iStock_000002838926_Medium-676x450

Vũ trụ chứa đầy những điều bí ẩn và thách đố tri thức của nhân loại. Bộ sưu tập những câu chuyện “Khoa học Huyền bí” của Thời báo Đại Kỷ Nguyên về những hiện tượng lạ thường đã kích thích trí tưởng tượng và mở ra những khả năng chưa từng mơ tới. Chúng có thật hay không? Điều đó tùy bạn quyết định!

Tiến sĩ Erlendur Haraldsson, giáo sư danh dự tại trường Đại học Iceland ở thủ đô Reykjavik, chuyên nghiên cứu các trường hợp những đứa trẻ có biểu hiện nhớ lại tiền kiếp. Trong đó có một số trường hợp các em nhớ lại tiền kiếp là tu sĩ Phật giáo. Hơn nữa, trong một vài trường hợp này, những ký ức về tiền kiếp đã được ghi nhận lại ngay sau khi các em hồi tưởng về chúng (nghĩa là không sự gián đoạn thời gian khiến hồi ức bị bóp méo), và chúng dường như tương ứng với thông tin tiểu sử về những nhà sư đã qua đời.

Những trường hợp trong đó các em nhớ lại những chi tiết mà sau đó có thể hoặc đã được xác minh bởi các báo cáo thực tiễn về thông tin có thật của một người đã mất được các nhà nghiên cứu gọi là “trường hợp đã được giải quyết”. Những trường hợp trong đó những ký ức quá mơ hồ hoặc các chi tiết quá thiếu chính xác để có thể xác minh thì được gọi là “trường hợp chưa được giải quyết.”

Những “trường hợp được giải quyết” của những đứa trẻ nhớ lại tiền kiếp từng là tu sĩ khiến cho tiến sĩ Haraldsson quan tâm đặc biệt vì một lý do nữa: “Điều làm cho các … trường hợp đặc biệt thú vị không chỉ vì ký ức trùng khớp của chúng mà ngay cả đặc điểm hành vi mà chúng thể hiện. Mỗi đứa trẻ thể hiện hành vi rất tương đồng mà thậm chí còn rất đặc trưng của một tu sĩ”, Tiến sĩ Haraldsson và Godwin Samarartne viết trong một bài báo năm 1999 có tựa đề là “Trẻ em kể về tiền kiếp là một tu sĩ Phật Giáo” được công bố trên Tạp chí Journal of the Society for Psychical Research.

Quảng cáo

Không những không vui lòng về biểu hiện hành vi tu sĩ của chúng hoặc tỏ ra một chút khuyến khích, cha mẹ của chúng dường như còn cảm thấy lo lắng và bất an.

Trường hợp của Duminda Bandara Ratnayake

Duminda Bandara Ratnayake sinh năm 1984 ở một khu vực nông thôn miền núi của Sri Lanka có tên là Thundeniya.

Ratnayake thuật lại về ký ức về tiền kiếp của mình khi em mới khoảng 3 tuổi, bao gồm một số chi tiết như sau:

  1. Em đã từng là một lão hòa thượng tu hành ở chùa Asgiriya, cách quê hương hiện tại khoảng 16 dặm.
  2. Em đã từng bị đau ở ngực và té ngã, sau đó thì qua đời; em dùng từ “apawathwuna” chỉ được sử dụng khi nói đến sự kiện một nhà sư viên tịch.
  3. Em đã từng có một chiếc xe hơi màu đỏ.
  4. Em đã từng giảng dạy các tăng ni mới xuất gia.
  5. Em đã từng có một con voi.
  6. Em có bạn bè sống ở Đền Malvatta mà em từng hay lui tới.
  7. Em đã từng cất giữ một túi tiền và một đài radio ở Asgiriya và em muốn lấy lại nó.(Mẹ của em cảm thấy xấu hổ khi thuật lại điều này vì đây không phải là vật mà một chư tăng nên sở hữu).

Em không thích chơi đùa với những đứa trẻ khác mà chỉ tâm nguyện trở thành một nhà sư. Em tụng kinh Phật bằng ngôn ngữ Sinhala cổ xưa của Phật giáo, mà chỉ có các nhà sư mới biết và sử dụng. Em sống với nếp sống như một nhà sư, mặc quần áo giống như nhà sư, vào chùa và đặt hoa theo kiểu cách Phật giáo, và những hành vi đại loại như vậy.

Điều này thấm nhuần trong cuộc sống của em. Phong thái của em từ tốn, tao nhã và tách biệt thế gian. Em nói với mẹ của mình rằng bà không nên chạm tay em (phụ nữ không nên chạm vào tay của nhà sư).

Ngoài các thành viên gia đình của cậu bé, Haraldsson còn phỏng vấn một tu sĩ địa phương, người tu sĩ này đã quan sát hành vi của cậu bé và cảm thấy rằng cha mẹ của em không thể chỉ dạy em những hành vi này.

Liệu ký ức của em có phù hợp với cuộc đời của một chư tăng nào đó trong quá khứ không?

Đại đức Mahanayaka Gunnepana dường như là lão hòa thượng quá cố duy nhất phù hợp với mô tả của cậu bé. Theo ký ức của các vị sư khác – những người biết về Đại đức Gunnepana – ông từng sở hữu một chiếc xe màu đỏ hoặc có màu nâu đỏ. Ông qua đời vì một cơn đau tim. Ông thường xuyên giảng đạo (không phải tất cả các nhà sư đều giảng đạo, một số dành nhiều thời gian trong thiền định). Không ai biết rõ về việc ông đã từng sở hữu một con voi hay không, nhưng vị đại đồ đệ của Đại đức Gunnepana đã từng bắt được một con voi và đưa nó về ngôi làng quê hương của ông, nơi ông thường lui tới. Đại đức Gunnepana đã từng quan tâm đặc biệt về con voi. Nó đã chết ngay trước khi ông qua đời.

