuyến tuần tra tiếp theo của Mỹ ở Biển Đông.
trung-quoc-co-the-muon-co-tau-my-de-ap-dat-adiz-o-bien-dong

Tàu khu trục tên lửa USS Lassen của Mỹ hoạt động trên biển. Ảnh: US Navy

Ngày 27/10, sau khi Mỹ điều một tàu chiến đi vào khu vực 12 hải lý quanh đảo nhân tạo mà Trung Quốc bồi đắp phi pháp ở Biển Đông, Bắc Kinh tuyên bố sẽ sử dụng “các biện pháp cần thiết” để bảo vệ cái mà họ gọi là “chủ quyền” trước động thái “đe dọa hòa bình và ổn định” ở châu Á của Mỹ, theo CCTV.

Theo giới phân tích, chiến dịch tuần tra này của Mỹ là một hành động vỗ mặt đối với Trung Quốc, bởi nó diễn ra ngay trước thềm các cuộc gặp đa phương có sự tham dự của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Mỹ Obama, trong đó có Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á -Thái Bình Dương ở thủ đô Philippines tháng tới.

Ông Rory Medcalf, hiệu trưởng Trường An ninh Quốc gia thuộc Đại học Quốc gia Australia, cho rằng chiến dịch tuần tra Biển Đông của Mỹ là một “lời cảnh báo Trung Quốc đừng quá đáng khi tỏ thái độ cho thấy Mỹ không được chào đón ở Biển Đông”.

Ian Storey, chuyên gia về Biển Đông tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, nói rằng vấn đề đặt ra hiện nay là Bắc Kinh sẽ đáp trả thế nào với những cuộc tuần tra trong lương lai của Mỹ. “Trung Quốc chắc chắn sẽ phản ứng, bởi họ không thể khoanh tay. Những người theo chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc tin rằng chính phủ sẽ có biện pháp đáp trả mạnh mẽ”, ông nói.

Ở Bắc Kinh, cựu chuẩn đô đốc Yang Yi, một chuyên gia tại Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc gia thuộc Đại học Quốc phòng Trung Quốc cho rằng hoạt động tuần tra của Mỹ sẽ thúc đẩy Bắc Kinh xúc tiến xây dựng trên đảo nhân tạo, thậm chí quân sự hóa chúng và tiến tới thiết lập vùng nhận diện phòng không (ADIZ) ở Biển Đông.

“Nếu hoạt động tuần tra này diễn ra thường xuyên, xung đột quân sự trong khu vực là không tránh khỏi, và Mỹ chính là bên bắt đầu”, cựu sĩ quan hải quân Trung Quốc này nói.

Theo ông Yang, thời gian tới, Trung Quốc có thể sử dụng lực lượng hải cảnh, hay thậm chí là tàu hải quân, để phong tỏa, ngăn chặn tàu chiến Mỹ tiến vào khu vực 12 hải lý quanh các đảo nhân tạo phi pháp.

Nếu Trung Quốc áp dụng biện pháp này, nguy cơ nổ ra đụng độ quân sự là rất cao, có thể leo thang thành xung đột vũ trang trên Biển Đông, không có lợi cho hòa bình, ổn định trong khu vực và cho chính lợi ích của Mỹ, Trung Quốc, theo Yang.

Bởi vậy, Trung Quốc có thể chọn cách phản ứng mà không thách thức trực tiếp với tàu Mỹ, bằng cách đẩy nhanh quân sự hóa các đảo nhân tạo phi pháp, triển khai thêm lực lượng, bao gồm cả máy bay chiến đấu, tới các vị trí này, tạo tiền đề thiết lập vùng nhận diện phòng không bao trùm lên Biển Đông, ông Malcolm David, phó giáo sư về quan hệ Trung Quốc – phương Tây ở Đại Học Bond, Australia, cảnh báo.

“Quả bóng sau đó sẽ được đẩy sang phần sân của Mỹ”, ông David nói. “Nỗ lực của Trung Quốc nhằm thực thi ADIZ bao trùm Biển Đông sẽ làm leo thang căng thẳng với các nước láng giềng, và các nước này sẽ gia tăng áp lực để Washington không được thoái lui”.

Cùng chung nhận định về khả năng Trung Quốc lập ADIZ ở Biển Đông, ông Roncevert Almond, một luật sư quốc tế và đối tác ở The Wicks Group viết trên tờ Diplomat hôm 20/7 rằng, Trung Quốc có thể tìm cách thay đổi luật quốc tế thông thường nhằm thiết lập ADIZ.

Ông Almond viết rằng, ADIZ không phải là một sự mở rộng chủ quyền trên không phận theo luật quốc tế và không phải là một công cụ để đưa ra yêu sách chủ quyền với vùng lãnh thổ mới hoặc đang có tranh chấp, nhưng Trung Quốc có thể “biến hóa” để gắn ADIZ này với “đường chín đoạn” phi lý mà họ vẽ ra trên Biển Đông.

Bộ Ngoại giao Trung Quốc hồi tháng 5 tuyên bố bảo lưu “quyền thiết lập một vùng nhận diện phòng không bao trùm Biển Đông”. Tháng 10/2013, Bắc Kinh bất ngờ tuyên bố thiết lập ADIZ trên biển Hoa Đông, bao trùm nhóm đảo Senkaku/Điếu Ngư đang tranh chấp với Nhật Bản, buộc Mỹ điều máy bay B-52 bay qua để thách thức.

“Những nguy cơ này khiến Mỹ phải xem xét chiến dịch tuần tra rất cẩn thận. Họ phải tính đến việc Trung Quốc sẽ phản ứng như thế nào. Nếu Trung Quốc sử dụng các lực lượng hải cảnh, hải quân để tìm cách ngăn chặn Mỹ tuần tra gần đảo nhân tạo, nguy cơ đụng độ hoặc tồi tệ hơn thế sẽ xảy ra”, chuyên gia Storey nhấn mạnh.

Xem thêm: Tuần tra Biển Đông, Mỹ tiến sát điểm tới hạn với Trung Quốc

trung-quoc-co-the-muon-co-tau-my-de-ap-dat-adiz-o-bien-dong-1

Trung Quốc xây trái phép các đường băng ở Trường Sa như thế nào (chi tiết). Đồ họa: Tiến Thành

Nguyên Trần

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Mỹ sẽ ‘thực hiện tới cùng’ kế hoạch đưa tàu chiến tới gần các đảo ở Biển Đông?

Mỹ sẽ ‘thực hiện tới cùng’ kế hoạch đưa tàu chiến tới gần các đảo ở Biển Đông?

Chiến đấu cơ Super Hornet F/A-18 của Hải quân Mỹ cất cánh từ tàu sân bay USS Nimitz trong một cuộc tuần tra ở Biển Đông, ngày 23 tháng 5, 2013.

Chiến đấu cơ Super Hornet F/A-18 của Hải quân Mỹ cất cánh từ tàu sân bay USS Nimitz trong một cuộc tuần tra ở Biển Đông, ngày 23 tháng 5, 2013.

Khẩu chiến Mỹ-Trung khuấy động Biển Đông sau khi Hoa Kỳ trong tháng này loan báo kế hoạch đưa tàu chiến vào phạm vi 12 hải lý quanh khu vực Trung Quốc nói thuộc lãnh hải của họ trong nỗ lực thực thi quyền tự do hàng hải, không công nhận tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc tại các đảo nhân tạo Bắc Kinh mới bồi đắp ở Trường Sa.

Trung Quốc đe dọa sẽ đáp trả ‘quyết liệt.’ Tờ Hoàn Cầu Thời báo của nhà nước Trung Quốc nói nếu Mỹ xâm phạm ‘các quyền lợi cốt lõi thì quân đội Trung Quốc sẽ phản ứng và dùng võ lực để ngăn lại’.

Trước tình thế căng thẳng, liệu Mỹ sẽ thực hiện kế hoạch đến cùng? Ai sẽ cùng tham gia với Mỹ trong hoạt động này? Và Trung Quốc sẽ đối phó thế nào?

VOA Việt ngữ đi tìm lời giải đáp qua cuộc thảo luận với ba chuyên gia am hiểu tình hình Biển Đông: Luật sư Lưu Tường Quang tại Úc, từng là một nhà ngoại giao của Việt Nam Cộng Hòa, cựu Tổng Giám đốc hệ thống truyền thanh đa ngữ SBS Radio của liên bang Úc; luật sư Vũ Đức Khanh từ Canada chuyên nghiên cứu về chính trị Việt Nam, quan hệ quốc tế và luật pháp quốc tế; và học giả Ngô Vĩnh Long ở Mỹ chuyên nghiên cứu lịch sử Đông Nam Á, Đông Á, quan hệ Châu Á – Hoa Kỳ, hiện là Giáo sư khoa lịch sử của đại học Maine, Hoa Kỳ.

Mỹ sẽ ‘thực hiện tới cùng’ kế hoạch đưa tàu chiến tới gần các đảo ở Biển Đông?

Luật sư Khanh: Tôi thấy chính quyền của Tổng thống Obama tỏ ra rất yếu kém trong quan hệ với Trung Quốc, đặc biệt trong bối cảnh Trung Quốc đang ngày càng tăng cường sức mạnh trong khu vực. Tuy nhiên, tôi nghĩ Mỹ cuối cùng cũng sẽ quyết định đưa tàu chiến vào khu vực 12 hải lý quanh các đảo nhân tạo Trung Quốc xây vì về luật pháp quốc tế, các đảo này không có quyền 12 hải lý đó.

VOA: Nếu kế hoạch này Mỹ quyết tâm thực hiện tới cùng, liệu họ có thể đơn phương thực hiện hay cần đồng minh?

Giáo sư Long: Trước hết, Mỹ phải chứng minh không những cho Trung Quốc mà cho toàn thế giới rằng Mỹ có bổn phận phải bảo vệ an ninh trên biển. Cuối tháng 8 vừa qua, Lầu 5 Góc đưa ra tài liệu về chiến lược an ninh biển ở Châu Á-Thái Bình Dương. Trong đó nói nếu Trung Quốc sử dụng các căn cứ trên đảo nhân tạo để cản trở thông thương hàng hải hay tự do của các phi vụ trên không gây nguy hiểm cho lợi ích thế giới, Mỹ sẽ có những hành động cụ thể. Việc này, theo tôi, không phải là chuyện nói suông. Tuy nhiên, Mỹ đã chờ xem vận động Trung Quốc thế nào. Tôi nghĩ trong vài tuần tới, các chiến thuyền của Mỹ sẽ đi vào 12 hải lý của các đảo nhân tạo. Luật Biển không cho phép Trung Quốc đòi hỏi 12 hải lý xung quanh các đảo nhân tạo hay những hòn đá chìm mà Trung Quốc biến thành đảo.

Luật sư Quang: Ông Obama không phải là một Tổng thống mạnh, ông đã để lỡ rất nhiều cơ hội. Trong nhiệm kỳ đầu của ông với Ngoại trưởng Hillary Clinton, lập trường Mỹ rất rõ rệt. Bây giờ thì ông Obama nói rất nhiều nhưng không làm gì cả. Nếu Hoa Kỳ không chứng minh làm được những gì đã nói thì những cố gắng của Mỹ trong việc thu hút các nước nhỏ như Việt Nam, Philippines sẽ không đem lại kết quả như mong muốn.