Ông không sở hữu đài radio nhưng ông là người duy nhất trong số một vài tu sĩ mà Haraldsson đã thu hẹp việc tìm kiếm những người sở hữu một cái gì đó tương tự như đài radio – đó là một cái máy hát. Có thể Ratnayake không biết mô tả một cái máy hát như thế nào ngoài cách dùng từ “radio”. Đại đức Gunnepana đặc biệt thích âm nhạc. Ông được tưởng nhớ đến như là một vị chư tăng đức hạnh luôn trì giới rất nghiêm. Tất cả những thông tin này dường như tương quan đến hành vi và đặc điểm tính cách của cậu bé cũng những hồi ức của em về tiền kiếp.

Haraldsson cho rằng cậu bé không thể học được những điều này từ gia đình hoặc những người mà em từng tiếp xúc. Ví dụ, mặc dù có khả năng là em đã học các bài kinh kệ từ đài phát thanh vốn được phát sóng rất sớm vào buổi sáng, nhưng những người dân địa phương nói với Haraldsson rằng không có đứa trẻ nào trong làng thuộc được kinh kệ bằng loại ngôn ngữ cổ và điều này cực kỳ không bình thường.

Trường hợp của Gamage Ruvan Tharanga Perera

Gamage Ruvan Tharanga Perera sinh vào tháng 8 năm 1987 ở huyện Kalutara, Sri Lanka. Khi em được 2 tuổi, em đã kể về tiền kiếp của mình là tu sĩ trong tu viện Pitumpke, một nơi mà cha mẹ em không hề biết đến, nhưng thật ra nó chỉ cách nhà em khoảng 20 dặm về phía nam.

Cậu bé nói trong đền có một con khỉ bằng đất nung, một lời khẳng định cụ thể đến mức không bình thường mà sau đó đã được xác minh là có thật. Thường thì các ngôi đền ở đây không có tượng khỉ.

Em cũng biểu hiện một số hành động giống người tu như ngồi thế hoa sen, mặc áo cà sa của tăng ni như thế nào, và cách thức tụng kinh cho đúng  – những điều mà em chưa hề được dạy. Em cũng không muốn ăn vào buổi tối (nhà sư thường không dùng bữa sau giờ ngọ), không muốn ngủ với mẹ của em (vì em nói rằng thầy tu không được ngủ cạnh phụ nữ), và vào buổi tối, em thực hiện một nghi lễ thờ cúng bằng việc trì tụng. Em khuyến khích các thành viên trong gia đình của mình làm theo mình, và thậm chí còn tỏ ra khó chịu khi họ không tuân theo. Em đã lên tiếng khi cha em mang rượu về nhà. Mặc dù tỏ ra không hài lòng nhưng những người biết về em đã nói với Haraldsson rằng em không bao giờ tỏ ra tức giận mà luôn nhẹ nhàng, ôn tồn.

Em hướng dẫn các bạn cùng lớp trong các nghi lễ tôn giáo, cư xử như một vị trụ trì. Tất cả họ đều kính trọng em – thầy cô và một số bạn cùng lớp của em đã kể với Haraldsson như thế. Giống như trường hợp của Ratnayake, Perera trì tụng kinh bằng loại ngôn ngữ cổ của Pali, mà có thể em đã học được từ radio hoặc truyền hình, nhưng cha mẹ em cho rằng điều đó rất khó xảy ra.

Cha mẹ em đều không quan tâm đến những hồi ức của em, họ cũng không khuyến khích em kể về chuyện đó. Haraldsson phát hiện trường hợp của em khi một phóng viên địa phương biết được câu chuyện về hồi ức tiền kiếp của em từ một hàng xóm của gia đình em.

Em không thích chơi với những đứa trẻ khác, mà yêu cầu được treo hình Đức Phật để thờ phụng, em vẽ hình ảnh cuộc đời của Đức Phật ở trong trường, và muốn ăn mặc giống như một thầy tu.

Cha mẹ của em sau đó đã đưa em đến ngôi đền Pitumpke. Em nhanh chóng chỉ ra con khỉ đất nung mà em đã kể với họ, nó nằm ở vị trí không dễ nhìn thấy cho lắm. Một số người bị thuyết phục rằng em chính là hóa thân của vị trụ trì trước đây của tu viện, Đại đức Ganihigama Pannasekhara (1902-1986).

Đại đức Pannasekhara và cả gia đình ông đều ăn chay, đó là một điều hiếm hoi ở Sri Lanka. Perera cũng năn nỉ được ăn chay.  Đại đức Pannasekhara trở thành vị trưởng trụ trì của quận Colombo vào năm 1972, điều này rất phù hợp với hành vi của Perera cư xử như một vị trụ trì. Đại đức Pannasekhara viên tịch vào tháng 1 năm 1986, 17 tháng trước khi Perera được sinh ra. Đặc điểm tính cách của Perera rất phù hợp với Đại đức Pannasekhara, bao gồm phẩm chất lãnh đạo mạnh mẽ và lòng nhiệt thành tụng kinh nơi công cộng. Một số tu sĩ ở ngôi đền này vẫn còn hoài nghi, do Perera không nhận ra được những người mà Đại đức Pannasekhara đã từng biết.

Perera không lớn lên trong môi trường tôn giáo. Haraldsson và Samarartne kết luận: “Chúng tôi không tìm thấy lời giải thích nào hợp lý cho đặc điểm hành vi lạ thường và khác biệt này của em mà không giống biểu hiện điển hình của một đứa trẻ chút nào”.

Chia sẻ bài viết này