Giáo sư Long: Tôi không phải bênh vực cho ông Obama, nhưng xin lý giải rằng Mỹ trong những năm qua gặp rất nhiều khó khăn khi xoay trục trở lại Thái Bình Dương, giải quyết vấn đề Trung Đông và những nơi khác.

Ngay ở Mỹ có rất nhiều tranh cãi trong nội bộ, khác với một Trung Quốc mà quyền lực thu gom vào Tập Cận Bình cùng phe nhóm của ông ta. Tại Mỹ, ông Obama phải vận động các cơ quan ngay trong chính quyền ủng hộ chính sách của ông, chứ đừng nói là quần chúng ở ngoài. Một trong những lý do Mỹ chần chờ là để cho quần chúng Mỹ và nhân dân thế giới thấy rằng càng uyển chuyển, nhẫn nại thì Trung Quốc càng thách thức và quá lố. Đến lúc này, Trung Quốc đã đẩy Mỹ tới chỗ không còn chọn lựa nào khác, phải đưa chiến thuyền đi vào các vùng dưới 12 hải lý mà Trung Quốc gọi là lãnh hải của họ. Mỹ không thể giúp Trung Quốc chứng minh rằng Mỹ là ‘hổ giấy’. Khi Mỹ có hành động cụ thể, nhiều nước trong khu vực sẽ ủng hộ.

Luật sư Khanh: Các đồng minh trong khu vực sẽ tham gia với Mỹ ở mức độ tối thiểu và cần thiết, đặc biệt là Nhật Bản.

VOA: Cho tới nay, dường như các cường quốc như Nhật và Ấn Độ chưa tỏ rõ ý định thế nào, nhưng Úc có dấu hiệu rằng ‘không’. Vì sao Úc không cân nhắc việc này?

Luật sư Quang: Bộ trưởng Thương mại Úc nói rằng không vì ông là người phụ trách việc thương thuyết Hiệp định Tự do Thương mại FTA với Trung Quốc. Cho nên, ông quan tâm nhiều về phương diện giữ cho quan hệ kinh tế Úc-Trung Quốc tốt đẹp. Ngày 20/10, Ngoại trưởng Úc, Julie Bishop trả lời rằng vấn đề này còn đang giả thuyết, chưa có quyết định nên Úc chưa có câu trả lời.

VOA: Vậy có thể dự kiến quyết định của Úc sẽ thiêng về phía thương mại sợ ảnh hưởng mậu dịch với Trung Quốc hay về phía các quyền lợi an ninh lớn hơn với Mỹ?

Luật sư Quang: Đây là vấn đề tế nhị cho Úc vì 1/3 hàng xuất cảng của Úc đi vào Trung Quốc. Trung Quốc rất quan trọng cho nền kinh tế Úc. Nhưng nếu phải chọn lựa giữa Mỹ với Trung Quốc, tôi nghĩ nước Úc và dân chúng Úc sẽ chọn Mỹ chứ không chọn Trung Quốc.

Luật sư Khanh: Úc có gần 100 tỷ đô la trao đổi thương mại với Trung Quốc. Tuy nhiên, quyết định cuối cùng của Úc trong vấn đề này sẽ là vấn đề chính trị-an ninh của đất nước. Tôi nghĩ Úc cuối cùng cũng sẽ đứng trong liên minh của Mỹ mà thôi.

Luật sư Quang: Cựu Ngoại trưởng Úc rất có kinh nghiệm trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế, ông Gareth Evan, đã lên tiếng kêu gọi Úc hoặc phối hợp với Mỹ, hoặc một mình phải tuần tra đi vào vùng 12 hải lý Trung Quốc gọi là ‘lãnh hải của họ’ ở Biển Đông.

VOA: Ngoài Úc, Nhật, còn một cường quốc khác trong khu vực là Ấn. Liệu có thể trông chờ phản ứng-hành xử của Ấn thế nào đối với kế hoạch của Hoa Kỳ?

Giáo sư Long: Ấn Độ nói nhiều, làm ít. Cho nên , Ấn sẽ đánh võ mồm. Quan trọng không phải Ấn mà là Nhật. Nhật ở gần Trung Quốc và bị Trung Quốc đe dọa. Bao nhiêu năm nay Nhật chưa phản ứng một phần để chờ xem thái độ Mỹ thế nào. Bây giờ thái độ Mỹ rõ ràng sẽ giúp cho Nhật có thái độ rõ ràng hơn.

Luật sư Quang: Nhật, Úc, Mỹ đều nói rất rõ là họ trung lập về vấn đề tranh chấp chủ quyền. Vấn đề họ tranh đấu là tự do lưu thông hàng hải-hàng không. Ông Obama còn hơn 1 năm nữa sẽ hết nhiệm kỳ, cho nên, tôi nghĩ ông sẽ thực hiện kế hoạch đó, để lại di sản.

Giáo sư Long: Việc này đối với ông Obama rất dễ vì hiện nay ông đã tạo được đồng thuận trong Quốc hội. Nếu Mỹ bị khinh thường, mất sức mạnh trên biển thì sức mạnh lâu dài và vị thế của Mỹ sẽ rất lung lay. Cho nên, lợi ích rất lớn của Mỹ trong thế kỷ tới là phải duy trì sức mạnh trên biển và được các nước khác ủng hộ.

VOA: Dự kiến sự ủng hộ của các nước trong khu vực và quốc tế đối với kế hoạch của Mỹ ở mức nào: khuyến khích ngoại giao hay cùng tham gia tuần tra trên thực tế, thách thức tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc tại đây?

Luật sư Khanh: Kế hoạch này có tầm quan trọng rất lớn với các nước trong khu vực. Việt Nam đã lên tiếng thông qua người đại diện trong Quốc hội về vấn đề an ninh. Các nước khác, chẳng hạn như Philippines, chắc chắn sẽ đồng ý. Nhưng trước mắt, tôi nghĩ Mỹ chỉ cần có sự ủng hộ của Nhật Bản. Mỹ và Nhật sẽ là hai nước đầu tiên đi tuần tra trong khu vực đó để chứng minh cho Trung Quốc thấy quyết tâm của lực lượng đồng minh tại khu vực.

VOA: Việt Nam nên tận dụng cơ hội này thế nào để vừa bảo vệ chủ quyền quốc gia vừa thoát được sự ảnh hưởng o ép của Trung Quốc lâu nay? Mời quý vị đón theo dõi phần tiếp theo của cuộc hội luận trong chương trình phát thanh tối mai.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Malaysia: yếu tố mới trong vấn đề Biển Đông

Malaysia: yếu tố mới trong vấn đề Biển Đông

Tướng Zulkefli Mohd Zin Tham mưu trưởng lực lượng vũ trang Malaysia phát biểu tại Diễn đàn Hương Sơn

Tướng Zulkefli Mohd Zin Tham mưu trưởng lực lượng vũ trang Malaysia phát biểu tại Diễn đàn Hương Sơn

Screenshot

Diễn đàn Hương Sơn kết thúc với nhiều yếu tố mới xuất hiện, bên cạnh việc Bắc Kinh muốn làm giảm sự lo ngại của các nước trong khu vực với lời hứa sẽ không có việc dùng vũ lực thì sự lên tiếng mạnh mẽ của Malaysia về vấn đề Biển Đông đã khiến giới quan sát quốc tế cho rằng Trung Quốc đã thất bại trong việc xé lẻ các nước với ý đồ từng bước lấn chiếm vùng biển đang có tranh chấp. Mặc Lâm phỏng vấn TS Lê Hồng Hiệp, giảng viên Khoa Quan hệ Quốc tế, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và hiện đang nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS) Singapore.

Mặc Lâm: Thưa TS Diễn đàn Hương Sơn đã bế mạc với dư âm làm cho nhiều người thật sự quan tâm. Trước nhất là việc Trung Quốc trấn an các nước ASEAN rằng họ sẽ không dùng biện pháp quân sự. Theo cái nhìn của TS thì sự hứa hẹn này phát xuất từ nguyên nhân nào?

TS Lê Hồng Hiệp: Theo tôi thì đây là chiến thuật của Trung Quốc tạm thời xoa dịu tình hình Biển Đông đặc biệt trong bối cảnh việc xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc ở Trường Sa đã gặp phải sự phản đối rất mạnh mẽ không chỉ của các nước có liên quan đến tranh chấp ở Biển Đông trực tiếp mà còn các quốc gia khác trong khu vực như Nhật Bản hay Mỹ chẳng hạn cho nên tôi nghĩ rằng đây chỉ là động thái nhất thời của Trung Quốc vừa xoa dịu tình hình vừa làm các chỉ trích của Mỹ cũng như khi họ tuyên bố gần đây là sẽ gửi tàu vào tuần tra trong phạm vi 12 hải lý chung quanh các đạo nhân tạo của Trung Quốc mới bồi đắp thì họ có ít cơ sở ít lý do hơn để mà thực hiện.

Cơ bản về lâu dài thì xu hướng của Trung Quốc thì ngày càng xác quyết và muốn kiểm soát vì vậy tình hình Biển Đông tôi nghĩ là sẽ không thay đổi.

Mặc Lâm: Cũng trong Diễn đàn này Tướng Zulkefli Mohd Zin Tham mưu trưởng lực lượng vũ trang Malaysia là người duy nhất mạnh mẽ chỉ trích hành vi xây đảo nhân tạo trái phép của Trung Quốc trên Biển Đông là khiêu khích. TS thấy gì trước sự “phản ứng” bất ngờ này?

Gần đây ta thấy bản thân Trung Quốc cũng có các hoạt động xâm phạm vào vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia cụ thể chúng ta thấy có hai chuyến tuần tra, diễn tập của hải quân Trung Quốc ở bãi Tăng Mẫu nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia

TS Lê Hồng Hiệp

TS Lê Hồng Hiệp: Động thái của ông đại diện cho Malaysia là điều tương đối bất ngờ. Bất ngờ ỏ chỗ trong khi các đại diện khác từ những quốc gia như Việt Nam hay Philippines lâu nay có mâu thuẫn lớn với Trung Quốc ở Biển Đông nhưng đại diện hai nước này lại không lên tiếng chỉ trích Trung Quốc. Người ta có thể hiểu được là do hội nghị này tổ chức ngay trên sân nhà của Trung Quốc cho nên các quốc gia Việt Nam hay Phi không đưa ra các nhận xét chỉ trích mang tính gay gắt. Trong khi đó Malaysia cũng là một khách mời của Trung Quốc, bản thân lâu nay có chính sách tương đối mềm mỏng trong hồ sơ Biển Đông nhưng bây giờ họ lại lên tiếng tương đối mạnh mẽ thì tôi nghĩ rằng có một vài yếu tố dẫn tới sự thay đổi này ít nhất là trong tuyên bố của đại diện Malaysia.

Gần đây ta thấy bản thân Trung Quốc cũng có các hoạt động xâm phạm vào vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia cụ thể chúng ta thấy có hai chuyến tuần tra, diễn tập của hải quân Trung Quốc ở bãi Tăng Mẫu nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia.

Thứ hai nữa các tàu của Trung Quốc cũng có động thái canh giữ và ngấp nghé muốn giữ cái cấu tạo “Luconia” (Luconia Shoals) lâu nay nằm chìm dưới nước nhưng thời gian gần đây do thay đổi địa chất nó đã bắt đầu nổi lên mặt nước và bản thân Trung Quốc cũng có ý định dòm ngó. Có điều là cái cấu tạo này cũng nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia.

Điều thứ ba tôi nghĩ có thể cũng có liên quan tới tình hình chính trị nội bộ của Malaysia khi gần đây có sự chia rẽ trong chính trường nước này với các cuộc biểu tình do chủ yếu là người gốc Hoa tham gia phản đối thủ tướng Nazib và chính quyền của ông này. Đây cũng là một phần do mâu thuẫn sắc tộc trong nước Malaysia nó dẫn tới việc chính phủ Malaysia họ có thái độ ít mềm dẻo hơn đối với người Mã gốc Hoa, đặc biệt sau cáo buộc ông đại sứ Trung Quốc tại Malaysia có động thái can thiệp chính trị vào nội bộ nước này. Những điều này góp phần dẫn tới thái độ cứng rắn của đại diện Malaysia tại hội nghị lần này ở Trung Quốc.

Diễn đàn Hương Sơn lần thứ 6 diễn ra tại Bắc Kinh Trung Quốc
Diễn đàn Hương Sơn lần thứ 6 diễn ra tại Bắc Kinh Trung Quốc

Mặc dù Trung Quốc tuyên bố phục vụ các mục đích dân sự và hai ngọn hải đăng là tài sản chung cho cộng đồng quốc tế nhưng ta thấy ý định đằng sau của họ vẫn chủ yếu là xác lập chủ quyền của họ trên Biển Đông mà thôi

TS Lê Hồng Hiệp

Mặc Lâm: Bắc Kinh nói là việc xây dựng hai ngọn hải đăng vừa qua trên vùng biển Trường Sa là vì lợi ích chung và hai hải đăng này cũng là tài sản chung của cộng đồng. Đây có phải chiến thuật lấn biển bằng kỹ thuật hàng hải và đặt các nước vào sự đã rồi hay không?

TS Lê Hồng Hiệp: Những nhà quan sát về tình hình biển đông lâu nay đều nhận thấy ý định đàng sau hành động của Trung Quốc khi xây hai ngọn hải đăng này. Như chúng ta đã biết qua việc xây dựng để cho tàu thuyền quốc tế sử dụng hai ngọn hải đăng này thì nó sẽ tạo nên cơ sở để cho Trung Quốc về lâu dài có thể khẳng định quyền chiếm hữu trên thực tế cũng như chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông mà cụ thể đây là các đảo trong khu vực Trường Sa. Mặc dù Trung Quốc tuyên bố phục vụ các mục đích dân sự và hai ngọn hải đăng là tài sản chung cho cộng đồng quốc tế nhưng ta thấy ý định đằng sau của họ vẫn chủ yếu là xác lập chủ quyền của họ trên Biển Đông mà thôi.

Mặc Lâm: Quay trở lại việc Hoa Kỳ tuyên bố tuần tra trong khu vực 12 hải lý theo TS thì kịch bản nào Trung Quốc sẽ áp dụng nếu Hoa Kỳ thực sự hành động?

TS Lê Hồng Hiệp: Theo tôi sớm hay muộn thì Hoa Kỳ cũng thực hiện và bản thân Trung Quốc cũng không có nhiều lựa chọn để ứng phó. Điều khả dĩ nhất tôi nghĩ rằng phía Trung Quốc sẽ cho tàu của họ ra chặn đường tàu tuần tra của Mỹ, dùng phương tiện để cảnh báo cũng như yêu cầu tàu Mỹ rời ra khỏi phạm vi 12 hải lý đó. Đó là điều mà tôi nghĩ rằng Trung Quốc có thể làm.

Tuy nhiên gần đây tôi cũng thấy một số ý kiến cho rằng Mỹ tuần tra trong phạm vi 12 hải lý có thể phản tác dụng vì sẽ tạo cớ cho Trung Quốc quân sự hóa các đảo nhân tạo tại Trường Sa. Họ sẽ nói các tàu của Mỹ xâm phạm vào các vùng biển của họ và họ sử dụng nó làm cái cớ để tiến hành biện pháp quân sự hóa các điểm chiếm đóng ở các đảo nhân tạo này. Tôi cũng chưa rõ phía Mỹ có thực sự triển khai ý định này hay không nhưng về lâu dài thì chắc chắn họ sẽ thực hiện, bởi vì dẫu sao thì ý đồ của Trung Quốc đối với những đảo nhân tạo này sớm hay muộn cũng xảy ra cho dù hiện tại họ cam kết không tiến hành việc ấy ngay bây giờ.

Mặc Lâm:Xin cảm ơn TS Lê Hồng Hiệp.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Thông Tin từ Trung Quốc

Thông Tin từ Trung Quốc

Một biển quảng cáo quảng cáo nhà ở cao cấp mới tại Bắc Kinh, Trung Quốc (minh họa)

Một biển quảng cáo quảng cáo nhà ở cao cấp mới tại Bắc Kinh, Trung Quốc (minh họa)

AFP

Trước khi đảng Cộng sản Trung Hoa họp Hội nghị Ban chấp hành Trung ương kỳ Năm của Khóa 18 vào tuần tới, các tín hiệu xuất phát từ Bắc Kinh vẫn gây phân vân trên thị trường quốc tế về thực trạng kinh tế và ý chí cải cách của giới lãnh đạo xứ này. Bên cạnh đó, động thái quân sự của họ trên biển Đông cũng gây lo ngại cho lân bang về thiện chí hòa bình của Bắc Kinh. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về hai sự trái chiều nói trên. Xin quý thính giả nghe Nguyên Lam nêu vấn đề.

Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nghĩa. Hôm Thứ Hai 19, Cục Thống kê Quốc gia của Bắc Kinh công bố thống kê về đà tăng trưởng của Quý III, từ Tháng Bảy đến Tháng Chín, theo đó sản lượng kinh tế Trung Quốc chỉ tăng có 6,9%, là mức thấp nhất từ sáu năm nay, từ Quý I của năm 2009. Mặc dù đấy là một dấu hiệu đáng ngại, đa số các trung tâm nghiên cứu kinh tế của thế giới vẫn cho con số 6,9% là không đáng tin và tình hình có thể còn tồi tệ hơn vậy. Cũng trong tuần qua, từ Bắc Kinh lại xuất hiện nhiều tín hiệu mâu thuẫn về những gì giới lãnh đạo kinh tế sẽ áp dụng. Như sẽ tiến hành cải cách hành chính và doanh nghiệp theo lời khẳng định của Chủ tịch Tập Cận Bình hoặc vẫn tìm cách can thiệp vào kinh tế để chống đỡ khó khăn trước mắt. Ông  nghĩ sao về loại tin tức trái chiều này? Nói chung, làm sao ta nắm vững được thông tin về Trung Quốc?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Trước hết, các nước đều biết tình trạng thiếu khả tín, không đáng tin, về thống kê kinh tế của Trung Quốc vì một lý do chính trị đã trở thành dễ hiểu. Trong hệ thống của xứ này, giới chức thu thập thống kê không là thành phần độc lập, do vị trí hành chính hay quyền hạn chẳng liên hệ gì đến con số khảo sát, mà chỉ thăng quan tiến chức nhờ thượng cấp ở trên chứ không do người dân ở dưới. Vì vậy, mỗi cấp thu thập thống kê đều có xu hướng tô hồng sự kiện khách quan ở dưới với kết quả sau cùng là những con số không đáng tin. Năm xưa, khi còn là Bí thư Liêu Ninh, Thủ tướng Lý Khắc Cường từng nói rằng ông không tin vào loại thống kê ông gọi là “nhân tạo”, là giả tạo, mà tìm các số liệu khác để thẩm định tình hình sản xuất thật. Từ đấy giới quan sát quốc tế mới thu thập loại số liệu này để lập ra cái họ gọi là “chỉ số Lý Khắc Cường” hầu có được hình ảnh trung thực hơn về tình hình kinh tế Trung Quốc.

– Ngoài ra, chúng ta chẳng nên quên rằng trên một lãnh thổ rất rộng với thực tế quá phức tạp thì kỹ thuật thống kê cũng khó đo lường được thực tế và thường xuyên phải điều chỉnh. Tôi xin lấy một ví dụ thiết thực là Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ phải căn cứ trên tình hình lạm phát để quyết định về lãi suất trong chính sách tiền tệ. Với rất nhiều chuyên gia có tinh thần mẫn cán và độc lập, theo các kỹ thuật thống kê tân tiến, họ tính ra chỉ số giá cả hàng công nghiệp là PPI làm cơ sở dự đóan chỉ số giá tiêu dùng CPI và kết luận rằng lạm phát không tăng trên thị trường Mỹ.

Tinh thần duy ý chí của một đảng độc quyền càng khiến họ nói một đàng về mục tiêu, như sẽ tăng cường áp dụng quy luật thị trường để đem lại thịnh vượng, mà thực tế lại làm một nẻo như trực tiếp can thiệp vào thị trường và gây lệch lạc làm cho chính họ cũng bị lúng túng

Nguyễn-Xuân Nghĩa

– Vậy mà nếu hỏi người đi chợ, hoặc chính mình đang kinh doanh về ăn uống, thì ta thấy giá lương thực và rau cỏ tại Mỹ có tăng chứ không như kết luận của Ngân hàng Trung ương. Sự khác biệt ấy cho thấy một vấn đề rất kỹ thuật. Nhưng trong một xứ tự do như tại Hoa Kỳ, người ta có quyền nêu câu hỏi và tranh luận về tính chất đáng tin hay không của thống kê. Tại các nước độc tài như Trung Quốc thì chẳng ai có quyền, nên họ chẳng lý gì đến thống kê nhà nước mà tính toán theo kiểu của mình, nên mới dẫn tới những kết quả bất ngờ, thường thì trái ngược với thống kê.

Nguyên Lam: Có lẽ vì vậy mà thế giới bên ngoài lại càng phân vân không chỉ về hiện trạng kinh tế Trung Quốc mà về khả năng quản lý của giới hữu trách ở trên. Thưa ông Nghĩa, một thí dụ được nhắc nhở là chính sách của Bắc Kinh với hệ thống doanh nghiệp nhà nước làm ăn sa sút và thiếu năng suất. Qua ba Hội nghị Ban chấp hành, người ta thấy lãnh đạo đảng đã ra nghị quyết về cải cách doanh nghiệp cho sát với quy luật thị trường nhưng rốt cuộc thì Bắc Kinh tiếp tụ củng cố vai trò và sức nặng của hệ thống kinh tế nhà nước. Đấy là một thí dụ khác về thông tin mâu thuẫn từ Bắc Kinh. Ông Nghĩa nghĩ sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Chúng ta nên quen dần với sự kiện khách quan là tình hình kinh tế và chính trị của Trung Quốc là cái gì đó quá phức tạp ngay cho giới lãnh đạo tại Bắc Kinh. Nhưng vì không có nền móng dân chủ và nguyên tắc tự do thông tin hay tư tưởng, họ giữ độc quyền chân lý, không cho ai nói khác hay dạy khác, nên gặp mâu thuẫn về những gì muốn làm và chuyện gì làm được, chuyện gì không. Tinh thần duy ý chí của một đảng độc quyền càng khiến họ nói một đàng về mục tiêu, như sẽ tăng cường áp dụng quy luật thị trường để đem lại thịnh vượng, mà thực tế lại làm một nẻo như trực tiếp can thiệp vào thị trường và gây lệch lạc làm cho chính họ cũng bị lúng túng. Nếu ta cứ tin vào chủ trương hay phát biểu chính thức thì sẽ lại bị bất ngờ. Việc cải cách hệ thống ngân hàng và doanh nghiệp nhà nước là một thí dụ nổi bật mà không duy nhất.

Nguyên Lam: Thưa ông, gặp hoàn cảnh vừa phức tạp vừa mờ ám như vậy thì người ta có cách gì thấy ra sự thật hoặc dựa trên cơ sở gì để dự báo tương lai? Một cách cụ thể thì Trung Quốc có còn là một cường quốc kinh tế hay không sau mấy chục năm tăng trưởng rất cao và nay lại có vẻ lúng túng trước những bài toán quá lớn mà chưa chắc lãnh đạo đã giải quyết nổi?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Tôi xin đề nghị là ta đi vào hai bước ngắn dài để tìm ra câu trả lời.

– Về ngắn hạn thì từ Thứ Hai 26 này, đảng Cộng sản sẽ họp Hội nghị Kỳ 5 của Ban Chấp hành Trung ương thuộc Khóa 18, để 205 Trung ương Ủy viên thảo luận về Kế hoạch Năm năm thứ 13 cho thời kỳ 2016-2020. Đấy là cơ chế cao cấp nhất sẽ thống nhất nghị trình được Bộ Chính trị đề ra cho đảng viên cán bộ cùng biết về các mục tiêu ưu tiên và nhiệm vụ trong trung hạn. Nếu theo dõi kỹ, người ta có thể biết được lãnh đạo xứ này muốn gì về kinh tế, thí dụ như về chỉ tiêu tăng trưởng thấp hơn thực tế hay về nhịp độ cải cách doanh nghiệp nhà nước cho mạnh hơn. Điều ấy không có nghĩa là Bắc Kinh sẽ tranh thủ được các ưu tiên nhưng ít ra cũng là một thông tin về những ước muốn của đảng.

Bắc Kinh ráo riết tăng chi và bơm tiền kích thích kinh tế và chất lên một núi nợ kỷ lục trong một thời gian rất ngắn. Họ đang phải giải quyết bài toán ấy với nguy cơ vỡ nợ hàng loạt, từ các doanh nghiệp, ngân hàng đến chính quyền địa phương với cả vạn công ty đầu tư được lập ra để thực hiện các dự án ảo nhằm tạo ra việc làm cho địa phương khỏi bị loạn

Nguyễn-Xuân Nghĩa

– Song song, Hội nghị Kỳ 5 còn có thể nêu một số biện pháp nhằm hoàn tất đợt ba của chiến dịch diệt trừ tham nhũng và đem lại một số ổn định sau ba năm xáo trộn quá lớn. Nếu có loại thông tin ấy thì người ta dễ suy đoán ra tình hình thanh lọc nhân sự, hay thanh trừng chính trị, để hiểu được vị trị hay khả năng của các lãnh tụ có thẩm quyền trên thượng tầng. Đấy chỉ là một bước ngắn thôi và truyền thông quốc tế vẫn theo dõi loại sự kiện này để ít ra biết được ai là người có thực quyền về kinh tế hay chính trị hầu đoán ra kết quả thật của từng lời tuyên bố của họ.

Nguyên Lam: Ông Nghĩa nói như vậy vì hàm ý là còn có một bước thứ hai. Thưa ông, đấy là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Chúng ta nên nhìn rộng ra ngoài và sâu hơn về quá khứ để phần nào hiểu ra thực lực và khả năng của một quốc gia đông dân như Trung Quốc, hiện có sản lượng đứng hàng thứ nhì của thế giới, được ước tính vào khoảng 10 ngàn tỷ đô la một năm. Ngoài thực lực kinh tế, Trung Quốc còn có hệ thống chính trị độc quyền và tinh thần bá quyền của một nền văn hóa mang nặng mặc cảm tự tôn về chính trị mà tự ti về kỹ thuật vừa mới vươn lên sau hơn trăm năm lụn bại.

– Sự kiện một nước mới nổi và thách thức một cường quốc đương nhiệm thường gây ra chiến tranh. Giới nghiên cứu lịch sử đã tính ra xác suất có thể là 75%, là ba phần tư trong một giai đoạn trải dài đến 500 năm. Vì hoàn cảnh kinh tế chính trị đặc biệt của Trung Quốc, người ta muốn biết kinh tế xứ này sẽ suy sụp và bị nội loạn hay chỉ suy trầm mất dăm bảy năm rồi trở lại bình thường, tức là lãnh đạo có khả năng ứng phó hay không? Nỗi thắc mắc ngắn hạn của thị trường không thể khỏa lấp những ưu lo dài hạn của chính trường, của lãnh đạo các nước khác.

Nguyên Lam: Nếu nhìn theo một viễn ảnh lâu dài như vậy, thưa ông, người ta có thể kết luận những gì và dựa trên cơ sở nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Tôi thiển nghĩ rằng nếu nhìn trong trường kỳ thì những hoạn nạn hiện nay của Trung Quốc đã manh nha từ năm 2008 chứ không chỉ xuất hiện từ Tháng Tám vừa qua. Năm đó, thế giới bị Tổng suy trầm và nạn ách tắc tín dụng cùng sự sút giảm đáng kể của nhập khẩu đã gián tiếp phơi bày các nhược điểm sinh tử trong chiến lược phát triển kinh tế của Trung Quốc. Chiến lược ấy dựa vào đầu tư và xuất khẩu làm lực đẩy cho một đà tăng trưởng có vẻ ngoạn mục mà thật ra lại thiếu phẩm chất vì thất quân bình, gây bất công và ô nhiễm môi sinh.

– Khi cơ sự xảy ra, lãnh đạo Bắc Kinh ráo riết tăng chi và bơm tiền kích thích kinh tế và chất lên một núi nợ kỷ lục trong một thời gian rất ngắn. Họ đang phải giải quyết bài toán ấy với nguy cơ vỡ nợ hàng loạt, từ các doanh nghiệp, ngân hàng đến chính quyền địa phương với cả vạn công ty đầu tư được lập ra để thực hiện các dự án ảo nhằm tạo ra việc làm cho địa phương khỏi bị loạn.

– Vậy mà ưu thế xuất khẩu hàng rẻ cũng chẳng tạo ra sức bật và lãnh đạo đối diện với sự thật. Họ phải chấp nhận một đà tăng trưởng thấp hơn và chuyển hướng là tìm lực đẩy từ tiêu thụ nội địa. Họ cũng phải cải tổ cơ chế ngân hàng và doanh nghiệp, cải cách hệ thống công chi thu toàn quốc để địa phương có nguồn tài trợ ngân sách khác, thay vì bán đất và vay tiền ngân hàng đi làm bậy. Nói chung thì muốn chuyển hướng, lãnh đạo phải cải cách mà việc cải cách lại gây thiệt hại cho đảng viên cán bộ cao cấp nên mới bị cưỡng chống và dẫn tới nhiều mâu thuẫn chính trị.

Nguyên Lam: Khi nhìn vào khung cảnh trường kỳ như vậy thì người ta có thể hiểu được nguyên do của nhiều tín hiệu khó hiểu hay không đáng tin xuất phát từ Trung Quốc. Vì thời lượng có hạn, Nguyên Lam xin đề nghị ông tạm tổng kết về đề tài thông tin từ Trung Quốc và có thể là cuối năm nay chúng ta sẽ tìm hiểu tiếp về triển vọng tương lai của xứ này.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Tôi nghĩ rằng Trung Quốc không thể làm gì khác nhiều quốc gia đã trải qua giai đoạn tương tự. Tức là kinh tế sẽ hết đà tăng trưởng quá cao của mấy chục năm trước và phải cải cách nên sẽ gặp nhiều khó khăn chính trị bên trong. Cũng chính vì vậy mà lãnh đạo lại càng dễ gây rủi ro xung đột với bên ngoài.

– Nếu hiểu như vậy, các quốc gia khác nên có tinh thần kết ước là giúp Bắc Kinh chuyển hướng kinh tế trong ổn định và có lợi cho toàn thế giới. Nhưng song song thì vẫn phải thống nhất thái độ quyết liệt về an ninh để Bắc Kinh đánh giá lại rủi ro mà chấm dứt chính sách hung hăng ngày nay. Thiếu sự cứng rắn đó của các nước thì nguy cơ chiến tranh rất dễ bùng nổ, với kết quả sau cùng là Trung Quốc vẫn bị nội loạn và phân hóa như đã từng bị rất nhiều lần trong lịch sử, nhưng với hậu quả vẫn là tổn thất và điêu linh cho các nước lân bang.

Nguyên Lam: Xin cảm tạ ông Nghĩa về bài phân tích này.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Nhật ký của 1 cô gái bị ung thư giai đoạn cuối

Nhật ký của 1 cô gái bị ung thư giai đoạn cuối

Dưới đây là những bức ảnh tự hoạ khi tôi còn là 1 bệnh nhân ung thư. Những bức ảnh cho thấy cách mà tôi thay đổi từ một người sống trong sợ hãi, dễ bị tổn thương và rất yếu ớt thành một người sống lạc quan hơn, mạnh mẽ hơn và tự do hơn. Bức ảnh cuối cùng thể hiện sự tự do của tôi sau khi được chữa lành.

Ở tuổi 14, tôi được chẩn đoán đang trong giai đoạn 4 căn bệnh ung thư xương. Các bác sĩ không chắc rằng liệu tôi có thể tiếp tục sống được hay không, nó đã di căn một ít. Nhưng bằng cách nào đó, sau vài năm sống lạc quan, nay tôi ngồi đây và viết lên câu chuyện này. Tôi phải cảm ơn thời gian chống chọi với bệnh tật đó vì nó đã mang lại cho tôi sức mạnh và giúp tôi trở thành người như hôm nay

Hy vọng bài viết này sẽ giúp được tất cả những ai đang phải đối mặt với một điều gì đấy. Ung thư hay bất kể thứ gì khác. Hãy đặt niềm tin vào chính bản thân bạn và luôn lạc quan.

Ở tuổi 14, tôi được chẩn đoán đang trong giai đoạn 4 căn bệnh ung thư xương.

DAN4173__880

Bác sỹ không chắc rằng liệu tôi có thể sống tiếp hay không.

Roshini-Kumar0001__880

Quảng cáo

Tôi cảm thấy rất yếu trong suốt quá trình hóa trị mà tôi chưa bao giờ tưởng tượng nó lại như thế, tôi muốn một cuộc sống như trước đây.

DAN4356-Edit__880

Bằng cách nào đó tôi luôn giữ thái độ lạc quan bởi vì tôi luôn nghĩ rằng mọi thứ rồi sẽ ổn thôi.

DAN4293__880

Tôi thậm chí không thể mở đầu để mô tả cảm giác thở phào khi tôi khỏi bệnh.

DAN4255-21__880

Không quan trọng nó khó khăn thế nào, tôi phải cảm ơn thời gian chống chọi với bệnh tật đó vì nó đã mang lại cho tôi sức mạnh và giúp tôi trở thành người như hôm nay.

DAN4296__880

Bài viết được đăng dưới sự cho phép của boredpanda.com

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.